Ba câu linh chú giúp chuyển hóa cơn giận

(Trích pháp thoại ngày 4.03.2007, tại tu viện Bát Nhã – Lâm Đồng)

 Có ba câu mà tôi rất muốn quý vị học thuộc, ba câu ngắn thôi và ba câu này rất lợi ích mỗi khi cơn giận của mình trào lên mà mình không muốn nói những câu làm đổ vỡ thì mình phải thực tập theo ba câu đó. Quý vị lấy một miếng giấy nhỏ, viết ba câu đó nắn nót trên miếng giấy này và bỏ vào trong bóp của mình, để gần cái chứng minh nhân dân. Mỗi khi bắt đầu giận thì phải nhớ rút nó ra, đọc ba câu đó, rồi sẽ biết mình phải làm gì để đừng nói và đừng làm những chuyện có thể làm tan vỡ tất cả.

Mình có thể giận chồng, mình có thể giận vợ, mình có thể giận người yêu, mình có thể giận con, mình có thể giận cha.

Đây là phương pháp thực tập để bảo hộ mình, đừng để cho cái giận đốt cháy mình và xô đẩy mình gây nên sự đổ vỡ. Ví dụ như bà đang giận ông, ông vừa nói cái gì đó, ông vừa làm cái gì đó làm cho bà giận quá đi. Nguyên tắc là bà không nói gì hết, không làm gì hết, đó là phương pháp của Bụt dạy. Bà phải trở về với hơi thở, phải đi thiền, phải buông thư, phải quán chiếu. Bà hỏi tại sao ông nói một câu như vậy, ông có chuyện gì bức xúc, hay là hôm nay bị ông chủ la rầy, chắc có nguyên do gì đó khiến cho ông nói một câu như vậy với mình, có nguyên do chứ không phải không.

Hôm trước tôi đã nói về phương pháp hộ trì thân tâm khi cái giận phát hiện. Cái giận là năng lượng số một và chánh niệm là năng lượng số hai. Năng lượng thứ hai nhận diện ôm ấp làm vơi bớt cường độ của cơn giận. Chuyện phải làm đầu tiên là mình không nói gì hết, không làm gì hết. Mình trở về với hơi thở, buông thư, quán chiếu. Thì nội trong vài giờ đồng hồ là mình bớt khổ. Đôi khi mình tìm ra là tại mình hiểu lầm, chứ ông không có mục đích, không có ý làm khổ mình. Nếu gần tới hai mươi bốn giờ đồng hồ rồi mà mình vẫn chưa hết giận, mình đã tu, đã đi thiền hành, đã quán chiếu mà chưa thành công bấy giờ mới cần tới ba câu đó.

– Câu đầu là: Anh ơi em đang giận anh và em muốn anh biết điều đó. Đó là lời người vợ nói với chồng, lời người yêu nói với người yêu. Khi mình đang giận người thương của mình, mình phải công nhận sự thật là mình đang giận và mình đang đau khổ. Thông thường, khi người thương nói: sao cái mặt em vậy, giận anh hả? Mình nói: đâu có giận, tại sao tôi phải giận, tại sao phải giận cho khổ cái thân tôi. Tức là mình giận, mình khổ đau, nhưng mình không công nhận là mình đang khổ đau, đang giận. Còn ở đây làm ngược lại, anh ơi em đang đau khổ, em đang giận anh và em muốn anh biết điều này. Câu này mình có thể nói trực tiếp với ổng nhưng mà phải nói bằng ái ngữ. Tại vì mình thương nhau, mình cam kết với nhau là mình phải chia sẻ với nhau những ngọt bùi, cay đắng, thì nói câu đó là trung thành với lời cam kết ngày xưa. Nếu ông giận bà thì ông cũng không nên có tự ái, ông nói: Em ơi, anh đang khổ lắm, anh đang giận em, anh muốn em phải biết điều này. Có nghĩa là em hãy cắt nghĩa cho anh tại sao em đã nói một câu như vậy, em đã làm điều đó.

– Câu thứ hai là:  Em đang cố gắng với tất cả sức của em đây. Có nghĩa là em đang thực tập theo lời thầy dạy. Em đã không nói những lời lên án, chỉ trích, buộc tội, em không làm gì hết. Em chỉ trở về với hơi thở, thực tập và ôm ấp cái nỗi khổ niềm đau của em để làm cho nó vơi bớt, em là người có tu. Câu đó có nghĩa là mỗi khi em giận em không làm như người khác, em không nói năng, không chửi mắng, không trách móc, em biết trở về với hơi thở, biết đi thiền hành, biết ngồi quán chiếu tìm ra gốc rễ của nỗi khổ niềm đau của em. Câu thứ hai còn có nghĩa là anh có biết là em đang thực tập hay không.

Khi nghe câu thứ nhất thì người kia sẽ phản ứng như thế nào. Trường hợp mình chưa đủ bình tĩnh, không thể tới nói trực tiếp với người đó được hoặc sợ mình nói lời ái ngữ chưa được thì có thể viết xuống mảnh giấy câu đó và để trên bàn giấy của anh ta hay là mình gởi e-mail. Nhớ câu thứ nhất: em đang giận anh, em đang khổ và em muốn anh biết điều đó. Thì phản ứng của người kia: chà mình làm cái gì, mình nói cái gì để cho bả giận như vậy. Tự nhiên có sự quán chiếu, sự trở về để đặt câu hỏi. Và chàng cũng bắt đầu thực tập.

Câu thứ hai rất hay, em đang cố gắng với tất cả sức em đây, nghĩa là em đang tu đó, em là người có tu chứ không phải là người thường, em đã được học với thầy. Em đang đi thiền hành, em đang thở, em đang ôm ấp nỗi khổ niềm đau của em, em nhìn coi thử gốc rễ của nó như thế nào. Thì người kia sẽ tự hào về mình, à mình có một bà vợ biết tu, khi nổi cơn giận lên biết trở về với hơi thở, biết đi thiền hành, biết quán chiếu. Người chồng đó sẽ hãnh diện về mình. Câu đó cũng có nghĩa là mời người chồng cùng quán chiếu. Tại sao mình làm cho vợ mình, người yêu của mình đau khổ. Mình nói cái gì, vụng về chỗ nào, đã làm cái gì khiến cho người đó đau khổ tới như vậy. Người đó sau khi đọc câu thứ hai cũng suy nghĩ, cũng quán chiếu. Đó là một lời mời mọc cho người kia cũng thực tập như mình. Nó gián tiếp nhưng đích thực đó là một lời mời mọc, em đang cố gắng hết sức em đây.

– Và câu thứ ba: Anh giúp em đi. Đơn sơ như vậy đó. Có thể em thực tập chưa thành công hay không thành công. Có thể em thành công và em sẽ hết giận anh nhưng lần này nó khó lắm, thành anh phải giúp em đi. Tức là mình bắt người kia phải sử dụng lương tâm, quán chiếu lại coi, đã nói cái gì, đã làm gì gây ra cái khổ đau đó. Thường thường một người làm cho mình khổ đau mà là người dưng nước lã, thì mình không khổ nhiều. Nhưng ở đây người mình thương nhất trên đời mà nói câu đó, làm cái đó thì mình quá đau khổ và mình chịu đựng không nổi. Thông thường mình muốn tỏ rằng mình không cần người đó. Anh làm tôi khổ, tôi không cần anh. Mình muốn chứng tỏ cho người đó biết một cách gián tiếp rằng không có anh tôi cũng sống được, bởi vì tự ái quá lớn. Mà phần lớn chúng ta đều có cái thái độ như vậy với tự ái rất lớn. Cho nên câu thứ ba này mình làm ngược lại, mình nói anh giúp em đi. Khi viết xuống được câu đó hay nói ra được câu đó thì nó đỡ giận rất nhiều rồi.

Tôi cam đoan là có hiệu quả, nếu không hiệu quả thì các ông các bà bắt đền tôi. Phải nói ra được câu thứ nhất là đỡ khổ rồi, anh ơi em đang giận anh, em đang khổ và anh phải biết điều đó. Em đang thực tập hết với tất cả cái sức của em. Anh giúp em đi. Nếu bà viết xuống được ba câu đó thì tự nhiên cái đau khổ, buồn khổ của bà đã bớt tới sáu mươi phần trăm rồi. Nó rất hay và không biết bao nhiêu thiền sinh theo học ở làng Mai đang thực tập như vậy. Nếu trong vòng hai mươi bốn giờ đồng hồ mà mình giải quyết được, mình hết giận thì tốt. Nếu gần hết hai mươi bốn giờ mà chưa hết giận thì mình phải đưa cái tối hậu thơ đó, đưa cho anh chàng mảnh giấy có ba câu đó. Khi biết rằng người kia đọc được cái đó thì mình đỡ khổ rồi và mình tiếp tục thực tập. Nếu trong khi thực tập, mình tìm ra đó là tri giác sai lầm của mình thì phải vội vàng điện thoại cho anh chàng, anh ơi, em hết giận rồi, tại vì em hiểu lầm. Chứ đừng để cho anh chàng tiếp tục đau khổ mà tội.

Còn nếu mình là anh chàng, khi nhận được thông điệp với ba câu đó mình phải tự hỏi:  chà, mình làm cái gì, mình nói cái gì khiến cho người kia đau khổ như vậy? Mình mới hồi tưởng lại, trời ơi mình hơi vụng về khi nói câu đó. Khi mình thấy được điều đó thì mình phải gửi e-mail hay phải gọi điện thoại về xin lỗi liền lập tức, đừng để cho người kia khổ thêm một phút nào nữa.

Bà thực tập như vậy, ông cũng thực tập như vậy và cháu cũng có quyền thực tập như vậy. Nếu anh là con trai, chị là con gái, mà nếu anh hoặc chị giận ba thì anh hay chị cũng có thể viết ba câu đó: ba ơi con đang khổ con đang giận ba đây và con đang thực tập theo lời thầy dạy nhưng có thể con thực tập không thành công, vì vậy ba giúp con đi. Nếu người con trai viết được cho ba mấy câu đó thì con trai sẽ bớt khổ rất nhiều. Người con gái cũng vậy, nếu viết được cho ba hay cho mẹ ba câu đó thì người con gái sẽ bớt khổ rất nhiều. Tại vì có sự truyền thông, có sự tin tưởng lẫn nhau. Cứ về làm đi, tôi bảo đảm sự thành công. Vì mình tin nhau mình mới nói được với nhau những lời như vậy.

Nếu mình là người cha, mình giận con trai của mình thì mình cũng có thể nói như vậy: con ơi ba đang khổ, ba đang giận con và con phải biết điều đó cho ba, mình không tự ái, đó là con của mình. Mình đừng nói nó là con mình chứ đâu phải ông nội của mình mà phải nói như vậy. Không nên nói như vậy. Nó là con trai của mình, nó là người thương của mình. Thành ra ông viết cho con trai, ông nói: con ơi ba đang giận con, ba đang khổ lắm, ba không biết tại sao con đã làm như vậy, đã nói như vậy, ba đang thực tập đây, ba đang cố gắng hết sức để thực tập đây. Ba đã học được cái phương pháp này ở khóa tu chùa Bát Nhã, con giúp ba đi’. Khi đứa con trai nhận được cái thông điệp đó mà không có đáp ứng, không có cảm động thì không phải là đứa con trai nữa. Khi ba mình nói với mình những lời tâm huyết như vậy thì mình sẽ tự tỉnh. Mình sẽ hỏi: trời đất ơi, mình làm gì cho ba mình đau khổ như vậy, mình đã nói gì, đã làm gì. Nếu mình không biết thì mình hỏi ba, ba ơi con đã nói gì khiến cho ba buồn như vậy, con đã làm gì khiến cho ba khổ như vậy, ba cho con biết đi. Tình trạng lúc đó rất là dễ.

Tôi xin quý vị hãy học thuộc ba câu này. Nếu quý vị sợ quên, quý vị viết ba câu đó trên một mảnh giấy lớn bằng cái carte-de-visite thôi. Mỗi khi buồn khổ lấy ra. Đây là phương pháp của Bụt dạy. Tôi có những người đệ tử thực tập điều này rất là giỏi và tôi rất biết ơn người đệ tử đó, họ thực tập thành công, họ đem lại hạnh phúc, hòa khí trong gia đình họ. Có những người đệ tử rất trẻ, về làm hòa được với cha, với mẹ và giúp cho cha mẹ làm hòa được với nhau, tôi rất hãnh diện về những người đệ tử trẻ đó.

Tôi xin lập lại, câu thứ nhất: Anh đang giận em, anh đang khổ và cái muốn em biết điều đó. Câu thứ hai: Anh đang thực tập với tất cả con người của anh . Câu thứ ba: Em giúp anh đi.

Các câu nói đó có thể được sử dụng bởi người chồng, người vợ, người cha, người con hay người mẹ. Nếu mình đem hết tất cả tâm tư vào sự thực tập thì chắc chắn sẽ có kết quả. Thành công được một lần mình sẽ có niềm tin: mình sẽ thành công trong những lần kế tiếp. Đó là sự chiến thắng của đạo pháp, của tình thương.

Năm Mới 2018

Mừng Giáng sinh 2017

Lời khấn nguyện đầu năm 2018

Kính lạy Thầy,

Kính lạy chư vị Tổ tiên tâm linh và huyết thống của chúng con,

Kính lạy Đất Mẹ – Bồ Tát Thanh Lương Đại Địa,

Trong giờ phút linh thiêng khởi sự cho Năm Mới, chúng con tập hợp lại đây như một gia đình tâm linh để cùng dâng lên Thầy, dâng lên Đất Mẹ và chư vị tổ tiên lòng biết ơn và nguyện ước sâu sắc của chúng con. Chúng con cũng xin thành tâm sám hối những lầm lỗi mà chúng con đã gây ra trong năm qua.

Chúng con ý thức chư vị tổ tiên đang có mặt với chúng con trong giờ phút này và là nơi nương tựa vững chãi cho tất cả chúng con. Chúng con xin lạy xuống để tiếp xúc sâu sắc với liệt vị và với đất Mẹ – Bồ Tát Thanh Lương Đại Địa, hành tinh xanh xinh đẹp và mát lành của chúng con. Chúng con ý thức rằng tất cả chúng con đều là con của mẹ và dù chúng con đã gây ra bao lầm lỗi, mỗi lần chúng con trở về với Mẹ là Mẹ lại đưa vòng tay từ mẫu ôm lấy chúng con vào lòng.

Kính lạy Thầy, chúng con xin được sám hối với Thầy: trong thời gian qua, chúng con đã nhiều lần để cho sự hoang mang tưới tẩm hạt giống bất an và sợ hãi nơi chúng con. Chúng con không hết lòng nương tựa nơi con đường, nơi pháp môn tu tập. Chúng con đánh mất niềm tin nơi gia đình và đoàn thể của mình. Nhiều khi chúng con đã để cho cảm xúc mạnh và những tri giác sai lầm trấn ngự, khiến chúng con cảm thấy cô đơn, xa cách và tuyệt vọng.

Ý thức được điều đó, chúng con xin sám hối và nguyện trở về nương tựa nơi pháp môn tu học và tăng thân yêu quý của chúng con để có thể là sự tiếp nối xứng đáng của Thầy và của chư vị tổ tiên. Chúng con xin nguyện nuôi dưỡng hơi thở ý thức và bước chân chánh niệm, như lời Thầy thường dạy, để có thể sống sâu sắc mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Chúng con cũng xin nguyện hết lòng tiếp nối công trình xây dựng tăng thân, nuôi dưỡng tình huynh đệ mà Thầy đã dày công tạo dựng, cho dù đôi khi chúng con phải đối mặt với không ít khó khăn, thử thách. Khi có khó khăn xảy ra, chúng con sẽ không để cho mình đánh mất sự thực tập hay rời bỏ những người thương, rời bỏ tăng thân yêu quý, mà xin nguyện thực tập lắng nghe nhau, nâng đỡ nhau và không có thái độ ruồng bỏ bất cứ ai, dù đó là người làm cho chúng con khổ đau.

Kính lạy Đất Mẹ, chúng con xin sám hối với Mẹ là loài người chúng con đã để cho tham dục và chủ nghĩa tiêu thụ nhấn chìm. Chúng con đã chạy theo danh vọng, tiền tài, quyền lực và tư dục mà quên rằng những thứ ấy không bao giờ có thể đem lại cho chúng con tự do và hạnh phúc chân thực. Trong quá trình rong ruổi, tìm cầu đó, chúng con đã gây cho Mẹ và cho chính chúng con nhiều khổ đau. Chúng con đã khai thác quá mức những ngọn núi, những dòng sông, tàn phá rừng và đe dọa sự sống của nhiều sinh vật, làm ô nhiễm không khí, nguồn nước… những điều đó đã gây tàn hoại vẻ đẹp tự nhiên và sự cân bằng của Mẹ.

Ý thức được điều đó, chúng con xin tập sống đơn giản, dừng lại những rong ruổi, tìm cầu và luôn nhớ rằng chúng con đã có đủ những điều kiện để sống hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Chúng con xin nguyện sống sâu sắc hơn, luôn giữ gìn tâm niệm biết ơn và ý thức rằng sự kiện mình đang còn sống – chỉ bấy nhiêu đó thôi – đã là một điều kỳ diệu. Trong năm mới này, chúng con xin nguyện giảm tiêu thụ và nguyện sống như thế nào để có thể nuôi dưỡng sự lành mạnh và bền vững cho chính chúng con và cho Đất Mẹ.

Kính lạy tổ tiên, chúng con xin sám hối vì đã tạo ra sự chia rẽ giữa những người anh em trong gia đình nhân loại do sự sự hãi, cuồng tín và thiếu bao dung gây ra. Chúng con đã gây khổ đau cho nhau vì sự phân biệt, kỳ thị dựa trên tôn giáo, sắc tộc và quốc gia. Vì vô minh và sợ hãi, chúng con đã đóng cửa trái tim mình và đóng cửa biên giới đối với những người anh em đến từ các quốc gia khác. Chúng con đã gây chiến tranh, xung đột lẫn nhau và để cho tình trạng quân sự leo thang trong xã hội. Chúng con quên rằng giữa chúng con có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau. Hạnh phúc và khổ đau của chúng con cũng là hạnh phúc và khổ đau của những người anh em và ngược lại.

Chúng con tin rằng trong tự thân chúng con hạt giống từ bi và trí tuệ vô phân biệt mà tổ tiên và Đất Mẹ đã trao truyền cho chúng con. Chúng con xin nguyện tiếp tục đi trên con đường tu tập, mở rộng trái tim mình và buông bỏ sự tự hào để cho hiểu biết và thương yêu có cơ hội lớn lên trong chúng con.

Chúng con xin lạy xuống để thể hiện lòng biết ơn của chúng con đối với Thầy, với chư vị tổ tiên và với Đất Mẹ. Chúng con vô cùng biết ơn vì chúng con đã tìm được con đường tu tập và tìm được một gia đình tâm linh để nương tựa. Chúng con đã nếm được niềm vui, sự bình an và chuyển hóa trên con đường tu tập, cũng như nếm được sự tự do khi buông bỏ những ý niệm của mình. Chúng con cũng cảm nhận được sức mạnh và sự ấm áp của tình huynh đệ. Vì vậy, chúng con ý thức rằng cùng với nhau, chúng con có thể đối diện được mọi khó khăn, thử thách và thực hiện được ước nguyện của mình. Trong giờ phút này, chúng con kính cẩn phát nguyện là chúng con sẽ tiếp tục xây dựng tăng thân, mở rộng con đường cho chúng con và cho các thế hệ mai sau.

Chúng con kính dâng lên chư vị hương hoa, quả phẩm cùng lòng hiếu thảo của chúng con. Xin Thầy, xin Đất Mẹ và chư vị tổ tiên tin tưởng ở chúng con.

————————————————

New Year Prayer to Mother Earth and All Our Ancestors

Dear Beloved Thầy, Dear Beloved Ancestors, Dear Beloved Mother Earth,

We have gathered as a fourfold sangha in this solemn moment of the New Year to express our gratitude and aspiration as a spiritual family, and to begin anew. We know that you, our ancestors, are present in this very moment, and that you are always there for us to take refuge in. As we touch the earth tonight we feel deeply connected to all of you, and to our dear Mother Earth: our beautiful blue planet, the Great Refreshing Bodhisattva – fragrant and cool, kind and inclusive, accepting us all. Mother Earth, we are all your children and, despite our many mistakes and shortcomings, every time we come home to you, you are ready to open your arms and embrace us.

Beloved Thầy, many times in the past we have allowed uncertainty to water the seeds of insecurity and fear in our hearts. We have hesitated to take refuge in the path and we have doubted our family and community. We have not been wholehearted in our practice. We have let our strong emotions and wrong perceptions overwhelm us, giving rise to feelings of helplessness, separation and despair.

Aware of this, we want to begin anew and to remind ourselves of our commitment to practice wholeheartedly, to take refuge in our Beloved Community, and to be a continuation of Thầy and all our spiritual ancestors. We aspire to live more deeply by cultivating our mindful breathing and walking in our daily activities, which we know are your favorite practices. We also know that you love building Sangha, and we vow to continue your work of building brotherhood and sisterhood with all our heart, even though at times it may seem challenging. We will not withdraw from the practice, or abandon our loved ones or our community; but aspire to listen deeply and to help one another, never forsaking anyone, even those who cause us to suffer.

Mother Earth, as a human family, in our misguided pursuit of happiness, we have allowed greed and consumerism to prevail. We have been running after status, power, material possessions and sensual comforts, forgetting that these things can never bring us true happiness and freedom. We have caused great harm to you and to ourselves, exploiting our mountains and rivers, mistreating our forests and other species, polluting our atmosphere and causing you to lose your beauty and balance.

We are determined to simplify our life, and to remember that in the present moment we already have enough conditions to be happy. We vow to live more deeply and with gratitude, aware that simply to be alive is already a miracle. In the coming year, we are determined to consume less and to make effort to live more sustainably both for ourselves and for you, Mother Earth.

Dear Ancestors, we have allowed fear, fanaticism and intolerance to divide us as a human family. We have caused suffering to one another, discriminating on the basis of religion, ethnicity and nationality. We have closed our hearts and our borders, out of fear and ignorance. We have caused wars, terror and conflicts between each other, and allowed the militarization of our society to escalate. We have forgotten that we are inter-dependent, and that our own happiness and suffering is deeply connected to, and dependent on, the happiness and suffering of others.

We trust that within us, there is the wisdom of non-discrimination and great compassion, transmitted to us by you, all our spiritual teachers, our ancestors, and by Mother Earth. We are determined to stay on the Path, to keep our hearts open, and to let go of our pride, so that understanding and love can prevail.

As we touch the Earth, we express our gratitude to you, our beloved teacher Thầy, to our ancestors, and to Mother Earth. We have found the path of practice and a spiritual family to take refuge in. We have experienced joy, peace and transformation. We have tasted the freedom of letting go of our ideas and notions. We have felt the strength and warmth of brotherhood and sisterhood, and we know that together, we can face our challenges and realize our aspiration. We vow, in this solemn moment, to continue to build our family, our community and to open up the path for ourselves and our descendants.

Dear Thầy, Dear Ancestors, Dear Mother Earth, please accept our offerings of incense, flowers, fruit and tea, as a sign of our deep aspiration, respect, gratitude and love.

Lễ xuất gia cây Bạch Dương (Poplar Tree) ngày 14.12.2017

Sáng ngày 14.12.2017, tứ chúng Làng Mai đã vân tập về thiền đường Nước Tĩnh, xóm Thượng để yểm trợ cho lễ xuất gia gia đình cây Bạch Dương.
Lễ xuất gia được diễn ra đồng thời tại Làng Mai Pháp và Làng Mai Thái Lan.

Trong vòng tay thương yêu của Thầy và tăng thân, cây Bạch Dương đã biểu hiện với sự những cái tên thật dễ thương: (12 sư chú): Chân Trời Nhật Quang, Chân Trời Khiết Hỷ, Chân Trời Khiết Lâm, Chân Trời Khiết Minh, Chân Trời Địa Xúc, Chân Trời Lặng Chiếu, Chân Trời Khiết Anh, Chân Trời Khiết Tâm, Chân Trời Tâm Không, Chân Trời Thinh Không, Chân Trời Núi Cao và Chân Trời Đuốc Thiêng;  (10 sư cô): Chân Trăng Giác Ân, Chân Trăng Giác Hiếu, Chân Trăng An Bình, Chân Trăng An Tâm, Chân Trăng An Cư, Chân Trăng Giác Hòa, Chân Trăng An Nhiên, Chân Trăng Giác Minh, Chân Trăng Tuệ Văn và Chân Trăng Tuệ Viên.

Và sau đây là một vài hình ảnh, kính mời đại chúng xem qua:

 

Lễ xuất gia của gia đình Cây Bạch Dương

Chân tâm một quyết lên đường

Sáng ngày 14.12.2017, tứ chúng Làng Mai đã vân tập tại thiền đường Nước Tĩnh – xóm Thượng để yểm trợ năng lượng cho lễ xuất gia của 22 vị trong gia đình Cây Bạch Dương (9 vị được xuất gia tại Pháp và 13 vị được xuất gia tại Làng Mai Thái Lan). Buổi lễ diễn ra thật trang nghiêm và ấm áp trong màu y vàng cùng tiếng tụng kinh, niệm Bụt đầy hùng lực của gần 200 xuất sĩ. Buổi lễ còn có sự chứng minh của Sư Bà Như Tuấn, chùa Phổ Hiền, Strasbourg, Pháp. Rất đông cư sĩ cùng cha mẹ và người thân của các giới tử cũng có mặt để yểm trợ các em trong giờ phút linh thiêng này. 

Giới tử trình diện trước Tam Bảo – lễ xuất gia tại Làng Mai Pháp

Giới tử lạy bốn ơn: ơn cha mẹ, ơn thầy, ơn bè bạn, ơn mọi loài chúng sinh

Năng lượng Bồ đề tâm dũng mãnh và tinh khôi của 22 giới tử đến từ 12 quốc gia khác nhau (Pháp, Đức, Áo, Ý, Colombia, Úc, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Indonesia và Việt Nam) đã lan tỏa và và làm xúc động tất cả mọi người có mặt trong buổi lễ  hôm ấy.

Đã thấy đời cơn huyễn mộng
Chân tâm một quyết lên đường
Nghe hải triều lên mấy độ
Nguyện phát túc về siêu phương
Sáng nay cạo sạch mái tóc
Mở thêm rộng lớn con đường
Phiền não vô biên nguyện đoạn

Một tâm mà động mười phương.

Khu vườn tăng thân giờ đây  lại có thêm 22 Cây Bạch Dương xanh tươi, cùng đứng bên nhau làm đẹp cho tăng thân và cho cuộc đời. Mỗi cây mang một cái tên thật đẹp và ý nghĩa, chứa đựng bao tình thương và sự gửi gắm của Bụt, của Sư Ông và tăng thân:

Chân Trời Nhật Quang, Chân Trời Khiết Hỷ, Chân Trời Khiết Lâm, Chân Trời Khiết Minh, Chân Trời Địa Xúc, Chân Trời Lặng Chiếu, Chân Trời Khiết Anh, Chân Trời Khiết Tâm, Chân Trời Tâm Không, Chân Trời Thinh Không, Chân Trời Núi Cao, Chân Trời Đuốc Thiêng;

Chân Trăng Giác Ân, Chân Trăng Giác Hiếu, Chân Trăng An Bình, Chân Trăng An Tâm, Chân Trăng An Cư, Chân Trăng Giác Hòa, Chân Trăng An Nhiên, Chân Trăng Giác Minh, Chân Trăng Tuệ Văn, Chân Trăng Tuệ Viên.

Gia đình Cây Bạch Dương chụp hình chung với quý thầy quý sư cô Y chỉ sư tại thất Ngồi Yên của Sư Ông

Dưới đây là cảm nhận của một thiền sinh có mặt trong buổi lễ xuất gia của gia đình Cây Bạch Dương:

Ngày hôm nay đẹp lắm thật mà!

Hôm nay là một ngày thật đặc biệt, giữa mùa đông mà lại có một ngày nắng đẹp khô ráo. Gió vẫn thổi dạt dào từng cơn mang theo hơi lạnh vừa đủ để mỗi người cảm thấy thật ấm áp và hạnh phúc khi được ở bên nhau, có mặt cùng đại chúng trong thiền đường Nước Tĩnh, Xóm Thượng, Làng Mai. Ngày hôm nay quý thầy quý sư cô và tăng thân Làng Mai làm lễ xuất gia cho 22 giới tử trong gia đình xuất gia Cây Bạch Dương. Ngày này cũng là kỷ niệm tròn một năm xuất gia của những Cây Mai Vàng. Một năm nay Mai nở hoa và đang góp mặt cùng tăng thân phụng sự và độ đời.

Hôm nay là ngày của hôm nay, niềm vui nối tiếp niềm vui. Trong thiền đường Nước Tĩnh năng lượng bình an như bao trùm lên tất cả mọi người. Quý thầy quý sư cô và thiền sinh từ nhiều quốc gia về tu tập trong ba tháng An cư kiết đông có mặt đông đủ. Ba tiếng chuông trang nghiêm vang lên mở đầu buổi lễ. Tôi cảm nhận rằng dù từ quốc gia nào, nền văn hóa nào, lứa tuổi nào thì trong giờ phút thiêng liêng này, sự im lặng hùng tráng sau mỗi tiếng chuông đang kết nối tất cả đại chúng lại trong hơi thở chánh niệm tràn đầy tình thương.

Là một thiền sinh lần đầu được tu tập trong khóa An cư và cũng là lần đầu được tham dự một buổi lễ xuất gia, lòng tôi có nhiều cảm xúc thật khó diễn tả thành lời. Có lúc tôi thấy mình hòa tan vào đại chúng, cảm nhận được sự thành kính thiêng liêng trào dâng khi nghe tiếng chuông ngân, nghe âm vang tiếng tụng kinh hào hùng của quý thầy quý sư cô, cảm nhận sự hòa hợp muôn người như một của tăng thân.

Có lúc tôi lại ước gì mình có thể trở lại thời tuổi trẻ, đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời và băn khoăn tự hỏi: “Chọn con đường nào? Học lên cao, lấy chồng hay đi tu?”… Rồi tôi quyết cho mình một lối đi. Tôi đang đứng cùng với các em, trong màu áo lam tinh khiết chờ đợi giờ phút linh thiêng và đẹp nhất đời mình…

Tự nhiên tôi nhớ đến cậu bé Cát Tường trong cuốn “Đường xưa mây trắng” của Sư Ông, lòng tôi lâng lâng một cảm giác nhẹ nhàng, bình an đến lạ. Nước mắt tôi đang lăn dài trên má. Tôi ý thức được mình đang đứng cùng đại chúng, xung quanh tôi vài người cũng đang lau nước mắt. Tôi đoán biết trong sự im lặng và chú tâm này, lòng nhiều người đang nổi cơn giông, có khi có sấm, có sét và những cơn mưa. Những giọt nước mắt xúc động chính là những hạt nước mưa đang tưới tẩm cho những hạt giống tốt đã bị bỏ quên lâu rồi. Dù chỉ là cái thấy hạn hẹp của mình nhưng tôi biết họ cũng như tôi, chúng tôi thật may mắn được có mặt ở đây, được có những giây phút an lạc và hạnh phúc này.

Đây là giây phút hạnh phúc!

Bây giờ trước mặt tôi là những gương mặt mới. Vẫn là những người tôi thường gặp vào những ngày quán niệm mà sao khác quá! Mái tóc đã cạo, ánh mắt sáng tươi, nụ cười rạng rỡ yêu thương và hạnh phúc khiến cho tất cả toát lên một vẻ đẹp tuyệt vời. Tôi chợt nhận ra rằng vẻ đẹp đó chính là tấm gương phản chiếu nội tâm của họ sau quá trình tu tập và chuyển hóa ở Làng Mai. Từ ngày hôm nay họ được gọi bằng tên mới: những Sadi và Sadi nữ, những sư chú và sư cô. Bao nhiêu người chúng ta biết rằng chúng ta cũng có vẻ đẹp này nếu thật sự biết dừng lại, tu tập và chuyển hóa?

Tôi cứ ngắm mãi sự tươi mát của các sư chú, sư cô mới và thầm biết ơn họ đã cho tôi câu trả lời: Họ đã biết dừng lại. Dù có những sư chú và sư cô tuổi đã trung niên nhưng điều đáng trân trọng là họ đã biết dừng lại và lựa chọn cho mình một con đường sáng đẹp, con đường của tình thương và sự hiểu biết, của phụng sự và độ đời.

Xung quanh tôi tiếng nói cười của nhiều thứ ngôn ngữ vang lên. Dù từ nhiều quốc gia, từ nhiều nền văn hóa nhưng trong lòng chúng tôi chắc chắn đã có một cơn mưa tưới tẩm những hạt giống thiện lành… Rồi sẽ còn có những chàng trai hiền, cô gái hiền có đủ duyên để chọn cho mình một con đường lớn: “Ta hạnh phúc liền giây phút này. Lòng đã quyết dứt hết âu lo…”. Ngày hôm nay đẹp lắm, thật mà!

Tâm Diệu Minh

Xem thêm hình ảnh của lễ xuất giahttps://langmai.org/dai-may-tim/vien-anh/le-xuat-gia/le-xuat-gia-cay-bach-duong/

Khoá tu tiếng Pháp 2017

Hơn 550 thiền sinh đã về Làng tham dự khóa tu tiếng Pháp (từ ngày 10 – 17.04) trong nắng ấm mùa xuân, trong bầu không khí ấm áp tình gia đình, tình tăng thân.

Ngọn nến mỉm cười – phần II

Ôm đứa con tật nguyền

Hồi đó tôi có làm nội trú (internship) ở bệnh viện Kikuyu Hospital ở nước Kenya, Phi châu và đã chứng kiến một phụ nữ trẻ chỉ mới 18 tuổi sinh đứa con đầu lòng. Thường thì các nước nghèo không có chương trình chăm sóc phụ nữ trước khi sinh, và họ cũng không hề đi bác sĩ để khám thai thường xuyên. Hôm đó cô ta sinh rất khó nên chúng tôi phải mổ để lấy đứa bé ra, và chúng tôi thấy đứa bé đã bị bệnh tràn dịch não (hydrocephalus). Có nghĩa là não thất bị chặn và dịch thủy không thể lưu thông bình thường và do đó, đầu đứa bé đã bị nở lớn ra.

Đứa bé được sinh ra với một cơ thể có kích thước bình thường nhưng với một cái đầu lớn gấp ba lần, trông rất kỳ quặc, dễ sợ, và khủng khiếp; khi tôi mới nhìn đứa bé đó, tôi cũng phải giật mình. Nhưng tôi thấy cô gái mười tám tuổi này đã nâng đứa con đầu lòng của cô lên một cách vô cùng trìu mến và nhẹ nhàng. Cô ôm đứa bé vào lòng, cô nâng niu và đỡ cái đầu kỳ dị của con mình lên rồi dịu dàng áp má cô vào đó. Mặc dù cô biết đứa bé này không thể sống lâu nhưng cô ta vẫn hết lòng yêu thương đứa con tật nguyền này khi nó đang còn đó.

Bạn có thể ôm ấp niềm khổ đau của bạn như thế không? Như ôm ấp đứa con riêng của bạn, như một cái gì đó mà bạn có thể chăm sóc, có thể có mặt với nó? Chúng ta không thể ruồng bỏ khổ đau, bạn biết chứ? Nhiều người nói rằng họ chỉ muốn quên đi nỗi khổ của họ. Nhưng nếu bạn quên đi khổ đau, có nghĩa bạn phải bị bệnh mất trí nhớ (dementia, amnesia), hoặc bị một vật gì đó đập mạnh vào đầu làm bạn tạm thời mất trí nhớ. Có những người thậm chí còn tìm cách phát minh ra loại thuốc có thể chích vào máu để ngăn chặn sự ghi nhận của một dữ kiện vào bộ nhớ, hoặc xóa bỏ một ký ức nào đó trong bộ nhớ.

Nhưng thuốc nào có thể chỉ xoá đi những ký ức bạn không muốn có? Bạn có thật sự muốn xóa bỏ trí nhớ của mình không? Chúng ta tu học là để đừng quên lãng; chúng ta không tu học để có thể quên hoặc trở nên vô cảm. Chánh niệm hàng ngày là để có thể giúp chúng ta ôm ấp những đau nhức và khổ đau của mình, dù là ở phương diện thể chất hay tinh thần. Chúng ta có thể làm theo cách mà người phụ nữ trẻ Kenya đã ôm ấp đứa con của mình với tất cả sự dịu dàng và kiên nhẫn. Cô ta đã thật sự chấp nhận và thương yêu đứa con mình!

Mối tình cho sự sống

Tôi đến nước Mỹ lúc tôi 16 tuổi rưỡi và tôi không nói được tiếng Anh ngoại trừ “How are you?” và “I am fine, thank you.” Lúc đó, tôi đang học lớp ngôn ngữ ESL (English as a Second Language) và có anh bạn trẻ hỏi tôi: “What are you doing?” (Cô đang làm gì vậy?), tôi đáp: “I am fine, thank you!” (Tôi khoẻ, cảm ơn). Năm phút sau tôi mới nhận ra lỗi của mình và tôi mắc cở đỏ mặt cả ngày hôm đó mỗi lần tôi thấy anh ta. Tôi đã dành nhiều năm để cố gắng học tiếng Anh, để học xong trung học, lên học Đại học, và vào trường Y. Do đó, thực sự tôi không có thời gian để chú ý đến thiên nhiên và trân quý thiên nhiên. Nhưng tôi đã may mắn có những người bạn rất yêu thiên nhiên và đã nhiều lần đưa tôi đi dạo chơi hoặc cắm trại trong các khu rừng; và đó là món quà lớn nhất mà những người thương tôi đã trao tặng cho tôi.

Khi tôi về Làng Mai, Thầy của chúng tôi đã tiếp tục tưới tẩm hạt giống yêu thiên nhiên trong tôi. Trong cộng đồng chúng tôi có nhiều thầy và sư cô cũng yêu thiên nhiên, vì vậy chúng tôi giúp nhau phát triển tình yêu này. Thầy đã nói nhiều về Đất Mẹ và Cha Trời trong các bài kinh, bài tụng mới. Những gì tôi học được giúp tôi tiếp xúc sâu sắc hơn với tình yêu và lòng biết ơn của tôi đối với thiên nhiên.

Trong gần 2 năm qua tôi bị bệnh Lyme, và chứng bệnh mãn tính (chronic illness) làm tôi rất mệt mỏi. Đôi khi tôi rất vui vẻ, hạnh phúc và có nhiều năng lượng, rồi chỉ vài phút sau là tôi đã thấy mệt, mất sức và không thể làm gì được. Tôi như một quả bóng đã bị xì hơi và xẹp xuống. Những khi tôi quá mệt mỏi và phải nằm xuống, tôi thích để màn cửa sổ kéo sang một bên để tôi có thể nhìn ra bên ngoài và thấy bầu trời, thấy mây và cây cối, và điều này giúp tôi nhớ rằng sự sống vẫn đang tiếp diễn. Dù tôi mạnh khỏe hay ốm đau, đang ngủ hay đang thức, hiện hữu hay không hiện hữu, sự sống vẫn tiếp tục không ngừng.

Cuộc đời rất đẹp, và tôi luôn nhớ nghĩ điều này. Khi thấy tuyết rơi đầy trời và phủ kín mọi vật, tôi thì thầm: “Mẹ ơi, mẹ vừa khoác lên một chiếc áo choàng màu trắng tinh khôi xinh đẹp và thanh lịch! Cảm ơn mẹ cho con thưởng thức được điều đó.” Ngày qua ngày, tôi học cách tiếp xúc sâu sắc hơn với cái đẹp của sự sống, với mối tình tôi dành cho sự sống. Những khi nằm xuống, tôi thường nói: “Đất Mẹ thân yêu, xin hãy ôm ấp con, tiếp nhận những đau nhức trong cơ thể con, và giúp con ôm ấp chúng,” “Xin giúp con chăm sóc những niềm đau này và chấp nhận như chúng đang là.” Khi bạn có thể giao phó khổ đau của mình cho một cái gì đó bao la vĩ đại hơn so với cái thân hình trên dưới 1mét 7 này, bạn sẽ không còn cảm thấy quá cô đơn hoặc bị vướng mắc vào niềm đau nỗi khổ. Bạn sẽ không còn cảm thấy quá giận dữ hay thất vọng, vì bạn đã giao phó nó cho Đất Mẹ, cho Cha Trời, cho Bụt Tổ. Vì bạn là một phần của sự sống nên dù có gì xảy ra đi nữa, bạn vẫn sẽ tiếp tục hành trình với sự sống.

Vào đêm Giao thừa năm nay, đại chúng xuất sĩ và cư sĩ huân tập để nghe lời cầu nguyện và thực tập Sám pháp địa xúc để tạ ơn Đất Mẹ. Trên đường trở về phòng, một cái thấy đã đến với tôi. Nhiều năm về trước, khi tôi còn nhỏ, tôi đã bước trên lưng mẹ tôi và tôi không hề quan tâm đến cơ thể của mẹ, không màng đến sự đau đớn của mẹ. Nhưng giờ đây tôi là một người đã trưởng thành, có học thức, có hiểu biết, nếu tôi đi bộ trên mặt đất và không biết rằng mình đang đi bộ trên mặt đất thì chẳng khác gì tôi của mấy chục năm về trước, đi trên lưng Mẹ mà không biết là đang đi, đang dẫm đạp lên cơ thể Mẹ, đang gây nhiều đau đớn cho Mẹ mà không hề biết đến điều đó.

Trái đất là Mẹ của chúng ta. Một số người trong chúng ta chưa bao giờ được gặp mẹ và một số khác đã mất mẹ khi còn nhỏ hoặc khi đã lớn; nhưng chúng ta luôn luôn tìm kiếm mẹ. Ngay cả khi bạn còn có mẹ bên mình, có thể bạn vẫn không thấy hạnh phúc, không hài hòa với mẹ. Hoặc có thể là bạn không thể tha thứ cho những vụng về của mẹ, những nỗi khổ đau và buồn phiền mà mẹ đã trao truyền cho bạn. Vì thế, bạn hãy tiếp xúc với Đất Mẹ tuyệt vời này. Đất Mẹ có thua kém gì mẹ của bạn không? Người ta định nghĩa “mẹ” như thế nào? Đất Mẹ cung cấp tất cả mọi thứ, ngay cả cơ thể của chúng ta, nuôi dưỡng chúng ta hàng ngày, và cả không khí để chúng ta thở. Khi người mẹ ruột sinh ta ra, dây rốn đã được cắt ngay sau đó; nhưng với Đất Mẹ, dây rốn không bao giờ bị cắt. Tại sao? Bởi vì chúng ta vẫn còn nằm trong tử cung của Mẹ, trong vùng khí quyển bao la này, phải không? Ra khỏi bầu khí quyển là bạn mất hết mọi thứ, và không thở được là đời bạn chấm dứt! Vì vậy, chúng ta vẫn còn trong tử cung của Đất Mẹ chúng ta.

Khi bạn thực sự tiếp xúc với Đất Mẹ và ý thức điều đó mỗi ngày, bạn sẽ không còn cảm thấy buồn khổ và cô đơn. Bạn sẽ không nói: “Tội nghiệp cho tôi, tôi không có mẹ.” “Tội nghiệp cho tôi, tôi đã mất cha khi còn nhỏ dại.” Hoặc: “Thật khổ cho tôi, cha mẹ tôi quá thô bạo.” Hãy nhớ rằng Đất Mẹ và Trời Cha luôn luôn có mặt đó cho chúng ta. Như vậy, khi đang đi trở về phòng, tôi bỗng nhận ra rằng bây giờ chưa phải là quá muộn để chăm sóc những gì đã thành quá khứ. Hồi đó tôi không nghĩ gì đến cơ thể và cơn đau của mẹ tôi, nhưng bây giờ tôi ý thức được cơ thể và sự đau đớn của Đất Mẹ nên tôi có thể hết lòng chăm sóc Đất Mẹ, hết lòng sống một cuộc sống đẹp nhất, sống một cách bình an, thanh thản nhất, để có thể bước trên thân Mẹ những bước nhẹ nhàng và đầy chánh niệm. Như vậy, một ngày nào đó, tôi sẽ không nhìn lại quá khứ và hối tiếc, nhất là vào thời điểm cuối cùng của cuộc đời, tôi sẽ không phải nói rằng: “Tôi đã không biết sống cuộc đời của tôi, tôi đã không tiếp xúc được với tình yêu trong cuộc đời.”

Nhiều người đã thực sự khóc lóc hay gào thét trong giờ phút cuối cùng của họ; tiếng kêu gào của họ nghe rất rùng rợn, kinh khiếp. Tôi đã nhiều lần nghe các bệnh nhân nguyền rủa các bác sĩ và y tá và họ cứ la la hét hét mãi vì họ quá sợ hãi. Tôi cũng đã thấy nhiều bệnh nhân khi nằm trên giường bệnh, họ chỉ nhìn ra ngoài cửa phòng để chờ một ai đó đến; nhưng ngày này qua ngày khác vẫn không có người nào đến, thậm chí vợ chồng hoặc con cái của họ. Như thế, họ cứ lặng lẽ chìm dần vào niềm tuyệt vọng sâu thẳm trong những giây phút cuối cùng của đời họ, thật thê thảm và tội nghiệp.

Nỗi khổ đau to lớn của tôi!

Chúng ta thường ao ước rằng chúng ta có thể tìm thấy một người nào đó yêu thương chúng ta, một người hoàn hảo, tương hợp (compatible) và người đó có thể chăm sóc chúng ta. Nhưng bao nhiêu người trong chúng ta đã tìm được một người lý tưởng như vậy? Dù có tìm được, liệu chúng ta có đủ khả năng để duy trì được tình yêu đó và chăm sóc người đó nếu chúng ta không biết có mặt với chính mình, không biết chăm sóc và trân quý cơ thể của chính mình? Nếu bạn không biết chăm sóc bản thân mình như vậy, thì ngay cả khi bạn tìm thấy một người hoàn hảo nhất – ví dụ như Đức Bụt hay Đức Chúa Trời – bạn cũng sẽ làm hư hỏng con người tuyệt vời ấy và biến họ thành một kẻ hay tức giận, lo lắng và ganh tị.

Ngay cả khi người hoàn hảo ấy đến với bạn, nhưng nếu bạn không có mặt với chính mình, thì trong những giờ phút khó khăn, bạn sẽ đẩy người đó ra, không để họ gần gũi chăm sóc cho bạn. Khi không biết chăm sóc mình, chúng ta chỉ muốn sống co rút lại với những nỗi khổ niềm đau của riêng mình và chúng ta không tiếp xúc sâu sắc được với ai khác. Bạn có kinh nghiệm này không?

Bạn chỉ muốn tránh xa những gì tốt đẹp để có thể ôm chặt những khổ đau này lại với mình. Như vậy, chúng ta thấy có nhiều cách để xử lý khổ đau. Người thiếu phụ trẻ Kenya đã ôm ấp đứa con tật nguyền của cô với sự dịu dàng hiếm thấy. Nhưng nhiều người trong chúng ta không biết làm thế nào để đối xử với những khổ đau của mình. Một là chúng ta chạy xa nó, chúng ta chối bỏ nó ngay cả khi nó có ở đó. Một cách khác là chúng ta bám víu vào nó để nó luôn là bóng ma che mờ hiện tại.

Khi còn là sinh viên y khoa, tôi rất thích làm thơ nên thường đến dự những buổi đọc thơ tự do công cộng. Tôi nhớ một hôm có một người đứng lên đọc bài thơ của anh ta. Anh la lớn: “Nỗi khổ đau! Nỗi khổ đau to lớn của tôi! Nỗi khổ đau của tôi to lớn hơn tất cả khổ đau của bạn! Ôi, nỗi khổ đau của tôi!” Tôi không nhớ phần còn lại của bài thơ này mà chỉ nhớ “nỗi khổ đau to lớn” của anh ta thôi. Hầu hết chúng ta ôm giữ niềm khổ đau của chúng ta theo cách đó: “Nỗi khổ đau của tôi là như thế và không ai được chạm vào nó, hoặc nói về nó! Đừng làm bất cứ điều gì với khối khổ đau này vì nó là của riêng tôi.” Chúng ta ôm chặt lấy khổ đau như tình nhân tuyệt vời nhất của đời mình. Nếu tôi hỏi bạn thích tự do hay đau khổ? thì chắc chắn tất cả các bạn đều ngỏ ý thích tự do. Nhưng sự thật là chúng ta rất ghiền khổ đau! We are addicted to our own suffering. Dù trốn chạy nó hay ôm ghì nó, đó cũng chỉ là những phương cách để chúng ta giữ lấy khổ đau và nuôi dưỡng nó, vì nó là “của” chúng ta. Vì vậy, chúng ta phải làm cách nào để tránh không bị vướng mắc với những niềm đau và nỗi khổ của chúng ta?

Niết Bàn hữu dư

Như một người đang quan sát chim bay lượn trên trời cao (a bird watcher), thở vào, bạn hãy ý thức hơi thở vào như nó đang là. Thở ra, bạn hãy ý thức hơi thở ra như nó đang là. Rồi để ý xem bạn có thể theo dõi hơi thở từ đầu đến cuối và có thể tiếp xúc với khoảng nghỉ (a pause) ở cuối hơi thở vào. Hãy mỉm cười ở khoảng nghỉ đó. Khi thở ra, bạn cũng theo hơi thở ra từ đầu đến cuối cho đến khoảng nghỉ. Khi đang ở trong khoảng nghỉ đó, hãy thư giãn toàn bộ thân và tâm của bạn. Tiếp tục theo dõi hơi thở vào, ra của bạn. Nếu một cảm xúc hoặc một ý nghĩ khởi lên, bạn chỉ cần đơn giản mỉm cười với nó. Bạn đừng để dính mắc vào nó nhưng cũng đừng xua đuổi nó; bạn chỉ cần mỉm cười với nó, thở nó ra, và neo tâm mình vào hơi thở chánh niệm.

Trong đêm Giao thừa dương lịch vừa qua, Thầy đã nói một bài Pháp thoại trong đó có nhắc đến Niết Bàn. Hầu hết khi nghe từ Niết Bàn, chúng ta nghĩ đến một nơi hay một trạng thái siêu nhiên phi thường. Nhưng Thầy đã cho biết rằng chữ “Niết Bàn” thực sự đã bắt nguồn từ một từ ngữ phổ biến của người dân nông thôn ở Ấn Độ để mô tả một ngọn lửa đã được dập tắt qua đêm, tro không còn nóng, và tất cả mọi thứ đang ở trong trạng thái mát mẻ (a state of coolness). Nếu bạn đặt bàn tay vào đó, nó sẽ không thiêu đốt bạn như trước, đó là Niết bàn. Vì vậy, Niết bàn được định nghĩa là trạng thái mát mẻ của tâm, khi tâm không còn phiền não và tri kiến sai lầm.

Khi bạn theo dõi hơi thở từ đầu đến cuối và tâm của bạn ngừng suy nghĩ, tâm có mặt với hơi thở thì đó là Niết Bàn, bạn thấy không? Bởi vì trong thời điểm đó, bạn đã thoát ra khỏi phiền não, thoát ra mọi tri kiến, chỉ còn có không gian bao la, sự tĩnh lặng và yên bình. Bạn không nghĩ về quá khứ và không bị những gì trong quá khứ níu kéo hệ luỵ. Bạn không nghĩ về tương lai và không bị tương lai nắm bắt, không tính toán âu lo. Bạn chỉ đơn giản có mặt trong hiện tại, thân và tâm là một với hơi thở vô biên. Vì bạn có chánh niệm, có sự dừng lại, nên trong một hơi thở, bạn có thể tiếp xúc và trải nghiệm Niết bàn. Theo dõi hơi thở vào từ đầu đến cuối, mỉm cười và buông thư trong khoảng nghỉ ở cuối hơi thở. Theo dõi hơi thở ra từ đầu đến cuối, mỉm cười và buông thư trong khoảng nghỉ ở cuối hơi thở. Bạn được giải thoát và hoàn toàn tự do trong thời điểm của khoảng nghỉ này. Có điều gì phi thường hơn mà bạn muốn nghe hoặc thấy ngoài điều bạn vừa trải nghiệm? Điều phi thường có ngay ở đó!

Hoặc khi bạn thấy một cái gì đó như thị, bạn cũng đang trải nghiệm Niết bàn, bởi vì bạn đã thoát ra khỏi các kinh nghiệm quá khứ, thoát ra khỏi các thể loại đã thiết lập mã hóa trong não bộ, và bạn thấy nó đang là ngay trong giây phút này, đó là Niết bàn. Mặc dù vẫn còn những khổ đau trong thân và tâm, vẫn có những điều đang thiêu đốt chúng ta (hữu dư nghĩa là vẫn còn những phiền não – with residues or remnants), nhưng trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta vẫn có thể tiếp xúc với sự tự do, thanh thản, với sự mát mẻ của Niết bàn; đó là Niết bàn hữu dư. Chúng ta vẫn có thể tiếp xúc với niềm vui và sự linh thiêng khi chúng ta biết trở về với hơi thở và hình hài 5 uẩn, khi chúng ta biết có mặt với sự sống như nó đang là.

Một tích tắc do dự

Khoảng 2 tháng trước khi tôi về Làng Mai để xuất gia, một hôm tôi lái xe đến bệnh viện để trả sách và cũng để nói đôi lời tạm biệt với các bạn đồng nghiệp và ông giám đốc của bệnh viện. Trên đường về, trong khi lái xe trên xa lộ, có một bà đang lái xe song song với tôi đã đưa tay vẫy vẫy và chỉ vào trước xe tôi; tôi thấy đầu xe của tôi đang bốc khói. Tuy kiến thức về xe cộ của tôi rất ít ỏi, nhưng khi đó tôi cũng biết là mình phải tìm một Exit để ra khỏi xa lộ và ngừng xe lại. Nhưng khi tôi đạp nhẹ thắng để vào Exit, chiếc xe vẫn chạy nhanh; tôi đạp mạnh hơn nhưng nó vẫn tiếp tục chạy rất nhanh, và cuối cùng tôi đạp hết cỡ vào thắng nhưng xe vẫn lao nhanh vào Exit.

Trong giây phút đó, vô số hình ảnh đã xuất hiện trong tâm trí tôi. Tôi nhìn vào những hình ảnh đang liên tiếp lật qua trong đầu tôi, trong khi hai tay tôi vẫn bám chặt vào tay lái. Không phải trí năng của tôi, mà từ một nơi sâu xa của tâm thức cho tôi biết đây là những hình ảnh của cuộc đời tôi, những khoảnh khắc khác nhau mà tôi đã sống qua, và tuy những hình ảnh liên tục hiện ra như tia chớp, tôi “biết” rõ ý nghĩa của mỗi hình ảnh.

Tôi tiếp tục nhìn những hình ảnh và chỉ có một ý nghĩ duy nhất khởi lên trong tôi: “Bạn của tôi đã chết rất đẹp, nhưng tôi, tôi sẽ chết với đầy bạo động.” Tay tôi vẫn bám chặt cứng vào tay lái trong khi chiếc xe lao nhanh vào cuối đường exit, băng qua trục giao thông, qua đèn xanh đèn đỏ và tất cả mọi thứ cho đến khi nó hết đà và dừng lại ngay giữa một con đường vắng vẻ. Tôi bước ra khỏi xe, đi bộ khoảng 15 phút đến cửa hàng gần nhất để mua vài thùng nước để đổ lên đầu xe đang bốc khói; khi đó tôi mới nhận ra rằng tôi không thể xách các thùng nước này trở lại xe vì chúng quá nặng đối với tôi.

Sau đó, tôi thấy một người đàn ông rất cao lớn khoảng 40 tuổi đang đi tới và tôi liền hỏi ông ta: “Ông có thể giúp tôi không?” tôi nói với ông tất cả những gì vừa xảy ra. Ông đồng ý chở tôi cùng các thùng nước đến xe giùm tôi. Ông nhận xét tình hình xe và nói: “Nếu cô đổ nước lạnh lên cái động cơ đang nóng khủng khiếp này, nó sẽ bị rạn nứt. Bộ tản nhiệt đã bị hỏng, không làm mát được động cơ.” Sau đó, ông ta đã giúp tôi gọi người đến câu xe đi. Tôi lại hỏi ông: “Ông có thể lái xe đưa tôi đến ga xe lửa không? Bởi vì tôi cần tham dự buổi cúng thất của bạn tôi và bây giờ đã quá trễ. Tôi xin ông vui lòng đưa tôi đến ga xe lửa.” Ông nói ok và lái xe đưa tôi đi. Vì tôi vừa ra khỏi xa lộ để vào một exit lạ nên đây là thành phố nào và tôi đang ở đâu, tôi cũng không biết nữa. Vì vậy, khi ông lái xe, tôi chỉ ngồi và nói chuyện một cách rất thân tình với ông ta.

Là một bác sĩ trẻ mới ra trường, tôi đã không ngần ngại cho ông nhiều lời khuyên: “Ông biết đấy, ông hơi mập, ông cần ăn uống lành mạnh, ông cần phải tập thể dục nhiều hơn để được khỏe mạnh hơn.” Ông ấy kể với tôi rằng ông ta thường lái một chiếc mô-tô hạng nặng loại Harley Davison và ông có một cô con gái mà đã nhiều năm nay ông không được gặp. Tôi lại “giảng” tiếp: “Điều quan trọng là ông phải khỏe mạnh”- hồi đó tôi chỉ mới đi tu học có một lần, nhưng hình như ý niệm này đã có sẵn trong gene của tôi – “Ông phải chăm sóc tốt cho bản thân để ông có thể thực sự có mặt cho con gái của ông và ông nên cố gắng giữ liên lạc với cháu vì cháu rất cần một người cha. Tôi lớn lên không được gần cha mình nên tôi bị mất mát rất nhiều. Ông nên cố gắng tìm gặp con ông để con ông vui.” Như vậy là chúng tôi đã thành thật tâm sự với nhau một lúc khá lâu trong xe.

Bất chợt khi nhìn ra ngoài cửa xe, tôi rất ngạc nhiên và nhận ra rằng chúng tôi đang ở trong sa mạc, bởi vì tôi trông thấy rất nhiều cây xương rồng mọc rải rác khắp nơi. Tôi ngừng nói và giữ im lặng hoàn toàn khi tôi nhìn quanh và thấy xe đã chạy vào một con đường đất trông rất hoang vắng và xa lạ. Một lúc sau, xe đến một khu nhà di động trông tồi tàn, cũ nát, cách xa nhau. Ông ta ngừng xe trước một căn nhà như vậy và nói: “Tôi cần phải gọi điện thoại,” và ông lấy theo chìa khoá xe, đi vào nhà, để tôi ngồi trong xe một mình.

Tôi ngồi đó một lúc lâu nhưng cuối cùng tôi cũng bước ra khỏi xe, tôi bước lên thang cấp, nhìn vào và thấy ông ta đang đứng ngay tại một cái bàn nhỏ, kế bên là cái giường, và phần còn lại trong phòng thì tối thui. Tôi cảm được rằng ông ta đang đắn đo suy nghĩ không biết phải làm gì trong thời điểm đó; ông đang bị cấu xé và do dự trong tâm. Ông nhìn lên, tôi đứng thật yên, rồi tôi đi lùi vài bước và trở lại ngồi trong xe. Tôi biết tôi không thể chạy trốn và cũng không thể la lớn vì xung quanh tôi là sa mạc, hoàn toàn hoang vắng, không có một bóng người. Tôi không thể làm gì khác hơn là ngồi yên trong xe. Tôi rất biết ơn tổ tiên của tôi đã cho tôi khả năng này; trong những giây phút nguy hiểm của cuộc đời tôi, tôi rất bình tĩnh có mặt ngay trong giây phút đó, không suy nghĩ gì, và không làm gì cả. Thái độ bình tĩnh, im lặng này thực sự đã nhiều lần cứu tôi, và lần này là một. Tôi chỉ ngồi yên ở đó. Từ từ ông ấy bước ra khỏi nhà, mở cửa xe, leo lên và ông đóng sầm cửa lại. Rồi ông mở máy, lái xe đưa tôi ra khỏi khu vực hẻo lánh đó và đưa tôi đến ga xe lửa.

Suốt đoạn đường đi, ông và tôi không hề nói với nhau một lời nào. Tôi biết, vì một lý do nào đó, ông ấy đã tha cho tôi, không hành hạ hoặc xúc phạm đến tôi. Bạn biết không, tôi đã ôm người đàn ông cao lớn khổng lồ ấy, hai cánh tay tôi tuy không thể ôm hết vòng bụng của ông nhưng tôi ôm ông rất chặt – dù tôi chưa được học về phương pháp thiền ôm lúc đó! Nhưng đó là một cái thiền ôm thực sự bởi vì tôi đã có mặt ở đó, tôi biết ông ấy cũng có mặt ở đó, và tôi biết rất rõ tôi vẫn còn sống. Sau đó ông lái xe đi và tôi đã đến dự buổi lễ cúng thất cho bạn tôi. Tôi đã thoát chết hai lần trong một ngày, lần đầu khi xe của tôi lao vào Exit mà không có thắng, và lần thứ hai khi người đàn ông chở tôi vào sa mạc. Nhưng rồi chuyện này cũng rơi vào quên lãng vì tôi phải thu xếp nhiều việc trước khi về Làng.

Cho đến sau khi tôi xuất gia, một hôm trong buổi ngồi thiền những hình ảnh này đã trở về trong tâm trí và tôi nhận ra điều gì đã cứu tôi. Đó là bởi vì tôi đã đối xử với người đàn ông ấy như một con người, không hề có sự phân biệt kỳ thị, bởi vì tôi đã quan tâm đến hạnh phúc và khổ đau của ông ta như của chính tôi. Tôi thấy được một con người đẹp trong ông ta và tôi muốn ông được hạnh phúc, tôi muốn con ông được hạnh phúc. Vì vậy, mặc dù đã có những động cơ khác trong ông, ông đã không nỡ làm tổn hại tôi. Phật tánh trong ông đã được tưới tẩm và đã làm cho ông do dự (hesitated). Chỉ cần ông do dự trong một tích tắc mà mạng sống của tôi đã được bảo toàn.

Nụ cười đêm thâu

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta có thể rất vụng về trong ý nghĩ, lời nói và hành động của chúng ta. Chúng ta có thể vụng về, thiếu sót đối với bản thân, với những người thân yêu và nhiều người khác. Những người khác cũng có thể rất vụng về khi đối xử với chúng ta. Nhưng chúng ta có can đảm để có thể tiếp tục cởi mở với sự sống, tiếp xúc với mọi thứ như chúng đang là trong giây phút đó, không để chúng bị bóp méo bởi khung kính màu của quá khứ hay không?

Đối với tôi, đây là khả năng quý báu nhất khi chúng ta có thể có mặt với những gì xảy ra trong hiện tại, dù đó là niềm vui hay nỗi khổ, dù sự việc dễ dàng hay khó khăn. Chỉ cần có mặt với nó. Hơi thở và các bước chân ý thức sẽ giúp bạn; tâm an trú trong thân sẽ giúp bạn. Chúng giúp bạn sống giây phút hiện tại như nó đang là, thay vì sống như một nạn nhân của quá khứ hoặc của tương lai.

Ngay trong thời điểm này khi bạn tiếp xúc với sự vật như nó đang là (as it is), bạn đang thực sự chăm sóc và chữa lành quá khứ. Quá khứ vẫn còn sống động trong hiện tại, và quá khứ sẽ được chữa lành khi tâm của bạn tiếp xúc nó với sự thanh thản, với niềm vui và sự linh thiêng. Nếu bạn có thể tiếp xúc với sự thanh thản, với niềm vui và sự linh thiêng trong thời điểm hiện tại, bạn biết rằng tương lai cũng đang được chăm sóc, vì nền tảng của tương lai chính là hiện tại. Chúng ta thường muốn hy sinh giây phút hiện tại để cố gắng níu kéo quá khứ hoặc theo đuổi tương lai. Chúng ta thường nói: “Tôi không có thì giờ để thực tập, đó là một thứ xa xỉ!” hoặc giả “Để vài năm nữa rồi tôi thực tập.” Vâng, nhưng khi bạn già hơn, tâm của bạn có thể sẽ không còn sáng suốt như bây giờ để dễ dàng tu học.

Nếu bạn không tiếp xúc với thời điểm hiện tại như nó đang là, bạn vẫn phải đi qua những thời điểm đó, bạn không thấy sao? Bạn vẫn phải ăn, vẫn phải thở, vẫn phải đi bộ, vẫn phải dùng phòng vệ sinh, và vẫn phải làm việc, có gì khác đâu? Chúng ta thường hay hiểu lầm về sự thực tập chánh niệm và nghĩ rằng nó là một cái gì đó nằm ngoài cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Nhưng sự thực tập không nằm ngoài cuộc sống, không nằm ngoài những sự bình thường và phàm tục. “Nó” nằm ngay trong thời điểm của bất cứ điều gì bạn đang làm, như đang ăn, đang thở, đang đi và đang làm việc; và “nó” có thể là khổ đau, “nó” có thể là một lỗi lầm, và “nó” cũng có thể là niềm vui và sự linh thiêng mà bạn đang tiếp xúc.

Có một câu chuyện thiền nổi tiếng về một đệ tử hỏi vị Thiền sư: “Con có thể tìm Vô sinh và Bất diệt ở đâu?” và vị thiền sư trả lời: “Tìm vô sinh bất diệt ngay trong sinh diệt.” Như thế, trong truyền thống đạo Bụt, khi tìm hiểu về sự thực tập, chúng ta không nên tìm cầu những điều siêu nhiên hoặc huyền bí, mà chỉ cần làm lắng dịu thân và tâm để chúng ta có thể có mặt thật sự với cuộc đời của chúng ta.

Cây nến trước mặt tôi đã cháy gần một giờ, và khi sắp tắt nó sẽ bừng sáng lên một lần cuối rồi mới tắt. Ban đêm tôi thường thắp một ngọn nến và nằm xuống để thở, để làm giảm sự căng thẳng, đau nhức trong thân tôi, và xin Đất Mẹ ôm lấy chúng. Tôi nằm thở như thế rất lâu với ánh nến mờ nhạt ở phía sau tôi, nhưng đến một lúc nào đó đột nhiên nó bừng sáng lên và tôi biết rằng ngọn nến sắp tắt.

Một nén hương cũng vậy, nó sáng lên rồi mới tắt; và một sư anh của tôi nói đó là nén hương mỉm cười (the incense smiles). Nến cũng mỉm cười trước khi tắt. Chúng ta có thể mỉm cười như thế với cái chết trong giờ phút cuối cùng của đời mình, với cái chết mà hiện bây giờ đang có mặt trong từng giây từng phút? Bạn có thể mỉm cười mỗi khi bạn cảm nhận sự đau nhức và khổ đau trong thân tâm của bạn? Bạn có biết làm thế nào để thư giãn, để có mặt với những gì đang xảy ra như nó đang là? Chúng ta phải thực tập hàng ngày mới có được những khả năng này chứ không phải tình cờ mà có.

Cũng có những người không tu học theo một pháp môn nhất định nào, nhưng trong cuộc sống hàng ngày, họ có những xu hướng bẩm sinh khiến họ sống hồn nhiên, hài hoà và tiếp xúc được với sự thiêng liêng của sự sống. Với năng lượng chánh niệm chế tác hàng ngày, chúng ta chắc chắn có thể tiếp xúc với hạnh phúc và sự thiêng liêng trong đoá hoa, ngọn cỏ, nụ cười của ngọn nến, của nén hương.

Khi tôi đang đi thiền hành trở về phòng sau buổi lễ mừng năm mới, tôi chợt hiểu rằng sở dĩ chúng ta rất sợ chết là bởi vì trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta không tiếp xúc được với sự sống của chúng ta. Nếu tiếp xúc sâu sắc với sự sống, chúng ta sẽ thấy cái chết nằm ngay trong sự sống và nó luôn luôn có mặt ở đó. Chúng ta biết rằng mỗi tế bào trong cơ thể chúng ta vẫn tiếp tục tái sinh và chết đi, tiếp tục sinh diệt. Khi bạn thở một hơi thở vào, cái gì đã xảy ra với hơi thở ra trong khoảng nghỉ trước đó để hơi thở vào này có thể xảy ra? Bạn phải buông hơi thở ra để hơi thở vào kế tiếp có thể xảy ra. Vì vậy, bạn có thể thực tập theo dõi hơi thở bất cứ nơi nào, khi bạn ngồi vào máy tính, khi lái xe, hoặc khi điện thoại reng và bạn thở, bạn sẽ tiếp xúc với cái đến và cái đi của sự sống và bạn cũng sẽ tiếp xúc với cái không-đến và không-đi, cái Vô sinh bất diệt của nó.

Bạn có thể thực tập thiền đi, thực tập trở về ngôi nhà đích thực trong cuộc sống hàng ngày của bạn. Nhà là cơ thể của bạn, nhà là những gì bạn đang có bây giờ và ở đây, nhà là Đất Mẹ. Sau này bạn sẽ không phải sợ hãi khi bạn phải nằm xuống vì thân thể của bạn không thể làm gì khác nữa. Bạn sẽ không phải sợ hãi khi thở đến hơi thở cuối cùng của bạn bởi vì bạn đã biết cách trở về nhà trong mỗi phút giây. Chỉ có những người không chịu về nhà, cứ quanh quẩn bên ngoài và xa lạ với chính bản thân mình, chính những người đó mới có nhiều sợ hãi. Cây nến dạy chúng ta mỉm cười, nén hương cũng dạy chúng ta mỉm cười; đây là những bậc thầy của chúng ta. Đây cũng là những gì những người tu chúng tôi thực nghiệm trong sự tu học hàng ngày. Ngoài ra, chúng tôi không có gì phi thường hoặc siêu phàm hơn để có thể làm vui các bạn.

Đã có đường đi rồi con không còn lo sợ

Mùa an cư năm nay, đại chúng Thái Lan rất hạnh phúc khi được đón quý thầy, quý sư cô từ các trung tâm tu học khắp nơi trở về thăm Sư Ông và đại chúng. Một trong những hạnh phúc đó là sự hiện diện của thầy Pháp Hữu, thầy trụ trì xóm Thượng Làng Mai Pháp. Thầy đã hiến tặng năng lượng tươi mát của một vị xuất sĩ trẻ với tinh thần mang đạo Bụt đi vào cuộc đời. Các sư em trong BBT đã có một buổi ngồi chơi cùng thầy, được thầy chia sẻ những niềm vui, những trải nghiệm thú vị trong quá trình thực tập và tiếp nối sự nghiệp của Sư Ông và tăng thân . Mời quý vị cùng BBT ngồi chơi với thầy nhé!

BBT: Thầy là một người trẻ lớn lên ở Tây phương, vậy điều gì ở Làng Mai đã thu hút thầy và khiến cho thầy quyết định trở thành một người tu theo truyền thống Làng Mai?

Thầy Pháp Hữu: Ngày xưa khi Pháp Hữu mới đến Làng, cảm nhận đầu tiên của một chú bé mới chín tuổi lúc đó là sự hạnh phúc và tươi mát của quý thầy, quý sư cô. Hình ảnh đánh động Pháp Hữu nhất là khi có một sư chú tới chào mình một cách rất kính lễ, tuy mình mới chín tuổi. Lần đầu tiên Pháp Hữu được một người lớn hơn kính trọng mình. Lúc đó tuy còn rất nhỏ nhưng Pháp Hữu cảm thấy có một cái gì đó rất mới, rất đặc biệt nơi người tu trẻ này.

Pháp Hữu có ý đi tu vì nghĩ rằng nếu đi tu mà thành công thì sẽ đem lại lợi lạc cho nhiều người. Pháp Hữu thấy Sư Ông luôn có tinh thần cởi mở, khám phá và làm mới đạo Bụt để đáp ứng cho người trẻ, nhất là Làng Mai ở Pháp phải đáp ứng nhu cầu cho người trẻ Tây Phương. Cái đặc biệt của Làng Mai, của Sư Ông chính là Sư Ông hết sức giữ gìn những tinh hoa, cốt tủy của truyền thống đạo Bụt nhưng đồng thời luôn mở rộng cửa cho sự thay đổi. Sư Ông từng nói: Đạo Bụt nếu đứng yên tại chỗ và không được làm mới thì sẽ không thể tồn tại, và sẽ không có khả năng đáp ứng được những khổ đau hiện thực. Khi đó mối liên hệ giữa người xuất sĩ và cư sĩ sẽ trở nên xa cách, không có truyền thông, và người cư sĩ sẽ không thấy ngôi chùa là nơi họ có thể nương tựa.

Một điểm đặc biệt nữa của Làng Mai là Sư Ông luôn muốn tăng thân có sự tiếp nối. Pháp Hữu đi tu khi còn rất trẻ. Lúc đó, ở Làng có sáu, bảy người tu trẻ nữa. Lúc đó câu hỏi của đại chúng đặt ra là có nên cho các sư chú, sư cô này đi học ở trường ngoài xã hội hay không, vì đây là lần đầu tiên có các em thiếu niên vào trong tăng thân. Cuối cùng đại chúng quyết định là không cho các em đi học bên ngoài vì thấy các em còn quá non, tâm của các em còn trong sáng lắm; các em như những miếng bọt biển, cái gì cũng thấm được. Cho nên muốn thực sự đầu tư vào người xuất sĩ trẻ thì môi trường xung quanh họ rất quan trọng. Sư Ông dạy là: tất cả những gì mà các em cần học thì các thầy, các sư cô có thể dạy. Trong tu viện có thể cung cấp được những kiến thức cần thiết, không chỉ về Phật giáo, mà còn về cơ thể học, khoa học, toán, văn… Đại chúng có đủ người có kinh nghiệm ở ngoài đời để chia sẻ cho các vị xuất gia trẻ. Hồi xưa Pháp Hữu biết là mình sẽ không đi học mà sẽ đầu tư rất nhiều cho con đường thực tập của mình.

BBT: Thầy có thể chia sẻ một chút về kinh nghiệm xây dựng tăng thân trên cương vị một vị trú trì trẻ?

Khi nhìn về tăng thân, Pháp Hữu thấy cách Sư Ông đào tạo xuất sĩ rất đặc biệt, qua bốn lĩnh vực là tu, học, chơi và phụng sự. Quanh năm, đại chúng sẽ tạo cơ hội đó cho mình. Nếu khéo léo, mình sẽ tận dụng được những cơ hội đó để lớn lên. Cái khó của người trẻ là sự lười biếng. Người trẻ chúng ta vừa có nhiều năng lượng, lại vừa ham chơi một chút. Hồi đó Sư Ông và bố của Pháp Hữu dạy là: “khi còn trẻ thì con phải trẻ”, có nghĩa là mình phải biết chơi, mình phải biết tận hưởng chứ đừng đợi tới lúc già mình mới chơi thì hơi kì. Khi đó mình phải vững, mình phải trầm hơn một chút rồi. Khi tận dụng được tuổi trẻ của mình thì tuổi trẻ rất đẹp, đừng có đánh mất tuổi trẻ đó.

Có một lần nhân dịp Tết Trung Thu ở Làng được tổ chức trong khóa tu mùa hè, Pháp Hữu và một thầy trẻ khác nữa cùng với hai em thiếu niên hát hip-hop rất sôi động. Ngày hôm sau, Sư Ông gặp Pháp Hữu ở trên Cốc và hỏi: “Nghe nói con hát nhạc hip-hop phải không, Thầy thích lắm!”. Điều này cho Pháp Hữu thấy là Làng Mai vừa trở về với gốc rễ nguyên thủy vừa mở rộng cho sự đổi mới, và điều này giúp cho những người trẻ như chúng ta không cảm thấy bơ vơ, lạc lối.

Điều mà Pháp Hữu rất mang ơn Sư Ông là Sư Ông đã đào tạo, đã xây dựng nên một tăng thân mà khi mình sống trong đó, cái ngã của mình có cơ hội được mài mòn. Ví dụ Pháp Hữu cho pháp thoại nhưng Pháp Hữu cũng phải xếp hàng ăn cơm với đại chúng, cũng phải vô ngồi thiền và tham gia các sinh hoạt của đại chúng; có lúc thì cũng quét lá, chấp tác như anh chị em thôi… Những điều đó bảo vệ đời tu của mình. Nếu sau khi Pháp Hữu cho pháp thoại, giảng dạy, hướng dẫn xong khóa tu rồi, vào thời khóa bình thường Pháp Hữu không muốn sinh hoạt nữa thì đó là tiếng chuông cảnh báo đầu tiên để Pháp Hữu trở về.

Cái khó nhất của người tu là khi mình càng tu lâu thì người ta sẽ càng muốn tới gần mình, muốn tôn kính mình. Nếu không khéo thì mình đi trật đường hồi nào không hay, lúc đó đại chúng kéo mình lại khó lắm. Pháp Hữu thấy khi thế giới bên ngoài cần mình thì mình phải vừa nuôi tâm bồ đề vừa giữ bản chất của một người tu.  Có những lúc Pháp Hữu nhận ra là mình đi khóa tu nhiều quá thì Pháp Hữu phải tìm lại sự quân bình bằng cách lần tới Pháp Hữu sẽ ở nhà để người khác đi. Hiện tại ở xóm Thượng, điều mà Pháp Hữu hay làm nhất là luôn kêu gọi các thầy giáo thọ có mặt cho đại chúng ở nhà. Sư Ông dạy rằng “thương yêu nghĩa là có mặt cho nhau”. Pháp Hữu đang thực tập theo lời dạy đó của Sư Ông. Rất dễ dàng để Pháp Hữu xung phong đi khóa tu, vì trong đại chúng ai cũng thấy Pháp Hữu có khả năng nói tiếng Anh, có thể chia sẻ, hướng dẫn thiền sinh. Nhưng vào thời điểm này, Pháp Hữu thấy vị trí cần thiết của Pháp Hữu là có mặt cho đại chúng, yểm trợ đại chúng, không cần phải hướng dẫn gì cả, chỉ cần có mặt thôi. Khi mình ngồi thiền, ăn cơm chung mà thấy sự có mặt của các sư anh, sư chị lớn thì tự động mình cảm thấy có sự yểm trợ.

Có vài sư em nói với Pháp Hữu: “Lúc này thầy cần có mặt bên Sư Ông chứ, thầy là thị giả lâu năm, lại rất gần gũi Sư Ông mà!” Theo suy nghĩ riêng của Pháp Hữu thì Pháp Hữu thấy mình cũng  đang chăm sóc Sư Ông bằng cách mình chăm sóc xóm Thượng, chăm sóc Làng Mai, chăm sóc các sư em Tây phương bên đó. Trong hai năm vừa qua Pháp Hữu quyết định không đi khóa tu nhiều, có những lúc cần thiết Pháp Hữu cũng phải đi một hai ngày nhưng Pháp Hữu không muốn vắng mặt nhiều trong chúng. Sư Ông từng dạy rằng: mỗi chúng ta là một tế bào trong cơ thể của Tăng thân, ai cũng cần xác định được vị trí của mình trong đó. Pháp Hữu thấy vị trí của sư anh Pháp Ứng, sư anh Pháp Dung là phải đi hướng dẫn khóa tu thì mình phải về để yểm trợ quý sư anh vào những công việc khác như chăm sóc các sư em để quý sư anh có không gian đi giảng dạy. Khi thấy như vậy rồi thì tuy ở xóm Thượng Pháp Hữu làm nhiều việc, vừa trụ trì, vừa ban văn phòng, vừa các ban tổ chức, có mặt cho anh em, có mặt với thiền sinh nhưng Pháp Hữu không thấy mệt, do mình đang được sống với lý tưởng của mình. Bố của Pháp Hữu thường nói đùa là “ở ngoài xã hội hiện nay có nhiều người trẻ không biết phải làm gì hết, còn con ngày nào cũng có việc làm, sướng quá đi”.

Nhìn lại đời sống của mình Pháp Hữu thấy đúng là như vậy. Ngày nào thức dậy, Pháp Hữu cũng biết mình phải làm gì, phải chuẩn bị gì. Khi nhìn đại chúng, Pháp Hữu thấy sức sống mới, thấy tăng thân là một thực tại linh động – “a living community”. Sư Ông thường dạy rằng nếu Tăng thân là một thực tại linh động – “living Sangha” – thì Bụt và Pháp cũng là những thực tại linh động – “living Buddha, living Dhama”. Bụt và Pháp có thể tồn tại và phát triển là nhờ vào Tăng thân. Ở châu Âu, mỗi năm Làng Mai nhận được rất nhiều lời mời đi tổ chức khóa tu, vậy nên anh chị em mình không phải sợ thiếu công việc đâu. Nhưng điều quan trọng là anh em mình phải giữ được sự thực tập, giữ được gốc rễ tâm linh của mình.

BBT: Sắp tới là ngày tiếp nối của Sư Ông, chúng con rất muốn được nghe thầy chia sẻ, nhắn nhủ về sự thực tập để tiếp nối Sư Ông.

Tu học rất cần sự kiên nhẫn. Sư Ông đã trải qua biết bao thử thách, đi qua những khổ đau, khó khăn như chiến tranh, mất mát, lưu vong… Những khó khăn đó đã làm nên nội lực của Sư Ông. Sư Ông đã giữ tâm bồ đề, giữ gìn chí nguyện lớn để tu tập và thành lập được tăng thân Làng Mai hôm nay. Là sự tiếp nối của Sư Ông, chúng ta cũng cần thời gian để trưởng thành, để lớn lên từ những khó khăn, thách thức.

Thoạt đầu khi Sư Ông bệnh, Pháp Hữu nghĩ thiền sinh về Làng Mai Pháp chắc sẽ ít lắm. Nhưng sự thật thì năm đầu họ về rất đông, ai cũng ngạc nhiên. Pháp Hữu đã nghĩ chắc họ thương mình nên họ về yểm trợ. Mà gần ba năm rồi, số lượng thiền sinh về còn đông hơn lúc Sư Ông còn giảng dạy nữa. Năm ngoái, trong ngày ăn mừng Tết dương lịch có một nghìn người về, thiền đường của xóm Thượng không đủ sức chứa, quý thầy, quý sư cô phải ra ngoài để dành chỗ cho thiền sinh. Khi chứng kiến những gì xảy ra trong các khóa tu, Pháp Hữu thấy được anh chị em đã hết lòng cống hiến trong mọi mặt, như cho hướng dẫn, hát thiền ca, pháp thoại, chấp tác, nấu ăn… Đó là mình đang tiếp nối Sư Ông .

Trong việc phụng sự, đại chúng đã có khả năng rồi, điều mà Pháp Hữu luôn nhắn nhủ anh chị em là đừng bao giờ quên sự thực tập. Sự thực tập căn bản phải luôn được đào sâu và làm mới. Khi nhìn lại sự thực tập của mình, có thể nói rằng hiện tại sự thực tập “thở vào thở ra, đã về đã tới” của Pháp Hữu hôm nay rất khác mười năm trước. Khi sự thực tập đã trở thành sự sống, mình có thể thực sự dừng lại và an trú được. Những cái đó cần thời gian, không gian và mình phải nuôi chí nguyện của mình. Qua thời gian, nhiều khi những mong muốn khác xuất hiện, tâm thức dần thay đổi khiến mình dễ quên, chính vì thế mà mình cần nuôi lời thề và ước nguyện năm xưa. Đó là những thức ăn nuôi mình.Những lời dạy của Sư Ông đã truyền cảm hứng cho mình nhưng nó cũng sẽ dễ dàng bị soi mòn. Có nhiều vị đã có chí nguyện lớn nhưng chưa chịu nuôi những chí nguyện nhỏ, như là duy trì sự thực tập theo dõi hơi thở vào – ra. Ngày xưa khi mới tu, Pháp Hữu luôn phát nguyện là “Ngày hôm nay khi đánh răng, mình phải đánh răng có chánh niệm”. Khi nhìn lại, Pháp Hữu thấy mình đi tới được là nhờ những cái “tự đẩy” mình như vậy. Đại chúng, môi trường, không gian, thời khóa luôn có đó cho anh chị em mình tu học nhưng mà mình phải có sự khéo léo và năng động của mình. Mình cần lập nguyện, và làm tròn những nguyện nhỏ thì từ từ nguyện lớn của mình sẽ thực tế, rõ ràng hơn. Sư Ông khéo léo đưa mình về với hiện tại từ những gì đơn giản, những giác ngộ nho nhỏ, mầu nhiệm. Phải luôn tự hỏi “Mình có thực tập thật hết lòng hay không?”. Nguyện lớn sẽ thành khi mình nuôi được những nguyện nhỏ đó.

Ở xóm Thượng Làng Mai, bây giờ Pháp Hữu ước nguyện mọi người cùng thực tập lời dạy của Sư Ông: “Đã có đường đi rồi, con không còn lo sợ”. Mình phải thật sự tin con đường của mình, của tăng thân. Có nhiều anh em xuất gia trong chương trình năm năm nhưng cách sống rất biết trân quý, rất hết lòng vì thấy đây chính là đời sống của mình. Trong tăng thân, mình luôn đi như một dòng sông để yểm trợ và nhắc nhau trong sự thực tập. Ở Làng Mai Thái Lan, Pháp Hữu ấn tượng về sự thực tập uy nghi rất đẹp của các anh chị em và sự tham gia thời khóa đầy đủ. Pháp Hữu thấy sự năng động, hết lòng của các sư em.

Khi xuất gia và được Sư Ông đặt tên “Pháp Hữu” – có nghĩa là bạn, Pháp Hữu được Sư Ông dạy: “con phải tập làm bạn với mọi người”. Pháp Hữu thấy mình cũng cởi mở và thích quen với nhiều người. Lúc mới xuất gia, Pháp Hữu rất thích thực tập mỉm cười: Thức dậy miệng mỉm cười, hăm bốn giờ tinh khôi… Tuy nhiên tập mỉm cười lúc thức dậy hơi khó một chút vì lúc đó còn nhỏ quá, nhìn đồng hồ điểm đến giờ phải đi ngồi thiền thì hơi khó mỉm cười. Trong khi ngồi thiền, Pháp Hữu thực tập câu “Tĩnh tọa lòng an, miệng mỉm cười”, và nếu ngày nào thật sự thực tập điều đó thì dần dần mình ngồi mỉm cười thiệt luôn. Từ từ, qua sự nhắc nhở của bản thân, nụ cười đã trở thành sự sống của Pháp Hữu. Giống như khi thực tập quán niệm hơi thở, mình chỉ cần trở về với hơi thở, cái an lạc đã có mặt ở đó. Pháp Hữu vẫn đang thực tập mỉm cười kèm theo câu: “Mọi thứ sẽ ổn thôi, chuyện gì cũng có lối ra thôi” (Everything will be okay. There will be a way out). Đó là con đường, chỉ cần mình hết lòng thực tập.

Trong khi làm thị giả cũng vậy, mình cũng thực tập hết lòng. Theo Pháp Hữu, phẩm chất giỏi của một thị giả là sự có mặt. Nếu mình ngồi và để ý tới Thầy, mình có mặt đó thì mình sẽ biết Thầy cần gì. Trong khi pháp đàm, mình tập quan sát ngôn ngữ cơ thể, tiếp xúc với anh chị em trong cách hành xử của họ và mình cũng có thể hiểu họ đang cần yểm trợ gì. Ở trong đại chúng, đôi khi mình thấy có vài vị đang khổ. Qua cách họ sống thôi là mình có thể biết họ đang trong trình trạng ấy. Có thể họ chỉ cần một câu hỏi “sư em có khỏe không?” (How are you?), mà mình phải hỏi rất thật chứ không phải là nói cho xong. Đó là can đảm của một vị xuất sĩ. Nếu nói mình là một tăng thân có tình thương, có sự hiểu biết thì đây là cơ hội để mình thực sự thể hiện bằng hành động. Qua những điều Sư Ông dạy, thần chú không chỉ áp dụng cho người tại gia thôi, mà là để cho mấy anh chị em mình trước tiên. Nếu mình xem pháp thoại của Sư Ông thì sẽ thấy một phần những lời dạy chính là cách mà Sư Ông nhìn đại chúng. Đó là sự kết nối, tiếp xúc, có mặt.

Huynh đệ tặng quà cho nhau trong dịp Giáng sinh

Có một pháp môn căn bản rất tuyệt vời là pháp đàm. Đó là cách thực tập mình được dạy, được học mà đôi khi ở ngoài không có được. Sự chia sẻ những cái thấy, những tuệ giác thực tập của mình làm mọi người có thể hiểu được, thực tập theo được. Sống trong tăng thân cũng có những khó khăn, va vấp để mình lớn lên, để mình áp dụng pháp môn tu tập vào thực tế. Và khi tham dự pháp đàm, lắng nghe các vị cư sĩ chia sẻ, mình cũng học hỏi được nhiều từ những chia sẻ đó. Có những lúc mình không cần kinh nghiệm trực tiếp cái khổ, nhưng nếu nghe câu chuyện của họ bằng thiền quán thì mình cũng có thể hiểu được cái khổ đó. Những khóa tu do tăng thân tổ chức là cơ hội cho chúng ta học hỏi trực tiếp. Đối với Pháp Hữu, tham dự pháp đàm giúp cho sự học hỏi của mình rất nhiều, nhất là đối với những người xuất gia trẻ.

Hồi đó, có những buổi pháp đàm Sư Ông đi vào mà không báo cho ai biết. Ai mà đi trễ thì thật là lúng túng với Sư Ông. Có một lần Sư Ông dạy Pháp Hữu chia sẻ, mình rất bất ngờ nhưng phải chia sẻ thôi. Bây giờ Pháp Hữu mới thấy, nhờ lần đó, mình đã có những bước đi đầu. Sư Ông biết cần phải đẩy mình một cái. Lúc đó, Pháp Hữu cảm thấy ngại lắm khi chia sẻ, nhưng nhờ vậy mà bây giờ mình có những khả năng khác.

Nói về sự tươi mát, có lúc Pháp Hữu cũng không tươi mát lắm đâu, nhưng mình biết là mình cần có mặt và hiến tặng những gì đẹp nhất. Muốn vậy, mình phải có ý thức chăm sóc cảm xúc và sắp xếp thời gian để chăm sóc bản thân. Hồi mười mấy hai mươi tuổi, Pháp Hữu rất thích ngồi chơi, ai mời cũng ngồi. Khi lớn lên, có nhiều việc hơn thì thấy mình cần có thời gian riêng để lắng yên. Không phải mình không muốn có mặt với huynh đệ, có điều mình phải chăm sóc mình đủ. Pháp Hữu học được từ Sư Ông bí quyết đó. Sư Ông biết chăm sóc mình để có mặt cho đại chúng. Chưa bao giờ Sư Ông xin đại chúng cho nghỉ một tháng không cho pháp thoại. Sự đều đặn đó không chỉ có tình thương mà còn là trách nhiệm và sự có mặt cho đại chúng. Mình cần học được tinh thần đó. Đó không phải là sự hy sinh mà là mình cần chọn lọc. Có lúc thấy anh chị em chơi vui nhưng mình biết nếu vào chơi thì mình sẽ tốn năng lượng, mình cần thời gian để lắng yên. Khi mình trưởng thành, những khoảng yên đó rất quý. Hiện tại Pháp Hữu đang học làm trụ trì, học có mặt cho anh em. Khả năng biết lắng yên lại giúp Pháp Hữu thấy rõ hơn. Người trẻ cần phải nhận ra lúc nào mình cần nghỉ ngơi, lúc nào mình không cần uống trà, không cần tiếp xúc nhiều quá mà cần sự tĩnh lặng.

Có một điều mà Pháp Hữu rất ấn tượng nhưng chưa làm được như Sư Ông là nếu Pháp Hữu thưa: “Thưa Thầy, đến giờ ăn rồi!” thì Sư Ông sẽ dừng mọi việc. Sư Ông có khả năng buông xuống hoàn toàn để đi ăn. Điều ấy đơn giản nhưng khó thực tập lắm. Giống như khi Pháp Hữu làm văn phòng, đã nghe chuông rồi, ai cũng nói tới giờ ăn nhưng mà Pháp Hữu cứ nói “còn chút nữa thôi” và đã kéo thêm thời gian của mình. Mình nghĩ là mình tiết kiệm thời gian nhưng sự thật là mình kéo dài thời gian, kéo năng lượng của mình xuống. Những cái đó Pháp Hữu được học từng li từng tí từ Sư Ông. Buổi sáng Sư Ông thường ngồi thiền với đại chúng, có khi ngồi thiền ở trong Cốc. Sư Ông biết lựa chọn cách để nuôi dưỡng, chăm sóc chính mình. Mùa an cư, Sư Ông không bỏ một buổi ngồi thiền nào mà luôn luôn có mặt. Dù lạnh bao nhiêu mà mỗi lần vào thiền đường là Sư Ông cởi nón ra, áo lạnh thì mặc nhưng nón mũ thì không. Những cái nhỏ nhỏ như vậy là những bài học nuôi lớn Pháp Hữu khi được ở gần Sư Ông.

Một điều mà Sư Ông dạy trong việc bảo vệ đời tu đó là nuôi dưỡng sự khiêm cung của mình. Lúc Pháp Hữu làm thị giả, mỗi Chủ Nhật có ăn quá đường theo hạ lạp, thứ Năm thì ăn vòng tròn không theo hạ lạp. Hôm thứ Năm đó, nghe thỉnh chuông xá Bụt xong, đại chúng cùng nhau ra khỏi thiền đường. Sư Ông cũng đang đi ra cửa. Lúc đó, Pháp Hữu thấy đại chúng đang đứng rất đông chờ từng người ra. Mình tự hào là thị giả nên mình nhanh chân mở đường cho Sư Ông. Pháp Hữu vừa đi lên nhanh một chút thì cảm giác có ai kéo ở đằng sau. Sư Ông không nói gì hết, chỉ kéo Pháp Hữu lại. Khi Sư Ông tới cửa thì tự động mọi người mở đường. Khi về tới Cốc, Sư Ông mới xoay qua dạy: “Khi Thầy ở trong chúng, Thầy cũng như đại chúng thôi, Thầy cũng đi ra như các con đi ra, Thầy chưa cần các con mở đường. Những lúc Thầy đi ra ngoài thì các con cần bảo vệ Thầy, lúc ấy mình mới phải làm như vậy”. Những lời đó làm Pháp Hữu nhớ suốt đời. Sư Ông chỉ muốn mình là một vị xuất sĩ bình dị như bao người. Khi mình có đức thì mình không cần đẩy người ta ra để biểu lộ là có Thiền sư sắp đến, mà khi Thiền sư tới thì một cách tự nhiên con đường sẽ mở. Pháp Hữu thấy lời dạy luôn đi đôi với những hành xử hằng ngày của Sư Ông. Cuốn sách “Bước tới thảnh thơi” hay những chi tiết trong đời sống hàng ngày của Sư Ông mà Pháp Hữu đã chứng kiến, nhắc nhở Pháp Hữu phải luôn trở về với phẩm chất căn bản của một người tu.

BBT: Xin thầy chia sẻ về hoàn cảnh ra đời của chương trình xuất gia năm năm tại Làng Mai? Và thầy nghĩ như thế nào về chương trình này?

Nói về chương trình xuất gia năm năm, Pháp Hữu nhớ ngày đầu tiên mà Sư Ông đưa ra ý đó là lúc Sư Ông đang trên máy bay qua đi qua Anh Quốc. Sư Ông gọi thầy Pháp Lai và Pháp Hữu tới và nói: “Thầy đang nghĩ ra một cánh cửa mới, cánh cửa xuất gia ba năm”. Hai anh em đều giật mình khi nghe ý tưởng đó. Sau đó, Sư Ông chia sẻ ý tưởng này trong khóa tu. Mình biết là một khi Sư Ông có một cái thấy và đã chia sẻ ra với công chúng thì chắc chắn nó sẽ đi tới. Sau hơn một năm, tin này đến với đại chúng, ai cũng lo ngại và hàng loạt câu hỏi đi lên: xếp những anh chị em đó vào loại xuất sĩ gì? họ có ở chung với chúng thường trú đã phát nguyện xuất gia cả đời hay không? họ sẽ thực tập như thế nào?… Nhiều câu hỏi lắm, tại vì đó là cánh cửa mới mà. Mình chưa rõ thì phải hỏi để hiểu.

Sau đó, Sư Ông quyết định chương trình năm năm: ba năm thực tập làm sa di, hai năm Tỳ kheo. Đại chúng đến hỏi Sư Ông và chia sẻ những ưu tư, những tri giác của mình thì được Sư Ông dạy: Thứ nhất, con đường của mình là đem đạo Bụt vào xã hội Tây phương, muốn vậy thì phải có những cánh cửa để đạo Bụt được cắm rễ. Nhiều vị Tây Phương trẻ về làng tu học, họ có hạt giống muốn tu nhưng khi nghĩ tới tu cả đời thì thấy sợ, vì theo văn hóa bên ngoài anh không thích công việc này thì anh nghỉ và đi tìm việc khác cho đến khi nào thấy thích. Sư Ông thấy mình cần giúp họ chuyển hóa nỗi sợ đó. Vì khi cư sĩ bắt đầu muốn bước vào con đường xuất gia, họ có nhiều đắn đo, mình cần phải có một cánh cửa phương tiện mở ra để mời họ vào. Chương trình đó cho họ thấy là sau năm năm họ có thể ra đời, rất nhẹ nhàng và tất nhiên chỉ dành cho người trẻ. Bởi người trẻ sau thời gian đó họ có thể quay về, vẫn còn sức khỏe, sự nghiệp để sinh sống.

Thứ hai là chuyện có liên quan đến những người muốn ra đi, Sư Ông có nhắc: Các thầy, các sư cô ai cũng phát nguyện đi tu cả đời, vậy mà có nhiều vị mới một năm đã ra đi rồi thì có khác gì đâu. Đây là cách mình đổi tâm thức, có một nguồn năng lượng mới để người ta cam kết với tăng thân. Và các anh chị em hỏi các vị xuất sĩ đó gọi là xuất sĩ gì, Sư Ông có dạy: Tu thì giống nhau chứ có khác gì đâu, cũng thọ mười giới và hành trì cho đàng hoàng. Cũng giống như trong đại chúng, ai đã phát nguyện tu mà không thực tập đàng hoàng thì mời ra thôi. Cho nên ai quyết định tu năm năm cũng phải sống đời tu như một vị xuất gia tu trọn đời.

Theo Pháp Hữu, đó là một phương tiện quyền xảo của Sư Ông để giúp đạo Bụt cắm rễ vào xã hội Tây phương. Thực sự, nhờ đó mà các vị Tây phương đã vào tăng thân đông hơn. Sư Ông dạy rất rõ, sau năm năm nếu họ muốn tiếp tục thì mình mời họ tiếp tục còn nếu họ muốn ra đời thì họ đã có năm năm sống đời xuất sĩ rất quý rồi. Và nếu muốn, họ có thể về thực tập làm giáo thọ cư sĩ. Mình không đánh mất liên hệ quý giá đó khi họ ra đi. Đó là một tuệ giác mà Sư Ông nhìn thấy cho năm mươi năm nữa. Hiện tại, ở xóm Thượng có một thầy sau năm năm tu đã muốn ở lại thêm nữa nên xin gia hạn thêm năm năm. Hội đồng Tỳ kheo đã đồng ý, mình cũng dựa trên tinh thần của Sư Ông, tìm cách nuôi chúng xuất sĩ vì mình biết nuôi một vị xuất sĩ thành công không dễ. Đó là phương tiện quyền xảo đầy tuệ giác của Thầy mà mình học được, có thể đó là một ý tưởng táo bạo nhưng đã đưa lại rất nhiều kết quả, giúp cho tăng thân phát triển. Trong năm năm, những vị đó học hỏi được rất nhiều và khi ra đời lúc ba mươi lăm hay ba mươi bảy tuổi thì họ rất cần sự trưởng thành đó. Có rất nhiều các bạn trẻ không biết mình muốn làm gì với cuộc đời mình, vì vậy Sư Ông rất thương họ và muốn họ đem bát chánh đạo vào cuộc đời bằng chính sự sống của mình. Sư Ông muốn chỉ thẳng cho họ, không để họ phải loay hoay hoài mà uổng phí cuộc đời. Cho nên chương trình năm năm có nhiều khía cạnh hay lắm và đã có nhiều anh chị em tu học rất đàng hoàng, yểm trợ và làm nhiều việc rất hay cho đại chúng. Và chúng ta hoàn toàn có thể đi tới vì chúng ta có giới luật, uy nghi bảo hộ cho mình.

Về Vườn Ươm Thái Lan, Pháp Hữu rất vui khi thấy có chương trình xuất gia gieo duyên ba tháng. Pháp Hữu nghe là các vị muốn tham gia khóa xuất gia gieo duyên phải có lời giới thiệu từ các tăng thân và họ đã có kinh nghiệm thực tập pháp môn Làng Mai rồi chứ không phải ai có cảm hứng cũng được tham dự. Pháp Hữu thấy rất hay vì điều đó luôn nuôi dưỡng năng lượng của đại chúng, những cái hay đó rất cần yểm trợ và học hỏi.