Có một mùa đông không lạnh

Vài hôm trước trời có nắng ấm, rồi sau đó liên tiếp mấy ngày mưa rét. Sáng nay, 5h15’, vừa bước ra khỏi cửa thấy trời tạnh ráo. Dưới ánh đèn pin tôi đã nhìn thấy có những hạt li ti lấp lánh phủ trên lá cây, ngọn cỏ.

Chà! Lạnh quá! Cái lạnh của châu Âu, vùng miền Nam nước Pháp những ngày cuối năm này thật khó diễn tả bằng lời, chỉ biết mặc bao nhiêu quần áo cũng không hết lạnh.

“Con chào má. Kính chúc má một mùa đông không lạnh!” (Ở Làng Mai, quý thầy quý sư cô đều coi ba mẹ của huynh đệ là ba mẹ của mình). Tiếng sư cô chợt vang lên trong lòng tôi, làm ấm áp buổi sớm mai trên đường đến Phật đường theo thời khoá của mùa An cư. Sư cô người Hà Lan, nói tiếng Việt nghe thật dễ thương. Sau khoá tu mùa thu, sư cô xin phép tăng thân về nhà thăm mẹ. Các sư cô xóm Mới gửi quà về biếu và tôi gói giúp trước khi sư cô ra xe. Những chiếc chả giò rất xinh được gói bởi những đôi bàn tay khéo léo và tình thân thương mà các sư cô gửi về làm quà biếu mẹ thật là ý nghĩa và thắm tình huynh đệ. Đưa gói quà vào tay sư cô, chợt sư cô ôm choàng lấy tôi và nói :

– Con chào má. Chúc má một mùa đông không lạnh!

– Con cảm ơn sư cô. Chắc chắn là mùa đông sẽ không lạnh, vì xung quanh con có bao nhiêu tình thương của các sư cô đã sưởi ấm con rồi.

Tôi và sư cô chắp tay búp sen xá chào nhau trong tiếng cười vui của mọi người. Sự chia tay người ở, người đi thật ấm áp. Các sư cô xóm Mới thật chu đáo với người đi xa, còn sư cô người Hà Lan thì cứ bịn rịn như vừa muốn về thăm mẹ, vừa không muốn xa tăng thân – gia đình mà sư cô đã gắn bó từ lâu.

Tôi chầm chậm bước theo con đường dẫn đến Phật Đường. Từ khu nhà tôi ở sang đó không xa là mấy, ngoài trời vẫn lạnh giá (đêm qua lạnh âm 5 độ) mà sao lòng tôi ấm áp và rất bình yên. Phải chăng vì mình đã có một niềm tin, có một con đường để đi, có sự vững vàng và biết thực tập. Còn nếu mình luôn sống trong nỗi lo âu, sợ hãi, luẩn quẩn trong vòng danh, lợi, bạc tiền, tham lam và sân hận thì dù có ở ngay trong ngôi nhà của mình, bên cạnh người thân và mọi thứ đã có trong tay ta vẫn cảm thấy trống trải, cô đơn và lạnh lẽo.

Tôi thấy mình thật may mắn được sống ở đây trong những ngày của mùa an cư. Buổi sáng đều đặn theo thời khoá, 5 giờ sáng dậy và chuẩn bị lên thiền đường. Tất cả thiền sinh đều chăm chỉ và an vui tu tập. Ở Làng Mai, nhìn vào quý thầy, quý sư cô luôn thấy có sự vững chãi, thảnh thơi, và bình an trong mọi sinh hoạt, trong những bước chân…, đó là hình ảnh về nếp sống tỉnh thức mà mọi người nương tựa để thực hành. Quý thầy quý sư cô thực tập và hướng dẫn thiền sinh tu tập theo thời khóa. Thời khóa nào cũng giúp cho mọi người học cách sống chậm lại, nhận biết được sự màu nhiệm của cuộc sống theo từng hơi thở có chánh niệm, trong mỗi bước chân thiền hành. Thực tập chánh niệm trong khi ăn, khi nói, khi làm việc và trong cách im lặng. Những thực tập này rất thú vị và mới lạ với thiền sinh nhưng mọi người thực tập hết lòng và có sự chuyển hóa rõ rệt. Trong những giờ pháp đàm hay những buổi ngồi chơi bên nhau, những nụ cười và những giọt nước mắt hạnh phúc in trên má những thiền sinh không kìm nổi nỗi xúc động trong lòng khi thấy mình có bình an, trong lòng thấy tươi mát và nở hoa.

Thật là màu nhiệm khi mà ngay trong thế kỷ 21, giữa ồn ào, ngột ngạt ngoài kia vẫn có một nơi mà người ta có thể sống thảnh thơi, được cùng nhau ca hát, được cười, được khóc với nhau và được sống là chính mình. May mắn cho những ai được biết và tu tập các pháp môn ở Làng Mai để rồi một ngày họ chợt nhận ra rằng cuộc đời này đáng sống biết bao, có “Chim hót thông reo hoa nở. Trời xanh mây trắng là đây…” (Lời của Sư Ông Làng Mai trong bài thơ “Châu ngọc Pháp Hoa”).

Ở tuổi 60, trải qua những thăng trầm của cuộc đời, giờ đây tôi thấy mình như trẻ lại. Tôi được là một đứa trẻ, học lại từ đầu như ngày thơ bé. Đôi mắt của tôi đã ngắm được vẻ đẹp huy hoàng của bình minh mỗi sáng và vẻ hùng tráng của hoàng hôn. Tai tôi được nghe tiếng chim cu gáy rộn rã ngoài cánh đồng vừa mới cày lật, đất còn nguyên màu nâu tươi mới… Tôi thấy lòng mình tràn ngập lòng biết ơn tổ tiên tâm linh, tổ tiên huyết thống, ơn cha mẹ, ơn thầy cô, gia đình, bè bạn và biết ơn cả muôn loài đã cho tôi nương tựa, đã nâng đỡ và nuôi tôi, cho tôi được sống trên cõi đời này.

Tôi chợt mỉm cười và nhớ lại nụ cười rạng rỡ và tươi mát của sư cô lúc chia tay. Giờ này sư cô đang ở đâu? Mẹ sư cô chắc là rất vui và hạnh phúc khi đón con gái về thăm. Bà đang ở một mình, ba sư cô mới mất hồi mùa hè và tăng thân đã tạo điều kiện để sư cô có thời gian được ở bên mẹ.

“Con chúc má một mùa đông không lạnh”. Lời chào vẫn như văng vẳng đâu đây đủ làm cho tôi ấm lại. Buổi sớm mùa đông Châu Âu lạnh thật đấy. Cái giá lạnh bao trùm cả không gian trong màn sương mù giăng ngập lối càng khiến cảm giác lạnh lẽo như bám riết lấy người đi đường. Nhưng lòng tôi dâng lên một cảm xúc biết ơn quý sư cô  đã cho tôi tình yêu thương, cho tôi điều kiện tu tập, đó chính là nguồn năng lượng đủ sưởi ấm cả mùa đông này.

(Tâm Diệu Minh)

Thư giãn là hạnh phúc có mặt

(Trích từ Pháp thoại  trong khóa tu An cư kiết đông 2008 – 2009)

Trong đời sống, rất nhiều người không có sự thư giãn. Chúng ta cần phải học cho được cách thư giãn. Ví dụ, tập đi thiền hành là cơ hội để tập thư giãn. Sự căng thẳng và thư giãn đi đôi với nhau, chúng có mặt cùng một lúc. Vấn đề là cái nào nhiều, cái nào ít mà thôi. Trong chúng ta có sự căng thẳng, nhưng cũng có sự thư giãn. Tùy cách sống của mình mà ta có nhiều sự căng thẳng hay nhiều sự thư giãn.

Phát triển sự thư giãn, buông bỏ những lo lắng, sợ hãi và bạo động là hạnh phúc đang có mặt. Mỗi người đều có khả năng chế tác ra sự thư giãn với tư cách cá nhân và năng lượng đó sẽ ảnh hưởng tới tập thể. Thí dụ một người giáo viên nếu có ý thức nuôi dưỡng sự thư giãn trong mình và chế tác sự thư giãn đó cho học sinh thì việc dạy và học sẽ thành công hơn. Giữa giáo viên và học sinh có sự nhẹ nhàng mà không phải căng thẳng mệt mỏi.

Đạo đế là con đường mà trong đó có những phương pháp đưa tới sự thư giãn. Yếu tố đầu tiên của hạnh phúc là biết thư giãn để chấm dứt lo lắng, sợ hãi. Đứng về phương diện sinh học thì chính sự căng thẳng tạo ra lo lắng, sợ hãi, bạo động và bệnh tật. Trong não của ta có tuyến yên. Khi cảm thấy có tình trạng nguy hiểm thì tự nhiên tuyến yên sẽ tiết ra một chất hoá học trong máu. Nội trong mấy giây sau chất hoá học đó đụng tới tuyến thượng thận và nhả ra chất adrenalin, chất này vào trong máu thì sẽ khiến trái tim đập mạnh hơn để dồn máu tới hai chân, hai tay và đôi mắt để sẵn sàng đối phó với tình trạng nguy hiểm. Đó là phản ứng hoặc chống cự, hoặc là bỏ chạy. Muốn chống cự hay bỏ chạy đều cần dùng tới rất nhiều năng lượng và vì vậy các cơ năng khác phải dừng lại hết. Chất đó cũng khóa bộ máy tiêu hoá lại và không cho làm việc nữa. Lúc này cơ thể tạo ra sự căng thẳng. Nếu sự căng thẳng kéo dài thì nó sẽ làm hỏng bao tử và bộ phận tiêu hóa. Cho nên những người nào hay lo sợ rất có hại cho bao tử. Một thí dụ khác là trong lúc chạy đua thi đấu, trước khi người phát lệnh thổi còi cho bắt đầu cuộc thi chính là giây phút trong cơ thể các vận động viên tiết ra chất adrenalin. Nếu giây phút đó kéo dài quá lâu thì đương sự có thể sẽ chết.

Đôi khi trong đời sống hằng ngày khi nghe tiếng điện thoại reo ta cũng lo. Có khi nhìn những tờ báo ta cũng thấy lo vì không biết cổ phần đang lên hay đang xuống. Tuy không có những lo lắng lớn hay nguy hiểm lớn xảy ra nhưng những lo lắng nhỏ trong đời sống hằng ngày cũng làm cho chất adrenalin tiếp tục được tiết ra và  nó cũng khoá bộ máy tiêu hoá lại khiến ta bị căng thẳng. Những căng thẳng ấy dồn chứa mỗi ngày sẽ sinh ra đủ thứ bệnh. Mỗi khi căng thẳng thì hành động trở nên thô tháo và lời nói cộc cằn sẽ làm đổ vỡ hạnh phúc gia đình, làm hư hoại tổ chức, bè bạn của ta. Do đó phải nắm cho được phương pháp thư giãn để giải tỏa những căng thẳng.

Những lúc ngồi thiền, thiền hành hay buông thư thì chất adrenalin không tiết ra. Buông thư toàn thân và nương vào hơi thở có ý thức thì trong ta bắt đầu có sự thư giãn. Thở vào tôi ý thức đây là hơi thở vào, thở vào tôi sung sướng được thở vào. Thở ra tôi ý thức về thân thể tôi, thở ra tôi làm cho thân thể tôi thư giãn. Là một người thực tập, chúng ta phải biết nuôi dưỡng sự thư giãn trong mỗi giây phút.

Khi làm việc với máy vi tính cũng có thư giãn mà đọc sách cũng thư giãn, lúc nào cũng thư giãn hết. Khi đi, phải đi sao cho có bình an mà không vội vàng như bị ma đuổi; khi ngồi thì phải ngồi như đang ngồi trên một đóa sen. Trong lúc thư giãn thì nhịp đập của trái tim sẽ chậm lại và hệ miễn dịch được tăng cường. Thư giãn không phải chỉ là vấn đề thể chất và hình hài. Nếu trong tâm đang có điều bất an thì sự thư giãn rất khó thực hiện được. Do đó phải tổ chức lại đời sống hàng ngày để đừng bị áp lực quá nhiều đừng để lo lắng, buồn khổ. Muốn vậy thì phải quán chiếu cho sâu sắc.

Khi có bạo động tức là trong thân thể không có sự buông thư. Khi ấy phải tập thở, tập đi để nhận diện và ôm ấp những bạo động, giận hờn, bực bội trong mình. Nếu những tâm hành đó được ôm ấp thì tự nhiên nó sẽ lắng dịu. Nền văn minh mới của chúng ta tạo ra rất nhiều căng thẳng, cho nên sự thực tập của mình là làm lắng dịu thân tâm. Mà muốn thư giãn thì phải thực hành những pháp môn cụ thể như buông thư, thiền hành, ngồi thiền,… Cho nên nền đạo đức học hiện đại phải là đạo đức ứng dụng chứ không phải là đạo đức lý thuyết. Phải biết rõ rằng muốn có thư giãn thì ta không nên làm gì và nên làm gì. Đạo đế được diễn đạt qua con đường Bát chánh, trong đó có chánh kiến. Các vị tổ sư giải thích chánh kiến là một cái thấy sâu sắc về Bốn sự thật. Nhưng trí óc con người thường hay đi kiếm tìm sự thật của chân lý vạn hữu. Ta thường có ý muốn đi vào siêu hình học, thực thể học. Khuynh hướng hay phóng tâm ra vũ trụ và đặt những câu hỏi như: Vũ trụ này từ đâu mà có? Những nguyên lý cai quản vũ trụ là những nguyên lý nào? Bởi có những câu hỏi này mà ta có siêu hình học và bản thể luận.

Đức Thế Tôn rất thực tế, Ngài nói đừng phóng tâm ra vũ trụ bên ngoài mà hãy đưa tâm về với tình trạng đích thực trong đó ta đang sống. Phải nhận diện nỗi khổ đang có mặt, tìm ra nguồn gốc của khổ và phải tìm ra con đường thoát khổ. Rất là thực tế. Hai chân chấm đất. Chánh kiến đức Thế Tôn nói ở đây không phải là kiến thức về vũ trụ vạn hữu mà là về Bốn sự thật. Mình phải có cái thấy khá vững chãi về Bốn sự thật. Khi mới học về Tứ diệu đế, mới nghe nói về Bốn sự thật, ta nói nó quá dễ, nhưng thật sự thì ta chưa hiểu rõ về nó. Cách đây một năm có người hỏi tôi: “Thầy có hiểu hết về Tứ diệu đế chưa?” Tôi trả lời: “Chưa, tôi chưa hiểu hết, tôi vẫn đang trên con đường tìm hiểu”.

Muốn có được cái thấy sâu sắc đòi hỏi chúng ta phải bỏ ra rất nhiều công phu tu tập. Phần lớn chúng ta chỉ nắm được ý niệm về Bốn sự thật chứ chưa nắm được Bốn sự thật. Chúng ta không nắm được bản chất của Bốn sự thật. Bốn sự thật tương tức với nhau, Sự thật này nằm trong Sự thật kia. Không hiểu được khổ đế thì không hiểu được diệt đế, ngược lại nếu không thấy được diệt đế thì không hiểu được khổ đế. Chánh kiến trước hết là cái thấy sâu sắc về Bốn sự thật. Bốn sự thật tương tức với nhau, chúng không thể có mặt độc lập, chúng liên hệ với nhau chặt chẽ cho đến nỗi không thấy được cái này thì không thấy được cái kia.

Trong lĩnh vực trao truyền, khi không thấy được ta thì sẽ không thấy được cha ta. Chưa thấy được cha ta là ai thì sẽ không thấy được ta là ai. Khi thấy được sự tương tức của bốn sự thật thì tự nhiên ta cũng sẽ thấy được sự tương tức của các pháp. Tương tức nghĩa là cái này chính là cái kia, cái này nằm trong cái kia, không có cái này thì không có cái kia. Không có sự thật nào có mặt riêng rẽ. Cái này cũng gọi là không. Thí dụ như bông hoa: bông hoa do mặt trời, ánh nắng, đám mây, đất, phân bón, người làm vườn… tạo nên. Cho nên bông hoa không có mặt riêng biệt, bông hoa đầy hết tất cả vũ trụ. Bông hoa là vũ trụ, nó không thể có mặt riêng biệt được. Bốn sự thật không thể có mặt một mình được. Nếu không có bùn thì sẽ không có sen. Nếu như nhận Bốn sự thật là riêng biệt thì ta rất sai lầm.

Trong Kinh Bát Nhã nói “không khổ, không tập, không diệt, không đạo”, Bốn sự thật là không. Bản chất của sự thật này là bản chất của  sự thật kia. Sự thật thứ nhất được làm bằng sự thật thứ hai, thứ ba, và thứ tư. Lấy sự thật thứ hai, thứ ba, thứ tư ra thì không có sự thật thứ nhất. Đó là tính tương tức của sự thật thứ nhất. Nếu thấy được Bốn sự thật có liên hệ với nhau thì chúng mới đích thực là Bốn sự thật.

Dừng lại và buông thư

Thiền, Dhyana, nghĩa là dừng lại và làm cho buông thư. Sự dừng lại và buông thư được gọi là thiền chỉ. Trong sự thực tập, nếu chưa có khả năng dừng lại và buông thư thì hành giả sẽ không thể đi xa hơn được. Bởi vì nếu không thành công được trong thiền chỉ thì khó có thể nhìn sâu (thiền quán) để thấy rõ bản chất của các hiện tượng.

Mỗi người đều sẵn có hạt giống rong ruổi, tìm kiếm. Chúng ta không thể ở yên lâu được. Hạt giống này chúng ta được tiếp nhận từ tổ tiên. Sở dĩ ta không dừng lại được bởi vì ta thiếu khả năng buông thư. Những căng thẳng trong cơ thể bị dồn nén khiến cho yếu tố trầm tĩnh của đời sống mất đi. Nếu thực tập vững vàng phương pháp thở và đi trong chánh niệm thì ta sẽ dừng được sự chạy đua. Lúc ấy, sự buông thư và niềm an lạc sẽ lập tức có mặt.

Ngồi thiền là cơ hội để thực tập dừng lại hoàn toàn. Trong khi ngồi, chúng ta sử dụng hơi thở có ý thức để hỗ trợ cho việc dừng lại ấy. Dừng lại được là bắt đầu có chủ quyền đối với thân và tâm của chính mình. Ngồi thiền trước hết là dừng lại và buông thư. Nếu trong khi ngồi mà phải đấu tranh, phải gồng mình và xem việc ngồi thiền như một lao tác mệt nhọc thì đó chưa phải là cách ngồi thiền đúng. Khi ngồi, tư thế phải thật thoải mái, lưng thẳng nhưng buông thư. Và sau đó mới bắt đầu theo dõi hơi thở. Thở vào, tôi ý thức về toàn thân của tôi; thở ra, tôi buông thư toàn thân. Ta phải đem cái tâm đi vào cái thân.  Cái tâm của ta chỗ nào cũng có cái thân hết, tức là tâm đầy trong thân. Giống như việc ta ngâm đậu xanh với nước ấm vậy, đậu xanh được ngâm trong nước ấm một hồi, nước sẽ thấm vào trong hạt đậu, hạt đậu sẽ nở ra gấp hai lần ban đầu. Sở dĩ cái thân khô héo là bởi vì cái tâm không thấm được vào trong thân. Nếu muốn cái thân được tươi mát, được thấm nhuận thì cần phải để cho tâm đi vào trong thân. Lúc ấy, thân của ta sẽ trở thành một thực thể linh động chứ không còn là một xác chết nữa vì tâm đã được thấm vào trong từng tế bào. Tức là cái thân đầy cả cái tâm. Trong khi ngồi thiền, thiền hành, phải làm như thế nào để thân của ta đầy tâm mà tâm cũng đầy thân. Khi thân và tâm hợp nhất, là khi ta có được những giây phút sống sâu sắc.

Thiền là một phương pháp thực tập, và nếu thực tập đúng thì hạnh phúc sẽ có liền tức khắc. Hạnh phúc này bắt đầu từ sự dừng lại và buông thư. Không có sự dừng lại và buông thư, thì không thể nào có hạnh phúc được. Hạnh phúc này được gọi là thiền duyệt. Thiền duyệt tức là niềm vui do sự thực tập thiền đem lại. Và người tu phải lấy niềm an lạc mà thiền tập đem lại làm thực phẩm hàng ngày (Thiền duyệt vi thực). Trong nghi thức cúng ngọ có câu: “Nhược phạn thực thời, đương nguyện chúng sanh, thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn”. (Khi ăn cơm, con nguyện cho chúng sinh nếm được niềm vui mà thiền tập đem lại, hạnh phúc luôn tràn đầy). Mỗi lần ăn cơm, cúng ngọ, lúc nào ta cũng nguyện cho tất cả chúng sanh đều hưởng được niềm vui của thiền tập nhưng chính ta đã làm được chưa? Có khi ta đã để cho chính ta bị đói và để cho những người bạn đến với ta cũng bị đói. Những người bạn tin tưởng vào ta, trông cậy vào ta, nhất là khi ta là một vị giáo thọ, nhưng ta quên mất vai trò của chính mình. Đôi khi ta bỏ đói đại chúng, bỏ đói các bạn đến với ta. Nếu ta bắt đầu dừng lại và buông thư được, tức khắc ta sẽ có được hỷ lạc. Khi có được hỷ lạc, ta mới bắt đầu quán chiếu vào lòng sự vật để thấy được bản chất của sự vật.

Chúng ta có thể thực tập theo những hướng dẫn của đức Thế Tôn để dừng lại. Thở vào, con ý thức về hình hài của con. Thở ra, con ý thức về toàn thể hình hài con. Lúc đó, cái tâm đi vào cái thân và cái thân đi vào cái tâm. Tiếp tục thực tập như vậy, ta để cho tâm thấm dần vào trong thân. Ta có thân đầy trong tâm và tâm cũng đầy trong thân. Kế tiếp, nương vào hơi thở chánh niệm ta buông thư cả thân và tâm. Thở vào, con buông thư thân thể con, tâm hồn con. Thở ra, con tiếp tục để cho tâm hồn con, thân thể con được buông thư. Hãy cho ra ngoài hết tất cả những dồn nén, những căng thẳng. Sự buông thư này sẽ mang lại sự trị liệu. Do vậy, khi đề cập đến khổ hay gọi tên những nỗi khổ, ta đừng quên đề cập đến những căng thẳng trong thân thể và tâm hồn. Bởi nó đích thực là một nỗi khổ và rất cần được chúng ta quan tâm đến.

Chánh niệm là phép tu căn bản

Khi thực tập thiền hành, phải thực tập như thế nào để dừng lại được trong khi đi. Đi như là đi chơi trong Tịnh Độ mà không đi như bị ma đuổi. Buông thư được trên từng bước chân. Đường dài, em bước như dạo chơi. Đường càng dài càng hay, vì ta có thể dạo chơi càng nhiều.  Mặc dù chưa là giáo thọ nhưng ta cũng không được bỏ đói các bạn thiền sinh đến với ta, ta có bổn phận phải giúp họ. Vì mỗi ngày ta được hưởng thức ăn của thiền tập nên khi có ai đến, phải hỏi: Các anh, các chị có đói không? Thực phẩm đây! Tức là phương pháp giúp họ biết thở, biết đi, biết cười. Do vậy, khi ngồi thiền, cho dù nửa giờ hay bốn mươi lăm phút, cũng phải biết tận dụng khoảng thời gian ấy để nắm lấy chủ quyền, phải để cho thân tâm được buông thư, nghỉ ngơi. Nếu không làm được như vậy thì ta đã phung phí một cách oan uổng nguồn thời gian quý báu của chính mình.

Ở ngoài đời có thể bạn có rất nhiều tiền, nhiều bạc, nhưng thời gian được ngồi yên thì rất hiếm. Được ngồi yên là một cơ hội để nuôi dưỡng và trị liệu thân tâm. Nếu thực tập thiền chỉ giỏi, tất nhiên ta sẽ có niệm và định. Niệm tức là sự chú tâm, biết rõ cái gì đang xảy ra. Ví dụ, khi theo dõi hơi thở, thở vào ta biết rõ đây là hơi thở vào, thở ra ta biết rõ đây là hơi thở ra. Đó gọi là chánh niệm về hơi thở. Khi đang đi, ta biết ta đang đi mà không để cho đầu óc trôi dạt ở một phương nào. Đó gọi là niệm bước chân. Còn khi uống trà mà biết là ta uống trà thì gọi là niệm uống trà. Khi chải răng, ta biết là ta đang chải răng, chải cho có hạnh phúc, chải cho buông thư thì gọi là niệm chải răng. Khi đi tiểu, đi cầu cũng vậy. Mọi lúc mọi nơi đều là cơ hội cho ta thực tập chánh niệm. Chánh niệm là phép tu căn bản, và nó cũng là nền tảng đạo đức của Phật giáo.

Trái tim màu xanh

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai trong khóa tu mùa hè, ngày 31.7.2007 tại Làng Mai)

Tình nghĩa

Trong tiếng Việt có chữ tình lại có chữ nghĩa. Chữ Nghĩa là chữ rất khó dịch ra tiếng Pháp, tiếng Anh. Chữ tình (amour, love) viết ra chữ Hán (情), bên trái có bộ tâm (心) tức là trái tim, bên phải có chữ thanh (青) là màu xanh lục. Trái tim màu xanh. Trái tim ban đầu thì màu xanh, sau có thể biến màu thành màu khác, nhưng làm sao để nó đừng thành màu đen. Cái tình lúc ban đầu thì rất bồng bột, nóng bỏng, có tính chất đam mê. Đó là bản chất của tình. Khi đang bị năng lượng tình chiếm cứ thì mình không được an ổn lắm. Ăn không an, mà ngủ cũng không an, giống như bị đốt cháy vậy. Đó là ngọn lửa. Người nào có đi qua rồi thì biết. Khó an trú trong hiện tại lắm, cứ nghĩ tới cái giây phút mình sẽ được gặp người đó, được ngắm nhìn người đó, chỉ ngồi ngắm không là đủ no rồi, khỏi cần ăn. Càng nhiều trở ngại chừng nào thì đam mê càng lớn chừng nấy. Sự trở ngại là một chất liệu làm cho tình yêu càng lớn mạnh (lễ giáo, công ước xã hội, v.v…). Hoàn cảnh dễ dàng quá thì nó không lớn mạnh.

 

 

Ngày xưa chưa có điện thư, điện thoại, đôi khi đợi một lá thư tình phải chờ từ tuần này sang tuần khác. Và mỗi ngày bồn chồn tự hỏi: Đáng lý ngày hôm qua lá thư đó phải tới rồi, nhưng sao nó chưa tới? Mình đợi cả hai mươi bốn giờ đồng hồ, cho tới cái giờ mà ông phát thư đi ngang qua trước ngõ. Ông phát thư thường đi qua lúc mười giờ sáng, lúc chín giờ mình đã bắt đầu đợi. Ông phát thư sáng nay sao mà đi trễ quá, đi chậm quá! Mình đếm từng bước của ông ta. Và nếu ông đi ngang qua mà không dừng lại thì mình buồn lắm. Phải đợi hai mươi bốn giờ đồng hồ nữa. Khi bị tình yêu chiếm cứ, mình không có khả năng an trú trong hiện tại.

Ai có qua cầu mới hay. Nó có sự bồng bột, sự đốt cháy. Nó không có được sự an ổn. Cho nên ở Tây phương, người ta nói khi yêu tức là mình bị té, bị ngã (tomber amoureux, falling in love). Đang đi bình thường tự nhiên té xuống. Người Việt Nam thay vì nói té thì nói ốm, nói cảm. Tây phương cũng nói ốm (love sick). Nguyễn Bính có viết hai câu thơ: “Gió mưa là bệnh của trời, tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”. Trời tốt đẹp thì không bị bệnh, mà hễ có gió, có mưa là bị bệnh. Tương tư tức là cứ ngồi đó mà nhớ nhau, không làm ăn được gì hết. Và càng nhiều trở ngại chừng nào, thì cái tình càng mạnh chừng đó. Nó rất bồng bột, nó làm cho mình bất an. Nếu không được thỏa mãn, nó sẽ làm cho mình sầu, mình ốm tương tư. Ốm tương tư là nhớ quá thành bệnh, như nàng Mỵ Nương với chàng Trương Chi. Thành ra, tình yêu là một cơn bệnh (C’est une maladie). Tình yêu bùng lên rất mạnh nhưng nếu được dễ dàng thỏa mãn thì nó chết cũng rất mau. Đam mê như một ngọn lửa lên rất cao, khi tàn lụi cũng rất là mau.

Keo sơn ơn nghĩa

Một cặp vợ chồng ở được với nhau lâu dài, đó không phải là nhờ tình yêu mà nhờ cái thứ hai là nghĩa (義). Nếu mình biết yêu cho đàng hoàng thì tự nhiên từ cái tình đưa tới cái nghĩa. Và chính cái nghĩa đó là keo sơn gắn chặt hai người, để hai người có thể sống được lâu dài với nhau. Cho nên phải nuôi cái nghĩa. Người ta không thể sống trăm năm với nhau bằng tình được. Tình là một đam mê (passion), tàn lụi rất mau. Nghĩa là một cái gì bền chặt hơn nhiều. Nghĩa đi đôi với chữ ơn – ơn nghĩa. Ơn đầu tiên mình cảm nhận được của người kia là khi ý thức rằng: Có biết bao nhiêu người, tại sao anh ấy không chọn, mà lại chọn mình? Có biết bao nhiêu người con trai có bằng cấp, có địa vị, tại sao nàng không chọn, mà nàng chọn ta? Đó là cái ơn mà mình ý thức được. Ý thức đó làm mình có thể biết ơn suốt đời.

Và tình nghĩa này không phải chỉ giới hạn trong vấn đề nam nữ thôi. Cái nghĩa giữa bạn bè, cha mẹ, thầy trò cũng vậy. Mình sinh ra một đứa con, đứa con đã chọn mình làm mẹ, chọn mình làm cha. Tại sao nó không sinh ra ở nhà khác mà chọn nhà mình để sinh ra? Thành ra cha mẹ có thể biết ơn đứa con. Sự ra đời của đứa con nó có thể đem lại ánh sáng và hạnh phúc cho cặp vợ chồng đó. Vì vậy, cha mẹ có thể biết ơn đứa con. Tại sao có nhiều  người đến quy y với vị thầy này mà không tới quy y thầy khác? Thầy cũng phải biết ơn người đệ tử. Sự biết ơn là một yếu tố của hạnh phúc.

Chọn người tri kỷ

Tại sao anh đã không chọn người khác mà chọn mình? Sự lựa chọn đó do đâu mà có? Sự ham muốn bóng sắc tự nó không đủ. Phải có cái gì đó. Ở bên Mỹ, có anh chàng kia rất đẹp trai, tài ba, tốt nghiệp đại học thuộc hàng ưu tú, có việc làm lương rất lớn, và có rất nhiều cô bạn gái thật xinh đẹp. Bà mẹ rất ngạc nhiên khi thấy anh rất thân với một cô gái không phải là đẹp nhất. Cô này hơi thấp, nước da hơi đen, mà sao con trai mình có vẻ thích cô này hơn các cô khác? Bà cũng tò mò. Bữa đó hai mẹ con ngồi riêng với nhau, bà nói: “Má thấy mấy đứa kia ngó được quá mà sao con không chọn, con lại đi chọn con nhỏ này hơi đen mà lại thấp nữa?”Anh chàng không biết trả lời làm sao hết. Anh chàng chưa suy nghĩ thành ra bị hỏi bất ngờ quá không trả lời mẹ được.

Nhưng sau ba bốn ngày quán chiếu, anh ta tìm ra câu trả lời. Cô này mỗi khi anh nói chuyện, cô biết lắng nghe. Anh là nhà khoa học nhưng anh cũng ưa làm thơ. Mỗi khi anh đọc thơ, cô lắng nghe, và cô hỏi những câu hỏi chứng tỏ cô hiểu được thơ của anh. Còn những cô khác cũng nghe, nhưng nghe do lễ phép, bắt buộc phải nghe thơ nhưng không thích. Thành ra cái đặc biệt của cô này là cô thích thơ, cô hiểu thơ, cô lắng nghe thơ. Và cô trở thành tri kỷ của anh.

Tri kỷ là người hiểu được mình. Trên cuộc đời này mà tìm được một người có thể hiểu được mình thì mình là người có hạnh phúc. Món quà quý nhất mà người kia có thể tặng cho mình là khả năng hiểu được mình. Có những người sống trong cuộc đời này mà chưa bao giờ tìm được một người có thể gọi là hiểu mình cả. Dù là con trai hay con gái, trong cuộc sống này nếu mình có thể tìm được một người có khả năng lắng nghe mình, có thể hiểu được những khó khăn, những khổ đau, những ước vọng của mình thì tức là mình tìm thấy nơi người đó một tâm hồn tri kỷ. Tri kỷ là biết nhau, là hiểu nhau.

Con người đi tìm trong đời này một tri kỷ, một người biết được mình. Tìm ra được người đó thì hạnh phúc. Ngày xưa có một vị quan lớn chơi đàn thập lục huyền cầm rất tuyệt diệu. Trong giới quan quyền, bạn hữu không có ai hiểu được nghệ thuật, tài năng của ông cả. Vì vậy mỗi lần đánh đàn ông thường đem theo một vài người hầu cận lên trên núi, tìm một chỗ đẹp. Ông trải chiếu, pha trà rồi đốt trầm lên. Trong không khí trang nghiêm ông chơi đàn. Rất hạnh phúc. Và ông có cảm tưởng là chỉ có suối, cây, núi, mây mới hiểu được tiếng đàn của ông. Bữa đó, đang đàn thì tự nhiên một dây đàn bị đứt. Ông ta tháo dây đàn đứt đó ra, thay một dây mới. Vừa đàn thêm một câu nữa thì dây đàn bị đứt nữa, và cứ đứt như vậy ba lần. Ông ta nghĩ: “Chắc có người đang nghe trộm mình”. Ông đứng lên, nói lớn: “Có vị tri kỷ nào đang nghe trộm tiếng đàn của tôi xin cho gặp mặt”.

 

Tự nhiên có một anh tiều phu xuất hiện. Anh tiều phu này đã nghe lén, đã cảm được tất cả những cái hay, cái đẹp, cái tài ba của người đàn. Và vì vậy cho nên dây đàn đứt. Ông quan đánh đàn tên là Vương Bá Nha, người tiều phu tên là Chung Tử Kỳ. Hai người nói chuyện rất tâm đầu ý hợp. Bá Nha lần đầu tiên tìm ra được một tri kỷ, một người hiểu được nghệ thuật của mình. Tử Kỳ chấp nhận làm bạn tri kỷ của Bá Nha, nhưng không muốn về kinh đô nhận những cái chức như là thư ký văn phòng. Tử Kỳ chỉ muốn làm tiều phu thôi. Lâu lâu, Bá Nha nhớ tới bạn, sắp đặt công việc trong triều rồi hẹn với bạn, hai người cùng uống trà. Bá Nha hạnh phúc vô cùng vì Bá Nha đã tìm ra được một người tri kỷ, tri âm. Tình bạn đó lưu truyền cho tới ngày hôm nay.

Hồi mới mười tám tuổi, tôi đã làm một bài thơ ca tụng tình bạn của Bá Nha và Tử Kỳ. Trong cuộc đời mà có một người nghe được mình, hiểu được mình thì mình là một trong những người may mắn nhất ở trên đời rồi. Cho nên anh chàng ở Cali, ba ngày sau gặp lại mẹ, mới trả lời câu hỏi của mẹ: “Hôm trước má hỏi tại sao con thương cô đó. Tại sao má biết không? Tại vì người đó hiểu con. Thành ra dầu có hơi đen một chút, hơi thấp một chút, con thương cô đó hơn tất cả những cô xinh đẹp, cao ráo, sang trọng kia”.

Đời người mà tìm ra được một người hiểu mình đó là hạnh phúc vô cùng. Con mà hiểu cha, đệ tử mà hiểu thầy thì cũng làm cho cha, cho thầy rất hạnh phúc. Đó là nói ra từ kinh nghiệm. Thành ra mình biết ơn người đã hiểu được mình. Cảm ơn em đã hiểu được anh, cảm ơn con đã hiểu được cha, cảm ơn cha đã hiểu được con. Tu tập là làm thế nào để có thể có được cái hiểu. Muốn hiểu thì phải lắng nghe, phải quan sát mới hiểu được. Khi mình sống với một người có khả năng hiểu mình thì mình có hạnh phúc lắm. Vì cái hiểu là nền tảng của cái thương. Không hiểu thì không thể nào thương. Trong tình yêu đôi lứa người ta phải cẩn thận. Mình chỉ cần thử nghiệm vài cái là biết người đó có hiểu mình hay không. Mà nếu người đó không hiểu mình thì dù người đó có bằng cấp cao, lương nhiều, xe đẹp, nhà cửa sang trọng, bảnh trai, hay sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành đi nữa, khi cưới người đó thì mình cũng sẽ khổ suốt đời, như là khổ sai chung thân. Và tình yêu đó là một cái nhà tù.

Cái người mà khi mình nói cứ cắt lời mình, không để cho mình nói, cứ khoe cái của họ, không có khả năng hiểu được những khó khăn, những khổ đau của mình, không biết lắng nghe mình… muốn nhận ra người đó rất dễ, chỉ cần vài ba phút là được. Đừng để cho mình bị hấp dẫn bởi những cái bên ngoài: Sắc đẹp, địa vị, danh lợi, xe hơi, nhà cửa, lương tiền, bằng cấp… Đừng để cho những cái đó làm cho mình mờ mắt. Hai con mắt mình hãy tỉnh táo để có thể nhận rằng người con gái đó, hay người con trai đó là một người có thể hiểu được mình, và hiểu được mình thì có thể có khả năng thương mình. Rất rõ ràng như vậy. Đó là tiêu chuẩn của đạo Phật về hạnh phúc, về tình yêu. Những người yếu đuối thường bị hấp dẫn bởi những cái phù phiếm bên ngoài.

Trong xã hội Việt Nam mới phát triển, một cô gái có thể đánh mất tiết trinh của mình để đánh đổi lấy một chiếc xe gắn máy. Thật dễ sợ! Đạo đức đã suy đồi tới mức đó. Mình muốn thoát ra khỏi cái thân phận nghèo khổ, mình muốn có một chiếc xe giống như người ta, và mình đánh mất cái quý giá nhất của đời mình. Chuyện đó đã và đang xảy ra. Thành ra những cái hấp dẫn của vật chất, của bề ngoài phù phiếm mình không thể coi thường được. Mình sẽ dấn thân vào những nẻo đời khổ đau nếu mình không cẩn thận.

Có hiểu mới thương

Ở trong đạo Phật chúng ta thấy rất rõ cái thương đích thực được làm bằng cái hiểu, không có hiểu thì không có thương. Không hiểu con thì cha càng thương, con càng khổ. Vợ không hiểu chồng thì càng thương chồng, chồng càng khổ. Hiểu là nền tảng của tình thương. Sống với nhau như thế nào để càng ngày mình càng hiểu được nhau nhiều hơn và để cho người kia càng ngày càng hiểu được mình nhiều hơn. Nếu cái hiểu không lớn lên, thì cái thương cũng không lớn lên mà dậm chân tại chỗ. Nếu quý vị thấy tình thương của mình đang dậm chân tại chỗ thì quý vị biết rằng quý vị thiếu tu.

Cái hiểu không lớn thêm và cái thương không lớn thêm thì chúng có thể từ từ co rút. Tình yêu có thể co rút lại cho đến khi thành ra một cục cứng ngắc không còn sinh khí. Tình yêu có thể chết nếu mình không biết nuôi dưỡng nó bằng cái hiểu và cái thương. Và khi người kia hiểu mình thì mình biết ơn người đó, biết ơn suốt đời. Chính sự biết ơn đó là chất liệu nuôi dưỡng liên hệ giữa mình và người đó cho đến suốt đời. Đó là nghĩa, không phải là cái bồng bột lúc ban đầu nữa, không phải là ngọn lửa nhất thời nữa.

Kinh nghiệm nuôi lửa

Ở Việt Nam ngày xưa người ta không nấu cơm bằng gas hay bằng điện mà nấu bằng rơm. Ngày xưa tôi cũng đã từng nấu cơm bằng rơm. Rơm cháy rất mau. Có cách để làm cho rơm cháy chậm lại: mình đặt một nắm rơm vào và lấy cái đũa bếp đè xuống thì nắm rơm sẽ cháy từ từ, được lâu hơn. Ở nhà quê Việt Nam ngày xưa còn nấu bằng trấu. Trấu tức là vỏ lúa. Không có hộp quẹt vì vậy người ta phải nuôi lửa. Nuôi lửa hay nhất là nuôi bằng lửa trấu: mình đổ vào một vài bát trấu, thì trấu cháy ngún rất lâu. Lửa trấu không cháy phừng phừng như lửa rơm mà cháy chầm chậm. Chầm chậm thôi mà cháy cả đêm. Sáng dậy mình khơi ra thì còn lửa trong bếp.

Tình là ngọn lửa rơm mau tàn. Còn Nghĩa là lửa trấu, cháy suốt đêm. Ngày xưa Việt Nam có truyền thống đi xin lửa, vì không có hộp quẹt, cũng không có đèn dầu. Mỗi khi nấu cơm, nếu nhà mình không có trấu để giữ lửa thì mình phải qua hàng xóm xin lửa. Các cháu có thể là chưa bao giờ thấy Con Cúi. Con Cúi không phải là một sinh vật mà mình vẫn gọi là con. Mình lấy rơm bện lại thành một con Cúi bằng rơm thật chặt, đốt một đầu và nó cứ cháy ngún từ từ, được năm bảy giờ đồng hồ. Mỗi khi cần lửa nấu cơm thì mình tới Con Cúi lấy lửa. Nếu mình không có Con Cúi và cũng không có lửa trấu thì mình phải đi xin thôi. Thế hệ của quý vị bây giờ không biết đi xin lửa là gì. Ngày xưa tôi có làm một bài thơ về chuyện đi xin lửa:

Xóm Mới

Sáng hôm nay hộp diêm của tôi hết rồi
Bếp lạnh như trời cuối thu ướt lạnh
Tác phẩm dở dang còn đó
Tôi qua nhà láng giềng xin lửa
(hồi bé chúng tôi thường hai đứa chạy xin)
Em hỏi tôi sẽ làm sao nếu nhà láng giềng không còn lửa
Chúng tôi sẽ họp hai người hát ca
Nhớ lời em dặn “là những bông hoa”.
Chúng tôi sẽ cầm đuốc đi bên nhau hướng về Xóm Mới
Em cũng cứ hát ca đi, trong khi chờ đợi,
Thế nào trong xóm ta cũng có nhà còn lửa
Thôi tôi xin mọi người đưa tay nói thực:
Có phải tất cả chúng ta
Đang tin ở điều đó như đang tin hôm nay
Ở hiện hữu nhiệm mầu?
Tôi biết có những nhà nghèo,
nhưng trấu hồng ngún cháy
ngày đêm trong bếp hồng âm ỉ
Tôi sẽ nhớ lời em không khuấy động bếp lành
Một nắm rơm đặt vào
Đợi khói tỏa mầu xanh,
Em nhìn xem:
chỉ một hơi thở nhẹ của hồn tôi thôi
Cũng đủ gọi về lửa đỏ.

Đi xin lửa mình phải cầm một nắm rơm dài. Tới bếp của người ta thì mình đừng nên quấy động cái bếp, vì người ta đang nuôi lửa trong đó. Mình lấy nắm rơm của mình, dúi vào chỗ lửa trấu đang còn cháy, và mình đợi độ chừng hai, ba chục giây. Trong khi đó mình thở. Từ từ khi thấy khói lên thì mình biết nắm rơm của mình đã được lửa bén vào rồi. Khi đó mình chỉ cần thổi một hơi thở nhẹ là lửa cháy lên. Mình lấy một nắm rơm khác, nắm nó lại, đem về thì nó tiếp tục cháy. Ngày xưa đi xin lửa là chuyện mỗi ngày.

Lửa rơm cháy mau được ví dụ cho tình yêu. Lửa trấu ngún cháy cả ngày đêm được tượng trưng cho Nghĩa. Ân Nghĩa là cái phải tiếp nối cái Tình. Tình phải được bắt đầu cho khéo để từ từ đưa tới cái Nghĩa. Ân Nghĩa là cái nuôi dưỡng một cặp vợ chồng cho tới khi đầu bạc răng long. Răng long thì đi làm răng giả, còn đầu bạc thì đi mua thuốc nhuộm. Và nuôi dưỡng Nghĩa là nuôi dưỡng thương yêu. Mỗi ngày mình phải làm cho cái tình của mình lớn lên và biến thành nghĩa. Mình phải biết lợi dụng cái ngọn lửa đầu tiên. Ban đầu mình dúi nắm rơm vô lửa trấu là để cho ngún cháy, khói đi lên, mình thổi phù nhè nhẹ thì lửa bốc lên. Nhưng mình đem lửa đó về nhà không được, nửa đường sẽ tắt. Và vì vậy khi lửa rơm cháy lớn rồi thì mình phải ủ nó vào trong nắm rơm khác cho lửa cháy ngún từ từ mà đem về.

Mỗi ngày mình phải xây dựng cái ơn và cái nghĩa. Mỗi lời nói, mỗi cử chỉ săn sóc đều là tạo ra ơn và nghĩa. Chính cái đó nó là keo sơn giúp cho một cặp vợ chồng sống với nhau suốt đời. Tình bạn cũng vậy. Tình bạn thì không có sự cháy bùng, đam mê như là tình yêu, cho nên tình bạn dễ hơn nhiều. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói rất rõ là tình bạn thì lâu dài, bền chắc, và nuôi dưỡng mình nhiều hơn tình yêu. Cho nên bí quyết là mình phải biến tình yêu lúc ban đầu trở thành tình bạn. Hai người ban đầu là hai người yêu, nhưng từ từ sẽ trở thành hai người bạn.

Khi trở thành hai người bạn thì đó là tình yêu đang còn. Còn nếu tình yêu không trở thành được tình bạn thì nó sẽ chết, nó không thành công. Mà sở dĩ tình yêu trở thành tình bạn được là vì mình phát khởi được cái ơn và cái nghĩa. Cái ơn nghĩa đó bắt đầu từ chỗ ý thức được rằng tại sao giữa bao nhiêu người mà người đó lại chọn mình. Và mình biết ơn người đó đã chọn mình. Cái chọn của mình không phải là nhất thời. Sự chọn này phải xảy ra trong một quá trình nào đó, với trí tuệ chứ không phải chỉ với đam mê mà thôi. Nếu chỉ có đam mê thì mình sẽ hối hận. Phải có trí tuệ và phải biết lắng nghe, Lắng nghe bạn bè của mình, lắng nghe cha mẹ của mình, lắng nghe các em của mình. Vì họ cũng có cái thấy, mà cái thấy của họ đôi khi khách quan hơn, chắc chắn là khách quan hơn mình, tại vì mình chủ quan quá. Mình đam mê rồi thì mình không thấy được sự thật rõ ràng bằng những người khác.

Thư của Sư Cô Chân Không gửi Chính phủ Myanmar – ngày 21.12.2017

Liên quan đến sự kiện hai phóng viên của Reuteurs – những người đang tường thuật về cuộc khủng hoảng Rohingya ở miền bắc Myanmar – bị  bắt giữ vào ngày 12 tháng 12 năm 2017, Sư Cô Chân Không – người chị cả của Dòng tu Tiếp Hiện – đã viết lá thư dưới đây gửi những người đứng đầu Nhà nước Myanmar.

Ngày 21 tháng 12 năm 2017

Kính thưa Ngài Tổng thống U Htin Kyaw,

Kính thưa Bà Cố vấn Nhà nước Myanmar Daw Aung San Suu Kyi,

Tôi là tỳ kheo ni Thích Nữ Chân Không, đệ tử lớn nhất  của Thiền sư Thích Nhất Hạnh.

Với tất cả khiêm cung và e dè, tôi xin được đề cập đến những vấn đề có liên quan tới người dân và các cơ quan chức năng của Myanmar. Tôi không dám lên án bất cứ ai, cũng không dám đòi hỏi hay thúc giục ai làm một điều gì. Tôi chỉ có một ước mong duy nhất là hiến tặng lời dạy rất giản dị nhưng vô cùng sâu sắc của Bụt Shakyamuni mà  nguồn tuệ giác trong suốt 2600 năm qua  luôn được kính ngưỡng.

Bụt dạy rằng mỗi khi chúng ta nhìn thấy cái gì, nghe thấy điều gì, chúng ta thường có cảm tưởng rằng đối tượng tri giác của mình – tức là cái thấy của mình – là sự thật và chính xác. Chúng ta chắc chắn rằng tri giác của mình là đúng 100%. Nhưng theo lời Bụt dạy, những tri giác của con người trên thực tế chỉ đúng một phần thôi. Những tri giác có thể đúng ở một vài khía cạnh, nhưng lại có thể không hoàn toàn chính xác và toàn vẹn ở những khía cạnh khác.

Những tri giác mà cảnh sát hoặc Chính phủ Myanmar đang nắm giữ liên quan đến hai nhà báo Wa LoneKyaw Soe Oo, có thể chỉ là những tri giác mà thôi. Đó không phải là toàn bộ sự thực. Tại sao một nữ tu sĩ Phật giáo lớn tuổi và khiêm nhường như tôi lại dám nói điều này?! Bởi vì tôi và những người bạn của mình đã có cơ hội tìm hiểu từ nhiều nguồn tin về thân thế của Wa Lone và Kyaw Soe Oo. Hai nhà báo này xuất thân từ những gia đình nông dân nghèo nhưng thông minh và từ mẫn. Chúng tôi được nghe kể về cách sống của Wa Lone: mặc dù bận rộn với nhiều trách nhiệm, Wa Lone vẫn dành thời giờ để viết  sách cho trẻ em nghèo nông thôn và chơi với các em, đọc truyện cho các em nghe. Chúng tôi cũng được biết rằng nhà thơ Kyaw Soe Oo rất đam mê với việc sáng tác thơ trước khi quyết định dấn thân vào sự nghiệp của một nhà báo, chứng tỏ rằng Kyaw Soe Oo yêu thích vẻ đẹp của thi ca hơn là việc lên án hay chỉ trích người khác với tư cách một nhà báo.

Trong suốt 2600 năm qua, có rất nhiều đệ tử của Bụt Shakyamuni đã chứng thực rằng tri giác của chúng ta luôn phiến diện. Một ví dụ điển hình là chuyện những người mù sờ voi. Một người sờ vào ngà của con voi và cho rằng con voi là một cái gì sắc, cứng và có thể gây nguy hiểm. Một người mù khác sờ vào đuôi voi thì cho rằng con voi giống như một cái chổi. Và một người sờ vào chân voi thì cho rằng con voi giống như những cái cột nhà. Không ai trong số những người đó có thể thấy được con voi một cách toàn vẹn. Đối với chúng ta cũng như vậy, tri giác của chúng ta về tình trạng chỉ mang tính phiến diện và không phản ánh sự thật một cách toàn vẹn.

Bụt cũng từng đưa ra một ví dụ khác về một sợi dây thừng vắt ngang trên đường đi. Khi thoáng thấy sợi dây, ta phản ứng liền và tin chắc đó là một con rắn lớn. Rồi ta có ý định giết con rắn càng nhanh càng tốt. Chỉ sau đó chúng ta mới nhận ra rằng đó chỉ là một sợi dây.

Trong chiến tranh Việt Nam, vào tháng 5 năm 1966, có hai người bạn của tôi ở trường Thanh niên Phụng sự Xã hội đã bị giết bằng những quả lựu đạn do những người mang mặt nạ ném vào nơi chúng tôi đang ngồi. Trong tang lễ của hai người bạn, tôi đã đọc một bài điếu văn ngắn, trong đó nói rằng: “chúng tôi không dám giận các anh, những người đã giết hai người bạn tôi. Ước mong duy nhất của chúng tôi là lấy đi những tri giác sai lầm mà các anh đang có về chúng tôi. Chúng tôi muốn nói với các anh  rằng, thực tế chúng tôi chỉ là những người trẻ có trái tim nhân hậu, những tình nguyện viên được Thầy của chúng tôi – Thiền sư Thích Nhất Hạnh – dạy bảo để đi tới những ngôi làng nghèo khổ không có trường học, không có điều kiện chăm sóc y tế ở nông thôn. Chúng tôi xin các anh  biết rằng chúng tôi không căm thù các anh, chúng tôi chỉ muốn xin các anh  lấy đi những tri giác sai lầm của các anh về chúng tôi. Chúng tôi biết rằng những gì các anh gây nên có vẻ như là một tội ác và sở dĩ các anh  làm vậy vì các anh nghĩ chúng tôi là những con rắn độc mà các anh cần phải giết đi để giải phóng cho thế giới khỏi bị nguy hiểm. Trong khi đó trên thực tế, chúng tôi đơn giản chỉ là những người em nhỏ của các anh, chúng tôi  rất thương quý các cháu bé ở nông thôn không có trường học, không được chăm sóc về mặt y tế và đang cần sự giúp đỡ”.

Kính thưa Bồ tát Daw Aung San Suu Kyi,

Kính thưa Ngài Tổng thống Myanmar U Htin Kyaw,

Tôi kính xin quý vị nên nhìn sâu hơn thêm tri giác của mình về Wa Lone và Kyaw Soe Oo. Tôi không dám phán xét hay chỉ trích quý vị. Là một người tu, đệ tử của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, tôi chỉ muốn mời quý vị trở về với hơi thở của mình để tiếp xúc với sự tĩnh lặng trong hơi thở vào và tiếp xúc với sự sáng tỏ trong hơi thở ra. Khi quý vị đặt sự chú tâm hoàn toàn vào hơi thở của mình thì quý vị cũng đồng thời tiếp xúc được với bình an trong hơi thở vào và từ bi trong hơi thở ra. Xin hãy tặng cho chính mình một ngày không có sự căng thẳng và giận dữ. Xin đừng hiểu lầm tôi, tôi không dám chỉ trích quý vị hay những quyết định của quý vị. Có thể trong một hoặc hai ngày nhìn lại, quý vị sẽ lấy làm mừng rằng mình đã không phán xét sai lầm những người con dễ thương đẹp đẽ của Myanmar như Wa Lone và Kyaw Soe Oo.

Chúng tôi biết rằng quý vị thương tất cả dân chúng của Myanmar, nhưng tình trạng phức tạp của đất nước đã không cho phép quý vị hành động như vị Bụt trong quý vị. Tôi viết lá thư này không phải để phán xét mà để chạm tới vị Bụt an tĩnh và Bồ tát đại bi trong quý vị, để cho lòng từ có thể nở hoa và quý vị có thể vượt qua những chướng ngại đang che lấp tâm mình.

Nam Mô Đức Bụt Shakyamuni

Nam Mô tất cả các đức Bụt của Myanmar

Chúng tôi hiểu rằng lòng bi mẫn, lòng từ ái đang có mặt trong trái tim quý vị.

Với lòng biết ơn sâu sắc,

Tỳ kheo ni Thích Nữ Chân Không

Đại diện Cộng đồng tăng thân quốc tế Làng Mai tại Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Hồng Kông, Úc  và Thái Lan.

____________________________

Nguyên bản tiếng Anh:

Sister-Chan-Khong’s-Statement-on-Burma-December-2017-1

Bài viết có liên quan:

https://langmai.org/cong-tam-quan/thong-bach/giot-nuoc-tu-bi/

Khoá tu doanh nhân tại xóm Thượng và xóm Hạ, Làng Mai, ngày 31.05 – 07.06.2017

Câu đối và Chương trình đón xuân Mậu Tuất 2018 tại Làng Mai

“… Trời đất hân hoan mừng nắng dậy
Một đàn em nhỏ rộn yêu thương
Quần điều áo lục theo chân mẹ
Hái lộc đầu xuân chật ngả đường.”

Ngày xuân đang về, trước thềm năm mới, bốn chúng Làng Mai xin kính chúc quý thân hữu một năm mới thật nhiều sức khỏe, nhiều niềm vui và bình an trong từng hơi thở và bước chân. Trong dịp chào đón năm mới Mậu Tuất, tăng thân Làng Mai có hai câu đối  “An khi thở, Lạc khi đi” làm món quà gởi đến quý thân hữu để quý vị có thể in lên giấy hồng điều và trang trí trong nhà… cùng vui xuân và thực tập với tăng thân.

Tải về câu đối Tết 2018

“Buổi sáng khi thức dậy, ta biết rằng ta có hai mươi bốn giờ trước mặt để sống. Đó là một món quà quý giá. Ta sống như thế nào để có an lạc và hạnh phúc trong suốt hai mươi bốn giờ, mà người khác cũng nhờ đó mà có an lạc và hạnh phúc. An lạc có mặt trong ta ngay tại đây trong giờ phút này, trong mỗi vật và mỗi việc ta làm hay ta thấy. Vấn đề là ta có biết tiếp xúc với nó không. Bầu trời xanh ở ngay trước mắt ta, ta đâu cần phải đi đâu xa để thưởng thức trời xanh. Ta cũng không cần rời thành phố ta ở mới thấy được vẻ đẹp của đôi mắt trẻ thơ. Không khí trong lành ta thở đã có thể cho ta biết bao hạnh phúc rồi.

Ta hãy đi, đứng, thở, mỉm cười và ăn cơm như thế nào để luôn luôn được tiếp xúc với những mầu nhiệm quanh ta. Ta sắp đặt và chuẩn bị đời sống rất giỏi nhưng ta chưa giỏi trong cách sống. Ta có thể hy sinh mười năm trời để dành cho được mảnh bằng kỹ sư hay bác sĩ, ta sẵn sàng làm việc rất cực nhọc để có công ăn việc làm, để mua nhà, mua xe v.v… Nhưng ta quên rằng ta đang sống trong hiện tại và ta chỉ có thể thật sự sống trong giây phút hiện tại mà thôi. Chỉ cần tỉnh thức thì mỗi hơi thở và mỗi bước chân là một nguồn an lạc, chúng cho ta biết bao niềm vui và biết bao sự thanh thản….” – Sư Ông Làng Mai

Chương trình đón Xuân Mậu Tuất 2018 tại Làng Mai

Để sống với những nét đẹp văn hóa cổ truyền của đất nước và cũng để thắp sáng truyền thống vui xuân với không khí ấm cúng của đại gia đình Việt tự ngàn xưa, Tăng thân Làng Mai xin mời các thân hữu gần xa cùng về xum họp tại Làng Mai từ ngày 29 tháng chạp cho đến ngày mùng 4 tháng giêng để cùng vui Xuân.

Ngày đầu xuân mồng Một, sau lễ đầu năm là phần Bói Kiều đầu Xuân. Bói Kiều là tham khảo ý kiến cụ Nguyễn Du, ni sư Giác Duyên và đạo cô Tam Hợp về tình trạng hiện tại của mình và để biết tu tập tiếp xử cách nào cho có hạnh phúc và thành công trong năm tới. ‘Thác là thể phách, còn là tinh anh’, tuy hình hài cụ Tiên Điền không còn, nhưng tinh anh của thi hào vẫn còn mãi mãi trong ta, chung quanh ta và trong sức sống của dân tộc.

Đặc biệt hơn nữa quý vị sẽ được viếng thăm phòng của quý thầy quý sư cô (chỉ được thăm trong ngày Tết thôi!), được tận hưởng những nụ cười, bánh mứt, hạt dưa và những câu chuyện vui đầu Xuân trong không khí ấm áp tình đạo hữu.

Ngày đón khách cho dịp Tết sẽ là ngày 14 tháng 2 năm 2018, xin quý vị sắp xếp thời gian để đến đúng ngày để yểm trợ cho sự sinh hoạt của đại chúng cũng như tiện cho sự sắp xếp chỗ ở, ghi danh, đưa đón…  Nếu không thể đến đúng ngày xin yểm trợ tự sắp xếp taxi để đến Làng.  Và xin tới sớm trước giờ ăn chiều  5:30

Chương trình bình thơ và đón giao thừa tại xóm Mới (nhằm ngày 15/02/2018 dương lịch)
 

14:30 Bình thơ

17:30 Lễ Giao Thừa

  • Ngồi thiền 30’ trước khi làm lễ đón giao thừa
  • Lễ đón giao thừa
  • Chuông trống Bát Nhã
  • Đọc Lời khấn nguyện đầu năm
  • Ăn tối picnic
  • Văn nghệ

Mùng một Tết (nhằm ngày 16/02/2018) – xóm Thượng

10:00 Tập họp tại thiền đường Nước Tĩnh

  • Ngồi thiền
  • Đốt pháo, múa lân
  • Quý thầy và quý sư cô lạy nhau đầu năm mới
  • Bói Kiều với quý thầy, quý sư cô
  • Ăn trưa
  • Thăm phòng
  • Ăn chiều
  • Đại chúng tiếp tục thăm phòng

Mùng hai Tết (nhằm ngày 17/02/2018) – xóm Hạ

10:00 Tập họp tại thiền đường Hội Ngàn Sao để bói Kiều với quý thầy, quý sư cô

  • Ăn trưa
  • Thăm phòng
  • Ăn chiều
  • Đại chúng tiếp tục thăm phòng

Mùng ba Tết (nhằm ngày 18/02/2018) – xóm Mới

10:00 Tập họp tại thiền đường Trăng Rằm để bói Kiều với quý thầy, quý sư cô

  • Hội chợ ẩm thực đầu Xuân (với các đặc sản như samosa, bánh lọc, chinese soup, chinese dumpling, bánh bao, đậu hủ đường…)
  • Thăm phòng.
  • Ăn chiều.
  • Đại chúng tiếp tục thăm phòng.
  • Trên đây là chương trình những ngày vui Xuân tại Làng Mai. Kính mời quý vị thân hữu gần xa về Làng đón xuân Mậu Tuất cùng tăng thân Làng Mai. Xin đăng ký tại đường link dưới đây:
  • Xóm Hạ: dành cho phụ nữ độc thân và các cặp vợ chồng

  • Xóm Mới: dành cho phụ nữ độc thân và các cặp vợ chồng

  • Xóm Thượng: dành cho nam độc thân và các cặp vợ chồng
  • Trân kính,
    Tăng thân Làng Mai

Ba câu linh chú giúp chuyển hóa cơn giận

(Trích pháp thoại ngày 4.03.2007, tại tu viện Bát Nhã – Lâm Đồng)

 Có ba câu mà tôi rất muốn quý vị học thuộc, ba câu ngắn thôi và ba câu này rất lợi ích mỗi khi cơn giận của mình trào lên mà mình không muốn nói những câu làm đổ vỡ thì mình phải thực tập theo ba câu đó. Quý vị lấy một miếng giấy nhỏ, viết ba câu đó nắn nót trên miếng giấy này và bỏ vào trong bóp của mình, để gần cái chứng minh nhân dân. Mỗi khi bắt đầu giận thì phải nhớ rút nó ra, đọc ba câu đó, rồi sẽ biết mình phải làm gì để đừng nói và đừng làm những chuyện có thể làm tan vỡ tất cả.

Mình có thể giận chồng, mình có thể giận vợ, mình có thể giận người yêu, mình có thể giận con, mình có thể giận cha.

Đây là phương pháp thực tập để bảo hộ mình, đừng để cho cái giận đốt cháy mình và xô đẩy mình gây nên sự đổ vỡ. Ví dụ như bà đang giận ông, ông vừa nói cái gì đó, ông vừa làm cái gì đó làm cho bà giận quá đi. Nguyên tắc là bà không nói gì hết, không làm gì hết, đó là phương pháp của Bụt dạy. Bà phải trở về với hơi thở, phải đi thiền, phải buông thư, phải quán chiếu. Bà hỏi tại sao ông nói một câu như vậy, ông có chuyện gì bức xúc, hay là hôm nay bị ông chủ la rầy, chắc có nguyên do gì đó khiến cho ông nói một câu như vậy với mình, có nguyên do chứ không phải không.

Hôm trước tôi đã nói về phương pháp hộ trì thân tâm khi cái giận phát hiện. Cái giận là năng lượng số một và chánh niệm là năng lượng số hai. Năng lượng thứ hai nhận diện ôm ấp làm vơi bớt cường độ của cơn giận. Chuyện phải làm đầu tiên là mình không nói gì hết, không làm gì hết. Mình trở về với hơi thở, buông thư, quán chiếu. Thì nội trong vài giờ đồng hồ là mình bớt khổ. Đôi khi mình tìm ra là tại mình hiểu lầm, chứ ông không có mục đích, không có ý làm khổ mình. Nếu gần tới hai mươi bốn giờ đồng hồ rồi mà mình vẫn chưa hết giận, mình đã tu, đã đi thiền hành, đã quán chiếu mà chưa thành công bấy giờ mới cần tới ba câu đó.

– Câu đầu là: Anh ơi em đang giận anh và em muốn anh biết điều đó. Đó là lời người vợ nói với chồng, lời người yêu nói với người yêu. Khi mình đang giận người thương của mình, mình phải công nhận sự thật là mình đang giận và mình đang đau khổ. Thông thường, khi người thương nói: sao cái mặt em vậy, giận anh hả? Mình nói: đâu có giận, tại sao tôi phải giận, tại sao phải giận cho khổ cái thân tôi. Tức là mình giận, mình khổ đau, nhưng mình không công nhận là mình đang khổ đau, đang giận. Còn ở đây làm ngược lại, anh ơi em đang đau khổ, em đang giận anh và em muốn anh biết điều này. Câu này mình có thể nói trực tiếp với ổng nhưng mà phải nói bằng ái ngữ. Tại vì mình thương nhau, mình cam kết với nhau là mình phải chia sẻ với nhau những ngọt bùi, cay đắng, thì nói câu đó là trung thành với lời cam kết ngày xưa. Nếu ông giận bà thì ông cũng không nên có tự ái, ông nói: Em ơi, anh đang khổ lắm, anh đang giận em, anh muốn em phải biết điều này. Có nghĩa là em hãy cắt nghĩa cho anh tại sao em đã nói một câu như vậy, em đã làm điều đó.

– Câu thứ hai là:  Em đang cố gắng với tất cả sức của em đây. Có nghĩa là em đang thực tập theo lời thầy dạy. Em đã không nói những lời lên án, chỉ trích, buộc tội, em không làm gì hết. Em chỉ trở về với hơi thở, thực tập và ôm ấp cái nỗi khổ niềm đau của em để làm cho nó vơi bớt, em là người có tu. Câu đó có nghĩa là mỗi khi em giận em không làm như người khác, em không nói năng, không chửi mắng, không trách móc, em biết trở về với hơi thở, biết đi thiền hành, biết ngồi quán chiếu tìm ra gốc rễ của nỗi khổ niềm đau của em. Câu thứ hai còn có nghĩa là anh có biết là em đang thực tập hay không.

Khi nghe câu thứ nhất thì người kia sẽ phản ứng như thế nào. Trường hợp mình chưa đủ bình tĩnh, không thể tới nói trực tiếp với người đó được hoặc sợ mình nói lời ái ngữ chưa được thì có thể viết xuống mảnh giấy câu đó và để trên bàn giấy của anh ta hay là mình gởi e-mail. Nhớ câu thứ nhất: em đang giận anh, em đang khổ và em muốn anh biết điều đó. Thì phản ứng của người kia: chà mình làm cái gì, mình nói cái gì để cho bả giận như vậy. Tự nhiên có sự quán chiếu, sự trở về để đặt câu hỏi. Và chàng cũng bắt đầu thực tập.

Câu thứ hai rất hay, em đang cố gắng với tất cả sức em đây, nghĩa là em đang tu đó, em là người có tu chứ không phải là người thường, em đã được học với thầy. Em đang đi thiền hành, em đang thở, em đang ôm ấp nỗi khổ niềm đau của em, em nhìn coi thử gốc rễ của nó như thế nào. Thì người kia sẽ tự hào về mình, à mình có một bà vợ biết tu, khi nổi cơn giận lên biết trở về với hơi thở, biết đi thiền hành, biết quán chiếu. Người chồng đó sẽ hãnh diện về mình. Câu đó cũng có nghĩa là mời người chồng cùng quán chiếu. Tại sao mình làm cho vợ mình, người yêu của mình đau khổ. Mình nói cái gì, vụng về chỗ nào, đã làm cái gì khiến cho người đó đau khổ tới như vậy. Người đó sau khi đọc câu thứ hai cũng suy nghĩ, cũng quán chiếu. Đó là một lời mời mọc cho người kia cũng thực tập như mình. Nó gián tiếp nhưng đích thực đó là một lời mời mọc, em đang cố gắng hết sức em đây.

– Và câu thứ ba: Anh giúp em đi. Đơn sơ như vậy đó. Có thể em thực tập chưa thành công hay không thành công. Có thể em thành công và em sẽ hết giận anh nhưng lần này nó khó lắm, thành anh phải giúp em đi. Tức là mình bắt người kia phải sử dụng lương tâm, quán chiếu lại coi, đã nói cái gì, đã làm gì gây ra cái khổ đau đó. Thường thường một người làm cho mình khổ đau mà là người dưng nước lã, thì mình không khổ nhiều. Nhưng ở đây người mình thương nhất trên đời mà nói câu đó, làm cái đó thì mình quá đau khổ và mình chịu đựng không nổi. Thông thường mình muốn tỏ rằng mình không cần người đó. Anh làm tôi khổ, tôi không cần anh. Mình muốn chứng tỏ cho người đó biết một cách gián tiếp rằng không có anh tôi cũng sống được, bởi vì tự ái quá lớn. Mà phần lớn chúng ta đều có cái thái độ như vậy với tự ái rất lớn. Cho nên câu thứ ba này mình làm ngược lại, mình nói anh giúp em đi. Khi viết xuống được câu đó hay nói ra được câu đó thì nó đỡ giận rất nhiều rồi.

Tôi cam đoan là có hiệu quả, nếu không hiệu quả thì các ông các bà bắt đền tôi. Phải nói ra được câu thứ nhất là đỡ khổ rồi, anh ơi em đang giận anh, em đang khổ và anh phải biết điều đó. Em đang thực tập hết với tất cả cái sức của em. Anh giúp em đi. Nếu bà viết xuống được ba câu đó thì tự nhiên cái đau khổ, buồn khổ của bà đã bớt tới sáu mươi phần trăm rồi. Nó rất hay và không biết bao nhiêu thiền sinh theo học ở làng Mai đang thực tập như vậy. Nếu trong vòng hai mươi bốn giờ đồng hồ mà mình giải quyết được, mình hết giận thì tốt. Nếu gần hết hai mươi bốn giờ mà chưa hết giận thì mình phải đưa cái tối hậu thơ đó, đưa cho anh chàng mảnh giấy có ba câu đó. Khi biết rằng người kia đọc được cái đó thì mình đỡ khổ rồi và mình tiếp tục thực tập. Nếu trong khi thực tập, mình tìm ra đó là tri giác sai lầm của mình thì phải vội vàng điện thoại cho anh chàng, anh ơi, em hết giận rồi, tại vì em hiểu lầm. Chứ đừng để cho anh chàng tiếp tục đau khổ mà tội.

Còn nếu mình là anh chàng, khi nhận được thông điệp với ba câu đó mình phải tự hỏi:  chà, mình làm cái gì, mình nói cái gì khiến cho người kia đau khổ như vậy? Mình mới hồi tưởng lại, trời ơi mình hơi vụng về khi nói câu đó. Khi mình thấy được điều đó thì mình phải gửi e-mail hay phải gọi điện thoại về xin lỗi liền lập tức, đừng để cho người kia khổ thêm một phút nào nữa.

Bà thực tập như vậy, ông cũng thực tập như vậy và cháu cũng có quyền thực tập như vậy. Nếu anh là con trai, chị là con gái, mà nếu anh hoặc chị giận ba thì anh hay chị cũng có thể viết ba câu đó: ba ơi con đang khổ con đang giận ba đây và con đang thực tập theo lời thầy dạy nhưng có thể con thực tập không thành công, vì vậy ba giúp con đi. Nếu người con trai viết được cho ba mấy câu đó thì con trai sẽ bớt khổ rất nhiều. Người con gái cũng vậy, nếu viết được cho ba hay cho mẹ ba câu đó thì người con gái sẽ bớt khổ rất nhiều. Tại vì có sự truyền thông, có sự tin tưởng lẫn nhau. Cứ về làm đi, tôi bảo đảm sự thành công. Vì mình tin nhau mình mới nói được với nhau những lời như vậy.

Nếu mình là người cha, mình giận con trai của mình thì mình cũng có thể nói như vậy: con ơi ba đang khổ, ba đang giận con và con phải biết điều đó cho ba, mình không tự ái, đó là con của mình. Mình đừng nói nó là con mình chứ đâu phải ông nội của mình mà phải nói như vậy. Không nên nói như vậy. Nó là con trai của mình, nó là người thương của mình. Thành ra ông viết cho con trai, ông nói: con ơi ba đang giận con, ba đang khổ lắm, ba không biết tại sao con đã làm như vậy, đã nói như vậy, ba đang thực tập đây, ba đang cố gắng hết sức để thực tập đây. Ba đã học được cái phương pháp này ở khóa tu chùa Bát Nhã, con giúp ba đi’. Khi đứa con trai nhận được cái thông điệp đó mà không có đáp ứng, không có cảm động thì không phải là đứa con trai nữa. Khi ba mình nói với mình những lời tâm huyết như vậy thì mình sẽ tự tỉnh. Mình sẽ hỏi: trời đất ơi, mình làm gì cho ba mình đau khổ như vậy, mình đã nói gì, đã làm gì. Nếu mình không biết thì mình hỏi ba, ba ơi con đã nói gì khiến cho ba buồn như vậy, con đã làm gì khiến cho ba khổ như vậy, ba cho con biết đi. Tình trạng lúc đó rất là dễ.

Tôi xin quý vị hãy học thuộc ba câu này. Nếu quý vị sợ quên, quý vị viết ba câu đó trên một mảnh giấy lớn bằng cái carte-de-visite thôi. Mỗi khi buồn khổ lấy ra. Đây là phương pháp của Bụt dạy. Tôi có những người đệ tử thực tập điều này rất là giỏi và tôi rất biết ơn người đệ tử đó, họ thực tập thành công, họ đem lại hạnh phúc, hòa khí trong gia đình họ. Có những người đệ tử rất trẻ, về làm hòa được với cha, với mẹ và giúp cho cha mẹ làm hòa được với nhau, tôi rất hãnh diện về những người đệ tử trẻ đó.

Tôi xin lập lại, câu thứ nhất: Anh đang giận em, anh đang khổ và cái muốn em biết điều đó. Câu thứ hai: Anh đang thực tập với tất cả con người của anh . Câu thứ ba: Em giúp anh đi.

Các câu nói đó có thể được sử dụng bởi người chồng, người vợ, người cha, người con hay người mẹ. Nếu mình đem hết tất cả tâm tư vào sự thực tập thì chắc chắn sẽ có kết quả. Thành công được một lần mình sẽ có niềm tin: mình sẽ thành công trong những lần kế tiếp. Đó là sự chiến thắng của đạo pháp, của tình thương.

Năm Mới 2018

Mừng Giáng sinh 2017