Có nhau nơi mỗi nụ cười
Bạn hiền thân quý,
“Thầy đi thì trò cũng đi thôi”, tôi đã từng viết như vậy. Thế là đã một năm Thầy ở Thái Lan. Và tôi, một năm khăn gói đi nhiều lần mà không ngờ. Nhìn lại một năm đi qua, tôi mỉm cười. Bao nhiêu chuyện đã xảy ra mà mình quên lãng đi, đến khi ghi lại mới chợt nhớ như vừa xảy ra ngày hôm qua.
Tháng Giêng
Chúc mừng năm mới, chúc mừng năm mới!
Ngày đầu năm của Thái Lan, trời lạnh như mùa thu ở Pháp và không khí rất trong lành. Buổi sáng tôi dậy sớm, tươi tỉnh đầy năng lượng, lên thiền đường lạy Bụt xong rồi đem bình bát qua phòng sư em Hạnh Liên ăn sáng, tíu tít với nhau. Mấy khi có giờ chị em ngồi với nhau như những ngày cũ. Về lại cốc Thầy, gặp sư cô Quy Nghiêm dẫn các y chỉ muội người Thái lên đảnh lễ nên tôi rủ mấy sư em đang có mặt lên thăm Thầy luôn. Thầy khỏe, nên các sư em Như Hiếu, Thư Nghiêm, Trăng An Lạc và tôi cũng được Thầy sờ đầu. Năm nay hên rồi bạn hiền ơi.
Vậy đó, nhưng sức khỏe Thầy vô thường, khi được khi không. Có những ngày Thầy bỏ cả thuốc, bỏ cả ăn, không ngủ được. Khi nào Thầy chịu ngồi trước mâm cơm là ban thị giả vui quá chừng. Bà con ở Việt Nam nghe tin Thầy về Thái Lan, rủ nhau qua rất đông để được gặp Thầy. Những giọt nước mắt nhớ thương, những chắp tay chờ mong rất cảm động.
Giữa tháng, Thầy lên bệnh viện ở Bangkok để tái khám. Thầy ở lại nhà thương Bumrungrad International, ban thị giả thì ở một khách sạn cũ đối diện nhà thương để tiện việc qua trực và đem cơm cho Thầy. Phòng Thầy ở bệnh viện có chỗ tiếp khách và để bác sĩ ngồi bàn luận nên khá thoải mái. Bác sĩ thì rất là lễ độ, vị nào vào cũng lạy Thầy rồi mới làm việc. Bác sĩ làm tất cả các khám nghiệm cần thiết cho Thầy và mời ban thị giả họp chung để cho biết kết quả rồi cùng bàn cách chữa trị. Thị giả nấu ăn thì sẽ gặp chuyên gia dinh dưỡng để biết nên cho Thầy ăn và không ăn những gì. Chế độ ăn kiêng theo bác sĩ Hyman cũng đã một năm rồi nên phải kiểm tra lại. Thầy nghe báo cáo, hài lòng, giơ tay lên ngực như đồng ý và cám ơn mỗi khi nghe báo cáo về tình hình và cách chữa trị của mỗi phần: vật lý trị liệu, thuốc men, ăn uống… Thầy ăn ngon trở lại nên thị giả nấu ăn vui quá.
Sau một tuần ở Bangkok, Thầy về lại Làng, nghỉ ngơi, có vẻ không mệt lắm nhưng ăn ít lại. Tuy nhiên sau đó Thầy ra dự lễ dựng nêu và tụng kinh. Thậm chí buổi tối nấu bánh chưng Thầy cũng ra dự. Trời ơi, Thầy mới không khỏe đó mà cũng khoác áo ấm ra ngoài. Tôi đang đi lơn tơn thì gặp xe Thầy đang được đẩy qua cái cổng tam quan treo đèn sáng choang mà ban chăm sóc dựng lên đón Tết ở khu vực các sư cô. Thế là được tháp tùng Thầy đi thăm phòng ở ni xá 1. Ở phòng đầu tiên có không gian, Thầy xuống xe nhờ thị giả đỡ để đi bộ một vòng nên Phật tử cư sĩ đi theo (không vào cư xá được nhưng đều thấy được Thầy từ bên ngoài), quá hạnh phúc. Sau đó, các sư em gia đình Sồi Đỏ được lại gần chào Thầy. Thầy vui lắm, có lúc mỉm cười nên ai cũng cảm động.
Tết Tết Tết
Mùa Tết cũng là mùa hoa. Tôi mê quá những cây lan nghinh xuân đủ màu vì ở Pháp làm gì có. Thế là đi chợ hoa suốt. Tôi mua được khoảng chục chậu nghinh xuân trắng, nhờ sư em Đáo Nghiêm ghép vào cây gỗ rất nghệ thuật đem treo trên cốc Thầy. Tôi cũng mua được một chậu tiểu quỳnh màu trắng nở hoa thơm ngát cho phòng mình. Các thầy chở tới hai cây mai khá to và hai cây đào Việt Nam mua ở Lao Bảo. Bao năm rồi không thấy mai thật, đào thật, tôi hớn hở: “Tết này ăn to rồi”.
Sức khỏe Thầy vẫn không ổn định, Thầy không ăn được mà cũng không uống thuốc. Nhưng đêm ba mươi Thầy ra dự lễ đón Giao thừa, ngồi rất bình an và dự nguyên buổi lễ, sau đó dẫn mọi người tới chỗ đốt lời khấn nguyện đầu năm.
Tôi khai bút trên giường. Viết lại những niềm vui nho nhỏ trên đất Thái. Niềm vui lớn nhất là Thầy vẫn còn đó, dù mồng một Tết Thầy không khỏe đủ để ra thiền đường cho chúng đệ tử làm lễ chúc Tết đầu năm.
Tôi dự buổi bói Kiều xong về lại cốc Thầy, mở quà Tết của tăng thân ra cho Thầy xem, rồi xin phép đi thăm tăng xá và thế là đi chơi cả ngày. Có cơ hội chơi với các sư em quá vui. Phòng nào cũng thăm, cũng ăn một chút kẻo phụ lòng người nấu nên cái bụng muốn đình công. Mà công nhận các thầy, các sư chú nấu ăn ngon quá. Có phòng cho người ra “mời vào” giống mình đi xe đò giữa đường có người ra mời vào quán ăn. Ban chăm sóc làm sẵn cho tôi bao lì xì, chu đáo cho mượn trước tiền lẻ nữa để bảo đảm tôi có đủ lì xì cho mọi người, không sót ai. Thiệt là vui, một cách nhắc nhở vô cùng khéo léo. Nên tôi đi lòng vòng xài cho hết, nhưng có phòng tôi còn được mừng tuổi lại nữa chứ. Tôi đi thăm hai cư xá nữ vào mồng 2 và mồng 3, cũng ăn, chơi, lì xì, đủ ba ngày Tết rộn ràng.
Thầy đau suốt từ mồng 1 tới mồng 4 mới đỡ. Không muốn ăn, không ngủ được. Ai cũng lo và căng thẳng. May sao tới mồng 5 Thầy khoẻ lại, ăn lại được chút chút. Nhưng sức khỏe sa sút hẳn.
Mồng 4, thiền sinh Việt Nam bắt đầu tới cho khóa tu, tôi theo tri khố Thuần Minh đi chợ vựa trái cây cho biết. Xe chạy gần ba tiếng mới tới nơi. Chợ gồm nhiều dãy nhà, mỗi dãy lớn gấp đôi chợ Hòa Bình ở Đà Lạt, và bán chuyên vài thứ là đã hết chỗ. Trong mỗi nhà có nhiều sạp, khoảng cách lớn đủ cho xe tải chạy qua. Tôi hoa mắt với cả chục loại xoài, cả chục loại chuối, gần chục loại thơm khác nhau. Chỉ đi nếm thử trái cây là no. Nhưng ở đây cũng có bán trái cây Trung Quốc, nên phải biết chỗ để mua cho đúng trái cây Thái Lan. Đi có mấy dãy là tôi mỏi chân rồi. Đúng là chợ bán sỉ, sư em Thuần Minh chỉ việc chọn, cho số xe, trả tiền rồi kéo tôi đi chỗ khác, còn hàng sẽ được người bán đóng gói và đem thẳng ra xe tải của mình.
Mồng 5, khóa tu cho người Việt bắt đầu. Tôi bước xuống cầu thang bị hụt chân nên té… trặc chân. Đầu năm rồi, đâu còn xả xui nữa? Thế là nhảy lò cò, băng chân, xức thuốc, nằm trên giường đọc sách. Nghe nói Thầy khỏe hơn, đi ra được, vui vẻ, đi vòng quanh thiền đường tới ba lần, thiên hạ đang pháp đàm quanh khu vực đó quá là hạnh phúc.
Cuối khóa có hội chợ và văn nghệ, thấy thị giả ra tham gia hết, tôi hỏi thăm thì nghe nói Thầy lại không ăn và không uống. Cứ bữa khỏe bữa không. May có bác sĩ Quốc từ Mỹ qua. Bác sĩ Quốc chỉnh đủ chỗ hết. Thầy khỏe nên lại đi chơi ni xá 1, và tối ra sân cho các sư em Diệu Trạm cầm tay, hát và chào. Sau đó Thầy vào nhà bếp, không ăn, nhưng “an ủi” hai đầu bếp, hết nắm tay lại sờ đầu.
Mấy ngày sau, Thầy khỏe đủ để đi thăm tăng xá, cười hoài với các sư em nhỏ. Ai nghe tin Thầy cười là vui.
Đại Giới Đàn
Ngày 22.02, Thầy ra dự lễ truyền giới nam khất sĩ và đắp y nữa. Ai cũng cảm động. Nhưng Thầy mệt hơn năm ngoái nên chưa làm lễ xong đã ra hiệu cho thị giả đẩy xe rời khỏi bàn. Buổi chiều Thầy mệt, không ra chứng minh cho lễ truyền giới nữ khất sĩ được.
Hôm sau, Thầy xuống ni xá 1 thăm chư tôn túc ni tới từ Việt Nam. Thầy ngồi ăn sáng với quý sư bà. Thầy ra dấu mời ăn, và thậm chí nhận miếng bánh mì một sư bà mời để tiếp quý ngài. Thầy có vẻ thú vị lắm. Thấy tôi ló đầu vào nhìn, Thầy làm dấu khoe: “Thầy ăn bánh mì nè” (vì biết tôi hạn chế món này trong thực đơn của Thầy theo lời dặn của bác sĩ). Sau đó có quý Ôn xuống chào từ giã, được chụp hình lưu niệm với Thầy. Thầy dễ thương lắm. Khỏe đủ là ra tiếp khách, ra thăm quý ngài đã lặn lội từ Việt Nam qua chứng minh cho Đại Giới Đàn. Thấy sự có mặt của Thầy rất trọn vẹn dù Thầy không nói.
Bốn ngày sau, Thầy chịu lên Saohai hospital, một nhà thương đông y của huyện. Ở đây có một dãy phòng dành riêng cho tu sĩ. Theo truyền thống Thái Lan, các vị khất sĩ nếu có bịnh ghé lại sẽ có chỗ ở và được chữa trị miễn phí. Phái đoàn thị giả thì ở ngoài: nam ở trong nhà của giám đốc bệnh viện, còn nữ ở ngay trong một phòng khách mà họ đã sắp xếp lại thành phòng ngủ và bếp để nấu cho Thầy. Thầy đi quanh, thăm mọi nơi, xong vào bếp dùng cơm ngon với các sư con bao quanh. Ai cũng hạnh phúc vì Thầy ăn được, ăn đủ, ăn ngon.
Vậy mà ai ngờ hôm sau Thầy muốn về lại Làng Mai Thái khi chưa được chữa trị gì hết. Nên bác sĩ sẽ đem thuốc đến tận Làng làm cho Thầy.
Hồng Kông
Tháng ba, tôi có duyên sự bay qua Hồng Kông mấy ngày. Tôi được dự một ngày quán niệm ở chùa Liên Trì, nghe sư em Thuận Nghiêm thuyết pháp hay quá. Ở đây bắt buộc phải nói tiếng Anh nên các sư em đầu tư nhiều cho việc giảng dạy bằng tiếng Anh. Tôi nhìn những cuốn kinh tiếng Anh dầy cộm trên bàn học của sư em Trang Nghiêm mà phục lăn. Nói gì thì nói chứ tiếng Việt vẫn lọt vào đầu tôi dễ hơn nên tôi lười đọc tiếng Anh quá chừng. Nghe nói sư em Lương Nghiêm tính về thăm Thầy cuối tháng, tôi rủ rê sư em đi về chung cho có bạn mà trong bụng biết rằng nếu sư em chịu ở Thái là Thái lời to, có thêm một giáo thọ dạy bằng tiếng Anh.
Tháng ba, tôi bận rộn đi mua hoa và trồng hoa cho ni xá 2 khởi sắc một chút. Nắng nóng và đất khô. Nói về phong thủy thì đúng là thừa phong mà thiếu thuỷ. Có được mấy cái hồ trong vườn thì ếch nhái kêu um sùm không ai ngủ được nên bị lấp lại hết cả. Sức khỏe Thầy cũng vẫn ngày khỏe ngày không. Có hôm khỏe nên đứng lâu được trên máy tập đứng, hai tay được tự do không phải nhờ vào tay thị giả nên giơ tay chào mọi người, cười vui. Hôm sau lại không khỏe phải đi nhà thương Pak Chong để xét nghiệm máu và truyền đạm. Mùa này có những cơn giông to nên trời nóng hầm hập. Và một ngày mưa to, tôi từ cốc Thầy đi xuống bị trượt chân, không chụp ếch vì chụp kịp cầu thang, nhưng nguyên một bên người bị xây xát và bầm tím. May có sư cô Ngọc Đông chườm muối gừng cho tan máu. Ôi, ở Thái mới có ba tháng mà tai nạn hai lần. Chắc mình sắp thuộc dạng tay yếu chân run rồi…
Cuối tháng, thầy Pháp Niệm đi Việt Nam về, kể chuyện khóa tu ở Việt Nam. Thầy đang nằm trên võng bỗng ra dấu muốn đi Việt Nam làm ai nấy giật mình nhìn nhau. Ban thị giả đoán là Thầy hơi chán ở nhà rồi nên sư cô Linh Nghiêm tổ chức mời Thầy đi thăm núi Khao Yai. Thầy vẫn đi bằng xe cứu thương như thường lệ, còn ban thị giả ngồi trên hai xe van khác. Đi được một chút thì lạc mất xe Thầy. Tôi liên lạc chú tài xế lái xe thì mới biết xe Thầy tụt lại phía sau vì Thầy bảo đi chậm để ngắm cảnh. Chúng tôi cười khúc khích. Chắc trong đời lái xe cứu thương, đây là lần duy nhất chú tài không phải chạy hết cỡ để đi cấp cứu, mà lại chở bệnh nhân đi chậm chậm để ngắm cảnh.
Xóm Mới mùa xuân
Cuối tháng ba, tôi quay về Pháp để làm lại thẻ tạm trú, sẵn dịp kiểm soát hồ sơ kế toán luôn. Mùa này hoa nở quá đẹp, nhưng trời lạnh như mùa đông. Xóm Mới ngổn ngang vì đang xây mấy con đường cho người đi xe lăn theo yêu cầu của chính quyền. Khu nhà vệ sinh công cộng cũng gần hoàn thành. Các sư em vui vẻ và đầy năng lượng. Chị lớn đi hết thì các em lớn lên thôi. Trời ở Pháp mùa xuân đẹp lạ lùng. Nên tôi cứ đi vòng vòng ngắm hoa lá cỏ cây và đi chơi với các sư em, mấy ngày sau mới chịu làm việc. Các sư em thương, cứ để trên bàn học khi thì trái bơ, khi thì hũ yogurt. Sư em Hoằng Nghiêm ở chung phòng còn tình nguyện mỗi đêm rang muối với gừng cho tôi chườm chân cho đỡ đau nữa. Sướng chưa, ở trong tăng thân là được cưng vậy đó. Tôi dọn dẹp lại khu vực ở của mình. Đi theo Thầy miết nên phòng cũng để trống bao lâu nay. Nhìn cuốn lịch treo tường còn giữ nguyên tờ lịch tháng Mười một năm 2014, bỗng thấy hơi xốn xang. May là Thầy qua khỏi, chứ nếu không nhìn cuốn lịch như bị dừng lại từ ngày đó chắc đau lòng lắm. Dẹp bớt đồ, bỏ đi mấy thứ mà thấy như có thêm rất nhiều chỗ. Nghĩ tới tâm mình, muốn có không gian thì cũng phải dẹp bớt, bỏ bớt đi thôi.
Tin tức từ Thái qua cũng rất vui là Thầy muốn tập nói lại, và chịu đi Resort Wangree dự khóa tu gia đình dành cho người Thái sắp tới.
Biển Hua Hin
Cuối tháng tư tôi về lại Thái Lan, nhập vào ban thị giả đang cùng Thầy ở Bangkok. Sau khi dự khóa tu ở Wangree, Thầy không về Làng mà ở lại thêm cả tuần rồi đi tiếp lên Bangkok để làm khám nghiệm. Sư cô Linh Nghiêm mời Thầy sau đó đi biển Hua Hin đổi gió. Có một thiền sinh Thái cúng dường chỗ để Thầy ở, đó là nhà nghỉ hè của gia đình cô và ban thị giả thì ở nhà các bạn cô. Thầy đồng ý. Thế là cả nhà náo loạn vì sắp xếp vali, giặt đồ, dọn dẹp. Thị giả nấu ăn mới là vất vả, đóng gói từ cái nồi cái chén đến đồ khô đồ tươi… Lại không biết chỗ ở mới bếp núc ra sao, nấu nướng thế nào. Từ Bangkok đến Hua Hin cũng phải hai tiếng đồng hồ.
Bảy ngày ở biển đổi gió cho cả Thầy lẫn trò. Nhà cô thiền sinh trong một chung cư sát biển nên Thầy ở một căn, thị giả nấu ăn một căn, còn thị giả trực ở trong một chung cư kế đó. Ai rảnh là ra biển nên người nào cũng đen mặn mòi. Thầy cũng ra biển được một ngày. Biển ấm và lặng. Các thị giả đẩy xe tới biển và đỡ Thầy xuống nước luôn. Thầy Đồng Trí đỡ đầu Thầy khỏi mặt nước và Thầy cứ chỉ tay ra biển để đi xa thêm. Một hồi Thầy ôm đầu thầy Đồng Trí cám ơn. Ai cũng quá vui. Thầy tắm khá lâu, lên bờ bị lạnh dù khăn quấn rất kỹ, bởi vì tuy nói nhà sát biển nhưng đẩy xe vào cũng mất thời gian. Buổi chiều không ai ngờ Thầy lại ra biển. Chúng tôi sắp xếp để dựng cái lều ngay trên bãi cát cho Thầy đỡ bị gió, nhưng mấy ngày sau Thầy chỉ nằm trong phòng ngắm biển, không ra ngoài nữa cho tới ngày muốn về lại Làng.
Việt Nam
Sức khỏe người lớn tuổi rất thất thường, nên Thầy khỏe đó lại không khỏe đó. Thầy nằm nghỉ nhiều, ăn ít, cũng ít tập vật lý trị liệu. Bác sĩ đổi thuốc nên càng làm Thầy biếng ăn. Tôi uống nước chanh súc ruột, không mệt mà lại có nhiều năng lượng để làm vườn. Tôi chăm sóc giàn lan, làm cái hàng rào bằng hoa giấy cho khu vực đi vào quán sách đẹp hơn. Và tìm hiểu thêm về dinh dưỡng cũng như món ăn thích hợp cho Thầy. Loay hoay là hết giờ. Nhưng lòng đỡ chộn rộn lên xuống theo sức khỏe Thầy.
Hôm qua trên đường về ngắt một nụ ngọc lan, lòng bâng khuâng nhớ tới bà ngoại là người ưa giắt hoa ngọc lan nơi tai. Buổi tối, đóa hoa nở to trên chiếc dĩa bỗng dưng làm tôi vui vô cớ.
Các thầy làm một cái hồ trước cốc Thầy thật đẹp. Có ba cây đại và một bầy cá tung tăng là có chỗ để Thầy ngắm rồi. Thầy mệt, ăn ít, sức khỏe lại sút. Lại đi Bangkok khám nghiệm, chụp hình. Nhưng cũng có ngày Thầy khỏe được chút ít lại đi vòng vòng, xoa đầu thị giả làm ai nấy cười hớn hở.
Tháng Sáu, tôi có cơ hội về Việt Nam vì phải làm visa tạm trú một năm ở Thái. Có cơ hội thăm nhà và thăm các sư em. Cô nhân viên quầy vé tôn trọng người tu nên cho tôi ngồi ghế số nhỏ, gần như một mình với những hàng ghế vắng tanh, ra thì được đi trước nên khỏe quá. Nhưng chờ làm visa và xếp hàng qua hải quan tới hơn một tiếng vì người đi du lịch rất đông. Có hề gì, đứng đâu cũng là thiền nên tôi cứ theo dõi hơi thở và cười. Bay tới nơi bình an là tốt rồi. Cô Xuân đưa tôi về nhà. Hôm sau tôi đi nộp giấy tờ, ghé thăm các sư em ở Trạm Tịch thật vui. Thời gian gặp ngắn nhưng tình đầy.
Ngày kế là giỗ bà ngoại, tôi phụ dì Diệu Hảo nấu cúng giỗ, gặp được gia đình anh chị Tô và gia đình Đô. Gia đình ngoại ở Việt Nam chỉ còn chừng đó. Ngày hôm sau đóng cửa nhà: dì Diệu Hảo bay đi Hồng Kông, tôi bay ra Huế. Diệu Trạm ngày càng khang trang và cân đối hơn nhờ miếng đất vườn bên. Đi đâu cũng là nhà, tôi thoải mái trong tình thương của chị em, trong ly trà sen rất thơm buổi sáng tiễn tôi vào Đà Nẵng. Tôi đi một mình, hành lý thì quá ký vì xách bao nhiêu là quà quê hương về cho Thầy nhưng cô tiếp viên Air Asia dễ thương quá đi thôi, chẳng những không nói chi mà còn cố gắng xếp cho tôi ngồi ghế hàng đầu, và một mình một dãy. Kiểu này chắc sẽ chọn Air Asia dài dài.
Cuối tháng, từ khi tôi về lại Làng thì Thầy bịnh suốt, càng ngày càng yếu, không ăn mà cũng không uống. Thầy đuối sức nên cuối cùng chịu truyền nước biển. Nhưng tới lúc sức khỏe Thầy khá hơn nhờ sư em Thao Nghiêm đem được đúng thuốc từ Pháp về thì tới lúc tôi làm vườn bị ong đốt. Tuần trước tôi cũng bị đốt nhưng chỉ hai ngày là hết. Kỳ này chắc trúng ong độc nên tay tôi sưng vù, nhức nhối, dùng mấy loại thảo dược tự nhiên không kết quả mà khi dùng thuốc xức vết cắn côn trùng (rất hiệu nghiệm khi mới bị cắn) thì da bị phỏng luôn. Tôi phải ra nhà thương chích thuốc kháng sinh, thuốc tenanus, rồi thay băng mỗi ngày và uống trụ sinh luôn năm ngày mới bình thường trở lại. Dễ sợ thiệt. Thôi thì cũng phải có chút tai nạn nghề nghiệp chứ, tôi tự bảo vậy. Nhưng chỗ bị phỏng thành sẹo luôn.
Ngày Đối thú an cư đến, tôi tự dưng thành người lớn nhất vì sư cô Đoan Nghiêm đi chưa về, Sư cô Chân Không thì còn ở Pháp. Ngày đếm thẻ tôi ngồi chuông mà thấy như lúc ở Bát Nhã. Trời, vậy mà tăng thân đi qua được gần chục năm, dìu nhau mà đi, mà lớn. Vẫn cái cảm giác người nhỏ thì quá đông mà người lớn thì ít.
Tháng Bảy
Hợp thuốc nên Thầy ăn lại được, ăn nhiều và ăn ngon nên mấy thị giả nấu bếp mừng quá. Thầy ăn như trả bữa, như bù lại cho những lúc muốn mà không ăn được. Hay là Thầy ý thức lúc nào ăn được thì ăn để phòng cho những khi cơ thể không chịu tiếp nhận thức ăn? Nhưng tôi thấy Thầy ăn nhiều bữa thì rất tốt cho người già, nhất là đồ ăn của Thầy dễ tiêu hóa vô cùng. Thầy khỏe lại từ từ. Tới gần cuối tháng Thầy ăn trở lại ngày ba bữa. Đã có sức hơn, tập đi nhiều hơn, tăng cân, uống thuốc đều. Trời ơi mừng dễ sợ.
Thầy đi Việt Nam
Tháng Tám, bác sĩ Quốc qua. Bác sĩ chỉnh xương lại cho Thầy từ chân tới đầu, nên hệ thống tiêu hóa khá hơn. Bác sĩ nhận thấy dây thần kinh ở chân phải của Thầy đã sống lại cho đến bắp chân. Sự hồi phục tuy chậm nhưng có là quá vui rồi, lúc ở Pháp thì chỉ mới sống lại đến bắp đùi thôi. Hôm 5 tây, bác sĩ Quốc nói là tay phải Thầy đã tự duỗi ra (trong lúc Thầy đang ngủ). Thật là một tin mừng. Tàng thức Thầy “le” quá. Thần sắc Thầy tươi hơn, sáng hơn. Thầy ăn được và ăn nhiều. Có sức thì ngồi lâu xem pháp thoại, tập phát âm.
Giữa tháng, không hiểu vì sao Thầy lại không ăn được nhiều, người yếu trở lại. Và Thầy ra dấu muốn đi Việt Nam. Năm tháng rồi, không ngờ Thầy vẫn còn ý đó. Sư cô Chân Không thì còn đang ở Pháp cho khóa tu mùa Hè, ban thị giả bàn tán, tính toán. Hai sư cô Định Nghiêm và Linh Nghiêm sắp xếp để Thầy đi “chơi xa” trước xem Thầy có còn giữ ý đi Việt Nam hay chỉ đơn thuần là muốn đi xa thôi.
Thế là tối đó, ban thị giả và Thầy tới Khao Yai, ở một resort của cô Phật tử người Thái. Ban thị giả nấu ăn chọn ở nhà để tiện nấu nướng vì đem cơm tới chỉ mất có 20 phút. Không ngờ tới nơi Thầy ra dấu rất rõ ràng là Thầy-muốn-đi-Việt-Nam chứ không phải chỗ này. Sáng hôm sau, ba chị em chúng tôi lên thăm để xác nhận lại ý muốn của Thầy. Tôi e-mail cho Sư cô Chân Không: “…ý Thầy rất rõ và rất quả quyết. Nói gì Thầy cũng cắt ngang, giơ tay ngăn không cho nói, chỉ đến khi chúng con hỏi là: “Có nghĩa là tụi con muốn làm gì thì làm, miễn sao đưa Thầy về Việt Nam thôi phải không?” thì Thầy mới gật đầu. Thầy thì không nói mà chúng con thì không được nói, chỉ nhìn nhau thở dài…” Tôi nghĩ bụng: “Thầy là con cháu thiền sư Vô Ngôn Thông mà”.
Tin tức báo ra, mỗi người một việc để chuẩn bị. Ai cũng nghĩ là sau đó có thể Thầy ở luôn Việt Nam, hay không về lại Thái mà đi thẳng Mỹ hay Pháp gì đó.
Ngày 22, Sư cô Chân Không từ Pháp về, tôi rủ Sư cô sẵn xin visa đi Việt Nam thì về Việt Nam trước ít ngày để đi thăm Sư thúc Chí Mãn vì Sư thúc đang bệnh nặng và thăm chỗ ở của các sư em gái luôn. Sư cô cũng rất “chịu chơi”, ngày 24 lại tiếp tục ra phi trường đi với tôi và 26 về lại Thái. Trong khi đó ở Thái, Thầy đi bệnh viện kiểm tra lại sức khỏe trước khi lên đường.
Cuối tháng Tám, Thầy về Việt Nam, một chuyến đi chỉ được chuẩn bị trong vòng mấy ngày. Một số thị giả đã về trước để chuẩn bị chỗ ở và bếp núc cho Thầy. Bác sĩ bệnh viện Thái để Thầy đi chuyên cơ chở bịnh nhân của bệnh viện, và bác sĩ đích thân đi theo cho yên tâm. Sau đó ông theo máy bay trở về liền. Thầy trò được sắp xếp ở trong ba căn hộ của Ocean Village. Về tới quê hương, Thầy vui, nhưng sau đó thì nằm mẹp. Tôi không nằm mẹp nhưng bị cảm và tắt tiếng vì cả tuần lễ ăn ngủ thất thường, lo tổ chức cho chuyến đi. Ai cho gì cũng uống, chỉ mong mau lành bịnh. Khách kéo tới tấp nập nhưng không mấy ai được gặp Thầy. Có một hôm Thầy khỏe, qua khu nhà thị giả ở ăn trưa, các Phật tử tình cờ có mặt ngày hôm đó hạnh phúc quá chừng. Sư thúc Chí Mãn cũng tới thăm Thầy dù đang không khỏe. Ngày 03.09, Thầy ra dấu muốn đi về chùa Tổ. Buổi sáng, Thầy đồng ý để hôm sau đi nên ban nhà bếp còn tình tang, buổi trưa Thầy muốn đi liền, thế là… chạy. Tôi thu xếp cho xe nhà bếp về thẳng Diệu Trạm để nấu nướng cho kịp buổi ăn tối, còn xe Thầy và ban thị giả đi qua Từ Hiếu. Thầy đi lễ các nơi, vào phòng rồi thì tôi mới qua lễ Bụt ở thiền đường Trăng Rằm. Các anh chị em Diệu Trạm, Từ Hiếu vui quá chừng chừng vì có ai ngờ lại có ngày được gặp Thầy ở Việt Nam.
Sáng hôm sau, tôi qua chùa Từ Hiếu thì gặp lúc Thầy đi thăm các nơi. Tôi được tháp tùng theo, bước từng bước chân trên đất Tổ mà nhớ tới mười hai năm trước đón Thầy ở cổng Tam Quan, Thầy đã hỏi tôi: “Đây là mộng hay là thực hả con?” Bây giờ với sự hiện diện bất ngờ của Thầy ở chùa Tổ, chắc cũng có lắm người đang tự hỏi là mộng hay là thực. Đi thiền hành với Thầy xong, tôi về lại Diệu Trạm ăn trưa trong tâm trạng rất thảnh thơi. Ngồi chơi với các sư em, bao nhiêu là chuyện để mà hàn huyên thì được điện thoại của sư cô Hỷ Nghiêm là Thầy đã lên xe rời Huế. Ôi trời, tôi lên khu vực nấu ăn báo tin cho thị giả nấu ăn biết rồi đi sắp xếp xe. Tội nghiệp, các sư em nấu ăn vừa soạn vali ra, sắp xếp xong mọi thứ để chuẩn bị nấu ăn lâu dài thì lại đóng gói bỏ vào vali.
Về lại Đà Nẵng được hai ngày, dưỡng sức xong Thầy muốn về lại Thái. Ngạc nhiên nhưng ai cũng vui, vì ở Thái có đầy đủ phương tiện để Thầy tiếp tục chữa bệnh, và vì Thầy muốn về Thái chứ không phải về lại Pháp hay đi Mỹ.
“Walk With Me” (Bước chân an lạc)
Thầy rời Việt Nam đột ngột nên nhiều đoàn kéo đến thăm Thầy mà không kịp. Ban thị giả cũng về, chỉ còn hai sư cô nấu ăn dọn dẹp giờ chót và tôi về ngày hôm sau. Vì còn ở lại nên tôi tiếp các đoàn “tới trễ” vì đã “lỡ đi rồi mới nghe tin Thầy đã rời Việt Nam”. Ngày cuối trước khi ra phi trường còn tranh thủ lên núi Sơn Trà ngắm cái cây ngàn tuổi. Từ trên núi nhìn xuống biển thấy cảnh thật đẹp và bình yên.
Ngày 07.09, tôi rời Việt Nam mà không ngờ là mấy tiếng sau đó thì có tin sư thúc Chí Mãn tịch. Thật đột ngột! Như vậy là Thầy lại mất thêm một người em thân thiết. Đại chúng ở các đạo tràng các nước đều làm lễ hộ niệm cho Sư thúc. Không ai dám cho Thầy biết tin.
Giữa tháng Chín, Thầy đi Bangkok dự buổi công chiếu phim “Walk with me”. Thầy đi có mấy ngày nên hai đội nấu ăn là đủ, tôi xin ở nhà để dọn dẹp và giải quyết công chuyện còn tồn đọng. Nghe nói Thầy vui, ăn nhiều, ngủ được. Hai hôm sau tôi theo xe lên xem phim, lại còn tranh thủ đi tới hai chợ để mua đồ ăn cho Thầy nên vào rạp trễ năm phút. Vì vào trễ nên thấy ghế nào trống thì ngồi đại xuống, ai dè nhìn quanh mới biết tôi đang ngồi ở hàng ghế cuối cùng dành cho thị giả (còn thị giả thì mắc ngồi quanh Thầy dưới đất), cách Thầy hai cái ghế. Phim coi trong rạp có không khí khác hẳn phim chiếu trên màn hình rộng ở thiền đường. Đầu buổi có màn đứng dậy chào Vua Thái nữa. Rồi sau vài hôm thì Thầy về, mệt, ăn ít, cả tuần sau mới lại sức.
Đầu tháng Mười, ‘có tin’ phim sẽ được công chiếu ở Việt Nam. Tôi đem bản dịch kịch bản đối chiếu với những đoạn trong Nẻo về của ý để sửa lại và đọc cho Thầy nghe. “Thầy cũng tham gia vào việc chỉnh sửa văn Thầy nhé”, Thầy gật đầu.
Ngày nào có tin về các buổi công chiếu ở các thành phố tôi cũng lên kể Thầy nghe. Dự kiến là đầu tháng 11 đã có thể ra mắt buổi chiếu phim đầu tiên. Để xem sao, nhanh quá không biết có làm kịp không. Nhưng ban tổ chức rất hết lòng. Thời tiết khó chịu quá, vừa hầm lại vừa ẩm nên nhiều người bịnh. Thầy cũng không khỏe đã mấy ngày, từ hôm trung thu ra hành lang xem các sư con rước đèn. Sư cô Chân Không phải đi bệnh viện vì ho quá.
Ngày 11.10, ngày Tiếp nối của Thầy mà Thầy không khỏe lắm. Tứ chúng họp lại dưới sân rồi nên rốt cuộc Thầy cũng chịu đi xuống sân cho tứ chúng đảnh lễ. Thầy Pháp Niệm mở cuốn Vườn Ươm ra cho Thầy xem. Đại chúng tác bạch, lạy xong, thị giả đang không biết làm sao để Thầy được vào nghỉ ngơi sớm thì trời bỗng đổ mưa, tuyệt vời. Thầy cười. Mọi người tìm chỗ tránh mưa. Thị giả đưa Thầy lên gác. Cơn mưa đổ xuống thật nhanh và gần như dứt hạt liền nên Thầy ra ngoài hành lang ngồi cho mọi người đứng dưới nhìn lên chắp tay, và sau đó là màn vũ theo kiểu thái cực quyền của các sư em Diệu Trạm dưới mưa rất dễ thương. Buổi chiều sư em Kỳ Nghiêm đem sách của Thầy in ở Việt Nam lên để đầy cả phòng như đang triển lãm, Thầy rất vui.
Chúc Thầy mau khỏe lại và sống lâu với tụi con Thầy nhé!
Mùa thu xóm Mới
Giữa tháng Mười, tôi lại về Pháp vì có cái hẹn khai thuế. Xóm Mới đã làm xong những con đường đẩy xe lăn nên trông rộng hẳn ra, do có khoanh vùng các gốc cây lớn. Bây giờ xóm Mới khang trang quá. Nhỏ nhưng gọn gàng, ấm cúng. Khu nhà vệ sinh công cộng xây rất khéo, diện tích sử dụng thì nhỏ mà rất đầy đủ, tiện nghi. Quán sách chưa xong, dãy phòng trên nhà bếp chưa xong, nhưng vì đang làm nên không bị áp lực của chính quyền nữa. Tháng này không còn nhiều hoa, nhưng thược dược quanh cái hồ nhỏ vẫn rất đẹp và hàng cây phong gần đường đã đổi màu đỏ. Cũng là trồng cùng lần mà có cây cao lớn vững vàng, có cây lùn và đẹt như mới trồng. Mặt trời và mưa thì đâu có kỳ thị cây nào, mà sự khác biệt rất là xa. Tôi nghĩ tới con người cũng vậy. Mọi yếu tố và y báo giống nhau nhưng mỗi người mỗi khác.
Mùa thu cũng là mùa lượm hạt. Các sư em đi lượm hạt phỉ (hazel nut) về chất đống giữa sân. Nghe nói có người hàng xóm cho lượm trong vườn của ông ta và vườn thì rộng bao la nên lượm hoài vẫn không hết. Ai rảnh thì ngồi xuống đập vỏ lấy hạt. Một công việc vô cùng tự nguyện mà lúc nào cũng đông vui người làm. Buổi ăn sáng nào trên bàn ăn cũng có hai hộp hạt phỉ rang thơm phức cho mọi người ăn thoải mái. Tôi đi ra đi vào, chuẩn bị hồ sơ đi khai thuế, và cho thiền sinh tham vấn. Có một hôm, nghe các sư em quảng cáo và thấy các sư em bỏ cả ngày làm biếng để ôn bài, tôi ra dự buổi “Dharma quiz” (kiểm tra trình độ học trong lớp Phật pháp) mà phục các em quá chừng. Buổi kiểm tra đúng là vừa học vừa chơi, cười cũng nhiều mà hồi hộp cũng lắm. Năng lượng trẻ tươi mát và đầy tính sáng tạo. Ôi tu mà vui như vầy thì hỏi sao người trẻ chẳng ham tu? Hai sư em dẫn chương trình là Sắc Nghiêm và Thể Nghiêm rất linh động và khéo léo, còn các sư em tham dự thì hết lòng hóa trang và trình diễn. Thậm chí có em là giáo thọ mấy năm rồi mà còn trẻ quá, thuộc U40 vẫn chỉ muốn nằm trong đội thi chứ không chịu làm trọng tài. Nên trọng tài “rớt” vào tay ba người ít trẻ hơn là các sư cô Bảo Nghiêm, Từ Nghiêm và tôi!!!
![]() | ![]() |
Tháng Mười Một
Về lại Thái. Hai vali đầy đồ ăn thức uống cho Thầy. Cho luôn một chậu cúc đại đoá mini vào túi xách đi xuất ngoại, đem về như đem cả mùa thu của Làng về cho Thầy. Mỗi lần đi xa về tôi lại gặp lúc Thầy mệt, không khỏe, nằm nhiều, ăn ít. Nhưng cứ như vậy, Thầy lại gượng dậy từ từ, và tới giữa tháng thì Thầy ăn lại được và ăn nhiều trở lại. Tôi thấy sự cố gắng của Thầy mà cảm động. Các sư cô nấu ăn thì quá hạnh phúc khi thấy Thầy lại ăn được những món mình nấu.
Cuối tháng, Thầy lại lên Bangkok tái khám. Kỳ này Thầy khỏe, làm mọi xét nghiệm rất trôi chảy. Xong mấy ngày ở Bangkok thì mọi người về lại Làng. Tuy nhiên cốc Thầy ở đang phải sửa lại vì lớp tranh đã mục và làm thêm hành lang để đẩy xe đi cho tiện, khỏi phải khiêng Thầy lên xuống cầu thang, nên Thầy tá túc ở tăng xá. Phòng Thầy ở hồi xưa (bây giờ được ngăn ra làm chỗ ở của thầy Pháp Niệm và một phòng khác) được sắp xếp lại để Thầy tạm trú. Nhà bếp của Thầy cũng phải làm lại nóc nên ban thị giả nấu ăn phải làm bếp tạm trong kho của nhà bếp chúng. Thầy rất là thoải mái với chỗ ở này vì con cái bao quanh, hễ khỏe là Thầy lên xe đi vòng quanh tăng xá, ngắm sinh hoạt của các thầy.
Nhớ tới cái ghế xích đu Thầy hay nằm ở Sơn Cốc, tôi đi chung với sư em Trăng Trúc Lâm (người Thái) kiếm một chỗ đặt ghế xích đu mà dài đủ để Thầy nằm nghỉ. Đầu tháng Mười hai, ngày thầy Pháp Tánh đem về ráp, Thầy thích quá, lên ghế nằm hoài dù trời bắt đầu lạnh. Thầy nằm trên cái ghế xích đu ngoài hiên phòng thầy Pháp Niệm, ai cũng vui vì thấy được Thầy, vì Thầy có mặt đó, vì cảm giác gần gũi thầy trò hơn là lúc Thầy ở trong thất, dù chẳng mấy ai dám tới làm rộn Thầy. Thầy nằm đó, ngắm lồng đèn kéo quân các thầy làm từ hôm trung thu, nghe tiếng nước chảy róc rách trong hồ cá nhỏ trước phòng và nhìn những chậu lan nhiệt đới treo rải rác rất bình yên. Năng lượng nhẹ nhàng và an lạc thấm đẫm cả một vùng.
Xứ sở Kangaroo
Đang rất hạnh phúc khi Thầy như thế nhưng tôi phải đi vì gặp dịp vé rẻ, đã mua vé cùng với thầy Pháp Nguyện đi khám bịnh ở một ông bác sĩ Tàu nổi tiếng ở New Zealand. Sư cô Thuần Tiến, người giới thiệu ông thầy thuốc này, đón chúng tôi về ở chùa của thầy Quảng Phúc. Thầy chất phác, đơn giản mà chân tình nên chúng tôi rất thoải mái. Sư cô đệ tử của thầy thì hết lòng chở chúng tôi đi khám bịnh, và cúng dường tiền thuốc cho mấy chị em. Ở lại đó nghỉ ngơi có một tuần mà chúng tôi thấy thân thuộc vô cùng. Cuối tuần chúng tôi chia sẻ với Phật tử về cách tu ở Làng. Thầy đưa chúng tôi đi thăm Rotorua, nơi nổi tiếng với những hồ bùn nóng phập phồng bong bóng sôi trên mặt và những tia nước phun hơi nước trắng xóa cao cả mấy mét từ hồ nước nóng. Đây là vùng núi lửa nên hồ nước nóng rất nhiều, có nơi chỉ nghe mùi khoáng chất.
Sau một tuần, thầy Pháp Nguyện thấy có vẻ khỏe hơn nên chúng tôi đi khám lấy toa uống thuốc tiếp và cũng xin toa để chữa trị cho Thầy. Nghe chị Hà, người bạn của sư cô Thuần Tiến, kể những trường hợp ông thầy này đã trị được cho người thân của chị trong vòng 15 năm, tôi cũng hy vọng toa thuốc của ông giúp được phần nào cho Thầy khỏe hơn.
Giữa tháng Mười hai, chúng tôi về tới tu viện Nhập Lưu. Tu viện đơn sơ nhưng đất rộng thênh thang và bao quanh bởi rừng khuynh diệp. Cảm tưởng đầu tiên của tôi là nhớ Lộc Uyển dù ở đây không có núi đá, có lẽ vì khí hậu khô và những cây khuynh diệp, những bụi cây hoang sơ như núi rừng Lộc Uyển. Khí hậu mùa hè ở Úc rất mát mẻ, dễ chịu. Căn nhà đá các sư cô ở thì gợi nhớ căn nhà đá ngày xưa ở Làng vì nền gạch đá cũ kỹ nhưng căn gác thì lại làm tôi liên tưởng tới cái nhà của quý thầy ở Rừng Phong. Đứng trên căn gác nhìn xuống là một cảnh tượng êm đềm với bãi cỏ xanh rộng và xa xa là một cái hồ nước mà mặt hồ rất tĩnh mặc, thoáng giống cái hồ đầu dốc lên xóm Thượng mà bao năm qua, khi nào xe đi ngang tôi cũng phải nhìn một chút.
Trên đường từ nhà các sư cô lên nhà bếp là một cái hồ nhỏ nhưng có khá nhiều hoa súng đang nở, nhiều nhất là màu hồng, màu trắng, một ít màu vàng và màu hồng đậm. Tôi không thích hoa súng bằng hoa sen nhưng mỗi đóa hoa vẫn là một kỳ diệu của tạo hóa mà tôi đi ngang vẫn hay ngừng lại, ngơ ngẩn. Thỉnh thoảng có hai mẹ con kangaroo thơ thẩn kế hồ, thấy tôi đi ngang liền đứng sựng lại nhìn. Nếu tôi mà nhìn lại thì bé kangaroo cuống cuồng nhảy vào cái túi trong bụng mẹ, lòi ra cái đuôi và hai cái chân vắt vẻo ở ngoài. Chắc bé nghĩ chỉ cần chúi đầu vào trốn không thấy gì là an toàn rồi. Hai sư em Phát Nghiêm và Trăng Sông Hồng bảo tôi lấy nón che để nó không thấy mắt mình là nó yên tâm đứng yên. Quả thật có lần tôi đi cách con kangaroo chỉ có khoảng một thước mà nó vẫn điềm nhiên ăn cỏ, chắc nhờ cái nón lá che mặt nên nó coi tôi… chỉ như một cụm cỏ lăn qua.
Bãi cỏ xanh trước phòng học của căn nhà các sư cô ở chiều nào cũng là nơi cả bầy kangaroo ra ăn cỏ. Nhìn xa xa tôi cứ nghĩ tới “công viên khủng long” vì cái tướng khom lưng ăn cỏ của bầy kangaroo này có vẻ giống giống như vậy. Nhưng mắc cười nhất là khi di chuyển, con kangaroo nhảy tưng tưng trên hai chân sau, hai chân trước ngắn ngủn như hai cái tay, không cân xứng chút nào với cái tướng cao nghệu ấy. Có một con kangaroo màu trắng rất đặc biệt trong bầy. Nó trắng như một con thỏ bạch khổng lồ và rất nhát. Chẳng bao giờ nó xuất hiện đầu tiên mà chỉ ra ăn khi bãi cỏ đã rải rác nhiều con, và luôn luôn bỏ về trước khi những con khác ăn xong. Các chú Phật tử có làm một cái nhà sàn trên cây (tree house) khá cao, ngồi đó uống trà và nhìn ra hồ thì tuyệt vời luôn. Thầy Pháp Nguyện phải lên đó ngồi rình một buổi mới gặp được con kangaroo trắng dễ thương này trước khi rời Nhập Lưu.
Có một buổi mưa xong rồi nắng, tôi đi từ bếp về nhà bỗng giật mình vì bãi cỏ mới cắt quanh “ni xá” rực hoa vàng như mùa xuân ở Pháp, nên lại thấy Nhập Lưu cũng giống Pháp. Hay là ở đâu mình cũng có cảm giác là nhà, nên cái gì hơi giống cũng thấy thân quen?
Nhập Lưu không chỉ có kangaroo mà còn có con wallaby, một loại chuột túi nhỏ hơn kangaroo nhưng không ăn cỏ mà lại ăn lá cây. Vì ăn lá cây nên chàng ta phá quá chừng, mấy cây thông bị cào xước vỏ cây tươm nhựa ra rồi héo từ từ. Trong khi kangaroo sống thành đàn thì wallaby lại chỉ đi một mình, nên ở Nhập Lưu cả tháng mà tôi cũng không sao biết được là chỉ có một con wallaby hay cả một gia đình vì chưa bao giờ thấy hai con cùng lúc.
Một tháng ở Nhập Lưu trôi qua nhanh. Chúng ở đây ít người nhưng ai cũng sinh hoạt hết lòng nên thầy Pháp Nguyện và tôi cũng đầy việc. Dự tính của tôi là chỉ ghé qua Nhập Lưu rồi về Mỹ thăm mẹ vì mẹ tôi mới bị té gãy tay. Nhưng đúng là “nói trước bước không tới”, khi tôi tin chắc mình sẽ về Mỹ lúc thu xếp hành lý rời Thái Lan thì qua tới Úc, gọi điện thoại về mẹ tôi bảo không cần vì mẹ đã khá hơn, đã xoay xở được hơn, để dành “thời gian thăm nhà” vào lúc khác nguy cấp hơn, và nhất là nghe tin tôi đang uống thuốc Bắc, mẹ tôi lại càng không muốn tôi bay đi bay về. Tôi hơi chưng hửng, nhưng cũng vui vì như vậy có nghĩa là tay mẹ tôi không bị nặng lắm như lúc mới bị gãy. Tôi thầm biết ơn mẹ tôi đã rất dũng cảm và trên hết, tôi biết mẹ thương tôi vô cùng. Báo tin cho bạn hiền mừng, khi tôi đang đánh máy những dòng chữ này thì mẹ tôi đã được tháo cái băng bột ra, tay đã cử động lại được dù còn hơi yếu.
Gần cuối tháng Mười hai, có các Phật tử từ Sydney xuống dự ngày tu cuối tuần, rồi hôm sau đi thăm thắng cảnh trên con đường Great Ocean Road. Thế là sư cô Thuần Tiến rủ mọi người đi chơi cùng nhưng hai sư em Phát Nghiêm và Trăng Sông Hồng xin ở nhà vì đã từng đi, chỉ có tôi và thầy Pháp Nguyện rảnh rang nhập cuộc. Cảnh thật tuyệt vời. Nước biển rất xanh và những tảng đá hùng vĩ nhiều hình dạng thật là đẹp. Đúng là kỳ công của tạo hóa. Tôi đứng đó, choáng ngợp trong những cảm xúc bất chợt, thấy sao mình quá may mắn.
Cuối năm, tôi chia sẻ với Phật tử Úc và Việt cách thực tập để đón năm mới. Tại sao mình hay chúc nhau “Happy New Year”, và làm sao để lời chúc có thể thành hiện thực mà không là lời nói xã giao sáo rỗng. Bạn hiền biết câu trả lời mà, phải không?
Trúng ngày cuối tuần nên cả trăm người lên Nhập Lưu. Chúng thường trú (chỉ vỏn vẹn còn bốn người trong thời gian chờ nhóm mới qua) khá bận rộn. Nhưng tôi nhìn thấy Nhập Lưu có một tiềm năng rất lớn trong tương lai. Đất Úc như một mảnh đất màu mỡ mà hạt giống Phật pháp bắt đầu nảy mầm, chậm nhưng rồi cũng sẽ có ngày nở hoa kết trái.
Bạn hiền ơi, tôi dừng ở đây thôi. Lá thư cuối năm đã dài lắm rồi. Năm nay câu đối để thực tập là An khi thở, Lạc khi đi, làm được là mình có một năm an lạc mà không cần phải chúc nhau gì cả. Bạn hiền có nghĩ như tôi không?
Lễ Tự tứ kết thúc An cư kiết đông 2017 – 2018 tại Làng Mai
Hãy giữ chân Thầy Nhất Hạnh cho nước Đức và châu Âu
cho nước Đức và châu Âu
Chân Y Nghiêm
Các bạn thân mến,
Tôi lớn lên trong cảnh bất công và quê hương nhuộm đầy máu lửa. Trái tim tôi đã dược nuôi dưỡng bằng tình yêu quê hương qua những tấm gương của các vị anh hùng yêu nuớc. Tôi yêu lí tưởng Từ Bi của Đức Phật qua tinh thần bất bạo động, tôi không thích tham gia vào các tổ chức và các cuộc đấu tranh. Tôi đã đi dự những khóa tu của thầy Nhất Hạnh và tăng thân Làng Mai tổ chức trong một số chùa lớn của ba miền đất nuớc, trong thời gian Thầy về Việt Nam.
Năm 2011, tôi theo Tăng thân đi bốn tiểu bang nuớc Mỹ nghe Thầy thuyết giảng. Tôi đã chia sẻ với các bạn sáu bài văn một cách chân tình.
Năm nay, tôi về Làng Mai dự lễ kỷ niệm Ba Mươi Năm Sinh Nhật của Làng. Tôi đã chia sẻ với các bạn bài văn Mười Năm Tình Cũ.
Bây giờ, tôi sẽ tiếp tục chia sẻ với các bạn khóa tu của Sư ông Làng Mai và Tăng thân ở Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu – Nước Đức. Trước khi chia sẻ về Viện Phật Học Ứng Dụng Âu Châu, tôi xin nhắc sơ qua về quá trinh hành đạo của thầy Nhất Hạnh.
Truớc năm 1960, Thầy đã đi dạy các trường đai học ở Pháp và Mỹ. Năm 1964, theo lời kêu gọi của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Thầy về Việt Nam mở Trường Cao Đẳng Phật Học – sau này là Viện Đại Học Vạn Hạnh – tạo nên một phong trào sinh viên và trí thức theo đạo Phật rất đông.
Sau đó, những biến cố chính trị dồn dập xảy ra, xô đẩy đất nuớc vào cảnh nồi da xáo thịt. Chính quyền Saigon kêu gọi nước Mỹ viện trợ tài chánh và quân sự. Họ đã mang quân viễn chinh đổ xô vào miền Nam cùng với phi cơ và bom đạn, gây nên thảm họa chiến tranh ý thức hệ, gây đau thương cho đồng bào khắp hai miền đất nước.
Trước cảnh đau thương khôn cùng, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất yêu cầu thầy Nhất Hạnh đi khắp thế giới kêu gọi hai phe ngưng chiến, thiết lập tình huynh đệ giữa hai miền Nam Bắc, thống nhất đất nước, mang lại hòa bình, tự do, độc lập cho dân tộc Việt Nam. Lời kêu gọi của Thầy được thế giới ủng hộ, nhưng chính quyền Saigon đã phản ứng mạnh, cấm Thầy trở lại quê hương. Thầy sống đời lưu vong từ năm 1966.
Năm 1975, trước cảnh đồng bào ra đi tìm tự do, lênh đênh trên biển cả, mạng sống mong manh, Thầy đã mang tàu ra cứu, tìm đủ mọi phương tiện để giúp đồng bào tị nạn. Việc làm dũng cảm của Thày và các đệ tử đã gây ra biết bao rắc rối cho Thầy trên đất khách quê người, nhưng Thầy vẫn không nản chí. Chính nỗi đau khổ của quê hương đã nuôi dưỡng tình yêu thương Thầy rộng lớn.
Năm 1982 Làng Hồng chính thức được thành lập trên nuớc Pháp. Lúc đầu chỉ có 3 người xuất gia là sư cô Chân Không, Chân Đức, Chân Vị. Có các sư cô Viên Quang, Như Phước, Thanh Luơng, Huệ Hảo,…về tu học và một số các thầy. Số người đến tu học ở Làng Hồng phần lớn là những Phật tử Việt Nam đã quen biết Thầy khi còn ở quê nhà.
Năm năm sau, số đệ tử xuất gia của Thầy tăng nhanh, số người đến tu học mỗi lúc một đông, phần lớn là người ngọai quốc. Đồi mận – loại mận mà người Việt Nam miền Bắc gọi là mai – trái ô mai – rộng lớn ở xóm Mới, Xóm Hạ nở bông trắng xóa vào Mùa Xuân nên Thầy đổi tên thành Làng Mai.
Hai muơi năm sau, Làng Mai đã trở thành Trung tâm tu thiền chánh niệm nổi tiếng ở vùng Bordeaux, miền Nam nuớc Pháp. Các thiền sinh khắp thế giới về tu học rất đông, nhất là về mùa hè. Mỗi tuần số thiền sinh tham dự tu học lên đến trên ngàn người.
Vì phương tiện di chuyển tốn thời gian, nên các tăng thân cư sĩ trên nhiều nuớc thỉnh cầu Thầy và tăng thân đến mở khóa tu, do Phật tử tổ chức. Thế nên hàng năm tăng thân tháp tùng Thầy đi mở khóa tu khắp thế giới.
Tu viện Lộc Uyển ở miền bắc California đựơc thành lập. Thầy Giác Thanh đựoc cử làm Trú trì bên tăng và sư cô Trung chính làm trú trì bên ni. Sau đó đến Tu viện Rừng Phong, rồi Thiền viện Thanh Sơn và sau này là Tu viện Bích Nham (Blue Cliffs) ở NewYork được thành lập đã là nơi thực tập thiền chánh niệm cho giới trẻ và trí thức Mỹ rất đông.
Nhu cầu thực tập thiền chánh niệm cho người Việt và ngọai quốc ngày một mở rộng. Phật tử cúng dường đất cho Thầy nhiều nơi, nhưng Thầy đều từ chối vì không đủ nhân lực. Số giáo thọ và tăng ni có hạn.
Năm 2005, Thầy được nhà nuớc Việt Nam mời về quê hương. Thầy dự đoán những bất trắc có thể xảy ra, nhưng với tình yêu quê hương thiết tha, Thầy chấp thuận trở về nuớc với những yêu cầu đựơc mở khóa tu thìền chánh niệm cho Phật tử trên một số chùa lớn khắp ba miền đất nuớc. Thầy nhận lời thành lập Tu viện Bát Nhã và gấp rút đào tạo tăng ni.
Chỉ trong vòng ba năm, Thầy đã nhận được 400 tăng ni ưu tú, đa số từ trung học và đại học. Biến cố Bát Nhã xảy ra, làm chấn động lương tâm nhân lọai.
Thầy nhận 120 mẫu đất do Phật tử cúng dường ở tiểu bang Mississipi. Đến năm 2006, Tu viện Mộc Lan được thành lập và đón nhận các tăng ni trẻ ở Tu việt Bát Nhã Việt Nam sang tu học. Năm 2011, dù Tu viện Mộc Lan chưa xây cất xong, nhưng số thiền sinh từ các tiểu bang nuớc Mỹ về dự khóa tu trên một ngàn người
Làng Mai là nơi thành lập đầu tiên của Thầy và tăng thân, hàng năm đã quy tụ hàng ngàn thiền sinh đủ các màu da, sắc tộc trên khắp thế giới về tu học. Tỉnh Bordeaux nằm ở cuối bản đồ nuớc Pháp, rất xa toàn thể khối Châu Âu. Làng lại xây dựng trên vùng nông thôn, cách xa phi truờng Bordeaux 120km, xa phố thị khiến sự sinh họat và đi lại của thiền sinh gặp nhiều trở ngại. Thầy ước mong thành lập được một trung tâm thực tập thiền chánh niệm ở Châu Âu để cho các nước lân bang về tu học .
Duyên may đã đến, các Phật tử ở Đức báo cáo rằng: Bộ Quốc phòng Đức đang bán những dẫy nhà lớn ngày xưa dành cho quân đội với giá rẽ lắm 100 000 € một dẫy 20 phòng. Nhưng thầy trò đi xem mấy chục chỗ không vừa ý thì có một người Đức, làm việc ở Bộ Quốc phòng Đức chuyên đặc trách về viêc bán những bất động sản cho Bộ. Ông có người em làm việc ở Sứ quán Đức tại Hà Nội và một người em làm việc bên Nhật, cả hai em của ông đang làm việc tại hai nước Phật giáo. Khi nghe ông anh hỏi về Thiền sư Nhất Hạnh, cả hai người đều khuyến khích ông anh “Nếu anh giữ được vị tu sĩ này ở lại Đức là một phước lớn cho nước ta và cho toàn Âu Châu” Ông anh nghe thế bèn tìm một địa điểm sinh họat lý tưởng ở thị trấn Waldbroel không xa thành phố KOELN cũng gần BONN là thủ đô Tây Đức ngày xưa.
Đây là bệnh viện rộng lớn cũ, có nhà bảo sinh, có chỗ nuôi người khuyết tật. Quân Đức hồi đó do Đức Quốc Xã cầm đầu có nhiều tư tưởng rất kỳ thị, chọn những thanh niên thiếu nữ hình dáng xinh đẹp làm những bức tranh vĩ đại, thân thể đẹp xinh, những kiệt tác về mosaic tuyệt hảo trên các bức tường vĩ đại tại phòng tiếp tân. Điều đó cũng tốt. Nhưng Đức Quốc Xã đã sai lầm nghĩ rằng người Do Thái là người bán chúa Ki Tô nên đã cho hàng ngàn người vào lò hơi ngạt giết chết họ. Thật là khốc liệt ác đức không thể. Riêng 700 trẻ em khuyết tật ở bệnh viện Waldbroel, họ cho chở đi đâu mất tích.
Khi Đức Quốc Xã sụp đổ, Bộ Quốc phòng Tây Đức tự do đã dùng tòa nhà năm tầng rộng lớn, lót sàn nhà toàn bằng đá cẩm thạch hồng có hoa vân hồng, nâu, tím rất đẹp, dài 150m. Tòa nhà này là nơi để các tướng lãnh lớn của Liên Minh Quân Sự Bắc Đại Tây Dương (NATO) về đây hội họp.
Ông nhân viên cao cấp của Bộ Quốc phòng đã được hai người em khuyến khích “Giữ cho được ông thầy tu Thích Nhất Hạnh này ở lại Đức”, và sau đó ông đọc nhiều sách, lên trang nhà Làng Mai âm thầm tìm hiểut hêm, nên ông đã quyết định tìm cách mời cho được Thiền Sư về đây. Khi hai chị trong hai tăng thân cư sĩ ở Đức thuộc Làng Mai (chị Chân Diệu và chị Ilona phu nhân anh Chân Pháp Nhãn Karl Scmied) đến hỏi thì tòa nhà trị giá khoảng 30 triệu €.
Hai chị được biết rằng: Sư ông đã dùng phần lớn số tiền Phật tử cúng dường cho các cháu học sinh, sinh viên nghèo hiếu học và các lớp mẫu giáo ở vùng sâu vùng xa trên cao nguyên, hay những vùng nông thôn thiếu thốn ở quê nhà. Ngân quỹ Làng Mai chỉ còn khoảng 400.000 € thôi, nên hai chị lắc đầu từ chối.
Ông nhân viên Bộ Quốc phòng mời mọc: “Có một nhóm người Thổ Nhĩ kỳ vừa mới đến trả giá tòa nhà này bảy triệu bảy trăm ngàn € để làm trường học, nhưng chúng tôi không bán. Chúng tôi muốn bán cho Thiền sư Nhất Hạnh với giá rẻ đó. Vì chúng tôi tin tưởng Thầy sẽ mang lại niềm an lạc cho đất nước Đức. Hai chị từ chối vì thật tình, tăng thân không có được số tiền đó.
Bốn tháng sau, Ông nhân viên gọi báo tin: Có nhóm người Đức chịu mua với giá 3 triệu 500.000 €, chắc chính phủ Đức sẽ bán mất. Quý vị nên đến mua ngay kẻo không kịp.
Làng Mai vẫn không đủ sức. Lúc đó một vị nữ Phật tử người Đức, chị Annabelle Zínser bỗng phát tâm cúng 4 trăm ngàn €, cùng với sự giúp đỡ của vài Phật tử Việt Nam, Tăng Thân cố gắng lên giá mua là 1 triệu €. Ông đại diện Bộ Quốc phòng chê quá ít, ông sợ bị cấp trên khiển trách. Nhưng cuối cùng Bộ Quôc phòng đã chịu bán tòa nhà 6 tầng đó cho Làng Mai với gia một triệu một trăm nghìn €. Nhưng khi sắp ký giao kèo mua bán, ông đại diện Bộ Quốc phòng đâm ra lo lắng, sợ Làng Mai không kham nổi chi phí điện nước nên do dự hỏi quí vị có kham nổi 200.000 € mỗi năm chi phí sưởi điện và nước không. Chị Chân Diệu nói nửa đùa nửa thật “Thì quý vị trả giúp chúng tôi!!”. Ông ấy nghe có lý và quyết định giúp ba năm đầu là 600.000 € . Thừa thế hiểu biết của ông, chị Thục Quyên tức Chân Diệu nói khéo. Chúng tôi còn phải xài nhiều tiền lắm về chuyện sửa chữa… Ông ta cao hứng đồng ý bớt thêm 200.000 nữa, tồng cộng là 800.000 €.
Như vậy, Tăng thân trả tiền ngôi nhà đó từ 30 triệu thành ba trăm ngàn !!! (1% của trị giá ) Đúng là chư tổ bắt Sư Ông phải về đây để giúp chuyển hóa nghiệp lực lớn lao nầy.
Người có công thương thuyết là chị Chân Diệu-Thục Quyên và Ilona Schmied. Người làm giấy tờ thủ tục luật lệ là luật sư tiến sĩ Alexander Publick. Chị Thục Quyên làm Giám đốc trong thời gian giao tiếp. Sau đó Sư ông Làng Mai đề nghị thầy Pháp Ấn làm Viện chủ và sư cô Chân Đức làm Giám đốc Giáo Dục. Cả hai vị này đều có bằng tiến sĩ bên Mỹ và Anh. Thầy Chân Pháp Trạch là Trụ trì. Ban Giáo Thọ có sư cô Chân Châu Nghiêm tốt nghiệp thủ khoa Viện đại học Standford, California. Sư cô viết văn rất thanh thoát, có thể kế tiếp sự nghiệp văn học của Sư Ông. Có năm chục tăng ni trẻ: 23 từ Làng Mai và 28 từ Tu viện Bát Nhã Việt Nam, và một số vị giáo thọ trẻ từ bên Làng Mai qua tu học và phụ giúp. Những tu sĩ trẻ Việt Nam đựơc chính phủ Đức cho theo học các trường nhà nuớc miễn phí. Khóa học sáu tháng. Sau mỗi khóa phải thi kiểm tra học lực. Sau khi tốt nghiệp sẽ đựơc phát bằng cấp, đựơc tạm trú lâu dài tại Đức.
Chiều nay, 11-8, Tăng thân tổ chức lễ Trai Đàn cầu siêu cho những vong hồn bị chết thê thảm, oan ức. Ban kinh sư do các thầy từ Tổ đình Từ Hiếu và Làng Mai tụng kinh theo nghi thức cầu siêu độ, có sự tham dự của Tăng Thân các nơi, người Đức, người Hòa Lan và rất đông các cháu thiếu nhi.
Bài chiêu hồn được đọc bằng tiếng Anh, tiếng Đức, thầy Pháp Ấn đọc tiếng Việt, giọng Thày xúc động: Xin hương linh quý vị và các cháu lắng nghe và chứng giám. Bảy mươi năm về truớc, người ta đã đối sử rất tệ hại với liệt vị. Ngày nay Tăng thân đã tới, Tăng thân đã lắng nghe và đã hiểu tất cả những nỗi khổ đau tủi nhục vá uất ức ấy. Tăng thân đã đi thìền hành, đã ngồi thiền, đã thở trong chánh niệm, đã trì chú, tụng kinh, thí thực để cầu ơn trên : chư Bụt, chư vị Bồ Tát, chư vị Tổ Sư để quý Ngài hồi hướng công đức vĩ đại của quý Ngài cho liệt vị và các cháu, để quý vị và các cháu có cơ hội chuyển hóa, tái sinh ra dưới những hình thức mới. Những người đã làm khổ quý vị, họ cũng đã gánh chịu nghiệp quả khổ đau, xin quý vị mở lòng từ bi và tha thứ cho họ để họ cũng có cơ hội giải thoát và chuyển hóa. Xin hộ trì cho Tăng thân và cho các thế hệ hành giả kế tiếp, để họ có thể biến nơi này thành một cơ sở thực tập chuyển hóa và trị liệu, không những cho thành phố Waldbroel mà cho cả nuớc Đức và cả toàn thế giới.
Tôi ngồi đó mà tưởng chừng như đang trở về quá khứ, mắt nhìn thấy rất nhiều người thoi thóp trong phòng ngạt của Đức Quốc Xã, tai nghe thấy những tiếng kêu hãi hùng của nạn nhân.
Tôi liên tưởng đến đồng bào quê hương tôi, bị chết dưới những hố bom của Mỹ, bị chết trong những trận đấu tố cải cách ruộng đất, bị chết vùi dập trên đại lộ Kinh Hòang – Quảng Trị, bị chết chôn vùi tập thể ở Huế tết Mậu Thân, bị chết nơi Côn Đảo và rất nhiều nhà tù, hàng trăm ngàn người bị đày ải ở bao nhiêu trại học tập cải tạo. Tôi rùng mình, trái tim se lạnh. Tôi thầm gọi: Mẹ Trái Đất ơi, danh vọng và quyền lực đã khiến những người con của mẹ trở nên khát máu, bạo tàn, gây bao tang tóc đau thương cho chính anh em, cùng là con của Mẹ !
***
Tôi đựơc các Thầy cho đi chợ mua thực phẩm. Siêu thị ở Đức cũng giống như các siêu thị khác, nhưng giá cả ở đây rẻ hơn. Các siêu thị cách Viện Phật Học không xa. Waldbroel là một thị trấn lớn, có đầy đủ các siêu thị và nhà hàng ăn uống của người Hoa, Đại Hàn, người Việt. Các Thầy đưa chúng tôi tới quán ăn Việt Nam Hạ Long book. Quán thiết kế dân dã, đẹp mắt. Chủ quán là người miền Bắc, có các món ăn Việt Nam ngon khiến các gia đình người Đức thường xuyên đến ăn. Quán chỉ mở cửa vào buổi chiều. Kem của Đức nổi tiếng ngon và rẻ. Buổi chiều, nguời ra phố đông đúc, họ đi bộ và đi xe đạp, nên đường phố ở Đức ít khi bị kẹt xe. Trong tất cả các nuớc tôi đã viếng thăm, tôi thích nuớc Đức hơn cả, vì nó sạch sẽ, nhà thiết kế đẹp và đều, dân chúng có tinh thần kỷ luật cao, họ không gây ồn ào những nơi công cộng như người Châu Á. Họ bảo vệ môi truờng bằng cách mang các chai lọ làm bằng plastic phế thải bỏ vào thùng có hệ thống máy trả tiền bằng hóa đơn ở siêu thị. Chỉ cần bỏ vào máy sáu vỏ chai coca, máy sẽ nhả ra hóa đơn là 2 €. Hóa đơn đó sẽ được thanh toán với quầy tính tiền.
Từ Học Viện bạn chỉ cần đi băng qua đường là bạn sẽ thấy các cửa hàng, siêu thị, bênh viện, nhà băng, bưu điện. Đi xa hơn chút nữa, bạn sẽ gặp xe bus đưa tới nhà ga; nơi đây bạn sẽ có tàu lửa đưa bạn đi Paris hoặc các thành phố lớn khắp nước Đức. Đây là nơi lí tưởng để bạn ghi tên nghỉ ngơi, tu học. Chung quanh Học Viện là bãi cỏ, đồi táo xanh tươi. Từ đồi táo này, bạn có thể đi xuyên qua những con đường mòn trong rừng thông cao vút. Những vạt nắng sớm xuyên qua khóm lá, long lanh, nhảy nhót theo từng bước chân. Chiều đến, bạn có thể ngồi dưới gốc cây táo ngắm mặt trời lúc hoàng hôn trong không gian xanh yên tĩnh.
Bạn có thể thăm Thành Phố KOELN hay BONN cách Học Viện không xa. Đấy là một trong những thành phố lớn của nuớc Đức. Các cửa hàng và siêu thị rộng lớn đầy đủ hàng hóa, giá rẻ hơn các nơi. Trung tâm thành phố có một nhà thờ Thiên Chúa giáo cao ngất, vĩ đại, khách du lịch đến chiêm bái kiến trúc xưa cỗ của ngôi thánh đường này rất đông.
Cách xa Phật học viện, đi xe hơi hơn sáu giờ bạn sẽ gặp thành phố BERLIN (Bá Linh) nơi đây có bức tường phân nước Đức ra làm hai gọi là Đông Đức và Tây Đức. Họ cũng đã từng thù ghét nhau. Nhưng rồi chính quyền cả hai bên đều nhận ra: Sự chia rẽ ấy chỉ làm dân tộc Đức yếu hơn trước đà phát triển nhanh của khối Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Nuớc Đức có nhiiều người tài giỏi. Họ có tinh thần dân tộc và đoàn kết rất cao. Hai bên đã nắm tay nhau, hòa hợp để xây dựng lại một nuớc Đức thống nhất hùng mạnh. Bức tuờng Bá Linh ô nhục đã bị toàn dân phá bỏ. Họ thống nhất đất nước mà không tốn đạn viện trợ, không cần kêu gọi các nước đàn anh tiếp sức để cõng rắn cắn gà nhà. Quá khứ đau thương của họ đã được đền bù bằng những nhà lãnh đạo đương thời sáng suốt, tài ba và trong sạch! Họ tôn trọng tự do nhân quyền nhưng tinh thần kỷ luật của người dân rất cao. Pháp luật của nước Đức công bằng, không đối xử thiên vị với những kẻ phạm pháp.
Tôi ít đi ra ngoài, nên chỉ biết một vài chi tiết nhỏ kể cho bạn. Thấy môi trường nước Đức phố thị sạch sẽ, công viên, rừng cây xanh tươi mát. Đời sống sinh họat của họ đậm nét văn hóa cao, công nghệ văn minh vượt bực mà phục quá đi thôi.
***
Tòa nhà sáu tầng cao ngất của Học Viện chưa có kinh phí sửa chữa. Thầy Pháp Ấn phải thuê công ty xây dựng Đức làm tạm cái lều mica, rộng 1000m2, có thể chứa đựợc 1.500 thiền sinh. Hôm nay bắt đầu vào khóa tu cho người Hòa Lan, Thiền đường rộng vậy mà đông kín những người. Mở đầu, Sư ông Làng Mai nói về chánh niệm và chuyển hóa khổ đau cho thân và tâm.
Mỗi bước chân chánh niệm, lời nói chánh niệm, hành động chánh niệm, suy nghĩ chánh niệm thì trái tim sẽ nảy mầm hạt giống hiểu biết và thương yêu. Sự hiểu biết và yêu thương sẽ mang lại cho nhân lọai một nền hòa bình trong tình huynh đệ…
Bài pháp thọai Sư Ông nói bằng tiếng Anh, đựơc sư cô Sáng Nghiêm dịch ra tiếng Hòa Lan, đã lôi cuốn thiền sinh lắng nghe chăm chú
Cả rừng người đi thiền hành với Sư Ông trong im lặng. Mặc dù một tháng qua, Sư Ông giảng pháp thoại liên tục, một tuần bốn buổi, có khi năm hay sáu buổi – mỗi buổi khỏang 2 tiếng đồng hồ – sức khỏe Sư Ông đã sút giảm, dáng người gầy đi nhiều, nhưng bước chân Sư Ông vẫn thanh thản, nhẹ nhàng, nụ cượi Sư Ông mỗi ngày một tươi thêm. Sư Ông dắt tay các em bé Hòa Lan đi thiền hành. Phía sau, Tăng thân và thiền sinh vẫn từng buớc chân tiếp nối.
Khóa tu cho thiền sinh Hòa Lan kết thúc. Sáng nay, thay vì ngồi thiền, chúng tôi đi dự lễ truyền 5 giới. Các giới tử chiếm phân nửa thiền đường. Có các cụ già và nhiều cháu bé nữa. Nhìn họ quỳ lạy một cách kính cẩn khi nghe Sư Ông đọc năm giới, tôi thấy xúc động và vui quá đi thôi. Tôi nhớ năm ngoái ở Tu viện Blue Cliffs – New York, một bà thiền sinh, sau khi nhận giới, cảm động nói trong nuớc mắt: Tôi mong rằng sẽ có rất nhiều người đựơc nhận năm giới thì chiến tranh và hận thù sẽ vắng bóng trên thế giới này.
Nhìn lên rừng cây cao, mùa hè sắp qua đi, mùa thu đang tới, lá vàng sẽ rụng theo từng đợt gió đong đưa, cuốn trôi theo sóng vô thường. Tôi nhìn xuống thấy các sư em tươi thắm như những hoa hướng dương, thấy các cháu bé như những nụ hồng vừa hé nở, dưới chân tôi sân cỏ mát xanh. Trên rặng thông già, bầy chim rừng đang hát bài ca mùa hè bằng tiếng Đức, nghe lạ lắm. Tôi thấy niềm tin yêu – hy vọng đang bừng nở, khe khẽ hát hòa với tiếng chim và tiếng thông reo:
Sóng vô thường vẫn trôi Ngàn lá thu vẫn rơi Mang theo người yêu dấu Em và tôi cũng vậy Rồi ta sẽ đi thôi Không có gì mất đi Không có gì còn lại Trái đất vẫn xinh tươi Chúng ta vẫn ca hát Mặc vô thường nổi trôi…Các bạn thân mến ơi, những điều gì cần làm ngày hôm nay thì bạn hãy làm đi, đừng để đến ngày mai. Ngày mai dài vô tận, nó sẽ làm bạn lỡ nhịp hẹn, nhất là bạn hẹn sẽ gặp lại người thương. Sóng vô thường không đợi chờ ai cả. Nó đến và cuớp đi rất nhanh mạng sống muôn loài. Sư ông Nhất Hạnh năm nay 86 tuổi rồi, mặc dù sức khỏe mong manh, nhưng Sư Ông vẫn đến giảng những khóa tu, dạy cho chúng ta pháp môn Thiền Chánh Niệm của Đức Phật từ phụ Thích Ca, dạy chúng ta chuyển hóa khổ đau thành an lạc, sống tỉnh thức trong tình thương yêu, mang lại hạnh phúc cho gia đình, hòa bình cho thế giới. Chúng tôi có niềm tin lớn rằng: chư Phật, chư Bồ tát, chư Tổ, chư Thần linh đất đai và, với tài đức song toàn của thầy Pháp Ấn – sư cô Chân Đức – các vị Giáo thọ lớn và các sư em mẫn tuệ của Sư Ông, cùng với Tăng thân cư sĩ khắp thế giới, Phật tử Việt Nam sẽ hỗ trợ cho Viện Phật Học Châu Âu ngày càng vững mạnh để cho người dân Đức và toàn thể thế giới quay về đây thực tập thiền Chánh Niệm, chuyển hóa khổ đau thành hạnh phúc, chuyển hóa hận thù thành yêu thương, để tất cả nơi nơi đều sống trong hòa bình, an lạc.
Xin mời các bạn đến dự các khóa tu, thực tập pháp môn Thiền Chánh Niệm đi. Nó sẽ giúp bạn tỉnh táo, sáng suốt ra, trái tim bạn được tưới tẩm hạt giống từ bi, bạn sẽ nhìn mọi người bằng đôi mắt thương. Bạn sẽ mang lại hạnh phúc cho cha mẹ, vợ con, anh em hoặc người mà bạn thương yêu để cùng nhau đi suốt cuộc hành trình trong hạnh phúc, xây dựng quê hương tươi sáng, bạn có biết không ?
Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu Tháng 8 -2012. Chân Y NghiêmTết Mậu Tuất 2018
Lặng lẽ nụ quỳnh
Bây giờ là gần nửa đêm, hội quỳnh đã tan, mọi người đã ngủ hết, trời vừa tạnh mưa, khí đêm mát lạnh, tiếng nước chảy róc rách đều đều, tiếng dế ngân vang, thỉnh thoảng có vài tiếng ếch nhái từ góc vườn vọng tới, chú tắc kè hoa cũng tham dự với những chuỗi âm thanh dài, không gian tĩnh tịch nhưng sinh động lạ thường, và chú đang ngồi một mình ngoài hiên, trước mặt chú là những đóa quỳnh mãn khai trắng tinh đang tỏa hương thơm ngát.
Chú mới vừa xả chân sau một lúc ngồi yên. Trên chiếc ghế sô pha bằng mây đặt trước những đóa quỳnh đang mãn khai, chú đã trải tọa cụ rồi xếp chân trên bồ đoàn và chưa bao giờ chú có cảm giác là hơi thở của mình “ngon lành” đến như vậy. Những đóa quỳnh được ba cây đèn thắp sáng và tất cả những đóa hoa đã được điều chỉnh để cùng quay về một hướng. Lâu lâu chú mới mở mắt ra nhìn rồi lặng lẽ mỉm cười trong bóng đêm với hơi thở ngọt lịm thơm tho.
Từ thiền đường về là anh em chú đã bắt đầu thiết kế ánh sáng cho các chậu quỳnh. Góc nào trong tăng xá cũng có quỳnh. Hiên Xanh của chú có chừng hai chục hoa và tất cả các bông hoa đều hướng về phía người ngồi ngắm với ánh đèn làm nổi bật những bông hoa trắng giữa nền lá xanh. Anh em chú ngồi quanh, rất gần với những đóa hoa đang bung từng cánh một. Chú còn thiết trí cái bàn nhỏ trước những đóa hoa, rồi lại thỉnh chậu hoa nước với tượng bồ tát Di Lặc ngồi giữa chậu đặt lên trên chiếc bàn nhỏ ấy, mặt bồ tát hướng về các bông hoa với tư thế đang ngắm hoa một cách trầm tư chăm chú. Đèn điện được tắt hết ngoại trừ ba bóng đèn chiếu vào hoa và đèn trong lòng hồ nước. Xong đâu đó rồi thì mới pha trà. Anh em chú ngồi yên lặng bên nhau uống trà ngắm hoa. Tiếng mưa, tiếng gió nhè nhẹ, tiếng ếch nhái, tiếng dế, tiếng nước chảy, tiếng pha trà và tiếng thở tạo thành một bản hợp tấu lặng lẽ mà hùng tráng, bình dị mà linh thiêng.
Một hộp hạt điều rang muối được mang ra và mỗi người chia nhau một nắm nhỏ. Trà được châm thêm và những đóa hoa cũng từ từ mở ra, xòe dần những cánh trắng tinh khôi và rồi thì hiển bày cả lòng hoa vi diệu. Những cánh nhỏ ngoài cùng mảnh mai phớt hồng uốn ngược ra sau đến chạm cả vào cuống hoa. Những cánh trắng lớp ngoài lớn hơn một tí cũng vươn rộng ra, rộng hết mức có thể, như một người giang rộng hai cánh tay. Lớp cánh tiếp theo là một vành cánh trắng lớn hơn nhưng không dang rộng hết cỡ đôi tay mà hơi khép lại như thể đang chực ôm lấy không gian phía trước. Những cánh trắng lớp trong cùng là lớn nhất, không xòe hết mà chỉ mở vừa đủ như những cánh sen với hai lớp cánh trắng tuyền ôm lấy cả trăm nhụy hoa trắng phớt vàng xếp hàng thẳng tắp như những nàng tiên đang tung tăng nhảy múa. Nhụy cái vươn hẳn ra ngoài như những vũ công tung mình lên không trung xòe rộng những cánh tay thon dài mong manh trắng muốt. Gió rung nhẹ làm bật tung một cánh hoa, cả trăm cánh hoa liền bật rung theo rất đồng điệu.
Mãn khai rồi. Lúc lòng hoa hiển bày hết sự vi diệu cũng là lúc hương hoa tỏa ngát khắp không gian tịch lặng của Hiên Xanh. Những người ngồi bên hoa không ai là không trầm trồ kinh ngạc với sắc hương vi diệu ấy, duy chỉ có tôn tượng của đức bồ tát trầm tư là vẫn lặng lẽ trầm tư, không biểu lộ bất cứ một xúc cảm nào như thể vốn dĩ ngài là người luôn luôn an trú miên mật trong sự vi diệu ấy của chân hương diệu sắc. Sự sống vô tận như dừng lại miên viễn trong khoảnh khắc mãn khai của loài hoa mong manh ấy.
Quá nửa đêm rồi, đã qua ngày mới. Hơi lạnh rồi. Chú vừa phải kéo chăn phủ quanh vai. Một cơn gió lạnh thổi tới làm những đóa quỳnh run rẩy, xô những bông hoa nghiêng ngả giữa màn đêm. Ánh sáng từ những cây đèn, ngoài những đóa quỳnh trắng và những thân quỳnh xanh, chỉ đủ soi một vùng hẹp mờ ảo quanh Hiên Xanh với những thân trúc vàng ở góc hồ, với tượng Bụt đứng lặng yên bên mỏm đá, với ngọn tùng đổ xuống từ chiếc chậu cao, với thác nước chảy xuống từ tảng đá phủ rêu, với những giỏ lan khép nép lơ lửng giữa lòng hồ và với mặt hồ lấp lánh theo những cái quẫy đuôi của đàn cá chép đủ màu trong lòng nước. Còn lại là một vùng đen sâu thẳm vô tận, mênh mông, thâm u và bất trắc của một đêm khuya đầu tháng u ám không một vì sao.
Những đóa hoa hãy còn sung mãn, với những cánh hoa vươn rộng với những đài hoa vững chắc và với những cuống hoa uốn cong kiêu hãnh. Đẹp đẽ, huy hoàng, tinh khôi và viên mãn. Đó là những mỹ từ to tát nhất có thể được dùng, nhưng trong giây phút này, chúng bỗng trở nên nghèo nàn kinh khủng khi chẳng thể nào diễn bày được, dù là chỉ một phần nhỏ sự thật sống động về những đóa quỳnh đang lan tỏa hương sắc giữa lòng đêm.
Tiếng nước chảy như rộn ràng hơn. Dế không ngủ thì phải. Tăng xá lặng lẽ chìm sâu vào giấc ngủ. Không gian cũng ngủ vùi trong màn đêm vô định. Nhưng những đóa quỳnh thì đang tưng bừng hiến tặng sự sống của mình, với hình dáng đoan nghiêm, với sắc màu tinh khôi, với hương thơm thanh khiết và với một tấm lòng mở rộng vi diệu nhiệm màu vô cầu vô nguyện giữa lòng đêm sâu thẳm, vô tận, mênh mông, thâm u và bất trắc. Chú đang thức hay ngủ? Chú đang hiến tặng gì đây? Tại sao chú cần thế nhân công nhận?
Bồ tát tự tại trầm tư vừa lặng lẽ mỉm cười. Chú cũng vừa lặng lẽ mỉm cười. Những đóa quỳnh cũng lặng lẽ mỉm cười. Và đêm thâu cô tịch, sâu thẳm, vô tận, mênh mông, thâm u và bất trắc ấy cũng vừa lặng lẽ mỉm cười.
Thầy Trung Hải
Vịnh cây cóc già
Tào Khê
Câu đối Tết Mậu Tuất 2018
Niềm vui từ Pak Chong
Duyên lành gặp Thầy
Ở Làng Mai, con thích những buổi sáng nhất, bởi bầu không khí quá tuyệt vời khiến không ai muốn bỏ phí. Con đã nghe kể rằng có những buổi sáng ở Pháp, khi cùng với các học trò của mình đi thiền hành, Sư Ông thường dùng ngón tay đón lấy những hạt sương sớm mai trên lá thông và truyền tay từng người. Hay con còn nghe kể về những cuộc trò chuyện với cái cây hay bông hoa ở bên đường khi thiền hành. Còn con, con thích lần đi qua một con đường thiền hành cỏ mọc um tùm ở Làng. Con đã hạnh phúc lắm vì ở đây có mùi cỏ, và mùi của đất Mẹ mà đi đâu con cũng kiếm tìm.
Lần đó, con “đi bộ” trong tâm thái rất thong dong, rất bình yên và dù có bao nhiêu người đi xung quanh, con tập trung vào bước đi của mình và thi thoảng ngắm mây, ngắm trời, ngắm cây cỏ hoa lá (như con vẫn luôn thế) nên chẳng mấy chốc bị tụt lại tít phía sau. Đi được một đoạn khá xa, con thấy mọi người đằng trước tụ tập lại trước một ngôi thất và đồng thanh hát. Ban đầu, con còn nghĩ truyền thống ở đây là vậy, nhưng tiến gần hơn tới trước thất, con mới quan sát kỹ hơn và nhận ra… ngồi trên hành lang tầng hai của ngôi thất chính là… Sư Ông. Sư Ông ngồi đó trên xe lăn, tay trái cầm ly trà, lắng tai nghe đại chúng hát, bình yên thật là bình yên…
Nhiều người khi gặp Sư Ông đã vái lạy, nhiều người đã khóc. Nhiều người đã tu theo phép tu của Sư Ông từ lâu, con thì chỉ mới biết qua sách của Sư Ông, qua trang Facebook của Làng, nhưng khi nhìn thấy Sư Ông, con thấy xúc động khôn cùng. Con thấy ngưỡng mộ, ngưỡng mộ một con người đã dành bao nhiêu năm kêu gọi hòa bình và thức tỉnh nhiều người đến vậy. Lúc đó con chỉ biết nhìn Sư Ông, nhìn mãi, không rời mắt. Đến khi phải rời đi, con cũng chỉ biết ngoái theo, ngoái theo mãi, tay chắp búp sen chào Sư Ông. Cô giáo con đi cùng nói rằng: “Mọi người cúi lạy Sư Ông vì họ muốn tỏ lòng tôn kính, nhưng món quà ý nghĩa nhất dành tặng Sư Ông chính là sự tỉnh thức và sự thực hành của mình con ạ”. Con hiểu những điều cô nói và với cơ duyên được gặp cô, được gặp Sư Ông và tất cả những người khác trong lần đi Làng Mai, đó thực sự là thông điệp mạnh mẽ nhất để con tin tưởng và bước tiếp trên con đường hướng tới hiểu biết và yêu thương hơn.
Con mong Sư Ông mau khỏe lên nhiều vì thêm một người được gặp Sư Ông là thêm một người được yểm trợ bởi nguồn năng lượng tươi mát nơi Sư Ông, Sư Ông ơi!
Lớp học Lá Bối
Không có nhiều từ mà vừa nghe đã thấy hay thật hay như “Lá Bối” – đại bản doanh, nơi tề tựu mỗi ngày của Gia đình Chồi Cúc.
Phòng Lá Bối của gia đình Chồi Cúc chắc là một trong những nơi ngắm hoàng hôn đẹp nhất ở đây. Theo suy luận địa lý của con thì phòng học hướng về phía Nam, một bên cửa sổ hướng về hướng Tây có mặt trời chiếu cuối ngày đẹp đến nao lòng người, bên còn lại nhìn ra đằng sau chánh điện (mà chánh điện cũng đẹp nao lòng nốt!). Và dù mình không có ý định bỏ thời khóa nào đâu nhưng ánh mặt trời đó vẫn luôn là một động lực để con đi tham dự gia đình pháp đàm.
Kỷ niệm vui nhất ở Gia đình Chồi Cúc và làm con rất yêu quý gia đình này có lẽ là trải nghiệm thỉnh chuông. Chuyến đi Làng Mai khiến con thấy tiếng chuông thật kỳ diệu. Từ tiếng chuông đồng hồ 15 phút một lần mà mỗi khi vang lên là tất cả mọi người dừng hết tất cả mọi hoạt động lại để theo dõi hơi thở, đến tiếng chuông, tiếng khánh trong thời khóa nhắc mọi người quay về với chính mình. Vì thế nên lúc được nghe dạy thỉnh chuông, con hào hứng lắm. Sau phần giảng là đến phần thực hành, mọi người cũng ngồi thành vòng tròn và chuyền chuông để lần lượt từng người thử. Đến lượt mình, con run quá mức, và con thỉnh chuông mắc cười ghê lắm. Sư cô vừa dạy rằng ai mà tươi mát, an lạc thì tiếng chuông sẽ thanh và rất vang, vậy mà con thỉnh ra một tiếng chuông dở quá. Nhưng sau khi được sư cô chỉ cho rằng con cầm dùi sai và chỉnh lại cho, thì con thỉnh đúng kỹ thuật và tiếng chuông cũng khá thanh và cũng hơi vang, còn được mọi người vỗ tay, khen: Hay quá! nữa.
Sau bữa đó, con rất thích đi sinh hoạt gia đình. Các giờ lao động chấp tác là vui nhất. Bây giờ về Hà Nội, con nhớ những bữa ngồi cắt rau húng hay những hôm đi bê rau được nửa đường thì phát hiện ra quên mất cặp vẫn treo ở cành cây, phải quay lại để lấy. Và tất nhiên nhớ nhất vẫn là bữa ngồi ở gốc cây đối diện nhà bếp mọi người vừa nhặt rau muống vừa ca hát. Nhưng vui nhất, chắc là khi cứ đến bữa ăn mà thấy rau mình nhổ hay nhặt là con lại quay sang chị Tuyến hãnh diện khoe: Rau này em nhổ đấy nhé!
Và tất nhiên con cũng thật nhớ buổi thiền trà chia tay của bữa sinh hoạt cuối cùng. Đó cũng là một ngày hoàng hôn thật đẹp, mọi người lại ngồi thành vòng tròn, ăn bánh, uống trà và trò chuyện. Rồi mọi người đọc thơ, có người hát và còn được tặng bookmark nữa. Hôm đó, con đã lại thật sung sướng được tắm nắng và lắng nghe mọi người. Những câu chuyện của các anh chị làm con thấy mình còn đang may mắn quá và sẽ còn thật nhiều điều đang chờ mình ở những năm tiếp theo. Từ câu chuyện của mọi người và từ những thực tập ở đây, khi về nhà có lẽ con sẽ sẵn sàng hơn để đón nhận những điều đang chờ mình ở phía trước.
Giống như Lá Bối được dùng để chép lại kinh Phật, thì phòng học Lá Bối hình như cũng ghi lại “hơi” nhiều những kỷ niệm, những câu chuyện của Chồi Cúc rồi.
“Relax” là như thế chứ đâu!
Chuyến đi Làng Mai lần đó, con có mang theo một cuốn sách được một người ban tặng. Đó là cuốn “How to relax” của Sư Ông. Và cũng chính trong chuyến đi đó, con đã tìm thấy những giây phút, những công việc khiến mình phải thốt lên rằng: “Relax là đây chứ đâu!”
Điều đầu tiên con thích ở Pak Chong đó là thiên nhiên quá tuyệt vời. Khi về con có tìm hiểu và đọc được thông tin rằng vùng núi Khao Yai ở Pak Chong là một trong bảy vùng núi có năng lượng tốt nhất thế giới. Ngồi thiền ngoài trời hay là thiền hành ở đây thì không gì bằng! Mà ở Làng Mai, ai cũng tươi mát như một bông hoa, dễ thương vô cùng, mọi người ai cũng cười và chào nhau, dù chẳng quen biết trước. Thực sự có những ngày, chỉ cần ngồi cạnh nhà bếp nhìn mọi người cứ ngồi không hoặc đi lại thôi cũng thấy thật yên bình rồi. “Relax” là như thế chứ đâu!
Ngày đầu con đến đây, con đã bất ngờ khi bỗng nhiên có tiếng đàn hát phát ra từ đâu đó. Ở đây vài ngày thì con thấy chuyện đó không còn lạ nữa, mà trở thành cái gì đó thật quen thuộc. Khi nào cũng có tiếng đàn hát, hoặc tiếng piano,… Và đến những ngày cuối, cứ khi không có thời khoá thì chính con cũng tự dưng ngâm nga một vài câu thiền ca, như là: “Khi yêu thương, lòng như đứa trẻ…” chẳng hạn. “Relax” là như thế chứ đâu!
Có một hôm khi mới đến, vì chưa có lịch trình gì nên mấy chị em con dắt nhau lên đồi chơi. Nói thiệt là khi con ngồi ô tô qua đây, trên đường đi qua biên giới Thái Lan con ngủ li bì nên chưa biết khung cảnh ở đây thế nào. Và bữa đó, sau khi leo những bậc đá xi măng lên cao cao đến một khoảnh đất bằng, con thích lắm vì khung cảnh trước mặt, có núi và nhìn thấy một phần xung quanh, toàn một màu xanh!!! Thậm chí, thấy đồi cao, gió mát, cảnh đẹp, con đã chỉ nghĩ được một chuyện: “Giờ mà ngủ ở đây thì tuyệt!” Và nghĩ xong phải làm ngay, con nằm ra đấy, gối lên cái cặp, úp cái mũ lên mặt và ngủ ngon ơ! Bên cạnh còn có cô giáo đi cùng ngồi hát hết bài này đến bài kia nữa. Bây giờ ngẫm ra thì đó chính là lần đầu con được hưởng thiền buông thư có hướng dẫn. Thật là “relax”!
Pak Chong đầy nắng và gió nên một vài cái xích đu được làm bằng gỗ với dây thừng gắn thật chắc chắn vào mấy cây me lớn là “số dzách”. Từ hôm mới đến, con đã để ý đến mấy em xích đu đó rồi, mà đến hôm cuối mới được đu đưa vì mấy bữa trước không tranh được với các em bé con. Mà hình như cứ ngồi trên xích đu thì ai trông cũng như trẻ con ấy. Hình như cứ ngồi lên xích đu là dù mới lớn hay… lớn lâu rồi đều sẽ tự nhiên mà gạt hết mọi thứ sang một bên và chơi như hồi mình còn bé con vậy!
Ở Làng Mai cũng có nhạc hội. Bình thường nghe “nhạc hội” là con nghĩ ngay phải có mấy màn nhạc sôi động mọi người nhảy múa. Nhưng Làng Mai mà, Làng Mai nên nhạc hội ở đây cũng cứ thật yên bình với toàn những bài hát thật nhẹ nhàng. Mọi người hát, biểu diễn, văn nghệ theo kiểu… rất Làng Mai… Con thích nhất tiết mục “Chú Cuội” với tiếng violin, tiếng sáo và tiếng guitar thật nhẹ nhàng mà bay khắp không gian trong một đêm trăng non thật mát và trong. Thú thật là sau đêm nhạc hội, con mới hiểu vì sao khu đất tổ chức nhạc hội đó gọi là Sân Trăng. Vì ngắm trăng từ đây đẹp quá mà! “Relax” là đây chứ đâu!
Con nhớ nhất ngày cuối ở Làng Mai, hai chị đi cùng đã về rồi, sửa soạn hành lý xong hết rồi, con thấy chị nào đó đang quét sân, mà quét sân quét lá là việc con rất thích nên con phải… chớp ngay cơ hội. Và thế mà con tung tăng đi quét sân, hết bên này đến bên kia với chị. Chỉ một việc bé tí teo thế thôi mà sao con thấy vui quá trời, và thấy bình yên lắm! Quét xong cái sân thật bự, hai chị em cười với nhau toe toét rồi tự khen: “Chị em mình quét sạch phết em nhỉ?!” (Nghĩ lại lại thấy vui!)
Yên bình “bị phá vỡ”
Làng Mai yên bình là thế, mà cũng có những khi cái yên bình đó “bị phá vỡ”. Có một hôm con cùng với mấy chị nữa ở Hà Nội qua đang ngồi nói chuyện ở lán gỗ gần khu lều, thì có một chiếc xe máy tiến tới, đi kèm với tiếng keng keng leng keng khá lớn. Mọi người dồn hết chú ý vào đó luôn. Một chị cất tiếng: “Như kiểu bán kem ở Việt Nam ý nhỉ?!”, thì hóa ra là xe máy bán kem thật.
Bữa đó thấy chú, cô giáo đưa con tiền rồi bảo: “Tiền lẻ này Chấu, con chạy ra mua kem đi!”
Và con, như một đứa trẻ được mẹ cho tiền, tung tăng hớn hở chạy ra mua kem.
Ở đây có hạnh phúc không?
Để kết lại, con xin kể một câu chuyện rằng có một hôm ở Làng Mai, khi con đang đi loăng quăng một mình hướng về lại phía lều thì gặp một sư cô cười rất tươi với mình (và khi con gặp quý sư cô, con cũng đều cười tươi đó) và sư cô gọi con:
“Ở đây có hạnh phúc không?”
Con cười lại (cũng siêu tươi) với sư cô và trả lời: “Dạ! Hạnh phúc lắm, sư cô!”
Tối hôm rời Làng về lại Việt Nam, khi xe nổ máy, con ngồi cạnh cửa sổ nhìn ra cổng xóm Trời Quang mà thấy thật bịn rịn. Vì không muốn xa nên càng nhìn thì lại càng chẳng muốn rời và tự nhiên xúc động lắm. Nhưng cũng đâu thể nào khác được, chỉ biết mong lần sau lại có đủ duyên để quay lại và tự hứa về nhà phải thực tập làm sao cho tốt vì mỗi khi thực tập là mỗi lần nhớ về Làng và có thêm động lực để quay lại. Sáng ngày sau nữa, khi ngồi ăn một cốc mì úp nước sôi ở cửa 7Eleven lúc 05:30 sáng, con lại nhớ Pak Chong khủng khiếp. Nhưng nghĩ lại thì nỗi nhớ nào rồi cũng sẽ vơi và trước những sự thật thì điều tốt nhất nên làm có lẽ là chấp nhận và đối mặt với nó. Nhưng nỗi nhớ Làng Mai chắc chắn là không thể sớm mà vơi đi được, vì cảm giác muốn quay lại mạnh mẽ quá.
Một trong những bài hát yêu thích nhất mà con cứ hát đi hát lại khi ở Làng có câu:
“Khi yêu thương, lòng như đứa trẻ
Xin cho hoài không đắn đo chi
Tình thân quyến gặp trong mọi nẻo,
Và nơi chốn bình an là nhà…”
Nhận được sự yêu thương của mọi người, con cũng xin nguyện sẽ học cách “Hiểu và thương”, bởi:
“Có hiểu mới có thương
Hiểu càng sâu, thương càng rộng
Hiểu càng rộng, thương càng sâu…”
Viết xong bài viết này, con nhớ đến câu hỏi mà sư cô đã hỏi mình hôm đó: “Ở đây có hạnh phúc không con?” Và câu trả lời của mình thì vẫn luôn vậy: “Dạ! Hạnh phúc lắm cô!”.
Hà Nội, ngày 23/07/2017, một đêm mưa.
Chân Giang















































































































































































