Con phải làm gì khi bị phân biệt, kỳ thị giới tính?

Hỏi: Câu hỏi của con có liên quan tới vấn đề đồng tính và con chưa được nghe Thầy đề cập đến hoặc giải đáp về vấn đề này. Vì vậy con tự nói với chính mình rằng: ‘‘Những hạt giống đồng tính trong mình bị tưới tẩm trở lại. Mình phải làm gì với nó hay mình chỉ ngồi và thở với nó?’’ Con thấy rằng con đã sống như vậy trong suốt cuộc đời của con. Con cũng ý thức rằng những hạt giống trong những người đồng tính luyến ái đã bị tưới tẩm trong suốt cuộc đời của họ, bởi vì họ không được công nhận. 

Con là người mới đối với cộng đồng này và với truyền thống tu tập này. Con đến đây để tìm sự khuây khỏa cho tâm hồn và học hỏi thêm từ Tăng thân, nhưng những hạt giống khổ đau trong con bị tưới tẩm như bất cứ nơi nào khác trong cuộc đời con vì con thấy trong buổi vấn đáp hôm nay con không thấy có người đồng tính nào hỏi và chia sẻ về vấn đề này. Con rất ngạc nhiên. Con ở đây đã một tuần rưỡi của khóa tu, nhưng con chưa bao giờ nghe Thầy đề cập đến vấn đề đồng tính và con cảm thấy rất khó chịu, con phải ôm nỗi khổ đó một mình.

Thầy trả lời: Đám mây là đám mây. Nhìn sâu vào bản tính của đám mây, ta thấy được vũ trụ. Cũng như một đóa hoa, nếu nhìn sâu vào bản chất của đóa hoa, ta thấy được cả thiên hà đại địa. Mọi vật đều có vị trí của nó. Bản chất của mọi sự mọi vật là vô ngã, tương tức. Khi nhìn vào biển cả, quý vị thấy có nhiều con sóng khác nhau – hình dáng và tầm cỡ của mỗi con sóng đều khác, nhưng tính chất của các con sóng là nước. Nếu quý vị biểu hiện như là một người đồng tính luyến ái thì tuy sự biểu hiện của quý vị và tôi có khác, nhưng bản chất của chúng ta là một. Nhà thần học đạo Tin Lành tên là Paul Tillich có nói rằng Thượng Đế là nền tảng của hiện hữu. Quý vị phải là quý vị. Nếu Thượng Đế đã tạo ra tôi là hoa hồng, thì tôi phải chấp nhận tôi là hoa hồng và liên hệ của tôi với Thượng Đế sẽ là với Thượng Đế của hoa hồng. Nếu quý vị sinh ra là một người nữ đồng tính luyến ái, thì quý vị hãy chấp nhận mình là người nữ đồng tính luyến ái và sự liên hệ của quý vị với Thượng Đế sẽ là Thượng Đế của giới đồng tính luyến ái. Qua quá trình thực tập nhìn sâu, quý vị thấy rằng một khi đã tiếp xúc được với bản tính chân thực của mình, thì bao nhiêu lo buồn, sợ hãi sẽ tan biến và quý vị sẽ chạm tới được trạng thái bình an và tự do thật sự.

Nếu quý vị là nạn nhân của sự phân biệt, kỳ thị, thì con đường đi tới giải thoát không phải chỉ có than khóc về sự bất công và sự bất công ấy không thể được hồi phục bằng sự công nhận của mọi người, mà chính nhờ khả năng tiếp xúc được với bản chất đích thực của chính mình. Tôi có kinh nghiệm rất sâu sắc về điều này. Sự kỳ thị, sự thiếu bao dung, độ lượng và sự đàn áp là do tri giác sai lầm, thiếu hiểu biết, thiếu từ bi đưa tới. Nếu quý vị có khả năng tiếp xúc được với bản chất đích thực của mình, thì quý vị có thể tự giải phóng mình ra khỏi vũng lầy của khổ đau, của sự phân biệt, kỳ thị và đàn áp.

Có lẽ quý vị bị đàn áp, kỳ thị do sự khác biệt về màu da hoặc chủng tộc hoặc giới tính, và người ta kỳ thị, đàn áp quý vị là vì họ chưa hiểu được mình, chưa có cái thấy đúng như pháp, cái thấy sai lạc đó danh chuyên môn trong đạo Bụt gọi là vô minh – không có trí tuệ. Người đó không thấy được cái bản chất đích thực của người đó và không nhận ra được rằng tất cả chúng ta đều phát xuất từ một bản chất. Vì vậy cho nên người đó mới kỳ thị và đàn áp mình. Những người thiếu trí tuệ (vô minh) nên mới thường sinh tâm kỳ thị và họ làm cho người khác đau khổ; họ cũng là những người không có hạnh phúc trong lòng, cũng đang đau khổ cực kỳ.

Tuy quý vị là nạn nhân của sự kỳ thị, của sự bất công, nhưng nếu quý vị có khả năng tiếp xúc được với bản chất chân thực của mình – bản chất của không sinh không diệt, không một không khác…, thì quý vị là người có trí tuệ, có từ bi và có thể nói với Thượng Đế rằng: ”Thượng Đế ơi! Xin Ngài tha thứ cho họ vì họ không biết là họ đang làm gì. Vì vô minh nên họ đã sinh tâm kỳ thị và phạm nhiều lầm lỗi như thế. Xin Ngài thương xót họ, tha thứ cho họ.” Mỗi khi đã chạm tới được bản tính không sinh không diệt, không một không khác, bản tính tương tức, vô ngã của chính mình thì quý vị sẽ được trang bị bằng chất liệu của hiểu biết; chất liệu của hiểu biết làm phát khởi chất liệu thương yêu và quý vị có thể tha thứ, bao dung được những người đang làm khổ quý vị, đàn áp và kỳ thị quý vị.

Nếu quý vị bị kỳ thị, thì chớ ngây thơ nghĩ rằng xã hội sẽ làm sáng tỏ sự bất công cho mình và trả lại sự công bằng cho mình. Giải thoát chân thực tùy thuộc vào khả năng nhìn sâu của mình, chứ không phải tùy thuộc vào các điều kiện ở bên ngoài (ngoại cảnh). Một khi đã chạm tới được chiều sâu của bản chất không sinh không diệt, không một không khác của mình thì quý vị sẽ được tự do, giải thoát. Lúc ấy quý vị sẽ có khả năng ôm lấy tất cả và giúp đỡ những người hoặc những nhóm người đã có cái nhìn sai lạc về chính họ và về mình, kỳ thị mình mà không một lời oán trách, thù hận.

Cố nhiên khi quý vị đau khổ vì cảm thấy mình là đối tượng của sự kỳ thị thì trong lòng luôn luôn có sự thôi thúc muốn nói ra sự bất công ấy. Nhưng dù có bỏ ra một ngàn năm để nói lên sự bất công, thì niềm đau nỗi khổ của quý vị vẫn chưa chắc được giải tỏa hoàn toàn. Chỉ có sự hiểu biết thâm sâu và tự do khỏi vòng vô minh thì nỗi khổ của quý vị mới có thể được chuyển hoá hoàn toàn và đạt tới giải thoát.

Chúng tôi đã đau khổ rất nhiều trong cuộc chiến Việt Nam. Nếu nhìn kỹ lại về cái bản chất của chiến tranh, quý vị sẽ thấy rằng giá trị mạng sống của người dân Việt Nam không là gì so với mạng sống của một người lính Mỹ. Khi người phi công Mỹ nhận lệnh thả bom vào một vùng quan trọng nào đó mà họ cho là có kẻ địch, người phi công đó đã mường tượng được cái gì sẽ xảy ra sau khi anh ta thả bom. Tuy nhiên, anh ta không cần phải quan tâm đến điều đó vì nhiệm vụ của anh là thả bom, chỉ có thế. Anh phải phục tùng mệnh lệnh. Đối với những người ra lệnh thả bom, thì hàng ngàn, hàng triệu sinh mạng vô tội ở dưới những vùng ấy không có giá trị gì cả. Họ chỉ muốn đạt được mục tiêu. Đương đầu với nỗi khổ lớn lao như vậy thì tiếng nói nào có thể làm vơi được nỗi khổ của quý vị?

Khi quý vị thấy được sự thật và chọc thủng được nó, thì tình thương sẽ tuôn chảy như dòng suối mát. Với tình thương ấy, quý vị có thể ôm lấy được những người đã làm khổ quý vị, đã kỳ thị, đàn áp và khủng bố quý vị. Khi trái tim của quý vị được thúc đẩy bởi ước muốn giúp đỡ những người đã và đang là nạn nhân của sự vô minh, thì lúc ấy quý vị mới thật sự thoát ra khỏi nỗi khổ và cảm giác bị xúc phạm của quý vị. Đó là sự khuyên nhủ của tôi. Đừng trông đợi nơi sự thay đổi của hoàn cảnh bên ngoài. Đừng nghĩ rằng phải lên tiếng kêu gọi công bằng tháng này qua năm nọ thì niềm đau nỗi khổ của mình sẽ được thuyên giảm, giãi bày và chuyển hóa. Không đâu! Quý vị phải thực tập nhìn sâu để tự cởi trói chính mình, hoàn cảnh thuận lợi bên ngoài chỉ là điều kiện phụ trợ. Thực tập nhìn sâu, quý vị sẽ chế tác và trang bị cho mình bằng chất liệu hiểu biết và thương yêu – loại năng lượng có khả năng chuyển hóa tình trạng của sự kỳ thị và bất công. Quý vị phải trở thành một con người có trí tuệ và từ bi, một đại trượng phu, một người có thể thể hiện được năng lượng của sự bao dung, hiểu biết và thương yêu. Quý vị chuyển hóa tự thân thành pháp khí để có khả năng chuyển đổi tình trạng xã hội và tâm thức cộng đồng của nhân loại.

Phước đức lớn nhất

Hỏi: Chúng con không nghe Thầy nhắc đến tầm quan trọng của sự tích lũy phước đức trong đời hiện tại hoặc tránh tạo ra những nghiệp xấu ác; sự thực tập này có liên hệ tốt xấu như thế nào đối với vấn đề tái sinh trong tương lai. Với tuổi của con, con không biết là mình có nên cố gắng tích lũy phước đức bằng cách thực tập “an trú trong hiện tại” thêm gấp đôi hay không, nghĩa là con có nên khẩn trương thực tập tích lũy phước đức càng nhiều càng tốt để được tái sanh về hướng an lành trong tương lai hay không?

Thầy: Khi quý vị thực tập thở vào, thở ra, an tịnh thân tâm và mỉm cười là quý vị đang tích lũy được rất nhiều phước đức. Quý vị trở nên một người có hạnh phúc. Tự thân của quý vị tỏa ra được phong thái của một người tự do, thanh thản, nhẹ nhàng và hạnh phúc. Cho dù quý vị không cố gắng làm cho những người chung quanh mình hạnh phúc, nhưng họ vẫn cảm thấy hạnh phúc được sống gần gũi với quý vị. Quý vị cũng làm cho ông bà, cha mẹ, tổ tiên và con cháu của quý vị được hạnh phúc. Quý vị có thể tích lũy phước đức như thế ngay trong mỗi giây phút của đời sống hàng ngày.

Tái sinh là quá trình xảy ra trong từng giây từng phút, trong từng sát na của sự sống. Chúng ta chết đi và sinh ra trở lại trong từng phút giây. Có thể quý vị nghĩ rằng mình đã già, kỳ thực quý vị còn trẻ lắm; quý vị vừa mới sinh ra. Khi nhìn vào chính mình, tôi không cần phải hỏi là sau khi chết tôi sẽ như thế nào? Tôi sẽ đi về đâu? Tôi sẽ sinh ra, sẽ tái sinh dưới hình thức nào? Bởi vì bằng sự quán chiếu sâu sắc trong giây phút hiện tại, tôi thấy tôi đã tái sinh dưới muôn ngàn hình thức của sự sống. Nhìn vào đại chúng, quý vị sẽ thấy sự có mặt của tôi trong các thầy, các sư cô, sư chú, các đệ tử cư sĩ, và có mặt luôn trong từng cọng cây ngọn cỏ… Tôi đã tái sinh trong mỗi quý vị. Quý vị là sự tiếp nối của tôi. Tôi đang có mặt trong từng tế bào cơ thể quý vị đứng về phương diện trí tuệ, tình thương và tâm linh. Tôi là quý vị, quý vị là tôi. Tôi không cần phải chết đi mới bắt đầu tái sinh. Trong giây phút này đây, tôi không cần vội vàng, khẩn trương để thực tập tích lũy phước đức.

Có người nói với tôi rằng: “nếu ba năm đầu làm sa di của Thầy thành công, thì Thầy có thể trở thành một người hạnh phúc trong suốt đời tu”. Điều này rất đúng đối với trường hợp của tôi. Phước đức lớn nhất mà mình có thể thực hiện được là đừng bao giờ nghĩ tới chuyện tích lũy nó. Quý vị chỉ cần sống đời sống của mình cho thật chánh niệm, sâu sắc, vun trồng tình thương mỗi ngày, thì hạnh phúc sẽ đến với quý vị liền lập tức ngay trong phút giây của sự thực tập.

Đức Thế Tôn có dạy: ‘‘Giáo lý của ta nói ra mầu nhiệm, đẹp đẽ ở chặng đầu, ở chặng giữa và ở chặng cuối.’’ Điều này có nghĩa là quý vị không cần phải thực tập mười năm, hai mươi năm hay ba, bốn mươi năm sau mới có kết quả. Đức Thế Tôn có nói: ‘‘Giáo pháp của ta có tính cách vượt thoát thời gian (akalika); là giáo pháp hiện pháp lạc trú – nghĩa là những lời dạy nếu đem ra thực tập đúng mức thì quý vị có thể đạt tới an lạc, hạnh phúc và giải thoát ngay trong kiếp sống hiện tại. Giây phút mà quý vị bắt đầu thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười, là quý vị nếm được an lạc, giải thoát và hạnh phúc ngay trong sự thực tập, chứ không phải là vấn đề thời gian, năm tháng.’’

Trong khi thực tập, ta chỉ cần thực tập, sống với pháp lạc, không khởi tâm mong cầu phước đức thì phước đức tự khắc được tích lũy. Sự thật là tôi đã tái sinh trong rất nhiều hình tướng khác nhau mà có thể quý vị chưa nhận ra. Quý vị nghĩ rằng tôi đang ngồi đây với cái thân tướng có chiều cao một thước mấy này, lớn cỡ chừng này là quý vị lầm rồi. Tôi đang biểu hiện khắp mọi nơi và trong nhiều hình thức khác nhau ngay trong giây phút này. Chúng ta phải tập nhìn để thấy sự thật mầu nhiều của thực tại, của thế giới không sinh không diệt, không một không khác, không đến không đi… mà đừng để bị đánh lừa bởi tri giác sai lầm, bởi các tướng trạng bên ngoài. Trong kinh Bụt có nói rằng chỗ nào còn có tướng là chỗ đó còn có sự lường gạt. Chúng ta phải tu tập và quán chiếu để đạt tới cái thấy vô tướng.

(Trích từ tác phẩm “Hơi thở nuôi dưỡng, Hơi thở trị liệu” – Sư Ông Làng Mai)

Kệ truyền đăng năm 2018

Trong khóa tu xuất sĩ với chủ đề “Còn nhau ta còn tương lai” tại Làng Mai, Pháp, từ ngày 26.02 đến ngày 8.3.2018 đã diễn ra lễ truyền đăng cho 27 vị tân giáo thọ. Dưới đây là những bài kệ truyền đăng mà tăng thân thay mặt Sư Ông Làng Mai trao cho các vị tân giáo thọ.

1.  Thầy Thích Chân Nguyên Tịnh
Thế danh:  Trần Hiếu Quang
Pháp danh: Quảng Huy

Căn nguyên lục giác thể đồng quang
Ngũ uẩn hành thâm tịnh thế gian
Chân vọng tùy tâm y tha khởi
Viên thành thật tánh tự an ban.

2. Thầy Thích Chân Pháp Diên
Thế danh: Thái Anh Tuấn
Pháp danh: Tâm Đăng Tú

Cổ pháp vang rền hội diên khai
Bến xưa, quê cũ dựng lâu đài
Quân vương hạ chiếu thi lục độ
Cứu hết trần gian, cứu muôn loài.

            
3. Thầy Thích Chân Pháp Chất
Thế danh: Lê Văn Khanh
Pháp danh: Tâm Nhuận Dụng

Pháp trong cõi bụt hằng sa
Siêng năng chất phác cũng là thệ xưa
Sớm hôm tinh tấn hương đưa
Quán sâu một pháp cũng vừa độ sanh.

4. Thầy Thích Chân Pháp Kính
Thế danh: Bùi Đức Tân
Pháp danh: Tâm Giác Minh

Vạn pháp quay về nương một pháp
Chiếu soi rạng rỡ kính Chân Như
Trăng khuya vằng vặc trời phương ngoại
Rộng nẻo đi về nguyện hà sa.

5. Thầy Thích Chân Pháp Ẩn
Thế danh: Phan Viết Khoa
Pháp danh: Tâm Liên Khiêm

Pháp Bụt ẩn sâu lý nhiệm mầu
Văn tư cần sách thật bền lâu
Mỗi đường kim chỉ đều nuôi dưỡng
Ơn thầy nghĩa bạn quả thánh cầu.

 
6. Thầy Thích Chân Pháp Đại
Thế danh: Nguyễn Quang Nhật
Pháp danh: Tâm Liên Nhẫn

Pháp hoa phương tiện đại thừa
Rồng dâng châu ngọc trời mưa Mạn thù
Bao năm xuân hạ công phu
Sen vàng đỡ gót vân du độ đời.

7. Thầy Thích Chân Pháp Côn
Thế danh: Phan Đặng Duy Thuật
Pháp danh: Tâm Liên Thành

Pháp lành soi sáng ngọc côn sơn
Sạch hết bao nhiêu kiếp tủi hờn
Chuyên tâm học hỏi tỳ ni pháp
Chánh kiến nhìn sâu rõ giả chơn.

 
8. Thầy Thích Chân Pháp Biểu
Thế danh: Matino Toneri
Pháp danh: Peaceful Artist of the Heart

Phápbiểu hiện từ tâm
Cảnh kia đẹp đẽ do chăm đúng thời
Uy nghi đĩnh đạc gọi mời
Độ người khắp chốn thảnh thơi độ mình.

9. Thầy Thích Chân Pháp Lịch
Thế danh: Cao Văn Bình
Pháp danh: Tâm Liên Trung

Rỗng rang giới định nghiêm thân
Pháp sâu hiển lộ trong ngần nước trăng
Công phu trác lịch thâm ân
Bi hoa viên mãn thuyền giăng biển ngoài.

 
10. Sư cô Thích Nữ Chân Lưu Nghiêm
Thế danh: Nguyễn Thị Bích Chi
Pháp danh: Phước Ngàn

Pháp giới thanh tịnh ngọc lưu ly
Nghiêm hành chân niệm thấy chân tâm
Bài hát bản môn tuôn bất tuyệt
Vườn xưa đào lý gảy cung cầm.

11. Sư cô Thích Nữ Chân Lữ  Nghiêm
Thế danh: Nguyễn Thị Duyên
Pháp danh: Tâm Thanh Đạo

Chân thật vun bồi một đức tin
Bạn lữ xây nên đại địa nghiêm
Không gian mở rộng khung trời mới
Lối về soi chiếu mảnh đất thiêng.

 
12. Sư cô Thích Nữ Chân Phượng Nghiêm
Thế danh: Nguyễn Thị Thu Hiền
Pháp danh: Tâm Nhật Tưởng

Phượng hoàng tái sinh từ lửa đỏ
Không đến không đi chẳng bận lòng
Nghiêm trang chào đón vầng nhật nguyệt
Từ bi tiếp độ khắp non sông.

 
13. Sư cô Thích Nữ Chân Giản Nghiêm
Thế danh: Trần Thị Mỹ Hòa
Pháp danh: Tâm Duyên Lai

Giản tuyển muôn hạnh thể dung thông
Nhật dụng công phu nghiêm tự lòng
Vườn thiền tuệ giác vừa khởi sắc
Quê cũ sen hồng đã đơm bông.

 
14. Sư cô Thích Nữ Chân Chỉnh Nghiêm
Thế danh: Lê Thị Thắm
Pháp danh: Tâm Nhuận Hồng

Chỉnh trang dạo bước trời phương ngoại
Nghiêm trì lĩnh hội ý tăng thân
Nụ cười tỏa chiếu hồn thơ trẻ
Mỗi bước đi về bụt hiện thân.

15. Sư cô Thích Nữ Chân Kiên Nghiêm
Thế danh: Nguyễn Thị Diệu Trang
Pháp danh: Tâm Quảng Nghiêm

Kiên tâm tiến bước đường muôn lối
Tình thương soi rõ hướng đi về
Trang nghiêm cười nói trong hoà ái
Đuốc tuệ rạng ngời thoát bến mê.

 
16. Sư cô Thích Nữ Chân Cao Nghiêm
Thế danh: Trần Thị Thanh
Pháp danh: Tâm Hạnh Ân

Tâm cao tầng thượng giới
Thân nghiêm đại địa an
Một sáng về vô tận
Nguyện tung cánh đại bàng.

17. Sư cô Thích Nữ Chân Ưu Nghiêm
Thế danh: Trần Thị Quốc Thái
Pháp danh: Tâm Phước Đạt
Cùng chị em sum họp vui vầy

Mở rộng tấm lòng quyết dựng xây

Tối thắng hạnh chính là ưu hạnh

Chốn tùng lâm một cõi tịnh nghiêm.

 
18. Sư cô Thích Nữ Chân Xương Nghiêm
Thế danh: Nguyễn Thị Thương
Pháp danh: Tâm Thanh Đức

Tông môn pháp bảo mãi xương long
Gia nghiệp giữ nghiêm tại cõi lòng
Hải triều vang vọng từng giây phút
Nguyện ước lên đường bước thong dong.

 
19. Sư cô Thích Nữ Chân Kiệt Nghiêm
Thế danh: Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Pháp danh: Thánh Hiếu Ngộ

Một bước kiệt xuất sen hồng nở
Một lời nghiêm nhẹ thấu sơ tâm
Muôn phương quy tụ bên rừng tía
Tấu khúc vô sinh sáng đạo thiền.

 
20. Sư cô Thích Nữ Chân Vượng Nghiêm
Thế danh: Trần Thị Hiếu
Pháp danh: Tâm Ngọc Hạnh

Trên đỉnh linh sơn còn thịnh vượng
Bước chân chánh niệm vẫn nghiêm soi
Ngày đêm an trú trong địa xúc
Hạt giống trồng gieo hé miệng cười.

 
21. Sư cô Thích Nữ Chân Chiêu Nghiêm
Thế danh: Đặng Thị Yến
Pháp danh: Tâm Liên Thanh

Một lòng khiêm hạ thoả chiêu minh
Nghiêm xây cõi Bụt khắp mọi miền
Một sớm vang ca lời diệu pháp
Tuổi trăng tuổi núi nhập chân nguyên.

 
22. Sư cô Thích Nữ Chân Sứ Nghiêm
Thế danh: Cudorge Dupuis Chloe
Pháp danh: L’amour vivant du coeur

Offrir le Dharma véritable est notre mission
Qui embellit les montagnes et les rivières
En foulant l’herbe ornée de rosée, à l’aube
Notre coeur s’épanouit et embrasse le monde entier.

 

23. Sư cô Thích Nữ Chân Phú Nghiêm
Thế danh: Trần Thị Thu Hằng
Pháp danh: Tâm Nghiêm Vĩnh

Đại ý thiền môn thiên phú quý
Rạng rỡ trang nghiêm hợp quần uy
Cất bước dạo chơi hoa đàm nở
Bảo bối cầm tay vượt thịnh suy.

 
24. Sư cô Thích Nữ Chân Chuẩn Nghiêm
Thế danh: Phạm Thị Lập
Pháp danh: Tâm Liên Hòa

Nhẹ nhàng và chuẩn mực
Ân cần từng nụ hoa
Nghiêm trang bồi giới đức
Tịnh độ có đâu xa.

 
25. Sư cô Thích Nữ Chân  Chuyên Nghiêm
Thế danh: Lê Hồng Nguyễn
Pháp danh: Tâm Phước Hải

Chuyên tâm vun xới đức từ hòa
Nếp học nghiêm thông dưỡng khiêm cung
Một sáng trần gian lên tiếng gọi
Lối cũ quay về rạng tổ tông.

 
26. Sư cô Thích Nữ Chân Trì Nghiêm
Thế danh: Gabrille Dyce
Pháp danh: Tâm Vững Tỉnh – Steady Awareness of the Heart

Holding the heritage of both ancestral lines
Our Pure Land is already adorned
Firmly rooted, fearlessly embracing our true nature
Freely offering joy and healing without discrimination.

27. Sư cô Thích Nữ Chân Sinh Nghiêm
Thế danh: Phan Tố Loan
Pháp danh: Tâm Từ Hòa

Tâm bồ đề dũng liệt
Nguồn sinh khí vô biên
Nghiêm thân thủ hộ ý
Tịnh độ chính là đây.

 

 

 

 

Nhìn lá nghe mưa

(Chân Văn Nghiêm)

Trạm Tịch ngày ni

Con đang ngồi bên góc nhỏ trong phòng tại ni xá Trạm Tịch. Trạm Tịch ẩn mình dưới một ngọn đồi với những con đường quanh co bao bọc cây xanh. Nơi đây sáng chiều vang vọng tiếng đại hồng và lời kinh thân quen. Con thương cảnh núi đồi và tình sư chị, sư em sum vầy bên nhau cùng học, cùng tu nên con thường gọi đùa đây là Phương Bối Am.

Phương Bối trong lòng con bây giờ đông vui hơn, Phương Bối không có nhà rông mà thay vào đó là thiền đường lộng gió lá bay. Ngồi trong thiền đường nhìn ra lá xanh vây quanh như đang ở trong nhà sàn giữa rừng vậy đó. Ngồi đây con thấy rừng cây như che chở, nâng đỡ chúng con và thấy mình thật gần với thiên nhiên. Mỗi ngày tiếng kinh vọng về với núi đồi rồi thấm vào lòng chúng con. Con như nghe rõ lời dặn dò của Thầy: “Về Việt Nam nhớ nhìn lá và nghe mưa cho Thầy”. Để rồi mỗi khi ngồi thật yên trong lòng tăng thân con cảm nhận rõ tăng thân chính là nhà, là nơi cho con trở về. Nơi đó có lời nói chân thành từ đời sống của Bụt, Tổ, được Thầy làm mới lại thành ngôn ngữ sao mà gần gũi như những cơn mưa mỗi ngày tưới tẩm hạt giống Bồ đề, đi vào tâm hồn chúng con và mọi loài nơi đây. Con thấy mình được nuôi sống bằng một nguồn thực phẩm lành mạnh, bằng những lời hay ý đẹp như gột rửa những muộn phiền qua lời kinh bình dị và được tắm mát bằng những giọt nước thanh lương. Tự nhiên con reo lên khi chạm vào sự thật trong câu nhạc kinh “… những cơn mưa pháp tắm mát những mảnh vườn nóng bức, khô cằn…” trong ngày giỗ Sư Tổ Khương Tăng Hội.

Ngày mới đến, không khí nơi đây thật lạnh lẽo và u tịch, cho nên mới gọi là Trạm Tịch, bởi cái âm u và hoang sơ của núi đồi như thiếu nắng, thiếu mưa… Vậy rồi Trạm Tịch trở mình với lời kinh khuya sớm, với tiếng nói cười hồn nhiên, với tấm lòng trẻ ham tu, ham học… Trạm Tịch thay áo mới, cây cối và cảnh quang không còn âm u nữa mà hơi ấm tình người và bếp lửa tình huynh đệ đã làm cho nơi đây thân quen và gần gũi hơn. Con ngồi yên, đôi mắt chạm vào bụi chuối, rặng tre trước mặt và bắt gặp ánh mắt Thầy giữa lòng quê hương. Con chợt nhớ bài học yêu quê hương những ngày còn bé:

“Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ

‘Ai bảo chăn trâu là khổ’

Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao.”

(Quê hương _ Giang Nam)

Yêu cái chân thật và sự sống

Thế rồi con lớn lên, rồi đi tu. Tháng năm sống trong chùa đã cho con một tình yêu mới, yêu những điều bình dị trong cuộc sống hằng ngày, yêu lời kinh tiếng kệ, yêu cây cối quanh mình, yêu con đường đất đỏ, yêu nải chuối, vườn rau… yêu cái chân thật và sự sống. Bao năm xa quê, con ngập ngừng khi trở về quê hương. Cũng bờ rau muống, bụi chuối, lũy tre… mà sao bây giờ cái gì cũng thật mới mẻ nhỉ? À! Thế ra quê hương có liên hệ với mình nhiều lắm, và trong mình có một quê hương thực thụ mà càng tu học mình như được trở về sống và ngắm nhìn quê hương thật rõ qua đôi mắt ý thức cùng lời ca câu hát:

“Quê hương là chùm khế ngọt

Cho con trèo hái mỗi ngày

Quê hương là đường đi học

Con về rợp bướm vàng bay

Quê hương là con diều biếc

Tuổi thơ con thả trên đồng

Quê hương là con đò nhỏ

Êm đềm khua nước ven sông

Quê hương là cầu tre nhỏ

Mẹ về nón lá nghiêng che

Quê hương là đêm trăng tỏ

Hoa cau rụng trắng ngoài thềm…”

(Quê hương_Đỗ Trung Quân)

Bài hát quê hương đã vọng về trong con từ ngày con ở Trạm Tịch. Cứ sáng sớm tinh mơ, mở cửa bước ra khỏi phòng là con cảm nhận được mùi hương tinh khiết của đất trời thật mát mẻ, tinh khôi. Con như cảm nhận sự may mắn của người tu khi được sống với bài kệ:

“Mở cửa nhìn pháp thân

Đời mầu nhiệm không cùng

Lòng dặn lòng tỉnh thức

Dòng nước tâm trong ngần.”

(Mở cửa_Thi kệ Nhật dụng)

Con chợt nhận ra pháp thân của đất trời bao la, hùng tráng và linh thiêng. Và con chỉ cần thả mình trong bước chân nhẹ nhàng men theo lối nhỏ lên đến thiền đường, nơi yêu thương mà con gọi đùa là điểm hẹn của tình huynh đệ, chắp tay xá chào Bụt bằng tấm lòng của một người con thương kính cha trong ngôi nhà tâm linh thân thương, rồi nhẹ nhàng ngồi xuống bên các sư chị, sư em mình, để cảm nhận sự sống trong mình và đất trời gặp nhau.

Học đến gần với mình hơn

Để rồi trong cái yên lặng của ban mai, con thích được cảm nhận rõ ràng hơi thở của mình qua bài kệ hô canh buổi sáng:

“Pháp thân tỏa sáng buổi ban mai

Tĩnh tọa lòng an miệng mỉm cười

Ngày mới nguyện đi trong tỉnh thức

Mặt trời trí tuệ rạng muôn nơi.”

Pháp thân là điều gì đó thật mầu nhiệm mà con học hoài vẫn thấy mới mẻ, nhưng cảm nhận như mỗi ngày thấy mình được đến gần với chính mình hơn thì phải. Chỉ bốn câu kệ ngắn thôi mà học mười năm rồi con vẫn thấy không đủ thiếu vào đâu cả. Có những hôm trời mưa, nước mưa hắt vào thiền đường, tiếng lá cây xào xạc, mở mắt ra nhìn mưa và thấy lá rơi rơi thiệt đẹp. Con như cảm nhận rõ hơn vì sao Thầy gọi thiền đường là Hiên Nghe Mưa. Những cơn mưa pháp của đất trời và những cơn mưa pháp theo tiếng mõ và nhịp thở của chúng con đan quyện vào nhau làm nên những hạt mưa xuân trên quê hương thân yêu:

“Mưa xuân nhẹ hạt đất tâm ướt

Hạt đậu năm xưa hé miệng cười

Người đã tới thăm, trăng một túi

Lá tía tô gọi hạt mồng tơi

Rậm lục thưa hồng chuông gợi bước

Chân hôn mặt đất mắt ôm trời…”

(Cúc cu đúng hẹn _ Sư Ông Làng Mai)

Con mỉm cười nhận ra tín hiệu của mùa xuân đang đến trong cơn mưa nhẹ hạt và những chồi non vươn mình đón nắng ấm ban mai. Bước ra khỏi thiền đường, lòng nhẹ tênh trong nắng sớm, bắt gặp sự mới tinh đầu ngày của mình và cỏ cây hoa lá. Thả những bước chân thân quen ra vườn rau, Trạm Tịch sau những ngày dọn dẹp, chuyển chúng lại bắt đầu thấy những luống cải mầm xanh non đang lên. Trăng treo trên nền trời trong veo như ngọn đèn ấm áp dọi xuống mái hiên ni xá, quây quần sư chị sư em ngồi trò chuyện bên nhau. Thi thoảng tiếng chuông, nhịp mõ, lời kinh vọng lại vào những hôm làm biếng, nghỉ công phu, làm cho nơi đây như đẹp hơn bởi tấm lòng ham tu của các sư em nhỏ. Con thấy như cái ngày ấy trở về qua câu thư pháp nhỏ có nét chữ của Thầy mà sư em con tặng: “Lòng hôm ấy sẽ là lòng muôn thuở”. Bây giờ con như thấy Thầy đang cười và nheo mắt đọc cho chúng con câu thơ năm nào: “…Người đã tới thăm, trăng một túi. Lá tía tô gọi hạt mồng tơi…”

Học nghe mưa

Chúng con luôn thấy bóng hình Thầy trong lời thơ tiếng hát và những câu chữ hay chiếc lá, nụ hoa… Và con thấy có những bài hát con nghe nhiều lần, nhưng bất giác có một ngày câu hát chui tọt vào tâm thức con và ở đó nhắc nhở cho sự tu học và dõi theo con từng ngày. Bây giờ con mới thấm lời Thầy dạy: “Tụng kinh là để lời kinh đi vào mà không phải chỉ tụng cho hay, và một ngày nào đó mình sẽ thấy lời kinh đi ra giúp mình sống với lời kinh và phải luôn tự hỏi rằng những giáo lý thậm thâm vi diệu ấy có ảnh hưởng như thế nào tới hạnh phúc và khổ đau của chính mình?” Và con nghiệm ra rằng, nghe mưa cũng vậy.

Ngày xưa con nghe mưa là tự nhiên nỗi buồn đi theo. Bây giờ con nghe mưa thật bình an không còn những suy tư buồn đau vây quanh. Một cảm giác tự do của tâm thật rõ ràng và chân thật. Con biết mình không nên níu giữ kỷ niệm hay bị tác động bởi một cảm thọ buồn vu vơ không có thật trong con. Con nghe mưa như đang nghe tiếng hát của đất trời, tiếng nói thân thương của một người bạn. Và khi con nghe mưa bình an cũng là lúc con tập nghe kinh bình an, không thêm bớt một cảm thọ, một tri giác nào cả, chỉ có mặt cho hơi thở và lời kinh.

Học nhìn lá

Thưa Thầy, mỗi lần nghe bài hát Cúc cu đúng hẹn con lại thấy những ngày bình minh lên trên ngọn đồi xóm Mới, hình ảnh thầy trò bên nhau leo lên đồi mận, ngồi yên nhìn xuống xóm Mới thiệt đẹp. Và một ngày, khi nghe tiếng chim cúc cu, Thầy dừng lại như nghe tiếng chuông và thưởng thức nắng ấm đầu xuân. Và bấy giờ con như hiểu thêm lời thơ “Rậm lục thưa hồng chuông gợi bước. Chân hôn mặt đất mắt ôm trời” là một hình ảnh rất đẹp và khí khái của người tu. Hình ảnh đó luôn nuôi dưỡng sự thực tập của con mỗi ngày. Để rồi mỗi ngày con tập nhìn lá, nhìn sự sống và sinh hoạt trong tu viện bằng đôi mắt mới và nghe những giọt mưa tí tách rơi trên hiên nhà, trong sân chùa và trong lòng mình. Con nhận ra sau hơn mười năm đi tu, bây giờ con như mới tập tễnh vào chùa để cảm nhận rõ hơn những điều rất thật:

“Tình yêu non nước về trên lá

Nhân loại mừng vui rộn nẻo đường

Hoa lòng trời đất vô cùng nhỉ

Mỗi một mùa xuân lại nhả hương.”

(Đường quê_Sư Ông Làng Mai)

Đó là những câu thơ Thầy đọc cho con nghe vào một buổi sáng con ngồi đưa võng cho Thầy bên lũy tre ở Sơn Cốc. Đôi mắt Thầy nhìn lên tán lá tre như thầm nhủ: “Lại một mùa xuân nữa xa quê!” Con nhớ đó là những ngày giáp Tết, mọi người về Làng an cư mỗi năm một đông hơn, nhất là những năm Thầy bắt đầu bệnh. Tại Sơn Cốc, tiếng võng hòa cùng tiếng kẽo kẹt của bụi tre nghe thật gần với quê nhà. Hai thầy trò ngồi yên lặng bên nhau nghe tiếng hát của lá, tiếng suối róc rách và ánh nắng xuyên qua những tán lá rơi xuống trên vai, trên áo Thầy, cùng nụ cười thầm lặng trong câu thơ “Hoa lòng trời đất vô cùng nhỉ?”như treo lơ lửng trong hư không rồi đọng lại trên tán lá để “mỗi một mùa xuân lại nhả hương”.

Thầy nhìn rất lâu vào màu xanh của lá như đang cảm nhận sự sống thực thụ của quê nhà trên đất Pháp. Dừng lại một giây trên lá mà quê hương như hiện về thật rõ, cho nên mỗi lần Thầy đưa tay cầm chiếc lá và nhìn vào nó là con thấy như sự sống về trong ánh mắt trìu mến ấy. Con thấy có những điều kỳ diệu trong chiếc lá mà lâu nay con không hay, và chắc trong con cũng có nhiều điều mà con chưa biết rõ về bản thân mình. Cả quê hương, ba mẹ và bạn bè quanh con cũng vậy.

Học xây dựng xứ sở của giây phút hiện tại

Lần này con trở lại quê hương để học lại bài học yêu quê hương qua “bàn tay trên liếp cửa”, qua đôi mắt trầm tĩnh và nụ cười trẻ thơ mà Thầy đã sống. Yêu cả những nét đẹp trong sách vở còn ghi lại trên trang lịch sử hay thời gian đang đi qua, hiện tại phút chốc trở thành quá khứ. Và chúng con đang đi tới tương lai trong bước chân thiền hành cùng tăng thân. Trong dòng chảy của sự sống này, tăng thân là con thuyền mà mỗi thành phần trong tăng thân là một tay chèo trên con thuyền Bát nhã vượt qua những khúc quanh trong lòng mình và trong cuộc đời này. Mầu nhiệm thay những giây phút được chiêm nghiệm hạnh phúc và khổ đau của chính mình trong giây phút hiện tại để vẫn thấy mình thích tu, thích học nghề chuyển hóa, chuyển hóa buồn đau, cơn giận, và học cách làm cho mình bớt khổ. Đi tu, con được học lại nhiều thứ bằng con mắt mới, tình yêu mới, con người mới qua sắc màu quen thuộc và tiếng nói thân thương của Thầy, và đến gần với những lời thơ câu chữ thật đẹp:

“…Mái chùa che chở hồn dân tộc

Nếp sống muôn đời của tổ tông.”

(Nhớ chùa _ Hòa thượng Mãn Giác – hiệu Huyền Không)

Khoá tu xuất sĩ 2018: “Còn nhau ta còn tương lai” (26.02 – 08.03)

Thong dong cùng Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong “Walk with me”

Bộ phim Bước chân an lạc (Walk with me) đã và đang tiếp tục được ra mắt người xem tại thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hà Nội. Trang nhà Làng Mai xin được giới thiệu bài viết cảm nhận về bộ phim của tác giả Bùi Lan Xuân Phượng được đăng tại trang Tuổi trẻ online ngày 09.03.2018.

 

 Cảnh trong phim Bước chân an lạc (Walk with me). Phim đang được công chiếu tại VN – Ảnh: BHD

  

Chậm rãi và thong thả

Trong lời tựa cho sách viết vào năm 2006, Thiền sư Thích Nhất Hạnh ghi rằng: “Hãy tưởng tượng một con đường lên núi theo hình trôn ốc và người leo núi đi rất thảnh thơi, không có cảm tưởng mình đang leo núi, quên rằng mình đang leo núi. Đường có hoa thơm cỏ lạ.

Đến đỉnh núi nhìn xuống mới biết mình đã leo tới đỉnh núi. Khi đi xuống cũng vậy, mình đi theo con đường trôn ốc xuống núi.

Cấu trúc của sách Nẻo về của Ý cũng thế, không thật sự là một cấu trúc nhưng cũng là một cấu trúc. Bốn mươi năm trước tôi đã viết Nẻo về của Ý như thế, không có chút dụng công. Ngòi bút rong chơi nơi chốn núi đồi…”.

Bước chân an lạc (Walk with me) được kể theo cách: Lời dẫn chuyện được lấy ra từ những ngôn từ đắt nhất trong cuốn Nẻo về của Ý, còn bối cảnh và hình ảnh thì điểm xuyết một vài sinh hoạt đời thường và những hoạt động điển hình liên quan đến việc tu tập tại Làng Mai.

Không kịch bản. Không nhân vật chính. Thật quá khó để diễn tả bằng ngôn ngữ phim ảnh, chỉ trong gần 90 phút, toàn bộ tinh thần Làng Mai và cốt tủy Pháp môn của Làng Mai.

Do đó, những ai mong cầu qua bộ phim này sẽ hiểu về cuộc đời và thành tựu của thiền sư Thích Nhất Hạnh thì sẽ thất vọng. Mọi thứ đan xen nhau chậm rãi, thong thả, góp nhặt dưới sự liễu ngộ của chính người làm phim.

Cảnh trong Bước chân an lạc (Walk with me)

Vui sống với lẽ vô thường

Phim có nhiều khung hình cận cảnh, thậm chí đại cận, như đặc tả nhà sư nhìn những con kiến chơi đùa trên các xớ chiếu bông, những con bọ cánh cam chạy đâu đó trên sàn gỗ, hai bàn tay của một vị sư đang để trên bụng cảm nhận nhịp thở, rồi chú rùa, cánh bướm nhiều màu sắc đậu trên một đài hoa khô…

Xem phim có cảm giác như người làm phim chẳng bận tâm công việc, cứ rong chơi, kiểu như xách cái máy quay đi lang thang, thấy cái gì đẹp thì ghi lại, mà ghi lại thật tỉ mẩn và đầy mỹ cảm…

Tất cả những điều này đòi hỏi một trái tim biết thấy những điều nhỏ nhặt vốn dễ bị lãng quên trong đời sống thường nhật.

Tinh thần này chính là điểm cốt lõi trong cuốn Nẻo về của Ý, mà ở đó thiền sư Thích Nhất Hạnh mô tả chi tiết bông hoa, chiếc lá, con châu chấu, cánh bướm…

Tinh thần đó là tinh thần của một đời sống chánh niệm – làm việc gì biết mình đang làm việc đó, biết ta đang rửa chén, biết ta đang nấu ăn; nhìn thật sâu, lắng nghe thật kỹ, thấy mùa đông là sự chuẩn bị cho mùa xuân, thấy sự thay đổi, sự vô thường chính là cuộc sống và vui sống với nó.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong phim

 

Thấy núi như thấy pháp

Sau nhiều đoạn chuyển cảnh khá gắt, cảm giác các cảnh không liên quan gì nhau, cho đến cảnh cuối thì người xem mới cảm ngộ rằng hóa ra Bước chân an lạc có một kết cấu chắc chắn.

Mở đầu phim là lời dẫn chuyện bằng câu hỏi tu từ “…Vẫn biết giận dỗi, vẫn thích được ngợi khen, vẫn sẵn sàng khóc cười. Nhưng ở dưới đáy những cái đó còn có gì nữa? Có hay không? Nếu có, sao ta lôi nó lên không được? Nếu không, sao ta cứ đinh ninh rằng có?”.

Mở ra như thế, rồi bỏ ngỏ, rồi đi lang thang và rủ rê người xem cùng đi với mình – walk with me (Hãy đi cùng tôi). Để rồi kết phim là hình ảnh “Tôi trỗi dậy và ngồi trong tư thế tham thiền suốt đêm đó. Không còn gì hết, chỉ có sự vững chãi và an tĩnh. Tôi ngồi như một trái núi và miệng tôi mỉm cười”.

Cấu trúc như thế thì hóa ra không cấu trúc mà có cấu trúc. Hành trình từ sự hoài nghi không biết đến sự tỉnh thức. Hành trình đó làm gì có cấu trúc, có kế hoạch, có kịch bản?

Cảnh trong Bước chân an lạc (Walk with me)

Trong đạo Phật, hình ảnh trái núi vững chãi được hiểu là cái như như, là sự giác ngộ. Thấy núi như thấy pháp. Nhưng pháp ở đâu? Trong cuốn Người vô sự, tác giả Thích Nhất Hạnh viết: “Cái chứa đựng pháp là tâm của ta”.

Vì lẽ đó, với những ai đang đi tìm sự bình an nội tại, có lẽ thấu cảm Bước chân an lạc dễ dàng hơn.

Những âm thanh vi diệu

Âm thanh là một yếu tố gây ấn tượng mạnh trong Bước chân an lạc. Từ những tiếng động thật trong sinh hoạt thường nhật và tu tập, những cuộc trò chuyện đến tiếng chuông tỉnh thức cứ mỗi 15 phút vang lên để ai đang làm gì cũng phải dừng lại, rồi tiếng chuông đại hồng trong mưa gió, tiếng đàn tiếng hát, tiếng ngâm các bài kệ của tăng thân Làng Mai…

Đặc biệt là những đoạn im lặng, rất im lặng, chỉ có thanh âm của thiên nhiên. Im lặng là âm thanh ở tần số vi tế nhất, mà ở Làng Mai gọi là Im lặng hùng tráng – “Noble Silence”.

Đó là pháp âm. Pháp âm có khả năng làm cho tạp âm, tà âm biến mất. Pháp âm có khả năng giúp con người tỉnh thức và giác ngộ.

Bùi Lan Xuân Phượng

 

 Những bài viết có liên quan:

Tâm tình người tu sĩ

Các sư em thương,

Có một sư em hỏi chị: “Sư cô ơi, sư cô đi tu năm nào, làm sao sư cô giữ vững bồ đề tâm để còn tu và sống trong tăng thân cho tới ngày hôm nay?” Khi nghe sư em hỏi vậy, chị nhìn vào mắt của sư em rồi nói: “À, câu hỏi này rất hay. Chị không chỉ trả lời cho một mình sư em, mà chị dành tâm tình này cho tất cả các sư em trẻ đang mang đầy nhiệt huyết, muốn được tu tập, muốn được chuyển hóa thân tâm, muốn nuôi lớn hoài bão yêu thương để thực hiện ước mơ sáng cho người thêm niềm vui, chiều giúp người bớt khổ”.

Chị đến Làng mùa đông năm 1995, tham dự được năm tuần của khóa An cư kiết đông năm ấy. Làng hồi đó còn nghèo, đơn sơ và mộc mạc như làng quê nghèo, chân phương ở Việt Nam vậy. Đời sống của quý sư cô, cũng như các vị thiền sinh đến tu học rất ư là khiêm tốn. Chỗ ngủ chỉ là một tấm ván ép mỏng được kê bằng bốn cục gạch to. Đêm đông sưởi ấm bằng lò củi chứ chưa có sưởi gas, sưởi điện như bây giờ. Ngủ nửa đêm lỡ hết củi là lạnh cóng cả người. Tuy đời sống đơn giản và thiếu thốn như vậy, nhưng khi nhìn quý sư cô trẻ, là sư chị của chị bây giờ, vị nào cũng tươi mát, rạng rỡ niềm tin và đầy hỷ lạc. Và chính bản thân chị cũng được ướp mình trong nguồn năng lượng tươi khỏe, an vui đó.

Mở lối yêu thương

Thời đó chị chưa biết làm thơ. Nhưng đối cảnh, tâm an, chị xúc cảm nên đã ra được một bài thơ. Cho đến bây giờ mỗi khi đọc lại những dòng thơ ấy, chị thấy niềm vui và niềm tin vẫn còn tinh khôi với hai câu cuối của bài thơ:

“Ôi! Tuyệt diệu tình thương Vô ngã,

Đến với tôi tất cả niềm tin.”

Chính hai câu thơ đó là động lực sâu sắc cho chị bước vào tăng thân. Bởi chị thấy được môi trường tu học ở Làng là nơi mà chị đã trông chờ từ lâu. Chị đã gọi về Mỹ xin gia đình cho ở lại Làng tu luôn, nhưng không được sự đồng ý của ba má chị. Thế là chị phải trở về nhà, mang theo nguồn năng lượng an lạc, nhẹ nhàng mà chị đã nuôi dưỡng được trong thời gian tu học ở Làng. Về nhà, chị xin phép gia đình đàng hoàng rồi trở lại Làng xin tập sự và được xuất gia vào cuối tháng Sáu năm 1996.

Xuất gia chưa đầy một năm chị phải về lại Mỹ để thi quốc tịch thành công dân Mỹ. Các sư em biết đó, chị mới tu, còn nhỏ mà phải rời Thầy và tăng thân nên có tâm trạng không muốn về. Nhưng Thầy dạy: “Giấy tờ cần thiết, quan trọng lâu dài về sau. Con về Mỹ, thầy sẽ gởi con cho Sư bà Đức Viên. Bốn tháng sau, thầy qua Mỹ dạy, con sẽ gặp lại thầy và các sư chị, sư anh của con”. Lời chỉ dạy ân cần của Thầy là động lực cho chị yên lòng, mạnh mẽ để về Mỹ lo giấy tờ và ở với Sư bà Đức Viên.

Nhân duyên biểu hiện

Quả thật, bốn tháng sau, vào thượng tuần tháng Tám năm 1997, Thầy cùng ba mươi hai thầy và sư cô qua Mỹ dạy. Năng lượng chánh niệm của một tăng đoàn tươi trẻ tỏa ra đã tạo ấn tượng và gây cảm hứng cho nhiều người hướng về tu tập. Ngay trong chuyến đi này có một số người trẻ phát tâm xuất gia, trong đó có thầy Pháp Ân, thầy Pháp Lạc và sư cô Hằng Nghiêm. Một số sư cô, sư chú trẻ lúc đó chưa có quốc tịch Mỹ để qua Pháp, nên Thầy mới nói với một vị cư sĩ kiếm nơi nào đó để thành lập tu viện. Thế là hội đủ nhân duyên, tu viện Rừng Phong được thành lập ở Vermont vào cuối thu năm 1997. Thầy đưa các sư con mới xuất gia cùng hai sư em khác và chị về tu viện Rừng Phong ngày 11 tháng 11 năm 1997.

Về nơi này, sáng sớm hôm sau là có tuyết rơi, cảnh núi rừng bên đồi tuyết trắng, đẹp tinh khiết như cảnh tiên bồng vậy. Mỗi sáng, thầy trò ngồi thiền, tụng kinh với nhau, năng lượng tu học liền được thiết lập ngay. Thầy trực tiếp dạy thỉnh chuông mõ cho các sư con trẻ. Trước khi về lại Làng, Thầy nhắn nhủ với các sư con rằng: “Này các con, các con là những người đệ tử nhỏ nhất của thầy. Thông thường, người học trò nào cũng muốn được làm thị giả cho thầy, thời Đức Thế Tôn cũng vậy. Nếu các con muốn được gần thầy, ở đây các con hãy chăm sóc cho nhau. Khi các con chăm sóc cho nhau được, thì thầy luôn có mặt bên các con. Thầy sẽ gởi Sư cô Chân Đức qua chăm sóc và dạy dỗ cho các con”. Nhân duyên ban đầu thành lập tu viện ở Mỹ cho đến nay thấm thoát đã tròn 20 năm. Thầy Pháp Ân, thầy Pháp Lạc, sư cô Hằng Nghiêm nay cũng đã xuất gia tròn 20 năm, bàn chân của các vị cũng đã bao lần giẫm lên vô sinh của lá thu qua bốn mùa thay lá.

Trăng tỏ gió nâng hương đồng nội

Các sư em thương, thỉnh thoảng chị có những tư duy ngộ nghĩnh như thế này: “Mình đi xuất gia cũng giống như một chàng hiệp sĩ vào trận, trước mặt là bao mạo hiểm, thách đố với nội tâm”. Cũng giống như những bạn trẻ ở đời kết hôn với nhau, có lẽ hôn nhân cũng là một cuộc mạo hiểm đầy thử thách. Mới gặp, cảm mến nhau, vội vã tìm hiểu về nhau, thể hiện cho nhau những gì đẹp và yêu kiều nhất. Họ cảm thấy người này hiểu, thương, hợp với mình, họ đồng ý cưới nhau. Nhưng khi về sống với nhau, mới vỡ lẽ ra có quá nhiều khác biệt. Là người phát tâm xuất gia cũng vậy, mình cũng có những cái tưởng. Mới đầu mình bắt gặp và tiếp xúc với hình ảnh của các vị xuất sĩ, trái tim mình bị đánh động, rung cảm trước sự thanh thoát, đẹp và thánh thiện. Mình muốn phát tâm sống như các vị xuất sĩ kia. Nhưng khi vào sống trong tăng thân, thực tế không như mình tưởng nên mình thất vọng, buồn khổ, đòi hỏi, tủi hờn. Chẳng ai có cái nhìn giống ai nhưng mình cho cái “cho là” của mình mới đúng hơn cái “cho là” của người khác. Trong đời sống hằng ngày, nếu mình thiếu đi công phu hàm dưỡng thì chắc hẳn mình sẽ gặp phải những khó khăn, chùn bước trước mọi khác biệt. Có khác gì cặp vợ chồng trẻ ở ngoài kia, phải không các sư em?  

Sống trong tăng thân, anh chị lớp trước nuôi dưỡng lớp sau, nuôi nhau mà đi tới. Chúng ta sống trong một tăng thân đa văn hóa, dĩ nhiên cũng song hành với nhiều sự khác biệt. Chỉ có công phu tu tập của mỗi tự thân, hành trì uy nghi và giới luật là chất keo đem tới sự hòa hợp, kết lại với nhau, giúp nhau chuyển hóa, cùng tăng thân mang yêu thương đến cho mọi người. Các sư em đừng quên nắm lấy cơ hội, biết mình có nhiều may mắn, để sau này không hối tiếc là mình đã không biết nắm lấy cơ hội mà tăng thân đã cho mình.

Mặc cảm xây thành chợt vỡ tung

Các sư em có biết không? Sống trong tăng thân, chị có cơ hội lưu chuyển nhiều trung tâm. Sinh hoạt với các sư em, chị thường được hỏi một câu hỏi giống nhau là: “Làm sao để chuyển hóa năng lượng mặc cảm trong con, vì con thấy con không giỏi”. Lạ lắm các sư em à, có bao giờ các sư em nhận ra rằng mặc cảm tự ti cũng chính là mặc cảm tự tôn không? Cả hai năng lượng này đều khống chế mình, làm cho mình không hài lòng và không chấp nhận những yếu kém, đồng thời cũng thiếu luôn khả năng nhận diện những tài năng của mình. Chính mình không có khả năng chấp nhận mình mà chờ đợi người khác công nhận mình thì khổ lắm. Hồi chị mới vào tu, phải học vi tính để làm việc, chỉ số thông minh để học vi tính của chị khiêm tốn quá nên học hoài vẫn thấy mình “ngu”. Nhờ thấy mình “ngu” nên mới đi tu. Và cho tới bây giờ, chị vẫn thấy mình còn “ngu”, nên mới còn hứng thú để tiếp tục tu. Khi nào mình thấy mình “ngu” thì mình mới kiên nhẫn, mở lòng khiêm cung trước mọi vấn đề sư em ạ. Chỉ khi nào mình biết mình, niềm tin đong đầy, và còn một tấm lòng muốn tu, muốn cống hiến thì các sư em sẽ thực hiện được chí nguyện ban đầu của mình. Các sư em hãy luôn nhớ quay về tự hỏi lòng mình bây giờ đang ở đâu? Niềm tin của mình còn tròn đầy và mạnh mẽ không? Các sư em đừng chờ đợi và đòi hỏi phải được công nhận mới thỏa mãn và hạnh phúc. Hãy thành thật với những yếu kém, vụng về của mình. Hãy nuôi mình bằng những bước chân an lạc, đầu tư cho mình qua hơi thở miên mật. Mỗi buổi ngồi thiền, tụng kinh là một cơ hội. Tất cả những yếu tố này sẽ giúp các sư em vượt thoát mặc cảm. Đừng để cơ hội của mình tuột khỏi tầm tay nha các sư em.

                                  Thương ai mấy dặm đoạn trường

                                  Vòng quanh lên xuống vấn vương buộc ràng

                                  Hôm nay em bước thênh thang

                                 Giữa hoa đồng nội tâm an cõi trần.

Thủy chung vẫn một niềm tin

Chị đã kể cho các sư em nghe bước ngoặt đi xuất gia của chị, với sự tiếp xúc dung dị ban đầu nhưng lại sâu sắc, đọng lại trong chị nhiều ấn tượng, để rồi “đến với tôi tất cả niềm tin”. Niềm tin đó của chị bây giờ còn lớn hơn xưa, thấy mình có nhiều may mắn còn được ở trong tăng thân. Vẫn còn nhiều cảm hứng và yêu quý sự thực tập. Dù lắm lúc gặp phải nhiều khó khăn và đối diện với những thử thách chông gai, nhưng chị vẫn chưa sờn lòng. Đó là nhờ chị luôn thắp sáng niềm tin nơi tự thân.  

Đôi khi tôi thích trở về

Nhìn em thấy rõ chưa hề đổi thay

Nâng niu từng chút hiển bày

Vào ra sâu chậm bậc thầy hiểu thương.

(Chân Hỷ Nghiêm)                              

Hãy ngắm dùm tôi những đợt mưa rào

 

Hơi thở của bầu trời

 

Bạn thân!

Mỗi ngày mới, tôi thường ra đứng ở trước hiên nhà để nhìn ngắm bầu trời. Mùa đông đến thật nhanh, phải chờ lâu lắm thì trời mới sáng. Thời tiết khá lạnh, nên mỗi lúc thở nhẹ là tôi nhìn thấy làn khói từ hơi thở của mình. Thú vị lắm! Màu của nó bàng bạc như khi bạn mở nắp vung một nồi cơm mới nấu, hay là màu của những làn sương. Mấy ngày này, buổi sáng nào sương cũng giăng tràn. Nhìn những làn sương buông đều lên đám cỏ, tôi thấy chúng là hơi thở của bầu trời, như một màn tơ kéo trời xuống gần với đất hơn. Mỗi lần bước đi trong sương, tôi thấy từng hạt mong manh theo nhau về đậu trên khuôn mặt mát lạnh, mỗi hạt mang theo một thông điệp lạ lùng. Sương có thể làm sờn dần vai áo, có thể làm lạnh khuôn mặt và đôi bờ vai, có thể sẽ không thấy rõ nụ cười bạn trong một sớm mai, nhưng lại làm tôi như hòa vào và tan theo buổi sáng!

 

Như là để cho đi

 

Bạn ơi!

Từ khi đặt chân đến đây, tôi chỉ đếm được mấy mươi lần mặt trời đi ngủ, hoặc chỉ vài lần hồ sen xóm Thượng phản chiếu con trăng to tròn. Vậy mà lại có cảm tưởng mình đã ở đây lâu lắm! Tôi được đi lượm táo, được nghe hát thánh ca, hàng ngày nghe ai đó gọi tên bốn mùa với những sắc màu riêng biệt. Người bạn cùng phòng tôi cần mẫn lắm, mỗi lần trang trí gian phòng là khuôn mặt bạn ấy hớn hở hẳn lên. Bức tranh mùa thu vừa tháo xuống, thay bằng một biểu tượng của mùa đông với con đường phủ tuyết trắng tinh, và một bức tranh khác cho mùa xuân năm sau với cành hoa anh đào. Bạn ấy gìn giữ gian phòng luôn gọn gàng và tươi mới, vì tâm bạn đó sáng như một vì sao. Tôi trầm trồ vì không ngờ bạn tôi lại yêu đời đến thế! Đúng là có những người sinh ra như là chỉ để cho đi những hoa trái của tâm hồn. Vì trong họ đã có sẵn kho tàng của những điều tươi đẹp. Bốn anh em trong gian phòng nhỏ đến từ bốn châu lục khác nhau, ai cũng thích sống chậm lại, ai cũng thích thảnh thơi nên thấy nhau thân quen như là một. Tôi cảm thấy những sở trường, những yếu kém của bốn chúng tôi đều là chuyện chung, chẳng của riêng ai cả. Mùa này chúng tôi dành nhiều thời gian ngồi lại bên góc trà, bên bức tranh mùa đông, thi thoảng kể về cái hay của từng mùa trên từng đất nước. Ai cũng muốn đem bốn mùa nơi mình sinh ra về trong gian phòng chung bạn ạ! Ở đây bốn mùa thật hẳn hoi, chỉ cần mở mắt cho tròn mỗi khi sáng trời thì sẽ nhìn thấy những sắc màu thay đổi. Thay đổi có ở khắp nơi, trên cánh đồng, trên ngàn cây… hay trên những khuôn mặt nơi đây nữa.

 

Để là chắt chiu

 

Thật lạ, những thay đổi quá nhiều đôi khi làm tôi thèm những cái ít đổi thay hơn. Có lần trong đêm Giáng sinh, bỗng nhiên cảm thấy lạc lõng giữa “biển người xa lạ”, tôi nhắm mắt lại, trong đầu hiện ra hình ảnh của Làng Mai Thái, nơi chỉ có hai mùa nắng mưa, nơi đất trời đổi thay khi lòng người phải trở về sâu lắng. Tôi bỗng thèm cái vị chua của ổi, cái vị ngọt của đu đủ vườn, hay cái vị chao đậm đà trong bát cơm chiều ngồi phía sau nhà bếp ngắm mặt trời lặn. Tôi nhớ những cơn mưa đầu mùa nặng hạt, xói mòn đất cát trên con đường mới đổ quanh đồi An Ban. Những ngày mưa lớn, nước ở đâu trên đồi ào ào tuôn xuống qua những mỏm đá lớn sau thất Nhìn Xa, tạo thành dòng thác lạ kỳ. Tôi thích cái cảm giác sau cơn mưa, đi dạo một vòng tu viện, ngắm nhìn đất trời trong chiếc áo mới, thơm tho và tinh sạch. Làng Mai Thái cũng đầy chất thơ, bạn ạ. Những hình ảnh đó bây giờ trong tôi vẫn còn rõ lắm, vì tôi vừa rời xa chúng mới đây thôi!

 

 

Tôi thích cái cảnh đi học ngôn ngữ với mọi người, điểm hẹn lý tưởng của chúng tôi là con đường mòn rải sỏi dưới hàng me, nơi những cái xích đu là chiếc ghế lý tưởng cho những người đến sớm. Dưới hàng cây râm mát ấy, chúng tôi tập nói tiếng Anh. Nếu có người khách lạ đến thăm, sẽ không thể nhận ra đó là một lớp học thường ngày, mà là khung cảnh tươi vui khi những bóng áo nâu đang vui chơi trong thế giới thần tiên của họ. Đến giờ tôi cũng không nhớ rõ là đã học được chữ tiếng Anh nào nữa, chỉ nhớ tiếng cười giòn khi ai đó đong đưa chiếc xích đu, hay cái vẻ ngây ngô của các thầy, các sư cô hỏi nhau một câu Anh văn nào đó.

 

Những chiều cùng anh em đi hái xoài, chúng tôi ngồi tận hưởng ngay dưới gốc cây. Những cây xoài ngọt thì dù chưa chín cũng chẳng đến lượt tôi đâu, trong khi những cây xoài chua đã chín rồi cũng trở nên ngọt lịm. Rồi những chiều sau giờ pháp đàm ngày quán niệm, chúng tôi ai nấy đều mang giày ùa ra sân bóng, như quên hết mọi thứ trên đời, chỉ còn cái đảo chân với trái bóng tròn, và tiếng cười đùa sảng khoái. Tối đến mệt lử, ăn tối chia nhau vài cọng rau vườn, vài nhúm rong biển khô, đôi lúc nuốt chẳng trôi, vậy mà thầy lớn thầy bé vẫn cười vang góc nhỏ. Cái cảm giác chạy theo trái bóng giữa đám cỏ xanh với trời, mây, nắng, gió sao mà sung sướng quá! Cái oi ả xứ Thái, anh em ai cũng chung một màu da rám nắng, chúng bắt đầu làm tôi khắc khoải, chạnh lòng vì một cái gì đó gắn bó, quê hương…

 

Tôi muốn trải lòng những ký ức này cùng bạn, để là ghi nhớ, để là chắt chiu. Có thể thật lâu sau tôi mới được trở về, thăm hai cái mùa thân quen dung dị. Nếu bạn có ghé qua nơi chốn ấy, hãy ngắm dùm tôi những đợt mưa rào. Ở đó anh em tôi hiền lành và ngây ngô lắm! Có những giọng hô canh vang vọng rừng trưa, những tiếng cười trong như tiếng kinh sớm tối, những phiến đá xanh như cũng có linh hồn. Nơi cụ già có thể trở thành bé thơ, và là nơi tôi thấy những tuổi thanh xuân dồn hết sức trẻ cho mảnh vườn chung chưa bao giờ tính toán. Vườn Ươm là chiếc nôi của tuổi trẻ tôi, nơi những con đường tôi đã đi qua hay hàng tre anh em trồng từ cái thuở ban sơ đều trở nên huyền thoại. Với tôi chúng gần gũi lắm, êm đềm như một giấc mơ trưa, chỉ cần làn gió thoảng qua là tôi được trở về và ngủ yên nơi gốc rễ.

 

 

Tương duyên

 

Sáng hôm trước, lúc đang ngồi nơi góc nhỏ nhìn ra cánh rừng, bỗng có một người anh em gõ cửa vào phòng và đến ngồi cạnh bên. Chẳng nói gì cả, tôi chỉ cười mỉm rồi đưa hộp bánh đã mở sẵn ra mời khách. Vị ấy lấy bánh ăn tự nhiên mà cũng lặng im. Tôi cũng cầm bánh lên, hai người cùng ngồi ăn bánh, kiệm lời, mắt hướng ra bên ngoài đợi ngắm những chiếc lá rơi thi thoảng. Người anh em đó sau một lúc ngồi yên như thế thì đứng dậy vỗ vai tôi rồi rời đi với một nụ cười rất nhẹ, tôi thấy lòng mình cũng nở hoa. Hiếm khi chúng tôi không nói gì mà lại hiểu nhau nhiều như thế! Đúng là khi đã nhàn rồi thì hai dòng tâm gặp nhau sẽ cho ra những điều tươi mới, ngôn ngữ không cần nhiều mà cũng thấy lưu thông. Niềm vui huyên náo thường đến đi chóng vánh, còn niềm vui ở lại thật lâu thì lại rất kiệm lời. Những gì trân quý thường bộc bạch một cách giản đơn, và cảm giác bình an tỏa ra khi để tâm vào những điều rất bé. Tôi sẽ tập nuôi lớn một nguồn tâm hài hòa mà khoáng đạt, để cái xa xôi về không gian chẳng còn là ngăn cách nữa, vì khi ấy tôi với bạn đã thật gần nhau ở trong lòng.

 

Bỗng hóa dài lâu

 

Chiều nay, một chiều cuối năm, tôi cùng với một người bạn đi ra ngoài để mua vài món đồ. Chưa ra hết con đường xóm Thượng thì hai chúng tôi vỡ oà, vì hoàng hôn rực rỡ quá! Bạn tôi nói: “Ôi! Nhìn đi! Hoàng hôn cuối cùng của năm 2017, chỉ đến một lần duy nhất, sẽ không bao giờ ta được ngắm hoàng hôn của NĂM 2017 thêm một lần nào nữa đâu!” Tôi giật mình, lâng lâng hết sức! Lúc đó, tôi nhận ra cái vẻ diệu kỳ mà mong manh của từng mầm sống. Những gì đẹp thường rất đỗi mong manh, và vì mong manh nên chúng càng xinh đẹp. Cái ý niệm mơ hồ về thời gian bỗng tan đi như bọt sóng. Hai chúng tôi cứ hướng mắt về phía tây, nơi ánh nắng chiều xuyên qua rừng cây lặng lẽ. Tối đến mà trong đầu vẫn còn dư âm câu nói: “Hoàng hôn cuối cùng của năm 2017”.

 

 

Đêm giao thừa, tôi sẽ để ý tới những khuôn mặt, những nụ cười cuối cùng của năm 2017. Tôi cũng sẽ để ý đến những xúc cảm cuối cùng của mình, cho dù là những thoáng đãng tâm tư hay là nỗi cô đơn đến đi bất chợt. Tôi hứa sẽ viết xuống biến chúng thành con chữ, để tâm hồn là thứ mình hoàn toàn có thể gọi tên. Cứ tưởng những gì cuối cùng thường dễ làm ta hối tiếc. Nhưng bạn biết không? Lòng tôi bây giờ mới lắm, mới như cánh đồng vừa được cày xới ngoài kia. Lần cuối cùng mà bỗng hoá dài lâu bạn ạ! Tôi có nhiều tin tưởng vào những tuổi thanh xuân đang có mặt nơi hai mùa nắng mưa kia lắm! Họ đang vẽ một bức tranh diệu kỳ. Anh em còn để ngỏ những con đường cho đôi chân tôi giẫm lên, những quả ổi treo trên cành chờ bàn tay tôi với tới. Thật vui khi cảm thấy mình hoà vào chốn ấy ngay tại nơi này. Thời gian sẽ khó lấy đi những gì đã qua, không gian sẽ khó ngăn ta trở về. Bạn hãy đi hết những tháng năm, để nhận ra nơi nào ta đi qua đều trở thành vô giá. Và bạn sẽ mỉm cười, một nụ cười đáng nhớ. Nó vẫn nở dù đã qua bao mùa gió mưa. Còn tôi, sẽ giữ cho riêng mình những buổi chiều nghiêng nắng, dưới gốc cây ngồi chấm xoài chua muối ớt. Biết đâu có lúc tôi cần đến chúng thì sao?

 

(Chân Pháp Khả)

Đường về nhà

(Phiên tả pháp thoại của Sư Ông Làng Mai vào đêm Giao thừa Tết Mậu Tý – ngày 06.02.2008)

 

Hôm nay là ngày 30 Tết. Bây giờ tại thiền đường Nước Tĩnh, xóm Thượng là 3 giờ 8 phút chiều. Ngày Tết Việt Nam có giá trị tương đương với ngày Giáng sinh ở Tây phương. Ở Tây phương trong ngày Giáng sinh, người nào cũng tìm cách về với gia đình. Tuần trước bên Trung Quốc có bão tuyết rất nhiều. Hàng trăm ngàn người bị giữ lại phi trường vì máy bay không cất cánh. Xe lửa ở nhà ga cũng không chạy được. Rất nhiều người lo lắng mình sẽ không về nhà kịp để ăn Tết. Hôm nay không biết đã có bao nhiêu người về được tới nhà?

Trong chúng ta ai cũng có niềm thao thức muốn về nhà. Nhà là một nơi mà ở đó chúng ta cảm thấy đầm ấm, hạnh phúc và được ôm ấp bởi tình thương. Có những người chưa bao giờ từng có nhà, tại vì tuổi thơ của họ có nhiều sóng gió. Bố mẹ chưa bao giờ thương nhau, làm khổ nhau và gia đình tan vỡ. Có những người trong chúng ta may mắn tìm được tới tăng thân và tìm thấy nhà của mình nơi tăng thân. Cũng có nhiều người trong chúng ta vừa có gia đình huyết thống vừa có gia đình tâm linh. Hai gia đình đó nâng đỡ nhau, nương tựa nhau. Gia đình huyết thống nâng đỡ, giúp xây dựng gia đình tâm linh và gia đình tâm linh nâng đỡ, giúp xây dựng lại gia đình huyết thống.

Việt Nam có câu ca dao:

“Chim bay về núi tối rồi

Sao không lo liệu còn ngồi chi đây?”

Trời đã tối, những con chim bay về núi vì ở đó có nhà của chúng. Còn anh, tại sao lại ngồi thơ thẩn mà chưa lo về nhà đi thôi?

 

Vua Trần Thái Tông là một người thực tập Thiền rất sâu sắc. Ngài là một nhà Phật học đã sáng tác những tác phẩm về Thiền được truyền lại cho đến nay. Vua đã nói tới sự tu tập như là để về được nhà của mình. Vua đã chú giải Kinh Kim Cương Tam Muội và trong bài tựa Vua đã viết như thế này:

“Chỉ vì sự tập hợp huân nhiễm lâu đời của chúng sanh mà phát ra sóng gió tri kiến của thần thức (tức là hành duyên thức). Vì chúng sanh buông mình theo con đường ô trược che lấp nên không biết đem ánh sáng tuệ giác để chiếu soi, khiến cho bốn phương thành ra xứ lạ, mơ hồ cho nên không biết rõ lối về nhà”.

Nếu chúng ta cảm thấy chung quanh ta xa lạ, cảm thấy bơ vơ không nơi nương tựa, ta cảm thấy mình không có quê hương là tại vì ta không biết dùng ánh sáng của tuệ giác để chiếu soi. Khi chiếu soi được thì ta biết ngay con đường về nhà. Con đường về nhà không xa, ta không cần lâu ngày để đi về. Trong bốn mươi ba công án của vua Trần Thái Tông, có công án liên hệ tới vấn đề “về nhà’’.

Cử (chủ đề của công án): Một vị xuất gia hỏi Đức Văn Thù: “Nếu tất cả vạn pháp quay về một pháp thì pháp đó quay về đâu?” (Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ?) Đó là câu hỏi, là một công án. Tất cả đi về một, vậy một đi về đâu? Đức Văn Thù trả lời: “Chín khúc sông Hoàng Hà”.

Sông Hoàng Hà (Yellow River) là một con sông rất dài, có những đoạn có thác có ghềnh, mà chín khúc thì con đường về cũng khá xa.

Vua Trần Thái Tông đưa ra lời Niêm (lời nhận xét ý nghĩa của công án):

“Hữu thời nhân hảo nguyệt

Bất giác quá Thương Châu.”

Có nghĩa là: Gặp lúc vui trăng sáng, không ngờ vượt Thương Châu. May mắn mình tiếp xúc được và vui với ánh trăng thì mình vượt qua được chín khúc sông Hoàng Hà trong giây lát.

Bài Kệ (kệ tụng hướng dẫn để nhìn sâu vào công án) là:

“Hoàng hà cửu khúc vị quân cử

Một thiệp đồ trình tự đáo gia

Bạch trú kỷ đa khai nhãn vọng

Bất tri Diêu tử quá Tân La.”

Trong Sử Luận dịch:

“Chín khúc sông Hoàng khai tuệ nhãn

Đường xa không bước vẫn về nhà

Mở mắt bao lần quan sát lưới

Không dè chim hạc đã bay qua.”

Nếu có tuệ nhãn thì con đường không phải là chín khúc sông Hoàng Hà nữa mà ta về nhà ngay trong một khoảnh khắc. Đâu cũng là nhà. Vì vậy tuệ giác rất quan trọng!

 

 

Trong bài kệ mà vua Trần Thái Tông viết về bốn ngọn núi cũng có một bài nói đến chuyện ‘‘về nhà”. Đối với vua thì mỗi người trong chúng ta đều có sự thao thức muốn về nhà. Có thể vì những nguyên do nào đó mà ta bị lưu lạc, ta cảm thấy không có gốc rễ, không có quê hương. “Tứ sơn” tức là bốn ngọn núi. Đây là hình ảnh Đức Thế Tôn đưa ra khi thuyết pháp cho vua Ba Tư Nặc (Pasenadi). Một hôm, Đức Thế Tôn nói với vua Ba Tư Nặc:

– Giả dụ trong lúc Bệ hạ đang ngồi chơi thì quân tình báo tới nói với Bệ hạ là ở phương Bắc có một ngọn núi lớn đang từ từ di chuyển lại gần. Một đoàn thám tử khác lại đến báo cáo rằng ở phương Nam có một ngọn núi rất lớn đang di chuyển tới gần, và phương Tây, phương Đông cũng vậy. Mỗi phương có một ngọn núi đang di chuyển tới gần, áp lại và mình không còn không gian để sống nữa. Nếu vua nghe tin đó thì sẽ phản ứng như thế nào? Bốn ngọn núi đó tượng trưng cho sinh, lão, bệnh, tử, tức bốn tai nạn của con người.

Sinh, lão, bệnh, tử là bốn tai họa, bốn sự thật. Chúng đang vây quanh, đang xáp lại từ từ. Trong khi đó thì ta không thấy mà cứ nhởn nhơ. Như vậy thì làm sao mà một ngày nào đó ta có thể thoát được?

Vua Ba Tư Nặc nói:

– Nếu biết bốn tai nạn (sinh, lão, bệnh, tử) đang vây quanh và đang siết chặt thì con đường duy nhất là phải tu tập trong giây phút hiện tại để có thể thoát ra.

Bụt nói:

– Hay lắm!

Vua Trần Thái Tông khi đọc tới đoạn kinh về bốn ngọn núi đó thì có cảm hứng. Vua đã ngồi thiền về bốn núi và đã chứng ngộ. Vua ngồi xuống viết một bài về bốn núi sinh-lão-bệnh-tử, và đây là bài kệ thứ nhất trong bốn bài kệ đó (Nhất Sơn Kệ). Trong bài kệ này, vua Trần Thái Tông muốn nói: Hãy tỉnh dậy và tìm đường về nhà lập tức.

“Chân tể huân đào vạn tượng thành

Bản lai phi triệu hựu phi manh

Chỉ sai hữu niệm vong vô niệm

Khước bội vô sinh thụ hữu sinh

Tị trước chư hương thiệt tham vị

Nhãn manh chúng sắc nhĩ văn thanh

Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách

Nhật viễn gia hương vạn lý trình.”

Bản dịch của Thầy Làng Mai:

“Chân như huân đúc vạn muôn hình

Vốn không tướng trạng diệt và sinh

Cũng do hữu niệm quên vô niệm

Nên bỏ vô sinh chuốc hữu sinh

Mũi vướng hương thơm lưỡi vướng vị

Mắt mờ sắc tướng tai âm thanh

Lênh đênh làm khách phong trần mãi

Ngày hết quê xa vạn dặm trình.”

Hai câu cuối có nghĩa là cứ đi lang thang suốt đời (Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách), trong khi đó thì ngày tháng đã hết và quê hương thì còn rất xa (Nhật viễn gia hương vạn lý trình). “Gia hương” là quê nhà, còn “vạn lý trình” là xa ngàn vạn dặm.

Bài kệ nói: Vì không có tuệ giác, vì vọng tưởng nên đánh mất vô sinh mà vướng vào hữu sinh, đánh mất vô niệm mà vướng vào hữu niệm. Triết lý của bài kệ rất sâu sắc, chứng tỏ kiến thức về Phật học của vua Trần Thái Tông rất thâm uyên.

Hai câu “Lênh đênh làm khách phong trần mãi, ngày hết quê xa vạn dặm trình” một lần nữa cho ta thấy: Đối với vua Trần Thái Tông, sự tu tập hàng ngày là để có thể trở về quê hương đích thực của mình.

Xây dựng quê hương mới để trị liệu và chuyển hóa

Trong mấy tuần qua, khi học Hoa Nghiêm kim sư tử chương, chúng ta có nói về tinh cầu nhỏ của Hoàng tử bé. Hoàng tử bé đã tới từ tinh cầu của mình. Mỗi chúng ta đều có một tinh cầu riêng. Đó là thế giới của tuổi thơ, của kỷ niệm, của cái gì rất riêng biệt của mình. Ta đến với tăng thân từ tinh cầu của riêng ta. Trong tinh cầu riêng của ta có thể có sóng gió, có nỗi buồn đau, có những kỷ niệm, những thương yêu và hạnh phúc. Nơi đó có thể là nhà, là quê hương của ta, quê hương tuổi thơ. Nơi đó cũng có thể có những vết thương sâu đậm chưa lành mà ta còn đang mang trong lòng. Khi tới với nhau như một tăng thân chúng ta thành lập một tinh cầu mới, một tinh cầu tập thể. Từ những tinh cầu cá nhân, chúng ta tới với nhau để lập ra một quê hương mới có tính cách tập thể. Đó là gia đình tâm linh của chúng ta. Chúng ta đã xây dựng tinh cầu đó. Tăng thân là một nơi nương tựa. Nếu tạo được tình huynh đệ, tạo được kỷ niệm đẹp và tình thương thì tinh cầu đó sẽ là quê hương mới của chúng ta và cũng là nơi nương tựa cho những người khác.

 

 

Ta hãy tưởng tượng có một số tinh cầu nhỏ sắp thành vòng tròn và ở giữa là tinh cầu mới, tinh cầu chung của tất cả mọi người. Chúng ta đang cùng xây dựng tinh cầu mới đó. Ta đang học cách xây dựng. Có thể trong quá khứ vì lỡ lầm nên ta đã gây ra khổ đau và tan vỡ. Những kỷ niệm đó còn trong ta. Khi tới với nhau như một tăng thân, chúng ta tạo ra một thế giới mới. Vì được thừa hưởng tuệ giác của cha ông nên ta biết cách xây dựng trở lại. Những cái ta xây dựng trong tinh cầu mới có tác dụng chữa trị những đổ vỡ, những vết thương trong tinh cầu bé nhỏ của ta. Chúng ta có một quá khứ. Quá khứ đó có thể có những kỷ niệm êm đẹp, có tình thương và sự ấm áp. Quá khứ đó cũng có thể có những vết thương rất nặng, những tan vỡ, những buồn đau. Nhưng ta không thể từ chối quá khứ đó, tại vì đó là gia tài, là tinh cầu của ta. Ta đem quá khứ đó tới trong hiện tại. Và nhờ tiếp xúc được với tăng thân, với pháp Bụt mà ta biết cách để trở về dọn dẹp, tái thiết và xây dựng lại tinh cầu riêng của mình.

Có những sư cô, sư chú hay những Phật tử cư sĩ đã đạt tới sự chuyển hóa sau khi tu học một thời gian. Họ đã đem hạnh phúc đó về nhà để giúp cho bố mẹ và anh chị em chuyển hóa. Như vậy quá khứ vẫn còn trong hiện tại. Sự tu tập của chúng ta có khả năng thay đổi cả quá khứ. Pháp Bụt rất cao siêu, rất mầu nhiệm. Ta có thể sử dụng mỗi giây phút để làm mới lại, trị liệu và chuyển hóa. Trong khi xây dựng tăng thân trong giây phút hiện tại thì ta cũng đồng thời xây dựng lại quá khứ của mình. Tại vì ta có hiện tại và có quá khứ cho nên ta cũng có một tương lai, như ý trong một bài hát của Tịnh Thủy: “Ta vẫn có ngày mai, ta vẫn còn quá khứ”. Biết rằng mình vẫn còn quá khứ, mình vẫn có ngày mai nên hôm nay mình có thể sống an lạc, nhịp nhàng trong tình huynh đệ.

Nét đặc biệt trong văn hóa Việt Nam

Trong văn hóa Việt Nam có những yếu tố rất lạ kỳ. Ta sẽ không tìm ra được chữ trong ngôn ngữ Việt Nam để dịch từ “I” và “You”. Người ngoại quốc rất ngạc nhiên, họ hỏi làm sao mà ta có thể nói chuyện được nếu không dùng từ “I” và “You”? Vậy mà người Việt vẫn nói chuyện được. Chữ “tôi” mà ta dùng để dịch chữ “I” có nghĩa là mình chỉ đáng làm tôi tớ của người kia thôi. “Tôi” là chữ dùng để xưng đối với vua, với chủ của mình như “vua-tôi”, “quân-thần”. Vua tức là “quân”, “thần” tức là tôi. Chữ “tôi” từ đó mà ra. “Tôi” là tôi tớ, dịch cho đúng nghĩa là: your servant (À votre service, je suis votre servant). Chữ “ông” có nghĩa là my grandfather.

Lúc gặp nhau, trước khi nói chuyện thì người Việt phải thiết lập một sự liên hệ gia đình. Nếu người kia trẻ hơn thì mình gọi người đó là “em”, nếu người kia trẻ lắm thì mình gọi là “cháu” hay là “con”. Nếu người kia lớn hơn thì ta gọi là “chị”, là “anh”. Nếu người kia lớn lắm thì ta có thể gọi là “cô” hay “dì”. Nhưng bất kỳ chữ nào được sử dụng để gọi người kia cũng phải định rõ được chức vị trong gia đình. Gặp người lớn thì mình thưa “chú” hay thưa “bác”, thưa “ông” hay thưa “cụ”. Tất cả đều không phải là “you”. Trước khi nói chuyện với một người thì ta phải thiết lập sự liên hệ thân tộc với người đó. Gặp một em bé chưa quen ta gọi nó là “em” (younger brother, younger sister) hay “cháu” (nephew, niece). Trong tiếng Việt không có chữ “I” hay chữ “you”. Đó là một nét rất đặc biệt, khi ra đường mình chỉ gặp toàn là người thân trong gia đình.

Ngày xưa, người trong gia đình ra ngoài lập làng, cho nên lên xóm trên, xuống xóm dưới gì ta cũng gặp người trong gia đình, không có người xa lạ. Xã hội cũng được tổ chức như vậy, người nào cũng là em hoặc cháu, chị hoặc anh, ông hoặc bà mà không thể là một cái “you” lạnh ngắt và không có vị trí. Đó là một nét rất đặc biệt của văn hóa Việt Nam.

Có một điều lạ là khi hai vợ chồng gọi nhau thì cũng xưng là “anh” (big brother) và “em” (younger sister). Người chồng hay người vợ nói về vợ hay chồng mình thì gọi đó là “nhà tôi” (my home). Muốn giới thiệu vợ (chồng) với bạn thì nói: “Đây là nhà tôi” (This is my home). Người kia là nhà của mình, là quê hương, là chỗ mình nương náu. Khi cưới nhau thì người kia chính là ngôi nhà rất êm ấm của mình. Các bà, tuy có rất nhiều quyền, nhưng cũng nói rất khiêm nhượng: “Bác ơi, ở đây cái gì nhà tôi cũng lo hết! Tôi đâu có biết làm gì đâu.” Ông chồng cũng trả lời như vậy. Khi người ta hỏi:

  • Chị có ở nhà không anh?

Thì anh trả lời:

  • Nhà tôi có ở nhà.

Câu trên dịch ra tiếng Anh là “My home is at home”, rất là buồn cười! Người vợ hay người chồng, người bạn lứa đôi của mình chính là nhà của mình. Nếu cơm không ngon, canh không ngọt thì rất khó ở nhà. Vì vậy sự thực tập của một cặp vợ chồng là phải làm thế nào để mình mãi mãi còn là nhà của người kia và người kia vĩnh viễn là nhà của mình. Trong văn hóa có những dấu hiệu, những hướng đi như vậy.

Tăng thân cũng là nhà của mình. Mỗi khi rời xa tăng thân thì mình thương, mình nhớ. Ngày xưa trong Phật học đường, tôi đã từng ở với các sư chú và tôi chăm sóc, thương yêu họ rất nhiều. Khi ra ngoại quốc có những đêm tôi nằm mơ thấy toàn là các sư chú. Họ ở trong cư xá, một phòng có năm bảy người, mỗi người có một cái rương nhỏ dưới gầm giường để đựng sách vở, áo quần. Đời sống trong Phật học đường là như vậy, mình sống với nhau và làm phát hiện ra tình huynh đệ. Chính tình huynh đệ đã nuôi dưỡng mình trong thời gian đó. Sau này lỡ có phải rời xa thì mình thương nhớ tăng thân, đó là nhà của mình.

Làng Mai có xóm Thượng, xóm Hạ, xóm Mới và Sơn Hạ. Nếu được đề nghị sang Hoa Kỳ hay về Việt Nam thì mình hơi buồn tại vì mình phải xa tăng thân. Nhưng mình sang Bích Nham hay Lộc Uyển cũng là để xây dựng tăng thân. Sang đó ở được ba bốn tháng, có sự lưu luyến thì nơi đó sẽ trở thành nhà của mình. Bên này là nhà mà bên kia cũng là nhà!

 

 

Thân thể cũng là nhà

Nhà, hay quê hương là kết quả của sự tạo dựng, sự tu tập. Nếu trong quá khứ, trong thời thơ ấu mình không có phước được có nhà, được có quê hương đầm ấm của tuổi thơ thì bây giờ bằng sự tu tập, mình xây dựng cho mình một quê hương, một tổ ấm ngay trong giây phút hiện tại. Thân thể cũng là nhà của mình, mình trở về thân thể của mình. Ta đã được học là thân ta có những căng thẳng, đau nhức, bất an. Trở về với thân thể để lấy đi những căng thẳng, đau nhức, bất an cũng là một cách xây dựng nhà của mình.

Đức Thế Tôn dạy ta kinh Niệm Thân, dùng hơi thở để trở về với thân thể của mình, buông thư những căng thẳng, làm dịu đi những đau nhức nơi cơ thể. Đem tâm trở về với thân để cho thân tâm nhất như (thân hợp nhất với tâm), để thân có cơ hội nghỉ ngơi, đó cũng là một hành động “về nhà”. Điều này rất cần thiết, rất cơ bản! Nhà trước hết là cơ thể của mình. Nếu ta oán hận, thù ghét thân thể mình thì làm sao ta có được nhà? Nhà trước hết là cơ thể bằng xương bằng thịt. Trong giáo lý của Đức Thế Tôn, ta thấy rất rõ những phương pháp đem tâm trở về với thân để làm cho thân êm dịu. Chúng ta có bài thực tập “Quay về nương tựa hải đảo tự thân”. Thân mình là một phần của hải đảo đó. Đó là nhà của mình!

Lúc 3 giờ chiều nay chúng ta đã ngồi với nhau, đã ý thức được rằng trong thân thể mình có bố mẹ, có tổ tiên, có quê hương. Trong từng tế bào cơ thể mình có sự có mặt của bố mẹ, của tổ tiên. Về với cơ thể cũng là về với tổ tiên, với đất nước và văn hóa của mình. Đi đâu ta cũng mang tổ tiên, mang đất nước và văn hóa đi theo. Về với hình hài là về nhà rồi, mình có thể thoải mái được. Vì vậy kinh Niệm Thân rất quan trọng (Contemplation on the body in the body). Ta phải làm cho tâm được thoải mái trong thân, tâm hòa giải với thân và thân tâm nhất như.

Có những chủ thuyết hay những tôn giáo phân biệt thân và tâm, cho thân và tâm là hai cái hoàn toàn khác biệt. Nhưng đạo Bụt không có cái thấy lưỡng nguyên về thân và tâm. Thân và tâm nhất như. Hành động về nhà trước hết là về với thân của mình trong tư thế đi, đứng, nằm hay ngồi. Làng Mai có pháp môn thiền hành rất mầu nhiệm, mỗi bước chân đều đưa mình về nhà. Mỗi bước chân phải là một bước về nhà. Chỉ cần một bước thôi là ta có thể về nhà.

“Gió vẫn còn bay con biết không

Khi mưa xa tiếp áng mây gần

Hạt nắng từ cao rơi xuống thấp

Cho lòng đất thấy bầu trời trong

Ta vẫn còn đến đi thong dong

Có không còn mất chẳng băn khoăn

Bước chân con hãy về thanh thản

Không tròn không khuyết một vầng trăng.”  

(Đến đi thong dong – Sư Ông Làng Mai)

Mỗi bước chân của ta đều là để trở về nhà. Ta không cần nhiều bước, một bước thôi là có thể trở về. Vì mỗi ngày phải bước đi nhiều bước nên ta có nhiều cơ hội để về nhà. Nếu thực tập giỏi thì mỗi bước chân là một cơ hội để ta trở về quê hương của mình, về với thân tâm để tìm thấy sự an bình. Có được sự an bình thì ta có thể xây dựng tăng thân thành một ngôi nhà lớn làm niềm vui và nơi nương tựa cho rất nhiều người.

 

 

“Bước chân con hãy về thanh thản”, trong câu thơ đó thầy đã nhắn nhủ, gởi gắm không biết bao nhiêu là tình thương, bao nhiêu là kỳ vọng nơi đệ tử: Mỗi bước chân là một cơ hội cho con trở về được với quê hương, với tổ tiên.

Sự trở về trong từng giây từng phút để chăm sóc nhà của chúng ta là công trình để xây dựng quê hương. Khi trở về với cơ thể, không những ta làm lắng dịu những đau nhức, buông bỏ những căng thẳng và làm cho thân tâm hợp nhất mà ta còn nhận diện được những tâm hành, nhất là những cảm thọ như cảm thọ buồn đau, lo lắng của mình. Người không tu thường tìm cách trốn tránh những cảm thọ không dễ chịu đó và tìm những vui nhộn bên ngoài để khỏa lấp và che giấu nỗi khổ niềm đau. Là người tu, ta không làm như vậy. Ta biết là ta phải trở về để chăm sóc và chuyển hóa. Sự thực tập hàng ngày là để cho ta có đủ năng lượng niệm và định để trở về nhận diện và ôm ấp nỗi khổ niềm đau hay những cảm giác lẻ loi, lạc loài trong con người mình.

Trong năm mới chúng ta phải tập ngồi cho giỏi, tập ngồi cho cha mẹ, tổ tiên. Ta tập ngồi cho yên. Ta ngồi yên được thì thế giới sẽ yên, tổ tiên và con cháu sẽ yên. Sang năm mới chúng ta hãy tập đi thiền hành cho giỏi, mỗi bước chân đưa ta trở về được quê hương. “Bước chân con hãy về thanh thản”, đó là thông điệp của thầy gởi cho tất cả các đệ tử. Mỗi bước chân trở về như vậy thì mình sẽ gặp thầy, gặp Bụt, gặp cha mẹ, gặp tổ tiên, gặp quê hương trong đó. Rất là mầu nhiệm! Niệm lực càng hùng tráng thì sự trở về của mình càng sâu sắc.

Xin chúc đại chúng năm mới có nhiều thành công trong sự tu tập và xây dựng tăng thân.

 

 

Bộ phim “Bước chân an lạc” ra mắt khán giả Việt Nam

Sau nhiều tháng ngày chờ đợi,  “Bước chân an lạc” (tựa đề tiếng Anh là “Walk With Me”) – một bộ phim tài liệu về Thiền sư Thích Nhất Hạnh và tăng thân Làng Mai đã được chiếu hơn 150 rạp khắp nước Mỹ, Âu Châu, Úc, Hồng Kông, Thái Lan – giờ đây đã có cơ hội ra mắt khán giả Việt Nam. Một món quà đầy ý nghĩa nhân dịp xuân về!

Dưới đây là những dòng chia sẻ của chị Chân Xuân Tản Viên – người đã có mặt tại buổi ra mắt bộ phim tại Sài Gòn  vào tối hôm qua,  ngày 23.02. 2018. 

Trở lại Sài Gòn sau chuyến nghỉ Tết dài ngày, hôm nay tôi may mắn được tham dự buổi ra mắt bộ phim “Bước chân an lạc” (Walk With Me) cùng với tăng thân và bạn bè. Có mặt ở Bitexco từ rất sớm rồi rảo bước một vòng trước sảnh chiếu phim, tôi cảm nhận được trong lòng dâng lên niềm vui và lòng biết ơn vô cùng đối với những nhân duyên nhiệm mầu đang hiện hữu.

Chưa đến giờ khai mạc mà khu sảnh ra mắt phim đã chật kín khách mời. Tôi nhìn thấy các vị tôn túc, quý thầy và quý sư cô ai cũng hoan hỷ và hạnh phúc. Các vị khách mời ai cũng xinh tươi trong những bộ trang phục áo dài truyền thống với nụ cười trên môi như đã quen nhau tự lúc nào. Chương trình đón khách thật phong phú với quầy giới thiệu sách của nhà xuất bản sách Phương Nam, quầy thức ăn nhẹ là đồ chay thanh tịnh và nước mát nhẹ nhàng…

Sư cô Chân Không cùng quý thầy, quý sư cô Làng Mai tại buổi ra mắt bộ phim

Khai mạc chương trình, Sư cô Chân Không đại diện cho Làng Mai chia sẻ đôi lời với quan khách. Ánh mắt của Sư cô long lanh niềm vui khó tả, nụ cười hiền hậu và giọng nói rất chân chất, mộc mạc. Sư cô mời một thầy thỉnh ba tiếng chuông cho thính chúng dừng lại thở và cười để cảm nhận được sự nhiệm mầu của cuộc sống. Và sau đó là lời cảm ơn của ban tổ chức cũng như nhà tài trợ của chương trình. Bản hòa tấu saxophone bài hát “Một cõi đi về” của cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn vang lên cũng chính là lúc cảm xúc trong tôi dâng trào. Tôi đã nhắm mắt lại, hít thở thật sâu, thật nhẹ và để cho tâm hồn thư giãn hoàn toàn…

Sau buổi giới thiệu, tất cả mọi người được mời vào trong rạp để xem phim. Ai cũng đi nhẹ nhàng, nói khe khẽ và từ từ chọn ghế cho mình. Tối hôm nay khách mời kín hết cả hai phòng chiếu ở tầng ba và tôi nghe nói ban tổ chức còn sắp xếp thêm một phòng chiếu nữa ở tầng bốn. Đúng như lời Sư cô Chân Không chia sẻ lúc ban đầu, bộ phim thật sống động nhưng lại mang đậm chất thiền với những đoạn phim tư liệu kể về đời sống tu học của chúng xuất sĩ Làng Mai, những ngày bình thường ở tu viện và kể cả những lúc có khóa tu hay là những chuyến đi hoằng pháp.

Mặc dù là phim tư liệu nhưng tôi cảm nhận được chiều sâu tâm hồn cũng như là sự thực tập sâu sắc hết lòng của người quay phim. Từ những mẩu chuyện rất nhỏ tưởng chừng như không có liên quan gì như là chuyện con chó cưng bị chết của em bé thiền sinh tây phương, hình ảnh cô thiền sinh khóc nức nở khi nghe quý thầy, quý sư cô niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Thế Âm, sự thực tập làm mới của hai mẹ con khi đến tham dự khóa tu ở tu viện, quý thầy quý sư cô vấn đáp với tù nhân trong trại giam hay là cuốn nhật ký với bảng kế hoạch cho tương lai xa xôi cực kỳ chi tiết của một vị thầy trẻ tuổi, tôi đã cảm nhận được thông điệp thật là tinh tế và sâu sắc mà tác giả muốn gửi gắm đến cho người xem về sự thực tập chánh niệm để chuyển hóa khổ đau và gieo trồng hạnh phúc.

Nghệ thuật của bộ phim còn được thể hiện ở sự lồng ghép tài tình hình ảnh “bốn mùa thay lá” đi cùng với lời dẫn truyện lấy từ cuốn sách “Nẻo về của ý” của Sư Ông Làng Mai. Cách truyền tải sự cảm nhận và trạng thái giác ngộ thật khéo léo qua những hình ảnh và âm thanh thinh lặng trong trẻo đến lạ kỳ…

 

Trân quý và biết ơn,

Sài gòn tối mùng 8 tết Mậu Tuất

Chân Xuân Tản Viên

Chụp ảnh cùng gia đình của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn
Các tăng thân ở Sài Gòn cũng có mặt để yểm trợ buổi công chiếu

 

  • Tại Sài Gòn, phim sẽ chiếu tại hệ thống BHD, Lotte, Galaxy vào ngày  1/3.
  • Tại Hà Nội sẽ công chiếu vào lúc 20 giờ ngày thứ Bảy (10/3) tại rạp BHD Vincom Phạm Ngọc Thạch. Lễ ra mắt có sự hiện diện của Sư Cô Chân Không và tăng đoàn Làng Mai, diễn ra vào lúc 19 giờ .