Giới thứ tư: Ái ngữ và lắng nghe

 

Ý thức được những khổ đau đo lời nói thiếu chánh niệm gây ra, con xin học theo hạnh ái ngữ và lắng nghe để dâng tặng niềm vui cho người và làm vơi bớt khổ đau của người. Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hoặc khổ đau cho người, con nguyện chỉ nói những lời có thể gây thêm niềm tự tin, an vui và hy vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng sự hiểu biết và hòa giải. Con nguyện không nói những điều sai với sự thật, không nói những lời gây chia rẽ và căm thù. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án những điều con không biết chắc. Con nguyện không nói những điều có thể tạo nên sự bất hòa trong gia đình và đoàn thể, những điều có thể làm tan vỡ gia đình và đoàn thể.

Tục ngữ Việt Nam có câu: ‘Lời nói chẳng mất tiền mua.’ Ta chỉ cần cân nhắc lựa lời là có thể làm cho người khác đẹp lòng. Dùng ngôn ngữ cho có chánh niệm, với tâm Từ, là thực tập hạnh rộng rãi, hiến tặng. Vì vậy Giới này có liên hệ trực tiếp tới Giới Thứ Hai. Chỉ cần thực tập ái ngữ ta đã có thể làm cho nhiều người hạnh phúc. Một lần nữa ta lại thấy tính tương dung của Năm Giới.

Nhiều người nghĩ rằng họ chỉ có thể thực tập hạnh Thí khi nào họ đã tích tụ được một món tài sản nho nhỏ. Tôi biết những người trẻ mơ được giàu có để có thể mang hạnh phúc lại cho người khác: ”Tôi muốn trở thành bác sĩ hay thành chủ tịch một công ty lớn để có thể làm thật nhiều tiền và giúp nhiều người.” Họ không biết rằng thường khi đã giàu người ta lại khó thực tập hạnh Thí hơn. Nếu ta được thúc đẩy bởi từ bi thì có rất nhiều cách để mang hạnh phúc lại cho kẻ khác ngay bây giờ, bắt đầu bằng ngôn ngữ thân ái. Cách ta nói có thể mang lại cho người khác niềm vui, hạnh phúc, sự tự tin, hy vọng, lòng tin, và giác ngộ. Nói năng có chánh niệm là một thực tập sâu sắc.

Bồ Tát Quan Thế Âm là một người đã học được nghệ thuật nghe và nói một cách sâu sắc để giúp người ta buông đi những sợ hãi, khổ đau, và tuyệt vọng của mình. Ngài là mẫu mực của phép tu tập này, cánh cửa Ngài mở ra gọi là ”Phổ Môn”, cánh cửa mở ra tất cả. Nếu chúng ta thực tập nghe và nói theo hạnh Bồ Tát Quan Thế Âm, ta cũng sẽ có thể mở được cánh cửa Phổ Môn và mang niềm vui, an lạc đến cho bao người và làm vơi đi nỗi lầm than của họ.

”Hải chấn triều âm thuyết Phổ Môn

Cửu liên hoa lý hiện đồng chơn

Dương chi nhất đích chơn

Cam Lộ Tán tác sơn hà đại địa xuân.”

(Phổ Môn vọng tiếng triều dâng

Bé thơ xuất hiện giữa lòng đoá sen

Cam Lộ một giọt rưới lên

Xuân về trên khắp mọi miền núi sông.)

Tôi biết bài thơ đẹp này khi học Kinh Pháp Hoa ở tuổi mười sáu. Khi ta nghe ”tiếng hải triều”, phép tu của Bồ Tát Quan Thế Âm, tượng trưng cho cánh cửa Phổ Môn, ta biến thành đứa bé sinh ra trong lòng hoa sen. Chỉ một giọt nước từ bi từ cành dương liễu của Bồ Tát, mùa xuân trở về trên trái đất khô cằn của chúng ta. Trái đất khô cằn tượng trưng cho thế giới của lầm than, đau khổ. Giọt nước từ bi là sự tu tập tâm Từ, tượng trưng bởi giọt nước trên cành dương liễu. Bồ Tát Quan Thế Âm được người Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên, và Nhật Bản miêu tả như một người cầm nhành dương liễu. Ngài nhúng nhành dương vào nước từ bi trong trái tim Ngài, nơi nào Ngài rảy nước ấy lên thì nơi ấy đều có sự hồi sinh. Khi Ngài rảy nước Cam Lộ ấy lên những cành cây khô, chết, thì những cành cây ấy xanh tươi trở lại. Những cành cây chết cũng tượng trưng cho đau khổ, lầm than; cây cỏ xanh tươi tượng trưng cho sự quay về của an lạc. Chỉ cần một giọt nước ấy thôi, mùa Xuân đã trở về trên Đại Địa.

Trong Phẩm ”Phổ Môn” của Kinh Pháp Hoa, tiếng nói của Bồ Tát Quan Thế Âm (Avalokitesvara) được diễn tả bằng năm cách: ”Tiếng Nhiệm, Tiếng Quan Âm, Tiếng Phạm, tiếng Hải Triều, Tiếng Vượt Thoát Tiếng Đời. Hãy thường nên quán niệm.”

Trước hết là tiếng Nhiệm mầu (Diệu Âm.) Đây là thứ ngôn ngữ mở ra cánh cửa Phổ Môn và khiến cho tất cả đều được khai thông trở lại. Thứ tiếng này rất dễ nghe. Thứ tiếng này làm cho khoẻ khoắn, đem đến sự bình tĩnh, yên ủi, và trị liệu cho tâm hồn. Bản chất của âm thanh này là từ bi.

Thứ hai là tiếng Quan Âm (Quán Thế Âm.) Avalokitesvara có nghĩa là ”người nhìn sâu vào cuộc đời và lắng nghe tiếng kêu thương của cuộc đời.” Tiếng này làm vơi đi những nỗi khổ niềm đau của chúng ta, vì đó là tiếng của người hiểu ta một cách sâu sắc – những đau đớn, tuyệt vọng, và sợ hãi của ta. Khi thấy mình được hiểu, chúng ta bớt khổ đi rất nhiều.

Thứ ba là tiếng Phạm (Phạm Âm.) Phạm (Brahma) có nghĩa là cao quý – không phải là tiếng thường tình, mà là ngôn ngữ cao quý, phát sinh xuất từ ước muốn mang lại hạnh phúc và lấy đi khổ đau. Từ, Bi, Hỷ, và Xả là Tứ Phạm Trú (Brahmaviharas), chỗ cư trú cao quý của chư Bụt và chư vị Bồ Tát. Nếu ta muốn chung sống với chư Bụt và chư vị Bồ Tát, ta có thể an trú trong bốn toà nhà này.

Trong thời của Bụt, mục đích tu tập của nhiều người là để sinh và sống chung với Phạm Thiên. Điều này cũng giống như phép tu của đạo Ki-tô, muốn lên thiên đường sống với Thượng Đế. ”Trong nhà của Cha ta có rất nhiều toà nhà lớn,” và các bạn muốn sống trong một trong những toà nhà đó. Với những người muốn cộng trú với Phạm Thiên, Bụt nói: ”Hãy thực tập bốn nơi cư trú cao quý: Từ, Bi, Hỷ, và Xả.” Nếu ta muốn chia sẻ một lời dạy của Bụt với những người bạn theo đạo Ki-Tô thì cũng vậy: ”Thượng đế là tình thương, bác ái, niềm vui, và sự công bình không thiên vị.” Nếu anh muốn sống với Thượng Đế thì hãy thực tập bốn nơi an trú đó. Nếu anh không thực tập bốn điều này, thì cho dù anh có cầu nguyện hay nói về sống với Chúa bao nhiêu đi nữa cũng không làm sao có được chuyện lên Thiên Đường.

Thứ tư, tiếng Hải Triều (Hải Triều Âm) là tiếng của Phật Pháp. Đây là một thứ tiếng mầu nhiệm, thứ tiếng có thể làm im bặt mọi tà kiến và ức đoán. Đó là tiếng Sư Tử Hống, mang lại sự im lặng tuyệt đối cho núi rừng, và mang đến sự chuyển hoá và trị liệu.

Thứ năm, tiếng Vượt Thoát Tiếng Đời (Thắng bỉ Thế Gian Âm) là tiếng nói không có gì sánh kịp. Tiếng nói này không nhằm vào danh, lợi, hay một khía cạnh đua tranh nào. Đây là sự im lặng sấm sét làm tiêu tan mọi ý niệm và khái niệm.

Tiếng Nhiệm, tiếng Quan Âm, tiếng Phạm, tiếng Hải Triều, tiếng Vượt Thoát Tiếng Đời là những tiếng mà ta cần phải lưu ý tới. Quán chiếu về năm thứ tiếng này tức là chúng ta đang giúp Bồ Tát Quan Thế Âm mở cửa Phổ Môn, cánh cửa của lắng nghe đích thực, nói năng đích thực.

Bởi vì Ngài sống một đời sống có chánh niệm, luôn luôn quán chiếu vào cuộc đời, bởi vì Ngài là người quán sát thế gian, Quan Thế Âm nhận ra bao nhiêu là đau khổ. Ngài biết rằng rất nhiều khổ đau đã được sinh ra từ lời nói thiếu chánh niệm, và từ sự không biết lắng nghe; vì vậy Ngài thực tập lời nói chánh niệm, từ ái, và lắng nghe sâu. Bồ Tát Quan Thế Âm có thể được xem như một người có thể dạy ta cách hay nhất để hành trì Giới thứ Tư.

”Ý thức được những khổ đau do lời nói thiếu chánh niệm (và sự không biết lắng nghe) gây ra, con xin học theo hạnh ái ngữ và lắng nghe để dâng tặng niệm vui cho người và làm vơi bớt khổ đau của người.” Đây chính là pháp môn Phổ Môn mà Bồ Tát Quan Thế Âm thực tập.

Chưa bao giờ trong lịch sử nhân loại chúng ta có nhiều phương tiện truyền thông như bây giờ – truyền hình, viễn thông, điện thoại, máy fax, radio, đường dây nóng, đường dây đỏ – nhưng chúng ta vẫn tiếp tục là những hòn đảo tách rời. Có quá ít truyền thông giữa những thành viên trong gia đình, giữa những cá nhân trong xã hội, và giữa các quốc gia. Chúng ta khốn đốn vì bao nhiêu cuộc chiến tranh và xung đột. Rõ ràng chúng ta chưa trau dồi nghệ thuật nghe và nói. Chúng ta không biết lắng nghe nhau. Chúng ta ít có khả năng để theo đuổi một cuộc đàm thoại thông minh và có ý nghĩa. Cánh cửa vạn năng của sự truyền thông cần phải được mở ra một lần nữa. Không truyền thông được ta sẽ bệnh, và một khi bệnh đã nặng lên, ta sẽ đau khổ và vung vãi khổ đau của mình lên kẻ khác.

Chúng ta trả tiền cho các nhà tâm lý trị liệu lắng nghe nỗi khổ niềm đau của chúng ta, nhưng nếu các nhà tâm lý trị liệu không thực tập Phổ Môn, họ sẽ không thành công được. Những nhà tâm lý trị liệu cũng là những con người, cũng phải đối diện với những khổ đau như tất cả chúng ta. Họ có thể có khó khăn với vợ hay chồng, với con cái, bạn bè, và xã hội. Họ cũng có những nội kết. Họ có thể có nhiều khổ đau chất chứa, không thể nói với bất cứ ai, kể cả người thân thương nhất trong đời họ. Làm sao họ có thể ngồi đó lắng nghe những khổ đau của ta và thấu hiểu được những khổ đau đó? Các nhà tâm lý trị liệu cần phải thực tập Phổ Môn, tức là Giới Thứ Tư – lắng nghe và ai ngữ.

Trừ phi chúng ta chịu khó nhìn sâu vào bản thân mình, việc thực tập này sẽ không dễ chút nào. Nếu trong ta có quá nhiều khổ đau thì ta khó có thể lắng nghe hay nói những lời dễ thương với kẻ khác. Trước hết ta phải nhìn sâu vào bản chất của cơn giận, sự tuyệt vọng, và đau khổ của mình để tự tháo gỡ cho mình, xong ta mới có thể rảnh tay cho kẻ khác. Giả dụ chồng mình hôm thứ Hai đã nói điều gì đó không dễ thương, làm mình đau. Anh ta đã dùng lời lẽ thiếu chánh niệm, và lại không có khả năng lắng nghe. Nếu ta trả lời ngay lúc ấy, từ sự bực bội và đau khổ của mình, ta có nguy cơ làm anh ta đau, cũng như đào sâu thêm những niềm đau đã có của anh ấy. Ta phải làm gì đây? Nếu ta đè nén cơn giận của mình hay làm thinh, ta có thể gây tổn hại cho mình, bởi nếu ta đàn áp cơn giận trong ta thì ta cũng đang đàn áp chính mình. Ta sẽ khổ sau này, và nỗi khổ của ta sẽ mang lại thêm nhiều đau khổ cho chồng ta.

Cách thực tập hay nhất lúc đó là thở vào và thở ra để làm lắng xuống cơn giận của mình, xoa dịu niềm đau: ‘Thở vào, tôi biết là tôi giận. Thở ra, tôi làm lắng dịu cảm giác giận của tôi.’ Chỉ cần thở cho sâu với cơn giận của mình, ta sẽ làm cho nó lắng lại. Ta có chánh niệm về cơn giận của mình chứ không đè nén nó. Khi chúng ta đã có đủ bình tĩnh, ta có thể sử dụng ngôn ngữ chánh niệm. Một cách thân ái và chánh niệm, ta có thể nói: ”Anh ơi, em muốn anh biết rằng em đang giận. Những lời anh nói làm em rất đau, em muốn anh biết điều đó.” Chỉ nói như vậy thôi, một cách bình tĩnh và chánh niệm, sẽ làm cho ta vơi nhẹ phần nào. Thở với chánh niệm để làm lắng xuống cơn giận của mình, ta sẽ có thể nói cho người kia biết là mình đang khổ. Trong thời gian đó, ta sống với cơn giận của mình, tiếp xúc với nó bằng năng lượng chánh niệm. Ta không hề chối bỏ nó.

Khi nói với các nhà tâm lý trị liệu về điều này, tôi gặp phải một vài khó khăn. Khi tôi nói cái giận làm chúng ta khổ, họ cho điều này có nghĩa là cái giận là một cái gì tiêu cực, cần phải bị lấy ra. Nhưng tôi luôn nói rằng cái giận là một hiện tượng có tính hữu cơ, cũng giống như tình thương vậy. Giận có thể trở thành thương. Phân xanh của chúng ta có thể trở thành một hoa hồng. Nếu ta biết cách chăm sóc rác hữu cơ, ta có thể biến nó thành một hoa hồng. Ta nên gọi rác là tiêu cực hay tích cực đây? Rác có thể là tích cực, nếu ta biết xử lý nó. Cái giận cũng vậy. Nó có thể là tiêu cực, nếu ta không biết xử lý nó, nhưng nếu ta biết cách xử lý cơn giận của mình, thì cơn giận đó có thể rất tích cực. Chúng ta không cần phải bỏ đi một thứ gì hết.

Sau khi đã thở vào, thở ra vài lần để lấy lại bình tĩnh, cho dù cơn giận vẫn còn có đó, ta có chánh niệm về nó, ta có thể nói với người kia rằng ta giận. Ta cũng có thể nói với người ấy rằng ta muốn nhìn sâu vào nó, và cũng muốn người ấy cũng nhìn sâu vào nó. Rồi ta có thể hẹn gặp nhau tối thứ Sáu để cùng nhìn vào vấn đề. Một người nhìn vào những gốc rễ của khổ đau của mình là đã hay lắm rồi, hai người nhìn thì hay hơn, và hai người cùng nhìn với nhau thì hay nhất.

Tôi đề nghị tối thứ Sáu vì hai lý do. Thứ nhất, lúc này ta đang còn giận, nếu ta bắt đầu bàn thảo bây giờ thì có thể rất mạo hiểm. Ta có thể nói những điều làm cho tình trạng tệ thêm hơn. Từ bây giờ cho đến chiều thứ Sáu, ta có thể thực tập nhìn sâu vào bản chất của cái giận của mình, và người kia cũng có thể làm như vậy. Trong khi lái xe, người kia có thể tự hỏi: ”Cái gì nghiêm trọng vậy? Tại sao cô ấy không vui? Phải có nguyên do.” Trong khi lái xe, ta cũng sẽ có cơ hội nhìn sâu vào đó. Trước tối thứ Sáu, một hay cả hai người có thể thấy gốc rễ của vấn đề và có thể nói và xin lỗi với người kia. Và tối thứ Sáu, hai người có thể uống trà và vui vẻ với nhau. Nếu hẹn ngày giờ, hai người sẽ có thời gian để lắng lại và nhìn sâu. Đây là thiền tập. Thiền là làm lắng con người mình lại và nhìn sâu vào bản chất của những nỗi khổ niềm đau của mình.

Đến tối thứ Sáu, nếu nỗi khổ vẫn chưa được chuyển hoá, ta sẽ có thể thực tập nghệ thuật của Quan Thế Âm. Hai người ngồi lại với nhau và thực tập lắng nghe sâu – một người phát biểu trong khi người kia lắng nghe thật sâu. Khi nói, ta nói lên sự thực sâu xa nhất mà ta thấy, và ta thực tập ái ngữ. Chỉ với ngôn ngữ đó người kia mới có cơ hội để nghe hiểu và chấp nhận. Trong khi lắng nghe, ta biết rằng chỉ bằng cách lắng nghe sâu như vậy ta mới có thể làm vơi đi nỗi khổ của người kia mà thôi. Nếu chỉ lắng nghe bằng nửa lỗ tai thôi thì ta không thể làm được chuyện đó. Ta phải có mặt đích thực và sâu sắc. Phẩm chất lắng nghe của ta phải cao thì mới có thể giúp được người kia vơi đi nỗi khổ. Đây là sự thực tập Giới thứ Tư. Lý do thứ hai để đợi đến tối thứ Sáu là nếu ta hoá giải được sự buồn bực đó vào tối thứ Sáu thì ta sẽ được vui vẻ với nhau vào hai ngày cuối tuần.

Giả sử ta có một nội kết nào đó với một thành viên trong gia đình hay cộng đồng, và ta không vui khi gặp người đó. Ta có thể nói những câu đơn giản, sơ sơ, nhưng không thoải mái để nói những chuyện sâu hơn với người đó. Rồi một bữa nọ, trong khi làm việc nhà, ta nhận thấy người kia không làm gì cả, không chia xẻ những công việc cần phải làm, và ta thấy khó chịu. ”Tại sao tôi phải làm nhiều như vậy, còn cô ấy không làm gì cả? Đáng lẽ cô ta phải làm cái gì mới phải.” Vì sự so sánh này, ta mất an lạc. Nhưng thay vì nói với người kia: ”Em làm ơn đến đây phụ bớt công việc,” ta lại bảo mình: ”Cô ấy lớn rồi. Tại sao mình lại phải nói với cô ấy? Lẽ ra cô ấy phải có trách nhiệm hơn!” Ta nghĩ như vậy bởi vì ta đã sẵn có nội kết với người kia. Con đường ngắn nhất bao giờ cũng là con đường thẳng. ‘B’ có thể đến với ‘A’ và nói, ”Em ơi, làm ơn đến phụ một tay.” Nhưng ta không làm như vậy. Ta giữ trong lòng và phiền trách người kia.

Lần sau lại xảy ra y hệt như vậy, cảm thọ của ta lại càng mạnh hơn. Nội kết của ta lớn lên từ từ, cho đến khi ta khổ quá và cần phải than thở với người thứ ba. Ta cần tìm một sự cảm thông để chia bớt nỗi khổ tâm đó. Thay vì nói thẳng với ‘A,’ ta lại nói với ‘C.’ Ta chọn ‘C’ vì ta nghĩ ‘C’ là một đồng minh, sẵn sàng đồng ý với ta là ‘A’ cư xử không tốt.

Nếu ta là ‘C’ thì ta phải làm gì? Nếu ta đã có sẵn những nội kết về ‘A,’ thì ta có thể sẽ rất mừng khi có người cũng cảm thấy như ta vậy. Nói với nhau như vậy có thể sẽ làm ta thấy khoẻ hơn. Hai người trở thành liên minh – ‘B’ và ‘C’ chống lại ‘A.’ Tự nhiên ‘B’ và ‘C’ thấy gần với nhau hơn, và cả hai thấy xa cách với ‘A,’ A sẽ nhận ra điều ấy.

‘A’ có thể rất dễ thương. Cô sẽ có khả năng đáp lại trực tiếp với ‘B’ nếu ‘B’ nói được cảm thọ của mình cho cô ấy. Nhưng ‘A’ không hay biết gì về sự uất ức của ‘B.’ ‘A’ chỉ cảm thấy có một sự lạnh nhạt giữa mình và ‘B,’ mà không biết tại sao. A nhận thấy ‘B’ và ‘C’ trở nên gần gũi, trong khi cả hai đều nhìn mình một cách khó chịu. Và cô nghĩ: ‘Họ không muốn mình, thì mình cũng chẳng cần họ.’ Cô rút lui, và tình trạng càng tệ hơn. Thế tam giác đã được thiết lập.

Nếu là ‘C’ thì trước hết, tôi sẽ lắng nghe ‘B’ một cách chăm chú, hiểu rằng ‘B’ cần chia xẻ nỗi khổ tâm của mình. Biết rằng con đường thẳng là con đường ngắn nhất, tôi sẽ khuyến khích ‘B’ đến nói thẳng với ‘A.’ Nếu như ‘B’ không làm được chuyện này, tôi sẽ đề nghị đến nói với ‘A’ dùm cho ‘B,’ với sự hiện diện của ‘B,’ hoặc chỉ đi nói một mình.

Nhưng quan trọng hơn cả là tôi sẽ không nói với ai khác những gì ‘B’ đã tin tưởng nói cho tôi. Nếu không có chánh niệm, tôi có thể nói với người khác những điều tôi biết về cảm thọ của ‘B,’ và thế nào gia đình hay cộng đồng cũng sẽ lộn xộn. Nếu tôi làm những điều này – khuyến khích ‘B’ nói thẳng với ‘A’ hoặc nói với ‘A’ dùm cho ‘B,’ và không nói lại với ai những điều ‘B’ đã nói với mình – tôi sẽ có thể bẻ gãy thế tam giác. Làm như vậy sẽ có thể giúp hoá giải vấn đề, mang lại an lạc cho gia đình, cộng đồng, và xã hội.

Nếu ta thấy ở trong cộng đồng có người đang gặp khó khăn với người khác, ta phải giúp đỡ ngay. Nếu sự việc càng kéo dài lâu thì sẽ càng khó giải quyết. Cách hay nhất để giúp là thực tập ngôn ngữ chánh niệm và tập lắng nghe sâu. Giới thứ Tư có thể mang lại hoà bình, hiểu biết, và hạnh phúc cho mọi người. Phổ Môn là một cánh cửa nhiệm mầu. Ta sẽ được sinh lại một lần nữa trên đoá sen và giúp cho những người khác, trong đó có gia đình, cộng đồng, và xã hội của ta, cũng được sinh ra trên đó.

Lời nói có thể có giá trị xây dựng hay có tính phá hoại. Nói với chánh niệm có thể mang lại hạnh phúc thật sự; lời nói thiếu chánh niệm có thể giết hại. Khi một người nói với ta những điều làm cho ta khoẻ mạnh và hạnh phúc, thì đó là món quá quý hoá nhất người ấy có thể hiến tặng. Thỉnh thoảng, có người nói với ta những điều rất ác và rất đau lòng khiến ta muốn đi tự tử; ta mất tất cả mọi hy vọng, tất cả niềm vui sống của mình.

Người ta giết nhau vì lời nói. Khi ta cuồng tín biện hộ cho một chủ thuyết, nói rằng chỉ có đường lối suy nghĩ hay tổ chức xã hội này mới là hay nhất, và nếu có người làm vướng đường mình thì mình phải đàn áp hay loại trừ người đó. Điều này liên hệ mật thiết với Giới Thứ Nhất – thứ ngôn ngữ này có thể giết, không phải chỉ có một người mà rất nhiều người. Khi ta tin vào một điều gì mạnh mẽ như vậy, ta có thể bỏ hàng triệu người vào phòng hơi ngạt. Khi ta dùng lời nói để nâng cao một chủ thuyết, xúi dục người ta giết để bảo vệ và nâng cao chủ thuyết của mình, ta có thể giết hàng triệu người. Giới thứ Nhất và thứ Tư của Năm Giới tương tức với nhau.

Giới thứ Tư cũng liên hệ với Giới thứ Hai, về trộm cắp. Cũng như đã có ”kỹ nghệ mãi dâm,” có một thứ gọi là ‘kỹ nghệ nói dối.” Nhiều người phải nói dối để thành công như một nhà chính trị, hay như một người bán hàng. Một giám đốc liên hiệp chế tác các phương tiện truyền thông nói với tôi rằng nếu ông ta nói sự thật về các sản phẩm của công ty mình thì người ta sẽ không mua. Ông nói đến những điều tích cực về sản phẩm mà ông biết là không đúng, và tránh không nói đến những hiệu quả tiêu cực của sản phẩm. Ông biết là mình đang nói dối, và ông cảm thấy rất tồi tệ về việc này. Nhiều người cũng đang bị kẹt vào những tình huống tương tự. Trong chính trị cũng vậy, người ta nói láo để được bầu. Đó là vì sao ta có thể nói đến thứ ”kỹ nghệ nói dối.”

Giới này cũng liên hệ đến Giới thứ Ba. Khi một người nói, ‘Tôi yêu em,’ đó có thể là một lời nói dối. Đó có thể chỉ là một biểu lộ của sự ham muốn. Có quá nhiều quảng cáo liên hệ đến tình dục.

Trong truyền thống đạo Bụt, Giới thứ Tư luôn được diễn tả như là tránh làm bốn việc:

1. Không nói sự thật (ngoa ngôn.) Nếu đó là đen mà mình lại nói là trắng.

2. Phóng đại (ỷ ngữ.) Bịa đặt, hoặc diễn tả sự việc đẹp hơn hay xấu hơn thực tế của nó.

3. Nói lắt léo (lưỡng thiệt.) Đến người này nói thế này, đến người khác lại nói thế khác.

4. Ngôn ngữ thô ác (ác ngữ.) Lăng mạ hay xúc phạm người khác.

”Con nguyện chỉ nói những lời có thể gây thêm niềm tự tin, an vui và hy vọng, ….” Điều này cần phải được thực tập với trẻ em. Nếu ta nói với em bé rằng em không được tích sự gì cả, em bé sẽ khổ trong tương lai. Cần phải luôn luôn nhấn mạnh những điều tích cực, và đầy hứa hẹn với con mình, và với vợ hay chồng mình nữa.

”(Con nguyện chỉ nói)… những lời chân thật có giá trị xây dựng sự hiểu biết và hoà giải. Con nguyện không nói những điều sai với sự thật, không nói những lời gây chia rẽ và căm thù. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án những điều con không biết chắc. Con nguyện không nói những điều có thể tạo nên sự bất hoà trong gia đình và đoàn thể, những điều có thể làm tan vỡ gia đình và đoàn thể.”

Hoà giải là một pháp tu sâu, ta có thể thực tập được với sự lắng nghe và ngôn ngữ chánh niệm. Hoà giải có nghĩa là mang lại hoà bình và hạnh phúc cho quốc gia, con người, và thành viên trong gia đình ta. Đây là công việc của một vị Bồ Tát. Để hoà giải, ta phải có nghệ thuật lắng nghe, cũng như nắm được nghệ thuật ái ngữ. Ta phải tránh liên kết mình với một bên để có thể hiểu được cả hai phía. Đây là một phép tu khó.

Trong cuộc chiến ở Việt Nam, chúng tôi cố gắng thực tập điều này. Chúng tôi cố không liên minh với một phe tham chiến nào, cộng sản hay quốc gia. Ta chỉ giúp được khi nào ta đứng vượt lên trên mâu thuẫn và thấy được cả khía cạnh tốt lẫn khía cạnh xấu của hai bên. Làm như vậy, ta đặt mình vào một tình thế nguy hiểm, vì ta có thể bị cả hai bên ghét. Bên này nghi ta là công cụ của bên kia, và bên kia lại nghi ta là công cụ của bên này. Ta có thể bị giết cùng một lúc bởi hai phe. Đó chính là điều nhiều Phật tử Việt Nam phải chịu đựng trong chiến tranh. Chúng tôi không liên kết với cộng sản, nhưng cũng không liên kết với phe theo Mỹ. Một bên nói anh không thể hoà giải với phe theo Mỹ. Bên kia nói anh không thể hoà giải với cộng sản. Nếu ta nghe lời hai phía thì thật chẳng bao giờ có thể hoà giải với ai cả.

Chúng tôi đã đào tạo các tác viên đi đến các vùng hẻo lánh giúp đỡ về các vấn đề sức khoẻ, kinh tế, giác dục, và chúng tôi bị cả hai phía nghi ngờ. Công việc hoà giải của chúng tôi không phải chỉ là việc nói, mà còn là việc làm. Chúng tôi đã nỗ lực giúp những người nông dân tìm thấy hy vọng. Chúng tôi đã giúp nhiều người tị nạn ổn định lại đời sống ở những ngôi làng mới. Chúng tôi đã giúp bảo trợ hơn mười ngàn cô nhi. Chúng tôi đã giúp nông dân dựng lại những ngôi làng đổ nát. Công việc hoà giải không phải chỉ có tính ngoại giao; nó là những gì rất cụ thể. Trong lúc ấy, chúng tôi cũng đồng thời nói lên tiếng nói hoà bình từ trong tim mình. Chúng tôi nói người trong nhà phải nhìn nhau như anh em và chấp nhận lẫn nhau. Mình không nên giết nhau vì một chủ thuyết. Thông điệp ấy không được ưa chuộng chút nào trong tình trạng chiến tranh.

Những bài viết của tôi bị kiểm duyệt từ cả hai phía. Thơ của tôi bị cấm bởi hai bên. Các bạn tôi đã in chui một trong những tập thơ ấy vì chính phủ Sài Gòn không cho phép xuất bản. Và phía cộng sản công kích tập thơ này trên đài, nói rằng nó có hại cho cuộc đấu tranh, và có thể đã bị xúi giục bởi CIA. Cảnh sát quốc gia đã tới các nhà sách để tịch thu những bài thơ này. Ở Huế, một người cảnh sát tử tế đã đến một nhà sách Phật giáo và nói rằng cuốn sách này không nên bày ra; nó cần phải được dấu và đưa ra khi có người hỏi mà thôi. Không phải chỉ có những cố gắng nói lên tiếng nói quan tâm và đề nghị những giải pháp dàn xếp vấn đề giữa anh em của chúng tôi mới bị đàn áp, mà cả những cố gắng giúp đỡ đồng bào của chúng tôi cũng bị đàn áp. Nhiều tác viên của chúng tôi đã bị giết và bắt cóc bởi hai phía. Một số tác viên đã bị ám sát bởi những người Ca-tô-lic cuồng tín, nghi chúng tôi làm việc cho cộng sản, và một số tác viên bị phía cộng sản bắt đi. Những tác viên của chúng tôi rất được dân vùng quê thương mến. Họ là những người trẻ tận tụy, trong đó có cả các thầy và các sư cô trẻ. Họ làm việc không lương, họ chỉ muốn phụng sự và thực hành Phật Pháp. Trong tình trạng chiến tranh, hành trang của họ là từ bi và phụng sự hết lòng, họ chỉ nhận một chút thù lao nhỏ bé để sống mà thôi. Họ đi đến những vùng quê, không mong một chút gì đền đáp lại.

Tôi nhớ một thanh niên tên Ân, chuyên giúp dân học các phương pháp nuôi gà tân tiến. Anh bày cho họ những kỹ thuật ngừa bệnh. Khi một người nông dân hỏi anh: ”Chú được chính phủ trả lương bao nhiêu một tháng vậy?” Ân nói, ”Tụi con không được chính phủ trả gì hết. Tụi con không phải từ chính phủ, tụi con đến từ chùa. Chùa gởi chúng con tới đây để giúp quý bác.” Ân không nói với bác nông dân chất phác rằng mình thuộc trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, sáng lập bởi Vụ Xã Hội của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Nói như vậy thì phức tạp quá, cho nên Ân chỉ nói là mình được chùa gởi tới.

”Sao lại đến từ chùa?”

Ân nói, ”Tụi con làm công quả.”

Bác nông dân ngạc nhiên: ”Tui nghe nói muốn làm công quả thì phải tới chùa. Sao bây giờ chú lại tới đây làm công quả?”

Chàng thanh niên trả lời: ”Bác thấy đó, bây giờ bà con khổ quá, Phật cũng phải ra ngoài này để giúp. Tụi con là Phật tử phải làm công quả ở đây, nơi có đồng bào khổ.” Tuyên bố đó đã trở thành nền tảng cho triết lý phụng sự xã hội của chúng tôi, Đạo Bụt nhập thế. Bụt phải ở trong xã hội. Ngài không thể nán lại trong chùa lâu hơn nữa, vì con người ta khổ quá.

Chỉ trong vài năm, chúng tôi đã trở nên rất quen thuộc với bà con nông thôn. Chúng tôi không có nhiều tiền, nhưng vì chúng tôi làm việc theo lối làm công quả cho nên được bà con thương. Phía cộng sản biết vậy và không muốn chúng tôi ở đó, ban đêm họ đến và hỏi ai cho phép chúng tôi làm việc ở đây. Các tác viên nói chúng tôi không có phép từ phía nào, dù là quốc gia hay cộng sản. Chúng tôi chỉ tới đây làm công quả thôi. Một lần, người cộng sản ra lệnh cho các tác viên rút khỏi một vùng, nói rằng: ”Chúng tôi sẽ không chịu trách nhiệm cho sự an toàn của quý vị nếu quý vị ở đây quá hai mươi bốn tiếng.” Lần khác, những người cuồng tín đến từ phía chính phủ, một cách không chính thức, và hỏi các tác viên họ có phải là tác viên xã hội của Phật giáo không. Và họ mang năm học viên ra bờ sông, và sau khi kiểm lại một lần nữa cho chắc đây là những tác viên xã hội của Phật giáo, họ nói: ”Chúng tôi rất tiếc, nhưng chúng tôi phải giết quý vị.” Họ bắn cả năm người. Chúng tôi bị cả hai bên đàn áp vào ban đêm. Họ biết nếu đàn áp chúng tôi vào ban ngày thì nông dân sẽ phản đối.

Một trái lựu đạn ném vào phòng tôi đã bị tấm màn làm cho chệch hướng. Một đêm khác, nhiều quả lựu đạn đã được ném vào ký túc xá của trường, làm hai người chết và nhiều người bị thương. Một thanh niên bị bại liệt, và sau này được điều trị ở Đức. Một thiếu nữ bị hơn một ngàn miểng nổ cắm vào mình. Cô mất rất nhiều máu, và đã được một người bạn Nhật, cộng tác với chúng tôi, cứu sống. Sau đó, chúng tôi đã mang được cô sang Nhật để giải phẩu. Người ta đã cố để lấy các mảnh sắt vụn ra, nhưng vẫn còn 300 mảnh không thể lấy ra được và vẫn còn nằm trong thân thể cô.

Một hôm, trong khi tôi đang đại diện cho Phái Đoàn Hoà Bình của Phật Giáo để tham dự Đàm Phán Hoà Bình tại Paris, tôi nhận được một tin nhắn qua điện thoại từ Sài Gòn cho biết bốn tác viên vừa bị bắn chết. Tôi đã khóc. Chính tôi đã kêu gọi họ đến để được đào luyện như những tác viên. Một người bạn có mặt lúc ấy đã nói với tôi: ”Thưa Thầy, Thầy cũng như một vị tướng lãnh đạo đội quân bất bạo động, và khi quân đội của Thầy làm việc cho tình thương và sự hoà giải thì thế nào cũng có những thương vong. Thầy đâu cần phải khóc.”

Tôi nói, ”Tôi không phải là một ông tướng. Tôi là một con người. Tôi cần được khóc.” Sáu tháng sau, tôi viết một vở kịch về cái chết của những người học trò này, với tựa đề: Nẻo Về Tiếp Nối Đường Đi. [3]

Công việc hoà giải không phải đơn thuần là công việc ngoại giao. Không phải vì mình đi gặp vài chục vị Ngoại Trưởng mà mình làm công việc hoà giải. Ta phải dùng thân thể, thời gian, và cuộc đời mình để làm công việc hoà giải. Ta làm việc này bằng nhiều cách, và ta có thể bị đàn áp bởi những người ta đang tìm cách giúp đỡ. Ta phải lắng nghe và hiểu nỗi khổ của bên này, rồi lại đến lắng nghe nỗi khổ của bên kia. Như vậy ta sẽ có thể lần lượt nói cho mỗi bên về những nỗi khổ mà phía bên kia phải gánh chịu. Đây là công việc cốt yếu, và đòi hỏi phải có can đảm. Chúng ta cần nhiều người có khả năng lắng nghe, ở Nam Phi, ở Trung Đông, ở Đông Âu, và nhiều nơi khác.

Giới thứ Tư là một Giới Bồ Tát. Chúng ta cần học hỏi cho sâu sắc để có thể thực tập giỏi, trong phạm vi cá nhân, gia đình, cộng đồng, xã hội và thế giới.

[3]. Love In Action: Writings on Nonviolent Social Change (xuất bản bởi Berkeley: Paralax Presss, 1993.)

Mở lối trời cao rộng

(Phỏng vấn cây Bạch Dương tại Làng Mai, Pháp)

Những mầm non đang vươn lên trong mùa tuôn dậy. Trang nhà Làng Mai xin giới thiệu Bài ghi chép sau đây được BBT chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Anh, ghi lại cuộc trò chuyện với 9 cây Bạch Dương mới biểu hiện trong khoá An cư kiết đông tại Pháp vừa qua.

 

BBT: Các sư em có thể chia sẻ một vài nhân duyên khiến các sư em đến với con đường xuất gia và chọn Làng Mai làm ngôi nhà tâm linh của mình?

Sư chú Chân Trời Khiết Lâm (người Đức):

 Trước đây, con từng làm công việc vật lý trị liệu trong một thời gian khá lâu. Con sống vui vẻ, năng động nhưng vẫn thấy bất an một chút. Rồi con bị bệnh, cũng nhẹ thôi nhưng con muốn tìm một cách trị liệu khác mà không phải đến bác sĩ. Cũng từ đó, con bắt đầu có những băn khoăn về cuộc đời mình. Con thấy nói chuyện với những người lớn tuổi rất có ích, con hỏi họ những câu như: Con phải làm gì để có hạnh phúc trong cuộc sống? Con thấy hình như rất nhiều người không thật sự có hạnh phúc.

Nhiều người nói với con: “Anh phải kiếm thêm nhiều tiền thì mới có hạnh phúc!” Vậy là con bắt đầu làm việc nhiều hơn để kiếm thêm tiền. Nhưng sau một thời gian ngắn, con thấy làm việc nhiều để kiếm tiền không phù hợp với tính cách của con, con thích một cuộc sống thảnh thơi hơn. Vì vậy con bắt đầu làm việc ít lại. Nhưng câu hỏi về hạnh phúc vẫn còn đó trong con. Có một ông khá giàu nói với con rằng nếu mình có tiền, mình phải tiêu xài ngay bởi vì mình có thể bị bệnh ung thư hay một bệnh gì đó, bị bệnh như vậy rồi thì mình đâu có làm gì được.

Con thấy mình bế tắc, không có lối ra. Làm việc trong một viện dưỡng lão, khi quan sát những người cao tuổi ở đây con thấy rất buồn. Có những người không có gia đình. Có những người có gia đình nhưng vẫn bị gửi vào đây. Trong thời gian đó, con hơi bị trầm cảm nhưng đó lại là một điều tốt, bởi vì nó giúp con suy nghĩ một cách nghiêm túc về hướng đi của cuộc đời mình. Nhìn những người cao niên được chăm sóc ở viện dưỡng lão, con nhận ra rằng rồi một ngày kia con cũng sẽ trở thành như họ.

Tình cờ con được tặng cuốn sách Siddhartha (Câu chuyện dòng sông) của nhà văn Hermann Hesse. Khi đọc xong cuốn sách này, con đã khóc. Con không thể tin rằng có một người đã có thể sống hạnh phúc với nếp sống thiểu dục, không chạy theo sự tiêu thụ. Vậy là con tìm được đường đi, con đường tâm linh! Rồi con được đọc tác phẩm Đường xưa mây trắng của Thầy. Đó là khi con bắt đầu tu tập – năm ấy con 29 tuổi, năm năm về trước.

Con có rất nhiều lên xuống trong thời gian đó. Con đã thực tập buông bỏ và ít tiêu thụ lại. Con cho một người bạn cái ti-vi của mình, thay đổi thói quen ăn uống, đi chơi ít hơn. Tuy vậy con vẫn hơi hoang mang. Nghĩ là mình phải tu một mình ở chốn thiên nhiên, con lên mạng Internet để tìm hiểu thêm. Con tìm thấy bài viết của một người đã tu một năm trong hang động gần bờ biển. Con tưởng tượng ra hình ảnh rất đẹp của mình ngồi trên núi thiền tập một mình trong hạnh phúc. Và con quyết tâm thực hiện. Khó khăn duy nhất là thức ăn. Người đàn ông tu một năm trong hang động có cả một kho thức ăn lớn. Nhưng con thì không thể, vậy con phải làm gì đây?

Vậy là con đi học một khóa kỹ năng sinh tồn. Vấn đề là trong các khóa học loại này, phần lớn người ta dạy cách bẫy thú. Con đã là người ăn chay, là người tu tập, con không thể làm việc đó được. Con nhận ra đây là một ý tưởng ngu ngơ, con sẽ không ngồi tu trong một cái động, ngoài thiên nhiên hay những chỗ tương tự.

Con nản lòng và không biết phải làm gì nữa. Tiếp tục tìm trên mạng, con không thấy có tu viện nào như ý. Con đi dự khóa tu do một sư cô người Đức từ Myanmar hướng dẫn. Sư cô có rất nhiều kinh nghiệm với 30 năm tu tập. Năng lượng của sư cô rất bình an. Sư cô khiến con thấy cần phải tìm tòi, nỗ lực hơn trong sự thực tập và con nhận ra mình cần phải đến một tu viện, dù không biết mình nên xuất gia hay tiếp tục làm cư sĩ.

Theo lời giới thiệu của sư cô về một tu viện ở Myanmar, con dự định sang đó để tu tập. Nhưng con muốn ở lâu hơn một năm nên có lẽ một nơi nào ở châu Âu sẽ thuận tiện hơn. Vì vậy con tiếp tục tìm kiếm trên mạng và cuối cùng con đã tìm ra Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu (EIAB) ở Đức, chỉ cách nhà con một giờ đi xe lửa.

Con đến EIAB năm 2015 và ngay lập tức thấy thích, có một cái gì đó trong con đã được đánh động. Và sau hai tuần thì con biết đây là nơi con muốn đi tìm. Sau đó, con được về Làng để tập sự.

Dù vẫn còn có những lên xuống trong sự thực tập nhưng con hạnh phúc khi sống ở Làng. Con cảm nhận được năng lượng của tăng thân rất hùng hậu. Khi trở thành người tu thì việc đối diện với những lên xuống đó trở nên dễ dàng hơn so với khi con còn tập sự hay còn cư sĩ. Con chưa hạnh phúc 100%, nhưng không sao. Con vẫn thích được tu tập ở Làng và sống cùng tăng thân.

Sư cô Chân Trăng Giác Hòa (người Pháp, xuất gia theo chương trình 5 năm):

Năm 2011, con đến Làng Mai lần đầu tiên. Con đến với bạn trai. Anh ấy ở xóm Thượng, còn con ở xóm Hạ. Đó có lẽ cũng là một nhân duyên, vì con sẽ không nghĩ đến chuyện tham dự khóa tu tại một tu viện Phật giáo nếu chỉ có một mình.

Lần thứ hai (cũng trong năm 2011), con trở lại Làng một mình và ở lâu hơn nên mọi người bắt đầu hỏi con có muốn đi xuất gia không. Con nghĩ thầm: “Ừ, mình sẽ đi lúc bốn mươi tuổi”.

Sau đó, con ra nước ngoài một năm để thực hiện một dự án giáo dục về môi trường cho trẻ em. Dự án đó có thời hạn là ba năm. Nơi con đến không có tăng thân, cũng không có trung tâm tu học. Bây giờ nhìn lại, con thấy những năm đó mình đã bắt đầu rèn luyện cho cuộc sống xuất gia bằng cách buông bỏ bớt những vật dụng, sống đơn giản, bởi vì con luôn thích sống như vậy.

Con bắt đầu tìm hiểu và đi thăm các cộng đồng khác nhau nhưng chưa thấy thật sự hài lòng. Mọi người ai cũng có thiện chí nhưng lại không có những phương pháp thực tập chung. Con đã thọ trì Năm giới nhưng thật khó thực hành. Con ước ao mình có thể thực tập giới cùng với những người khác nhưng thật không dễ chút nào. Ngoài ra còn có những mâu thuẫn, những vấn đề trong sự liên hệ giữa người với người, những vấn đề thường gặp khi sống tập thể, thế nhưng lại không có một phương pháp nào thực tiễn để đối trị với chúng. Chúng con không có khả năng buông bỏ, cũng không biết rằng tình thương và sự hòa hợp phải là những ưu tiên hàng đầu.

Sau ba năm xa Làng, con quyết định trở lại tham gia một khóa An cư kiết đông. Con thấy rất rõ là con cần phải trở lại đây. Con không biết vì lý do gì, chỉ biết là có một cái gì đó kéo con trở lại. Con nhớ khi mình bước chân vào cái cổng nhỏ của xóm Mới, con cảm thấy ngay là mình đã về nhà. Rất nhiều thiền sinh cũng đã nói như thế. Bước chân con chậm lại. Con đã thực sự tận hưởng mùa An cư ấy.

Trong khi con thực hiện dự án giáo dục và môi trường, con thấy mình không đủ mạnh, cảm xúc không đủ ổn định để có năng lượng cho công việc. Con hiểu ra rằng trong vai trò một cư sĩ hay một cá nhân đơn độc, con không thể thật sự làm những điều mà con muốn làm cho thế giới. Và con bắt đầu thấy mình không giúp được gì. Vì vậy khi con tới Làng Mai trong mùa An cư kiết đông, ước nguyện xuất gia của con đã lớn lên. Quý sư cô và cả quý thầy đã giúp con tưới tẩm tâm nguyện đó.

Sư chú Chân Trời Khiết Anh (người Ý, xuất gia theo chương trình 5 năm):

Con đã đi qua một hành trình rất dài trước khi đến Làng Mai, để rồi sau đó trở thành một vị xuất sĩ. Con đã đến Làng rất nhiều lần nên chơi thân với rất nhiều sư chú trong các gia đình xuất gia. Tuy thế lúc nào con cũng thấy phân vân. Lần đầu tiên con có ước muốn đi xuất gia là vào năm 23 tuổi (năm nay con đã 28, vậy là con chờ đợi đã khá lâu). Con không biết nó phát khởi từ đâu, nhưng ý nghĩ “mình phải đi tu” cứ đi lên trong con, rất sống động, rõ ràng. Nhưng con chỉ giữ ý nghĩ đó cho riêng mình. Con không hề nói với ai về ước muốn xuất gia trong một thời gian dài cho dù con vẫn luôn nghĩ: “Mình muốn đi tu, mình muốn đi tu, mình muốn đi tu…” Rồi con bị lôi cuốn vào chuyện thường tình như là có bạn gái.

Thực ra con đã bắt đầu tu tập từ năm 21 tuổi, theo truyền thống Theravada. Con đã cố gắng thường xuyên theo dõi hơi thở và khi thấy mình mất ý thức về hơi thở, con vô cùng buồn bực. Con đã dụng công quá sức nên trở thành trầm cảm nặng. Khi đó con biết là mình đã gặp rắc rối, bị trầm cảm chính vì sự thực tập. Con phải làm gì đây? Con cần phải đi tới một trung tâm thực tập, có bạn cùng tu thì sẽ dễ dàng hơn cho con.

Khi tới Làng, con ở trong một tình trạng rất tệ. Con đến đây để nương tựa. Tuy nhiên, lúc đó con không thích Làng Mai chút nào. Nào là đông người, nào là mọi người hay cười, hay hát… (con vốn quen với truyền thống Theravada). Nhưng trực giác bảo rằng con cần phải ở đây. Có những điều con muốn khám phá, dù rằng trong con vẫn còn nhiều phản kháng. Đôi khi, có những điều trong chiều sâu tâm thức mà con chưa hiểu hết được.

Con nhớ lần đầu tiên con tới Làng Mai mùa hè năm 2014. Đêm đầu tiên, trời mưa như trút nước, con phải ngủ trong thiền đường Chuyển hóa của xóm Thượng. Quá mệt mỏi sau một chuyến đi dài nên con đã ngủ ngay lập tức và chỉ một lát sau, con có một giấc mơ rất sống động… Con mơ thấy nước dâng đầy trong thiền đường Chuyển hóa, phía trước tượng Bụt. Con lấy tay khỏa nước và thấy rất vui. Ánh sáng từ dưới đáy nước chiếu lên giống như trong một hồ bơi. Đó là một giấc mơ đẹp và rất rõ ràng, rất thực làm con nhớ mãi.

Và bây giờ thì con đã trở thành một vị xuất sĩ của Làng Mai!!! Vào lúc đó con không hề nghĩ là mình sẽ xuất gia ở đây. Bây giờ thì con rất hạnh phúc được làm một người tu. Cứ như một giấc mơ đã trở thành hiện thực!

Sư chú Chân Trời Khiết Hỷ (người Colombia):

Con đến Làng lần đầu tiên vào Giáng sinh 2006, đúng lúc Thầy đang cho pháp thoại. Từ hôm ấy, con đã ước mong được sống cùng tăng thân. Hồi còn nhỏ, mỗi lần đọc Kinh Thánh là con cảm thấy như được gặp Chúa Ki-tô. Và khi đến Làng, con thấy mình tiếp xúc được với Chúa qua những lời giảng của Thầy, dù là Thầy giảng về Bụt.

Thực tình thì con không thấy có gì khó khăn khi sống và tu tập ở Làng Mai. Con đã đi qua đau khổ cùng cực trong quá khứ nên hôm nay con trân quý hạnh phúc mà mình đang có. Con hạnh phúc vì đã gặp được Thầy và tăng thân. Con hạnh phúc được buông bỏ tất cả những khổ đau. Con không đòi hỏi gì hơn ở cuộc đời. Hạnh phúc đơn sơ của con là thưởng thức từng giây từng phút và đi theo bước chân của Thầy vì Thầy là một tấm gương lớn trong việc sống hạnh phúc trong hiện tại.

Sư cô Chân Trăng Giác Ân (người Singapore):

Khoảng năm hay sáu năm trước con bắt đầu nghĩ đến việc xuất gia. Con thường tới tu viện Lộc Uyển (một trung tâm của Làng Mai tại California, Mỹ) vì con sống và làm việc ở Hawaii. Con tới Lộc Uyển để tìm hiểu xem đây có phải là con đường đúng đắn cho con không. Trong ba tuần ở đó, con đã thực tập rất hết lòng.

Một ngày kia, con ngồi trong thư quán và đọc sách của Thầy. Trong cuốn sách đó, Thầy kể về những cô gái bị đẩy vào con đường mãi dâm ở Thái Lan. Thầy dạy rằng những cô gái ấy có mặt đó bởi vì chúng ta có mặt ở đây. Bất chợt thế giới mở òa ra với con. Con thấy được thế giới bằng con mắt hoàn toàn khác trước. Đó là một khoảnh khắc, một trải nghiệm vô cùng mạnh mẽ. Con cảm thấy mình phải kể ngay với ai đó về điều này mới được. Con tìm thấy thầy Pháp Hộ đang có mặt ở ngay đó. Thầy nói: “À, đó là tuệ giác”. Con nói: “Con không muốn đi ngủ, bởi vì con không muốn đánh mất nó!” Con gắng ngồi suốt cả đêm. Con tránh nói chuyện với mọi người và tránh làm mọi chuyện khác. Nhưng thầy nói với con rằng con không thể giữ khư khư theo cách như vậy được.

Thầy Pháp Hộ có nói một điều thật có ích cho con, thầy nói: “Mặt trời mọc, rồi mặt trời lặn, và chị phải đi ăn sáng”. Thực sự con được chạm đất. Con vẫn còn nhớ điều đó cho đến hôm nay, mỗi lần con có chút ít ánh sáng gì khác mà con cứ cố bám giữ lấy.

Trải nghiệm vừa kể trên đã giúp con thấy được thế giới bên trong có thể rộng lớn đến thế nào, tuyệt vời đến thế nào. Nó vượt lên trên những gì mà con có thể tưởng tượng. Con trở lại Lộc Uyển vào dịp Phật đản. Ký ức về hôm đó vẫn còn sống động trong con. Khi ngắm mặt trăng tròn đầy con đã phát đại nguyện và xin cuộc đời cho con được trở thành một người tu.

Khóa tu đầu tiên con được tham dự là ở Singapore. Thầy từng kể trong những cuốn sách của Thầy về thời gian Thầy ở Singapore, Thầy đã mua một con tàu chở hàng để đi cứu những thuyền nhân trên biển. Chính phủ Singapore thời đó đã trục xuất Thầy. Ở khóa tu, con đã khóc rất nhiều, và cũng được trị liệu rất nhiều. Con cảm thấy, là một công dân Singapore, mình phải chịu trách nhiệm cho cách đối xử lạnh lùng này đối với những thuyền nhân Việt Nam. Con đã xin sư cô phụ trách gia đình pháp đàm thay con thưa với Thầy, xin được Thầy tha thứ.

Con không được nói chuyện trực tiếp với Thầy, nhưng ngày hôm sau có một vài biểu hiện và ánh mắt của Thầy làm con có cảm giác rằng con có thể buông bỏ cảm xúc trên được rồi. Đó là lần đầu tiên con thấy được tình thương vô bờ bến của Thầy. Đó là thứ tình thương mà khi có nó bạn có thể giúp đỡ ngay cả những người đã từng làm bạn tổn thương hoặc đau đớn. Điều đó đã động đến một cái gì sâu thẳm trong con.

Sư cô Chân Trăng Giác Hiếu (người Úc gốc Việt):

Điều thực sự đánh động và làm cho con quyết tâm trở thành người tu là khi con được tham vấn với một sư cô Làng Mai về những khó khăn trong lòng mình. Vừa mới bắt đầu câu chuyện là con đã khóc như mưa. Còn sư cô thì ngồi đó, thật đẹp, thật bình an, rất tươi mát và rất yên. Tối đó, trở về nhà, con chỉ thấy hình ảnh của sư cô trong tâm trí: vững chãi, bình an và đầy từ bi. Thật là thanh thản, tràn đầy năng lượng tâm linh và sức sống. Con tự nói với mình: “Mình muốn trở thành một người như vậy”. Thế là con đến tu viện Nhập Lưu thực tập trong ba tháng mùa đông và sau đó con đến Làng Mai, Pháp. Con đã đi qua nhiều thử thách nhưng con vẫn thật sự muốn được theo đuổi con đường này.

 

BBT: Một trong những cái mà các sư em cảm thấy khó buông bỏ nhất để trở thành một người xuất gia là gì?

Sư cô Chân Trăng Giác Ân:

Cái con thấy khó buông bỏ nhất là chiếc tàu của mình. Ở Hawaii con có một chiếc tàu, chiếc tàu mà con mơ ước. Khi mua một chiếc tàu, mình cũng đồng thời mua một ước mơ. Đó là ước mơ của tự do, tự tại, của đại dương và sóng vỗ. Ở chỗ con làm việc, đồng nghiệp hay đùa là nếu bắt con làm việc vất vả quá con sẽ lên tàu và đi về phía mặt trời lặn. Đúng vậy, chắc là con sẽ làm như thế.

Sống trên tàu cũng là một cách để con góp phần giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, với một “dấu ấn carbon” (carbon footprint) thật nhỏ. Đó không chỉ đơn thuần là cái con thích làm, mà nó còn đi đôi với quan niệm sống của con. Vì vậy buông bỏ con tàu là một điều khá khó khăn cho con.

Cuối cùng con đã tặng lại chiếc tàu cho con trai người chủ trước. Chiếc tàu đã gắn bó với gia đình đó trong hai mươi năm nên con biết chắc là nó đã trở về một nơi tốt đẹp. Đối với con, điều đó quan trọng hơn là tiền bạc. Giờ thì con rất hạnh phúc được ở Làng. Nhưng giấc mơ được sống trong một tu viện cạnh bờ biển vẫn đang tiếp tục được ấp ủ trong con (cười).

Sư cô Chân Trăng Giác Hiếu:

Vào mùa hè con thường ra bãi biển, chạy, đi bộ hay bơi. Dù con có làm việc nhiều thế nào, dù gặp phải khó khăn gì, nhưng chỉ cần được nhảy xuống nước và bơi là con được “sạc pin” trở lại. Vì vậy một trong những thứ mà con hơi khó buông bỏ là bơi lội và cuộc sống bên bờ biển.

Tuy nhiên con thực sự yêu thích nếp sống xuất gia nên con thường nhận diện những điều may mắn mà mình có khi được là một sư cô để bù lại cho niềm đam mê bơi lội của mình. Một trong rất nhiều những điều may mắn đó là con thực sự thấy mình có thật nhiều tự do. Con có thời gian để chăm sóc bản thân, lắng nghe và có mặt cho chính mình. Con thương và chấp nhận được mình mà không còn ganh đua và bỏ chạy nữa. Con không cần phải mang một cái mặt nạ hoặc chơi trò đóng kịch (mà khi trước con cảm thấy mình phải làm như vậy). Con thấy mình được phép có không gian và thời gian để chơi, học và chuyển hóa. Mỗi buổi sáng thức dậy, con thực tập quán từ bi và bày tỏ lòng biết ơn vì những gì con đang có được trong giây phút hiện tại. Con cảm thấy mình thật giàu có và may mắn trên con đường này.

BBT: Sau khi xuất gia được chuyển vào ở tăng xá/ ni xá, các sư em cảm thấy như thế nào? Có khác biệt gì nhiều so với lúc tập sự không?

Sư chú Chân Trời Khiết Minh (người Úc gốc Việt, xuất gia theo chương trình 5 năm):  

Trước khi xuất gia, con không có một khái niệm rõ ràng về cuộc sống của một vị xuất sĩ Làng Mai. Thoạt đầu con chỉ đơn giản nghĩ rằng mọi thứ cũng sẽ giống như lúc con làm tập sự, cũng ngồi thiền hai thời, thiền hành, chấp tác, ăn cơm ba bữa… Sự khác biệt mà con hình dung lúc đó là mình sẽ nhận và hành trì các giới pháp khác, mặc pháp phục khác, được gọi bằng một cái tên có vẻ “ngầu” hơn, đầu thì bóng loáng hơn, không còn dùng lược và keo xịt tóc, và chắc chắn là nằm trên một cái giường khác “êm” hơn. Vì thế con cũng không quá háo hức về những vấn đề khác ngoại trừ việc mình trở thành con của Bụt và thành đệ tử của Sư Ông.

Sau khi dọn vào tăng xá, con cảm thấy bất ngờ với sự dồi dào, chân thật của tình huynh đệ và sự thương yêu đùm bọc sẻ chia cho nhau, từ nụ cười niềm vui, miếng ăn và đôi lúc cả những khó khăn, khổ đau. Một trong những hình ảnh nuôi dưỡng con mỗi ngày là nhìn thấy một hàng dài những tà áo nâu đi từ tăng xá đến thiền đường vào giờ ngồi thiền lúc sớm mai. Đó là một hình ảnh rất đẹp!

Con cảm thấy rất ấm áp và gắn kết với tăng thân. Tuy nhiên, khoảng thời gian đầu con cảm nhận thời gian trôi qua rất nhanh. Trong khi đó chất lượng của sự thực tập, sự tinh tấn trong con dường như không có. Rồi một hôm con dừng lại và quán chiếu thì con nhận ra rằng mình đang bị cuốn trôi theo những cuộc đối thoại hơi dài và không có một thời khóa tu tập riêng cho chính mình ngoài thời khóa chung với đại chúng. Thế là con tự làm ra một bảng kế hoạch mà con tự cho là “hoàn mỹ, trên cả tuyệt vời”.  

Ở Làng Mai, con thấy mình có thể học bất cứ điều gì, miễn là điều ấy đem lại sự nuôi dưỡng. Âm nhạc, khoa học, những nghiên cứu y khoa, toàn là những cái con thích. Con ghi xuống những cái mình cần học: Piano, ghi-ta, bóng đá, bóng bàn, các ngoại ngữ (tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha, chữ Hán, tiếng Nhật, tiếng Hàn quốc…) Nhưng rồi tâm con chợt đọng lại như một tiếng chuông chánh niệm với câu hỏi: “Thế còn tôi thì sao? Chừng nào bạn mới dành thời gian cho tôi? Mục đích xuất gia của bạn là gì?” Từ những câu hỏi này, con đã nhìn ra rằng mình nên dành nhiều thời gian cho việc học nội điển và cho chính mình nhiều hơn. Một trong những cái mà con phải học, đó là không chất chứa thêm mà cần phải buông bỏ bớt.

Nguyện ước sâu xa nhất của con là giúp người bớt khổ. Đó là mục tiêu của đời con, là nguồn cảm hứng và động lực cho con đi trên con đường này. Nói tóm lại, hiện tại con cảm thấy rất hạnh phúc và may mắn khi được sống và tu tập cùng tăng thân.

BBT: Các sư em cảm thấy như thế nào khi mình không có nhiều cơ hội được gần Thầy trong suốt thời gian các sư em tập sự xuất gia? Sự vắng mặt của Thầy ở Làng có ảnh hưởng gì đến sự thực tập hay chí nguyện của các sư em không?

Sư cô Chân Trăng Giác Minh (người Indonesia):

Khi con tới Làng thì Thầy đã bị bệnh. Con chỉ được gặp Thầy tất cả có ba lần, nhưng chỉ từ xa. Trong lễ khai mạc khóa An cư kiết đông 2016 – 2017 ở xóm Thượng, Thầy xuất hiện ở thiền đường Nước Tĩnh một cách bất ngờ. Khi con nhìn thấy Thầy, con muốn mỉm cười với Thầy nhưng vì con hay mắc cỡ nên con mỉm cười và nhìn xuống, rồi con lại nhìn Thầy, cười rồi nhìn xuống một lần nữa. Con nghĩ Thầy đã mỉm cười với con, làm con càng thấy rụt rè, bẽn lẽn hơn. Đó là một giây phút rất đẹp đối với con!

Dù con chỉ nhìn thấy Thầy có ba lần nhưng qua những bài pháp thoại mà con được nghe bằng DVD, con thấy mình có liên hệ mật thiết với Thầy. Đôi khi quý thầy, quý sư cô lớn chia sẻ về kỷ niệm với Thầy, con có thể cảm được Thầy là một người rất vui và hạnh phúc đến thế nào.

Có lần thầy Pháp Dung kể một câu chuyện khi được đi hướng dẫn khóa tu với Thầy. Trên đường đi, xe buýt dừng lại ở một trạm có siêu thị và Thầy đã mua kem cho tất cả các thầy và sư cô cùng ăn. Con nghĩ dù là một thiền sư, Thầy vẫn thưởng thức kem, và điều đó làm con rất vui.

BBT: Khi gia nhập vào một tăng thân đa dạng về văn hóa như Làng Mai, các sư em cảm thấy như thế nào? Có nhiều khó khăn không?

Sư chú Chân Trời Khiết Lâm:

Con rất biết ơn là tăng thân Làng Mai có rất nhiều văn hóa khác nhau, đó là cơ hội cho con được nhìn lại chính mình, để thấy tại sao có khi mình không hợp với người này hay người khác. Nếu chỉ có một nhóm người duy nhất cùng văn hóa, con sẽ không bao giờ có cơ hội đó.

Vì vậy sự đa dạng ở Làng Mai đối với con rất quan trọng. Dĩ nhiên đó cũng là thử thách, nhưng đó là một điều tốt bởi vì con phải cố gắng tu tập hơn. Khi có khó khăn, việc đầu tiên con làm là nhìn sâu để thấy nó đến từ đâu thay vì muốn thay đổi môi trường, tìm cách sống khác dễ dàng hơn hay trốn chạy.

Sư chú Chân Trời Khiết Tâm (người Áo):

Trở thành một vị xuất gia ở Làng Mai là điều tốt đẹp nhất trong cuộc đời của con. Trước đây con đã bắt đầu thiền tập một mình. Rồi tới một lúc con cảm thấy mình cần có bạn đồng tu, vì vậy con đến Làng Mai. Ngay khi đến đây con nghĩ có lẽ đây là một chỗ rất tốt cho mình vì ở đây tăng thân có hạnh phúc, sống đơn giản, thực tế, cởi mở và không bị kẹt vào hình thức.

Làng Mai cũng như tất cả mọi nơi trên thế giới ngày nay, cũng hội tụ đủ mọi văn hoá. Bởi vì bây giờ sự di chuyển rất dễ dàng, lại có mạng lưới internet. Mọi thứ đều trộn lẫn với nhau.

Con rất hạnh phúc khi nhận được quyển sách Tâm tình với đất Mẹ. Trong đó Thầy có nói là chúng ta là một phần của gia đình nhân loại, cũng là một phần của gia đình động thực vật và toàn vũ trụ. Điều này làm con được đánh động! Trung tâm thực tập của chúng ta chính là một cơ hội để ứng dụng cái thấy đó.

Và dưới đây là bài thơ mang tên các sư chú, sư cô trong gia đình cây Bạch Dương, được ba sư chú Khiết Minh làm để kỷ niệm ngày biểu hiện cây Bạch Dương, tại Làng Mai, Pháp.

Mùa xuân 2018

Giới thứ ba: Bảo vệ tiết hạnh

 

Ý thc được nhng khổ đau do thói dâm gây ra, con xin hc theo tinh thần trách nhiệm để giúp bảo vệ tiết hạnh sự an toàn của mọi người mọi gia đình trong hội. Con nguyện không ăn nằm với những người không phải vợ hay chồng của con. Con ý thức được rằng những hành động bất chính sẽ gây ra những đau khổ cho kẻ khác cho chính con. Con biết muốn bảo vệ hạnh phúc của mình của kẻ khác thì phải biết tôn trọng những cam kết của mình của kẻ khác. Con sẽ làm mọi cách thể để bảo vệ trẻ em, không cho nạn dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình của đời sống đôi lứa.

Hành động tà dâm đã gây tàn hoại cho không biết bao nhiêu cuộc đời, làm đổ vỡ không biết bao nhiêu gia đình. Thực tập Giới thứ ba là để hàn gắn cho mình và hàn gắn cho xã hội. Đó là sống có chánh niệm.

Giới thứ năm – không tiêu thụ rượu, ma túy, và các độc tố gây ra – có liên hệ với Giới thứ Ba. Cả hai đều liên quan đến lối sống có tính cách phá hoại và làm mất đi sự vững chãi. Các Giới này là liều thuốc thích đáng nhất cho chúng ta. Ta chỉ cần tự mình giữ giới, và thế nào những người xung quanh ta cũng sẽ thấy được sự thật. Sự vững chãi của bản thân ta cũng như của gia đình ta không thể có được nếu không có sự hành trì hai Giới này. Nếu nhìn vào những cá nhân và gia đình không có vững chãi và hạnh phúc, ta sẽ thấy nhiều người trong số họ không thực tập hai Giới này. Ta có thể tự mình chẩn bệnh, và ta nhận ra rằng thuốc trị cũng có đó. Thực tập những Giới này là cách hay nhất để khôi phục lại sự vững chãi trong gia đình và xã hội. Với một số người, Giới này rất dễ thực tập, nhưng với một số người khác thì Giới này lại rất khó giữ. Những người này cần phải đến với nhau và chia sẻ kinh nghiệm.

Trong truyền thống đạo Bụt, ta nói đến tính thống nhất của thân tâm. Cái gì xảy ra cho thân cũng đồng thời xảy ra cho tâm. Sự trong sạch của thân thể cũng là sự trong sạch của tâm hồn; sự bạo động của thân cũng chính là sự bạo động của tâm. Khi giận, chúng ta nghĩ mình giận trong tâm chứ không phải giận nơi thân, nhưng điều ấy không đúng. Khi thương ai, ta muốn ở gần người đó, khi giận ai ta lại không muốn đụng đến họ, hay bị họ đụng đến mình. Ta không thể nói thân là riêng và tâm là riêng.

Quan hệ giới tính là một kết hợp giữa thân thể và tâm hồn. Đây là một cuộc gặp gỡ hết sức quan trọng, không thể hành động một cách tùy tiện, bê bối được. Trong tâm hồn ta có những vùng riêng tư -những kỷ niệm, những nỗi đau, những bí mật –, ta chỉ muốn chia sẻ với người ta thương và tin cậy nhất mà thôi. Không phải với ai mình cũng đem tâm can ra thổ lộ. Trong Hoàng Thành có một khu vực không ai được bước đến, gọi là Tử Cấm Thành; chỉ có nhà Vua và thân tộc mới được qua lại trong đó mà thôi. Trong tâm hồn ta cũng có một vùng như vậy, ta không cho phép ai bước vào, ngoại trừ người mà ta thương và tin cậy nhất.

Với thân thể cũng vậy. Có những vùng nơi thân thể ta không muốn ai lại gần hay đụng đến, trừ phi đó là người mà ta kính trọng, thương và tin cậy nhất. Khi ta bị đụng chạm một cách bừa bãi, tùy tiện, với một thái độ thiếu nhẹ nhàng tế nhị, ta cảm thấy bị sỉ nhục trong thân thể và tâm hồn. Một người đến với ta bằng sự tôn trọng, nhẹ nhàng, tế nhị, và hết lòng quan tâm mang lại cho ta một sự truyền thông và cảm thông sâu sắc. Chỉ trong trường hợp đó ta mới không cảm thấy bị tổn thương, xúc phạm, hay lợi dụng, cho dù một mảy may. Điều này không thể xảy ra nếu không có tình thương và sự cam kết đích thực. Quan hệ bừa bãi không thể được gọi là tình yêu. Tình thương thì sâu, đẹp, và trọn vẹn.

Tình thương đích thực phải có sự kính trọng. Trong văn hoá Á Đông, vợ chồng phải trân trọng nhau như khách, khi thực tập kính trọng như vậy, tình thương và hạnh phúc sẽ tiếp tục lâu dài. Trong quan hệ giới tính, sự tôn trọng là một trong những yếu tố quan trọng nhất. Sự kết hợp giới tính phải giống như một nghi lễ, được cử hành trong chánh niệm với sự tôn trọng, quan tâm, và thương yêu lớn. Tham muốn không phải là tình thương. Thương là một cái gì thiên về trách nhiệm. Trong tình thương có sự quan tâm chăm sóc.

Chúng ta phải khôi phục lại ý nghĩa của chữ ‘yêu.’ Chúng ta đã sử dụng từ này một cách bừa bãi. Khi ta nói, ‘Tôi yêu (thích) cà rem,’ ta không phải nói về tình yêu. Ta đang nói về sự thèm ăn của ta, thèm món cà rem. Ta không nên nói phóng đại và dùng sai từ như thế. Làm như vậy, ta khiến cho các từ ngữ như ‘yêu’ bị bệnh. Chúng ta phải nỗ lực để chữa lành cho ngôn ngữ chúng ta bằng cách thận trọng trong khi dùng từ. Từ ‘yêu’ là một trong những từ rất đẹp. Ta phải khôi phục lại ý nghĩa của nó.

”Con nguyện không ăn nằm với những người không phải là vợ hay chồng của con.” Nếu chữ ”yêu” được hiểu theo nghĩa sâu sắc nhất của nó, tại sao chúng ta phải nói đến ”sự cam kết lâu dài”? Nếu tình thương có thật, ta không cần phải có cam kết dài hay ngắn, hay thậm chí đám cưới. Tình thương đích thực phải có ý thức trách nhiệm, chấp nhận người kia như là chính họ, với những điểm mạnh và yếu kém của người đó. Nếu ta chỉ thích những gì tốt đẹp nhất nơi người đó thì đó không phải là tình thương. Ta phải chấp nhận những yếu kém của người kia và mang sự kiên nhẫn, hiểu biết, và năng lượng của mình để giúp người kia chuyển hoá. Tình thương là phải là Từ, maitri, khả năng mang lại niềm vui và hạnh phúc, và Bi, karuna, khả năng chuyển hoá nỗi khổ niềm đau. Tình thương theo cách này chỉ mang lại sự tốt đẹp. Nó không thể được diễn tả là tiêu cực hay hủy hoại. Tình thương như vậy an toàn, và bảo đảm được tất cả.

Ta có nên thay đổi ”cam kết lâu dài” bằng ”cam kết ngắn hạn” không? ”Cam kết ngắn hạn” có nghĩa là ta có thể sống với nhau vài bữa rồi sau đó kết thúc liên hệ. Đó không phải là tình thương. Nếu ta có một liên hệ như vậy, ta không thể nói liên hệ đó đến từ tình thương và sự quan tâm chăm sóc. ”Cam kết lâu dài” giúp người ta hiểu được ý nghĩa của chữ ”thương yêu.” Trong một tình thương đích thực, cam kết chỉ có thể là cam kết lâu dài. ”Tôi muốn thương em. Tôi muốn giúp em. Tôi muốn chăm sóc cho em. Tôi muốn phấn đấu cho hạnh phúc. Nhưng chỉ trong vài hôm thôi.” Có hợp lý chút nào không?

Ta sợ phải cam kết – với Giới, với lứa đôi, và với mọi thứ. Ta muốn có tự do. Nhưng hãy nhớ rằng, ta phải cam kết thương yêu con mình một cách sâu sắc, giúp đỡ nó đi qua hành trình cuộc đời cho đến khi nào ta không còn sống nữa. Ta không thể nói, ”Ba không thương con nữa.” Khi ta có một người bạn tốt, ta cũng làm một cam kết lâu dài. Ta cần người ấy. Huống hồ là với người muốn cùng ta chia sẻ cuộc đời, tâm hồn, và thân thể. ”Cam kết lâu dài” không thể diễn tả được chiều sâu của tình yêu, nhưng ta phải mượn từ để nói cho người ta hiểu.

Sự cam kết lâu dài giữa hai người chỉ là điểm khởi đầu. Chúng ta còn cần có sự nâng đỡ của bạn bè và những người khác nữa. Đó là vì sao xã hội chúng ta có lễ cưới. Hai gia đình cùng đến với bạn bè để làm chứng cho sự kiện hai người về chung sống với nhau như một đôi lứa. Vị chủ hôn và tờ hôn thú chỉ là những biểu tượng. Điều quan trọng là sự cam kết của hai người được chứng minh bởi hai họ và nhiều bè bạn. Bây giờ hai người có sự yểm trợ của những người này. Một cam kết lâu dài sẽ mạnh và dài lâu hơn nếu được làm trong khung cảnh của Tăng thân.

Tình cảm sâu đậm của hai người rất quan trọng, nhưng không đủ để duy trì hạnh phúc. Không có những yếu tố khác, cái mà ta gọi là tình yêu chẳng bao lâu sẽ có thể trở thành chua chát. Sự cùng đến yểm trợ của gia đình và bạn bè đã dệt nên một mạng lưới. Sức mạnh của tình cảm hai người chỉ là một sợi tơ trong mạng lưới đó. Được yểm trợ bởi nhiều yếu tố, đôi lứa ấy sẽ vững hơn, như một cái cây. Nếu cái cây muốn khoẻ mạnh, nó cần phải cắm một số rễ sâu vào lòng đất. Nếu cái cây chỉ có một cái rễ, nó có thể sẽ bị gió lật trốc. Đời sống lứa đôi cũng cần có sự hổ trợ của nhiều yếu tố khác nhau – gia đình, bè bạn, lý tưởng, tu tập, và Tăng thân.

Ở Làng Mai, cộng đồng tu tập nơi tôi sống tại Pháp, mỗi khi có một Lễ Cưới, cả cộng đồng được mời tới để ăn mừng và hổ trợ cho hai người. Sau Lễ cưới, mỗi ngày rằm, hai vợ chồng đọc lại Năm Điều Ước nguyện với nhau, nhớ lại rằng bạn bè khắp nơi đều đang nâng đỡ cho liên hệ của họ được vững bền và hạnh phúc [2]. Cho dù liên hệ của hai người có được kết hợp bởi luật pháp hay không, nó cũng sẽ mạnh và bền hơn nếu được cam kết với sự hiện diện của Tăng thân – những người bạn thương mến và muốn yểm trợ mình trong tinh thần của Hiểu và Từ Bi.

Tình yêu có thể là một căn bệnh. Ở Tây phương cũng như Á Châu đều có từ ”bệnh tương tư.” Cái làm chúng ta bệnh là sự ràng buộc. Dù đó là một nội kết ngọt ngào, thứ tình thương ràng buộc này cũng giống như thuốc phiện. Nó làm cho chúng ta thấy khoan khoái, nhưng một khi đã nghiện ngập, ta không còn một chút bình an nào nữa. Ta không thể học, không thể làm việc gì, thậm chí không thể ngủ. Ta chỉ nghĩ đến đối tượng kia thôi. Ta bị bệnh vì tình. Thứ tình này dính líu đến ước muốn chiếm hữu và độc quyền của ta. Ta muốn đối tượng tình yêu của ta phải hoàn toàn thuộc về ta và chỉ riêng cho ta mà thôi. Đó là sự chuyên chế. Ta không muốn ai ngăn không cho ta ở gần người đó cả. Thứ tình yêu này có thể được gọi là nhà tù, nơi ta giam cầm người ta thương và chỉ gây khổ đau cho người ấy. Người bị thương bị tước đoạt đi tự do – quyền được là mình và vui sống. Thứ tình yêu này không thể được gọi là Từ (maitri) hay Bi (karuna.) Nó chỉ là ước muốn dùng người khác để thoả mãn những nhu cầu của mình mà thôi.

Khi có những năng lượng tình dục làm cho ta không hạnh phúc, mất đi sự an ổn nội tại, ta cần phải biết thực tập để không làm những việc mang lại khổ đau cho người và cho mình. Ta phải học điều này. Ở châu Á, ta nói có ba loại năng lượng – tinh, khí, và thần. Tinh, năng lượng tình dục, là loại đầu. Khi ta có nhiều năng lượng tình dục hơn mức độ cần thiết, cơ thể và toàn bộ con người ta sẽ mất quân bình. Ta cần phải biết làm sao để tái lập lại quân bình, nếu không ta sẽ có thể hành xử một cách vô trách nhiệm. Trong đạo Lão và đạo Bụt, có những phép thực tập giúp tái lập lại sự quân bình này, như tập thiền hay võ thuật. Ta có thể học những cách để chuyển năng lượng tình dục này sang những mức độ thành đạt sâu trong nghệ thuật và thiền tập.

Nguồn năng lượng thứ hai là khí, hơi thở. Sự sống có thể được xem như một tiến trình đốt cháy. Để đốt, mỗi tế bào trong cơ thể ta cần thức ăn và dưỡng khí. Trong Kinh Lửa, Bụt nói, ”Mắt đang cháy, mũi đang cháy, thân đang cháy.” Trong đời sống hằng ngày, ta phải nuôi dưỡng năng lượng của mình bằng cách thực tập thở cho đúng. Chúng ta nhờ không khí và oxygen trong đó, vì vậy ta phải cẩn thận tránh không khí ô nhiễm. Có những người nuôi dưỡng khí bằng cách tránh hút thuốc và chuyện trò, hay thực tập hơi thở chánh niệm sau khi phải nói nhiều. Khi nói, ta nhớ dành thì giờ để thở. Ở Làng Mai, mỗi khi nghe chuông chánh niệm, mọi người đều dừng lại những gì họ mình đang làm và thở ba hơi thở có ý thức. Chúng tôi thực tập như vậy để phát triển và giữ gìn năng lượng khí.

Nguồn năng lượng thứ ba là thần, năng lượng của tinh thần. Khi không ngủ ban đêm, ta mất một số năng lượng này. Hệ thần kinh của chúng ta trở nên mệt mỏi và ta không thể học, hành thiền hay quyết đoán tốt được. Thần trí ta không minh mẫn vì thiếu ngủ hoặc lo lắng quá độ. Lo nghĩ, bồn chồn làm kiệt quệ năng lượng này.

Vậy thì đừng lo lắng. Đừng thức khuya quá. Giữ hệ thống thần kinh của mình cho khoẻ mạnh. Tránh bồn chồn. Những thực tập như vậy nuôi dưỡng nguồn năng lượng thứ ba. Ta cần năng lượng này để thực tập thiền cho tốt. Sự khai mở tâm linh cần sức mạnh tinh thần, có được nhờ định và nhờ biết bảo tồn nguồn năng lượng này. Khi có năng lượng tinh thần mạnh, ta chỉ cần chuyên tâm vào đối tượng, và ta sẽ có sự khai mở. Không có thần, ánh sáng định sẽ không toả sáng, vì ngọn đèn phát ra rất yếu ớt.

Theo y học Á Đông, thần lực có liên hệ đến tinh lực. Tiêu xài tinh lực thì cần phải có thời gian mới khôi phục lại được. Trong y học Trung Quốc, muốn có một tinh thần và một định lực mạnh, ta được khuyên phải tránh có liên hệ giới tính hay ăn uống quá độ. Người ta dùng dược thảo, rễ cây và thuốc để bồi bổ thần, và trong khi uống thuốc ta phải tránh các liên hệ giới tính. Nếu thần yếu mà ta vẫn tiếp tục quan hệ tình dục, Trung Y cho rằng thần lực sẽ không thế nào cứu vãn được. Những ai tập thiền nên tập gìn giữ tinh lực vì họ cần đến năng lượng này trong thiền tập. Nếu là một nghệ sĩ, có lẽ bạn cũng nên thực tập chuyển tinh và thần của mình vào tác phẩm.

Trong cuộc tranh đấu dành lại độc lập cho Ấn Độ từ tay người Anh, ông Gandhi đã tuyệt thực nhiều lần, và ông đã khuyên những người bạn tham dự tuyệt thực với ông trong khi nhịn ăn không nên giao hợp. Khi đã nhịn ăn nhiều ngày rồi mà còn có quan hệ giới tính thì có thể chết; phải biết bảo tồn năng lượng. Một người bạn của tôi, thầy Trí Quang, đã nhịn ăn một trăm ngày ở nhà thương Sài Gòn nằm 1966, biết rất rõ không hành dục là điều rất cơ bản. Dĩ nhiên, là một thầy tu, Thầy không có vấn đề gì với chuyện ấy. Thầy cũng biết rõ rằng nói chuyện làm hao hơi tổn khí, thầy cũng tránh nói chuyện. Khi cần gì, Thầy chỉ nói một hay hai chữ, hoặc viết xuống. Viết, nói, hay cử động nhiều đều lấy đi năng lượng từ ba nguồn này. Vậy thì hay nhất là nằm xuống và tập thở sâu. Thở như vậy sẽ mang lại cho ta sức sống cần thiết để đi qua cơn tuyệt thực một trăm ngày. Một khi không ăn, ta không thể tiếp vào năng lượng dinh dưỡng. Nếu ta bớt đi việc học, nghiên cứu, hay lo nghĩ, ta có thể bảo tồn được nguồn năng lượng này. Ba nguồn năng lượng đều có liên hệ với nhau. Tu dưỡng một nguồn, ta cũng giúp những nguồn kia. Đó là vì sao anapanasati, sự thực tập hơi thở có ý thức, là rất quan trọng trong nếp sống tâm linh. Sự thực tập này trợ giúp cho tất cả mọi nguồn năng lượng khác trong ta.

Những người xuất gia, nam hay nữ, không có những quan hệ giới tính vì họ muốn dồn hết năng lượng của mình để có sự khai mở trong thiền tập. Họ học cách chuyển tinh lực của mình sang tăng cường cho năng lượng tinh thần để có sự khai mở. Họ cũng thực tập thở sâu để tăng thêm năng lượng tinh thần. Sống đời sống độc cư, không có gia đình, họ có thể dồn hầu hết thời gian của mình cho thiền tập và giảng dạy, giúp những người cung cấp tứ sự cho mình. Họ tiếp xúc với dân trong làng để chia sẻ Chánh Pháp. Vì không có nhà hay gia đình để phải chăm sóc, họ có không gian và thời gian để làm những việc họ ưa thích nhất – đi thiền, ngồi thiền, thở, giúp những người xuất gia và tại gia tu học – và đạt được điều họ mong muốn. Người xuất gia không lập gia đình để bảo tồn thời giờ và năng lượng cho sự tu tập.

”Trách nhiệm” là từ then chốt trong Giới thứ Ba. Trong một cộng đồng tu tập, nếu không có tà hạnh, nếu cộng đồng đó thực tập Giới này giỏi, thì sẽ có sự vững chãi và an bình. Mọi người đều cần phải thực tập Giới này. Ta tôn trọng, yểm trợ, và bảo hộ lẫn nhau như những người anh, người chị, người em trong Đạo. Nếu không thực tập Giới này, ta có thể sẽ trở nên vô trách nhiệm và tạo vấn đề rắc rối cho cộng đồng tu tập của ta và cộng đồng lớn bên ngoài. Chúng ta đã từng thấy điều này. Nếu một vị thầy mà không tự chế được, ngủ với đệ tử, thì vị ấy sẽ hủy hoại tất cả, có thể là vài thế hệ lận. Chúng ta cần chánh niệm để có ý thức trách nhiệm này. Chúng ta không tà hạnh vì chúng ta có tránh nhiệm đến sự an nguy của bao nhiêu người. Nếu vô trách nhiệm, ta có thể sẽ làm đổ vỡ tất cả. Thực tập Giới này, ta giữ cho Tăng Đoàn còn đẹp mãi.

Trong quan hệ giới tính, người ta có thể bị thương tổn. Thực tập Giới này là để ngăn không để cho mình và kẻ khác bị thương. Thường ta nghĩ rằng chỉ có người phụ nữ mới bị thương, nhưng người đàn ông cũng bị thương rất nặng. Chúng ta phải hết sức cẩn thận, nhất là trong những cam kết ngắn hạn. Thực tập Giới thứ ba là cách hữu hiệu nhất để khôi phục lại sự bình an và vững chãi trong ta, trong gia đình và xã hội ta. Chúng ta phải dành thời gian để thảo luận về những vấn đề liên quan đến sự thực thập Giới này, như cô đơn, quảng cáo, thậm chí cả vấn đề mãi dâm.

Cảm giác cô đơn rất phổ biến trong xã hội ta. Không có truyền thông giữa ta và người khác, kể cả những người trong gia đình; cảm giác cô đơn thúc đẩy ta đi đến chỗ quan hệ tình dục. Ta tin tưởng một cách ngây thơ rằng quan hệ tình dục sẽ giúp ta cảm thấy bớt cô đơn, nhưng điều ấy không đúng. Khi không có đủ truyền thông với người khác về mặt tâm hồn, quan hệ tình dục sẽ đào sâu thêm hố ngăn cách và hủy diệt cả hai bên. Quan hệ của ta sẽ đầy bão tố, ta sẽ chỉ làm khổ nhau. Niềm tin rằng quan hệ giới tính sẽ giúp ta giải toả cô đơn là một thứ mê tín. Ta không nên bị nó đánh lừa. Trên thực tế, ta sẽ cảm thấy còn cô đơn hơn sau đó.

Sự kết hợp của hai thân thể chỉ tích cực khi nào có hiểu biết và cảm thông về mặt tâm hồn. Ngay cả giữa vợ và chồng, nếu sự cảm thông về tâm hồn không có đó, thì sự đến với nhau của hai thân thể chỉ làm cho hai người xa cách nhau thêm. Trong trường hợp đó, tôi khuyên các bạn hãy tránh quan hệ thân xác và tìm cách tái lập truyền thông trước đã.

Tiếng Việt có hai chữ tình và nghĩa, rất khó dịch ra tiếng Anh. Hai chữ đều có nghĩa gần giống với thương yêu. Trong tình, ta thấy có yếu tố say mê sôi nổi. Sự say mê này có thể rất sâu, tràn ngập cả con người mình. Nghĩa là một loại tiếp nối của tình. Với nghĩa ta thấy đằm hơn, có nhiều hiểu biết hơn, sẵn sàng hy sinh để làm cho người kia hạnh phúc hơn, trung thành hơn. Ta không còn hăng say như trong tình, nhưng tình thương của ta sâu hơn và bền hơn. Nghĩa sẽ giữ hai người với nhau lâu dài. Đó là kết quả của sự sống chung và chia sẻ niềm vui và gian khó trong thời gian dài.

Ta bắt đầu bằng sự đam mê, nhưng sống với nhau ta gặp phải khó khăn, và nhờ tìm cách ứng phó với những khó khăn này mà tình yêu của ta sâu đậm thêm. Trong khi sự đam mê phai lạt thì nghĩa lại mỗi lúc một tăng trưởng. Nghĩa là một thứ tình thương sâu hơn, với nhiều trí tuệ hơn, tương tức hơn, đoàn kết hơn. Ta hiểu người kia hơn. Ta và người kia trở nên một thực thể. Nghĩa giống như một trái cây đã chín. Nó không còn chua chát nữa; chỉ có vị ngọt thôi.

Trong nghĩa, ta thấy biết ơn người kia. ”Cảm ơn vì đã chọn tôi. Cảm ơn vì đã làm vợ hay chồng tôi. Có biết bao nhiêu người ngoài kia, tại sao lại chọn tôi? Tôi rất biết ơn.” Đó là chỗ bắt đầu của nghĩa, cảm giác biết ơn người ấy đã chọn mình làm người bạn đồng hành để chia sẻ những gì tốt đẹp nhất của người ấy, cũng như những hạnh phúc và khổ đau của mình.

Khi sống chung, ta hỗ trợ lẫn nhau. Ta bắt đầu hiểu được cảm thọ và những khó khăn của nhau. Khi người kia tỏ ra hiểu được những vấn đề, khó khăn, và chí hướng sâu xa của mình, ta cảm thấy biết ơn sự hiểu biết đó. Khi thấy được người khác hiểu, ta không còn khổ sở nữa. Hạnh phúc, trước hết là cảm thấy được hiểu. ”Tôi biết ơn vì anh đã chứng tỏ là anh hiểu tôi. Trong khi tôi đang gặp khó khăn và thao thức trắng đêm, anh săn sóc tôi. Anh tỏ cho tôi thấy rằng sự an nguy của tôi cũng là sự an nguy của anh. Anh đã làm những điều không thể làm được để mang lại an ổn cho tôi. Anh đã săn sóc tôi theo một cách mà không ai trên đời này có thể có được. Vì vậy tôi biết ơn anh.”

Nếu hai người sống với nhau lâu dài, ”cho đến khi đầu bạc răng long”, đó là vì nghĩa, không phải là vì tình. Tình là tình thương say đắm bồng bột. Nghĩa là thứ tình thương có nhiều hiểu biết và biết ơn ở trong.

Mọi tình thương đều có thể bắt đầu bằng sự say mê, nhất là với người trẻ. Nhưng trong quá trình sống với nhau, họ phải học và thực tập yêu thương, để sự ích kỷ – khuynh hướng chiếm hữu – sẽ bớt đi, và yếu tố hiểu biết, thương yêu sẽ tụ lại dần dần, cho đến khi tình thương của họ trở nên nuôi dưỡng, bảo vệ, và bảo đảm, yên tâm. Với nghĩa, ta biết chắc người kia sẽ chăm sóc ta và thương ta cho đến khi đầu bạc răng long. Không có gì bảo đảm được người kia sẽ ở mãi với ta, ngoại trừ nghĩa. Nghĩa được bồi đắp bởi hai người trong đời sống hằng ngày.

Thiền là nhìn vào bản chất của tình thương của mình để xem những yếu tố nào có mặt trong đó. Ta không thể nói tình thương của mình chỉ là tình hay nghĩa, chiếm hữu hay vị tha, bởi trong tình thương có thể có cùng một lúc hai yếu tố. Có thể có chín mươi phần trăm là tình yêu chiếm hữu, ba phần trăm tình thương vị tha, hai phần trăm sự biết ơn, v.v… Hãy nhìn sâu vào bản chất tình thương của mình để nhận diện ra. Hạnh phúc của người kia và hạnh phúc của bạn tùy thuộc vào bản chất của tình thương của bạn. Lẽ đương nhiên ta có tình thương, nhưng điều quan trọng là bản chất của tình thương đó. Nếu ta nhận thấy có nhiều Từ và Bi trong tình thương của mình, thì tình thương ấy rất đáng yên tâm. Nghĩa sẽ bền trong tình thương ấy.

Con cái, nếu chịu khó nhìn kỹ sẽ thấy điều giữ cha mẹ mình lại với nhau chính là nghĩa chứ không phải tình say đắm. Nếu cha mẹ biết săn sóc cho nhau, trông nom con cái với sự bình tĩnh, dịu dàng, quan tâm, thì nghĩa chính là nền tảng của sự quan tâm đó. Đó là thứ tình thương chúng ta rất cần cho gia đình và xã hội ta.

Trong việc thực tập Giới thứ ba, chúng ta phải luôn luôn nhìn vào bản chất tình thương của mình để thấy rõ và không bị gạt bởi cảm thọ của mình. Đôi khi ta nghĩ ta thương một người, nhưng tình thương ấy có thể chỉ là một cố gắng để thoả mãn những nhu yếu vị kỷ của mình mà thôi. Có thể ta chưa nhìn sâu đủ để thấy những nhu yếu của người kia, trong đó có nhu yếu được an toàn, được bảo vệ. Nếu có cái nhìn khai mở đó, ta sẽ nhận ra rằng người kia cần sự bảo vệ của ta, và ta không thể xem người ấy đơn thuần như một đối tượng của sự ham muốn của mình. Người kia không nên bị xem là một món hàng.

Tình dục trong xã hội ta bị dùng như một phương tiện để bán các mặt hàng. Chúng ta còn có cả ngành kinh doanh tình dục. Nếu ta không nhìn kẻ khác như những con người, với khả năng thành Bụt, ta có nguy cơ phá Giới này. Vì vậy, việc thực tập nhìn sâu vào bản chất của tình thương chúng ta có liên hệ rất nhiều đến sự thực tập Giới thứ ba.

”Con sẽ làm mọi cách có thể để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa.” Những người bị quấy rối tình dục khi còn nhỏ vẫn tiếp tục đau khổ rất nhiều. Những gì họ nghĩ, nói, và làm đều mang dấu tích của vết thương đó. Họ muốn chuyển hoá mình và làm lành vết thương đó, cách hay nhất để làm việc này chính là hành trì Giới thứ ba. Từ kinh nghiệm của chính mình, họ có thể nói: ”Là nạn nhân của việc lạm dụng tình dục, tôi nguyện bảo vệ tất cả mọi trẻ em và người lớn khỏi nạn xâm phạm tình dục.” Khổ đau của ta biến thành một loại năng lượng tích cực, giúp ta trở thành một vị Bồ Tát. Ta nguyện bảo vệ mọi trẻ em cũng như mọi người. Và ta cũng nguyện giúp những người đã lợi dụng tình dục trẻ em, vì họ là những người bệnh, cần sự giúp đỡ của ta. Những kẻ làm ta đau khổ trở thành đối tượng của tình thương và sự bảo hộ của chúng ta. Những kẻ sẽ xâm phạm trẻ em trong tương lai cũng trở thành đối tượng của tình thương và bảo hộ của ta.

Ta thấy rằng cho đến bao giờ những người bệnh hoạn được bảo hộ và giúp đỡ, thì trẻ em vẫn tiếp tục bị lạm dụng tình dục. Ta nguyện giúp những người này để họ không còn xâm phạm trẻ em nữa. Đồng thời, ta nguyện giúp trẻ em. Ta không chỉ đứng về phía những trẻ em bị xâm phạm, ta cũng đứng về phía bên kia nữa. Những người quấy nhiễu trẻ em là những người bệnh, sản phẩm của một xã hội bất ổn. Họ có thể là một ông chú, bà dì, ông, bà, hay cha, mẹ. Họ cần phải được theo dõi, giúp đỡ, và, nếu có thể, trị lành. Khi ta quyết tâm giữ Giới này, năng lượng phát sinh trong tâm ta giúp ta trở thành một vị Bồ Tát, và sự chuyển hoá này có thể chữa lành cho ta thậm chí trước khi ta bắt đầu thực tập. Cách hay nhất cho những người bị xâm phạm thời thơ ấu chữa lành vết thương là thọ Giới này và phát nguyện bảo vệ trẻ em và những người lớn bị bệnh, những kẻ có thể sẽ tiếp diễn những hành động phá hoại, khiến cho một đứa trẻ sẽ bị thương tích suốt đời.

———————————-

[2]. Năm Điều Ước Nguyện:

  1. Chúng con nguyện sống đời sống hằng ngày sao cho xứng đáng với đạo đức của tổ tiên và nòi giống chúng con.
  2. Chúng con nguyện sống đời sống hằng ngày sao cho xứng đáng với kỳ vọng mà tổ tiên và giống nòi đặt nơi mỗi chúng con.
  3. Chúng con nguyện nương vào nhau, xây dựng cho nhau bằng tình thương, sự tin cậy, sự hiểu biết và lòng kiên nhẫn.
  4. Chúng con nguyện thường tự nhắc nhở rằng sự trách móc, sự hờn giận, và lý luận chỉ làm hao tổn hoà khí và không giải quyết được gì. Chúng con biết chỉ có sự hiểu biết và lòng tin cậy mới bồi đắp được hạnh phúc và sự an lạc.
  5. Chúng con nguyện trong đời sống hằng ngày dồn hết tâm lực và phương tiện để xây dựng cho thế hệ con cháu của chúng con trong tương lai.

Giới thứ hai: Mở rộng lòng

 

Ý thc được nhng kh đau do lường gạt, trm cướp và bất công xã hi gây ra, con xin học theo hạnh đại từ để đem lại niềm vui sống an lạc cho mọi người mọi loài, để chia xẻ thì giờ, năng lực tài vật của con với những kẻ đang thật sự thiếu thốn. Con nguyện không lấy làm hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra. Con nguyện tôn trọng quyền hữu của kẻ khác, nhưng cũng nguyện ngăn ngừa k khác không cho họ ch trữ làm giàu một cách bất lương tên sự đau khổ của con người của muôn loại.

Bóc lột, bất công xã hội, và trộm cắp có nhiều dạng. Áp bức là một dạng trộm cắp gây ra nhiều đau khổ ở cả các nước phát triển lẫn các nước thế giới thứ ba. Giờ phút chúng ta phát nguyện học phát triển lòng Từ thì lòng Từ phát khởi trong ta, và chúng ta nỗ lực để ngăn chặn sự bóc lột, bất công xã hội, trộm cắp, và áp bức.

Trong Giới thứ nhất, chúng ta thấy có chữ ‘Bi.’ Ở đây, chúng ta thấy có chữ ‘Từ.’ Từ và Bi là hai yếu tố của tình thương trong giáo pháp của Bụt. Bi, tiếng Sankrit và Pali là Karuna, có nghĩa là ý hướng và khả năng làm vơi đi nỗi khổ nơi một người hay một chúng sinh khác. Từ, tiếng Sankrit là maitri và tiếng Pali là metta, có nghĩa là ý hướng và khả năng mang niềm vui tới cho một người hay một chúng sinh khác. Bụt Thích Ca Mâu Ni đã tiên đoán rằng vị Bụt kế tiếp sẽ có tên là Maitreya hay Từ Thị, vị Bụt của Tình Thương.

”Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cướp, và bất công xã hội gây ra, con xin học theo hạnh đại Từ để đem lại niềm vui sống và an lạc cho mọi người và mọi loài.” Cho dù đã có Maitri như một nguồn năng lượng trong ta, chúng ta vẫn cần phải học nhìn sâu để biết cách biểu lộ lòng Từ ấy. Chúng ta tập làm như những cá nhân, và rồi tìm cách để làm như một dân tộc. Muốn nâng cao phúc lợi của con người, cỏ cây, cầm thú, và đất đá, chúng ta phải đến với nhau như một cộng đồng để xem xét tình trạng của mình, vận dụng thông minh và khả năng nhìn sâu của chúng ta để có thể tìm ra những giải pháp thích hợp để biểu hiện lòng Từ giữa những vấn đề có thật.

Giả sử ta muốn giúp những người đang đau khổ dưới ách độc tài. Trong quá khứ có thể ta đã từng thử gửi quân sang lật đổ nhà cầm quyền của họ, nhưng ta đã thấy rằng trong khi làm như vậy, ta gây ra chết chóc cho không biết bao nhiêu người vô tội, và dù vậy, ta có thể vẫn không lật đổ được kẻ độc tài. Nếu chúng ta tập nhìn sâu hơn, với lòng từ, để tìm một giải pháp tốt đẹp hơn để giúp những người này mà không gây khổ đau, ta có thể nhận ra rằng thời điểm tốt nhất để giúp là trước khi nước ấy rơi vào tay độc tài. Nếu ta làm việc đó ba mươi năm trước thì bây giờ nước đó có thể đã là một nước dân chủ, và ta đã không phải bỏ bom hay gởi quân để ‘giải phóng’ họ. Đây chỉ là một ví dụ về việc nhìn sâu và học hỏi có thể giúp ta tìm ra những cách làm phù hợp với lòng Từ ra sao. Nếu chúng ta đợi cho đến khi tình trạng trở nên tồi tệ rồi thì quá trễ. Nếu chúng ta cùng hành trì Giới với các nhà chính trị, quân nhân, thương gia, luật sư, người làm luật, nghệ sĩ, nhà văn, và nhà giáo, thì chúng ta có thể tìm ra được những phương pháp tốt đẹp nhất để thực tập Từ, Bi, và Hiểu Biết.

Muốn thực tập tâm rộng rãi thì cần phải có thời gian. Chúng ta có thể rất muốn giúp những người nghèo đói, nhưng chúng ta lại bị kẹt vào những vấn đề trong cuộc sống hằng ngày của riêng mình. Đôi lúc, một viên thuốc hay một chút gạo đã có thể cứu mạng một em bé, nhưng ta lại không dành thời giờ để giúp, vì ta nghĩ ta không có giờ. Ở thành phố Hồ Chí Minh chẳng hạn, có những em bé sống ngoài hè phố, các em tự gọi mình là ‘bụi đời.’ Những đứa trẻ này không nhà, lang thang ngoài đường ban ngày và về ngủ dưới gốc cây ban đêm. Chúng bới những đống rác để tìm những thứ như bao nylon để bán với giá hai xu nửa ký. Các thầy và các sư cô ở thành phố Hồ Chí Minh đã mở cửa chùa cho những đứa trẻ này, và nếu các em chịu ở lại bốn tiếng buổi sáng để học đọc, học viết, chơi với quý thầy và quý sư cô, thì các em được mời ăn cơm chay. Xong các em lại có thể vào Phật đường ngủ trưa. (Ở Việt Nam, người ta luôn luôn ngủ trưa sau khi ăn vì trời quá nóng. Khi người Mỹ đến, họ mang sang lối làm việc tám giờ liên tục của mình, từ chín đến năm giờ. Nhiều người trong chúng tôi thử làm, nhưng không làm được. Chúng tôi cần giấc ngủ trưa lắm lắm.)

Đến hai giờ, lại có thêm giờ học và chơi với các em, những em ở sinh hoạt buổi chiều sẽ được ăn tối. Chùa không có chỗ cho các em ngủ ban đêm. Trong cộng đồng chúng tôi ở bên Pháp, chúng tôi vẫn đang yểm trợ cho quý thầy và quý sư cô này. Chỉ tốn có hai mươi xu cho một đứa trẻ ăn trưa và ăn tối, và sẽ giữ em không lang thang ngoài đường, nơi em có thể đánh cắp thuốc lá, hút thuốc, dùng ngôn ngữ của du côn, và tập những lề thói xấu. Bằng cách khuyến khích các em lại chùa, ta giúp ngăn không để cho các em trở thành du đãng và phải vào tù sau này. Cần có nhiều thời gian để giúp những em bé này, chứ không phải nhiều tiền. Có biết bao nhiêu việc đơn giản như vậy ta có thể làm để giúp người, nhưng vì ta không thể tự mình tháo gỡ bớt đi những ràng buộc của hoàn cảnh và cách sống của mình, ta chẳng làm gì cả. Chúng ta cần phải đến với nhau như một cộng đồng, nhìn sâu, tìm ra những cách tháo gỡ cho mình để chúng ta có thể thực tập Giới thứ hai.

”…để chia xẻ thời giờ, năng lực, và tài vật của con đến những kẻ thiếu thốn.” Câu này thật rõ ràng. Có lòng và có khả năng chưa đủ. Ta còn phải thể hiện tâm hào hiệp đó. Chúng ta có thể có cảm tưởng mình không có thời giờ để mang hạnh phúc cho người khác – ”Thời giờ là tiền bạc,” chúng ta nói – nhưng thời giờ còn nhiều hơn là tiền bạc nữa. Đời sống có nhiều ý nghĩa hơn là dùng thời giờ để kiếm tiền. Thời giờ là để sống, để chia sẻ niềm vui và hạnh phúc với mọi người. Người giàu thường lại không có khả năng làm cho người khác hạnh phúc. Chỉ có những người có thời giờ mới có thể làm điều này.

Tôi biết một người đàn ông ở tỉnh Thừa Thiên, Bác Siêu, không ngừng thực hành hạnh bố thí trong suốt năm mươi năm; Bác là một vị Bồ Tát đích thực. Chỉ với một chiếc xe đạp, bác đã đến thăm nhiều làng xã trong suốt mười ba tỉnh, mang cho nhà này món này, nhà kia món kia. Khi tôi gặp Bác năm 1965, tôi hơi hãnh diện về Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội của chúng tôi. Chúng tôi đã bắt đầu huấn luyện cho ba trăm tác viên xã hội, trong đó có các thầy và các sư cô, để đi đến các làng quê xa xôi hẻo lánh giúp người dân cất nhà và đổi mới cơ cấu kinh tế địa phương, hệ thống y tế, giáo dục. Rốt cuộc chúng tôi đã có mười ngàn tác viên trong toàn quốc.

Trong khi kể cho Bác Siêu nghe về các đề án của trường, tôi nhìn chiếc xe đạp của Bác và nghĩ rằng với một chiếc xe đạp Bác chỉ có thể giúp ít người thôi. Nhưng khi người Cộng Sản tiếp quản và đóng cửa Trường chúng tôi, Bác Siêu vẫn tiếp tục, vì cách làm việc của Bác vô hình vô tướng. Các cô nhi viện, trạm phát thuốc, trường học, và các trung tâm giúp người chạy loạn ổn định nơi chốn của chúng tôi đều bị đóng cửa hay bị nhà nước tịch thu. Hàng ngàn tác viên phải ngưng làm việc và ẩn lánh. Nhưng Bác Siêu không có gì để mất. Bác là một vị Bồ Tát đích thực, làm việc vì phúc lợi của kẻ khác. Tôi thấy khiêm nhượng hơn bây giờ về cách tu tập hạnh Thí.

Chiến tranh đã tạo ra hàng ngàn trẻ mồ côi. Thay vì gây quỹ để lập cô nhi viện, chúng tôi đã tìm người bảo trợ ở các nước Tây phương để xin bảo trợ cho từng em bé. Chúng tôi tìm các gia đình trong làng chịu chăm sóc một em, và gởi cho họ $6 đô một tháng để nuôi và cho em đi học. Bao giờ có thể chúng tôi đều cố gửi em vào nhà bà con, dì, chú hoặc ông bà của em. Chỉ với $6 đô, em bé được ăn và được học, những em bé khác trong gia đình cũng được giúp theo. Trẻ em được lợi lạc rất nhiều khi lớn lên dưới một mái gia đình. Sống trong cô nhi viện nhiều khi giống như ở trong quân đội – các em không lớn lên một cách bình thường. Nếu chúng ta chịu tìm và chịu học những cách để thực hành hạnh Thí, chúng ta sẽ luôn có sự tiến bộ.

Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra. Con nguyện tôn trọng quyền tư hữu của kẻ khác, nhưng cũng nguyện ngăn ngừa kẻ khác không cho họ tích trữ và làm giàu một cách bất lương trên sự đau khổ của con người và của muôn loại.’ Khi ta hành trì một Giới cho sâu sắc, ta sẽ khám phá ra rằng mình đang hành trì cả năm Giới. Giới thứ nhất là về sự giết hại, một dạng lấy cắp – lấy cắp đi cái quý nhất của kẻ khác: mạng sống. Khi quán chiếu về Giới thứ hai, chúng ta thấy trộm cắp, dưới hình thức bóc lột, đàn áp và bất công xã hội, đều là những hành động giết hại – giết từ từ bằng sự bóc lột, duy trì tình trạng bất công, và đàn áp kinh tế, chính trị. Vì vậy, Giới thứ hai dính dáng rất nhiều đến Giới không giết hại. Chúng ta thấy tính ‘tương tức’ của hai Giới đầu. Điều này cũng đúng với tất cả năm Giới. Có những người chỉ thọ một hay hai Giới. Tôi không phiền gì cả, vì nếu các bạn giữ một hay hai Giới cho sâu sắc thì cả năm Giới đều sẽ được giữ.

Giới thứ hai là không trộm cắp. Thay vì trộm cắp, bóc lột, hay đàn áp, chúng ta thực tập Thí. Trong đạo Bụt, chúng ta nói có ba loại tặng phẩm. Thứ nhất là tặng phẩm vật chất. Thứ hai là giúp người tự lực tự cường, giúp cho họ kỹ thuật cũng như giúp cho họ biết cách đứng vững trên hai chân mình. Giúp bằng chánh Pháp để người ta có thể chuyển hoá những sợ hãi, giận hờn, và tuyệt vọng của mình thuộc vào loại tặng phẩm thứ hai. Loại thứ ba là món quà vô úy. Chúng ta sợ đủ thứ. Chúng ta cảm thấy không an ninh, sợ cô đơn, sợ bệnh, sợ chết. Để giúp người không bị tàn phá bởi những nỗi sợ hãi của mình, chúng ta thực tập loại bố thí thứ ba.

Bồ Tát Quan Thế Âm là người thực tập điều này rất giỏi. Trong Tâm Kinh Bát Nhã, Ngài chỉ chúng ta cách chuyển hoá, vượt thắng sợ hãi, và mỉm cười cưỡi trên sóng sinh tử. Ngài nói rằng không có sinh, không có diệt, không có có, không có không, không có tăng, không có giảm. Nghe như vậy giúp chúng ta nhìn sâu vào bản chất của thực tại để thấy rằng sinh và diệt, có và không, đến và đi, tăng và giảm đều là những ý niệm mà chúng ta gán lên cho thực tại, trong khi đó, thực tại vượt lên trên mọi khái niệm. Khi nhận ra được bản chất tương tức của vạn vật – rằng ngay cả sinh và tử đều là những khái niệm – chúng ta vượt thắng sợ hãi.

Năm 1991, tôi thăm một người bạn ở Nữu Ước đang trong tình trạng hấp hối, Alfread Hassler. Chúng tôi đã cùng làm việc với nhau trong phong trào hoà bình trong gần ba mươi năm. Có vẻ như Alfred đã đợi tôi đến thăm trước khi ông ra đi, và ông đã qua đời vài giờ sau cuộc thăm viếng ấy. Tôi đến cùng với người đồng sự thân cận nhất, sư cô Chân Không. Alfred không còn tỉnh khi chúng tôi đến. Cô Laura, con gái ông, tìm cách thức ông dậy nhưng không được. Tôi nhờ sư cô Chân Không hát Bài Ca Không Đến Không Đi cho Alfred: ‘Mắt này không phải là tôi, Tôi không bị kẹt vào nơi mắt ấy. Thân này không phải là tôi, Tôi không bị kẹt vào nơi thân ấy. Tôi là sự sống thênh thang, Tôi chưa bao giờ từng sinh mà cũng chưa bao giờ từng diệt’, lấy ý từ Kinh Tạp A Hàm [1] .

Cô Chân Không hát rất hay, tôi thấy những dòng nước mắt lăn trên má của vợ con ông Alfred. Đó là nước mắt của sự hiểu biết, rất trị liệu. Bỗng Alfred hồi tỉnh lại. Sư Cô Chân Không bắt đầu thực tập những gì Cô đã học được từ Kinh Giáo Hoá Người Bệnh. Sư Cô nói: ‘Alfred, ông có nhớ thời chúng ta làm việc với nhau không?’ Sư Cô nhắc lại nhiều kỷ niệm hạnh phúc chúng tôi đã từng chia sẻ, Alfred nhớ lại được từng kỷ niệm một. Dù đau đớn thấy rõ, ông đã mỉm cười. Sự thực tập này mang lại kết quả ngay tức thời. Khi một người đang chịu những đau đớn về thân thể, đôi lúc ta có thể làm vơi đi những đau đớn đó bằng cách tưới tẩm những hạt giống hạnh phúc trong họ. Thăng bằng được lấy lại, và người ấy thấy đỡ đau.

Trong lúc đó, tôi xoa bóp bàn chân ông, tôi hỏi ông có cảm thấy bàn tay tôi không. Khi hấp hối, các phần trên thân thể ta trở nên tê cứng, ta có cảm giác như mình đã mất đi những phần thân thể ấy. Xoa bóp nhẹ nhàng trong chánh niệm cho người hấp hối cảm giác ông vẫn còn sống và đang được quan tâm, săn sóc. Người ấy biết tình thương có mặt. Alfred gật đầu, và mắt ông có vẻ như nói: ‘Có, tôi cảm thấy tay Thầy. Tôi biết bàn chân tôi có đó.’

Sư Cô Chân Không hỏi: ‘Ông có biết chúng tôi đã học rất nhiều từ ông khi chúng ta sống và làm việc với nhau không? Công việc ông khởi đầu, nhiều người trong chúng tôi vẫn đang tiếp tục. Ông đừng lo gì cả.’ Sư Cô nói với ông nhiều điều như vậy, và ông có vẻ bớt đau đớn. Có một lúc ông hé miệng nói: ‘Mầu nhiệm. Mầu nhiệm.’ Và ông thiếp đi.

Trước khi rời, chúng tôi khuyến khích gia đình ông tiếp tục làm như vậy. Ngày hôm sau tôi được tin Alfred đã qua đời năm tiếng đồng hồ sau khi chúng tôi ra về. Đây là một món quà thuộc vào nhóm thứ ba. Nếu chúng ta có thể giúp cho người ta cảm thấy an toàn, bớt sợ đời sống, con người, và cái chết, thì chúng ta đang thực tập loại Thí thứ ba.

Có lần, trong lúc thiền, tôi có một hình ảnh rất mầu nhiệm – hình dạng một con sóng, khởi đầu và kết thúc. Khi các nhân duyên hội đủ, chúng ta thấy con sóng, và khi nhân duyên không đầy đủ nữa, chúng ta không còn thấy con sóng. Sóng được làm bằng nước. Ta không thể dán lên con sóng nhãn hiệu có hay không có. Sau cái mà chúng ta gọi là sự chấm dứt của con sóng, không có gì mất đi, không có gì chết cả. Sóng đã rút về với nước, và bằng cách này hay cách khác, thời gian sẽ mang sóng trở lại. Không có tăng, giảm, sinh, hay diệt.

Khi hấp hối, ta nghĩ rằng mọi người đều đang sống, chỉ có mình đang chết mà thôi, cảm giác cô đơn của chúng ta có thể không chịu đựng nổi. Nhưng nếu ta có thể quán tưởng hàng trăm ngàn người đang cùng hấp hối với ta, cái chết của chúng ta có thể sẽ trở nên thanh thản hay thậm chí vui. ‘Tôi đang chết trong cộng đồng. Hàng triệu chúng sinh cũng đang chết đi trong giờ phút này. Tôi thấy tôi đang cùng với triệu triệu chúng sinh khác; chúng ta chết có tăng thân. Đồng lúc ấy, triệu triệu chúng sinh cũng đang ra đời. Tất cả chúng ta đều đang làm việc đó với nhau. Tôi vẫn đang tiếp tục được sinh ra, và đồng thời đang chết. Chúng ta tham dự vào toàn bộ sự việc ấy như một tăng thân.’ Đó là những gì tôi thấy trong khi thiền quán. Trong Tâm Kinh, Bồ Tát Quan Thế Âm chia sẻ tuệ giác này và giúp ta vượt thắng sợ hãi, lo lắng, và đau đớn. Món quà Vô Úy mang lại một sự chuyển hoá trong ta.

Giới thứ hai là một pháp thực tập rất sâu. Chúng ta đã nói đến thời giờ, năng lực, và tài vật, nhưng thời giờ không phải chỉ để dành cho năng lực và của cải. Thời giờ là để có đó cho nhau – có đó với một người đang hấp hối hay đang đau khổ. Thật sự có mặt dù chỉ năm phút thôi cũng có thể đã là một món quà hết sức quan trọng. Thời giờ không phải chỉ để làm ra tiền bạc. Thời giờ là để tạo ra món quà Chánh Pháp và Vô Úy.

Giới thứ nhất: Tôn trọng sự sống

 

Ý thức được những kh đau do sự sát hi gây ra, con xin hc theo hạnh đi bi để bảo vệ sự sống của mọi người mọi loài. Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán thành sự giết chóc không để kẻ khác giết hại, trong tâm tưởng hay trong cách sống hàng ngày của con.

Sự sống thật quý giá. Sự sống có mặt khắp mọi nơi, trong ta và quanh ta; nó đa hình đa dạng.

Giới thứ nhất đến từ chỗ ý thức rằng sự sống khắp nơi đang bị hủy diệt. Chúng ta thấy được những khổ đau do sự sát hại gây ra, và chúng ta nguyện phát triển lòng từ bi, lấy đó làm nguồn năng lượng để bảo vệ con người, cỏ cây, cầm thú, và đất đá. Giới thứ nhất là một phép tu luyện tâm Bi, karuna – khả năng làm vơi nhẹ và chuyển hoá khổ đau. Khi thấy được nỗi khổ thì tâm Bi phát sinh trong ta.

Tiếp xúc với khổ đau của cuộc đời là điều rất cần thiết. Ta cần nuôi dưỡng ý thức ấy thông qua nhiều phương tiện – hình ảnh, âm thanh, tiếp xúc trực tiếp, thăm viếng, v.v… – để giữ tâm Bi sống trong ta. Nhưng ta phải cẩn thận, chớ đưa vào nhiều quá. Bất cứ phương thuốc nào cũng phải có liều lượng. Ta nên tiếp xúc với khổ đau trong chừng mực giúp ta không quên lãng, để tình thương tuôn chảy trong ta, và biến thành năng lượng hành động. Nếu lấy sự phẫn nộ làm động cơ hành động, ta sẽ có thể làm những điều tai hại, những điều mà ta sẽ hối tiếc sau này. Theo đạo Bụt, tình thương là nguồn năng lượng duy nhất có ích, và an toàn. Với tình thương, năng lượng của chúng ta được sinh ra từ tuệ giác; đó không phải là năng lượng mù quáng.

Con người chúng ta được làm bằng những yếu tố không-phải-con-người, như cỏ cây, khoáng chất, đất, mây, và ánh nắng. Để cho sự thực tập của chúng ta được sâu và được thật, chúng ta phải bảo vệ luôn cả hệ sinh thái. Nếu sinh môi bị tàn phá, con người cũng sẽ bị hủy diệt. Không thể bảo vệ sự sống của con người mà không đồng thời bảo vệ sự sống của cỏ cây, cầm thú, và đất đá.

Kinh Kim Cương dạy chúng ta rằng không thể phân chia ranh giới giữa các loài hữu tình và vô tình. Đây là một trong những kinh điển cổ của đạo Bụt dạy về sinh thái học ở mức độ sâu. Mỗi hành giả trong đạo Bụt phải là một người bảo vệ môi trường. Đất đá cũng có đời sống của chúng. Trong Chùa, chúng ta tụng: ‘Tình dữ vô tình đồng viên chủng trí.’ Giới thứ nhất là sự thực tập bảo vệ mọi sự sống, kể cả sự sống của khoáng vật.

”Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán thành sự giết chóc và không để kẻ khác giết hại, dù là trong tâm tưởng hay trong cách sống hằng ngày của con.” Chúng ta không thể tán thành bất cứ một hành động giết chóc nào; không một sự giết hại nào có thể được biện hộ cả. Nhưng không giết thôi không đủ. Chúng ta còn phải tìm cách ngăn không cho kẻ khác giết hại. Chúng ta không thể nói: ‘Tôi không chịu trách nhiệm. Họ làm chuyện đó, còn tay tôi sạch.’ Nếu chúng ta sống ở Đức trong thời Nazis, ta không thể nói: ‘Họ làm chuyện đó. Tôi không làm.’ Nếu trong cuộc chiến tranh vịnh Gulf, chúng ta không nói hay làm gì cả để ngăn cản việc giết chóc thì chúng ta đã không thực tập giới này. Cho dù những gì chúng ta nói hoặc làm không cản được cuộc chiến, điều quan trọng là ở chỗ chúng ta đã cố làm, vận dụng tuệ giác và tình thương của mình.

Không phải chỉ không dùng thân giết hại mới là giữ Giới thứ nhất. Nếu chúng ta để cho sự giết hại diễn ra trong tư tưởng, chúng ta cũng đã phạm Giới. Chúng ta phải nhất quyết không chấp nhập sự giết hại, kể cả trong tâm tưởng. Theo Bụt, tâm là nền tảng của mọi hành động. Giết trong tâm là nguy hiểm nhất. Khi chúng ta tin tưởng, chẳng hạn như đường lối của chúng ta là đường lối duy nhất cho nhân loại và kẻ nào đi theo đường lối khác là kẻ thù của chúng ta, thì hàng triệu người có thể bị giết vì ý niệm đó.

Tư duy nằm đằng sau mọi việc. Ta cần phải để con mắt ý thức nằm đằng sau mỗi ý nghĩ của mình. Không có sự hiểu biết đúng đắn về một hoàn cảnh hay một con người, suy nghĩ của ta có thể lầm lạc và gây ra hoang mang, tuyệt vọng, giận hờn, hay thù hận. Công việc quan trọng nhất của chúng ta là phát triển sự hiểu biết đúng đắn. Nếu chúng ta thấy được một cách sâu sắc bản chất tương tức, nghĩa là tất cả nương nhau mà có mặt, chúng ta sẽ thôi không còn trách móc, cãi vã, và giết hại, chúng ta sẽ trở nên bè bạn với tất cả mọi người. Muốn thực tập bất bạo động, trước hết chúng ta phải học cư xử một cách hoà bình với chính mình. Nếu ta tạo được một sự hoà hợp đích thực trong chính con người mình, chúng ta sẽ biết cách cư xử với gia đình, bạn bè, và những người cộng tác với ta.

Khi phản đối chiến tranh chẳng hạn, ta có thể cho rằng ta là một con người hiền hoà, đại diện cho hoà bình, thế nhưng điều này lại có thể không đúng. Nếu nhìn sâu, ta sẽ thấy rằng gốc rễ của chiến tranh nằm ngay trong cách sống thiếu chánh niệm bao lâu nay của chúng ta. Chúng ta chưa gieo trồng đủ những hạt giống bình an và hiểu biết nơi ta và nơi những người khác, vì vậy chúng ta liên đới chịu trách nhiệm: ‘Vì tôi như thế này, cho nên họ như thế đó.’ Lối đặt vấn đề có tính toàn triệt hơn cả là lối nhìn ‘tương tức’: ‘Cái này như thế này vì cái kia như thế kia.’ Đây là con đường của Hiểu và Thương. Với cái thấy này, ta có thể nhìn một cách sáng suốt và giúp cho chính phủ ta nhìn một cách sáng suốt. Khi ấy ta có thể đi biểu tình và nói: ‘Cuộc chiến tranh này bất công, hủy diệt và không xứng đáng với đất nước cao quý của chúng ta.’ Điều này hữu hiệu hơn là giận dữ buộc tội cho nhau. Sự tức giận bao giờ cũng gây thêm đổ vỡ.

Tất cả chúng ta, kể cả những người theo chủ nghĩa hoà bình, đều có những nỗi khổ niềm đau trong lòng. Chúng ta cảm thấy bực tức, thất vọng, và chúng ta cần tìm một người nào đó sẵn sàng lắng nghe và có khả năng hiểu được những nỗi khổ niềm đau của chúng ta. Trong nghệ thuật mô tả bằng hình tượng của đạo Bụt có một vị Bồ Tát nghìn tay nghìn mắt tên là Quan Thế Âm. Nghìn tay tượng trưng cho hành động, và con mắt trong mỗi bàn tay tượng trưng cho sự hiểu biết. Khi chúng ta hiểu một hoàn cảnh hay một con người thì những gì chúng ta làm sẽ giúp được cho tình trạng và sẽ không gây thêm đau khổ. Khi có con mắt ở trong bàn tay, chúng ta sẽ biết cách thực tập bất bạo động đích thực.

Muốn thực tập bất bạo động, trước hết ta phải thực tập với chính mình. Trong mỗi chúng ta đều có một mức độ bao động và bất bạo động nào đó. Tùy thuộc vào tình trạng của chúng ta lúc ấy, cách chúng ta phản ứng đối với sự việc sẽ mang ít hay nhiều tính chất bạo động. Cho dù ta có hãnh diện rằng mình là người ăn chay đi nữa thì ta cũng phải công nhận rằng trong nước chúng ta luộc rau có biết bao nhiêu là vi sinh vật. Chúng ta không thể hoàn toàn bất bao động, nhưng với việc ăn chay, chúng ta đang đi về hướng bất bạo động. Nếu muốn đi về hướng Bắc, ta có thể dùng sao Bắc Đẩu để nhắm hướng, nhưng không thể nào đến được sao Bắc Đẩu. Nỗ lực của chúng ta chỉ nhằm đi về hướng đó.

Ai cũng có thể thực tập bất bạo động ở một mức nào đó, kể cả các tướng lĩnh quân đội. Chẳng hạn họ có thể chỉ huy cuộc hành quân của mình như thế nào để tránh không giết hại những người vô tội. Để giúp những người lính đi về hướng bất bạo động, chúng ta phải tiếp xúc với họ. Nếu chúng ta chia thực tại ra làm hai phe – bạo động và bất bạo động – rồi đứng về một phe chống lại phe kia, thế giới sẽ không bao giờ có hoà bình. Chúng ta sẽ luôn trách cứ và buộc tội những người chúng ta cho là chịu tránh nhiệm cho tình trạng chiến tranh và bất công xã hội mà không hề nhận ra mức độ bạo động trong chính con người mình. Chúng ta phải cải hoá chính mình, đồng thời làm việc với những người chúng ta buộc tội nếu muốn có một ảnh hưởng đích thực.

Vạch một ranh giới và gạt một số người sang hàng ngũ kẻ thù – dù là người hành xử bạo động – chẳng bao giờ giúp được gì cả. Ta phải đến với họ với tình thương trong trái tim ta và làm mọi cách có thể để giúp họ đi về hướng bất bạo động. Nếu chúng ta hoạt động cho hoà bình bằng sự phẫn nộ, chúng ta sẽ chẳng bao giờ thành công. Hoà bình không phải là điểm kết thúc. Hoà bình không bao giờ có thể đến được bằng những phương tiện không hoà bình.

Quan trọng nhất là trở thành bất bạo động, để khi một tình huống xảy đến, chúng ta sẽ không tạo thêm đau khổ. Để thực tập bất bạo động, chúng ta cần có sự nhẹ nhàng, từ, bi, hỷ, xả đối với thân tâm mình, và đối với kẻ khác. Bằng chánh niệm – sự thực tập bình an – ta có thể bắt đầu bằng việc chuyển hoá những cuộc chiến trong ta. Có những kỹ thuật để làm chuyện này. Hơi thở có ý thức là một. Mỗi khi ta cảm thấy bất mãn, ta có thể ngưng những gì mình đang làm, tránh không nói bất cứ điều gì, và thở vào thở ra vài lần, ý thức từng hơi thở vào, ra. Nếu vẫn còn không vui, ta có thể đi thiền hành, chánh niệm với từng bước chân chậm rãi và từng hơi thở của mình. Nuôi dưỡng hoà bình bên trong, chúng ta mang lại hoà bình cho xã hội. Tùy thuộc vào ta cả. Tu tập hoà bình trong ta có nghĩa là giảm thiểu đến mức tối đa những cuộc chiến tranh giữa cảm thọ này với cảm thọ khác, ý niệm này với ý niệm khác, rồi ta cũng có thể có hoà bình với những người khác, kể cả những thành viên trong gia đình mình.

Tôi thường được hỏi: ‘Nếu anh thực tập bất bạo động mà có người xông vào nhà, bắt cóc con hay giết vợ mình thì sao? Anh phải làm gì? Anh có còn hành xử theo cách bất bạo động không?’ Câu trả lời tùy thuộc vào trạng thái của anh. Nếu đã có sự chuẩn bị, anh có thể phản ứng một cách trầm tĩnh và thông minh, theo cách bất bạo động nhất mà anh có thể làm. Nhưng muốn sẵn sàng để có thể phản ứng với sự thông minh và bất bạo động, anh phải có sự rèn luyện từ trước. Có thể phải mười năm, hay lâu hơn. Nếu chờ cho đến khi có chuyện mới hỏi câu hỏi ấy thì sẽ quá muộn. Câu trả lời theo kiểu nên-thế-này-hay-thế-khác sẽ là hời hợt vô ích. Ở giây phút quyết định ấy, cho dù anh có biết rằng bất bạo động thì tốt hơn là bạo động, nếu cái hiểu của anh chỉ ở trên trí óc mà không nằm trong toàn bộ con người anh, anh sẽ không hành xử bất bạo động. Sự sợ hãi và tức giận trong anh sẽ ngăn không cho anh hành động theo cách bất bạo động nhất.

Chúng ta cần phải nhìn sâu mỗi ngày để thực tập tốt Giới này. Mỗi lần mua sắm hay tiêu thụ một thứ gì, ta có thể đang thao túng cho một dạng giết chóc nào đó.

Trong khi thực tập bảo vệ con người, cỏ cây, cầm thú, và đất đá, ta biết ta đang bảo vệ cho chính mình. Ta cảm được mối dây liên hệ bền vững, thân thương với tất cả mọi loài trên trái đất. Chúng ta được bảo hộ bởi chánh niệm và lòng từ bi của Bụt và của bao thế hệ Phật tử đã hành trì Giới pháp. Năng lượng từ bi này mang đến cho ta cảm giác an ninh, lành mạnh và hoan hỷ, và như vậy mới xứng đáng với giây phút mà chúng ta quyết định thọ trì giới thứ nhất.

Xót thương chưa đủ. Ta phải học cách biểu lộ tình thương ấy. Đó là vì sao ta phải có hiểu biết đi kèm. Sự hiểu biết và tuệ giác chỉ cho ta nên hành động như thế nào.

Kẻ thù đích thực của chúng ta chính là sự lãng quên. Nếu chúng ta nuôi dưỡng chánh niệm mỗi ngày và tưới tẩm những hạt giống bình an trong ta và trong những người xung quanh ta, ta sẽ trở nên sống động, và ta có thể giúp cho chính mình cũng như những người khác đạt đến an ổn và từ bi.

Sự sống thật quý giá, vậy mà trong đời sống hằng ngày ta lại thường bị cuốn theo những quên lãng, giận hờn, và lo lắng, ta đắm chìm trong quá khứ, và không có khả năng tiếp xúc với sự sống trong giờ phút hiện tại. Khi chúng ta thật sự sống động, những gì ta làm hay tiếp xúc đều là phép lạ. Thực tập chánh niệm tức là quay trở về với sự sống trong giờ phút hiện tại. Phép thực tập của Giới thứ nhất chính là một lễ hội tôn vinh sự sống. Khi chúng ta biết trân quý cái đẹp của sự sống, chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì trong khả năng mình để bảo vệ cả cuộc đời.

Lời bạt

Tôi sống ở phương Tây đã gần ba mươi năm, mười năm gần đây tôi thường hay hướng dẫn các khoá tu chánh niệm ở châu Âu, châu Úc, và Bắc Mỹ. Trong những khoá tu này, chúng tôi đã được nghe nhiều câu chuyện thương tâm, và chán ngán hay rằng bao nhiêu đau khổ ấy đều là kết quả của sự nghiện rượu, lạm dụng ma túy, lạm dụng tình dục, và các lề thói tương tự, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Trong xã hội có một sự băng hoại lớn. Nếu chúng ta đặt một người trẻ vào xã hội mà không tìm cách bảo vệ họ, họ sẽ tiếp nhận những bạo động, căm thù, sợ hãi, và bất an mỗi ngày, và rốt cuộc sẽ bị bệnh. Những câu chuyện của chúng ta, những chương trình tivi, quảng cáo, sách báo đều tưới tẩm các hạt giống khổ đau nơi những người trẻ, và nơi cả những người lớn. Chúng ta thấy có một sự trống vắng trong lòng, và chúng ta tìm cách khoả lấp bằng cách ăn uống, đọc, nói, hút thuốc, uống rượu, xem tivi, đi coi phim, hay thậm chí làm việc quá độ. Nương tựa vào những thứ này chỉ làm chúng ta càng cảm thấy đói khát, không thoả mãn hơn, và chúng ta muốn hấp thụ nhiều hơn nữa. Chúng ta cần một vài nguyên tắc chỉ đạo, một vài phương thuốc ngăn ngừa để phòng hộ cho mình, để rồi chúng ta có thể lành mạnh trở lại. Chúng ta cần tìm cho ra phương thuốc cho căn bệnh của mình. Chúng ta cần tìm cho ra những gì lành, đẹp và thật để có thể nương tựa vào.

Khi lái xe, chúng ta buộc phải tuân theo một số quy luật nhất định để không gây tai nạn. Hai ngàn năm trăm năm trước, Bụt đã đưa ra các nguyên tắc chỉ đạo nhất định cho những người đệ tử tại gia của Ngài để giúp họ sống một đời sống bình an, lành mạnh và hạnh phúc. Đó là Năm Giới, và nền tảng của mỗi Giới này là chánh niệm. Với chánh niệm, chúng ta ý thức được những gì đang xảy ra nơi thân thể, cảm thọ, tâm hồn và thế giới quanh ta, và ta tránh không gây tổn hại cho mình và cho người. Chánh niệm bảo hộ cho ta, cho gia đình và xã hội ta, chắc chắn sẽ mang lại an lạc, hạnh phúc trong hiện tại và tương lai.

Trong đạo Bụt, Giới, Định, và Tuệ luôn đi chung với nhau. Ta không thể chỉ nói đến một yếu tố mà không nói đến hai yếu tố kia. Ba phép này được gọi là Tam Học – sila, tu Giới; samadhi, tu Định; và prajna, tu Tuệ. Giới, Định, Tuệ ‘tương tức’ với nhau. Thực tập Giới mang đến Định, Định thì cần thiết cho Tuệ. Chánh Niệm là nền tảng của Định, Định cho phép ta nhìn sâu, và Tuệ chính là hoa trái của sự nhìn sâu. Khi có chánh niệm, ta có thể thấy rằng nếu tránh không làm ‘điều này’, ta có thể ngăn ngừa được ‘điều kia.’ Tuệ giác này không đến từ sự áp đặt của quyền lực bên ngoài. Nó là hoa trái của sự quán sát của chính chúng ta. Hành trì Giới, vì vậy, giúp ta trở nên điềm tĩnh hơn, tập trung hơn, mang lại nhiều tuệ giác và sự sáng suốt hơn, và do đó việc hành trì Giới của chúng ta lại càng thêm vững chãi. Ba yếu tố này đan quyện với nhau; yếu tố này hỗ trợ cho hai yếu tố kia, và cả ba mang chúng ta đến gần hơn với sự giải thoát – chấm dứt sự ‘rò rỉ.’ Chúng ngăn không để ta rơi trở lại vào vô minh, phiền não. Khi đã bước được ra ngoài dòng khổ đau hệ lụy, ta gọi đó là anasvara, ‘vô lậu.’ Chừng nào còn tiếp tục rò rỉ thì chừng ấy chúng ta cũng giống như một chiếc bình rạn nứt, và không sao tránh khỏi sa vào đau buồn, khổ não và vô minh.

Năm Giới chính là tình thương. Thương có nghĩa là hiểu, bảo vệ, và mang lại an vui cho đối tượng thương yêu của chúng ta. Hành trì Giới là thực hiện điều này. Chúng ta bảo vệ cho mình và bảo vệ cho nhau.

Năm Giới trong sách này được diễn dịch theo hình thức mới. Đây là kết quả của những tuệ giác gặt hái được từ việc thực tập chung như một tăng thân. Một truyền thống tâm linh cũng giống như một cái cây, cần được chăm tưới để cho ra những cành, lá mới để có thể tiếp tục là một thực thể sinh động. Chúng ta giúp cái cây Phật giáo phát triển bằng cách sống sâu sắc chân tinh thần của nó, sự hành trì Giới, Định, Tuệ. Nếu chúng ta tiếp tục thực tập Giới một cách sâu sắc, trong tương quan với xã hội và văn hoá chúng ta, tôi tin rằng con cháu chúng ta sẽ có một sự hiểu biết về Năm Giới còn sâu hơn chúng ta bây giờ và sẽ có nhiều an lạc hơn.

Cho đến gần đây, tôi vẫn hay dùng chữ ‘cấm giới’ thay vì ‘phương pháp rèn luyện chánh niệm.’ Nhưng nhiều người bạn Tây phương nói với tôi rằng chữ ‘cấm giới’ gợi cho họ cảm giác tốt xấu, nghĩa là nếu họ ‘phạm’ giới thì họ thấy mình hoàn toàn thất bại. Giới khác với những ‘điều răn’ (trong đạo Chúa) hay ‘luật lệ.’ Giới là những tuệ giác phát sinh từ sự quán sát chánh niệm và từ kinh nghiệm trực tiếp về khổ đau. Giới là những nguyên tắc hướng dẫn giúp ta tập sống như thế nào để có thể bảo hộ cho mình và cho những người xung quanh. Trong khi thực tập Giới, chỗ hiểu biết và hành trì của ta sẽ càng thêm sâu sắc. Khi mới bắt đầu, và cả trong thời gian luyện tập, không ai có thể hoàn toàn cả. Giới là biểu hiện cụ thể nhất của sự tu tập chánh niệm. Đó là lý do tại sao trình bày Giới như ‘những phương pháp rèn luyện chánh niệm’ trong tiếng Anh là khế cơ, khế lý.

Trong đạo Phật, một trong những cách biểu lộ ước muốn tu tập theo con đường Hiểu và Thương lúc ban đầu là quy y và tiếp nhận Năm Giới từ một vị thầy. Trong buổi lễ truyền giới, vị thầy đọc từng giới một, người học trò lập lại và phát nguyện học hỏi, hành trì theo giới được tuyên đọc. Trước khi quyết định thọ Giới, hành giả có thể còn cảm thấy hoang mang, nhưng với quyết định hành trì Giới, nhiều sợi giây hoang mang, ràng buộc được cắt đứt. Khi buổi lễ hoàn tất, ta có thể thấy ngay trên gương mặt người ấy một sự giải phóng lớn.

Khi phát nguyện thọ trì dù chỉ một giới, quyết định mạnh mẽ nảy sinh từ tuệ giác ấy sẽ đưa ta đến tự do và hạnh phúc đích thực. Tăng thân có mặt đó để yểm trợ và chứng minh cho sự ra đời của tuệ giác và quyết tâm của mình. Buổi lễ thọ giới có sức mạnh xuyên thủng, giải phóng và xây dựng. Sau buổi lễ, nếu chúng ta tiếp tục thực tập Giới, nhìn sâu để có tuệ giác sâu hơn về thực tại, sự bình an và giải thoát của chúng ta sẽ tăng trưởng. Cách ta hành trì Giới biểu lộ mức độ bình an và chiều sâu của tuệ giác chúng ta.

Khi một người chính thức phát nguyện học hỏi và hành trì Năm Giới, người ấy cũng quy y nơi Tam Bảo – Bụt, Pháp, và Tăng. Hành trì Năm Giới là một biểu hiện cụ thể của lòng biết ơn và tin tưởng nơi Ba Viên Ngọc Quý này. Bụt chính là chánh niệm; Pháp là con đường của tình thương và sự hiểu biết; Tăng là đoàn thể nâng đỡ cho sự tu học của chúng ta.

Năm Giới và Tam Bảo là những đối tượng xứng đáng của niềm tin chúng ta. Đó không phải là những cái gì trừu tượng – ta có thể học hỏi, tu tập, khám phá, nới rộng, và kiểm lại với kinh nghiệm của chính mình. Học hỏi và thực tập theo Năm Giới và Tam Bảo chắc chắn sẽ mang lại an lạc cho bản thân, cộng đồng, và xã hội ta. Là con người, chúng ta cần có một cái gì để tin tưởng, một cái gì lành, đẹp, và thật, một cái gì ta có thể tiếp xúc được. Niềm tin vào sự thực tập chánh niệm – vào Năm Giới và Tam Bảo – là điều mà bất cứ ai cũng có thể khám phá, công nhận, và đưa vào đời sống hằng ngày.

Năm Giới và Tam Bảo có những giá trị tương đương ở trong mọi truyền thống tâm linh. Đây là những gì đến tự chiều sâu thẳm của mỗi chúng ta, hành trì theo đó sẽ giúp ta cắm rễ sâu hơn trong truyền thống của mình. Sau khi đã học về Năm Giới và Tam Bảo, tôi mong rằng các bạn sẽ quay về truyền thống của mình và chiếu ánh sáng lên những viên ngọc vốn đã có đó. Năm Giới là phương thuốc cho thời đại chúng ta. Tôi khẩn thiết mong các bạn thực tập Giới theo cách chúng được trình bày ở đây, hay theo cách chúng được giảng dạy trong truyền thống của bạn.

Cách tốt nhất để hành trì Giới là cách nào? Tôi không biết. Tôi vẫn còn đang học hỏi, cùng với các bạn. Tôi thấm thía cụm từ dùng trong Năm Giới: ‘tìm cách.’ Chúng ta không biết hết mọi việc. Nhưng chúng ta có thể giảm thiểu tối đa sự ngu dốt của mình. Khổng Tử từng nói rằng: ‘Biết rằng mình không biết tức là chỗ khởi đầu của cái biết.’ Tôi nghĩ đây là cách để thực tập. Chúng ta cần có sự khiêm tốn và cởi mở để có thể học hỏi cùng nhau. Chúng ta cần một Tăng thân, một cộng đồng, để yểm trợ cho ta, và chúng ta cũng cần phải tiếp cận với xã hội để hành trì giới. Nhiều vấn đề hôm nay không tồn tại trong thời của Bụt. Vì vậy, chúng ta cần phải quán chiếu chung để mở ra những tuệ giác có thể giúp chúng ta và con cái chúng ta tìm ra được cách để sống một đời sống lành mạnh, hạnh phúc và khương kiện.

Khi có người hỏi: ‘Anh có quan tâm không? Anh có quan tâm đến tôi? Em có quan tâm đến cuộc đời? Chị có quan tâm đến trái đất?’, cách hay nhất để trả lời là hành trì Năm Giới. Đây là dạy bằng thân giáo chứ không phải chỉ bằng lời. Nếu bạn thật sự quan tâm, xin hãy hành trì các Giới này để bảo hộ cho mình và cho mọi người, mọi loài khác nữa. Nếu chúng ta thực tập hết lòng thì tương lai sẽ còn có mặt cho chúng ta, và con cháu chúng ta.

Thích Nhất Hạnh, 1993

CHƯƠNG 1: Năm giới mầu nhiệm

Năm Giới

Giới th nhất

Ý thức được những khổ đau do sự sát hại gây ra, con xin học theo hạnh đại bi để bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài. Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán thành sự giết chóc và không để kẻ khác giết hại, dù là trong tâm tưởng hay trong cách sống hàng ngày của con.

Giới th hai

Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cướp và bất công xã hội gây ra, con xin học theo hạnh đại từ để đem lại niềm vui sống và an lạc cho mọi người và mọi loài, để chia xẻ thì giờ, năng lực và tài vật của con với những kẻ đang thật sự thiếu thốn. Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra. Con nguyện tôn trọng quyền tư hữu của kẻ khác, nhưng cũng nguyện ngăn ngừa kẻ khác không cho họ tích trữ và làm giàu một cách bất lương tên sự đau khổ của con người và của muôn loại.

Giới th ba

Ý thức được những khổ đau do thói tà dâm gây ra, con xin học theo tinh thần trách nhiệm để giúp bảo vệ tiết hạnh và sự an toàn của mọi người và mọi gia đình trong xã hội. Con nguyện không ăn nằm với những người không phải là vợ hay chồng của con. Con ý thức được rằng những hành động bất chính sẽ gây ra những đau khổ cho kẻ khác và cho chính con. Con biết muốn bảo vệ hạnh phúc của mình và của kẻ khác thì phải biết tôn trọng những cam kết của mình và của kẻ khác. Con sẽ làm mọi cách có thể để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa.

Giới th

Ý thức được những khổ đau đo lời nói thiếu chánh niệm gây ra, con xin học theo hạnh ái ngữ và lắng nghe để dâng tặng niềm vui cho người và làm vơi bớt khổ đau của người. Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hoặc khổ đau cho người, con nguyện chỉ nói những lời có thể gây thêm niềm tự tin, an vui và hy vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng sự hiểu biết và hòa giải. Con nguyện không nói những điều sai với sự thật, không nói những lời gây chia rẽ và căm thù. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án những điều con không biết chắc. Con nguyện không nói những điều có thể tạo nên sự bất hòa trong gia đình và đoàn thể, những điều có thể làm tan vỡ gia đình và đoàn thể.

Giới th năm

Ý thức được những khổ đau do sự sử dụng ma túy và độc tố gây ra, con xin học cách chuyển hóa thân tâm, xây dựng sức khỏe thân thể và tâm hồn bằng cách thực tập chánh niệm trong việc ăn uống và tiêu thụ. Con nguyện chỉ tiêu thụ những gì có thể đem lại an lạc cho thân tâm con, và cho thân tâm gia đình và xã hội con. Con nguyện không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy, không ăn uống hoặc tiêu thụ những sản phẩm có độc tố trong đó có một số sản phẩm truyền thanh, truyền hình, sách báo, phim ảnh và chuyện trò. Con biết rằng tàn hoại thân tâm bằng rượu và các độc tố ấy là phản bội tổ tiên, cha mẹ và cũng là phản bội các thế hệ tương lai. Con nguyện chuyển hóa bạo động, căm thù, sợ hãi và buồn giận bằng cách thực tập phép kiêng cữ cho con, cho gia đình con và cho xã hội. Con biết phép kiêng khem này rất thiết yếu để chuyển hóa tự thân, tâm thức cộng đồng và xã hội.

Rong chơi cõi ngoài

 

Tiếng gọi

Ngồi trên chuyến bay về Huế để có mặt cho đám tang ông nội, tôi thấy Thầy cùng có mặt bên tôi rất rõ ràng. Gần mười hai giờ khuya hôm trước, lúc tôi và sư chú Trời Trong Sáng đang làm thị giả cho Thầy, Thầy thức dậy và thiền hành quanh trong thất Nhìn Xa. Tôi đến quỳ và xin phép Thầy được về Việt Nam sáng sớm hôm sau. Thầy lắng nghe rất chăm chú, ánh mắt đầy tình xót thương. Thầy gật đầu cho phép và đưa tay lên xoa đầu tôi, chạm vào má của tôi. Lòng tôi tràn đầy niềm biết ơn khi ý thức rằng trong cuộc đời mình đã may mắn được gặp Thầy. 

Trên chuyến bay hôm đó, có một khoảng thời gian tôi ngồi yên nhìn ra bên ngoài khung cửa sổ và bắt gặp hình ảnh của Thầy đang ngồi lặng yên nhìn từng dòng sông, từng ngọn đồi, từng thửa ruộng trong chuyến về Việt Nam gần đây nhất. Chín năm rồi Thầy mới trở về thăm đất nước. Chín ngày Thầy có mặt với quê hương. Một chuyến đi đầy tuệ giác và huyền thoại của Thầy. Mọi chuyện vẫn còn đó, như chưa bao giờ trở thành quá khứ.

Cánh diều đất Việt

Có những buổi trưa, sau giờ cơm của đại chúng tu viện Vườn Ươm, nếu ai để ý nhìn ra cổng thất Nhìn Xa thì sẽ thấy một bóng áo nâu chậm rãi đi tới, dừng lại, chắp tay và lạy xuống ba lạy thật cẩn trọng, thành kính hướng về Thầy. Sau ba cái lạy, bóng áo nâu đó lại nhẹ nhàng thiền hành trở về phòng dành cho khách tăng. Đó là một sư chú, từ Việt Nam qua xin ở lại tu viện một tháng để theo đại chúng học hỏi nếp sống mà Thầy đã hướng dẫn.

Anh em thị giả chúng tôi quán sát, cảm được lòng thành của sư chú nên xin phép Thầy để sư chú được lên hầu thăm Thầy. Một buổi trưa, chúng tôi mời sư chú lên thất. Sư chú đảnh lễ Thầy và xin được cúng dường Thầy một con diều giấy tự tay sư chú làm trong những ngày ở tu viện. Trên thân diều, sư chú vẽ chân dung của sư chú Phùng Xuân và đề bốn chữ thư pháp “Cánh diều đất Việt”. Thầy gật đầu nhận món quà dễ thương đó. Con diều đã được anh em chúng tôi treo lên bức tường gỗ trong thất.

Một hôm Thầy chỉ vào con diều nhiều lần, đó là lần rõ ràng nhất chúng tôi biết rằng Thầy quyết định đi Việt Nam.

Chúng tôi rất cảm động về món quà mà người xuất sĩ trẻ dâng lên cúng dường Thầy. Trước đó, sư chú chỉ gặp Thầy qua những trang sách, qua những bài pháp thoại, và chính những trang sách, những bài pháp thoại đó đã nuôi dưỡng và giữ gìn sự thực tập cho sư chú ngay cả trong những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Sư chú quyết định đi tìm Thầy. Cuối cùng, sư chú đã gặp Thầy bằng xương bằng thịt. Trong lòng tăng thân, sư chú nói sư chú đã tìm thấy con đường, tìm thấy quê hương.

Nhìn sư chú, tôi cũng đồng thời nhìn thấy tôi lúc còn là một sư chú trẻ. Tôi, một người trẻ lớn lên trong chùa, ăn cơm chùa, đi học trường Phật học suốt mấy năm, thu gom được một số kiến thức, hấp thụ được một số kỹ năng sống, nhưng tôi cảm thấy rất trống vắng và nghèo nàn trong sự thực tập. Có khi tôi đã rơi vào tình trạng tuyệt vọng và có nguy cơ ngã gục. Lúc đó, tôi được gặp nhiều tập sách của Thầy. Càng đọc, con đường càng mở ra. Càng đọc, tâm thức tôi càng sáng và có thể đưa những sự thực tập căn bản của Thầy dạy vào đời sống hàng ngày. Những ngôn ngữ đơn giản ấy và sự thực tập bước chân, hơi thở chánh niệm đã cứu tôi thoát ra khỏi tình trạng bế tắc. Tôi thường đi thiền ra ngọn đồi Kim Sơn, có khi nằm dài trong lòng hương hoa chổi hay hoa chiều để cho thân tâm được lắng dịu, để đất Mẹ đón nhận, ôm ấp và chuyển hóa những khó khăn trong tôi. Tôi hay gọi ngọn đồi với nhiều cây thông rất đẹp, với những cụm hoa chổi trắng nhỏ hay những cành hoa chiều như tuyết là đồi Trị Liệu. Lúc đó, trong lòng tôi đã chuẩn bị cho một chuyến trở về bên Thầy. Lúc đó, tôi biết, tôi cần phải trở về bên Thầy.

Chúng ta mất cả chỉ còn nhau

Ngày 29 tháng 8 năm 2017, chuyến bay từ Bangkok đưa Thầy về Đà Nẵng. Thầy nằm nghỉ ngơi trên máy bay cho đến khi thị giả thông báo là máy bay đã vào không phận Việt Nam và hạ độ cao. Thầy ra hiệu ngồi dậy, qua ngồi ghế và Thầy trò chúng tôi cùng nhìn ra bên ngoài cửa sổ. Những dãy núi bạt ngàn trùng điệp, những dòng sông uốn quanh hai bên những ngọn đồi xanh, hoặc là những cánh đồng lúa được phân thành từng ô nhỏ. Lòng chúng tôi ai cũng bình lặng. Quê hương chúng tôi đây rồi. Quê hương chúng tôi là núi đồi tươi tốt, là biển rộng sông dài, là ruộng đồng trù phú trải dài như tấm y chở che dân tộc. Bao nhiêu thời đại đi qua, bao nhiêu nhiễu nhương phải đối diện, bao nhiêu chông gai thử thách giữa lòng đất Mẹ, chúng tôi vẫn cứ nguyện nhận nơi này làm quê hương.

Quê hương tôi là đây

Chỉ có dòng sông, hàng cau, bụi tre, vườn chuối

Mặt trái đất dù mang đầy cát bụi

Nhưng trăng sao vẫn đẹp những đêm Rằm.

(Chỗ đứng – thơ Thầy)

 

 

Thầy đã ngồi yên như vậy ngắm nhìn quê hương, thỉnh thoảng nhìn quanh các thị giả một vòng và ra hiệu cùng thưởng thức vẻ đẹp của đất trời với Thầy. Thầy trò tôi đã ngồi bên nhau như vậy, trong niềm hạnh phúc và những xúc động thâm sâu. Thầy về Việt Nam hẳn là một phép mầu. Máy bay đáp xuống đường băng, chúng tôi vẫn cứ ngồi quan sát Thầy. Đây không phải là một giấc mơ. Chuyện Thầy về thăm quê hương là một sự thật. Thầy là một món quà lớn mà hồn thiêng sông núi Đại Việt đã mang đến cho cuộc đời. Hôm nay, chúng tôi cảm nghe một cách thiết tha tiếng của hồn thiêng sông núi gọi Thầy trở về với quê cha đất tổ. Hơn năm mươi năm trước, Thầy đã mang thông điệp yêu thương lên đường đi khắp năm châu bốn biển để kêu gọi hòa bình, để kêu gọi chấm dứt cuộc chiến đệ huynh đã gây bao nhiêu thảm khốc trên mảnh đất hình chữ S. Hôm nay Thầy trở về, xứng đáng với hồn thiêng dân tộc. Thông điệp thương yêu, thông điệp tình huynh đệ và nghĩa đồng bào ấy, mười năm trước Thầy đã có lần đọc ngay giữa lòng đất Việt:

“… Chúng tôi hôm nay mới có cơ hội đến với nhau một cách chính thức, chắp tay nguyện cầu Tam Bảo, nhờ pháp lực gia trì thỉnh cầu tất cả liệt vị trở về đoàn tụ, cùng nhau cầu nguyện để giải trừ nghiệp cũ, mở ra một vận hội mới, nhìn nhận nhau, ôm lấy nhau, thương lấy nhau như đồng bào ruột thịt, không còn phân biệt Nam Bắc, gái trai, già trẻ, chủng tộc, tôn giáo, đảng phái và ý thức hệ. Tất cả chúng ta đều là đồng bào của nhau, gặp vận nước rủi ro, trên đường đấu tranh cho độc lập, cho tự do, bị dồn vào thế đối lập nhau, vì tự vệ mà phải chống đối nhau. Nhưng phước đức tổ tiên để lại vẫn còn, cho nên hôm nay tất cả chúng ta mới được về lại với nhau để nhìn nhận nhau như con một nhà, để cùng hứa với nhau là sẽ học cho thật thuộc bài học của đau thương trong quá khứ.

… Chúng tôi và các con cháu nguyện sẽ lên đường tiếp tục chí hướng của liệt vị hương linh, chúng tôi nguyện mang quý vị trong trái tim để đi về hướng tình huynh đệ và nghĩa đồng bào và luôn luôn nhớ rằng bầu và bí đều có thể leo chung một giàn, gà cùng một mẹ không bao giờ đá nhau, và tuệ giác ấy của tổ tiên sẽ soi đường chỉ lối cho con cháu chúng ta bây giờ và mãi mãi.”

(Lời khấn nguyện trong Đại trai đàn chẩn tế Bình đẳng giải oan)

Mỗi bước chân là huyền thoại, mỗi bước chân là trị liệu

Máy bay chạm đất, Thầy đưa tay nắm lấy tay chúng tôi, trên khuôn mặt Thầy vẫn giữ một nụ cười bình thản. Thầy Đồng Trí ở lại trên máy bay với Thầy; tôi và những thị giả khác xuống trước để lắp chiếc xe lăn. Tôi bước lên lại máy bay, Thầy vẫn đang ngồi ở ghế nhìn ra khung cửa nhỏ. Đến bên Thầy, tôi thưa: “Thưa Thầy, Thầy trò mình cùng đi bộ xuống máy bay được không Thầy?” Thầy nhìn tôi bằng ánh mắt rất sáng, và gật đầu. Thầy đi rất thẳng, rất đẹp. Đứng ở cửa máy bay, Thầy đưa mắt nhìn xung quanh và đưa tay lên chào mọi người. Chúng tôi giúp Thầy xuống cầu thang máy bay. Đặt chân trên mặt đất, Thầy tiếp tục bước những bước chân đầu tiên giữa lòng quê hương. Thầy đi thật thản nhiên, vững chãi và an tịnh. Hình ảnh đó sẽ nuôi dưỡng tất cả mọi người dù người đó thuộc tầng lớp nào trong xã hội. Mỗi bước chân ấy đã đi vào huyền thoại. Mỗi bước chân ấy, với tôi, đã trị liệu rất nhiều thương tích trên quê hương Việt Nam. Và bước chân chánh niệm ấy, bây giờ đây đã in dấu trên khắp quê hương, trên khắp thế giới nơi biểu hiện của hàng trăm ngàn học trò xuất gia và tại gia của Thầy.

Tại sao Thầy cần phải về Việt Nam trong tình trạng sức khỏe như vậy? Câu hỏi đó đã xuất hiện ở nhiều nơi. Tôi càng thấy thương kính Thầy hơn khi nhớ lại những ngày chuẩn bị cho chuyến về Việt Nam. Thầy rất thích ngồi yên và nghe học trò của mình đọc lại bài thơ Xin cúi đầu đưa về, bài thơ Thầy đã làm trước lúc về lại Việt Nam của gần năm mươi lăm năm trước. Bài thơ của một người con trai khờ dại, tuy biết rằng những thương tích phải gánh chịu nơi chốn cũ vẫn chưa lành lặn nhưng vì tình thương, vì chí nguyện hàn gắn tình nghĩa huynh đệ đồng môn mà người con trai ấy vẫn trở về như một kẻ đầu hàng ngoan ngoãn. Dù có bị đối xử thế nào, người con trai ấy vẫn xác quyết một điều rằng: Không có gì quý hơn Tình Huynh Đệ.

… Đây hai bàn tay tôi

Xin trả về cho em

Kẻ thương yêu, mẹ dạy, không bao giờ tính toán

Cỏ mộ úa vàng, cũng như hoa hồng đương lứa

Thương yêu muôn đời vẫn hạt sương trong

Đây hai bàn tay tôi

Xin cúi đầu đưa về

Em nhìn xem: những vết thương ngày xưa vẫn chưa lành dấu máu

Mười ngón đơn sơ hồn em xin đậu

Như những giọt sương ngời đầu ngọn cỏ rung rinh

Đây hai bàn tay tôi

Một kiếp luân hồi không xóa nhòa thương tích

Nụ cười còn đây, tôi không bao giờ oán trách

Còn đây tâm hồn thơ dại ngày xưa…”

(Xin cúi đầu đưa về – thơ Thầy)

Thầy đã từ chối không ngồi xe cứu thương để về chỗ nghỉ ngơi. Thầy chỉ chiếc xe bên cạnh của một người cư sĩ đến đón Thầy tại sân bay. Chúng tôi đưa Thầy lên xe. Vừa ngồi vào ghế, thắt dây an toàn, Thầy đưa ngón trỏ lên miệng làm dấu, hình ảnh của sự im lặng hùng tráng, nhìn một lượt các anh em thị giả chúng tôi, và ra hiệu cho xe chạy về chỗ nghỉ. Sáng sớm hôm sau, ngồi uống trà nơi hành lang của một căn phòng nhìn ra bờ biển với vườn dừa yên ả, anh em thị giả chúng tôi phát hiện trên bầu trời có một đám mây ngũ sắc rất đẹp, rất sáng. Thầy cũng đã dậy từ sáng sớm, thiền hành quanh hành lang và thưởng thức trà cùng các học trò.

Những ngày ở Đà Nẵng, chúng tôi đã mời Hòa thượng Chí Mãn đến thăm Thầy. Hòa thượng là sư em của Thầy, đang bệnh và phải ngồi xe lăn. Hòa thượng Chí Mãn gặp Thầy như một người sư em gặp sư anh, đồng thời cũng như một người học trò gặp thầy, có rất nhiều hạnh phúc. Huynh đệ nắm tay nhau, có khi Thầy lắng nghe Hòa thượng nói vài câu chuyện vui, có khi tay trong tay với sự im lặng tuyệt đối, hình ảnh ấy thật đẹp trong lòng mỗi chúng tôi. Vài hôm sau, tôi nghe tin Hòa thượng viên tịch. Hòa thượng đã gặp được vị sư anh đáng kính của mình trước lúc mất, hẳn nụ cười an ổn sẽ chẳng bao giờ tắt trong tâm hồn Hòa thượng.

Rong chơi thật địa

Một buổi chiều Chủ nhật, ngày 03 tháng 9 năm 2017, Thầy quyết định về Huế ghé thăm chùa Tổ Từ Hiếu. Thầy là người tự sắp xếp tất cả lịch trình của chuyến đi. Chúng tôi, những thị giả của Thầy, hoàn toàn nương tựa vào tuệ giác của Thầy và làm theo tất cả những gì Thầy chỉ dạy. Thầy không mặc áo tràng dù anh chị em thị giả chúng tôi đã thưa nhiều lần, kể cả lúc xe sắp đến chùa Tổ. Thầy chỉ mặc áo vạt hò. Thầy là con của chùa Tổ. Thầy không phải là khách vãng lai. Tôi hình dung ra hình ảnh Sư cố Chân Thật chống chiếc gậy tre dạo chơi vườn chùa trong chiếc áo vạt hò giản dị.

Gần hai mươi bốn giờ ở Tổ đình, Thầy đã dành gần như toàn bộ thời gian để thăm lại tất cả những nơi chốn kỷ niệm một thời hành điệu của sư chú Phùng Xuân. Thầy nghỉ ngơi rất ít. Thầy dạo quanh thất Lắng Nghe với cây vả sai trái, tiếng muôn trùng càng khiến cho không gian thêm khảng khoát và thanh vắng. Khuya hôm đó, Thầy cùng thị giả ra thăm thiền đường Trăng Rằm, nơi có chân dung của thiền sư Tánh Thiên Nhất Định, bậc cao tăng khai sơn Tổ đình.

 

 

Hơn tám giờ sáng ngày hôm sau, thứ Hai, ngày 04 tháng 9 năm 2017, ánh mặt trời thắp trong vắt trên các ngọn cây và thả từng vạt mỏng trên nền vườn chùa Tổ, Thầy đã có gần hai giờ đồng hồ dạo chơi quanh khuôn viên Tổ đình Từ Hiếu nơi đã gắn bó sâu sắc với những năm đầu tiên Thầy xuất gia học đạo. 

Đây, ngôi tháp cổ phủ rêu phong theo năm tháng, nơi bóng hình của Tổ khai sơn Tánh Thiên Nhất Định vẫn còn đó bài học hiếu đạo và công trình dựng tăng đã lưu xuất nhiều thế hệ xuất sĩ, nhiều bậc cao tăng tài đức.

Đây, con đường đất sỏi đi ngang Tàng Tháp, nơi những bức tường sạm màu ấy, sư chú Phùng Xuân ngày xưa đã cùng với các huynh đệ khác gom lá thông nướng nấm nướng măng.

Đây, trên con đường từ Tổ đình qua ni xá Diệu Trạm, hồ Sao Hôm cuối Hạ vẫn còn cho những đóa sen hồng tươi thắm. Nơi thư quán, Thầy đã dừng lại ngắm nhìn từng tác phẩm của mình trên kệ sách, thăm coi phòng ở của các sư cô và nơi sinh hoạt có được thoải mái không.

Đây, khu Lăng Viện nơi sư chú Phùng Xuân nhiều buổi trưa đã từng ra nằm đọc sách trên nền lá mát rượi. Hôm nay, Thầy đến thăm và dừng lại đọc rất nhiều tấm bia bằng chữ Hán trong Lăng Viện.

Đây, cổng tam quan cổ kính, gần hồ bán nguyệt, nơi đã không biết bao nhiêu buổi chiều sư chú Phùng Xuân ngồi nhổ cỏ và nghe tiếng tụng kinh công phu của chú Tâm Mãn từ Đại Hùng Bảo Điện vọng xuống. Trong khung cảnh mầu nhiệm ấy, sư chú Phùng Xuân lắng tai nghe cho đến khi bóng tối phủ đầy mà vẫn chưa chịu bước xuống hồ rửa tay. Được nuôi mình trong không khí thanh bình ấy, sư chú Phùng Xuân không thể nào không trở thành thi sĩ.

Đây, hồ bán nguyệt, nơi sư chú Phùng Xuân đã từng mang những trái mít non tươi xuống gọt vỏ để cho dì Tư hay chính sư chú sẽ nấu một nồi canh mít thơm ngon với lá lốt hoặc lá sân. Hôm nay, Thầy đã ngồi chơi rất lâu nơi những bậc cấp dẫn xuống hồ. Thầy thưởng thức trà, ngắm nhìn hồ nước, ngắm nhìn cổng tam quan, nghe quý thầy quý sư cô và những Phật tử cư sĩ hát thiền ca. Có lúc, Thầy dạy tất cả mọi người ngưng hát, cùng im lặng để có mặt nơi thực tại mầu nhiệm trong phút giây huyền thoại này, phút giây thầy trò hiện hữu nơi chốn Tổ linh thiêng.

Buổi chiều, Thầy cũng ra ngoài dạo chơi, thăm giếng nước xưa, thăm đồi thông cổ, thăm lại những cây bùi già đã cho rất nhiều trái ngon, ngon nhất xứ Huế. Từ nơi khoảng sân đất quen thuộc bên hông chánh điện, Thầy ra thăm tháp Bổn sư là Sư cố Thanh Quý Chân Thật. Thầy đã đi thiền quanh tháp một vòng, dừng lại đọc bài kệ bằng chữ Hán in nơi bức tường thành, thật chậm rãi và kính cẩn trước khi qua thăm tháp của Sư thúc Chí Mậu và về lại thất nghỉ ngơi. Nơi bốn trụ lớn trước tháp Sư thúc, lúc Thầy dừng lại thăm, có những con chim bồ câu bay đến đậu rất yên bình.

Mỗi nơi Thầy đi qua, chúng tôi cảm thấy Thầy đã tiếp xúc rất sâu sắc với năng lượng thương yêu, bình an và có mặt. Nghĩa tình, hiếu đạo, tha thứ và bao dung trọn vẹn nơi sự có mặt của Thầy. Mỗi nơi Thầy đi qua, Thầy để lại đó ánh mắt của sự tự do. Một người con xứng đáng về thăm chốn Tổ. Chỉ có vậy thôi.

Cũng ngay trong buổi chiều cùng ngày, sau khi dạo chơi một vòng quanh hồ bán nguyệt, Thầy quyết định rời Huế, lúc 15 giờ 40 phút. Hình ảnh Thầy ra hiệu thị giả dừng lại, Thầy hướng về cổng tam quan, xa xa là những nơi chốn ghi dấu bao nhiêu kỷ niệm êm đềm trong cuộc đời sư chú Phùng Xuân, Thầy chắp tay, cúi đầu xá chào trước khi lên xe, đã in đậm trong lòng mỗi chúng tôi. Lúc ngồi trên xe, chúng tôi nghe tin nhiều vị xuất sĩ chuẩn bị lên thăm Thầy. Chúng tôi mỉm cười. Thầy đã dời chân cõi ngoài khi ánh tà dương vẫn thắp sáng núi rừng…

Mây trắng thong dong

Hiện hữu không kêu gọi tình thương

Hiện hữu không cần ai phải thương ai

Nhưng em phải là em

Là đóa hoa, là bình minh hát ca không đắn đo suy tính…

(Bướm bay vườn cải hoa vàng – thơ Thầy)

 

Trong lễ tang ông Nội tôi, có một đêm, tôi đã mời tất cả những người thân tập trung trước di ảnh Nội để tổ chức lễ tưởng niệm. Đó là cơ hội hiếm hoi giúp tất cả mọi người buông bỏ hết những công việc, những lo lắng để thật sự trở về, thật sự có mặt cho nhau. Sau lúc ngồi yên theo những lời thiền hướng dẫn, tôi đã mời Thầy có mặt và đọc cho cả gia đình nghe Bướm bay vườn cải hoa vàng, nhiều người đã khóc khi nghe bài thơ trong không khí im lặng được tuyệt đối tôn trọng đó, tôi nhận thấy đã có sự trị liệu và kết nối trong gia đình huyết thống của chúng tôi trải qua nhiều thế hệ. Chúng tôi có dịp chia sẻ cho nhau nghe những kỷ niệm vui về Nội. 

Tôi rất biết ơn Thầy đã cho tôi con đường. Con đường ấy đã giúp tôi trở về nhà, ngôi nhà tâm linh mà tận sâu thẳm tâm thức tôi luôn luôn khát khao được gặp dù có trải qua vạn nẻo luân hồi. Con đường ấy đã giúp tôi có truyền thông với gia đình huyết thống và nuôi dưỡng nhau trong sự thiện lành. Về với Thầy, tôi biết rằng tôi cũng đã về lại được với ngôi nhà thân thiết đó, ngôi nhà đích thực ngàn xưa. Những bước chân, những hơi thở của Thầy giúp cho tôi tiếp xúc và trân quý được hiện hữu.  Hôm nay đây, tôi muốn thưa với Thầy rằng: Con đã tìm thấy đường về nhà. Con đã về nhà.

Hội ngộ Long Vương

HỘI NGỘ LONG VƯƠNG
Thầy Nhất Hạnh

Đó là ngày 11.05.2001, tôi đang ở tịnh thất Tùng Bút tại tu viện Lộc Uyển, miền Nam tiểu bang California Mỹ Quốc. Buổi sáng, các thầy, các sư chú trên xóm Vững Chãi và các sư cô dưới xóm Trong Sáng đều được mời đến tịnh thất Tùng Bút để ngồi thiền với tôi, thay vì ngồi ở các thiền đường trong xóm. Các vị đến vào lúc năm giờ. Trước đó tôi đã đi đốt lò củi và đun nước sôi pha trà. Thầy Giác Thanh đã có cất chứa những khối củi ép có nhựa thông, thành ra đốt lò sưởi rất dễ và rất mau. Thất Tùng Bút nằm giữa hai xóm. Buổi ngồi thiền này chỉ là một trong những buổi thầy trò ngồi chung để có thêm năng lượng, để cảm thấy sự có mặt của nhau, bên nhau. Sau buổi thiền ngồi, chúng tôi còn ngồi với nhau thêm nửa giờ nữa để cùng góp ý kiến làm sao cho trong tăng thân có thêm hoà điệu và hạnh phúc.

Sáng hôm ấy vị thị giả của tôi là sư cô Kristin (Thường Nghiêm), hồi đó còn là một vị sadi ni. Sư cô là người Hoa Kỳ. (Sư cô mới được thọ giới lớn tại Đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới tổ chức từ ngày 16 đến ngày 22 tháng chạp năm 2001). Sư cô cho biết ngày hôm nay sẽ là một ngày mà tôi phải tiếp nhiều khách. Những vị khách đầu tiên là một đội quay phim từ NewYork tới. Mình đã hứa với họ năm ngoái là sẽ để cho họ đến phỏng vấn khi mình đến Hoa Kỳ. Chủ ý của họ là làm một cuốn phim lấy tên là The Living Buddha, nói về lịch sử đức Bụt và lịch sử đạo Bụt. Và họ muốn Thầy đại diện nói lên được tiếng nói của đạo Bụt dấn thân, đạo Bụt hiện đại hoá. Tôi vừa đi thiền hành từ đồi Yên Tử về thì đã thấy họ đến tự bao giờ, đang sắp đặt máy móc, ánh sáng và các trần thiết căn bản. Tôi bảo thị giả mời họ đi thiền hành một vòng trước khi ngồi xuống bắt đầu cuộc phỏng vấn. Ban đầu vị thị giả và tôi nhận thấy rằng họ đã miễn cưỡng mà nhận lời đi thiền hành. Họ sợ mất thì giờ; đường xá xa xôi, họ lại từ vùng Đông Bắc tới. Nhưng sau khi được hướng dẫn và đi thiền hành được một vòng thì họ có được sự bình an. Họ được lây cái bình an của chúng tôi. Họ có được cái bình an trong hơi thở và bước chân họ. Tôi nghĩ cái sẽ làm cho họ nhớ nhất trong chuyến đi này của họ là buổi đi thiền hành chứ không phải là buổi phỏng vấn. Buổi phỏng vấn kéo dài tới hai giờ đồng hồ, đưa lại cho họ nhiều thoả mãn, nhiều hơn là họ từng mong ước.

Tôi được nghỉ ngơi chừng nửa giờ trước khi đi thọ trai. Hôm ấy hai xóm ăn cơm chung trên trai đường của xóm Vững Chãi. Vào khoảng ba giờ chiều, tôi lại phải tiếp đài NBC địa phương. Sau đó, tôi lấy nón lá và bảo thị giả cùng đi thiền hành với tôi lên đồi Yên Tử. Đồi Yên Tử là ngọn đồi đã được tăng thân chọn để xây một tháp chuông, theo mẫu của tháp chuông chùa Thiên Trù trên núi Hương Tích. Thầy Pháp Dung đã vẽ đồ án của ngôi tháp, nhưng đến bây giờ vẫn chưa xin được giấy phép làm tháp chuông. Chúng tôi dự tính trồng cỏ và làm vườn sỏi trên đồi, chung quanh tháp chuông, để sau này mỗi khi đi thiền hành lên trên ấy thì có thể ngồi xuống tĩnh toạ nửa giờ trước khi đi về. Các thầy và các sư cô ở Lộc Uyển đã trồng hàng trăm cây tiêu California (Californian pepper trees) để có bóng mát từ dưới đỉnh đồi đi lên. Các cây tiêu này đang lớn rất nhanh, và cành lá rất xanh tươi dù trong những tháng hè khô và nóng bức.

Lên tới Yên Tử, tôi đi đến chiếc võng giăng giữa hai cây tùng sát vào vách núi đá, ngồi lên võng, bỏ guốc ra và đưa hai chân trọn lên võng. Sư cô Thường Nghiêm ngồi dưới một gốc tùng phía đầu võng. Bỗng sư cô nói, giọng rất trầm tĩnh: “Thưa thầy, có một con rắn nằm ngay dưới võng thầy”. Tôi quay đầu lại phía trái nhìn xuống, và thấy liền con rắn. Con rắn này dài khoảng 1m20, có màu vàng nhạt và đen nhạt. Hai màu này tiệp với màu lá cây và màu đất thành thử tôi đã không trông thấy khi ngồi xuống võng. Sư cô Thường Nghiêm nhặt một cành cây khô đẩy về phía đuôi con rắn, tạo ra tiếng xào xạc để con rắn bò đi. Nhưng con rắn không đi. Sư cô lấy cành cây khô chạm vào đuôi rắn và ẩy nó đi, nó cũng không đi. Rồi sư cô nói bằng tiếng Anh: “Bạch thầy, con rắn này rất thích nằm bên Thầy nên nó không chịu đi” (Thầy, the snack likes your presence, it does not want to go.) Tôi nói: “Vậy thì con cứ để yên cho nó”. Lúc ấy là vào khoảng bốn giờ chiều, trời còn nắng. Chiếc nón lá rộng vành của tôi được đặt gần đôi guốc của tôi chỉ cách con rắn có mươi phân tây. Võng của tôi cũng cách mặt đất, phía trên con rắn chừng hai mươi phân tây. Tôi nằm rất yên, sư cô Thường Nghiêm cũng ngồi rất yên. Gió chiều bắt đầu mát. Bỗng sư cô Thường Nghiêm nói: “Hồi lễ Giáng Sinh năm ngoái, con có làm được một bài hát. Thầy có muốn con hát bài hát đó cho thầy nghe không?. Tôi nói: “Con hát đi, và hát cho con rắn nghe nữa”.

Sư cô Thường Nghiêm hát: Rives flow through me, sunshine is my morning tea. Body – harmony, feelings – clouds in the sky, perceptions – stones on the road, mental formations – birds are singing, singing songs of freedom, freedom, consciousness – deep blue sea wash over me…

Sư cô Thường Nghiêm hát xong bài hát, tôi hỏi: “Con rắn còn nằm dưới lưng thầy không con?” Sư cô trả lời: “Nó còn nằm nguyên trong vị trí cũ, thưa thầy. Nhưng con thấy cái đuôi nó có vẫy lên vẫy xuống, giống như nó đang thích bài hát và đánh nhịp theo bài hát vậy”. Tôi nói: “Vậy thì con hát lại một lần nữa cho nó nghe đi”. Tôi nằm thật yên. Sư cô Thường Nghiêm cũng ngồi thật yên, về phía đầu võng. Con rắn cũng nằm yên. Trời rất dễ chịu. Buổi sáng chúng tôi đã thức dậy cùng đại chúng lúc bốn giờ rưỡi sáng, đã ngồi thiền, pháp đàm, đi ăn sáng, đi thiền hành, trả lời cuộc phỏng vấn dài hơn hai tiếng đồng hồ, đi ăn cơm chánh niệm với đại chúng trên xóm Vững Chãi, và chưa được nghỉ ngơi gì thì đã phải trả lời cuộc phỏng vấn của đài NBC. Đây thật sự là giờ nghỉ ngơi của chúng tôi. Và có một chú rắn khá lớn cũng đang nghỉ ngơi với chúng tôi. Chú rắn này không phải là rắn rung chuông nhưng theo sư cô Thường Nghiêm cũng không phải là rắn hiền. Cô cho biết ngày xưa cô thường sợ rắn, nhưng bây giờ thì cô không còn sợ nữa, và có thể xem rắn như tất cả các loài động vật khác, cũng biết đói và biết sợ như những loài vật khác. Chỉ cần có ý tứ để khi đi đừng đạp lên nó thì không sao.

Khoảng nửa giờ sau, sư cô Thường Nghiêm cho biết là con rắn bắt đầu di động. Nó bò đi rất chậm, mỗi phút nó chỉ di chuyển được một phân tây. Tôi tiếp tục nằm thở và tiếp xúc với cây, với đá, với nắng trên đồi Yên Tử. Tôi tự nhủ: để cho chú rắn leo vào trong núi đá rồi thì thòng chân xuống quơ guốc đi về. Nhưng chỉ độ chừng mười lăm phút sau đã có tiếng chuông báo chúng từ xóm Vững Chãi vọng lên. Các thầy các sư chú dưới ấy đã đến giờ dùng cơm chiều. Tôi nhìn xuống thì thấy chú rắn đã bắt đầu băng ra phía núi. Thân sau của chú còn nằm dưới võng nhưng thân trước của chú đã hướng về tảng đá. Tôi nói: “Mình phải về ăn cơm. Tối nay còn phải gặp tăng thân San Diego nữa”. Hai thầy trò tạm biệt chú rắn, tạm biệt đồi Yên Tử với cái yên lặng nhẹ nhàng và sinh động của đá, của mây, của trời nơi này. Nắng đã hết. Tôi cầm chiếc nón lá trong tay. Hai thầy trò đi xuống núi.

Sau buổi tiểu thực cùng đại chúng hai xóm tại nhà ăn của xóm Vững Chãi, về tới nhà Tùng Bút, chúng tôi đã thấy tăng thân San Diego có mặt đông đủ trong phòng khách. Có khoảng ba mươi vị, hai phần ba là người Hoa Kỳ. Tất cả những vị chủ chốt trong ban nhiếp chúng đều có mặt. Tăng thân này đã được thành lập trong quá trình tổ chức buổi thuyết giảng tại San Diego ngày mai, tức là ngày 12.5.2001. Đề tài buổi giảng là Cultivatin Peace in Ourselves and our Communities. Tôi được báo tin là ngày mai thính giả sẽ đông lắm. Ban điều hành tăng thân làm việc rất siêng năng, luôn luôn tổ chức những buổi họp để kiểm điểm và để lấy thêm sáng kiến mới. Trong quá trình làm việc, các bạn đã mời được nhiều bạn mới, và tất cả đều đồng ý là việc tổ chức buổi giảng có thể được sử dụng như một cơ hội để đến với nhau, làm thân với nhau và tu tập cùng nhau.

Tối nay nói chuyện với tăng thân San Diego, tôi có dịp kể lại chuyện chúng tôi gặp chú rắn trên đồi Yên Tử. Thầy Pháp Dung mấy hôm trước đây có kể cho chúng tôi nghe là một hôm lật một tảng đá lớn ở lưng đồi xóm Vững Chãi, mấy người thợ gốc Mễ Tây Cơ thấy một con rắn khá lớn nằm úp dưới tảng đá. Họ định giết con rắn, nhưng thầy Pháp Dung ngăn lại. Cuối cùng họ giúp con rắn trở về núi rừng. Tôi nói có lẽ con rắn mà tôi đã gặp chiều hôm nay dưới võng chính là con rắn mà thầy Pháp Dung đã cứu. Nó đã tìm tới tôi để tỏ lòng biết ơn tăng thân Lộc Uyển. Từ ngày về tới núi rừng Escondido, chúng tôi đã hết lòng bảo vệ cho các loài sinh vật cư trú tại đây. Trước đó, khi Vườn Nai còn để hoang, người ta thường hay lên đây để săn bắn, giết chóc. Tuy vùng núi này gọi là Deer Park mà chẳng thấy còn bóng dáng của một chú nai nào. Cảnh sát trong quận thường hay lên đây tập bắn. Họ bắn nát hết, kể cả những tấm bảng bằng sắt chỉ đường, kể cả tường vách của những căn nhà trống không còn bỏ lại. Trong những tháng đầu khi tu viện mới thành lập, đêm đêm chó rừng (coyotes) thường hay kéo về từng lũ hàng trăm con, bao quanh cư xá các vị xuất gia và tru lên. Đã lâu quá rồi loài người chỉ lên đây để phá phách và tàn sát. Bây giờ lại có người lên đây để ở. Các loài sinh vật trên núi chưa biết cái gì sẽ xảy ra cho họ và cho sinh môi của họ với sự có mặt của những con người mới này.

Nhưng từ từ, chúng sinh vật ở Lộc Uyển nhận thấy các thầy và các sư cô rất hiền. Họ không đón phá cây cối mà còn trồng thêm rất nhiều cây cối. Họ không tàn sát mà còn tìm cách bảo hộ sinh mạng. Họ rất im lặng. Họ tôn trọng khung cảnh thanh tịnh của núi rừng. Cũng có thể chú rắn mà chúng tôi gặp trên đồi Yên Tử là một Long Vương, đại diện cho tất cả các loài rắn có mặt trong hàng ngàn mẫu núi rừng trùng điệp ở Escondido, đã đến với tôi để mang tới thông điệp sống chung hoà bình. Chú biết tôi ngày nào cũng đi bộ trên đồi Yên Tử, và mỗi khi lên tới đỉnh đồi thì tôi lại tới ngồi trên chiếc võng mắc sẵn để nghỉ ngơi, cho nên chú đã tới nằm đó sẵn để chờ đợi. Chú đã được sư cô Thường Nghiêm hát cho nghe. Chú đã không chịu đi khi sư cô đuổi. Chú đã được tôi mời ở lại. Và cuộc hội ngộ tuy im lặng nhưng đã rất thân tình. Theo sư cô Thường Nghiêm thì chú rắn này không phải là một chú rắn thuộc về loại hiền. Nhưng hiền hay không hiền, điều đó tuỳ thuộc vào cách xử sự. Nếu mình có chánh niệm và có lòng từ bi thì mình sẽ được tiếp đãi một cách hiền hậu. Chúng tôi có chánh niệm, chúng tôi có lòng từ bi. Sau thời gian gần hai năm cư trú, tăng thân ở đây, xuất gia cũng như tại gia, đã chứng tỏ là chúng tôi muốn sống chung an lạc hoà bình với đất đai và dân chúng vùng Lộc Uyển. Các loài chúng sinh ở đây đã cảm nhận được điều đó. Cách đây một tuần lễ, thầy Pháp Dung cho biết chú nai đầu tiên đã xuất hiện trong vùng đất tu viện Lộc Uyển. Chúng tôi rất mừng. Mai mốt nai về đông đảo, sẽ cùng nghe pháp với người.

Tôi viết những dòng này ở xóm Thượng, Làng Mai. Xóm Thượng Làng Mai ở Thenec, ngày xưa, trong thế chiến thứ hai đã là nơi tranh chấp bạo động và đẫm máu. Lính Đức đã cột tay người kháng chiến Pháp và những người bị tình nghi trong vùng là yểm trợ cho kháng chiến và bắn họ bên bức tường đá tọa lạc bên cạnh Ngũ Quán Đường bây giờ. Hồi chúng tôi mới về đây, 1983, oan khí còn đằng đằng. Hai mươi năm đã đi qua từ độ ấy. Ngày nào tăng thân ở đây cũng tập ngồi, tập thở, tập đi thiền hành, lấy năng lượng chánh niệm và từ bi để chuyển hoá tâm thức và môi trường. Thiền sinh đã đến đây tu tập từ ba mươi quốc gia khác nhau. Số người Đức tới tu học rất đông, có khi còn đông hơn người Ý, người Anh và người Thuỵ Sĩ. Họ đã đến đây không với súng đạn và tâm niệm hận thù mà với ý chí tu tập. Họ đã đi những bước chân vững chãi, thảnh thơi, đã thực tập nhìn kỹ và phát khởi lòng từ bi. Dân chúng các thôn làng quanh đây đã cảm thấy sự chuyển đổi lớn lao đó. Họ cảm thấy năng lượng hoà bình bao trùm cả một vùng này. Mỗi năm có hàng bốn, năm ngàn người tới đây tu học. Và ai cũng tới bằng một tâm niệm lành. Cỏ xanh hơn, trời trong hơn, người và vật có thêm rất nhiều từ ái. Đất ở đây đã trở thành đất Bụt. Chúng tôi định đặt tên vùng này là Nam Phương Phật Quốc, dịch tiếng Pháp là Terre Pure du Sud. Các bạn muốn về đất Bụt để rong chơi, ngắm nhìn trăng sao hay mời các vị Bồ Tát đi thiền hành thì cứ về. Lộc Uyển cũng vậy. Lộc Uyển cũng đã trở thành đất Bụt miền tây nam nước Mỹ. Mời quý vị đến Lộc Uyển để làm quen với tăng thân ở đây. Tăng thân ở đây không phải chỉ là người xuất gia và người tại gia. Tăng thân ở đây còn là tất cả các loài cây cỏ, đất đá và chúng sinh. Quý vị sẽ được đón tiếp với lòng ưu ái và kính cẩn. Long Vương vẫn còn ở trên núi. Chúng tôi đã ký một hiệp ước chung sống hoà bình và an lạc trên đồi Yên Tử ngày 11.5.2001.