CHƯƠNG 1: Năm giới mầu nhiệm

Năm Giới

Giới th nhất

Ý thức được những khổ đau do sự sát hại gây ra, con xin học theo hạnh đại bi để bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài. Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán thành sự giết chóc và không để kẻ khác giết hại, dù là trong tâm tưởng hay trong cách sống hàng ngày của con.

Giới th hai

Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cướp và bất công xã hội gây ra, con xin học theo hạnh đại từ để đem lại niềm vui sống và an lạc cho mọi người và mọi loài, để chia xẻ thì giờ, năng lực và tài vật của con với những kẻ đang thật sự thiếu thốn. Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra. Con nguyện tôn trọng quyền tư hữu của kẻ khác, nhưng cũng nguyện ngăn ngừa kẻ khác không cho họ tích trữ và làm giàu một cách bất lương tên sự đau khổ của con người và của muôn loại.

Giới th ba

Ý thức được những khổ đau do thói tà dâm gây ra, con xin học theo tinh thần trách nhiệm để giúp bảo vệ tiết hạnh và sự an toàn của mọi người và mọi gia đình trong xã hội. Con nguyện không ăn nằm với những người không phải là vợ hay chồng của con. Con ý thức được rằng những hành động bất chính sẽ gây ra những đau khổ cho kẻ khác và cho chính con. Con biết muốn bảo vệ hạnh phúc của mình và của kẻ khác thì phải biết tôn trọng những cam kết của mình và của kẻ khác. Con sẽ làm mọi cách có thể để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa.

Giới th

Ý thức được những khổ đau đo lời nói thiếu chánh niệm gây ra, con xin học theo hạnh ái ngữ và lắng nghe để dâng tặng niềm vui cho người và làm vơi bớt khổ đau của người. Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hoặc khổ đau cho người, con nguyện chỉ nói những lời có thể gây thêm niềm tự tin, an vui và hy vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng sự hiểu biết và hòa giải. Con nguyện không nói những điều sai với sự thật, không nói những lời gây chia rẽ và căm thù. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án những điều con không biết chắc. Con nguyện không nói những điều có thể tạo nên sự bất hòa trong gia đình và đoàn thể, những điều có thể làm tan vỡ gia đình và đoàn thể.

Giới th năm

Ý thức được những khổ đau do sự sử dụng ma túy và độc tố gây ra, con xin học cách chuyển hóa thân tâm, xây dựng sức khỏe thân thể và tâm hồn bằng cách thực tập chánh niệm trong việc ăn uống và tiêu thụ. Con nguyện chỉ tiêu thụ những gì có thể đem lại an lạc cho thân tâm con, và cho thân tâm gia đình và xã hội con. Con nguyện không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy, không ăn uống hoặc tiêu thụ những sản phẩm có độc tố trong đó có một số sản phẩm truyền thanh, truyền hình, sách báo, phim ảnh và chuyện trò. Con biết rằng tàn hoại thân tâm bằng rượu và các độc tố ấy là phản bội tổ tiên, cha mẹ và cũng là phản bội các thế hệ tương lai. Con nguyện chuyển hóa bạo động, căm thù, sợ hãi và buồn giận bằng cách thực tập phép kiêng cữ cho con, cho gia đình con và cho xã hội. Con biết phép kiêng khem này rất thiết yếu để chuyển hóa tự thân, tâm thức cộng đồng và xã hội.

Rong chơi cõi ngoài

 

Tiếng gọi

Ngồi trên chuyến bay về Huế để có mặt cho đám tang ông nội, tôi thấy Thầy cùng có mặt bên tôi rất rõ ràng. Gần mười hai giờ khuya hôm trước, lúc tôi và sư chú Trời Trong Sáng đang làm thị giả cho Thầy, Thầy thức dậy và thiền hành quanh trong thất Nhìn Xa. Tôi đến quỳ và xin phép Thầy được về Việt Nam sáng sớm hôm sau. Thầy lắng nghe rất chăm chú, ánh mắt đầy tình xót thương. Thầy gật đầu cho phép và đưa tay lên xoa đầu tôi, chạm vào má của tôi. Lòng tôi tràn đầy niềm biết ơn khi ý thức rằng trong cuộc đời mình đã may mắn được gặp Thầy. 

Trên chuyến bay hôm đó, có một khoảng thời gian tôi ngồi yên nhìn ra bên ngoài khung cửa sổ và bắt gặp hình ảnh của Thầy đang ngồi lặng yên nhìn từng dòng sông, từng ngọn đồi, từng thửa ruộng trong chuyến về Việt Nam gần đây nhất. Chín năm rồi Thầy mới trở về thăm đất nước. Chín ngày Thầy có mặt với quê hương. Một chuyến đi đầy tuệ giác và huyền thoại của Thầy. Mọi chuyện vẫn còn đó, như chưa bao giờ trở thành quá khứ.

Cánh diều đất Việt

Có những buổi trưa, sau giờ cơm của đại chúng tu viện Vườn Ươm, nếu ai để ý nhìn ra cổng thất Nhìn Xa thì sẽ thấy một bóng áo nâu chậm rãi đi tới, dừng lại, chắp tay và lạy xuống ba lạy thật cẩn trọng, thành kính hướng về Thầy. Sau ba cái lạy, bóng áo nâu đó lại nhẹ nhàng thiền hành trở về phòng dành cho khách tăng. Đó là một sư chú, từ Việt Nam qua xin ở lại tu viện một tháng để theo đại chúng học hỏi nếp sống mà Thầy đã hướng dẫn.

Anh em thị giả chúng tôi quán sát, cảm được lòng thành của sư chú nên xin phép Thầy để sư chú được lên hầu thăm Thầy. Một buổi trưa, chúng tôi mời sư chú lên thất. Sư chú đảnh lễ Thầy và xin được cúng dường Thầy một con diều giấy tự tay sư chú làm trong những ngày ở tu viện. Trên thân diều, sư chú vẽ chân dung của sư chú Phùng Xuân và đề bốn chữ thư pháp “Cánh diều đất Việt”. Thầy gật đầu nhận món quà dễ thương đó. Con diều đã được anh em chúng tôi treo lên bức tường gỗ trong thất.

Một hôm Thầy chỉ vào con diều nhiều lần, đó là lần rõ ràng nhất chúng tôi biết rằng Thầy quyết định đi Việt Nam.

Chúng tôi rất cảm động về món quà mà người xuất sĩ trẻ dâng lên cúng dường Thầy. Trước đó, sư chú chỉ gặp Thầy qua những trang sách, qua những bài pháp thoại, và chính những trang sách, những bài pháp thoại đó đã nuôi dưỡng và giữ gìn sự thực tập cho sư chú ngay cả trong những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Sư chú quyết định đi tìm Thầy. Cuối cùng, sư chú đã gặp Thầy bằng xương bằng thịt. Trong lòng tăng thân, sư chú nói sư chú đã tìm thấy con đường, tìm thấy quê hương.

Nhìn sư chú, tôi cũng đồng thời nhìn thấy tôi lúc còn là một sư chú trẻ. Tôi, một người trẻ lớn lên trong chùa, ăn cơm chùa, đi học trường Phật học suốt mấy năm, thu gom được một số kiến thức, hấp thụ được một số kỹ năng sống, nhưng tôi cảm thấy rất trống vắng và nghèo nàn trong sự thực tập. Có khi tôi đã rơi vào tình trạng tuyệt vọng và có nguy cơ ngã gục. Lúc đó, tôi được gặp nhiều tập sách của Thầy. Càng đọc, con đường càng mở ra. Càng đọc, tâm thức tôi càng sáng và có thể đưa những sự thực tập căn bản của Thầy dạy vào đời sống hàng ngày. Những ngôn ngữ đơn giản ấy và sự thực tập bước chân, hơi thở chánh niệm đã cứu tôi thoát ra khỏi tình trạng bế tắc. Tôi thường đi thiền ra ngọn đồi Kim Sơn, có khi nằm dài trong lòng hương hoa chổi hay hoa chiều để cho thân tâm được lắng dịu, để đất Mẹ đón nhận, ôm ấp và chuyển hóa những khó khăn trong tôi. Tôi hay gọi ngọn đồi với nhiều cây thông rất đẹp, với những cụm hoa chổi trắng nhỏ hay những cành hoa chiều như tuyết là đồi Trị Liệu. Lúc đó, trong lòng tôi đã chuẩn bị cho một chuyến trở về bên Thầy. Lúc đó, tôi biết, tôi cần phải trở về bên Thầy.

Chúng ta mất cả chỉ còn nhau

Ngày 29 tháng 8 năm 2017, chuyến bay từ Bangkok đưa Thầy về Đà Nẵng. Thầy nằm nghỉ ngơi trên máy bay cho đến khi thị giả thông báo là máy bay đã vào không phận Việt Nam và hạ độ cao. Thầy ra hiệu ngồi dậy, qua ngồi ghế và Thầy trò chúng tôi cùng nhìn ra bên ngoài cửa sổ. Những dãy núi bạt ngàn trùng điệp, những dòng sông uốn quanh hai bên những ngọn đồi xanh, hoặc là những cánh đồng lúa được phân thành từng ô nhỏ. Lòng chúng tôi ai cũng bình lặng. Quê hương chúng tôi đây rồi. Quê hương chúng tôi là núi đồi tươi tốt, là biển rộng sông dài, là ruộng đồng trù phú trải dài như tấm y chở che dân tộc. Bao nhiêu thời đại đi qua, bao nhiêu nhiễu nhương phải đối diện, bao nhiêu chông gai thử thách giữa lòng đất Mẹ, chúng tôi vẫn cứ nguyện nhận nơi này làm quê hương.

Quê hương tôi là đây

Chỉ có dòng sông, hàng cau, bụi tre, vườn chuối

Mặt trái đất dù mang đầy cát bụi

Nhưng trăng sao vẫn đẹp những đêm Rằm.

(Chỗ đứng – thơ Thầy)

 

 

Thầy đã ngồi yên như vậy ngắm nhìn quê hương, thỉnh thoảng nhìn quanh các thị giả một vòng và ra hiệu cùng thưởng thức vẻ đẹp của đất trời với Thầy. Thầy trò tôi đã ngồi bên nhau như vậy, trong niềm hạnh phúc và những xúc động thâm sâu. Thầy về Việt Nam hẳn là một phép mầu. Máy bay đáp xuống đường băng, chúng tôi vẫn cứ ngồi quan sát Thầy. Đây không phải là một giấc mơ. Chuyện Thầy về thăm quê hương là một sự thật. Thầy là một món quà lớn mà hồn thiêng sông núi Đại Việt đã mang đến cho cuộc đời. Hôm nay, chúng tôi cảm nghe một cách thiết tha tiếng của hồn thiêng sông núi gọi Thầy trở về với quê cha đất tổ. Hơn năm mươi năm trước, Thầy đã mang thông điệp yêu thương lên đường đi khắp năm châu bốn biển để kêu gọi hòa bình, để kêu gọi chấm dứt cuộc chiến đệ huynh đã gây bao nhiêu thảm khốc trên mảnh đất hình chữ S. Hôm nay Thầy trở về, xứng đáng với hồn thiêng dân tộc. Thông điệp thương yêu, thông điệp tình huynh đệ và nghĩa đồng bào ấy, mười năm trước Thầy đã có lần đọc ngay giữa lòng đất Việt:

“… Chúng tôi hôm nay mới có cơ hội đến với nhau một cách chính thức, chắp tay nguyện cầu Tam Bảo, nhờ pháp lực gia trì thỉnh cầu tất cả liệt vị trở về đoàn tụ, cùng nhau cầu nguyện để giải trừ nghiệp cũ, mở ra một vận hội mới, nhìn nhận nhau, ôm lấy nhau, thương lấy nhau như đồng bào ruột thịt, không còn phân biệt Nam Bắc, gái trai, già trẻ, chủng tộc, tôn giáo, đảng phái và ý thức hệ. Tất cả chúng ta đều là đồng bào của nhau, gặp vận nước rủi ro, trên đường đấu tranh cho độc lập, cho tự do, bị dồn vào thế đối lập nhau, vì tự vệ mà phải chống đối nhau. Nhưng phước đức tổ tiên để lại vẫn còn, cho nên hôm nay tất cả chúng ta mới được về lại với nhau để nhìn nhận nhau như con một nhà, để cùng hứa với nhau là sẽ học cho thật thuộc bài học của đau thương trong quá khứ.

… Chúng tôi và các con cháu nguyện sẽ lên đường tiếp tục chí hướng của liệt vị hương linh, chúng tôi nguyện mang quý vị trong trái tim để đi về hướng tình huynh đệ và nghĩa đồng bào và luôn luôn nhớ rằng bầu và bí đều có thể leo chung một giàn, gà cùng một mẹ không bao giờ đá nhau, và tuệ giác ấy của tổ tiên sẽ soi đường chỉ lối cho con cháu chúng ta bây giờ và mãi mãi.”

(Lời khấn nguyện trong Đại trai đàn chẩn tế Bình đẳng giải oan)

Mỗi bước chân là huyền thoại, mỗi bước chân là trị liệu

Máy bay chạm đất, Thầy đưa tay nắm lấy tay chúng tôi, trên khuôn mặt Thầy vẫn giữ một nụ cười bình thản. Thầy Đồng Trí ở lại trên máy bay với Thầy; tôi và những thị giả khác xuống trước để lắp chiếc xe lăn. Tôi bước lên lại máy bay, Thầy vẫn đang ngồi ở ghế nhìn ra khung cửa nhỏ. Đến bên Thầy, tôi thưa: “Thưa Thầy, Thầy trò mình cùng đi bộ xuống máy bay được không Thầy?” Thầy nhìn tôi bằng ánh mắt rất sáng, và gật đầu. Thầy đi rất thẳng, rất đẹp. Đứng ở cửa máy bay, Thầy đưa mắt nhìn xung quanh và đưa tay lên chào mọi người. Chúng tôi giúp Thầy xuống cầu thang máy bay. Đặt chân trên mặt đất, Thầy tiếp tục bước những bước chân đầu tiên giữa lòng quê hương. Thầy đi thật thản nhiên, vững chãi và an tịnh. Hình ảnh đó sẽ nuôi dưỡng tất cả mọi người dù người đó thuộc tầng lớp nào trong xã hội. Mỗi bước chân ấy đã đi vào huyền thoại. Mỗi bước chân ấy, với tôi, đã trị liệu rất nhiều thương tích trên quê hương Việt Nam. Và bước chân chánh niệm ấy, bây giờ đây đã in dấu trên khắp quê hương, trên khắp thế giới nơi biểu hiện của hàng trăm ngàn học trò xuất gia và tại gia của Thầy.

Tại sao Thầy cần phải về Việt Nam trong tình trạng sức khỏe như vậy? Câu hỏi đó đã xuất hiện ở nhiều nơi. Tôi càng thấy thương kính Thầy hơn khi nhớ lại những ngày chuẩn bị cho chuyến về Việt Nam. Thầy rất thích ngồi yên và nghe học trò của mình đọc lại bài thơ Xin cúi đầu đưa về, bài thơ Thầy đã làm trước lúc về lại Việt Nam của gần năm mươi lăm năm trước. Bài thơ của một người con trai khờ dại, tuy biết rằng những thương tích phải gánh chịu nơi chốn cũ vẫn chưa lành lặn nhưng vì tình thương, vì chí nguyện hàn gắn tình nghĩa huynh đệ đồng môn mà người con trai ấy vẫn trở về như một kẻ đầu hàng ngoan ngoãn. Dù có bị đối xử thế nào, người con trai ấy vẫn xác quyết một điều rằng: Không có gì quý hơn Tình Huynh Đệ.

… Đây hai bàn tay tôi

Xin trả về cho em

Kẻ thương yêu, mẹ dạy, không bao giờ tính toán

Cỏ mộ úa vàng, cũng như hoa hồng đương lứa

Thương yêu muôn đời vẫn hạt sương trong

Đây hai bàn tay tôi

Xin cúi đầu đưa về

Em nhìn xem: những vết thương ngày xưa vẫn chưa lành dấu máu

Mười ngón đơn sơ hồn em xin đậu

Như những giọt sương ngời đầu ngọn cỏ rung rinh

Đây hai bàn tay tôi

Một kiếp luân hồi không xóa nhòa thương tích

Nụ cười còn đây, tôi không bao giờ oán trách

Còn đây tâm hồn thơ dại ngày xưa…”

(Xin cúi đầu đưa về – thơ Thầy)

Thầy đã từ chối không ngồi xe cứu thương để về chỗ nghỉ ngơi. Thầy chỉ chiếc xe bên cạnh của một người cư sĩ đến đón Thầy tại sân bay. Chúng tôi đưa Thầy lên xe. Vừa ngồi vào ghế, thắt dây an toàn, Thầy đưa ngón trỏ lên miệng làm dấu, hình ảnh của sự im lặng hùng tráng, nhìn một lượt các anh em thị giả chúng tôi, và ra hiệu cho xe chạy về chỗ nghỉ. Sáng sớm hôm sau, ngồi uống trà nơi hành lang của một căn phòng nhìn ra bờ biển với vườn dừa yên ả, anh em thị giả chúng tôi phát hiện trên bầu trời có một đám mây ngũ sắc rất đẹp, rất sáng. Thầy cũng đã dậy từ sáng sớm, thiền hành quanh hành lang và thưởng thức trà cùng các học trò.

Những ngày ở Đà Nẵng, chúng tôi đã mời Hòa thượng Chí Mãn đến thăm Thầy. Hòa thượng là sư em của Thầy, đang bệnh và phải ngồi xe lăn. Hòa thượng Chí Mãn gặp Thầy như một người sư em gặp sư anh, đồng thời cũng như một người học trò gặp thầy, có rất nhiều hạnh phúc. Huynh đệ nắm tay nhau, có khi Thầy lắng nghe Hòa thượng nói vài câu chuyện vui, có khi tay trong tay với sự im lặng tuyệt đối, hình ảnh ấy thật đẹp trong lòng mỗi chúng tôi. Vài hôm sau, tôi nghe tin Hòa thượng viên tịch. Hòa thượng đã gặp được vị sư anh đáng kính của mình trước lúc mất, hẳn nụ cười an ổn sẽ chẳng bao giờ tắt trong tâm hồn Hòa thượng.

Rong chơi thật địa

Một buổi chiều Chủ nhật, ngày 03 tháng 9 năm 2017, Thầy quyết định về Huế ghé thăm chùa Tổ Từ Hiếu. Thầy là người tự sắp xếp tất cả lịch trình của chuyến đi. Chúng tôi, những thị giả của Thầy, hoàn toàn nương tựa vào tuệ giác của Thầy và làm theo tất cả những gì Thầy chỉ dạy. Thầy không mặc áo tràng dù anh chị em thị giả chúng tôi đã thưa nhiều lần, kể cả lúc xe sắp đến chùa Tổ. Thầy chỉ mặc áo vạt hò. Thầy là con của chùa Tổ. Thầy không phải là khách vãng lai. Tôi hình dung ra hình ảnh Sư cố Chân Thật chống chiếc gậy tre dạo chơi vườn chùa trong chiếc áo vạt hò giản dị.

Gần hai mươi bốn giờ ở Tổ đình, Thầy đã dành gần như toàn bộ thời gian để thăm lại tất cả những nơi chốn kỷ niệm một thời hành điệu của sư chú Phùng Xuân. Thầy nghỉ ngơi rất ít. Thầy dạo quanh thất Lắng Nghe với cây vả sai trái, tiếng muôn trùng càng khiến cho không gian thêm khảng khoát và thanh vắng. Khuya hôm đó, Thầy cùng thị giả ra thăm thiền đường Trăng Rằm, nơi có chân dung của thiền sư Tánh Thiên Nhất Định, bậc cao tăng khai sơn Tổ đình.

 

 

Hơn tám giờ sáng ngày hôm sau, thứ Hai, ngày 04 tháng 9 năm 2017, ánh mặt trời thắp trong vắt trên các ngọn cây và thả từng vạt mỏng trên nền vườn chùa Tổ, Thầy đã có gần hai giờ đồng hồ dạo chơi quanh khuôn viên Tổ đình Từ Hiếu nơi đã gắn bó sâu sắc với những năm đầu tiên Thầy xuất gia học đạo. 

Đây, ngôi tháp cổ phủ rêu phong theo năm tháng, nơi bóng hình của Tổ khai sơn Tánh Thiên Nhất Định vẫn còn đó bài học hiếu đạo và công trình dựng tăng đã lưu xuất nhiều thế hệ xuất sĩ, nhiều bậc cao tăng tài đức.

Đây, con đường đất sỏi đi ngang Tàng Tháp, nơi những bức tường sạm màu ấy, sư chú Phùng Xuân ngày xưa đã cùng với các huynh đệ khác gom lá thông nướng nấm nướng măng.

Đây, trên con đường từ Tổ đình qua ni xá Diệu Trạm, hồ Sao Hôm cuối Hạ vẫn còn cho những đóa sen hồng tươi thắm. Nơi thư quán, Thầy đã dừng lại ngắm nhìn từng tác phẩm của mình trên kệ sách, thăm coi phòng ở của các sư cô và nơi sinh hoạt có được thoải mái không.

Đây, khu Lăng Viện nơi sư chú Phùng Xuân nhiều buổi trưa đã từng ra nằm đọc sách trên nền lá mát rượi. Hôm nay, Thầy đến thăm và dừng lại đọc rất nhiều tấm bia bằng chữ Hán trong Lăng Viện.

Đây, cổng tam quan cổ kính, gần hồ bán nguyệt, nơi đã không biết bao nhiêu buổi chiều sư chú Phùng Xuân ngồi nhổ cỏ và nghe tiếng tụng kinh công phu của chú Tâm Mãn từ Đại Hùng Bảo Điện vọng xuống. Trong khung cảnh mầu nhiệm ấy, sư chú Phùng Xuân lắng tai nghe cho đến khi bóng tối phủ đầy mà vẫn chưa chịu bước xuống hồ rửa tay. Được nuôi mình trong không khí thanh bình ấy, sư chú Phùng Xuân không thể nào không trở thành thi sĩ.

Đây, hồ bán nguyệt, nơi sư chú Phùng Xuân đã từng mang những trái mít non tươi xuống gọt vỏ để cho dì Tư hay chính sư chú sẽ nấu một nồi canh mít thơm ngon với lá lốt hoặc lá sân. Hôm nay, Thầy đã ngồi chơi rất lâu nơi những bậc cấp dẫn xuống hồ. Thầy thưởng thức trà, ngắm nhìn hồ nước, ngắm nhìn cổng tam quan, nghe quý thầy quý sư cô và những Phật tử cư sĩ hát thiền ca. Có lúc, Thầy dạy tất cả mọi người ngưng hát, cùng im lặng để có mặt nơi thực tại mầu nhiệm trong phút giây huyền thoại này, phút giây thầy trò hiện hữu nơi chốn Tổ linh thiêng.

Buổi chiều, Thầy cũng ra ngoài dạo chơi, thăm giếng nước xưa, thăm đồi thông cổ, thăm lại những cây bùi già đã cho rất nhiều trái ngon, ngon nhất xứ Huế. Từ nơi khoảng sân đất quen thuộc bên hông chánh điện, Thầy ra thăm tháp Bổn sư là Sư cố Thanh Quý Chân Thật. Thầy đã đi thiền quanh tháp một vòng, dừng lại đọc bài kệ bằng chữ Hán in nơi bức tường thành, thật chậm rãi và kính cẩn trước khi qua thăm tháp của Sư thúc Chí Mậu và về lại thất nghỉ ngơi. Nơi bốn trụ lớn trước tháp Sư thúc, lúc Thầy dừng lại thăm, có những con chim bồ câu bay đến đậu rất yên bình.

Mỗi nơi Thầy đi qua, chúng tôi cảm thấy Thầy đã tiếp xúc rất sâu sắc với năng lượng thương yêu, bình an và có mặt. Nghĩa tình, hiếu đạo, tha thứ và bao dung trọn vẹn nơi sự có mặt của Thầy. Mỗi nơi Thầy đi qua, Thầy để lại đó ánh mắt của sự tự do. Một người con xứng đáng về thăm chốn Tổ. Chỉ có vậy thôi.

Cũng ngay trong buổi chiều cùng ngày, sau khi dạo chơi một vòng quanh hồ bán nguyệt, Thầy quyết định rời Huế, lúc 15 giờ 40 phút. Hình ảnh Thầy ra hiệu thị giả dừng lại, Thầy hướng về cổng tam quan, xa xa là những nơi chốn ghi dấu bao nhiêu kỷ niệm êm đềm trong cuộc đời sư chú Phùng Xuân, Thầy chắp tay, cúi đầu xá chào trước khi lên xe, đã in đậm trong lòng mỗi chúng tôi. Lúc ngồi trên xe, chúng tôi nghe tin nhiều vị xuất sĩ chuẩn bị lên thăm Thầy. Chúng tôi mỉm cười. Thầy đã dời chân cõi ngoài khi ánh tà dương vẫn thắp sáng núi rừng…

Mây trắng thong dong

Hiện hữu không kêu gọi tình thương

Hiện hữu không cần ai phải thương ai

Nhưng em phải là em

Là đóa hoa, là bình minh hát ca không đắn đo suy tính…

(Bướm bay vườn cải hoa vàng – thơ Thầy)

 

Trong lễ tang ông Nội tôi, có một đêm, tôi đã mời tất cả những người thân tập trung trước di ảnh Nội để tổ chức lễ tưởng niệm. Đó là cơ hội hiếm hoi giúp tất cả mọi người buông bỏ hết những công việc, những lo lắng để thật sự trở về, thật sự có mặt cho nhau. Sau lúc ngồi yên theo những lời thiền hướng dẫn, tôi đã mời Thầy có mặt và đọc cho cả gia đình nghe Bướm bay vườn cải hoa vàng, nhiều người đã khóc khi nghe bài thơ trong không khí im lặng được tuyệt đối tôn trọng đó, tôi nhận thấy đã có sự trị liệu và kết nối trong gia đình huyết thống của chúng tôi trải qua nhiều thế hệ. Chúng tôi có dịp chia sẻ cho nhau nghe những kỷ niệm vui về Nội. 

Tôi rất biết ơn Thầy đã cho tôi con đường. Con đường ấy đã giúp tôi trở về nhà, ngôi nhà tâm linh mà tận sâu thẳm tâm thức tôi luôn luôn khát khao được gặp dù có trải qua vạn nẻo luân hồi. Con đường ấy đã giúp tôi có truyền thông với gia đình huyết thống và nuôi dưỡng nhau trong sự thiện lành. Về với Thầy, tôi biết rằng tôi cũng đã về lại được với ngôi nhà thân thiết đó, ngôi nhà đích thực ngàn xưa. Những bước chân, những hơi thở của Thầy giúp cho tôi tiếp xúc và trân quý được hiện hữu.  Hôm nay đây, tôi muốn thưa với Thầy rằng: Con đã tìm thấy đường về nhà. Con đã về nhà.

Hội ngộ Long Vương

HỘI NGỘ LONG VƯƠNG
Thầy Nhất Hạnh

Đó là ngày 11.05.2001, tôi đang ở tịnh thất Tùng Bút tại tu viện Lộc Uyển, miền Nam tiểu bang California Mỹ Quốc. Buổi sáng, các thầy, các sư chú trên xóm Vững Chãi và các sư cô dưới xóm Trong Sáng đều được mời đến tịnh thất Tùng Bút để ngồi thiền với tôi, thay vì ngồi ở các thiền đường trong xóm. Các vị đến vào lúc năm giờ. Trước đó tôi đã đi đốt lò củi và đun nước sôi pha trà. Thầy Giác Thanh đã có cất chứa những khối củi ép có nhựa thông, thành ra đốt lò sưởi rất dễ và rất mau. Thất Tùng Bút nằm giữa hai xóm. Buổi ngồi thiền này chỉ là một trong những buổi thầy trò ngồi chung để có thêm năng lượng, để cảm thấy sự có mặt của nhau, bên nhau. Sau buổi thiền ngồi, chúng tôi còn ngồi với nhau thêm nửa giờ nữa để cùng góp ý kiến làm sao cho trong tăng thân có thêm hoà điệu và hạnh phúc.

Sáng hôm ấy vị thị giả của tôi là sư cô Kristin (Thường Nghiêm), hồi đó còn là một vị sadi ni. Sư cô là người Hoa Kỳ. (Sư cô mới được thọ giới lớn tại Đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới tổ chức từ ngày 16 đến ngày 22 tháng chạp năm 2001). Sư cô cho biết ngày hôm nay sẽ là một ngày mà tôi phải tiếp nhiều khách. Những vị khách đầu tiên là một đội quay phim từ NewYork tới. Mình đã hứa với họ năm ngoái là sẽ để cho họ đến phỏng vấn khi mình đến Hoa Kỳ. Chủ ý của họ là làm một cuốn phim lấy tên là The Living Buddha, nói về lịch sử đức Bụt và lịch sử đạo Bụt. Và họ muốn Thầy đại diện nói lên được tiếng nói của đạo Bụt dấn thân, đạo Bụt hiện đại hoá. Tôi vừa đi thiền hành từ đồi Yên Tử về thì đã thấy họ đến tự bao giờ, đang sắp đặt máy móc, ánh sáng và các trần thiết căn bản. Tôi bảo thị giả mời họ đi thiền hành một vòng trước khi ngồi xuống bắt đầu cuộc phỏng vấn. Ban đầu vị thị giả và tôi nhận thấy rằng họ đã miễn cưỡng mà nhận lời đi thiền hành. Họ sợ mất thì giờ; đường xá xa xôi, họ lại từ vùng Đông Bắc tới. Nhưng sau khi được hướng dẫn và đi thiền hành được một vòng thì họ có được sự bình an. Họ được lây cái bình an của chúng tôi. Họ có được cái bình an trong hơi thở và bước chân họ. Tôi nghĩ cái sẽ làm cho họ nhớ nhất trong chuyến đi này của họ là buổi đi thiền hành chứ không phải là buổi phỏng vấn. Buổi phỏng vấn kéo dài tới hai giờ đồng hồ, đưa lại cho họ nhiều thoả mãn, nhiều hơn là họ từng mong ước.

Tôi được nghỉ ngơi chừng nửa giờ trước khi đi thọ trai. Hôm ấy hai xóm ăn cơm chung trên trai đường của xóm Vững Chãi. Vào khoảng ba giờ chiều, tôi lại phải tiếp đài NBC địa phương. Sau đó, tôi lấy nón lá và bảo thị giả cùng đi thiền hành với tôi lên đồi Yên Tử. Đồi Yên Tử là ngọn đồi đã được tăng thân chọn để xây một tháp chuông, theo mẫu của tháp chuông chùa Thiên Trù trên núi Hương Tích. Thầy Pháp Dung đã vẽ đồ án của ngôi tháp, nhưng đến bây giờ vẫn chưa xin được giấy phép làm tháp chuông. Chúng tôi dự tính trồng cỏ và làm vườn sỏi trên đồi, chung quanh tháp chuông, để sau này mỗi khi đi thiền hành lên trên ấy thì có thể ngồi xuống tĩnh toạ nửa giờ trước khi đi về. Các thầy và các sư cô ở Lộc Uyển đã trồng hàng trăm cây tiêu California (Californian pepper trees) để có bóng mát từ dưới đỉnh đồi đi lên. Các cây tiêu này đang lớn rất nhanh, và cành lá rất xanh tươi dù trong những tháng hè khô và nóng bức.

Lên tới Yên Tử, tôi đi đến chiếc võng giăng giữa hai cây tùng sát vào vách núi đá, ngồi lên võng, bỏ guốc ra và đưa hai chân trọn lên võng. Sư cô Thường Nghiêm ngồi dưới một gốc tùng phía đầu võng. Bỗng sư cô nói, giọng rất trầm tĩnh: “Thưa thầy, có một con rắn nằm ngay dưới võng thầy”. Tôi quay đầu lại phía trái nhìn xuống, và thấy liền con rắn. Con rắn này dài khoảng 1m20, có màu vàng nhạt và đen nhạt. Hai màu này tiệp với màu lá cây và màu đất thành thử tôi đã không trông thấy khi ngồi xuống võng. Sư cô Thường Nghiêm nhặt một cành cây khô đẩy về phía đuôi con rắn, tạo ra tiếng xào xạc để con rắn bò đi. Nhưng con rắn không đi. Sư cô lấy cành cây khô chạm vào đuôi rắn và ẩy nó đi, nó cũng không đi. Rồi sư cô nói bằng tiếng Anh: “Bạch thầy, con rắn này rất thích nằm bên Thầy nên nó không chịu đi” (Thầy, the snack likes your presence, it does not want to go.) Tôi nói: “Vậy thì con cứ để yên cho nó”. Lúc ấy là vào khoảng bốn giờ chiều, trời còn nắng. Chiếc nón lá rộng vành của tôi được đặt gần đôi guốc của tôi chỉ cách con rắn có mươi phân tây. Võng của tôi cũng cách mặt đất, phía trên con rắn chừng hai mươi phân tây. Tôi nằm rất yên, sư cô Thường Nghiêm cũng ngồi rất yên. Gió chiều bắt đầu mát. Bỗng sư cô Thường Nghiêm nói: “Hồi lễ Giáng Sinh năm ngoái, con có làm được một bài hát. Thầy có muốn con hát bài hát đó cho thầy nghe không?. Tôi nói: “Con hát đi, và hát cho con rắn nghe nữa”.

Sư cô Thường Nghiêm hát: Rives flow through me, sunshine is my morning tea. Body – harmony, feelings – clouds in the sky, perceptions – stones on the road, mental formations – birds are singing, singing songs of freedom, freedom, consciousness – deep blue sea wash over me…

Sư cô Thường Nghiêm hát xong bài hát, tôi hỏi: “Con rắn còn nằm dưới lưng thầy không con?” Sư cô trả lời: “Nó còn nằm nguyên trong vị trí cũ, thưa thầy. Nhưng con thấy cái đuôi nó có vẫy lên vẫy xuống, giống như nó đang thích bài hát và đánh nhịp theo bài hát vậy”. Tôi nói: “Vậy thì con hát lại một lần nữa cho nó nghe đi”. Tôi nằm thật yên. Sư cô Thường Nghiêm cũng ngồi thật yên, về phía đầu võng. Con rắn cũng nằm yên. Trời rất dễ chịu. Buổi sáng chúng tôi đã thức dậy cùng đại chúng lúc bốn giờ rưỡi sáng, đã ngồi thiền, pháp đàm, đi ăn sáng, đi thiền hành, trả lời cuộc phỏng vấn dài hơn hai tiếng đồng hồ, đi ăn cơm chánh niệm với đại chúng trên xóm Vững Chãi, và chưa được nghỉ ngơi gì thì đã phải trả lời cuộc phỏng vấn của đài NBC. Đây thật sự là giờ nghỉ ngơi của chúng tôi. Và có một chú rắn khá lớn cũng đang nghỉ ngơi với chúng tôi. Chú rắn này không phải là rắn rung chuông nhưng theo sư cô Thường Nghiêm cũng không phải là rắn hiền. Cô cho biết ngày xưa cô thường sợ rắn, nhưng bây giờ thì cô không còn sợ nữa, và có thể xem rắn như tất cả các loài động vật khác, cũng biết đói và biết sợ như những loài vật khác. Chỉ cần có ý tứ để khi đi đừng đạp lên nó thì không sao.

Khoảng nửa giờ sau, sư cô Thường Nghiêm cho biết là con rắn bắt đầu di động. Nó bò đi rất chậm, mỗi phút nó chỉ di chuyển được một phân tây. Tôi tiếp tục nằm thở và tiếp xúc với cây, với đá, với nắng trên đồi Yên Tử. Tôi tự nhủ: để cho chú rắn leo vào trong núi đá rồi thì thòng chân xuống quơ guốc đi về. Nhưng chỉ độ chừng mười lăm phút sau đã có tiếng chuông báo chúng từ xóm Vững Chãi vọng lên. Các thầy các sư chú dưới ấy đã đến giờ dùng cơm chiều. Tôi nhìn xuống thì thấy chú rắn đã bắt đầu băng ra phía núi. Thân sau của chú còn nằm dưới võng nhưng thân trước của chú đã hướng về tảng đá. Tôi nói: “Mình phải về ăn cơm. Tối nay còn phải gặp tăng thân San Diego nữa”. Hai thầy trò tạm biệt chú rắn, tạm biệt đồi Yên Tử với cái yên lặng nhẹ nhàng và sinh động của đá, của mây, của trời nơi này. Nắng đã hết. Tôi cầm chiếc nón lá trong tay. Hai thầy trò đi xuống núi.

Sau buổi tiểu thực cùng đại chúng hai xóm tại nhà ăn của xóm Vững Chãi, về tới nhà Tùng Bút, chúng tôi đã thấy tăng thân San Diego có mặt đông đủ trong phòng khách. Có khoảng ba mươi vị, hai phần ba là người Hoa Kỳ. Tất cả những vị chủ chốt trong ban nhiếp chúng đều có mặt. Tăng thân này đã được thành lập trong quá trình tổ chức buổi thuyết giảng tại San Diego ngày mai, tức là ngày 12.5.2001. Đề tài buổi giảng là Cultivatin Peace in Ourselves and our Communities. Tôi được báo tin là ngày mai thính giả sẽ đông lắm. Ban điều hành tăng thân làm việc rất siêng năng, luôn luôn tổ chức những buổi họp để kiểm điểm và để lấy thêm sáng kiến mới. Trong quá trình làm việc, các bạn đã mời được nhiều bạn mới, và tất cả đều đồng ý là việc tổ chức buổi giảng có thể được sử dụng như một cơ hội để đến với nhau, làm thân với nhau và tu tập cùng nhau.

Tối nay nói chuyện với tăng thân San Diego, tôi có dịp kể lại chuyện chúng tôi gặp chú rắn trên đồi Yên Tử. Thầy Pháp Dung mấy hôm trước đây có kể cho chúng tôi nghe là một hôm lật một tảng đá lớn ở lưng đồi xóm Vững Chãi, mấy người thợ gốc Mễ Tây Cơ thấy một con rắn khá lớn nằm úp dưới tảng đá. Họ định giết con rắn, nhưng thầy Pháp Dung ngăn lại. Cuối cùng họ giúp con rắn trở về núi rừng. Tôi nói có lẽ con rắn mà tôi đã gặp chiều hôm nay dưới võng chính là con rắn mà thầy Pháp Dung đã cứu. Nó đã tìm tới tôi để tỏ lòng biết ơn tăng thân Lộc Uyển. Từ ngày về tới núi rừng Escondido, chúng tôi đã hết lòng bảo vệ cho các loài sinh vật cư trú tại đây. Trước đó, khi Vườn Nai còn để hoang, người ta thường hay lên đây để săn bắn, giết chóc. Tuy vùng núi này gọi là Deer Park mà chẳng thấy còn bóng dáng của một chú nai nào. Cảnh sát trong quận thường hay lên đây tập bắn. Họ bắn nát hết, kể cả những tấm bảng bằng sắt chỉ đường, kể cả tường vách của những căn nhà trống không còn bỏ lại. Trong những tháng đầu khi tu viện mới thành lập, đêm đêm chó rừng (coyotes) thường hay kéo về từng lũ hàng trăm con, bao quanh cư xá các vị xuất gia và tru lên. Đã lâu quá rồi loài người chỉ lên đây để phá phách và tàn sát. Bây giờ lại có người lên đây để ở. Các loài sinh vật trên núi chưa biết cái gì sẽ xảy ra cho họ và cho sinh môi của họ với sự có mặt của những con người mới này.

Nhưng từ từ, chúng sinh vật ở Lộc Uyển nhận thấy các thầy và các sư cô rất hiền. Họ không đón phá cây cối mà còn trồng thêm rất nhiều cây cối. Họ không tàn sát mà còn tìm cách bảo hộ sinh mạng. Họ rất im lặng. Họ tôn trọng khung cảnh thanh tịnh của núi rừng. Cũng có thể chú rắn mà chúng tôi gặp trên đồi Yên Tử là một Long Vương, đại diện cho tất cả các loài rắn có mặt trong hàng ngàn mẫu núi rừng trùng điệp ở Escondido, đã đến với tôi để mang tới thông điệp sống chung hoà bình. Chú biết tôi ngày nào cũng đi bộ trên đồi Yên Tử, và mỗi khi lên tới đỉnh đồi thì tôi lại tới ngồi trên chiếc võng mắc sẵn để nghỉ ngơi, cho nên chú đã tới nằm đó sẵn để chờ đợi. Chú đã được sư cô Thường Nghiêm hát cho nghe. Chú đã không chịu đi khi sư cô đuổi. Chú đã được tôi mời ở lại. Và cuộc hội ngộ tuy im lặng nhưng đã rất thân tình. Theo sư cô Thường Nghiêm thì chú rắn này không phải là một chú rắn thuộc về loại hiền. Nhưng hiền hay không hiền, điều đó tuỳ thuộc vào cách xử sự. Nếu mình có chánh niệm và có lòng từ bi thì mình sẽ được tiếp đãi một cách hiền hậu. Chúng tôi có chánh niệm, chúng tôi có lòng từ bi. Sau thời gian gần hai năm cư trú, tăng thân ở đây, xuất gia cũng như tại gia, đã chứng tỏ là chúng tôi muốn sống chung an lạc hoà bình với đất đai và dân chúng vùng Lộc Uyển. Các loài chúng sinh ở đây đã cảm nhận được điều đó. Cách đây một tuần lễ, thầy Pháp Dung cho biết chú nai đầu tiên đã xuất hiện trong vùng đất tu viện Lộc Uyển. Chúng tôi rất mừng. Mai mốt nai về đông đảo, sẽ cùng nghe pháp với người.

Tôi viết những dòng này ở xóm Thượng, Làng Mai. Xóm Thượng Làng Mai ở Thenec, ngày xưa, trong thế chiến thứ hai đã là nơi tranh chấp bạo động và đẫm máu. Lính Đức đã cột tay người kháng chiến Pháp và những người bị tình nghi trong vùng là yểm trợ cho kháng chiến và bắn họ bên bức tường đá tọa lạc bên cạnh Ngũ Quán Đường bây giờ. Hồi chúng tôi mới về đây, 1983, oan khí còn đằng đằng. Hai mươi năm đã đi qua từ độ ấy. Ngày nào tăng thân ở đây cũng tập ngồi, tập thở, tập đi thiền hành, lấy năng lượng chánh niệm và từ bi để chuyển hoá tâm thức và môi trường. Thiền sinh đã đến đây tu tập từ ba mươi quốc gia khác nhau. Số người Đức tới tu học rất đông, có khi còn đông hơn người Ý, người Anh và người Thuỵ Sĩ. Họ đã đến đây không với súng đạn và tâm niệm hận thù mà với ý chí tu tập. Họ đã đi những bước chân vững chãi, thảnh thơi, đã thực tập nhìn kỹ và phát khởi lòng từ bi. Dân chúng các thôn làng quanh đây đã cảm thấy sự chuyển đổi lớn lao đó. Họ cảm thấy năng lượng hoà bình bao trùm cả một vùng này. Mỗi năm có hàng bốn, năm ngàn người tới đây tu học. Và ai cũng tới bằng một tâm niệm lành. Cỏ xanh hơn, trời trong hơn, người và vật có thêm rất nhiều từ ái. Đất ở đây đã trở thành đất Bụt. Chúng tôi định đặt tên vùng này là Nam Phương Phật Quốc, dịch tiếng Pháp là Terre Pure du Sud. Các bạn muốn về đất Bụt để rong chơi, ngắm nhìn trăng sao hay mời các vị Bồ Tát đi thiền hành thì cứ về. Lộc Uyển cũng vậy. Lộc Uyển cũng đã trở thành đất Bụt miền tây nam nước Mỹ. Mời quý vị đến Lộc Uyển để làm quen với tăng thân ở đây. Tăng thân ở đây không phải chỉ là người xuất gia và người tại gia. Tăng thân ở đây còn là tất cả các loài cây cỏ, đất đá và chúng sinh. Quý vị sẽ được đón tiếp với lòng ưu ái và kính cẩn. Long Vương vẫn còn ở trên núi. Chúng tôi đã ký một hiệp ước chung sống hoà bình và an lạc trên đồi Yên Tử ngày 11.5.2001.

Cúi xuống

Cúi xuống!
để thấy lòng đất rộng,
nở hoa thơm, cỏ lạ hiến dâng đời.

Cúi xuống
để thấy mình nhỏ bé,
tợ giọt sương rung nhẹ ngọn đầu cành.

Cúi xuống
để tâm ta tĩnh lặng,
thả nhịp trầm an định bến tâm trong.

Cúi xuống
cho ta thêm cẩn trọng,
nhẹ gót chân quán chú kiến bên lề.

Cúi xuống
ta hoá thành giọt nước,
tan vào lòng đất mẹ, ngọt thanh lương.

Cúi xuống
ta thấu rõ ta – người,
ta trong người, người trong ta không khác,
học mỉm cười – nhẫn nhịn,
người lại hoá ra ta.

Ừ nhỉ!
chỉ cần ta cúi xuống,
thì đất tâm hiển hiện hé hoa lòng.

Chân Hiệp Nghiêm

Khoá tu mùa hè 2018

 

Diễn ra gần trọn vẹn trong một tháng, khóa tu mùa hè tại Làng Mai Pháp đặc biệt hơn vì còn dành cho các gia đình có trẻ em (từ 6 – 12 tuổi) thanh thiếu niên (từ 13 – 17 tuổi). Ba mẹ và các em có cơ hội cùng sống trong một cộng động, một gia đình tâm linh lớn, được hưởng năng lượng tập thể cũng như học hỏi và thực tập những phương pháp tái thiết lập truyền thông, hiểu biết và thương yêu …

Quý thầy, quý sư cô dành thời gian chơi với các em trong các chương trình riêng. Cùng vui chơi và chia sẻ, các em được tiếp nhận hạt giống chánh niệm và tình thương. Trong khoá tu mùa hè, mỗi tuần đều có một hoạt động kỷ niệm đặc biệt của tuần như Tết Trung Thu, Lễ Bông Hồng Cài Áo…

Thời gian: từ ngày 06.7 đến ngày 3.8.2018

Địa điểm: tại Làng Mai, nước Pháp

Ngôn ngữ chính: Anh /Pháp/Việt

(Các bài pháp thoại sẽ được phiên dịch trực tiếp sang 6 ngôn ngữ: Đức, Hà Lan, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, tiếng Hoa và tiếng Việt)

Nếu quý vị muốn đến Làng tham dự khóa tu mùa hè năm nay, xin vui lòng đọc kỹ các hướng dẫn dưới đây và điền vào đơn đăng ký. Quý vị có thể đăng ký tham dự từ 1 tuần đến 4 tuần:

Tuần 1: Thứ sáu, ngày 6 tháng 7  –  Thứ sáu, ngày 13 tháng 7
Tuần 2: Thứ sáu, ngày 13 tháng 7 – Thứ sáu, ngày 20 tháng 7
Tuần 3: Thứ sáu, ngày 20 tháng 7 – Thứ sáu, ngày 27 tháng 7
Tuần 4: Thứ sáu, ngày 27 tháng 7 – Thứ sáu, ngày 03 tháng 8

 

Ngôn ngữThời gian Địa điểm
Pháp, Tây Ban Nha, Ý06.07 – 03.08xóm Thượng
Anh06.07 – 03.08xóm Mới
Đức, Hà Lan20.07 – 03.08xóm Hạ

 

Như thường lệ, mỗi tuần Làng Mai sẽ có khoảng hơn 500 thiền sinh thực tập tại 5 xóm. Vì vậy xin quý vị đăng ký trước ngày 01.06 để giữ chỗ. Ngày đón và đưa thiền sinh là ngày thứ sáu mỗi tuần.

Thời gian mở ghi danh: Thứ bảy, ngày 14.4.2018

Xin đọc thêm thông tin tổng quát khi đến tham dự khóa tu tại Làng Mai ở đây: https://langmai.org/cong-tam-quan/toi-tham-lang-mai/thong-tin-chung-ve-khoa-tu-tai-lang-mai

 

Xin quý vị vui lòng đọc thật kỹ thông tin dưới đây về các xóm để xác định xóm nào là thích hợp cho mình và chỉ nộp đơn đăng ký tại một xóm mà thôi.

 

Xóm Hạ: dành cho
  • Nữ độc thân (ngôn ngữ Anh, Pháp, Hoà Lan, Đức và Tây Ban Nha)
  • Các cặp vợ chồng (ngôn ngữ Anh, Pháp, Hòa Lan, Đức và Tây Ban Nha)
  • Các bậc phụ huynh đến cùng con nhỏ từ 6 đến 12 tuổi (nói tiếng Đức và Hoà Lan, nhưng nhận trẻ em từ ngày 20 tháng 7 tới 03 tháng 8)

Đăng ký trên mạng bằng tiếng Anh tại Xóm Hạ, xin bấm vào đây:

 

Xóm Trung: dành cho

 

* Lưu ý: xin điền vào ngày đến (arrival day) và ngày đi (departure day), và bấm tiếp vào dòng chữ “Search for Availability”

Xóm Thượng: dành cho
  • Nam độc thân (từ 18 tuổi trở lên; không giới hạn ngôn ngữ)
  • Các cặp vợ chồng (không giới hạn ngôn ngữ)
  • Các bậc phụ huynh đến cùng con nhỏ từ 12 tuổi trở xuống, nói tiếng Pháp, Ý, hoặc Tây Ban Nha.
  • Các em nam thiếu niên từ 13 đến 17 tuổi đủ mọi quốc tịch, ngôn ngữ (cần có cha mẹ hoặc người giám hộ đi cùng).
  • Lưu ý: Các em nữ từ 13 – 17 tuổi xin không đăng ký tại xóm Thượng.
  • Đăng ký trên mạng bằng tiếng Anh cho Xóm Thượng, xin bấm vào đây:

 

Xóm Mới: dành cho

 

  • Nữ độc thân từ 18 tuổi trở lên (dành cho các ngôn ngữ đã nêu, trừ tiếng Tây Ban Nha). Nếu bạn chỉ nói tiếng Ý, vui lòng đặt trước vào tuần 3 hoặc tuần lễ thứ 4 (ngày 20 tháng 7 – ngày 3 tháng 8).
  • Các cặp vợ chồng (dành cho các ngôn ngữ đã nêu, trừ tiếng Tây Ban Nha và tiếng Ý)
  • Các em nữ từ 13 – 17 tuổi (phải có cha mẹ hoặc người bảo hộ đi cùng; và người bảo hộ phải từ 21 tuổi trở lên)
  • Các bậc phụ huynh đến cùng con nhỏ từ 6 – 12 tuổi nói tiếng Anh 

Làng Mai không có chương trình cho trẻ em dưới 6 tuổi. Xin các bậc phụ huynh tự chăm sóc các bé trong suốt khoá tu.

  • Đăng ký trên mạng bằng tiếng Anh cho Xóm Mới, xin bấm vào đây:

 

Khóa tu 21 ngày năm 2018

 

Đã trở thành truyền thống, mỗi hai năm một lần tại Làng Mai Pháp thường diễn ra khóa tu 21 ngày vào tháng 6. Khóa tu được đại chúng Làng Mai trông chờ và chào đón với rất nhiều niềm vui, vì tăng thân tứ chúng được ở chung với nhau trong 21 ngày, có cơ hội đi sâu vào sự học hỏi và thực tập, rất khác với những khóa tu 7 ngày.

Khóa tu 21 ngày là một biểu hiện của tình thương mà Thầy dành cho các đệ tử của mình. Thầy biết rằng nhiều người rất khó tham dự được cả ba tháng của khóa An cư kiết đông, vậy nên Thầy đã tạo ra khóa tu 21 ngày để cho những ai tham dự khóa tu này cũng được lợi lạc khi thực tập miên mật cùng tăng thân trong một khoảng thời gian dài không gián đoạn. Chúng ta còn nhớ Thầy đã kể lại câu chuyện trong kinh Quán niệm hơi thở (Anapanasati sutta), khi Bụt quyết định kéo dài mùa an cư năm ấy thêm một tháng, bởi Bụt thấy được những thành quả tu học của quý thầy khi được tu tập miên mật chung với nhau.

Đối tượng của khóa tu:

Khóa tu được dành cho những thành viên Tiếp Hiện và những người đã có kinh nghiệm tu tập, nhưng đồng thời cũng được mở rộng cho tất cả những ai mong muốn tìm cho mình một con đường thực tập, một gia đình tâm linh. Đây là cơ hội cho những hành giả muốn đi sâu thêm trong sự thực tập cùng tăng thân.

Thời gian của khóa tu:

Năm nay khóa tu 21 ngày diễn ra trong 3 tuần, từ ngày mùng 1 tới 22 tháng 6. Khác với khóa tu 21 ngày hai năm về trước, khóa tu năm nay không chia làm 2 chặng, mà kéo dài xuyên suốt 21 ngày. Vì vậy những ai muốn đăng ký cho khóa tu 21 ngày năm nay cần tham dự trọn vẹn 21 ngày của khóa tu.

Chủ đề của khóa tu:

Chủ đề của khóa tu năm nay là “Tri kỷ của Bụt”. Đây từng là chủ đề của khoá An cư kiết đông năm 2012-2013 trong đó Thầy đã giảng dạy và soi sáng cho chúng ta rất nhiều những giáo lý cơ bản của Bụt về nghiệp báo, luân hồi, nhân quả, Mười hai nhân duyên, Ba cánh cửa giải thoát, Niết Bàn và rất nhiều giáo lý thâm sâu khác của đạo Bụt. Trong khóa tu 21 ngày lần này chúng ta sẽ được ôn lại những lời dạy đó của Thầy, đồng thời khám phá xem liệu sự hiểu biết và ứng dụng những giáo lý đạo Bụt của chúng ta có đúng hay không, có thể giúp chúng ta chạm được sự thật tuyệt đối và tìm được tự do đích thực hay không.

Ngôn ngữ:

Những bài pháp thoại trong khóa tu  sẽ bằng tiếng Anh và được phiên dịch qua các ngôn ngữ khác: Pháp, Việt,…

 

  • Trong khoá tu sẽ có lễ truyền đăng cho các vị giáo thọ cư sĩ và lễ truyền 14 giới Tiếp Hiện cho những vị đã qua quá trình tập sự từ nhiều nước trên thế giới.

 

Đăng ký cho khóa tu:

Xóm Hạ: dành cho phụ nữ độc thân và các cặp vợ chồng

Xóm Mới: dành cho phụ nữ độc thân và các cặp vợ chồng

Xóm Thượng: dành cho nam độc thân và các cặp vợ chồng

Lễ truyền đăng trong khoá tu xuất sĩ 2018 “Còn nhau ta còn tương lai”

Bộ phim “Bước chân an lạc” (Walk With Me) – 2017

Bộ phim Bước chân an lạc (Walk with me) đang tiếp tục được công chiếu tại thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hà Nội. Trang nhà Làng Mai xin được giới thiệu một vài hình ảnh về các buổi ra mắt của bộ phim với sự có mặt của tăng thân Làng Mai.

 

Khuôn mặt

Trên nguyên hai trang 66 – 67 của tạp chí, ta thấy hình Thiền Sư Nhất Hạnh đang dẫn đoàn người đi thiền hành với những dòng như sau:

Định cư từ ba mươi năm trên nước Pháp, một người Việt tên Thích Nhất Hạnh đã biến cái ngôi làng Loubès Bernac này thành ra một trong những trung tâm Phật Giáo lớn nhất hoàn cầu. Những lời dạy về hòa bình của người đã âm vang tận nước Mỹ sau ngày 11 tháng 9.

Vị Thiền sư vùng Bordeaux

Rạng ngày 22 tháng 11 năm 2001, trời vẫn còn chưa sáng. Ban đầu ta chỉ thấy những luồng ánh sáng rọi từ các xe hơi đến từ khắp hướng, và đều đặn từng loạt người cả nam lẫn nữ đổ ra khỏi xe giữa cảnh đồng quê làng Loubès. Từng nhóm, từng nhóm, họ im lặng đi, hướng về một ngôi nhà trệt bằng đá, xinh xắn và thanh bạch. Một số người mặc áo dài nâu, đầu không tóc; một số khác thì y phục bình thường của khách đến từ xa, y phục của thời đại: giày baskets, quần Jean và áo mùa đông Anorak dày. Trong những ngày đầu này của mùa đông, thính chúng gồm khoảng 250 thiền sinh khách. Họ ngồi thành vòng cung, hướng về một bục gỗ cao, vuông vức, trên đó có một chiếc bình cắm những đóa hoa thanh tú. Bình hoa làm dịu xuống khung cảnh trang nghiêm của thiền đường. Mỗi người ngồi xuống trên gối ngồi thiền của mình và đeo vào tai ống nghe để nghe thứ tiếng mà mình muốn nghe. Đối với “những người đi hành hương’’ đến từ bốn góc của Âu Châu và Mỹ Châu, làng Loubès – Bernac, nằm vùng biên giới ba tỉnh Dordogne, Lot & Garonne và Gironde đã trở thành vùng cao điểm của đạo Bụt. Những vị đi hành hương này, cả nam lẫn nữ, đã từ nhiều phương xa đến tận đây để nghe lời dạy của thiền sư Thích Nhất Hạnh.

Cánh cửa bên hông thiền đường mở ra, Thiền sư bước vào, theo sau là một thị giả giúp thầy cởi bỏ áo khoác ngoài. Một ông thầy tu nhỏ bé, đầu không tóc, bước vào thiền đường bằng những bước chân nhẹ nhàng của một chú mèo. Ông mặc một chiếc áo màu nâu khiêm tốn, đi về hướng chiếc bục gỗ và ngồi xuống trong tư thế kiết già. Người bắt đầu giảng dạy bằng giong nói thật nhẹ khiến mọi người phải cố gắng lắng nghe. Thỉnh thoảng Người nâng chén trà lên bằng hai tay và uống từng ngụm nhỏ: “Lúc này đây – thiền sư chợt nói – bản năng của chúng ta đang đẩy chúng ta đi về hướng muốn tiêu diệt quân khủng bố. Nhưng chúng ta làm sao tiêu diệt được khủng bố bằng phi cơ? Bóng tối không thể bị phá tan bằng bóng tối, nó chỉ làm cho bóng tối dày đặc hơn. Chỉ có sự hiểu biết và lòng từ bi mới có thể phá tan bạo động và hận thù. Sự khủng bố nằm trong trái tim của con người. Chúng ta phải loài trừ chất liệu khủng bố ra khỏi những trái tim thù hận kia. Nếu không, chúng ta sẽ càng ngày càng tạo thêm nhiều quân khủng bố nữa.

Định cư ở Pháp từ ba mươi năm nay, vị thiền sư Việt Nam mà mọi người đang lắng nghe lời dạy dỗ với một niềm chiêm ngưỡng là một trong những ngọn đèn pha tâm linh của thiền ở Tây Phương. “Đây đúng là một vị đạo sư thực thụ, với những pháp môn tu tập tâm linh rất thâm sâu”. Ông Mathieu Ricard, đồng tác giả với thân phụ của ông là một nhân vật của Hàn Lâm Viện Pháp Jean Francois Revel trong cuốn sách: “ Thầy tu và triết gia” (Nhà xuất bản Pocket) đã xác định như thế. Ở bên Mỹ, Thiền sư Thích Nhất Hạnh được xem là một minh tinh (star) thực sự. Bên ấy, thầy có hơn một trăm nghìn đệ tử. “Đây là người phật tử quan trọng nhất ở Phương tây, cùng với đức Đạt Lai Lạt Ma’’, giáo sư về tôn giáo học Cương T.Nguyễn của trường đại học George Mason ở tiểu bang Virginia đã nói thế. Ông này có biết đến Thầy trong những thập niên 1960 khi Thầy còn ở Sài Gòn.

Ngày 10 tháng 9, chưa đầy 24 giờ trước khi cuộc khủng bố xảy ra ở trung tâm thương mại thế giới  tại Nữu Ước, cuốn sách mới nhất của thiền sư Thích Nhất Hạnh vừa xuất bản, với cái tựa như tiên đoán trước thời cuộc: “Lửa Giận” (Anger). Nhà xuất bản như đã thấy trước rằng cuốn sách này sẽ bán rất chạy. Đây là một tổng hợp giữa tâm lý học và tâm linh học. Cuốn Living Buddha, Living Christ (Bụt ngàn đời, Ky Tô ngàn đời) ra đời năm 1995 của thiền sư đã bán được hơn 200.000 bản và quyển An Lạc Từng Bước Chân (ra đời từ năm 1991) đã có hơn một triệu độc giả. Nhưng nhà xuất bản tiếng Anh không ngờ quyển Anger (Lửa Giận) cũng bán chạy không thua gì sách của Stephen King. Ngay sau ngày có cuộc khủng bố, quyển sách này đã trở thành một hiện tượng thời đại. Đợt in đầu 37.000 cuốn đã hết sạch trong vòng 8 ngày. Và sách này cứ tiếp tục được bán với tốc độ 50.000 cuốn mỗi tuần. “Chúng tôi không ngờ sự việc xảy ra nhanh chóng như thế! – bà Amy Hertz, người của nhà xuất bản đã in sách của thiền sư Thích Nhất Hạnh, bày tỏ sự ngạc nhiên. Thường thì ta phải chờ khoảng hai hay ba tuần lễ thì mới biết được quyển sách có được quần chúng ham chuộng hay không”. Đằng này, cuốn sách Anger (sẽ xuất bản bằng tiếng Pháp vào tháng 2 năm 2002, nhà xuất bản Hachette Lattès), vừa mới xuất hiện tuần đầu mà đã nằm trong danh sách những cuốn sách bán chạy nhất in trên Nữu Ước Thời Báo (New York Times), chỉ tiêu của sự thành công trên nước Mỹ.

Sào huyệt của khủng bố nằm trong trái tim con người.

Ngày 13.9.2001, do những lời truyền miệng, hơn 3.000 người đã chen lấn nhau để vào nghe thiền sư nói chuyện ở rạp hát thành phố Berkeley. Sau thời thuyết pháp, quần chúng đã đứng dậy và nói vọng lên: “We love you! We love you!”. Ngày 25 tháng chín, lại cũng gần 3.000 người tại nhà thờ Riverside Church, Nữu Ước vào nghe thầy giảng và 1.500 người phải đứng chờ ngoài cửa, không được vào vì hết chỗ. Rõ ràng là trong khi số đông quần chúng Hoa Kỳ ngồi dán mắt vào màn ảnh truyền hình để nghe lời hăm dọa trả thù quân khủng bố của Tổng Thống họ thì thông điệp của vị Thiền sư Việt Nam khiến một số không ít người nghe bỗng sững sờ chợt hiểu.

Thầy nói với thính chúng Hoa Kỳ: “Trong chiến tranh Việt Nam, hàng ngàn người bị chết trong đó có bạn bè tôi và các đệ tử tôi. Tôi phẫn nộ, nhưng tôi đã biết chế trị cơn giận. Tôi đã quán chiếu và thấy rằng hành động hay nói năng trong khi căm giận chỉ có thể tạo thêm tan vỡ. Tôi đã hiểu rằng không phải chỉ những người Việt Nam mới đau khổ mà cả những người lính Hoa Kỳ được gửi sang Việt Nam để giết và để bị giết cũng rất khổ đau. Vì thế tôi đã không còn căm giận người Mỹ nữa. Ngày hôm nay tôi cảm thấy tôi cũng là người dân Nữu Ước. Chúng ta phải phục hồi cho được sự bình tĩnh và sáng suốt của chúng ta”.

Sau đó Thiền sư đã nói thêm: “Sào huyệt của khủng bố nằm trong trái tim con người. Càng giết, ta càng tạo thêm nhiều cảm tử quân khủng bố. Cơn bệnh khủng bố đã do những con vi khuẩn có tên là căm thù và cái thấy sai lệch gây ra. Chúng ta cần giết con vi khuẩn và trị bệnh chứ không nên giết người bệnh”. Nhà văn Daniel Odier, tác giả quyển tiểu thuyết Diva, với bút hiệu là Delacorta, được biết Thầy từ năm 1967, đã nói: “Thầy (thiền sư) đã nói rằng chúng ta phải tập nhìn thế giới như là một tấm gương phản chiếu sự bạo động nằm sâu trong tâm thức chúng ta”.

Trong thời gian xảy ra nhiều cuộc khủng bố, giáo sư Jack Weller của viện đại học California đã giảng dạy một khóa về đề tài: “Thiền sư Thích Nhất Hạnh và óc sáng tạo”. Giảng khóa này có quá nhiều sinh viên đăng ký cho đến nỗi Giáo Sư Weller phải giảng dạy lại trong lục cá nguyệt thứ hai cùng một đề tài này. Giáo sư giải thích: “Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã dạy chúng ta chăm sóc cơn giận một cách rất cá nhân đối diện với những biến cố trọng đại của thời cuộc chứ không như một khối tâm vô phân biệt (pas une masse indistincte)”.

Đối với số đông người Hoa Kỳ, những biến cố ngày 11 tháng 9 đánh động đến một giai đoạn đau thương khác của lịch sử nước họ: chiến tranh Việt Nam. Thật là một cuộc chấn động khủng khiếp, thêm một khám phá phũ phàng nữa, sau ba mươi năm, rằng là Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ không phải là nước không thể bị đánh bại. Khi thiền sư nói với người Hoa Kỳ rằng sự tức giận của họ là hợp lý và họ cần phải sử dụng năng lượng giận dữ ấy để mỗi người tự chuyển hóa và tự biến mình  thành một sứ giả của hòa bình, thành người có khả năng đi gỡ mìn trong trái tim của những kẻ khủng bố. Khi thiền sư nói như thế thì lời của ông lại đáng tin gấp hai lần. Bởi vì Thầy khuyến khích họ cố tìm bình an trong tâm hồn mình – cho dù trong thực tế, họ có cách gì làm khác hơn đâu – bởi vì Thầy cho rằng cơn giận của họ là hợp lý. Thầy Thích Nhất Hạnh – tên Hạnh có nghĩa là hạnh động – đã dạy một loại đạo Bụt dấn thân vừa làm thỏa mãn đầu óc thực dụng của người Hoa Kỳ, vừa nuôi dưỡng được nhu yếu khát khao tâm linh của họ. Đạo Bụt dấn thân này, đó là hình ảnh rất đặc thù (I’originalité), khuôn mặt không thể nhầm lẫn (I’image de marque) và ‘tính ăn khách’ (atout commercial) của thiền sư Thích Nhất Hạnh.

Ngay trong những thập niên 1960, trên sân trường Đại Học Columbia ở Manhattan Nữu Ước, ông thầy tu trẻ Thích Nhất Hạnh, lúc đó đang nghiên cứu về môn tôn giáo tỷ giáo, đã bắt đầu tổ chức những cuộc diễn hành cho hòa bình rồi. “Hồi đó rất ít người nghe nói đến ông thầy tu trẻ này, nhưng đây là một ông thầy khá đặc biệt đã khiến chúng tôi chú ý vì ông chủ trương và kêu gọi miền Nam và miền Bắc Việt Nam hòa giải với nhau và với Hoa Kỳ. Ông không theo miền Bắc cũng như không theo miền Nam vì ông rất ngán chiến tranh”. Nhà văn và nhà nhân chủng học Joan Halifax đã nhớ rõ như thế. Hiện giờ Halifax cũng đang ủng hộ những người bị kết án tử hình trong các nhà tù ở Hoa Kỳ. Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã gây được sự cảm phục của người thắng giải Nobel hòa bình năm 1964 là mục sư Martin Luther King. Ông này đã viết thư cho Ủy ban Nobel Hòa Bình ở Stockholm đã đề cử Thầy cho giải Hòa Bình sau đó. Nhưng thái độ độc lập phóng khoáng của thiền sư đã gây cho ông khá nhiều kẻ thù. Nhất là trong chính đất nước của ông mà đã có một thời ông đã bị đài phát thanh của ông Nguyễn Cao Kỳ cũng như của Hà Nội tố cáo ông. Một phần cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ cũng có một cái nhìn không rõ rệt về ông. Có hơn một người Việt Nam ở hải ngoại đã xem ông như là người thân cộng vì những hoạt động hòa bình của ông.

“Đạo Bụt là đạo giúp người quay về nội tâm thiền quán. Trường hợp của thiền sư Thích Nhất Hạnh là ngoại lệ. Trong khi các tín hữu Phật Giáo, nhất là tín hữu của những thập niên 60 đã xem tôn giáo này như là nơi trú ẩn những xáo trộn của xã hội, thì thầy Thích Nhất Hạnh đã chứng minh bằng cuộc đời của Thầy, sự cần thiết dấn thân của đạo Bụt vào đời sống hằng ngày, ví dụ như là dấn thân cho hòa bình”. Giáo sư xã hội học Frédéric Lenoir, tác giả quyển sách La Rencontre du Bouddhisme et de l’Occident (Sự gặp gỡ giữa Phật Giáo và Tây Phương) đã giải thích như thế.

Ở Hoa Kỳ, thiền sư Thích Nhất Hạnh đã hướng dẫn thực tập kỹ càng cho những cựu chiến binh Hoa Kỳ. Trong thời chiến, anh Lee Thorn làm công tác tải bom lên các phi cơ đi oanh tạc các thôn Việt Nam và Lào. Bây giờ thì anh làm việc trong Hội Jhai chuyên bảo trợ những dự án hòa giải giữa những cựu chiến binh trong cuộc chiến tranh thảm khốc với người dân nạn nhân của những cuộc oanh tạc đó, như xây cất trường học, bệnh xá v.v.. “Tôi bắt đầu được nghe nói về thiền sư Thích Nhất Hạnh khi tôi trở về Hoa Kỳ và tôi cũng bắt đầu chống chiến tranh Việt Nam’’, anh Lee Thorn thuật như thế này. “Thầy thì yêu tất cả mọi người, còn chúng tôi thì không yêu ai hết. Tôi bắt đầu đọc sách của Thầy mỗi ngày và bắt đầu tu tập theo lời Thầy dạy. Điều mà tôi hiểu được nơi lời dạy của Thầy là tình thương quả là cần thiết cho thế giới chúng ta. Đấy, vì thế mà tôi bắt đầu làm dự án này để giúp đỡ nước Lào”.

Giáo sư Joan Halifax giải thích: “Thầy đã quán sát tâm lý người Tây Phương và đã làm cho đạo Bụt trở nên rất dễ hiểu cho họ. Đạo Bụt của Thầy thật đẹp, đơn giản và đi thẳng vào lòng người”. Sử dụng những phương tiện quảng bá cổ điển, thiền sư Thích Nhất Hạnh đã sử dụng sách của Thầy như những ống loa để chuyền đi những thông điệp của Thầy. Một trong những đệ tử của Thầy, Arnold Kotler, đã lập một nhà xuất bản chỉ để in sách của Thầy. “Sách của tôi cũng giúp tôi nhiều lắm – Thầy cũng công nhận như thế”. Sách đó giúp độc giả nhận diện những khổ đau của họ qua những khổ đau mà tôi chia sẻ với họ và từ đó biết cách tu tập chuyển hóa như tôi đã đề nghị”.

“Tuy nhiên, nước Pháp đã chần chừ khá lâu mới chịu chấp nhận ảnh hưởng của ông thầy này, chần chừ trong suốt ba mươi năm qua, học giả Fréderic Lenoir nhận xét như thế”.

Nước ta (Pháp), ngay từ lúc đầu đã có sự say mê đạo Bụt Tây Tạng. Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một người có phong thái thanh bạch và giản dị; ông đã không đến với nước Pháp như Phật Giáo Tây Tạng với nhiều hào quang bùa phép. Không có những nghi lễ kèn trống ầm ĩ, không y áo vàng nghệ, không cờ xí màu mè sặc sỡ, không chuông khánh, không bồ tát mặt xanh chuyên trừ ngạ quỷ. Đất nước Việt Nam cũng không gieo được trên tâm trí người Pháp, giữa Hergé và Alexandra David Noel, những ảnh hưởng kỳ bí như đất nước Tây Tạng.

Tuy nhiên, sách của Thầy giờ đây đang bán rất chạy trên nước Pháp. Trung bình là 30.000 cuốn mỗi lần xuất bản – có thể xem như là loại sách bán chạy nhất (best sellers) trong loại sách chuyên về tâm linh. Thiền sư nhờ vào sự mến mộ đạo Bụt hiện tại của người Pháp. Theo thống kê của bộ nội vụ là có khoảng 600.000 người tu tập đạo Bụt với ít nhiều tinh chuyên. Năm 1994, một cuộc thăm dò của hãng Sofres – Le Figaro cho biết hiện giờ đạo Bụt là đạo ưa thích nhất của hai triệu người Pháp. Ngày nay, theo sự điều tra của Psychologies – BVA, số người yêu thích đạo Bụt đã lên đến con số năm triệu.

Theo một số người, đạo Bụt là con đường có thể tạo lại được hứng khởi về sự diệu kỳ của thế giới mà rất đông người Âu Châu thao thức. “Tôn giáo này có cách đưa ta đi vào bằng con đường tuy duy lý mà không hề khô cứng, học giả Fréderic Lenoir giải thích như thế. Nó thu hút những người mệt mỏi vì tâm tư ưa phân tích, họ được lôi kéo bởi một hệ thống tâm linh vi tế hơn, không nhị nguyên và có đủ không gian cho trực giác”. Đạo Bụt đã dạo đúng cung đàn thời đại: chủ trương mỗi cá nhân phải tự lo lấy cho mình, mỗi người phải tự thắp đuốc lên mà đi, tự quán chiếu và tự chuyển hóa cho chính mình. Tôi phải lo giải thích cho tôi trước nhất.

“Tôi như một miếng sắt được rèn luyện trong ngọn lửa chiến tranh”.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh, sinh trưởng tại Trung phần Việt Nam năm 1926, đã đi tu từ khi 16 tuổi. Thân phụ của Thầy làm việc trong chính phủ Nam Triều của vua Bảo Đại tương lai. “Tôi đã nghĩ rằng đạo Bụt có thể là một giải pháp giúp Việt Nam vượt thoát thể chế đô hộ của người Pháp, như là thánh Gandhi đã thành công bên Ấn độ”. Thầy nói như vậy. Sau khi tốt nghiệp cử nhân văn chương, ông viết sách dưới nhiều bút hiệu khác nhau và tu học với một thiền sư của thời đại của Thầy, thuộc dòng thiền Lâm Tế (một thiền sư vào thế kỷ thứ 9). Năm 1954, vào năm 24 tuổi, Thầy thành lập Phật Học Viện Ấn Quang mà sau đó đã trở thành chiếc nôi của những cuộc đấu tranh bất bạo động của người Phật tử chống chiến tranh Việt Nam từ 1963 đến 1975. Những vị xuất gia đã tự thiêu để chống chiến tranh đều là những người quen biết của Thầy.

Năm 1961, ông thầy tu trẻ này đi Hoa Kỳ để học hỏi thêm, ban đầu tại đại học Princeton, New Jersey và sau đó tại Đại học Columbia, New York. Trở về Sài Gòn, Thầy thành lập Viện Đại Học Vạn Hạnh, viện Đại Học Phật Giáo đầu tiên tại Việt Nam, rất khác với những Phật Học Viện dành cho các thầy tu theo truyền thống xưa. “Theo mẫu mực những trường đại học ở Hoa Kỳ – Giáo Sư Cường T Nguyễn đã giải thích như thế – ngoài những chứng chỉ về tôn giáo còn có những chứng chỉ về khoa học, chính trị hay kinh tế”. “Thầy Thích Nhất Hạnh muốn thành lập một trường dạy loại đạo Bụt rất thực tiễn hơn là lý thuyết – sư cô Chân Không đã giải thích như vậy. Đạo Bụt không dạy ta chỉ ngồi thiền dưới gốc cây mà thôi. Khi bom đạn rơi xuống tơi bời thì không thể nào ta ngồi yên dưới gốc cây để thiền quán mà phải đi băng bó người bị thương và cho các cháu đói ăn cơm”.

Thầy Thích Nhất Hạnh đã bắt đầu nổi tiếng vào thời đó. “Thầy rất được hâm mộ bởi hàng trí thức Phật Giáo. Giáo sư Cương T Nguyễn nhớ rõ như thế. Thầy cuốn hút tuổi trẻ vì Thầy là hiện thân của những giấc mơ của họ: Thầy có đi học bên Tây. Hơn nữa, những điều Thầy dạy rất tâm đắc với người trẻ”. Trong một đất nước chiến tranh, những thập niên đã làm nền tảng cho sự dấn thân của Thầy Thích Nhất Hạnh. “Tôi như một miếng sắt được rèn luyện trong ngọn lửa chiến tranh” – Thầy bảo. Thầy đã thành lập trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội một cách nhanh chóng, một tổ chức mà sau mười năm hoạt động đã có đến hàng ngàn người tự nguyện làm việc không lương trước khi bị cấm đoán bởi chính quyền cộng sản năm 1975, sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ. Hoạt động cứu khổ này vẫn còn được tiếp tục cho đến ngày nay. Sư cô Chân Không báo cáo là Thầy và học trò của Thầy đã gửi khoảng 50.000 Mỹ Kim mỗi tháng để giúp gần 1.100 lớp học mẫu giáo ở những làng nghèo khổ xa trong các miền kinh tế mới hay các miền núi chưa có trường học. “Đó là sứ mạng của một vị Bồ Tát đã khước từ Niết Bàn để ở lại độ người”. Ông Nguyễn Hữu Khoa, chủ tịch Portail Internet Buddha Line (Cửa vào đường dây của Bụt) đã phát biểu như vậy.

Năm 1966 thầy Nhất Hạnh bắt đầu lên tiếng kêu gọi chấm dứt chiến tranh Việt Nam và đi một vòng rất nhiều nước Âu Châu và Mỹ Châu. Thầy không ngờ là từ đó Thầy không còn được thấy lại quê hương Việt Nam của Thầy nữa. Vào năm 40 tuổi Thầy bị lưu đày. Thầy bị cấm đoán về nước. Chính quyền Sài Gòn cấm mà chính quyền Hà Nội cũng cấm. Những lời kêu gọi hòa bình của Thầy đã khiến cho cả hai bên bực bội và những công tác xã hội của Thầy cũng chỉ làm cho họ bực thêm. “Tôi là ông thầy tu đầu tiên dám đi xe đạp và cũng là người dám tổ chức thiền tọa trên bãi biển. Đó là cuộc cách mạng lớn của tôi”. Thầy vừa nói diễu vừa mỉm cười hóm hỉnh.

Năm 1968, thầy Thích Nhất Hạnh bước chân đến nước Pháp và đã không thành công lắm trong sự tham gia và ảnh hưởng vào những cuộc đàm phán của hội nghị Paris về Việt Nam. Thầy mở một trung tâm tu học ở Troyes cho một số người tị nạn đến tu tập từng đợt. Năm 1982, vì con số người đến tu học tăng vọt quá nhanh, thầy Nhất Hạnh mở một nơi tu học mới, đặt tên là Làng Mai (Village des Pruniers). Nông trại đầu tiên mua ở Loubès Bernac (tỉnh Lot & Garonne). Với 200.000 Mỹ kim tiền bản quyền của một cuốn sách của Thầy, Thầy đã mua trung tâm thứ ba ở Dieulivol (tỉnh Gionrde). Ngày nay Làng Mai có bảy cơ sở gọi là bảy “Xóm” hay là bảy nhóm nhà, nằm rải rác trên ba ngôi làng thuộc ba tỉnh miền tây nam nước Pháp.

Khi vừa tới Loubès Bernac, Thầy ra lệnh cho nhổ bỏ gần 2 mẫu nho làm rượu và cho trồng 1.250 cây mai (mận) ăn quả – 250 cây mỗi mẫu tây. Chuyện ngẫu nhiên nhưng Thầy cũng hay nhắc nhở là 1.250 cây mai này như là một nháy mắt ra hiệu của Bụt. Con số 1.250 là con số khá linh thiêng thường được nhắc đến trong các kinh: “Bụt thuyết pháp trước 1.250 vị đệ tử”. Sư cô Chân Không lại giải thích rất thực tế là: “Chúng tôi cũng muốn trồng những cây gì có thể đem lại ít tiền cho trung tâm tu học”. Mỗi năm trái mai (mận) sấy khô mang đến khoảng 20.000 quan để nuôi 130 người xuất gia tu học tại Làng Mai. Nhưng phần lớn nhờ vào tiền bản quyền sách của Thầy. Thầy Nhất Hạnh viết hơn 50 quyển sách, ngoài những cuốn đã in trong nhà xuất bản còn có những cuốn truyện dài, những tập thơ và nhất là những cuốn sách dạy nuôi dưỡng đời sống tâm linh. Sách của Thầy bán rất chạy: nhà xuất bản ở Hoa Kỳ vừa trả 600.000 Mỹ kim cho cuốn sách sắp tới của Thầy. Những khách thập phương đến tu học cũng là một nguồn tài chánh đáng kể. Mỗi năm hơn 4.000 người đã từ xa tới nơi này tu học, một nơi được xem như là vùng đất cao điểm của đạo Bụt khiến cho dân địa phương cũng rất ngạc nhiên. “Mùa hè chúng tôi có gần 700 người tu tập mỗi tuần. Không đủ chỗ trong nhà, các bạn cắm lều cùng khắp. Trong mùa hè, chúng tôi phải đi mướn nhiều gites (nhà của dân địa phương cho mướn) quanh vùng cho những thiền sinh khách cần tiện nghi”.

Cuộc sống ở Làng Mai không nhàn hạ lắm đâu. Tiếng chuông thanh thoát vẫn không làm cho ta quên được rằng ta phải thức dậy lúc 5 giờ sáng. Trước khi ăn sáng, mọi người có hai giờ thiền tập. Khi không đi dạy xa, Thầy thường cho hai pháp thoại khá dài mỗi tuần: ngày thứ năm và ngày chủ nhật. Tất cả sự tu tập đều dựa trên hơi thở để giúp ta đạt tới trạng thái “chánh niệm” (Pleine Conscience). Trước khi ăn trưa, có một giờ tập đi trong chánh niệm gọi là đi thiền hành. Khi đi ta để cho bước chân với hơi thở quyện một cách hài hòa vào nhau, đi như thế về chắc ăn cơm ngon lắm. Sau giờ làm việc nhà trong chánh niệm (chấp tác) các thiền sinh còn theo học những môn khác (Phật giáo căn bản, thiền lạy, thiền buông thư, làm mới, uy nghi, giới luật …) và ngồi thiền một tiếng rưỡi trước khi đi ngủ. Sự “Im Lặng Hùng Tráng” về đêm rất cần thiết. Một ngày làm biếng mỗi tuần đã được ghi trong đời sống tu tập nghiêm mật của Làng Mai. Đôi khi thiền sư cũng biết đùa giỡn. Ngày 22 tháng 11 vừa qua, trong lúc đi thiền hành ngang một cây đầy lá vàng, Thầy bỗng dừng lại và rung cây để cho lá vàng rơi lả tả trên đầu các đệ tử. Cả đoàn người đều phá ra cười.

“Tôi hơi lo là người ta sẽ lý tưởng hóa Thầy thái quá, nhà nhân chủng học Joan Halifax cũng đã từng là học trò của Thầy. Một số đệ tử của Thầy than phiền là họ ít được dịp gần gũi Thầy”. “Có lẽ vì Thầy quá nổi tiếng, người thán phục thì nhiều mà sức khỏe Thầy thì mong manh nên Thầy ít có thì giờ trực tiếp với đệ tử. Đó là một vấn đề, bởi vì nếu mình muốn tu tập, sự liên hệ trực tiếp với Thầy mình quả thật là cần thiết. Chỉ có cách ấy Thầy mới trao truyền được nhiều cho mình”. Thầy Nhất Hạnh đi dạy các khóa tu ở khắp nơi mỗi năm nhiều tháng. Thầy đã mở hai tu viện ở Hoa Kỳ, một ở tiểu bang ở Vermont, miền Đông và một ở gần San Diego California, miền Tây. Từ sau ngày 11 tháng 9, Thầy khuyến khích chánh quyền Hoa Kỳ nên thành lập một hội đồng Nhân Sĩ mà vai trò chỉ là “ngồi lắng nghe nỗi khổ của người dân Hoa Kỳ trước tiên để có thể hiểu thêm nỗi khổ của kẻ mà ta thù hận. “Cũng như những hội đồng hòa giải ở Nam Phi, những buổi lắng nghe này có thể cho truyền thanh, truyền hình rộng rãi cho dân chúng theo dõi”. Thầy xác nhận như thế.

Năm 1995, Thầy bắt đầu đi Trung Quốc như một du khách, nhưng dần dà người ta đồn là có một vị đại sư đang du hành trong đất nước này – sư cô Chân Không nhắc lại – và khóa tu đã chấm dứt bằng một khóa tu ba ngày liên tục cho 600 ông thầy tu Trung Quốc. “Đi du lịch mà cũng dạy đạo được, thấy không?”, thầy Nhất Hạnh nhắc lại một cách hóm hỉnh. Sau chuyến đó Thầy đã được Hội Phật Giáo Trung Quốc mời trở lại trong Trung Hoa Lục Địa hai lần với sự đồng ý của nhà nước. Nhiều vị xuất gia tại Trung Hoa ngày nay đang hướng về và mong mỏi được tu tập với Thầy, học hỏi cái giáo pháp mà họ không được học dưới thời Mao Trạch Đông, – ông Nguyễn Hữu Khoa đã giải thích như thế – ảnh hưởng của Thầy về đạo Bụt trong một nước lớn nhất thế giới sẽ vô cùng lớn lao: rồi đây trong thế hệ tới, Thầy sẽ có nhiều đứa con tinh thần người Trung Quốc”. Trong khi đó thì, bản thân Thầy cũng như sách của Thầy, băng giảng của Thầy – băng hình cũng như băng nghe – vẫn còn bị cấm đoán trong nước của chính Thầy, nước Việt Nam. “Tôi không hiểu tại sao người ta đi sợ hãi một ông thầy tu tầm thường như tôi”. Thầy Nhất Hạnh đã than thở như thế. Một ông thầy tu tầm thường. Nhưng ông thầy này, với tất cả sự thong thả, và với cách làm việc rất có phương pháp của ông, ông đã quyết định giúp đạo Bụt chinh phục Tây phương về cho đạo Bụt.

Ngay trong phút giây hiện tại, thiền tập có thể chuyển hóa khổ đau và đem tới an lạc

Bài của ký giả Teresa Wattanabe. Ban biên tập của Nhật báo Los Angeles Times, tờ nhật báo lớn hạng ba của Hoa Kỳ. Sư cô Chân Hội Nghiêm dịch

Những người con Bụt đã chuyển đổi một trung tâm luyện tập bắn súng thành một tu viện và thực hiện được những chuyển hóa đầy thử thách

 

Escondido, California ngày 01 tháng 6 năm 2004.

Dưới rừng sồi của chen lẫn từng mảng cây đinh hương, California đầy hoa tím, trang nghiêm và ngập nắng, những vị tu sĩ áo nâu đã im lặng nhẹ nhàng cải biến vùng đất mà trước đây cơ quan luật pháp vùng San Diego làm nơi luyện tập quân sĩ sử dụng vũ khí.

Những người học trò của thiền sư Thích Nhất Hạnh đã thay thế những loạt súng đạn của binh sĩ bằng những hồi chuông linh thiêng. Họ đã sơn sửa lại những ngôi nhà tả tơi đầy vết đạn. Trong khu rừng Lộc Uyển với diện tích 400 mẫu Anh của họ, giờ đây đã xuất hiện một thiền đường đầy ánh sáng, một thác nước nhỏ, một hồ cá và những câu thiền ngữ treo khắp nơi: Thở đi, bạn đang còn sống. Trong vòng bốn năm nay, từ khi họ tậu được vùng đất này, những tu sĩ áo nâu kia đã mang lại những chuyển hóa đầy thử thách: giúp đỡ giới điện ảnh Hollywood, giúp những người trẻ trốn nhà sống trên đường phố, giúp những trẻ lêu lổng trong các xóm nghèo nội thành, giới trẻ trong các băng đảng và những thành phần khác, giúp những người kia làm chủ được những tập khí dữ dằn của họ và để họ tìm thấy an lạc cho tự thân.

Trong một khóa tu gần đây cho ngành vô tuyến truyền hình và phim ảnh, thiền sư Thích Nhất Hạnh đã giảng về tầm quan trọng của ái ngữ cho một hội chúng thuộc giới văn nghệ sĩ, trong đó có diễn viên hài Garry Shandling và nhà làm phim Larry Kasanoff, người đã kêu gọi buổi họp mặt này. “Quý vị không cần phải trở thành một người khác, quý vị không cần phải đến giải phẫu thẩm mỹ”, thầy Nhất Hạnh nói điều đó với một giọng nhỏ nhẹ, đã khiến cho cả thính chúng phá lên cười.

Với những lời dạy như thế, các tu sĩ thuộc Đạo tràng Mai Thôn của thầy Nhất Hạnh nhằm trang bị cho các người đến từ truyền thống tín ngưỡng khác và từ các nền văn hóa khác. Họ học được cách thực tập chánh niệm để nhận diện niềm bình an cho tự thân trong cuộc sống hàng ngày, bằng cách thở sâu hơn, đi đứng thảnh thơi hơn và tập sống được sâu sắc hơn trong giây phút hiện tại. Nhiều khóa tu đã diễn ra từ đầu năm nay, kể từ khi thiền sư Nhất Hạnh từ Pháp (nơi cư trú thường xuyên của Người) sang đây và ở lại an cư trong ba tháng mùa Đông tại Lộc Uyển. Thầy 78 tuổi, đã thành lập được 800 nhóm tăng thân thiền tập trên hai mươi mấy nước. Thầy đã được mục sư Martin Luther King Jr. đề cử giải thưởng Nobel hòa bình qua những cố gắng xây dựng hòa bình của Thầy trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam.

Một tăng thân gồm bốn mươi mấy tu sĩ từ nhiều quốc gia đến, đang sinh hoạt tu tập và làm việc quanh năm ở tu viện Lộc Uyển thuộc vùng  Escondido. Quý vị tu sĩ nam và nữ đều mặc trang phục giống nhau, cùng mặc những chiếc áo dài nâu, đều cạo tóc như nhau.  Trong đó có thầy trụ trì Pháp Dung, một người Việt Nam tị nạn và lớn lên vào thời San Fernando ‘Valley Boy’, thời mà người ta thích nhảy nhót và chơi trượt ván. Thầy nói thầy đã từng tranh đấu trong trường học để xóa bỏ kỳ thị chủng tộc. Cuối cùng thầy tốt nghiệp đại học USC và trở thành một kiến trúc sư làm việc ở Santa Monica. Nhưng sau đó vài năm, thấy rằng nghề nghiệp của thầy chỉ quanh quẩn về tiền bạc và củng cố cái ngã, hiếm có cơ hội để phác họa lên những dự án có ý nghĩa cho xã hội. Thầy đã tham dự vài khóa tu của thiền sư Thích Nhất Hạnh và bị thu hút bởi sự nhẹ nhàng, thanh thoát ở đó. Cuối cùng thầy quyết định đi tu để trở thành một tu sĩ. Thầy thường gần gũi và làm việc với nhiều thanh thiếu niên có nhiều khó khăn trong cuộc sống. Thầy nói: “Tôi đã tìm thấy một cách sống có nhiều ý nghĩa hơn và những cách giúp người trực tiếp hơn”.

Ngoại trừ vào lời phàn nàn từ hàng xóm vì hiện tượng xe cộ quá nhiều; hơn 800 người thường xuyên kéo đến tu viện Lộc Uyển vào những ngày cuối tuần – các viên chức quận San Diego nói rằng đa số không ai chống đối sự có mặt của tu viện. Theo lời ông Bill Ring – chuyên viên về bản đồ địa chính trước đây thì lịch sử vùng đất này rất đa dạng, rằng hơn ba thập kỷ trước, nó là một trại khỏa thân. Vào giữa thập niên 70, sau khi quận San Diego mua vùng đất này, cơ quan bảo vệ Cali (California Conservation Crops) và Phân Viện Cảnh Sát (Sheriff’s Department) đã dùng nó để huấn luyện đội  SWAT và thủy quân từ trại Pendleton gần đó. Vào năm 2000, tăng đoàn đã tậu vùng đất này với giá 4 triệu đô la trong cuộc bán đấu giá.

Thầy Pháp Dung nói rằng các vị tu sĩ đã phải làm việc trong suốt nhiều tháng để tu sửa những cơ sở vật chất bị tổn hại bởi bom đạn và chuyển hóa nguồn năng lượng bạo động kéo dài âm ỉ trong quá khứ. Họ đã tụng kinh và hộ niệm nhiều lần để xin phép thần linh người da đỏ bản xứ cho phép họ dùng mảnh đất này;  và đã dẫn các em đi thu lượm những vỏ đạn và làm nên những bảng hiệu hòa bình trên đó. Ngày nay, dân chúng từ nhiều thành phần khác nhau trong xã hội đã đến viếng thăm tu viện. Trong đó có Kasanoff, một nhà sản xuất phim giàu có mà những bộ phim của ông ta bao gồm “Terminator 2” và “Mortal Kombat”. Ông đã từng mở những tiệc tùng xa hoa trên những chiếc thuyền sang trọng ở Cannes của ông và là chủ của ba hãng phim ở Santa Monica chuyên về phim ảnh, phim hoạt hình, và phim võ hiệp trên vô tuyến truyền hình.

Trong số những người đến tu tại tu viện Lộc Uyển cũng có những người rất khiêm nhường như cô Estrellita Rojas, 18 tuổi, một học sinh trường trung học ở Boston, sống không mẹ cha và làm nghề bán hàng với mức lương rất ít ỏi. Cô đã hết sức vất vả mới vật lộn mà sinh sống được trong môi trường khá bạo động và dẫy đầy tội ác. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Kasanoff đã phải lặp đi lặp lại rằng ông ta là một người Do Thái, không có một ước muốn bỏ đạo để trở thành một phật tử, hoặc đi xuất gia thành một ông thầy tu hay một đạo sĩ, để phải từ bỏ rượu chè và gái đẹp. Ông ta xác nhận rằng ông ta không chủ ý muốn áp đặt ai làm một cái gì cả. Ông ta chỉ kêu gọi hàng trăm người thuộc giới điện ảnh tới tu viện dự một khóa tu dành cho giới Hollywood, và đã mời thiền sư Nhất Hạnh đến nói chuyện tại một buổi họp mặt rất thân mật tại nhà ông. Ông ta đã tặng hơn 100 quyển sách của Thầy cho những người thân quen. Ông ta nói rằng ông ta cũng đưa một vài thông điệp của thầy Nhất Hạnh vào hai bộ phim sắp ra đời – “Mortal Kombat” và làm lại hàng loạt phim hoạt hình gốc Nhật “Ninja Scroll”.

Kasanoff nói rằng ông ta bắt đầu tìm về đời sống tâm linh cách đây khoảng năm năm. Và ông ta nhận ra rằng nhiều người bạn giàu có và nổi tiếng trong giới điện ảnh Hollywood đã từng rất khổ đau và thường xuyên bị sợ hãi chiếm ngự. Trên đường đi tìm nếp sống tâm linh, tình cờ ông ta bắt gặp những quyển sách của thầy Nhất Hạnh và bị lôi cuốn bởi những thông điệp chánh niệm trong ấy. Từ đó ông ta bắt đầu thiền quán, thiền hành và khí công.

Phép lạ hoàn toàn của những thực tập này là bạn có thể được thư giãn hơn, bình an hơn, làm được nhiều công việc hơn và có nhiều năng lượng hơn”. Ông ta nói: “Tôi bớt quýnh quáng. Tôi không còn la hét nhiều như trước đây. Điều đó không có nghĩa là bạn tiếp nhận những thứ này và rút lui khỏi thế giới; cái hay là bạn có thể kết hợp những phương pháp thực tập ấy vào đời sống hàng ngày của bạn”.

Ở một góc độ khác của cuộc sống, cô Rojas kể một câu chuyện giác ngộ tương tự. Một cô gái mười tám tuổi, da màu gốc Nam Mỹ thuộc dòng tộc Nicaraquan (từ một xứ của Châu Phi) đã đến thăm Lộc Uyển vào hồi tháng ba với những thanh niên khác ở Boson. Những em này đã tham gia vào chương trình ngăn ngừa xì ke ma túy và phòng chống HIV. Đây là lần đầu tiên cô ta được đi máy bay, lần đầu tiên gặp những vị tu sĩ, lần đầu tiên ăn chay và đây là thời gian nghỉ ngơi đầu tiên của cô bé từ một môi trường có nhiều băng đảng, đánh nhau và thường xuyên bạo động. Rojas nói: “Thật khác hẳn hoàn toàn. Bỗng dưng một thiên quốc xinh đẹp được mọc lên giữa không trung, ở đó không có bạo lực, không có kỳ thị, không có sự nhiếc mắng, không có gì hết. Mọi người ở đó đều kính cẩn, tôn quý nhau và cùng hạnh phúc”. Phương pháp lắng nghe bằng tâm từ bi mà cô ta học tại đây đã dập tắt được những cuộc cãi vã và la hét mà cô từng hành xử với chị mình trước đó. Cô ta nói sự chấp nhận mà cô ta cảm được ở Lộc Uyển đã làm giảm đi khuynh hướng tìm cầu vật chất trước đây của cô ta, trong cách ăn mặc sang trọng qua những đôi giày, những quần jeans có nhãn mà cô ta đã nghĩ trong quá khứ là có công năng khẳng định giá trị mình. Cô ta ít la lối om sòm hơn và có được nhiều bình an hơn khi cô ta bắt đầu thiền tập hằng tuần. Cô ta có ý định thành lập một tăng thân ở Boston cho các bạn thiếu niên.

Những câu chuyện như thế xảy ra thông thường ở đây. “Người ta yêu cầu chúng tôi sửa sai họ và sửa sai giùm con cái của họ, nhưng ở đây chúng tôi không làm điều đó”. Thầy Pháp Dung nói: “Chúng tôi chỉ trở thành bạn với các em, leo núi chung và cùng đếm sao rơi với các em mà thôi. Chúng tôi thưởng thức sự sống đang hiển hiện. Vì vậy mà các em chuyển hóa. Chúng tôi ý thức được là mình đang còn sống và vui mừng vì ý thức ấy”.

Đây là tựa đề bằng tiếng Anh:

It’s Now, It’s Zen and It’s Life – Changing

Buddhists who turned a gun training site into a monastery

Tackle even harder transformations

By Teresa Watanabe

Los Angeles Times Staff Writer, June 01, 2004