Con gái ông Tư cua

Ngày tháng trôi qua thật nhanh, mới đây mà tôi đã đi tu được tám năm rồi. Đối với tôi, những ký ức về tuổi thơ là những khung ảnh đẹp. Những kỷ niệm về gia đình là gia tài và hành trang giúp tôi vững bước hơn trên đường đạo. Quá khứ trở thành hiện tại và hiện tại lại trở thành quá khứ. Nhờ vậy mà tôi thấm hiểu hơn về câu thư pháp Thầy tôi thường dạy: “Không có bùn làm sao có sen” hay “Khổ đau là chất liệu làm nên hạnh phúc”. Nhận ra mình, thấy được mình, nói được những gì mình muốn nói là hạnh phúc lớn nhất đối với tôi. Tôi thuộc ban A nên khó viết xuống những nỗi lòng, những ray rứt trong trái tim mình. Tôi chấp nhận điểm yếu của chính tôi vì tôi là “hiệp sĩ” mà. Nhưng khi nghĩ tới những gì muốn chia sẻ cùng ba, tôi có thêm nhiều sức mạnh. Và câu chuyện của tôi được bắt đầu như thế này:

Xa quê

Tôi là một cô bé tóc quăn, da phèn, “chân tay gầy ốm như những ống sậy”. Ngoài đôi mắt đen ngơ ngơ, dại dại, trên khuôn mặt không thấy một điểm sáng gì. Ba tôi không có tài làm nông, mẹ tôi không có duyên làm ruộng nên cả gia đình phải tạm xa miền Tây lam lũ, cắp giỏ đệm lên “xì phố” để tìm kế sinh nhai. Không một đồng xu dính túi, gia đình đành ở nhờ nhà ngoại nhưng tôi thấy vui và hạnh phúc lắm. Nhà được dựng tạm trên ống cống thoát nước, căn nhà lá nho nhỏ với dòng nước chảy liu riu. Nhất là khi mưa về, đường mương ống cống trở thành một dòng sông thơ mộng đối với tôi lúc nhỏ.

Thời gian đó, đường mương rất thoáng vì ngày nào nhà tôi cũng quét dọn sạch sẽ. Hồi đó ống cống vừa là chỗ mát mẻ để ngủ trưa khi trời nắng, vừa là chỗ yên ổn để chúng tôi chơi trò trốn tìm, còn đường mương ống cống trở thành “bể bơi” lý tưởng của tôi. Vào mùa mưa đường mương tràn ngập nước, tôi cùng các em và những bạn hàng xóm thay nhau nhảy xuống đó để bơi. Khỏi phải nói là tôi vui tới cỡ nào. May mà ba mẹ đều đi bán hàng nên không biết chuyện gì xảy ra tại nhà, nếu không, chắc tôi sẽ không thực hiện được kỳ tích có một không hai này. Vì vậy, dòng sông ống cống trở thành một người bạn mà tôi không tài nào quên được. Còn người bạn thứ hai của tôi là cây me. Cây me ấy, mặc dầu hơi chua một chút nhưng tán rất rộng, cành thấp, nên tôi tha hồ leo trèo và nghịch phá. Do đó, tôi ăn trên cây me, chơi trên cây me, học trên cây me, ngủ trên cây me và tắm cũng trên cây me. Nghe có vẻ là lạ nhưng thiệt 100% đấy. Tôi thường chơi trò nhảy từ cây me xuống dòng sông liu riu vào những lúc mưa to. Thật tuyệt! Từ trên cây me ùm một cái, nước bắn tung tóe, rưới mát cả lòng tôi, rưới mát cả sự nhớ quê của tôi. Đối với tôi, có thể tạm gọi đó là cõi “Tịnh độ tuổi thơ”.

Nói về chuyện bơi lội thì tôi chợt nhớ lúc ở quê, tôi rất thích bơi nhưng mẹ không cho vì sợ tôi hụt nước. Tôi phải nhờ thằng em giả đò xô tôi xuống sông. Quần áo ướt hết cả rồi nên tôi đành bơi vậy, tôi bơi tới, bơi lui, khá gấp gáp vì sợ hết giờ. Lúc đó tôi thấy cảnh các anh trèo lên cây tràm để nhảy xuống sông thật là thích thú. Tôi cũng muốn thử cảm giác mạnh ấy nhưng vì tôi nhỏ quá nên không dám nhảy. Bơi xong, lên bờ quần áo ướt sũng, hỉ hửng về nhà nhưng ngờ đâu vừa gặp tôi, mẹ liền hỏi: “Con tắm bơi à?” Tôi ngại ngùng, cúi mặt xuống đất và đáp lí nhí: “Dạ, tại thằng Linh đẩy con xuống sông, lỡ ướt đồ rồi nên con mới bơi ạ”. Hic… tôi giả đò hay thiệt đó nhưng liếc thấy thằng em đứng im lìm không nói gì, cũng dán mặt xuống đất, tôi chợt hối hận và thấy thương em ghê. Nhờ chiêu giả bộ ấy mà mẹ không đánh đòn tôi nữa. Sau này, mỗi lần nghĩ tới chuyện đó tôi thấy áy náy vô cùng. Tôi tự hứa với lòng mình sẽ không làm như vậy nữa. Và tôi đâu ngờ rằng trò bơi bất đắc dĩ đó cũng là kỷ niệm cuối cùng của tôi ở vùng quê.

Vì vậy khi lên thành phố, tôi nhớ quê nhưng chưa bao giờ nói cho ba mẹ nghe cả. Tôi biết ba mẹ không có đủ kinh phí để gia đình về thăm quê. Tôi lên thành phố năm tám tuổi nhưng mãi tới lúc học cấp 2 tôi mới được về quê vì ông nội mất, bảo sao tôi không nhớ quê cho được. Nhưng ngồi yên nghĩ lại, có lẽ người nhớ quê nhất phải là ba tôi mới đúng. Tôi im lặng thở và nhìn vào nỗi lòng của ba.

Mẹ về

Ngày qua ngày, gia đình tôi mua được một căn nhà nho nhỏ gần một nghĩa trang cũng nho nhỏ. Lúc đầu, tôi sợ lắm vì mỗi lần về nhà là phải qua nghĩa trang đó. Năm giờ chiều là giờ giới nghiêm của tôi, tôi không dám ra khỏi nhà hay nhìn ra nghĩa địa. Một ngày nọ, hơn năm giờ mà ba mẹ vẫn chưa về. Tôi và em gái sợ quá không biết làm gì cả. Với đầu óc trẻ con, tôi nghĩ: “Khi con ma xuất hiện, nếu tôi ở trong nhà thì không thể chạy ra ngoài được vì lỡ con ma khóa cửa, nhốt hai chị em bên trong thì sao?” Thế là tôi khiêng cái thúng đựng gạo khá to, đặt trước cửa nhà và hai chị em ngồi im trong thúng, không dám nhúc nhích gì. Tôi đợi tiếng xe đạp của mẹ, đợi hoài, đợi mãi mà chẳng thấy. Lâu lâu tôi lén nhìn ra nghĩa trang, xem có bóng dáng gì không? Vô vọng và sợ hãi. Nhưng khi màn sương đang dần dần buông xuống phủ từng ngôi mộ cổ thì tiếng xe đạp mỗi lúc một gần. Sau khi dựng chân chống xe, mẹ ngạc nhiên nhìn hai chị em tôi đang ngồi co ro trong thúng. Biết ý, mẹ nở một nụ cười thật hiền. Thật lạ! Từ lúc mẹ về thì niềm hạnh phúc và bình an của tôi cũng về theo. Tôi chạy ra khỏi thúng, mếu máo và ôm chầm lấy mẹ, nước mắt cứ thế lã chã rơi. Cho tới giờ phút này, chỉ cần được thấy mẹ, ngồi bên mẹ hay chỉ nghe tiếng mẹ là tôi cảm ngay được niềm hạnh phúc và bình an của ngày xưa đó. Tình thương của mẹ là tình thương an lành nhất, mẹ sẵn sàng ôm tôi vào lòng khi tôi cần, mẹ hết lòng lắng nghe khi tôi chia sẻ hay mẹ lặng lẽ thức thâu đêm, đơn giản chỉ để làm quà tặng tôi. Mỗi lần nghĩ tới mẹ là tình thương trong lòng tôi như được ứa ra, rất ngọt ngào và ấm dịu. Tôi không hiểu tại sao nữa nhưng tôi biết một điều: “Mẹ là người bạn tuyệt vời nhất của tôi”. Còn ba tôi thì sao?

Những gì con chưa thấy

Nhà thơ Nguyễn Bính có một bài thơ khá nổi tiếng, đó là bài “Hoa và rượu”. Ba tôi cũng có một bài ca khá nổi xóm, ca suốt mười mấy năm nhưng luôn luôn còn mới, đó là bài “Lá và rượu”. Tôi chỉ muốn ba đổi bài hát mới nhưng hầu như đó chỉ là giấc chiêm bao và tôi đã thất vọng nhiều lần. Chính vì vậy mà tôi ghét chiều về. Hễ ánh sáng bắt đầu chập choạng thì ba hay sai tôi đi mua rượu. Ba nói mua một lít thì tôi mua ba xị, mua một gói thuốc lá thì tôi bảo ngoài tiệm hết rồi nên chỉ còn vài điếu. Có lần khi mua rượu cho ba, về đến giữa đường, tôi đứng lại thử bịt mũi, nhắm mắt, uống liều hai ngụm đầy. Sau vài phút, khuôn mặt tôi dần đỏ lên, tim đập loạn xạ rồi say bí tỉ. Thế là tôi phải nằm bẹp cả một buổi chiều. Hic… tôi tức lắm. Rượu có ngon gì đâu sao người lớn lại thích uống đến thế!

Vì vậy, khi nhìn cảnh mẹ làm quần quật từ sáng đến tối, còn ba khi đi bán hàng về lại uống rượu, tôi không buồn cũng lạ. Tôi càng thương mẹ bao nhiêu thì tình cảm tôi dành cho ba càng xa cách bấy nhiêu. Mặc dù tôi biết ba là người hiền lành, thật thà, hay giúp đỡ người khác. Thậm chí, những người ở quê thường gọi ba bằng một cái tên khá thân thuộc là “Hội đồng chùa”. Dưới quê, ai cũng thương ba cả, ba là một ngôi sao sáng đối với bà con. Còn với riêng tôi, tôi thấy lờ mờ sao ấy. Hay tôi chưa thấy được ánh sáng từ ba? Khi lớn lên, có lúc tôi cũng tự hỏi chính mình: “Sao cái nhìn của tôi lại chật hẹp đến thế, có thể tôi đã để cho những hình ảnh khác chiếm ngự trái tim nên không thấy những điểm sáng từ ba?” Đã có lúc tôi lập nguyện: “Sau này, nếu quen ai mà người đó uống rượu thì tôi sẽ nghỉ chơi ngay lập tức”. Cái đầu của một đứa trẻ thật khủng khiếp, tôi huân tập cái ý nghĩ đó từ ngày này qua ngày khác và trở thành một khối cứng ngắc như đá cuội. Tôi ghét RƯỢU… Do đó, cũng có lúc tôi ghét luôn cả ba (không chánh niệm một tý nào… hì… tôi giận luôn cả ba). Vì đó là bản chất tự nhiên của tính bắc cầu mà. Nói chung, những gì có liên quan tới rượu là kẻ thù của tôi. (Nhờ sống trong hoàn cảnh ấy, sau này em trai tôi không bao giờ uống rượu. Đó là niềm an ủi lớn nhất đối với tôi).

Bài học quý

Tuy tâm trạng tôi như vậy, nhưng sáng nào tôi cũng cùng các em thay phiên nhau ra chợ phụ ba mẹ bán hàng. Ba ở nhà xay cua, mẹ có sạp khác bán trái cây. Gian hàng của gia đình tôi chủ yếu là: cua – còng còn sống, cua xay, mắm tôm và thỉnh thoảng có bày bán trái cây. Khoảng chín giờ sáng, ba mới ra thay ca, tôi về nhà ăn cơm rồi đi học. Ngồi bán hàng, tôi không mời mọc gì, rảnh là tôi lấy tập ra học. Chắc vì vậy mà các cô chú bác ai cũng thương nên chị em tôi bán hàng khá được. Còn ba bán hàng rất có uy tín vì ba chưa bao giờ cân thiếu mà còn bán dư cho bà con nữa nên ai cũng quý ba. Tôi nhớ có lần, người bạn hàng kế bên lấn sạp của ba, những cô bán hàng khác liền mách với tôi. Sau đó, tôi nói nhỏ với ba nhưng ba rất bình tĩnh và nói: “Người ta nghèo mới lấn sạp của mình con ạ. Mình chỉ có vài mặt hàng nên không cần sạp rộng. Họ còn lo cho con cái đi học ở dưới quê nữa”. Nghe ba nói như vậy, tôi thấy xấu hổ và xúc động. Ba biết nhưng ba vẫn để yên vì ba có cái nhìn sâu hơn tôi. Kể từ đó, tôi thấy thương ba hơn và tôi cũng thương được cô chú bán tôm gian hàng kế bên. Vì tôi cảm được cảnh nghèo khó và chật vật của những người vùng quê. Tôi nghĩ đến nụ cười của hai đứa con cô chú, chợt lòng tôi được mở ra. Tôi thích đi học vì tôi muốn đổi đời. Chắc hai đứa nhỏ kia cũng vậy. Xóm chợ đó đã đem đến cho tôi nhiều tiếng cười và nhiều tình thương từ người bán lẫn người mua. Nhờ những tháng ngày buôn bán đó mà tôi đã lớn lên và phấn đấu cho tương lai hơn.

Thấu hiểu tận nguồn cơn

Khi học cấp ba, tôi bắt đầu tiếp xúc với pháp môn Làng Mai. Trong đó, có một bài pháp thoại mà tôi chỉ nhớ vỏn vẹn vài câu: “Bao tử mình cũng là một nghĩa trang thu nhỏ. Chúng ta có thật sự từ bi không? Bao nhiêu con vật đều ở trong bao tử đó. Ta có khác gì những loài vật khác”. Khi nghe câu này xong, tâm tôi thực sự bị đánh động, tôi khẽ khóc. Kể từ lúc ấy, tôi không muốn bán cua giúp ba nữa. Có lần tôi nói với ba: “Ba ơi! Hay mình đổi nghề khác nha ba, mình bán rau cũng được”. Ba tôi lẳng lặng một lúc rồi nói: “Có nhiều lần ba cũng muốn đổi nghề nhưng mình lỡ có mối mang khá nhiều. Ba đổi hàng khác thì không đủ tiền lo cho các con đi học”. Tôi nghẹn ngào và tiếp tục bán cua. Nhưng lần này thì khác, tâm ý tôi đã hoàn toàn thay đổi. Ngày trước tôi ước gì tôi bán thật nhiều cua, bây giờ tôi lại thầm niệm: “Mong rằng đừng ai mua cua về ăn cả. Và cũng đừng ai nhờ tôi xay cua”. Tôi cứ ngồi yên và cầu mong như vậy, trong tôi có một sự đối nghịch rất lớn. Một nửa, tôi mong cho ba bán được hàng nhưng hơn một nửa thì mong đừng ai mua cả. Cho tới bây giờ, tôi vẫn nhớ như in cái cảm giác của ngày xưa ấy. Có một cô ngồi lựa từng con cua sống. Sau đó nhờ tôi rửa, xé mai và xay cua. Tôi đã xé số cua đó trong nước mắt, tôi không dám khóc ra ngoài nhưng nước mắt cứ chảy ngược vào trong, xé cua tới đâu lòng tôi thắt lại tới đó. Tôi thấy thương tôi và thương cả con cua nữa. Tôi không biết làm cách nào cho lòng được an, tôi đành thầm niệm: “Nam mô Đức Bồ tát lắng nghe Quan Thế Âm hãy tha lỗi cho con”, và mong những con cua đó hãy tha thứ cho gia đình. Vì sự sống còn trên Sài Gòn nên chúng tôi mới làm như vậy.

Nhưng khi lên cấp ba, tôi không còn đi bán nữa vì phải học xa nhà, tôi mừng lắm. Sau một thời gian, ba tôi cũng đổi nghề, không còn nhãn hiệu là ông “Tư cua” nữa mà thay vào đó là ông “Tư bắp”. Tôi vui quá, cười ra nước mắt. Tôi thầm biết ơn “Đức Bồ tát” và biết ơn ba đã thấu hiểu tấm lòng của chị em tôi.

Ấm lòng tình cha

Trước khi đi xuất gia, tôi bắt đầu đến chơi và tìm hiểu ba nhiều hơn trước. Nhờ những buổi uống cà phê tại Nét Xưa, tôi mới hiểu thêm một điều là không phải vì ba muốn uống rượu mà vì ba buồn nhiều, không biết chia sẻ cùng ai nên mượn rượu để lãng quên. Ba sống dưới quê quen rồi nên khi lên Sài Gòn không sánh kịp với người thành phố vì ba hiền lành quá. Mẹ tôi phải đứng ra gánh vác và là nguồn kinh tế chính của gia đình, vì mẹ đã từng sống ở Sài Gòn. Qua những buổi chiều cà phê đó, ba đã tâm sự cho tôi nghe rất nhiều về quá khứ của ba. Có những chuyện thầm kín nhất mà ba cũng kể cho tôi nghe. Tự nhiên tôi thấy thương ba tôi quá! Vậy mà hồi nào tới giờ tôi đã trách ba quá nhiều. Kể từ lúc đó, dường như ba bớt uống rượu hơn một chút.

Trước khi lên Bát Nhã tập sự, vào ngày cuối cùng ở nhà, tôi thỏ thẻ với ba: “Ba ơi! Ngày mai ba nghỉ bán được không? Hai tía con mình đi uống cà phê nha ba”. Ba đồng ý liền, tôi vui biết mấy. Sáng sớm, ba chở tôi trên chiếc xe máy thường ngày chở hàng. Tiếng sên bị khô dầu, quét vào máng kêu lộc cộc. Xe chạy rì rì, mỗi lần lên dốc tôi phải thở hồng hộc cùng xe. Tôi chợt nhói tim, nhưng nghĩ sau này ba sẽ đi chiếc xe của mình nên cũng an tâm hơn. Hai cha con ngồi uống cà phê tại một cái quán lụp xụp trước nghĩa trang Bình Hưng Hòa. Bà chủ hay mở nhạc vàng và thỉnh thoảng lại có nhạc Trịnh Công Sơn mà ba thích. Hai cha con ngồi yên chờ cà phê nhỏ giọt, ngắm đường phố, ngắm người qua lại, ngắm sự sống của một đời người. Sương đã giăng đầy vai áo. Mặc dù xung quanh là nghĩa địa nhưng tôi thấy bình an và ấm áp lắm vì biết rằng bên tôi đang có ba. Ngày đó, tôi nói cho ba biết ý định đi xuất gia của tôi. Ba lặng lẽ một lúc rồi nói: “Mấy hôm nay ba biết được tâm ý của con. Con hãy chọn con đường mà con thấy hạnh phúc. Nhưng con nên biết rằng dù con ở đâu thì ba vẫn luôn ở cạnh con”. Thế là nước mắt tôi lại rơi vì chỉ có ba mới hiểu được nỗi lòng của tôi. Trong đại gia đình, ai cũng phản đối việc tôi đi xuất gia, chỉ riêng ba là người duy nhất yểm trợ tôi mà thôi. Câu cuối cùng ba dặn tôi: “Con à! Trong cuộc sống, học hơn người thì dễ nhưng học để thua người thì rất khó. Mình phải nhẫn được những gì mà người khác không nhẫn được thì mới gọi là kiên nhẫn nha con”. Tôi cảm động và thấy ấm trong lòng. Sau đó, tôi tâm sự với ba: “Ba ơi! Một ngày nào đó nếu ba không thấy con ở nhà thì ba đừng lo nhé. Vì lúc đó con đã ở chùa. Có một điều cuối cùng ba giúp con nha ba. Khi con đi xuất gia, ba chăm sóc bàn thờ giúp con nhé. Ba có biết không? Ước mơ lớn nhất của chị em con là mong cho ba bớt uống rượu để gia đình mình được hạnh phúc hơn”. Ba lại im lặng và nhìn vào khoảng không xa xăm. Ba không nói gì nhưng tôi hiểu ba cảm được nỗi lòng của tôi. Tôi nói vậy, vì biết rằng nếu ba không uống rượu thì ba mới thắp nhang lên bàn thờ được.

Lời của con

Thời gian trôi… Sau hai năm đi xuất gia, tôi được mẹ báo một tin vui: “Ba con không còn uống rượu nhiều nữa. Một ngày chỉ uống ba chung (ly) và xem tivi thôi”. Giọt nước mắt hạnh phúc chợt rơi trên má tôi vì đó là ước mơ chung của cả gia đình, mãi tới hôm nay mới trở thành hiện thực. Tôi biết người vui nhất chính là mẹ. Tôi vui vì khi tôi đi tu, ba tôi không còn “tu chai” nữa mà chuyển thành “tu chay”, dù chỉ được 50%.

Giờ đây, tôi cảm thấy sung sướng và may mắn khi tôi được làm “con gái của ông Tư cua”. Tôi chưa bao giờ mặc cảm vì phải bán hàng ngoài chợ, tôi chưa bao giờ mặc cảm vì nhà nghèo hay vì làn da phèn, mốc mốc của tôi. Tôi thấy tôi giàu có vô cùng vì tôi khám phá được kho tình thương mà ba mẹ dành tặng chị em tôi thật bao la vô tận. Cả cuộc đời của ba mẹ lam lũ, cực khổ cũng vì muốn đem đến cho tôi và các em những gì tốt đẹp nhất. Ba mẹ là nơi bình an nhất mỗi khi tôi nghĩ về. Giờ đây, tôi có thể chia sẻ những nỗi lòng ấp ủ này bởi vì tôi ý thức là ba đang còn đó cho tôi. Và tôi muốn gởi tới ba những lời sám hối chân thành: “Ba ơi! Con xin lỗi ba vì có những lúc khờ dại con đã từng giận ba hay đã từng khởi niệm không thích ba. Ai cũng có những góc khuất phải không ba? Con đã không sáng suốt nhận ra mà còn trách ba nữa. Con thấy hối hận vì những ý niệm nhỏ hẹp của con lắm. Ba hãy tha lỗi cho con nghen ba. Kể từ khi đi tu, con mới hiểu những việc âm thầm mà ba đã làm cho gia đình. Con được trở thành người tu như hôm nay cũng nhờ phước đức mà ba mẹ để lại. Con đang đi theo hướng đi của ba. Ba hãy nắm tay con cùng đi ba nhé!”

Con gái thương của ba

Bé Đen của cả nhà

(Chân Hiệp Nghiêm)

Khóa tu An cư kiết thu 2018

An cư là truyền thống của đạo Bụt có từ 2600 về trước, dành cho các vị xuất sĩ trong ba tháng mùa mưa. Ở Ấn Độ vào mùa mưa, việc đi lại gặp nhiều khó khăn, cho nên các vị xuất sĩ đều ở tại tu viện trong ba tháng để tu tập mà không đi ra ngoài và cũng để tránh dẫm đạp côn trùng trên đường đi.

Đã nhiều năm nay, tại Đạo Tràng Mai Thôn chúng cư sĩ được tham dự khoá an cư cùng chúng xuất sĩ. Tu viện đã trở thành ngôi nhà chung, tạo điều kiện cho tất cả những ai có mong muốn tiến xa hơn trên con đường tu tập.

An cư là một cơ hội lớn dành cho các vị xuất sĩ cũng như cư sĩ chuyên tâm đào sâu vào sự thực tập. Cơ hội được tu tập chung với tăng thân sẽ cho mình nhiều điều kiện thuận lợi để chuyển hóa, để chế tác hạnh phúc dễ dàng hơn so với khi tu tập một mình. Năng lượng tập thể của tăng thân có thể giúp mình bước được những bước rất dài trong sự chuyển hóa.

Điều đặc biệt của năm nay là tại Làng Mai Pháp khoá An cư được tổ chức vào mùa thu mà không phải vào mùa đông theo thông lệ. Đây là cơ hội để đại chúng tận hưởng mùa thu đẹp và nuôi dưỡng hạnh phúc của sự trở về.

 

Những điều cần lưu ý khi quyết định tham dự khóa tu An Cư Kiết Thu 2018

 

  • Khóa tu An cư kiết thu năm nay bắt đầu từ ngày 14.09.2018 tới ngày 12.12.2018

Lễ đếm thẻ dự kiến sẽ diễn ra vào tối Thứ Năm, ngày 13/09/2018 và Lễ đối thú khai mạc khóa An cư kiết thu 2018 sẽ vào ngày 14/09/2018.

Lễ tự tứ kết thúc khóa An cư kiết thu sẽ diễn ra vào sáng Thứ Tư, ngày 12/12/2018.

Ngôn ngữ: Tiếng Việt/Tiếng Anh (có phiên dịch trực tiếp)

 

  • Ba tháng an cư là cơ hội vô cùng quý báu để chúng ta đào sâu và làm lớn mạnh sự thực tập của mình. Vì vậy khóa tu này đặc biệt thích hợp đối với những người đã có thời gian tu tập theo pháp môn Làng Mai và có thể tu tập cùng đại chúng trong một tuần hoặc hơn.

 

  • Xin lưu ý rằng trong thời gian an cư, các vị xuất sĩ sẽ dồn hết năng lượng để đào sâu sự thực tập của mình, vì vậy mà cơ hội chăm sóc cho các bạn thiền sinh sẽ không được nhiều như trong những khóa tu mùa xuân hay mùa hè. Chúng tôi xin đề nghị những ai thích có thời khóa nhẹ nhàng hơn và thích có không gian nhiều hơn thì xin tham dự các khoá tu khác.

 

  • Trong thời gian an cư tại Làng Mai, xin quý vị hạn chế sử dụng Internet cũng như việc xuống phố hoặc ra khỏi tu viện để yểm trợ và đóng góp vào năng lượng tu học chung của đại chúng.

 

  • Nếu quý vị tham dự trọn vẹn 3 tháng an cư thì xin đến Làng vào Thứ Ba, ngày 11/09/2018 để có thời gian chuẩn bị trước khi bước vào khóa tu.

Nếu quý vị tham dự với thời gian ngắn hơn thì xin đến Làng vào các ngày Thứ Sáu, sớm nhất là ngày 21/09/2018

 

 

** Dành cho quý vị muốn tham dự trọn vẹn 3 tháng An Cư, xin đăng ký tại đây:

 

https://plumvillage.org/retreats/info/rains-retreat-2018-90-days/

 

**  Dành cho quý vị đăng ký tham dự ít hơn 3 tháng:

 

Xóm Hạ: dành cho phụ nữ độc thân và các cặp vợ chồng

 

Xóm Mới: dành cho phụ nữ độc thân và các cặp vợ chồng

t

 

Xóm Thượng: dành cho nam độc thân và các cặp vợ chồng

 

* Xin đọc thêm thông tin tổng quát khi đến tham khóa tu tại Làng Mai ở đây:

https://langmai.org/cong-tam-quan/toi-tham-lang-mai/thong-tin-chung-ve-khoa-tu-tai-lang-mai

Trên đỉnh non cao

Thầy Pháp Biểu là người Ý, xuất gia năm 2008 trong gia đình Cây Sen Trắng lúc 19 tuổi. Ngoài tiếng mẹ đẻ, thầy còn sử dụng được tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Việt, và rất thích học hỏi chữ Hán để có thể hiểu được kinh điển từ Hán tạng. Dưới đây là bài chia sẻ của thầy về ba bài thơ của Thiền sư Hám Sơn, đời nhà Minh ở Trung Quốc. BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh. Ba bài thơ của Thiền sư Hám Sơn do thầy Nguyên Tịnh chuyển ngữ từ bản chữ Hán.

Chúng ta thường nói rằng giáo pháp là không thể nghĩ bàn, ấy vậy mà chúng ta lại bỏ ra hầu hết thời gian để cố gắng tìm hiểu nó qua ngôn từ và khái niệm. Đôi lúc ta cố gắng quá nhiều nhưng vẫn không nắm bắt được trọn vẹn ý nghĩa của những lời dạy kia. Chúng ta trở nên bực bội và thoái chí. Thế nhưng giây phút nản lòng ấy lại có thể là giây phút mà chúng ta đến gần nhất với sự đột phá, sự giác ngộ. Khoảng cách giữa ta và cái mà ta bấy lâu tìm kiếm có thể chỉ cách nhau một nụ cười! Những ngôn từ mà ta sử dụng để diễn bày giáo lý có thể giúp ta xác định được hướng đi, nhưng nếu không cẩn trọng, ngôn từ có thể nhanh chóng trở thành một chiếc áo mưa dày, ngăn không cho những hạt mưa pháp thấm vào trong tâm ta.

Tôi đoán đây có thể là lý do mà các vị thiền sư thường dạy đệ tử của mình qua văn thơ thay vì qua phương pháp biện chứng khô cứng. Văn thơ được sử dụng để nhắm tới một cái gì đó vượt lên trên ngôn ngữ. Ngôn từ và khái niệm thường được dùng để phân loại, phân biệt sự vật, sự việc và bỏ thực tại vào trong những cái hộp nhỏ cho gọn gàng. Nhưng một người thực tập thiền thực thụ biết rõ rằng thực tại không thể nào gọn gàng như ý muốn của mình và vẻ đẹp đích thực nằm ngay trong bản chất hữu cơ và hỗn tạp của thực tại.

Một bài thơ hay có khả năng giúp chúng ta vượt thoát được giới hạn của ngôn ngữ và đây chính là lý do mà bài thơ ấy không nhất thiết phải có nghĩa. Nó có thể không hợp lý, lạ và không giải thích được, tuy vậy nó vẫn cho chúng ta nếm được kinh nghiệm của tác giả. Kinh nghiệm chính là tinh túy của tất cả mọi truyền thống tâm linh, nhưng nó không bao giờ là cái mà ta nghĩ. Nó thường có tính cách mâu thuẫn và không thể diễn đạt được bằng ngôn ngữ thông thường, vậy thì chúng ta cố gắng nắm bắt nó để làm gì? Có lẽ sẽ hay hơn nếu chúng ta không đi theo lối tư duy thông thường và cùng nhau “phung phí thời gian” để viết, để chia sẻ cho nhau những bài thơ về sự sống. Tôi có cảm giác rằng một khi gánh nặng của lý lẽ được buông xuống, sẽ không còn bất cứ cái gì có thể cột chặt chúng ta xuống đất được nữa.

Ba bài thơ dưới đây do Thiền sư Hám Sơn (1546-1623) sáng tác. Thiền sư là một trong những vị thầy có tầm ảnh hưởng lớn rộng ở Trung Quốc vào thời nhà Minh. Ngài có một niềm đam mê thi ca sâu sắc và đã để lại cho đời hàng trăm bài thơ. Ngài đã dành cả cuộc đời mình cho những thời tham thiền trên núi tuyết và những hoạt động xã hội dấn thân tại các kinh thành lớn. Ba bài thơ này đơn giản phác họa bức tranh cuộc sống của ngài như một ẩn sĩ. Những lời bình mà tôi đưa vào thực ra không có nghĩa gì cả, cho nên bạn cũng không nhất thiết phải hiểu chúng. Lý do duy nhất khiến tôi viết xuống là để thách thức mình tham gia vào một cuộc khiêu vũ ngắn với Thiền sư Hám Sơn. Và mặc dù những bước chân của tôi còn vụng về hơn của ngài rất nhiều, nó đã đem đến cho tôi một niềm vui rất lớn!

平湖冷浸芰荷衣
湖上青山絕是非
塵跡盡消人世遠
白雲鷗鳥總忘機

Tạm dịch:

Hồ yên, lạnh ướp áo sen hòa
Núi biếc in hình bặt thiệt hơn
Sạch dấu phong trần, ngoài huyễn thế
Mây trời chim biển tuyệt băn khoăn.

Tôi thường nhớ về những ngày leo núi Pyrenees, cùng chơi với các huynh đệ giữa mây trắng, núi xanh. Một khi bạn leo lên khỏi độ cao mà cây cối có thể mọc, bạn sẽ được chào đón bởi một không gian lạ kỳ và quyến rũ. Ở đó không khí rất trong lành và các hồ nước đều có một màu xanh thẳm làm bạn tự hỏi rằng không biết nước hồ có bị nhuộm màu hay không. Các vách đá cheo leo vượt lên trên những triền núi mọc đầy cỏ dại. Loại cỏ này mới trông qua có vẻ mềm mại, nhưng nếu ngồi lên, chúng sẽ đâm xuyên qua quần áo và da thịt làm bạn phải nhảy dựng lên. Thỉnh thoảng, một đám mây thình lình xuất hiện bao trùm cả ngọn núi trong một vài phút. Khi đám mây ấy trôi đi, nó để lại vô lượng những hạt nước nhỏ trên các ngọn cỏ, và khi mặt trời xuất hiện trở lại, bạn sẽ thấy mình như đang đứng trên một đỉnh núi châu báu trong kinh Pháp Hoa. Cảnh tượng ấy nguy nga và hùng vĩ đến nỗi gần như bạn có cảm giác hổ thẹn chỉ vì bạn thấy quá thản nhiên. Đối diện với một cảnh tượng như thế, có lẽ là bạn phải hét lên, xé bỏ áo quần và tung mình khỏi mỏm đá cao để bay vào hư vô. Nhưng rốt cuộc, bạn chỉ mỉm cười và tiếp tục bước đi. Mà chẳng phải những đám mây kia cũng luôn làm như thế hay sao?

信歩騰騰任所從
形骸一似雪中松
偶來纔向溪頭立
又逐閒雲過別峰

Tạm dịch:

Vững chân khảng khoát đến muôn trùng
Lão tợ tùng xanh giữa tuyết đông
Vui bước đứng trên đầu ngọn suối
Nhàn theo mây nhẹ vượt cao phong.

Bạn có bao giờ tận hưởng một ngày làm biếng thực sự chưa? Ngay khi thức dậy thật sớm, bạn không dự tính gì cả. Bạn chỉ đơn giản chuẩn bị một bình trà nhỏ và nước nóng để đem theo, và khi đã sẵn sàng, bạn lập tức rời bỏ khung cảnh an toàn của ngôi nhà mình. Nơi bạn sống trước giờ đã đầy ngập những tư tưởng và thói quen của bạn, vì vậy trong cuộc sống hàng ngày, bạn không thể suy tư hay tìm thấy được điều gì mới mẻ. Nhưng giây phút mà bạn đóng cánh cửa sau lưng lại, thế giới phía trước trở thành một sân khấu nơi những phép lạ bất chợt có thể hiển lộ. Dòng suối đang chảy êm đềm là một thi sĩ tài tình có thể làm mê hoặc bạn với nhiều mẩu chuyện khác nhau, đám mây trắng là một người bạn cũ mà bạn phải xa lìa trong quyến luyến. Khi bạn bước đi trong không gian thiên nhiên, bạn nên học hỏi từ rừng cây và muông thú. Đừng mang theo cái bản ngã con người nặng nề của bạn vì nó sẽ chỉ làm bạn thêm mệt nhọc mà thôi. Tin tôi đi, bạn sẽ không cần sử dụng nó đâu. Hãy làm một thân cây ở giữa những thân cây khác, hoặc một luồng gió giữa trời đông. Nếu bạn hỏi: “Tôi phải làm điều này như thế nào?” thì bạn sẽ chẳng đi đến đâu cả. Nhưng nếu cứ làm thì bạn sẽ cảm nhận trong hình hài mình có một loại tuệ giác không ngờ tới. Tôi tin chắc rằng ít nhất thì bạn cũng có thể để cho đôi chân bạn làm hướng đạo và đưa bạn đến bất cứ nơi nào chúng thích. Điều này nghe hơi lạ, nhưng đôi chân gần trái tim hơn là cái đầu của bạn!

雪壓衡門夜擁爐
此身雖寄恰如無
不知曰月從何去
回首人間巳

Tạm dịch:

Đêm giữ bếp hồng mặc tuyết xông
Thân tuy trao gởi thoảng như không
Chẳng hay ngày tháng từ đâu đến
Nhìn lại nhân gian, năm đã cùng.

Thời gian và không gian va vào nhau và nổ tung ra thành hàng triệu mảnh. Một tia sáng du hành hàng tỉ năm từ bên kia vũ trụ và đáp xuống mặt đất trước khi nó khởi hành. Tôi không còn có thể cảm nhận một cách thông suốt những gì đang xảy ra, có phải đây là ngày đầu tiên tôi đến trường, ngày tôi thế phát xuất gia hay là ngày tôi lìa đời? Khi tôi đặt lưng xuống giường, có phải đó chỉ là một buổi nghỉ trưa hay là tôi đang thở những hơi thở cuối cùng? Tôi quyết định rằng nếu tâm tôi là một họa sư thì tôi sẽ đặt họa sư ấy vẽ một bức tranh toàn những ngọn đồi xanh thẳm, những cánh đồng hoa hướng dương vàng rực và một bầu trời xanh biếc. Tôi sẽ bảo tâm tôi họa thêm một cái gì đó bất ngờ ngay phía sau những cảnh kia để cho cuộc sống của tôi không bao giờ buồn tẻ. Tôi cũng sẽ bảo tâm tôi làm cho tất cả mọi vật đều sống động và có tâm hồn, để dù phải đi cùng trời cuối đất, tôi cũng sẽ không bao giờ cảm thấy cô đơn. Chim chóc, cây cối và những cơn gió đều sẽ trở thành pháp lữ của tôi.

Đâu có nghĩa lý gì nếu chỉ họa những cảnh tối tăm và xám xịt, những chiếc áo mưa, cà vạt, xe cộ chỉ để làm tròn bổn phận đối với xã hội? Khi chúng ta nằm trên giường hấp hối thì cái xã hội mà chúng ta theo đuổi một cách trung thành có đến an ủi, vỗ về chúng ta không? Trên con đường tu học, đôi lúc tôi gặp phải những chuyện không đâu. Chúng dường như không có một chức năng gì đặc biệt, ngoại trừ việc làm cho cuộc sống của tôi thêm lạ lùng và thú vị. Nhiều lúc ngồi thiền định, tôi thấy hình hài mình là một thực thể đầy bất ngờ như thế. Nó có đó nhưng mỗi khi tôi tập trung quán chiếu vào những giới hạn của nó thì nó lại biến mất như thể chưa từng có mặt. Nó như là một đám mây hơn là một pho tượng đồng và tuy nó dung túng cái tánh đam mê làm ông chủ của tôi, khi nó cần cái gì thì nó sẽ có bằng được cái ấy, dù tôi có thích hay không. Nếu tôi có thể làm bạn với hình hài của mình và chỉ cần nhớ lắng nghe người bạn này hơn một chút thì cuộc sống của tôi sẽ đỡ phức tạp hơn rất nhiều!

Mùa hè 2018

Mùa hè tại Làng Mai đang biểu hiện cùng với những đóa sen hồng thắm và tiếng cười vang của em thơ.

Mỗi tuần của khóa tu mùa hè, Làng Mai đón gần 1000 thiền sinh từ nhiều quốc gia với 15 ngôn ngữ khác nhau về tu học.

Lướt trên những con sóng lừng

Sư cô Hài Nghiêm, người Pháp, xuất gia năm 2008 tại Làng Mai. Sư cô hiện đang sống và tu tập tại Trung tâm Làng Mai Thái Lan. Sư cô là một vị xuất sĩ rất có tâm huyết với người trẻ. Sư cô đã về Làng Mai để giúp hướng dẫn chương trình dành riêng cho các em thiếu niên trong bốn tuần lễ của khóa tu mùa Hè vào tháng 7 năm 2017. Bài viết sau đây là những cảm nhận của sư cô về khóa tu ấy.

Sau khóa tu mùa Hè, một số sư cô hướng dẫn chương trình thiếu niên (teen program) đã cùng ngồi uống trà với nhau ở xóm Mới. Mấy chị em vừa thưởng thức ly trà thơm, vừa ngắm vẻ đẹp của hồ sen nở muộn cuối tháng tám. Những lá sen bắt đầu ngả màu nâu và rất nhiều đài sen đã khô gợi ý tưởng cho việc trang trí vào mùa Giáng sinh sắp tới. Dù các đóa sen không còn to nữa, mùa hè vẫn còn đang hiện diện. Con không biết các sư chị, sư em có thường nghĩ đến những gì vừa xảy ra trong bốn tuần lễ cùng sinh hoạt tu tập với các em teen nữ trong khóa tu mùa Hè hay không. Hay là cũng giống như con, những hình ảnh, âm thanh, cảm thọ mà mình có đã phần nào phai nhạt, bởi vì nhóm các em teen nữ cuối cùng đã rời Làng vào ba tuần trước. Từ lúc đó đến thời điểm chúng con ngồi uống trà đã có bốn khóa tu phong phú khác diễn ra rồi.

Những gì diễn ra trong mùa hè năm 2017 đã để lại trong lòng con một ấn tượng vô cùng sâu sắc. Con cứ nhắc đi nhắc lại với chính mình và với những người khác là khóa tu mùa Hè vừa qua đã đem lại cho con rất nhiều chuyển hóa, nhiều nuôi dưỡng trong không khí đầy ắp thương yêu và niềm vui sâu lắng. Chương trình dành cho các em teen nữ mang tên “Wise Wild Waves”, tạm dịch là “Những ngọn sóng lừng đầy tuệ giác”. Một cái tên mới tuyệt làm sao. Nhóm hướng dẫn chương trình bao gồm các sư cô (Phú Nghiêm, Chuyên Nghiêm, Tại Nghiêm, Trăng Linh Dị và con) cùng với các bạn tình nguyện viên đã chọn cái tên đó.

Không biết khi nào và tại sao hình ảnh của sóng đã hình thành trong ý tưởng của chúng con. Có thể vì chúng con muốn chuyển tải cho các em thông điệp của Sư Ông: “Hãy là chính ta, ta mới đẹp” (“Be beautiful, be yourself”) trong cái nghĩa là một ngọn sóng không cần phải đi đâu để tìm nước, bởi sóng chính là nước. Vì vậy cái tên Sóng thật là thích hợp với các em tuổi thiếu niên. Và những ngọn sóng lừng (nguyên văn “wild waves” là những ngọn sóng hoang dã), chính là những ngọn sóng chưa thuần nhưng rất khỏe mạnh được người trượt sóng ưa chuộng nhất. Ngọn sóng lừng có tuệ giác là vì em biết dù em có lên xuống bao nhiêu lần đi nữa, em vẫn chính là nước, là một phần của đại dương mênh mông bất tuyệt. Em biết em không cần phải trở thành một cái gì khác mới có hạnh phúc. Chúng con không hề nghi ngờ một chút nào về sự tuyệt vời và thích hợp của cái tên ấy cho chương trình teen, dù khi đó chưa có em teen nữ nào đến cả.

Sư cô Phú Nghiêm thật sự là một họa sĩ và một nhà trang trí nội thất tài năng. Sư cô đã vẽ một bức tranh tuyệt đẹp minh họa một em teen nữ đang lướt trên một lượn sóng thân thiện với rất nhiều con cá xinh xinh bơi lội cùng với những sinh vật biển khác.

Một khoảnh khắc dễ thương khác mà nhóm chúng con có trước khi các em đến là lúc các chị em cùng đi chơi với nhau tại một nhà thờ gần xóm Mới. Ngồi trên lan can của nhà thờ nhìn xuống có thể nhìn thấy toàn cảnh ở phía dưới thung lũng vùng Dieulivol. Màu vàng trên những cánh đồng hoa hướng dương đã thấp thoáng đây đó, dù là hoa chưa nở rộ, dòng sông Dropt nhìn xa trông như một con rắn uốn lượn, chỉ có thể định hình được nhờ các hàng cây dọc bờ sông.

Sư cô Tại Nghiêm, người tình nguyện chăm sóc chương trình thiếu niên liên tiếp bốn năm qua lúc nào cũng có mặt để làm phấn chấn tâm ban đầu của tất cả mọi người. Sư cô đã rất tự nhiên mời chúng con chia sẻ cảm nghĩ và hoài bão của mình khi tham gia vào cuộc “phiêu lưu” này. Ngoài ra mọi người cũng trao đổi về những thử thách, những lo lắng, suy tư bên cạnh niềm hứng khởi trước một viễn cảnh vui tươi trong mấy tuần hướng dẫn các em tu tập sắp đến. Dù chỉ mới gặp nhau có mấy ngày nhưng tình chị em dường như đã được vun bồi và lớn dậy làm con tin tưởng tới một nghìn phần trăm là chương trình sẽ rất thành công.

Có lúc con tự vấn mình: sao mình lại có thể chắc chắn đến như vậy? Mình không nhớ đến những giây phút khó khăn đã đi qua hồi trước hay sao? Mình không nhớ có khi mình còn không muốn ra gặp và hướng dẫn các em sinh hoạt khi có chuông thời khóa hay sao? Đúng vậy, con vẫn nhớ như in những thời khắc đó, nhưng không, con không còn sợ hãi nữa. Trái lại nữa là đằng khác, con náo nức mong đến lúc gặp gỡ các em và cha mẹ của các em.

Đã nhiều năm qua, chúng con biết điểm nhấn quan trọng nhất của mỗi tuần là buổi thực tập pháp môn Làm mới giữa các em và cha mẹ. Sinh hoạt này thường diễn ra vào ngày gần cuối của mỗi tuần trước khi các em và phụ huynh rời Làng, môi trường thực tập chung của gia đình. Buổi thực tập đó thường là buổi đáng nhớ nhất nên tất cả mọi người ai cũng biết là mình cần chuẩn bị thật kỹ càng. Trên thực tế, sự thực tập làm mới đối với tự thân, tổ tiên, người thương, gia đình, xã hội hay cả với hành tinh của chúng ta nữa, thường xảy ra trong suốt khóa tu chứ không phải chỉ ở buổi sinh hoạt Làm mới mà thôi. Thực tập tiếp xúc với giây phút hiện tại, đem thân về lại với tâm trong sự hòa điệu với hơi thở ý thức; dần dần hiểu được mối quan hệ mật thiết giữa khổ đau và hạnh phúc là trải nghiệm trực tiếp trong việc chăm sóc chính mình của các em và các bậc cha mẹ. Ý này đã được Thầy tóm lược bằng một vòng tròn có một mũi tên vẽ ngược vào trong, và trong bức thư pháp Lối ra tùy thuộc đường vào nội tâm.

Vì vậy, khi thiết kế chương trình sinh hoạt tu tập mỗi tuần, chúng con đã dành một thời hướng dẫn tổng quát đặc biệt cho cha mẹ (hoặc những người bảo hộ cho các em) để khuyến khích họ thường xuyên hỏi han các em, quan tâm đến các buổi sinh hoạt của các em (bởi vì phần lớn các sinh hoạt tu tập của các em đều không cùng với phụ huynh) và chuẩn bị sẵn sàng hai bước đầu tiên của thực tập Làm mới: Thứ nhất là thể hiện niềm trân quý đối với những điểm đẹp của con mình, nếu có thể được thì viết một bức thư và làm sẵn một món quà bằng những vật liệu thiên nhiên. Món quà này thể hiện những phẩm chất đẹp mà cha mẹ trân quý ở con. Thứ hai là xin lỗi con nếu mình đã có lúc hành xử không khéo léo hay không chánh niệm đối với con.

Song song đó, chúng con cũng dành cho các em một buổi đặc biệt để giới thiệu phương pháp thực tập Làm mới. Trong buổi sinh hoạt đó, chúng con cho các em rất nhiều thời gian để các em chia sẻ riêng với nhau về liên hệ với tự thân và với cha mẹ. Ngay sau buổi này là một buổi làm thủ công hay mỹ thuật để các em có thể bắt đầu viết thư, vẽ tranh hoặc làm một món quà cho cha mẹ.  

Có một em gái tên N. đến Làng trong tuần thứ nhất của mùa hè, đó cũng là lần đầu tiên em đến Làng. Cha em đã về Làng vào mùa hè năm trước với người chị sinh đôi của em. N. kết bạn rất dễ dàng với các em gái người Pháp khác. Có thể thấy là em rất thích khóa tu. Khi con được một sư cô báo cho biết là em không muốn tham dự buổi thực tập Làm mới, con đã đến gặp em để hỏi thì em bảo: “Dạ, thú thật là con rất ngại đến đó”. Vì vậy, con đề nghị em cứ đến tham dự nhưng em và cha không cần phải làm mới trong buổi đó, em chỉ cần có mặt trong khi các em khác và phụ huynh chia sẻ với nhau thôi.

Một số em đã tham dự khóa tu trong những năm trước còn nhớ Làm mới là một thực tập có rất nhiều cảm xúc. Có khi phải dùng đến một vài hộp khăn giấy để lau nước mắt. Vì vậy vòng tròn làm mới được các em mệnh danh là “Vòng tròn nước mắt”. Dĩ nhiên là các em này đã “báo động” làm hạt giống lo lắng trong các em mới tới bị tưới tẩm ít nhiều. Đó là trường hợp của N. Sau này con được biết là vào mùa hè năm trước, cha của N. đã quá xúc động đến nỗi không nói được câu nào để tưới hoa cho chị gái của N., dù là hai cha con rất thương nhau.

Đêm đó, khi nhóm các em gái người Pháp thực tập làm mới với gia đình, không khí rất ấm áp, bình an và vui tươi. N. đến ngồi cạnh một người bạn gái trong khi cha em ngồi ở phía bên kia của vòng tròn. Con thấy không ai là không thoải mái, kể cả N. Em rất chú ý lắng nghe khi mọi người chia sẻ, chẳng hạn như khi một ông bố nói về rất nhiều điểm đẹp ở đứa con gái 13 tuổi của ông. Trên tay ông là một nắm sỏi được trang trí thật đẹp để thể hiện sự dũng cảm, cái đẹp, tính rộng rãi và hay quan tâm chăm sóc của con gái. Ông lại có một nắm sỏi khác không có trang trí để bày tỏ là ông còn biết rất nhiều điểm đẹp không đếm xuể khác mà ông chưa phám phá ra, hoặc chưa được hoàn toàn thể hiện ở con mình.

Con tin rằng N., cũng như chính con, đã cảm động khi nghe những chia sẻ của một em gái tên M. và mẹ của em. Hai mẹ con ngồi trong vòng tròn và mở lòng ra với nhau một cách rất là tha thiết. Khi mẹ của M. nói: “Con là một người trẻ rất đặc biệt. Con rất dũng cảm khi là chính con, con không cố gắng để trở thành một người khác. Mẹ sẽ yểm trợ con đi trên con đường của chính con” thì không những M. rơi nước mắt mà rất nhiều người khác cũng khóc. Con không thể rời đôi mắt nhòa lệ của mình khỏi những người con gái trẻ tuổi rất đẹp ấy. Cái đẹp của sự tiếp nối và tự do của những người phụ nữ của cả hai thế hệ đang cố gắng vươn lên.

Con không thể không cảm thấy mình quá may mắn khi giữa mẹ con và con cũng có được mối quan hệ yểm trợ không điều kiện ấy, mặc dù khi con ở vào lứa tuổi của M., hai mẹ con chưa bao giờ ngồi tưới hoa cho nhau như thế.

Mỗi năm trôi qua, con lại càng ý thức rõ rệt hơn về sức mạnh của các buổi Làm mới đối với các gia đình có con tuổi teens. Sức mạnh này có được đơn giản là vì tất cả các gia đình cùng ngồi lại chứ không phải chỉ giữa thành viên của một gia đình ngồi riêng với nhau mà thôi. Sự gắn bó giữa các em với nhau đã lên đến đỉnh điểm nên các em đã có thể mở lòng ra với nhau và với cả những người lớn nữa. Thật là không thể tưởng tượng được và không thể nào quên được. Đó là một việc rất quý báu và hiếm hoi trên cõi đời này. Ai cũng nhận ra rằng đó thật sự là một cơ hội quá tuyệt vời. Dù cho một số cha mẹ và các em biết rằng mình sẽ phơi bày chỗ yếu dễ tổn thương của mình ra nhưng họ vẫn bước bước chân thần kỳ ấy, bởi kết quả của sự thực tập sẽ chữa lành những vết thương một cách không thể nghĩ bàn.

Đó là lý do tại sao vào cuối buổi Làm mới tối hôm ấy, cha của N. đã quyết định phải thử làm mới với con gái. Ông lấy một cành hoa từ chậu hoa trang trí rồi bước sang ngồi đối diện với N. Vừa mới bắt đầu mở lời ông đã khóc và không thể nói thêm gì được nữa. N. cũng khóc. Người cha ngồi thêm một vài giây nữa rồi xin vị chủ tọa thỉnh một tiếng chuông giúp ông trở về với hơi thở ý thức để làm lắng dịu cảm xúc. Sau tiếng chuông, với những nụ cười đồng cảm, chúng con chuyền hộp khăn giấy đến cho hai cha con. Hai người không nói thêm lời nào nữa. Tuy nhiên, trong khoảnh khắc ấy, cánh cửa trái tim của hai cha con đã trở nên rộng mở.

Sau giờ phút đó, con được biết là có rất nhiều điều giữa hai cha con đã được giải tỏa. Tối hôm sau, chúng con tổ chức cho các em sinh hoạt vòng tròn trên đồi mận trước khi khóa tu kết thúc. Hôm ấy, tất cả mọi người được mời chia sẻ một điều tuyệt vời nhất mà mình đã trải nghiệm trong một tuần tu tập ở Làng. Con đã rất ngạc nhiên và vui mừng khi N. chia sẻ không ngần ngại khoảnh khắc tuyệt vời nhất của em chính là lúc cha em đến với em trong buổi thực tập Làm mới. Điều đó có nghĩa là nỗi sợ hãi lớn nhất của em về thực tập Làm mới (làm lúc ban đầu em không muốn đến) giờ đã hóa thành niềm hạnh phúc sâu lắng nhất.

Sự thần kỳ kế tiếp là vào ngày N. rời xóm Mới, cha em đã ở lại để đón người chị sinh đôi của em tên là M. Và điều tuyệt vời chắc chắn phải xảy ra, đó là khi thực tập làm mới với M., người cha đã có thể nói thành lời, dù là trong nước mắt. Ông nói về lòng tri ân và sự ân hận của mình với M., nhưng đồng thời, cũng chính là với cả gia đình. Nhờ đó, ông đã làm sáng tỏ một số hiểu lầm đã từ lâu mang nặng trong trái tim của M.

Một lần nữa con lại khóc… và con đã khóc suốt cả bốn tuần vì cảm động bởi các em và gia đình không chỉ đơn thuần là những gia đình bình thường, họ đã trở thành những người bạn thân thiết, là gia đình của con, là chính bản thân con… Khi trái tim của họ mở ra thì trái tim của con cũng mở ra. Em bé, em teen trong con, mẹ và bà ngoại trong con đã thực sự được trị liệu về tất cả mọi mặt, chỉ nhờ con và các em đã có mặt cùng nhau thật hết lòng.

Những dòng chia sẻ này được viết ra khi khóa tu mùa Hè kết thúc đã được ba tuần. Thực ra chúng con thấy rằng không thể đo đếm thời gian bằng cách tính theo tuần được nữa. Bởi vì sự tiếp xúc với bao nhiêu thế hệ của thiền sinh và sự thực tập của họ đã làm nên con người của chúng con. Cũng bởi vì tất cả những người lớn hay trẻ em mà chúng con tiếp xúc đã trở thành một phần rất đẹp của chúng con. Vì vậy có thể nói rằng tháng 7 năm 2017 đã được làm nên bởi tổng số 4000 người đến thực tập trong bốn tuần lễ của khóa tu mùa Hè tại Làng Mai.

Nhắn nhủ

Bạn là khu vườn nhỏ

Tôi là nắng ngoài sân

Khu vườn im lìm thở

Nắng vòng quanh, vòng quanh

Đời muôn màu muôn hướng

Sao lại chọn thanh bần

Có chi trong nhịp thở

Mà lòng vui vô ngần?

Cuộc sống là đổi thay

Đâu cũng vào đó cả

Ngại chi lời qua lại

Cứ hiểu bằng tim mình

Tôi gọi về cây khế

Trong vườn xưa nhẹ lay

Nhớ chí ai hừng hực

Gánh sơn hà trên vai

Bạn đi tìm ý sống

Tôi trở về nơi mình

Lục tìm trong thăm thẳm

Những vốc nắng lung linh

Càng đi qua tháng năm

Tôi càng mong ngây dại

Cứ ngơ ngơ thế đó

Đời vậy thôi! Trong lành

Nhắn nhủ nhau thế nhé

Để tuổi trẻ tự nhiên

Để dáng hình tôi, bạn

Tan vào cõi vô biên.

(Chân Pháp Khả)

Vô ngã là tinh hoa của đạo Bụt

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 22.11.2012 trong khoá An cư kiết đông 2012-2013)

https://www.youtube.com/watch?v=WDaf2h-qaXY&list=PLMG8i-w8rYWnQwMqNdHmmdlkWMk7fI74o&index=6

Chánh kiến đầu tiên là tuệ giác vô thường, và vô thường đưa tới vô ngã. Ngã là một cái gì tồn tại hoài hoài, nó mãi mãi vẫn là nó. Nếu có cái ngã thì em bé không thể lớn lên được, nhờ có vô ngã nên em bé trở thành người lớn. Không có vô thường, vô ngã thì em bé không thể trở thành một thiếu nữ xinh đẹp. Không có vô thường, vô ngã thì hạt bắp luôn luôn là hạt bắp, hạt bắp không thể trở thành cây bắp. Vô thường rất hay, nhờ vô thường mà sự sống có mặt, mà vô thường chính là vô ngã.

Ngã là tự tánh, em bé không có tự tánh nhưng đó không phải là một tin buồn, tại vì nếu có tự tánh thì em bé không thể trở thành một cô thiếu nữ hay một chàng thanh niên. Không có tự tánh là không có một cái gì thường tại bất biến, mà ngã là cái thường tại bất biến. Đã chấp nhận vô thường là một sự thật thì ta cũng phải chấp nhận vô ngã. Hiện nay khoa học đã chấp nhận vô thường nên một ngày nào đó chắc chắn khoa học sẽ chấp nhận vô ngã.

Những khám phá khoa học gần đây cho ta thấy rằng vô ngã là một sự thật. Ví dụ như óc ta có hàng tỷ tế bào (neuron), nhưng không có tế bào óc nào làm chủ để ra lệnh, sai khiến. Những tế bào thông tin với nhau nên khi một tư tưởng phát sinh thì đó là thành quả của tất cả neuron. Các nhà khoa học thần kinh nói rằng bộ óc của con người giống như một dàn nhạc, trong đó mỗi nhạc sĩ đều đang sử dụng một nhạc khí mà không có nhạc trưởng. Cơ thể của ta được làm ra bởi biết bao nhiêu là tế bào, mà không có tế bào tự xưng là ông chủ.

Các khám phá khoa học đã chứng minh và xác nhận vô thường-vô ngã là một sự thật, nhưng vấn đề là ta có áp dụng được tuệ giác vô thường-vô ngã đó vào trong đời sống hằng ngày để ta bớt khổ hay không? Thực tại là vô thường, vô ngã mà ta cứ nghĩ nó là thường, là ngã thì ta khổ, ta vô minh. Vấn đề không phải là câu nói mà vấn đề là có áp dụng được câu nói đó vào đời sống của mình hay không.

Mưa đã là rơi, sự có mặt của mưa là rơi. Gió đã là thổi, sự có mặt của gió là thổi. Sự có mặt của cái bàn là công dụng của cái bàn. Chúng ta đã học trong 44 bài kệ thắng nghĩa rằng: Các pháp không tác dụng, sự có mặt của các pháp chính là công dụng của nó.

Triết học Trung quốc nói: Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử. Chủ từ và chủ từ là một. Cha mà không làm cha thì không phải là cha. Vua phải đích thực làm vua, dân phải đích thực làm dân, cha phải đích thực làm cha, con phải đích thực làm con. Quân quân là vua làm vua, thần thần là dân làm dân, phu phụ là cha làm cha, tử tử là con làm con. Sự có mặt của ta chính là hành động của ta. Mỗi một danh từ đều là động từ, vì vậy ta không cần phải có một chủ từ nằm ngoài động từ, không cần có một tác giả nằm ngoài tác nghiệp.

Chúng ta nghĩ rằng phải có một cái ngã thì mới thoát khỏi luân hồi và đi vào Niết bàn. Không có ngã thì ai thoát luân hồi, ai vào Niết bàn? Không có ngã thì ai thấy, ai nghe, ai tu, ai tạo nghiệp và ai tiếp nhận quả báo? Không có ngã thì ai thấy, ai hiểu được Phật pháp? Thầy A Nan dạy: Nếu một người, trong khi tiếp xúc mà không bị kẹt vào xúc, không đứng trong cái kẹt đó và thấy không cần có một cái ngã thì người đó thấy được sự thật tức là người đó thấy pháp và hiểu pháp. Khi những điều kiện có đủ thì tự nhiên sự vật biểu hiện và khi những điều kiện không đủ nữa thì hiện tượng đó không còn. Ta không cần vai trò của một cái ngã.

Bụt nói: Khi những điều kiện có đủ để cái khổ phát sinh thì khổ phát sinh, khi những điều kiện có đủ để cái khổ tiêu diệt thì cái khổ tiêu diệt, không có chủ thể nào đứng ra chủ trương làm cái khổ phát sinh hay tiêu diệt. Đó là câu khó nhất trong kinh Trung Đạo Nhân Duyên: Người đời vì bị kẹt vào trong các cảnh giới của nhận thức cho nên tâm họ bị ràng buộc. Nếu một người không tiếp nhận, không nắm bắt và không đứng trong cái kẹt ấy, không kế độ và chấp vào một cái ngã thì người ấy sẽ thấy khi điều kiện có đủ để cái khổ sinh thì cái khổ sinh và khi có đủ điều kiện để cái khổ diệt thì cái khổ tiêu diệt, trong đó không cần phải có một cái ngã và không cần phải có những ý niệm có và không, những ý niệm có và không không thể áp đặt vào được.

Này Kātyāyana, người ấy không còn hồ nghi gì nữa, không bị phiền não nào sai sử nữa và cái thấy ấy không do ai trao truyền mà chỉ tự mình tự biết. Cái thấy ấy gọi là chánh kiến, cái mà Đức Như Lai đang nói đến.

Không cần phải có một chủ thể, khi điều kiện có đủ thì sự vật biểu hiện và khi điều kiện không còn đủ thì sự vật tiêu diệt. Sự giải thoát cũng như thế. Người ta cứ nghĩ rằng có một cái ngã đi luân hồi, đi vào thân xác này rồi đi ra khỏi thân xác này để đi vào một thân xác khác và đi vòng vòng như vậy. Đó là quan niệm về luân hồi của Bà la môn giáo, của Áo Nghĩa Thư. Đạo Bụt không công nhận quan niệm đó, nhưng trong đạo Bụt có người chưa thấy được vô ngã nên tin vào luân hồi có màu sắc của Bà la môn giáo hơn là Phật giáo. Vì chưa học đủ, chưa được khai thị nên ý niệm về luân hồi, về nghiệp, về quả báo của chúng ta vẫn còn mang nặng chất liệu của Bà la môn giáo. Bà la môn giáo tin vào một cái ngã.

Tuy đạo Bụt có tiếp thu giáo lý về nghiệp, về luân hồi và về báo nhưng giáo lý và sự hành trì của đạo Bụt về nghiệp, về luân hồi và về báo rất khác với Bà la môn giáo. Chúng ta phải hiểu luân hồi, nghiệp và báo dưới ánh sáng của vô ngã: “Có sự liên tục, có nghiệp, có luân hồi, có quả báo nhưng không cần có một cái ngã”. Nước có thể luân hồi thành nước đá, nước đá có thể luân hồi thành mây, mây có thể luân hồi thành dòng sông, có một sự liên tục với nhau nhưng không cần có một cái ngã, một cái ta bất di bất dịch mới có thể luân hồi. Câu “ gieo bắp thì được bắp, gieo đậu thì được đậu“ rất đúng nhưng không cần phải có một cái ngã. Đạo Bụt chủ trương: Khi các điều kiện đầy đủ thì hạt bắp trở thành cây bắp và trái bắp mà không cần phải có một cái ngã trong đó.

Bài kệ thắng nghĩa đầu tiên chúng ta đã học năm ngoái có câu:

Không hề có chủ nhân

Không kẻ làm người chịu

Các pháp không tác dụng

Dù chuyển dụng chẳng không.

Không có người gây ra nghiệp, không có người thọ nghiệp nhưng nghiệp vẫn có. Khi điều kiện đủ thì tự nhiên có nghiệp, khi điều kiện hết thì nghiệp cũng không còn mà không cần phải có một cái ngã trong đó. Vô ngã là tinh hoa của đạo Bụt. Trong cộng đồng của Đạo Bụt có biết bao nhiêu người, mà người hiểu được pháp và chứng ngộ thì rất ít. Phần lớn đều là những tín hữu và cái hiểu của họ còn vướng mắc vào ý niệm ngã rất nhiều. Nhưng chúng ta phải để cho họ đi từ từ. Muốn hiểu được Bụt ta phải thấy được vô ngã. Có những người tự xưng là Bụt nhưng chất Bụt của họ còn ít mà chất Bà la môn thì nhiều. Tu tập từ từ thì càng ngày chất Bụt càng nhiều và niềm tin vào ngã, vào thần ngã và sự mê tín càng bớt đi.

https://youtu.be/WDaf2h-qaXY

Kệ truyền đăng trong khoá tu 21 ngày 2018 “Tri kỷ của Bụt”

Trong khoá tu này, tăng thân Làng Mai đã có lễ truyền đăng cho 26 vị tân giáo thọ cư sĩ đến từ nhiều nước trên thế giới (14 – 15.6.2018)

1. Tiếp hiện True Shining Bodhicitta 

(Scott Schang, Mỹ)

The sun of insight shines in every realm
Indestructible is the seed of bodhicitta
The sound of the rising tide heals all wounds
Every step restores the life of mother earth.
2. Tiếp hiện Chân Niệm Đức

(Denise Ségor, Mỹ)

The source of mindfulness is a seed

Nurtured in mind’s earth by virtue’s rain

Harmonizing different voices

The future Buddha is the sangha.

3. Tiếp hiện True Holy Heart

(Bill Woodall, Mỹ)

Nature itself is silent and holy

Always clear of ideas of right and wrong.

Living in the world heart undisturbed

A pillar to hold the sangha-body.

4. Tiếp hiện Chân Phúc Hải

(Bruce Nichols, Mỹ)

Navigating the deep Dharma ocean

The boat of merit, lighthouse of wisdom

Teach the practice with the Dharma-body,

Accept, embrace, listen to suffering.

5. Tiếp hiện  True Wondrous Joy

(Diane Little Eagle, Mỹ)

Land ancestors are here wonderfully

In the joy of the grass, width of the sky.

Suffering, the mud, awaits compassion.

Strong and solid we grow lotus flowers.

6. Tiếp hiện   True Spiritual Peace

(Michele Tae, Mỹ)


Sacred 
eyes see that emptiness is form

Drops of  peace fall gently on all around

Complexes dissolve where there is true love

The Dharma continues for times to come.

7. Tiếp hiện  Chân Giác Dụng

(Margret de Backere, Đức)

How wonderful that the tree is there:

The tree itself is the tree’s function.

We awaken to life’s miracle

Our true home is the present moment.

8. Tiếp hiện Chân Bích Trì

(Caitlin Bush, New Zealand)

The emerald stream wends its way through life

Reaching the lake of true understanding.

Look at its water! All is reflected.

Inclusiveness dissolves all complexes.

9. Tiếp hiện  True Precious Eyes

(Phil Stein, Mỹ)


Precious
is the time spent with young people

Eyes able to look at all with love.

The muni does not need to shun the world

And enters the door of mindful action.

10. Tiếp hiện  Chân Thường Đức

(Theresa Payne, Vương quốc Anh)


Ever-present
the miracle of life.

Indestructible the virtue of love.

Being there with the breath for another

Will reveal the truth of interbeing.

11. Tiếp hiện  Chân Nhã Hương

(Tineke Spruytenburg, Hà Lan)


Graceful
is the practice of the Dharma

The incense of the heart is lit for all

Being able to adapt as needed

Brings all beings to the shore of freedom.

12. Tiếp hiện Chân Tăng Lực

(Valerie Brown, Mỹ)

In the true Sangha is the true Buddha.

The power of cutting through afflictions

comes from the power of understanding.

All bow down in the spirit of oneness.

13. Tiếp hiện True Silent Faith

(Rick Sonnenberg, Mỹ)

Silent the sunrise over the mountain

Giving faith in the miracle of life.

Looking deeply we are able to heal

Conflicts that have arisen, large or small.

14 Tiếp hiện   Chân An Sơn

(Vivien Ephraimson Abt, Mỹ)

The clouds that gather around the mountain

Are the peace that the Dharma doors offer.

The gentle flow of the breath is music

That ennobles the sangha far and wide.

15. Tiếp hiện   True Solid Practice

(Angie Searle, Vương quốc Anh)

Solid are the footsteps that caress the earth.

Cultivating our mind is the practice.

Taking care of this ancestral body

We honour four objects of gratitude.

16. Tiếp hiện Chân Trú An

(Greg Gallo, Mỹ)

Right mindfulness is the safest abode.

Right view is the source for peace in the world.

Coming back to our true home, mother earth

We care for the future generations.

17. Tiếp hiện Chân Linh Giải

(Sheila Canal, Mỹ)

The spiritual path is limitless love;

Understanding that removes division.

Together we advance a global ethics

To lessen the suffering of the world.

18. Tiếp hiện  Chân Hạnh Bi
(Ava Avalos, Botswana)

Right action goes hand in hand with right view.

The rain of compassion waters good seeds.

Looking into the eyes of suffering,

Self and other dissolve into oneness.

19Tiếp hiện Chân Nguyên An

(Josselyne Letort-Vanel, Pháp)

Stopping to look deeply you see the source,
From which comes peace now and for the future.
Spring flowers of the heart can bloom afresh.
The gifts of the Dharma are falling rain.
(French translation )
T’arrêtant pour regarder profondément tu vois la source
D’où vient la paix de maintenant et pour le futur.
Les fleurs printanières peuvent à nouveau éclore
Les cadeaux du Dharma sont la pluie qui tombe.
20. Tiếp hiện Chân Hương Đạo

(Christiane Terrier, Pháp)

Fragrant is the incense of the heart.

It turns the endless path to joy.

Faith always gives rise to inner strength.

Birth and death are no obstacle.

(French translation )

Parfumé est l’encens du coeur

Le chemin éternel se transforme en joie

De la foi s’élève la force intérieure

Naissance et mort ne font plus obstacle.

21. Tiếp hiện Chân Nguyên Ngôn

(Serge Letort, Pháp)

La nature en soi est silencieuse

Une parole apporte le bonheur à tous les êtres

Pratiquer la parole aimante au quotidien

C’est comprendre et aimer en action.

(English translation )

Nature by itself is silent

One word brings happiness to all beings.

Practicing loving speech in daily life

Is understanding and love in action.

22Tiếp hiện Chân Trí Viên

(Dominique Le Moine, Pháp)

Trí tuệ như gương trong

Viên mãn tựa trăng rằm

Tâm từ bi trải rộng

Hỷ lạc luôn hanh thông.

La sagesse est comme un pur miroir

Reflétant la perfection telle la pleine lune

La compassion est partout présente

Joie et bonheur se manifestent à chaque moment.

23Tiếp hiện Chân Nguyên Lạc

(Jack Bertho, Pháp)

Sur le Chemin où me ramènent mes pas la lune brille

Tout le paysage intérieur et alentour scintille d’une joie originelle

La présence de nos frères et de nos sœurs tel un sourire

Fait s’épanouir la fleur de cet instant précieux .

24. Tiếp hiện Chân Ân Đạo

(Juan Gregorio Hidalgo Ruiz, Tây Ban Nha)

The pathis in the depths of consciousness

Nourishing gratitude since childhood years.

Once the transmission has been received

There is no more need to search for it.

El camino está en las profundidades de la conciencia

Nutriendo la gratitud desde la infancia.

Una vez que la transmisión ha sido recibida

No hay más necesidad de buscarla.

25. Tiếp hiện Chân Bảo Giang

(Rosa María Serrano Salcedo, Tây Ban Nha)

Precious is this lifetime on Mother Earth

When the river of the sangha holds us.

Joyfully accepting the gifts of Dharma

Our heart brims to the full with gratitude.

Preciosa es esta vida sobre la Madre Tierra

Cuando el río de la sangha nos sostiene.

Aceptando alegremente los dones del Dharma

Nuestro corazón rebosa de gratitud.

26Tiếp hiện Chân Bảo Sơn

(Luis Del Val Martinez, Tây Ban Nha)

Each moment a precious eternity
The jewelled mountain is always there.
Why wait another day to touch the truth,
Whose message is found in clouds and rain?

Cada momento una preciosa eternidad
La montaña enjoyada siempre está ahí.
¿Por qué esperar otro día para tocar la verdad,
cuyo mensaje se encuentra en las nubes y la lluvia?

Chánh kiến – trái tim của đạo Bụt

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai trong khóa An Cư Kết Đông 2012-2013)

Chánh kiến là trái tim của đạo Bụt

Nền tảng thực tập giáo lý đạo Bụt không dựa trên niềm tin về luân hồi, về nghiệp và quả báo. Trái tim của đạo Bụt dựa trên một cái thấy rất sáng về Bốn sự thật, cái thấy đó là chánh kiến. Cái thấy đó rất sâu, ta phải đạt được bằng thiền quán. Niệm và định càng vững chãi thì cái thấy càng sáng.

Tuệ, có khi còn được gọi là chánh kiến   (right view, la vue correcte) tức là cái thấy đúng. Có cái thấy đúng thì tư duy của ta sẽ đúng gọi là chánh tư duy . Muốn có cái thấy đúng chúng ta phải thực tập chánh địnhchánh niệm. Sự thực tập trong đạo Bụt bắt đầu từ chánh niệm, chánh định và từ đó sẽ phát khởi ra chánh kiến. Đạo đức học của đạo Bụt căn cứ trên cái thấy sáng và đúng.

Thân, khẩu, ý là nghiệp

Phải có cái thấy đúng thì ta mới tư duy đúng và hành động đúng. Có cái thấy đúng (ý) thì ta có lời nói (ngữ) đúng tức chánh ngữ , hành động (thân) đúng tức chánh nghiệp . Thân, khẩu, ý là sự tạo nghiệp. Trong một ngày chúng ta tạo không biết bao nhiêu là nghiệp, nghiệp lành hay nghiệp dữ. Nếu phát khởi tâm niệm tha thứ, thương yêu thì ta tạo nghiệp tốt, còn nhưng nếu phát khởi tư tưởng giận hờn, hận thù, chán đời thì ta tạo nghiệp xấu. Mỗi ngày ta tạo nghiệp, nhưng nghiệp không có nghĩa là xấu. Nghiệp có thể tốt, có thể xấu.

Mỗi ngày chúng ta nói, viết thư hay gửi e-mail. Những điều chúng ta nói, viết có thể là nghiệp tốt hay nghiệp xấu. Những điều mình nói hay viết có thể làm cho mình và cho người khác có hạnh phúc.

Chúng ta sử dụng thân của mình để hành động. Hành động của cơ thể mình có tính cách bảo hộ, cứu độ, che chở thì đó là nghiệp tốt. Nếu hành động đó có tính cách phá hoại, giết chóc, tàn hại thì đó là nghiệp xấu. Thân, khẩu, ý là ba mặt của hành động.

Chiếc đũa thần chánh kiến

Thường thì chúng ta nghĩ rằng ta chỉ có thể làm hạnh phúc cho người khi ta có nhiều tiền, khi ta là triệu phú vì nếu có nhiều tiền thì ta có thể ban phát cho người. Ta mơ làm vua hay làm tổng thống, vì nếu có quyền trong tay thì ta có thể ban ân huệ cho người. Ta nghĩ nếu có tiền bạc, quyền lực, danh vọng thì ta có thể làm hạnh phúc cho mình và cho người khác. Đó là sự mê tín, tại vì nhìn chung quanh chúng ta thấy nhiều người có tiền bạc, quyền hành, danh vọng nhưng họ rất đau khổ và không giúp được cho ai. Chúng ta cảm thấy khó thở tại vì ta không có hạnh phúc và không làm được hạnh phúc cho người khác.

Nhưng theo giáo lý Tứ thần túc thì khác. Trong điều kiện của ta hiện bây giờ, dù không có một thước đất cắm dùi, dù không có trương mục hàng triệu đô la, ta vẫn có thể làm hạnh phúc được cho người khác. Ngay bây giờ và ở đây ta có thể làm phép thần thông. Ta là một bà tiên với chiếc đũa thần, ta có thể làm hạnh phúc cho người khác ngay bây giờ và ở đây. Khi người kia hạnh phúc thì ta cũng hạnh phúc. Người kia là ai? Người kia đang ở gần đây hay là đang ở bên Mỹ, đang ở Việt Nam? Mình có thể làm cho người đó hạnh phúc bằng cách phát ra một tư tưởng của sự tha thứ và thương yêu, có chất hiểu và thương. Mình đã từng phát khởi một tư tưởng thương, tha thứ để tư tưởng ôm lấy người kia hay chưa? Hay là mình chỉ tiếp tục trách móc người đó? Sở dĩ mình chỉ trách móc, hờn oán mà không thương, không đùm bọc, che chở được người đó là tại vì mình không có chánh kiến.

Chánh kiến là thấy được nỗi khổ niềm đau của người đó, nếu thấy được thì tự nhiên mình hết giận người đó. Mình muốn nói hay làm điều gì đó để người đó bớt khổ. Có được tư tưởng đó đã là một phép lạ, nó làm cho mình khoẻ ngay. Mình có thể gọi điện thoại hay viết một lá thư trong đó đầy tràn những lời hiểu biết thương yêu. Khi nói hay viết ra những lời như vậy thì mình rất khoẻ và người đó cũng khỏe khi nghe hay đọc những lời đó. Đó là phép lạ mà mình có thể làm được ngay bây giờ. Mình hãy làm ngay trưa hôm nay đi! Ngồi ăn cơm mình hãy nghĩ tới người đó, người đó có bao nhiêu là bế tắc, hệ lụy, khổ đau mà lâu nay không được ai giúp. Thấy được như vậy là mình có chánh kiến.

Có cái thấy đúng thì tự nhiên mình tư duy đúng. Tư duy đúng là tư duy có chất liệu hiểu và thương và khi chất liệu hiểu và thương được chế tác ra là ta cảm thấy khoẻ ngay. Một tư tưởng tha thứ, thương yêu, đùm bọc làm cho ta hết bệnh trong thân cũng như trong tâm. Nó là một năng lượng chữa trị mà ta được thừa hưởng trước cả người kia. Nhờ có tâm niệm thương yêu, tha thứ mà ta có thể và làm những điều giúp cho người kia bớt khổ ngay trong ngày hôm nay. Chỉ cần năm phút nhìn cho sâu để thấy được nỗi khổ niềm đau của người đó thì ta đã phát khởi được một tư tưởng từ bi. Đó là một phép lạ!

Ta ngồi xuống viết một là thư hay ta thở rồi điện thoại nói một câu thì tình trạng có thể thay đổi liền lập tức. Đó là gì nếu không phải là một phép lạ? Ta không cần phải có 100 triệu đô la trong trương mục, hay làm bộ trưởng, tổng thống mới có thể làm phép lạ. Với con người phàm này của ta, nhưng nếu có chất thánh ở trong thì ta đã có thể làm được phép lạ ngay bây giờ, ta có thể làm bà tiên hay ông tiên ngay trong ngày hôm nay. Mình phải thực tập cái gọi là bố thí, hiến tặng. Mình rất giàu nên mình phải thực tập hiến tặng (dāna), tiếng Anh là generosity. Vì trái tim của mình nhỏ bằng trái sim nên mình không thể làm hạnh phúc cho người kia. Bây giờ ta làm cho trái tim của mình lớn ra. Trước tiên là ta chấp nhận được mình. Trong chúng ta có người không tự chấp nhận được mình. Ta tự trách móc, khinh khi mình. Trái tim chúng ta nhỏ quá nên ta không tự thương được mình. Và nếu ta không thương được chính mình thì làm sao ta có thể thương được người khác?

Muốn làm cho trái tim lớn lên thì ta phải có cái thấy, thấy những nỗi khổ niềm đau của chính mình. Thấy được thì tự nhiên thương được. Thấy được nổi khổ niềm đau của chính mình thì mình thấy được nỗi khổ niềm đau của người kia. Vì vậy cái thấy rất quan trọng, nó có thể thay đổi tư duy của mình, khiến mình nghĩ, nói và làm những điều đưa đến hạnh phúc ngay lập tức. Trái tim của mình phải có lượng lớn (capacity) gọi là tâm lượng . Trong Truyện Kiều Kim Trọng nói: Lượng xuân dù có hẹp hòi, có nghĩa là cô hãy mở lòng ra để thương tôi. Một vị bồ tát là một người có tâm lượng rất lớn. Trong kinh, bài chúc tán ngày mồng một có câu ca ngợi Bụt Thích Ca:

Tâm bảo thái hư

Lượng châu sa giới

“Tâm bảo thái hư” có nghĩa là trái tim của Bụt ôm trọn cả thái hư. “Lượng châu sa giới” có nghĩa là lượng của Ngài bao trùm hết cả tam thiên đại thiên thế giới. Nếu có tâm lượng lớn, ta sẽ có rất nhiều không gian. Tâm lượng của mình có lớn hay không là do mình có cái thấy hay không. Tất cả nền đạo lý Phật giáo được xây dựng trên nền tảng gọi là tuệ giác (prajña) tức là cái thấy. Trên cái thấy đó chúng ta dựng lên sự thực tập chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp. Thực tập như thế thì chúng ta có hạnh phúc và có thể đem hạnh phúc cho người ngay lập tức.

Ta có thể làm phép lạ ngay bây giờ và ở đây nhờ ba chiếc đũa thần mà chiếc đũa thần đầu tiên là tư duy của ta. Ta có khả năng phát khởi ra một tư tưởng tha thứ và muốn giúp người, khi đó ta cảm thấy khoẻ và sự trị liệu thân tâm xảy ra liền. Tuy ta chưa làm gì cả nhưng người kia cũng đã bắt đầu hưởng được, tại vì những gì xảy ra trong ta có ảnh hưởng đến thế giới ngay lập tức. Ta có tư tưởng đen tối, hận thù thì thế giới sẽ tối sầm lại ngay. Nếu tư tưởng đó là từ bi, chấp nhận, thương yêu thì thế giới sẽ sáng lên lập tức.

Ta phải nhớ rằng không phải là ta không có quyền lực. Quyền lực chính trị, danh vọng hay tiền tài chưa phải là quyền lực thật sự, vì chúng có thể làm cho người ta hệ lụy, khổ đau. Nhưng ta có sức mạnh của thương yêu (the power of love). Trong ta có hạt giống của hiểu biết, từ bi. Nếu biết tiếp xúc với những hạt giống đó thì tự nhiên ta có được năng lượng thương yêu. Ta không có tiền, không có địa vị, quyền hành trong xã hội nhưng ta có quyền lực rất lớn là quyền lực thương yêu. Ta có quyền thương yêu mình và thương yêu người khác. Và mình có thể thực hiện được điều đó ngay ngày hôm nay. Sự thực tập hơi thở và bước chân có thể làm cho quyền lực thương yêu lớn lên.

Ngoài chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chúng ta có chánh mạng 命tức phương tiện sinh sống chân chánh và chánh tinh tấn . Đó là bát chánh đạo tức con đường chuyển hóa khổ đau và đưa tới hạnh phúc. Đó mới là cốt tủy của giáo lý đạo Bụt mà không phải là giáo lý luân hồi, nghiệp hay quả báo. Tài năng của Bụt không phải ở chỗ sáng tác ra giáo lý về luân hồi, nghiệp và quả báo. Tài năng của Bụt là phát khởi ra và đưa cho chúng ta một con đường. Đó là con đường bát chánh dựa trên cái thấy Tứ diệu đế tức Bốn sự thật. Cái thấy này là cái thấy về Tứ đế .

Bắt đầu từ giờ phút này quí vị, người xuất gia cũng như tại gia, đừng nên có mặc cảm, đừng nghĩ là mình không có quyền năng (helpless). Với niệm, định chúng ta có thể có được cái thấy, trước hết là thấy được khổ đau của mình. Hiểu được khổ đau của mình thì tình thương trào lên và mình chấp nhận được mình. Hiểu được khổ đau của mình rồi thì tự nhiên mình hiểu được khổ đau của người khác. Mình không còn buồn, giận, trách móc nữa. Mình muốn làm, muốn nói điều gì đó cho người đó bớt khổ. Chuyện đó có thể xảy ra ngay trong ngày hôm nay. Chúng ta đừng có mặc cảm là mình bất lực. Chúng ta có quyền lực, quyền lực của thương yêu. Khả năng của thương yêu dựa trên khả năng của hiểu biết, trước hết là hiểu khổ đau của chính mình và sau đó là hiểu khổ đau của người khác. Bắt đầu hôm nay chúng ta sẽ hành xử như một bà tiên hay một ông tiên có khả năng làm hạnh phúc cho mình và cho người khác. Chúng ta đừng chờ đợi một lực lượng bên ngoài. Trái tim của đạo Bụt là chánh kiến. Chánh kiến làm cho con người trở thành một vị Bụt, một người phàm trở thành ra một vị thánh. Tất cả sự thực tập trong đạo Bụt đều nhắm tới mục đích duy nhất là có được cái thấy (chánh kiến).

Chánh kiến là tuệ, là sự nghiệp của người tu

Chánh kiến (right view) là cái thấy đúng, xác thực. Louis de la Vallée Poussin, một học giả người Bỉ, đã dịch chữ chánh kiến là la bonne vue, nhưng bây giờ người ta dịch chữ chánh kiến là la vue juste.

Chánh kiến là cái thấy đúng với sự thật. Sự thật có hai tầng:

  • tầng thứ nhất là sự thật ước lệ tức thế tục đế.
  • tầng thứ hai là sự thật tuyệt đối tức thắng nghĩa đế.

Khi Đức Thế Tôn dạy “chánh kiến là một cái thấy vượt thoát có-không“ thì đó là chánh kiến thuộc thắng nghĩa đế. Câu nói “có sinh, có diệt, có có, có không, có người, có ta“ cũng là một loại sự thật, nhưng là sự thật ước lệ. Chánh kiến là tuệ 慧 (insight), là một cái thấy trực tiếp, là một trực giác không đi ngang qua lý luận, suy tư. Cái thấy trực tiếp là sự chứng ngộ được biểu hiện ra khi chúng ta có đủ chánh định và chánh niệm.

Tuệ là cái quan trọng nhất đối với người tu, là cái mà ta tìm cầu đêm ngày. Tuệ là sự nghiệp của người tu. Trong kinh như kinh Bát Đại Nhân Giác tức kinh Tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân có câu: Duy tuệ thị nghiệp (惟 慧 是 業). Tuệ là sự nghiệp mà ta đeo đuổi trong cuộc đời. Ta chỉ lấy trí tuệ để làm sự nghiệp của đời mình. Người đời thường chạy theo danh vọng thì danh là sự nghiệp của họ:

“Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông.” (Nguyễn Công Trứ)

Những doanh thương thì chạy theo sự giàu sang, sự nghiệp của họ là một gia tài đồ sộ; còn đối với những ông tướng thì sự nghiệp của họ là một cuộc chiến thắng vẻ vang. Sự nghiệp của người tu là tuệ, tại vì tuệ đem tới tự do, hạnh phúc. Ngày xưa trường đại học Vạn Hạnh ở Việt Nam do tôi góp sức tạo dựng lúc đầu đã lấy bốn chữ duy tuệ thị nghiệp làm phương châm sống và hành trì cho học tăng.

Chánh kiến đưa tới chánh tư duy

Khi có chánh kiến thì tất cả tư duy của ta là chánh tư duy 正 思 惟 (right thinking). Chánh tư duy là tư duy đưa tới tuệ , tới hiểu và thương, giúp cho ta bỏ đi những kỳ thị, so sánh, lo lắng, sợ hãi. Tư duy có hai phần: tầm 尋 (vitarka) và từ 伺 (vicāra).

Tầm, tiếng Phạn là vitarka. Khi có sự tiếp xúc ví dụ như mắt ta tiếp xúc với sắc, tai ta tiếp xúc với âm thanh, ý ta tiếp xúc với pháp, mũi tiếp xúc với mùi hương thì trong đầu ta phát sinh ra những ý niệm gọi là tưởng (notion), tiếng Phạn là samjñā. Tưởng là những hạt rất nhỏ như những hạt bụi, những hạt bụi nhỏ đó kết lại thành tư tưởng (thinking). Mắt ta xúc chạm với sắc làm sinh những cái tưởng, tai ta xúc chạm với âm thanh sinh ra những cái tưởng, hình hài ta xúc chạm với cảm xúc làm sinh ra những cái tưởng.

Tầm là bắt đầu suy nghĩ, bắt đầu kết hợp những cái tưởng lại với nhau, giống như những nguyên tử bắt đầu kết hợp lại để làm ra vật chất. Vật chất có những nguyên tử rất nhỏ, còn tâm linh có những cái tưởng rất nhỏ. Những cái tưởng đó phát sinh ra từ xúc tức là từ sự xúc chạm giữa sáu căn với sáu trần. Những nguyên tử kết hợp lại thành chất này hay chất khác, còn những cái tưởng kết hợp lại thành tư duy, tức tầm và từ. Các nguyên tử (atom) tới với nhau làm ra những phân tử (molecule), và những phân tử kết hợp lại với nhau làm thành vật chất (cell, tissue). Những cái tưởng kết hợp lại với nhau thành những tầm (initial thinking), và khi tầm đi sâu hơn nữa thì có sự phân biệt, so sánh, ước đoán gọi là Từ 伺 (discussive thinking)

Tầm và từ được ví như con ong tới thăm một bông hoa. Khi con ong vừa đáp xuống bông hoa thì gọi là tầm (initial thought), tư duy còn đang ở giai đoạn khởi đầu, chưa có sự phân biệt, so sánh. Đến khi con ong đi khám xét bông hoa để lấy được phấn hoa thì gọi là từ. Trong đầu của chúng ta luôn luôn có những nguyên tử, tâm của ta được làm bằng những hạt rất nhỏ gọi là tưởng. Những hạt tưởng tới với nhau làm thành tầm (initial thinking). Khi tầm đi sâu hơn, so sánh, ước lượng, tưởng tượng thì gọi là từ (discussive thinking). Một bên là vật chất còn một bên là tinh thần, vật chất thì do những hạt nguyên tử rất nhỏ làm ra và tinh thần thì do những hạt tưởng rất nhỏ làm ra. Trong một giây trong đầu của ta phát ra không biết bao nhiêu là tưởng. Tưởng do xúc và thọ làm phát sinh ra.

Xúc (sparśa), tiếng Anh là contact. Sự xúc chạm giữa sáu căn và sáu trần tạo ra những cảm thọ (vedanā). Và xúc, thọ tạo ra tưởng. Xúc cũng có thể tạo ra sự chú ý gọi là tác ý (manaskāra), tiếng Anh là attention. Ví dụ như đang suy nghĩ lung tung thì ta nghe có tiếng chuông, tai ta xúc chạm với tiếng chuông. Tự nhiên ta chấm dứt sự suy tư và tác ý tới tiếng chuông. Chú ý tới tiếng chuông, ta buông bỏ suy tư, nhiếp tâm vào hơi thở và thiết lập lại thân tâm trong giây phút hiện tại. Tác ý đó gọi là như lý tác ý tức là tác ý tốt (yoniso-manaskāra), tiếng Anh là appropriate attention. Nghe tiếng chim hót, tiếng thông reo, thấy hoa nở hay thấy một người bạn tu đang đi là những như lý tác ý. Nếu chú ý tới những cái làm cho tâm mình loạn, mình mất tự chủ, mình giận, mình buồn, mình sợ hãi, mình bị vướng mắc, thì đó là phi như lý tác ý (anyoniso-manaskāra), tiếng Anh là inappropriate attention. Người tu phải thực tập như lý tác ý để đừng bị kéo theo những cái không có lợi cho sự tu học của mình.

Ban đầu có những cái tưởng do sự xúc chạm, sự chú ý và do cảm thọ làm phát sinh ra. Những cái tưởng đó tới với nhau làm thành tầm và từ. Và chúng ta có thể đi tới một quyết định tức là 思 (cetanā), tiếng Anh là volition. Tư là ước muốn, ta quyết định chạy theo, quyết định chiếm đoạt hay quyết định lìa bỏ. Tác ý, thọ, tưởng đưa tới tư duy (thinking), và tùy theo tư duy đó là chánh tư duy (right thinking) hay là tà tư duy (wrong thinking) mà ta phản ứng khác nhau.

Ví dụ như khi ta xúc chạm với những cái không như ý mình thì ta thấy bực, ta giận, ta muốn tẩy chay cái đó, ta muốn bỏ chạy hay muốn trừng phạt. Đó là tư, tức là quyết tâm của ta muốn phản ứng lại, như chạy theo, hay trừng phạt, hay bám lấy. Nhưng nếu có niệm, định, tuệ xen vào thì ta sẽ có một thái độ khác. Người đó nói một câu hay làm một hành động không dễ thương, nhưng nếu ta thấy và hiểu được thì tự nhiên ta không còn có ý muốn bỏ đi, muốn trừng phạt hay trả thù mà ta muốn nói một câu gì, làm một điều gì đó để cho người kia bớt khổ. Tư (volition), xúc (contact), thọ (feeling), tưởng (notion, perception), tác ý (attention) là những hạt tâm lý luôn luôn có mặt trong bất cứ giờ phút nào của đời sống hằng ngày.