Thư gửi người thương

THƯ GỬI NGOẠI

Bà ơi, khi nghe tin bà đang hấp hối thì con trở về thực tập cho có nhiều bình an để yểm trợ cho bà trong giờ phút lâm chung. Con đang thở và cũng mời mười phương chư Bụt, chư vị Bồ tát cùng thở những hơi thở cuối đời với bà. Con đang ở quá xa nên không về được để tiễn bà, nhưng tấm lòng của con luôn hướng về bà cũng như về ông. Con thấy mình thật may mắn và có nhiều phước đức khi được làm cháu của bà, bà đã dạy cho con cách sống, làm một con người có đạo đức, biết hiểu, biết thương và biết giúp đỡ người khác khi họ đang gặp hoạn nạn, khó khăn. Đó là giá trị của một con người, không thể nào dùng tiền bạc để mua được, là tình thương bao la mà ông, bà và ba má đã dạy cho con. Bà ơi, bà thấy không? Cậu, mợ, dì, dượng, ba, má và con cháu hiện đang có mặt cho bà đó. Nhờ có tình thương của bà mà con cháu mới có được ngày hôm nay. Ngồi đây, con nhớ rất nhiều kỉ niệm đẹp của hai bà cháu mình ngày xưa. Con sẽ mang những gì đẹp nhất đi vào tương lai. Những giọt nước mắt đã rơi xuống để xót thương bà, để tỏ tấm lòng hiếu thảo của mình, nhưng khóc lóc gợi cho người ta nhiều ưu sầu quyến luyến thì làm sao bà ra đi nhẹ nhàng được? Cho nên, con sẽ cùng với gia đình mình biến những giọt nước mắt từ tấm lòng hiếu thảo thành tình thương và tiếp tục niệm Bụt cầu nguyện cho bà được về chốn an lành. Hiệu lực cầu nguyện của gia đình, dòng họ sẽ giúp bà trong lúc này. Đó là món quà quý giá nhất chúng con kính gởi đến bà.

Bà ngoại ơi, không có bất cứ thứ gì có thể ngăn cách được tình thương và tấm lòng hiếu thảo mà con dành cho bà và dòng họ. Sự ra đi của bà là bài học thương yêu cho chúng con. Sự mất mát lớn lao này sẽ là cơ hội cho tất cả mọi người mở rộng lòng chấp nhận nhau, giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, buông bỏ những tri giác để cho những hiểu lầm được hóa giải, để ai cũng được nhẹ nhàng hơn trong cuộc sống hiện tại.

Bà ơi, con nhớ nhất là nụ cười hiền lành của bà cũng như lòng từ bi mà bà đã dành cho con cháu, dù con cháu đã tạo cho bà nhiều buồn tủi. Bà ơi, con cùng cả nhà sẽ đưa bà đi về tương lai sáng đẹp hơn. Tuy xa xôi nhưng nếu năng lượng thương yêu và bình an có mặt thì con cũng được gần bà. Quý sư cô ở đây đã làm lễ cầu siêu cho bà rất ấm cúng và bình an. Con nguyện cầu cho bà được an lành và thảnh thơi!

Con và bà sẽ gặp nhau trong từng giây phút. Mình có trong nhau.

Cháu của bà, bé Hiếu

(sư cô Chân Vượng Nghiêm)

THƯ GỬI MẸ

Trước khi viết những dòng này, con đã ngồi yên lặng rất lâu để dòng suy nghĩ lắng xuống nhường chỗ cho cảm xúc dâng lên. Có gì đó nghẹn lại ở sống mũi rồi đi lên mắt làm cay và đỏ mắt con, khi con cảm nhận lòng biết ơn.

Những năm tháng qua, người cho đi nhiều nhất là mẹ và người lấy đi nhiều nhất là con. Vậy mà chưa bao giờ con nhận ra điều này. Cho đến hôm nay, khi suy nghĩ đã chín chắn hơn và đã biết cách nhìn sâu, con nhận ra, suốt những năm tháng qua con chưa từng một lần biết ơn mẹ sâu sắc.

Tình thương của người con đối với mẹ mình, chỉ trở nên sâu sắc và nồng ấm, khi người con hiểu được những hy sinh mà mẹ đã dành cho mình. Cách hy sinh của mỗi bà mẹ khác nhau, nhưng đều phát khởi từ tình thương. Mẹ sinh con ra từ yêu thương, chăm sóc con bằng yêu thương, lo lắng cho con bằng yêu thương, dạy dỗ con bằng yêu thương, la mắng con cũng bằng yêu thương… Mẹ chưa bao giờ nói ra những điều này. Vì mẹ không phải là người giỏi dùng từ ngữ để biểu đạt những điều trong lòng mẹ, mẹ đã chọn sự hy sinh thầm kín.

Nếu hôm nay con không hiểu những điều này thì mẹ cũng không bận tâm. Vì những gì mẹ đã làm và hy sinh cho con không phải để đổi lấy một điều gì đó từ con, nên mẹ không cần con phải hiểu. Mẹ luôn làm một cách tự nhiên… Nhưng không có nghĩa là mẹ không buồn, không tủi. Vì mẹ cũng như con, nếu con cần tình thương thì mẹ cũng cần tình thương và sự chăm sóc.

Con sẽ sống chậm lại và tỉnh thức hơn mỗi khi về thăm mẹ, để tận hưởng cảm giác “con vẫn còn có mẹ”. Giờ đây đối với con, mẹ là gia tài quý nhất, là hạnh phúc đích thực!

Con của mẹ,

Hùng Phạm

MỖI KHI NHỚ VỀ…

Thầy kính thương,

Chuyện cũ kể lại:

“…

– Nè con, sau này về quê, con sẽ chọn nơi nào để làm trung tâm tu học?

– Thưa Thầy, dạ tăng thân ở đâu con ở đó ạ.

– Con nè, mình không mơ tưởng về tương lai nhưng mình có thể hoạch định cho tương lai đó con”.

Thầy ơi, câu nói của Thầy đã khai thị và mở ra cho con cái thấy mới.

Chuyện mới đây thôi:

Khoá tu mừng năm mới 2018 đã đi qua nhưng dư âm như vẫn còn  đâu đây trong con.

Năm nào khoá tu cũng diễn ra sau ngày Giáng sinh, từ 27 tháng 12 đến ngày mồng 2 tháng Giêng. Năm nay, số thiền sinh đến tham dự khoá tu vào ngày cao điểm nhất đã lên đến ba trăm người. Ba trăm người không phải là nhiều so với các khoá tu trong mùa hè, bởi mùa hè không khí ấm áp, mọi người có thể cắm lều ở ngoài nếu không còn chỗ trong phòng để đăng ký. Còn mùa đông, khi khách đến tham dự khoá tu, nếu hết phòng thì đành khoá sổ, vì khi bên ngoài nhiệt độ đã âm thì không thể cắm lều. Khoá tu năm nay có rất nhiều người tham gia từ đầu cho đến cuối. Hai dãy lầu lớn lúc nào cũng chật ních người vì mọi người không thể ra ngoài như mùa hè. Tuy trong nhà nhưng tất cả đều thực tập an trú, tĩnh lặng từng bước chân.

Khoá tu đã để lại trong con bao cảm xúc, yêu thương… Những buổi pháp đàm là cơ hội cho con thêm hiểu biết về đời sống, tâm lý, gia đình và xã hội bên ngoài. Mỗi người có thể chia sẻ sự thực tập chuyển hoá cảm xúc, khổ đau và nuôi dưỡng tình thương, hạnh phúc trong mình. Con đã thực sự được đánh động và nuôi dưỡng đời tu của mình với ý thức là mình đang có một tăng thân cùng đi, cùng thở, cùng ăn cơm… trong chánh niệm mỗi ngày. Con không phải lăn lộn, vật vã, khổ đau nhiều với bao chuyện hơn thua, phải trái của cuộc sống. Con không phải để dành các ngày nghỉ lễ, không cần lên lịch để dành thời gian tham dự khoá tu như quý thiền sinh cư sĩ bên ngoài. Bởi vì chúng con là người xuất sĩ, đang nuôi dưỡng đời sống tỉnh thức mỗi ngày, đang cùng nhịp bước với mỗi sư anh, sư chị và các sư em ở xung quanh.

Trong khoá tu, mỗi lần vài vị thiền sinh để cho nỗi khổ niềm đau của mình lăn dài theo giọt nước mắt là mỗi lần con xúc động, bởi cuộc đời quá nhiều bế tắc, khổ đau.

Ngày thứ nhất về Học viện, các vị thiền sinh còn hối hả trong mỗi bước chân, gương mặt căng thẳng và thiếu nụ cười… Nhưng đến ngày thứ hai, thứ ba, rồi thứ tư… thì nỗi khổ đau đã tan biến, khi các vị đã thực tập tưới tẩm để những hạt giống lành của mình trỗi dậy, bước chân đã nhẹ, đã yên hơn. Các vị học hỏi được kinh nghiệm thay chốt, thay đĩa CD đang hát bài hát đứt ruột của mình bằng đĩa CD mới mang âm hưởng nhẹ nhàng – tĩnh lặng hơn.

Sáng nay, ngày quán niệm tại Học viện như thường lệ, con như đang trở về những năm trước khi con cùng ở với đại chúng tại Làng Mai Pháp. Đại chúng đang nghe pháp thoại của Thầy từ DVD, nhìn bình hoa sen được trang trí một cách thanh thoát, nhẹ nhàng, con rất xúc động. Nhớ về mỗi khoá tu mùa Hè, trong con đi lên rất nhiều hạnh phúc; khoá tu mùa Hè ở Làng thật như ngày hội. Hôm nay trong giờ nghe pháp thoại, con đã để cho mình trở về quá khứ một chút khi có nhiều tiếng chim, tiếng con nít nói cười cùng lúc vọng ra từ đĩa DVD pháp thoại. Con nhắm mắt lại để cho mình đi về một khoá tu mùa Hè đầy năng lượng của những năm trước. Nhìn bình hoa sen trước mặt Thầy, con để cho mùi hương sen năm nào từ tàng thức mình bay trở lại. Cứ mỗi ngày Thầy cho pháp thoại trong khoá tu mùa Hè, chúng con lại thay nhau hái sen để chưng lên bục giảng của Thầy, khi thì sen hồng, khi thì sen trắng hoặc sen vàng… thật là thích. Con nhớ có lần hai huynh đệ chúng con đi Happy Farm ở Tây Hồ để hái sen lên chưng cho kịp giờ pháp thoại, vì hai anh em con thiếu cẩn trọng, nên đã bị té xuống hồ ướt nhem ướt nhẹp…

Buổi pháp thoại hôm nay đi qua cũng như khoá tu năm mới đã đi qua cách đây một tuần trước. Con biết rằng mỗi giây phút đều mầu nhiệm, sẽ là thiên thu nếu mình biết tiếp xúc thật sâu sắc. Dư âm của khoá tu qua những lời chia sẻ của mọi người hay hương thơm của hoa sen trên bục giảng pháp thoại của Thầy, hoặc lời Thầy khai thị cho con sẽ là thiên thu bất tận, sẽ đẹp mãi và nuôi dưỡng đời sống xuất gia của con. Mỗi khi có khó khăn trong sự thực tập, dư âm và hương sen ấy sẽ nuôi dưỡng con và sẽ thay đổi hoàn cảnh của khó khăn trong hiện tại.

“Có những niềm riêng

Mỗi khi nhớ về

Ngập tràn tình thương

Có những niềm riêng

Mỗi khi nhớ về

Ngập tràn nuôi dưỡng…”

Học viện Vô Ưu (Asoka)

Chủ nhật, 07 tháng 01 năm 2018

Con của Thầy,

Chân Pháp Tuyền

Thư gửi sư cô – cựu Y chỉ sư của con!

Sư cô thương kính!

Đọc thư sư cô gửi về con rất hạnh phúc. Niềm tin mà sư cô đặt nơi con, con sẽ lấy đó để thực tập. Cần có niềm tin nơi chính mình thì con mới vượt thoát được những rào cản để đi tới trên con đường này, phải không thưa sư cô? Con đang đầu tư cho con trong sự thực tập và thở sao cho đúng. Hơi thở là cái cốt lõi, là quan trọng mà con thấy con chưa thuần được nên con phải đầu tư thêm thôi, con cũng đã có những tiến bộ nho nhỏ trong việc ngồi thiền đó sư cô ạ. Thật là có nhiều điều con muốn chia sẻ với sư cô lắm lắm.

Để con kể sư cô nghe chuyện của cây Sồi Đỏ, những cựu y chỉ muội của sư cô đó. Chị em chúng con ở đây càng ngày càng thân nhau, đi đâu, làm gì cũng đều xúm xít chơi với nhau. Sư chị cả mở lòng ra rất nhiều, thương các em, chơi với các em, mấy chị em nhỏ nhỏ chúng con cũng đến được nhiều hơn với sư chị cả. Chị em con cũng từ từ thương nhau hơn, hiểu nhau hơn và cảm thông nhau nhiều hơn.

Thời gian một năm qua cho con thấy thêm nhiều điều về bản thân mình. Tuy con cũng còn mít ướt chút chút như thường, nhưng mà càng ngày con khóc càng có “chất lượng” hơn, con biết được vì sao con khóc. Con không còn khóc mỗi khi chia sẻ trước khi đi thiền hành nữa mô sư cô ạ. Nhớ lại ngày ấy đúng là một ngày khó quên sư cô hỉ. Con thấy hạt giống tủi hờn trong con lớn lắm, con thấy rằng nó có và lớn lên từ hồi con còn rất bé. Ở nhà, con có nhiều anh chị em, và con thường thấy mình thua kém hơn mọi người về nhiều mặt, rồi ở trường học, chơi với bạn bè cũng vậy… Nhận thấy được điều đó, khóc xong con thấy nhẹ ơi là nhẹ và con vui rất nhiều. Khi khóc xong con cũng hiểu được nỗi tủi hờn của mẹ con khi mẹ không có người lắng nghe, mẹ không thể nào nói ra được mà chỉ chịu đựng với những sóng gió của cuộc sống gia đình. Ôi! Lần đầu tiên khóc xong mà con lại thấy vui như thế.

Dạo gần đây, con khám phá ra trong con nhiều thứ lắm, với những nguồn năng lượng, với những hạt giống, con hiểu rõ về nó cũng như về những nhu yếu, ước muốn trong mình mà không phải là nghe từ người khác. Khi hiểu được rồi, con đầu tư cho con những gì phù hợp nhất, con biết con phải rõ ràng hơn với chính con, với những ước muốn, những suy nghĩ và với Tâm bồ đề của mình. Sư cô đã đi qua tuổi của con rồi, chắc sư cô hiểu con mà phải không ạ? Con được lớn lên trong tăng thân, con sợ nhất là con lớn lên không đúng hướng, vì khi càng lớn con càng bắt đầu tự lập và có những cái rất riêng của mình. Những năm tháng đầu trong đời sống tu học của con, sư cô đã cho con một nền tảng vững chắc. Sự chăm sóc kỹ lưỡng, tận tình của sư cô giúp cho con rất nhiều trong cách sống, cách hành xử hàng ngày. Chị em con ngày trước ngơ ngơ rứa mà sư cô vẫn chấp nhận, bao dung được. Sư cô biết không, năm ni con bốc trúng câu Kiều con rất tâm đắc: “Gửi thân được chốn am mây. Tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi”. Con sẽ thực tập với câu Kiều ấy cho thật vui.

Một niềm vui nữa mà con muốn chia sẻ với sư cô là khi con được gặp Sư Ông. Hẳn các chị em, ai cũng như con đều cảm thấy rất hạnh phúc, con đã toại nguyện được những mong muốn của mình rồi. Bây giờ con không muốn đi đâu ngoài mảnh đất Tổ này. Con xin chia sẻ với sư cô bài thơ đầu tay của con, tuy những vần thơ con làm vẫn còn ngây ngô, nhưng con hạnh phúc lắm, bài thơ với những gì mà con tiếp nhận được từ Sư Ông, từ tình thương của Người:

“Thầy đưa con trở về
Với hơi thở chánh niệm
Thầy cho con ý chí
Tiếp nối ngọn lửa thiêng
Thầy cho con sức mạnh
Vượt qua bao chướng ngại
Dù biết trước được rằng
Con đường vẫn còn dài
Và còn bao chông gai
Con không còn lo sợ
Vì trong con đã có
Thầy, tăng thân cùng đi”.

Con muốn chia sẻ với sư cô thật nhiều niềm vui, sự thực tập của con nữa sư cô ạ, con thấy vui lắm mỗi lần con viết thư cho sư cô, vì con luôn xem sư cô là y chỉ sư của con. Con sẽ cười thật nhiều cho sư cô, con sẽ qua thăm chùa Tổ hàng ngày cho sư cô. Chúc sư cô những điều tốt lành nhất. Con gửi tặng đến sư cô nụ cười của con. 🙂

Kính thư,

Con, sư bé Trăng Thiên Ân

Thư gửi Thầy kính yêu của con!

Nhà Lưng Đồi, mùa làm biếng

Thầy kính thương!

Hôm qua con đã có một ngày thật đẹp ở Phương Khê. Ba chị em con mũ áo, ba lô chỉnh tề, đi bộ qua Phương Khê và cùng nghe – đọc hồi ký Thầy. Thật vui, thật đẹp, thật tuyệt vời Thầy ạ! Một khung cảnh, một bức tranh thật sống động và nên thơ. Ngoài khung cửa kính, gió rất to, làm cho cây cối trong Phương Khê oằn mình. Ngồi trong nhà kính, nơi vườn hoa Thầy ở Phương Khê mà ngoài kia gió ầm ào, gầm thét, rít qua khe cửa, vần vũ trong không gian, trong vũ trụ. Cây càng to, càng cao, sẽ lại dễ gãy đổ trong những trận gió như thế này hơn. Những cây dẻo, nhỏ, mảnh khảnh như thân tre, ấy vậy mà thật bền. Nó chao nghiêng trong gió, xào xạc trong gió, như một đại thể, nó bám lấy nhau, quyện lấy nhau, hiếm lắm mới thấy một cây tre gãy đổ hoặc do cao quá, hoặc do đứng riêng, hoặc do sâu đục thân, nhưng cả gia tộc nhà tre thì bám lấy nhau, nương vào nhau, cùng nghiêng, cùng oằn và cùng bật lên thẳng đứng. Trong khung cảnh ấy, ở trong phòng, chị em chúng con vừa thưởng thức trà vừa thay phiên đọc hồi ký Thầy cho nhau nghe. Một hình ảnh sẽ đi vào huyền thoại trong trái tim của cả ba chị em chúng con, mãi mãi không thể nào quên.

Sáng nay, con đã ngồi thật yên bên ly trà ấm và nghe lại Nẻo về của ý. Nghe để rồi lại nhớ Bát Nhã, nhớ cái thời con được ở Buôn Đăng Đừng cùng sư cô Như Hiếu và các chị em, nhớ cái không gian mênh mang ở núi rừng Đại Lão, và con không biết nước mắt đã lăn xuống từ khi nào. Nhớ cái mưa, cái gió, cái quằn quại của cây rừng khi mưa gió về.

Hôm gần Tết làm báo ở Sơn Thượng, có gió bão, nhìn qua cửa kính con thấy bụi tre, mấy cây thông cao vút ở Sơn Thượng cũng nghiêng ngả trong mưa gió, nó oằn thật thấp, rồi bật dậy khi gió qua, rồi nghiêng mình, rồi lắc lư, rồi réo rít, rồi bật người thật thẳng. Cái khung cảnh ấy diễn ra hơn nửa giờ đồng hồ. Con đã ngắm nhìn mê say, ngắm nhìn như tâm hồn mình bị hút sâu vào đó, như thoả mãn một cái gì đó rất sâu trong con người, trong tâm hồn mình. Nhưng Thầy biết sao không, cái khung cảnh ấy ở Sơn Thượng vẫn còn rất hiền, rất rất hiền so với núi rừng Đại Lão, Thầy có thấy như vậy không?

Sáng nay, khi con nghe đến đoạn Thầy nói về núi rừng Đại Lão, con đã khóc, con khóc vì con thấy lại con, thấy lại cái hùng vĩ và bé nhỏ đồng thời đang có trong con.

Con cứ tự hỏi hoài “Mình muốn gì khi đi xuất gia?”, “Mình muốn làm một người như thế nào khi là người tu?” “Mình sẽ làm gì cho mình và cho cuộc đời?” Những ưu tư, những câu hỏi được đặt ra, nhưng nào cần phải có câu trả lời phải không ạ!

“Mưa xuân nhẹ hạt đất tâm ướt

Hạt đậu năm xưa hé miệng cười”

(Cúc cu đúng hẹn – Thơ Thầy)

Mưa xuân đã lất phất rơi, tạo nên một khung cảnh mầu nhiệm trong cái thung lũng trước mắt đã trả lời cho tất cả.

Hàng mận tím hồng nở hoa trong sương sớm, bãi cỏ xanh, chùm hoa tím, sương giăng, tiếng chim hót… Ôi chao! thực thể nhiệm mầu, bao nhiêu năm trước nó đã biểu hiện như vậy rồi, bao nhiêu năm sau nó cũng sẽ như thế kia, chỉ có mình khác đi, chỉ có tâm mình thay đổi thôi, từng ngày một, từng khoảnh khắc một, để rồi một ngày lại gặp nhau nơi hạt mưa xuân, nơi bông hoa tuyết, hay nơi một nụ cười hàm tiếu xinh xinh.

Thầy ạ, con sẽ đọc xong hồi ký rồi mới viết hết cho Thầy những gì con nghĩ.

Hôm nay con sẽ có thêm một ngày để thưởng thức, từng chút một.

Thương kính Thầy,

Con của Thầy luôn luôn

Chân Xướng Nghiêm

Đất Bụt con về

 Thiền đường Hơi Thở Nhẹ, mái nhà tâm linh che chở cho chín sư cô và cho các vị cư sĩ ở vùng lân cận Paris cùng về tu tập. Chiều Chủ nhật, ngày 08 tháng 10 năm 2017, cũng là ngày quán niệm, ba sư cô của Thiền đường cùng bốn thầy và ba sư cô từ Làng nhập đoàn đi Ấn Độ. Tôi hân hoan biết mình sắp được đặt chân lên đất Bụt, sắp được trở về tiếp xúc với cội nguồn gốc rễ tâm linh theo dấu chân Bụt. Ngắm nhìn Sư cô trú trì và các chị em có mặt cho thiền sinh trong ngày quán niệm, phút chốc lặng yên, tôi trở về với hơi thở: một tâm niệm hân hoan, một niềm thương cảm biết ơn sâu, ba chị em tôi đi Ấn cho cả các chị em ở nhà.

Chúng tôi đến Dehradun, vợ chồng chú Shantum – giáo thọ cư sĩ và là Tiếp hiện lâu năm của Làng Mai, tiếp đón đoàn và tổ chức cho cả chuyến đi. May mắn cho đoàn là thầy Trời Bảo Tích (người Ấn Độ) có mặt trong thời gian đầu của chuyến đi và cùng giúp tổ chức khóa tu tại Dehradun.

Sau vài ngày nghỉ ngơi làm quen với khí hậu, văn hóa Ấn, đoàn có ngày quán niệm và khóa tu Wake Up School ở Dehradun. Mọi thứ như đã được chuẩn bị sẵn bởi vì Thầy Làng Mai đã có mặt ở đây nhiều năm trước, đã mở đường chỉ lối, nay các thầy, các sư cô chỉ cần biểu hiện và tiếp nối Thầy. Đây là lần đầu tiên tôi tham dự khóa tu ở xa và cũng là lần đầu tiên được đi chung với nhiều thầy, nhiều sư cô. Tôi tận hưởng từng giây phút cho các chị em tôi ở Thiền đường.

Khóa tu diễn ra trong ba ngày, khoảng gần 250 giáo viên, cảnh sát, cùng khoảng 100 em thanh thiếu niên, học sinh tham dự. Khoá tu có chương trình đặc biệt (workshop) cho thế hệ ông bà, cha mẹ của các em học sinh. Pháp môn chánh niệm đã được đưa vào trường học giúp các thầy giáo, cô giáo thư giãn, chế tác hạnh phúc, yêu ngành nghề; giúp các em học sinh buông thư, giảm căng thẳng trong việc học; giúp các bậc ông bà, cha mẹ hiểu các em thêm qua việc áp dụng phương pháp Ái ngữ lắng nghe. Ai cũng được học cách sử dụng những câu thần chú của Làng để làm cho gia đình hạnh phúc hơn. Trong khóa tu này, tôi đã được học hỏi rất nhiều kinh nghiệm từ các sư anh, sư chị, thấy được tầm ảnh hưởng rộng lớn của Thầy, thấy hoa trái của pháp môn chánh niệm đưa vào trường học qua các phương tiện nghe chuông, thở, cười, thiền ca… được thể hiện rõ qua những gương mặt rạng rỡ, hạnh phúc, biết ơn sau khi tham dự khóa tu.

Là một người tu trẻ, tôi ý thức đường tu của mình đang còn dài phía trước, và niềm tin vào kinh nghiệm thực tế, vào những gì tôi thấy, nghe và cảm nhận đang rộng mở đưa tôi về một hướng đi, một nền đạo Bụt dấn thân mà xã hội đang cần, mà Thầy tôi luôn xiển dương.

Chuyến hành hương

Những ngày ở Dehradun thiên nhiên hiền hòa, khí trời mát mẻ không giống như ở những vùng khác của Ấn Độ. Dehradun tọa lạc dưới chân núi Hymalaya, một trong những dãy núi cao nhất của thế giới. Từ trong phòng nhìn ra cửa sổ, những dãy núi hiên ngang hùng dũng nối nhau giữa nền trời xanh xen lẫn sắc màu của nhiều dãy nhà nối nhau, tạo nên một thành phố nhỏ ven sườn núi rất đẹp mắt.

Sau khóa tu đoàn có cơ hội lên núi. Đường ngoằn ngoèo, nhỏ hẹp nhưng lại có nhiều phương tiện xe cộ lên xuống nên phải nhường nhau. Những lúc như vậy, ngoài việc nắm lấy hơi thở, giữ được thăng bằng để không bị say xe, thỉnh thoảng tôi đưa mắt nhìn màu xanh của núi, tận hưởng khí thiêng nơi đây cho tôi một cảm giác dễ chịu an lành. Cuối cùng, xe cũng dừng lại nơi một địa điểm dưới chân núi để đoàn thưởng thức leo núi. Từ đỉnh núi nhìn ra xa, những dãy núi tuyết hiện ra trắng xóa, và sau những dãy núi tuyết ấy là lãnh thổ Tây Tạng. Địa hình, khí thiêng, thổ nhưỡng đã hình thành nên nét đặc trưng riêng của từng vùng. Mỗi phút giây tận hưởng là mỗi phút giây tôi được học hỏi, khám phá. Không chỉ riêng tôi mà dường như cả đoàn ai cũng có cảm giác như đang ở Thiên đường – Tịnh độ trong hiện tại.

Mười ngày ở Dehradun đã đi qua. Mở sang tờ lịch mới, ngày 18 tháng 10, đoàn có mặt tại nhà thầy Trời Bảo Tích. Trong ba ngày, không khí gia đình tâm linh và huyết thống thân thiện, gần gũi, ấm áp và rộn rã tiếng cười của tình huynh đệ. Điều đặc biệt đã đến! Anh chị em được đón Tết Ấn (lễ hội Ánh sáng) cùng với gia đình thầy Trời Bảo Tích. Nhà nhà đốt pháo hoa râm ran, người người cười cười, nói nói, chúc nhau những lời tốt đẹp “happy dewali”. Một điểm tương đồng của văn hóa Á châu. Sau buổi lễ cầu nguyện chúc phúc theo truyền thống Ấn, mỗi thầy, mỗi sư cô được nhận lì xì từ tay mẹ thầy Trời Bảo Tích. Ngày hôm sau, đoàn có cơ hội đi tham quan cung điện xưa và những dãy trường thành cổ của thành phố Raipur mà giá trị văn hóa, lịch sử, tâm linh còn được gìn giữ cho đến ngày nay. Ngắm nhìn từng góc cạnh của cuộc sống đang hiển bày trước mắt, tôi cúi đầu biết ơn tất cả.

Vào ngày 21 tháng 10, chuyến hành hương theo dấu chân Bụt với tăng thân nói tiếng Pháp được bắt đầu từ bảo tàng thánh Gandhi –  nơi Người trút hơi thở cuối cùng. “My life is my message” – tinh thần bất bạo động, giá trị tâm linh mà tôi thấy được qua Bụt, qua Thánh và qua Thầy Làng Mai, nay chúng tôi đang tiếp nối. Hành trình trên đất Ấn có hơn tám mươi vị. Ngày 22 tháng 10 đoàn di chuyển từ New Delhi đến Varanasi nơi có dòng sông Hằng linh thiêng chuyên chở tổ tiên tâm linh và huyết thống của người dân Ấn. Trong suốt chuyến đi, đoàn được hướng dẫn sử dụng bước chân thiền hành và hơi thở chánh niệm khi xếp hàng làm thủ tục lên máy bay, thiền xe buýt, tiếng chuông giúp mọi người trở về ý thức những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Cảnh tượng buổi sáng bên bờ sông Hằng, mọi người đang tắm gội, tẩy đi tất cả những bụi trần để làm thanh tịnh thân tâm hoặc tụng kinh, trì chú cầu phúc lành… Khi thuyền đi được ba mươi phút, bên bờ sông, một thi hài được đưa ra chuẩn bị cho lễ hỏa táng. Củi được chất sẵn vuông góc dưới bệ, bên cạnh vài chiếc thuyền chất đầy củi, mép bờ sông nhiều lớp tro đã được đổ xuống. Trong phút tĩnh lặng đó, mọi người trên thuyền có cơ hội trở về quán chiếu sự sống.

Phải mất gần cả ngày đường đi xe buýt, đoàn mới đến được Bodhgaya (Bồ Đề Đạo Tràng), nơi Bụt thành đạo. Ở đây, rất nhiều truyền thống Phật giáo khắp nơi hội tụ về. Mỗi truyền thống trình bày cách thức, ngôn ngữ, văn hóa nước mình để truyền thông và bày tỏ niềm kính ngưỡng đối với Bụt. Tất cả đều hướng về bậc Cha lành giác ngộ, tạo nên một đạo Bụt cổ thụ với nhiều thân, cành, lá gồm nhiều màu sắc khác nhau. Buổi sáng, hương trầm xông ngát, lời kinh vang vọng, không khí lễ bái lan tỏa khắp khuôn viên Bodhgaya. Ở một góc yên, hướng về Bụt, tôi nguyện với lòng sẽ thực tập để Bụt, Thầy trong tôi biểu hiện bất cứ nơi nào tôi có mặt. Có lẽ đó cũng là điều mà Bụt và Thầy luôn mong đợi.

Trường đại học Nalanda, được Thầy tôi nhắc tới rất nhiều lần trong các buổi giảng, nơi mà thầy Huyền Trang đời nhà Đường từ Trung Hoa sang Ấn Độ đã theo học. Thời ấy trường có khoảng gần mười ngàn vị tu sĩ. Thời điểm chúng tôi đến, trường chỉ còn lại nền rêu phong và tường đen xám, tất cả đều đã bị thiêu hủy hết. Ngậm ngùi trước sự tàn lụi của trường, tôi tiếp xúc sâu hơn với tự tính “vô thường”.

Chiều ngày 27 tháng 10, đoàn có cơ hội leo lên đỉnh núi Linh Thứu, nơi hay được nhắc đến trong phần mở đầu của các kinh Bụt dạy. Đó là nơi Bụt thường giảng pháp trong thời gian hoằng hóa của Người. Chúng tôi đang tập bước những bước chân bình an, vững chãi mà hơn hai ngàn sáu trăm năm trước Bụt đã bước đi trên con đường này mỗi ngày. Vừa lên tới đỉnh, khí thiêng như vẫn còn đó, tôi có cảm giác như mình đang được trở về với không khí của pháp hội năm xưa. Đất trời thênh thang, núi đồi nhấp nhô xanh ngát một màu. Lạ thay, tôi chỉ muốn tìm cho mình một chỗ để ngồi yên, để tắm mình trong phút giây tĩnh lặng mà tận hưởng trọn vẹn khoảnh khắc hy hữu này. Khi mọi người đã lên hết trên đỉnh núi, cả đoàn cùng ngồi thiền, ngắm mặt trời lặn. Một mặt trời đỏ cam, to tròn đang ở ngay trước mắt. Giây phút ấy, tôi như chạm đến một cái gì đó thiêng liêng vô cùng. Thở, mỉm cười, bình an tận hưởng…

Hết giờ ngồi thiền, như đã hẹn, chị em tôi cùng cạo tóc cho nhau để đánh dấu giây phút thiêng liêng này, để khí thiêng đất trời, Bụt và tăng đoàn năm xưa chứng minh cho nguyện ước của chúng tôi. Niềm vui sâu, hạnh phúc lớn như được lan tỏa khắp và kéo dài đến khi đoàn xuống núi dùng cơm tối và cả suốt buổi pháp đàm sau đó.

Chuyến hành hương “Theo dấu chân Bụt” đã đến phần cuối của chặng đường. Đoàn đến thăm Kushinagar (Câu thi na), nơi Bụt thị tịch giữa hai cây Sala. Bảo tháp Bụt được xây dựng nơi đây để người người đến thăm viếng bày tỏ lòng kính ngưỡng. Kính lạy Người với tất cả niềm tôn kính và biết ơn bậc Cha lành giác ngộ đã đưa đường chỉ lối cho chúng sanh đang lạc bước tìm thấy con đường thoát khỏi khổ đau, tuyệt vọng, bất an, tìm thấy bình an, tự do và hạnh phúc. Cả đoàn cùng ngồi thiền chế tác những giây phút tĩnh lặng hướng về Người.

Dấu tích lịch sử còn lưu lại qua cột trụ mà vua Asoka (A Dục) đã dựng lên nơi Bụt ra đời, vườn Lumbini (Lâm Tỳ Ni), Nepal. Trong tác phẩm Đường xưa mây trắng của Thầy Làng Mai, tôi thấy Bụt hiện hữu như một con người lịch sử và nay đứng trước chứng tích nơi Người sinh ra, tôi càng chứng thực hơn. Tôi cảm ơn tổ tiên tâm linh và tổ tiên huyết thống của người Ấn, cảm ơn tất cả nhân duyên để Bụt có mặt trên cõi đời này, tồn tại hơn hai ngàn sáu trăm năm và sẽ tiếp tục còn mãi theo thời gian.

Thành Kapilavastu (Ca Tỳ La Vệ), nơi thái tử Tất Đạt Đa lớn lên và trưởng thành, là điểm cuối mà đoàn ghé thăm, khép lại chuyến hành hương về xứ Bụt. Dưới gốc cây Bồ Đề, tám mươi người được quý thầy quý sư cô hướng dẫn ôn tụng Năm giới. Chuyến đi để lại trong lòng mỗi người những phút giây đáng nhớ, những giá trị tâm linh còn mãi.

Chuyến hành hương kết thúc, các vị cư sĩ về lại Pháp, quý thầy quý sư cô có thêm một tuần ở New Delhi cho khóa tu tại trường Pathways. Vừa đến trường, chúng tôi nhận ra ngay pháp thân của Thầy đang có mặt qua những câu thư pháp được trang trí khắp khuôn viên trường. Trường có hơn một ngàn em học sinh nội trú và bán trú. Chúng tôi có mặt tại trường, tiếp xúc và gần gũi với các em trong ba ngày của khóa tu, hiểu thêm những mong muốn, những vấn đề mà các em đang gặp phải, giúp các em giảm căng thẳng, dạy các em cách áp dụng các pháp môn thiền hành, nghe chuông, thiền buông thư… Các em rất thích pháp môn thiền ăn và chia sẻ rằng khi ăn các em thấy ngon hơn, tiếp xúc được với sự sống và ân tình có mặt trong bát cơm mà các em đang ăn. Mỗi khi gặp các thầy các sư cô, các em kính cẩn chắp tay chào. Một cô tình nguyện viên của khóa tu nói: “Ấn Độ bây giờ không còn giống như hồi xưa, mỗi khi gặp nhau ai cũng chắp tay chào”. Tôi trả lời: “Bạn có biết Bụt đã đem nét đẹp văn hóa này của nước bạn đến khắp mọi nơi không?” Cô nở một nụ cười hạnh phúc.

Ấn Độ có một nền tâm linh lâu đời được gìn giữ đến ngày nay. Tuy nhiên đời sống vật chất còn nghèo, sự chênh lệch giữa các tầng lớp trong xã hội vẫn còn rất lớn. Trong suốt chuyến đi, hai bên đường, rác thải và rác nylon song hành cùng chúng tôi. Cảnh nghèo đói có mặt khắp nơi, các em nhỏ thất học luôn tìm mọi cách làm động lòng thương của khách hành hương. Chạnh lòng thương, tìm lấy hơi thở bình an, tôi ngắm nhìn các em với niềm cảm thương sâu sắc. Có cách nào mà tôi có thể giúp các em hay nhất trong giới hạn của mình? Cầu mong các em sẽ gặp được nhiều duyên lành. Ngày cuối trước khi về lại Pháp, thành phố New Delhi chìm trong không khí ô nhiễm. Trên xe buýt đến sân bay, chú Shantum hỏi chúng tôi: “Chắc chuyến đi Ấn này là chuyến hành trình gian nan cho quý thầy quý sư cô?” Tôi mỉm cười trả lời: “Chính vì vậy mà Bụt đã sinh ra trên đất Ấn.”

Về tới Thiền đường Hơi Thở Nhẹ, vừa bước vào cửa, một sư em ra chào ba chị em tôi, hớn hở: “May quá ba sư chị đã về! Em nhớ ba sư chị quá! Ba sư chị về rồi em mừng quá!!!” À thì ra sư em ở nhà đóng vai trò chị lớn, thấy ba chị em tôi về như trút được gánh nặng, “Em hiểu và thương các sư chị hơn.”

Hơi Thở Nhẹ ấm áp tiếng cười tình huynh đệ, đón người về, tiễn người đi: phút giây này đẹp mãi…

Chân Cảnh Nghiêm

Ngọn lửa hồng trong tim

Thầy kính thương của chúng con,

Đã lâu rồi con không ngồi yên như thế này để viết thư chia sẻ với Thầy sự thực tập của con. Nhân mùa Giáng sinh về, Tết đến, con cũng muốn ngồi cho thật yên, nhìn lại những gì đã qua, những niềm vui con có, là ngọn lửa mà con còn giữ để sưởi ấm tâm bồ đề.

Tuy an cư năm nay có nhiều thứ đến với con hơn hai năm đầu, nhưng bên trong con lại thấy mình cảm nhận sâu sắc và có nhiều bình an. Đây cũng là năm đầu tiên của con từ khi con nhận giới lớn, con có nhiều thay đổi trong suy nghĩ và tư duy. Con tiếp nhận mọi thứ đến với mình, tuy lúc đầu có lo lắng một chút nhưng con cũng buông bỏ nhanh hơn mọi khi. Có một cái gì đó sẵn sàng, điềm tĩnh để cho con có khả năng thưởng thức, vì vậy mà con thấy hạnh phúc đến cũng rất lâu và rất sâu trong lòng.

Niềm vui của con là được làm thị giả cho Sư mẹ, một việc mà con luôn thấy lo lắng khi được nêu tên để làm. Con thấy mình vụng về, ít biết quan sát, để ý, lại còn hay quên… con sợ mình sẽ gây nhiều lầm lỗi. Con lo, rồi run khi gặp Sư mẹ, và cứ luôn bận rộn với những thứ diễn ra trong đầu, nên đôi khi con không để ý được nhiều đến những hành động, lời nói của mình nữa. Đó là thời gian đầu con làm thị giả.

Trong một bài pháp thoại, Thầy có dạy: “Mình nên thử hết, phải biết tạo cảm hứng cho mình và vừa làm vừa phải biết thưởng thức cái mình đang làm”. Con cũng để ý thực tập điều Thầy dạy. Con biết làm thị giả cũng như những trách nhiệm khác, tất cả sẽ trở nên dễ dàng nếu xuất phát từ tình thương thật sự. Khi con có tình thương, thấy sư chị hay sư em con bệnh, phản xạ tự nhiên của con là hỏi han, chăm sóc… Con thực tập mang sự tự nhiên đó vào những gì con đang làm cho Sư mẹ. Con thương Sư mẹ nhưng vì lúc đầu con nghĩ đây là công việc, nên con lo lắng và đánh mất tình thương có sẵn trong mình.

Qua tuần thứ hai, con bắt đầu thấy mình có thể buông thư và tận hưởng. Con nhìn Sư mẹ kỹ hơn, không còn rụt rè, sợ sệt và căng thẳng khi gặp Sư mẹ nữa. Cái cảm giác ngộp ở trên sống mũi và trên đầu như rớt tõm hết xuống bụng rồi, con thở phào nhẹ nhõm. Thế là con đã vượt qua cái cảm thọ nặng nề. Giờ đây con thấy mình thảnh thơi hơn, dù con cũng vẫn tiếp tục làm những gì quý sư cô chỉ bày tự ban đầu. Con biết cách sắp xếp hơn, đi cũng thảnh thơi hơn, không còn có cảm giác mình sẽ bị trễ nữa. Con thực tập buông xuống ý nghĩ nếu làm sai mình sẽ bị Sư mẹ la, Sư mẹ sẽ phiền lòng. Con biết Sư mẹ rất bao dung, chưa la con bao giờ, nhưng sự lo lắng làm con cứ suy diễn ra như vậy.

Niềm vui của con là trang trí và chuẩn bị khay thức ăn cho Sư mẹ. Con ý thức mình đang làm điều đó bằng tất cả tấm lòng, bằng tình thương và sự quý trọng đối với những đức hạnh của Sư mẹ qua pháp thoại, qua lớp giới và qua thân giáo của Sư mẹ. Nhờ vậy, con có tự do. Con hay cười tủm tỉm vì cách con trang trí thật vụng về, nhưng nhìn bằng “mắt thương” thì con thấy nó cũng “dễ thương” lắm.

Thời gian này, con hay có những niềm vui nhỏ nhỏ thường ngày và hay cười khi những niềm vui đó đi lên. Có lẽ quý sư cô sẽ thấy con hơi lạ vì cứ cười tủm tỉm một mình như vậy, nhưng niềm vui của con đến lạ như vậy đó.

Niềm vui của con là nhận diện những gì đang có trong con khi đi từ nhà ăn về ni xá. Con đường không mấy gần, cho con nhiều cảm giác, vui có, sợ có, tủi, buồn hay tung tăng… Tất cả những cảm thọ ấy đều có hết với con trên đoạn đường này. Vì ni xá thì xa và con thường đi qua lại, nên con cảm nhận từng cảm thọ, tâm hành đi lên trong con rất sâu sắc. Đôi khi chỉ là đi thôi, nhưng cũng là một điều thú vị, vì con thấy mình hạnh phúc khi còn được đi qua lại trên con đường này. Con nhớ có lần con rửa dọn sau bữa tối và về trễ, trời mùa đông tối thui, mưa rơi khá nặng hạt, không khí se lạnh, ẩm ướt, không có dù cũng không có đèn pin, không bạn đồng hành… Con thấy hạt giống sợ, có chút tủi tủi, bùi ngùi len lỏi đi lên. Bước chân con như không còn được kiểm soát nữa, con cứ vội vã đi vậy thôi, chỉ mong được về tới ni xá. Bao nhiêu cảm thọ tiêu cực tuôn lên cùng một lúc, đoạn đường đã dài nay còn dài hơn, bước chân tuy nhanh nhưng sao cứ đi hoài chưa tới. Niềm vui trào lên khi con mở cánh cửa bước vào ni xá. Lần đầu tiên con hiểu niềm hạnh phúc thật sự khi trở về đúng ngôi nhà của mình. Con như muốn chực trào nước mắt khi cánh cửa được mở ra và thấy các sư chị đang ngồi bình an, vui vẻ đón con trở về. Cánh cửa ấy, mỗi ngày con đã tự tay mở nó ra vào không biết bao nhiêu lần, nhưng chưa bao giờ con thấy trân quý và biết ơn như lúc ấy. Các sư chị con ngồi đó cũng vậy, chưa bao giờ con thấy thương quý các sư chị như thế. Ai cũng thân thiện, ai cũng trở nên sáng hẳn lên, nhìn ai cũng thấy cứ như những thiên thần xuất hiện để giúp con vậy đó. Con muốn nói rằng, con rất hạnh phúc khi còn được thấy và sống chung với quý sư cô.

Nếu con không đi vào cái giờ đó, nếu con không đi trên con đường này, nếu con không có những tâm hành đi lên như đêm ấy, thì con sẽ không bắt gặp được niềm hạnh phúc thâm sâu bấy lâu nay có đó mà con không cảm nhận ra. Bây giờ, cứ mỗi lần đi trên con đường ấy, dù con còn suy nghĩ chuyện này chuyện nọ, nhưng cái cảm giác tối hôm đó thường trở về trong con, không phải là sự lo lắng mà là niềm biết ơn. Chính vì vậy, mỗi lần đưa tay mở cánh cửa mầu nhiệm đó, con luôn ý thức, mỉm cười, hạnh phúc… Con có niềm tin cứ cầm tay nắm mở cửa thì niềm hạnh phúc sẽ trở về như lần đầu con bắt gặp.

Niềm vui là khi con được đi thiền hành cùng đại chúng. Có một lần, trong giờ thiền hành, đại chúng đang thực tập rất yên, rất đẹp, có một sư chị tới thỏ thẻ với con rằng: “Chị sẽ nhắm mắt và nắm lấy tay em, để em dẫn chị đi nhé”. Khá thú vị! “Ok, em sẽ dẫn chị”. Trong lòng con có chút ngại ngần, mình đi một mình còn không đủ vững, dẫn sư chị đi khi sư chị đang nhắm mắt thì mình phải là người lái giỏi, chứ không thôi hai chị em sẽ “cùng đi xuống ổ voi”. Ngay lúc đó, con biết con phải có niềm tin ở chính mình, con phải có bình an đủ thì sư chị mới bình an và tin con đủ. “Thôi thì chị em mình cùng chơi, cùng thực tập với nhau. Chị cứ thưởng thức cái thanh thản khi không cần phải làm gì hết, chỉ đi vậy thôi, đã có người dẫn đường cho sư chị rồi. Sư chị hãy tin vào ‘leader’ – người dẫn đường này nhé!”, con thầm nghĩ và bắt đầu đi.

Cái cảm giác vui vui lạ, thú vị lạ ấy cứ đi lên trong lòng con. Càng lúc con càng buông thư hơn, và bình an bắt đầu có mặt, con có cảm giác sư chị đã có nó và truyền qua cho con. Ánh nắng rực rỡ hòa với khí trời se se lạnh, con đường và đại chúng hòa quyện, yên nhưng cũng thật sống động. Hai chị em con cứ đi như vậy, nương vào nhau mà tận hưởng cái mình đang có. Đến khi dừng lại, sư chị thỏ thẻ với con rằng: “Chị có 100% niềm tin, chị đặt hết nó vào em trong suốt đoạn đường này luôn rồi. Chị đi chánh niệm được 80% thôi, đôi khi còn suy nghĩ nhưng trở về cũng kịp thời lắm. Cảm ơn sư em”.

Con cũng thấy vui nữa, con cũng có những lợi lạc không kém sư chị. Vì biết mình đang có một sứ mệnh đặc biệt, mình đang đi cho hai người nên con thật sự phải rất chánh niệm, không suy nghĩ lung tung được. Con vừa được bình an, vừa để ý đến cử động của mình hơn, mà còn làm sư chị mình có niềm vui nữa. Quả là lợi lạc lớn.

Niềm vui của con là khi thực tập ngày làm biếng cùng với đại chúng mỗi thứ hai trong tuần. Con thấy ngày làm biếng đến như số tiền lời mà chúng con có được sau một tuần tu học. Đối với con, nó không đơn thuần chỉ là sự nghỉ ngơi, nó sâu sắc và đáng quý hơn thế nhiều. Giống như người kinh doanh, số tiền lời đó không đơn thuần là tiền để tiêu xài phung phí cho những ham muốn thường nhật. Nó có thể dùng để đầu tư thêm cho sản phẩm, cho công việc trở nên phong phú hơn, có nhiều lợi nhuận hơn. Hay đơn giản là mua thức ăn, thực phẩm bổ dưỡng để bảo đảm cho sức khoẻ tốt, để tận hưởng những gì có trong cuộc sống, như vậy mình mới có khả năng đi lâu dài trên đường sự nghiệp. Hay dùng số tiền đó mua một vé đi du lịch đây đó, thưởng thức những vẻ đẹp bên ngoài, giảm căng thẳng. Thường ngày mình đã bận rộn quá rồi, cần một chút hương vị mới để có thêm tinh thần trong công việc sắp tới. Hoặc lấy số tiền đó sắm sửa cho ngôi nhà mình thêm đẹp, hoặc tỏ lòng biết ơn, thông cảm đến những người nghèo khổ… Đó là cách mà người kinh doanh sử dụng tiền lời, con cũng dùng “số tiền lời” của con làm những điều tương tự như vậy.

Niềm vui của con là mỗi ngày làm biếng được trau dồi thêm những gì mình còn thiếu trong tuần. Con thích học nghi lễ lắm. Con đã đi thỉnh sư chị dạy cho con và rất vui khi thấy phần nghi lễ của mình có tiến bộ hơn. Ngày làm biếng của con trôi qua không uổng phí chút nào. Đôi khi con thấy mình mệt, trong tuần còn lăng xăng, ngày thứ hai sẽ là ngày con dùng để trở về vun bón thêm những gì mát mẻ hơn vào đất tâm mình. Con được ngồi lắng yên làm những gì mình thích và nhìn rõ hơn cái mình đang cần. Cũng có thể chỉ là ngồi chơi, có mặt với các chị em, lắng nghe hay chia sẻ những niềm vui, khó khăn với nhau, xây dựng thêm tình huynh đệ. Hay đơn giản là vác ba lô lên vai và đi đâu đó để thưởng thức thiên nhiên bên ngoài, có cơ hội hưởng những gì tươi mát nhất mà thiên nhiên ban tặng.

Niềm vui của con là cùng các chị em quây quần bên nhau, trang trí nhà cửa và cây thông cho Giáng sinh. Bên bếp lửa hồng, hơi ấm của lò củi cùng hơi ấm của tình huynh đệ làm chúng con thêm gắn kết, yêu thương nhau. Niềm vui của con là được làm sư em nhỏ trong nhà, có sư mẹ, sư chị luôn đồng hành với những cảm thọ lên xuống của người mới tập tu như con. Con không còn thấy nó là của riêng con nữa mà mở lòng để quý sư mẹ, quý sư chị góp ý cho con được đẹp hơn. Không biết sao cứ nhìn hình ảnh các chị em sống vui với nhau, mỗi ngày góp nhặt thêm nhiều viên gạch tình thương bồi đắp cho ngôi nhà của tình huynh đệ thêm vững chắc, con lại thấy lòng mình trào dâng niềm hạnh phúc và biết ơn khôn xiết. Con nhớ bài hát Vui giấc đại đồng có đoạn: “Mỗi người là một bài thơ, say mê đọc hoài đọc mãi, vẫn không hết những bất ngờ…” Niềm vui của con là được đọc những “bài thơ” ấy, có lẽ đọc hoài đọc mãi vẫn còn thấy rất thú vị. Những người trẻ đầy nhiệt huyết với niềm vui phụng sự, sống chan hòa thương yêu nhau dù từ những văn hóa khác nhau, có lối sống và sự trao truyền khác nhau, nhưng vẫn vui cười, xem nhau như chị em một nhà.

Thầy ơi, con thấy mình may mắn và hạnh phúc quá! Niềm hạnh phúc của con là được nói ra những điều này cho Thầy nghe. Niềm hạnh phúc của con là những điều nho nhỏ đó.

Còn rất nhiều điều con thấy trân quý, hạnh phúc nữa, con chỉ kính dâng lên Thầy vài đóa hoa tươi mát mà con đang có trong đất tâm con, trong mùa An cư này. Con sẽ để dành lại một ít loài hoa để chăm sóc, vun bón cho đến khi nó đủ đẹp, đủ thơm, con sẽ dâng lên Thầy nữa. Con kính chúc Thầy có một mùa Giáng sinh ấm áp bên các sư con dễ thương và đón một năm mới với nhiều sức khỏe. Chúng con ở đây rất nhớ Thầy, chỉ cần Thầy luôn khoẻ là chúng con vui rồi ạ.

Sư con nhỏ của Thầy,
Chân Trăng Hàm Tiếu

Vườn tập sự

Phần nhiều những người trẻ luôn tự tin vào chính mình. Người trẻ luôn năng động và sáng tạo. Người trẻ luôn muốn khám phá và thử nghiệm cuộc sống. Người trẻ lúc nào cũng có những giấc mơ và hoài bão cho cuộc đời của mình, luôn muốn bằng mọi cách thực hiện cho được ước mơ mà mình đã chọn. Người trẻ cũng đi qua những thất bại và cho phép mình thất bại như một cơ hội để làm lại từ đầu. Và người trẻ có thể cũng đi được trên “con đường rộng lớn” từ những bước chân chậm rãi đầu tiên… Có những người trẻ như thế đã và đang chọn cho mình một con đường – Con đường của Hiểu và Thương.

Dưới đây là những bài viết của những người trẻ được trích trong “Thư xin tập sự xuất gia”. Kính mời bạn đọc “lắng để nghe” những tâm tư, những ước nguyện, những khám phá, những cái thấy và những thành tựu nho nhỏ đầy nuôi dưỡng của các em…

Buông xuống

Kính bạch Sư Ông,

Kính thưa quý thầy, quý sư cô!

Năm nay con hai mươi lăm tuổi. Con đã hoàn thành xong chương trình Cao học và tốt nghiệp trường Cao đẳng Y tế Hà Đông cuối năm 2014.

Trong hai năm 2011 và 2012, con có nhân duyên được tham gia các khóa tu mùa Hè dành cho học sinh, sinh viên do quý thầy, quý sư cô Làng Mai hướng dẫn. Chúng con được nghe nhiều bài pháp thoại rất nuôi dưỡng. Nhưng điều lắng đọng trong con và làm cho con trăn trở nhất đó là: “Người tu là những người báo hiếu cho cha mẹ được trọn vẹn nhất”. Từ khoảnh khắc xao động đó, con đã ấp ủ ước muốn đi tu. Đây là lần đầu tiên con ý thức được việc mình phải báo hiếu cho bố mẹ như thế nào. Bao nhiêu năm trôi qua, con chỉ biết nhận và đòi hỏi bố mẹ thật nhiều mà chưa từng một lần nghĩ qua mình sẽ “làm gì đó” cho bố mẹ được hạnh phúc và an vui.

Thời điểm đó, con được mẹ tán thành và ủng hộ cho con đi tu, nhưng bố thì tuyệt đối không, vì con đang là sinh viên năm thứ hai. Con nghĩ ra mọi cách và quyết định dùng phương pháp “mưa dầm thấm lâu”. Cứ mỗi cuối tuần về nhà, con đều mang những bài pháp mà quý thầy giảng, những tấm gương đi tu để kể cho bố nghe những lúc bố con vui. Dần dần bố con cũng nguôi ngoai với ý định bắt con đi làm trong bệnh viện. Trước khi ra trường, con được làm thực tập sinh từ y tế xã cho tới bệnh viện huyện. Từ những trải nghiệm nghề nghiệp này, con thấy ngao ngán bởi xung quanh có quá nhiều những tệ nạn và tiêu cực. Con không thoát ra được những suy nghĩ ấy.

Sau đó cơ duyên đến, con nhận được một cuộc điện thoại của người bạn gái cùng tuổi. Cuộc trò chuyện kéo dài một tiếng rưỡi đồng hồ, trong đó bạn đã tóm lược những gì bạn được trải qua bên Làng Mai Thái Lan. Vừa nghe con vừa khóc ròng rã. Con khóc trong sự vui sướng và hạnh phúc. Con nói đây mới là hạnh phúc thật sự, đây mới là thứ con cần, nó chính là chìa khóa. Cảm giác hạnh phúc đó thật khó tả. Mặc dù chỉ mới được nghe thôi, nhưng trong một tuần liền con cứ hát và cười, như thể con đã tìm thấy tình yêu đích thực của cuộc đời mình vậy.

Rồi con tìm hiểu xem Làng Mai là làng gì mà sao nghe lạ quá, và Sư Ông là ai, trước giờ con chưa từng nghe. Con vô tình đọc được bài Nói với người xuất gia trẻ của Sư Ông… “Trời ơi, y như viết cho chính mình vậy!”, con thốt lên trong nước mắt.

Thời gian sống ở Diệu Trạm con thấy mình khác quá. Trong một tháng tu học, con không biết giận ai là gì, khi ăn cũng có người mỉm cười với mình, chấp tác cũng có người mỉm cười với mình, ai cũng không quên chắp tay xá chào và nói lời cảm ơn nhau khi kết thúc công việc.

Con là người không thích hát và hát dở đến độ không ai muốn nghe, vậy mà khi những bài thiền ca cất lên con thấy mình khao khát được hát quá. Lần đầu tiên nghe thiền ca, con đã khóc vì thấy mình được nuôi dưỡng rất nhiều. Con nhận ra bấy lâu nay mình đã sống quá khô khan, bấy lâu nay đã quá ồn ào khi ăn, thậm chí miệng không nói mà cái đầu con y như một cái đài không lúc nào nghỉ. Bấy lâu nay khi bước chân đi, con chỉ mong đi nhanh cho mau tới đích. Có những lúc con chạy một mạch tới nhà vệ sinh và quên mất rằng chân mình đang chạm đất. Con cũng chưa hề biết thế nào là chánh niệm, là thảnh thơi, nên giờ đây con yêu pháp môn thiền hành quá. Bấy lâu nay con không biết cách lắng nghe và sử dụng ái ngữ khiến những người thương xung quanh con nhiều khi buồn phiền. Bấy lâu nay con quen sống trong vội vàng, hấp tấp, vụng về và yếu kém… Bấy lâu nay con rong ruổi tìm cầu mà không biết cách dừng lại để nhìn rõ chính mình, không hiểu rõ được người khác nên con cứ khổ hoài không có hồi kết.

Pháp môn nào Sư Ông dạy con cũng thích quá, vi diệu quá! Có những lúc con đã thốt lên một mình: “Sư Ông tuyệt vời! Người từ đâu đến?” Khi con đọc cuốn sách Tay Thầy trong tay con, một lần nữa con lại khóc: “Sao mà Sư Ông gần gũi và bình dị đến vậy?” Một niềm thương cảm sâu sắc nảy sinh trong lòng con. Con thương bố mẹ con tới nhói tim. Con ao ước được về nhà ngay lập tức và nấu cho bố mẹ một bữa ăn thật ngon, con sẽ đấm lưng cho bố khi bố nói: “Con ơi, bố mỏi lưng quá!” Con thấy trước kia mình sống trong lầm lỗi nhiều quá để mọi thứ vụt qua trong chớp mắt.

Mặc dù sự thực tập của con còn nhiều vụng về, nhưng con cũng đã có những cái nhìn và những chuyển hóa nhất định. Ăn cơm thì con biết con đang ăn cơm, giặt áo thì con biết con đang giặt áo, lắng nghe thì con cũng ý thức là con đang lắng nghe, khi bước chân đi con cũng biết là con đang bước chân đi… Có nhiều khi con bị ngoại cảnh lôi kéo, những ý nghĩ về quá khứ, tương lai, những va chạm giữa các chị em hay những tập khí đi lên, con thực tập nhận diện chúng và quay trở về với hơi thở để lắng dịu thân tâm. Con quán chiếu và soi xét lỗi lầm của mình mà không trách móc người khác. Cũng có nhiều khi cơ thể “bất ổn”, con tập buông thư thì thấy mình khỏe hơn rất nhiều.

Con chưa bao giờ biết cảm ơn đôi chân của mình, chưa bao giờ biết vỗ về những vết thương mà mình đã gây ra cho cơ thể. Giờ đây con thấy mình sống biết ơn hơn mỗi ngày, biết ơn mỗi vật dụng mà con đang sử dụng, mỗi món ăn mà con đang được thưởng thức… Từng ngày trôi qua, con biết cách phát nguyện cho việc tu học của con. Tâm bồ đề, chí nguyện độ đời, chuyển hóa bản thân và gia đình trong con ngày một vững chãi và chắc chắn hơn bao giờ hết.

Con cảm nhận được  đây chính là môi trường và pháp môn giúp cho con chuyển hóa thân tâm và nuôi dưỡng tâm bồ đề. Con biết rằng không có bất kỳ một nơi nào, một môi trường nào là hoàn hảo, chỉ có học cách chấp nhận và sửa đổi bản thân thì con mới có thể hòa nhập được với quý chị em xung quanh, hòa nhập được với tăng thân và bước đi trên con đường dài.

Thiên Diệu

Sống chậm lại

Lúc nhỏ, con may mắn được theo ngoại đi chùa và theo các chị gần nhà tụng kinh. Con thích sự bình yên ở chùa. Quý thầy, quý sư cô rất hiền, sống nhẹ nhàng và giản dị, lời nói dễ thương và luôn yêu động vật. Hàng tháng, quý sư cô còn làm từ thiện, nấu cháo phát cho các bệnh nhân trong bệnh viện. Con rất thích khi được tham gia cùng quý sư cô.

Con được tặng một cuốn sách về nhân quả. Trong sách viết về cảnh các con vật bị con người giết hại rất đáng thương. Những con vật vô tội, không biết gì, và con người nhận lấy những hậu quả từ hành động sát hại mà họ tạo ra. Con xin mẹ cho con được ăn chay, mẹ yểm trợ nấu chay riêng cho con. Cũng từ đó con nung nấu ước muốn đi tu.

Cho đến nay, được thực tập trong lòng đại chúng, được hưởng năng lượng tu tập của đại chúng, con rất vui. Con được trở về với chính mình nhiều hơn, con được tu tập, chuyển hoá những tập khí chưa tốt mà con đã tiếp nhận từ gia đình, tổ tiên con. Chị em chúng con có những buổi ngồi lại, chia sẻ sự thực tập với nhau, điều đó đã nuôi dưỡng con rất nhiều. Mỗi ngày con đều có niềm vui cho mình, tâm bồ đề được nuôi dưỡng và tưới tẩm, con biết sống chậm lại hơn. Khi có những tâm hành xấu đi lên, con nhận diện được, theo dõi hơi thở và yên lặng cho chúng tự dịu xuống, điều đó thật kỳ diệu. Chị em nhỏ chúng con có khi cũng giận nhau, nhưng chỉ một lát là cười nói lại bình thường nên con thấy vui lắm. Trong giờ cơm và sau khi ăn xong, mọi người đều tặng cho nhau nụ cười, điều này cho con cảm giác rất thân thiện. Chấp tác trong đội luân phiên thì luôn có tiếng cười, các chị em không bao giờ quên cảm ơn nhau mỗi khi chấp tác xong, điều đó thật nuôi dưỡng con. Mỗi khi được quý sư cô nhắc nhở, con rất biết ơn. Con biết con còn nhiều yếu kém và vụng về, con vẫn đang từng ngày nhận diện và chơi với nó, để có thể hoàn thiện con hơn. Con mong sẽ được quý sư cô nhắc nhở và sách tấn trên con đường thực tập. Con biết khi chính tự thân con biết trở về thực tập được những điều thật căn bản ấy, con mới có thể giúp được gia đình nhiều hơn.

Con đường tu đối với con thật sự rất đẹp. Con biết chắc chắn sẽ có những khó khăn và thử thách. Nhưng bên con luôn có Bụt, Tổ, có Sư Ông, có tăng thân và gia đình yểm trợ cho con. Con sẽ cố gắng hết lòng để vững bước trên con đường của lý tưởng phụng sự.

Hồng Vân

Chọn một hướng đi

Con không biết như thế nào nhưng con cảm nhận được là con đã chờ đợi, đã đi tìm một pháp môn như thế này lâu lắm rồi, nên khi biết đến nơi này con thật sự vui mừng như thân cây khô héo bỗng gặp trời mưa. Con thấy đây là một sự may mắn kịp thời cho con.

Con đã đến Diệu Trạm được một tháng rưỡi. Trước khi rời gia đình, con mất hơn một tháng để làm lắng dịu cơn thịnh nộ đẫm lệ từ gia đình và người thân. Sống ở đây con đã được hòa mình vào dòng chảy của tăng thân, được tăng thân nuôi dưỡng và tưới tẩm. Con cảm thấy được may mắn và hạnh phúc.

Ở trên đời, ta phải chọn lựa rất nhiều thứ, mà không có sự chọn lựa nào là không khổ đau. Con đã lựa chọn con đường này, con đường tuy nhiều khó khăn, chướng ngại nhưng chính là con đường mà con hằng đi tìm. Ở đây, con không cần mặc đẹp và thời trang như ngoài kia, ăn uống thì hiền hòa, đơn giản, không có smartphone hay facebook, cũng không tiền tài, bằng cấp, hơn thua và học thức, địa vị và danh vọng. Để là một con người hạnh phúc, thành đạt đúng theo nghĩa ngoài đời thì con chẳng có gì cả. Nhưng ở đây, con đã nhận ra được rằng chính cái “chẳng có gì” đó lại làm cho con trở nên giàu có và hạnh phúc thực sự.

Thực tập hơn một tháng ở đây cũng là thời gian để con tự nhìn lại tâm nguyện của mình, con đường mà con đang và sẽ đi, để đến bây giờ con nhận thấy rằng mình đang đi đúng đường. Con biết trong con vẫn còn rất nhiều yếu kém, vụng về, dại dột, nhưng sâu thẳm trong con là sự hết lòng, là ước muốn tu học với trái tim muốn cống hiến một cái gì đó cho cuộc đời như chính con đường mà tăng thân đang đi. Con nguyện xin Bụt gia hộ để đôi chân bé nhỏ của con đủ mạnh mẽ và vững chãi để con có thể đi cùng tăng thân trên con đường này.

Kim Tiền

Về Nhà

Nhân duyên đầy đủ, con được tham dự một khóa tu do quý thầy Làng Mai tổ chức. Lúc đầu con thấy lạ khi đi thiền hành trong im lặng mà không đọc danh hiệu của các vị Bụt hay các vị Bồ tát, con thấy lạ với các pháp môn Thiền buông thư, Pháp đàm, Làm mới… Mọi thứ đối với con lúc ấy rất bỡ ngỡ và lạ lẫm.

Khi đã biết được pháp môn Làng Mai, con bắt đầu tìm hiểu và thực tập những pháp môn căn bản. Càng thực tập, con càng có cơ hội thấy tâm bình an hơn, không còn suy nghĩ đến những chuyện tiêu cực nữa. Con có hạnh phúc khi ngồi thiền, đi thiền và khi thực tập Năm quán trong lúc ăn cơm. Từ những hôm ấy, chí nguyện xuất gia, tâm bồ đề của con càng vững vàng hơn và mạnh mẽ hơn so với lúc trước. Con vui mừng vì đã thoát hẳn ra khỏi chứng trầm cảm. Con đã tìm được con đường cho cuộc đời mình.

Một tháng thực tập cùng quý sư cô và các chị em ở đây, được đại chúng nâng đỡ, chia sẻ và hướng dẫn, con thực tập nuôi lớn tâm bồ đề của mình. Đặc biệt, con có sư cô y chỉ sư hết mực quan tâm, chăm sóc cho con. Con cảm thấy mình có thể mở lòng ra với quý sư cô và mọi người, ở đây đã như ngôi nhà của con từ rất lâu rồi. Con có thể đến và chia sẻ về hoàn cảnh, về những lo sợ, những khó khăn của con với quý sư cô và các chị em tập sự. Chia sẻ ra được, con thấy thân và tâm của con bình an hơn, “chiếc hộp” tình thương trong con đã tự mở khóa, đã trao đi và đón nhận lại tình thương từ quý sư cô và đại chúng nơi đây. Con thực tập ngồi yên, nhìn về quá khứ, nhìn những gì con đã làm mà trước đây con chưa bao giờ nghĩ rằng sẽ có ngày mình hối hận về những việc ấy.

Ở đây, con được thực tập thi kệ, thực tập các pháp môn căn bản, tham dự thời khóa với đại chúng. Con có thời gian lắng lại và nhận thấy trong con đã chuyển hóa ít nhiều một số tập khí chưa tốt cũng như đã phát triển thêm những hạt giống tốt. Có những lúc ngồi thiền, con thực tập thở cho ba của con, thở cho mẹ của con. Khi đi thiền hành con cũng thực tập đi cho ba, đi cho mẹ. Cũng có những lúc ngồi thiền và đi thiền, con thực tập đếm hơi thở, đếm bước chân như những điều quý sư cô chia sẻ khi con mới vào Diệu Trạm.

Càng có nhiều thời gian và đầu tư nhiều hơn vào thực tập, con càng ý thức được thân của con “hư hỏng” rất nhiều, con biết mình cần phải thực tập nhiều hơn để không gồng ép cơ thể và để con có thể tham gia và thưởng thức thời khóa của đại chúng. Con cũng ý thức được những tâm hành xấu, những hạt giống sợ hãi trên mảnh vườn tâm của con. Khi con ý thức được những điều ấy, con dừng lại, trở về với hơi thở để có thể có mặt với những tâm hành chưa đẹp, những hạt giống lo sợ và tạo không gian cho những hạt giống tốt nảy mầm.

Con mong muốn được tu học, thực tập để chuyển hóa bản thân, để hiểu và thương gia đình con, thương mọi người và mọi loài, đó là hạnh phúc đích thực, trong đó có tình thương, có lý tưởng mà con đã tìm kiếm rất lâu dù nó luôn hiện hữu trong tâm con.

Khánh Lê

Bạn và tôi

Viết cho bạn tâm giao
Góc ấm, 29.12.2017
Hiếu thương,

Trời Huế đang vào độ cuối đông. Mưa tuy không nhiều bằng những năm trước nhưng cũng rỉ rả, lúc ngắn lúc dài cả ngày. Cái không khí se lạnh đủ để cần tới một ly trà nóng, một ánh nến, thắp lên trong nhau cái ấm áp tình chị em mà bình thường ít khi tôi nghĩ tới. Ít nghĩ tới, không phải là tôi hời hợt đâu Hiếu nghen! Chỉ là lúc nắng ấm tôi thích ở yên và học hành. Còn đông về làm cho con người ta muốn gần nhau hơn, vậy thôi. Đi tu tự nhiên tôi thích mưa, thích lạnh. Kể cũng hay.

Ở chùa đi đứng, nói năng, ăn uống… như bao người bình thường, vậy mà có cái gì đó làm cho cuộc sống của mình trở nên thật lạ, thật đẹp và thật đáng sống. Lạ và đẹp ngay trong những cái thật bình thường, Hiếu biết đó là cái gì không? Để tôi kể Hiếu nghe. Có một buổi trưa không ngủ được tôi ngồi dậy, đi ra ngoài, ngồi xuống trên hành lang và bắt đầu nhìn ngắm mọi thứ. Không gian tĩnh lặng một cách kỳ lạ. Tôi nhắm mắt lại, lắng tai nghe và bất chợt bắt gặp tiếng của thinh không vọng về. Không gian ấy, thanh âm ấy không ồn ào, vồn vã (nếu không muốn nói là hoàn toàn yên ắng) lại có một sức hút thật mạnh mẽ. Cái mà sau này tôi hay gọi là “hồn trưa” mỗi khi nghĩ tới.

Trưa! Chỉ là một khoảng thời gian giữa ngày, vậy mà không hiểu sao nó lại có được cái vẻ tĩnh lặng, trầm hùng ấy. Có khi nó trầm hùng và uy nghiêm hơn cả buổi khuya ấy chứ. Hiếu có cảm nhận giống tôi không? Tôi nhận ra trong khoảnh khắc ấy mọi thứ trở nên rất thơ, rất thiền, gợi cho mình cái cảm giác bình an chi lạ. Có lẽ đã có nhiều tâm hồn nghệ sĩ lấy nó làm nên nguồn cảm hứng sáng tác. Riêng tôi, mỗi khi nhớ về một ký ức đẹp nào đó ngày còn bé, thật ngẫu nhiên, phần nhiều trong số đó đều gắn liền với buổi trưa.

Với tôi, sự thích thú với cái “hồn trưa” ấy cũng giống như việc tôi ở chùa vậy. Tuy ở chùa cũng làm những công việc như ở ngoài, nhưng bên trong những việc làm và nếp sống ấy có cái tĩnh lặng, thanh thoát mà nếu một người biết quay trở về để tiếp xúc, họ sẽ thấy trong mỗi cử chỉ, động tác mình tạo ra có cái gì trầm hùng, thiêng liêng lắm. Mỗi bước chân đi tự nhiên nên thơ, mỗi hơi thở bỗng hóa thiền là vậy. Cuộc sống xung quanh và thế giới nội tâm sẽ trở nên xinh đẹp khi mình biết dừng lại. Vì chỉ khi nào mình thực sự biết dừng thì lúc đó mới biết mình có thật nhiều cơ hội để sống, để tận hưởng và yêu thương bằng cả trái tim mình. Dừng ở đây với tôi là dừng đeo đuổi, tìm kiếm, dừng suy nghĩ mông lung, dừng lăng xăng, dừng lại những việc làm tổn hại đến mình và người khác. Còn Hiếu muốn hiểu nó theo cách nào cũng được vì mỗi người có mỗi kiểu suy nghĩ, mỗi khái niệm riêng mà. Khi nào tự dưng “mất ngủ” giữa trưa thì thử ra hành lang ngồi giống tôi coi cảm giác ra sao rồi kể tôi nghe với nghen.

     Tết nhứt tới nơi, không biết Hiếu đã chuẩn bị gì chưa chứ tôi thì năm nào cũng ăn Tết kỹ lắm. Năm nào cứ tới khoảng giao mùa này, tôi cũng dành cho mình một chút thời gian để nhìn lại mình cho sâu, cho rõ. Nhìn để biết mình đã sống như thế nào trong một năm qua, đã thực tập và gặt hái được những gì, có lỗ vốn không và cần phải đầu tư, chú trọng những gì cho năm mới. Sau đó, viết xuống thành một bảng tổng kết thu chi cuối năm cho tự thân. Tôi thấy sự thực tập nhìn lại này nuôi dưỡng tôi nhiều lắm. Vì khi nhìn lại, tôi nắm được tình trạng của mình. Biết mình đang là ai và đang ở đâu. Người ta có câu: “Biết người biết ta trăm trận trăm thắng”. Tôi thấy mình có khác đi một chút, thay đổi và chuyển hóa được một chút. Bồ đề tâm lớn hơn, kiên cố hơn. Hướng đi ngày càng thênh thang, rộng mở hơn, tu thảnh thơi, vững chãi hơn. Vì vậy tôi tìm được niềm vui trong công việc và cống hiến hết lòng những gì mình có cho đại chúng mà không còn tranh thủ mọi lúc để có thời gian riêng mà học hành. Với những lên xuống, bất như ý xảy đến, tôi cũng đã có đủ can đảm để đối diện, nhìn cho kỹ vấn đề của mình và tìm cách chơi với chúng mà không còn trốn chạy hay tìm cách khỏa lấp, dù lúc mới thực tập tôi cũng có chút khó khăn. Và còn thêm nhiều tin vui khác nữa.

       Càng tu, tôi càng cảm thấy thích thú, say mê. Thích thú với những điều mầu nhiệm có sẵn khắp mọi nơi, say mê với những khám phá mới mẻ ngay trong con người mình. Đã đến lúc quay về với mái nhà của mình để dọn dẹp, trang hoàng chuẩn bị đón một cái Tết yên vui và ấm áp. Hiếu cũng nhớ để chút thời gian ghé thăm vườn tâm của mình để xem một năm qua nó thay đổi thế nào hen.

Tôi tạm ngưng ở đây. Mong sao cái Tết đến với Hiếu, với tôi và với cả hành tinh xinh đẹp này thật tròn đầy, ấm áp. Luôn biết ơn Hiếu vì đã ở đó và lắng nghe tôi thật sâu.

Chào bạn tâm giao!
Chân Trăng Từ Hiếu

Bên Thầy

Rạng đông

Bây giờ là năm giờ sáng, mặt trời còn ngủ, trên đầu giăng mắc đầy sao. Bước chân tôi phải vội một chút. “Phù! Thầy vẫn ngủ”. Khe khẽ thôi. Bởi một tiếng động không đúng lúc sẽ làm ảnh hưởng một ngày mới của bạn đấy. Hơi thở tôi lúc này không thoải mái lắm. Cảm giác hơi mất tỉnh táo, vì cái buồn ngủ ấy cứ quanh quẩn bên mình. Thầy nằm yên đó, hơi thở của Thầy đều đặn lạ. Nếu bạn buông hết tất cả để hòa mình vào hơi thở của Thầy, bạn sẽ cảm được một cái gì đó rất sâu, tự nhiên, không hề có thứ gì xen tạp vào. Chỉ cần quan sát, buông thư cơ thể một chút, ngồi yên thôi! Tôi nghĩ Thầy cũng thích như thế hơn.

Bạn lắng tai đi! Khi những chú chim bắt đầu ríu rít, bạn phải đứng dậy để vén màn ra. Thầy không thích đóng kín màn, bạn biết Thầy yêu thiên nhiên đến dường nào mà. Ngọn núi phía trước chập chờn sáng rồi. Sương còn nặng lắm. Mỗi buổi sáng thức dậy, Thầy thường chắp tay trước ngực, ngồi yên và quan sát rất lâu khung cảnh phía trước. Mắt Thầy sáng đến lạ thường. Thỉnh thoảng Thầy sẽ mỉm cười và chạm tay vào má bạn, như nói rằng “Thầy trò ta cùng ăn mừng sự sống, con nhé!” – và bạn cũng sẽ mỉm cười cùng Thầy. Buổi sáng là thời điểm mà mọi thứ rất nhẹ nhàng, từ tốn. Hãy tận hưởng và hòa mình vào không gian ấy. Đừng cố hoạch định hay tính toán bất kỳ thứ gì.

Chạng vạng

Ở bên Thầy, nếu không quá bận rộn bạn sẽ có được những thời gian ngồi yên rất lâu. Thầy không đòi hỏi ở bạn phải có quá nhiều thứ. Thời điểm này, sự có mặt và kỹ năng yểm trợ là thứ cốt lõi mà bạn phải làm được. Nếu bạn có mặt thật sự thì tình thương trong bạn sẽ được nuôi lớn mỗi ngày. Ở cạnh Thầy, mỗi cử chỉ nhỏ của Thầy nếu quan sát đủ bạn cũng sẽ đánh động được những hạt giống thương yêu trong mình. Thầy thích phơi nắng vào những buổi chiều. Nắng vàng rực! Cây cối đồng chuyển một màu óng ánh, cả ngọn núi phía trước nữa. Thầy thường chạm nhẹ vào lan can, ngồi yên. Thầy là người có khả năng tiếp xúc với mọi thứ một cách rất sâu sắc. Bên Thầy bạn có thể “học lóm” một số cử chỉ để làm tăng cái chất thiền vị trong bạn. Chạm đến một bông hoa, đưa nó lên mũi, một nụ cười hay đơn giản là một cái đặt tay.

Khoảnh khắc buổi chiều qua nhanh lắm, lắng dịu để chuẩn bị cho một buổi tối đầy linh động. Cái thời khắc nhá nhem hay gợi cho tôi những nỗi buồn, những suy tưởng về quá khứ đã đi qua. Với không gian yên ắng nơi thất, tâm hồn bạn rất dễ chùng xuống. Nhưng chúng cũng sẽ qua rất nhanh đấy, vì cạnh Thầy bạn không thể giữ cho mình một cảm xúc quá lâu được. Chúng chuyển biến liên tục. Cười đó nhưng có thể bạn sẽ căng thẳng liền lập tức, hoặc giả bạn sẽ phải bối rối. Đừng lo lắng! Nếu bạn uyển chuyển một cách khéo léo với chúng, bạn sẽ tìm thấy những niềm vui và sự nuôi dưỡng có một không hai cho mình  đấy!

Đứng bóng

“Không có một giọt gió. Trời cao cao quá, cao đến im lìm, cao cho đến nỗi trở nên vô cùng sâu thẳm. Cây cối như chết đứng, không nói năng được một lời nào trong giây phút ấy. Mặt trời như thôi miên trái đất và điểm huyệt trái đất bằng con mắt lửa hung hãn của nó khiến trái đất và muôn loài trên trái đất trở thành bất động, không còn cựa quậy được nữa… Nếu ta thiếp đi vào buổi trưa trong một giấc ngủ ngắn mà thức dậy đúng vào giờ phút ngưng đọng ấy, thì lập tức ta nghe tiếng gọi” (Nẻo về của ý – Thầy Làng Mai). Bạn nghe được gì? “Tiếng gà não nùng xao xác gáy”, “nắng lổ đổ rụng trên đầu người viễn khách ở xóm đạo vắng người”, hay tiếng vũ trụ gọi bạn về? Bản thể bạn sẽ đáp lại tiếng gọi ấy như thế nào?

Rất chậm! Là từ mà tôi chọn để miêu tả cái thời gian ở bên Thầy vào thời điểm đứng bóng trong ngày. Duy chỉ có cái đồng hồ treo tường là cứ tích tắc đều đặn. Chúng đưa bạn vào cơn thùy miên một cách dễ dàng. (Không một sinh lực nào có thể cản nó lại được). Tôi nhớ có một lần Thầy không nghỉ trưa, Thầy thức để tập đạp xe. Anh em chúng tôi yểm trợ tập tay cho Thầy. Rồi một, rồi hai, rồi ba… một trăm lẻ bảy, rồi một trăm lẻ tám… kết quả là anh em chúng tôi ngủ gục đi mất. Thầy điềm tĩnh lắm, cứ thản nhiên mà đạp xe thôi! Chúng tôi cứ hay đùa với nhau: chơi cái trò đếm cừu vào thời điểm này, ai mà không ngủ mới là cao thủ lắm lắm!

Có một buổi trưa ngoại lệ, tôi không ngủ. Không khí oi bức lắm. Trong không gian, bạn có thể nhìn thấy mọi thứ như đang bốc hơi với những lằn mờ mờ trong không khí. Cơ thể tôi như muốn chống cự lại, nhưng càng chống cự bạn càng thấy thiên nhiên mạnh mẽ đến dường nào. Tôi gặp em vào trưa hôm ấy. Tôi hơi bất ngờ, vì thời điểm này mà bắt gặp được em là một điều gì đó không nghĩ được. Tâm tư tôi chùng xuống nặng nề. Vì tôi mặc cảm, tôi ngại ngùng khi phải gặp em. Chúng ta chưa chấp nhận nhau, chưa nhìn thẳng vào nhau. Thế mà ngày hôm nay em nhìn tôi mỉm cười. Tôi không hỏi, cũng chẳng nói gì. Trong giây phút ấy, em chính là tôi, cái tôi yên lắng, bình dị. Trời vẫn cao và còn trong lắm, không gió nhưng lòng tôi lại mát dịu hẳn ra. Tôi biết sẽ có những giây phút chỉ đến với chúng ta một lần. Đó là lúc mà bạn phải tỉnh táo để trả lời lại tiếng gọi kia. Bạn sẵn sàng chưa?

Huyền hoặc

“Gối khuya rừng mộng trăng mười sáu
Mười sáu trăng rồi, ngươi biết không?”

(thơ Thầy Làng Mai)

Nếu bạn là một học trò giỏi của Thầy, hoặc giả là người yêu thích thiên nhiên hay thi ca, bạn sẽ không thể nào không biết đến hai câu thơ này của Thầy. Tôi may mắn có được cái sở thích yêu trăng, yêu sao từ hồi còn bé. Ngày xưa, mẹ chỉ chỉ cho tôi có hai chòm sao Hậu và sao Cày, nên bây giờ mỗi lần nhìn lên bầu trời là tôi lại tìm hai chòm sao ấy. Tôi không đam mê tìm hiểu các chòm sao, đơn giản là tôi thích ngắm nhìn chúng như thế thôi. Không đêm trăng nào giống đêm trăng nào đâu. Bên Thầy vào những đêm trăng sáng, không cần phải suy nghĩ bạn cũng sẽ tự biết và tự tìm cách mời Thầy thiền trăng. Không lần nào anh em chúng tôi thất bại, dù hôm đó trời chuyển nhiều mây nhưng ít ra Thầy cũng sẽ ra tới sàn gỗ, hóng một ít gió. Nhìn cái cách Thầy ngắm trăng bạn sẽ có cơ hội trở thành một thi sĩ. Ánh nhìn thật trầm lặng và sâu lắng, một sự trầm tĩnh tuyệt đối. Tôi đã nói Thầy là một người có khả năng tiếp xúc mọi thứ một cách sâu sắc rồi mà! Ánh trăng chỉ có mặt khi chúng ta thật sự có mặt. Thầy có thói quen hay đưa tay lên để ngắm nhìn. Nếu quan sát kỹ bạn sẽ thấy mỗi lần là một cử chỉ, một cái nhìn rất khác, với trình độ thực tập của tôi thì không tài nào giải thích nổi cái cách thiền sư ấy.

Thường vào buổi tối chúng tôi không bật nhiều đèn. Các anh em hay đóng kín màn để Thầy nghỉ. Tôi thì vẫn thích mở một góc màn để có thể nhìn ra bên ngoài. Nếu không ngủ, tôi có dư dả thời gian để quan sát cái màn đêm đầy linh động ấy. Bao nhiêu âm thanh đều lộ rõ, chúng nhạy bén và uyển chuyển, đôi lúc khiến bạn giật cả mình. Thời gian rảnh, anh em chúng tôi tiếc phải ngủ sớm lắm. Dù là có thêm năm mười phút để chỉ uống một ly trà, ngồi yên một lúc, nói dăm ba câu, lâu lâu ngước nhìn mặt trăng một cái. Bạn đừng cười chúng tôi, có được những giờ phút hiếm hoi ấy cũng làm cho tâm hồn bạn giàu có lên đấy, thử coi!

Nụ cười

Sẽ buồn. Nếu một ngày nào đó trên con đường vắng, tôi bắt gặp cái dáng vẻ lủi thủi một mình của bạn. Không quan tâm, không hỏi han, không một cử chỉ. Chúng ta bỏ mặc nhiều thứ quá. Chúng ta quên đi gia tài, quên đi bao điều mầu nhiệm. Những buổi trưa đứng bóng trầm hùng? Cái buổi sáng tinh mơ đầy tiếng chim ríu rít? Hay những xế chiều nhạt nắng? Bạn thấy không? Bên mép phải đôi môi của Thầy đã mỉm rồi đó. Điều ấy không tầm thường đâu. Để có thể mỉm cười, đôi môi ấy đã nhẫn nại, kiên trì và không hề chịu khuất phục trước bất kỳ đau đớn nào. Những lần trông thấy Thầy tập nói, tập hát, bạn sẽ thấy đôi môi ấy kỳ diệu đến dường nào. Đó là gia tài, là pháp khí sống động nhất.

Bên Thầy, bạn có một mối tình sâu đậm. Nơi đó không cần ngôn từ, không cần một khuôn khổ hành xử nào, không luật lệ, không nguyên tắc. Nhưng tình thương sẽ vẫn luôn đong đầy. Nó tự nhiên và đọng lại một cách sâu thẳm nhất. Để rồi trong những phút giây chạnh lòng, cái tình ấy sẽ nhắc bạn trở về…

“Hãy cười cùng tôi, hãy nắm tay tôi,
Hãy vẫy tay chào để rồi tức thì gặp lại”

(Tự do_Tuyển tập thơ Nhất Hạnh, tập thơ Nến Ngọc)

Chân Trời Yên Tử

Bên nhau ta có thầy

Học viện, ngày 5 tháng 12 năm 2017

Thầy kính thương!

Thầy ơi! Thầy có khỏe lên được nhiều không ạ? Bên Thái mùa này đã đỡ nóng hơn, nên chắc Thầy cũng thấy khỏe hơn phải không Thầy? Thầy ơi, Thầy ráng ăn ngủ nhiều thêm một chút, rồi uống thuốc nữa, để Thầy có thể khỏe thêm và có mặt cho chúng con nhiều hơn nha Thầy.

Thầy ơi! Học viện đã có tuyết rơi rồi Thầy ạ, cả không gian trắng xóa đẹp lắm luôn đó Thầy, nhưng mà cũng lạnh lắm. Hôm qua đi thiền dưới tuyết rơi, con thấy rất hạnh phúc. Con đưa tay ra hứng từng bông hoa tuyết rơi xuống, có những bông bị vỡ ra, nhưng cũng có những bông còn nguyên vẹn, có nhiều hình dạng lắm thưa Thầy. Con thấy thiên nhiên sao mà mầu nhiệm quá, từ trên cao rơi xuống lòng bàn tay con biết bao nhiêu là hoa. Con thấy như đang nâng cả sự sống, cả đất trời trong đôi bàn tay của mình, con hạnh phúc vô cùng. Con chưa thấy mưa hoa Mạn Đà La bao giờ, nhưng chắc mưa hoa Mạn Đà La cũng chỉ đẹp đến thế này là cùng thôi Thầy hỷ.

Thầy ơi! Vừa rồi Học viện có tổ chức một khóa tu xuất sĩ ba ngày. Đây là khóa tu xuất sĩ đầu tiên, được tổ chức cho đại chúng ở đây đó thưa Thầy. Con thấy ai cũng trân quý và được nuôi dưỡng nhiều bởi khóa tu này, có lẽ vì mình là xuất sĩ và đây là khóa tu dành cho chính mình. Ai cũng ý thức được điều này nên cống hiến thật hết lòng: Sự có mặt và thực tập trong mỗi thời khóa, những lời chia sẻ, những nụ cười, sự mở lòng, chấp nhận, yêu thương, có mặt thật sự qua mỗi cái nhìn và cách xử sự với nhau. Đội nấu ăn thì nấu toàn những món đặc biệt ba bữa mỗi ngày để cúng dường đại chúng… Con thấy biết ơn từng vị trong đại chúng đã đóng góp hết lòng phần của mình, giúp cho khóa tu này được thành công.
Khóa tu bắt đầu vào ngày thứ Hai (20/11). Buổi sáng đó chúng con được làm biếng, thời khóa bắt đầu vào lúc 7 giờ 30 với giờ ăn sáng. Thường ngày, quý thầy, quý sư cô ngồi ở hai góc của nhà ăn cách xa nhau lắm Thầy ơi. Trong khóa tu này ban tổ chức xếp hai dãy bàn song song gần nhau, anh chị em ngồi quây quần bên nhau, có tình gia đình và rất gần gũi, năng lượng cũng được gom lại hơn trong cái nhà ăn to đùng đó. Vào lúc 9 giờ 30, chúng con được nghe bài pháp thoại đầu tiên của thầy Pháp Ấn. Vì hôm ấy trùng với ngày nhà giáo Việt Nam nên ban chăm sóc có chuẩn bị hoa, quà và bài hát “Bụi phấn” để cúng dường thầy và Sư cô Chân Đức. Không khí tươi vui và ấm cúng lắm Thầy ạ. Sau đó, thầy chia sẻ một bài pháp thoại rất tuyệt vời về ý nghĩa thầy-trò, tinh thần cởi mở học hỏi của người trẻ, tâm khiêm cung và đức nhẫn nhịn của một người làm trò, sự miên mật và quyết tâm của một người tu. Một bài pháp với rất nhiều tuệ giác, từ bi và tâm lý nữa. Thầy đúc kết bài pháp thoại với một ý thật hay: “Một người thầy giỏi là một người biết cách làm trò giỏi, và ai cũng đang tự làm trò và thầy của chính mình”. Lúc 11giờ 30 mỗi ngày, chúng con được thực tập thiền đi với nhau dưới những tia nắng và cơn mưa lá vàng cuối cùng của mùa thu. Vào những bữa ăn, chúng con ngồi quây quần bên quý thầy và sư cô lớn, tíu tít cười nói với rất nhiều niềm vui và hạnh phúc. Lúc 15:00, chúng con có thực tập pháp đàm. Ai cũng cảm thấy hạnh phúc hết vì đây là buổi pháp đàm đầu tiên có đầy đủ mọi người trong chúng, kể cả những vị hay bận nhất. Buổi tối đầu tiên có thiền trà, chúng con ngồi bên nhau, có trà, có bánh, có tiếng nước chảy róc rách, và có tình huynh đệ. Còn có hạnh phúc nào bằng nữa phải không thưa Thầy? Anh chị em chia sẻ với nhau những niềm hạnh phúc, những bài hát, bài thơ… Chỉ một tiếng đồng hồ thôi mà hạnh phúc đong đầy.

Sáng ngày thứ hai của khóa tu (21/11), chúng con tụng giới chung với nhau. Bài pháp thoại thứ hai do Sư cô Chân Đức chia sẻ. Gia đình nhà “Trăng” chúng con lên hát bài “Khi yêu thương” cúng dường Sư cô cùng đại chúng. Hôm ấy, Sư cô đã hiến tặng một bài pháp thoại rất sâu sắc về Duy Biểu, não bộ học, cái tưởng của mình, tầm quan trọng của việc xây dựng – tái lập – duy trì sự truyền thông trong đại chúng, và sự cần thiết của sự thực tập làm mới. Tiếng Việt của Sư cô rất dễ thương và đơn giản, nhưng bài pháp thoại của Sư cô rất sâu sắc và đánh động người nghe. Có lẽ quan trọng không phải ở ngôn ngữ mà ở pháp thân và uy đức của Sư cô, có đúng không thưa Thầy? Khi nhìn thấy Sư cô và thầy Pháp Ấn là những vị trưởng thượng trong đại chúng, con có rất nhiều niềm tin Thầy ạ. Chiều hôm ấy, chúng con có buổi pháp đàm thứ hai mà cũng là buổi cuối cùng của khóa tu này. Thầy Pháp Tuyền làm chủ tọa. Lúc kết thúc, thầy chia sẻ là khi mới bắt đầu buổi pháp đàm, thầy thấy lo lắng lắm. Bình thường, mỗi tuần có một buổi thôi mà đã ít người chia sẻ rồi, hôm qua mới pháp đàm xong, tối thiền trà cũng có chia sẻ nữa, nên không biết hôm nay có ai chia sẻ không. Ngồi được một lúc thầy rất ngạc nhiên vì hôm ấy đại chúng đông đủ, mọi người rất mở lòng chia sẻ, cả những vị chưa bao giờ cất tiếng cũng chia sẻ luôn đó Thầy. Con thấy thành công quá Thầy à. Cánh cửa trái tim của mỗi người đang bắt đầu mở ra rồi. Tối hôm ấy có sáu vị xuất sĩ trẻ đại diện cho những người trẻ nói lên chí nguyện, bồ đề tâm và nghệ thuật giữ lửa của mình. Sáu anh chị em mắt ai cũng sáng, chí nguyện ai cũng vững vàng, con đường rõ ràng, quyết một lòng tu vì mình và vì người. Con ngồi nghe mà thấy thương kính anh chị em mình vô cùng. Những người trẻ tuổi với chí nguyện lớn, từ bỏ những nhu yếu cá nhân, vững bước ngược dòng, sao mà anh hùng quá! Con ngưỡng mộ vô cùng. Con nghĩ nếu Thầy có mặt, ngồi nghe các sư con trẻ của mình chia sẻ như vậy chắc Thầy sẽ hạnh phúc lắm, và tự hào nữa. Mỗi vị đang là một sự tiếp nối xứng đáng của Thầy.

Ngày cuối cùng của khóa tu (22/11), chúng con bắt đầu ngày mới với thời công phu sáng. Sau ba mươi phút ngồi yên, chúng con cùng tụng Bài tụng hạnh phúc. Dù đã được tụng bài này nhiều lần nhưng lần này con thấy khác lắm. Con thấy thấm từng câu, từng chữ trong bài kinh, con thấy mình thực sự may mắn. Niềm biết ơn và hạnh phúc dâng lên trong con. Khởi đầu cho một ngày mới bằng một thời kinh trầm hùng, năng lượng niệm – định tập thể hùng hậu, không còn gì tuyệt vời bằng Thầy ạ. Ngày này không có pháp thoại giống hai ngày trước mà thay vào đó là buổi “Lắng nghe sâu”. Quý thầy, quý sư cô chia sẻ, đóng góp những cái thấy của mình để xây dựng Học viện thêm hạnh phúc, thêm vững vàng. Con rất biết ơn ban tổ chức đã có ý tưởng cho buổi sinh hoạt này để ai cũng có cơ hội nói chia sẻ lòng mình, nói lên cái thấy của mình. Đại chúng cũng có cơ hội hiểu được mỗi thành viên trong tăng thân, hiểu được những nhu yếu tu học, đường hướng thực tập, và cách nhận thức của mỗi vị với những sự việc trong đại chúng. Khi ngồi lắng nghe anh chị em chia sẻ, điều đầu tiên con cảm nhận được là ai cũng thực sự xem nơi đây là nhà của mình, muốn xây dựng cho Học viện thêm đẹp, thêm hạnh phúc. Và một điều rõ ràng nhất là anh chị em có niềm tin nơi nhau, đủ tin tưởng để nói hết những cảm nhận trong lòng mà không sợ hãi hay ngại ngùng. Sau đó các đội chơi trong cuộc thi “Đường về Học viện” được ăn trưa chung với nhau để bàn về tên đội, khẩu hiệu và tập văn nghệ cho đội, chuẩn bị cho buổi chơi vào chiều hôm ấy. Bao nhiêu lo lắng, căng thẳng theo tiếng cười mà tan đi hết. Con thấy thấm thía câu “Peace begins with your lovely smile” của Thầy rồi ạ. Khi huynh đệ đến chơi được với nhau, cười được với nhau thì điều gì mình cũng có thể đi qua Thầy hỉ.
Buổi chiều, đại chúng thi “Đường về Học viện”, con phục quý thầy, quý sư cô sát đất luôn. Ban tổ chức đã đầu tư hết lòng trong việc chuẩn bị câu hỏi. Rất thông thái, từ nội điển đến ngoại điển, bằng tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Pali…, từ kiến thức phổ thông như Toán – Lý – Hóa – Sinh – Văn, lịch sử Làng Mai, lịch sử thế giới, cho đến Kinh – Luật – Luận… Rồi sự uyên bác của các huynh đệ khi trả lời câu hỏi nữa. Câu nào cũng trả lời được hết, sao mà giỏi quá! Tối đó, chúng con có buổi văn nghệ miệt vườn kết thúc khóa tu, đại chúng ra chơi rất hết lòng. Những tiết mục tự phát như đơn ca, song ca, “miền” ca, “cây” ca gì cũng có hết luôn ạ. Quý thầy, quý sư cô lớn ai cũng tham gia hết, cả những vị đã từng có khó khăn nhiều với đại chúng cũng ra chơi nữa, với cái nhìn và gương mặt mới tinh khôi. Vậy là ba ngày khóa tu xuất sĩ đã kết thúc – thành công viên mãn.
Thầy ơi! Con biết ơn Thầy và tăng thân nhiều lắm. Nếu không có Thầy chỉ bày cho chúng con những pháp môn tu học có hiệu quả và thiết thực; nếu mỗi thành phần trong tăng thân đã không tự nỗ lực thực tập và yểm trợ nâng đỡ nhau thì sẽ không thể nào có được những sự chuyển hóa mầu nhiệm như vậy. Con tin rằng với sự có mặt và yểm trợ này, Học viện sẽ lớn mạnh lên rất nhiều. Xin Thầy hãy tin nơi chúng con thưa Thầy. Mỗi chúng con ai cũng ý thức là mình đang sống nơi đây với trái tim của Thầy, chúng con đang đi cho Thầy, đang làm cho Thầy, chúng con sẽ tiếp tục công trình của Thầy và nguyện sẽ là những sự tiếp nối xứng đáng của Thầy.
Con nguyện cầu cho sức khỏe của Thầy được bình phục, để Thầy tiếp tục dẫn dắt chúng con trên bước đường thực tập. Chúng con rất cần Thầy, Thầy ơi!
Con thương Thầy nhiều lắm!

Con của Thầy và tăng thân,
Chân Trăng Sáng Soi

Thầy tin con làm được mà

Sau hơn hai năm ở tu viện Lộc Uyển, tháng chạp năm 2002, tôi về lại Làng Mai Pháp. Đầu tháng giêng năm 2003, Làng tổ chức Đại giới đàn Đã Về Đã Tới. Tôi được dịp cùng Thầy và các thị giả đi thăm các thầy và sư cô trong ban Kiến đàn đang sửa soạn cho buổi lễ. Thầy hỏi tôi: “Con thấy tổ chức như vậy đã hay chưa?” Tôi không chuyên về lãnh vực này, nên cũng chưa biết trả lời ra sao thì Thầy cười và nói tiếp: “Nếu chưa hay, lần sau mình sẽ làm hay hơn!” Thầy thường nói nhiệm vụ của người thầy là tạo cảm hứng cho học trò. Khi học trò đã có cảm hứng rồi thì người đó sẽ làm được nhiều điều kỳ diệu. Chúng ta cũng thường được Thầy trao truyền cảm hứng qua những lời khuyến khích nhẹ nhàng như thế.

Tôi rất được nuôi dưỡng khi đọc hàng chữ “Thầy tin con làm được mà” thường thấy ở phần cuối của email ban giáo thọ xóm Hạ. Mà làm cái gì đây? Câu “Con đang làm gì đó?” Thầy thường hỏi (vào những năm cuối của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI) đã làm cho nhiều học trò lúng túng. Tháng 05 năm 2001, tôi ở trong ban tổ chức các khóa tu và sinh hoạt tại miền Tây nước Mỹ. Có nhiều việc để làm nên tôi khá bận rộn. Thấy tôi đang gởi một văn kiện bằng máy truyền chân (facsimile), Thầy hỏi tôi đang làm gì. Tôi nói là tôi đang gởi fax. Trả lời xong thì mới nhận ra là mình không thuộc bài. Tôi đã được mách là khi được hỏi như vậy, thì mình chỉ cần quay về với hơi thở và mỉm cười thôi. Câu hỏi như là tiếng chuông chánh niệm mời mình trở về với giây phút hiện tại. Dĩ nhiên là Thầy biết học trò đang làm gì, nhưng Thầy muốn giúp cho học trò đừng suy nghĩ và không bị lôi kéo vào công việc quá mà quên đi việc tiếp xúc với sự sống trong giây phút hiện tại. Dừng lại một vài giây để thở thôi mà!

Hồi đó, một số thầy và sư cô xem câu hỏi ấy như là một công án. Nếu trả lời đúng, nghĩa là chỉ quay về với hơi thở và mỉm cười, là coi như đã giải được công án thì rất vui. Nếu trả lời sai, như trường hợp của tôi, thì cũng muốn có cơ hội để được Thầy hỏi trở lại, để thở và cười và xem như được Thầy ấn chứng. Một buổi sáng, trong thời gian đại chúng Lộc Uyển nghỉ ngơi và sửa soạn cho khóa tu, Thầy và đại chúng đi thiền hành dạo chơi ở xóm Vững Chãi. Đi ngang qua văn phòng, biết tôi đang ở trong đó, Thầy bảo thị giả gõ cửa mời tôi đi thiền hành chung. Tôi nói không đi được vì phải lấy thời gian đó để giải quyết một ít công việc. Tôi lại nắm hụt sợi dây Thầy đưa ra một lần nữa. Đúng là lúc đó tôi bị công việc lôi kéo thật. Nhưng chẳng lẽ cứ hụt dây như vậy hoài? Người đưa dây cho tôi lần kế tiếp là các thầy. Trong thời gian làm biếng, một vài thầy đi thiền hành ngang qua văn phòng, thấy tôi đang ở trong đó thì giơ tay chào, mời tôi ra đi chung. Tôi mỉm cười vẫy tay lại, tắt máy tính và đi ra ngoài để cùng đi chơi.

Sự tương tức giữa công việc, thực tập, học và chơi là căn bản cho việc tạo cân bằng trong các lãnh vực trên. Tăng thân ngày càng lớn thì nhu cầu đào tạo, học hỏi, hoằng pháp… ngày càng nhiều. Cho nên có thể chúng ta thấy là mình càng ngày càng bận rộn. “Bất tác bất thực” là một yếu tố chính của đời sống thiền môn từ thời Thiền sư Bách Trượng. Thời còn là sa di, Thầy cũng đã vừa giữ bò vừa lấy thì giở rảnh trong lúc chăn bò để học. Cho nên sự thực tập của chúng ta là làm cho công việc trở thành một niềm vui (It is a joy, not a job). Tôi may mắn là làm việc nhiều nhưng rất ít khi mệt. Khi nào mệt, phần nhiều là do thiếu ngủ, thì chỉ cần ngủ thêm là phục hồi liền. Tôi cũng tập thể dục thường xuyên, sáng nào cũng phải có 30 phút tập gậy. Giấc ngủ trưa thì ít khi nào thiếu. Nhờ biết chăm sóc sức khỏe, tôi thấy mình không bận rộn lắm. Bận rộn thường là do bận tâm nhiều hơn. Mà hay bận tâm thì dẫn đến mệt tâm. Tôi có nhiều niềm vui khi làm việc. Tôi là người làm nhiều việc chớ không phải là người bận rộn. Mà chưa chắc người không làm gì là không bận rộn. Thần kinh học cho biết là khi rỗi rảnh không làm gì hết thì con người có khuynh hướng suy nghĩ lung tung. Điều họ suy nghĩ nhiều nhất là so sánh hơn thua với người khác và thường lo sợ người khác đánh giá về mình. Tâm hành tà kiến (惡見), một trong sáu đại phiền não trong Duy biểu học, chữ tà được viết tiếng Hoa là 惡 , dưới là chữ tâm (心), trên là chữ á (亞), tức là hạng nhì, ngụ ý là mặc cảm thua người. Khi có mặc cảm thua người thì những tâm hành xấu khác có cơ hội biểu hiện nhiều hơn. Cho nên, mình cần thực tập xả để có cái nhìn không phân biệt và để thấy tính tương tức của các hiện tượng.

Mình không cần phải đợi Thầy hỏi “Con đang làm gì đó?” để trở về với giây phút hiện tại. Tiếng chuông chánh niệm mời mình trở về với giây phút hiện tại có thể được biểu hiện qua nhiều dạng khác nhau. Năm 1999, trong một lần ghi danh cho thiền sinh đến tu tập tại Làng trong khóa tu Giáng sinh, tôi định là sáng hôm đó cần phải dành thời giờ để làm cho hết hồ sơ tồn đọng. Một thiền sinh vào làm thủ tục ghi danh, nhưng sau đó còn nấn ná hỏi chuyện này chuyện kia mà không chịu rời văn phòng. Tôi nghĩ anh ghi danh xong thì ra ngoài để tôi có thời giờ làm việc nên cũng hơi cảm thấy khó chịu. Thấy anh hỏi vòng vo thêm mười phút nữa, tôi nhận ra là anh cần được lắng nghe nên mới dừng lại mọi công việc và ngồi nói chuyện với anh hết hai tiếng đồng hồ. Anh ta vừa mới ly dị vợ, nên cô đơn không biết là sau khóa tu sẽ đi đâu. Tôi thấy hai tiếng đồng hồ ấy đã được sử dụng xứng đáng. Làm văn phòng ghi danh cho thiền sinh đến tu học, mình có thể giúp đỡ họ. Chữ “làm” ở đây là có mặt cho người và lắng nghe nỗi khổ niềm đau của người. Trong môi trường Làng Mai, làm việc văn phòng có thể mệt hơn nấu ăn và rửa dọn, nhưng cơ hội tiếp xúc với thiền sinh để giúp họ thì cũng nhiều hơn. Phía sau những mã số hồ sơ có thể là những con người với những âu lo cần được chuyển hóa. Những việc mình làm, thay vì chỉ coi đó là công việc, lại là một sự thực tập thương yêu.

Những việc đó, trên phương diện công việc, chính là công việc. Nhưng chẳng lẽ đi tu mà mình chỉ nói chuyện tổ chức khóa tu, làm việc văn phòng, làm sách… Để đến một giai đoạn nào đó, làm nhiều quá mà không biết nuôi dưỡng mình rồi bị kiệt sức, làm đời tu bị ảnh hưởng thì rất uổng. Trong chuyến đi Việt Nam lần thứ ba năm 2008, tôi có thưa với Thầy là trong mùa An cư tại Bát Nhã, tôi sẽ cố gắng ở tại Tu viện Bát Nhã và sinh hoạt với đại chúng nhiều hơn, với lý do là mấy năm trước vì lo làm tiền trạm các chuyến về Việt Nam, tôi ít có dịp ở với huynh đệ. Thầy dạy tôi là không cần phải cố gắng cực nhọc như vậy, cứ tu nhẹ nhàng và thảnh thơi. Lời dạy đó có ý nhắc tôi là cần phải an trú trong hiện tại, có hạnh phúc trong hoàn cảnh mình đang sống, và trong việc mình đang làm. Có lẽ Thầy nhận thấy một mặc cảm nơi tôi là đi việc tăng sai hơi nhiều. An cư đâu chưa thấy, chỉ biết vài ngày sau tôi phải rời Bát Nhã. Mặc dù tôi thường hay đi nhưng tôi luôn ở với tăng thân, ngoại trừ khi đi máy bay, bởi tôi chỉ đi từ tăng thân này đến tăng thân khác thôi. Ai cũng có vai trò và trách nhiệm trong tăng thân và theo đó mà thực tập và tu học cho hết lòng. Quan trọng là biết nương tựa tăng thân và lấy sự nghiệp tăng thân làm sự nghiệp của mình. Làm được như vậy thì mình thấy rõ là cả tăng thân đang cùng đồng hành với mình. Nếu sự nghiệp của mình tách rời với sự nghiệp của tăng thân thì mình sẽ rất dễ dàng bị chế ngự bởi cảm giác cô đơn và cảm nghĩ bị cô lập.

Trả lời cho câu hỏi “Làm cái gì?” đối với tôi là an trú trong hiện tại, xây dựng và nương tựa tăng thân. Đời sống tăng thân là một dòng chảy. Các thế hệ nối tiếp nhau mà đi tới. Trong các chuyến đi hoằng pháp tại châu Á, tôi có nhiều cơ hội đi cùng với các thầy, các sư cô trẻ. Tôi rất vui khi thấy các thầy, sư cô trẻ từ từ nhận trách nhiệm hướng dẫn tu học và điều chúng. Thỉnh thoảng nếu có thầy hay sư cô nào còn ngại chưa dám nhận trách nhiệm, thì tôi lại nhớ đến câu “Nếu chưa hay thì lần sau mình sẽ làm hay hơn” của Thầy và khuyến khích họ. Quan trọng là có mặt cho nhau và nâng đỡ nhau.

Chân Pháp Khâm

Thắp lửa

 

 

Vẫn là gốc cây ấy

Ngày đêm hiện về trơ xương xẩu

Rễ xuyên đến tận đâu

Mùa thu

Trút lá

Thu gom tinh lực chảy vào vun sức sống cho những ngày đông

Anh dũng, hiên ngang, trầm ngâm, vững chãi

Ngọn lửa hồng lấp lánh cháy trong tim

Em, con chim nhỏ một hôm bay về đậu lại

Cất tiếng hót trượng phu giữa sương phủ im lìm

Tiếng hát đã vang xa và thấm vào từng thớ cây hoàng hôn thêm tịch mịch

Đủ gọi tim tôi ánh lửa tươi hồng

An tịnh nơi gốc cây xưa

Nắm cỏ Cát tường trải sẵn tự bao giờ còn thơm tươi hương sữa

Mùa Yên

Gọi lửa trở về

Thu hết vào trong

Ánh trăng cổ độ

Soi dấu muôn trùng

Em đã thành đứa bé thơ chạy chơi góc trời này, rừng hoa nọ

Tiếng hát thánh thót cũng như chú chim xưa

Cây, sau bao lần tuyết mưa cũng phong sương già dặn

Nhựa sống luân lưu trên hơi thở kiện hành

Chu đáo, tỏ tường, thương mến, chở che

Tội nghiệp em tôi, đã bắt đầu trầm ngâm cho một cái gì chưa rõ

Thương biết mấy bóng dáng hiền nơi đất trời bao la

Hôm đi ngang qua đây

Lần đầu mà sao quen rất đỗi

Em tôi bỗng khóc,

Nước mắt nhỏ xuống khi dựa lưng vào đám rêu già bám lấy thân cây

Tiếng chim ở đâu vọng nghe thân biết mấy

Thì ra cơn gió xa xăm mang về

Cây già rung rinh những cành xương xẩu cuối thu

An tịnh, em ngồi

Nhựa sống tràn dâng

Thấp thoáng bóng Gotama

Trăng sao vừa mở hội.

(Nguyên Tịnh)

Nam Mỹ, hành trình trở về

Ngày 14 tháng 12 năm 2017, sư chú Trời Đức Trí, người Mexico, vừa tròn một tuổi xuất gia. Trong năm qua, sư chú đã cùng quý thầy ở xóm Thượng tu tập, học hành, vui chơi và phụng sự thật hết lòng. Sư chú đã được “tháp tùng” tăng đoàn trong chuyến hướng dẫn tu tập tại Ecuador và Columbia vào tháng 10 năm 2017. Nam Mỹ là miền đất nói tiếng Tây Ban Nha, ngôn ngữ của sư chú, nên sư chú đã có dịp cống hiến thật nhiều cho chuyến hoằng pháp. Sư chú đã chia sẻ niềm vui của mình về chuyến đi đó trong bài viết sau đây – BBT chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Anh.

Thánh địa của những chú rùa  

Ngày 4 tháng 10 năm 2017, sư cô Lan Nghiêm, sư cô Tảo Nghiêm, cùng thầy Pháp Tiến, thầy Trời Đại Dụng và con đã lên đường đi Ecuador và Columbia để hướng dẫn tu học.

Sinh hoạt đầu tiên của tăng đoàn diễn ra tại quần đảo Galápagos thuộc Ecuador. Rất nhiều người địa phương đang cố gắng hết sức mình để bảo tồn môi sinh ở quần đảo này. Quần đảo Galápagos là vườn quốc gia, đã được tổ chức UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới. Năm vừa qua, dân số trên quần đảo này đã tăng lên đáng kể, nhưng phần lớn những người mới tới nhập cư không hoàn toàn ý thức là họ đang được sống ở thiên đường. Đây là một trong những lý do mà nhiều người dân ở Galápagos mong muốn mời tăng đoàn Làng Mai về hoằng pháp tại đây. Người dân địa phương hy vọng quý thầy, quý sư cô sẽ giúp mọi người sống trên quần đảo ý thức hơn về mối liên hệ giữa con người với đất Mẹ để người dân đảo biết trân quý cũng như chăm sóc, giữ gìn sự xinh đẹp và đa dạng môi sinh mà Mẹ thiên nhiên ưu đãi cho nơi đây.

Anh chị Reyna và Roberto là những người tiếp đón khi đoàn đến thăm đảo Santa Cruz thuộc quần đảo  Galápagos. Đây là một gia đình rất dễ thương. Hai anh chị đều có hạnh nguyện rất đẹp, đó là chứng minh cho mọi người thấy rằng con người có thể sống một cách hài hòa với đất Mẹ bằng cách tái chế, ăn chay, sử dụng nước và các tài nguyên thiên nhiên một cách có trách nhiệm, sử dụng năng lượng mặt trời, bằng việc tiêu thụ có ý thức và lành mạnh để đối trị với lối sống tiêu thụ, làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Reyna và Roberto mong muốn cách sống của chính mình trở thành một thông điệp cho thế giới. Thật ra trước khi gặp tăng đoàn, anh chị chưa hề biết gì về Sư Ông hay về Làng Mai. Nhưng với lòng cởi mở và mong muốn tìm hiểu về pháp môn của Làng, anh chị đã phát tâm dành ngôi nhà của mình làm nơi xây dựng tăng thân. Vì vậy, trong thời gian hướng dẫn tu tập tại đây, quý thầy quý sư cô đã mời những ai muốn sinh hoạt tăng thân lâu dài cùng ngồi lại để bàn bạc cách bắt đầu một tăng thân và yểm trợ nhau như thế nào trong sự tu học.

Gia đình Reyna và Roberto ở một nơi có tên là Montemar, nằm trong một cánh rừng trên núi, nơi mà cả mấy trăm con rùa (loại rùa cạn khổng lồ đặc trưng của quần đảo này, còn có tên là rùa Galápagos) sống thảnh thơi, không bị bất cứ ai quấy rầy. Theo con thì loài rùa mới chính là chủ nhân thật sự của mảnh đất này, bởi chúng đã có mặt ở đây không biết từ mấy ngàn năm rồi. Gia đình Roberto và Reyna rất ý thức về điều đó nên đã đối xử với những con rùa một cách rất kính trọng và biết ơn, vì những con rùa này đã chia sẻ không gian sống của mình với gia đình anh chị.

Trong thời gian ở quần đảo Galápagos, chúng con phát hiện ra rằng nếu ta quan sát những con rùa trong một thời gian dài và tiếp xúc một cách sâu sắc, gần như là trở thành một với chúng thì ta sẽ đạt được một cái gọi là “tính rùa” (Turtlehood). Có thể nói rằng “tính rùa” là phẩm chất làm cho loài rùa trở thành những người thầy tuyệt vời. “Tính rùa” chính là khả năng “đã về đã tới” ở bất cứ nơi nào ta có mặt.

Những con rùa không cần đi đến một nơi cụ thể nào đó gọi là nhà, bởi chúng đã có sẵn ngôi nhà ở trên lưng. Bất cứ nơi nào và bất cứ lúc nào chúng cũng đang “ở nhà” cả.

Những con rùa cũng đi rất chậm rãi và khoan thai, không hề vội vã, cứ như thể chúng đang thực tập “kinh hành”. Và khi chúng hoảng sợ, bạn có thể nghe những tiếng thở ra thật sâu của chúng nhằm làm cho phổi nhỏ lại để có thể rút vào trong vỏ, nơi mà chúng cảm thấy an toàn và được bảo hộ. Rùa là một động vật rất bình an, không hề bạo động, dữ dằn hay thù địch. Chúng không giết các con vật khác để nuôi thân vì chúng ăn thuần chay, thức ăn chính của chúng là rau trái, cỏ cây. Có con nặng đến 300 ký lô gam, nhìn cứ như một tảng đá khổng lồ, làm cho ta có ấn tượng là mình không thể nào di dời hay lay chuyển một sinh vật vững chãi và chắc chắn như vậy. Loài rùa đã sống sót qua thời gian là nhờ những phẩm chất ấy. Con cảm thấy rất may mắn là đã có cơ hội viếng thăm những người thầy lớn – những con rùa – và rất vinh hạnh được bước vào thánh địa của chúng.

Triết học – Tình yêu dành cho trí tuệ

Trạm dừng thứ hai của tăng đoàn là Quito, thủ đô của Ecuador. Một trong những khoảnh khắc đáng nhớ đối với con là chuyến viếng thăm trường đại học San Francisco. Giáo sư Andrés Proaño, người đã mời tăng đoàn đến Eduador, đồng thời cũng mời chúng con đến dự giờ giảng của ông và chia sẻ đôi lời với sinh viên trong lớp. Đây là một điều rất đặc biệt đối với con bởi vì trước khi xuất gia, con là sinh viên khoa Triết của trường đại học quốc gia tại thành phố Mexico (National University in Mexico City – UNAM) và đó là một trong những kinh nghiệm tuyệt vời trong cuộc đời con.

Nhiều người cho rằng Triết học là một cái gì rất trừu tượng và thiên về trí năng, không có liên hệ gì với cuộc sống hằng ngày. Nhưng đối với con, Triết học không có gì khác hơn là “Tình yêu dành cho Trí tuệ” (Love for Wisdom). Tình yêu đâu phải là một cái gì trừu tượng hay thiên về trí năng, tình yêu là một cái gì ta có thể cảm được, trải nghiệm được và có thể sống với nó. Khi con nghĩ về Triết học, con nghĩ đến những điều như: tự do, hiểu biết về bản thân, trí tuệ, ước muốn tìm kiếm sự thật, sự tĩnh lặng nội tại, tình thương không điều kiện, một cuộc sống có ý nghĩa, là người chủ của chính mình, v.v.

Vì vậy con rất vui khi được cùng quý thầy quý sư cô đến thăm trường đại học, được gặp gỡ các sinh viên trẻ 18 – 19 tuổi. Con có cơ hội được chia sẻ với các nam sinh viên trẻ tuổi tại sao Triết học là quan trọng nhất trong đời con, và Triết học đã đem con đến với Làng Mai thế nào. Văn hóa và xã hội nơi con lớn lên đã áp đặt lên con một số niềm tin và quan niệm. Trong một cách thức nhất định nào đó, tâm con như đã bị giam cầm trong một nhà tù bởi những niềm tin và quan niệm đó. Con đã không có tự do để tự mình tìm tòi, khám phá, thay vào đó con đã được dạy là phải chấp nhận cách suy nghĩ theo lối mòn dưới sự đe dọa là nếu không như thế thì con sẽ sa vào địa ngục.

Trong thẳm sâu, con cảm nhận thật nguy hiểm khi bị thuyết phục phải tin vào một cái gì đó mà không hề có căn cứ và vâng lời một cách mù quáng. Đồng thời, cách suy nghĩ của con rất khác và không được chấp nhận bởi vì nó không tuân theo lề lối thông thường của xã hội. Trong rất nhiều năm, con có cảm giác như tâm mình là một tù nhân, không được tự do nhưng con chưa bao giờ từ bỏ niềm tin của chính mình.

Năm 21 tuổi, khi đang học tại đại học luật của thành phố Durango, Mexico, lần đầu tiên trong đời con gặp một thầy giáo khuyên sinh viên phải tự mình suy nghĩ, cho phép tâm mình rộng mở, phải biết đặt câu hỏi về những gì mang tính cách giáo điều, về nhà nước, về luật pháp, về tất cả những những nhận thức đã được dựng lên sẵn, và phải để cho tâm mình thật tự do. Ông đã khuyến khích sinh viên có niềm tin vào chính tự thân và vào kinh nghiệm của chính mình. Tóm lại, ông khuyến khích chúng con đặt câu hỏi về mọi sự. Sự khuyến khích của ông không phải để chúng con gây rắc rối mà vì ông biết rằng sự nghi ngờ và tính hoài nghi chính là một cái máy lọc tuyệt vời nhất; và để tìm ra câu trả lời, chúng ta cần phải có một cái đầu có khả năng suy nghĩ thật phóng khoáng. Ông muốn chúng con có một sự liên hệ sâu sắc hơn với thực tại, với sự thật và với vũ trụ. Con rất mang ơn thầy Jose Hugo Martinez Ortiz. Thầy đã qua đời vào năm 2013 nhưng tinh thần của thầy vẫn còn đang rất sống động trong con. Thầy đã giải phóng con khỏi giáo điều và nhìn thế giới qua chính đôi mắt của mình. Đó thật sự là một cuộc cách mạng vĩ đại đối với con, rất sâu sắc và vô cùng ý nghĩa, cho nên một ngày kia con đã quyết định dành 100% cuộc đời mình cho việc rèn luyện, vun trồng và nuôi dưỡng tự thân để có thể giúp những người khác giống như thầy giáo đã giúp cho con.

Đó là lý do tại sao ngay sau khi bỏ nghề luật sư, con đã đến thành phố Mexico để theo học khoa Triết trường đại học Quốc gia. Tại sao lại là Triết học? Là vì như một người thầy khác của con đã nói: “Triết học là một liều thuốc giải độc chống lại những định kiến, sự xác quyết và các lời tuyên bố dựa trên quyền hành”.

Một hôm con tìm thấy quyển Muốn an được an (Being Peace) của Thầy Làng Mai trong thư viện trường đại học. Trong khi đứng đọc quyển sách, con vô cùng kinh ngạc trước sự đơn giản mà vô cùng sâu sắc của lời Thầy dạy. Con chưa bao giờ gặp ai như Thầy. Đến bây giờ con vẫn còn nhớ như in trái tim con đã đập mạnh đến thế nào khi con đọc ba giới đầu của 14 Giới Tiếp hiện trong sách (đây là ấn bản cũ của cuốn sách “Being Peace”, vì vậy giới bản trong cuốn sách này là giới bản cũ, hiện chúng ta đã có giới bản 14 Giới Tiếp hiện tân tu):

Giới thứ nhất: Con xin nguyện thực tập để không bị vướng mắc vào bất cứ một chủ nghĩa nào, một lý thuyết nào, một ý thức hệ nào, kể cả những chủ thuyết Phật Giáo. Con nguyện nhìn nhận những giáo nghĩa Bụt dạy như những pháp môn hướng dẫn thực tập để làm phát khởi tuệ giác và từ bi mà không phải là những chân lý để thờ phụng và bảo vệ.

Giới thứ hai: Con xin nguyện thực tập để phá bỏ thái độ hẹp hòi và cố chấp, để có thể cởi mở và đón nhận kinh nghiệm và tuệ giác của người khác. Con biết rằng những kiến thức hiện giờ con đang có không phải là những chân lý bất di bất dịch, và tuệ giác chân thật chỉ có thể đạt được do sự thực tập quán chiếu và lắng nghe, bằng sự buông bỏ tất cả mọi ý niệm mà không phải bằng sự chứa chất kiến thức khái niệm. Con nguyện suốt đời là một người đi tìm học và thường trực sử dụng chánh niệm để quán chiếu sự sống trong con và xung quanh con trong từng giây phút.

Giới thứ ba: Con nguyện không ép buộc người khác, kể cả trẻ em đi theo quan điểm của con, bằng bất cứ cách nào: uy quyền, sự mua chuộc, sự dọa nạt, sự tuyên truyền và giáo dục nhồi sọ. Con nguyện tôn trọng sự khác biệt của kẻ khác và sự tự do nhận thức của họ. Tuy nhiên con biết con phải dùng những phương tiện đối thoại  từ  bi và ái ngữ để giúp người khác cởi bỏ cuồng tín và cố chấp.

Sau khi đọc quyển sách ấy, hạt giống xuất gia trong con đã được đánh động. Rồi một ngày kia, con bỗng thấy rất rõ ràng bước kế tiếp trong cuộc đời mình là sang Làng Mai và trở thành một người xuất sĩ.

Chính vì vậy con đã rất hạnh phúc được chia sẻ kinh nghiệm này của mình với các sinh viên trường đại học San Francisco ở Quito. Chúng con cũng nói với các em về chương trình xuất gia 5 năm và một số em rất quan tâm. Con nghĩ rất nhiều hạt giống lành đã được gieo xuống ở Quito.

Trái tim Bồ tát

Sau khi rời Quito, chúng con đến Medellin, Colombia. Điều làm cho con vô cùng xúc động là tấm lòng của Alejandra Ruiz, người đã cố gắng tìm mọi cách có thể để cho chuyến hoằng pháp của tăng đoàn tại Medellin được thành tựu. Dù rất bận rộn nhưng cô đã cố gắng sắp xếp thời gian để hết lòng yểm trợ và tham gia mọi sinh hoạt trong thời gian tăng đoàn ở Medellin. Cô đã về ở nhà mẹ, cùng với con gái, để nhường căn hộ của mình cho quý thầy, quý sư cô. Không có Alejandra, có lẽ chuyến hoằng pháp tại nơi đây khó có thể xảy ra. Ngày tăng đoàn rời Medellin, cô đã khóc và cảm ơn quý thầy, quý sư cô đã ở tại nhà cô. Cô cảm thấy rất vinh dự vì điều ấy. Tấm lòng trân quý và niềm tin mà Alejandra cũng như rất nhiều thiền sinh ở Nam Mỹ dành cho người xuất gia làm cho con thực sự xúc động. Chính điều đó đã tạo cảm hứng cho con tu tập hết lòng để xứng đáng với lòng quý trọng và niềm tin ấy.

Trường học dành cho trẻ em nghèo ở Bogotá

Điểm cuối cùng trong chuyến hoằng pháp của chúng con tại Nam Mỹ là Bogotá – thủ đô của Colombia. Chúng con đã có rất nhiều khoảnh khắc rất tuyệt vời ở đây. Một trong những khoảnh khắc đó là lần chúng con đến tham quan trung tâm thành phố mà không hề có một chương trình cụ thể nào. Ximena, Mariavé và Adriana – những thành viên rất tích cực của tăng thân địa phương là những hướng dẫn viên của đoàn. Sau khi tham quan rất lâu trong chợ trái cây, mọi người đã khá mệt, nhưng sư cô Tảo Nghiêm nhất định muốn đi thăm một số nơi nghèo nhất của thành phố. Vì vậy, chúng con đã đến thăm trường học nơi Ximena đang tổ chức các khoá dạy về chánh niệm cho thầy cô giáo. Ximena cho chúng con biết người dân ở Colombia đã phải cố gắng thuyết phục rất nhiều thì chính phủ mới đồng ý mở trường học này cho trẻ em nghèo. Thầy hiệu trưởng cho phép chúng con vào thăm một số lớp học.

Trước tiên là lớp dành cho các em thiếu niên (teens). Các em rất tò mò về người tu và đặt nhiều câu hỏi như: “Quý thầy, quý sư cô có tin vào Thượng đế hay không?”, “Quý thầy quý sư cô tin vào cái gì?”, “Tại sao lại cạo sạch mái tóc?”, “Cái gì xảy ra sau khi ta chết?”…

Chúng con cũng đi thăm lớp học của các em nhỏ năm tuổi, hát và chơi với các em. Các em rất thích. Có những em khi về nhà có thể sẽ không có gì để ăn cả nhưng các em vẫn vui khi đến chia sẻ với chúng con những trái cây và bánh – khẩu phần ăn mà nhà trường dành cho các em. Các em cũng chia sẻ đồ chơi, tặng những món quà nhỏ, những nụ cười và những cái ôm với chúng con. Con rất xúc động trước tấm lòng của các em. Thầy Pháp Tiến cũng rất cảm động nên đã khuyên tăng thân Bogotá thường xuyên thăm viếng và giúp đỡ các em. Sau khi trở về Làng, thầy đã nhờ con dịch một số câu trích từ sách Sư Ông ra tiếng Tây Ban Nha để thầy viết thư pháp gửi cho tăng thân Bogotá gây quỹ giúp trẻ em nghèo ở Colombia.

Chúng con sẽ làm tất cả trong khả năng của mình để hết lòng yểm trợ các tăng thân ở Ecuador và Colombia. Hy vọng chúng con sẽ cơ hội đến thăm lại những nơi này trong tương lai. Hẹn gặp lại!

   Chân Trời Đức Trí