Thắp lửa

 

 

Vẫn là gốc cây ấy

Ngày đêm hiện về trơ xương xẩu

Rễ xuyên đến tận đâu

Mùa thu

Trút lá

Thu gom tinh lực chảy vào vun sức sống cho những ngày đông

Anh dũng, hiên ngang, trầm ngâm, vững chãi

Ngọn lửa hồng lấp lánh cháy trong tim

Em, con chim nhỏ một hôm bay về đậu lại

Cất tiếng hót trượng phu giữa sương phủ im lìm

Tiếng hát đã vang xa và thấm vào từng thớ cây hoàng hôn thêm tịch mịch

Đủ gọi tim tôi ánh lửa tươi hồng

An tịnh nơi gốc cây xưa

Nắm cỏ Cát tường trải sẵn tự bao giờ còn thơm tươi hương sữa

Mùa Yên

Gọi lửa trở về

Thu hết vào trong

Ánh trăng cổ độ

Soi dấu muôn trùng

Em đã thành đứa bé thơ chạy chơi góc trời này, rừng hoa nọ

Tiếng hát thánh thót cũng như chú chim xưa

Cây, sau bao lần tuyết mưa cũng phong sương già dặn

Nhựa sống luân lưu trên hơi thở kiện hành

Chu đáo, tỏ tường, thương mến, chở che

Tội nghiệp em tôi, đã bắt đầu trầm ngâm cho một cái gì chưa rõ

Thương biết mấy bóng dáng hiền nơi đất trời bao la

Hôm đi ngang qua đây

Lần đầu mà sao quen rất đỗi

Em tôi bỗng khóc,

Nước mắt nhỏ xuống khi dựa lưng vào đám rêu già bám lấy thân cây

Tiếng chim ở đâu vọng nghe thân biết mấy

Thì ra cơn gió xa xăm mang về

Cây già rung rinh những cành xương xẩu cuối thu

An tịnh, em ngồi

Nhựa sống tràn dâng

Thấp thoáng bóng Gotama

Trăng sao vừa mở hội.

(Nguyên Tịnh)

Nam Mỹ, hành trình trở về

Ngày 14 tháng 12 năm 2017, sư chú Trời Đức Trí, người Mexico, vừa tròn một tuổi xuất gia. Trong năm qua, sư chú đã cùng quý thầy ở xóm Thượng tu tập, học hành, vui chơi và phụng sự thật hết lòng. Sư chú đã được “tháp tùng” tăng đoàn trong chuyến hướng dẫn tu tập tại Ecuador và Columbia vào tháng 10 năm 2017. Nam Mỹ là miền đất nói tiếng Tây Ban Nha, ngôn ngữ của sư chú, nên sư chú đã có dịp cống hiến thật nhiều cho chuyến hoằng pháp. Sư chú đã chia sẻ niềm vui của mình về chuyến đi đó trong bài viết sau đây – BBT chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Anh.

Thánh địa của những chú rùa  

Ngày 4 tháng 10 năm 2017, sư cô Lan Nghiêm, sư cô Tảo Nghiêm, cùng thầy Pháp Tiến, thầy Trời Đại Dụng và con đã lên đường đi Ecuador và Columbia để hướng dẫn tu học.

Sinh hoạt đầu tiên của tăng đoàn diễn ra tại quần đảo Galápagos thuộc Ecuador. Rất nhiều người địa phương đang cố gắng hết sức mình để bảo tồn môi sinh ở quần đảo này. Quần đảo Galápagos là vườn quốc gia, đã được tổ chức UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới. Năm vừa qua, dân số trên quần đảo này đã tăng lên đáng kể, nhưng phần lớn những người mới tới nhập cư không hoàn toàn ý thức là họ đang được sống ở thiên đường. Đây là một trong những lý do mà nhiều người dân ở Galápagos mong muốn mời tăng đoàn Làng Mai về hoằng pháp tại đây. Người dân địa phương hy vọng quý thầy, quý sư cô sẽ giúp mọi người sống trên quần đảo ý thức hơn về mối liên hệ giữa con người với đất Mẹ để người dân đảo biết trân quý cũng như chăm sóc, giữ gìn sự xinh đẹp và đa dạng môi sinh mà Mẹ thiên nhiên ưu đãi cho nơi đây.

Anh chị Reyna và Roberto là những người tiếp đón khi đoàn đến thăm đảo Santa Cruz thuộc quần đảo  Galápagos. Đây là một gia đình rất dễ thương. Hai anh chị đều có hạnh nguyện rất đẹp, đó là chứng minh cho mọi người thấy rằng con người có thể sống một cách hài hòa với đất Mẹ bằng cách tái chế, ăn chay, sử dụng nước và các tài nguyên thiên nhiên một cách có trách nhiệm, sử dụng năng lượng mặt trời, bằng việc tiêu thụ có ý thức và lành mạnh để đối trị với lối sống tiêu thụ, làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Reyna và Roberto mong muốn cách sống của chính mình trở thành một thông điệp cho thế giới. Thật ra trước khi gặp tăng đoàn, anh chị chưa hề biết gì về Sư Ông hay về Làng Mai. Nhưng với lòng cởi mở và mong muốn tìm hiểu về pháp môn của Làng, anh chị đã phát tâm dành ngôi nhà của mình làm nơi xây dựng tăng thân. Vì vậy, trong thời gian hướng dẫn tu tập tại đây, quý thầy quý sư cô đã mời những ai muốn sinh hoạt tăng thân lâu dài cùng ngồi lại để bàn bạc cách bắt đầu một tăng thân và yểm trợ nhau như thế nào trong sự tu học.

Gia đình Reyna và Roberto ở một nơi có tên là Montemar, nằm trong một cánh rừng trên núi, nơi mà cả mấy trăm con rùa (loại rùa cạn khổng lồ đặc trưng của quần đảo này, còn có tên là rùa Galápagos) sống thảnh thơi, không bị bất cứ ai quấy rầy. Theo con thì loài rùa mới chính là chủ nhân thật sự của mảnh đất này, bởi chúng đã có mặt ở đây không biết từ mấy ngàn năm rồi. Gia đình Roberto và Reyna rất ý thức về điều đó nên đã đối xử với những con rùa một cách rất kính trọng và biết ơn, vì những con rùa này đã chia sẻ không gian sống của mình với gia đình anh chị.

Trong thời gian ở quần đảo Galápagos, chúng con phát hiện ra rằng nếu ta quan sát những con rùa trong một thời gian dài và tiếp xúc một cách sâu sắc, gần như là trở thành một với chúng thì ta sẽ đạt được một cái gọi là “tính rùa” (Turtlehood). Có thể nói rằng “tính rùa” là phẩm chất làm cho loài rùa trở thành những người thầy tuyệt vời. “Tính rùa” chính là khả năng “đã về đã tới” ở bất cứ nơi nào ta có mặt.

Những con rùa không cần đi đến một nơi cụ thể nào đó gọi là nhà, bởi chúng đã có sẵn ngôi nhà ở trên lưng. Bất cứ nơi nào và bất cứ lúc nào chúng cũng đang “ở nhà” cả.

Những con rùa cũng đi rất chậm rãi và khoan thai, không hề vội vã, cứ như thể chúng đang thực tập “kinh hành”. Và khi chúng hoảng sợ, bạn có thể nghe những tiếng thở ra thật sâu của chúng nhằm làm cho phổi nhỏ lại để có thể rút vào trong vỏ, nơi mà chúng cảm thấy an toàn và được bảo hộ. Rùa là một động vật rất bình an, không hề bạo động, dữ dằn hay thù địch. Chúng không giết các con vật khác để nuôi thân vì chúng ăn thuần chay, thức ăn chính của chúng là rau trái, cỏ cây. Có con nặng đến 300 ký lô gam, nhìn cứ như một tảng đá khổng lồ, làm cho ta có ấn tượng là mình không thể nào di dời hay lay chuyển một sinh vật vững chãi và chắc chắn như vậy. Loài rùa đã sống sót qua thời gian là nhờ những phẩm chất ấy. Con cảm thấy rất may mắn là đã có cơ hội viếng thăm những người thầy lớn – những con rùa – và rất vinh hạnh được bước vào thánh địa của chúng.

Triết học – Tình yêu dành cho trí tuệ

Trạm dừng thứ hai của tăng đoàn là Quito, thủ đô của Ecuador. Một trong những khoảnh khắc đáng nhớ đối với con là chuyến viếng thăm trường đại học San Francisco. Giáo sư Andrés Proaño, người đã mời tăng đoàn đến Eduador, đồng thời cũng mời chúng con đến dự giờ giảng của ông và chia sẻ đôi lời với sinh viên trong lớp. Đây là một điều rất đặc biệt đối với con bởi vì trước khi xuất gia, con là sinh viên khoa Triết của trường đại học quốc gia tại thành phố Mexico (National University in Mexico City – UNAM) và đó là một trong những kinh nghiệm tuyệt vời trong cuộc đời con.

Nhiều người cho rằng Triết học là một cái gì rất trừu tượng và thiên về trí năng, không có liên hệ gì với cuộc sống hằng ngày. Nhưng đối với con, Triết học không có gì khác hơn là “Tình yêu dành cho Trí tuệ” (Love for Wisdom). Tình yêu đâu phải là một cái gì trừu tượng hay thiên về trí năng, tình yêu là một cái gì ta có thể cảm được, trải nghiệm được và có thể sống với nó. Khi con nghĩ về Triết học, con nghĩ đến những điều như: tự do, hiểu biết về bản thân, trí tuệ, ước muốn tìm kiếm sự thật, sự tĩnh lặng nội tại, tình thương không điều kiện, một cuộc sống có ý nghĩa, là người chủ của chính mình, v.v.

Vì vậy con rất vui khi được cùng quý thầy quý sư cô đến thăm trường đại học, được gặp gỡ các sinh viên trẻ 18 – 19 tuổi. Con có cơ hội được chia sẻ với các nam sinh viên trẻ tuổi tại sao Triết học là quan trọng nhất trong đời con, và Triết học đã đem con đến với Làng Mai thế nào. Văn hóa và xã hội nơi con lớn lên đã áp đặt lên con một số niềm tin và quan niệm. Trong một cách thức nhất định nào đó, tâm con như đã bị giam cầm trong một nhà tù bởi những niềm tin và quan niệm đó. Con đã không có tự do để tự mình tìm tòi, khám phá, thay vào đó con đã được dạy là phải chấp nhận cách suy nghĩ theo lối mòn dưới sự đe dọa là nếu không như thế thì con sẽ sa vào địa ngục.

Trong thẳm sâu, con cảm nhận thật nguy hiểm khi bị thuyết phục phải tin vào một cái gì đó mà không hề có căn cứ và vâng lời một cách mù quáng. Đồng thời, cách suy nghĩ của con rất khác và không được chấp nhận bởi vì nó không tuân theo lề lối thông thường của xã hội. Trong rất nhiều năm, con có cảm giác như tâm mình là một tù nhân, không được tự do nhưng con chưa bao giờ từ bỏ niềm tin của chính mình.

Năm 21 tuổi, khi đang học tại đại học luật của thành phố Durango, Mexico, lần đầu tiên trong đời con gặp một thầy giáo khuyên sinh viên phải tự mình suy nghĩ, cho phép tâm mình rộng mở, phải biết đặt câu hỏi về những gì mang tính cách giáo điều, về nhà nước, về luật pháp, về tất cả những những nhận thức đã được dựng lên sẵn, và phải để cho tâm mình thật tự do. Ông đã khuyến khích sinh viên có niềm tin vào chính tự thân và vào kinh nghiệm của chính mình. Tóm lại, ông khuyến khích chúng con đặt câu hỏi về mọi sự. Sự khuyến khích của ông không phải để chúng con gây rắc rối mà vì ông biết rằng sự nghi ngờ và tính hoài nghi chính là một cái máy lọc tuyệt vời nhất; và để tìm ra câu trả lời, chúng ta cần phải có một cái đầu có khả năng suy nghĩ thật phóng khoáng. Ông muốn chúng con có một sự liên hệ sâu sắc hơn với thực tại, với sự thật và với vũ trụ. Con rất mang ơn thầy Jose Hugo Martinez Ortiz. Thầy đã qua đời vào năm 2013 nhưng tinh thần của thầy vẫn còn đang rất sống động trong con. Thầy đã giải phóng con khỏi giáo điều và nhìn thế giới qua chính đôi mắt của mình. Đó thật sự là một cuộc cách mạng vĩ đại đối với con, rất sâu sắc và vô cùng ý nghĩa, cho nên một ngày kia con đã quyết định dành 100% cuộc đời mình cho việc rèn luyện, vun trồng và nuôi dưỡng tự thân để có thể giúp những người khác giống như thầy giáo đã giúp cho con.

Đó là lý do tại sao ngay sau khi bỏ nghề luật sư, con đã đến thành phố Mexico để theo học khoa Triết trường đại học Quốc gia. Tại sao lại là Triết học? Là vì như một người thầy khác của con đã nói: “Triết học là một liều thuốc giải độc chống lại những định kiến, sự xác quyết và các lời tuyên bố dựa trên quyền hành”.

Một hôm con tìm thấy quyển Muốn an được an (Being Peace) của Thầy Làng Mai trong thư viện trường đại học. Trong khi đứng đọc quyển sách, con vô cùng kinh ngạc trước sự đơn giản mà vô cùng sâu sắc của lời Thầy dạy. Con chưa bao giờ gặp ai như Thầy. Đến bây giờ con vẫn còn nhớ như in trái tim con đã đập mạnh đến thế nào khi con đọc ba giới đầu của 14 Giới Tiếp hiện trong sách (đây là ấn bản cũ của cuốn sách “Being Peace”, vì vậy giới bản trong cuốn sách này là giới bản cũ, hiện chúng ta đã có giới bản 14 Giới Tiếp hiện tân tu):

Giới thứ nhất: Con xin nguyện thực tập để không bị vướng mắc vào bất cứ một chủ nghĩa nào, một lý thuyết nào, một ý thức hệ nào, kể cả những chủ thuyết Phật Giáo. Con nguyện nhìn nhận những giáo nghĩa Bụt dạy như những pháp môn hướng dẫn thực tập để làm phát khởi tuệ giác và từ bi mà không phải là những chân lý để thờ phụng và bảo vệ.

Giới thứ hai: Con xin nguyện thực tập để phá bỏ thái độ hẹp hòi và cố chấp, để có thể cởi mở và đón nhận kinh nghiệm và tuệ giác của người khác. Con biết rằng những kiến thức hiện giờ con đang có không phải là những chân lý bất di bất dịch, và tuệ giác chân thật chỉ có thể đạt được do sự thực tập quán chiếu và lắng nghe, bằng sự buông bỏ tất cả mọi ý niệm mà không phải bằng sự chứa chất kiến thức khái niệm. Con nguyện suốt đời là một người đi tìm học và thường trực sử dụng chánh niệm để quán chiếu sự sống trong con và xung quanh con trong từng giây phút.

Giới thứ ba: Con nguyện không ép buộc người khác, kể cả trẻ em đi theo quan điểm của con, bằng bất cứ cách nào: uy quyền, sự mua chuộc, sự dọa nạt, sự tuyên truyền và giáo dục nhồi sọ. Con nguyện tôn trọng sự khác biệt của kẻ khác và sự tự do nhận thức của họ. Tuy nhiên con biết con phải dùng những phương tiện đối thoại  từ  bi và ái ngữ để giúp người khác cởi bỏ cuồng tín và cố chấp.

Sau khi đọc quyển sách ấy, hạt giống xuất gia trong con đã được đánh động. Rồi một ngày kia, con bỗng thấy rất rõ ràng bước kế tiếp trong cuộc đời mình là sang Làng Mai và trở thành một người xuất sĩ.

Chính vì vậy con đã rất hạnh phúc được chia sẻ kinh nghiệm này của mình với các sinh viên trường đại học San Francisco ở Quito. Chúng con cũng nói với các em về chương trình xuất gia 5 năm và một số em rất quan tâm. Con nghĩ rất nhiều hạt giống lành đã được gieo xuống ở Quito.

Trái tim Bồ tát

Sau khi rời Quito, chúng con đến Medellin, Colombia. Điều làm cho con vô cùng xúc động là tấm lòng của Alejandra Ruiz, người đã cố gắng tìm mọi cách có thể để cho chuyến hoằng pháp của tăng đoàn tại Medellin được thành tựu. Dù rất bận rộn nhưng cô đã cố gắng sắp xếp thời gian để hết lòng yểm trợ và tham gia mọi sinh hoạt trong thời gian tăng đoàn ở Medellin. Cô đã về ở nhà mẹ, cùng với con gái, để nhường căn hộ của mình cho quý thầy, quý sư cô. Không có Alejandra, có lẽ chuyến hoằng pháp tại nơi đây khó có thể xảy ra. Ngày tăng đoàn rời Medellin, cô đã khóc và cảm ơn quý thầy, quý sư cô đã ở tại nhà cô. Cô cảm thấy rất vinh dự vì điều ấy. Tấm lòng trân quý và niềm tin mà Alejandra cũng như rất nhiều thiền sinh ở Nam Mỹ dành cho người xuất gia làm cho con thực sự xúc động. Chính điều đó đã tạo cảm hứng cho con tu tập hết lòng để xứng đáng với lòng quý trọng và niềm tin ấy.

Trường học dành cho trẻ em nghèo ở Bogotá

Điểm cuối cùng trong chuyến hoằng pháp của chúng con tại Nam Mỹ là Bogotá – thủ đô của Colombia. Chúng con đã có rất nhiều khoảnh khắc rất tuyệt vời ở đây. Một trong những khoảnh khắc đó là lần chúng con đến tham quan trung tâm thành phố mà không hề có một chương trình cụ thể nào. Ximena, Mariavé và Adriana – những thành viên rất tích cực của tăng thân địa phương là những hướng dẫn viên của đoàn. Sau khi tham quan rất lâu trong chợ trái cây, mọi người đã khá mệt, nhưng sư cô Tảo Nghiêm nhất định muốn đi thăm một số nơi nghèo nhất của thành phố. Vì vậy, chúng con đã đến thăm trường học nơi Ximena đang tổ chức các khoá dạy về chánh niệm cho thầy cô giáo. Ximena cho chúng con biết người dân ở Colombia đã phải cố gắng thuyết phục rất nhiều thì chính phủ mới đồng ý mở trường học này cho trẻ em nghèo. Thầy hiệu trưởng cho phép chúng con vào thăm một số lớp học.

Trước tiên là lớp dành cho các em thiếu niên (teens). Các em rất tò mò về người tu và đặt nhiều câu hỏi như: “Quý thầy, quý sư cô có tin vào Thượng đế hay không?”, “Quý thầy quý sư cô tin vào cái gì?”, “Tại sao lại cạo sạch mái tóc?”, “Cái gì xảy ra sau khi ta chết?”…

Chúng con cũng đi thăm lớp học của các em nhỏ năm tuổi, hát và chơi với các em. Các em rất thích. Có những em khi về nhà có thể sẽ không có gì để ăn cả nhưng các em vẫn vui khi đến chia sẻ với chúng con những trái cây và bánh – khẩu phần ăn mà nhà trường dành cho các em. Các em cũng chia sẻ đồ chơi, tặng những món quà nhỏ, những nụ cười và những cái ôm với chúng con. Con rất xúc động trước tấm lòng của các em. Thầy Pháp Tiến cũng rất cảm động nên đã khuyên tăng thân Bogotá thường xuyên thăm viếng và giúp đỡ các em. Sau khi trở về Làng, thầy đã nhờ con dịch một số câu trích từ sách Sư Ông ra tiếng Tây Ban Nha để thầy viết thư pháp gửi cho tăng thân Bogotá gây quỹ giúp trẻ em nghèo ở Colombia.

Chúng con sẽ làm tất cả trong khả năng của mình để hết lòng yểm trợ các tăng thân ở Ecuador và Colombia. Hy vọng chúng con sẽ cơ hội đến thăm lại những nơi này trong tương lai. Hẹn gặp lại!

   Chân Trời Đức Trí

Ngàn suối chung dòng thương

Thiên Ý thôn, Từ Nghiêm tự, ngày 27.11.2017

Các sư anh, sư chị gia đình Trầm Hương kính thương!

Một thập niên đã trôi qua với rất nhiều đổi thay, thấy thật dài mà như mới hôm qua. Khoảng thời gian đó đã cho sư em rất nhiều niềm vui cũng như kinh nghiệm trong cách sống và thực tập. Hôm nay, sư em ghi lại lòng tri ân cùng một vài kỷ niệm trên chặng đường song hành cùng các sư anh, sư chị trong mười năm vừa qua, những điều đã nuôi dưỡng sư em trên con đường này. Khi chia sẻ từ trái tim, sư em biết nó sẽ chạm tới được trái tim, dù các sư anh, sư chị ở phương trời nào, trong hình thức nào.

Sư em nhớ thuở theo chân ba đi trồng mấy cây trầm gió. Nghe ba kể, sư em hiểu được rằng để tìm một cây kết tinh trầm tự nhiên thì rất hiếm, vì vậy người ta thường làm cho thân cây trầm bị nhiều vết thương như cắt cành hay đóng đinh (nhất là thời nay)… để từ đó cây trầm phải tự chữa lành vết thương và tạo thành tinh trầm. Sau đó, người ta đẽo lấy tinh trầm và đốt lên rất thơm. Sư em rất quý cũng như học hỏi rất nhiều từ cách sống của cây trầm. Cây đã dâng tặng cho đời tinh trầm và hương thơm, ngay cả khi nó không còn tồn tại bằng thân trầm xanh tươi. Thật mầu nhiệm! Từ ngày vào tăng thân, được xuất gia, tu học cùng gia đình mang tên Trầm Hương, hình ảnh và cách sống của cây trầm đã soi sáng tinh thần sống và phụng sự của sư em. Theo thời gian, gia đình mình đã đi qua bao khó khăn, có mặt hết lòng để đóng góp cho tăng thân và xã hội bằng nhiều hình thức. Sư em thấy “tinh thần trầm hương” luôn biểu hiện trong mỗi anh chị em chúng mình. Lúc khó khăn hay hạnh phúc, sư em luôn cảm nhận và ý thức sự có mặt của các sư anh, sư chị cho mình. Sức mạnh tinh thần của tình huynh đệ đã thắp sáng mỗi bước đi của sư em.

Sư em thường được nghe đại chúng “tưới hoa” gia đình mình: các sư anh, sư chị sống, đóng góp trong tăng thân, hành xử với nhau và với người thân của nhau cũng như với các vị thiền sinh rất đẹp. Sư em rất được nuôi dưỡng và nguyện sống, thực tập để xứng đáng làm sư em của các sư anh, sư chị, làm người con mà Thầy đã sinh ra từ tuệ giác, thân giáo và khẩu giáo của Thầy.

Thỉnh thoảng, hạt giống cùng tử đi lên khiến đôi lần sư em cũng muốn ra đi, nhưng làm sao sư út Trầm Hương có thể biến mất được khi lòng tri ân và tình thương kính của sư em với tăng thân, với quý sư anh, sư chị đã trở thành chất keo sơn. Ngoài gia đình cây Trầm Hương mình ra, sư em vẫn còn những sư anh, sư chị, sư em đáng kính và dễ thương khác nữa mà. Sư em thấy mình may mắn có Thầy và các anh chị em dễ thương, vì vậy sư em muốn các sư em sau này cũng được may mắn như mình. Khi không có Thầy bên cạnh thì cũng còn có các sư anh, sư chị đáng kính, bao dung, nhân từ, thuần hậu dìu dắt mình trong những lúc khó khăn hay cùng mình chia sẻ niềm vui, nỗi buồn…

Mười năm làm người xuất sĩ, hai mươi mấy năm có mặt trong cuộc đời này, sư em có nhiều cái thật ngốc và phải thực tập chấp nhận nó. Không biết khi nào sư em mới lớn khôn! Sư em từng nghĩ, sau này trở thành sư cụ lụm khụm nhớ lại mấy cảnh ngốc của mình chắc cũng sẽ bật cười. Bây giờ thầm nghĩ lại, đôi khi sư em cũng phải bật cười với những giây phút đó.

Sư em vẫn nhớ, mười mấy tuổi rồi còn gì, thế mà mỗi lần đi thăm phòng quý sư anh ngày Tết, được quý sư anh mời uống trà, sư em lại nói thích uống sữa. Thế là được các sư anh pha cho ly sữa nóng. Các sư anh ở mấy phòng thì sư em được bấy nhiêu ly sữa nóng. Lâu lâu còn được gửi cho cả lốc sữa nữa. Cho đến bây giờ sư em vẫn nhớ tới các sư anh và những ly sữa đó (ngày xưa thái tử Tất Đạt Đa trên con đường thành đạo cũng nhờ bát sữa của nàng Sujata mà). Giờ thì sư em chỉ mong có nhiều cơ hội được chơi và cùng đi trên con đường đẹp cùng các sư anh, chỉ vậy thôi cũng vui rồi. Các sư anh đã chăm sóc, bảo hộ, nuôi dưỡng tinh thần và truyền kinh nghiệm sống cho sư em, có khi còn luyện và thử thách để sư em mạnh mẽ vượt qua những thứ sâu trong nội tâm mình. Các sư anh còn khuyên sư em không nên vướng vào tình cảm. Sư em chỉ mỉm cười thôi, nhưng trong lòng rất cảm kích trước sự bảo hộ của các sư anh. Sư em dặn lòng sẽ chăm sóc mình thật tốt, nhưng cũng tinh nghịch thầm nghĩ rằng chưa chắc các sư anh sẽ không thương ai mà lại đi dặn em mình. Những hành động và biểu hiện của các sư anh đều được sư em quan sát để học hỏi mà…

Và các sư chị là những người luôn gần gũi và sát cánh cùng sư em, nhất là khi sư em đi qua khó khăn. Có người thì âm thầm, có người thì từ xa, có người thì túc trực 24 giờ, buồn vui luôn có đó cho sư em, chia sẻ tâm tư cũng như sự thực tập, dạy cho sư em nhiều kinh nghiệm sống, chấp nhận những lúc sư em bướng bỉnh. Hồi đó, không hiểu tại sao sư em hay hát, hát chẳng ra đâu mà cứ muốn hát, gặp gì hát nấy như là muốn gom tất cả vào bài hát của mình, đôi khi làm các sư chị phải bực mình. Nhưng cái bệnh đó của sư em qua rồi! Sư em vẫn nhớ, có lần một sư chị dạy sư em nấu bánh canh. Sư em đâu có biết, cứ thử nấm rơm hoài, hết miếng này đến miếng khác rồi hỏi vì sao nó không mềm, chín thì nó phải mềm chứ? Sư chị cười rồi bảo nêm, sư em đâu biết bao nhiêu là đủ, nêm đại vào nồi, sư chị chỉ nhìn rồi cười. Sau đó nồi bánh canh mặn chằng. Sư chị nói đôi khi mình phải học từ thất bại của chính mình, chứ không phải chỉ qua lời của người khác. Hồi đó sư em thích ăn cơm cháy. Mỗi lần nấu cơm xong, có sư chị thường để phần một chút cơm cháy cho. Khi biết sư chị sẽ rời chúng, sư em nói: “Sư chị đi rồi sẽ không còn ai để phần cơm cháy cho sư em nữa”. Thế là sư chị khóc làm sư em cũng cảm xúc. Sư em buồn thiệt đó sư chị ơi! Sư chị có buồn không?

Khi có các sư anh, sư chị ra đi, sư em buồn lắm. Sư em đã từng nằm dài trên đơn, mắt nhìn lên trần nhà mà “quán chiếu sự đời”. Tuy còn có các sư anh sư chị khác bên cạnh cùng chung bước, nhưng sư em vẫn mang trong lòng nỗi buồn cho người ra đi. Sư em đã dùng rất nhiều thời gian thực tập và quán chiếu để vượt qua. Đôi khi sư em nghĩ sẽ không thèm chơi với ai nữa hết, không thương ai hết cho khỏe. Sự suy nghĩ ích kỷ và hẹp hòi ấy đã che mất con đường sư em đến với các sư anh sư chị và các sư em. Phải! Trong cuộc sống, đôi khi mình phải dùng tới nhiều phương tiện khác nhau như máy bay, tàu lửa, xe buýt để đi từ nơi này qua nơi khác… thì trong đời sống tâm linh cũng vậy, dù dưới những hình thức khác nhau, mình vẫn có thể chuyên chở sự sống cũng như hạnh phúc tự thân, chung tay làm đẹp và có mặt cho đời.

Sư em nhớ đến câu chuyện đã đọc ngày còn bé về nàng công chúa và mấy con ngỗng. Tuy người ta nói đó là câu chuyện cho con nít nhưng với sư em đó là một tuệ giác. Đôi khi sự đau buồn, sự ganh ghét tầm thường, sự ích kỷ, hay một hạt giống đáng thương trong tâm chính là mụ phù thủy biến chúng ta thành ngỗng bay đi, bay đi khỏi những người mình thương, bay đi khỏi những trái tim thương yêu bao dung và độ lượng. Những khi đó mình hành xử không dễ thương với người thương, người mình chưa thương, cũng như với chính mình…

Sư anh sư chị anh minh, bao dung, nhân từ là tương lai tươi sáng của các sư em! Đó là câu thần chú mà sư em đã học được từ sự đau khổ khi mất đi sư anh, sư chị, sư em của mình. Và nó cũng giống như vị thiên thần luôn nhắc sư em cách sống, cách đối nhân xử thế. Đôi khi chỉ cần một bàn tay nhẹ nhàng cũng có thể cứu vớt và mở được lối đi, tiếp thêm năng lực và ánh sáng trong tâm để các sư em đi tiếp trên con đường tốt đẹp, cho các sư em những cơ hội chuyển hóa và thay đổi. Các sư anh, sư chị luôn kiên nhẫn, chờ đợi, hy vọng, nâng đỡ các sư em và các sư em luôn hạnh phúc được lớn lên và chuyển hóa trong tình thương, trí tuệ của các sư anh sư chị. Không ai mà không từng làm con, làm em, làm anh hay làm chị. Chỉ một giây phút không suy xét là mình đã có thể mất đi em mình, anh mình, chị mình. Sư em đã học được tầm quan trọng của suy nghĩ, lời nói hay hành động qua kinh nghiệm sống của người khác cũng như của chính mình.

Thầy từng dạy sư em: thực tập đúng với vị trí của mình, như là một sư em ngoan hay một sư chị dễ thương, cũng là đang xây dựng tăng thân. Thầy thường hỏi sư em: “Con có biết con có bao nhiêu sư anh, sư chị và sư em không? Con phải biết là mình có bao nhiêu”. Câu nói ấy rất quan trọng. Thật may mắn khi được làm em để khi khó khăn hay đau khổ thì có các anh chị ở đó để chia sẻ. Nghĩ đến điều đó là sư em cảm thấy vô cùng biết ơn. Thỉnh thoảng nếu như các sư anh, sư chị có khó khăn, buồn khổ thì không biết ai sẽ làm người cho các sư anh, sư chị chia sẻ. Sư em mong rằng khi đó các sư anh, sư chị sẽ đi chơi với các sư em. Tình huynh đệ trong tăng thân mình rất đẹp, chúng ta cùng tu, học, chơi và làm việc với nhau. Mình góp phần sáng tạo cho cuộc đời này thêm tươi đẹp, muôn màu muôn vẻ, nhưng không mất đi phẩm chất của người xuất sĩ.

Sư em thấy mình cũng còn bướng bỉnh, thỉnh thoảng hơi ngang và cũng không phải là người toàn hảo. Chính vì vậy mà sư em có nhiều vấp ngã và nhờ đó đã lớn lên. Niềm vui khi học được từ những vấp ngã đó đối với sư em rất thâm sâu và nó thấm vào tinh thần sống của sư em. Đôi khi sư em nghĩ đó là niềm vui của đời người. Sống trong cuộc đời và thực tập trong tăng thân, sư em ý thức là mình có rất nhiều cơ hội để lớn lên, để chuyển hóa và đóng góp cho đời. Mọi thứ đều trở thành cơ hội trong tình thương và trí tuệ của Thầy, của các sư anh, sư chị cùng các sư em. Có những lúc sư em ra trước đại chúng hay đi qua những giai đoạn khó khăn, sự sợ hãi khiến sư em thở không nổi. Trong hoàn cảnh đó, hình ảnh tập đi lúc bé hiện lên, chập chững trong vòng tay của ba mẹ và cố gắng hết sức mình, dù đôi khi té ngã nhưng tiếp tục đứng lên đi tiếp, thế là đi được. Hiện tại sư em cũng là em bé đang tập đi. Sư em thầm nói: “Các sư anh sư chị ơi! Sư em sẽ cố gắng và mỗi ngày sư em sẽ làm tốt hơn”.

Thập niên qua, rời cái nôi Bát Nhã đến môi trường đầu tiên là đất Tổ và hiện tại theo dòng chảy của tăng thân, sư em được nương tựa Thầy và tăng thân ở Làng. Đó là một cơ hội cho sư em lớn lên và nhìn rộng hơn để thấy “tứ hải giai huynh đệ”, trái đất là quê hương, anh chị em khắp chốn là anh chị em của mình. Đi đến đâu cũng thấy những người thân thương, giống như lời của một bài hát: “Đất cũng đẹp, cây cũng đẹp, sao đâu đâu cũng đẹp…”.

Các sư anh, sư chị kính thương! Nàng công chúa trong chuyện cổ tích đã dùng tình thương dệt nên những chiếc áo để cứu các anh của mình thoát hình ngỗng. Còn sư em thì với sự thực tập, đang cùng tăng thân chuyển hóa năng lực của mụ phù thủy để chúng ta sẽ không thành ngỗng bay đi khỏi những người mình thương, không mất đi cơ hội thực tập nuôi lớn tình thương và sự hiểu biết trong chính mình và trong tăng thân. Rồi thời gian cứ thoi đưa, mười năm, hai mươi năm hay bao lâu nữa, dù xa hay gần, chúng ta cũng sẽ tiếp tục hiến tặng cho cuộc đời cũng như có mặt cùng nhau trên “muôn ngàn nẻo sống”, trong muôn hình vạn trạng. Sư em rất hạnh phúc và may mắn được làm sư em của các sư anh, sư chị. Ngày có mặt trời, đêm có mặt trăng với muôn vàn tinh tú cùng chúng ta làm đẹp cuộc đời.

       Thương kính
  Sư út Trầm Hương
Chân Nguyệt Nghiêm

Chương trình “Giọt nước cánh chim”

Kính thưa quý vị thân hữu,

Trọn 3 tháng, từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2017, người Việt Nam ở trong nước hay hải ngoại, ai cũng xôn xao lo lắng. Nghe bão số 10 đổ bộ vào Việt Nam, lại thổi thốc vào Hà Tĩnh, tăng thân Làng Mai đã cầu cứu quý vị thân hữu khắp nơi. Nhân dịp kỷ niệm ngày Tiếp nối lần thứ 91 của Sư Ông Làng Mai, tăng thân Làng Mai đã kêu gọi quý vị thân hữu thay vì làm quà tặng sinh nhật cho Sư Ông thì xin thực hiện hai việc:

  • Thứ nhất, tha thứ cho một người lầm lỗi mà xưa nay mình nghĩ nhất định không thể tha thứ được;
  • Thứ hai, gửi làm quà sinh nhật Sư Ông một số tiền giúp nạn nhân bão lụt tại Hà Tĩnh (đây là tai nạn thứ 3 của tỉnh này).

Sau lời kêu gọi của Chương trình Giọt nước cánh chim, rất nhiều tấm lòng đôn hậu, cảm thông đã đóng góp những giọt tình thương ấm áp để sẻ chia với đồng bào miền Trung đang phải gánh chịu nhiều khổ đau, mất mát trong mùa bão lũ.

Có những câu chuyện chúng con được nghe kể về những em bé như Bảo Đăng, Bảo Chân góp phần tiền quà của mình được 4 đôla 50 cent. Chưa hết, các bé còn đi giải thích và lạc quyên từng anh chị em của mình về chương trình Giọt nước cánh chim và các anh chị đã đóng góp người 90 đô la, người 110 đô la…

Với tình thương và sự yểm trợ hết lòng của quý vị thân hữu khắp chốn, trong các tháng 9, 10 và 11, đoàn cứu trợ của Chương trình Giọt nước cánh chim đã mang 2600 phần quà đến cho đồng bào vùng lũ, trong đó:

  • Tỉnh Hà Tĩnh: 1000 phần quà
  • Tỉnh Quảng Bình (huyện Tuyên Hóa, Minh Hóa): 800 phần quà
  • Tỉnh Quảng Trị: 400 phần quà
  • Tỉnh Thừa Thiên-Huế: Huyện Thủy Dương 200 phần quà, huyện Thủy Phương 200 phần quà
  • Tỉnh Thanh Hóa: Ngày 10 tháng 10 năm 2017, giữa lúc đang mưa bão, thầy Pháp Lộ, anh Chân Giác Hạnh, và anh Sanh đã đến Vinh để đem quà cho đồng bào tại tỉnh Thanh Hóa, huyện Nông Cống (nơi mà gia đình Sư Ông đã sống từ năm Sư Ông 5 tuổi đến 16 tuổi). Tại đây đoàn đã chia sẻ gần 1000 phần quà gồm 500 ngàn đồng và một chiếc mền. Riêng có 25 gia đình vừa mất người cha là lao động chính, vừa bị sập nhà mà gia đình lại quá nghèo nên đoàn đã chia sẻ với mỗi gia đình 2 triệu đồng và một chiếc mền. Sau đó một tuần, Ni sư Như Minh tiếp tục mang thêm 300 phần quà nữa tới với đồng bào Nông Cống.

Mới đây nhất, cơn bão số 12 lại đổ bộ vào các tỉnh miền Trung, bao nhiêu làng xã ngập chìm trong nước lũ dài ngày, vườn tược nhà cửa và tài sản cũng cuốn trôi theo lũ. Trước tình cảnh đó, chương trình Giọt nước cánh chim lại tiếp tục lên đường để mang những món quà tình thương đến với đồng bào vùng lũ.

Tặng quà đồng bào lũ lụt đợt 2:

Ngày 20 và 21 tháng 11 năm 2017, đoàn cứu trợ gồm Ni sư Như Minh, quý sư cô Ni xá Diệu Trạm, sư cô Thuần Định, anh Sum, anh A, đã đi cứu trợ ở Quảng Nam và Quảng Ngãi. Tổng cộng là 800 phần quà cho cả 2 tỉnh với tổng trị giá: 380 triệu VND (trong đó, mền do hãng Decotex tài trợ). Mỗi phần quà trị trị giá 500 nghìn VNĐ, gồm 1 mền, 1 thùng mỳ và phong thư 400 nghìn VNĐ) đến các xã như sau:

Xã Bình Nguyên, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi: phát 200 phần quà cho các hộ nghèo khó và bị thiệt hại trong lũ lụt vừa rồi. Dân đi nhận quà ở đây đa số là các ông bà cụ già, thuộc diện hộ nghèo,  cận nghèo, và có bị ảnh hưởng bởi thiên tai. Tại đây, Ni sư Như Minh có nói chuyện và chia sẻ với bà con về chương trình Giọt nước cánh chim, có kể chuyện con chim oanh vũ chữa cháy khu rừng và món quà của những người con Sư Ông. Ai nấy cũng đều xúc động, không khỏi nghẹn ngào, rơi nước mắt khi nghe Ni sư chia sẻ và đọc thơ.

Xã Tịnh Hiệp, huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi: 200 phần quà cho 200 hộ dân khó khăn ở đây. Sau phần chia sẻ chương trình Giọt nước cánh chim và nghe đọc thơ, Ni sư cùng quý sư cô phát quà cho bà con nơi đây. Người dân ở đây rất vui và cảm động, do ít được nhận quà nên họ rất “lịch sự”, không chen lấn nhau và rất thật thà. Các anh cán bộ Chữ thập đỏ cũng dễ thương không kém. Khi Ni sư ngỏ lời muốn tặng mứt gừng Huế và kẹo mè xửng, các anh cũng không dám nhận và thưa: “Quý sư cô về với bà con khó khăn nơi đây là chúng con mừng lắm rồi, nên chỉ xin nhận tấm lòng thôi”. Các anh cán bộ làm cho đoàn cứu trợ rất cảm động và thêm thương bà con nghèo khó nơi đây.

– Rời Quảng Ngãi, đoàn tiếp tục đi đến xã Trà Giác, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam và phát 400 phần quà cho bà con dân tộc miền núi nơi đây, mỗi phần quà cũng gồm 1 mền, 1 thùng mỳ gói và phong thư 400 nghìn VNĐ. Sau một đêm mưa to tại Quảng Nam, đường đi trơn, lầy lội và vô cùng nguy hiểm. Nhiều thủy điện xả lũ trong ngày này, nên nước các hồ chứa đã đầy tràn. Cộng thêm mưa làm đường đi càng khó khăn hiểm trở. Đồng bào Kinh, Ka-dong (Cadong), Xê-đăng, Kor (Cor) và Mơ-nông (M’nong) ở các huyện miền núi Trà Giác, Bắc Trà My, vùng bị cô lập nhiều ngày trong đợt bão, nên thiếu hụt lương thực, thực phẩm trầm trọng. Đường sá vừa mới được tạm thông để cho các đoàn cứu trợ đưa thực phẩm vào giúp bà con. Đa số dân ở đây làm nương rẫy, nhiều nhà bị sạt lở, mất nhà, mất đất. Bà con chia sẻ đây là lần đầu tiên được nhận quà, được thấy người tu ngoài đời thật, chứ trước đây chỉ thấy trên ti vi. Các em nhỏ ở đây dễ thương hết sức. Khi quý sư cô cho bánh kẹo, các em sợ quá, chạy một lèo (chắc do thấy sư cô không có tóc, lạ quá.), sau mới dám quay lại, nhận kẹo thì biết nói “cảm ơn cô”.

Cảm tác, Ni sư Như Minh đã sáng tác bốn câu thơ:

“Mỗi chặng đường qua xót thương đời

Ước gì biến hoá khắp mọi nơi

Bàn tay xoa dịu bao đau khổ

Trao tặng tình thương đến mọi người”.

Trong tháng Hai năm 2018 vừa qua, để đồng bào kịp đón Tết, quý thầy, quý sư cô cùng các tác viên chương trình Hiểu và Thương đã tranh thủ đi tận các tỉnh, các thôn nghèo đói để tặng quà Tết cho đồng bào. Chân Không xin đính kèm danh sách các tỉnh và các số tiền đã sử dụng từ trái tim thương yêu của quý vị, nhưng không kể nổi tên từng buôn, làng, thôn, ấp của từng miền núi hẻo lánh xa xôi, những chặng đường đi thật hiểm nguy trên miền núi Điện Biên Phủ đến Quảng Trị, Quảng Nam, Phú Yên, Bình Thuận, Đồng Nai, Bến Tre, Đồng Tháp, Cao Lãnh, v.v. Chỉ riêng phần quà Tết phát tháng Hai năm 2018 cho đồng bào được 4.550 phần quà, tổng trị giá khoảng 1 tỷ 421 triệu 600 nghìn VNĐ, tương đương với 63.806 đôla. Dưới đây là chi tiết số lượng các phần quà chúng tôi đã gởi tới:

– Các xóm nghèo tỉnh Điện Biên Phủ: phát 25 triệu VNĐ  với 80 phần quà.

400 phần quà đến bà con tỉnh Quảng Trị. Đặc biệt, có 120 phần quà đến bà con huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Mỗi phần quà trị giá 300.000 VNĐ. Tổng trị giá là 156 triệu VNĐ.

900 phần quà đến bà con tỉnh Thừa Thiên – Huế, tổng trị giá là 245 triệu VNĐ.

300 phần quà đến bà con các vùng Quảng Nam, Đại Lộc, Trà My, tổng trị giá 90 triệu VNĐ.

800 phần quà về các vùng Phú Yên, Nha Trang, Cam Ranh, mỗi phần quà trị giá 400.000 VNĐ, trong đó 100 nghìn VNĐ cho vật phẩm gồm mỳ gói, dầu ăn, đường và một phong thư trị giá 300 nghìn VNĐ tiền mặt, với tổng trị giá là 320 triệu VNĐ.

1020 phần quà đến các vùng Tánh Linh – Bình Thuận, tỉnh Bình Thuận và Định Quán – Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai. Mỗi phần quà trị giá 300.000 VNĐ, tổng trị giá là 306 triệu 600 nghìn VNĐ.

– 200 phần quà đến các tỉnh Daklak và Lâm Đồng, mỗi phần quà trị giá 300.000 VNĐ, với tổng trị giá là 60 triệu VNĐ.

730 phần quà đến với bà con các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre và Đồng Tháp. Mỗi phần quà trị giá 300 nghìn VNĐ, trong đó có gạo, đường, dầu ăn, bánh và một phong thư trị giá 100.000 VNĐ tiền mặt, tổng trị giá là 219 triệu VNĐ.

Luân phiên trong các chuyến tặng quà Tết khu vực phía Nam Việt Nam, đoàn có quý thầy Pháp Toại, thầy Pháp Lộ, có Ni trưởng Lưu Phong, cùng các anh trong chương trình từ thiện xã hội Hiểu và Thương như anh Nghiệm, anh Sanh, anh Đạm, anh Hà, anh Lộc đã thay mặt chương trình chuyển quà đến bà con.

Trong các phần quà có kèm theo thiệp chúc Tết, nói về Năm nghệ thuật sống hạnh phúc (Năm giới tân tu dưới một cách trình bày mới, dễ hiểu và gần gũi với bà con).

Để tiếp tục chung tay giúp sức cho đồng bào miền Trung vượt qua cơn bão lũ, xin quý vị hãy nối kết với chương trình GIỌT NƯỚC CÁNH CHIM. Đóng góp cho chương trình cứu trợ đồng bào miền Trung, xin gửi về cho Chương trình qua ngân hàng, địa chỉ như sau (xin ghi rõ: tiền ủng hộ đồng bào miền Trung):

Tại Việt Nam

Tài khoản dưới tên: Đỗ Thị Hồng Vân

Số tài khoản: 0421000419439,

Ngân hàng Vietcombank, chi nhánh Phú Thọ, Tp Hồ Chí Minh

E-mail: cxcaonguyen2013@gmail.com

Tại Mỹ

Địa chỉ: Thich Nhat Hanh Foundation

(Chương trình Giọt Nước Cánh Chim – Love and Understanding),

Deer Park Monastery

2944 Melru Lane, Escondido CA 92026 USA

Tại châu Âu

Địa chỉ: CBZ Village des Pruniers,

Banque CREDIT AGRICOLE –

IBAN FR76 1330 6003 4242 9011 9901 196

BIC AGRIFRPP833

Tại Đức

Maitreya Fonds e.V. – Spenden-Konto: Munchner Bank e. G.

Konto-Nr.: 2520010 – BLZ : 701 900 00

IBAN: DE 92701900000002520010 – BIC: GENODEF 1M01

E-mail: hilfe@maitreya-fonds.de

Tại Hoà Lan

Stichting Leven in Aandacht p/a Dorpsstraat 25, 7221 BN Steenderen. HOLLAND

E-mail: administratie@aandacht.net

Kính mến và tri ân,

Sư cô Chân Không

Những lợi lạc từ nếp sống đại đồng

Sư cô Mai Nghiêm là một giáo thọ trẻ người Pháp, xuất gia từ năm 18 tuổi. Sư cô đã có nhiều năm sống và tu tập tại tu viện Lộc Uyển, Mỹ. Núi rừng Lộc Uyển đã tạo cảm hứng cho sư cô làm nên một bài cảm tác, phỏng theo mô thức của kinh để tự sách tấn mình trong sự tu tập. BBT chuyển ngữ từ bản tiếng Anh, xin được chia sẻ cùng quý thân hữu.

Đây là những điều tôi được nghe từ một vị trưởng lão chó sói (coyote) đáng kính, khi tôi còn đang ở tại Rừng Sồi trong Đại Ẩn Sơn vào một đêm trăng tròn. Ánh trăng vằng vặc chiếu xuyên qua tán lá sồi đang rung rinh trong gió làm sáng rực cả rừng cây.

Lúc ấy bỗng có một bầy sói trẻ đến thăm. Sau khi hú lên một tràng dài để chào trưởng lão chó sói, chúng khuỵu chân trái xuống đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên.

Một con sói trong bầy xin tham vấn vị trưởng lão bằng một bài kệ:

“Đến thăm Người tối nay
Dưới trăng tròn, sáng tỏ
Lòng chúng con thao thức
Bao vấn đề thâm sâu
Xin nương vào tuệ giác
Bậc anh minh tuyệt vời
Cái nhìn luôn xác thực.

Người thường hay ca ngợi
Một lối sống an lành
Mang lại nhiều lợi lạc
Kết chặt những tình thâm
Những lợi ích lớn lao
Của nếp sống đại đồng
Kính xin Người chỉ dạy.”

Vị trưởng lão chó sói ngắm vầng trăng sáng một hồi lâu, đưa mắt nhìn chú sói nhỏ rồi cất tiếng:
“Các bạn trẻ, thật thế, có rất nhiều lợi lạc mang lại từ nếp sống đại đồng. Tối nay ta chỉ nói cho các bạn nghe một vài lợi lạc mà thôi.

Lợi lạc thứ nhất, này các bạn, đó là: niềm vui và hạnh phúc.

Khi ta sống chung với những ai có cùng một chí hướng, một ước mơ và tâm nguyện, cùng bước những bước chân thương yêu trên đất Mẹ, với ước nguyện giữ gìn sự tươi mát và lòng thương yêu để thắp sáng cho thế gian, thì niềm vui và hạnh phúc tự nhiên sẽ phát khởi trong ta.

Các bạn phải biết rằng được sống ở một nơi có đông chúng sinh mà mỗi sáng thức dậy ai cũng nở một nụ cười là điều rất hiếm hoi và quý giá như tuyết rơi trên những ngọn đồi của chúng ta vậy.

Và lợi lạc thứ hai, này các bạn, đó là: lòng hiếu thảo.
Tại sao thế?

Các bạn trẻ thân mến, khi chúng ta cùng đi một cách hân hoan trên con đường của chân, thiện, mỹ, chúng ta có một cơ hội nhiệm mầu để nhận diện, nuôi dưỡng và làm lớn mạnh gia tài tuyệt vời mà tổ tiên huyết thống đã trao truyền cho chúng ta. Đồng thời đó cũng là cơ hội để ta nhận diện, chuyển hóa và trị liệu những vết thương của tổ tiên. Cùng nhau, chúng ta học cách tưới tẩm những hạt giống đẹp, lành và chăm sóc những hạt giống chưa đẹp, chưa lành trong chính mình và trong nhau.

Như một người làm vườn nhiều kinh nghiệm, khi đi vào khu vườn của mình, người ấy biết: “Đây là cây xô thơm đen (black sage), đây là cây ngải đắng, đây là cây xô thơm trắng (white sage), đây là cây ngải cứu, đây là cây hương thảo”. Người ấy cung cấp cho các loài thực vật trong vườn tất cả những gì cần thiết để chúng lớn lên, như nước, phân bón và tình thương của mình. Người ấy cũng biết sử dụng rác làm thành phân hữu cơ để chăm bón cho khu vườn của mình.

Cũng như thế, này các bạn trẻ, sống trong một môi trường mà ở đó ai cũng đều soi sáng cho nhau, chúng ta có thể để cho những tiềm năng thừa hưởng từ tổ tiên được thăng hoa và chữa lành những khổ đau được trao truyền tự bao đời.

Các bạn trẻ thân mến, các bạn cần phải thấy và hiểu rằng đó chính là một hình thái cao đẹp nhất của lòng hiếu thảo.

Lợi lạc thứ ba của lối sống đại đồng, này các bạn, đó là: sự tương tức.
Lợi lạc này là gì?

Các bạn trẻ, khi chúng ta biết cách sống chung an lạc, biết phát huy và cống hiến gia tài của tổ tiên truyền lại, chúng ta sẽ nhận ra rằng không có sự ngăn cách nào giữa mình và người khác. Sự ganh tị, cạnh tranh, lòng tự hào, sự cô đơn và tất cả những mặc cảm khác sẽ tự nhiên biến mất. Chúng ta không cần khổ nhọc dụng công đi tìm kiếm khắp nơi hoặc làm đủ cách, bởi ta thấy rằng tất cả chúng ta chính là tế bào trong cùng một cơ thể, và ta đang được bảo hộ bởi năng lượng của Rừng Thiêng.

Sống như thế, chúng ta trở thành cây cối cùng lớn lên trong một khu rừng, rễ ta bám sâu vào lòng đất, ta hiến tặng bóng mát và sự có mặt lặng lẽ cho đời. Khi mặt trời buổi ban mai chiếu ánh sáng vào một cây trong khu rừng và làm cho nó trở nên lộng lẫy như dát vàng, nó không vì thế mà cảm thấy đặc biệt hoặc tự hào. Những cây khác cũng không vì thế mà trở nên ganh tị, đố kỵ hay buồn bã. Chúng biết rằng mặt trời rồi sẽ chiếu soi lên tất cả và cây nào cũng đều xinh đẹp bởi cùng với nhau, chúng làm nên khu rừng.

Cũng như thế, những ai sống với tuệ giác không phân biệt, kỳ thị sẽ trở thành suối nguồn vô tận của sự tươi mát, vững chãi, mạnh mẽ và là nơi nương tựa cho mọi loài trong thế gian.

Này các bạn trẻ, các bạn cần phải thấy và hiểu rằng không gì mạnh mẽ và thiêng liêng hơn một bầy đàn biết sống chung như một cơ thể.

Lợi lạc thứ tư, này các bạn, đó là: sự bình an và hòa điệu.
Tại sao thế?
Các bạn trẻ thân mến, khi một bầy đàn cùng nhau chung sống một cách đồng lòng và hoan hỷ trước những hạnh lành, những cái đẹp và sự chuyển hóa của nhau mà không có một chút kỳ thị, phân biệt nào, thì sự bình an sâu sắc và sự hòa điệu sẽ được sinh khởi một cách rất tự nhiên.

Cũng giống như những nốt nhạc khác nhau trong một bản nhạc, những sợi chỉ khác nhau trong một tấm thảm thêu, những con chữ khác nhau trong một bài thơ, những nét cọ khác nhau trong một bức họa, khi kết hợp với nhau, chúng sẽ tạo thành một vẻ đẹp hòa điệu trong một tác phẩm tuyệt vời.

Cũng như vậy, này các bạn, nếu nhiều thế hệ khác nhau, nhiều văn hóa và truyền thống khác nhau ở bất cứ giống loài nào: loài có lông mao hay lông vũ, loài có vảy hay da trơn, loài biết bay hay biết bơi, bò, đi trên bốn chân hoặc hai chân, khi đến với nhau và có thể thấy được rằng sự khác biệt không phải là nguồn gốc của sự cách biệt, phân chia, mâu thuẫn hoặc chiến tranh, mà đó chính là suối nguồn của sức mạnh, là cái đẹp và sự nuôi dưỡng, thì Bình an và Hòa hợp đích thực sẽ đến như một phước lành.

Này các bạn trẻ, các bạn phải thấy và hiểu rằng sống chung với nhau như một mô hình thí điểm cho nếp sống bình an và hòa hợp (“a living laboratory”) sẽ mang lại lợi ích lớn lao cho sự chuyển hóa của chính chúng ta và cho thế giới.

Lợi lạc thứ năm, này các bạn, đó là: thương yêu.
Các bạn trẻ thân mến của ta, khi các bạn sống với những chúng sinh biết học hỏi để thấy được cái đẹp nơi tự thân và nơi tất cả các sinh vật khác trên đất Mẹ, biết sử dụng khổ đau như là những bước chuyển tiếp để qua tới bờ bên kia, biết thiết lập mối liên hệ giữa mình với vũ trụ trong cuộc sống hàng ngày thì tình thương yêu và kính ngưỡng đích thực sẽ tự nhiên nảy sinh trong lòng các bạn.

Cũng giống như tình thương yêu của đất Mẹ – Bồ tát Thanh Lương Đại Địa, luôn ân cần chăm sóc, dưỡng nuôi và trị liệu cho tất cả các con của Mẹ một cách không kỳ thị. Mẹ biết các con chỉ cần sự có mặt vững chãi, bao dung và bền bỉ của Mẹ là đủ bởi tình thương đó chính là nơi chốn mà các con muốn trở về.

Cũng giống như ánh sáng của trời Cha chiếu soi lên vạn vật một cách không kỳ thị, đem sự ấm áp và sự sống đến bất cứ nơi nào Người tiếp xúc.

Cũng như thế, này các bạn trẻ, đi trên con đường của nếp sống đại đồng sẽ làm cho trái tim của các bạn tràn ngập một tình thương dịu dàng nhưng mạnh mẽ đối với tự thân, với những thành viên của bầy đàn và tất cả các sinh vật khác trên trái đất mà các bạn gặp gỡ, bởi vì các bạn biết, tình thương là cái mà tất cả chúng ta đều cần đến và luôn kiếm tìm.

Các bạn cần phải thấy và hiểu rằng tình thương là ngôi sao duy nhất có thể thực sự xua tan bóng tối, là thức ăn duy nhất có thể thực sự lấy đi cơn đói, là thứ nước duy nhất có thể làm giảm đi cơn khát và là ngôi nhà duy nhất có thể thực sự trường tồn.

Này các bạn trẻ, các bạn nên không ngừng tự hỏi mình: “Tình thương trong ta có lớn lên mỗi ngày hay không?”

Đây là lợi lạc thứ sáu của nếp sống đại đồng, này các bạn, đó là: sự tự do.
Tại sao thế?

Các bạn trẻ thân mến, khi mỗi tế bào trong cơ thể của các bạn tràn đầy tình thương và sự thán phục, khi không còn sự phân biệt nào giữa mình và thế giới xung quanh, khi hạnh phúc hay khổ đau của mình và của người là một, khi đó sự bình an, tự tại sẽ phát khởi trong lòng các bạn. Tất cả những lo lắng, sợ hãi về sự mất mát, sự biến mất và không tồn tại của chính mình sẽ tan biến và không gian trong lòng các bạn sẽ càng lúc càng thênh thang.

Cũng như ta – một lão sói già, vì đã thấy được tình thương và sự hòa hợp của bầy đàn, chứng kiến được tuệ giác cổ xưa mà các ngọn núi đã sống và trao truyền từ đời này sang đời khác, nên ta có thể nằm bình an dưới một gốc cây để ra đi khi thời khắc đến mà không còn mảy may sợ hãi. Tâm ta tràn ngập bài ca của gió và hương thơm của hoa tử đinh hương, an nhiên để cho hình hài của mình về với đất, để rồi sau này những bầy sói con có thể chơi đùa ở bên trên lớp đất đó.

Cũng như thế, này các bạn trẻ, khi các bạn thấy một cách thật rõ ràng là Tiếng hú của loài sói (Coyote Howl) đang được trao truyền một cách thực sự trong chính các bạn, các bạn sẽ đạt được tự do lớn và trở thành như anh bạn Đại bàng, giang đôi cánh rộng bay lượn giữa trời cao.

Này các bạn trẻ, các bạn cần phải thấy và biết rằng lợi lạc lớn lao nhất mà các bạn có thể mang tới cho ai đó chính là sự không sợ hãi, món quà của Vô úy.

Các bạn trẻ thân mến, ta đã chia sẻ với các bạn một số lợi lạc của nếp sống đại đồng. Còn rất nhiều những lợi lạc lớn lao khác nữa cần được khám phá và chứng nghiệm.

Những điều lợi lạc này không phải để nói, mạn đàm và triết lý mà để cho các bạn gieo trồng và tưới tẩm trong đất tâm, thật sự sống với nó từ lúc mặt trời mọc đến mặt trời lặn, và để trải nghiệm thật tròn đầy từ mùa này đến mùa khác.”

Đó là những điều Trưởng lão chó sói nói trong đêm ấy và bầy sói trẻ vui mừng lắng nghe. Chúng cùng hú lên tràn đầy hoan hỷ, biết ơn và hứa miễn là còn sống, chúng sẽ làm theo những lời dạy ấy, duy trì từ mùa trăng này đến mùa trăng khác, hoài hoài…

Ai hỡi ai ơi

Ai làm, ai khổ

Ai vui, ai sướng

Ai buồn, ai giận

Ai hiểu, ai thương

Cảm ơn tất cả cho ta cuộc đời

để khôn để lớn

để cảm để thông

À ơi ới à ơi,

Quê hương ta vẫn đẹp mãi ra

À ơi ới à ơi,

Quê hương ta thắm mãi tình nhà.

Qua rồi

Qua rồi, qua rồi

Qua rồi những tháng năm nhọc nhằn

Qua rồi, qua rồi,

Qua rồi những ước muốn thâm sâu

Qua rồi, qua rồi,

Qua rồi những tia sáng linh thiêng

Qua rồi, qua rồi

Qua rồi những nẻo về quê hương

Ôi qua rồi, qua rồi

Qua rồi cho tất cả yêu thương

Ôi qua rồi, qua rồi

Qua rồi Đất Mẹ – Trời Cha ơi.

 

Âm thanh của sự tĩnh lặng

(Trích đoạn được chuyển ngữ từ cuốn “Silence” của Sư Ông Làng Mai)

“Trong âm nhạc có những dấu lặng, tức dấu nghỉ không có âm thanh, nếu không có những dấu lặng đó thì là một tai họa. Âm nhạc mà không có khoảng cách im lặng thì chẳng qua đó là sự rối loạn mà thôi“- (Trịnh Công Sơn). Khi chúng ta ngồi yên với một người bạn mà không nói gì cả, điều đó quý giá và quan trọng như những dấu lặng cần thiết trong âm nhạc. Những người bạn ngồi yên lặng được với nhau có thể hay hơn là nói chuyện.

Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ được nhiều người mến mộ. Ông sinh năm 1939. Ông được gọi là Bob Dylan của Việt Nam. Người ta nói rằng khi ông qua đời năm 2001, hàng ngàn người đến tham dự buổi hoà nhạc tự phát trong lễ tang của ông.

Trịnh Công Sơn rất mệt mỏi với những tiếng ồn, cho dù đó là những tiếng kêu gào khen ngợi hay vỗ tay hoan hô. Ông trân quý những giây phút tĩnh lặng. Ông viết: “Có những sự có mặt của bạn bè tương đương với một dấu lặng trong âm nhạc, nên sự có mặt đó thường có khả năng mang đến cho ta sự thoải mái, thảnh thơi tựa hồ như là niềm hoan lạc. Đó là những trường hợp ta không cần phải đối phó, không cần phải lấp đầy khoảng trống bằng câu chuyện gắng gượng và nhạt nhẽo.” Trịnh Công Sơn thích những lúc ngồi im lặng với bạn bè mà không cần nói năng hay làm gì cả, chỉ nuôi dưỡng bởi tình bạn. Tất cả chúng ta đều cần những tình bạn như thế.

Ở Làng Mai, chúng tôi thích ngồi thiền, đặc biệt là ngồi với tăng thân, ngồi như một gia đình tâm linh. Trong suốt buổi ngồi thiền, ta không nói gì cả. Ấy vậy mà nhiều người trong chúng ta cảm thấy ngồi ba, bốn người hay nhiều hơn thì vui hơn là ngồi một mình. Ngồi yên với nhau như thế, mỗi người đều được nuôi dưỡng bởi sự có mặt của nhau.

Trong tác phẩm Tỳ bà hành có kể một câu chuyện về một người phụ nữ đang chơi đàn Tỳ bà, bỗng dưng ngưng bặt không chơi nữa. Nhưng giây phút mà người chơi đàn Tỳ bà ngưng đàn thì tuy không có tiếng đàn mà còn hay hơn có tiếng đàn nữa. “Tiếng tơ lặng ngắt bây giờ càng hay.” (Thử thời vô thanh thắng hữu thanh.” Thử thời là ngay bây giờ. Vô thanh nghĩa là không có âm thanh. Thắng là chiến thắng. Hữu thanh là có âm thanh. Vô thanh thắng hữu thanh, hay nói cách khác là âm thanh nhường cho sự im lặng. Không gian giữa các nốt nhạc rất hào hùng và rất có ý nghĩa. Nó hùng hồn hơn bất cứ loại âm thanh nào. Sự im lặng có thể dễ chịu, sâu sắc hơn âm thanh. Trịnh Công Sơn cũng thấy như vậy.

Một trong những học trò người Mỹ của tôi nói với tôi là ông David Sanborn người Mỹ, chơi kèn Xắc-xô, cũng nói những điều tương tự như vậy trong một cuộc phỏng vấn. Khi nhắc đến người bạn cũng chơi kèn Xắc-xô là Hank Crawford, và Miles Davis, người sáng tác và chơi kèn trumpet nổi tiếng, Sanborn nói: “Hank hiểu rằng khoảng lặng mà ta ngưng lại cũng quan trọng như âm thanh ta phát ra… Và khi nghe Miles Davis, tôi đã bị cuốn hút bởi sự đơn giản và cách sử dụng khoảng lặng của anh ta để làm đầy những khoảng không gian kia.”

Mối quan hệ và sự truyền thông cũng giống như một loại âm nhạc. Ngồi với bạn bè, ta không cần phải nói gì cả. Chỉ cần có sự hiểu biết cảm thông và trân quý sự có mặt mà chúng ta hiến tặng cho nhau là đủ rồi. Tôi tin là trong những năm khổ cực của chiến tranh Việt Nam, điều an ủi lớn nhất của Trịnh Công Sơn là những giây phút ngồi yên với bạn bè. Tuy nhiên, nếu một người không biết cách ngồi như thế, nếu anh ta chỉ biết rót rượu hết ly này qua lý khác thì những giây phút ấy sẽ mất đi.

Một lần nọ, khi Bụt đang ở tu viện Jetavana Ấn Độ, trong khi 200 vị khất sĩ thường trú chuẩn bị cho khoá an cư hàng năm thì có 300 thầy từ Kosambi đến. Các vị khất sĩ rất vui mừng khi gặp nhau và họ nói chuyện với nhau rất lớn. Từ phòng của mình nghe ồn, Bụt hỏi vị đệ tử lớn Shariputta: “Có chuyện gì mà ồn dữ vậy?”

Thầy Shariputta trả lời: “Có quý thầy từ Kosambi đến, gặp nhau họ mừng rỡ, nói cười lớn tiếng và đánh mất uy nghi. Xin Đức Thế Tôn tha lỗi cho họ.”

Bụt nói: “Nếu họ ồn ào, thô tháo như vậy thì mời họ đi nơi khác. Không thể ở lại đây được.” Đức Bụt muốn dạy cho quý thầy sử dụng năng lượng của mình có ý thức và chánh niệm hơn.

Thầy Shariputta thông báo cho quý thầy nghe những gì Bụt nói. Quý thầy im lặng và dời đi một nơi khác gần đó để an cư. Trong suốt 90 ngày an cư, quý thầy nhớ lại lời Bụt dạy, không đánh mất mình trong những cuộc chuyện trò vô bổ. Họ hết lòng thực tập chế tác niệm định, và cuối mùa an cư họ chuyển hoá được rất nhiều. Điều này không làm cho họ trở nên nặng nề, nghiêm trọng mà trái lại khuôn mặt của họ sáng ngời, nụ cười họ rất tươi.

Vào ngày tự tứ, kết thúc mùa an cư, quý thầy muốn trở lại cảm ơn Bụt đã chỉ dạy cho họ. Khi tin này đến tai thầy Shariputta, thấy nói với Bụt: “Bạch Đức Thế Tôn, các thầy đã hoàn tất ba tháng an cư và muốn đến bày tỏ niềm cung kính đối với Đức Thế Tôn.” Bụt cho gọi các thầy đến và chắp tay xá chào.

Lúc đó vào khoảng 7 giờ tối. Ba trăm thầy đến từ Kosambi và vài trăm thầy thường trú ngồi với Bụt trong thiền đường. Thầy trò ngồi với nhau im lặng từ 7 giờ tối cho đến nửa đêm, không ai nói với ai lời nào.

Thầy Ananda, thị giả của Bụt, đi đến bên Bụt và bạch: “Bạch Đức Thế Tôn, bây giờ đã là nửa đêm, Đức Thế Tôn có gì nói cho quý thầy nghe không?” Bụt không trả lời, và mọi người ngồi với nhau như thế cho đến 3 giờ sáng, ngồi với nhau mà không nói một lời nào. Thầy Ananda hơi lúng túng, vì vậy thầy đi đến bên Bụt và nói: “Bây giờ là 3 giờ sáng rồi. Đức Thế Tôn có nói gì với quý thầy không?” Bụt vẫn tiếp tục ngồi yên im lặng với mọi người.

Đến 5 giờ sáng, thầy Ananda trở lại và năn nỉ: “Bạch Đức Thế Tôn, mặt trời lên rồi, Ngài không nói gì với quý thầy chăng?”

Cuối cùng Bụt lên tiếng: “Thầy muốn ta nói điều gì? Thầy trò ngồi với nhau hạnh phúc, bình an như vậy không đủ hay sao?”

Có khả năng hiểu và trân quý sự có mặt của người kia là một hạnh phúc rất lớn. Đơn giản như vậy thôi. Mặc dù không nói gì, không có một âm thanh nào phát ra, nhưng hoàn toàn có giá trị hơn bất kỳ một âm thanh nào khác.

Bông hồng cài áo

Nhạc: Phạm Thế Mỹ

Lời: Sư Ông Làng Mai 

Trình bày: Thầy Pháp Tịnh, thầy Pháp Khôi, sư cô Ân Nghiêm

Bông hồng cài áo

Một bông hồng cho em
Một bông hồng cho anh
Và một bông hồng cho những ai
Cho những ai đang còn Mẹ
Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn
Rủi mai này Mẹ hiền có mất đi
Như đóa hoa không mặt trời
Như trẻ thơ không nụ cười
Ngỡ đời mình không lớn khôn thêm
Như bầu trời thiếu ánh sao đêm

Mẹ, Mẹ là dòng suối dịu hiền
Mẹ, Mẹ là bài hát thần tiên
Là bóng mát trên cao
Là mắt sáng trăng sao
Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối

Mẹ, Mẹ là lọn mía ngọt ngào
Mẹ, Mẹ là nải chuối buồng cau
Là tiếng dế đêm thâu
Là nắng ấm nương dâu
Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời

Rồi một chiều nào đó anh về nhìn Mẹ yêu, nhìn thật lâu
Rồi nói, nói với Mẹ rằng “Mẹ ơi, Mẹ ơi, Mẹ có biết hay không ?”
-Biết gì ? “Biết là, biết là con thương Mẹ không ?”

Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó anh
Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó em
Thì xin anh, thì xin em
Hãy cùng tôi vui sướng đi.

EIAB – 2018

Từ ngày 6.8 đến 11.8.2018 tại Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu đã có hơn 350 thiền sinh về tham dự khoá tu dành cho người nói tiếng Đức. Khoá tu năm nay có chủ đề “Thường trong vô thường”. Tuy số lượng thiền sinh không đông nhưng năng lượng tu tập rất hùng hậu qua những bước chân cẩn trọng, những nụ cười tĩnh lặng, những đôi mắt tươi sáng, những chia sẻ hết lòng trong giờ pháp đàm… Năm nay còn có sự kiện EIAB kỷ niệm 10 năm ngày tiếp nối. Ông thị trưởng thành phố Waldbrol và các vị tháp tùng đã tới tham dự buổi lễ kỷ niệm đặc biệt này. Ông đã có một bài diễn văn chúc mừng rất cảm động và thấm đậm tinh thần đạo Bụt. Sáng chủ nhật 12.08.2018, ngày quán niệm dành cho người Đức, ông thị trưởng Waldbrol, ông giám đốc bệnh viện Waldbrol cũng tới dự cùng với hơn 300 thiền sinh và một số vị khách mời. Ngày quán niệm được mở đầu với thời niệm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm (Avalokiteshvara) với thật nhiều tình thương của quý thầy, quý sư cô tại EIAB cũng như quý thầy, quý sư cô đã từ Làng Mai, Pháp sang yểm trợ.

Và sau đây là một vài hình ảnh của khoá tu.