Con đường hạnh phúc

(Pháp thoại ngày 24.11.2013 tại thiền đường Hội Ngàn Sao, xóm Hạ , Làng Mai trong khóa An Cư Kết Đông 2013-2014)

 

Thế Tôn là tình yêu đầu

Thế Tôn là tinh yêu tinh khôi

Nghĩa là sẽ không bao giờ

Sẽ cần tình yêu cuối

Người là dòng sông tâm linh

Tuy đã từng chảy qua

Hàng triệu kiếp luân hồi

Nhưng luôn luôn còn mới.

          Tìm nhau (thơ Nhất Hạnh)

Mục đích của sự tu tập

Mục đích của sự tu tập là: trước hết để chế tác an, hỷ và lạc và sau đó là để xử lý, chăm sóc khổ đau. Ta phải học làm cho được hai việc đó. Chế tác là làm ra (generating, producing, fabricating). Cái đó không có thì ta phải làm ra, giống như nếu không có lúa thì nhà nông phải làm ra lúa, nếu không có đậu hũ thì ta phải chế tác ra đậu hủ. Là người tu ta phải chế tác được an , hỷ  và lạc . Muốn chế tác an, hỷ và lạc thì phải có nguồn năng lượng niệm , định   và tuệ . Vì vậy trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc, ta phải chế tác được niệm, định và tuệ và với năng lượng đó ta có thể chế tác được an, hỷ và lạc. Trong khi quét nhà ta quét như thế nào để có niệm, định và tuệ. Trong khi chải răng ta phải chải như thế nào để có niệm, định và tuệ. Trong khi đi cầu hay đi tiểu ta cũng phải có niệm, định và tuệ. Có ba loại năng lượng đó thì tự nhiên ta có hỷ, lạc và an. Có những người tu nhiều năm nhưng không thay đổi, không có an lạc, hạnh phúc tại vì họ không biết chế tác niệm, định, tuệ. Nếu ta là người biết tu thì mỗi bước chân, mỗi hơi thở, mỗi hành động đều có thể chế tác được niệm, định và tuệ và vì vậy an, hỷ và lạc có mặt.

Mục đích thứ hai của sự thực tập là xử lý khổ đau, bức xúc và bế tắc của mình. Muốn xử lý khổ đau ta phải nhận diện, ôm ấp, nhìn sâu vào khổ đau và bắt đầu chuyển hóa khổ đau, cho nên ta cũng cần phải sử dụng ba loại năng lượng niệm, định và tuệ. Có thể nói niệm, định, tuệ là nguồn suối của hạnh phúc. Niệm, định, tuệ là năng lượng có thể giúp ta xử lý và chuyển hóa khổ đau.

Hạnh phúc chính là con đường

Học Tứ Diệu Đế ta có quan niệm về mục đích và con đường để đi tới mục đích. Sự thật thứ nhất của Tứ Diệu Đế là khổ  , sự thật thứ hai là tập 集. Có một lối sống tạo ra khổ đau, đó là cách sống bừa bãi không có chánh niệm, không có định và tuệ. Cách sống đó đưa tới khổ đau. Có thể nói tập là con đường đưa tới khổ đau. Sự thật thứ ba là diệt tức là sự vắng mặt của khổ đau, sự chuyển hóa của khổ đau. Sự chuyển hóa của khổ đau là sự có mặt của an lạc. Diệt là lạc  . Sự thật thứ ba là an lạc, hạnh phúc. Cho rằng Tứ Diệu Đế chỉ nói về khổ là không đúng, Tứ Diệu Đế nói về đau khổ và hạnh phúc. Hai sự thật đầu nói về khổ và con đường đưa tới khổ đau. Sự thật thứ ba nói về hạnh phúc tức khổ diệt và sự thật thứ tư nói về con đường đưa tới hạnh phúc tức là đạo . Đạo cũng là một con đường, nhưng là con đường đưa tới hạnh phúc thay vì đưa tới khổ đau. Làng Mai không dùng chữ con đường đưa tới khổ đau (the way leading to suffering) và con đường đưa tới hạnh phúc mà dùng chữ con đường khổ đaucon đường hạnh phúc, tại vì chữ đưa tới phản ảnh đường lối tư duy lưỡng nguyên. Ta tưởng tượng ra một con đường rất xa, rất dài, đi rất cực nhọc để tới một mục đích gọi là hạnh phúc, an lạc. Trong cách suy tư của ta thì con đường chỉ là con đường và hạnh phúc chỉ là hạnh phúc, vì vậy trong khi đi trên con đường ta chưa có hạnh phúc, phải đi hết con đường rồi ta mới có hạnh phúc. Con đường là một cái khác và hạnh phúc là một cái khác. Con đường là phương tiện (means), còn hạnh phúc là cứu cánh (the end). Đó là một sự sai lầm. Ta cứ tưởng tượng con đường phải có chông gai, đau khổ, khó nhọc rồi mới đi tới được chỗ có hạnh phúc. Đó là cách suy tư lưỡng nguyên như trong câu ca dao:

Rủ nhau đi cấy đi cày

Bây giờ khó nhọc tới ngày phong lưu

Trên đồng cạn dưới đồng sâu

Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa

Nói vậy là trong khi đi cấy đi cày ta không có hạnh phúc. Trong khi đó thì đi cấy đi cày ta có thể có hạnh phúc, tại vì ta có ruộng, vợ chồng đang còn ở chung với nhau, ta có con trâu để đi cày. Chồng vợ làm việc chung và có con trâu để cày là có hạnh phúc. Trong khi cày cấy mình đã có hạnh phúc rồi. Nhiều người không có vợ hay chồng ở chung, không có ruộng, không có con trâu để cày. Câu “bây giờ khó nhọc đến ngày phong lưu” là không đúng. Đây là cách tư duy lưỡng nguyên.

Con đường chính là hạnh phúc. Con đường Bát Chánh Đạo không phải là con đường gian khổ, khó khăn, khổ hạnh. Đó là con đường mà trên đó mỗi bước chân đều có hạnh phúc. Hạnh phúc tức là con đường. Đó là giáo lý của Làng Mai. Hạnh phúc đi tới tột cùng gọi là Niết bàn, là diệt (niroda). Theo cách nhìn của Làng Mai thì đạo là diệt, con đường hạnh phúc tức là hạnh phúc, con đường khổ đau tức là khổ đau. Chúng ta có câu thư pháp: Không có con đường đưa tới bình an, bình an chính là con đường (There is no way to peace, peace is the way). Những phương tiện đưa tới hòa bình phải chính là hòa bình. Sử dụng bạo động và súng đạn để đưa tới hòa bình là sai tại vì phương tiện sử dụng không phải là hòa bình. Phải bỏ bom, phải bắn giết thì mới có hòa bình là không đúng, tại vì nếu phương tiện bạo động thì mục đích cũng là bạo động. Không có con đường nào đưa tới hòa bình, hòa bình chính là con đường. Mỗi bước chân đi trên con đường phải là hòa bình. Mỗi lời nói, mỗi tư tưởng, mỗi hành động của ta phải có tính chất hòa bình trong đó. Nếu ta phải đau khổ cạnh tranh để có hạnh phúc là không đúng. Trên con đường để có hạnh phúc mỗi bước chân phải là hạnh phúc. Cứu cánh và phương tiện phải là một.

Nói tới Tứ Diệu Đế cũng vậy: Không có con đường đi tới Niết bàn, Niết bàn chính là con đường (There is no way to Nirvana, Nirvana is the way). Niết bàn là bản tính không sinh không diệt, không có không không. Tiếp xúc được với tính không sinh không diệt, không có không không, ta còn sợ hãi nữa. Mỗi bước chân đi trên con đường có thể tiếp xúc được với tính không sinh không diệt, không có không không. Hòa bình, hạnh phúc, Niết bàn có trong từng bước chân mà không phải đến cuối đường mới có. Khi học về Bát Chánh Đạo, Làng Mai nói: Đạo đế chính là diệt đế. Tập đế chính là khổ đế.

 

Ngồi thiền là hạnh phúc, là giác ngộ

Chúng ta đừng nghĩ rằng ngồi thiền là để có hạnh phúc, giác ngộ. Ta phải thấy ngồi thiền là hạnh phúc, là giác ngộ rồi. Ngồi thiền mà phải gồng mình khổ đau là không đúng. Ta phải ngồi như thế nào mà trong khi ngồi ta có an, có hỷ, có lạc. Ta phải thành công trong khi ngồi thiền. Nếu không thì không phải là ngồi thiền mà là ta đang chịu trận, ta đang ngồi trong hầm tối. Đây là một sự thách thức: Trong khi ngồi thiền ta phải có an lạc, giải thoát. Ngồi thiền là thời gian dễ có an lạc, giải thoát nhất. Ta ngồi như thế nào, thở như thế nào, mỉm cười như thế nào để trong nửa giờ ngồi thiền giây phút nào ta cũng có an, hỷ và lạc. Đó là sự thực tập, nếu chưa làm được thì ta phải ráng làm cho được. Ngồi thiền là một cơ hội. Sau này anh, chị sẽ thấy ngồi thiền là một ân huệ tại vì nhiều người không có cơ hội được ngồi yên trong cuộc đời để chăm sóc thân và tâm của mình. Trong khi ngồi thiền ta có thì giờ để ngồi yên và chăm sóc thân và tâm của mình.

Trong khi ngồi thiền ta phải chế tác được an, hỷ và lạc. Nếu có khổ đau đi lên ta phải biết xử lý khổ đau. Ngồi thiền là một cơ hội, là quyền lợi của người tu. Là người tu ta phải đòi cho được cơ hội đó. Tôi đi tu để làm gì? Không lẽ để làm việc suốt ngày? Tôi phải có giờ để ngồi thiền. Đó là quyền lợi của ta nên ta phải trân quí giờ ngồi thiền. Ta ngồi thiền như thế nào để có an, hỷ và lạc. Nếu chưa biết cách thì ta phải học từ sư anh, sư chị, sư em. Ta phải làm cho được, nếu không thì uổng một đời tu. Ta không thể nói: Tôi xuất gia là để phục vụ tăng thân chứ không phải để ngồi thiền hay đi thiền hành. Phục vụ tăng thân cũng hay nhưng mục đích chính của người tu là tu để có hạnh phúc, để xử lý được khổ đau của mình.

Khi đi thiền cũng vậy, ta đi thiền để làm gì? Đi thiền để không làm gì cả, ta phải tìm thấy hạnh phúc trong khi đi thiền. Mỗi bước chân là hạnh phúc, ta phải làm cho được. Niệm, định, tuệ giúp cho ta làm được điều đó. Leo dốc, xuống dốc hay đi trên cỏ, đi trên đá ta cũng có thể có hạnh phúc. Đi từ cư xá tới thiền đường hay tới nhà ăn ta đều có hạnh phúc. Hồi sáng tôi làm những động tác chánh niệm và nhờ có niệm những động tác đó đem hạnh phúc tới cho tôi: “A, mình còn đứng được một chân và chân kia đưa ra đưa vô được. Thầy Thanh Từ bây giờ không đứng được như vậy. Thầy đi phải có hai người đỡ hai bên”. Đó là niệm, thấy rằng mình còn may mắn, chân mình còn khỏe. Hòa thượng Minh Châu bây giờ đâu còn đi thiền được nữa, hình hài của Ngài đang nằm trong tháp. Đó là niệm, là nhớ lại. Ta còn trẻ, ta không thể tượng tượng được một ngày kia ta ngồi trên xe lăn. Sự thật là các sư chú, các sư cô mới 19, 20 tuổi nhưng thế nào cũng phải già, rồi một ngày nào cũng  phải ngồi xe lăn. Thấy được điều đó là niệm, là tuệ. Thấy được thì tự nhiên có hạnh phúc. Hạnh phúc không phải là có tiền ra siêu thị mua đồ, hạnh phúc là nhờ có niệm, định và tuệ.

Trong khi ngồi thiền, đi thiền mà có tuệ thì ta có thể chế tác hỷ, lạc và an rất dễ. Ta trân quí từng bước chân vì biết rằng mai mốt ta sẽ không có được như bây giờ. Ta đếm những ngày những giờ còn lại của mình, tại vì không phải những người già mới chết mà người trẻ cũng chết rất nhiều. Nhiều người trẻ trên thế giới mới 24, 25 tuổi đã chết rồi. Vô thường là một cái niệm, là một cái định, cái tuệ.  Nhờ niệm vô thường nên ta trân quí những ngày giờ còn lại của mình và ta có hạnh phúc. Bí quyết của hạnh phúc rất đơn sơ. Có chánh niệm thì ta có định tâm, có định tâm thì ta có tuệ. Thấy được điều đó, ta biết trân quí hình hài của mình, biết trân quí hoàn cảnh và điều kiện mà ta đang có để được hạnh phúc.

Trong khi đi thiền mỗi bước chân đều có hạnh phúc, mỗi bước chân đều có thể nuôi dưỡng mình. Mỗi ngày có một giờ đi thiền chung với đại chúng là quyền lợi của người tu. Ta phải đòi cho được quyền lợi đó. Nếu ta trốn đi thiền thì đó là sự thiệt hại cho ta. Hơn nữa mỗi ngày ta không phải chỉ có một giờ để đi thiền. Theo nguyên tắc của Làng Mai thì đi đâu ta cũng phải đi theo kiểu thiền hành. Đi tới phòng tắm, đi về phòng ngủ hay đi tới thiền đường ta có quyền đi một cách thong dong, thảnh thơi để chế tác hỷ và lạc. Đó là quyền lợi của chúng ta. Vì vậy giải thoát, giác ngộ, Niết bàn không phải là những mục đích mà ta chỉ tới được trong tương lai. Nó phải có mặt ngay trong giây phút hiện tại. Sau này chúng ta sẽ học: Phải tìm Niết bàn ngay trong sinh tử, phải tìm hạnh phúc ngay trong khổ đau và phải tìm thảnh thơi ngay trong sự bận rộn. Nếu có niệm, định và tuệ thì tự nhiên cái mà ta cho là bận rộn sẽ không còn là bận rộn nữa mà nó là niềm vui. Ta đang làm thiền đường, đang quét nhà hay đang nấu bếp, trước đây ta cho là bận rộn nhưng khi có niệm, định và tuệ thì công việc đó trở thành niềm vui của ta. Được nấu nước pha trà, được chuẩn bị thiền đường cho đại chúng, được ngồi thiền là hạnh phúc mà không còn là sự bận rộn nữa tại vì mỗi hơi thở, mỗi bước chân, mỗi hành động đều có chánh niệm. Ở Làng Mai chúng ta nói con đường hạnh phúc. Khi đã thọ Năm Giới thì chúng ta đi trên con đường Bát Chánh. Con đường Bát Chánh là con đường hạnh phúc. Mỗi bước chân đều phải có hạnh phúc, còn nếu ta nghĩ rằng con đường Bát Chánh là một cái gì ta phải cực nhọc lao tác mới có được là không đúng. Đó là con đường hạnh phúc mà không phải là con đường đưa tới hạnh phúc. Con đường và hạnh phúc là một.

Mùa thu 2018

Thu đẹp đã về rồi.

 

Chữ Nghiệp trong đạo Bụt

(Trích từ sách “Con đã có đường đi” của Sư Ông Làng Mai)

Trong đạo Bụt, nghiệp gồm có: ý nghiệp, khẩu nghiệp và thân nghiệp. Khi ta có một tư duy, một ý nghĩ, một tư tưởng đầy tha thứ bao dung thì gọi là thiện ý nghiệp. Lúc ấy ta đang tạo một cái nghiệp về lòng từ bi. Chỉ riêng ý nghiệp lành thôi cũng đã đủ mạnh rồi, chưa cần nói lời ái ngữ, hành động dễ thương thì mình đã đang tự chữa lành cho mình, cho gia đình, cho đất nước và cho thế giới.

Nghiệp có nghiệp chung và nghiệp riêng. Ví dụ chúng ta cùng đến Làng Mai tu tập với nhau là nghiệp chung, vì chúng ta có ước muốn giống nhau là muốn được tu tập và chuyển hóa. Cái nghiệp chung được làm bằng những nghiệp riêng, và cái nghiệp riêng tạo thành nghiệp chung. Nghiệp chung và nghiệp riêng tương tức với nhau. Bụt xác định ta có tự do ý chí, có khả năng chuyển nghiệp. Năng lượng chánh niệm có thể giúp mình chuyển nghiệp. Ban đầu, chúng ta có cảm tưởng ta là một nạn nhân của cái màng lưới nghiệp. Nhưng nếu biết sử dụng chánh niệm, chánh định và chánh kiến thì ta có thể bắt đầu thay đổi. Cần biết là có thể có thêm yếu tố tình cờ, nhưng không nhiều. Hành động trên cái “ một ” có tác động trên cái “ tất cả ” và cái “ tất cả ” có tác động trên cái “ một ”. Ví dụ, khi mỉm được một nụ cười thì mình khoẻ mà thế giới cũng nhờ đó mà được khoẻ. Mình có chánh niệm và chánh kiến thì hành động mới đưa tới giảm thiểu khổ đau và kiến tạo an lạc.

Bụt ân cần dạy dỗ mình phải ráng tập chánh tư duy, nhưng ta chỉ có thể tư duy đầy từ bi khi mình thấy mình trong người đó. Nếu chỉ thấy người đó là một người khó chịu, dữ dằn thì sao mà mình từ bi được? Thành ra phải thấy mình với người đó là một, mình có ở trong người đó, “tam luân không tịch”. Mình với người đó không khác. Giống như tay trái với tay phải, mình là một thực thể với người đó. Khi thấy được như vậy thì mình mới tha thứ, mình mới nghĩ đầy từ bi, đầy thương yêu đối với người đó được. Còn nếu thấy người ta dữ như quỷ, còn mình thì đẹp đẽ như thánh thần, thì chẳng thể nào mà thương được. Cái nhìn nhị nguyên đó không phải là cách nhìn của một người học đạo Bụt, không phải là cách nhìn của một người hành theo con đường Bụt dạy. Phải đi về hướng hiểu và thương, đó là hướng đi của một người tỉnh thức. Điều này không ai ép mình được, nếu bị ép thì không thể thành công. Mình phải thấy được mình là người đó với những khó khăn với những khổ đau. Thấy được thì thương liền, không cần phải cố gắng gì hết.

Điều này không khó, quý vị hãy thử làm đi. Nghĩ tới những người không dễ thương nhất trong cuộc đời mình, và cứ thương. Hãy tập thấy mình với người đó là một, tập nhìn người đó với những khó khăn của người đó; với những khổ đau, dằn vặt của người đó, lúc ấy tình thương sẽ tới một cách rất tự nhiên. Nhờ có tình thương nên những tư duy, hành động, nói năng của mình sẽ rất tự nhiên đi về  hướng từ bi mà không cần phải cố gắng và mình không còn buồn bã, u sầu, héo hắt nữa vì mình là người hiến tặng thương cho sự sống.

Hãy tư duy về sự tương tức, sở dĩ người đó như vậy nên mình mới như vậy, người đó hành xử như thế này nên mình mới vụng về như thế kia. Có được tư duy tương tức, tương nhập ấy thì mình mới có thể chấm dứt giận hờn, mở lòng ra tha thứ được; mới nói lời ái ngữ được. Lúc này những lời nói thân ái của mình được thốt ra một cách rất tự nhiên mà không gượng ép, không dối lòng. Như vậy là mình đang tạo dựng những nghiệp lành. Khi nói tới nghiệp người Việt mình thường cho rằng đó là những quả báo xấu. Nhưng không phải như vậy. Nghiệp là những thói quen, mà thói quen thì có thói quen tốt và thói quen xấu. Khi nghĩ những điều lành (cảm thông, thương yêu, tha thứ…) tức là mình đang tạo ra ý nghiệp lành. Khi mình nói những lời dễ thương, đem lại sự tự tin, an vui và hy vọng cho người khác tức là mình đang tạo khẩu nghiệp lành. Khi mình làm những việc tốt, mang lợi lạc tới cho những người xung quanh tức là mình đang tạo thân nghiệp lành. Nếu chỉ chế tác toàn ý nghiệp, thân nghiệp, khẩu nghiệp đi về hướng thiện thì nghiệp báo của mình rất đẹp. Nhờ những nghiệp lành đó nên mình được sinh ra trong cõi bình an, được gặp và thân cận với những bậc thiện tri thức. Còn nếu mình suy nghĩ điều ác; nói lời thô tục, dữ dằn; làm những việc gây khổ đau cho người khác thì mình sẽ phải hứng chịu quả báo xấu. Mỗi lời nói, mỗi hành động, mỗi tư duy một khi đã phát khởi thì lập tức tác thành quả báo dù rằng mình không nói ra, dù rằng không ai biết nhưng mình lãnh nhận quả báo rất đương nhiên. Quả báo lành hay quả báo dữ tùy theo nhân lành hay nhân dữ mà mình đã gieo trồng.

Nếu lắng nghe và hành theo lời Bụt dạy thì ta sẽ kiến tạo được những quả báo đẹp đẽ. Hồi nhỏ, khi học về y báo và chánh báo tôi hiểu rất mù mờ, chỉ hiểu trên bề mặt danh từ. Nhưng càng thiền quán tôi lại càng thấy rõ ràng rằng tư duy, lời nói, hành động của mình có hai phần rõ rệt, đó là y báo và chánh báo:

–          Chánh báo là bản thân mình, tức là dáng người, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, các bộ phận cơ thể, khối óc, tư duy, trình độ học vấn …

–          Y báo: là môi trường xung quanh như mình sinh ra trong gia đình đó, xã hội đó, đất nước đó, địa cầu đó…

Chiếc lá xanh vừa mới sinh ra trên cành cây vào mùa xuân là một biểu hiện mới của cái lá, đó là chánh báo của cái lá. Còn những thứ xung quanh như cái cây, nước, đất, không khí, mưa… là y báo của chiếc lá. Bạn cũng vậy, bạn có thân thể này, mang cái tên này nhưng đó chỉ là tên tạm thôi, đừng tưởng đó là tên thật. Với những điều kiện đó thì mình mang cái tên đó, nhưng phải biết rằng trong cái tên này có cả ba mẹ, ông bà, tổ tiên chứ không phải cái tên nằm riêng độc lập đâu. Cho nên mình là chánh báo của mình mà cũng chính là y báo của mình. Đừng có nói rằng “Tôi là cái thân thể này, mẹ tôi sinh ra tôi làm chi, để tôi phải khổ, ghét quá” hay là “Sao tôi không sinh ra trong gia đình tử tế hơn, mà lại sinh ra trong gia đình này, ai cũng dữ dằn, làm khổ nhau”… Đó là tại vì mình cũng dữ dằn, mình cũng hành xử không dễ thương nên kết quả mới sinh vào gia đình không dễ thương. Thành ra mình chính là môi trường của mình. Đó là một sự thật không thể chối cãi được. Điều này mình phải xác thực bằng chính mình, phải quan sát và nghĩ xem có đúng hay không.

Nhà xuất bản Parallax ở Mỹ đã phát hành một cuốn sách của tôi với tựa đề “The World We Have”(Thế giới mà chúng ta đang có). Chúng ta chỉ có một thế giới này để sống thôi. Tựa đề của cuốn sách được nhà xuất bản lựa chọn. Có người nói rằng nên để “The World We Are” tức là “Thế giới mà chúng ta là” thì đúng hơn. Vì khi nghĩ rằng “đang có” có nghĩa là mình riêng và thế giới riêng, còn “thế giới mà chúng ta là” có nghĩa là mình vừa là chánh báo, vừa là y báo. Vì vậy tôi muốn các bạn hãy để vài phút thiền quán thật sâu, không những mình gửi tình thương tới cho người làm khổ mình, để có những tư duy rất từ bi đối với người đó, mà còn viết thư cho người đó, điện thoại cho người đó. Trước hết nên nói chuyện với người đó trong tâm của mình, đối xử với thân và tâm mình cho đàng hoàng. Quý vị phải hứa với y báo của mình, tức là môi trường của mình rằng mình phải sống làm sao cho xứng đáng với môi trường mà mình đang sống. Quý vị phải nuôi dưỡng địa cầu, nuôi dưỡng môi trường sống. Từ hôm nay, khi mà quý vị đi, quý vị nhìn mọi sự vật như là mình, bụi tre đó là mình, không khí đó là mình, mây đó là mình, cây này là mình, và mình phải có trách nhiệm che chở, gìn giữ.

Ở Lộc Uyển, quý thầy, quý sư cô có thể làm ra điện từ năng lượng mặt trời để sử dụng, họ không cần điện của thành phố. Các thầy các sư cô lấy năng lượng mặt trời ở California để dùng điện thoại, máy tính, đèn điện trong các phòng, có khi còn dư điện để tặng lại thành phố nữa. Họ cũng có những ngày không sử dụng xe hơi để tránh làm ô nhiễm bầu khí quyển. Họ tìm được những loại xe hơi chạy bằng dầu cặn, tức là dầu thực vật sau khi chiên xào thải ra và đem đi lọc rồi dùng thay xăng. Mỗi tuần ở các tu viện của Làng Mai chúng tôi có một ngày không sử dụng xe hơi. Nhiều bạn thiền sinh tới đây tu tập cũng bắt chước chúng tôi, hứa rằng trong tuần cũng thực tập một ngày không sử dụng xe và họ cũng bắt đầu tập ăn chay 15 ngày trong tháng hoặc giảm 50% lượng thức ăn động vật trong mỗi bữa ăn. Họ làm như vậy chẳng phải là để được lòng của Bụt, tại vì phần lớn họ là người theo Thiên Chúa giáo, mà họ làm như vậy là có lợi cho chính họ.

Mình là chánh báo nhưng cũng là y báo. Mà y báo là quả địa cầu này nên ta chăm sóc cho quả địa cầu cũng chính là chăm sóc mình. Trong khi súc miệng, rửa mặt có nhiều người cứ để cho nước chảy tràn lan. Nhiều khi rửa một cái ly mà mình mở vòi nước quá mạnh. Rồi đang rửa lại bỏ đấy đi lấy cái ly khác để cho nước chảy ròng rất là uổng phí. Đừng nghĩ rằng nước rẻ, đừng nghĩ rằng mình trả tiền thì mình có quyền sử dụng thoải mái. Nước cũng là tài nguyên của địa cầu, phí phạm nước là phí phạm tài nguyên của địa cầu. Để có được những giọt nước trong lành ấy phải mất công sức của biết bao nhiêu người, bao nhiêu tài nguyên khác góp vào như: điện, xăng, dầu, gang, thép…

Chỉ cần nhận ra điều này rồi thực tập tiết kiệm lại mọi thứ: điện, nước, đồ ăn… là đã làm một hành động thương yêu đích thực rồi. Đi ra khỏi phòng phải tắt đèn, đó là thực tập yêu thương. Hãy mời Bụt biểu hiện trong mình bằng những hành động chánh niệm, tư duy chánh niệm, sử dụng chánh niệm. Đừng tìm Bụt ở ngoài, Bụt ở trong mình. Chánh niệm chính là Bụt. Bụt thì đi đứng rất đàng hoàng, ngồi rất đàng hoàng, hành xử rất đúng mực.

Cứ mùa hè đến, tại Làng Mai mỗi tuần có một ngàn người tới tu tập trong suốt bảy ngày. Trong bốn tuần lễ, bốn ngàn người đó không ăn thịt, cá, trứng, sữa. Thành ra trong một tháng có biết bao nhiêu con gà, con bò, con lợn được cứu sống. Không ăn trứng thì người ta sẽ hạn chế chăn nuôi mà hạn chế chăn nuôi thì sẽ giảm thiểu được các chất thải (phân của gia súc gia cầm), một nguyên nhân của hiện tượng hiệu ứng nhà kính, hâm nóng địa cầu.

Vì vậy trong một tuần, mình có năm ngày đi làm, một ngày cuối tuần đi mua sắm và ngày còn lại không sử dụng xe thì cũng không sao hết, mà đó là một hành động rất từ bi.

Chúng ta phải biết nghĩ tới các thế hệ con cháu của ta. Đừng để đến lúc con cháu ta không còn không khí để thở, không còn điện để dùng, không còn nước để uống. Như vậy là mình đã đoạn tuyệt sự sống của con cháu mình. Mà con cháu mình chính là mình đó. Thành ra sử dụng các nguồn tài nguyên một cách chánh niệm tức là mình che chở cho địa cầu.

Lạy đức Bồ tát Địa tạng

 

 

Lạy đức Bồ Tát Địa Tạng, chúng con xin học theo hạnh Bồ Tát, tìm cách có mặt ở bất cứ nơi nào mà bóng tối, khổ đau, tuyệt vọng và áp bức còn đang trấn ngự, đẻ có thể mang đến những nơi ấy ánh sáng, niềm tin, hy vọng và giải thoát. Chúng con nguyện không bao giờ quên lãng và bỏ rơi những người còn đang bị kẹt trong những tình uống tuyệt vọng, nguyện cố gắng thiết lập liên lạc với những ai đang không còn lối thoát, những ai bị bưng bít không vó phương tiện lên tiếng kêu gọi công bình, nhân phẩm và quyền được làm người. Chúng con biết đại ngục có mặt khắp nơi trên thế giới và chúng con nguyện sẽ không bao giờ tiếp sức xây dựng thêm những đại ngục trần gian như thế; trái lại, chúng con xin nguyện nỗ lực giải trừ những đại ngục còn đang có mặt. Chúng con nguyện tu học để đạt được đức vững chãi và kiên trì của Đất, để có thể trở thành trung kiên và không kỳ thị như Đất,  và cũng đựơc như Đất có thể làm nơi nương tựa cho tất cả những ai cần đến chúng con.

Mùa yên, nhìn sâu về Tương tức

Tại Làng Mai, trong ba tháng an cư mùa thu này chúng ta sẽ học sâu về bản chất của Mười bốn giới Tiếp Hiện cũng như tham cứu mỗi giới như là những đối tượng của sự tu học và thực tập quán chiếu của chúng ta. Quý thầy, quý sư cô giáo thọ xuất sĩ sẽ chia sẻ kinh nghiệm tu học và tuệ giác của các vị khi sống và tu tập trong tăng thân. Tăng thân chúng ta đã áp dụng những giới này như thế nào trong những phụng sự dấn thân vào đời sống xã hội, trong những cố gắng của chúng ta để xây dựng tăng thân, và trong sự chuyển hoá và trị liệu như những cá nhân và như một tập thể.

Chúng tôi cũng mời tất cả các bạn đồng hành cùng chúng tôi, dù các bạn đang ở nhà, là thành viên của một tăng thân, hay ở nơi nào vừa đủ điều kiện để thực tập và quán chiếu. Chúng ta có thể làm nên năng lượng tập thể cùng nhau vì chúng ta tương tức. Chúng ta biết rằng ước mong sâu sắc của Thầy là tất cả chúng ta đều có cơ hội để thực tập miên mật trong suốt 3 tháng, dù là ở nhà hoặc ngay trong khi các bạn vẫn phải đi làm hàng ngày. Trong một mùa an cư, Thầy đã yêu cầu các đệ tử đưa trực tuyến những buổi pháp thoại và hướng dẫn ngồi thiền để mọi người ở các nơi khác có cơ hội theo dõi và thực tập cùng đại chúng được!

Vậy nên nếu có thể thì mong bạn tìm cách bố trí lịch hàng ngày hay hàng tuần của mình để ngồi nghe pháp thoại, nếu có điều kiện thì ngồi cùng với tăng thân địa phương, ăn một bữa ăn trọn vẹn trong bình an, đi thiền hành trong thiên nhiên và tận hưởng những điều kỳ diệu mà giản dị của sự sống. Cùng với nhau, chúng ta có thể mang lại năng lượng tập thể hùng hậu của sự tĩnh lặng và trong lành, của bình an và từ bi cho thế giới của chúng ta, cho Đất Mẹ, cho gia đình và bạn bè của chúng ta.

Tại Làng Mai Pháp, rất nhiều các bạn cư sĩ đang tham gia tu tập tại ba xóm của Làng trong suốt ba tháng an cư. Tại xóm Thượng, chùa Pháp Vân, chúng ta có 66 vị xuất sĩ và 60 vị cư sĩ; tại xóm Hạ, chùa Cam Lộ có 61 vị xuất sĩ và 32 vị cư sĩ; và tại xóm Mới, chùa Từ Nghiêm chúng ta có 71 vị xuất sĩ và 14 vị cư sĩ; tổng cộng là 198 vị xuất sĩ và 106 vị cư sĩ. Trong suốt khoá an cư sẽ có rất nhiều các vị cư sĩ đến cùng tu học với chúng ta trong vòng ít nhất hai tuần hoặc hơn nữa.

Mùa thu này chúng ta có nhiều cơ hội mới để lớn lên trong giáo pháp và trong tăng thân, được nhìn sâu và khơi lại những thực tập đơn giản đã từng nuôi dưỡng chúng ta. Mỗi hơi thở và mỗi bước chân có thể là một cơ hội. Mỗi một giây phút là một cơ hội để chúng ta chăm sóc Đất Mẹ và chăm sóc chính mình. Mùa thu này, tăng thân chúng ta sẽ cho 11 người trẻ được xuất gia, trở thành những vị sadi và sadini, gia nhập vào tăng đoàn xuất sĩ, bước lên con đường của tình thương và giải thoát. Mùa thu này, 12 vị tỳ kheo và sadi cũng sẽ chuyển đến tu viện Suối Tuệ mới của chúng ta ở Verdelot, ngoại ô Paris, gần Thiền đường Hơi Thở Nhẹ, cùng quý sư cô ở đó tiếp tục phụng sự và làm nơi nương tựa cho mọi người vùng phía bắc của nước Pháp và châu Âu.

Trong mùa thu, những cội cây tiếp tục lớn lên, âm thầm nuôi dưỡng những chiếc lá sẽ biểu hiện vào mùa xuân. Chúng ta nhớ Thầy từng ví đạo Bụt như một cội cây sống động, cần cho ra những chiếc lá mới và lan toả những rễ mới mỗi mùa, nếu không thì sẽ trở nên khô mục. Tăng thân chúng ta cần làm mới mỗi mùa. Sự thực tập của chúng ta cũng cần đổi mới và nhờ vô thường, tất cả đều có thể.

Thay mặt cho tăng thân Làng Mai, chúng tôi chúc cho tất cả mọi người đều thực tập hạnh phúc trong mùa thu này dù bạn ở đâu và bạn đang ở trong tình trạng như thế nào. Ý thức rằng có những vị xuất sĩ đang thực tập từng chút một ở khắp nơi trên thế giới; chúng tôi mỉm cười với giây phút hiện tại; chúng tôi mỉm cười với sự tương tức. Trái tim chúng tôi tràn ngập niềm biết ơn tới Thầy và tăng thân.

Thương và tin cậy,

Chân Pháp Dung.

 

(BBT chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Anh)

Lễ đối thú An cư kiết thu 2018

Sáng ngày 14 tháng 9 năm 2018, tứ chúng Làng Mai đã vân tập về thiền đường Nước Tĩnh, chùa Pháp Vân, xóm Thượng để làm lễ đối thú An cư. Mùa an cư tại Làng Mai Pháp năm nay được tứ chúng đồng lòng tổ chức vào mùa thu mà không phải mùa đông như nhiều năm trước đây. Mùa an cư hay “mùa yên” là sự tiếp nối truyền thống từ thời Bụt tại thế, khi Bụt và quý thầy, quý sư cô mỗi năm đều ở yên tại trú xứ của mình trong 3 tháng mùa mưa. Đây là thời gian để mỗi vị tu sĩ dồn năng lượng cho sự tu học của mình, làm sâu sắc thêm những thực tập chánh niệm hàng ngày, mở thêm rộng lớn sự hiểu biết và thương yêu.

Và sau đây là một vài hình ảnh:

Tăng thân muôn dặm một nhà

(Bài viết của các sư em Sadi và Sadini ở ba xóm Làng Mai được BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh)

Kính bạch Sư Ông,

Kính bạch quý thầy, quý sư cô cùng tăng thân kính thương,

Chúng con là các sa di, sa di ni trẻ đến từ các quốc gia Pháp, Đức, Ý, Mỹ, Việt Nam, Hà Lan,… hiện đang sống và tu học tại Làng Mai, nước Pháp. Chúng con có gốc rễ tâm linh từ những truyền thống khác nhau như đạo Bụt, Do Thái, Cơ Đốc, Tin Lành,… Thế nhưng hiện tại chúng con đã cùng tìm đến với một ngôi nhà tâm linh mới: gia đình quốc tế Làng Mai. Chúng con thấy mình thật may mắn và biết ơn được sống, tu tập và chuyển hóa nơi đây, trong lòng tăng thân.

Qua bức thư này, chúng con muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đối với Sư Ông, quý thầy, quý sư cô và tứ chúng Làng Mai cũng như chia sẻ ước nguyện xây dựng tình huynh đệ của mình.

Nhiều vị trong quý thầy, quý sư cô đã từ những nơi rất xa, từ nhiều châu lục, đất nước và văn hóa khác nhau cùng về Làng Mai tu học, yểm trợ công trình xây dựng tăng thân và cứu giúp những người tìm về đây nương tựa để họ lấy lại năng lượng và tiếp xúc với ngôi nhà đích thực của mình. Tất cả chúng ta, những người xuất sĩ, đã rời bỏ gia đình với nguyện ước tu tập chuyển hóa phiền não, đem niềm vui và sự bình an đến cho mọi người. Nhiều thầy và sư cô đang sống rất xa quê hương trên một đất nước, một châu lục xa lạ, với một văn hóa khác biệt. Đó có thể là một thử thách lớn, thí dụ như hiện tại với mùa đông lạnh lẽo của xứ Pháp, thế nào cũng có lúc mình nhớ về vùng khí hậu ấm áp, nhớ những rặng dừa, những món ăn quê hương ngon lành, những bãi biển xanh biếc hay những cao nguyên xanh thẳm của quê hương, dù nơi đó là California, Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Argentina hay một nơi nào khác. Chúng con biết nhiều khi đó không phải là một điều dễ dàng. Chúng con thấy để vượt qua thử thách ấy, quý vị đã có một sự dũng cảm, quyết tâm, một khả năng ôm ấp, trị liệu lớn và rất nhiều tình thương cho Sư Ông và tăng thân. Trái tim của chúng con tràn đầy niềm kính ngưỡng và biết ơn sâu sắc đối với tất cả quý thầy, quý sư cô.

Kính thưa quý thầy, quý sư cô, chúng con nghĩ rằng tất cả chúng ta đang cùng nhau góp sức để biến một giấc mơ đẹp trở thành hiện thực. Đó là một giấc mơ chung tuyệt vời mà tất cả các tổ tiên tâm linh của chúng ta đã có – Moses, Bụt, Jesus, Mohammed, gần đây hơn là Mục sư Martin Luther King Jr. và cả Sư Ông kính yêu nữa: giấc mơ nhân loại chung sống với nhau như anh chị em một nhà trong tinh thần hòa hợp, vượt khỏi các ranh giới sắc tộc, tôn giáo và văn hóa để đạt tới hòa bình và tình huynh đệ thực sự. Giấc mơ này đang trở thành hiện thực, ngay bây giờ và ở đây, khi chúng ta cùng thực tập, làm việc, uống trà, chơi đùa và cười vui với nhau, cùng giúp nhau đi qua những khó khăn trong tình huynh đệ – những điều mà chúng ta đang trải nghiệm hàng ngày. Hiện giờ ở rất nhiều nơi trên trái đất, những hạt giống của kỳ thị, giận hờn và sợ hãi đang nảy mầm trở lại, nhưng cách sống của chúng ta cho thế giới biết rằng có một lối thoát. Chúng ta đang tham dự vào một cuộc hành trình mầu nhiệm, có lẽ chưa từng có trong lịch sử: Một tăng thân gồm những người đến từ nhiều gốc rễ khác nhau, nhiều văn hóa khác nhau có thể tu tập và sống chung trong an lạc và hòa hợp. Đó chính là một thông điệp hùng hồn mà xã hội ngày nay đang cần đến.

Năm 2018 là một năm đặc biệt, kỷ niệm 100 năm kết thúc chiến tranh thế giới thứ nhất (1918 – 2018). Được lớn lên trong một môi trường an toàn và hòa bình của châu Âu hiện đại, những thế hệ trẻ sau này rất khó có thể tưởng tượng được các thế hệ tổ tiên của mình đã từng gây chiến với nhau qua nhiều thế kỷ cho đến tận chiến tranh thế giới thứ hai. Tổ tiên huyết thống của chúng con đã đem chiến tranh và sự bạo động gieo rắc khắp nơi trên thế giới, trong đó có Hàn Quốc và Việt Nam. Chúng con, thế hệ con cháu, cảm thấy xấu hổ và xin thành tâm sám hối. Mặc dầu chúng ta đang tận hưởng hòa bình trong hiện tại, các hạt giống khổ đau, bạo động ấy vẫn còn hiện diện trong chúng con. Nhờ biết tu tập mà chúng con có thể thấy và cảm nhận được điều này. Tuy thế vẫn còn rất nhiều người chưa ý thức được nên các hạt giống tập thể của sự kỳ thị, giận hờn và sợ hãi đang lớn mạnh trở lại tại nhiều quốc gia.

Ước nguyện sâu sắc của chúng con là chuyển hóa những hạt giống này và tiếp tục xây những cây cầu hiểu biết, hòa giải giữa các chủng tộc cũng như các tôn giáo để mang bình an và niềm vui đến với mọi người. Chính ước nguyện đẹp đẽ này đã kết nối chúng con lại với nhau một cách sâu sắc dù chúng con đến từ bất cứ nơi đâu. Giờ đây chúng con đang cùng sống trên nước Pháp và đang góp phần xây dựng tình huynh đệ tại nơi này. Nhiều sa di, sa di ni trẻ chúng con mong ước một ngày nào đó sẽ đến Thái Lan, về Việt Nam, qua Mỹ hay các quốc gia khác để tham gia vào công trình xây dựng tăng thân, chữa lành những vết thương chiến tranh và chuyển hóa khổ đau.

Cũng như thế, chúng ta sẽ nâng đỡ nhau, học hỏi từ nhau và cùng nhau trưởng thành. Vài ngày trước, chúng ta đã cùng nhau mừng ngày Chúa giáng sinh. Đó là một đêm rất đẹp khi các em nhỏ thắp lên những ngọn nến sáng rực trong thiền đường Nước Tĩnh, xóm Thượng và đại chúng có thể thấy được ngôi sao Giáng sinh rực rỡ, mầu nhiệm trên cửa sổ. Đại chúng đã thưởng thức sự tĩnh lặng trong thiền đường sau khi cùng lắng nghe một hồi chuông nhà thờ. Âm thanh ngọt ngào, tiếng hát rung động lòng người của nhóm đồng ca xuất sĩ đã giúp chúng con tiếp xúc được với sự thanh thản, cái đẹp và sự bình an của tổ tiên.

Một điều mà chúng con yêu thích trong văn hóa Làng Mai là sự trân quý các truyền thống tâm linh và văn hóa khác nhau. Chúng ta ăn mừng Phật đản, Giáng sinh, Tết và Trung thu,… Đối với nhiều người trong chúng con, Tết là một trong những sinh hoạt nổi bật trong năm bởi nó mang nhiều màu sắc và vui nhộn. Chúng con thực sự cảm nhận được sự vui tươi, ấm cúng của một đại gia đình, và có thể kết nối sâu sắc hơn với các sư anh, sư chị thương kính của chúng con qua những ngày Tết.

Chúng con rất cảm kích và biết ơn tuệ giác mầu nhiệm của Sư Ông: “Không có gì quý hơn tình huynh đệ”. Tự đáy lòng, chúng con xin kính tri ân quý thầy, quý sư cô đã và đang yểm trợ chúng con bằng sự thực tập tinh tấn, sự có mặt, tình thương, tuệ giác và lòng từ bi của quý vị.

Cảm ơn quý thầy, quý sư cô thật nhiều vì đã làm những sư anh, sư chị thật tuyệt vời của chúng con.

Nhân dịp Năm Mới, chúng con xin mượn lời của tổ tiên tâm linh, “cầu mong năng lượng bình an của Chúa (của chư Bụt và chư Bồ tát) bảo hộ thân và tâm của chúng ta”.

Với tất cả lòng thương kính và biết ơn,

Chúng con, các sa di và sa di ni của ba xóm Làng Mai, Pháp.

Người truyền lửa

Mỗi khi nghĩ đến Thầy, chắc hẳn ai cũng có kỷ niệm với Thầy, dù ít dù nhiều. Với tôi, kỷ niệm bên Thầy rất ít nhưng cũng đủ để cho tôi làm hành trang đi suốt cuộc đời tu học.

Dụng nhân như dụng mộc

Tôi biết câu danh ngôn này từ khi tôi còn rất bé vì bố tôi là một người thợ mộc khá tài ba. Dù những mẩu gỗ rất nhỏ bố tôi cũng dùng nó vào việc này, việc kia. Khi nào gỗ vụn quá, không thể làm gì được thì bố tôi mới cho xuống bếp để chụm lửa nấu cơm. Nhưng ngày đó, tôi nghe bố nói nhiều mà không thấy thấm thía gì hết, có thể vì tôi còn bé quá. Vậy mà khi nghe Thầy nói, dù chỉ một lần thôi cũng làm cho tôi nhớ mãi.

Đó là lần mà tôi cùng một vài sư chị, sư em mang cơm qua cho Thầy, và được ăn cơm cùng Thầy nữa. Khi dùng cơm xong, Thầy trò thường ngồi uống trà với nhau. Và đột nhiên Thầy hỏi tôi:

  • Này con, con có biết câu “dụng nhân như dụng mộc” không?

Không cần phải suy nghĩ, tôi trả lời:

  • Dạ, bạch Thầy, con biết.

Thầy nói tiếp:

  • Mình phải dạy các sư em mình như thế đó con.

Thực sự lúc đó, có thể Thầy nhìn thẳng vào mắt tôi, nhưng tôi thì đâu dám nhìn Thầy, tôi cứ nhìn xuống mặt bàn. Trong lòng tôi chợt đi lên câu hỏi: “Sao Thầy lại nói với mình như thế nhỉ, mình còn nhỏ xíu mà!” Bụng nghĩ vậy nhưng tôi đâu dám nói ra. Tôi chỉ: “Dạ!” mà thôi.

Cho đến hôm nay, đã hơn bốn năm kể từ ngày Thầy nói điều đó với tôi, tuy tôi chưa lớn thêm là bao nhưng tôi thầm hứa với Thầy rằng: Thầy ơi, con sẽ cố gắng làm những gì Thầy đã dạy. Con hiểu ra rằng một người thợ mộc giỏi là người biết sử dụng gỗ. Và với con, con sẽ đến chơi với các anh chị em của con nhiều hơn để hiểu thêm, để bớt đi những đòi hỏi này nọ nơi anh chị em và chấp nhận được những vụng về nơi người khác. Con đã hiểu ra rằng chúng con đến từ nhiều nơi trên thế giới, mỗi người có một tuổi thơ riêng, một hoàn cảnh riêng nên mỗi người có một tính cách riêng. Khi hiểu được như thế, con thấy tâm mình khoẻ hơn nhiều. Con cũng sợ rằng con nói thì dễ mà làm thì khó, nhưng con biết rằng chỉ cần có cố gắng thì mọi điều sẽ trở nên tốt đẹp. Thầy và tăng thân luôn có mặt đó cho con. Nhìn lại, con thấy con đã có thật đông các sư em mà toàn là các sư em thật dễ thương. Con chưa phải làm gì cả Thầy ạ. Tuy nhiên câu nói đó của Thầy thì vẫn còn in đậm trong trí nhớ của con.

Cách làm vườn

Tôi còn nhớ rất rõ ngày hôm ấy. Đó là một ngày có mưa nhẹ. Tôi cùng quý sư cô qua Sơn Cốc để làm cỏ ngoài vườn và dọn dẹp việc này, việc nọ. Thầy rất thích hoa cúc đại đoá nên quý thầy, quý sư cô thường hay mua về để Thầy ngắm. Và khi hoa hết bông thì cần phải được trồng lại xuống đất. Nếu chăm sóc tốt thì hoa sẽ lại cho bông. Tôi được giao công việc này vì tôi cũng biết làm vườn chút ít.

Đang cuốc đất chăm chú tôi bỗng giật mình vì nghe tiếng Thầy ở đằng sau. Tôi buông cuốc, tháo bao tay ra và chắp tay chào Thầy. Thầy nhìn tôi và nói: Này con! Một người làm vườn giỏi cần phải biết cây nào cần nhiều nắng, cây nào cần ít nắng. Và mảnh vườn nhà mình, mình cũng cần phải biết chỗ nào có nhiều nắng, chỗ nào ít nắng. Có như thế mình mới biết cách để trồng cây cho hợp lý… Tôi biết Thầy đang nhìn mình để nói nhưng tôi cứ nhìn xuống đất, chẳng dám nhìn Thầy. Sau khi nói xong Thầy đi thiền hành quanh vườn. Tôi lại tiếp tục làm công việc của mình. Giờ nghĩ lại tôi thấy hơi tiếc. Sao lúc đó tôi không buông công việc ra để mà đi thiền hành cùng Thầy nhỉ? Nhưng tôi lại tự an ủi là tôi đã được Thầy dạy cho một bài học đơn giản mà thâm thúy.

Là một người tu, tôi cũng là một người làm vườn. Tôi tự nhắc mình rằng không nên sợ những khó khăn. Hãy chuẩn bị tâm lý sẵn sàng để đón nhận những khó khăn khi nó đến. Giống như một mảnh vườn, phải có cỏ, có hoa và có rác. Một người làm vườn giỏi là người biết chuyển hoá rác đó thành phân hữu cơ để bón cho cây. Những tâm hành không dễ thương luôn có trong mình, giống như là cỏ; và một người làm vườn, nếu muốn cho khu vườn của mình không có cỏ thì cần phải nhổ cỏ mỗi ngày. Nếu là loại cỏ mọc từ rất sâu dưới lòng đất (quê tôi gọi đó là cỏ gừng) mà mình cứ nhổ mỗi ngày thì cỏ đó cũng bị “thối chí” mà dần dần biến mất.

Sống trong đại chúng, tôi nhận thấy rất rõ rằng đại chúng luôn cho mình không gian và cơ hội để thực tập. Đại chúng luôn chấp nhận và tha thứ nếu như mình lỡ gây ra lầm lỗi và biết nhận lỗi để sửa chữa. Những nội quy mà đại chúng đã đưa ra, tôi thấy đó không phải là những điều cấm cản. Đó là hàng rào vững chắc bảo vệ tôi. Cũng như một mảnh vườn, nếu không có hàng rào bảo vệ thì mảnh vườn đó sẽ bị tàn phá bởi những nguyên nhân ngoài ý muốn. Tôi nhớ mảnh vườn nhà tôi ngày trước, bố tôi đã trồng rất nhiều cây bao quanh để làm thành hàng rào bảo vệ. Nhưng bố tôi cũng phải thường xuyên cắt tỉa để hàng rào đó được đẹp và gọn gàng.

Càng ngẫm nghĩ tôi càng thấy biết ơn Thầy vô cùng.

Giữ bếp lửa hồng

Bên Sơn Cốc, ở góc vườn có một nơi đốt lửa. Khi nào chúng tôi qua, nơi ấy lại tiếp tục có một đống lửa hồng.

Ngày Thầy còn khoẻ, Thầy trò thường hay ngồi quây quần cùng nhau bên đống lửa hồng ấy và Thầy kể cho chúng tôi nghe bao nhiêu là chuyện. Mỗi câu chuyện Thầy kể đã nuôi dưỡng chúng tôi rất nhiều. Bây giờ đây, tôi lại kể cho các sư em nghe mỗi khi có dịp. Và chúng tôi cũng áp dụng liền những chuyện Thầy đã kể. Ví dụ như chuyện hồi Thầy còn làm điệu, Thầy thường cùng huynh đệ nướng măng chấm muối tiêu ăn. Mỗi khi qua Sơn Cốc, tôi cũng không thể nào bỏ qua cơ hội hiếm hoi này nếu như có dịp. Và quả thực, mình dù lớn nhưng vẫn thích những thú vui khi còn ấu thơ, dù cho đó là một điều vô cùng đơn giản. Tôi chợt hiểu ra rằng Thầy cũng muốn các con của mình được nuôi dưỡng khi nghĩ về tuổi thơ nên có bao nhiêu chuyện là Thầy kể hết cho các con nghe.

Hiện giờ, Thầy đang ở Làng Mai Thái Lan, nhưng các con của Thầy ở đây vẫn cùng nhau giữ gìn bếp lửa hồng ấy. Những ngày dành riêng cho xuất sĩ, dù là ở xóm Thượng, xóm Mới hay xóm Hạ thì vẫn có một đống lửa hồng được đốt lên, và anh chị em chúng tôi ngồi quây quần bên nhau. Nhiều khi chỉ có mấy cái bánh tráng nướng thôi, mà sao vui quá. Đúng là hạnh phúc của người tu. Giản đơn nhưng mà sao sâu lắng quá.

Tôi cảm thấy rằng Thầy đã trao cho mỗi người con một ngọn lửa hồng rồi. Và tôi thấy rất rõ sự tiếp nối của Thầy nơi mỗi một người huynh đệ. Giờ đây, quý thầy, quý sư cô lớn thay Thầy dạy dỗ các sư em và cho pháp thoại. Những khoá tu lớn vẫn thành công tốt đẹp bởi vì tăng thân đã làm việc chung với nhau trong tinh thần “Ý hoà đồng duyệt” và đại chúng luôn nhắc nhở nhau là hãy “Đi như một dòng sông”.

Tôi cũng có một bếp lửa hồng nho nhỏ trong tim nhưng tôi tin chắc rằng tôi sẽ không giữ được nó nếu như không có tăng thân. Ngày còn nhỏ tôi đã phải nấu cơm cho cả gia đình và tôi biết rất rõ rằng nếu củi chỉ có một cây thì không thể nào nhen lửa được để nấu cơm. Và muốn cơm được ngon thì tôi phải lo giữ lại than hồng để sau đó ủ cơm. Điều này không phải tự nhiên mà tôi biết. Tôi đã được bố mẹ chỉ dạy rất nhiều từ bao nhiêu ngày trước. Khi chắc chắn là tôi biết nấu cơm thì bố mẹ tôi mới yên tâm đi làm đồng để tôi hoàn toàn tự lo liệu. Những bữa nào tôi nấu cơm ngon thì bố mẹ tôi đều khen để khích lệ. Cũng có bữa, chẳng may tôi nấu cơm bị dở, bố tôi đều chỉ ra cho tôi thấy nguyên nhân vì sao để lần sau tôi không  lặp lại. Tôi thầm biết ơn bố mẹ tôi rất nhiều.

Hôm nay đây, tôi đang cùng tăng thân chung tay để giữ bếp lửa hồng mà Thầy đã dày công tạo dựng. Tăng thân luôn là nơi để cho tôi quay về nương tựa, như lời Thầy đã dạy: “Có con cho nên mới có Thầy. Có một bếp lửa để khi mình đi đâu thì nhớ về. Thầy trò mình hãy chăm sóc bếp lửa hồng để bếp lửa còn cháy mãi, cho mình và cho bè bạn.” (Pháp thoại của Thầy, Giáng sinh 2012).

Chân Chuẩn Nghiêm

Khi nào hoa mai nở

Cửa đã đóng, xe lăn bánh rời chùa Cao Linh chỉ mươi bước mà bỗng thấy lòng buồn nao nao. Sao lạ vậy! Chỉ trong khoảnh khắc mà nỗi buồn sao sâu đến vậy. Bất chợt muốn gửi một tin nhắn cho người huynh đệ trên xe:“Tự nhiên ở lại một mình thấy buồn buồn rứa!” Nếu là một em bé chắc tôi đã khóc và chạy theo. Trong thoáng chốc, tôi thở một hơi thật sâu. À! Mình ở lại đây mấy hôm, có mặt với tăng thân Hải Phòng cũng vui mà. May mà tôi đã không gửi tin nhắn đi, chắc các bạn sẽ cười tôi mất.

Thú thật, đã lâu rồi tôi không khóc được. Có lúc cũng thèm khóc lắm, thấy người khác khóc mà thèm một chút. Có một cô giáo trẻ chia sẻ: “Con nặng về tình cảm lắm thầy ạ, nhiều lúc thấy học trò của con có chuyện gì là con đồng cảm và khóc, làm sao để tâm con mạnh mẽ hơn?” Sợi dây tình cảm là ông trời phú cho mỗi người. Nhờ đó mà mình có thể hiểu, thương và cảm được nỗi lòng của những người chung quanh. Ngày xưa, mỗi lần gặp chuyện mà không biết làm gì thì cô Tấm thường ngồi úp mặt khóc, rồi Bụt xuất hiện, dùng phép thần thông cứu giúp. Bây giờ nếu gặp chuyện, chuyện của lòng mình hay chuyện mình thấy, nghe từ bên ngoài thì mình phải ngồi yên và trở về nương tựa Bụt trong mình. Khi hơi thở đã an thì Bụt lòng sẽ xuất hiện và mình sẽ thưa Bụt là con nên làm gì trong giờ phút này. Thế nào Bụt cũng chỉ cho mình lối đi ra. Lối ra tùy thuộc đường vào nội tâm. Phải học cách trở về với lòng mình thì mới biết cách để đi ra khỏi những tình trạng mà mình đang gặp phải.

Tôi nhớ có một lần nọ, Thầy đưa một người học trò vào thất Ngồi Yên, người học trò có nhiều khó khăn và cần được lắng nghe. Nghe xong, Thầy không nói gì, pha một ấm trà, nhẹ rót vào ly, mời sư chú thị giả một ly, mời người học trò một ly, nhưng tay áo của Thầy đã làm đổ ly trà còn lại, nước chảy làm ướt mặt sàn. Sư chú thị giả định đứng lên, Thầy đưa tay ngăn lại và Người tự mình lấy khăn lau sàn, rót một ly trà mới và thầy trò cùng thưởng thức. Thầy nói: “Mình ngã xuống thì mình hãy tự đứng lên, cũng như thầy làm đổ nước trà thì thầy phải tự lau lấy”. Câu chuyện chỉ có vậy mà tôi nhớ lâu ghê. Thầy thật khéo dạy học trò. Tôi tự nghĩ về lời Thầy dạy trong câu chuyện: Thầy chỉ giúp con được chừng đó, con phải tự mình tháo gỡ, đừng ỷ lại, nhưng Người đã không nói thẳng, qua thân giáo thì học trò sẽ nhớ lâu hơn. Tôi cũng tự rút ra bài học cho mình, phải có trách nhiệm với bản thân mình, không phải lúc nào cũng chạy theo cái vui của hoàn cảnh, đến khi ngã thì chỉ biết khóc.

Năm 2017 là một năm tôi phải đối diện với chính mình và đưa ra nhiều quyết định cho bản thân. Dù rằng không được ở với huynh đệ nhưng trong lòng lúc nào cũng muốn về với đại chúng, có lúc cái ước muốn đó thật lớn trong lòng. Tôi thấy cuộc đời mình có phước nhất là niềm tin Tam Bảo chưa bao giờ mất, lúc nào cũng nghĩ về Thầy và tăng thân. Ở đây, quý thầy không nhiều, sự có mặt của mình chỉ nhỏ nhoi nhưng mình cũng muốn đóng góp. Ở lâu một chỗ nào thì cũng biết cách để phụng sự và thực tập. Ở một môi trường thuận lợi thì dễ thực tập, nhưng có lẽ tôi thích khám phá, thích khó một chút để tìm ra một cái nhìn mới.

Có sư em nói: “Thấy sư anh cười bình an lắm nhưng lắm lúc nét mặt có nỗi buồn chi lạ”. “Ồ! Vậy à, lâu ni có biết mô!” Khi soi gương thấy mình đâu có nhăn nhó gì, lúc nào cũng cười với người trong gương. Ai gặp mình cũng mỉm cười, rồi mình cũng mỉm cười chào lại. Nỗi buồn ấy từ đâu ra nhỉ? Hình như có một sự ưu tư nằm đâu đó, có một sự suy nghĩ xa xôi nằm đâu đó… Vậy là mình vẫn còn chưa giỏi để an trú trong hiện tại. Có khi nét mặt buồn là cách bảo vệ mình không chừng. Không muốn tiếp xúc với bên ngoài, muốn trở về ôm ấp và chuyển hóa mình, mà người ta cứ mỉm cười hoài bắt mình phải mỉm cười theo, có khi chỉ chúm chím cho có lệ. Có lần tôi gặp một bạn trẻ, bạn này đến tu viện thực tập một tuần rồi mà không buông thư khuôn mặt được, không cười được, đến khi hỏi thì em nói rằng:“Cuộc đời này quá nhiều đau khổ, có chi để cười đâu ạ”. Tôi thì chưa đến nỗi nào. Mỗi ngày ít ra cũng mỉm cười đến mấy mươi bận.

Tôi nghe kể rằng, có một bà mẹ Việt Nam rời quê hương đến xứ người, bà làm rất vất vả mười sáu giờ đồng hồ mỗi ngày để kiếm sống và nuôi bốn đứa con ăn học, thêm một người chồng và mẹ chồng. Bà có một nghị lực phi thường, chỉ khổ là vì lúc nào cũng bị chồng khiển trách, không bằng lòng cái này cái kia. Đã từng thực tập và tham vấn nhiều lần với quý thầy quý sư cô, nhưng bà vẫn chưa chọn được một con đường thoát. Một lần nọ, quá khổ đau, bà tìm đến Làng Mai và may mắn gặp được Sư Ông:

–    Bạch Thầy! Con khổ quá, xin Thầy giúp con với.

Nhìn thấy căn cơ của người mẹ này, Thầy đã sử dụng cây gậy của thiền sư Lâm Tế”:

–              Nếu khổ quá thì thử chia tay đi!

–                 Dạ bạch Thầy! Con làm không được, nếu con chia tay thì bốn đứa con của con sẽ khổ, ai nuôi tụi nó, con khổ một mình đủ rồi.

Thầy nhắp miếng trà rồi nói tiếp:

–               Nếu không chia tay được thì con về kiếm cho thầy miếng đất để làm vườn.

–               Dạ bạch Thầy! Sau nhà con có một mảnh vườn, con cũng trồng được ít rau cải.

Thầy nhẹ nhàng:

–           Trong vườn, chỗ nào nhiều rác, nhiều phân thì chỗ ấy cây cối xanh tươi hơn những chỗ khác phải không con?

Bà im lặng, có lẽ bà đã thấy được điều gì đó. Trong bà nhen nhúm một niềm tin nơi Thầy. Lòng bà an hơn vì cửa lòng bà đã mở.

Công việc vẫn không thay đổi gì, ông chồng cũng không thay đổi gì, nhưng bà đã biết im lặng thở vào, thở ra mỗi khi thấy lòng bực bội, bà tập thương yêu từng chút một. Thế rồi hoàn cảnh cũng thay đổi dần, bà bây giờ đã khác xưa… Bà biết rằng vấn đề không phải là chia tay hay không chia tay, mà là sự thực tập hiểu thương và niềm bình an bà nuôi dưỡng trong lòng.

Sư chú thị giả ngày trước giờ đã là một thầy tỳ khưu vững chãi. Ngồi uống trà, được nghe thầy kể lại những câu chuyện như trên mà lòng tôi vui lạ. Mỗi câu chuyện về Thầy như cho tôi được nhớ về Người nhiều hơn. Nhớ lại ngày trước, lúc mới tới tăng thân, hầu như tôi nhớ đến Thầy mỗi ngày, mỗi giờ. Nào là được nghe pháp, nghe Đường xưa mây trắng, đọc sách của Thầy, thiền hành, nghe chuông, ăn cơm, ngồi thiền… lúc nào lòng cũng nhớ nghĩ về lời Thầy dạy để thực tập. Bây giờ hình như tôi có nhiều thứ để ưu tư, để nghĩ về, để băn khoăn hơn! Thèm được trở về như ngày trước. Đơn giản thôi mà bền chắc.

Có lẽ em bé trong tôi, cũng như những em bé khác, lúc nào cũng cần một người để nương tựa. Lúc nhỏ có ba mẹ, đến khi đi học thì có thầy cô, vào chùa có Bụt, có Thầy Tổ… cảm thấy như lòng ấm hơn khi được quay về nương tựa các vị. Thở vào, con mời Thầy cùng thở vào với con. Thở ra, con mời Thầy trong con buông thư. Thấy lòng an hơn khi mời Thầy cùng thực tập với mình. Càng lớn tuổi thấy mình như nhỏ bé, muốn quay về, muốn được nương tựa vào bên trong.

Năm mới hứa với lòng sẽ mời Thầy, mời Bụt trong mình cùng thực tập nhiều hơn nữa.

“Con đi cho Bụt
Đi như đi chơi
Đi cho hạnh phúc
Đi cho thảnh thơi.
Con đi như Bụt
Con đang rong chơi
Con đang hạnh phúc
Con đang thảnh thơi.”

Chỉ đi về một hướng để gặp Thầy, gặp tăng thân, quyết làm nên một mùa xuân thôi, không còn mong gì khác.

                Chân Minh Hy