Khoá tu “Về tới quê nhà” tại Tu viện Suối Tuệ tháng 8 năm 2019

 

 

Kính thưa quý cô chú, anh chị, các bạn và các cháu,

Vậy là Tăng thân Paris đã được hội đủ duyên lành, Tu Viện Suối Tuệ – xóm quý Thầy đã được biểu hiện. Tu Viện Suối Tuệ – VERDELOT  được biểu hiện vào tháng 10 năm ngoái và cho tới bây giờ đã và đang tổ chức các khóa tu như: khóa tu Làm vườn hạnh phúc (Happy Farm Retreat), khóa tu dành cho người trẻ, khóa tu Sức khỏe, khóa tu dành cho người Việt. Tất cả mọi người đến để cùng học hỏi lẫn nhau, chuyển hóa những niềm đau nỗi khổ, tìm được lợi lạc, niềm vui, bình an cho chính mình, cho gia đình mình, cũng như cho tất cả mọi người.

Một mảnh vườn mà được tưới tẩm, vun bón, chăm sóc với tất cả sự thương yêu của chúng ta thì chắc rằng mảnh vườn đó sẽ được tốt tươi và lớn mạnh.

Vì vậy quý thầy, quý sư cô kính mời quý cô chú, anh chị, các bạn và các cháu sắp xếp thời gian Về Tới Quê Nhà Tu Viện Suối Tuệ  từ ngày 24 đến ngày 31 tháng 8 năm 2019 này trong khoá tu tiếng Việt, cùng hiến tặng đôi bàn tay, vui tươi, hồn nhiên, an lành, để làm cho mảnh vườn VERDELOT của chúng ta được tốt tươi và lớn mạnh bây giờ và cho tương lai.

 

Ngôn ngữ khoá tu: tiếng Việt

Thời gian : từ ngày 24 tháng 8 đến ngày 31 tháng 8 năm 2019.

Xin đăng ký qua email: khoatutiengviet@gmail.com

Xin quý đạo hữu đến tham dự khóa tu, với tấm lòng tùy hỷ cúng dường cho các chi phí ăn, ở… sinh hoạt hằng ngày trong suốt thời gian khóa tu. (Nếu cúng dường thêm xin hoan hỷ).

Xin quý đạo hữu yểm trợ: nếu có LỀU, SLEEPING BAG (túi ngủ) thì xin mang theo. Nếu không có thì Tu Viện sẽ giúp.

Khóa tu này quý vị sẽ ở LỀU, chỉ ưu tiên cho người nào không thể ở lều được. Ở lều như đang ở khách sạn Ngàn sao vậy đó. Sáng sớm nghe chim hót vang rừng, không khí trong lành, còn buổi tối thì thấy cả một bầu trời sao.

Vậy xin quý đạo hữu đăng kí từ bây giờ để chúng con tiện việc sắp xếp chỗ ăn, ở…, nếu trễ quá thì không có chỗ.

Rất mong sự có mặt của đồng bào mình.

Kính thư,

Thầy Trời Đại Nguyện – sư cô Tráng Nghiêm

 

Bích Nham hữu tuyền

 

 

Bích Nham hữu tuyền, trạc chi tắc dũ

Mấy hôm nay trời mưa nhiều, năm ngoái tháng này tuyết đã rơi phủ núi rừng. Thời tiết ấm áp đáng lẽ tôi phải mừng chứ, nhưng tôi không nghĩ vậy. Tôi đang lo cho đất Mẹ, cho thế giới của chúng ta đang sống. Hiện nay bầu khí quyển đang bị nóng lên từng ngày. Những tảng băng ở vùng Nam và Bắc cực dần tan chảy làm mực nước biển dâng cao ảnh hưởng đến dòng nước ngọt, chắc chắn trong tương lai con người sẽ thiếu nước thôi. Sự lo lắng của tôi dần tan biến khi tôi thiền hành vào khu rừng của Bích Nham. Nơi đây có con suối chảy từ đỉnh núi cao dọc theo con đường thiền hành và trải dài ra tận con lộ Pleasant Valley. Mỗi ngày chúng tôi đều thiền hành vào rừng và đi dọc theo con suối ấy. Chúng tôi thường dừng chân để lắng nghe tiếng suối róc rách chảy qua từng khe đá. Nước suối trong suốt, tôi chỉ muốn bơi lội cho thỏa thích. Nhưng lòng suối cạn và nước thì lạnh như đá, bỏ một ngón tay xuống thôi là đã lạnh cóng rồi. Ngắm nhìn dòng suối, tôi cảm thấy biết ơn Thầy biết bao. Chúng tôi được hưởng phúc từ Thầy nên mới được sống ở một tu viện có khu rừng rất yên tĩnh để tu tập và có nước trong để dùng trong đời sống hàng ngày. Mai này dù trái đất có khan hiếm nước thì hy vọng nơi này vẫn còn một nguồn nước vô tận.

Thầy có viết hai câu đối treo trong thiền đường Đại Đồng: “Nước Bích lắng trong, ngàn sông có nước ngàn sông trăng hiện. Non Nham tú lệ, mỗi lần nhìn lại mỗi lần mới tinh”. Ngàn sông có nước ngàn sông trăng hiện. Nghĩ đến những con sông trên thế giới hiện nay đã khô cạn và những dòng sông khác sẽ khô cạn, tôi sợ rằng sau này con người sẽ không có đủ nước mà dùng thì lấy đâu mà trăng hiện đáy sông? Vậy mà vẫn có người rất thoải mái mở vòi nước để chảy một cách phung phí mà không thấy tiếc. Họ không nghĩ đến những nơi không có một chút nước ngọt để dùng. Hơn nữa để thỏa mãn nhu yếu ăn uống, chúng ta phá rừng xây nông trại nuôi súc vật. Đây cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến nguồn nước và hành tinh xanh. Một cách để cứu hành tinh mà chúng ta đang sống là ý thức hơn về sự tiêu thụ của chúng ta trong đời sống hàng ngày.

Cô Dangdang người Hồng Kông, hàng năm đều xin về ở Bích Nham một thời gian dài. Cô nói rằng mỗi khi đi vào rừng ngồi bên con suối, cô thấy mình như được trị liệu, không cần phải đi thăm bác sĩ tâm lý trị liệu làm gì. Điều này làm tôi nhớ đến hai câu đối được treo hai bên cầu bắc ngang qua con suối ở Sơn Hạ, Làng Mai nước Pháp: “Sơn Hạ hữu tuyền, trạc chi tắc dũ”. Nghĩa là dưới chân núi có con suối, nước suối có thể dùng để chữa lành các vết thương. Con suối trong khu rừng Bích Nham cũng có khả năng trị liệu cho rất nhiều người. Tôi nghĩ mình có thể đổi thành “Bích Nham hữu tuyền, trạc chi tắc dũ”. Được lắm chứ!

Năm rồi, trước khi sư em Q.N đổi sang tu viện Mộc Lan, chúng tôi hẹn nhau cùng ra suối chơi và uống trà. Chúng tôi đem bếp ga và nồi nhỏ để có thể nấu nước pha trà và chế mì gói. Tôi xuống suối lấy nước. Nước suối thật trong và lạnh. Sư em hơi lo ngại vì nước chưa được khử trùng. Tôi liền trấn an sư em vì chính tôi đã uống nhiều lần rồi mà không bị đau bụng. Nước đã sôi, sư em có chuẩn bị một ít rau thơm, chanh và ớt. Hai chị em chúng tôi yên lặng thưởng thức tô mì ngút khói, hương thơm phức. Tuy trời lạnh nhưng tôi thấy lòng mình thật ấm áp. Tiếng suối róc rách, không khí trong lành và sự yên lặng của núi rừng, không từ ngữ nào có thể diễn tả được hạnh phúc đang tràn ngập trong tôi. Dù chỉ là mì ăn liền nhưng nó ngon hơn cả sơn hào hải vị. Tôi thấy mình giàu có hơn những người giàu có nhất trên thế giới này. Chưa chắc họ đã có được những giây phút tự do và bình yên như hai chị em tôi lúc đó. Chúng tôi tận hưởng ly trà thơm được nấu bằng nước suối rất ngọt và tận hưởng giây phút của tình huynh đệ. Không lâu nữa sư em sẽ rời Bích Nham để sang Mộc Lan rồi, không biết khi nào chị em lại có dịp ở chung một xóm nữa.

Trong một buổi vấn đáp, có một thiền sinh đã hỏi chúng tôi: “Làm sao có thể cân bằng tâm lý khi mình sống chung với những người mình thương nhưng một mai mình phải chia tay với họ?”. Nghĩa là làm sao mình không bị đau khổ khi một mai mình phải chia tay người mình thương. Câu hỏi rất hay. Câu trả lời của tôi là sống hết lòng với người mình đang chung sống. Sống hết lòng không có nghĩa là mê đắm, mà có nghĩa là mình có mặt cho người kia một cách trọn vẹn khi đang sống bên người đó, và nếu có chia tay thì mình không có gì phải tiếc nuối. Tôi đang có mặt cho em trọn vẹn trong giây phút hiện tại. Chúng tôi không nói đến chuyện tương lai, cũng không nhắc gì về quá khứ. Chúng tôi chỉ tận hưởng giây phút có mặt bên nhau là đủ rồi. Không cần phải nói với nhau những lời hoa mỹ, thương yêu làm gì. Tình thương chân thật là có mặt trọn vẹn cho người mình thương trong giây phút hiện tại. Tôi sẽ không hối tiếc hay nhớ nhung về em khi em không còn ở đây nữa. Mỗi lần nghĩ về em, tôi sẽ nhớ đến một kỷ niệm đẹp và được nuôi dưỡng.

Về nương tựa Tăng thân

Thời đại càng văn minh tiến bộ thì con người càng nhiều khổ đau, trống vắng, cô đơn và xa cách. Hiện nay đa số chúng ta ai cũng có một thiết bị điện tử để dùng như ipad, iphone, v.v. Hàng ngày con người cứ dán mắt vào đó để lên mạng. Sự cô đơn trống vắng đã được khỏa lấp bởi các thiết bị điện tử ấy. Mạng lưới internet giống như là mạng nhện của bảy yêu nữ trong chuyện Tề thiên đại thánh. Nếu mình không đủ chánh niệm, tức thì mình sẽ bị những sợi dây của mạng lưới quấn lấy và siết chặt không buông. Đã có người chết vì dùng mạng ngày đêm. Những người trẻ cũng vì ham chơi game hoặc những thông tin không lành mạnh trên mạng mà thân tâm bị tàn hoại. Bản thân tôi đôi khi cũng bị quyến rũ bởi những sợi dây nhện ấy. Khi vào “search” (tra cứu) rồi, nếu không có chánh niệm, tôi cũng sẽ bị quấn bởi sợi dây nhện yêu tinh ấy. Nhưng tôi cũng ý thức rằng mạng lưới internet là con dao hai lưỡi. Nếu biết cách sử dụng thì nó cũng sẽ giúp ích rất nhiều cho sự học hỏi của mình. Thời đại công nghệ thông tin, ở tu viện, chúng tôi không ngăn cấm quý thầy, quý sư cô hoặc các bạn thiền sinh đến tu tập sử dụng mạng. Chúng tôi thiết lập thời khóa và nội quy khi dùng mạng. Bao nhiêu lần trong một tuần và bao nhiêu tiếng trong một ngày. Chúng tôi cũng có một ngày hoàn toàn không sử dụng mạng, cũng như một ngày hoàn toàn không dùng xe. Không chỉ bảo vệ môi trường mà còn bảo vệ thân và tâm của mình nữa.

Thiền sinh và phụ huynh đã ý thức được điều ấy. Cho nên những khóa tu hàng năm được tổ chức tại Bích Nham, số lượng người tăng thêm. Phòng ăn, chỗ ở bắt đầu không đủ đáp ứng nhu cầu người về tu học. Khi thiền sinh đến tu viện, họ được yêu cầu không dùng những thiết bị điện tử, mà dành thời gian để học thiền ca, học ăn trong im lặng, thiền hành, pháp thoại, pháp đàm. Trẻ em thì được quý thầy, quý sư cô hướng dẫn phương pháp thỉnh chuông, thiền ăn bánh, và các em có không gian chạy chơi tung tăng cùng bạn bè. Sau khi khóa tu chấm dứt, các em hẹn gặp lại nhau sang năm. Những thiền sinh cũ thì nói rằng mỗi khi về lại Bích Nham giống như họ được trở về nhà vậy. Vì nơi đây họ thấy an toàn. Ở tu viện, họ không phải tiếp xúc với những tin tức từ báo chí, truyền thông, truyền hình, internet. Về tu viện họ có cơ hội được trở về với mình nhiều hơn, vì không còn bị chi phối bởi công việc và công nghệ thông tin. Họ được tiếp xúc với thiên nhiên và với con người nhiều hơn.

Tu viện Bích Nham cách thành phố New York hai giờ lái xe, cho nên những thiền sinh đến tu học thật đa dạng. Điều này không tránh khỏi những câu hỏi như: “Khi vào thiền đường chúng tôi thấy phái nam ngồi một bên, phái nữ ngồi một bên. Vậy những người họ không thấy mình là nam hay nữ thì ngồi chỗ nào?”. Đó là một trong những câu hỏi thường xảy ra trong những buổi vấn đáp. Với trí tuệ của một bậc thầy, Thầy đã dạy chúng tôi nhiều lần về cái thấy tương tức và duyên sinh. Tương tức là trong cái một có cái tất cả, trong cái tất cả có cái một”. Trong nam có nữ, trong nữ có nam. Khoa học cũng chứng minh điều này. Duyên sinh là: Cái này có vì cái kia có. Cái này sinh vì cái kia sinh. Cái này diệt vì cái kia diệt”. Ngày xưa, thật hiếm khi nghe ai đó nói đến chuyện đồng tính hay chuyển giới tính, hoặc có khi cho là điều xấu hổ khi nhắc đến. Nhưng ngày hôm nay, nó đã trở thành chuyện tự nhiên. Vấn đề đó đã xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, phải nói đó là tâm thức cộng đồng, và không ai thấy đó là điều lạ hay xấu hổ khi nhắc đến. Chúng tôi ở đây đã tôn trọng quan điểm của họ, sắp cho họ chỗ ngồi giữa hai bên ở hàng cuối. Và không gọi họ theo giới tính nam nữ, mà gọi theo ý muốn của họ là “It” hoặc “They/them” trong tiếng Anh. Bụt dạy tất cả chúng sanh đều có Phật tính. Nếu chúng ta thực tập được lời Bụt dạy thì không những bản thân mình được hạnh phúc mà gia đình của mình cũng được hạnh phúc và bình an. Là những vị xuất sĩ trong thời đại này, mình cần phải thực tập khế lý và khế cơ thì mới có thể giúp người.

Hiện trạng của xã hội đã làm tôi hiểu nhiều hơn về lời Thầy nói năm nào. Tu viện của chúng tôi không có đầy đủ tiện nghi, nhiều khi thiền sinh phải ngủ dưới đất vì đã hết chỗ. Chúng tôi, những người xuất sĩ không cần phải nấu những món ăn cầu kỳ, không nhất thiết phải cho pháp thoại thật hay, chỉ cần sự có mặt của Tăng đoàn xuất sĩ, có thực tập uy nghi giới luật đầy đủ, cũng đủ giúp cho thiền sinh tìm thấy một nơi để nương tựa, để trở về.

Xoa dịu niềm đau

Sáng nay, trên đường đến phòng ăn, tôi gặp em – một thiền sinh dài hạn tại Bích Nham. Em chào tôi với gương mặt tươi vui. Khi mới đến tu viện, gương mặt em lúc nào cũng rầu rĩ. Em từng chia sẻ với tôi rằng ngày xưa em là một sinh viên du học. Ngày đầu tiên đến nước Mỹ, em được người bạn đồng hương hết lòng giúp đỡ. Nhưng không ngờ người bạn trai đó đã lợi dụng sự ngây thơ và lấy đi sự trong trắng của em, và em đã có thai. Vì hận người bạn và muốn giấu cha mẹ, em đã quyết định phá thai. Em chấm dứt sự liên hệ với người đó, quyết định làm lại cuộc đời. Sau khi tốt nghiệp, em thành hôn với một người Mỹ, hai vợ chồng sống hạnh phúc bên nhau và em rất muốn có con. Cho đến một hôm khi biết mình có thai, hai vợ chồng em hạnh phúc vô cùng. Nhưng trớ trêu thay, tin vui chưa lâu thì bác sĩ báo cái thai không được bình thường. Đứa bé trai được sinh ra khi chưa đủ tháng, phải sống bằng dưỡng khí, và trải qua nhiều ca mổ. Bác sĩ nói rằng nếu bé sống có thể sẽ bị tật nguyền suốt đời. Hai vợ chồng không muốn con mình lớn lên trong đau khổ, nên họ quyết định rút ống dưỡng khí của bé. Đứa bé tắt thở trong khi nụ cười vẫn nở trên môi. Khi thấy nụ cười trên môi bé, em liền thay đổi ý định, nhưng bác sĩ bảo rằng không còn kịp nữa rồi. Sau đó, em bị trầm cảm nặng nề phải nhờ đến bác sĩ tâm lý trị liệu và nhờ đến thuốc mới có thể ngủ được. Cứ thế hàng năm vào cuối tháng 10, đầu tháng 11 thì hai vợ chồng em lại nhớ đến chuyện xưa, nhớ đến nụ cười của bé. Em mang nhiều mặc cảm tội lỗi cho rằng mình đã tự tay giết con mình. Đứa con trong quá khứ và đứa con trong hiện tại. Em chỉ biết lái xe trong vô thức, không biết mình sẽ đi về đâu. Lắng nghe em chia sẻ trong tiếng khóc, trên gương mặt hằn những nét khổ đau. Tôi không ngờ rằng em lại có nhiều đau khổ như thế, nhìn bên ngoài nào ai biết được. Tôi nói: “Em ơi, những gì đã xảy ra trong quá khứ không còn nữa. Đừng để quá khứ giam hãm em trong ngục tù của tuyệt vọng. Em định để cho khổ đau, mặc cảm tội lỗi giày vò em mãi cho đến bao giờ? Em có biết sự khổ đau của em sẽ ảnh hưởng đến ba mẹ em không? Nếu em mặc cảm tội lỗi với những đứa con mà em đã từ bỏ, thì hãy xin lỗi chúng đi. Chúng đang có mặt ở trong em đó. Em hãy tự nói với mình: “Con ơi, vì vô minh mà mẹ đã từ bỏ con. Mẹ xin hứa rằng từ nay về sau mẹ sẽ sống trong chánh niệm. Mẹ hứa sẽ yêu thương những đứa trẻ khác như là thương yêu các con vậy”. Em hãy làm mới với các con của em, ngay cả đứa bé ban đầu mà em đã phá bỏ. Sự sám hối đó sẽ xóa tan mặc cảm tội lỗi trong em. Và chính những đứa bé đó cũng sẽ giải tỏa được nỗi oán hận trong lòng của chúng đối với mẹ. Em đã có Tam bảo che chở và pháp môn để tu tập. Em có thể chấm dứt khổ đau bằng sự tu tập chánh niệm. Tôi chấm dứt bằng một câu rất cứng rắn: “Em không nên đi đâu hết. Hãy ở lại thực tập ba tháng mùa đông! Thời gian này là cơ hội cho em chuyển hóa những vết thương trong lòng. Đừng phụ lòng cha mẹ và thầy tổ”. Chắp tay lại, em nhìn tôi bằng đôi mắt biết ơn.

Trong xã hội hiện nay, đã có nhiều trường hợp xảy ra giống như em. Có người thiếu trách nhiệm do những hành vi mình đã tạo ra, cũng có người vì hoàn cảnh. Tôi không phán xét, cũng không trách móc, mà chỉ thương cảm như thương cô gái trước mặt tôi, đang bị mặc cảm giày vò. Tất cả đều do vô minh mà ra. Không có ai trên đời này muốn tạo khổ đau cho mình hay cho người khác. Tôi viết ra câu chuyện này cũng chỉ muốn nhắc nhở những người trẻ, hãy suy nghĩ cho thật chín chắn, đừng vì một phút đam mê mà sau này phải hối hận suốt đời.

Thầy là núi mà cũng là sông

Bước vào thiền đường, tôi đã thấy một không khí ấm cúng bởi nến và hoa. Những cánh hoa hồng phủ đầy mặt sàn trong vòng tròn, xen lẫn câu “Happiness is here and now” (Hạnh phúc bây giờ và ở đây). Tiếng nhạc nhè nhẹ vang lên tăng thêm phần thiền vị. Sư em Trăng Thanh Lương là chủ tọa buổi Be-in (Có mặt cho nhau) cuối cùng của mùa An cư này, với sự giúp đỡ của sư em Trăng Quang Sơn làm trà giả. Vị trí chính của vòng tròn là chỗ ngồi dành cho Thầy. Bắt đầu buổi Be-in, sư em chủ tọa quay sang chỗ ngồi của Thầy và chắp tay thưa bằng giọng Huế. Sư em nói rằng: “Hôm nay Sư Ông sẽ tặng cho mỗi người trong vòng tròn một đóa hoa hồng”. Trên mỗi đóa hoa đều có tấm thiệp với hàng chữ Tay Thầy trong tay con. Tất cả mọi thứ đều tạo nên sự bất ngờ cho mọi người. Sau đó, sư em mời mỗi người chia sẻ một kỷ niệm về Thầy. Tôi thấy vui trong lòng vì cách sư em làm thật dễ thương và ngộ nghĩnh, tạo cho mình cảm giác Thầy đang ngồi đó. Tôi càng thấy thương hơn khi em làm như Thầy đang ở đây thật vậy. Là thế hệ xuất gia những đợt đầu, chúng tôi có cơ hội được gần Thầy nhiều hơn thế hệ của các em sau này. Cho nên các em rất khao khát được nghe kể những câu chuyện về Thầy từ các sư cha, sư mẹ, sư anh và sư chị. Những câu chuyện có thể nuôi dưỡng bồ đề tâm của các em. Nhất là đối với các em mới xuất gia sau này, có em còn chưa từng được gần Thầy dù chỉ một lần. Là sư anh, sư chị, chúng tôi thấy mình có bổn phận phải thay thế Thầy lo cho các sư em. Dù biết rằng để hiểu tâm ý của các sư em không phải dễ dàng.

Thầy không những là một người thầy, mà cũng là một người cha và một người mẹ. Chim mẹ đã già và đã tập cho chim con biết bay. Thầy như chim mẹ đã nuôi nấng, dạy dỗ chúng tôi bao nhiêu năm tháng qua. Bây giờ, chúng tôi là chim con phải tập bay bằng chính đôi cánh của mình. Tôi nhớ Thầy luôn nói: “Đừng phụ lòng Thầy” hoặc “Đừng làm Thầy lỗ vốn nha con”. Thầy đã viết thành thư pháp: “Đừng phụ núi sông”. Thầy là núi mà cũng là sông của chúng tôi. Hoài bão của Thầy là sự tiếp nối của chúng tôi. Là duy trì mạng mạch của chánh pháp. Là huynh đệ cùng nắm tay nhau đem Đạo vào Đời.

“Thầy thương kính của chúng con, làm sao chúng con phụ lòng Thầy được!”

Chân Hoa Nghiêm

Về miền thảnh thơi

 

Thầy kính thương,

Mấy hôm nay, con dành thời gian để quán chiếu lời tâm sự từ một bạn trẻ người Ý, thuộc gia đình Wake Up mà con vừa chăm sóc trong khóa tu đầu năm mới. Trong buổi thiền trà chia tay, bạn ấy cảm động đến rơi lệ, nghẹn ngào chia sẻ: “Ngày mai tôi phải quay trở lại cuộc sống của thế giới ngoài kia, tôi chưa sẵn sàng và không muốn rời khỏi thế giới trong thiền viện này. Tôi đã sống ở đây một tuần, như sống ở một thế giới khác, nơi mà tôi được chấp nhận là chính tôi, nơi không có sự kỳ thị, không cần trang bị bất cứ rào chắn nào giữa con người với con người, nơi tôi cảm nhận bình an, tự tin, nhẹ nhàng và dễ dàng. Tôi tiếp xúc với sự sống sâu sắc trong từng ngày, từng giờ, từng bước chân và hơi thở. Nhưng thật lạ kỳ, chính tất cả chúng tôi đều bước vào đây từ thế giới đầy gai góc ngoài kia cơ mà! Chính chúng ta cùng nhau xây dựng thế giới lý tưởng trong tuần này, vậy điều gì tạo nên sự khác biệt giữa hai thế giới?”.

Con đã thỉnh một tiếng chuông chánh niệm cho cả gia đình pháp đàm cùng thở, để câu hỏi ấy được gieo sâu vào tàng thức của chúng con, của hai mươi người trẻ, tuổi từ 18 đến 35, đến từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, cùng đang đi tìm tương lai và sự nghiệp cho cuộc đời. Mỗi người sẽ tự tìm câu trả lời cho chính mình.

Trong tuần ấy, chúng con đã thiết lập các chương trình thiền tập làm mới tự thân, ngồi thiền và quán chiếu về ước muốn sâu sắc cho sự khởi đầu mới, lắng nghe nỗi lòng thầm kín bên trong, ôm ấp đứa trẻ tổn thương nội tâm bằng nhiều hình thức thực tập như thiền hành, thiền buông thư, thiền ăn, thiền viết thư và cả thiền ca cùng nhau bên ánh lửa.

Công trình quán chiếu cho con thấy rằng, sự khác biệt đó chính là ở phương pháp sống, cách sống hay có thể gọi là pháp môn tu học.

“Mười năm vườn xưa xanh tốt”

Mười năm trước, bước vào tuổi 28, thời điểm mùa xuân của tuổi trẻ, thời khắc cần khẳng định hướng đi vững chãi cho tương lai, con đã cho mình một cơ hội dừng lại, nhìn lại, tìm lại quá khứ, hiểu rõ hiện tại. Cũng như các bạn trẻ gia đình Wake Up hôm nay, con tặng mình một chuyến đi về nguồn tâm linh, trở lại bản tâm thanh tịnh để đặt cột mốc cho cuộc đời. Sau hơn một năm thực hành phương pháp sống mà Thầy và tăng thân đã hướng dẫn, con chính thức bước vào thế giới tự do từng ngày.

Mười năm thiền tập là mười năm tiếp nhận gia tài Thầy trao. Thứ quý giá nhất chính là sự tự do. Con giàu có về thời gian, về cơ hội để bắt đầu, để tiếp tục, để lớn lên trong bản lĩnh nhận thức về chính mình, về gia đình và về thế giới.

Con cũng như bao người trẻ khác, dưới sự hướng dẫn của cha mẹ, gia đình huyết thống, trường học,… đã nghĩ rằng mình sẽ tiếp tục đi con đường mà cha mẹ đã đi qua. Mười chín tuổi, con theo học chuyên ngành Xã hội học, hăng hái bước vào thế giới tri thức và thích thú góp tay vào công trình xây dựng phát triển xã hội.

Cùng lúc đó, con đang có một tình cảm trong sáng, sâu đậm suốt tám năm với mối tình đầu tuổi học trò. Ra trường, đi làm, khám phá sự thật cuộc sống và các mối quan hệ xã hội được xây dựng, con từ từ nghi ngờ giá trị đích thực của con đường mà cha mẹ, anh chị, thầy cô giáo và bạn bè đang đi. Dần dần, những hiện thực mà con được thấy, được nghe, được sống cùng, đã không thuyết phục được con. Con thấy trái tim mình muốn vươn tới một nếp sống thanh cao, đẹp đẽ và lý tưởng hơn.

Chia tay bạn trai, viết thư xin nghỉ việc, xếp lại tất cả các mối quan hệ, đóng cửa nhà, trả lại tất cả danh phận và địa vị, con đã lên đường đi tìm cuộc sống mà mình mong muốn.

Thầy ơi, trăng cuối tháng vẫn còn sáng rực rỡ cho tới giờ thiền tọa sớm. Con bước từng bước thảnh thơi trên con đường ngang qua cụm bạch dương đến thiền đường Hội Ngàn Sao. Con đã làm ước hẹn mỗi ngày với ngôi sao Bắc Đẩu, ngôi sao Người Thợ Săn, sao Mai, sao Hỏa,… và cả bầu trời sao lung linh lấp lánh đang soi tỏ từng bước chân ý thức của con. Vì con có mặt đây, đích thực và vững chãi nên trăng sao cũng có mặt đó, rõ ràng và trong sáng cho con. Hàng tùng xanh mát, dãy đồi nhấp nhô tỏ lộ các đường cong chạy dài dưới ánh trăng, cánh đồng lúa mạch, ruộng nho thẳng tắp cùng núi rừng thiêng liêng hùng vĩ. Tiếp xúc với sự sống trong giây phút hiện tại một cách sâu sắc, con thấy mình có cơ hội hiểu thêm tâm ý mình cũng như sự vận hành của tâm thức trong hiện tại và quá khứ đã qua.

Đạo Bụt cho gia đình

Hạt giống muốn sống cuộc đời tập thể vốn dĩ con được thừa hưởng mạnh mẽ từ cha mẹ, người đã từng dùng nhiều thời gian của tuổi trẻ mình xây dựng đoàn thể. Trong ba người con của cha mẹ, con tiếp nhận hạt giống này mạnh hơn cả.

Hạt giống sẵn có ấy được gieo trồng trong môi trường thuận lợi của tăng thân, gặp được pháp môn chuyển hóa khổ đau và chế tác hạnh phúc đích thực. Con như cây non được ươm trồng trong mảnh vườn tốt, đủ nắng, đủ nước, đủ dưỡng chất cùng tiếng chim, cánh bướm và bầy ong siêng năng mỗi ngày.

Theo thông lệ gia đình huyết thống, Tết ta là thời gian con cháu đến thăm hoặc gọi điện, hỏi han và chúc sức khỏe ông bà, cô chú bác trong dòng họ. Điện thoại thăm họ hàng bên nội, chú Tư của con hỏi: “Dạo này cháu làm công việc gì? Sống thế nào đấy cháu?”. Gia đình con vốn chưa biết nhiều về đạo Bụt và đời sống xuất gia nên con phải dùng phương tiện câu chữ để chia sẻ về đời sống của một sư cô.

Cười rất tươi trong điện thoại, con thưa: “Con giống như là một cô giáo dạy kỹ năng sống cho các em bé tuổi từ 6 đến 12, giống như là chuyên gia tâm lý cho các em thiếu niên tuổi từ 13 đến 19, hoặc giống như là trợ lý ứng dụng giảng dạy về mặt tinh thần, giá trị sống cho thanh niên từ 18 đến 35 tuổi, là người hỗ trợ trong các chương trình đào tạo hạnh phúc đích thực, sức mạnh nội tâm cho người lớn từ 35 tuổi trở lên. Mỗi tuần, con nấu ăn một ngày, tuy nhiên có khi nấu cho cả mấy trăm người, nhà bếp được thiết kế với máy nướng, lò hấp và nồi rất to, chuyên dụng. Có ngày con được ra cuốc đất làm vườn, gieo hạt ở nông trại hữu cơ rộng lớn, thu hoạch cả xe rùa khoai tây, rau sạch,… Con được ăn chay, thức ăn hiền lành, tươi mới, sống hòa đồng với thiên nhiên cây cối, núi rừng, được thở không khí trong lành, sảng khoái mỗi ngày ạ!”. Mô tả đến như vậy thì các chú và các cô cười giòn tan, vui vẻ và bảo: “Thế là tốt lắm, cứ tiếp tục thế nhé cháu!”.

Thầy ơi, con giới thiệu đạo Bụt cho gia đình con bằng cách như thế đó. Nếu nói rằng bây giờ con đã cạo sạch tóc, mặc áo nâu, làm sư cô, ở trong chùa mỗi ngày hai thời ngồi thiền tụng kinh gõ mõ, hoặc cúng bái… thì gia đình con sẽ không hiểu, sẽ khổ đau lắm. Bởi những tri giác sai lầm của người đời đã gắn nhãn không mấy đẹp đẽ lên cho những điều đó. Nếu không có cơ hội tự mình mắt thấy, tai nghe, chứng thực cuộc sống của con hiện tại vui vẻ, tự do như thế nào thì gia đình con sẽ không thể tin tưởng được.

Không, con không hề muốn!

Thỉnh thoảng lúc rảnh rỗi, có khi trong tâm con biểu hiện lên những cảnh cũ người xưa, kỷ niệm hồng thời vướng mắc với anh chàng tuổi 19. Đầu mùa an cư này, con quyết tâm chinh phục, tìm hiểu và quán chiếu để buông bỏ mối ràng buộc tâm ý này.

Con đến sư cô trụ trì để mượn sách Giải phẫu cơ thể học. Một mặt con học hỏi về sự vận hành sinh lý trong cơ thể con người để đủ hiểu biết mà thiết lập những bài thiền tập cho tự thân vào từng thời điểm thích hợp. Đó là về thân.

Mặt khác, về tâm, con tìm nghe các bài pháp thoại của Thầy trong Duy biểu học, pháp thoại dành riêng cho người xuất gia, phương pháp thay chốt, nhận diện đơn thuần,… Con viết tất cả những biểu hiện của tâm vướng mắc vào sổ công phu, thỉnh y chỉ sư đọc và chứng minh, hỗ trợ cho con. Con muốn đối diện với chính mình, con muốn bước lên một bước trong kinh nghiệm tu học để thực sự có tự do.

Con đặt câu hỏi cho chính mình: hạnh phúc của sự vướng mắc đó có bền vững không? Không, vì nó được xây dựng trên những đòi hỏi và điều kiện. Rồi con lại tự hỏi, nếu đánh đổi cuộc sống tự do của một sư cô với cuộc sống của một người vợ, suốt ngày trong nhà, nấu ăn, giặt giũ, nuôi dạy con cái và sống trong nhà cao cửa rộng đầy đủ tiện nghi thì mình có muốn không? Câu trả lời là không, không hề muốn.

Vậy đã rõ ràng rồi, hiện tại là cái mình thích, tâm ý vướng mắc chỉ là cái tập khí thất niệm và xao lãng mà thôi, là rác. Mỗi lần kỷ niệm cũ biểu hiện, con mỉm cười tự nhủ: “Thấy rồi, biết rồi, không làm được gì đâu nhé! Cùng nhau đi làm chuyện có ích cho tăng thân thôi, bạn vướng mắc à!” 🙂

Và con thực tập phương pháp thay chốt, để tâm ý được mở rộng và hướng thượng.

Con dùng thời gian để học nhiều điều mới và đóng góp cho tăng thân sức trẻ của mình. Con mời các bạn thiền sinh cùng làm bánh mì có nhiều loại hạt và nướng bằng lò củi. Con cũng tập làm đậu nành lên men cung cấp B12, thêm cho thực đơn ăn chay, thiết kế thời khóa học thêm tiếng Anh, học nấu món ăn mới, chơi với các bạn trẻ đến từ nhiều nước khác nhau để hiểu về văn hóa, lối sống châu Âu.

Tăng thân và đời sống xuất sĩ đã cho con cơ hội để quán chiếu và có được cái thấy nuôi dưỡng đời sống tự do của hiện tại. Tuệ giác và tập khí đều chịu luật vô thường, hiểu được điều đó, con càng trân quý những điều kiện hiện tại mà con được thừa hưởng từ Thầy, từ tăng thân và từ pháp môn tu học. Con thấy mình vừa nhỏ bé, vừa lớn lao khi ở trong lòng của đại chúng. Và con khao khát nương tựa vào tăng thân.

Khi đặt được anh chàng 19 tuổi ấy vào vị trí của sự buông bỏ và vô thường, tâm ý con được cởi trói và tuệ giác về tình thương không vướng mắc bắt đầu có mặt. Người ấy như là một vị Bồ tát đã đi qua cuộc đời con trong vòng tám năm, đã hiến tặng cho con một trải nghiệm của tình thương có điều kiện và tự do trong khuôn khổ.

Sáng tỏ nẻo về đường đi

Bài tập mà Thầy giao cho từ ngày còn là sa di ni, đến bây giờ con vẫn làm đều đặn, đó là bài tập tìm hiểu về cha, về mẹ, về ông bà tổ tiên huyết thống qua thiền viết thư. Ngày làm biếng là ngày con dành cho gia đình huyết thống. Từ khi xuất gia, con mới có nhiều thời gian để lắng nghe tâm sự của bà nội, để hiểu về tuổi trẻ của ông nội, về nghề nghiệp mà ông ngoại đã làm, về cách nuôi dạy con cháu của bà ngoại, v.v.

Trong cuộc chiến tranh chống Pháp, vì lo bảo vệ vợ con, trong lúc chạy vào hầm trú ẩn không kịp mà ông ngoại của con đã qua đời ngay trước mắt của bà ngoại, mẹ và các dì, cậu. Người Việt Nam vừa thoát khỏi chiến tranh không lâu nên thường có xu hướng che đậy quá khứ đau thương lại và dạy dỗ con cháu cố gắng vươn lên, tiến về phía trước… Gia đình con cũng vậy. Cho đến khi cuộc sống yên ổn, ngày tháng đủ lắng xuống thì con mới rủ rỉ xin mẹ kể chuyện về ông bà ngoại. Ông ngoại mất năm mẹ chỉ vừa tròn mười tuổi, mồ côi cha nên cuộc sống của mẹ đói kém, khó khăn. Khi mẹ nhắc lại chuyện đau buồn, con đã hết sức chánh niệm, đã thở thật yên để ôm ấp niềm đau cho mẹ, cho con, cho gia đình. Và cuối mỗi cuộc điện thoại về nhà, con thường tưới tẩm trở lại cái hiện tại hạnh phúc gia đình con đang có: cha mẹ con cái khỏe mạnh, vui tươi và sống hòa thuận bên nhau.

Có một bạn trẻ người Pháp hỏi con: “Vô ngã là gì?”. Con đã dùng kỷ niệm này để trả lời: “Ông ngoại của tôi đã chết dưới bom đạn từ thế hệ cha ông của bạn, và tôi đang ở đây cùng với bạn tu, học, chơi và làm việc trong tình huynh đệ, xây dựng tương lai tươi sáng và hiền lành chung với bạn. Nhờ vô thường mà chúng ta đang giúp tổ tiên của chúng ta xây dựng hiện tại và tương lai tốt hơn. Vì thiếu hiểu biết nên thiếu thương yêu. Bây giờ, chúng ta có phương pháp để hành trì thì tổ tiên của chúng ta ngày xưa chính là chúng ta bây giờ, sẽ không cần phải giết hại nhau để sống, mà có thể nắm tay nhau cùng tạo dựng sự sống bình an”.

Thầy ơi, con đang thai nghén cho bài kinh Chìu tập 2. Con đã có tư tưởng chủ đạo cho bài kinh rồi, khi nào chín, nó sẽ biểu hiện như bài kinh Chìu tập 1 mà con đã viết từ mấy năm trước. Kinh Chìu tập 2 này sẽ là công trình quán chiếu của nhiều năm mà con trải nghiệm nghiệm trong đời sống xuất gia giữa các sư cô. Con rất thích thú với ý tưởng về kinh Chìu trong sách Trái tim của Bụt.

Thầy ơi, còn nhiều điều con muốn viết cho Thầy, kể cho Thầy nghe lắm. Nhu yếu được viết thư cho Thầy như là điều gì rất hiển nhiên. Cũng như nhu yếu của các chị em con, sáng nào cũng thức dậy, thắp lên một ngọn nến, pha ấm trà nóng, thở thật yên và lắng lòng nghe pháp thoại của Thầy. Mỗi khi con để thân tâm mình được tiếp xúc với tuệ giác của Thầy là mỗi giây phút con thấy sáng tỏ đường đi nẻo về cho một cuộc sống tự do và hạnh phúc…

Kính thương và biết ơn Thầy.

Sư con của Thầy

Chân Trăng Chùa Xưa

Trước cuộc đời rộng lớn

Thương gửi bạn hiền!

Tháng Mười: “Nguyệt vô sự chiếu nhân vô sự” (Thơ Trần Thánh Tông)

Tháng Mười, hàng tre lá vẫn xanh. Vườn Ươm kết thúc mùa yên. Tôi ngồi xuống vào một buổi sớm làm biếng, thắp nến, đốt trầm, pha trà (cái thú vui muôn thuở đây mà) và làm mới lại mình. Lời phát nguyện chạm tay vào thực tại cho tôi nhiều hạnh phúc. Thường khi có một mục tiêu, tôi hay đòi hỏi mình phải làm được và làm cho đẹp, nhưng khi đạt được rồi thì lại buông nó xuống không duy trì nữa. Nếu tập khí tốt đã nảy mầm mà không tưới tẩm thì sẽ héo khô, chết dần trong im lặng mà chính mình cũng không hề hay biết. Thế nên thỉnh thoảng tôi vẫn thường hay tự hỏi mình đã có thêm điều gì và đánh mất điều gì trong nếp sống của một người xuất sĩ trẻ. Tôi viết cho mình một lá thư dài. Đôi lúc cũng phải tự ôm mình vào lòng, ôm những hạnh phúc để biết ơn, ôm những khổ đau để hoa ngàn biết nở, phải không bạn?

Ba năm quả không dài để có nhiều kinh nghiệm cho một người xuất sĩ áo nâu, để thấm thía những cuốn sách tinh hoa của Thầy. Tôi vẫn giữ gìn một cách trân trọng những uy nghi nho nhỏ, những bài thi kệ tưởng là giản đơn. Học cách đối xử với người khác như một đứa trẻ lên ba. Và mỗi phút giây tôi học làm người yêu chân thật[1] bằng sự có mặt của mình. Trong đời sống làm sao mình không sai trái được, nhất là khi chánh niệm của mình còn non nớt, mình có thể làm việc giỏi, có thể đọc nhiều cuốn sách, có thể có tài năng, nhưng một phút bực tức, mình đốt tất cả ra tro bụi. Mình đánh mất liên hệ với một, hai, ba,… người là mình mất hết. Nếu không có khả năng dừng lại để nhìn kỹ, mình sẽ càng ngày càng lún sâu vào những buồn bực và cứ thế trôi đi mất lúc nào, mình cũng không hay biết. Thế nên mới cần ngồi lại để làm mới bản thân, cách nhìn nhận vấn đề, cách hành xử nói năng, đi đứng nằm ngồi,… Chạm tay vào thực tại tức là có mặt hết khả năng của mình cho những gì đang hiện diện, tận hưởng, không trốn chạy, không cầm nắm,…

Cuối tháng Mười, tôi đóng vài ba bộ đồ, y áo, chút ít tinh thần để xa Vườn Ươm hai mươi ngày. Tôi mang luôn Vườn Ươm theo mình. Nếp sống của một người xuất sĩ áo nâu rất đẹp, và khi “xuống núi” mình được mang theo nếp sống đó.

Tôi về Hải Phòng, Hải Phòng nho nhỏ, nhiều hoa phượng với niềm tự hào của người Hải Phòng. Xe đi qua phố xá, nhìn người trên ô tô lộng lẫy xa hoa, kẻ cuốc bộ với đôi gánh trên vai, cái lưng còng xuống cong như chiếc đòn gánh, tôi cứ nhắc mình hai chữ may mắn. May mắn khi là một sư cô có thời gian và không gian chăm sóc tâm mình. Thấy những điều đó là để mình xót thương hay để biết ơn, để có thêm tình thương và năng lượng cho đời tu của mình. Nhờ những bó rau trên chiếc đòn gánh đó mà mình được tồn tại trong hình tướng xuất gia. Nhờ những cảnh trần nhộn nhịp đó mà tôi nhận ra mình thảnh thơi, đến nỗi không cần chạy trốn hay tìm cầu điều gì. Và mình phải tu, thực tập, sống cuộc sống của một người tu cho thật tu, cho thật xứng đáng, có nhiều hạnh phúc để đem hiến tặng lại cho đời. Tôi cũng được ngắm cảnh Việt Nam. Đất nước mình đẹp lắm. Núi non trùng điệp và sông nước mênh mông. Phải tự mình đứng chờ ánh bình minh lên hay hoàng hôn tắt nắng giữa biển nước bao la, trên non ngàn mây phủ, bạn mới hiểu tại sao con người cứ dành bao nhiêu là giấy bút để vẽ, để tả mà chẳng thể nào diễn bày hết vẻ đẹp của thiên nhiên.

Những ngày cuối cùng của tháng Mười, cả đoàn tham dự vài ngày quán niệm cùng tăng thân Hải Phòng. Nhìn những anh chị trong tăng thân hết lòng tổ chức, tôi thấy vui và chắc chắn cả đoàn ai cũng vui. Nếp sống bình yên, nếu được thấm nhuần vào văn hóa Việt Nam, chúng ta sẽ có một đất nước mà trong đó con người biết sống hết lòng với nhau, hòa nhã, nâng đỡ cho nhau. Người trẻ không phải bỏ cả tuổi thanh xuân để đi tìm hạnh phúc ở phía trước xa vời. Thầy gọi là giấc mơ Việt Nam. Tôi thấy nó đang trở thành hiện thực qua những người trẻ mà tôi được gặp trên đất nước mình. Thực tế là bát phở ngon đầy tình thương mà đoàn được thưởng thức từ tăng thân Hải Phòng, chan chứa những tiếng cười đùa cũng như giọt nước mắt hạnh phúc trong các buổi sinh hoạt. Sau này, bạn chắc sẽ không quên giờ phút được ngồi yên cùng tăng thân, nhắp một ít trà thơm, nhìn nhau thật sâu và cười.

 

Tháng Mười một: “Thủy hữu thu hàm thiên hữu thu” (Thơ Trần Thánh Tông)

Bạn hiền, tôi đến Yên Tử vào buổi chiều. Ấn tượng đầu tiên về con người ở đó là những bàn tay búp sen xá chào quý thầy, quý sư cô rất đẹp. Tôi cười, chắp tay đáp lại “Sen búp xin tặng người, một vị Bụt tương lai”.

Sáng hôm sau, trên đường lên đỉnh Yên Tử chúng tôi được chia sẻ cách Thầy đã leo lên Yên Tử, mỗi bước một hơi thở, mệt thì nghỉ, ngồi chơi uống trà. Và chúng tôi đã đi như thế, như Thầy đã từng đi. Nhờ có sư cha Pháp Niệm dẫn đầu, hơi thở tôi dần lắng dịu, tôi tập thở thật sâu, thích ý leo lên Yên Tử trong niềm vui. Chúng tôi qua đường Tùng, mấy gốc tùng rợp bóng cổ kính. Tôi ý thức có gì đó thiêng liêng nơi đây, nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông đã đặt chân đến, nơi những dấu chân Thầy mang đầy chất liệu chánh niệm. Nắng lên, cả đoàn dừng lại uống trà, hát thiền ca, ai cũng thấy hạnh phúc. Bảy tiếng sau, đoàn chính thức chạm tay vào chùa Đồng trên đỉnh Yên Tử, gió lạnh và mây phủ khắp nơi. Trên đường đi, tôi ghé qua nhiều nơi mà Thầy đã viết trong Am mây ngủ. Thời đi học không mấy thích môn Sử, nhưng ngoại sử Am mây ngủ làm tôi chấn động không ít. Sau này, tôi muốn tìm hiểu nhiều về lịch sử đất nước, để hiểu rõ gốc tích Việt Nam, những gì người Việt mình đã từng sống với, đã xây dựng và gìn giữ. Khí thiêng ở Yên Tử lưu đậm giữa không gian trùng điệp, trong tiếng gió đưa cây và nơi cây đại già nghìn tuổi. Còn lưu dấu nơi những con người như chú Tuấn, chú Long, chú Thanh,… những người muốn gìn giữ nét đẹp tâm linh của đất nước. Buổi sáng mây ngàn yên lắm bạn hiền à. Bạn có thể nghe hơi thở mình âm ấm trong khí lạnh, giọt sương nhỏ cạnh mỏm đá và gió lồng vào người lành lạnh.

Khóa tu bắt đầu vào hôm sau, chủ yếu là sự chia sẻ của sư cha Pháp Niệm với giới doanh nhân. Cùng sự có mặt bình yên của quý thầy, quý sư cô trong đoàn, tôi có niềm tin vào những gì mình cống hiến. Tôi được học thêm thế nào là quyền lực đích thực của người lãnh đạo, thế nào là sức mạnh tâm linh. Mở rộng cái thấy của mình về hiện thực cuộc sống bên ngoài. Sống chung cùng tăng thân ở tu viện, tôi được bảo bọc, được có quyền làm một sư út nhỏ, được hướng dẫn và thực tập chung cùng đại chúng. Bao nhiêu năng lượng lành đẹp bao quanh mình nên chính mình cũng được hòa điệu trong đó. Nhưng khi bước ra với cuộc đời thế tục, tự mình phải biết giữ gìn uy nghi giới luật cho mình, đồng thời phải biết cách tiếp xúc mà không bị lay chuyển bởi những hào nhoáng lộng lẫy. Chuyến đi này cho tôi nhiều thứ, cho tôi biết thương khí thiêng Yên Tử, thương những con người giàu chí hướng bảo vệ văn hóa. Cho tôi hiểu thêm sư cha, sư mẹ, sư anh, sư chị đi cùng. Đặc biệt cho tôi thấy rõ cách mình hành xử có thực sự mang chất liệu của người tu hay không, cho tôi hiểu rõ sự thực tập của mình có thảnh thơi và bình an hay không. Để khi về nhìn lại, hóa ra bất cứ điều gì cũng có thể nuôi mình lớn hơn mỗi ngày, để học hỏi với tinh thần sâu mà không thiếu, rộng mà không dư.

Ngày cuối ở Yên Tử, thấy sao thương quá. Ở đây cũng giống Vườn Ươm, đủ niềm vui, hạnh phúc để nuôi nhau. Tôi rời Yên Tử vào buổi chiều, hoàng hôn nhẹ phủ băng qua sương mù và khí núi, đọng lại trong hơi thở tôi một chút, để thỉnh thoảng nhớ về ngọn Yên Tử linh thiêng…

Bạn hiền, tháng Mười một tôi trở về Huế. Chẳng hiểu sao tôi thương Huế đến vậy. Cũng có thể Huế có những cơn mưa bay cuối năm làm lòng tôi nhẹ hẫng sau mỗi buổi học, lại thích đạp xe lang thang khắp nơi. Hay những con đường vắng yên bạt ngàn đồng lúa. Hoặc chỉ vì có Diệu Trạm, Tây Linh, có đồi Dương Xuân, có hương vị của cái gì cũng quen nên chẳng phải bắt đầu. Và có Thầy đang ở đó. Ngày tôi về, mưa lớn ngập các con đường. Kẻ hoài niệm như tôi làm sao mà không nhớ những ngày đã cũ, lãng đãng lá rơi vào thu, nắng đổ vào hè, rét buốt mùa đông và hoa cúc vàng ở Đại Nội mỗi dịp Tết. Nơi tôi băng qua có khi buồn như mưa Huế, có khi vui như lá khô giòn rụm. Nếu có bạn chắc bạn cũng thế, ước chi có một chiếc xe đạp, lang thang đây đó giữa lòng bình yên của Huế, bạn nhỉ!

Tôi đến chào Thầy vào giữa trưa, người đông mà chùa Tổ cũng lạ. Nên sau khi được thấy Thầy, xá chào Thầy, tôi rút lui ra phía xa nhìn Thầy. Nhìn chỉ nhìn thôi, nhìn Thầy thật lâu thật sâu rồi đi. Để về lại Vườn Ươm, thả bước lên cốc Thầy, tôi vẫn nhớ chiếc xe lăn Thầy dạo qua con đường đầy hoa sứ trắng nở. Hay những ngày khỏe Thầy dạy thị giả đưa Thầy đi thăm các con ở tăng xá, ni xá. Những giờ quỳ bên Thầy hát cho Thầy nghe hay lúc im lặng ngồi nhìn Thầy múc từng muỗng thức ăn đưa lên miệng,… Kỷ niệm với Thầy là vô tận, thậm chí những lúc nhìn Thầy từ xa trong im lặng, tôi cũng chẳng có đủ ngôn ngữ để diễn tả khoảnh khắc đó.

Tôi về Vườn Ươm giữa tháng Mười một, tre đổi màu lá. Gió bay và lạnh. Năm tháng không ngoảnh lại với ai bao giờ, vì thế mà mỗi giây phút cần mình trân trọng. Cần mình có mặt cho trọn vẹn mà không nắm giữ, không nuối tiếc. Như ngắm trăng để ngắm trăng thôi. Chính mình cũng là ánh trăng rồi…

Tháng Mười hai: Ngàn cánh sen hiền

Tháng Mười hai, tre ở Vườn Ươm rụng lá, những thảm lá vàng xào xạc dưới chân. Mặc dù có đường dẫn lên thiền đường rất gần, nhưng tôi vẫn thích đi thời khóa bằng con đường có hai hàng tre lá bay trong gió. Tôi chẳng làm thơ được, nhưng biết gió làm lá lơ lửng giữa không gian, tôi tận hưởng cái đẹp bằng cách hòa mình vào, rung cho lá bay và nhìn chị em mình tung tăng dưới những khóm tre vàng rợp. Tiếng cười ríu rít khôn nguôi.

Tháng Mười hai đó bạn hiền, có vài ngày tôi ở một mình trong phòng, không đủ hơi ấm nên phòng tôi lạnh căm. Cũng nhờ lạnh như vậy tôi bỗng thích chơi Noel. Tự mình trang trí bàn học, kệ sách, gói quà, đem những tượng thiên thần nhỏ ra trang trí rồi pha trà, đốt nến tận hưởng không gian đó. Đi đâu cũng chỉ muốn về phòng, ngồi vào bàn học, thấy sao mà mình có đủ thứ niềm vui, chẳng qua mình lười biếng không tạo dựng thôi, mình cứ phó mặc và chờ đợi thứ gì ở đâu đâu. Trong khi đó, vẫn sẽ ấm cúng lắm nếu để ra vài phút biến tấu góc nhỏ của mình thành thiên đường cho tâm hồn. Bắt đầu bằng những gì mình muốn mà có thể làm mình vui, bạn nhé.

Tháng Mười hai, tôi cùng vài anh chị em sa di, sa di ni rối rít lên ý tưởng cho ngày Truyền thống Sa di. Chỉ còn nửa tháng, thế nên trưa không ngủ và tối thức khuya, mọi thứ được diễn ra trong niềm vui, làm việc với nhau rất hòa hợp và đầy tiếng cười. Nhờ những đồng sự tươi mát nên chúng tôi thấy mình có đủ năng lượng và háo hức hơn ai hết để tổ chức sự kiện mỗi năm chỉ có một lần ấy.

Ngày Truyền thống Sa di diễn ra giữa tháng. Buổi sáng, chúng tôi đi thiền hành ra sân Tượng Bụt Trắng. Đốt lửa quây quần bên nhau, hô canh, ngồi thiền, uống trà trong im lặng rồi thưởng thức những tiết mục văn nghệ nhẹ nhàng. Cả ngày, toàn bộ sa di sinh hoạt chung với nhau, có niềm vui, có những kinh nghiệm trong sự thực tập được chia sẻ cùng nhau. Bạn hiền, có khi mình định nghĩa niềm vui lúc mọi thứ nhộn nhịp, nhưng nếu niềm vui đến thật yên sẽ đọng lại rất sâu. Tôi ý thức mỗi một người trẻ chúng tôi là một cánh trong đóa sen sa di. Nở ra tinh khôi và tươi mát để dâng hương lành. Thế nên phải lớn lên từ bùn sâu, giữ gìn mình vững bền để được cùng nhau đi tiếp giữa dòng chảy áo nâu hiền hòa. Lòng tôi ấm áp lắm sau một ngày có mặt cho nhau thật đầy như thế.

Bây giờ là cuối năm, tôi cùng đại chúng chuẩn bị khóa tu lớn Holiday. Đón một mùa đông đầy nắng ấm. Cỏ lau ở Vườn Ươm nở rộ màu nâu đỏ. Vườn Ươm vẫn thế nhưng lòng tôi nhiều thứ mới mẻ sau mỗi giây phút của đời sống xuất sĩ. Viết xuống đây để bạn cùng vui và tận hưởng. Giữa cuộc đời rộng lớn, nhưng mình không nhỏ bé, bởi vì có cả Vườn Ươm nhiều niềm vui đến thế, bởi vì có tăng thân, bạn nhỉ!

Chân Trăng Thiên Hà

[1] Chân tình – thơ Thầy

Hạnh phúc chốn già lam

Một nhân duyên lớn đã cho chúng tôi cơ hội sống nơi chốn già lam yên tịnh gần khu rừng rậm trong những ngày cuối năm 2018. Chỉ vỏn vẹn có bốn ngày và thêm ngày đầu của năm 2019 nhưng đã cho chúng tôi biết bao niềm an lạc, hạnh phúc không gì có thể diễn tả hết!

Vâng, mời bạn dừng chân nơi tu viện Suối Tuệ ở Verdelot. Bạn sẽ được cảm nhận những giây phút tuyệt vời thanh thoát với cảnh vật và con người nơi đây.

Mỗi buổi sớm mai, khi đất trời còn mờ tối, bình minh chưa ló dạng, tiếng gà gáy vang vọng quanh đây cho ta cảm giác đang ở vùng quê xa thành phố. Từng bước chân nhẹ nhàng đi vào thiền đường với những chiếc bồ đoàn, tọa cụ đã được sắp sẵn dọc theo hai bên thiền đường. Quý thầy đã chu đáo dậy sớm đốt củi trong hai lò sưởi để khi đại chúng vào thì không gian đã ấm áp, thanh tịnh.

Rồi tiếng chuông thong thả ngân nga, giọng hô canh trầm ấm vang vọng, thức tỉnh mọi người lắng lòng quán chiếu:

Pháp thân tỏa sáng buổi ban mai
Tĩnh tọa lòng an miệng mỉm cười
Ngày mới nguyện đi trong tỉnh thức
Mặt trời trí tuệ rạng muôn nơi.
Ngưỡng mong đại chúng tinh tấn nhiếp tâm thiền tập
Nam mô Bụt Thích Ca Mâu Ni (3 lần)

Năng lượng thiền tập hùng hậu của quý thầy tỏa ra nguồn an lạc, vững mạnh trong đại chúng. Chúng tôi ngồi thiền mà như uống từng giọt bình an vào lòng, hạnh phúc và ấm áp vô cùng!

Nhìn ngọn lửa đang bừng cháy trong lò sưởi, tôi nhớ đến sức mạnh lửa từ bi của Hòa thượng Thích Quảng Đức và chị Nhất Chi Mai – hai vị Bồ tát đã hy sinh thân mình bởi đại nguyện cho đạo pháp và quê hương. Chị Nhất Chi Mai là người chị cả của dòng tu Tiếp hiện mà chúng tôi may mắn được quen biết, tiếp xúc gần gũi và học hỏi về nhân cách và tình thương bao la mà chị đã dấn thân phụng sự cho tha nhân.

Trong những buổi thiền tọa, chúng tôi đã quán chiếu thật sâu về vô thường, về thành trụ hoại không của sự vật để khi bước ra ngoài thì lòng nhẹ nhàng, khinh an đến lạ!

Những buổi điểm tâm, ăn trưa và chiều trong im lặng cũng đem đến cho đại chúng niềm hạnh phúc khôn tả. Mặc dù tu viện Suối Tuệ mới mở cửa chỉ hai tháng thôi mà thiền sinh từ khắp nơi đã ghi danh về tu tập khá đông. Tất cả đều là người nước ngoài: một thiền sinh người Hồng Kông còn rất trẻ, đi du học ở Anh quốc cũng tìm đến đây để tập tu trong mười ngày; một cặp vợ chồng trẻ ở Bruxelles, hai cặp vợ chồng khác ở Pháp và rất nhiều thiền sinh đều cùng về trải nghiệm nếp sống chánh niệm. Niềm hạnh phúc, an lạc hiện rõ trên nét mặt và nụ cười tươi vui của mọi người.

Những buổi pháp thoại hoặc pháp đàm thật ấm cúng trong không khí gia đình đã đem nhiều niềm vui lợi lạc đến cho các thiền sinh tham dự. Có lẽ điều thú vị tuyệt vời nhất là được đi những bước chân bình an ngang qua khu rừng rậm bên cạnh tu viện trong những giờ thiền hành. Bắt đầu từ con đường nhỏ tráng nhựa dài hun hút lên cao trông rất nên thơ, lại thêm một ít sương mù phảng phất làm tăng vẻ bí ẩn cho buổi đầu khám phá thiên nhiên và cảnh vật nơi đây. Đẹp ngỡ ngàng khiến đại chúng lặng người chiêm ngưỡng!

Con hãy in những dấu ấn bình an lên đất Mẹ bằng những bước chân thiền hành thật thảnh thơi, an lạc – lời Thầy chỉ dạy như văng vẳng bên tai. Ý thức chánh niệm rõ ràng cho chúng tôi biết mình đã có quá nhiều phước báu để được cùng tăng thân sống và tu tập nơi chốn già lam tĩnh mặc này. Chúng tôi thưởng thức từng bước chân đi nhẹ nhàng, uống từng giọt thời gian đang chầm chậm trôi qua trong không gian mờ ảo giữa sương mù bao phủ.

Đi hết con đường nhỏ tráng nhựa là đến khu rừng rậm với những cây cao sừng sững vừa nên thơ vừa hùng vĩ. Tất cả lá cây đều đã rơi xuống trên mặt đất, song vì có nhiều nước mưa cùng sương thấm ướt nên không còn xào xạc khi có người bước qua. Có lẽ đây là mùa đông, rừng cây trơ lá nên vắng tiếng chim líu lo. Thỉnh thoảng một con sóc nhỏ dễ thương chạy băng qua đường rồi mất hút vào một hốc, rãnh đâu đó.

Dường như cái không gian tĩnh mặc, an bình này chỉ dành riêng cho tăng đoàn và các thiền sinh về đây tu tập mà thôi. Suốt quãng đường thiền hành không một bóng người lạ đi qua, càng đi sâu lại rẽ vào một ngõ ngách nhỏ hẹp chỉ vừa hai người đi, đôi khi gập ghềnh, trơn trượt nên càng phải cẩn thận chánh niệm trong từng bước chân.

Thỉnh thoảng tiếng chuông nhà thờ từ xa vang vọng ngân nga trong thinh không yên vắng. Mọi người dừng bước im lặng thở, ngắm nhìn vẻ đẹp hùng tráng của thiên nhiên nơi đây. Cuối buổi thiền hành, khi bước vào cánh cửa phía sau tu viện, đại chúng bất chợt gặp hai chú dê trắng toát rất đẹp của nhà hàng xóm đang đến sát hàng rào xin ăn lá cây. Mọi người dừng lại ngắm nhìn và hái lá cây trên cành tặng hai chú bạn hàng xóm mới quen. Hạnh phúc dâng tràn trong ánh mắt mọi người. Đại chúng vừa thưởng thức một buổi thiền hành thật tuyệt vời thú vị!

Thời gian thấm thoát thoi đưa, thoắt đã ba ngày trôi qua chúng tôi được may mắn trải nghiệm cuộc sống thanh tịnh chốn thiền môn! Ngày cuối của năm dương lịch 2018, sinh hoạt buổi sáng vẫn bình thường như mọi ngày, song sau bữa ăn trưa thời khóa có thay đổi để chuẩn bị đón năm mới vào tối Giao thừa.

Ngay từ buổi ăn trưa đã có lác đác vài khuôn mặt thiền sinh mới khiến chúng tôi tự hỏi tu viện Suối Tuệ chỉ mới mở cửa có hai tháng thôi mà mọi người đã biết tìm về hay sao? Nhưng đến 6 giờ chiều thì sự ngạc nhiên đã lên đến cực độ vì thiền sinh đến đông quá! Họ còn chu đáo mang đến thức ăn, bánh, trái, hoa quả để đóng góp cho buổi ăn chiều và tối nay.

Sau buổi ăn chiều là chương trình văn nghệ đột xuất cuối năm do chính các thiền sinh Tây phương và quý thầy đóng góp. Chúng tôi hơi mệt nên nghỉ dưỡng sức trong phòng đợi đến giờ làm lễ đón năm mới.

Tuy đến trước giờ quy định 15 phút, song thiền đường đã chật kín và mọi người đang thực tập Năm cái lạy. Đại chúng nghỉ năm phút để chuẩn bị cho lễ Đón giao thừa.

Quý thầy, quý sư cô đã y áo chỉnh tề ngồi hai hàng đầu tiên, tiếp theo là thiền sinh. Không khí buổi lễ thật trang nghiêm, thanh tịnh và cảm động. Ba tiếng chuông thong thả ngân nga để rồi giọng hô canh trầm hùng, ấm áp truyền cảm như len vào từng tế bào của cơ thể mỗi người. Chúng tôi ngồi yên, khép nhẹ đôi mắt để lắng lòng theo từng lời kệ và tận hưởng niềm an lạc thâm sâu. Sau phần nghi lễ cho đêm giao thừa, chúng tôi đến với nhau chúc mừng năm mới và cùng nhau thực tập thiền ôm thật xúc động chân tình, biết bao ánh mắt thương yêu, trìu mến trao nhau.

Chúng tôi về phòng nghỉ ngơi lúc 1 giờ 30 phút sáng của ngày đầu năm 2019 với cảm giác ngập tràn khinh an, hạnh phúc. Dư âm buổi lễ khiến cho lòng lâng lâng nhẹ nhàng, thanh thoát…

Vừa trải qua một biến cố nghiệt ngã trong đời, tưởng phải đắm chìm trong khổ đau phiền muộn lâu dài, chúng tôi may mắn vượt thoát khá nhanh nhờ biết nương tựa tăng thân và kiên trì thực tập chánh pháp.

Lời tâm nguyện lành thiện của bậc thầy khả kính đã khắc sâu vào tâm trí, nhè nhẹ đưa chúng tôi vào giấc ngủ êm ngon: “Lạy Bụt! Con xin chịu trách nhiệm về cuộc đời con và con nguyện sẽ không sợ hãi khổ đau khi biết rằng chính những khổ đau ấy làm cho con trưởng thành, vững chãi. Cuộc sống có ý nghĩa là cuộc sống luôn ý thức được rằng khổ đau của nhân loại là một hiện thực. Chẳng bao giờ con dám quên hiện thực ấy bằng cách đắm chìm trong nỗi khổ đau nhỏ bé của riêng con…”

Sáng mai thức dậy sẽ lại thấy cuộc sống luôn an bình, hạnh phúc nơi chốn già lam!

Một ngày đông năm Mậu Tuất

Chân Bảo Nguyện

(Viết để luôn nhớ về anh Chân Linh Nhĩ, người bạn đạo tri kỷ đã đi xa)

Con trai chỉ khóc khi thái hành

 

Từ hồi còn nhỏ, tôi vẫn thường có tư tưởng làm con trai thì phải cứng rắn, không thể để cảm xúc chi phối mình. Mỗi khi có chuyện buồn, xem đoạn phim hoặc đọc một mẩu chuyện cảm động, tôi cố gắng không để cảm xúc biểu hiện ra bên ngoài. Tôi chẳng bao giờ khóc trước mặt người khác. Tôi thường nói vui: “Con trai chỉ khóc khi thái hành!”.

Tôi tới Làng Mai lần đầu tiên trong một khóa tu mùa Hè. Ngay từ khi mới bước chân tới Làng, khung cảnh yên bình cùng hình ảnh quý thầy, quý sư cô rất nhẹ nhàng tươi vui đã để lại một ấn tượng sâu đậm trong lòng tôi. Bỏ lại thành phố nhộn nhịp và hối hả sau lưng, gác lại công việc và những lo toan thường ngày, tôi về Làng để thực tập làm cho thân tâm mình lắng dịu xuống. Cũng như bao thiền sinh khác, tôi được hướng dẫn thực tập thiền ngồi, thiền đi, thực tập trở về lắng nghe và chăm sóc thân thể mình; nhận diện, ôm ấp những cảm thọ và cảm xúc trong tâm.

Trên giá sách nơi phòng đọc có cuốn hồi ký của Sư cô Chân Không kể về những năm tháng theo Thầy, tôi mượn đọc với một niềm hứng thú. Khi đọc đến đoạn kể về sự hy sinh của cô Nhất Chi Mai, dù trước đó nhiều lần tôi đã đọc được chuyện này trong sách của Thầy, nhưng lần này thật lạ, lòng tôi dâng lên một niềm xúc động khó tả. Tự dưng tôi trào nước mắt, rồi khóc ngon lành như một đứa trẻ. Cũng “may” lúc đó tôi đang ở ngoài vườn một mình và là giờ nghỉ trưa nên xung quanh không có ai. Tôi đặt cuốn sách xuống, bước chầm chậm vào phòng, vừa đi vừa lắng nghe cảm xúc của mình.

Tôi lấy khăn lau nước mắt, uống một ly nước rồi ra vườn đọc sách tiếp. Mới đọc thêm được vài dòng, nước mắt tôi lại trào ra. Tôi buông sách xuống. Cảm nhận những làn gió nhẹ đến xoa dịu mình. Một lúc sau tôi cầm sách lên, đọc được một đoạn nước mắt lại tiếp tục tuôn trào, và lần này thì tôi dừng không đọc thêm nữa.

Suốt buổi chiều hôm đó, tôi đã rất ngạc nhiên về bản thân mình. Tôi nhận thấy sau những ngày ở Làng, trái tim tôi đã mở ra rất nhiều. Chính khi sống cùng những người xuất gia và các bạn thiền sinh, tôi đã tiếp nhận được năng lượng an lành từ sự thực tập chung của mọi người. Năng lượng đó đã giúp tôi chuyển hóa. Tôi có cơ hội được tiếp xúc với những mầu nhiệm của cuộc sống, những điều tưởng chừng đơn giản mà bấy lâu vì những bận rộn hối hả, tôi đã quên đi. Buổi sáng sớm, tôi được thong thả hít thở bầu không khí trong lành, ngắm nhìn những tia nắng đầu ngày chiếu xuyên qua tán cây làm lung linh những giọt sương đêm còn vương trên lá. Tôi được tha hồ dạo bước trên cỏ non, thưởng thức những bông hoa nhỏ xíu mà nhìn kỹ mới thấy bao nét khéo léo của tạo hóa.

Bên cạnh đó, những người xung quanh lại đều là những người tuy đến từ nhiều vùng đất khác nhau, nhưng cùng về đây để sống, thực tập những điều thiện và lành. Tất cả những thứ đó đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi, làm lớn thêm những niềm vui và hạnh phúc, đồng thời cũng chạm tới những điều rất sâu kín trong lòng tôi. Rồi đến lúc đó, một câu chuyện cảm động, dù là chuyện tôi đã đọc nhiều lần từ trước, cũng có khả năng làm rung động trái tim tôi. Và tôi bật khóc, khóc với những giọt nước mắt của một trái tim đã biết cảm và biết hiểu nhiều hơn.

Sau đó tôi quyết định đi xuất gia, hòa chung nhịp sống của gia đình áo nâu. Ở Làng Mai, mỗi dịp Tết đến, có một truyền thống là quý thầy và quý sư cô thực tập lạy nhau ngày đầu năm. Hai năm đầu tiên của đời xuất sĩ, tôi đều “bận” nấu ăn cho đại chúng đúng ngày đầu năm mới, nên chỉ biết đến sự thực tập ấy qua sách vở mà chưa được tham dự trực tiếp. Đến năm thứ ba, khi được theo Thầy về Thái Lan, tôi mới có cơ hội thực tập. Trong không khí trang nghiêm của buổi sáng ngày mồng một Tết, khi các vị cư sĩ đã được mời ra khỏi thiền đường, quý thầy đứng chắp tay, cùng nhau quán tưởng quý sư cô đang ngồi trước mặt mình, có vị như mẹ của mình, có vị như chị của mình, có vị như em gái của mình, cũng có vị như con gái của mình. Tôi bỗng xúc động và nước mắt tuôn trào. Lần này tôi ý thức rõ ràng đây là những giọt nước mắt hạnh phúc nên tôi cứ cho mình khóc thật thoải mái mà không cần phải ngăn lại.

Một sự thực tập thật đẹp và mầu nhiệm. Tôi để nước mắt mình rơi, dù lúc đó có ai trông thấy tôi đang khóc thì tôi cũng không hề xấu hổ. Ở nhà, tôi có mẹ và em gái, cho đến thời điểm ấy, đó là những người phụ nữ thân thương nhất trong cuộc đời tôi. Tôi thấy rất rõ những sư cô đang ngồi trước mặt mình, cũng thân thương như mẹ và em gái tôi vậy. Tôi lạy xuống, đầu sát đất và nguyện rằng từ giờ phút này trở đi, tôi sẽ luôn luôn coi những sư cô ấy như những người thân ruột thịt của mình, chỉ có sự thương yêu chăm sóc mà không để bất kỳ thứ tình cảm vướng mắc nào xen vào.

Sau khi quý thầy thực tập lạy xong đến lượt quý sư cô. Tôi ngồi xuống chắp tay để nhận cái lạy của quý sư cô. Nước mắt tôi vẫn không ngừng chảy khi nghe đọc lời quán tưởng của quý sư cô, nguyện cũng coi những người xuất gia nam chúng tôi như những người thân yêu ruột thịt. Hơn ba mươi năm trong cuộc đời, chắc hẳn đây là ngày Tết hạnh phúc nhất đối với tôi.

Cuối mùa an cư năm trước, chúng tôi gồm một nhóm quý thầy, quý sư cô người miền Bắc được tăng thân cho phép cùng nhau về thăm nhà. Chúng tôi thuê một chiếc xe lớn chở cả đoàn lần lượt về thăm nhà mỗi người. Dù trước khi xuất gia, chúng tôi hầu như không ai biết ai, đến khi về sống chung dưới mái nhà tăng thân, chúng tôi coi nhau như anh chị em ruột thịt. Nay trở về thăm quê, tới mỗi gia đình, chúng tôi coi đó như gia đình của mình, coi bố mẹ của người đó như bố mẹ của mình. Qua mỗi chặng của hành trình, chúng tôi đã có rất nhiều niềm vui và hạnh phúc.

Những giây phút xúc động nhất trong chuyến đi là những khi chúng tôi được cùng với toàn thể gia đình ngồi quây quần bên nhau, có hoa, có trà, có bánh. Trong không khí đoàn tụ đầm ấm của đại gia đình, những người con xuất gia nay trở về kết nối lại với người thân. Hầu hết anh chị em chúng tôi khi từ giã gia đình đi tu đều để lại sự hụt hẫng rất lớn trong lòng những người thân nên đó là cơ hội để chúng tôi chia sẻ những niềm vui và hạnh phúc của đời sống xuất gia. Những người con bày tỏ tình thương và lòng biết ơn đối với bậc sinh thành, những lời từ sâu thẳm trong tim:

– Thưa bố mẹ, con rất biết ơn công lao bố mẹ đã sinh ra và nuôi dưỡng con nên người. Con biết những ngày trước, khi con còn ở nhà với bố mẹ, vì mải mê chuyện nọ chuyện kia mà nhiều lúc con đã quên đi sự có mặt của bố mẹ. Nhưng con luôn luôn thương yêu và kính trọng bố mẹ. Con rất hạnh phúc vì bố mẹ vẫn còn khỏe mạnh bên con. Dù con đã gây ra rất nhiều điều khiến bố mẹ phiền lòng nhưng con biết bố mẹ vẫn luôn luôn thương yêu con. Con rất tự hào khi được làm con của bố mẹ.

Sau đó bố và con, mẹ và con, cùng chắp tay xá nhau, nhìn nhau thật kỹ rồi ôm nhau vào lòng.

Những người xung quanh đều xúc động. Tất cả đều lắng xuống trong bầu không khí đầy sự cảm thông và thương yêu. Nhiều người mắt đỏ hoe, đưa tay áo lên thấm giọt lệ. Tôi cũng ngồi đó, nước mắt rưng rưng. Trong giây phút ấy, những giọt nước mắt thật đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi rất nhiều.

Trong đời sống xuất gia, tôi đã nhiều lần xúc động đến… trào nước mắt như vậy. Tôi đã tìm được một con đường thật đẹp cho cuộc đời mình, lại càng thấy may mắn hơn vì được đi chung với một tăng thân thật lành và thật đẹp. Cùng với mỗi người trong tăng thân, bằng sự thương yêu và nâng đỡ lẫn nhau, tôi có cơ hội được thực tập những pháp môn thật mầu nhiệm, giúp chuyển hóa những điều sâu kín trong tâm và đem lại hạnh phúc cho bản thân, mà nhiều khi hạnh phúc lại được biểu hiện bằng… những giọt nước mắt!

Tôi nhận ra một điều, mình vẫn là một người con trai “mạnh mẽ” và “cứng rắn”, nhưng không phải qua cái sự “không thèm khóc”. Ngược lại, chính những giọt nước mắt của niềm vui, của hạnh phúc lại là chất liệu nuôi dưỡng tâm hồn tôi. Nhờ sự nuôi dưỡng đó mà trái tim tôi được mở ra, để tôi có thêm sức mạnh tinh thần mà vượt qua những khó khăn trong cuộc sống; cũng để tôi có thể cảm thông, thương yêu nhiều hơn mà dâng tặng niềm vui và hạnh phúc cho cuộc đời.

Chân Trời Đại Đồng

Nguồn sáng tinh khôi

Ngày 9 tháng 9 năm 2018, tại tu viện Lộc Uyển có chín vị xuất sĩ trẻ đã biểu hiện trong tăng thân Làng Mai. Các sư chú, sư cô thuộc gia đình xuất gia cây Xô Thơm, loài cây bụi rất phổ biến ở vùng núi đồi quanh Lộc Uyển. Đây là gia đình đông nhất – và cũng là lần đầu tiên có các sư cô – được làm lễ xuất gia tại tu viện Lộc Uyển từ trước đến nay. Sau đây là chia sẻ của một số thành viên trong gia đình cây Xô Thơm về niềm hạnh phúc được đi trên đường vui cùng tăng thân. Bài viết được BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh.

Chia sẻ của sư chú Chân Trời Minh Lượng:

Tu viện Lộc Uyển nằm ở vùng Nam Cali nắng ấm nên vào tháng Giêng đã thấy hoa bắt đầu bung cánh. Chúng con, chín sư chú và sư cô trẻ, cũng như những đóa hồng, tulip và hoa cúc dại, còn rất tươi và tràn đầy sức sống sau ngày hé nụ. Tất cả là nhờ vào sự thương yêu và che chở của gia đình xuất sĩ áo nâu. Bản thân con đang có nhiều cảm hứng và được khích lệ trên con đường tu tập và phụng sự – con đường của các vị Bồ tát. Dù còn là một sư chú trẻ, con vẫn có rất nhiều cơ hội được góp phần giúp người bớt khổ, phụng sự đại chúng và chia sẻ pháp môn với thiền sinh. Con biết chỉ cần mặc chiếc áo của người xuất sĩ, con đã có cơ hội để hiến tặng sự vững chãi và giúp đỡ cho người khác bằng công phu tu tập hàng ngày của mình qua những bước chân thiền hành, hơi thở chánh niệm và sự thực tập lắng nghe. Con thấy mình thật may mắn được đi trên con đường này trong khi rất nhiều người trên thế giới đang đau khổ. Họ không có một người thầy tâm linh hướng dẫn, hay được một tăng thân nâng đỡ như con đang có.

Hiện tại, những người thân thiết nhất của con trong đại chúng là gia đình cây Xô Thơm, gồm những sư anh, sư em đang đồng hành cùng con trong hành trình khám phá này. Con rất hạnh phúc được thưa với đại chúng là gia đình chúng con rất thương yêu, tôn trọng và tin cậy lẫn nhau. Chúng con đang cùng bước trên một con đường mới trong cuộc đời, và con nghĩ rằng với một gia đình như vậy, chúng con sẽ dễ lớn lên, sống thuận hòa trong tăng thân hơn. Đa số chúng con là người Mỹ, sinh ra và lớn lên ở đây. Vì vậy, nếp sống tâm linh mà chúng con đã chọn thực ra cũng rất mới mẻ với tổ tiên của chúng con. Khi chúng con tìm ra những gốc rễ mới của mình: Việt Nam và Thiền tông, chúng con bắt đầu con đường chuyển hóa, không những cho chính mình, mà còn cho không biết bao thế hệ tổ tiên với những giá trị và niềm tin của liệt vị. Khi đang học hỏi một cái gì mới, không thể nào tránh khỏi cái thấy của ta không đủ sáng tỏ và lòng tin của ta chưa đủ mạnh. Nhưng nhờ vào sự kiên nhẫn và năng lượng tỉnh thức tập thể, cái hiểu và cái thấy của chúng con sẽ càng lúc càng lớn lên để rồi chúng con có thể hiến tặng cho tăng thân.

Được đi trên con đường vui này cùng với đại chúng, con và các anh chị em trong gia đình cây Xô Thơm vô cùng biết ơn. Con xin kính chúc tất cả mọi người có nhiều sức khỏe và hạnh phúc trên con đường tu tập. Con mong ước sẽ có cơ hội kết nối nhiều hơn với mọi người trong tăng thân.

Chia sẻ của sư chú Chân Trời Minh An:

Thức dậy sáng nay, con mỉm cười. Sự sống quả là một món quà quý giá! Ngày hôm nay con xin phát đại nguyện sống cuộc đời của người xuất sĩ, không chỉ trong kiếp này mà trong muôn ngàn kiếp về sau. Để con có thể làm lợi lạc cho tất cả mọi loài mọi người và để con có thể có được niềm hạnh phúc chân thực.

Thật đẹp sao chiếc áo của người tu! Tiện lợi, thoải mái và thanh thoát! Mỗi buổi sáng khi khoác lên mình chiếc áo nhật bình, con thấy trân quý vô cùng. Như một chiến sĩ trung kiên, con mặc áo với tâm khiêm cung và kính trọng. Thật may mắn biết bao được làm một giọt nước trong dòng chảy bình an này.

Đi lên thiền đường trước bình minh, mỗi bước chân là một phép lạ! Con đi chậm rãi, thảnh thơi và đến thiền đường khá sớm. Con tận hưởng sự tĩnh lặng và cảm nhận không khí mát lạnh trên khuôn mặt mình. Mảnh trăng lưỡi liềm đang êm ả khuất dần sau triền núi phía tây.

Vào thiền đường, thấy chân tâm

Một ngồi xuống dứt trầm luân.

Ngồi xuống bồ đoàn, con để sự chú tâm của con nơi hơi thở vào ra, và an trú trong sự tỉnh thức toàn vẹn. Con chưa là một vị Bụt toàn phần (full-time Buddha) nên tâm con thỉnh thoảng bị tán loạn. Mỗi lần như vậy, con đều trở về với giây phút hiện tại, mỉm cười với từng bước tiến của mình trên con đường tự do này.

Ngày mới nguyện đi trong tỉnh thức.

Con chỉ là một sư chú mới xuất gia, đang còn trong buổi bình minh của cuộc đời xuất sĩ. Những ngày sắp tới đang trải dài trước mắt con với tất cả những dễ dàng và thử thách, những thành công và lầm lỗi. Ngày hôm nay, con xin phát nguyện rằng dù có bất cứ điều gì xảy ra, con nguyện sẽ nương theo hơi thở, nuôi lớn tâm hành xả (upeksha) trong con mỗi phút giây. Noi theo gương sáng của Bụt, bước trên con đường của hiểu và thương, con tin rằng mỗi ngày của con sẽ thật tuyệt vời với sự nâng đỡ của tăng thân yêu quý.

Con xin cảm ơn tăng thân đã nâng đỡ cho chúng con – những sư em nhỏ của gia đình Áo nâu. Chúng con biết không có tăng thân thì cũng không có chúng con.

Con gửi tặng đại chúng những nụ cười và lời chúc an vui trên từng bước đường thực tập.

Chia sẻ của sư chú Chân Trời Minh Thắng:

Con ý thức rằng những người Tây phương tiếp xúc với pháp Bụt và phát tâm xuất gia vẫn còn là chuyện hiếm có. Con không bao giờ dám nghĩ Tam bảo có đó cho chúng con nương tựa là chuyện đương nhiên, và con không bao giờ dám quên cả một dòng chảy của những thế hệ tổ tiên đi trước đã gìn giữ và tiếp nối nếp sống tuyệt vời này. Là một xuất sĩ, con biết con có một phần trách nhiệm và vinh dự trong việc giúp cho đạo Bụt lan rộng ở Tây phương. Con cũng biết là con chỉ có thể đóng trọn vai trò này khi nào con có thể thực tập hài hòa với tổ tiên tâm linh của mình.

Cũng như phần lớn các anh chị em trong cây Xô Thơm, con chưa có cơ duyên được trực tiếp gặp Thầy. Tuy vậy, khi nhìn sâu vào tự thân và vào gia đình xuất gia của mình, con dễ dàng thấy được sự có mặt của Thầy và của cả tăng thân. Con biết nếu không có Thầy và tăng thân thì không ai trong chúng con có phước báu được đi trên con đường này. Với mỗi bước chân, mỗi hơi thở, con thấy Thầy là một phần hiện hữu của con và Thầy đang mỉm cười. Mỗi khi con thấy các anh chị em cây Xô Thơm đi đứng hoặc chấp tác trong chánh niệm, con đồng thời cũng thấy Thầy. Dù Thầy không hiện diện ở Lộc Uyển bằng hình tướng thân thuộc, Thầy vẫn đang có mặt và sẽ tiếp tục có mặt trong rất nhiều thế hệ xuất sĩ tiếp nối trong tương lai, như gia đình chúng con.

Con rất vui khi thấy nhiều thanh niên, thiếu nữ hiện đang thực tập tại Lộc Uyển có mong muốn trở thành thế hệ xuất sĩ trẻ kế tiếp. Con hạnh phúc và sẽ không ngạc nhiên nếu có nhiều hạt giống lành đã, đang, sẽ tiếp tục được tưới tẩm và nảy lộc đơm hoa như chín hạt giống trong gia đình cây Xô Thơm của chúng con.

Con cảm thấy mình may mắn và có phước đức khi được là thành viên của một tăng thân có nhiều tình thương và sự nâng đỡ. Con cảm ơn đại chúng đã đón gia đình cây Xô Thơm vào lòng.

Chia sẻ của sư chú Chân Trời Minh Nhân:

Trước đây con sống một cuộc sống vật chất tương đối thoải mái, dễ chịu. Nhưng rồi con nhận ra con cần phải tìm ý nghĩa cho cuộc đời mình.

Con thấy mình may mắn vì có nhiều người thân ở bên cạnh trong ngày lễ xuất gia của con. Dù không phải là Phật tử và có cuộc sống đầy bận rộn nhưng gia đình và bạn bè của con vẫn sắp xếp thời gian để đến dự buổi lễ xuất gia và chứng kiến ngày ra đời của chín vị tân xuất sĩ.

Buổi lễ xuất gia diễn ra thật đẹp, không thể nào diễn bày bằng ngôn ngữ được. Sau lễ xuất gia, chúng con – những sư chú, sư cô mới – có cơ hội được chia sẻ với toàn thể đại chúng về niềm tri ân vô bờ bến của chúng con. Con nhớ lại, trong khi chia sẻ, một cái thấy đã đi lên trong con và cái thấy này càng ngày càng trở nên mạnh mẽ. Con thấy rằng giây phút được xuống tóc chính là sự hội tụ của tất cả những gì mà con đã trải nghiệm trong đời. Mỗi một người, mỗi sự tiếp xúc, mỗi niềm vui hoặc nỗi đau, tất cả những gì con được trao truyền và tiếp nhận cũng như những gì con tiêu thụ, tốt hay không tốt, chính là nhân duyên cho con có mặt nơi đây, tiếp nhận mười giới, chiếc y vàng và bình bát của người xuất sĩ. Nếu mọi việc chỉ khác đi một chút trong quãng đời 23 năm của con trước khi xuất gia thì có thể câu chuyện của con sẽ hoàn toàn đổi khác.

Con chia sẻ điều đó với đại chúng và nói thêm rằng đây chính là sự biểu hiện của tất cả những hoàn cảnh trong đời đã gây cảm hứng và giúp con trưởng thành, nhất là sự ấm áp và lòng tốt không bờ bến mà con nhận được từ biết bao nhiêu người. Đây không chỉ là lễ xuất gia của con, mà hơn thế nữa, đó chính là ngày mà tình thương yêu và sự hiểu biết của tất cả mọi người được “xuất gia”. Con chỉ đơn giản là một con thuyền chuyên chở, để những món quà ấy của vũ trụ được tiếp tục nuôi dưỡng và hiến tặng khắp muôn phương, từ ngày này qua ngày khác. Hay ít nhất là con sẽ cố gắng làm như vậy.

Con thật lòng mong mỏi mình sẽ nhớ mãi và nuôi dưỡng cái thấy này, để con có thể bước trên con đường tu tập với sự khinh an. Biết rằng mình thật may mắn nhận được sự nâng đỡ hiếm có này. Mong rằng con sẽ luôn thực tập hết lòng để góp phần giảm bớt những khổ đau mà chúng ta đang phải đương đầu trong thời đại có nhiều thử thách này.

Gia đình xuất gia cây Xô Thơm

Từng hơi thở nhẹ chở yêu thương

 

Nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập Thiền đường Hơi Thở Nhẹ, Ban biên tập đã có buổi ngồi chơi và trò chuyện với Sư cô Giác Nghiêm, người Pháp, Trụ trì Thiền đường Hơi Thở nhẹ. Bài được BBT chuyển ngữ từ tiếng Pháp.

BBT: Thưa Sư cô, chúng con rất mong được nghe Sư cô chia sẻ về hành trình tâm linh của Sư cô.

Giác Nghiêm (GN) sinh ra trong một gia đình Công giáo thuần thành. Ngay từ khi còn nằm trong bụng mẹ, GN đã được nuôi dưỡng trong chiếc nôi tâm linh Thiên chúa giáo. Tuổi thơ của GN bắt đầu ở đất nước Ma-rốc, nơi ba nền tôn giáo lớn – Hồi giáo, Do thái giáo và Công giáo – chung sống hài hòa.

Ngay từ khi còn nhỏ, GN đã có một đời sống tâm linh phong phú. Mọi người trong gia đình đều cầu nguyện trước khi ăn, trước khi đi ngủ. Mỗi khi mắc lỗi, chúng tôi đều xin Chúa tha thứ. Khi còn rất nhỏ, mới sáu tuổi, GN đã được nhận lễ Ban thánh thể đầu tiên. Ông bà và cha mẹ đã dạy anh chị em chúng tôi một cách nhìn thật đẹp và sâu sắc rằng gia đình chúng tôi đang sống ở nơi không phải là quê hương của mình nên bằng mọi cách chúng tôi phải học hỏi, tìm hiểu cho thấu đáo từ tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật cho tới các món ăn của người dân bản xứ để có thể chung sống hòa bình với họ. Bố mẹ GN học nói tiếng Ma-rốc. GN cũng học nói tiếng Ma-rốc ngay từ khi còn nhỏ nhưng vì rời khỏi đây lúc 13 tuổi nên GN nói chưa giỏi lắm.

Mẹ GN có cái nhìn rất cởi mở về các tôn giáo khác nhau. Mẹ chỉ dạy cho GN rằng mỗi tôn giáo có nơi hành đạo riêng, mang những tên gọi riêng biệt với những biểu tượng truyền thống khác nhau. Nơi nhà thờ Hồi giáo mình sẽ thấy hình tượng ngôi sao và trăng lưỡi liềm. Trong nhà thờ Do thái giáo luôn có biểu tượng cây chúc đài bảy nhánh. Và cây thánh giá sẽ có mặt trong khắp các nhà thờ Công giáo. Mẹ cũng dạy GN rằng mỗi tôn giáo có sách kinh riêng: Kinh Tân ước và Cựu ước của Công Giáo, kinh Cô-ran cho người Hồi giáo, kinh Torah cho những người theo đạo Do Thái. Ở mỗi giáo đường, tên gọi của các vị thầy hướng dẫn làm lễ hay giảng đạo cũng khác nhau: thầy “imam” trong đạo Hồi, thầy “rabbin” trong đạo Do thái và các linh mục trong đạo Công giáo. Đối với GN, tuy có những nét khác biệt về hình thức nhưng sự tương đồng giữa các nền tôn giáo rất hiển nhiên.

Mẹ cũng dạy GN rằng những tín hữu của bất cứ một truyền thống tôn giáo nào đến cầu nguyện ở giáo đường mà giữ giới luật trong truyền thống của họ, có lòng thương yêu mọi người, biết đón tiếp, giúp đỡ người khác kể cả kẻ thù của mình… thì mình đều có thể nói rằng họ đang cầu nguyện Chúa.

GN đã được nuôi dưỡng và lớn lên trong một thế giới tâm linh nơi các tôn giáo đều có sự gắn kết, không có cách biệt và cũng không có mâu thuẫn hay chiến tranh tôn giáo. Mẹ GN tìm hiểu kinh Tân ước, Cựu ước, Kinh Cô-ran, kinh Torah và thường đàm đạo với những bậc trí giả về tôn giáo. GN đã được sinh ra vào thời điểm và ở một nơi đặc biệt như vậy đấy!

BBT: Thưa Sư cô, từ khi còn nhỏ, có bao giờ Sư cô nghĩ mình sẽ trở thành một tu sĩ không?

Khi GN khoảng tám chín tuổi, cả nhà GN tới nhà thờ Thánh Phan-xi-co (Francois d’Assise) ở Casablanca. Bên trong nhà thờ, đằng sau những chấn song có rèm che, GN nghe thấy những giọng hát hay lắm, giống như tiếng ca của những thiên thần. GN hỏi mẹ: “Mẹ ơi, ai hát vậy?”. Mẹ trả lời: “Đó là các sơ dòng thánh Clara (Claire d’Assise)”. “Các sơ làm gì hả mẹ?”, GN hỏi tiếp. Mẹ trả lời: “Các sơ hiến tặng cuộc đời cho Chúa”.

Thế là GN nói với mẹ: “Con cũng muốn hiến đời mình cho Chúa, con muốn được giống các sơ, nhưng con sẽ múa để dâng Chúa”. “Không được con ạ”, mẹ đã dứt khoát trả lời GN như vậy. Mới chỉ 8 hay 9 tuổi thì không thể đi tu được, hơn nữa ý tưởng nhảy múa cho Chúa quả thật rất xa lạ với truyền thống Thiên chúa giáo!

Hình ảnh các vị thánh luôn gần gũi trong tuổi thơ của GN. GN được nghe kể nhiều về cuộc đời các vị thánh: thánh Phan-xi-co, nữ thánh Clara và nữ thánh Tê-rê-sa (Thérèse d’Avila). Trong trái tim trẻ thơ của mình, GN thấy mình giống như được sống cùng Chúa và Đức Mẹ Maria. Bà của GN rất ngoan đạo. Vào dịp lễ Phục Sinh hay những ngày Thứ năm Tuần thánh, bà đưa GN đi dự lễ tưởng niệm những “Chặng đường Thánh giá” nơi người ta đã thấy Chúa tử đạo. Đời sống tâm linh của GN rất sâu và phong phú. Dường như đời sống đó đã có mặt trước đó lâu rồi và tiếp tục biểu hiện nơi GN. GN tiếp tục mang nó, từ thời thơ ấu cho tới bây giờ, nó đã ngấm vào da thịt GN rồi.

Ước mong sâu sắc trở thành một nữ tu trở lại trong GN khi GN được sống với các sơ dòng tu Thánh Charles ở vùng Charly, gần thành phố Lyon nơi gia đình GN sống khi quay lại Pháp. Năm đó, GN 14 tuổi. Tiếng chuông nhà thờ vang lên mỗi buổi sáng, các sơ bước đi trong im lặng dọc theo hành lang trong tu viện… Những hình ảnh đó khiến GN say mê. GN thực sự ước mong được trở thành một nữ tu sĩ Công giáo. Nhưng Mẹ nói với GN: “Con được sinh ra để làm mẹ chứ không phải để làm một nữ tu”. Khi còn nhỏ, trẻ em rất tin vào những gì cha mẹ nói.

Sau này, GN kết hôn với một người đàn ông không có liên hệ gì nhiều với những thực tập tâm linh “chính thống”. Anh ấy là một người hào phóng, giàu có về đời sống tinh thần nhưng không bao giờ đi lễ nhà thờ hay đọc sách về bất cứ một truyền thống tôn giáo nào.

Khi làm lễ cưới, GN nói với anh: “Anh phải biết rằng trong em có hai con người. Anh đang kết hôn với cùng một lúc hai người: một nữ tu sĩ đích thực và một người phụ nữ bình thường, một người có thể làm mẹ, cho anh những đứa con, làm người bạn đời của anh và luôn có mặt bên anh”. Và để không gây xáo trộn trong gia đình, GN đã không đi lễ nhà thờ nữa nhưng vẫn tiếp tục giữ đời sống tâm linh rất mạnh mẽ trong nội tâm dù không thể hiện nó ra bên ngoài.

Mong ước làm một nữ tu chưa bao giờ hết trong GN, đó là một nửa con người của GN. Trước khi được thực sự biểu hiện ra, phần này dường như không rõ nét nhưng thực ra nó đã luôn luôn có mặt trong GN từ khi còn là cô bé gái tám tuổi với ước mong làm tu sĩ dòng Thánh Charles.

 

BBT: Xin Sư cô kể cho chúng con về cuộc gặp mặt đầu tiên của Sư cô với Thầy. Chắc hẳn cuộc hội ngộ đó đã để lại những ấn tượng sâu đậm trong Sư cô?

GN có may mắn được biết bác sĩ châm cứu Đỗ Trọng Lễ. Bác sĩ cũng là người chăm sóc sức khỏe cho Thầy. Một lần GN nói với bác sĩ rằng GN đang tìm một người thầy. Bác sĩ trả lời GN: Trong hai tuần nữa, thầy của tôi sẽ tới đây giảng dạy bằng tiếng Pháp. Thế là GN nhanh chóng sắp xếp mọi chuyện trong nhà để có thể tham dự khóa tu hai ngày cuối tuần. Lần gặp mặt đầu tiên với Thầy diễn ra vào buổi sáng. Bác sĩ Lễ gõ cửa phòng GN, mời GN ra dùng bữa điểm tâm với Thầy. GN là một phụ nữ Pháp, chưa biết một chút gì về đạo Bụt, về thiền tập. Bước vào phòng, GN nhìn thấy một thầy tu ngồi trên ghế. Với GN, hình ảnh này không có gì xa lạ vì GN có dịp tiếp xúc nhiều với các cha xứ. Vậy nên, rất tự nhiên, GN bước nhanh về phía Thầy. Bác sĩ Lễ muốn cản GN lại, có lẽ bác sĩ ngại GN sẽ làm gì đó không phải phép với một vị tu sĩ Phật giáo. Thầy đã ra hiệu cho bác sĩ dừng lại. Thầy cảm được rằng nên để cho GN được tự nhiên lại gần Thầy. Nếu Thầy không làm như vậy, chắc chắn cuộc gặp mặt sẽ không để lại ấn tượng gì trong GN. GN lại gần Thầy và nói: “Xin chào ông! Ông biết không, ông đã dạy cho tôi biết quét nhà trong hạnh phúc!”. Thầy cười thật đẹp, trả lời GN: “Hay quá! Hay quá! Bây giờ chúng ta sẽ cùng dùng sáng”. Rồi Thầy giải thích với GN rằng bữa điểm tâm sẽ diễn ra trong yên lặng. Đó là lần tiếp xúc đầu tiên với Thầy. Nhưng cuộc gặp gỡ thực sự giữa thầy và trò diễn ra trong buổi pháp thoại. Thầy cầm một tờ giấy lên, nhìn nó hồi lâu rồi nói rằng tờ giấy này chứa đựng cả vũ trụ bên trong. Khi Thầy bắt đầu kể ra những gì làm nên tờ giấy, GN nhìn Thầy chăm chú rồi tự nói với mình “Cuối cùng mình đã tìm thấy! Người mà mình tìm kiếm khắp nơi đây rồi. Đây chính là thầy mình”.

Khi nghe Thầy giảng, GN biết mình đã “phải lòng” với Pháp Bụt! GN không thể nào giải thích được niềm kính yêu vô bờ này với Pháp. Khi nghe những bài pháp thoại của GN, chắc đại chúng cũng thấy được niềm tin yêu ấy như được rút ra từ ruột gan GN.

GN không biết cảm xúc của mình sẽ như thế nào nếu ngày hôm ấy Thầy giảng về một chủ đề khác, ví dụ như về Tâm lý học đạo Bụt. Chắc hẳn GN sẽ say mê nghe Thầy giảng lắm nhưng sẽ không thể có sự chấn động như GN đã trải qua khi nghe Thầy giảng về vũ trụ chứa đựng trong một tờ giấy. Bởi vì GN đã đi qua một kinh nghiệm tâm linh tượng tự khi lên 14 tuổi. Lúc ấy GN cảm được rất rõ rằng toàn thể vũ trụ có trong mình. Đó là một trải nghiệm rất đặc biệt.

Sau bài pháp thoại, GN được tận hưởng thêm những khoảnh khắc vô cùng tuyệt vời trong buổi thiền trà. GN thấy mình được hiệp thông với Chúa. Buổi thiền trà trở thành buổi lễ Hiệp thông giữa Chúa với các tông đồ của Ngài và GN được tham dự vào buổi lễ ấy.

Cũng trong dịp này, GN được gặp Sư cô Chân Không khi Sư cô chưa có hình tướng là người xuất gia như bây giờ. Lúc ấy, Sư cô còn có mái tóc dài rất đẹp.

BBT: Đối với một người tu thì tâm thương yêu và phụng sự (hay còn gọi là tâm bồ đề) là một yếu tố vô cùng quan trọng. Ở Sư cô, chúng con thấy điều này được biểu hiện rất tự nhiên mà không cần phải cố gắng…

Hạt giống đó đã được tưới tẩm nơi GN từ thời thơ ấu ở Ma-rốc. Gia đình GN sống ở Marrakech khi GN còn nhỏ lắm, chỉ bốn hay năm tuổi. Dù là người Pháp chính gốc nhưng gia đình GN không sống ở những nơi dành cho người Tây phương, mà ở khu phố của người Ả rập có tên gọi là Medina, tức là khu phố cổ ở các nước Ả-rập. GN thích lắm, nơi ấy rất đẹp. Có một ngày, cả gia đình ra ngoài chơi. GN còn nhớ như in hôm ấy. Vừa bước ra cửa, GN nhìn thấy một em nhỏ mắt dính lại vì đầy ghèn, nước mũi chảy dài, lại có ruồi bu xung quanh. Em đang khóc. GN nói với mẹ: “Mẹ ơi, mình phải làm gì để giúp em ấy chứ, tại sao em ấy lại như vậy?”. Ông bà và bố mẹ GN rất hay giúp đỡ người khác. Khi bước ra khỏi cửa, GN đã nhận được câu trả lời như thế này: “Con thấy không? Con đã được sinh ra phía bên này cánh cửa, nếu con sinh ra ở phía bên kia cánh cửa, có thể con sẽ giống như em bé đó”. GN bị chấn động mạnh khi nghe mẹ nói. Phía bên này hay bên kia cánh cửa quyết định sự khác biệt giữa GN và em bé sao?

Hình ảnh những người ăn xin tàn tật không tay, không chân, không thể đứng lên được mà chỉ có thể bò là một phần những gì GN thường gặp trong tuổi thơ của mình. Nhìn những cảnh tượng dữ dội ấy, GN nói với bà của mình: “Bà ơi, mình phải làm cho họ đứng dậy được, không thể để họ bò dưới đất như thế, mình không thể để như vậy được!”. Tâm bồ đề trong GN có lẽ bắt đầu nảy nở từ thời điểm đó. Nó cũng phần nào giải thích sự lựa chọn nghề nghiệp sau này của GN. GN thích làm bác sĩ nhưng cuối cùng lại chọn ngành vật lý trị liệu. Công việc này đem lại cho GN rất nhiều hạnh phúc, bởi vì GN đã giúp người ta đứng lên được. Vậy là GN đã thực hiện được ước mơ ngày còn bé.

GN từng làm việc ở khoa Hồi sức, khoa Phẫu thuật ổ bụng ở Lyon trong vòng tám chín năm, sau đó chuyển đến sống ở vùng St Etienne. Ở đây, GN làm việc trong khoa bệnh dành cho người cao tuổi, bên những người sắp lìa đời, những người bị liệt hay bị bệnh Parkinson. GN đã luôn yêu thích những gì mình làm. Mỗi sáng thức dậy, GN luôn ý thức rằng mình có gia đình, có công việc, có những người bệnh để yêu thương. Ngày mới của GN thường bắt đầu trong niềm vui với ý nghĩ: “Nào, mình đi thôi!”.

Khi gặp Thầy, GN đã đem sự thực tập thiền hành vào bệnh viện. GN đem thiền tập tới giường mỗi bệnh nhân để chia sẻ với họ cách làm vơi nỗi buồn, vượt qua cảm giác cô đơn, hàn gắn những vết thương trong gia đình bằng sự thực tập. Những kinh nghiệm đó thật đẹp! Tới một hôm, ông trưởng khoa gọi GN đến và nói: “Tôi thực sự không biết là cô đã làm những gì nhưng tôi ‘bật đèn xanh’ cho cô bởi vì tôi đã nhìn thấy kết quả từ những gì cô làm”. Những gì GN đã làm giúp cải thiện tình trạng của bệnh nhân nơi bệnh viện chính là sự thiền tập. Từ khi ấy, GN viết thư báo cáo với Thầy những gì GN đã thực tập, cách GN đưa thiền tập vào đời sống của mình. GN cũng viết một bản tóm tắt những gì GN thực hành cho vị trưởng khoa biết, vì ông ấy đã nói rằng ông không biết GN đã làm gì mà!

BBT: Thưa Sư cô, bắt đầu từ khi nào Sư cô quyết định trở thành một người tu theo truyền thống đạo Bụt?

Khi nhân duyên đầy đủ…, như lời Bụt dạy (cười).

GN và người bạn đời ly hôn. Các con của GN đều có đôi lứa và sống tự lập. Lúc ấy, GN tới Làng Mai nương náu để chữa lành nỗi buồn đau và tuyệt vọng trong mình. Ở Làng, những phương pháp thực tập giúp GN đối diện với nỗi khổ của mình. Trong ba tháng ở đây, những tổn thương trong GN không được chữa lành ngay nhưng cũng chính trong thời điểm này, GN lắng nghe được trong mình tiếng gọi tâm linh tha thiết, mãnh liệt thôi thúc GN hướng về nếp sống xuất gia. Với GN, nó giống như tiếng gọi của Chúa. Ngài cũng đã gọi GN như thế vào lúc GN 8 tuổi và 14 tuổi.

Lúc ấy, GN đang ốm nặng. Nằm im trên chiếc giường của mình ở Làng, GN nghe trong tim tiếng Người nói với GN: “Cuối cùng thì con cũng đã sẵn sàng rồi”. Chồng GN đã ra đi, các con cũng đã lớn, cha mẹ của GN đều ổn, GN có thể bỏ lại công việc. Không có gì cản trở nữa. GN đã không thể sẵn sàng lúc 8 tuổi hay 14 tuổi và trong nhiều năm tháng sau đó nhưng bây giờ GN đã tự do. GN trả lời Người: “Con xin vâng lời Người!”. Đó là một nguyện ước vô cùng sâu sắc, và thêm vào đó tăng thân đã đáp ứng được chính xác những gì GN cần để sống cuộc đời phụng sự.

BBT: Điều gì ở Thầy mà Sư cô muốn tiếp nối nhất? Nếu được, xin Sư cô chia sẻ cho chúng con một kỷ niệm với Thầy.

Điều mà GN muốn tiếp nối nhất từ Thầy, đó là tình thương vô điều kiện và sự thấu hiểu. Tiếp đến là lòng kiên nhẫn.

Hôm đó, vào cuối ngày, GN cùng hai sư cô lên Sơn Cốc thăm Thầy và giúp dọn dẹp Sơn Cốc. GN bước vào phòng ăn, ánh sáng mờ nhạt từ chiếc bóng đèn hắt lên chiếc bồn rửa chén bát nằm ở góc phòng, phía bên trái. Khung cảnh toát lên vẻ gì đó rất đỗi giản dị, đơn sơ giống như tinh thần của Thánh Phan-xi-co và của Chúa khiến GN cảm thấy rất thoải mái khi có mặt ở đây.

Đang lại gần bồn rửa để bắt đầu rửa chén bát, bỗng nhiên GN phát hiện ra một ly nước, giống như những chiếc ly Thầy hay dùng để uống trà, bên trong có nước ấm. Một cái thìa dính đầy cơm nếp được ngâm trong đó. Hình ảnh này thu hút toàn bộ sự chú ý của GN. Nó có vẻ rất bình thường nhưng lại đặc biệt cuốn hút GN như thể nó chuyên chở một bài học nào đó mà Thấy muốn “dành riêng cho sư cô Giác Nghiêm!”. Đó là suy nghĩ sau này của GN, chứ lúc ấy GN hoàn toàn bị cuốn vào hình ảnh đơn sơ đó, trong đầu không hề có một suy nghĩ nào hết. GN dường như bất động, không quét nhà, không rửa chén bát, mà chỉ quán chiếu “bài học” của Thầy. GN hoàn toàn lắng trong sự quán tưởng. Chỉ có sự tiếp xúc sâu xa, không lời.

Tới một lúc, GN cảm thấy mình đã hiểu được bài học Thầy đang trao truyền và chạm tới được tình thương yêu mà Thầy dành cho các học trò của mình. Những đệ tử còn ngang bướng, chưa ngoan, còn làm khó Thầy giống hệt như những hạt cơm nếp đang dính chặt trên chiếc thìa kia. GN nhận ra lòng kiên nhẫn của Thầy, nhìn thấy được bài học mà Thầy muốn trao gửi: thương yêu và kiên nhẫn chờ đợi. Nước ấm kia, giống như tình thương bao la, sẽ thấm từ từ vào từng hạt cơm bướng bỉnh làm chúng mềm ra và tới một thời điểm nào đó sẽ nhẹ nhàng long ra khỏi chiếc thìa. GN khóc và tiếp tục nhìn. Lúc này, GN không còn thấy chiếc thìa, những hạt cơm hay nước nóng nữa. GN chỉ còn thấy tình thương bao la của Thầy, thấy tình thương ấy đang bao bọc mỗi người trong tăng thân. Lòng yêu thương vô hạn, không thể tả bằng lời ấy thấm vào mỗi đệ tử của Thầy, làm cho họ mềm hơn, hiền ra và dần buông bỏ được những bám víu và chấp chặt của mình. Lặng yên, GN đứng khóc. Thầy bước từ trên gác xuống, đặt tay lên vai GN, Thầy nói: “Sư cô Giác Nghiêm, sư cô sẽ trở thành một vị giáo thọ thực thụ”. GN cũng sẽ làm một người thầy. GN thấy rõ con đường của GN là làm “ly nước ấm” cho các học trò của mình và tất cả những ai quanh mình. GN thực sự mong mình sẽ làm được như bài học – món quà vô giá – mà Thầy đã truyền trao cho GN ngày hôm ấy: bằng tình thương và lòng kiên nhẫn vô hạn, chấp nhận người khác đúng như họ đang là, bởi vì chỉ duy nhất tình thương và sự thấu hiểu mới có thể chuyển hóa được những khổ đau của người đó.

 

 

BBT: Thưa Sư cô, năm nay là năm kỷ niệm Thiền đường Hơi Thở Nhẹ (HTN) tròn mười tuổi (2008 – 2018). Kính xin Sư cô chia sẻ với chúng con về những ngày đầu của HTN và ước mong của Thầy về trung tâm này ?

Năm 1996, khi còn là cư sĩ và sắp trải qua một biến động lớn nhiều khổ đau trong cuộc đời, GN nhận được điện thoại của Sư cô Chân Không. GN được mời tới uống trà với Thầy và Sư cô. Thầy nói với GN: Có một ước mơ mà Thầy tha thiết muốn thực hiện. Đó là một trung tâm thiền tập tại Pháp… Rồi Thầy tả cho GN nghe về trung tâm mơ ước của mình! Thầy đã tả một cách thật chính xác cuộc sống của đại chúng hiện giờ tại HTN mười năm trước khi điều đó thành hiện thực! GN đã hiểu rằng Thầy muốn yểm trợ GN, cho GN thêm lòng can đảm trước một biến cố lớn sắp xảy ra. Thầy đã cho GN một động lực, một cái đích để hướng tới: tìm một địa điểm để biến giấc mơ của Thầy thành hiện thực.

Sau đó, ngày 4 tháng 12 năm 1999, GN trở thành một xuất sĩ của Làng Mai. GN sống ở Làng trong vòng mười năm tính từ thời gian GN đến Làng với dự định đi tu tới khi được nhận truyền đăng. Và rồi, vào một ngày của khóa tu mùa Hè năm 2007 với rất đông thiền sinh tham dự, Thầy tuyên bố rằng chúng ta sẽ có một trung tâm thực tập mới, ở ngoại ô thủ đô Paris, mang tên Thiền đường Hơi Thở Nhẹ và GN sẽ là Sư cô trụ trì của Thiền đường mới này.

Sau mùa An cư kiết đông năm 2007-2008, một xe van chở bảy quý thầy, quý sư cô – Pháp Lượng, Pháp Độ, Pháp Tự, Pháp Tập, Song Nghiêm, Tôn Nghiêm và GN – lên đường đi Paris và tới Hơi Thở Nhẹ lúc 1 giờ 30 sáng ngày 18 tháng 2 năm 2008. Sau đó, có thêm thầy Pháp Khí và thầy Pháp Liệu lên yểm trợ xây dựng trung tâm mới này. Thiền đường HTN tọa lạc tại số 7, đường Belles Vues ở thành phố Noisy-le-Grand. Cũng tại nơi này trước kia có một căn nhà nhỏ, xinh xắn mang tên Thiền đường Hoa Quỳnh. Rất nhiều gia đình người Việt tới đây sinh hoạt để tìm lại gốc rễ văn hóa Việt Nam cũng như để nghe Thầy giảng pháp. Ban đầu tăng thân chỉ toàn người Việt. Trẻ em cũng tới để học tiếng Việt.

Khi thầy Giác Thanh tới sống tại đây, Hoa Quỳnh trở thành một thiền đường yên tĩnh nơi nhiều thiền sinh tới tham vấn để được hướng dẫn tu tập và để được giãi bày những khó khăn của mình. Sau này, vì nhiều lý do khác nhau, căn nhà cũ được phá đi và thay vào đó là ngôi nhà mới, rộng 240m2 với một tầng hầm và khu vườn rộng 3070m2, mang cái tên mới Hơi Thở Nhẹ. Chính nhờ vào tiền cúng dường của một vị cư sĩ, là người bạn lâu năm của Thầy, và tiền bán Phương Vân am – nằm ở ngoại ô Paris nơi nương náu bình an của Thầy trong những năm tháng Thầy sống, làm việc và chia sẻ giáo pháp tại Paris – mà chúng ta đã xây dựng được căn nhà mới này.

Ban đầu, căn nhà không có đồ đạc gì cả, ngoài những bức tường màu xanh nhạt, giống màu hoa tilleul. Ngay từ những ngày đầu, Thầy và Sư cô Chân Không không có ý xin tiền cúng dường của thiền sinh mà chỉ nhận những gì họ tự đóng góp theo tấm lòng của họ. Với riêng GN, quyết định này rất gần với gốc rễ Thiên chúa giáo trong GN. Thánh Phan-xi-co (Francois d’Assise) cũng sống như vậy. Ngài cũng xin ăn trên hè phố, cũng chia sẻ thức ăn nhận được với những người khác hay với chim thú xung quanh. Đôi khi nhận được quá nhiều, Ngài đặt một phần thức ăn lên một tảng đá dễ thấy để những ai cần có thể lấy dùng. Tất cả quý thầy, quý sư cô ở HTN đều đồng lòng với quyết định này.

Lúc ấy trong GN thầm vang lên một khúc hát: “Lạy Đức Chúa, Người là mục tử chăn dắt con, những nơi Người đưa con đến, con sẽ chẳng thiếu thứ gì. Con sẽ được nghỉ ngơi nơi những đồng cỏ xanh mát, được thỏa cơn khát nơi những nguồn nước trong lành của Người. Chúa là mục tử, Người dẫn lối chỉ đường cho con đi, giữa suối mát, cỏ xanh con sẽ chẳng thiếu gì”. Đồng thời, những lời dạy của Bụt cũng vang trong GN: Có bình bát trong tay thì con không còn sợ đói nữa, nếu con thực tập giới luật đầy đủ và giữ nếp sống phạm hạnh. Tín tâm trong GN rất lớn nên quyết định này đến với GN thật dễ dàng. Ban đầu, các vị cư sĩ muốn đóng góp tịnh tài cho Thiền đường mỗi tháng nhưng GN không đồng ý. Đại chúng ở đây chỉ nhận những khoản cúng dường tùy hỷ mỗi khi thiền sinh đến tu học tại HTN. GN không muốn mình có bất cứ một sức ép nào từ chuyện cúng dường này. Và thực tế là đại chúng ở đây chưa bao giờ thiếu thốn một thứ gì. Những đồ đạc, vật dụng trong Thiền đường phần lớn được lấy về từ những hội chợ buông bỏ đồ dùng của thành phố Noisy-le-Grand và từ những đồ còn tốt được bỏ đi trên các vỉa hè.

Nhờ vào tâm bồ đề, vào tình thương trong mỗi anh chị em xuất sĩ, HTN đã trở thành nơi nương tựa bình an cho rất nhiều cư sĩ có hoàn cảnh khó khăn.

BBT: Thưa Sư cô, Sư cô có giấc mơ nào cho HTN trong mười năm tới không?

Với GN, xoa dịu khổ đau của người dân Paris là điều quan trọng nhất. Thành phố Paris sẽ mau chóng phát triển rộng ra để trở thành nơi sinh sống của 11 triệu người. Khi nhìn thiền sinh Paris dồn dập kéo về Thiền đường để có cơ hội thở, tìm lại sự cân bằng và khi thấy số người mà tăng thân phải từ chối vì không đủ chỗ tiếp đón, GN biết rằng mình thực sự phải làm một điều gì đó cho họ. Ước mơ của GN là ở đây sẽ có một trung tâm thiền tập theo mô thức ở Làng Mai, tức là có hai xóm (xóm cho quý thầy và xóm cho quý sư cô) gần nhau – như xóm Thượng và xóm Hạ ở Làng. Như vậy, mình sẽ có đủ chỗ để đón tiếp và chăm sóc các vị thiền sinh đến tu tập với mình. Trong lần ghé thăm Hơi Thở Nhẹ vào năm 2012, Thầy đã trao cho GN ước mơ của Thầy về Hơi Thở Nhẹ trong tương lai. Thầy có nói HTN sẽ thành một Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) ở Paris.

Với GN, Thầy là một vị Bụt, có cái nhìn của một vị Bụt. GN luôn tin tưởng vào cái thấy của Thầy. GN chỉ nghĩ tới HTN trong tương lai cũng sẽ “nhỏ xinh như một cái trứng”. Nhưng Thầy nói với GN: “Các con phải làm như EIAB ở Đức, làm những cuốn sách giới thiệu chương trình sinh hoạt hàng năm của Thiền đường với thông tin về các khóa tu theo chủ đề. HTN sẽ là một Viện Phật học Ứng dụng châu Âu tại Paris”.

Giấc mơ của GN là biến giấc mơ của Thầy thành hiện thực. Thầy mong ước HTN trở thành một EIAB của vùng Paris, vậy GN sẽ cùng tăng thân xuất sĩ và cư sĩ làm cho ước mơ đó được thành hình. Tuy nhiên, GN ý thức rõ rằng ước mơ này không chỉ phụ thuộc vào GN mà vào tất cả mọi người trong tăng thân. GN không lo lắng gì về chuyện này. GN nghĩ khi nhân duyên chín muồi thì ước mơ này sẽ thành hiện thực.

Hiện nay, cùng với quý thầy quý sư cô, GN đang tìm kiếm một địa điểm mới cho HTN, nơi có thể đón được 20 sư cô và khoảng 40 cư sĩ nữ. Trung tâm mới phải đủ rộng rãi, có thiền đường lớn, có không gian xung quanh đáp ứng được nhu yếu tu tập ngày càng tăng của thiền sinh. GN muốn tìm những nơi mang nhiều dấu ấn tâm linh. Các sư cô ở HTN mong có thể tìm được nơi nào đó gần với tu viện mới (Suối Tuệ) ở Verdelot. Không chỉ thiền sinh của vùng Paris mà của các vùng lân cận như Lille, Strasbourg,… thậm chí là ở Bỉ, Thụy Sĩ,… cũng có thể tới. “Chỉ mất hai tiếng để tới đây thôi, rất gần, chúng con sẽ tới dự khóa tu thường xuyên hơn”, đó là lời chia sẻ của một số cư sĩ thân hữu đến từ Bỉ khi tới thăm tu viện Suối Tuệ. Mặt khác, ở đây mọi sinh hoạt đều bằng tiếng Pháp, các bạn thiền sinh người Pháp hoặc nói tiếng Pháp sẽ cảm thấy thoải mái hơn so với EIAB (ở Đức) nơi ngôn ngữ thường dùng là tiếng Đức hoặc tiếng Anh.

BBT: Chúng con vô cùng biết ơn Sư cô đã dành thời gian trò chuyện cùng chúng con.

 

 

Trăng soi lối về

Sư cô Trăng Hiền Tâm, xuất gia trong gia đình cây Dẻ Gai ngày 25 tháng 10 năm 2018, tại Làng Mai – Pháp. Là con một, lớn lên trong một gia đình khá yên ấm tại Hàn Quốc và đang trên đường xây dựng sự nghiệp vững vàng, sư cô đã gặp được con đường tâm linh và phát tâm xuất gia mạnh mẽ. Hiện nay, sư cô đang tu tập ở xóm Mới và là niềm vui cho tất cả mọi người. Dưới đây là những chia sẻ của sư cô về hành trình tâm linh của mình, được Ban biên tập chuyển ngữ từ tiếng Anh.

Tên mới của con là Trăng Hiền Tâm. Nghĩa là vầng trăng của một trái tim hiền. Nhưng thú thật cho đến hai tháng trước đây, con chẳng thích mặt trăng tí nào. Mặt trăng lúc nào cũng cần mặt trời ban cho ánh sáng để phản chiếu lại và luôn luôn chỉ ló dạng vào ban đêm. Vì vậy, con cảm thấy mặt trăng không phải là một nữ anh hùng mà chỉ như một diễn viên đóng vai phụ mà thôi.

Trước đây lúc nào con cũng muốn làm một nữ anh hùng, một người đóng vai chính trong cuộc đời. Con muốn trở thành một người tỏa sáng đến nỗi không ai dám nhìn vào. Con cũng thường ở trên sàn diễn, trong ánh đèn sân khấu và con hy vọng là ai cũng yêu thích con. Khi bạn bè hỏi con: “Mục đích của cuộc đời bạn là gì?”, con luôn trả lời: “Quyền lực và danh tiếng, chắc chắn là vậy rồi!”. Quyền lực và danh vọng chỉ là những hư huyễn, nhưng con đã luôn luôn theo đuổi chúng.

2h30 sáng. Con ngồi trước 12 cái màn hình tivi. Trên bàn làm việc của con là một máy vi tính Macbook đang hiển thị một trang mạng thời sự. Cùng lúc đó con vừa kiểm tra các tin nóng trên Instagram – một trang mạng đăng tải ảnh và video, vừa mở facebook trên iphone, đồng thời với việc mở một cái podcast trên ipad. Con phải uống ba ly cà phê Americano để không ngủ gục. Gương mặt con đầy lo lắng vì con phải tìm những tin tức nóng hổi và hấp dẫn để viết kịch bản cho một chương trình truyền hình trực tuyến ngày mai. Không có tí chánh niệm nào; làm năm, sáu việc cùng một lúc. Đó là cuộc sống hàng ngày của con cho đến mùa xuân năm 2017.

Con yêu thích nghề cầm bút của mình. Con rất thích làm việc cho KBS và SBS – những kênh truyền hình nổi tiếng ở Hàn Quốc. Con làm các phim tài liệu (về con người, thiên nhiên, chính trị), các chương trình thời sự, các chương trình trò chuyện trực tuyến (live talk show), cũng như các chương trình giải trí. Con là đạo diễn, biên tập, viết kịch bản cho phát thanh viên, thậm chí có khi còn làm công việc “nhắc tuồng” khi họ đứng ngoài sân phát hình.

Mỗi ngày con là người tính toán cho một bản hướng dẫn đạo diễn (cue sheet) hoàn hảo, chính xác đến từng phút, từng giây. Và con không ngừng tìm kiếm những tin tức nóng nhất để thu hút khán giả xem truyền hình. Làm thế nào để thu hút một lượng khán giả cao? Làm thế nào để có thể làm một chương trình truyền hình được đánh giá cao nhất? Làm thế nào để lương năm nay cao hơn lương năm ngoái? Làm thế nào để trở thành một người viết kịch bản chính nổi tiếng hơn? Đó là những điều con luôn suy tính trong suốt bảy năm dài.

Con đã ở trên con đường cao tốc của thành công và có nhiều danh vọng. Nhưng một ngày kia, bỗng dưng con nhận ra hình như đang có một cái gì đó không ổn. Lúc nào con cũng tìm kiếm những tin nóng nhất để thu hút một lượng khán giả cao. Vì vậy, đôi khi con phải sơn đỏ những cái màu xanh để làm nó hấp dẫn hơn, hoặc con sáng tạo nên những vỏ bọc hào nhoáng cho các sản phẩm trở thành hấp dẫn qua quảng cáo. Mới đầu con say sưa việc sáng tạo các chương trình, nhưng rồi đến một lúc nào đó, con đã bị mất phương hướng.

Con đang ở đâu vậy? Thình lình ý nghĩ đó làm con giật mình. Sếp giục con làm một phim quảng cáo để đẩy những sản phẩm đáng giá chỉ 1 euro tăng giá trị lên 100 euros. Đó là một sự giả dối và lường gạt. “Đây không phải là cái mà con muốn”. Con quyết định buông công việc, xin nghỉ một thời gian và du lịch sang Philippines. Ở đó, trên đại dương xanh thẳm và trong trẻo, con có thể bơi lặn thỏa thích mà không cần làm gì khác. Khi lặn dưới độ sâu 40 mét, con không cần phải nghe hoặc nghĩ về bất cứ một điều gì.

Rồi đột nhiên ba con đề nghị: “Nếu con muốn nghỉ ngơi một thời gian, tại sao con không đi Làng Mai, Pháp?”. Lúc ấy con đã mua vé máy bay và đặt chỗ ở rồi. Con nói với ba là muộn mất rồi. Nhưng ba cứ cố gắng thuyết phục con đi Làng Mai. Thậm chí ba còn nói là sẽ trả lại cho con tiền bị khấu trừ khi hủy vé máy bay, hay chỗ ở và mua một vé mới cho con đi Pháp. Con bắt đầu thấy hơi tò mò. “Tại sao ba lại muốn mình đi đến chỗ đó? Chỗ đó có gì đặc biệt?”. Ba mẹ của con đã từng dự khóa tu do Thầy và tăng thân Làng Mai hướng dẫn ở Hàn Quốc và thường hay ca ngợi với con về sự tuyệt vời của những giáo lý do Thầy dạy, v.v.

Con biết Thầy vì thỉnh thoảng con cũng đọc sách của Thầy khi bị cơn giận chi phối. Thôi được rồi. Tại sao lại không nhỉ? Con quyết định sẽ đi Làng Mai dự khóa tu hai tuần. Con lên kế hoạch sau khi, con sẽ đi du lịch một vòng các nước Tây Âu sau đó.

Trước khi con đi, ba nói đùa: “Nếu con thích Làng Mai thì con có thể ở lại đó suốt đời cũng được. Trở thành sư cô thì sẽ có một việc làm vững chắc, lâu dài”. Con cười phá lên và nghĩ chuyện này sẽ không bao giờ có thể xảy ra.

Sau một chuyến hành trình dài, cuối cùng con đã tới xóm Hạ, Làng Mai. Và con đã bước tới khúc quanh của cuộc đời mình. Ban đầu tất cả đều rất khó khăn với con. Ăn chậm, đi chậm, làm cũng chậm và phải dừng lại mỗi khi có tiếng chuông. Lúc đầu, con tự hỏi: “Tại sao mọi người từ khắp nơi lại đến đây, để làm gì?”. Nhưng khi bước vào thiền đường lớn ở xóm Hạ, con đã bị một cú sốc.

Nơi đây không có tượng Bụt sơn son thếp vàng trên bàn thờ. Thay vào đó là rất nhiều hoa phong lan, và trên tường là chữ Gratitude (tri ân) viết theo lối thư pháp. Con không thể hiểu tại sao không có tượng Bụt mà chỉ có thư pháp. Lúc ấy, con không hiểu nghĩa vì chữ tri ân được viết bằng tiếng Anh. Sau khi tra từ điển, con rất ngạc nhiên, “Tại sao lại viết chữ tri ân ở trên tường? Phải tri ân cái gì? Tại sao chữ đó lại quan trọng đến độ phải viết lên tường như thế, thay vì tượng Bụt?”. Rất nhiều câu hỏi đã đi lên trong con. Bất cứ lúc nào, khi đi, khi ăn, khi ngủ, những câu hỏi đó cứ hiện diện trong con, như là một công án.

Ở Làng Mai, chúng con được học và thực tập các giáo lý tương tức, vô thường, hiện pháp lạc trú. Mỗi ngày trôi qua, con dần hiểu ra sự quan trọng của một cái cây, một bông hoa. Đó là sự hiểu biết từ trái tim chứ không phải bằng trí óc. Và con bắt đầu quán chiếu sâu sắc về tự thân mình. Con sinh ra trong một gia đình yên ổn. Con có cha mẹ hiền lành và là con một. Con chưa hề có khó khăn trong chuyện học tập hoặc bạn bè. Con có một nghề nghiệp chuyên môn mà con yêu thích. Nhưng có một cái mà con không hề có, đó là lòng tri ân. Chưa bao giờ con có cảm giác tri ân về bất cứ một điều gì. Thậm chí đối với ba mẹ, những người lúc nào cũng có mặt bên con. Con cho rằng bất cứ một thành công nào của con cũng do chính mình đạt được. Nhưng ở Làng Mai, con thực sự thấy được là để có một trái táo thì chúng ta cần những yếu tố không phải táo. Đó là cú sốc thứ hai của con. Cú sốc này đã cho con một đôi mắt mới và cái nhìn mới.

Sau trải nghiệm đó, sự hiếu kỳ của con về Làng Mai càng tăng lên. Hai tuần của con ở xóm Hạ đã kết thúc nên con gia hạn thêm một tuần nữa, rồi thêm một tuần nữa ở xóm Mới cho khóa tu nấu ăn trong chánh niệm. Sau đó, con quyết định ở lại hẳn một tháng cho khóa tu mùa Hè với tư cách tình nguyện viên. Thậm chí con đã hủy và đổi vé máy bay về Hàn Quốc. Nhưng trước khi khóa tu mùa Hè bắt đầu, con phải đi du lịch một chuyến bởi vì trong thời gian trước khóa tu, Làng Mai không nhận thiền sinh. Trong khi con đi du lịch từ nước này qua nước khác, con chỉ mong được trở lại Làng thật nhanh. Thật là một sự thay đổi lớn bởi con là người “nghiện du lịch”. Nói chi thì nói, mùa hè 2017 ở xóm Mới thật là tuyệt vời. Và con quyết định trở thành một sư cô càng sớm càng tốt. Con trở về Hàn Quốc, báo tin nghỉ việc cho đội làm truyền hình và làm tiệc chia tay với bạn bè. Con bán căn hộ của mình rồi chuyển về ở với ba mẹ ba tháng trong thời gian chờ làm giấy tờ đi Pháp.

Con đã không có chút nghi ngờ nào về việc ba mẹ sẽ yểm trợ quyết định của con. Chính hai vị đã nói với con: “Nếu muốn thì con không cần phải quay về Hàn Quốc nữa”. Dĩ nhiên đó chỉ là những lời nói đùa. Bởi quyết định xuất gia của con đã là một cú sốc lớn cho ba mẹ. Như là tiếng nổ Big Bang thời khai thiên lập địa vậy. Nhưng rồi cuối cùng ba mẹ cũng đồng ý (và bây giờ thì con đang ở Pháp). Gần một năm sau, vào ngày 25 tháng 10 năm 2018, con đã được xuống tóc. Ba mẹ con qua Làng sau một chuyến bay dài mười sáu tiếng để chúc mừng sự khởi đầu mới của con. Ba mẹ cũng đã quyết định ở lại trọn ba tháng để tu tập.

Con nghĩ mọi chuyện rồi sẽ dễ dàng thôi. Thế nhưng ở chung với ba mẹ một tuần trước khi xuất gia thật không dễ chút nào. Nhất là với mẹ con. Mẹ để hết tâm lực vào việc thuyết phục con quay về trước khi quá muộn. Mẹ đã mong đợi quá nhiều ở Làng Mai vì nghĩ rằng đây là một trung tâm quốc tế lớn nên tu viện phải lớn, sạch sẽ và hiện đại… đại loại là như thế. Nhưng khi đến đây lại thấy tu viện rất đơn giản và khiêm tốn, thiếu thốn nhiều tiện nghi. Mẹ nói: “Con gái tôi không thể nào sống ở đây được. Nó không thể nào nấu ăn cho mấy trăm người như vậy được. Cả đời nó chưa bao giờ sống chung phòng với ai. Làm sao nó có thể sống ở đây được?”. Mẹ cứ lặp đi lặp lại: “Về Hàn Quốc đi con!”. Thậm chí trong ngày con xuất gia mẹ vẫn nói như thế. Dù là một Phật tử và tu thiền khá lâu rồi, vậy mà mẹ vẫn tiếp tục băn khoăn và nghi ngờ. Vào ngày con xuất gia, sáng đó, mẹ hỏi một lần cuối: “Xin con hãy suy nghĩ lại. Mẹ sẽ mua vé máy bay cho con về nhà. Con có chắc là con muốn xuất gia không?”. Và con đã trả lời: “Dạ có, thưa mẹ. Con chắc chắn là con muốn xuất gia. Vì vậy xin mẹ đừng hỏi con thêm nữa”.

Mẹ khóc suốt thời gian con xuống tóc và nhận tấm y vàng, trong khi ba thì cố nén nước mắt. Sau đó mẹ nói với con: “Khi con quỳ xuống trước Bụt để được xuống tóc thì mẹ cảm thấy con không còn là con của mẹ nữa. Mẹ nhận ra là con đã thuộc về một đại gia đình tâm linh”. Con rất cảm động khi nghe mẹ nói như vậy.

Trong thời gian ba tháng ba mẹ ở Làng Mai, mỗi ngày đều đầy kịch tính. Thật không dễ dàng chút nào khi ba mẹ phải sống chung với một “đứa con mới” mang tên Trăng Hiền Tâm. Ba mẹ cần thời gian để làm quen với cuộc sống mới của con, và với sự thực tập. Nhất là đối với mẹ, mẹ phải trải qua rất nhiều xáo trộn trong lòng. Sống chung đông người đối với mẹ rất khó khăn. Và mẹ có quá nhiều lo lắng cho con. Có nhiều người đến Làng tu tập, điều đó có nghĩa là con phải làm việc nhiều hơn nữa để phụng sự. Đó là tri giác của mẹ, và tri giác đó làm mẹ khổ.

Ba tháng vừa qua là một bài học và sự thực tập lớn đối với con. Con đã nhìn lại ý nghĩa của thương yêu. Con nhìn sâu vào tình thương của con và ba mẹ. Con thấy nếu trong tình thương còn có sự đòi hỏi người mình thương phải thay đổi, còn nhiều vướng mắc thì đó chưa phải là tình thương đích thực. Ý niệm đây là ba “của con”, mẹ “của con” khiến cho con có nhiều lo lắng và buồn khổ. Con tự dựng lên một tri giác về “tôi” và “của tôi” và khổ đau vì hệ luỵ ấy. Đó không phải là tình thương đích thực mà Thầy đã dạy. Vì vậy, con cố gắng bớt đòi hỏi ở ba mẹ và ở chính mình. Sự thực tập này giúp con rất nhiều.

Ba con đã có những chuyển hóa nhanh chóng hơn mẹ. Ba đã quan sát tất cả những gì diễn ra và học hỏi như một em bé mới bắt đầu bập bẹ những tiếng nói đầu tiên. Ba giống như một người đã được sinh ra ở một đất nước chỉ có mùa hè, và chưa từng trải qua một mùa đông lạnh giá nào trong đời. Người đó cần đến viếng một đất nước có mùa đông thì mới hiểu được thế nào là mùa đông đích thực. Cho dù người ấy có đọc bao nhiêu sách báo về mùa đông cũng không thể nào thực sự cảm được cho đến khi trải nghiệm nó. Cũng vậy, ba đã từng đọc sách Thầy, đã nghe nói đến Làng Mai, nhưng chỉ khi đến Làng ba mới biết Làng Mai là như thế nào. Nơi đây ba đã tìm lại được em bé tuổi thơ trong ba. Suốt 64 năm cuộc đời, ba chưa một lần khóc, thậm chí trong đám tang bà nội. Vậy mà ba đã khóc như một đứa trẻ trong một buổi pháp đàm. Ba nói ba nhận ra là chưa bao giờ ba hỏi bà nội câu “Mẹ có khỏe không?”. Trước khi bà nội qua đời, bà đã bị bệnh tình hành hạ rất nhiều. Nhưng ba lúc nào cũng nói với bà nội: “Không sao đâu. Có gì đâu.” Hoặc đại loại những câu như vậy. Chưa bao giờ ba hỏi “Mẹ cảm thấy như thế nào? Mẹ đau như thế nào? Mẹ có ổn không?”. Sau khi ba nghe pháp thoại của sư cô Lăng Nghiêm, trong đó sư cô có nói đến sự thực tập ái ngữ, ba đã nhận ra điều đó. Ba nói là ba muốn thực tập ái ngữ với người thân và bạn bè trước khi quá muộn. Có vẻ như ba đã phá vỡ được một rào cản vừa to vừa dày trong đời. Con rất hạnh phúc nhìn thấy sự chuyển hóa của ba. Nhưng với mẹ, thật không dễ chút nào.

Sau rất nhiều ngày ảm đạm và giông tố trong ba tháng có ba mẹ bên cạnh – dĩ nhiên là cũng có những ngày nắng hồng tươi đẹp, con vui mừng chào đón mùa Giáng sinh đến. Làng Mai ở châu Âu, Tây phương mà. Vì vậy chúng ta ăn mừng ngày Chúa Jesus ra đời. Chúng ta là một tu viện Phật giáo cho nên nếu nói chúng ta thích Giáng sinh thì có vẻ hơi mâu thuẫn. Nhưng chúng ta chào mừng tinh thần của lễ Giáng sinh, bởi vì nó đem lại niềm vui và hạnh phúc cho các bạn thiền sinh Tây phương. Và tất cả mọi người đều cùng chào mừng Giáng sinh trong chánh niệm. Nhưng đối với ba mẹ, nhất là với mẹ của con, bà không thể hiểu được tại sao một tu viện Phật giáo lại trang hoàng và chuẩn bị quà cho Giáng sinh. Mẹ cứ nói tới nói lui là mẹ thấy không thoải mái với mấy cái trang trí Giáng sinh đó. Đối với mẹ, học hỏi giáo lý đạo Bụt quan trọng hơn nhiều so với việc chuẩn bị cho lễ Giáng sinh.

Nhưng thực sự đối với con, ý kiến của mẹ không có ảnh hưởng gì mấy. Tại vì con vô cùng thích lễ Giáng sinh ở Làng Mai. Và chúng ta lại còn có dàn đồng ca của xuất sĩ nữa chứ! Dàn đồng ca này thường đi hát thánh ca cúng dường các gia đình hàng xóm trong dịp Giáng sinh. Năm ngoái vì còn là cư sĩ nên con không tham gia dàn đồng ca được. Năm nay thì khác rồi. Con cũng là một trong những vị xuất sĩ đầu tròn áo vuông trong gia đình áo nâu :-). Con rất hào hứng về việc tham gia hát thánh ca với quý thầy, quý sư cô. Con thực sự rất hy vọng ba mẹ sẽ tới xem con hát. Hôm đó, mới sáng sớm con đã dặn ba mẹ buổi tối nhớ đến để thưởng thức.

Ngày hôm đó, dàn đồng ca đã hiến tặng các bài hát Giáng sinh trong vùng Loubès-Bernac, Sơn Hạ, xóm Thượng, xóm Hạ, và cuối cùng vào khoảng 9 giờ tối chúng con đã về tới xóm Mới. Tim con bắt đầu đập nhanh. Con tự hỏi không biết ba mẹ có đến không. Mặc áo nâu giản dị, tay mỗi người cầm một ngọn nến, chúng con bắt đầu hát. Đó là một khoảnh khắc yên lắng và tuyệt vời. Trong suốt ba bài hát, lòng con rất bình an. Rồi đến bài Đêm thánh vô cùng. Bài này ba mẹ con rất quen thuộc bằng tiếng Hàn Quốc. Chúng con hát không có nhạc cụ nào đặc biệt, chỉ có tâm bình an mà thôi. Chúng con đã chế tác được những âm thanh chánh niệm trong ánh nến ấm áp. Đó thật là một khoảnh khắc thật thiêng liêng. Và con là người đầu tiên được trị liệu. Con có thể thấy cái vỏ cứng của em bé chưa từng biết tri ân và từ bi trong con đang bị vỡ ra bởi năng lượng tập thể được chế tác ra bởi những người hát và người nghe hát.

Trong khi chúng con hát những bài Giáng sinh, con thật lòng cầu mong cho âm thanh của những bài hát này đánh động đến trái tim của người nghe. Con có một niềm tin vững chắc rằng nếu con có thể được chữa lành thì những người khác cũng sẽ được chữa lành. Con nhìn ba mẹ và mỉm cười trong khi hát. Có thể ba mẹ không hiểu được ý nghĩa của những bài hát bằng tiếng Anh này, nhưng con chắc rằng hai vị có thể cảm được tinh thần thực sự của Giáng sinh. Con thấy mặt ba mẹ càng lúc càng rạng rỡ như ánh trăng rằm. Đó quả là một mặt trăng thật đẹp và ấm áp.

Ngày hôm sau, mẹ gọi con đến cạnh và nói mẹ muốn cho con xem nhật ký của mẹ. Trước đây, con đã khuyên mẹ nên viết nhật ký về những điều mà mẹ tri ân trong ba tháng, nhưng cho đến lúc ấy chưa lần nào mẹ cho con xem. Mặt mẹ đỏ lên như một cô gái trẻ. Và mẹ đưa cho con quyển nhật ký.

“Hạnh phúc là gì? Hạnh phúc nào đã đưa con gái tôi đến Làng Mai? Tôi đã có rất nhiều câu hỏi trong thời gian sống ở đây. Có rất nhiều người đến đây để tìm hạnh phúc, nhưng đối với tôi, tôi chỉ có thể thấy những khổ đau của họ mà thôi. Tôi không thể hiểu quyết định của Trăng Hiền Tâm. Nhưng giờ thì dấu hỏi của tôi đã trở thành dấu chấm than. Tôi đã tìm ra câu trả lời từ dàn đồng ca Giáng sinh ngày hôm qua. Tôi đã lắng nghe hạnh phúc từ dàn đồng ca. Con gái của tôi, mà không… hạnh phúc của sư cô Trăng Hiền Tâm của tôi là ở đó. Trong ánh nến dịu dàng, họ đã hát và lắng nghe nhau. Không còn biên giới giữa Phật giáo và Thiên chúa giáo nữa. Chỉ có sự hòa điệu và chuyển hóa. Tôi nhận ra rằng người xuất sĩ là người biết chế tác hạnh phúc đích thực. Họ chính là những người biết được hạnh phúc là gì. Đó là lý do tại sao họ lại có thể hát những bài hát tuyệt vời đến thế. Họ đang san sẻ hạnh phúc của họ với chúng ta. Cảm ơn sư cô rất nhiều, bây giờ thì mẹ đã hiểu”.

Con muốn nhắc lại một lần nữa, tên mới của con là Trăng Hiền Tâm. Và bây giờ thì con yêu mặt trăng. Con có thể nhớ lại khoảnh khắc mà con cùng ba mẹ đi lên đồi mận để ngắm trăng lên trước hôm con xuống tóc. Lần đầu tiên trong đời, gia đình con đã cùng nhau chờ trăng lên như thế. Khi mẹ con ngắm mặt trăng tròn, nỗi buồn của mẹ đã bất ngờ được chuyển hóa và trở nên tươi sáng như ánh trăng rằm. Đó là một thời khắc thật đẹp. Con xin nguyện với Tam bảo là con sẽ cố gắng thực tập để làm được như vầng trăng tròn kia, tỏa ánh sáng giúp mọi người tìm thấy hướng đi cho cuộc đời. Con quyết tâm trở thành một mặt trăng có thể chia sẻ hạnh phúc và làm vơi bớt khổ đau cho người. Trong thời gian ở cùng ba mẹ, con đã có thể thấy niềm hy vọng. Con sẽ bắt đầu bước đầu tiên của con để trở thành một vị “trăng sĩ”.

Chân Trăng Hiền Tâm

Đường mòn Appalachian, những bước chân trị liệu

                                                                                             

Thầy Trời Đạo Hành người Hà Lan, xuất gia năm 2015 trong gia đình cây Đan Mộc. Thầy tham gia khóa tu đi bộ trên đường mòn Appalachian, lần đầu tiên được quý thầy Làng Mai tổ chức. Dưới đây là chia sẻ của thầy về trải nghiệm thú vị và đặc biệt này. Bài viết được Ban biên tập chuyển ngữ từ tiếng Anh.

Thật ra cuộc hành trình của chúng tôi đã bắt đầu từ nhiều tháng trước khi chúng tôi đặt những bước chân đầu tiên trên đường mòn Appalachian huyền thoại của nước Mỹ. Công việc chuẩn bị gồm có: vẽ tuyến đường, gây quỹ, liên lạc với các tăng thân địa phương, trang bị dụng cụ, tham dự khóa học sơ cứu khi sống ngoài thiên nhiên, rèn thể lực,… và uống trà. Trước khi lên đường, tuần nào chúng tôi cũng liên lạc qua skype để trò chuyện với nhau. Thầy Pháp Xả gọi từ EIAB, Đức; thầy Pháp Mãn và thầy Pháp Lý từ tu viện Bích Nham, Mỹ; thầy Pháp Lưu, thầy Pháp Khởi và tôi từ Làng Mai, Pháp. Ngoài ra còn có năm bạn tình nguyện viên tuyệt vời cùng đi chung, vừa là bạn đường vừa yểm trợ chúng tôi. Đến lúc gặp mặt nhau lần đầu tiên, ai cũng có cảm tưởng là đã quen biết nhau từ lâu lắm rồi.

Chúng tôi dự định sẽ đi bộ xuyên sáu tiểu bang, vượt qua khoảng 750 cây số trong bảy tuần lễ, từ tu viện Bích Nham ở New York tới thủ đô Washington D.C. Mong muốn của chúng tôi là tạo ra một tu viện, một trung tâm tu học di động trong khi tiếp xúc sâu sắc với năng lượng trị liệu của thiên nhiên qua những bước chân chánh niệm. Mỗi tuần, trước khi bắt đầu một chặng đường mới, chúng tôi dự định sẽ tổ chức một ngày chánh niệm để kết nối và yểm trợ tăng thân địa phương. Chúng tôi sẽ hiến tặng sự thực tập của mình, chế tác năng lượng chánh niệm, bình an và hạnh phúc. Cuộc hành trình sẽ kết thúc bằng một buổi đi bộ cho hòa bình (peace walk) tại thủ đô Washington D.C.

Tháng Tư năm 2018, sau bao ngày chờ đợi, cuối cùng thời điểm chúng tôi họp mặt tại tu viện Bích Nham cũng đã đến. Với một ba lô nặng 15 ký trên lưng bao gồm các vật dụng cần thiết và thực phẩm, chúng tôi bắt đầu lên đường. Tất cả những gì chúng tôi cần làm là thưởng thức từng bước chân và đi theo dấu chỉ đường. Trong những tuần sau đó, chúng tôi trải qua đủ loại thời tiết: tuyết, mưa, mưa đá, nắng và sấm sét. Chúng tôi hòa mình vào thiên nhiên và gặp những sinh vật thật đẹp như bướm, rắn, cóc, chuột chũi, rùa, sóc, hươu, kỳ nhông, nhiều loại chim và nhiều loài khác nữa.

Dù ở các lứa tuổi khác nhau, đến từ các nước khác nhau nhưng chúng tôi cùng trải nghiệm những điều kiện thời tiết, cùng sẻ chia những tiện nghi, những bất tiện nghi cũng như tất cả những gì xảy đến trên đường. Chính những trải nghiệm tập thể đó gắn kết chúng tôi thành một tăng thân thực sự. Nếu một người không đủ sức để vác ba lô leo lên núi thì chúng tôi chia một phần dụng cụ của người đó cho những thành viên trong nhóm và chúng tôi cùng vác chung với nhau. Nếu chúng tôi đi quá nhanh và có người không theo kịp thì chúng tôi điều chỉnh tốc độ để ai cũng tận hưởng được bước chân của mình. Nếu có ai đó cảm thấy khó có thể đi tiếp và cần dừng lại hẳn để nghỉ ngơi (điều này xảy ra mỗi tuần), thì mẹ Sue (là mẹ của thầy Pháp Lưu, nhưng thực ra cũng là mẹ của tất cả chúng tôi) sẽ có mặt ngay với chiếc xe “cứu hộ” của bà, và như thế họ vẫn có thể tiếp tục khóa tu theo một cách khác. Bị rộp da, lội nước trong những ngày mưa, đồ dùng bị ướt sũng, phải băng qua những đoạn đường núi hiểm trở, ngoằn ngoèo, uốn khúc như những con rắn đuôi chuông, hoặc mắt cá bị bong gân,… chúng tôi vẫn tiếp tục cuộc hành trình. Dường như không có bất cứ điều gì có thể ngăn cản chúng tôi tiến về phía trước và tận hưởng những giờ phút ở bên nhau.

“Chúng ta cần một sự thức tỉnh và giác ngộ thực sự để thay đổi cách suy nghĩ và nhìn nhận sự việc của mình. Thở vào, ý thức về cơ thể của chúng ta và nhìn sâu vào cơ thể, để thấy rằng ta là Trái đất, và tâm thức ta cũng là tâm thức của Trái đất” – trích lời Thầy Làng Mai.

Hòa mình vào thiên nhiên hoang dã vài tuần như vậy làm cho tôi cảm thấy mình thực sự trở thành một phần của thiên nhiên. Lúc đầu thì tôi là người đi vào thiên nhiên, nhưng sau vài tuần thì sự phân biệt đó bắt đầu tan biến. Một mặt tôi thực sự tận hưởng những tiện nghi thường có trong đời sống hàng ngày như rau và thực phẩm tươi, một căn phòng ấm áp và một chiếc giường vào cuối tuần, vòi nước hoa sen, quần áo sạch và khô. Sau một ngày đi bộ thì mọi thứ bình thường ấy có vẻ như quý giá gấp đôi. Mặt khác, tôi cũng thấy những cái đó có vẻ như xa lạ với mình hơn. Khi tới gần một thành phố sau nhiều ngày đi trong các vùng hoang dã thật đẹp, tôi có thể ngửi được mùi xe cộ hàng dặm trước khi đến đó.

Trở về lại thành phố sau nhiều ngày sống giữa thiên nhiên, tôi tự hỏi làm thế nào mà con người lại xa rời cái đẹp thực sự của thiên nhiên đến vậy? Con người chúng ta đang làm gì? Rõ ràng một đời sống giản dị, tự nhiên mang lại cho tôi nhiều hạnh phúc và tự do hơn.

Một trong những khía cạnh hay nhất của việc đi bộ trong thiên nhiên là chúng tôi sống rất đơn giản. Chúng tôi thức dậy, ăn sáng, tháo võng xuống và bắt đầu lên đường. Chiều tối, chúng tôi dừng lại, ăn chiều, mắc võng lên và nghỉ qua đêm trong rừng. Ngày hôm sau thì sao? Cũng giống y như vậy. Tất cả những gì chúng tôi cần là một ba lô trên vai và một nụ cười trên môi. Không có gì để làm, không có nơi nào để đến, chúng tôi chỉ tận hưởng những bước chân trong chánh niệm. Nếu điều kiện thời tiết cho phép, chúng tôi ngồi thiền buổi sáng, ngồi thiền buổi tối và thỉnh thoảng có pháp đàm. Sao tôi thích sống hòa nhịp với thiên nhiên đến thế! Chúng tôi thức giấc cùng với bình minh, tiếng chim hót líu lo là tiếng đồng hồ báo thức, và đi ngủ khi hoàng hôn buông xuống.

Tôi bắt đầu thấy và cảm được sự thay đổi, sự vô thường của thiên nhiên. Chúng tôi khởi hành vào đầu tháng Tư trong lạnh lẽo và tuyết giá khi cây cối vẫn còn khoác áo mùa đông. Trên đường đi từ Bắc xuống Nam, những nụ mầm mới dần xuất hiện trên cành. Lá bung ra và hoa bắt đầu nhô lên khỏi mặt đất. Mỗi ngày một chút. Hàng ngày, chúng tôi trải qua phần lớn thời gian trong sự im lặng bình an và dễ chịu. Một trong những giây phút ấn tượng nhất đối với tôi trong suốt chuyến đi là lúc tôi thấy một cái cây ngã xuống.

Nhìn một cái cây lớn ngã xuống trong khu rừng tĩnh lặng thật là một giây phút đặc biệt. Tôi cảm thấy mình thật nhỏ bé và không có ý nghĩa gì cả, nhưng đồng thời lại thấy mình thật sống động trong không gian mênh mông, hoang dã. Có phải cái cây đó đã chết? Nó đã có bao giờ được sinh ra? Khi nào thì tâm thức biểu hiện ra lần đầu tiên trong sự sống? Cái cây đó có tâm thức hay không? Tôi cảm thấy một nụ cười ấm áp, che chở của thiên nhiên đang nở ra chung quanh tôi và ở trong tôi. Những câu hỏi của tôi tự dưng biến mất. Tự ngã, con người, sinh mạng, tuổi thọ,… Buông xuống!… Đi tiếp thôi, Đạo Hành!

Tất cả những tiếp xúc trong chuyến đi làm tôi cảm động. Tôi tiếp xúc với chính mình sâu sắc hơn, tiếp xúc với đất Mẹ và nhất là với những con người tuyệt vời đang đồng hành cùng tôi. Trải qua một thời gian khá dài cùng các bạn tham dự khóa tu đi bộ là một điều thật đặc biệt. Chúng tôi đã thực sự sống với nhau 24/24 giờ trong suốt năm ngày. Ở Làng, thường thường tôi dậy trước giờ thức chúng một tiếng đồng hồ, uống trà trong phòng cho tỉnh táo trước khi mọi người nhìn thấy mặt tôi. Nhưng trong chuyến đi, khi tôi bước xuống võng thì người khác nhìn thấy ngay gương mặt còn ngái ngủ của tôi. Thông thường khi có khổ đau, ta có khuynh hướng tránh mặt người khác, thí dụ như trốn trong phòng. Nhưng khi đi bộ với nhau ngày này qua ngày khác thì không có chỗ nào để ta trốn cả. Nơi trú ẩn duy nhất của ta chỉ có thể là những bước chân và tăng thân bao quanh mà thôi.

Đây là lần đầu tiên tôi đến nước Mỹ và cũng là một trải nghiệm khá độc đáo. Thay vì tham quan các thị trấn và thành phố lớn, tôi được sống với nông thôn và thiên nhiên hoang dã. Thỉnh thoảng, con đường mòn dẫn qua một thị trấn nhỏ và chúng tôi được gặp người dân địa phương. Họ nhìn chúng tôi bằng một cái nhìn ngạc nhiên và chào mừng khi thấy một nhóm các nhà sư Phật giáo đi bộ trên đường mòn Appalachian. Dường như chúng tôi đang đóng góp thêm một chiều hướng tâm linh cho con đường nổi tiếng này. Chúng tôi gặp các tăng thân địa phương ở những thị trấn nhỏ và những thành phố vào những ngày chánh niệm cuối tuần. Họ rất vui và tiếp đón tất cả chúng tôi rất nhiệt tình.

Trải nghiệm này đã cho tôi tiếp xúc với một lối sống khác của người xuất sĩ. Chúng tôi có tăng sĩ trong thiền viện, tăng sĩ ẩn dật, nhưng cũng có du tăng. Vì luôn phải di chuyển nên tôi nhận ra rằng quê hương đích thực của mình là bây giờ và ở đây. Nó nằm trong từng bước chân của tôi trên suốt con đường. Vì không biết trước đoạn đường còn lại sẽ như thế nào, hoặc thậm chí không biết trước đêm nay mình sẽ ngủ ở đâu nên chúng tôi dễ dàng an trú trong giây phút hiện tại. Tất cả chúng tôi đã có một thời gian tuyệt vời cùng nhau và tu viện di động của chúng tôi là một thành công lớn. Tôi rất vui khi đặt ba lô lên lưng một lần nữa vào ngày mai để chỉ đơn giản là: bắt đầu đi bộ.

 Chân Trời Đạo Hành