Lễ xuất gia cây Đầu Xuân (Linh Kiều – Forsythias) diễn ra tại tu viện Bích Nham vào ngày 18.05.2019, gồm 1 sư chú và 2 sư cô : Chân Trời Đại Lực (Bích Nham), Chân Trăng Khánh Thiền (Bích Nham), Chân Trăng Nguyên Anh (Mộc Lan)
Có một hôm đang cùng Tý tưới cải trong nhà mặt trời, Ba hỏi Tý:
– Con có nhớ em Du không?
Tý nhớ lắm chứ. Du là con của dì Sương. Tý đã được ẵm Du vài lần
tại nhà bà ngoại Tý. Hồi gia đình Tý cư ngụ ở Làng Báo Chí ở Thủ
Ðức, thỉnh thoảng dì Sương có đem Du lên chơi và có khi ở lại ba
hoặc bốn ngày. Ðộ ấy Du mới biết đi. Nó đi chập chững. Tý và Miêu
đều cưng Du. Tý vừa được tin từ Việt Nam cho biết là dì Sương vừa
sinh cho Du một đứa em trai, và em tên là Vi Khang. Vi Khang nhỏ
hơn Chó Con chừng hai tháng.
Tý nhớ cứ mỗi lần từ Bến Tre lên chơi là dì Sương lại mang lên cho
nào là dừa trái, nào là đường thẻ, nào là bánh ú. Có khi dì đem lên cả
gà vịt để Mẹ nuôi nữa. Tý thấy Mẹ và dì Sương thương nhau và có vẻ
thân thiết với nhau lắm. Tý cũng rất thương dì Sương và cậu Ứng.
Cậu Ứng là ba của bé Du, đáng lý Tý phải gọi cậu Ứng là dượng,
nhưng vì Tý đã quen miệng gọi cậu ấy là cậu rồi, nên Tý không còn
thay đổi được nữa. Gọi cậu Ứng là dượng thì Tý cảm thấy bớt thân
thiết đi nhiều. Cậu Ứng là một người gan dạ và vui tính. Ba cũng rất
cưng cậu Ứng. Hồi dự tính vượt biên Ba cũng đã mời cậu cùng đi;
nhưng vì gia đình cậu không đồng ý nên cậu đã không đi.
Thỉnh thoảng Mẹ có gởi cho dì Sương một bưu kiện thuốc tây để dì có
đủ thuốc men săn sóc cho bé Du và bé Khang. Tý biết rằng ở xứ Việt
Nam của Tý có rất nhiều em bé bị bệnh mà không có thuốc. Bệnh ho,
bệnh cảm, bệnh tiêu chảy, bệnh sốt xuất huyết. Trẻ em ở Việt Nam rất
dễ bị bệnh sốt xuất huyết. hễ bị bệnh này mà không có thuốc thì coi
như là chết. Ba nói theo tài liệu thống kê của tổ chức Văn Hóa Liên
Hiệp Quốc (viết tắt là UNESCO) thì trong năm vừa qua đã có tới
mười lăm triệu trẻ em chết vì đói và vì thiếu thốn thuốc men. Tý chưa
thấy rõ mười lăm triệu là nhiều chừng nào nhưng Ba nói rằng nếu căn
cứ vào con số đó thì mỗi ngày tại các nước nghèo trên thế giới có tới
trên bốn mươi ngàn đứa trẻ dưới năm tuổi bị chết đói và chết vì thiếu
thuốc men. Tý rùng mình. Bé Du và bé Khang đều là hai đứa bé dưới
năm tuổi. Hai đứa em con dì ấy của Tý là những đứa trẻ may mắn bởi
vì chúng nó có thuốc men của Mẹ gởi về. Nhưng còn hàng triệu đứa
khác ở Việt Nam, ai mà gởi về cho chúng?
Ba đã tưới xong mấy vồng cải và bắt đầu ngồi xuống để nhổ bớt cỏ
giữa những hàng hẹ. Tý cũng ngồi nhổ cỏ với Ba. Ba nói:
– Gia đình mình may mắn lắm mới có thể gởi được thuốc men về
để giúp các trẻ em bên nhà, con biết không?
Tý chưa biết tại sao gởi thuốc về giúp trẻ con bên nhà là may mắn thì
Ba đã nói tiếp:
– Hồi còn ở Việt Nam, Ba và Mẹ đã làm việc rất cực nhọc mà cũng
không đủ để lo cho gia đình mình, nói gì có thể giúp cho ai.
Thuốc men cho các con và thuốc men cho bà ngoại nữa, đều do
cô Chín gởi từ bên này về. Hồi đó Ba đã làm nhiều nghề: nào
đóng sách, nào đi buôn chuối… cuộc sống chiếm hết thì giờ của
Ba. Khi mà mình đã không có thì giờ thì mình không thể lo lắng
và giúp đỡ cho những người khác. Ở bên này, tuy cũng làm việc
cực nhọc, nhưng Ba và Mẹ cũng có được chút thì giờ để lo cho
những người thân bên nhà. Làm được điều này, Ba cảm thấy vui
trong lòng lắm. Vì vậy mà Ba nói rằng gia đình mình may mắn.
May mắn vì có thể giúp đỡ được người khác…
Tý hiểu rồi. Lâu nay Ba và Mẹ không những đã gửi thuốc men về cho
dì Sương để dì săn sóc cho em Du và em Khang mà Ba và Mẹ còn gởi
thuốc về cho nhiều trẻ em đang bị đói nữa. Hồi gia đình Tý mới dọn
về đây, cô Chín có bàn với Ba, Mẹ và chú Dũng lập một tiểu ban để
giúp đỡ việc nuôi nấng trẻ em nghèo đói bên nhà. Tiểu ban này gọi là
Tiểu Ban Giúp Trẻ Em Ðói do Mẹ và chú Dũng trông coi, còn Ba và cô
Chín thì làm cố vấn và giúp đỡ. Ba nói với Tý là đói khát và bệnh tật
luôn luôn đi đôi với nhau, bởi vì thiếu ăn thì sinh ra đau ốm, và đã
đau ốm thì không làm lụng được cho nên lại sinh ra thiếu ăn thêm. Vì
vậy mà giúp cho trẻ em có cơm ăn cũng là giúp cho trẻ em tránh được
đau ốm. Như bé Du chẳng hạn. Sở dĩ nó ít đau ốm là vì nó tạm có đủ
ăn, và thức ăn của nó có đủ chất dinh dưỡng. Khi một đứa trẻ ăn
uống thiếu thốn và không có đủ chất dinh dưỡng thì nó cứ bèo nhèo
đau ốm hoài. Mẹ và chú Dũng lâu nay đã thường trực giúp được
mười bốn thiếu nhi đói bên nhà bằng cách gửi hàng hóa từ Pháp về,
và bên nhà đã đem các thức ấy đổi thành gạo để nuôi thiếu nhi. Sở dĩ
gia đình Tý có tiền mua các thức quà có thể biến thành gạo ấy là một
phần vì Ba quyết định bớt sự chi tiêu trong gia đình, một phần nhờ ở
sự đóng góp của các bạn của Ba và cô Chín. Chú Dũng cũng hăng hái
trong công việc này lắm. Có bao nhiêu tiền phụ cấp xã hội, chú đều bỏ
vào quỹ của Ủy Ban Giúp Trẻ Em Ðói hết. Ba đi lượm những thùng
giấy cạc tông và làm thành những cái hộp thật đẹp và thật chắc có thể
đựng được khoảng một hai kí lô hàng hóa. Trong mỗi cái hộp như
thế, Mẹ và chú Dũng bỏ vào một ít thuốc bổ, thuốc cảm và thuốc ho
để dành cho thiếu nhi được giúp đỡ. Số thuốc này chỉ mới chiếm một
phần tư hộp. Chỗ còn lại trong hộp, Mẹ và chú Dũng để vào các thứ
hàng hóa thông dụng để các bạn của Mẹ có thể đổi thành gạo, sách vở
và bút mực cho thiếu nhi học. Sau khi Mẹ và chú Dũng sắp thuốc vào
hộp, Ba đậy nắp hộp lại, dán kỹ, buộc dây, đề địa chỉ và dán tem.
Những hộp thuốc này được gởi về Việt Nam bằng máy bay. Nếu
người đi lãnh quà bên nhà là một người khéo tay thì số hàng hóa bán
được sẽ có thể nuôi thiếu nhi trong vòng ba tháng. Mỗi năm người ấy
nhận bốn bưu kiện của Mẹ và chú Dũng gửi.
Thỉnh thoảng Mẹ và chú Dũng lại để ra một ngày trọn để làm bưu
kiện. Kỳ nào Ba cũng phụ vào một tay. Có khi có cả cô Chín tới giúp.
Không khí vui lắm. Những lúc đó Tý giúp Mẹ bằng cách săn sóc cho
Chó Con để Mẹ rảnh tay làm việc. Ai cũng tỏ vẻ sung sướng vì được
giúp trẻ em đói bên nhà.
Tý sẽ không bao giờ quên những ngày tháng ở quê nhà. Mẹ nói hồi
Tý còn nhỏ, chưa bao giờ trong nhà mấy mẹ con bị thiếu thốn thức gì.
Ấy vậy mà khi lớn lên, Tý đã biết được một phần nào cái thiếu thốn
khó khăn của những đứa trẻ nghèo. Có nhiều bữa Tý đâu có cơm mà
ăn. Tý phải ăn bo bo. Tý “biết điều” hơn bọn gà của Tý ở bên Pháp. Có
nhiều bữa, để thay cơm, Ba cán bột, một thứ bột gì lạ lắm, làm thành
những cái bánh tai bèo để luộc chín mà ăn. Dì Sương biết được những
khổ cực ấy. Từ Bến Tre, dì lén lút mang lên một ít gạo, nhét vào túi áo
vài nắm, nhét vào trái dừa đã móc ruột vài lon. Người ta cấm đem
gạo và thịt từ miền quê lên thành phố, dù là để bán hoặc là để ăn. Dì
kể chuyện có một bà khách đồng hành cột gạo vào bụng giả làm
người có mang. Qua trại kiểm soát, mấy người cán bộ khám phá ra
được chuyện ấy, bắt bà tháo gạo ra. Bà khóc, nói rằng bảy đứa con của
bà ở thành phố đang đói, bà phải lén về quê mua gạo đem lên cho
con. Bà năn nỉ mấy, người cán bộ cũng không cho bà đem gạo đi. Bà
bảo nếu không cho bà đem gạo về nuôi con, chắc bà phải tự tử chết.
Người cán bộ vẫn cứng rắn. Cuối cùng, thất chí quá, bà lao mình vào
một chiếc xe hơi đang chạy qua và bị xe cán chết.
Dì Sương cũng nói là trên một chuyến xe khác, dì thấy có một bà cột
thịt heo vào bụng, giả làm người có chửa, để đem thịt về thành phố
bán. Mưu mẹo của bà này cũng bị phát giác, và thịt heo của bà bị tịch
thâu._
Em nói một lời không hiểu thương
Vô tình làm vỡ giọt tâm trong
Chút ân, chút nghĩa chị vun bón
Chút hiểu, chút thương anh ươm mầm
Anh Chị nói lời không Hiểu Thương
Em như trẻ nhỏ lạc giữa đường
Tâm linh bến đỗ là đâu nhỉ?
Gạn lại dòng sông cho nắng lên
Tôi nói một lời không Hiểu Thương
Tôi thấy Thầy tôi bước một mình
Đất Mẹ lặng im độ lượng hứng
Những ăn năn về giữa mắt trong
Tôi cũng là em, cũng là anh
Xin cho lầm lỗi chút không gian
Cho khổ đau được tự nhiên biểu hiện
Để em tôi được thắp sáng đong đầy.
Chị cũng là tôi, cũng là em
Chọn đời thanh đạm làm quê hương
Chọn lắng nghe sâu để chuyển hóa
Chọn thương yêu để bước vào đời
Thôi hãy thứ tha và lãng quên
Mây về núi ngủ thuở hồng hoang
Trời xanh mây trắng tự nguyên thủy
Mãi học hiểu thương mỗi mỗi ngày.
Chân Hạ Nghiêm
(Trích từ cuốn “Sen búp từng cánh hé” của Sư Ông Làng Mai)
Trong truyền thống đạo Bụt, thiền tập có công năng giúp ta khôi phục sự toàn vẹn của con người ta, giúp ta trở nên tươi mát, ổn định, chăm chú để ta nhìn sâu vào bản thân và vào hoàn cảnh mà thấy rõ được thực tại của bản thân ấy và hoàn cảnh ấy. Cái thấy có khả năng giúp ta vượt thoát khổ đau và ràng buộc. Một khi đã trở nên thảnh thơi hơn và an lạc hơn, chúng ta sẽ không còn làm khổ kẻ khác bằng cách hành xử và nói năng của chúng ta nữa, và chúng ta có thể bắt đầu chuyển hóa hoàn cảnh chung quanh và giúp kẻ khác được thảnh thơi và an lạc hơn. Thiền tập có tác dụng trị liệu và chuyển hóa. Để có thể thực tập nhìn sâu và lắng nghe, chúng ta phải biết cách thức khôi phục sự toàn vẹn của con người chúng ta, biết cách thức trở thành tươi mát, ổn định và chăm chú. Năng lượng được sử dụng để làm công việc ấy là chánh niệm.
Chánh niệm có khả năng giúp ta ý thức được những gì đang có mặt, đang xảy ra trong ta và chung quanh ta. Chánh niệm chiếu rọi ánh sáng trên đối tượng thiền quán, dù đối tượng ấy là một tri giác, một cảm thọ, một động tác, một phản ứng hoặc một hiện tượng sinh lý hoặc vật lý. Chánh niệm lại có khả năng nhìn sâu và hiểu thấu được tự tính và gốc rễ của đối tượng quán chiếu. Trong quá trình thiền quán, năng lượng chánh niệm được thường trực phát khởi, nuôi dưỡng và làm lớn mạnh. Chánh niệm giúp ta tiếp xúc thật sự với sự sống, nghĩa là với tất cả những gì đang xảy ra trong hiện tại, giúp ta sống sâu sắc cuộc đời của chúng ta, giúp chúng ta thực tập quán chiếu để nhìn sâu và lắng nghe. Hoa trái của sự thực tập nhìn sâu và lắng nghe là sự kiến đạo, là giác ngộ, là giải thoát.
Trong quá trình thực tập, những sợi dây ràng buộc (triền sử) từ từ được tháo mở, những nội kết khổ đau như sợ hãi, hận thù, giận dữ, nghi kỵ, đam mê,… từ từ được chuyển hóa, biên giới chia cách từ từ được tháo gỡ, và liên hệ giữa ta và người, giữa ta và thiên nhiên trở nên dễ dàng, sự thảnh thơi và niềm vui sống tự nhiên xuất hiện, và hành giả cảm thấy như là một đóa sen búp đang từ từ hé nở. Thật ra, con người cũng là một loại hoa và có thể nở ra đẹp đẽ và tươi mát như bất cứ một loại hoa nào. Bụt là một đóa hoa người đã mãn khai, vô cùng tươi mát và xinh đẹp. Tất cả chúng ta đều là Bụt sẽ thành. Vì vậy cho nên tại các trung tâm thiền tập, mỗi khi thiền sư gặp gỡ nhau, họ thường chấp tay thành búp sen để chào nhau. “Sen búp xin tặng người, Một vị Bụt tương lai”, đó là bài kệ được sử dụng trong khi chào nhau bằng chánh niệm. (Bạn hãy nhớ thở vào khi đọc “Sen búp xin tặng người” và thở ra khi đọc “một vị Bụt tương lai”. Và hãy mỉm cười khi thở ra. Bạn sẽ có dáng dấp của một bông sen hơn).
Không có minh sư và không có tăng thân ta cũng có thể thực tập một mình. Minh sư là một vị thầy đã có kinh nghiệm thực tập và tu chứng. Tăng Thân là đoàn thể của những người cùng thực tập chung với nhau và phương pháp thực tập có thể nói là gần giống như nhau. Cũng vì tất cả một người cùng thực tập nên bạn thấy thực tập rất dễ. Năng lượng của tâm thức cộng đồng rất mạnh, có thể yểm trợ ta rất nhiều, nếu ta có cơ hội thực tập trong một tăng thân. Ta cũng có thể học được kinh nghiệm của mỗi thành viên ấy. Có nhiều cái ta không làm được khi ta ở một mình, nhưng trong môi trường tăng thân ta lại làm được dễ dàng. Những ai đã từng thực tập với một tăng thân đều đã nhận thấy điều đó.
Nếu bạn chưa có cơ hội gặp gỡ một vị minh sư và một tăng thân thì tập sách này sẽ có thể giúp bạn trong buổi ban đầu. Trong sách có nhiều bài thiền tập có hướng dẫn, tất cả đều xuất phát từ các minh sư và các tăng thân trong lịch sử. Trong khi thực tập bạn sẽ có cảm giác được yểm trợ phần nào bởi các vị minh sư và các tăng thân.
Thực tập một số bài trong sách, bạn sẽ có thể tạo ra năng lượng của chánh niệm trong bạn và bạn sẽ trở nên tươi mát hơn, chăm chú hơn và có nhiều niềm vui hơn trong cuộc sống hằng ngày. Và lúc ấy bạn sẽ có nhiều cơ hội hơn để gặp gỡ một minh sư hay một đoàn thể tăng thân. Có thể là vị minh sư ấy hoặc tăng thân ấy đã có mặt sát bên bạn nhưng bạn chưa có cơ hội tiếp xúc. Sách này có thể giúp bạn gặp được thầy và được tăng thân. Xin bạn hãy vững tâm thực tập theo sách.
Trong truyền thống đạo Bụt, tăng thân được xem là một viên ngọc quý trong số ba viên ngọc quý là Bụt, Pháp, và Tăng. Tam bảo đã có mặt ngay trong lòng bạn. Tăng Bảo trong lòng bạn sẽ dẫn bạn tới tăng thân trong vùng bạn cư trú. Dù biết rằng tất cả tùy thuộc nơi năng lượng chánh niệm của bạn, chúng tôi vẫn chúc bạn “may mắn” vì chúng ta, ai cũng là đóa sen sắp nở, một vị Bụt tương lai.
Thiền duyệt
Bài Tập Thứ Nhất
Thở vào, tâm tĩnh lặng / Tĩnh lặng
Thở ra, miệng mỉm cười / Mỉm cười
Thở vào, an trú trong hiện tại / Hiện tại
Thở ra, giây phút đẹp tuyệt vời / Tuyệt vời
Nhiều người bắt đầu thực tập thiền bằng bài tập này. Có nhiều người dù đã thực tập bài tập này nhiều năm vẫn còn tiếp tục thực tập, bởi vì nó tiếp tục đem tới nhiều lợi lạc cho hành giả. Thở vào, ta chú ý tới hơi thở: hơi thở vào tới đâu ta cảm thấy tĩnh lặng tới đó, giống như khi ta uống nước mát, nước tới đâu thì ruột gan ta mát tới đó. Trong thiền tập, hễ tâm tĩnh lặng thì thân cũng tĩnh lặng, bởi vì hơi thở có ý thức đem thân và tâm về một mối. Khi thở ra, ta mỉm cười, để thư giãn tất cả các bắp thịt trên mặt (có khoảng 300 bắp thịt trên mặt ta). Thần kinh ta cũng được thư giãn khi ta mỉm cười. Nụ cười là kết quả của sự tĩnh lặng do hơi thở đem lại, mà cũng vừa là nguyên nhân giúp ta trở nên thư thái và cảm thấy sự an lạc phát hiện rõ ràng thêm.
Hơi thở thứ hai đem ta về giây phút hiện tại, cắt đứt mọi ràng buộc với quá khứ và mọi lo lắng về tương lai, để ta có thể an trú trong giây phút hiện tại. Sự sống chỉ có mặt trong giây phút hiện tại, vì vậy ta phải trở về sự sống chân thật. Biết mình đang sống và biết mình có thể tiếp xúc với tất cả mầu nhiệm của sự sống trong ta và xung quanh ta. Đó là một phép lạ. Chỉ cần mở mắt hoặc lắng nghe là ta tiếp nhận được những mầu nhiệm của sự sống. Vì vậy cho nên giây phút hiện tại có thể là giây phút đẹp nhất và tuyệt vời nhất, nếu ta biết thực tập hơi thở thứ nhất nhiều lần trước khi đi sang hơi thở thứ hai.
Bài này có thể thực tập bất cứ ở đâu: trong thiền đường, trên xe lửa, trong nhà bếp, ngoài bờ sông, trong công viên, trong các tư thế đi, đứng, nằm, ngồi và ngay cả đang lúc làm việc.
Bài Tập Thứ Hai
Thở vào, biết thở vào / Vào
Thở ra, biết thở ra / Ra
Hơi thở vào càng sâu / Sâu
Hơi thở ra càng chậm / Chậm
Thở vào, ý thức toàn thân / Ý thức
Thở ra, buông thư toàn thân / Buông thư
Thở vào, an tịnh toàn thân / An tịnh
Thở ra, lân mẫn toàn thân / Lân mẫn
Thở vào, cười với toàn thân / Cười
Thở ra, thanh thản toàn thân / Thanh thản
Thở vào, cười với toàn thân / Cười
Thở ra, buông thả nhẹ nhàng / Buông thả
Thở vào, cảm thấy mừng vui / Mừng vui
Thở ra, nếm nguồn an lạc / An lạc
Thở vào, an trú hiện tại / Hiện tại
Thở ra, hiện tại tuyệt vời / Tuyệt vời
Thở vào, thế ngồi vững chãi / Vững chãi
Thở ra, an ổn vững vàng / An ổn
Bài này tuy dễ thực tập nhưng hiệu quả thì to lớn vô cùng. Những người mới bắt đầu thiền tập nhờ bài này mà nếm được sự tịnh lạc của thiền tập. Tuy nhiên, những người đã thiền tập lâu năm cũng vẫn cần thực tập bài này để tiếp tục nuôi dưỡng thân tâm, để có thế đi xa.
Hơi thở đầu (vào, ra) là để nhận diện hơi thở. Nếu đó là hơi thở vào thì hành giả biết đó là hơi thở vào. Nếu đó là hơi thở ra thì hành giả biết đó là hơi thở ra. Thực tập như thế vài lần tự khắc hành giả ngưng được sự suy nghĩ về quá khư, về tương lai và chấm dứt mọi tạp niệm. Sở dĩ được như thế là vì tâm hành giả đã để hết vào hơi thở để nhận diện hơi thở, và do đó tâm trở thành một với hơi thở. Tâm bây giờ không phải là tâm lo lắng hoặc tâm tưởng nhớ mà chỉ là tâm hơi thở (the mind of breathing).
Hơi thở thứ hai (sâu, chậm) là để thấy được rằng hơi thở vào đã sâu hơn và hơi thở ra đã chậm lại. Điều này xảy ra một cách tự nhiên mà không cần sự cố ý của hành giả. Thở và ý thức mình đang thở (như trong hơi thở đầu) thì tự nhiên hơi thở trở nên sâu hơn, nghĩa là có phẩm chất hơn. Mà khi hơi thở trở nên điều hòa, an tịnh và nhịp nhàng thì hành giả bắt đầu có cảm giác an lạc trong thân và trong tâm. Sự an tịnh của hơi thở kéo theo sự an tịnh của thân và tâm. Lúc bấy giờ hành giả bắt đầu có pháp lạc, tức là thiền duyệt.
Hơi thở thứ ba (ý thức toàn thân, buông thư toàn thân): Hơi thở vào đem tâm về với thân và làm quen lại với thân. Hơi thở là cây cầu bắc từ thân sang tâm và từ tâm sang thân. Hơi thở ra có công dụng buông thư (relaxing) toàn thân.
Trong lúc thở ra hành giả làm cho các bắp thịt trên vai, trong cánh tay và trong toàn thân thư giãn ra để cho cảm giác thư thái đi vào trong toàn thân. Nên thực tập hơi thở này ít ra là mười lần.
Hơi thở thứ tư (an tịnh toàn thân, lân mẫn toàn thân): Bằng hơi thở vào, hành giả làm cho an tịnh lại sự vận hành của cơ thể (Kinh Niệm Xứ gọi là an tịnh thân hành); bằng hơi thở ra hành giả tỏ lòng lân mẫn săn sóc toàn thân. Tiếp tục hơi thở thứ ba, hơi thở này làm cho toàn thân lắng dịu và giúp hành giả thực tập đem lònh từ bi mà tiếp xử với chính thân thể của mình.
Hơi thở thứ năm (cười với toàn thân, thanh thản toàn thân): Nụ cười làm thư giãn tất cả các bắp thịt trên mặt (có đến hàng trăm bắp thịt trên mặt). Hành giả gửi nụ cười ấy đến với toàn thân như một giòng suối mát. Thanh thản là làm cho nhẹ nhàng và thư thái (easing). Hơi thở này cũng có mục đích nuôi dưỡng toàn thân bằng lòng lân mẫn của chính hành giả.
Hơi thở thứ sáu (cười với toàn thân, buông thả nhẹ nhàng): Tiếp nối hơi thở thứ năm, hơi thở này làm cho tan biến tất cả những gì căng thẳng (tentions) còn lại trong cơ thể.
Hơi thở thứ bảy (cảm thấy mừng vui, nếm nguồn an lạc): Trong khi thở vào hành giả cảm nhận nỗi mừng vui thấy mình còn sống, khoẻ mạnh, có cơ hội săn sóc và nuôi dưỡng cơ thể lẫn tinh thần mình. Hơi thở ra đi với cảm giác hạnh phúc. Hạnh phúc luôn luôn đơn sơ và giản dị. Ngồi yên và thở có ý thức, đó có thể là một hạnh phúc lớn rồi. Biết bao nhiêu người đang xoay như một chiếc chong chóng trong đời sống bận rộn hàng ngày và không có cơ hội nếm được pháp lạc này.
Hơi thở thứ tám (an trú hiện tại, hiện tại tuyệt vời): Hơi thở vào đưa hành giả về an trú trong giây phút hiện tại. Bụt dạy rằng quá khứ đã đi mất, tương lai thì chưa tới, và sự sống chỉ có mặt trong giây phút hiện tại mà hành giả tiếp xúc được tất cả những mầu nhiệm của cuộc đời. An lạc, giải thoát. Phật tính và niết bàn…tất cả đều chỉ có thể tìm thấy trong giây phút hiện tại. Hạnh phúc nằm trong giờ phút hiện tại. Hơi thở vào giúp hành giả tiếp xúc với những mầu nhiệm ấy. Hơi thở ra đem lại rất nhiều hạnh phúc cho hành giả, vì vậy hành giả nói: hiện tại tuyệt vời.
Hơi thở thứ chín (thế ngồi vững chãi, an ổn vững vàng): Hơi thở này giúp hành giả thấy được thế ngồi vững chãi của mình. Nếu thế ngồi chưa được thẳng và đẹp thì sẽ trở nên thẳng và đẹp. Thế ngồi vững chãi đưa đến cảm giác an ổn vững vàng trong tâm ý. Chính trong lúc ngồi như vậy mà hành giả làm chủ được thân tâm mình, không bị lôi kéo theo thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp có tác dụng làm chìm đắm.
Ngàn năm giọt giọt tinh khôi
Ngàn năm đọng mật đất trời trong veo
Tôi đã đến trên mỗi cành lá biếc
Những bông hoa, ngọn cỏ sớm an lành
Sợi tơ mỏng, thảm lá mục an nhiên
Nghe đất mẹ từ hòa ca trong gió
Giọt bình yên mang ngàn đời hơi thở
Của bao la trời đất giữa luân hồi
Mát lành ở trong tôi
Thảnh thơi cười dâng hiến
Dành tặng bạn một phút giây mầu nhiệm
Lắng suy tư sau giấc ngủ đêm dài
Mở mắt chạm ban mai
Thở và cười cùng tình tôi biêng biếc
Soi vào tôi, và rồi bạn sẽ gặp
Cánh hoa thơm đêm trước đã cựa mình
Lấp lánh một vầng trăng
Con dế khuya kéo vĩ cầm ru gió
Soi vào tôi, bạn biết bạn đang thở
Biết mặt trời lấp ló sắp vươn lên
Biết nhẹ nhàng thầm lặng tôi biến tan
Nhưng tình tôi vẫn còn trong đôi mắt
Tôi đã đến, phút giây này rất thật
Tôi đã đi như trời đất xoay vần
Một nụ cười bé nhỏ giữa nhân gian
Dành tặng bạn khi bình minh thức giấc.
Tôi đi nhé, khẽ khàng tan vào đất
Tan vào hoa, vào cỏ, nắng mai hiền
Tan vào bạn – từng hơi thở an nhiên
Có trong nhau từ ánh nhìn đang sống.
Hát lên đi, ngày hôm nay đẹp lắm
Bước thong dong trên từng phút vô thường
(Lương Đình Khoa)
Lễ tắm Bụt trong ngày Phật Đản 19.05.2019 tại Xóm Hạ, Làng Mai Pháp
Tháng cuối năm, Huế mưa dai dẳng và lạnh. Cây mai ngay trước cửa phòng tôi nở duy nhất một bông hoa năm cánh tươi nhuận. Mỗi ngày, ngồi uống trà, tôi đều hướng mắt về phía bông hoa. Còn hai tuần nữa là Tết. Thầy về đây vậy mà cũng gần ba tháng rồi. Nhìn cánh hoa vàng, tôi nhớ đến câu thơ của thầy Hoàng Bá:
Bất thị nhất phiên hàn triệt cốt
Tranh đắc mai hoa phốc tị hương.
Không phải một phen lạnh đến tận cùng xương thịt, thì dễ gì hoa mai thoát ra được thứ hương thơm như vậy. Cội mai già cũng như một đấng trượng phu, âm thầm, kiên định, vững chãi, chờ đợi, kiên nhẫn và dâng hiến hương thơm cho đời.
Rau rịa
Hơn hai năm nay Thầy về thăm Vườn Ươm, và mỗi tháng Tư, Thầy đều đi cùng những học trò của mình đến Wangree, một resort, nơi tổ chức khóa tu gia đình trong mỗi dịp Tết của người Thái Lan. Resort rất đẹp, gần núi, có rất nhiều hoa, nhiều tán cây cổ thụ, có suối, nhiều hồ nước và những con đường quanh co để thiền hành.
Một buổi sáng, tôi nhìn thấy trên mâm cơm của Thầy có món rau. Hỏi ra mới biết đó là rau rịa, được hái từ khu vườn ngay trong khuôn viên của resort. Rau rịa. Thứ rau mà chưa bao giờ tôi nhìn thấy trực tiếp nhưng đã rất ấn tượng khi đọc Nẻo về của ý – quyển sách Thầy viết hơn năm mươi năm trước. Nói đến tên, tôi đã cảm thấy rất hạnh phúc.
Thế là tôi, thầy Đồng Trí và sư chú Trời Trong Sáng quyết định đi tìm rừng rau rịa. Bất ngờ quá, rừng rau chỉ cách chỗ chúng tôi ở vài trăm mét. Từ đó, những món ăn như rau rịa nấu canh, rau rịa xào được anh em chúng tôi thưởng thức thường xuyên. Tôi có thưa cho Thầy nghe về rừng rau rịa, nhắc lại Nẻo về của ý và thỉnh Thầy đi thăm rừng rau. “Thứ cây này có rất nhiều ở Phương Bối, nhất là trong khu rừng ở phía Tây Nam. Ta chỉ có thể hái được những đọt lá non màu hồng tím. Lá rịa mọc song đôi trên đọt cho nên Lý đặt tên thứ rau này là song diệp thái. Người Thượng có thể bán cho người Kinh bất cứ thứ gì họ kiếm được ở rừng: tre, mây, phong lan, thịt nai, măng, v.v. nhưng không bao giờ bán lại rau rịa”. (trích Nẻo về của ý)
Vào một buổi sáng, trời nắng đẹp, Thầy cùng anh chị em thị giả chúng tôi ra thăm rừng rau. Con đường rợp bóng cổ thụ. Đến nơi, Thầy chăm chú quan sát các con của Thầy ngắt từng đọt non, hình ảnh mà hơn 50 trước Thầy đã từng thưởng thức. Thầy nhìn rừng rau, nhìn cụm lá non trong tay sư cô Linh Nghiêm và sư cô Định Nghiêm, ánh mắt rất hạnh phúc. Tôi nhìn thấy cả ánh sáng ban mai trong ánh mắt Thầy. Quý sư cô mang những đọt non tới dâng lên Thầy. Thầy chắp tay, sau đó đưa nắm rau rịa lên mũi thưởng thức. Nắm rau hôm nay cũng là nắm rau tại núi rừng Phương Bối Đại Lão của ngày xưa. Tôi rất xúc động với cách tiếp xúc của Thầy, chú tâm, trang trọng, chánh niệm, như gặp lại một người bạn cố tri.
Cả hai lần ghé resort, Thầy đều đến thăm rừng rau rịa. Những lần đi hái rau sau này, đoàn chúng tôi còn có thêm thầy Pháp Chất và thầy Mãn Chí, hay sư chú Trời Kỳ Diệu. Khi nào thấy tôi không có trong phòng, thầy Pháp Chất thường nói với anh em: “Thầy Nguyên Tịnh lại đi thăm rừng rau rịa rồi”. Đúng rồi. Những ngày sống ở đây thật ngắn ngủi, chúng tôi phải tận dụng thời gian để thưởng thức. Thưởng thức rau rịa, tôi thưởng thức được cả rừng núi Đại Lão và tình anh em mà ngày xưa Thầy đã vun bồi trên đồi Phương Bối. Tôi nhớ đến lời thầy Lợi, một người cư sĩ lớn tuổi từng nói với tôi: “Đọc Bây giờ mới thấy, Tình người hay Nẻo về của ý, thầy sẽ thấy tại sao Thầy Nhất Hạnh lại có những hoa trái đẹp tươi như vậy. Thầy Nhất Hạnh đã biết cách nuôi dưỡng được tình huynh đệ đồng môn và chưa bao giờ đánh mất sự thương yêu yểm trợ đối với những người em trẻ tuổi. Đây là một bài học rất lớn mà Thầy để lại cho cuộc đời.”
Giữ lửa
Có một buổi chiều, trời mưa, gió và lạnh. Lúc đó thầy trò chúng tôi đang ở Sơn Cốc. Ngồi nhìn ra cửa kính, Thầy đưa bàn tay trái, bàn tay duy nhất Thầy còn cử động được sau lần bệnh nặng, áp lên khuôn mặt mình và nhìn từng người học trò đang ngồi xung quanh. Đôi mắt Thầy muốn nói một điều gì đó. Không khí im lặng bao trùm. Đôi mắt Thầy vẫn hướng đến từng người. Tôi nhìn Thầy, rồi như một tiếng nói trực tiếp đi ra từ sự vận hành của cả năm uẩn, tôi đọc lớn đủ để Thầy nghe bài thơ Ấm áp, bài thơ Thầy đã viết trong thời gian Thầy đi kêu gọi chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam:
Tôi bưng mặt trong lòng hai bàn tay
Có phải để khóc đâu anh
Tôi bưng mặt để giữ cho ấm áp sự cô đơn
Hai bàn tay chở che
Hai bàn tay nuôi dưỡng
Hai bàn tay ngăn cản
Sự ra đi hờn dỗi của linh hồn.
Thầy nhìn tôi chăm chú, đôi mắt sáng lên, gật đầu và đặt bàn tay lên đầu tôi. Tôi lấy giọng, đọc thêm lần nữa và lần nữa, lòng rạt rào xúc động. Tôi thưa: “Thầy ơi, con biết Thầy nhớ rõ bài thơ này lắm. Trái tim của một người trẻ đầy nhiệt huyết, đầy hy vọng, đầy tin tưởng và bàn tay của người trẻ là để thương yêu, để xây dựng, để làm đẹp cuộc đời. Nhưng mà trái tim ấy, bàn tay ấy của người trẻ đã lắm lúc mang thương tích, lắm lúc rơi vào sự cô đơn, lắm lúc đối diện với những bế tắc và thất vọng. Người trẻ ấy đã áp bàn tay lên khuôn mặt những lúc buồn tủi cô đơn nhất, để sự ấm áp mãi còn, để nhắc nhở cho chính mình bầu nhiệt huyết vẫn còn tuôn dậy, để cho sự cô đơn không lấn áp được niềm tin yêu. Đôi bàn tay của người trẻ kia đã làm nhiệm vụ che chở, nuôi dưỡng bếp lửa tâm thức và ngăn cản một tâm hồn đang hờn dỗi, cô đơn và thất vọng muốn từ bỏ. Con biết, Thầy không bao giờ bỏ cuộc, và Thầy luôn trao truyền cho chúng con tinh thần đó”.
Tôi cũng chẳng biết tại sao tôi lại “liều lĩnh” nói lên được những điều như vậy. Bàn tay Thầy đặt trên trán tôi. Mắt tôi nhòe đi trong niềm xúc động và biết ơn. Thầy gật đầu, đôi mắt vẫn sáng một tia sáng kỳ diệu. Mưa gió vẫn kéo về khắp Sơn Cốc. Thầy trò tôi ngồi với nhau rất ấm áp.
Được cơ may thân cận Thầy trong thời gian làm thị giả, tôi đã học được những bài học Thầy trao truyền. Mỗi bữa cơm, bằng bàn tay trái, Thầy đưa từng muỗng thức ăn lên miệng bằng tất cả sự chú tâm, thận trọng và thưởng thức. Chánh niệm đã trở thành sự sống của Thầy. Thầy thưởng thức từng ngụm trà một cách trầm lặng, ngắm nhìn thiên nhiên, Thầy trở thành người vô sự. Bàn tay trái của Thầy vỗ về, chấp nhận và làm thay những công việc cho bàn tay phải. Tôi thương lắm mỗi khi nhìn thấy bàn tay trái của Thầy chăm sóc và đánh thức bàn tay phải. Thầy ngồi vào bàn, giấy đã được thị giả chuẩn bị sẵn, với bàn tay trái, Thầy cầm bút và vẽ từng vòng tròn thư pháp. Thầy nhìn một bông hoa hồng vươn cao và uốn mình bên cửa kính, rồi vẽ theo. Những vòng tròn cứ thế hình thành nơi nét bút, tạo nên một bông hoa hồng. Bông hoa nở trên giấy. Bông hoa nở trong lòng Thầy. Bông hoa nở trong lòng mỗi anh chị em thị giả chúng tôi. Và bông hoa ấy cũng nở trong lòng mỗi đứa con của Thầy ở khắp mọi nơi. Thầy đọc sách. Thầy tập chân. Thầy tập trở người. Thầy tập nói, tập đi,… Bếp lửa cứ thế, ngày đêm Thầy âm thầm giữ gìn và trao truyền cho mỗi chúng tôi.
Tôi không lớn lên trong chiến tranh. Nhưng tôi lớn lên trong thời kỳ mà tuổi trẻ cũng mang nhiều buồn tủi, cô đơn, nghi kỵ và thương tích. Nói với tuổi hai mươi là tập sách đã giúp tôi định hình đời sống của mình rất nhiều. Thầy viết tác phẩm đó trong lúc chiến tranh và chết chóc có mặt khắp quê hương. Một cuốn sách chứa đầy tình thương, bao dung, chấp nhận, tha thứ, biết ơn và tin tưởng. Những hạt giống của nghi kỵ, thủ tiêu, chống báng, tuyệt vọng trong người đọc dần lắng dịu để cho tình thương và sự cảm thông có mặt. Tôi hiểu, từ lúc còn rất trẻ, Thầy đã là một người giữ lửa và mãi đến bây giờ, bếp lửa ấm áp ấy vẫn còn cho ta than hồng lửa đỏ.
Tìm tôi trong tận đáy hồn anh
20 tháng 11, ngày Nhà giáo Việt Nam. Sáng hôm đó, thầy Chơn Trí, một người bạn đồng học với Thầy tại Phật học đường Báo Quốc lúc Thầy còn là một sư chú, bất ngờ lên thăm Thầy. Thầy vừa dùng sáng xong. Thấy bóng dáng thầy Chơn Trí ngoài cửa sổ, Thầy đã đưa tay lên chào, kiểu chào của hai người bạn thân thiết lâu năm. Hai anh em nắm tay nhau. Thầy Chơn Trí, bằng cái cách hài hước vui vẻ rất trẻ trung, đưa tặng Thầy một chai xì dầu Maggi. Thầy gật đầu, đôi mắt rất sáng, nhận chai xì dầu và đưa lên cao một lúc lâu. Hai anh em cười rất tươi. Thầy đưa tay nắm tay thầy Chơn Trí sau khi gởi chai xì dầu cho thị giả. Chai xì dầu nhắc nhở lại kỷ niệm của thời học tăng. Đó là một báu vật mà chỉ có thầy Chơn Trí lúc đó, vốn được mệnh danh “giàu có” mới sở hữu được. Trong bữa ăn thanh bần của học tăng, lâu lâu sư chú Chơn Trí lấy chai xì dầu trong túi áo ra, xịt vài giọt vào chén cơm của mình một cách thận trọng, rồi chuyền chai xì dầu cho vài anh em trẻ cùng tận hưởng hương vị “giàu có” đó trước khi thu lại và cho vào túi áo. Hôm sau, thầy Pháp Huy kể cho anh em chúng tôi nghe, Thầy đã bảo mở chai xì dầu và Thầy đã thử ba giọt. Chai xì dầu sau đó được mang xuống bếp thị giả. Nghe xong câu chuyện, tôi liền đi cất chai xì dầu để làm kỷ niệm.
Thầy Chơn Trí là một người đã gắn bó với Thầy trong thời kỳ học tăng tại Báo Quốc như một đồng sự. Tờ báo Tiếng Sóng do Thầy phát động đã được thầy Chơn Trí giúp đỡ giấy mực rất nhiều. Tờ báo đó, tuy đơn sơ, nhưng là tiếng nói của những tăng sinh trẻ và là tờ báo mở đầu cho những tờ báo Thầy tham gia, cũng như hướng viết sách của Thầy sau này. Trong buổi gặp mặt hôm đó, thầy Chơn Trí đã nhắc lại một kỷ niệm rất đẹp cho Thầy và anh chị em thị giả chúng tôi được nghe.
Đó là lúc Thầy không đồng ý với chương trình giảng dạy ở Báo Quốc. Sau một vài lần thưa lên Ban giám đốc nhà trường mà không có kết quả, Thầy quyết định bỏ học đi vào Nam. Chuyến đi đó của Thầy và một vài anh em khác được bí mật tổ chức. Xe sắp chạy, thầy Chơn Trí thấy có gánh đậu hũ gần đó, liền mua cho Thầy một chén, lúc đó Thầy đã ở trên xe. Chén đậu hũ vừa đưa lên, bất ngờ xe chuyển bánh. Vậy là chén đậu hũ tuột khỏi tay Thầy, đổ đầy áo thầy Chơn Trí. Trên xe, Thầy đưa tay vẫy chào bạn và khóc rất nhiều. Cho đến lúc chiếc xe khuất hẳn, thầy Chơn Trí mới ra về. Một chuyến đi của khát khao tìm một con đường mới, nhưng vẫn còn rất mơ hồ, chưa biết được gì không nhưng đã phải xa thầy tổ, xa bạn bè thân thiết, xa người giáo thọ trẻ Trọng Ân hiền lành và hiểu được những đứa em tăng sinh. Tôi quỳ một bên và nghe giọng kể của thầy Chơn Trí, trong chất giọng ấy còn đủ đầy hình bóng của người bạn nức nở khóc khi xe lăn bánh và chén đậu hũ ướt đẫm cả vạt áo mình… Ngày hôm sau, anh chị em chúng tôi về chùa Phước Điền thăm thầy Chơn Trí, lại được nghe nhiều câu chuyện vui và hay do thầy Chơn Trí kể, đi kèm theo từ “bí mật”. Chúng tôi cảm thấy rất biết ơn khi được nghe những câu chuyện dễ thương về tình huynh đệ của mấy mươi năm về trước.
Sum họp
26 tháng 10 năm 2018, Thầy về đến Việt Nam. 28 tháng 10, Thầy về đến Tổ đình Từ Hiếu. Chúng tôi thỉnh Thầy xuống xe. Thầy chào đại chúng và ra dấu cho thị giả đẩy xe đi tiếp đến cổng tam quan chùa Tổ. Thầy chắp tay chào chùa Tổ. Tăng ni và Phật tử cư sĩ đứng hai hàng dài. Thầy ra hiệu dừng lại, ra hiệu cho mọi người dạt ra hai bên để Thầy có thể nhìn thấy toàn bộ cổng tam quan. Chúng tôi đứng đó, bên cạnh Thầy, và nhận ra hình bóng sư chú Phùng Xuân mỗi lần từ Phật học đường Báo Quốc hay đi đâu xa được về thăm chùa, thăm Sư Cố Thanh Quý, thăm huynh đệ, thường dừng lại một lúc trước cổng tam quan, trước hồ bán nguyệt để ngắm nhìn khung cảnh thanh bình ở đây, để thấm sâu hơn cảm giác về nhà của một người xuất sĩ trẻ. Lúc đó, tôi cảm nghe trong khung cảnh đông đảo ấy chỉ còn lại bóng dáng một sư chú trẻ với ngôi cổ tự rêu phong mà không thêm bất kỳ một âm thanh rộn ràng hay một hình ảnh náo nhiệt nào khác nữa. Dừng lại một lúc lâu, Thầy ra dấu đi tiếp. Đoàn thị giả đưa Thầy vào cửa giữa cổng tam quan. Thầy chạm bàn tay một cách cẩn trọng vào bức tường sạm màu theo thời gian. Chúng tôi nhìn bàn tay Thầy. Chúng tôi nhìn thấy dấu ấn linh thiêng của sự trở về.
Chùa Tổ đẹp quá. Thầy dành nhiều thời gian để thăm từng ngõ ngách.
Có cây khế hơn trăm tuổi cho trái vàng cam, yên lắng giữa sân chùa. Cây khế gắn bó với Thầy từ lúc Thầy mới vào chùa và trong lúc thị giả cho Sư Cố Thanh Quý. Cây khế ấy đã đi vào trong văn thơ của Thầy. “Ở chùa Từ Quang có một thầy tên là Trọng Ân, một ông thầy tu thật hiền, thật đẹp. Thầy này là thi sĩ, thơ của thầy được nhiều cô nhiều chú học thuộc lòng. Bút hiệu của thầy là Trúc Diệp, nghĩa là lá tre. Tết nào thầy cũng lên chùa tổ thăm Sư Ông và thăm chú Phùng Xuân. Tết nào thầy cũng được Sư Ông ban cho một trái khế. Khế được đặt trên một cái đĩa trắng. Có cả một con dao con. Dao chỉ để gọt khía và cắt hai đầu. Rồi ta xẻ khế ra thành từng múi, cầm tay mà ăn. Không bao giờ cầm dao cắt khế thành từng lát hình ngôi sao. Khi thầy Trúc Diệp ra về, chú Phùng Xuân thường hái thêm một trái khế thứ hai để thầy ấy mang về Từ Quang, chưng trong phòng “cho đẹp”. Trái khế này thường được hái kèm theo vài chiếc lá khế”. (Con nghé nhỏ đuổi chạy mặt trời – Thầy Làng Mai). Thầy rất thích ngồi yên ngắm nhìn cây khế nơi chiếc bể cạn có hòn non bộ xưa rêu phủ ấy. Những chiếc lá khế thỉnh thoảng chao nghiêng rơi xuống. Trái khế vàng cam lủng lẳng trên cây. Thầy đưa tay chạm vào một vài trái khế thấp và áp vào má. Có những hôm trời mưa lất phất, Thầy vẫn muốn dạo quanh dưới cội khế già. Thầy đang dạo chơi cùng Sư Cố, cũng như chúng tôi đang dạo chơi cùng Thầy.
Và rồi thế nào Thầy cũng ra dấu để chúng tôi mở cửa đưa Thầy vào thăm liêu Sư Cố. Chiếc giường Sư Cố thường nằm nghỉ vẫn còn đó. Thầy rất thích thị giả đưa Thầy đến sát chiếc giường mộc mạc ấy để Thầy được nhìn thật lâu và thật kỹ. Thầy chắp tay chào như Sư Cố vẫn ngồi đó mỗi lần Thầy có dịp về thăm. Bức chân dung Sư Cố mà Thầy cúng dường mấy mươi năm trước được thờ ngay giữa liêu. Thầy dừng lại lâu hơn, ngắm nhìn bức chân dung và đưa tay ra hiệu cho các học trò của mình cùng chiêm ngưỡng. Có những lúc Thầy kính cẩn chắp tay thật lâu trước bức chân dung ấy.
Ngày xưa, lúc Thầy ra nước ngoài vận động hoà bình cho quê hương, Thầy hứa với Sư Cố rằng Thầy đi rồi Thầy sẽ trở về. Sư Cố, sau đó, vẫn thường hay chống chiếc gậy nhìn xa xa và hỏi thị giả đứng hầu bên cạnh: “Thầy (Nhất Hạnh) về chưa?”. Một câu hỏi của tình thương và tin cậy mà Sư Cố dành cho người học trò của mình. Năm Sư Cố tịch, Thầy vẫn còn ở nước ngoài, không về được. Thầy buồn lắm. Thầy không được gặp Sư Cố bằng xương bằng thịt thêm một lần nào nữa cả. Câu hỏi: “Thầy (Nhất Hạnh) về chưa?” vẫn còn đó. Và hôm nay, mỗi lần nhìn thấy hình bóng Thầy ngồi yên hay chắp tay trước chiếc đơn trong liêu hay trước chân dung Sư Cố, tôi đã nghe trong gió chiều tiếng Thầy thưa với Sư Cố: “Bạch Thầy, con đã về rồi, con đã thực sự trở về rồi”. Thầy trở về như một người đệ tử xứng đáng với chư Tổ, với Sư Cố. Thầy về chùa Tổ là Thầy về nhà, về với nghĩa tình, Thầy về với từng bàn tay chạm nhẹ vào cổng tam quan, chạm nhẹ vào chiếc giường đơn sơ Sư Cố nghỉ, chạm nhẹ vào những chiếc đơn xưa từng là chỗ ngồi chơi hay chỗ nằm ngủ của sư chú Phùng Xuân và huynh đệ một thời, chạm vào từng chiếc lá khế ký ức… Cổng tam quan ấy, chiếc giường ấy, chiếc đơn ấy, chiếc lá khế ấy, từ xa xưa cho đến hôm nay, đã có mặt và chứng kiến cho một tấm lòng thủy chung, ân nghĩa. Bài học của sự trở về ấy, Thầy đang dạy cho chúng tôi từ những biểu hiện giản đơn nhất.
Tôi nhớ, lúc tôi xin phép Thầy tôi để rời Kim Sơn qua Làng Mai thực tập, tôi đã viết cho Thầy tôi những bức thư, tôi cũng đã nói: “Con đi rồi con sẽ trở về”. Lúc viết câu đó, tôi chưa được nghe câu chuyện cảm động tình nghĩa thầy trò giữa Sư Cố Thanh Quý và Thầy.
Ngày về
Về Huế lần này, tôi dành thời gian để về Kim Sơn thăm Thầy tôi, người đã cho tôi xuất gia và tác thành đời sống xuất sĩ. Đây là lần đầu tiên sau khi đi tu, có mặt tại Huế Huế mà tôi lại không ở Kim Sơn. Mỗi lần nghĩ đến điều này, tôi biết ơn Thầy tôi lắm. Thầy đã chấp nhận, đã âm thầm yểm trợ cho lý tưởng và con đường của tôi với tư cách một vị thầy dành cho một đệ tử. Núi đồi Kim Sơn bao giờ cũng đẹp, cũng an tịnh. Mùa này, hoa nứt nẻ tím nở thành từng cụm quanh vườn. Mấy chậu mai trong sân chùa đã bắt đầu nở. Tôi thích đứng ở một góc nào đó tại Kim Sơn ngắm mưa. Tôi thích đi dạo ra trước tháp thầy Trí Thuyên. Đọc Việt Nam Phật giáo sử luận hay Bây giờ mới thấy, hoặc trong những bài pháp thoại, tôi biết Thầy và thầy Trí Thuyên là bạn thân của nhau. Năm 2016, tôi may mắn được làm thị giả cho Thầy. Khi nhận tin, tôi khá bất ngờ, lúc đó đang trong thời điểm làm biếng mười ngày sau khóa tu xuất sĩ. Và còn bất ngờ hơn khi tôi khám phá ra, ngày tôi bắt đầu làm thị giả cho Thầy, thì ở Kim Sơn, đại chúng cũng đang tưởng niệm 69 năm ngày thầy Trí Thuyên viên tịch. Tôi có viết trong sổ công phu rằng: “Kính bạch thầy Trí Thuyên, trong thâm sâu tâm linh con biết rằng, thầy đã gọi con lên làm thị giả cho Sư Ông. Con tin rằng Thầy của con hiện tại ở Kim Sơn cũng sẽ cảm thấy rất vui lòng vì điều này”.
Những chậu mai vàng ở Kim Sơn cũng bắt đầu nở. Nhìn lại những tháng năm đi qua cuộc đời, tôi lại nhớ đến câu thơ của thầy Hoàng Bá: “Bất thị nhất phiên hàn triệt cốt. Tranh đắc mai hoa phốc tị hương”.
Thầy Nguyên Tịnh
(Sư cô Hiến Nghiêm, người Anh, xuất gia trong gia đình Cây Lê vào năm 2008 và hiện đang là một giáo thọ trẻ của Làng Mai. Dưới đây là những cảm nhận của sư cô về chuyến thăm chùa Tổ lần đầu tiên kể từ khi xuất gia. Bài viết được Ban biên tập chuyển ngữ từ tiếng Anh.)
Khi nhân viên xuất nhập cảnh mời con bước qua một bên ở sân bay Tân Sơn Nhất, trong một tích tắc tim con như ngừng đập. Visa của con có một sự khác biệt.
Từ sau sự kiện tu viện Bát Nhã năm 2008, đây là lần đầu tiên các vị xuất sĩ Tây phương trở lại Việt Nam. Chúng con đã ý thức rằng có thể đây sẽ là một chuyến đi không dễ dàng. Mười bảy năm trước lần đầu tiên tìm thấy Làng Mai, con đã luôn khao khát được về thăm chùa Tổ. Thế nhưng, con cũng đã sẵn sàng để chấp nhận rằng có lẽ “nhân duyên chưa đầy đủ”.
Con lập tức nhớ lại lần con tiếp xúc với nhân viên sở di trú của Mỹ năm 2011. Đó là lần đầu tiên con nhập cảnh vào Mỹ dưới hình thức một tu sĩ Phật giáo để tham gia chuyến hoằng pháp của Thầy và đại chúng. Nhân viên sở di trú đã mời con bước qua một bên, giữ con trong một cái phòng cùng với “những người di trú bất hợp pháp” khác trong vòng một giờ đồng hồ, và sau đó thẩm vấn con một cách gay gắt. “Tại sao cô…. như thế này?” – một nhân viên tra hỏi con trong khi chỉ vào cái đầu cạo trọc và áo người tu của con. “Đó không phải là truyền thống của cô!” – một người khác la thêm. Con đã trở về với hơi thở trước khi trả lời những câu hỏi giận dữ của họ. Nhưng thay vì làm cho tình huống trở nên lắng dịu, hành động đó của con đã làm cho họ giận dữ thêm.
Lần này, kinh nghiệm ở Việt Nam của con khác hơn. Sau một giờ đồng hồ kiên nhẫn chờ, con đi tới quầy xuất nhập cảnh và cố gắng sử dụng vốn tiếng Việt ít ỏi của con – con xưng “con” và gọi người nhân viên đó là “chú”. Con cười. Và con thở. Năm phút sau, người nhân viên đó đưa lại hộ chiếu cho con, đã được đóng dấu nhập cảnh.
Cuối cùng khi ra khỏi sân bay Huế, chúng con đã gặp những nụ cười và những bàn tay vẫy chào rất vui vẻ của quý sư cô Diệu Trạm và quý thầy Từ Hiếu. Thật đặc biệt đối với chúng con khi lần đầu tiên có một chuyến đi về chùa Tổ, về cội nguồn của truyền thống Làng Mai. Đó gần như là một chuyến hành hương. Chúng con đi “ngược về nguồn”, nơi đã nuôi dưỡng trái tim và tâm linh của Thầy. Về với mảnh đất nơi Thầy đã tiếp xúc với sự giản dị, tĩnh mặc, ấm áp tình huynh đệ và một liên hệ thầy trò rất thân thương. Nơi mà tiếng tụng kinh trầm hùng sáng tối đã nuôi dưỡng và tạo cảm hứng cho cuộc đời xuất gia của Thầy.
Phái đoàn Tây phương chúng con gồm có năm vị: sư cô Diệu Nghiêm (người Hà Lan gốc Ái Nhĩ Lan), thầy Pháp Hải (người Mỹ gốc Úc), sư cô Bi Nghiêm (người Đức), thầy Pháp Xả (người Hà Lan), thầy Ngộ Không (người Croatia gốc Đức) và sư chú Trời Minh Dung, một sa di trẻ người Mỹ – đây cũng là chuyến đi đầu tiên của sư chú ra khỏi nước Mỹ. Đi cùng đoàn còn có thầy Pháp Hội, sư cô Hương Nghiêm, sư cô Đắc Nghiêm từ Lộc Uyển, sư cô Thanh Ý từ Làng Mai, và thầy Pháp Khôi, thầy Pháp Không từ Bích Nham. Chúng con cùng về để đảnh lễ và dâng lên Thầy tấm lòng kính thương của chúng con.
Không có từ ngữ nào diễn tả được cảm giác khi lần đầu tiên chúng con nhìn thấy cổng tam quan, cây cối và hồ Bán Nguyệt tuyệt đẹp ở chùa Tổ. Một sự im lặng thâm sâu, ngập tràn khi chúng con trở về với hơi thở yên lắng trong mỗi bước chân. Trái tim con tràn đầy niềm biết ơn. Con biết ơn mỗi hòn đá xanh rêu, mỗi ngôi tháp cổ, mỗi con đường quanh co nơi đây. Thầy được làm bởi những yếu tố không phải là Thầy, và chùa Tổ là một trong những yếu tố này.
Ngay lập tức rất sâu trong lòng con dâng lên một cảm giác được trở về nhà. Nhưng con tự hỏi, làm sao mình lại có cảm giác về nhà ở một nơi cách nơi mình sinh ra gần nửa vòng trái đất? Con nhớ lần đầu tiên đến Làng Mai con cũng đã có cảm giác đó và con rất ngạc nhiên với chính mình. Cái cảm giác cuối cùng mình đã đáp xuống, đã tìm thấy một chỗ để gối đầu, và một cộng đồng gồm các bậc thiện tri thức để nương tựa và học hỏi.
Con nhớ Thầy từng kể câu chuyện lên núi tìm ông đạo khi Thầy còn nhỏ và Thầy đã tìm thấy giếng nước thơm trong. Thầy thường hỏi thính chúng trong Pháp đường: “Quý vị đã tìm thấy ông đạo của quý vị chưa? Quý vị đã tìm thấy giếng nước thơm trong của quý vị chưa? Ông đạo có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức. Vấn đề ở đây là quý vị có nhận diện ra được ông hay không?”.
Về thăm chùa Tổ lần đầu tiên, vậy mà con lại có cảm giác thân quen với nơi này quá đỗi, như thể con đang bước đi trong một giấc mơ, một cái gì đó mà con đã từng cảm nhận nhưng chưa bao giờ được gặp. Con vô cùng biết ơn hơi thở đã giúp con nhớ rằng giờ phút này rất thật. Ngỡ bây giờ là bao giờ, rõ ràng trước mắt còn ngờ chiêm bao. Sư cô Chân Không đã thỉnh chuông cho chúng con lạy, trán chúng con tiếp xúc với nền đá lạnh: chúng con đã về và đang tiếp xúc với chư Tổ. Chúng con được thăm liêu của Sư Cố Thanh Quý Chân Thật – Bổn sư của Thầy và lạy trước bàn thờ Sư Cố. Bước ra khỏi cánh cửa mà ngày xưa Thầy đã được Sư Cố dạy cách đóng cửa, chúng con qua Tổ đường để lạy Tổ và ngắm nhìn cây khế già đang trĩu quả giữa sân.
Con có cảm giác như con đã được “ăn quả” Từ Hiếu từ khi mới đến Làng Mai mười bảy năm về trước. Con đã được nuôi dưỡng bởi tất cả các pháp thực tập mà Thầy đã tiếp nhận từ nơi đây như phép thực tập thiền hành, các bài thi kệ nhật dụng, rửa chén và đóng cửa trong chánh niệm. Có lẽ chính vì được “ăn quả” của chùa Tổ trong một thời gian dài nên con mới có cảm giác thân thuộc khi cuối cùng được gặp cái cây đã cho những quả ngon ngọt ấy. Đi thiền hành dọc các hồ Bán Nguyệt, Sao Mai, Sao Hôm và trên những con đường mòn quanh chùa Tổ, con có thể cảm nhận được bầu không khí – mặt trời trí tuệ và mưa pháp – đã nuôi dưỡng cái cây ấy.
Thầy Trời Ngộ Không và sư chú Trời Minh Dung được chia làm việc, quét dọn các tháp trước ngày giỗ Tổ. Thầy Ngộ Không nói là thầy chưa bao giờ có nhiều niềm vui và hứng thú như vậy khi được cầm chổi và quét dọn tháp Tổ! Đây là mảnh đất thiêng mà ai cũng có thể cảm nhận được. Tất cả các đệ tử xuất gia người Tây phương của Thầy đều mơ ước có cơ hội được về và tiếp xúc với mảnh đất này.
Chúng con đã có cơ hội được đảnh lễ và ngồi chơi với Thầy trong im lặng. Thầy đưa tay ra nắm tay hoặc xoa đầu chúng con. Quý thầy dâng quà lên Thầy. Sư cô Bi Nghiêm đã được đẩy xe lăn khi Thầy đi dạo ra ngoài; Sư cô Diệu Nghiêm thì được mời đọc cho Thầy nghe một đoạn trong sách của Thầy.
Nhưng dường như Thầy không chỉ ở đó trong thất của Thầy. Thầy có mặt khắp nơi – trong tiếng chim hót, trong cỏ cây, trong không khí thật đẹp và nhẹ nhàng nơi này. Trong khóa tu 21 ngày năm 2014, Thầy dạy rằng Thầy có ít nhất là tám thân và nhục thân này chỉ là một trong những thân của Thầy mà thôi. Thầy chỉ về hướng Thầy và nói: “Khi quý vị nhìn vào hướng này và nói rằng đây là Thầy, điều đó không hoàn toàn đúng. Đây chỉ là một phần rất nhỏ của Thầy. Quý vị phải có khả năng thấy được thân tiếp nối của Thầy ngay bây giờ”.
Vậy là câu “Thầy đang ở đâu?” trở thành câu thần chú của con. Con giống như một đứa trẻ đang chơi trò chơi trốn tìm. Con cố gắng nhớ rằng nơi chắc chắn nhất để tìm thấy Thầy, thực tế, không phải ở trong thất của Thầy ở đằng kia. Nhưng thật không dễ để có được con mắt vô tướng khi mình ở rất gần, và cũng một phần mình biết chắc Thầy đang ở ngay kia trong thất của Thầy. Dù sao đó cũng là một sự rèn luyện hữu ích: thực tập để thấy Thầy đang có mặt ở khắp mọi nơi. Thầy có đó – bất cứ nơi nào có Pháp thân của Thầy – như khi thầy Pháp Hải, sư cô Diệu Nghiêm và sư cô Hỷ Nghiêm cho vấn đáp trong ngày quán niệm cho hơn 300 cư sĩ, trong đó có một số người từ Hà Nội vào. Thầy có đó ngay trong những câu trả lời sâu sắc và sáng tỏ của quý thầy, quý sư cô. Thầy có đó trong Tăng thân của Thầy, trong các sư em trẻ đang ngồi ngay bên cạnh con, vui tươi và đầy cảm hứng như dòng suối mát trong. Và Thầy có đó trong thân-ngoại-thân của Thầy, trong những cuốn sách và những bức thư pháp của Thầy ở Băng Cốc, và trong các gia đình nơi mà những cuốn sách và thư pháp này có mặt, thậm chí có thể trong các nhà tù, hay nơi mà những bài pháp thoại của Thầy qua YouTube đang được lắng nghe. Thầy còn có mặt trong thân tiếp nối của Thầy, trong “văn hóa tâm linh” mà Thầy đã tạo dựng nên từ gốc rễ tâm linh Việt Nam. Thân tiếp nối ấy vẫn đang tiếp tục lớn lên, phát triển mỗi ngày khi tăng thân ngày càng khám phá ra nhiều cách thức mới để những pháp môn thực tập có thể ứng dụng được khắp nơi trên thế giới.
Nhưng có lẽ món quà sâu sắc nhất đối với chúng con khi ở Huế là cảm nhận về thân vũ trụ của Thầy đang hiện diện ở nơi đây, trong cỏ cây, sỏi đá, trong những cơn mưa và tiếng chim hót, trong tổ tiên đất đai, tổ tiên tâm linh của Thầy và trong mảnh đất cố đô xinh đẹp. Con cảm thấy vô cùng biết ơn sự can đảm và lòng từ bi của Thầy khi quyết định trở về Huế. Nhờ đó mà tất cả chúng con – những đệ tử của Thầy – dù sinh ra ở đâu trên hành tinh này, cũng có một nơi để trở về, để được gần gũi và tiếp xúc sâu hơn với cội nguồn tâm linh.
Chân Hiến Nghiêm