Hạnh phúc chốn già lam

Một nhân duyên lớn đã cho chúng tôi cơ hội sống nơi chốn già lam yên tịnh gần khu rừng rậm trong những ngày cuối năm 2018. Chỉ vỏn vẹn có bốn ngày và thêm ngày đầu của năm 2019 nhưng đã cho chúng tôi biết bao niềm an lạc, hạnh phúc không gì có thể diễn tả hết!

Vâng, mời bạn dừng chân nơi tu viện Suối Tuệ ở Verdelot. Bạn sẽ được cảm nhận những giây phút tuyệt vời thanh thoát với cảnh vật và con người nơi đây.

Mỗi buổi sớm mai, khi đất trời còn mờ tối, bình minh chưa ló dạng, tiếng gà gáy vang vọng quanh đây cho ta cảm giác đang ở vùng quê xa thành phố. Từng bước chân nhẹ nhàng đi vào thiền đường với những chiếc bồ đoàn, tọa cụ đã được sắp sẵn dọc theo hai bên thiền đường. Quý thầy đã chu đáo dậy sớm đốt củi trong hai lò sưởi để khi đại chúng vào thì không gian đã ấm áp, thanh tịnh.

Rồi tiếng chuông thong thả ngân nga, giọng hô canh trầm ấm vang vọng, thức tỉnh mọi người lắng lòng quán chiếu:

Pháp thân tỏa sáng buổi ban mai
Tĩnh tọa lòng an miệng mỉm cười
Ngày mới nguyện đi trong tỉnh thức
Mặt trời trí tuệ rạng muôn nơi.
Ngưỡng mong đại chúng tinh tấn nhiếp tâm thiền tập
Nam mô Bụt Thích Ca Mâu Ni (3 lần)

Năng lượng thiền tập hùng hậu của quý thầy tỏa ra nguồn an lạc, vững mạnh trong đại chúng. Chúng tôi ngồi thiền mà như uống từng giọt bình an vào lòng, hạnh phúc và ấm áp vô cùng!

Nhìn ngọn lửa đang bừng cháy trong lò sưởi, tôi nhớ đến sức mạnh lửa từ bi của Hòa thượng Thích Quảng Đức và chị Nhất Chi Mai – hai vị Bồ tát đã hy sinh thân mình bởi đại nguyện cho đạo pháp và quê hương. Chị Nhất Chi Mai là người chị cả của dòng tu Tiếp hiện mà chúng tôi may mắn được quen biết, tiếp xúc gần gũi và học hỏi về nhân cách và tình thương bao la mà chị đã dấn thân phụng sự cho tha nhân.

Trong những buổi thiền tọa, chúng tôi đã quán chiếu thật sâu về vô thường, về thành trụ hoại không của sự vật để khi bước ra ngoài thì lòng nhẹ nhàng, khinh an đến lạ!

Những buổi điểm tâm, ăn trưa và chiều trong im lặng cũng đem đến cho đại chúng niềm hạnh phúc khôn tả. Mặc dù tu viện Suối Tuệ mới mở cửa chỉ hai tháng thôi mà thiền sinh từ khắp nơi đã ghi danh về tu tập khá đông. Tất cả đều là người nước ngoài: một thiền sinh người Hồng Kông còn rất trẻ, đi du học ở Anh quốc cũng tìm đến đây để tập tu trong mười ngày; một cặp vợ chồng trẻ ở Bruxelles, hai cặp vợ chồng khác ở Pháp và rất nhiều thiền sinh đều cùng về trải nghiệm nếp sống chánh niệm. Niềm hạnh phúc, an lạc hiện rõ trên nét mặt và nụ cười tươi vui của mọi người.

Những buổi pháp thoại hoặc pháp đàm thật ấm cúng trong không khí gia đình đã đem nhiều niềm vui lợi lạc đến cho các thiền sinh tham dự. Có lẽ điều thú vị tuyệt vời nhất là được đi những bước chân bình an ngang qua khu rừng rậm bên cạnh tu viện trong những giờ thiền hành. Bắt đầu từ con đường nhỏ tráng nhựa dài hun hút lên cao trông rất nên thơ, lại thêm một ít sương mù phảng phất làm tăng vẻ bí ẩn cho buổi đầu khám phá thiên nhiên và cảnh vật nơi đây. Đẹp ngỡ ngàng khiến đại chúng lặng người chiêm ngưỡng!

Con hãy in những dấu ấn bình an lên đất Mẹ bằng những bước chân thiền hành thật thảnh thơi, an lạc – lời Thầy chỉ dạy như văng vẳng bên tai. Ý thức chánh niệm rõ ràng cho chúng tôi biết mình đã có quá nhiều phước báu để được cùng tăng thân sống và tu tập nơi chốn già lam tĩnh mặc này. Chúng tôi thưởng thức từng bước chân đi nhẹ nhàng, uống từng giọt thời gian đang chầm chậm trôi qua trong không gian mờ ảo giữa sương mù bao phủ.

Đi hết con đường nhỏ tráng nhựa là đến khu rừng rậm với những cây cao sừng sững vừa nên thơ vừa hùng vĩ. Tất cả lá cây đều đã rơi xuống trên mặt đất, song vì có nhiều nước mưa cùng sương thấm ướt nên không còn xào xạc khi có người bước qua. Có lẽ đây là mùa đông, rừng cây trơ lá nên vắng tiếng chim líu lo. Thỉnh thoảng một con sóc nhỏ dễ thương chạy băng qua đường rồi mất hút vào một hốc, rãnh đâu đó.

Dường như cái không gian tĩnh mặc, an bình này chỉ dành riêng cho tăng đoàn và các thiền sinh về đây tu tập mà thôi. Suốt quãng đường thiền hành không một bóng người lạ đi qua, càng đi sâu lại rẽ vào một ngõ ngách nhỏ hẹp chỉ vừa hai người đi, đôi khi gập ghềnh, trơn trượt nên càng phải cẩn thận chánh niệm trong từng bước chân.

Thỉnh thoảng tiếng chuông nhà thờ từ xa vang vọng ngân nga trong thinh không yên vắng. Mọi người dừng bước im lặng thở, ngắm nhìn vẻ đẹp hùng tráng của thiên nhiên nơi đây. Cuối buổi thiền hành, khi bước vào cánh cửa phía sau tu viện, đại chúng bất chợt gặp hai chú dê trắng toát rất đẹp của nhà hàng xóm đang đến sát hàng rào xin ăn lá cây. Mọi người dừng lại ngắm nhìn và hái lá cây trên cành tặng hai chú bạn hàng xóm mới quen. Hạnh phúc dâng tràn trong ánh mắt mọi người. Đại chúng vừa thưởng thức một buổi thiền hành thật tuyệt vời thú vị!

Thời gian thấm thoát thoi đưa, thoắt đã ba ngày trôi qua chúng tôi được may mắn trải nghiệm cuộc sống thanh tịnh chốn thiền môn! Ngày cuối của năm dương lịch 2018, sinh hoạt buổi sáng vẫn bình thường như mọi ngày, song sau bữa ăn trưa thời khóa có thay đổi để chuẩn bị đón năm mới vào tối Giao thừa.

Ngay từ buổi ăn trưa đã có lác đác vài khuôn mặt thiền sinh mới khiến chúng tôi tự hỏi tu viện Suối Tuệ chỉ mới mở cửa có hai tháng thôi mà mọi người đã biết tìm về hay sao? Nhưng đến 6 giờ chiều thì sự ngạc nhiên đã lên đến cực độ vì thiền sinh đến đông quá! Họ còn chu đáo mang đến thức ăn, bánh, trái, hoa quả để đóng góp cho buổi ăn chiều và tối nay.

Sau buổi ăn chiều là chương trình văn nghệ đột xuất cuối năm do chính các thiền sinh Tây phương và quý thầy đóng góp. Chúng tôi hơi mệt nên nghỉ dưỡng sức trong phòng đợi đến giờ làm lễ đón năm mới.

Tuy đến trước giờ quy định 15 phút, song thiền đường đã chật kín và mọi người đang thực tập Năm cái lạy. Đại chúng nghỉ năm phút để chuẩn bị cho lễ Đón giao thừa.

Quý thầy, quý sư cô đã y áo chỉnh tề ngồi hai hàng đầu tiên, tiếp theo là thiền sinh. Không khí buổi lễ thật trang nghiêm, thanh tịnh và cảm động. Ba tiếng chuông thong thả ngân nga để rồi giọng hô canh trầm hùng, ấm áp truyền cảm như len vào từng tế bào của cơ thể mỗi người. Chúng tôi ngồi yên, khép nhẹ đôi mắt để lắng lòng theo từng lời kệ và tận hưởng niềm an lạc thâm sâu. Sau phần nghi lễ cho đêm giao thừa, chúng tôi đến với nhau chúc mừng năm mới và cùng nhau thực tập thiền ôm thật xúc động chân tình, biết bao ánh mắt thương yêu, trìu mến trao nhau.

Chúng tôi về phòng nghỉ ngơi lúc 1 giờ 30 phút sáng của ngày đầu năm 2019 với cảm giác ngập tràn khinh an, hạnh phúc. Dư âm buổi lễ khiến cho lòng lâng lâng nhẹ nhàng, thanh thoát…

Vừa trải qua một biến cố nghiệt ngã trong đời, tưởng phải đắm chìm trong khổ đau phiền muộn lâu dài, chúng tôi may mắn vượt thoát khá nhanh nhờ biết nương tựa tăng thân và kiên trì thực tập chánh pháp.

Lời tâm nguyện lành thiện của bậc thầy khả kính đã khắc sâu vào tâm trí, nhè nhẹ đưa chúng tôi vào giấc ngủ êm ngon: “Lạy Bụt! Con xin chịu trách nhiệm về cuộc đời con và con nguyện sẽ không sợ hãi khổ đau khi biết rằng chính những khổ đau ấy làm cho con trưởng thành, vững chãi. Cuộc sống có ý nghĩa là cuộc sống luôn ý thức được rằng khổ đau của nhân loại là một hiện thực. Chẳng bao giờ con dám quên hiện thực ấy bằng cách đắm chìm trong nỗi khổ đau nhỏ bé của riêng con…”

Sáng mai thức dậy sẽ lại thấy cuộc sống luôn an bình, hạnh phúc nơi chốn già lam!

Một ngày đông năm Mậu Tuất

Chân Bảo Nguyện

(Viết để luôn nhớ về anh Chân Linh Nhĩ, người bạn đạo tri kỷ đã đi xa)

Con trai chỉ khóc khi thái hành

 

Từ hồi còn nhỏ, tôi vẫn thường có tư tưởng làm con trai thì phải cứng rắn, không thể để cảm xúc chi phối mình. Mỗi khi có chuyện buồn, xem đoạn phim hoặc đọc một mẩu chuyện cảm động, tôi cố gắng không để cảm xúc biểu hiện ra bên ngoài. Tôi chẳng bao giờ khóc trước mặt người khác. Tôi thường nói vui: “Con trai chỉ khóc khi thái hành!”.

Tôi tới Làng Mai lần đầu tiên trong một khóa tu mùa Hè. Ngay từ khi mới bước chân tới Làng, khung cảnh yên bình cùng hình ảnh quý thầy, quý sư cô rất nhẹ nhàng tươi vui đã để lại một ấn tượng sâu đậm trong lòng tôi. Bỏ lại thành phố nhộn nhịp và hối hả sau lưng, gác lại công việc và những lo toan thường ngày, tôi về Làng để thực tập làm cho thân tâm mình lắng dịu xuống. Cũng như bao thiền sinh khác, tôi được hướng dẫn thực tập thiền ngồi, thiền đi, thực tập trở về lắng nghe và chăm sóc thân thể mình; nhận diện, ôm ấp những cảm thọ và cảm xúc trong tâm.

Trên giá sách nơi phòng đọc có cuốn hồi ký của Sư cô Chân Không kể về những năm tháng theo Thầy, tôi mượn đọc với một niềm hứng thú. Khi đọc đến đoạn kể về sự hy sinh của cô Nhất Chi Mai, dù trước đó nhiều lần tôi đã đọc được chuyện này trong sách của Thầy, nhưng lần này thật lạ, lòng tôi dâng lên một niềm xúc động khó tả. Tự dưng tôi trào nước mắt, rồi khóc ngon lành như một đứa trẻ. Cũng “may” lúc đó tôi đang ở ngoài vườn một mình và là giờ nghỉ trưa nên xung quanh không có ai. Tôi đặt cuốn sách xuống, bước chầm chậm vào phòng, vừa đi vừa lắng nghe cảm xúc của mình.

Tôi lấy khăn lau nước mắt, uống một ly nước rồi ra vườn đọc sách tiếp. Mới đọc thêm được vài dòng, nước mắt tôi lại trào ra. Tôi buông sách xuống. Cảm nhận những làn gió nhẹ đến xoa dịu mình. Một lúc sau tôi cầm sách lên, đọc được một đoạn nước mắt lại tiếp tục tuôn trào, và lần này thì tôi dừng không đọc thêm nữa.

Suốt buổi chiều hôm đó, tôi đã rất ngạc nhiên về bản thân mình. Tôi nhận thấy sau những ngày ở Làng, trái tim tôi đã mở ra rất nhiều. Chính khi sống cùng những người xuất gia và các bạn thiền sinh, tôi đã tiếp nhận được năng lượng an lành từ sự thực tập chung của mọi người. Năng lượng đó đã giúp tôi chuyển hóa. Tôi có cơ hội được tiếp xúc với những mầu nhiệm của cuộc sống, những điều tưởng chừng đơn giản mà bấy lâu vì những bận rộn hối hả, tôi đã quên đi. Buổi sáng sớm, tôi được thong thả hít thở bầu không khí trong lành, ngắm nhìn những tia nắng đầu ngày chiếu xuyên qua tán cây làm lung linh những giọt sương đêm còn vương trên lá. Tôi được tha hồ dạo bước trên cỏ non, thưởng thức những bông hoa nhỏ xíu mà nhìn kỹ mới thấy bao nét khéo léo của tạo hóa.

Bên cạnh đó, những người xung quanh lại đều là những người tuy đến từ nhiều vùng đất khác nhau, nhưng cùng về đây để sống, thực tập những điều thiện và lành. Tất cả những thứ đó đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi, làm lớn thêm những niềm vui và hạnh phúc, đồng thời cũng chạm tới những điều rất sâu kín trong lòng tôi. Rồi đến lúc đó, một câu chuyện cảm động, dù là chuyện tôi đã đọc nhiều lần từ trước, cũng có khả năng làm rung động trái tim tôi. Và tôi bật khóc, khóc với những giọt nước mắt của một trái tim đã biết cảm và biết hiểu nhiều hơn.

Sau đó tôi quyết định đi xuất gia, hòa chung nhịp sống của gia đình áo nâu. Ở Làng Mai, mỗi dịp Tết đến, có một truyền thống là quý thầy và quý sư cô thực tập lạy nhau ngày đầu năm. Hai năm đầu tiên của đời xuất sĩ, tôi đều “bận” nấu ăn cho đại chúng đúng ngày đầu năm mới, nên chỉ biết đến sự thực tập ấy qua sách vở mà chưa được tham dự trực tiếp. Đến năm thứ ba, khi được theo Thầy về Thái Lan, tôi mới có cơ hội thực tập. Trong không khí trang nghiêm của buổi sáng ngày mồng một Tết, khi các vị cư sĩ đã được mời ra khỏi thiền đường, quý thầy đứng chắp tay, cùng nhau quán tưởng quý sư cô đang ngồi trước mặt mình, có vị như mẹ của mình, có vị như chị của mình, có vị như em gái của mình, cũng có vị như con gái của mình. Tôi bỗng xúc động và nước mắt tuôn trào. Lần này tôi ý thức rõ ràng đây là những giọt nước mắt hạnh phúc nên tôi cứ cho mình khóc thật thoải mái mà không cần phải ngăn lại.

Một sự thực tập thật đẹp và mầu nhiệm. Tôi để nước mắt mình rơi, dù lúc đó có ai trông thấy tôi đang khóc thì tôi cũng không hề xấu hổ. Ở nhà, tôi có mẹ và em gái, cho đến thời điểm ấy, đó là những người phụ nữ thân thương nhất trong cuộc đời tôi. Tôi thấy rất rõ những sư cô đang ngồi trước mặt mình, cũng thân thương như mẹ và em gái tôi vậy. Tôi lạy xuống, đầu sát đất và nguyện rằng từ giờ phút này trở đi, tôi sẽ luôn luôn coi những sư cô ấy như những người thân ruột thịt của mình, chỉ có sự thương yêu chăm sóc mà không để bất kỳ thứ tình cảm vướng mắc nào xen vào.

Sau khi quý thầy thực tập lạy xong đến lượt quý sư cô. Tôi ngồi xuống chắp tay để nhận cái lạy của quý sư cô. Nước mắt tôi vẫn không ngừng chảy khi nghe đọc lời quán tưởng của quý sư cô, nguyện cũng coi những người xuất gia nam chúng tôi như những người thân yêu ruột thịt. Hơn ba mươi năm trong cuộc đời, chắc hẳn đây là ngày Tết hạnh phúc nhất đối với tôi.

Cuối mùa an cư năm trước, chúng tôi gồm một nhóm quý thầy, quý sư cô người miền Bắc được tăng thân cho phép cùng nhau về thăm nhà. Chúng tôi thuê một chiếc xe lớn chở cả đoàn lần lượt về thăm nhà mỗi người. Dù trước khi xuất gia, chúng tôi hầu như không ai biết ai, đến khi về sống chung dưới mái nhà tăng thân, chúng tôi coi nhau như anh chị em ruột thịt. Nay trở về thăm quê, tới mỗi gia đình, chúng tôi coi đó như gia đình của mình, coi bố mẹ của người đó như bố mẹ của mình. Qua mỗi chặng của hành trình, chúng tôi đã có rất nhiều niềm vui và hạnh phúc.

Những giây phút xúc động nhất trong chuyến đi là những khi chúng tôi được cùng với toàn thể gia đình ngồi quây quần bên nhau, có hoa, có trà, có bánh. Trong không khí đoàn tụ đầm ấm của đại gia đình, những người con xuất gia nay trở về kết nối lại với người thân. Hầu hết anh chị em chúng tôi khi từ giã gia đình đi tu đều để lại sự hụt hẫng rất lớn trong lòng những người thân nên đó là cơ hội để chúng tôi chia sẻ những niềm vui và hạnh phúc của đời sống xuất gia. Những người con bày tỏ tình thương và lòng biết ơn đối với bậc sinh thành, những lời từ sâu thẳm trong tim:

– Thưa bố mẹ, con rất biết ơn công lao bố mẹ đã sinh ra và nuôi dưỡng con nên người. Con biết những ngày trước, khi con còn ở nhà với bố mẹ, vì mải mê chuyện nọ chuyện kia mà nhiều lúc con đã quên đi sự có mặt của bố mẹ. Nhưng con luôn luôn thương yêu và kính trọng bố mẹ. Con rất hạnh phúc vì bố mẹ vẫn còn khỏe mạnh bên con. Dù con đã gây ra rất nhiều điều khiến bố mẹ phiền lòng nhưng con biết bố mẹ vẫn luôn luôn thương yêu con. Con rất tự hào khi được làm con của bố mẹ.

Sau đó bố và con, mẹ và con, cùng chắp tay xá nhau, nhìn nhau thật kỹ rồi ôm nhau vào lòng.

Những người xung quanh đều xúc động. Tất cả đều lắng xuống trong bầu không khí đầy sự cảm thông và thương yêu. Nhiều người mắt đỏ hoe, đưa tay áo lên thấm giọt lệ. Tôi cũng ngồi đó, nước mắt rưng rưng. Trong giây phút ấy, những giọt nước mắt thật đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi rất nhiều.

Trong đời sống xuất gia, tôi đã nhiều lần xúc động đến… trào nước mắt như vậy. Tôi đã tìm được một con đường thật đẹp cho cuộc đời mình, lại càng thấy may mắn hơn vì được đi chung với một tăng thân thật lành và thật đẹp. Cùng với mỗi người trong tăng thân, bằng sự thương yêu và nâng đỡ lẫn nhau, tôi có cơ hội được thực tập những pháp môn thật mầu nhiệm, giúp chuyển hóa những điều sâu kín trong tâm và đem lại hạnh phúc cho bản thân, mà nhiều khi hạnh phúc lại được biểu hiện bằng… những giọt nước mắt!

Tôi nhận ra một điều, mình vẫn là một người con trai “mạnh mẽ” và “cứng rắn”, nhưng không phải qua cái sự “không thèm khóc”. Ngược lại, chính những giọt nước mắt của niềm vui, của hạnh phúc lại là chất liệu nuôi dưỡng tâm hồn tôi. Nhờ sự nuôi dưỡng đó mà trái tim tôi được mở ra, để tôi có thêm sức mạnh tinh thần mà vượt qua những khó khăn trong cuộc sống; cũng để tôi có thể cảm thông, thương yêu nhiều hơn mà dâng tặng niềm vui và hạnh phúc cho cuộc đời.

Chân Trời Đại Đồng

Nguồn sáng tinh khôi

Ngày 9 tháng 9 năm 2018, tại tu viện Lộc Uyển có chín vị xuất sĩ trẻ đã biểu hiện trong tăng thân Làng Mai. Các sư chú, sư cô thuộc gia đình xuất gia cây Xô Thơm, loài cây bụi rất phổ biến ở vùng núi đồi quanh Lộc Uyển. Đây là gia đình đông nhất – và cũng là lần đầu tiên có các sư cô – được làm lễ xuất gia tại tu viện Lộc Uyển từ trước đến nay. Sau đây là chia sẻ của một số thành viên trong gia đình cây Xô Thơm về niềm hạnh phúc được đi trên đường vui cùng tăng thân. Bài viết được BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh.

Chia sẻ của sư chú Chân Trời Minh Lượng:

Tu viện Lộc Uyển nằm ở vùng Nam Cali nắng ấm nên vào tháng Giêng đã thấy hoa bắt đầu bung cánh. Chúng con, chín sư chú và sư cô trẻ, cũng như những đóa hồng, tulip và hoa cúc dại, còn rất tươi và tràn đầy sức sống sau ngày hé nụ. Tất cả là nhờ vào sự thương yêu và che chở của gia đình xuất sĩ áo nâu. Bản thân con đang có nhiều cảm hứng và được khích lệ trên con đường tu tập và phụng sự – con đường của các vị Bồ tát. Dù còn là một sư chú trẻ, con vẫn có rất nhiều cơ hội được góp phần giúp người bớt khổ, phụng sự đại chúng và chia sẻ pháp môn với thiền sinh. Con biết chỉ cần mặc chiếc áo của người xuất sĩ, con đã có cơ hội để hiến tặng sự vững chãi và giúp đỡ cho người khác bằng công phu tu tập hàng ngày của mình qua những bước chân thiền hành, hơi thở chánh niệm và sự thực tập lắng nghe. Con thấy mình thật may mắn được đi trên con đường này trong khi rất nhiều người trên thế giới đang đau khổ. Họ không có một người thầy tâm linh hướng dẫn, hay được một tăng thân nâng đỡ như con đang có.

Hiện tại, những người thân thiết nhất của con trong đại chúng là gia đình cây Xô Thơm, gồm những sư anh, sư em đang đồng hành cùng con trong hành trình khám phá này. Con rất hạnh phúc được thưa với đại chúng là gia đình chúng con rất thương yêu, tôn trọng và tin cậy lẫn nhau. Chúng con đang cùng bước trên một con đường mới trong cuộc đời, và con nghĩ rằng với một gia đình như vậy, chúng con sẽ dễ lớn lên, sống thuận hòa trong tăng thân hơn. Đa số chúng con là người Mỹ, sinh ra và lớn lên ở đây. Vì vậy, nếp sống tâm linh mà chúng con đã chọn thực ra cũng rất mới mẻ với tổ tiên của chúng con. Khi chúng con tìm ra những gốc rễ mới của mình: Việt Nam và Thiền tông, chúng con bắt đầu con đường chuyển hóa, không những cho chính mình, mà còn cho không biết bao thế hệ tổ tiên với những giá trị và niềm tin của liệt vị. Khi đang học hỏi một cái gì mới, không thể nào tránh khỏi cái thấy của ta không đủ sáng tỏ và lòng tin của ta chưa đủ mạnh. Nhưng nhờ vào sự kiên nhẫn và năng lượng tỉnh thức tập thể, cái hiểu và cái thấy của chúng con sẽ càng lúc càng lớn lên để rồi chúng con có thể hiến tặng cho tăng thân.

Được đi trên con đường vui này cùng với đại chúng, con và các anh chị em trong gia đình cây Xô Thơm vô cùng biết ơn. Con xin kính chúc tất cả mọi người có nhiều sức khỏe và hạnh phúc trên con đường tu tập. Con mong ước sẽ có cơ hội kết nối nhiều hơn với mọi người trong tăng thân.

Chia sẻ của sư chú Chân Trời Minh An:

Thức dậy sáng nay, con mỉm cười. Sự sống quả là một món quà quý giá! Ngày hôm nay con xin phát đại nguyện sống cuộc đời của người xuất sĩ, không chỉ trong kiếp này mà trong muôn ngàn kiếp về sau. Để con có thể làm lợi lạc cho tất cả mọi loài mọi người và để con có thể có được niềm hạnh phúc chân thực.

Thật đẹp sao chiếc áo của người tu! Tiện lợi, thoải mái và thanh thoát! Mỗi buổi sáng khi khoác lên mình chiếc áo nhật bình, con thấy trân quý vô cùng. Như một chiến sĩ trung kiên, con mặc áo với tâm khiêm cung và kính trọng. Thật may mắn biết bao được làm một giọt nước trong dòng chảy bình an này.

Đi lên thiền đường trước bình minh, mỗi bước chân là một phép lạ! Con đi chậm rãi, thảnh thơi và đến thiền đường khá sớm. Con tận hưởng sự tĩnh lặng và cảm nhận không khí mát lạnh trên khuôn mặt mình. Mảnh trăng lưỡi liềm đang êm ả khuất dần sau triền núi phía tây.

Vào thiền đường, thấy chân tâm

Một ngồi xuống dứt trầm luân.

Ngồi xuống bồ đoàn, con để sự chú tâm của con nơi hơi thở vào ra, và an trú trong sự tỉnh thức toàn vẹn. Con chưa là một vị Bụt toàn phần (full-time Buddha) nên tâm con thỉnh thoảng bị tán loạn. Mỗi lần như vậy, con đều trở về với giây phút hiện tại, mỉm cười với từng bước tiến của mình trên con đường tự do này.

Ngày mới nguyện đi trong tỉnh thức.

Con chỉ là một sư chú mới xuất gia, đang còn trong buổi bình minh của cuộc đời xuất sĩ. Những ngày sắp tới đang trải dài trước mắt con với tất cả những dễ dàng và thử thách, những thành công và lầm lỗi. Ngày hôm nay, con xin phát nguyện rằng dù có bất cứ điều gì xảy ra, con nguyện sẽ nương theo hơi thở, nuôi lớn tâm hành xả (upeksha) trong con mỗi phút giây. Noi theo gương sáng của Bụt, bước trên con đường của hiểu và thương, con tin rằng mỗi ngày của con sẽ thật tuyệt vời với sự nâng đỡ của tăng thân yêu quý.

Con xin cảm ơn tăng thân đã nâng đỡ cho chúng con – những sư em nhỏ của gia đình Áo nâu. Chúng con biết không có tăng thân thì cũng không có chúng con.

Con gửi tặng đại chúng những nụ cười và lời chúc an vui trên từng bước đường thực tập.

Chia sẻ của sư chú Chân Trời Minh Thắng:

Con ý thức rằng những người Tây phương tiếp xúc với pháp Bụt và phát tâm xuất gia vẫn còn là chuyện hiếm có. Con không bao giờ dám nghĩ Tam bảo có đó cho chúng con nương tựa là chuyện đương nhiên, và con không bao giờ dám quên cả một dòng chảy của những thế hệ tổ tiên đi trước đã gìn giữ và tiếp nối nếp sống tuyệt vời này. Là một xuất sĩ, con biết con có một phần trách nhiệm và vinh dự trong việc giúp cho đạo Bụt lan rộng ở Tây phương. Con cũng biết là con chỉ có thể đóng trọn vai trò này khi nào con có thể thực tập hài hòa với tổ tiên tâm linh của mình.

Cũng như phần lớn các anh chị em trong cây Xô Thơm, con chưa có cơ duyên được trực tiếp gặp Thầy. Tuy vậy, khi nhìn sâu vào tự thân và vào gia đình xuất gia của mình, con dễ dàng thấy được sự có mặt của Thầy và của cả tăng thân. Con biết nếu không có Thầy và tăng thân thì không ai trong chúng con có phước báu được đi trên con đường này. Với mỗi bước chân, mỗi hơi thở, con thấy Thầy là một phần hiện hữu của con và Thầy đang mỉm cười. Mỗi khi con thấy các anh chị em cây Xô Thơm đi đứng hoặc chấp tác trong chánh niệm, con đồng thời cũng thấy Thầy. Dù Thầy không hiện diện ở Lộc Uyển bằng hình tướng thân thuộc, Thầy vẫn đang có mặt và sẽ tiếp tục có mặt trong rất nhiều thế hệ xuất sĩ tiếp nối trong tương lai, như gia đình chúng con.

Con rất vui khi thấy nhiều thanh niên, thiếu nữ hiện đang thực tập tại Lộc Uyển có mong muốn trở thành thế hệ xuất sĩ trẻ kế tiếp. Con hạnh phúc và sẽ không ngạc nhiên nếu có nhiều hạt giống lành đã, đang, sẽ tiếp tục được tưới tẩm và nảy lộc đơm hoa như chín hạt giống trong gia đình cây Xô Thơm của chúng con.

Con cảm thấy mình may mắn và có phước đức khi được là thành viên của một tăng thân có nhiều tình thương và sự nâng đỡ. Con cảm ơn đại chúng đã đón gia đình cây Xô Thơm vào lòng.

Chia sẻ của sư chú Chân Trời Minh Nhân:

Trước đây con sống một cuộc sống vật chất tương đối thoải mái, dễ chịu. Nhưng rồi con nhận ra con cần phải tìm ý nghĩa cho cuộc đời mình.

Con thấy mình may mắn vì có nhiều người thân ở bên cạnh trong ngày lễ xuất gia của con. Dù không phải là Phật tử và có cuộc sống đầy bận rộn nhưng gia đình và bạn bè của con vẫn sắp xếp thời gian để đến dự buổi lễ xuất gia và chứng kiến ngày ra đời của chín vị tân xuất sĩ.

Buổi lễ xuất gia diễn ra thật đẹp, không thể nào diễn bày bằng ngôn ngữ được. Sau lễ xuất gia, chúng con – những sư chú, sư cô mới – có cơ hội được chia sẻ với toàn thể đại chúng về niềm tri ân vô bờ bến của chúng con. Con nhớ lại, trong khi chia sẻ, một cái thấy đã đi lên trong con và cái thấy này càng ngày càng trở nên mạnh mẽ. Con thấy rằng giây phút được xuống tóc chính là sự hội tụ của tất cả những gì mà con đã trải nghiệm trong đời. Mỗi một người, mỗi sự tiếp xúc, mỗi niềm vui hoặc nỗi đau, tất cả những gì con được trao truyền và tiếp nhận cũng như những gì con tiêu thụ, tốt hay không tốt, chính là nhân duyên cho con có mặt nơi đây, tiếp nhận mười giới, chiếc y vàng và bình bát của người xuất sĩ. Nếu mọi việc chỉ khác đi một chút trong quãng đời 23 năm của con trước khi xuất gia thì có thể câu chuyện của con sẽ hoàn toàn đổi khác.

Con chia sẻ điều đó với đại chúng và nói thêm rằng đây chính là sự biểu hiện của tất cả những hoàn cảnh trong đời đã gây cảm hứng và giúp con trưởng thành, nhất là sự ấm áp và lòng tốt không bờ bến mà con nhận được từ biết bao nhiêu người. Đây không chỉ là lễ xuất gia của con, mà hơn thế nữa, đó chính là ngày mà tình thương yêu và sự hiểu biết của tất cả mọi người được “xuất gia”. Con chỉ đơn giản là một con thuyền chuyên chở, để những món quà ấy của vũ trụ được tiếp tục nuôi dưỡng và hiến tặng khắp muôn phương, từ ngày này qua ngày khác. Hay ít nhất là con sẽ cố gắng làm như vậy.

Con thật lòng mong mỏi mình sẽ nhớ mãi và nuôi dưỡng cái thấy này, để con có thể bước trên con đường tu tập với sự khinh an. Biết rằng mình thật may mắn nhận được sự nâng đỡ hiếm có này. Mong rằng con sẽ luôn thực tập hết lòng để góp phần giảm bớt những khổ đau mà chúng ta đang phải đương đầu trong thời đại có nhiều thử thách này.

Gia đình xuất gia cây Xô Thơm

Từng hơi thở nhẹ chở yêu thương

 

Nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập Thiền đường Hơi Thở Nhẹ, Ban biên tập đã có buổi ngồi chơi và trò chuyện với Sư cô Giác Nghiêm, người Pháp, Trụ trì Thiền đường Hơi Thở nhẹ. Bài được BBT chuyển ngữ từ tiếng Pháp.

BBT: Thưa Sư cô, chúng con rất mong được nghe Sư cô chia sẻ về hành trình tâm linh của Sư cô.

Giác Nghiêm (GN) sinh ra trong một gia đình Công giáo thuần thành. Ngay từ khi còn nằm trong bụng mẹ, GN đã được nuôi dưỡng trong chiếc nôi tâm linh Thiên chúa giáo. Tuổi thơ của GN bắt đầu ở đất nước Ma-rốc, nơi ba nền tôn giáo lớn – Hồi giáo, Do thái giáo và Công giáo – chung sống hài hòa.

Ngay từ khi còn nhỏ, GN đã có một đời sống tâm linh phong phú. Mọi người trong gia đình đều cầu nguyện trước khi ăn, trước khi đi ngủ. Mỗi khi mắc lỗi, chúng tôi đều xin Chúa tha thứ. Khi còn rất nhỏ, mới sáu tuổi, GN đã được nhận lễ Ban thánh thể đầu tiên. Ông bà và cha mẹ đã dạy anh chị em chúng tôi một cách nhìn thật đẹp và sâu sắc rằng gia đình chúng tôi đang sống ở nơi không phải là quê hương của mình nên bằng mọi cách chúng tôi phải học hỏi, tìm hiểu cho thấu đáo từ tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật cho tới các món ăn của người dân bản xứ để có thể chung sống hòa bình với họ. Bố mẹ GN học nói tiếng Ma-rốc. GN cũng học nói tiếng Ma-rốc ngay từ khi còn nhỏ nhưng vì rời khỏi đây lúc 13 tuổi nên GN nói chưa giỏi lắm.

Mẹ GN có cái nhìn rất cởi mở về các tôn giáo khác nhau. Mẹ chỉ dạy cho GN rằng mỗi tôn giáo có nơi hành đạo riêng, mang những tên gọi riêng biệt với những biểu tượng truyền thống khác nhau. Nơi nhà thờ Hồi giáo mình sẽ thấy hình tượng ngôi sao và trăng lưỡi liềm. Trong nhà thờ Do thái giáo luôn có biểu tượng cây chúc đài bảy nhánh. Và cây thánh giá sẽ có mặt trong khắp các nhà thờ Công giáo. Mẹ cũng dạy GN rằng mỗi tôn giáo có sách kinh riêng: Kinh Tân ước và Cựu ước của Công Giáo, kinh Cô-ran cho người Hồi giáo, kinh Torah cho những người theo đạo Do Thái. Ở mỗi giáo đường, tên gọi của các vị thầy hướng dẫn làm lễ hay giảng đạo cũng khác nhau: thầy “imam” trong đạo Hồi, thầy “rabbin” trong đạo Do thái và các linh mục trong đạo Công giáo. Đối với GN, tuy có những nét khác biệt về hình thức nhưng sự tương đồng giữa các nền tôn giáo rất hiển nhiên.

Mẹ cũng dạy GN rằng những tín hữu của bất cứ một truyền thống tôn giáo nào đến cầu nguyện ở giáo đường mà giữ giới luật trong truyền thống của họ, có lòng thương yêu mọi người, biết đón tiếp, giúp đỡ người khác kể cả kẻ thù của mình… thì mình đều có thể nói rằng họ đang cầu nguyện Chúa.

GN đã được nuôi dưỡng và lớn lên trong một thế giới tâm linh nơi các tôn giáo đều có sự gắn kết, không có cách biệt và cũng không có mâu thuẫn hay chiến tranh tôn giáo. Mẹ GN tìm hiểu kinh Tân ước, Cựu ước, Kinh Cô-ran, kinh Torah và thường đàm đạo với những bậc trí giả về tôn giáo. GN đã được sinh ra vào thời điểm và ở một nơi đặc biệt như vậy đấy!

BBT: Thưa Sư cô, từ khi còn nhỏ, có bao giờ Sư cô nghĩ mình sẽ trở thành một tu sĩ không?

Khi GN khoảng tám chín tuổi, cả nhà GN tới nhà thờ Thánh Phan-xi-co (Francois d’Assise) ở Casablanca. Bên trong nhà thờ, đằng sau những chấn song có rèm che, GN nghe thấy những giọng hát hay lắm, giống như tiếng ca của những thiên thần. GN hỏi mẹ: “Mẹ ơi, ai hát vậy?”. Mẹ trả lời: “Đó là các sơ dòng thánh Clara (Claire d’Assise)”. “Các sơ làm gì hả mẹ?”, GN hỏi tiếp. Mẹ trả lời: “Các sơ hiến tặng cuộc đời cho Chúa”.

Thế là GN nói với mẹ: “Con cũng muốn hiến đời mình cho Chúa, con muốn được giống các sơ, nhưng con sẽ múa để dâng Chúa”. “Không được con ạ”, mẹ đã dứt khoát trả lời GN như vậy. Mới chỉ 8 hay 9 tuổi thì không thể đi tu được, hơn nữa ý tưởng nhảy múa cho Chúa quả thật rất xa lạ với truyền thống Thiên chúa giáo!

Hình ảnh các vị thánh luôn gần gũi trong tuổi thơ của GN. GN được nghe kể nhiều về cuộc đời các vị thánh: thánh Phan-xi-co, nữ thánh Clara và nữ thánh Tê-rê-sa (Thérèse d’Avila). Trong trái tim trẻ thơ của mình, GN thấy mình giống như được sống cùng Chúa và Đức Mẹ Maria. Bà của GN rất ngoan đạo. Vào dịp lễ Phục Sinh hay những ngày Thứ năm Tuần thánh, bà đưa GN đi dự lễ tưởng niệm những “Chặng đường Thánh giá” nơi người ta đã thấy Chúa tử đạo. Đời sống tâm linh của GN rất sâu và phong phú. Dường như đời sống đó đã có mặt trước đó lâu rồi và tiếp tục biểu hiện nơi GN. GN tiếp tục mang nó, từ thời thơ ấu cho tới bây giờ, nó đã ngấm vào da thịt GN rồi.

Ước mong sâu sắc trở thành một nữ tu trở lại trong GN khi GN được sống với các sơ dòng tu Thánh Charles ở vùng Charly, gần thành phố Lyon nơi gia đình GN sống khi quay lại Pháp. Năm đó, GN 14 tuổi. Tiếng chuông nhà thờ vang lên mỗi buổi sáng, các sơ bước đi trong im lặng dọc theo hành lang trong tu viện… Những hình ảnh đó khiến GN say mê. GN thực sự ước mong được trở thành một nữ tu sĩ Công giáo. Nhưng Mẹ nói với GN: “Con được sinh ra để làm mẹ chứ không phải để làm một nữ tu”. Khi còn nhỏ, trẻ em rất tin vào những gì cha mẹ nói.

Sau này, GN kết hôn với một người đàn ông không có liên hệ gì nhiều với những thực tập tâm linh “chính thống”. Anh ấy là một người hào phóng, giàu có về đời sống tinh thần nhưng không bao giờ đi lễ nhà thờ hay đọc sách về bất cứ một truyền thống tôn giáo nào.

Khi làm lễ cưới, GN nói với anh: “Anh phải biết rằng trong em có hai con người. Anh đang kết hôn với cùng một lúc hai người: một nữ tu sĩ đích thực và một người phụ nữ bình thường, một người có thể làm mẹ, cho anh những đứa con, làm người bạn đời của anh và luôn có mặt bên anh”. Và để không gây xáo trộn trong gia đình, GN đã không đi lễ nhà thờ nữa nhưng vẫn tiếp tục giữ đời sống tâm linh rất mạnh mẽ trong nội tâm dù không thể hiện nó ra bên ngoài.

Mong ước làm một nữ tu chưa bao giờ hết trong GN, đó là một nửa con người của GN. Trước khi được thực sự biểu hiện ra, phần này dường như không rõ nét nhưng thực ra nó đã luôn luôn có mặt trong GN từ khi còn là cô bé gái tám tuổi với ước mong làm tu sĩ dòng Thánh Charles.

 

BBT: Xin Sư cô kể cho chúng con về cuộc gặp mặt đầu tiên của Sư cô với Thầy. Chắc hẳn cuộc hội ngộ đó đã để lại những ấn tượng sâu đậm trong Sư cô?

GN có may mắn được biết bác sĩ châm cứu Đỗ Trọng Lễ. Bác sĩ cũng là người chăm sóc sức khỏe cho Thầy. Một lần GN nói với bác sĩ rằng GN đang tìm một người thầy. Bác sĩ trả lời GN: Trong hai tuần nữa, thầy của tôi sẽ tới đây giảng dạy bằng tiếng Pháp. Thế là GN nhanh chóng sắp xếp mọi chuyện trong nhà để có thể tham dự khóa tu hai ngày cuối tuần. Lần gặp mặt đầu tiên với Thầy diễn ra vào buổi sáng. Bác sĩ Lễ gõ cửa phòng GN, mời GN ra dùng bữa điểm tâm với Thầy. GN là một phụ nữ Pháp, chưa biết một chút gì về đạo Bụt, về thiền tập. Bước vào phòng, GN nhìn thấy một thầy tu ngồi trên ghế. Với GN, hình ảnh này không có gì xa lạ vì GN có dịp tiếp xúc nhiều với các cha xứ. Vậy nên, rất tự nhiên, GN bước nhanh về phía Thầy. Bác sĩ Lễ muốn cản GN lại, có lẽ bác sĩ ngại GN sẽ làm gì đó không phải phép với một vị tu sĩ Phật giáo. Thầy đã ra hiệu cho bác sĩ dừng lại. Thầy cảm được rằng nên để cho GN được tự nhiên lại gần Thầy. Nếu Thầy không làm như vậy, chắc chắn cuộc gặp mặt sẽ không để lại ấn tượng gì trong GN. GN lại gần Thầy và nói: “Xin chào ông! Ông biết không, ông đã dạy cho tôi biết quét nhà trong hạnh phúc!”. Thầy cười thật đẹp, trả lời GN: “Hay quá! Hay quá! Bây giờ chúng ta sẽ cùng dùng sáng”. Rồi Thầy giải thích với GN rằng bữa điểm tâm sẽ diễn ra trong yên lặng. Đó là lần tiếp xúc đầu tiên với Thầy. Nhưng cuộc gặp gỡ thực sự giữa thầy và trò diễn ra trong buổi pháp thoại. Thầy cầm một tờ giấy lên, nhìn nó hồi lâu rồi nói rằng tờ giấy này chứa đựng cả vũ trụ bên trong. Khi Thầy bắt đầu kể ra những gì làm nên tờ giấy, GN nhìn Thầy chăm chú rồi tự nói với mình “Cuối cùng mình đã tìm thấy! Người mà mình tìm kiếm khắp nơi đây rồi. Đây chính là thầy mình”.

Khi nghe Thầy giảng, GN biết mình đã “phải lòng” với Pháp Bụt! GN không thể nào giải thích được niềm kính yêu vô bờ này với Pháp. Khi nghe những bài pháp thoại của GN, chắc đại chúng cũng thấy được niềm tin yêu ấy như được rút ra từ ruột gan GN.

GN không biết cảm xúc của mình sẽ như thế nào nếu ngày hôm ấy Thầy giảng về một chủ đề khác, ví dụ như về Tâm lý học đạo Bụt. Chắc hẳn GN sẽ say mê nghe Thầy giảng lắm nhưng sẽ không thể có sự chấn động như GN đã trải qua khi nghe Thầy giảng về vũ trụ chứa đựng trong một tờ giấy. Bởi vì GN đã đi qua một kinh nghiệm tâm linh tượng tự khi lên 14 tuổi. Lúc ấy GN cảm được rất rõ rằng toàn thể vũ trụ có trong mình. Đó là một trải nghiệm rất đặc biệt.

Sau bài pháp thoại, GN được tận hưởng thêm những khoảnh khắc vô cùng tuyệt vời trong buổi thiền trà. GN thấy mình được hiệp thông với Chúa. Buổi thiền trà trở thành buổi lễ Hiệp thông giữa Chúa với các tông đồ của Ngài và GN được tham dự vào buổi lễ ấy.

Cũng trong dịp này, GN được gặp Sư cô Chân Không khi Sư cô chưa có hình tướng là người xuất gia như bây giờ. Lúc ấy, Sư cô còn có mái tóc dài rất đẹp.

BBT: Đối với một người tu thì tâm thương yêu và phụng sự (hay còn gọi là tâm bồ đề) là một yếu tố vô cùng quan trọng. Ở Sư cô, chúng con thấy điều này được biểu hiện rất tự nhiên mà không cần phải cố gắng…

Hạt giống đó đã được tưới tẩm nơi GN từ thời thơ ấu ở Ma-rốc. Gia đình GN sống ở Marrakech khi GN còn nhỏ lắm, chỉ bốn hay năm tuổi. Dù là người Pháp chính gốc nhưng gia đình GN không sống ở những nơi dành cho người Tây phương, mà ở khu phố của người Ả rập có tên gọi là Medina, tức là khu phố cổ ở các nước Ả-rập. GN thích lắm, nơi ấy rất đẹp. Có một ngày, cả gia đình ra ngoài chơi. GN còn nhớ như in hôm ấy. Vừa bước ra cửa, GN nhìn thấy một em nhỏ mắt dính lại vì đầy ghèn, nước mũi chảy dài, lại có ruồi bu xung quanh. Em đang khóc. GN nói với mẹ: “Mẹ ơi, mình phải làm gì để giúp em ấy chứ, tại sao em ấy lại như vậy?”. Ông bà và bố mẹ GN rất hay giúp đỡ người khác. Khi bước ra khỏi cửa, GN đã nhận được câu trả lời như thế này: “Con thấy không? Con đã được sinh ra phía bên này cánh cửa, nếu con sinh ra ở phía bên kia cánh cửa, có thể con sẽ giống như em bé đó”. GN bị chấn động mạnh khi nghe mẹ nói. Phía bên này hay bên kia cánh cửa quyết định sự khác biệt giữa GN và em bé sao?

Hình ảnh những người ăn xin tàn tật không tay, không chân, không thể đứng lên được mà chỉ có thể bò là một phần những gì GN thường gặp trong tuổi thơ của mình. Nhìn những cảnh tượng dữ dội ấy, GN nói với bà của mình: “Bà ơi, mình phải làm cho họ đứng dậy được, không thể để họ bò dưới đất như thế, mình không thể để như vậy được!”. Tâm bồ đề trong GN có lẽ bắt đầu nảy nở từ thời điểm đó. Nó cũng phần nào giải thích sự lựa chọn nghề nghiệp sau này của GN. GN thích làm bác sĩ nhưng cuối cùng lại chọn ngành vật lý trị liệu. Công việc này đem lại cho GN rất nhiều hạnh phúc, bởi vì GN đã giúp người ta đứng lên được. Vậy là GN đã thực hiện được ước mơ ngày còn bé.

GN từng làm việc ở khoa Hồi sức, khoa Phẫu thuật ổ bụng ở Lyon trong vòng tám chín năm, sau đó chuyển đến sống ở vùng St Etienne. Ở đây, GN làm việc trong khoa bệnh dành cho người cao tuổi, bên những người sắp lìa đời, những người bị liệt hay bị bệnh Parkinson. GN đã luôn yêu thích những gì mình làm. Mỗi sáng thức dậy, GN luôn ý thức rằng mình có gia đình, có công việc, có những người bệnh để yêu thương. Ngày mới của GN thường bắt đầu trong niềm vui với ý nghĩ: “Nào, mình đi thôi!”.

Khi gặp Thầy, GN đã đem sự thực tập thiền hành vào bệnh viện. GN đem thiền tập tới giường mỗi bệnh nhân để chia sẻ với họ cách làm vơi nỗi buồn, vượt qua cảm giác cô đơn, hàn gắn những vết thương trong gia đình bằng sự thực tập. Những kinh nghiệm đó thật đẹp! Tới một hôm, ông trưởng khoa gọi GN đến và nói: “Tôi thực sự không biết là cô đã làm những gì nhưng tôi ‘bật đèn xanh’ cho cô bởi vì tôi đã nhìn thấy kết quả từ những gì cô làm”. Những gì GN đã làm giúp cải thiện tình trạng của bệnh nhân nơi bệnh viện chính là sự thiền tập. Từ khi ấy, GN viết thư báo cáo với Thầy những gì GN đã thực tập, cách GN đưa thiền tập vào đời sống của mình. GN cũng viết một bản tóm tắt những gì GN thực hành cho vị trưởng khoa biết, vì ông ấy đã nói rằng ông không biết GN đã làm gì mà!

BBT: Thưa Sư cô, bắt đầu từ khi nào Sư cô quyết định trở thành một người tu theo truyền thống đạo Bụt?

Khi nhân duyên đầy đủ…, như lời Bụt dạy (cười).

GN và người bạn đời ly hôn. Các con của GN đều có đôi lứa và sống tự lập. Lúc ấy, GN tới Làng Mai nương náu để chữa lành nỗi buồn đau và tuyệt vọng trong mình. Ở Làng, những phương pháp thực tập giúp GN đối diện với nỗi khổ của mình. Trong ba tháng ở đây, những tổn thương trong GN không được chữa lành ngay nhưng cũng chính trong thời điểm này, GN lắng nghe được trong mình tiếng gọi tâm linh tha thiết, mãnh liệt thôi thúc GN hướng về nếp sống xuất gia. Với GN, nó giống như tiếng gọi của Chúa. Ngài cũng đã gọi GN như thế vào lúc GN 8 tuổi và 14 tuổi.

Lúc ấy, GN đang ốm nặng. Nằm im trên chiếc giường của mình ở Làng, GN nghe trong tim tiếng Người nói với GN: “Cuối cùng thì con cũng đã sẵn sàng rồi”. Chồng GN đã ra đi, các con cũng đã lớn, cha mẹ của GN đều ổn, GN có thể bỏ lại công việc. Không có gì cản trở nữa. GN đã không thể sẵn sàng lúc 8 tuổi hay 14 tuổi và trong nhiều năm tháng sau đó nhưng bây giờ GN đã tự do. GN trả lời Người: “Con xin vâng lời Người!”. Đó là một nguyện ước vô cùng sâu sắc, và thêm vào đó tăng thân đã đáp ứng được chính xác những gì GN cần để sống cuộc đời phụng sự.

BBT: Điều gì ở Thầy mà Sư cô muốn tiếp nối nhất? Nếu được, xin Sư cô chia sẻ cho chúng con một kỷ niệm với Thầy.

Điều mà GN muốn tiếp nối nhất từ Thầy, đó là tình thương vô điều kiện và sự thấu hiểu. Tiếp đến là lòng kiên nhẫn.

Hôm đó, vào cuối ngày, GN cùng hai sư cô lên Sơn Cốc thăm Thầy và giúp dọn dẹp Sơn Cốc. GN bước vào phòng ăn, ánh sáng mờ nhạt từ chiếc bóng đèn hắt lên chiếc bồn rửa chén bát nằm ở góc phòng, phía bên trái. Khung cảnh toát lên vẻ gì đó rất đỗi giản dị, đơn sơ giống như tinh thần của Thánh Phan-xi-co và của Chúa khiến GN cảm thấy rất thoải mái khi có mặt ở đây.

Đang lại gần bồn rửa để bắt đầu rửa chén bát, bỗng nhiên GN phát hiện ra một ly nước, giống như những chiếc ly Thầy hay dùng để uống trà, bên trong có nước ấm. Một cái thìa dính đầy cơm nếp được ngâm trong đó. Hình ảnh này thu hút toàn bộ sự chú ý của GN. Nó có vẻ rất bình thường nhưng lại đặc biệt cuốn hút GN như thể nó chuyên chở một bài học nào đó mà Thấy muốn “dành riêng cho sư cô Giác Nghiêm!”. Đó là suy nghĩ sau này của GN, chứ lúc ấy GN hoàn toàn bị cuốn vào hình ảnh đơn sơ đó, trong đầu không hề có một suy nghĩ nào hết. GN dường như bất động, không quét nhà, không rửa chén bát, mà chỉ quán chiếu “bài học” của Thầy. GN hoàn toàn lắng trong sự quán tưởng. Chỉ có sự tiếp xúc sâu xa, không lời.

Tới một lúc, GN cảm thấy mình đã hiểu được bài học Thầy đang trao truyền và chạm tới được tình thương yêu mà Thầy dành cho các học trò của mình. Những đệ tử còn ngang bướng, chưa ngoan, còn làm khó Thầy giống hệt như những hạt cơm nếp đang dính chặt trên chiếc thìa kia. GN nhận ra lòng kiên nhẫn của Thầy, nhìn thấy được bài học mà Thầy muốn trao gửi: thương yêu và kiên nhẫn chờ đợi. Nước ấm kia, giống như tình thương bao la, sẽ thấm từ từ vào từng hạt cơm bướng bỉnh làm chúng mềm ra và tới một thời điểm nào đó sẽ nhẹ nhàng long ra khỏi chiếc thìa. GN khóc và tiếp tục nhìn. Lúc này, GN không còn thấy chiếc thìa, những hạt cơm hay nước nóng nữa. GN chỉ còn thấy tình thương bao la của Thầy, thấy tình thương ấy đang bao bọc mỗi người trong tăng thân. Lòng yêu thương vô hạn, không thể tả bằng lời ấy thấm vào mỗi đệ tử của Thầy, làm cho họ mềm hơn, hiền ra và dần buông bỏ được những bám víu và chấp chặt của mình. Lặng yên, GN đứng khóc. Thầy bước từ trên gác xuống, đặt tay lên vai GN, Thầy nói: “Sư cô Giác Nghiêm, sư cô sẽ trở thành một vị giáo thọ thực thụ”. GN cũng sẽ làm một người thầy. GN thấy rõ con đường của GN là làm “ly nước ấm” cho các học trò của mình và tất cả những ai quanh mình. GN thực sự mong mình sẽ làm được như bài học – món quà vô giá – mà Thầy đã truyền trao cho GN ngày hôm ấy: bằng tình thương và lòng kiên nhẫn vô hạn, chấp nhận người khác đúng như họ đang là, bởi vì chỉ duy nhất tình thương và sự thấu hiểu mới có thể chuyển hóa được những khổ đau của người đó.

 

 

BBT: Thưa Sư cô, năm nay là năm kỷ niệm Thiền đường Hơi Thở Nhẹ (HTN) tròn mười tuổi (2008 – 2018). Kính xin Sư cô chia sẻ với chúng con về những ngày đầu của HTN và ước mong của Thầy về trung tâm này ?

Năm 1996, khi còn là cư sĩ và sắp trải qua một biến động lớn nhiều khổ đau trong cuộc đời, GN nhận được điện thoại của Sư cô Chân Không. GN được mời tới uống trà với Thầy và Sư cô. Thầy nói với GN: Có một ước mơ mà Thầy tha thiết muốn thực hiện. Đó là một trung tâm thiền tập tại Pháp… Rồi Thầy tả cho GN nghe về trung tâm mơ ước của mình! Thầy đã tả một cách thật chính xác cuộc sống của đại chúng hiện giờ tại HTN mười năm trước khi điều đó thành hiện thực! GN đã hiểu rằng Thầy muốn yểm trợ GN, cho GN thêm lòng can đảm trước một biến cố lớn sắp xảy ra. Thầy đã cho GN một động lực, một cái đích để hướng tới: tìm một địa điểm để biến giấc mơ của Thầy thành hiện thực.

Sau đó, ngày 4 tháng 12 năm 1999, GN trở thành một xuất sĩ của Làng Mai. GN sống ở Làng trong vòng mười năm tính từ thời gian GN đến Làng với dự định đi tu tới khi được nhận truyền đăng. Và rồi, vào một ngày của khóa tu mùa Hè năm 2007 với rất đông thiền sinh tham dự, Thầy tuyên bố rằng chúng ta sẽ có một trung tâm thực tập mới, ở ngoại ô thủ đô Paris, mang tên Thiền đường Hơi Thở Nhẹ và GN sẽ là Sư cô trụ trì của Thiền đường mới này.

Sau mùa An cư kiết đông năm 2007-2008, một xe van chở bảy quý thầy, quý sư cô – Pháp Lượng, Pháp Độ, Pháp Tự, Pháp Tập, Song Nghiêm, Tôn Nghiêm và GN – lên đường đi Paris và tới Hơi Thở Nhẹ lúc 1 giờ 30 sáng ngày 18 tháng 2 năm 2008. Sau đó, có thêm thầy Pháp Khí và thầy Pháp Liệu lên yểm trợ xây dựng trung tâm mới này. Thiền đường HTN tọa lạc tại số 7, đường Belles Vues ở thành phố Noisy-le-Grand. Cũng tại nơi này trước kia có một căn nhà nhỏ, xinh xắn mang tên Thiền đường Hoa Quỳnh. Rất nhiều gia đình người Việt tới đây sinh hoạt để tìm lại gốc rễ văn hóa Việt Nam cũng như để nghe Thầy giảng pháp. Ban đầu tăng thân chỉ toàn người Việt. Trẻ em cũng tới để học tiếng Việt.

Khi thầy Giác Thanh tới sống tại đây, Hoa Quỳnh trở thành một thiền đường yên tĩnh nơi nhiều thiền sinh tới tham vấn để được hướng dẫn tu tập và để được giãi bày những khó khăn của mình. Sau này, vì nhiều lý do khác nhau, căn nhà cũ được phá đi và thay vào đó là ngôi nhà mới, rộng 240m2 với một tầng hầm và khu vườn rộng 3070m2, mang cái tên mới Hơi Thở Nhẹ. Chính nhờ vào tiền cúng dường của một vị cư sĩ, là người bạn lâu năm của Thầy, và tiền bán Phương Vân am – nằm ở ngoại ô Paris nơi nương náu bình an của Thầy trong những năm tháng Thầy sống, làm việc và chia sẻ giáo pháp tại Paris – mà chúng ta đã xây dựng được căn nhà mới này.

Ban đầu, căn nhà không có đồ đạc gì cả, ngoài những bức tường màu xanh nhạt, giống màu hoa tilleul. Ngay từ những ngày đầu, Thầy và Sư cô Chân Không không có ý xin tiền cúng dường của thiền sinh mà chỉ nhận những gì họ tự đóng góp theo tấm lòng của họ. Với riêng GN, quyết định này rất gần với gốc rễ Thiên chúa giáo trong GN. Thánh Phan-xi-co (Francois d’Assise) cũng sống như vậy. Ngài cũng xin ăn trên hè phố, cũng chia sẻ thức ăn nhận được với những người khác hay với chim thú xung quanh. Đôi khi nhận được quá nhiều, Ngài đặt một phần thức ăn lên một tảng đá dễ thấy để những ai cần có thể lấy dùng. Tất cả quý thầy, quý sư cô ở HTN đều đồng lòng với quyết định này.

Lúc ấy trong GN thầm vang lên một khúc hát: “Lạy Đức Chúa, Người là mục tử chăn dắt con, những nơi Người đưa con đến, con sẽ chẳng thiếu thứ gì. Con sẽ được nghỉ ngơi nơi những đồng cỏ xanh mát, được thỏa cơn khát nơi những nguồn nước trong lành của Người. Chúa là mục tử, Người dẫn lối chỉ đường cho con đi, giữa suối mát, cỏ xanh con sẽ chẳng thiếu gì”. Đồng thời, những lời dạy của Bụt cũng vang trong GN: Có bình bát trong tay thì con không còn sợ đói nữa, nếu con thực tập giới luật đầy đủ và giữ nếp sống phạm hạnh. Tín tâm trong GN rất lớn nên quyết định này đến với GN thật dễ dàng. Ban đầu, các vị cư sĩ muốn đóng góp tịnh tài cho Thiền đường mỗi tháng nhưng GN không đồng ý. Đại chúng ở đây chỉ nhận những khoản cúng dường tùy hỷ mỗi khi thiền sinh đến tu học tại HTN. GN không muốn mình có bất cứ một sức ép nào từ chuyện cúng dường này. Và thực tế là đại chúng ở đây chưa bao giờ thiếu thốn một thứ gì. Những đồ đạc, vật dụng trong Thiền đường phần lớn được lấy về từ những hội chợ buông bỏ đồ dùng của thành phố Noisy-le-Grand và từ những đồ còn tốt được bỏ đi trên các vỉa hè.

Nhờ vào tâm bồ đề, vào tình thương trong mỗi anh chị em xuất sĩ, HTN đã trở thành nơi nương tựa bình an cho rất nhiều cư sĩ có hoàn cảnh khó khăn.

BBT: Thưa Sư cô, Sư cô có giấc mơ nào cho HTN trong mười năm tới không?

Với GN, xoa dịu khổ đau của người dân Paris là điều quan trọng nhất. Thành phố Paris sẽ mau chóng phát triển rộng ra để trở thành nơi sinh sống của 11 triệu người. Khi nhìn thiền sinh Paris dồn dập kéo về Thiền đường để có cơ hội thở, tìm lại sự cân bằng và khi thấy số người mà tăng thân phải từ chối vì không đủ chỗ tiếp đón, GN biết rằng mình thực sự phải làm một điều gì đó cho họ. Ước mơ của GN là ở đây sẽ có một trung tâm thiền tập theo mô thức ở Làng Mai, tức là có hai xóm (xóm cho quý thầy và xóm cho quý sư cô) gần nhau – như xóm Thượng và xóm Hạ ở Làng. Như vậy, mình sẽ có đủ chỗ để đón tiếp và chăm sóc các vị thiền sinh đến tu tập với mình. Trong lần ghé thăm Hơi Thở Nhẹ vào năm 2012, Thầy đã trao cho GN ước mơ của Thầy về Hơi Thở Nhẹ trong tương lai. Thầy có nói HTN sẽ thành một Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) ở Paris.

Với GN, Thầy là một vị Bụt, có cái nhìn của một vị Bụt. GN luôn tin tưởng vào cái thấy của Thầy. GN chỉ nghĩ tới HTN trong tương lai cũng sẽ “nhỏ xinh như một cái trứng”. Nhưng Thầy nói với GN: “Các con phải làm như EIAB ở Đức, làm những cuốn sách giới thiệu chương trình sinh hoạt hàng năm của Thiền đường với thông tin về các khóa tu theo chủ đề. HTN sẽ là một Viện Phật học Ứng dụng châu Âu tại Paris”.

Giấc mơ của GN là biến giấc mơ của Thầy thành hiện thực. Thầy mong ước HTN trở thành một EIAB của vùng Paris, vậy GN sẽ cùng tăng thân xuất sĩ và cư sĩ làm cho ước mơ đó được thành hình. Tuy nhiên, GN ý thức rõ rằng ước mơ này không chỉ phụ thuộc vào GN mà vào tất cả mọi người trong tăng thân. GN không lo lắng gì về chuyện này. GN nghĩ khi nhân duyên chín muồi thì ước mơ này sẽ thành hiện thực.

Hiện nay, cùng với quý thầy quý sư cô, GN đang tìm kiếm một địa điểm mới cho HTN, nơi có thể đón được 20 sư cô và khoảng 40 cư sĩ nữ. Trung tâm mới phải đủ rộng rãi, có thiền đường lớn, có không gian xung quanh đáp ứng được nhu yếu tu tập ngày càng tăng của thiền sinh. GN muốn tìm những nơi mang nhiều dấu ấn tâm linh. Các sư cô ở HTN mong có thể tìm được nơi nào đó gần với tu viện mới (Suối Tuệ) ở Verdelot. Không chỉ thiền sinh của vùng Paris mà của các vùng lân cận như Lille, Strasbourg,… thậm chí là ở Bỉ, Thụy Sĩ,… cũng có thể tới. “Chỉ mất hai tiếng để tới đây thôi, rất gần, chúng con sẽ tới dự khóa tu thường xuyên hơn”, đó là lời chia sẻ của một số cư sĩ thân hữu đến từ Bỉ khi tới thăm tu viện Suối Tuệ. Mặt khác, ở đây mọi sinh hoạt đều bằng tiếng Pháp, các bạn thiền sinh người Pháp hoặc nói tiếng Pháp sẽ cảm thấy thoải mái hơn so với EIAB (ở Đức) nơi ngôn ngữ thường dùng là tiếng Đức hoặc tiếng Anh.

BBT: Chúng con vô cùng biết ơn Sư cô đã dành thời gian trò chuyện cùng chúng con.

 

 

Trăng soi lối về

Sư cô Trăng Hiền Tâm, xuất gia trong gia đình cây Dẻ Gai ngày 25 tháng 10 năm 2018, tại Làng Mai – Pháp. Là con một, lớn lên trong một gia đình khá yên ấm tại Hàn Quốc và đang trên đường xây dựng sự nghiệp vững vàng, sư cô đã gặp được con đường tâm linh và phát tâm xuất gia mạnh mẽ. Hiện nay, sư cô đang tu tập ở xóm Mới và là niềm vui cho tất cả mọi người. Dưới đây là những chia sẻ của sư cô về hành trình tâm linh của mình, được Ban biên tập chuyển ngữ từ tiếng Anh.

Tên mới của con là Trăng Hiền Tâm. Nghĩa là vầng trăng của một trái tim hiền. Nhưng thú thật cho đến hai tháng trước đây, con chẳng thích mặt trăng tí nào. Mặt trăng lúc nào cũng cần mặt trời ban cho ánh sáng để phản chiếu lại và luôn luôn chỉ ló dạng vào ban đêm. Vì vậy, con cảm thấy mặt trăng không phải là một nữ anh hùng mà chỉ như một diễn viên đóng vai phụ mà thôi.

Trước đây lúc nào con cũng muốn làm một nữ anh hùng, một người đóng vai chính trong cuộc đời. Con muốn trở thành một người tỏa sáng đến nỗi không ai dám nhìn vào. Con cũng thường ở trên sàn diễn, trong ánh đèn sân khấu và con hy vọng là ai cũng yêu thích con. Khi bạn bè hỏi con: “Mục đích của cuộc đời bạn là gì?”, con luôn trả lời: “Quyền lực và danh tiếng, chắc chắn là vậy rồi!”. Quyền lực và danh vọng chỉ là những hư huyễn, nhưng con đã luôn luôn theo đuổi chúng.

2h30 sáng. Con ngồi trước 12 cái màn hình tivi. Trên bàn làm việc của con là một máy vi tính Macbook đang hiển thị một trang mạng thời sự. Cùng lúc đó con vừa kiểm tra các tin nóng trên Instagram – một trang mạng đăng tải ảnh và video, vừa mở facebook trên iphone, đồng thời với việc mở một cái podcast trên ipad. Con phải uống ba ly cà phê Americano để không ngủ gục. Gương mặt con đầy lo lắng vì con phải tìm những tin tức nóng hổi và hấp dẫn để viết kịch bản cho một chương trình truyền hình trực tuyến ngày mai. Không có tí chánh niệm nào; làm năm, sáu việc cùng một lúc. Đó là cuộc sống hàng ngày của con cho đến mùa xuân năm 2017.

Con yêu thích nghề cầm bút của mình. Con rất thích làm việc cho KBS và SBS – những kênh truyền hình nổi tiếng ở Hàn Quốc. Con làm các phim tài liệu (về con người, thiên nhiên, chính trị), các chương trình thời sự, các chương trình trò chuyện trực tuyến (live talk show), cũng như các chương trình giải trí. Con là đạo diễn, biên tập, viết kịch bản cho phát thanh viên, thậm chí có khi còn làm công việc “nhắc tuồng” khi họ đứng ngoài sân phát hình.

Mỗi ngày con là người tính toán cho một bản hướng dẫn đạo diễn (cue sheet) hoàn hảo, chính xác đến từng phút, từng giây. Và con không ngừng tìm kiếm những tin tức nóng nhất để thu hút khán giả xem truyền hình. Làm thế nào để thu hút một lượng khán giả cao? Làm thế nào để có thể làm một chương trình truyền hình được đánh giá cao nhất? Làm thế nào để lương năm nay cao hơn lương năm ngoái? Làm thế nào để trở thành một người viết kịch bản chính nổi tiếng hơn? Đó là những điều con luôn suy tính trong suốt bảy năm dài.

Con đã ở trên con đường cao tốc của thành công và có nhiều danh vọng. Nhưng một ngày kia, bỗng dưng con nhận ra hình như đang có một cái gì đó không ổn. Lúc nào con cũng tìm kiếm những tin nóng nhất để thu hút một lượng khán giả cao. Vì vậy, đôi khi con phải sơn đỏ những cái màu xanh để làm nó hấp dẫn hơn, hoặc con sáng tạo nên những vỏ bọc hào nhoáng cho các sản phẩm trở thành hấp dẫn qua quảng cáo. Mới đầu con say sưa việc sáng tạo các chương trình, nhưng rồi đến một lúc nào đó, con đã bị mất phương hướng.

Con đang ở đâu vậy? Thình lình ý nghĩ đó làm con giật mình. Sếp giục con làm một phim quảng cáo để đẩy những sản phẩm đáng giá chỉ 1 euro tăng giá trị lên 100 euros. Đó là một sự giả dối và lường gạt. “Đây không phải là cái mà con muốn”. Con quyết định buông công việc, xin nghỉ một thời gian và du lịch sang Philippines. Ở đó, trên đại dương xanh thẳm và trong trẻo, con có thể bơi lặn thỏa thích mà không cần làm gì khác. Khi lặn dưới độ sâu 40 mét, con không cần phải nghe hoặc nghĩ về bất cứ một điều gì.

Rồi đột nhiên ba con đề nghị: “Nếu con muốn nghỉ ngơi một thời gian, tại sao con không đi Làng Mai, Pháp?”. Lúc ấy con đã mua vé máy bay và đặt chỗ ở rồi. Con nói với ba là muộn mất rồi. Nhưng ba cứ cố gắng thuyết phục con đi Làng Mai. Thậm chí ba còn nói là sẽ trả lại cho con tiền bị khấu trừ khi hủy vé máy bay, hay chỗ ở và mua một vé mới cho con đi Pháp. Con bắt đầu thấy hơi tò mò. “Tại sao ba lại muốn mình đi đến chỗ đó? Chỗ đó có gì đặc biệt?”. Ba mẹ của con đã từng dự khóa tu do Thầy và tăng thân Làng Mai hướng dẫn ở Hàn Quốc và thường hay ca ngợi với con về sự tuyệt vời của những giáo lý do Thầy dạy, v.v.

Con biết Thầy vì thỉnh thoảng con cũng đọc sách của Thầy khi bị cơn giận chi phối. Thôi được rồi. Tại sao lại không nhỉ? Con quyết định sẽ đi Làng Mai dự khóa tu hai tuần. Con lên kế hoạch sau khi, con sẽ đi du lịch một vòng các nước Tây Âu sau đó.

Trước khi con đi, ba nói đùa: “Nếu con thích Làng Mai thì con có thể ở lại đó suốt đời cũng được. Trở thành sư cô thì sẽ có một việc làm vững chắc, lâu dài”. Con cười phá lên và nghĩ chuyện này sẽ không bao giờ có thể xảy ra.

Sau một chuyến hành trình dài, cuối cùng con đã tới xóm Hạ, Làng Mai. Và con đã bước tới khúc quanh của cuộc đời mình. Ban đầu tất cả đều rất khó khăn với con. Ăn chậm, đi chậm, làm cũng chậm và phải dừng lại mỗi khi có tiếng chuông. Lúc đầu, con tự hỏi: “Tại sao mọi người từ khắp nơi lại đến đây, để làm gì?”. Nhưng khi bước vào thiền đường lớn ở xóm Hạ, con đã bị một cú sốc.

Nơi đây không có tượng Bụt sơn son thếp vàng trên bàn thờ. Thay vào đó là rất nhiều hoa phong lan, và trên tường là chữ Gratitude (tri ân) viết theo lối thư pháp. Con không thể hiểu tại sao không có tượng Bụt mà chỉ có thư pháp. Lúc ấy, con không hiểu nghĩa vì chữ tri ân được viết bằng tiếng Anh. Sau khi tra từ điển, con rất ngạc nhiên, “Tại sao lại viết chữ tri ân ở trên tường? Phải tri ân cái gì? Tại sao chữ đó lại quan trọng đến độ phải viết lên tường như thế, thay vì tượng Bụt?”. Rất nhiều câu hỏi đã đi lên trong con. Bất cứ lúc nào, khi đi, khi ăn, khi ngủ, những câu hỏi đó cứ hiện diện trong con, như là một công án.

Ở Làng Mai, chúng con được học và thực tập các giáo lý tương tức, vô thường, hiện pháp lạc trú. Mỗi ngày trôi qua, con dần hiểu ra sự quan trọng của một cái cây, một bông hoa. Đó là sự hiểu biết từ trái tim chứ không phải bằng trí óc. Và con bắt đầu quán chiếu sâu sắc về tự thân mình. Con sinh ra trong một gia đình yên ổn. Con có cha mẹ hiền lành và là con một. Con chưa hề có khó khăn trong chuyện học tập hoặc bạn bè. Con có một nghề nghiệp chuyên môn mà con yêu thích. Nhưng có một cái mà con không hề có, đó là lòng tri ân. Chưa bao giờ con có cảm giác tri ân về bất cứ một điều gì. Thậm chí đối với ba mẹ, những người lúc nào cũng có mặt bên con. Con cho rằng bất cứ một thành công nào của con cũng do chính mình đạt được. Nhưng ở Làng Mai, con thực sự thấy được là để có một trái táo thì chúng ta cần những yếu tố không phải táo. Đó là cú sốc thứ hai của con. Cú sốc này đã cho con một đôi mắt mới và cái nhìn mới.

Sau trải nghiệm đó, sự hiếu kỳ của con về Làng Mai càng tăng lên. Hai tuần của con ở xóm Hạ đã kết thúc nên con gia hạn thêm một tuần nữa, rồi thêm một tuần nữa ở xóm Mới cho khóa tu nấu ăn trong chánh niệm. Sau đó, con quyết định ở lại hẳn một tháng cho khóa tu mùa Hè với tư cách tình nguyện viên. Thậm chí con đã hủy và đổi vé máy bay về Hàn Quốc. Nhưng trước khi khóa tu mùa Hè bắt đầu, con phải đi du lịch một chuyến bởi vì trong thời gian trước khóa tu, Làng Mai không nhận thiền sinh. Trong khi con đi du lịch từ nước này qua nước khác, con chỉ mong được trở lại Làng thật nhanh. Thật là một sự thay đổi lớn bởi con là người “nghiện du lịch”. Nói chi thì nói, mùa hè 2017 ở xóm Mới thật là tuyệt vời. Và con quyết định trở thành một sư cô càng sớm càng tốt. Con trở về Hàn Quốc, báo tin nghỉ việc cho đội làm truyền hình và làm tiệc chia tay với bạn bè. Con bán căn hộ của mình rồi chuyển về ở với ba mẹ ba tháng trong thời gian chờ làm giấy tờ đi Pháp.

Con đã không có chút nghi ngờ nào về việc ba mẹ sẽ yểm trợ quyết định của con. Chính hai vị đã nói với con: “Nếu muốn thì con không cần phải quay về Hàn Quốc nữa”. Dĩ nhiên đó chỉ là những lời nói đùa. Bởi quyết định xuất gia của con đã là một cú sốc lớn cho ba mẹ. Như là tiếng nổ Big Bang thời khai thiên lập địa vậy. Nhưng rồi cuối cùng ba mẹ cũng đồng ý (và bây giờ thì con đang ở Pháp). Gần một năm sau, vào ngày 25 tháng 10 năm 2018, con đã được xuống tóc. Ba mẹ con qua Làng sau một chuyến bay dài mười sáu tiếng để chúc mừng sự khởi đầu mới của con. Ba mẹ cũng đã quyết định ở lại trọn ba tháng để tu tập.

Con nghĩ mọi chuyện rồi sẽ dễ dàng thôi. Thế nhưng ở chung với ba mẹ một tuần trước khi xuất gia thật không dễ chút nào. Nhất là với mẹ con. Mẹ để hết tâm lực vào việc thuyết phục con quay về trước khi quá muộn. Mẹ đã mong đợi quá nhiều ở Làng Mai vì nghĩ rằng đây là một trung tâm quốc tế lớn nên tu viện phải lớn, sạch sẽ và hiện đại… đại loại là như thế. Nhưng khi đến đây lại thấy tu viện rất đơn giản và khiêm tốn, thiếu thốn nhiều tiện nghi. Mẹ nói: “Con gái tôi không thể nào sống ở đây được. Nó không thể nào nấu ăn cho mấy trăm người như vậy được. Cả đời nó chưa bao giờ sống chung phòng với ai. Làm sao nó có thể sống ở đây được?”. Mẹ cứ lặp đi lặp lại: “Về Hàn Quốc đi con!”. Thậm chí trong ngày con xuất gia mẹ vẫn nói như thế. Dù là một Phật tử và tu thiền khá lâu rồi, vậy mà mẹ vẫn tiếp tục băn khoăn và nghi ngờ. Vào ngày con xuất gia, sáng đó, mẹ hỏi một lần cuối: “Xin con hãy suy nghĩ lại. Mẹ sẽ mua vé máy bay cho con về nhà. Con có chắc là con muốn xuất gia không?”. Và con đã trả lời: “Dạ có, thưa mẹ. Con chắc chắn là con muốn xuất gia. Vì vậy xin mẹ đừng hỏi con thêm nữa”.

Mẹ khóc suốt thời gian con xuống tóc và nhận tấm y vàng, trong khi ba thì cố nén nước mắt. Sau đó mẹ nói với con: “Khi con quỳ xuống trước Bụt để được xuống tóc thì mẹ cảm thấy con không còn là con của mẹ nữa. Mẹ nhận ra là con đã thuộc về một đại gia đình tâm linh”. Con rất cảm động khi nghe mẹ nói như vậy.

Trong thời gian ba tháng ba mẹ ở Làng Mai, mỗi ngày đều đầy kịch tính. Thật không dễ dàng chút nào khi ba mẹ phải sống chung với một “đứa con mới” mang tên Trăng Hiền Tâm. Ba mẹ cần thời gian để làm quen với cuộc sống mới của con, và với sự thực tập. Nhất là đối với mẹ, mẹ phải trải qua rất nhiều xáo trộn trong lòng. Sống chung đông người đối với mẹ rất khó khăn. Và mẹ có quá nhiều lo lắng cho con. Có nhiều người đến Làng tu tập, điều đó có nghĩa là con phải làm việc nhiều hơn nữa để phụng sự. Đó là tri giác của mẹ, và tri giác đó làm mẹ khổ.

Ba tháng vừa qua là một bài học và sự thực tập lớn đối với con. Con đã nhìn lại ý nghĩa của thương yêu. Con nhìn sâu vào tình thương của con và ba mẹ. Con thấy nếu trong tình thương còn có sự đòi hỏi người mình thương phải thay đổi, còn nhiều vướng mắc thì đó chưa phải là tình thương đích thực. Ý niệm đây là ba “của con”, mẹ “của con” khiến cho con có nhiều lo lắng và buồn khổ. Con tự dựng lên một tri giác về “tôi” và “của tôi” và khổ đau vì hệ luỵ ấy. Đó không phải là tình thương đích thực mà Thầy đã dạy. Vì vậy, con cố gắng bớt đòi hỏi ở ba mẹ và ở chính mình. Sự thực tập này giúp con rất nhiều.

Ba con đã có những chuyển hóa nhanh chóng hơn mẹ. Ba đã quan sát tất cả những gì diễn ra và học hỏi như một em bé mới bắt đầu bập bẹ những tiếng nói đầu tiên. Ba giống như một người đã được sinh ra ở một đất nước chỉ có mùa hè, và chưa từng trải qua một mùa đông lạnh giá nào trong đời. Người đó cần đến viếng một đất nước có mùa đông thì mới hiểu được thế nào là mùa đông đích thực. Cho dù người ấy có đọc bao nhiêu sách báo về mùa đông cũng không thể nào thực sự cảm được cho đến khi trải nghiệm nó. Cũng vậy, ba đã từng đọc sách Thầy, đã nghe nói đến Làng Mai, nhưng chỉ khi đến Làng ba mới biết Làng Mai là như thế nào. Nơi đây ba đã tìm lại được em bé tuổi thơ trong ba. Suốt 64 năm cuộc đời, ba chưa một lần khóc, thậm chí trong đám tang bà nội. Vậy mà ba đã khóc như một đứa trẻ trong một buổi pháp đàm. Ba nói ba nhận ra là chưa bao giờ ba hỏi bà nội câu “Mẹ có khỏe không?”. Trước khi bà nội qua đời, bà đã bị bệnh tình hành hạ rất nhiều. Nhưng ba lúc nào cũng nói với bà nội: “Không sao đâu. Có gì đâu.” Hoặc đại loại những câu như vậy. Chưa bao giờ ba hỏi “Mẹ cảm thấy như thế nào? Mẹ đau như thế nào? Mẹ có ổn không?”. Sau khi ba nghe pháp thoại của sư cô Lăng Nghiêm, trong đó sư cô có nói đến sự thực tập ái ngữ, ba đã nhận ra điều đó. Ba nói là ba muốn thực tập ái ngữ với người thân và bạn bè trước khi quá muộn. Có vẻ như ba đã phá vỡ được một rào cản vừa to vừa dày trong đời. Con rất hạnh phúc nhìn thấy sự chuyển hóa của ba. Nhưng với mẹ, thật không dễ chút nào.

Sau rất nhiều ngày ảm đạm và giông tố trong ba tháng có ba mẹ bên cạnh – dĩ nhiên là cũng có những ngày nắng hồng tươi đẹp, con vui mừng chào đón mùa Giáng sinh đến. Làng Mai ở châu Âu, Tây phương mà. Vì vậy chúng ta ăn mừng ngày Chúa Jesus ra đời. Chúng ta là một tu viện Phật giáo cho nên nếu nói chúng ta thích Giáng sinh thì có vẻ hơi mâu thuẫn. Nhưng chúng ta chào mừng tinh thần của lễ Giáng sinh, bởi vì nó đem lại niềm vui và hạnh phúc cho các bạn thiền sinh Tây phương. Và tất cả mọi người đều cùng chào mừng Giáng sinh trong chánh niệm. Nhưng đối với ba mẹ, nhất là với mẹ của con, bà không thể hiểu được tại sao một tu viện Phật giáo lại trang hoàng và chuẩn bị quà cho Giáng sinh. Mẹ cứ nói tới nói lui là mẹ thấy không thoải mái với mấy cái trang trí Giáng sinh đó. Đối với mẹ, học hỏi giáo lý đạo Bụt quan trọng hơn nhiều so với việc chuẩn bị cho lễ Giáng sinh.

Nhưng thực sự đối với con, ý kiến của mẹ không có ảnh hưởng gì mấy. Tại vì con vô cùng thích lễ Giáng sinh ở Làng Mai. Và chúng ta lại còn có dàn đồng ca của xuất sĩ nữa chứ! Dàn đồng ca này thường đi hát thánh ca cúng dường các gia đình hàng xóm trong dịp Giáng sinh. Năm ngoái vì còn là cư sĩ nên con không tham gia dàn đồng ca được. Năm nay thì khác rồi. Con cũng là một trong những vị xuất sĩ đầu tròn áo vuông trong gia đình áo nâu :-). Con rất hào hứng về việc tham gia hát thánh ca với quý thầy, quý sư cô. Con thực sự rất hy vọng ba mẹ sẽ tới xem con hát. Hôm đó, mới sáng sớm con đã dặn ba mẹ buổi tối nhớ đến để thưởng thức.

Ngày hôm đó, dàn đồng ca đã hiến tặng các bài hát Giáng sinh trong vùng Loubès-Bernac, Sơn Hạ, xóm Thượng, xóm Hạ, và cuối cùng vào khoảng 9 giờ tối chúng con đã về tới xóm Mới. Tim con bắt đầu đập nhanh. Con tự hỏi không biết ba mẹ có đến không. Mặc áo nâu giản dị, tay mỗi người cầm một ngọn nến, chúng con bắt đầu hát. Đó là một khoảnh khắc yên lắng và tuyệt vời. Trong suốt ba bài hát, lòng con rất bình an. Rồi đến bài Đêm thánh vô cùng. Bài này ba mẹ con rất quen thuộc bằng tiếng Hàn Quốc. Chúng con hát không có nhạc cụ nào đặc biệt, chỉ có tâm bình an mà thôi. Chúng con đã chế tác được những âm thanh chánh niệm trong ánh nến ấm áp. Đó thật là một khoảnh khắc thật thiêng liêng. Và con là người đầu tiên được trị liệu. Con có thể thấy cái vỏ cứng của em bé chưa từng biết tri ân và từ bi trong con đang bị vỡ ra bởi năng lượng tập thể được chế tác ra bởi những người hát và người nghe hát.

Trong khi chúng con hát những bài Giáng sinh, con thật lòng cầu mong cho âm thanh của những bài hát này đánh động đến trái tim của người nghe. Con có một niềm tin vững chắc rằng nếu con có thể được chữa lành thì những người khác cũng sẽ được chữa lành. Con nhìn ba mẹ và mỉm cười trong khi hát. Có thể ba mẹ không hiểu được ý nghĩa của những bài hát bằng tiếng Anh này, nhưng con chắc rằng hai vị có thể cảm được tinh thần thực sự của Giáng sinh. Con thấy mặt ba mẹ càng lúc càng rạng rỡ như ánh trăng rằm. Đó quả là một mặt trăng thật đẹp và ấm áp.

Ngày hôm sau, mẹ gọi con đến cạnh và nói mẹ muốn cho con xem nhật ký của mẹ. Trước đây, con đã khuyên mẹ nên viết nhật ký về những điều mà mẹ tri ân trong ba tháng, nhưng cho đến lúc ấy chưa lần nào mẹ cho con xem. Mặt mẹ đỏ lên như một cô gái trẻ. Và mẹ đưa cho con quyển nhật ký.

“Hạnh phúc là gì? Hạnh phúc nào đã đưa con gái tôi đến Làng Mai? Tôi đã có rất nhiều câu hỏi trong thời gian sống ở đây. Có rất nhiều người đến đây để tìm hạnh phúc, nhưng đối với tôi, tôi chỉ có thể thấy những khổ đau của họ mà thôi. Tôi không thể hiểu quyết định của Trăng Hiền Tâm. Nhưng giờ thì dấu hỏi của tôi đã trở thành dấu chấm than. Tôi đã tìm ra câu trả lời từ dàn đồng ca Giáng sinh ngày hôm qua. Tôi đã lắng nghe hạnh phúc từ dàn đồng ca. Con gái của tôi, mà không… hạnh phúc của sư cô Trăng Hiền Tâm của tôi là ở đó. Trong ánh nến dịu dàng, họ đã hát và lắng nghe nhau. Không còn biên giới giữa Phật giáo và Thiên chúa giáo nữa. Chỉ có sự hòa điệu và chuyển hóa. Tôi nhận ra rằng người xuất sĩ là người biết chế tác hạnh phúc đích thực. Họ chính là những người biết được hạnh phúc là gì. Đó là lý do tại sao họ lại có thể hát những bài hát tuyệt vời đến thế. Họ đang san sẻ hạnh phúc của họ với chúng ta. Cảm ơn sư cô rất nhiều, bây giờ thì mẹ đã hiểu”.

Con muốn nhắc lại một lần nữa, tên mới của con là Trăng Hiền Tâm. Và bây giờ thì con yêu mặt trăng. Con có thể nhớ lại khoảnh khắc mà con cùng ba mẹ đi lên đồi mận để ngắm trăng lên trước hôm con xuống tóc. Lần đầu tiên trong đời, gia đình con đã cùng nhau chờ trăng lên như thế. Khi mẹ con ngắm mặt trăng tròn, nỗi buồn của mẹ đã bất ngờ được chuyển hóa và trở nên tươi sáng như ánh trăng rằm. Đó là một thời khắc thật đẹp. Con xin nguyện với Tam bảo là con sẽ cố gắng thực tập để làm được như vầng trăng tròn kia, tỏa ánh sáng giúp mọi người tìm thấy hướng đi cho cuộc đời. Con quyết tâm trở thành một mặt trăng có thể chia sẻ hạnh phúc và làm vơi bớt khổ đau cho người. Trong thời gian ở cùng ba mẹ, con đã có thể thấy niềm hy vọng. Con sẽ bắt đầu bước đầu tiên của con để trở thành một vị “trăng sĩ”.

Chân Trăng Hiền Tâm

Đường mòn Appalachian, những bước chân trị liệu

                                                                                             

Thầy Trời Đạo Hành người Hà Lan, xuất gia năm 2015 trong gia đình cây Đan Mộc. Thầy tham gia khóa tu đi bộ trên đường mòn Appalachian, lần đầu tiên được quý thầy Làng Mai tổ chức. Dưới đây là chia sẻ của thầy về trải nghiệm thú vị và đặc biệt này. Bài viết được Ban biên tập chuyển ngữ từ tiếng Anh.

Thật ra cuộc hành trình của chúng tôi đã bắt đầu từ nhiều tháng trước khi chúng tôi đặt những bước chân đầu tiên trên đường mòn Appalachian huyền thoại của nước Mỹ. Công việc chuẩn bị gồm có: vẽ tuyến đường, gây quỹ, liên lạc với các tăng thân địa phương, trang bị dụng cụ, tham dự khóa học sơ cứu khi sống ngoài thiên nhiên, rèn thể lực,… và uống trà. Trước khi lên đường, tuần nào chúng tôi cũng liên lạc qua skype để trò chuyện với nhau. Thầy Pháp Xả gọi từ EIAB, Đức; thầy Pháp Mãn và thầy Pháp Lý từ tu viện Bích Nham, Mỹ; thầy Pháp Lưu, thầy Pháp Khởi và tôi từ Làng Mai, Pháp. Ngoài ra còn có năm bạn tình nguyện viên tuyệt vời cùng đi chung, vừa là bạn đường vừa yểm trợ chúng tôi. Đến lúc gặp mặt nhau lần đầu tiên, ai cũng có cảm tưởng là đã quen biết nhau từ lâu lắm rồi.

Chúng tôi dự định sẽ đi bộ xuyên sáu tiểu bang, vượt qua khoảng 750 cây số trong bảy tuần lễ, từ tu viện Bích Nham ở New York tới thủ đô Washington D.C. Mong muốn của chúng tôi là tạo ra một tu viện, một trung tâm tu học di động trong khi tiếp xúc sâu sắc với năng lượng trị liệu của thiên nhiên qua những bước chân chánh niệm. Mỗi tuần, trước khi bắt đầu một chặng đường mới, chúng tôi dự định sẽ tổ chức một ngày chánh niệm để kết nối và yểm trợ tăng thân địa phương. Chúng tôi sẽ hiến tặng sự thực tập của mình, chế tác năng lượng chánh niệm, bình an và hạnh phúc. Cuộc hành trình sẽ kết thúc bằng một buổi đi bộ cho hòa bình (peace walk) tại thủ đô Washington D.C.

Tháng Tư năm 2018, sau bao ngày chờ đợi, cuối cùng thời điểm chúng tôi họp mặt tại tu viện Bích Nham cũng đã đến. Với một ba lô nặng 15 ký trên lưng bao gồm các vật dụng cần thiết và thực phẩm, chúng tôi bắt đầu lên đường. Tất cả những gì chúng tôi cần làm là thưởng thức từng bước chân và đi theo dấu chỉ đường. Trong những tuần sau đó, chúng tôi trải qua đủ loại thời tiết: tuyết, mưa, mưa đá, nắng và sấm sét. Chúng tôi hòa mình vào thiên nhiên và gặp những sinh vật thật đẹp như bướm, rắn, cóc, chuột chũi, rùa, sóc, hươu, kỳ nhông, nhiều loại chim và nhiều loài khác nữa.

Dù ở các lứa tuổi khác nhau, đến từ các nước khác nhau nhưng chúng tôi cùng trải nghiệm những điều kiện thời tiết, cùng sẻ chia những tiện nghi, những bất tiện nghi cũng như tất cả những gì xảy đến trên đường. Chính những trải nghiệm tập thể đó gắn kết chúng tôi thành một tăng thân thực sự. Nếu một người không đủ sức để vác ba lô leo lên núi thì chúng tôi chia một phần dụng cụ của người đó cho những thành viên trong nhóm và chúng tôi cùng vác chung với nhau. Nếu chúng tôi đi quá nhanh và có người không theo kịp thì chúng tôi điều chỉnh tốc độ để ai cũng tận hưởng được bước chân của mình. Nếu có ai đó cảm thấy khó có thể đi tiếp và cần dừng lại hẳn để nghỉ ngơi (điều này xảy ra mỗi tuần), thì mẹ Sue (là mẹ của thầy Pháp Lưu, nhưng thực ra cũng là mẹ của tất cả chúng tôi) sẽ có mặt ngay với chiếc xe “cứu hộ” của bà, và như thế họ vẫn có thể tiếp tục khóa tu theo một cách khác. Bị rộp da, lội nước trong những ngày mưa, đồ dùng bị ướt sũng, phải băng qua những đoạn đường núi hiểm trở, ngoằn ngoèo, uốn khúc như những con rắn đuôi chuông, hoặc mắt cá bị bong gân,… chúng tôi vẫn tiếp tục cuộc hành trình. Dường như không có bất cứ điều gì có thể ngăn cản chúng tôi tiến về phía trước và tận hưởng những giờ phút ở bên nhau.

“Chúng ta cần một sự thức tỉnh và giác ngộ thực sự để thay đổi cách suy nghĩ và nhìn nhận sự việc của mình. Thở vào, ý thức về cơ thể của chúng ta và nhìn sâu vào cơ thể, để thấy rằng ta là Trái đất, và tâm thức ta cũng là tâm thức của Trái đất” – trích lời Thầy Làng Mai.

Hòa mình vào thiên nhiên hoang dã vài tuần như vậy làm cho tôi cảm thấy mình thực sự trở thành một phần của thiên nhiên. Lúc đầu thì tôi là người đi vào thiên nhiên, nhưng sau vài tuần thì sự phân biệt đó bắt đầu tan biến. Một mặt tôi thực sự tận hưởng những tiện nghi thường có trong đời sống hàng ngày như rau và thực phẩm tươi, một căn phòng ấm áp và một chiếc giường vào cuối tuần, vòi nước hoa sen, quần áo sạch và khô. Sau một ngày đi bộ thì mọi thứ bình thường ấy có vẻ như quý giá gấp đôi. Mặt khác, tôi cũng thấy những cái đó có vẻ như xa lạ với mình hơn. Khi tới gần một thành phố sau nhiều ngày đi trong các vùng hoang dã thật đẹp, tôi có thể ngửi được mùi xe cộ hàng dặm trước khi đến đó.

Trở về lại thành phố sau nhiều ngày sống giữa thiên nhiên, tôi tự hỏi làm thế nào mà con người lại xa rời cái đẹp thực sự của thiên nhiên đến vậy? Con người chúng ta đang làm gì? Rõ ràng một đời sống giản dị, tự nhiên mang lại cho tôi nhiều hạnh phúc và tự do hơn.

Một trong những khía cạnh hay nhất của việc đi bộ trong thiên nhiên là chúng tôi sống rất đơn giản. Chúng tôi thức dậy, ăn sáng, tháo võng xuống và bắt đầu lên đường. Chiều tối, chúng tôi dừng lại, ăn chiều, mắc võng lên và nghỉ qua đêm trong rừng. Ngày hôm sau thì sao? Cũng giống y như vậy. Tất cả những gì chúng tôi cần là một ba lô trên vai và một nụ cười trên môi. Không có gì để làm, không có nơi nào để đến, chúng tôi chỉ tận hưởng những bước chân trong chánh niệm. Nếu điều kiện thời tiết cho phép, chúng tôi ngồi thiền buổi sáng, ngồi thiền buổi tối và thỉnh thoảng có pháp đàm. Sao tôi thích sống hòa nhịp với thiên nhiên đến thế! Chúng tôi thức giấc cùng với bình minh, tiếng chim hót líu lo là tiếng đồng hồ báo thức, và đi ngủ khi hoàng hôn buông xuống.

Tôi bắt đầu thấy và cảm được sự thay đổi, sự vô thường của thiên nhiên. Chúng tôi khởi hành vào đầu tháng Tư trong lạnh lẽo và tuyết giá khi cây cối vẫn còn khoác áo mùa đông. Trên đường đi từ Bắc xuống Nam, những nụ mầm mới dần xuất hiện trên cành. Lá bung ra và hoa bắt đầu nhô lên khỏi mặt đất. Mỗi ngày một chút. Hàng ngày, chúng tôi trải qua phần lớn thời gian trong sự im lặng bình an và dễ chịu. Một trong những giây phút ấn tượng nhất đối với tôi trong suốt chuyến đi là lúc tôi thấy một cái cây ngã xuống.

Nhìn một cái cây lớn ngã xuống trong khu rừng tĩnh lặng thật là một giây phút đặc biệt. Tôi cảm thấy mình thật nhỏ bé và không có ý nghĩa gì cả, nhưng đồng thời lại thấy mình thật sống động trong không gian mênh mông, hoang dã. Có phải cái cây đó đã chết? Nó đã có bao giờ được sinh ra? Khi nào thì tâm thức biểu hiện ra lần đầu tiên trong sự sống? Cái cây đó có tâm thức hay không? Tôi cảm thấy một nụ cười ấm áp, che chở của thiên nhiên đang nở ra chung quanh tôi và ở trong tôi. Những câu hỏi của tôi tự dưng biến mất. Tự ngã, con người, sinh mạng, tuổi thọ,… Buông xuống!… Đi tiếp thôi, Đạo Hành!

Tất cả những tiếp xúc trong chuyến đi làm tôi cảm động. Tôi tiếp xúc với chính mình sâu sắc hơn, tiếp xúc với đất Mẹ và nhất là với những con người tuyệt vời đang đồng hành cùng tôi. Trải qua một thời gian khá dài cùng các bạn tham dự khóa tu đi bộ là một điều thật đặc biệt. Chúng tôi đã thực sự sống với nhau 24/24 giờ trong suốt năm ngày. Ở Làng, thường thường tôi dậy trước giờ thức chúng một tiếng đồng hồ, uống trà trong phòng cho tỉnh táo trước khi mọi người nhìn thấy mặt tôi. Nhưng trong chuyến đi, khi tôi bước xuống võng thì người khác nhìn thấy ngay gương mặt còn ngái ngủ của tôi. Thông thường khi có khổ đau, ta có khuynh hướng tránh mặt người khác, thí dụ như trốn trong phòng. Nhưng khi đi bộ với nhau ngày này qua ngày khác thì không có chỗ nào để ta trốn cả. Nơi trú ẩn duy nhất của ta chỉ có thể là những bước chân và tăng thân bao quanh mà thôi.

Đây là lần đầu tiên tôi đến nước Mỹ và cũng là một trải nghiệm khá độc đáo. Thay vì tham quan các thị trấn và thành phố lớn, tôi được sống với nông thôn và thiên nhiên hoang dã. Thỉnh thoảng, con đường mòn dẫn qua một thị trấn nhỏ và chúng tôi được gặp người dân địa phương. Họ nhìn chúng tôi bằng một cái nhìn ngạc nhiên và chào mừng khi thấy một nhóm các nhà sư Phật giáo đi bộ trên đường mòn Appalachian. Dường như chúng tôi đang đóng góp thêm một chiều hướng tâm linh cho con đường nổi tiếng này. Chúng tôi gặp các tăng thân địa phương ở những thị trấn nhỏ và những thành phố vào những ngày chánh niệm cuối tuần. Họ rất vui và tiếp đón tất cả chúng tôi rất nhiệt tình.

Trải nghiệm này đã cho tôi tiếp xúc với một lối sống khác của người xuất sĩ. Chúng tôi có tăng sĩ trong thiền viện, tăng sĩ ẩn dật, nhưng cũng có du tăng. Vì luôn phải di chuyển nên tôi nhận ra rằng quê hương đích thực của mình là bây giờ và ở đây. Nó nằm trong từng bước chân của tôi trên suốt con đường. Vì không biết trước đoạn đường còn lại sẽ như thế nào, hoặc thậm chí không biết trước đêm nay mình sẽ ngủ ở đâu nên chúng tôi dễ dàng an trú trong giây phút hiện tại. Tất cả chúng tôi đã có một thời gian tuyệt vời cùng nhau và tu viện di động của chúng tôi là một thành công lớn. Tôi rất vui khi đặt ba lô lên lưng một lần nữa vào ngày mai để chỉ đơn giản là: bắt đầu đi bộ.

 Chân Trời Đạo Hành

Khóa tu Khoa học não bộ tại xóm Thượng, Làng Mai, ngày 14.06 – 21.06.2019

Tôn trọng sự sống

(Trích từ cuốn “Để có một tương lai” của Sư Ông Làng Mai)

 

Ý thức được những khổ đau do sự sát hại gây ra, con xin học theo hạnh đại bi để bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài. Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán thành sự giết chóc và không để kẻ khác giết hại, dù là trong tâm tưởng hay trong cách sống hàng ngày của con.

Sự sống thật quý giá. Sự sống có mặt khắp mọi nơi, trong ta và quanh ta; nó đa hình đa dạng.

Giới thứ nhất đến từ chỗ ý thức rằng sự sống khắp nơi đang bị hủy diệt. Chúng ta thấy được những khổ đau do sự sát hại gây ra, và chúng ta nguyện phát triển lòng từ bi, lấy đó làm nguồn năng lượng để bảo vệ con người, cỏ cây, cầm thú, và đất đá. Giới thứ nhất là một phép tu luyện tâm Bi, karuna – khả năng làm vơi nhẹ và chuyển hoá khổ đau. Khi thấy được nỗi khổ thì tâm Bi phát sinh trong ta.

Tiếp xúc với khổ đau của cuộc đời là điều rất cần thiết. Ta cần nuôi dưỡng ý thức ấy thông qua nhiều phương tiện – hình ảnh, âm thanh, tiếp xúc trực tiếp, thăm viếng, v.v… – để giữ tâm Bi sống trong ta. Nhưng ta phải cẩn thận, chớ đưa vào nhiều quá. Bất cứ phương thuốc nào cũng phải có liều lượng. Ta nên tiếp xúc với khổ đau trong chừng mực giúp ta không quên lãng, để tình thương tuôn chảy trong ta, và biến thành năng lượng hành động. Nếu lấy sự phẫn nộ làm động cơ hành động, ta sẽ có thể làm những điều tai hại, những điều mà ta sẽ hối tiếc sau này. Theo đạo Bụt, tình thương là nguồn năng lượng duy nhất có ích, và an toàn. Với tình thương, năng lượng của chúng ta được sinh ra từ tuệ giác; đó không phải là năng lượng mù quáng.

Con người chúng ta được làm bằng những yếu tố không-phải-con-người, như cỏ cây, khoáng chất, đất, mây, và ánh nắng. Để cho sự thực tập của chúng ta được sâu và được thật, chúng ta phải bảo vệ luôn cả hệ sinh thái. Nếu sinh môi bị tàn phá, con người cũng sẽ bị hủy diệt. Không thể bảo vệ sự sống của con người mà không đồng thời bảo vệ sự sống của cỏ cây, cầm thú, và đất đá.

 

 

Kinh Kim Cương dạy chúng ta rằng không thể phân chia ranh giới giữa các loài hữu tình và vô tình. Đây là một trong những kinh điển cổ của đạo Bụt dạy về sinh thái học ở mức độ sâu. Mỗi hành giả trong đạo Bụt phải là một người bảo vệ môi trường. Đất đá cũng có đời sống của chúng. Trong Chùa, chúng ta tụng: ‘Tình dữ vô tình đồng viên chủng trí.’ Giới thứ nhất là sự thực tập bảo vệ mọi sự sống, kể cả sự sống của khoáng vật.

”Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán thành sự giết chóc và không để kẻ khác giết hại, dù là trong tâm tưởng hay trong cách sống hằng ngày của con.” Chúng ta không thể tán thành bất cứ một hành động giết chóc nào; không một sự giết hại nào có thể được biện hộ cả. Nhưng không giết thôi không đủ. Chúng ta còn phải tìm cách ngăn không cho kẻ khác giết hại. Chúng ta không thể nói: ‘Tôi không chịu trách nhiệm. Họ làm chuyện đó, còn tay tôi sạch.’ Nếu chúng ta sống ở Đức trong thời Nazis, ta không thể nói: ‘Họ làm chuyện đó. Tôi không làm.’ Nếu trong cuộc chiến tranh vịnh Gulf, chúng ta không nói hay làm gì cả để ngăn cản việc giết chóc thì chúng ta đã không thực tập giới này. Cho dù những gì chúng ta nói hoặc làm không cản được cuộc chiến, điều quan trọng là ở chỗ chúng ta đã cố làm, vận dụng tuệ giác và tình thương của mình.

Không phải chỉ không dùng thân giết hại mới là giữ Giới thứ nhất. Nếu chúng ta để cho sự giết hại diễn ra trong tư tưởng, chúng ta cũng đã phạm Giới. Chúng ta phải nhất quyết không chấp nhập sự giết hại, kể cả trong tâm tưởng. Theo Bụt, tâm là nền tảng của mọi hành động. Giết trong tâm là nguy hiểm nhất. Khi chúng ta tin tưởng, chẳng hạn như đường lối của chúng ta là đường lối duy nhất cho nhân loại và kẻ nào đi theo đường lối khác là kẻ thù của chúng ta, thì hàng triệu người có thể bị giết vì ý niệm đó.

Tư duy nằm đằng sau mọi việc. Ta cần phải để con mắt ý thức nằm đằng sau mỗi ý nghĩ của mình. Không có sự hiểu biết đúng đắn về một hoàn cảnh hay một con người, suy nghĩ của ta có thể lầm lạc và gây ra hoang mang, tuyệt vọng, giận hờn, hay thù hận. Công việc quan trọng nhất của chúng ta là phát triển sự hiểu biết đúng đắn. Nếu chúng ta thấy được một cách sâu sắc bản chất tương tức, nghĩa là tất cả nương nhau mà có mặt, chúng ta sẽ thôi không còn trách móc, cãi vã, và giết hại, chúng ta sẽ trở nên bè bạn với tất cả mọi người. Muốn thực tập bất bạo động, trước hết chúng ta phải học cư xử một cách hoà bình với chính mình. Nếu ta tạo được một sự hoà hợp đích thực trong chính con người mình, chúng ta sẽ biết cách cư xử với gia đình, bạn bè, và những người cộng tác với ta.

Khi phản đối chiến tranh chẳng hạn, ta có thể cho rằng ta là một con người hiền hoà, đại diện cho hoà bình, thế nhưng điều này lại có thể không đúng. Nếu nhìn sâu, ta sẽ thấy rằng gốc rễ của chiến tranh nằm ngay trong cách sống thiếu chánh niệm bao lâu nay của chúng ta. Chúng ta chưa gieo trồng đủ những hạt giống bình an và hiểu biết nơi ta và nơi những người khác, vì vậy chúng ta liên đới chịu trách nhiệm: ‘Vì tôi như thế này, cho nên họ như thế đó.’ Lối đặt vấn đề có tính toàn triệt hơn cả là lối nhìn ‘tương tức’: ‘Cái này như thế này vì cái kia như thế kia.’ Đây là con đường của Hiểu và Thương. Với cái thấy này, ta có thể nhìn một cách sáng suốt và giúp cho chính phủ ta nhìn một cách sáng suốt. Khi ấy ta có thể đi biểu tình và nói: ‘Cuộc chiến tranh này bất công, hủy diệt và không xứng đáng với đất nước cao quý của chúng ta.’ Điều này hữu hiệu hơn là giận dữ buộc tội cho nhau. Sự tức giận bao giờ cũng gây thêm đổ vỡ.

Tất cả chúng ta, kể cả những người theo chủ nghĩa hoà bình, đều có những nỗi khổ niềm đau trong lòng. Chúng ta cảm thấy bực tức, thất vọng, và chúng ta cần tìm một người nào đó sẵn sàng lắng nghe và có khả năng hiểu được những nỗi khổ niềm đau của chúng ta. Trong nghệ thuật mô tả bằng hình tượng của đạo Bụt có một vị Bồ Tát nghìn tay nghìn mắt tên là Quan Thế Âm. Nghìn tay tượng trưng cho hành động, và con mắt trong mỗi bàn tay tượng trưng cho sự hiểu biết. Khi chúng ta hiểu một hoàn cảnh hay một con người thì những gì chúng ta làm sẽ giúp được cho tình trạng và sẽ không gây thêm đau khổ. Khi có con mắt ở trong bàn tay, chúng ta sẽ biết cách thực tập bất bạo động đích thực.

Muốn thực tập bất bạo động, trước hết ta phải thực tập với chính mình. Trong mỗi chúng ta đều có một mức độ bao động và bất bạo động nào đó. Tùy thuộc vào tình trạng của chúng ta lúc ấy, cách chúng ta phản ứng đối với sự việc sẽ mang ít hay nhiều tính chất bạo động. Cho dù ta có hãnh diện rằng mình là người ăn chay đi nữa thì ta cũng phải công nhận rằng trong nước chúng ta luộc rau có biết bao nhiêu là vi sinh vật. Chúng ta không thể hoàn toàn bất bao động, nhưng với việc ăn chay, chúng ta đang đi về hướng bất bạo động. Nếu muốn đi về hướng Bắc, ta có thể dùng sao Bắc Đẩu để nhắm hướng, nhưng không thể nào đến được sao Bắc Đẩu. Nỗ lực của chúng ta chỉ nhằm đi về hướng đó.

Ai cũng có thể thực tập bất bạo động ở một mức nào đó, kể cả các tướng lĩnh quân đội. Chẳng hạn họ có thể chỉ huy cuộc hành quân của mình như thế nào để tránh không giết hại những người vô tội. Để giúp những người lính đi về hướng bất bạo động, chúng ta phải tiếp xúc với họ. Nếu chúng ta chia thực tại ra làm hai phe – bạo động và bất bạo động – rồi đứng về một phe chống lại phe kia, thế giới sẽ không bao giờ có hoà bình. Chúng ta sẽ luôn trách cứ và buộc tội những người chúng ta cho là chịu tránh nhiệm cho tình trạng chiến tranh và bất công xã hội mà không hề nhận ra mức độ bạo động trong chính con người mình. Chúng ta phải cải hoá chính mình, đồng thời làm việc với những người chúng ta buộc tội nếu muốn có một ảnh hưởng đích thực.

Vạch một ranh giới và gạt một số người sang hàng ngũ kẻ thù – dù là người hành xử bạo động – chẳng bao giờ giúp được gì cả. Ta phải đến với họ với tình thương trong trái tim ta và làm mọi cách có thể để giúp họ đi về hướng bất bạo động. Nếu chúng ta hoạt động cho hoà bình bằng sự phẫn nộ, chúng ta sẽ chẳng bao giờ thành công. Hoà bình không phải là điểm kết thúc. Hoà bình không bao giờ có thể đến được bằng những phương tiện không hoà bình.

Quan trọng nhất là trở thành bất bạo động, để khi một tình huống xảy đến, chúng ta sẽ không tạo thêm đau khổ. Để thực tập bất bạo động, chúng ta cần có sự nhẹ nhàng, từ, bi, hỷ, xả đối với thân tâm mình, và đối với kẻ khác. Bằng chánh niệm – sự thực tập bình an – ta có thể bắt đầu bằng việc chuyển hoá những cuộc chiến trong ta. Có những kỹ thuật để làm chuyện này. Hơi thở có ý thức là một. Mỗi khi ta cảm thấy bất mãn, ta có thể ngưng những gì mình đang làm, tránh không nói bất cứ điều gì, và thở vào thở ra vài lần, ý thức từng hơi thở vào, ra. Nếu vẫn còn không vui, ta có thể đi thiền hành, chánh niệm với từng bước chân chậm rãi và từng hơi thở của mình. Nuôi dưỡng hoà bình bên trong, chúng ta mang lại hoà bình cho xã hội. Tùy thuộc vào ta cả. Tu tập hoà bình trong ta có nghĩa là giảm thiểu đến mức tối đa những cuộc chiến tranh giữa cảm thọ này với cảm thọ khác, ý niệm này với ý niệm khác, rồi ta cũng có thể có hoà bình với những người khác, kể cả những thành viên trong gia đình mình.

 

 

Tôi thường được hỏi: ‘Nếu anh thực tập bất bạo động mà có người xông vào nhà, bắt cóc con hay giết vợ mình thì sao? Anh phải làm gì? Anh có còn hành xử theo cách bất bạo động không?’ Câu trả lời tùy thuộc vào trạng thái của anh. Nếu đã có sự chuẩn bị, anh có thể phản ứng một cách trầm tĩnh và thông minh, theo cách bất bạo động nhất mà anh có thể làm. Nhưng muốn sẵn sàng để có thể phản ứng với sự thông minh và bất bạo động, anh phải có sự rèn luyện từ trước. Có thể phải mười năm, hay lâu hơn. Nếu chờ cho đến khi có chuyện mới hỏi câu hỏi ấy thì sẽ quá muộn. Câu trả lời theo kiểu nên-thế-này-hay-thế-khác sẽ là hời hợt vô ích. Ở giây phút quyết định ấy, cho dù anh có biết rằng bất bạo động thì tốt hơn là bạo động, nếu cái hiểu của anh chỉ ở trên trí óc mà không nằm trong toàn bộ con người anh, anh sẽ không hành xử bất bạo động. Sự sợ hãi và tức giận trong anh sẽ ngăn không cho anh hành động theo cách bất bạo động nhất.

Chúng ta cần phải nhìn sâu mỗi ngày để thực tập tốt Giới này. Mỗi lần mua sắm hay tiêu thụ một thứ gì, ta có thể đang thao túng cho một dạng giết chóc nào đó.

Trong khi thực tập bảo vệ con người, cỏ cây, cầm thú, và đất đá, ta biết ta đang bảo vệ cho chính mình. Ta cảm được mối dây liên hệ bền vững, thân thương với tất cả mọi loài trên trái đất. Chúng ta được bảo hộ bởi chánh niệm và lòng từ bi của Bụt và của bao thế hệ Phật tử đã hành trì Giới pháp. Năng lượng từ bi này mang đến cho ta cảm giác an ninh, lành mạnh và hoan hỷ, và như vậy mới xứng đáng với giây phút mà chúng ta quyết định thọ trì giới thứ nhất.

Xót thương chưa đủ. Ta phải học cách biểu lộ tình thương ấy. Đó là vì sao ta phải có hiểu biết đi kèm. Sự hiểu biết và tuệ giác chỉ cho ta nên hành động như thế nào.

Kẻ thù đích thực của chúng ta chính là sự lãng quên. Nếu chúng ta nuôi dưỡng chánh niệm mỗi ngày và tưới tẩm những hạt giống bình an trong ta và trong những người xung quanh ta, ta sẽ trở nên sống động, và ta có thể giúp cho chính mình cũng như những người khác đạt đến an ổn và từ bi.

Sự sống thật quý giá, vậy mà trong đời sống hằng ngày ta lại thường bị cuốn theo những quên lãng, giận hờn, và lo lắng, ta đắm chìm trong quá khứ, và không có khả năng tiếp xúc với sự sống trong giờ phút hiện tại. Khi chúng ta thật sự sống động, những gì ta làm hay tiếp xúc đều là phép lạ. Thực tập chánh niệm tức là quay trở về với sự sống trong giờ phút hiện tại. Phép thực tập của Giới thứ nhất chính là một lễ hội tôn vinh sự sống. Khi chúng ta biết trân quý cái đẹp của sự sống, chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì trong khả năng mình để bảo vệ cả cuộc đời.

Ngày mở cửa 2017

Một vài hình ảnh của ngày Open House tại ba xóm Làng Mai năm 2017

Tại xóm Thượng

Tại xóm Mới

Tại xóm Hạ