Sen ở Làng

Khoá tu mùa hè là khoá tu Làng Mai đón các bạn thiền sinh đông nhất trong năm. Thời gian này cũng là mùa sen biểu hiện lên một cách nhiệm màu nơi các hồ sen xóm Thượng, xóm Hạ, xóm Mới và Sơn Hạ. Buổi mai, những đốm sương dát trên nụ mới, trên lá xanh. Khi nắng lên, những cánh hồng, cánh trắng rực rỡ khoe sắc. Khi chiều xuống, sen êm đềm khép cánh… Những hồ sen mát đang góp phần vào hạnh phúc sâu đậm của các bạn thiền sinh và quý thầy, quý sư cô.

Xin chia sẻ niềm hạnh phúc cùng tất cả.

 

Trái tim ôm trọn thái hư

(Trích pháp thoại Sư Ông Làng Mai tháng 7 năm 1996)

Chúng ta đã nói tới danh từ chịu đựng. Chịu có nghĩa là chấp nhận và đựng có nghĩa là ôm lấy. Ôm lấy có nghĩa là không phải vứt bỏ ra ngoài, không liệng ra ngoài. Nếu chúng ta có thể ôm lấy được, thì đó là vì dung tích của trái tim chúng ta lớn. Còn nếu trái tim chúng ta nhỏ thì chúng ta sẽ không ôm lấy được. Nếu chúng ta ôm được và ôm hết lòng thì đối tượng ấy sẽ được chuyển hóa. Ở Việt Nam, ta có truyền thống quý khách; mỗi khi có khách, nhà tuy chật nhưng ta vẫn mời khách ở lại, dù khách và ta phải nằm dưới đất, dù phải trải chiếu nằm bên nhau như cá hộp. Vì có lòng thương mến những người khách cho nên chúng ta chấp nhận. Chúng ta nói “chật là chật bụng chứ không phải là chật nhà.” Khi trái tim của chúng ta không chật, thì dù cái nhà có chật cũng không sao. Đó là tại vì cái lượng của chúng ta lớn.

Bài chúc tán có câu: “Bậc đại giác viên mãn xuất hiện nơi cõi Ta bà, tấm lòng ôm trọn cả thái hư.” Tấm lòng ôm trọn cả thái hư là được dịch từ câu: “Tâm bảo thái hư”. Mấy chữ đó cho chúng ta thấy trái tim của đức Thế Tôn rất lớn. “Lượng châu sa giới”: lượng Từ Bi của Ngài ôm được cả vũ trụ. Thái hư là vũ trụ, the great cosmos, the immense space. Thái là lớn. Hư là không gian. Bốn chữ này là bốn chữ ca ngợi đức từ bi và nhẫn nhục của Bụt. Trái tim của Bụt, tình thương của Bụt có thể bao trọn và ôm hết được tất cả các loài chúng sanh với tất cả những gai góc khó khăn; ôm lấy được hết, ôm mà không đau khổ. Khi trái tim mình còn nhỏ, mà mình phải ôm thì mình đau khổ, nhưng khi trái tim đã lớn, có nghĩa là khi tình thương đã mở rộng, thì mình không còn đau khổ nữa. Cho nên sự thực tập của chúng ta là phải làm cho tim ta lớn lên hơn mỗi ngày.

“Lượng”, chữ này chúng ta đã học rồi. Lượng tức là sức dung chứa, là sự bao dung của ta. Trong thơ Kiều có câu: “Có dung kẻ dưới mới là lượng trên”. Châu là bao trùm, là đi giáp một vòng xung quanh. Sa giới tức là những thế giới nhiều như cát ở sông Hằng. Trái đất của chúng ta chẳng qua chỉ là một phần rất nhỏ của thái dương hệ, của một tiểu thế giới thôi, và ngoài kia còn có biết bao nhiêu tinh hà, còn có biết bao nhiêu thế giới trong vũ trụ nhiều như số cát sông Hằng. Vì vậy thế giới được gọi là sa giới. Cái lượng của đức Thế Tôn bao trùm hết tất cả mọi cõi. “Tâm bảo thái hư, lượng châu sa giới”, tám chữ rất hay. Tám chữ nói lên được cái từ bi vô lượng, lòng thương và sức dung chứa vô lượng của một trái tim. Người ấy là ai mà có một trái tim rộng lớn như vậy? Chúng ta là học trò của người, chúng ta phải thực tập thế nào để trái tim của chúng ta cũng càng ngày càng lớn để có thể nhìn những người khác bằng một cặp mắt ít khắt khe hơn, ít hẹp hòi hơn. Chúng ta phải nhìn bằng con mắt rộng rãi. Chúng ta phải có không gian bên trong thật nhiều thì tự nhiên con mắt chúng ta sẽ sáng ra. Con mắt đó có thể nhìn mọi loài với tình thương. Nhìn mọi loài với tình thương là năm chữ ở trong kinh Pháp Hoa, “từ nhãn thị chúng sinh.” Không phải là hễ chúng ta muốn nhìn bằng tình thương mà nhìn được đâu. Ai lại không muốn nhìn bằng tình thương, nhưng nếu trái tim ta đang còn nhỏ thì ta nhìn cách ấy không được. Do đó sự thực tập của chúng ta là phải nuôi cho trái tim lớn lên. Mà muốn nuôi cho trái tim lớn lên thì ta phải thực tập quán chiếu để thấy. Khi có thấy thì mới có hiểu, và có hiểu rồi thì mới có thương.

Bậc Đại Giác Viên Mãn
Xuất hiện nơi cõi Ta bà
Tấm lòng ôm trọn cả thái hư
Trí giác soi cùng đại thiên thế giới

Ngay đối với cái bệnh của chúng ta, dù là một chứng bệnh ngặt nghèo, nan y hay là một chứng bệnh tầm thường mỗi ngày của chúng ta, mà nếu chúng ta có một trái tim lớn, có một cái nhìn lớn thì những chứng bệnh đó không còn làm khổ chúng ta nữa.

Kỳ trước chúng ta đã học tới bốn cái bệnh lớn mà người nào cũng đang mang ở trong con người, là bệnh sinh, bệnh già, bệnh bệnh và bệnh chết. Bốn cái đó làm cho chúng ta đau nhức. Mỗi khi nghĩ tới bốn cái đó, chúng ta thấy nhức nhối tại vì thân của chúng ta đã bị điều kiện hóa bởi chúng. Ta thế nào cũng phải già, ta thế nào cũng phải bệnh, ta thế nào cũng phải chết, và tệ hơn nữa là chết rồi ta lại phải sanh ra trở lại để mà tiếp tục chịu khổ. Đó là chứng bệnh trầm kha mà đức Thế Tôn đã đi tìm những phương thuốc để trị liệu.

Thế và Xuất Thế

Trong giới Phật học, người ta có ý niệm về hai loại nhẫn, tức là hai loại chịu đựng. Thứ nhất là nhẫn thế gian và thứ hai là nhẫn xuất thế gian. Nhẫn thế gian nghĩa là cái nhẫn trong cuộc sống hàng ngày của người phàm, còn nhẫn xuất thế gian là một loại nhẫn được làm bằng chất liệu của tuệ giác. Có những người có một khả năng nhẫn nhịn nào đó, nhưng trong khi nhẫn nhịn họ cảm thấy đau khổ và thấy rằng mình phải nghiến răng chịu khổ. Khi thực tập nhẫn xuất thế gian, chúng ta vượt tới một bờ bến rất xa lạ: trong khi nhẫn, chúng ta không còn thấy chúng ta nhẫn nữa, chúng ta không cần chịu đựng nữa, tại vì chúng ta đã có tuệ giác, đã tiếp xúc được với bản môn.

Học Bụt, chúng ta phải học cho được nhẫn xuất thế gian. Chính cái nhẫn của xuất thế gian mới đem lại cho ta an lạc thực sự. Nhẫn của thế gian chẳng qua chỉ có thể giúp ta tránh khỏi một ít những đổ vỡ và lầm lỗi. Nhẫn tới một mức nào đó thì người đời hết nhẫn được nữa và họ sẽ nổ tung. Ngày xưa có một đại gia đình, cả trăm người, suốt trong chín thế hệ, nổi tiếng là ăn ở với nhau vô cùng hòa thuận. Đó là gia đình Trương Công Nghệ. Vua nghe đồn là gia đình đó ăn ở với nhau rất hòa thuận nên mới ngự giá tới thăm. Tất cả mọi người trong gia đình đều ra quỳ xuống để đón tiếp vua. Vua hỏi: “Bí quyết của các vị là gì mà có thể sống với nhau có hạnh phúc, không có sự xáo trộn, không có sự mâu thuẫn và không chia rẽ?” Ông tộc trưởng mới dâng lên một tờ biểu để trả lời. Trong tờ biểu đó chỉ có viết một trăm chữ “nhẫn”. Vua gật đầu khen phải và thưởng cho gia đình kia mấy tấm lụa. Đó là bài học thuộc lòng trong sách Luân Lý Giáo Khoa Thư mà tôi được học hồi còn nhỏ. Và đây là cái nhẫn gọi là nhẫn thế gian.

Hố Thẳm Và Đất Liền

Khi có một nỗi đau nhức hay một chứng bệnh trong cơ thể, ta phải nhận diện nó và học phương cách để chấp nhận nó. Chấp nhận được thì chúng ta bắt đầu khỏe. Đó là điều kiện nền tảng để chúng ta có thể đi tới, ôm lấy nó và chuyển hóa nó. Có nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng cái mà họ cần nhất là sức khỏe, sức khỏe toàn hảo. Khi ta cầu nguyện Bụt hay cầu nguyện Chúa, chúng ta muốn Chúa hoặc Bụt sẽ cho ta một sức khỏe toàn hảo. Nhưng đó không phải là một lời cầu nguyện được soi sáng bởi trí tuệ, tại vì cái gọi là sức khỏe toàn hảo ấy không bao giờ có mặt, đó là cái không thể có. Perfect health (sức khỏe toàn hảo) là một cái gì không có thật. Chúng ta phải học sống với cái bệnh của chúng ta, phải làm hòa với cái bệnh của chúng ta và phải ôm lấy cái bệnh của chúng ta, đó gọi là nhẫn.

Nhẫn là ôm lấy một cách vui vẻ, chấp nhận và chịu đựng. Sở dĩ chúng ta còn sống đây là vì hồi còn bé chúng ta đã bệnh lên bệnh xuống liên miên, hết cơn bệnh này tới cơn bệnh kia. Chính nhờ em bé bệnh lên bệnh xuống như vậy, cơ thể em mới phát sinh ra khả năng chống cự được với những con virus, với những con vi khuẩn, với những loại nấm độc. Nếu em bé không trải qua những cơn bệnh như vậy, thì em bé không khỏe mạnh được như bây giờ chúng ta thấy. Thành ra chúng ta phải học để chấp nhận cái bệnh và phải ôm lấy cái bệnh chúng ta, phải sống an lạc và hòa bình với nó. Bệnh của quý vị, nếu là bệnh ruột, bệnh tim, bệnh nhức mỏi, bệnh thận hay bệnh tiểu đường cũng vậy, quý vị phải chấp nhận nó và phải ôm lấy nó.

Trong kinh Tương Ưng Bộ S.IV, 207, Bụt dạy: “Người phàm phu chưa được học Phật pháp không có khả năng đối phó với cái đau khổ của họ. Trong đại dương có một hố sâu thăm thẳm không có đáy. Hố sâu thăm thẳm không đáy đó tượng trưng cho cái khổ. Cái khổ có thể là không có đáy.”

Trong kinh, Bụt có dạy là cơ thể của chúng ta giống như bầu hư không. Và trong bầu hư không đó có nhiều loại gió thổi tới: gió Đông, Nam, Tây và Bắc… Có những ngọn gió mang theo cát bụi rất nóng, có những ngọn gió mang theo hơi lạnh căm căm, có những ngọn gió làm cho mình nóng điên lên và có những ngọn gió làm cho mình mát mẻ. Cơ thể của mình là không gian và những cảm thọ khác nhau là những luồng gió thổi trong bầu không gian cơ thể ấy của chúng ta. Bụt cũng dạy rằng cơ thể chúng ta giống một quán trọ có đủ thứ người: người dễ thương, người dễ ghét, người da đen, người da trắng, người giàu, người nghèo… từ phương đông tới hoặc từ phương tây, phương nam và phương bắc tới, lưu trú một thời gian rồi đi. Cơ thể của chúng ta cũng là nơi mà mọi loại cảm thọ có thể xảy ra. Trong đại dương mênh mông có một cái hố thẳm không đáy. Đại dương đó là cơ thể chúng ta, là con người chúng ta. Cái hố sâu thăm thẳm đó được tượng trưng cho cái khổ của chúng ta. Kẻ phàm phu, người không biết chánh pháp và không biết tu tập thì rất sợ hãi khổ đau. Đối với họ, khổ đau là hố sâu thăm thẳm, họ không nghĩ rằng họ có thể chịu đựng được. Nhưng người có trí, biết tu tập, biết quán chiếu và biết thực tập nhẫn Ba La Mật, thì sẽ cảm thấy mình đang đứng trên đất liền mà không phải là đang đứng trong đại dương hay đứng trên bờ vực của hố thẳm khổ đau. Vì vậy khi thực tập nhẫn Ba La Mật, chúng ta sẽ có cảm tưởng an toàn là chúng ta đứng trên đất liền chứ không phải đứng trong hố thẳm của đại dương khổ đau.

Khi ta thực tập thì trái tim của ta rộng mở, trí giác của ta rộng mở và ta có thể mỉm cười với tất cả mọi nỗi khổ đau. Ta bao trùm được hết. Nếu ta khổ đau quá, nếu ta không chịu đựng được thì ta sẽ phải tự tử. Vì ta chưa có cái lượng của các bậc Thánh Nhân, của các vị Bồ Tát và của các vị Bụt, vì trái tim của ta chưa có dung tích lớn như vậy, cho nên ta phải tu tập để cho cái thấy cũng như là trái tim của ta lớn lên. Ta phải làm như Bụt, trái tim ta phải ôm được thái hư và trí giác ta phải bao trùm đại thiên thế giới. Nếu chúng ta liệng vào dòng sông mênh mông đó một chậu nước dơ, thì nước của dòng sông đó vẫn có thể trong và ta vẫn có thể lấy nước sông uống được như thường, tại vì dòng sông mênh mông quá, nó dung chứa được chậu nước dơ đó và chuyển hóa được nó một cách rất là dễ dàng. Còn nếu chúng ta đổ chậu nước dơ đó vào trong một thùng nước, hay trong lu nước trước nhà chúng ta thì chắc chắn là lu nước đó ta không thể uống được nữa, tại vì lu nước đó nhỏ quá và nước trong lu ít quá. Dòng sông mênh mông đã ôm lấy chậu nước dơ và chỉ trong vòng một, hai giờ đồng hồ đã làm cho nước dơ đó chuyển hóa, tất cả những cái dơ lặn xuống dưới đất, dưới đáy sông, trộn lẫn với đất, với cát và nước của nó trở thành ra trong trở lại. Dòng sông đâu có làm gì nhiều đâu, ấy vậy mà chậu nước dơ chúng ta đổ vào dòng sông tự nhiên biến thành nước trong là tại vì đất ở dưới dòng sông rất lớn và nước trong dòng sông rất nhiều. Bụt và Bồ Tát cũng vậy, nên quý vị không cần “cắn răng chịu đựng”. Chỉ có những người trong phạm vi thế gian mới phải cắn răng chịu đựng, đó gọi là nhẫn thế gian. Khi trái tim mình đã lớn, khi tâm lượng mình đã trở nên vĩ đại thì mình đâu cần phải cắn răng chịu đựng nữa, đó gọi là nhẫn xuất thế gian. chúng ta biết rằng đè nén và chịu đựng một hồi thì chúng ta cũng sẽ bùng nổ, cho nên phương pháp nhẫn thế gian không đáng để chúng ta học theo. Chúng ta phải học theo nhẫn xuất thế gian.

Trái tim chúng ta lớn chừng nào thì ta dung nạp càng dễ chừng đó, mà dung nạp được một hồi thì sẽ có chuyển hóa. Chúng ta hãy bắt chước dòng sông, tập nhìn bằng con mắt không hẹp hòi, không khắt khe, tập nhìn bằng con mắt độ lượng và bao dung thì chúng ta sẽ không còn khổ nữa. Nhẫn Nhục, ở đây, không đòi hỏi một sự cắn răng chịu đựng, vì nhẫn xuất thế gian rất khác với nhẫn thế gian. Khi nói: “Tôi không muốn thấy mặt anh nữa, tôi không muốn nghe đến tên anh nữa, tôi muốn anh ra khỏi cuộc đời tôi…” là chúng ta đang làm ngược lại với tinh thần đựng. Chúng ta chỉ muốn đổ ra ngoài. Ta nghĩ rằng người đó đã làm cho ta đau khổ, ta không chịu đựng nổi và ta quyết tâm đẩy người đó ra ngoài trái tim của ta. Ngay cái ý định đẩy người đó ra ngoài trái tim của mình đã là một nguyên do của khổ đau rồi. Trái tim của Bụt là trái tim có dung lượng rất lớn. Bụt không muốn đẩy ai, bỏ ai ra ngoài dung lượng của trái tim ấy cả.

Nếu ta không có khả năng đựng, không có khả năng ôm lấy một người em, một người anh, một người chị, đó là tại vì sao? Tại vì trái tim ta chưa lớn. Trái tim ta chưa lớn là tại vì sao? Tại vì ta đang còn ngu si, tại vì ta không thực tập quán chiếu, ta không biết rằng người đó chính là ta và người đó cần ta. Ta vẫn coi người đó là kẻ thù, và đó là nguyên do của đau khổ trong ta. Khi ta nhìn người bằng con mắt khắt khe, khi ta nói với người bằng những lời trách cứ, khi ta làm khổ họ bằng những cử chỉ, những lời nói và những ánh mắt của ta, tức là ta không có khả năng ôm, ta không có khả năng đựng. Sự thực tập của ta là phải quán chiếu để có thể ôm, có thể chịu, đó là Nhẫn Nhục Ba La Mật.

Mùa hè – Summer Opening 2019

Khóa tu mùa hè tại Làng Mai Pháp đang biểu hiện tuần đầu tiên, với mọi sắc màu và âm thanh trong trẻo của tiếng cười trẻ thơ.

Trong tuần này, gần một ngàn thiền sinh từ nhiều quốc gia khác nhau đã về Làng tu học, trong đó có nhiều trẻ em và thanh thiếu niên.

 

 

Đá cuội cũng nở hoa

 

Bông tuyết trắng

Vương trên cành thông xanh

Nắng vàng buông hơi ấm đôi tay

Chén trà thơm bỗng ngàn năm quý giá

Em đứng hỏi những cành khô trắng xoá

Sao giữa mùa đông đá cuội lại nở hoa?

 

Màu sắc mùa đông tráng lệ lung linh

Nhìn thảm tuyết mênh mông em mới hiểu thế nào là tinh trắng nhất!

Ôi mùa đông tuyệt vời!

Không quạnh hiu như ai kia từng ngần ngại

Xin cho cuộc đời được những lần về tắm gội giữa thanh tao.

 

Anh tôi đùa chơi, bạn tôi đùa chơi

Có lẽ đời ai cũng cần thêm những ngây ngô cùng tuyết trắng

Con mắt kẻ lớn khôn nhìn tuyết rơi đẹp lắm

Không hững hờ, không gì đó hiển nhiên!

 

Sự sống này đây là màu nhiệm có bao nhiêu?

Để tuyết cùng sánh vai với lá vàng rơi hay nắng sớm

Với tinh tú đêm đêm, nụ trà mi vừa chớm

Hay khuôn mặt trẻ thơ đang ngủ với môi cười

Em thả mình vào đường hoa tuyết phủ

Thấy lòng thơm và trắng muốt giữa trần gian.

 

Em nhìn thật lâu,

Những bông tuyết nở kiêu sa lên từng viên đá cuội

Nâng niu nét long lanh

Vì mong manh quá đỗi

Khi ngày kia nắng đượm dần, mùa thay đổi

Hễ nhận được một tấm lòng, thì sẽ hoá thiên thu.
 

Bông tuyết bay lên trời cao không hối tiếc

Em tìm được tình em là kẻ sĩ thích rong chơi.

 

Chân Pháp Khả

Bỏ đi

Bỏ đi,

Cơn mưa chiều nay vẫn đẹp

Buồn làm chi?

Bỏ đi,

Chiếc lá thu rơi vẫn nhẹ nhàng thanh thản,

Em níu kéo làm gì? 

Bỏ đi,

Những hạt sương vẫn trong suốt như pha lê

Lấp lánh sắc màu khi gặp nắng,

Em đòi hỏi làm gì?

Bỏ đi,

Mây vẫn thong dong từ bên này bên nớ

Em lo lắng làm chi?

Bỏ đi,

Biển muôn đời vẫn bao la,

Dù muôn trùng sóng vỗ

Em trách móc làm gì?

Bỏ đi,

Sông vẫn đẹp,

Núi vẫn hùng,

Đồng nội vẫn thơm lừng hương lúa,

Em hờn tủi làm chi?

Bỏ đi,

Tiếng cười trẻ thơ sáng nay vẫn hồn nhiên trong trẻo,

Em nghĩ suy làm gì?

Bỏ đi,

Bỏ mặc gió mưa, bỏ mặc cuộc đời, bỏ mặc tất cả để rong chơi.

Tí nữa mưa sẽ tạnh,

Mây sẽ tan,

Nắng sẽ đẹp,

Chim chóc sẽ bay về góp nhạc thành thơ,

Em sẽ nghe trong không gian niềm yêu thương tràn về.

Chân Hội Nghiêm

Ngày mở cửa 2019

Một vài hình ảnh “Ngày mở của” tại ba xóm của Làng Mai, Pháp cuối tháng 06.2019

Tại xóm Thượng

Tại xóm Mới

Tại xóm Hạ

Khoá tu “Về tới quê nhà” tại Tu viện Suối Tuệ tháng 8 năm 2019

 

 

Kính thưa quý cô chú, anh chị, các bạn và các cháu,

Vậy là Tăng thân Paris đã được hội đủ duyên lành, Tu Viện Suối Tuệ – xóm quý Thầy đã được biểu hiện. Tu Viện Suối Tuệ – VERDELOT  được biểu hiện vào tháng 10 năm ngoái và cho tới bây giờ đã và đang tổ chức các khóa tu như: khóa tu Làm vườn hạnh phúc (Happy Farm Retreat), khóa tu dành cho người trẻ, khóa tu Sức khỏe, khóa tu dành cho người Việt. Tất cả mọi người đến để cùng học hỏi lẫn nhau, chuyển hóa những niềm đau nỗi khổ, tìm được lợi lạc, niềm vui, bình an cho chính mình, cho gia đình mình, cũng như cho tất cả mọi người.

Một mảnh vườn mà được tưới tẩm, vun bón, chăm sóc với tất cả sự thương yêu của chúng ta thì chắc rằng mảnh vườn đó sẽ được tốt tươi và lớn mạnh.

Vì vậy quý thầy, quý sư cô kính mời quý cô chú, anh chị, các bạn và các cháu sắp xếp thời gian Về Tới Quê Nhà Tu Viện Suối Tuệ  từ ngày 24 đến ngày 31 tháng 8 năm 2019 này trong khoá tu tiếng Việt, cùng hiến tặng đôi bàn tay, vui tươi, hồn nhiên, an lành, để làm cho mảnh vườn VERDELOT của chúng ta được tốt tươi và lớn mạnh bây giờ và cho tương lai.

 

Ngôn ngữ khoá tu: tiếng Việt

Thời gian : từ ngày 24 tháng 8 đến ngày 31 tháng 8 năm 2019.

Xin đăng ký qua email: khoatutiengviet@gmail.com

Xin quý đạo hữu đến tham dự khóa tu, với tấm lòng tùy hỷ cúng dường cho các chi phí ăn, ở… sinh hoạt hằng ngày trong suốt thời gian khóa tu. (Nếu cúng dường thêm xin hoan hỷ).

Xin quý đạo hữu yểm trợ: nếu có LỀU, SLEEPING BAG (túi ngủ) thì xin mang theo. Nếu không có thì Tu Viện sẽ giúp.

Khóa tu này quý vị sẽ ở LỀU, chỉ ưu tiên cho người nào không thể ở lều được. Ở lều như đang ở khách sạn Ngàn sao vậy đó. Sáng sớm nghe chim hót vang rừng, không khí trong lành, còn buổi tối thì thấy cả một bầu trời sao.

Vậy xin quý đạo hữu đăng kí từ bây giờ để chúng con tiện việc sắp xếp chỗ ăn, ở…, nếu trễ quá thì không có chỗ.

Rất mong sự có mặt của đồng bào mình.

Kính thư,

Thầy Trời Đại Nguyện – sư cô Tráng Nghiêm

 

Bích Nham hữu tuyền

 

 

Bích Nham hữu tuyền, trạc chi tắc dũ

Mấy hôm nay trời mưa nhiều, năm ngoái tháng này tuyết đã rơi phủ núi rừng. Thời tiết ấm áp đáng lẽ tôi phải mừng chứ, nhưng tôi không nghĩ vậy. Tôi đang lo cho đất Mẹ, cho thế giới của chúng ta đang sống. Hiện nay bầu khí quyển đang bị nóng lên từng ngày. Những tảng băng ở vùng Nam và Bắc cực dần tan chảy làm mực nước biển dâng cao ảnh hưởng đến dòng nước ngọt, chắc chắn trong tương lai con người sẽ thiếu nước thôi. Sự lo lắng của tôi dần tan biến khi tôi thiền hành vào khu rừng của Bích Nham. Nơi đây có con suối chảy từ đỉnh núi cao dọc theo con đường thiền hành và trải dài ra tận con lộ Pleasant Valley. Mỗi ngày chúng tôi đều thiền hành vào rừng và đi dọc theo con suối ấy. Chúng tôi thường dừng chân để lắng nghe tiếng suối róc rách chảy qua từng khe đá. Nước suối trong suốt, tôi chỉ muốn bơi lội cho thỏa thích. Nhưng lòng suối cạn và nước thì lạnh như đá, bỏ một ngón tay xuống thôi là đã lạnh cóng rồi. Ngắm nhìn dòng suối, tôi cảm thấy biết ơn Thầy biết bao. Chúng tôi được hưởng phúc từ Thầy nên mới được sống ở một tu viện có khu rừng rất yên tĩnh để tu tập và có nước trong để dùng trong đời sống hàng ngày. Mai này dù trái đất có khan hiếm nước thì hy vọng nơi này vẫn còn một nguồn nước vô tận.

Thầy có viết hai câu đối treo trong thiền đường Đại Đồng: “Nước Bích lắng trong, ngàn sông có nước ngàn sông trăng hiện. Non Nham tú lệ, mỗi lần nhìn lại mỗi lần mới tinh”. Ngàn sông có nước ngàn sông trăng hiện. Nghĩ đến những con sông trên thế giới hiện nay đã khô cạn và những dòng sông khác sẽ khô cạn, tôi sợ rằng sau này con người sẽ không có đủ nước mà dùng thì lấy đâu mà trăng hiện đáy sông? Vậy mà vẫn có người rất thoải mái mở vòi nước để chảy một cách phung phí mà không thấy tiếc. Họ không nghĩ đến những nơi không có một chút nước ngọt để dùng. Hơn nữa để thỏa mãn nhu yếu ăn uống, chúng ta phá rừng xây nông trại nuôi súc vật. Đây cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến nguồn nước và hành tinh xanh. Một cách để cứu hành tinh mà chúng ta đang sống là ý thức hơn về sự tiêu thụ của chúng ta trong đời sống hàng ngày.

Cô Dangdang người Hồng Kông, hàng năm đều xin về ở Bích Nham một thời gian dài. Cô nói rằng mỗi khi đi vào rừng ngồi bên con suối, cô thấy mình như được trị liệu, không cần phải đi thăm bác sĩ tâm lý trị liệu làm gì. Điều này làm tôi nhớ đến hai câu đối được treo hai bên cầu bắc ngang qua con suối ở Sơn Hạ, Làng Mai nước Pháp: “Sơn Hạ hữu tuyền, trạc chi tắc dũ”. Nghĩa là dưới chân núi có con suối, nước suối có thể dùng để chữa lành các vết thương. Con suối trong khu rừng Bích Nham cũng có khả năng trị liệu cho rất nhiều người. Tôi nghĩ mình có thể đổi thành “Bích Nham hữu tuyền, trạc chi tắc dũ”. Được lắm chứ!

Năm rồi, trước khi sư em Q.N đổi sang tu viện Mộc Lan, chúng tôi hẹn nhau cùng ra suối chơi và uống trà. Chúng tôi đem bếp ga và nồi nhỏ để có thể nấu nước pha trà và chế mì gói. Tôi xuống suối lấy nước. Nước suối thật trong và lạnh. Sư em hơi lo ngại vì nước chưa được khử trùng. Tôi liền trấn an sư em vì chính tôi đã uống nhiều lần rồi mà không bị đau bụng. Nước đã sôi, sư em có chuẩn bị một ít rau thơm, chanh và ớt. Hai chị em chúng tôi yên lặng thưởng thức tô mì ngút khói, hương thơm phức. Tuy trời lạnh nhưng tôi thấy lòng mình thật ấm áp. Tiếng suối róc rách, không khí trong lành và sự yên lặng của núi rừng, không từ ngữ nào có thể diễn tả được hạnh phúc đang tràn ngập trong tôi. Dù chỉ là mì ăn liền nhưng nó ngon hơn cả sơn hào hải vị. Tôi thấy mình giàu có hơn những người giàu có nhất trên thế giới này. Chưa chắc họ đã có được những giây phút tự do và bình yên như hai chị em tôi lúc đó. Chúng tôi tận hưởng ly trà thơm được nấu bằng nước suối rất ngọt và tận hưởng giây phút của tình huynh đệ. Không lâu nữa sư em sẽ rời Bích Nham để sang Mộc Lan rồi, không biết khi nào chị em lại có dịp ở chung một xóm nữa.

Trong một buổi vấn đáp, có một thiền sinh đã hỏi chúng tôi: “Làm sao có thể cân bằng tâm lý khi mình sống chung với những người mình thương nhưng một mai mình phải chia tay với họ?”. Nghĩa là làm sao mình không bị đau khổ khi một mai mình phải chia tay người mình thương. Câu hỏi rất hay. Câu trả lời của tôi là sống hết lòng với người mình đang chung sống. Sống hết lòng không có nghĩa là mê đắm, mà có nghĩa là mình có mặt cho người kia một cách trọn vẹn khi đang sống bên người đó, và nếu có chia tay thì mình không có gì phải tiếc nuối. Tôi đang có mặt cho em trọn vẹn trong giây phút hiện tại. Chúng tôi không nói đến chuyện tương lai, cũng không nhắc gì về quá khứ. Chúng tôi chỉ tận hưởng giây phút có mặt bên nhau là đủ rồi. Không cần phải nói với nhau những lời hoa mỹ, thương yêu làm gì. Tình thương chân thật là có mặt trọn vẹn cho người mình thương trong giây phút hiện tại. Tôi sẽ không hối tiếc hay nhớ nhung về em khi em không còn ở đây nữa. Mỗi lần nghĩ về em, tôi sẽ nhớ đến một kỷ niệm đẹp và được nuôi dưỡng.

Về nương tựa Tăng thân

Thời đại càng văn minh tiến bộ thì con người càng nhiều khổ đau, trống vắng, cô đơn và xa cách. Hiện nay đa số chúng ta ai cũng có một thiết bị điện tử để dùng như ipad, iphone, v.v. Hàng ngày con người cứ dán mắt vào đó để lên mạng. Sự cô đơn trống vắng đã được khỏa lấp bởi các thiết bị điện tử ấy. Mạng lưới internet giống như là mạng nhện của bảy yêu nữ trong chuyện Tề thiên đại thánh. Nếu mình không đủ chánh niệm, tức thì mình sẽ bị những sợi dây của mạng lưới quấn lấy và siết chặt không buông. Đã có người chết vì dùng mạng ngày đêm. Những người trẻ cũng vì ham chơi game hoặc những thông tin không lành mạnh trên mạng mà thân tâm bị tàn hoại. Bản thân tôi đôi khi cũng bị quyến rũ bởi những sợi dây nhện ấy. Khi vào “search” (tra cứu) rồi, nếu không có chánh niệm, tôi cũng sẽ bị quấn bởi sợi dây nhện yêu tinh ấy. Nhưng tôi cũng ý thức rằng mạng lưới internet là con dao hai lưỡi. Nếu biết cách sử dụng thì nó cũng sẽ giúp ích rất nhiều cho sự học hỏi của mình. Thời đại công nghệ thông tin, ở tu viện, chúng tôi không ngăn cấm quý thầy, quý sư cô hoặc các bạn thiền sinh đến tu tập sử dụng mạng. Chúng tôi thiết lập thời khóa và nội quy khi dùng mạng. Bao nhiêu lần trong một tuần và bao nhiêu tiếng trong một ngày. Chúng tôi cũng có một ngày hoàn toàn không sử dụng mạng, cũng như một ngày hoàn toàn không dùng xe. Không chỉ bảo vệ môi trường mà còn bảo vệ thân và tâm của mình nữa.

Thiền sinh và phụ huynh đã ý thức được điều ấy. Cho nên những khóa tu hàng năm được tổ chức tại Bích Nham, số lượng người tăng thêm. Phòng ăn, chỗ ở bắt đầu không đủ đáp ứng nhu cầu người về tu học. Khi thiền sinh đến tu viện, họ được yêu cầu không dùng những thiết bị điện tử, mà dành thời gian để học thiền ca, học ăn trong im lặng, thiền hành, pháp thoại, pháp đàm. Trẻ em thì được quý thầy, quý sư cô hướng dẫn phương pháp thỉnh chuông, thiền ăn bánh, và các em có không gian chạy chơi tung tăng cùng bạn bè. Sau khi khóa tu chấm dứt, các em hẹn gặp lại nhau sang năm. Những thiền sinh cũ thì nói rằng mỗi khi về lại Bích Nham giống như họ được trở về nhà vậy. Vì nơi đây họ thấy an toàn. Ở tu viện, họ không phải tiếp xúc với những tin tức từ báo chí, truyền thông, truyền hình, internet. Về tu viện họ có cơ hội được trở về với mình nhiều hơn, vì không còn bị chi phối bởi công việc và công nghệ thông tin. Họ được tiếp xúc với thiên nhiên và với con người nhiều hơn.

Tu viện Bích Nham cách thành phố New York hai giờ lái xe, cho nên những thiền sinh đến tu học thật đa dạng. Điều này không tránh khỏi những câu hỏi như: “Khi vào thiền đường chúng tôi thấy phái nam ngồi một bên, phái nữ ngồi một bên. Vậy những người họ không thấy mình là nam hay nữ thì ngồi chỗ nào?”. Đó là một trong những câu hỏi thường xảy ra trong những buổi vấn đáp. Với trí tuệ của một bậc thầy, Thầy đã dạy chúng tôi nhiều lần về cái thấy tương tức và duyên sinh. Tương tức là trong cái một có cái tất cả, trong cái tất cả có cái một”. Trong nam có nữ, trong nữ có nam. Khoa học cũng chứng minh điều này. Duyên sinh là: Cái này có vì cái kia có. Cái này sinh vì cái kia sinh. Cái này diệt vì cái kia diệt”. Ngày xưa, thật hiếm khi nghe ai đó nói đến chuyện đồng tính hay chuyển giới tính, hoặc có khi cho là điều xấu hổ khi nhắc đến. Nhưng ngày hôm nay, nó đã trở thành chuyện tự nhiên. Vấn đề đó đã xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, phải nói đó là tâm thức cộng đồng, và không ai thấy đó là điều lạ hay xấu hổ khi nhắc đến. Chúng tôi ở đây đã tôn trọng quan điểm của họ, sắp cho họ chỗ ngồi giữa hai bên ở hàng cuối. Và không gọi họ theo giới tính nam nữ, mà gọi theo ý muốn của họ là “It” hoặc “They/them” trong tiếng Anh. Bụt dạy tất cả chúng sanh đều có Phật tính. Nếu chúng ta thực tập được lời Bụt dạy thì không những bản thân mình được hạnh phúc mà gia đình của mình cũng được hạnh phúc và bình an. Là những vị xuất sĩ trong thời đại này, mình cần phải thực tập khế lý và khế cơ thì mới có thể giúp người.

Hiện trạng của xã hội đã làm tôi hiểu nhiều hơn về lời Thầy nói năm nào. Tu viện của chúng tôi không có đầy đủ tiện nghi, nhiều khi thiền sinh phải ngủ dưới đất vì đã hết chỗ. Chúng tôi, những người xuất sĩ không cần phải nấu những món ăn cầu kỳ, không nhất thiết phải cho pháp thoại thật hay, chỉ cần sự có mặt của Tăng đoàn xuất sĩ, có thực tập uy nghi giới luật đầy đủ, cũng đủ giúp cho thiền sinh tìm thấy một nơi để nương tựa, để trở về.

Xoa dịu niềm đau

Sáng nay, trên đường đến phòng ăn, tôi gặp em – một thiền sinh dài hạn tại Bích Nham. Em chào tôi với gương mặt tươi vui. Khi mới đến tu viện, gương mặt em lúc nào cũng rầu rĩ. Em từng chia sẻ với tôi rằng ngày xưa em là một sinh viên du học. Ngày đầu tiên đến nước Mỹ, em được người bạn đồng hương hết lòng giúp đỡ. Nhưng không ngờ người bạn trai đó đã lợi dụng sự ngây thơ và lấy đi sự trong trắng của em, và em đã có thai. Vì hận người bạn và muốn giấu cha mẹ, em đã quyết định phá thai. Em chấm dứt sự liên hệ với người đó, quyết định làm lại cuộc đời. Sau khi tốt nghiệp, em thành hôn với một người Mỹ, hai vợ chồng sống hạnh phúc bên nhau và em rất muốn có con. Cho đến một hôm khi biết mình có thai, hai vợ chồng em hạnh phúc vô cùng. Nhưng trớ trêu thay, tin vui chưa lâu thì bác sĩ báo cái thai không được bình thường. Đứa bé trai được sinh ra khi chưa đủ tháng, phải sống bằng dưỡng khí, và trải qua nhiều ca mổ. Bác sĩ nói rằng nếu bé sống có thể sẽ bị tật nguyền suốt đời. Hai vợ chồng không muốn con mình lớn lên trong đau khổ, nên họ quyết định rút ống dưỡng khí của bé. Đứa bé tắt thở trong khi nụ cười vẫn nở trên môi. Khi thấy nụ cười trên môi bé, em liền thay đổi ý định, nhưng bác sĩ bảo rằng không còn kịp nữa rồi. Sau đó, em bị trầm cảm nặng nề phải nhờ đến bác sĩ tâm lý trị liệu và nhờ đến thuốc mới có thể ngủ được. Cứ thế hàng năm vào cuối tháng 10, đầu tháng 11 thì hai vợ chồng em lại nhớ đến chuyện xưa, nhớ đến nụ cười của bé. Em mang nhiều mặc cảm tội lỗi cho rằng mình đã tự tay giết con mình. Đứa con trong quá khứ và đứa con trong hiện tại. Em chỉ biết lái xe trong vô thức, không biết mình sẽ đi về đâu. Lắng nghe em chia sẻ trong tiếng khóc, trên gương mặt hằn những nét khổ đau. Tôi không ngờ rằng em lại có nhiều đau khổ như thế, nhìn bên ngoài nào ai biết được. Tôi nói: “Em ơi, những gì đã xảy ra trong quá khứ không còn nữa. Đừng để quá khứ giam hãm em trong ngục tù của tuyệt vọng. Em định để cho khổ đau, mặc cảm tội lỗi giày vò em mãi cho đến bao giờ? Em có biết sự khổ đau của em sẽ ảnh hưởng đến ba mẹ em không? Nếu em mặc cảm tội lỗi với những đứa con mà em đã từ bỏ, thì hãy xin lỗi chúng đi. Chúng đang có mặt ở trong em đó. Em hãy tự nói với mình: “Con ơi, vì vô minh mà mẹ đã từ bỏ con. Mẹ xin hứa rằng từ nay về sau mẹ sẽ sống trong chánh niệm. Mẹ hứa sẽ yêu thương những đứa trẻ khác như là thương yêu các con vậy”. Em hãy làm mới với các con của em, ngay cả đứa bé ban đầu mà em đã phá bỏ. Sự sám hối đó sẽ xóa tan mặc cảm tội lỗi trong em. Và chính những đứa bé đó cũng sẽ giải tỏa được nỗi oán hận trong lòng của chúng đối với mẹ. Em đã có Tam bảo che chở và pháp môn để tu tập. Em có thể chấm dứt khổ đau bằng sự tu tập chánh niệm. Tôi chấm dứt bằng một câu rất cứng rắn: “Em không nên đi đâu hết. Hãy ở lại thực tập ba tháng mùa đông! Thời gian này là cơ hội cho em chuyển hóa những vết thương trong lòng. Đừng phụ lòng cha mẹ và thầy tổ”. Chắp tay lại, em nhìn tôi bằng đôi mắt biết ơn.

Trong xã hội hiện nay, đã có nhiều trường hợp xảy ra giống như em. Có người thiếu trách nhiệm do những hành vi mình đã tạo ra, cũng có người vì hoàn cảnh. Tôi không phán xét, cũng không trách móc, mà chỉ thương cảm như thương cô gái trước mặt tôi, đang bị mặc cảm giày vò. Tất cả đều do vô minh mà ra. Không có ai trên đời này muốn tạo khổ đau cho mình hay cho người khác. Tôi viết ra câu chuyện này cũng chỉ muốn nhắc nhở những người trẻ, hãy suy nghĩ cho thật chín chắn, đừng vì một phút đam mê mà sau này phải hối hận suốt đời.

Thầy là núi mà cũng là sông

Bước vào thiền đường, tôi đã thấy một không khí ấm cúng bởi nến và hoa. Những cánh hoa hồng phủ đầy mặt sàn trong vòng tròn, xen lẫn câu “Happiness is here and now” (Hạnh phúc bây giờ và ở đây). Tiếng nhạc nhè nhẹ vang lên tăng thêm phần thiền vị. Sư em Trăng Thanh Lương là chủ tọa buổi Be-in (Có mặt cho nhau) cuối cùng của mùa An cư này, với sự giúp đỡ của sư em Trăng Quang Sơn làm trà giả. Vị trí chính của vòng tròn là chỗ ngồi dành cho Thầy. Bắt đầu buổi Be-in, sư em chủ tọa quay sang chỗ ngồi của Thầy và chắp tay thưa bằng giọng Huế. Sư em nói rằng: “Hôm nay Sư Ông sẽ tặng cho mỗi người trong vòng tròn một đóa hoa hồng”. Trên mỗi đóa hoa đều có tấm thiệp với hàng chữ Tay Thầy trong tay con. Tất cả mọi thứ đều tạo nên sự bất ngờ cho mọi người. Sau đó, sư em mời mỗi người chia sẻ một kỷ niệm về Thầy. Tôi thấy vui trong lòng vì cách sư em làm thật dễ thương và ngộ nghĩnh, tạo cho mình cảm giác Thầy đang ngồi đó. Tôi càng thấy thương hơn khi em làm như Thầy đang ở đây thật vậy. Là thế hệ xuất gia những đợt đầu, chúng tôi có cơ hội được gần Thầy nhiều hơn thế hệ của các em sau này. Cho nên các em rất khao khát được nghe kể những câu chuyện về Thầy từ các sư cha, sư mẹ, sư anh và sư chị. Những câu chuyện có thể nuôi dưỡng bồ đề tâm của các em. Nhất là đối với các em mới xuất gia sau này, có em còn chưa từng được gần Thầy dù chỉ một lần. Là sư anh, sư chị, chúng tôi thấy mình có bổn phận phải thay thế Thầy lo cho các sư em. Dù biết rằng để hiểu tâm ý của các sư em không phải dễ dàng.

Thầy không những là một người thầy, mà cũng là một người cha và một người mẹ. Chim mẹ đã già và đã tập cho chim con biết bay. Thầy như chim mẹ đã nuôi nấng, dạy dỗ chúng tôi bao nhiêu năm tháng qua. Bây giờ, chúng tôi là chim con phải tập bay bằng chính đôi cánh của mình. Tôi nhớ Thầy luôn nói: “Đừng phụ lòng Thầy” hoặc “Đừng làm Thầy lỗ vốn nha con”. Thầy đã viết thành thư pháp: “Đừng phụ núi sông”. Thầy là núi mà cũng là sông của chúng tôi. Hoài bão của Thầy là sự tiếp nối của chúng tôi. Là duy trì mạng mạch của chánh pháp. Là huynh đệ cùng nắm tay nhau đem Đạo vào Đời.

“Thầy thương kính của chúng con, làm sao chúng con phụ lòng Thầy được!”

Chân Hoa Nghiêm

Về miền thảnh thơi

 

Thầy kính thương,

Mấy hôm nay, con dành thời gian để quán chiếu lời tâm sự từ một bạn trẻ người Ý, thuộc gia đình Wake Up mà con vừa chăm sóc trong khóa tu đầu năm mới. Trong buổi thiền trà chia tay, bạn ấy cảm động đến rơi lệ, nghẹn ngào chia sẻ: “Ngày mai tôi phải quay trở lại cuộc sống của thế giới ngoài kia, tôi chưa sẵn sàng và không muốn rời khỏi thế giới trong thiền viện này. Tôi đã sống ở đây một tuần, như sống ở một thế giới khác, nơi mà tôi được chấp nhận là chính tôi, nơi không có sự kỳ thị, không cần trang bị bất cứ rào chắn nào giữa con người với con người, nơi tôi cảm nhận bình an, tự tin, nhẹ nhàng và dễ dàng. Tôi tiếp xúc với sự sống sâu sắc trong từng ngày, từng giờ, từng bước chân và hơi thở. Nhưng thật lạ kỳ, chính tất cả chúng tôi đều bước vào đây từ thế giới đầy gai góc ngoài kia cơ mà! Chính chúng ta cùng nhau xây dựng thế giới lý tưởng trong tuần này, vậy điều gì tạo nên sự khác biệt giữa hai thế giới?”.

Con đã thỉnh một tiếng chuông chánh niệm cho cả gia đình pháp đàm cùng thở, để câu hỏi ấy được gieo sâu vào tàng thức của chúng con, của hai mươi người trẻ, tuổi từ 18 đến 35, đến từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, cùng đang đi tìm tương lai và sự nghiệp cho cuộc đời. Mỗi người sẽ tự tìm câu trả lời cho chính mình.

Trong tuần ấy, chúng con đã thiết lập các chương trình thiền tập làm mới tự thân, ngồi thiền và quán chiếu về ước muốn sâu sắc cho sự khởi đầu mới, lắng nghe nỗi lòng thầm kín bên trong, ôm ấp đứa trẻ tổn thương nội tâm bằng nhiều hình thức thực tập như thiền hành, thiền buông thư, thiền ăn, thiền viết thư và cả thiền ca cùng nhau bên ánh lửa.

Công trình quán chiếu cho con thấy rằng, sự khác biệt đó chính là ở phương pháp sống, cách sống hay có thể gọi là pháp môn tu học.

“Mười năm vườn xưa xanh tốt”

Mười năm trước, bước vào tuổi 28, thời điểm mùa xuân của tuổi trẻ, thời khắc cần khẳng định hướng đi vững chãi cho tương lai, con đã cho mình một cơ hội dừng lại, nhìn lại, tìm lại quá khứ, hiểu rõ hiện tại. Cũng như các bạn trẻ gia đình Wake Up hôm nay, con tặng mình một chuyến đi về nguồn tâm linh, trở lại bản tâm thanh tịnh để đặt cột mốc cho cuộc đời. Sau hơn một năm thực hành phương pháp sống mà Thầy và tăng thân đã hướng dẫn, con chính thức bước vào thế giới tự do từng ngày.

Mười năm thiền tập là mười năm tiếp nhận gia tài Thầy trao. Thứ quý giá nhất chính là sự tự do. Con giàu có về thời gian, về cơ hội để bắt đầu, để tiếp tục, để lớn lên trong bản lĩnh nhận thức về chính mình, về gia đình và về thế giới.

Con cũng như bao người trẻ khác, dưới sự hướng dẫn của cha mẹ, gia đình huyết thống, trường học,… đã nghĩ rằng mình sẽ tiếp tục đi con đường mà cha mẹ đã đi qua. Mười chín tuổi, con theo học chuyên ngành Xã hội học, hăng hái bước vào thế giới tri thức và thích thú góp tay vào công trình xây dựng phát triển xã hội.

Cùng lúc đó, con đang có một tình cảm trong sáng, sâu đậm suốt tám năm với mối tình đầu tuổi học trò. Ra trường, đi làm, khám phá sự thật cuộc sống và các mối quan hệ xã hội được xây dựng, con từ từ nghi ngờ giá trị đích thực của con đường mà cha mẹ, anh chị, thầy cô giáo và bạn bè đang đi. Dần dần, những hiện thực mà con được thấy, được nghe, được sống cùng, đã không thuyết phục được con. Con thấy trái tim mình muốn vươn tới một nếp sống thanh cao, đẹp đẽ và lý tưởng hơn.

Chia tay bạn trai, viết thư xin nghỉ việc, xếp lại tất cả các mối quan hệ, đóng cửa nhà, trả lại tất cả danh phận và địa vị, con đã lên đường đi tìm cuộc sống mà mình mong muốn.

Thầy ơi, trăng cuối tháng vẫn còn sáng rực rỡ cho tới giờ thiền tọa sớm. Con bước từng bước thảnh thơi trên con đường ngang qua cụm bạch dương đến thiền đường Hội Ngàn Sao. Con đã làm ước hẹn mỗi ngày với ngôi sao Bắc Đẩu, ngôi sao Người Thợ Săn, sao Mai, sao Hỏa,… và cả bầu trời sao lung linh lấp lánh đang soi tỏ từng bước chân ý thức của con. Vì con có mặt đây, đích thực và vững chãi nên trăng sao cũng có mặt đó, rõ ràng và trong sáng cho con. Hàng tùng xanh mát, dãy đồi nhấp nhô tỏ lộ các đường cong chạy dài dưới ánh trăng, cánh đồng lúa mạch, ruộng nho thẳng tắp cùng núi rừng thiêng liêng hùng vĩ. Tiếp xúc với sự sống trong giây phút hiện tại một cách sâu sắc, con thấy mình có cơ hội hiểu thêm tâm ý mình cũng như sự vận hành của tâm thức trong hiện tại và quá khứ đã qua.

Đạo Bụt cho gia đình

Hạt giống muốn sống cuộc đời tập thể vốn dĩ con được thừa hưởng mạnh mẽ từ cha mẹ, người đã từng dùng nhiều thời gian của tuổi trẻ mình xây dựng đoàn thể. Trong ba người con của cha mẹ, con tiếp nhận hạt giống này mạnh hơn cả.

Hạt giống sẵn có ấy được gieo trồng trong môi trường thuận lợi của tăng thân, gặp được pháp môn chuyển hóa khổ đau và chế tác hạnh phúc đích thực. Con như cây non được ươm trồng trong mảnh vườn tốt, đủ nắng, đủ nước, đủ dưỡng chất cùng tiếng chim, cánh bướm và bầy ong siêng năng mỗi ngày.

Theo thông lệ gia đình huyết thống, Tết ta là thời gian con cháu đến thăm hoặc gọi điện, hỏi han và chúc sức khỏe ông bà, cô chú bác trong dòng họ. Điện thoại thăm họ hàng bên nội, chú Tư của con hỏi: “Dạo này cháu làm công việc gì? Sống thế nào đấy cháu?”. Gia đình con vốn chưa biết nhiều về đạo Bụt và đời sống xuất gia nên con phải dùng phương tiện câu chữ để chia sẻ về đời sống của một sư cô.

Cười rất tươi trong điện thoại, con thưa: “Con giống như là một cô giáo dạy kỹ năng sống cho các em bé tuổi từ 6 đến 12, giống như là chuyên gia tâm lý cho các em thiếu niên tuổi từ 13 đến 19, hoặc giống như là trợ lý ứng dụng giảng dạy về mặt tinh thần, giá trị sống cho thanh niên từ 18 đến 35 tuổi, là người hỗ trợ trong các chương trình đào tạo hạnh phúc đích thực, sức mạnh nội tâm cho người lớn từ 35 tuổi trở lên. Mỗi tuần, con nấu ăn một ngày, tuy nhiên có khi nấu cho cả mấy trăm người, nhà bếp được thiết kế với máy nướng, lò hấp và nồi rất to, chuyên dụng. Có ngày con được ra cuốc đất làm vườn, gieo hạt ở nông trại hữu cơ rộng lớn, thu hoạch cả xe rùa khoai tây, rau sạch,… Con được ăn chay, thức ăn hiền lành, tươi mới, sống hòa đồng với thiên nhiên cây cối, núi rừng, được thở không khí trong lành, sảng khoái mỗi ngày ạ!”. Mô tả đến như vậy thì các chú và các cô cười giòn tan, vui vẻ và bảo: “Thế là tốt lắm, cứ tiếp tục thế nhé cháu!”.

Thầy ơi, con giới thiệu đạo Bụt cho gia đình con bằng cách như thế đó. Nếu nói rằng bây giờ con đã cạo sạch tóc, mặc áo nâu, làm sư cô, ở trong chùa mỗi ngày hai thời ngồi thiền tụng kinh gõ mõ, hoặc cúng bái… thì gia đình con sẽ không hiểu, sẽ khổ đau lắm. Bởi những tri giác sai lầm của người đời đã gắn nhãn không mấy đẹp đẽ lên cho những điều đó. Nếu không có cơ hội tự mình mắt thấy, tai nghe, chứng thực cuộc sống của con hiện tại vui vẻ, tự do như thế nào thì gia đình con sẽ không thể tin tưởng được.

Không, con không hề muốn!

Thỉnh thoảng lúc rảnh rỗi, có khi trong tâm con biểu hiện lên những cảnh cũ người xưa, kỷ niệm hồng thời vướng mắc với anh chàng tuổi 19. Đầu mùa an cư này, con quyết tâm chinh phục, tìm hiểu và quán chiếu để buông bỏ mối ràng buộc tâm ý này.

Con đến sư cô trụ trì để mượn sách Giải phẫu cơ thể học. Một mặt con học hỏi về sự vận hành sinh lý trong cơ thể con người để đủ hiểu biết mà thiết lập những bài thiền tập cho tự thân vào từng thời điểm thích hợp. Đó là về thân.

Mặt khác, về tâm, con tìm nghe các bài pháp thoại của Thầy trong Duy biểu học, pháp thoại dành riêng cho người xuất gia, phương pháp thay chốt, nhận diện đơn thuần,… Con viết tất cả những biểu hiện của tâm vướng mắc vào sổ công phu, thỉnh y chỉ sư đọc và chứng minh, hỗ trợ cho con. Con muốn đối diện với chính mình, con muốn bước lên một bước trong kinh nghiệm tu học để thực sự có tự do.

Con đặt câu hỏi cho chính mình: hạnh phúc của sự vướng mắc đó có bền vững không? Không, vì nó được xây dựng trên những đòi hỏi và điều kiện. Rồi con lại tự hỏi, nếu đánh đổi cuộc sống tự do của một sư cô với cuộc sống của một người vợ, suốt ngày trong nhà, nấu ăn, giặt giũ, nuôi dạy con cái và sống trong nhà cao cửa rộng đầy đủ tiện nghi thì mình có muốn không? Câu trả lời là không, không hề muốn.

Vậy đã rõ ràng rồi, hiện tại là cái mình thích, tâm ý vướng mắc chỉ là cái tập khí thất niệm và xao lãng mà thôi, là rác. Mỗi lần kỷ niệm cũ biểu hiện, con mỉm cười tự nhủ: “Thấy rồi, biết rồi, không làm được gì đâu nhé! Cùng nhau đi làm chuyện có ích cho tăng thân thôi, bạn vướng mắc à!” 🙂

Và con thực tập phương pháp thay chốt, để tâm ý được mở rộng và hướng thượng.

Con dùng thời gian để học nhiều điều mới và đóng góp cho tăng thân sức trẻ của mình. Con mời các bạn thiền sinh cùng làm bánh mì có nhiều loại hạt và nướng bằng lò củi. Con cũng tập làm đậu nành lên men cung cấp B12, thêm cho thực đơn ăn chay, thiết kế thời khóa học thêm tiếng Anh, học nấu món ăn mới, chơi với các bạn trẻ đến từ nhiều nước khác nhau để hiểu về văn hóa, lối sống châu Âu.

Tăng thân và đời sống xuất sĩ đã cho con cơ hội để quán chiếu và có được cái thấy nuôi dưỡng đời sống tự do của hiện tại. Tuệ giác và tập khí đều chịu luật vô thường, hiểu được điều đó, con càng trân quý những điều kiện hiện tại mà con được thừa hưởng từ Thầy, từ tăng thân và từ pháp môn tu học. Con thấy mình vừa nhỏ bé, vừa lớn lao khi ở trong lòng của đại chúng. Và con khao khát nương tựa vào tăng thân.

Khi đặt được anh chàng 19 tuổi ấy vào vị trí của sự buông bỏ và vô thường, tâm ý con được cởi trói và tuệ giác về tình thương không vướng mắc bắt đầu có mặt. Người ấy như là một vị Bồ tát đã đi qua cuộc đời con trong vòng tám năm, đã hiến tặng cho con một trải nghiệm của tình thương có điều kiện và tự do trong khuôn khổ.

Sáng tỏ nẻo về đường đi

Bài tập mà Thầy giao cho từ ngày còn là sa di ni, đến bây giờ con vẫn làm đều đặn, đó là bài tập tìm hiểu về cha, về mẹ, về ông bà tổ tiên huyết thống qua thiền viết thư. Ngày làm biếng là ngày con dành cho gia đình huyết thống. Từ khi xuất gia, con mới có nhiều thời gian để lắng nghe tâm sự của bà nội, để hiểu về tuổi trẻ của ông nội, về nghề nghiệp mà ông ngoại đã làm, về cách nuôi dạy con cháu của bà ngoại, v.v.

Trong cuộc chiến tranh chống Pháp, vì lo bảo vệ vợ con, trong lúc chạy vào hầm trú ẩn không kịp mà ông ngoại của con đã qua đời ngay trước mắt của bà ngoại, mẹ và các dì, cậu. Người Việt Nam vừa thoát khỏi chiến tranh không lâu nên thường có xu hướng che đậy quá khứ đau thương lại và dạy dỗ con cháu cố gắng vươn lên, tiến về phía trước… Gia đình con cũng vậy. Cho đến khi cuộc sống yên ổn, ngày tháng đủ lắng xuống thì con mới rủ rỉ xin mẹ kể chuyện về ông bà ngoại. Ông ngoại mất năm mẹ chỉ vừa tròn mười tuổi, mồ côi cha nên cuộc sống của mẹ đói kém, khó khăn. Khi mẹ nhắc lại chuyện đau buồn, con đã hết sức chánh niệm, đã thở thật yên để ôm ấp niềm đau cho mẹ, cho con, cho gia đình. Và cuối mỗi cuộc điện thoại về nhà, con thường tưới tẩm trở lại cái hiện tại hạnh phúc gia đình con đang có: cha mẹ con cái khỏe mạnh, vui tươi và sống hòa thuận bên nhau.

Có một bạn trẻ người Pháp hỏi con: “Vô ngã là gì?”. Con đã dùng kỷ niệm này để trả lời: “Ông ngoại của tôi đã chết dưới bom đạn từ thế hệ cha ông của bạn, và tôi đang ở đây cùng với bạn tu, học, chơi và làm việc trong tình huynh đệ, xây dựng tương lai tươi sáng và hiền lành chung với bạn. Nhờ vô thường mà chúng ta đang giúp tổ tiên của chúng ta xây dựng hiện tại và tương lai tốt hơn. Vì thiếu hiểu biết nên thiếu thương yêu. Bây giờ, chúng ta có phương pháp để hành trì thì tổ tiên của chúng ta ngày xưa chính là chúng ta bây giờ, sẽ không cần phải giết hại nhau để sống, mà có thể nắm tay nhau cùng tạo dựng sự sống bình an”.

Thầy ơi, con đang thai nghén cho bài kinh Chìu tập 2. Con đã có tư tưởng chủ đạo cho bài kinh rồi, khi nào chín, nó sẽ biểu hiện như bài kinh Chìu tập 1 mà con đã viết từ mấy năm trước. Kinh Chìu tập 2 này sẽ là công trình quán chiếu của nhiều năm mà con trải nghiệm nghiệm trong đời sống xuất gia giữa các sư cô. Con rất thích thú với ý tưởng về kinh Chìu trong sách Trái tim của Bụt.

Thầy ơi, còn nhiều điều con muốn viết cho Thầy, kể cho Thầy nghe lắm. Nhu yếu được viết thư cho Thầy như là điều gì rất hiển nhiên. Cũng như nhu yếu của các chị em con, sáng nào cũng thức dậy, thắp lên một ngọn nến, pha ấm trà nóng, thở thật yên và lắng lòng nghe pháp thoại của Thầy. Mỗi khi con để thân tâm mình được tiếp xúc với tuệ giác của Thầy là mỗi giây phút con thấy sáng tỏ đường đi nẻo về cho một cuộc sống tự do và hạnh phúc…

Kính thương và biết ơn Thầy.

Sư con của Thầy

Chân Trăng Chùa Xưa

Trước cuộc đời rộng lớn

Thương gửi bạn hiền!

Tháng Mười: “Nguyệt vô sự chiếu nhân vô sự” (Thơ Trần Thánh Tông)

Tháng Mười, hàng tre lá vẫn xanh. Vườn Ươm kết thúc mùa yên. Tôi ngồi xuống vào một buổi sớm làm biếng, thắp nến, đốt trầm, pha trà (cái thú vui muôn thuở đây mà) và làm mới lại mình. Lời phát nguyện chạm tay vào thực tại cho tôi nhiều hạnh phúc. Thường khi có một mục tiêu, tôi hay đòi hỏi mình phải làm được và làm cho đẹp, nhưng khi đạt được rồi thì lại buông nó xuống không duy trì nữa. Nếu tập khí tốt đã nảy mầm mà không tưới tẩm thì sẽ héo khô, chết dần trong im lặng mà chính mình cũng không hề hay biết. Thế nên thỉnh thoảng tôi vẫn thường hay tự hỏi mình đã có thêm điều gì và đánh mất điều gì trong nếp sống của một người xuất sĩ trẻ. Tôi viết cho mình một lá thư dài. Đôi lúc cũng phải tự ôm mình vào lòng, ôm những hạnh phúc để biết ơn, ôm những khổ đau để hoa ngàn biết nở, phải không bạn?

Ba năm quả không dài để có nhiều kinh nghiệm cho một người xuất sĩ áo nâu, để thấm thía những cuốn sách tinh hoa của Thầy. Tôi vẫn giữ gìn một cách trân trọng những uy nghi nho nhỏ, những bài thi kệ tưởng là giản đơn. Học cách đối xử với người khác như một đứa trẻ lên ba. Và mỗi phút giây tôi học làm người yêu chân thật[1] bằng sự có mặt của mình. Trong đời sống làm sao mình không sai trái được, nhất là khi chánh niệm của mình còn non nớt, mình có thể làm việc giỏi, có thể đọc nhiều cuốn sách, có thể có tài năng, nhưng một phút bực tức, mình đốt tất cả ra tro bụi. Mình đánh mất liên hệ với một, hai, ba,… người là mình mất hết. Nếu không có khả năng dừng lại để nhìn kỹ, mình sẽ càng ngày càng lún sâu vào những buồn bực và cứ thế trôi đi mất lúc nào, mình cũng không hay biết. Thế nên mới cần ngồi lại để làm mới bản thân, cách nhìn nhận vấn đề, cách hành xử nói năng, đi đứng nằm ngồi,… Chạm tay vào thực tại tức là có mặt hết khả năng của mình cho những gì đang hiện diện, tận hưởng, không trốn chạy, không cầm nắm,…

Cuối tháng Mười, tôi đóng vài ba bộ đồ, y áo, chút ít tinh thần để xa Vườn Ươm hai mươi ngày. Tôi mang luôn Vườn Ươm theo mình. Nếp sống của một người xuất sĩ áo nâu rất đẹp, và khi “xuống núi” mình được mang theo nếp sống đó.

Tôi về Hải Phòng, Hải Phòng nho nhỏ, nhiều hoa phượng với niềm tự hào của người Hải Phòng. Xe đi qua phố xá, nhìn người trên ô tô lộng lẫy xa hoa, kẻ cuốc bộ với đôi gánh trên vai, cái lưng còng xuống cong như chiếc đòn gánh, tôi cứ nhắc mình hai chữ may mắn. May mắn khi là một sư cô có thời gian và không gian chăm sóc tâm mình. Thấy những điều đó là để mình xót thương hay để biết ơn, để có thêm tình thương và năng lượng cho đời tu của mình. Nhờ những bó rau trên chiếc đòn gánh đó mà mình được tồn tại trong hình tướng xuất gia. Nhờ những cảnh trần nhộn nhịp đó mà tôi nhận ra mình thảnh thơi, đến nỗi không cần chạy trốn hay tìm cầu điều gì. Và mình phải tu, thực tập, sống cuộc sống của một người tu cho thật tu, cho thật xứng đáng, có nhiều hạnh phúc để đem hiến tặng lại cho đời. Tôi cũng được ngắm cảnh Việt Nam. Đất nước mình đẹp lắm. Núi non trùng điệp và sông nước mênh mông. Phải tự mình đứng chờ ánh bình minh lên hay hoàng hôn tắt nắng giữa biển nước bao la, trên non ngàn mây phủ, bạn mới hiểu tại sao con người cứ dành bao nhiêu là giấy bút để vẽ, để tả mà chẳng thể nào diễn bày hết vẻ đẹp của thiên nhiên.

Những ngày cuối cùng của tháng Mười, cả đoàn tham dự vài ngày quán niệm cùng tăng thân Hải Phòng. Nhìn những anh chị trong tăng thân hết lòng tổ chức, tôi thấy vui và chắc chắn cả đoàn ai cũng vui. Nếp sống bình yên, nếu được thấm nhuần vào văn hóa Việt Nam, chúng ta sẽ có một đất nước mà trong đó con người biết sống hết lòng với nhau, hòa nhã, nâng đỡ cho nhau. Người trẻ không phải bỏ cả tuổi thanh xuân để đi tìm hạnh phúc ở phía trước xa vời. Thầy gọi là giấc mơ Việt Nam. Tôi thấy nó đang trở thành hiện thực qua những người trẻ mà tôi được gặp trên đất nước mình. Thực tế là bát phở ngon đầy tình thương mà đoàn được thưởng thức từ tăng thân Hải Phòng, chan chứa những tiếng cười đùa cũng như giọt nước mắt hạnh phúc trong các buổi sinh hoạt. Sau này, bạn chắc sẽ không quên giờ phút được ngồi yên cùng tăng thân, nhắp một ít trà thơm, nhìn nhau thật sâu và cười.

 

Tháng Mười một: “Thủy hữu thu hàm thiên hữu thu” (Thơ Trần Thánh Tông)

Bạn hiền, tôi đến Yên Tử vào buổi chiều. Ấn tượng đầu tiên về con người ở đó là những bàn tay búp sen xá chào quý thầy, quý sư cô rất đẹp. Tôi cười, chắp tay đáp lại “Sen búp xin tặng người, một vị Bụt tương lai”.

Sáng hôm sau, trên đường lên đỉnh Yên Tử chúng tôi được chia sẻ cách Thầy đã leo lên Yên Tử, mỗi bước một hơi thở, mệt thì nghỉ, ngồi chơi uống trà. Và chúng tôi đã đi như thế, như Thầy đã từng đi. Nhờ có sư cha Pháp Niệm dẫn đầu, hơi thở tôi dần lắng dịu, tôi tập thở thật sâu, thích ý leo lên Yên Tử trong niềm vui. Chúng tôi qua đường Tùng, mấy gốc tùng rợp bóng cổ kính. Tôi ý thức có gì đó thiêng liêng nơi đây, nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông đã đặt chân đến, nơi những dấu chân Thầy mang đầy chất liệu chánh niệm. Nắng lên, cả đoàn dừng lại uống trà, hát thiền ca, ai cũng thấy hạnh phúc. Bảy tiếng sau, đoàn chính thức chạm tay vào chùa Đồng trên đỉnh Yên Tử, gió lạnh và mây phủ khắp nơi. Trên đường đi, tôi ghé qua nhiều nơi mà Thầy đã viết trong Am mây ngủ. Thời đi học không mấy thích môn Sử, nhưng ngoại sử Am mây ngủ làm tôi chấn động không ít. Sau này, tôi muốn tìm hiểu nhiều về lịch sử đất nước, để hiểu rõ gốc tích Việt Nam, những gì người Việt mình đã từng sống với, đã xây dựng và gìn giữ. Khí thiêng ở Yên Tử lưu đậm giữa không gian trùng điệp, trong tiếng gió đưa cây và nơi cây đại già nghìn tuổi. Còn lưu dấu nơi những con người như chú Tuấn, chú Long, chú Thanh,… những người muốn gìn giữ nét đẹp tâm linh của đất nước. Buổi sáng mây ngàn yên lắm bạn hiền à. Bạn có thể nghe hơi thở mình âm ấm trong khí lạnh, giọt sương nhỏ cạnh mỏm đá và gió lồng vào người lành lạnh.

Khóa tu bắt đầu vào hôm sau, chủ yếu là sự chia sẻ của sư cha Pháp Niệm với giới doanh nhân. Cùng sự có mặt bình yên của quý thầy, quý sư cô trong đoàn, tôi có niềm tin vào những gì mình cống hiến. Tôi được học thêm thế nào là quyền lực đích thực của người lãnh đạo, thế nào là sức mạnh tâm linh. Mở rộng cái thấy của mình về hiện thực cuộc sống bên ngoài. Sống chung cùng tăng thân ở tu viện, tôi được bảo bọc, được có quyền làm một sư út nhỏ, được hướng dẫn và thực tập chung cùng đại chúng. Bao nhiêu năng lượng lành đẹp bao quanh mình nên chính mình cũng được hòa điệu trong đó. Nhưng khi bước ra với cuộc đời thế tục, tự mình phải biết giữ gìn uy nghi giới luật cho mình, đồng thời phải biết cách tiếp xúc mà không bị lay chuyển bởi những hào nhoáng lộng lẫy. Chuyến đi này cho tôi nhiều thứ, cho tôi biết thương khí thiêng Yên Tử, thương những con người giàu chí hướng bảo vệ văn hóa. Cho tôi hiểu thêm sư cha, sư mẹ, sư anh, sư chị đi cùng. Đặc biệt cho tôi thấy rõ cách mình hành xử có thực sự mang chất liệu của người tu hay không, cho tôi hiểu rõ sự thực tập của mình có thảnh thơi và bình an hay không. Để khi về nhìn lại, hóa ra bất cứ điều gì cũng có thể nuôi mình lớn hơn mỗi ngày, để học hỏi với tinh thần sâu mà không thiếu, rộng mà không dư.

Ngày cuối ở Yên Tử, thấy sao thương quá. Ở đây cũng giống Vườn Ươm, đủ niềm vui, hạnh phúc để nuôi nhau. Tôi rời Yên Tử vào buổi chiều, hoàng hôn nhẹ phủ băng qua sương mù và khí núi, đọng lại trong hơi thở tôi một chút, để thỉnh thoảng nhớ về ngọn Yên Tử linh thiêng…

Bạn hiền, tháng Mười một tôi trở về Huế. Chẳng hiểu sao tôi thương Huế đến vậy. Cũng có thể Huế có những cơn mưa bay cuối năm làm lòng tôi nhẹ hẫng sau mỗi buổi học, lại thích đạp xe lang thang khắp nơi. Hay những con đường vắng yên bạt ngàn đồng lúa. Hoặc chỉ vì có Diệu Trạm, Tây Linh, có đồi Dương Xuân, có hương vị của cái gì cũng quen nên chẳng phải bắt đầu. Và có Thầy đang ở đó. Ngày tôi về, mưa lớn ngập các con đường. Kẻ hoài niệm như tôi làm sao mà không nhớ những ngày đã cũ, lãng đãng lá rơi vào thu, nắng đổ vào hè, rét buốt mùa đông và hoa cúc vàng ở Đại Nội mỗi dịp Tết. Nơi tôi băng qua có khi buồn như mưa Huế, có khi vui như lá khô giòn rụm. Nếu có bạn chắc bạn cũng thế, ước chi có một chiếc xe đạp, lang thang đây đó giữa lòng bình yên của Huế, bạn nhỉ!

Tôi đến chào Thầy vào giữa trưa, người đông mà chùa Tổ cũng lạ. Nên sau khi được thấy Thầy, xá chào Thầy, tôi rút lui ra phía xa nhìn Thầy. Nhìn chỉ nhìn thôi, nhìn Thầy thật lâu thật sâu rồi đi. Để về lại Vườn Ươm, thả bước lên cốc Thầy, tôi vẫn nhớ chiếc xe lăn Thầy dạo qua con đường đầy hoa sứ trắng nở. Hay những ngày khỏe Thầy dạy thị giả đưa Thầy đi thăm các con ở tăng xá, ni xá. Những giờ quỳ bên Thầy hát cho Thầy nghe hay lúc im lặng ngồi nhìn Thầy múc từng muỗng thức ăn đưa lên miệng,… Kỷ niệm với Thầy là vô tận, thậm chí những lúc nhìn Thầy từ xa trong im lặng, tôi cũng chẳng có đủ ngôn ngữ để diễn tả khoảnh khắc đó.

Tôi về Vườn Ươm giữa tháng Mười một, tre đổi màu lá. Gió bay và lạnh. Năm tháng không ngoảnh lại với ai bao giờ, vì thế mà mỗi giây phút cần mình trân trọng. Cần mình có mặt cho trọn vẹn mà không nắm giữ, không nuối tiếc. Như ngắm trăng để ngắm trăng thôi. Chính mình cũng là ánh trăng rồi…

Tháng Mười hai: Ngàn cánh sen hiền

Tháng Mười hai, tre ở Vườn Ươm rụng lá, những thảm lá vàng xào xạc dưới chân. Mặc dù có đường dẫn lên thiền đường rất gần, nhưng tôi vẫn thích đi thời khóa bằng con đường có hai hàng tre lá bay trong gió. Tôi chẳng làm thơ được, nhưng biết gió làm lá lơ lửng giữa không gian, tôi tận hưởng cái đẹp bằng cách hòa mình vào, rung cho lá bay và nhìn chị em mình tung tăng dưới những khóm tre vàng rợp. Tiếng cười ríu rít khôn nguôi.

Tháng Mười hai đó bạn hiền, có vài ngày tôi ở một mình trong phòng, không đủ hơi ấm nên phòng tôi lạnh căm. Cũng nhờ lạnh như vậy tôi bỗng thích chơi Noel. Tự mình trang trí bàn học, kệ sách, gói quà, đem những tượng thiên thần nhỏ ra trang trí rồi pha trà, đốt nến tận hưởng không gian đó. Đi đâu cũng chỉ muốn về phòng, ngồi vào bàn học, thấy sao mà mình có đủ thứ niềm vui, chẳng qua mình lười biếng không tạo dựng thôi, mình cứ phó mặc và chờ đợi thứ gì ở đâu đâu. Trong khi đó, vẫn sẽ ấm cúng lắm nếu để ra vài phút biến tấu góc nhỏ của mình thành thiên đường cho tâm hồn. Bắt đầu bằng những gì mình muốn mà có thể làm mình vui, bạn nhé.

Tháng Mười hai, tôi cùng vài anh chị em sa di, sa di ni rối rít lên ý tưởng cho ngày Truyền thống Sa di. Chỉ còn nửa tháng, thế nên trưa không ngủ và tối thức khuya, mọi thứ được diễn ra trong niềm vui, làm việc với nhau rất hòa hợp và đầy tiếng cười. Nhờ những đồng sự tươi mát nên chúng tôi thấy mình có đủ năng lượng và háo hức hơn ai hết để tổ chức sự kiện mỗi năm chỉ có một lần ấy.

Ngày Truyền thống Sa di diễn ra giữa tháng. Buổi sáng, chúng tôi đi thiền hành ra sân Tượng Bụt Trắng. Đốt lửa quây quần bên nhau, hô canh, ngồi thiền, uống trà trong im lặng rồi thưởng thức những tiết mục văn nghệ nhẹ nhàng. Cả ngày, toàn bộ sa di sinh hoạt chung với nhau, có niềm vui, có những kinh nghiệm trong sự thực tập được chia sẻ cùng nhau. Bạn hiền, có khi mình định nghĩa niềm vui lúc mọi thứ nhộn nhịp, nhưng nếu niềm vui đến thật yên sẽ đọng lại rất sâu. Tôi ý thức mỗi một người trẻ chúng tôi là một cánh trong đóa sen sa di. Nở ra tinh khôi và tươi mát để dâng hương lành. Thế nên phải lớn lên từ bùn sâu, giữ gìn mình vững bền để được cùng nhau đi tiếp giữa dòng chảy áo nâu hiền hòa. Lòng tôi ấm áp lắm sau một ngày có mặt cho nhau thật đầy như thế.

Bây giờ là cuối năm, tôi cùng đại chúng chuẩn bị khóa tu lớn Holiday. Đón một mùa đông đầy nắng ấm. Cỏ lau ở Vườn Ươm nở rộ màu nâu đỏ. Vườn Ươm vẫn thế nhưng lòng tôi nhiều thứ mới mẻ sau mỗi giây phút của đời sống xuất sĩ. Viết xuống đây để bạn cùng vui và tận hưởng. Giữa cuộc đời rộng lớn, nhưng mình không nhỏ bé, bởi vì có cả Vườn Ươm nhiều niềm vui đến thế, bởi vì có tăng thân, bạn nhỉ!

Chân Trăng Thiên Hà

[1] Chân tình – thơ Thầy