Nghệ thuật cầu nguyện

 

Nhân dịp cuốn sách Hiệu lực cầu nguyện của Thiền sư Thích Nhất Hạnh được xuất bản, Tuần báo Publishers của Mỹ đã thỉnh cầu Thầy trả lời 10 câu hỏi về sự thực tập cầu nguyện và Thầy đã trả lời những câu hỏi này trong bài pháp thoại ngày 9.3.2006.

Các yếu tố của sự cầu nguyện

Nhiều người theo đạo Cơ Đốc có niềm xác tín rằng Thượng đế ở bên ngoài mình và là đấng có quyền lực tối cao, họ sẽ rất ngạc nhiên khi biết là người Phật tử cũng cầu nguyện. Thầy sẽ giải thích với họ như thế nào thưa Thầy?

Có thể cái hiểu của người theo đạo Cơ Đốc về sự cầu nguyện khác với cái hiểu của người Phật tử. Trước tiên, tôi thấy khi nói về sự cầu nguyện, ta thường nghĩ rằng người cầu nguyện, đấng mà ta hướng về để cầu nguyện và người mà ta cầu nguyện cho là ba người khác nhau. Có thể người mà ta cầu nguyện cho là chính bản thân ta, ta mong muốn được bình an khỏe mạnh, nhưng ta luôn luôn phân biệt ba người: người cầu nguyện, đấng mà ta hướng về để cầu nguyện, và người mà ta cầu nguyện cho.

Nếu nói rằng người Phật tử không dựa vào một người hay một tha lực để cầu nguyện thì không chính xác lắm. Cầu nguyện còn là mong cầu sự giúp đỡ, và trong truyền thống đạo Bụt, ta mong cầu sự giúp đỡ của tăng thân, của Bụt. Người mong cầu, người cầu nguyện chính là điểm khởi đầu. Người ấy cần phải thấy sự việc đủ rõ ràng, đủ bình an và đủ thành tâm để cầu mong sự giúp đỡ. Và trước tiên người đó phải thật sự có mặt, thật sự chú tâm với một ước mong, một ý định. Đây là điều kiện căn bản nhất để sự cầu nguyện có hiệu quả. Người cầu nguyện phải thật sự có mặt, thiết lập thân tâm vững chãi trong giây phút hiện tại, có một mục đích rõ ràng, một ao ước sáng tỏ là mình cầu nguyện cho ai, và nguyện cầu ai. Nếu người cầu nguyện có thể đặt mình vào hoàn cảnh đó thì đã làm được rất nhiều rồi. Người ấy đã bắt đầu chế tác được năng lượng của sự cầu nguyện rồi, bởi vì người ấy thật sự đang có mặt bây giờ và ở đây với niệm, định và sự tác ý. Nếu không có những cái đó thì sẽ không có gì xảy ra cả.

Kế đến, người mà mình hướng về để cầu nguyện phải là một người mình hiểu rõ. Người đó không phải chỉ là một ý niệm trong tâm mình. Nếu mình hướng về Bụt để cầu nguyện thì mình phải biết Bụt là ai, mà không phải là chỉ có một số ý niệm về Bụt. Nếu ta biết Bụt là ai thì sự cầu nguyện của ta sẽ có hiệu quả. Nếu ta cảm thấy Bụt đang có mặt hoàn toàn bây giờ và ở đây và ta có khả năng tiếp xúc với Bụt, thì sự cầu nguyện của ta sẽ có hiệu quả. Ta biết là Bụt cũng đồng thời có mặt trong chính ta, dưới hình thức của niệm, định, của từ bi; khi đó, Bụt không còn là một ý niệm nữa mà là một thực tại.

Giả sử bạn hướng về cha của mình để cầu nguyện, bạn cầu mong là cha sẽ giúp đỡ bạn. Cha của bạn: Bạn biết ông là ai. Cha bạn sống thọ đến 90 tuổi, và các tế bào của cha vẫn còn trong bạn. Vì vậy khi bạn cầu nguyện cha của mình: “Cha ơi, giúp con với”, bạn tiếp xúc với cha một cách vô cùng cụ thể, bạn không chỉ tiếp xúc với một ý niệm. Cha không phải là một ý niệm. Bạn chính là sự tiếp nối của cha mình.

Giả sử có ai đó nói với bạn rằng có thể bạn đang mang bệnh ung thư. Bạn có thể cầu cứu với cha: “Cha ơi, con biết cha rất vững chãi, những tế bào của cha rất tuyệt vời, và con đang mang những tế bào của cha trong con, xin cha hãy đến giúp con”. Khi đó bạn sẽ cảm nhận được sự đáp ứng của cha ngay lập tức trong thân thể bạn. Cha bạn nói: “Cha có mặt đây. Con đừng sợ. Mình có những tế bào rất khỏe mạnh và chúng biết cách để nhân ra. Con yên tâm.”

Khi bạn cầu nguyện như vậy, bạn tiếp xúc với cha mình, và bạn sẽ thấy sự cầu nguyện của bạn hiệu nghiệm ngay lập tức. Nếu bạn có một người bà, người ông vững chãi, bạn sẽ biết là người mà bạn cầu nguyện luôn luôn trong bạn và chung quanh bạn. Vì vậy trong sự thực tập này, bạn sẽ thấy là cha, mẹ, ông bà của bạn vẫn luôn có mặt trong những hình tướng mới của họ. Ta không hướng sự cầu nguyện về một người hay một cái gì đó trừu tượng, không có thật, mà là về một thực tại.

Điều này cũng đúng khi ta cầu nguyện Bụt hay Chúa. Tuệ giác của chúng ta cho thấy là Bụt vẫn đang tiếp nối, Chúa Jesus vẫn đang tiếp nối trong những hình tướng mới. Nếu bạn là một người thực tập đạo Bụt, bạn là sự tiếp nối của Bụt; vì vậy Bụt – đối tượng mà bạn hướng về để cầu nguyện – chính là một thực tại, mà không phải chỉ là một ý niệm. Sự thực tập này dựa trên cái thấy căn bản là không có gì thực sự mất đi. Cha bạn vẫn còn đây, bà của bạn vẫn còn đây, Bụt vẫn còn đây trong những biểu hiện mới.

Vì vậy, người thứ hai trong sự cầu nguyện – người mà ta hướng về để cầu nguyện – là một thực tại rất cụ thể, thật sự có đó, và ta có thể tiếp xúc với người ấy. Đó là lý do tại sao cái thấy này rất quan trọng. Chúa Jesus, Bụt và ông bà tổ tiên không phải chỉ tồn tại trong quá khứ; các vị vẫn còn hiện diện ngay bây giờ và ở đây. Các vị có trong ta, xung quanh ta, và ta có thể tiếp xúc với các vị. Cũng giống như tăng thân, tăng thân có đó và khi ta có khó khăn, ta chỉ cần nói: “Quý thầy, quý sư cô ơi, hãy giúp con”. Tăng thân không phải là một ý niệm, tăng thân là một thực tại.

Ta biết là tăng thân đang có đó; quý thầy, quý sư cô và các bạn đồng tu đang có đó cho ta. Ta luôn có thể nương tựa vào tăng thân. Trong tăng thân luôn có Pháp linh động và Bụt linh động. Vì vậy tiếp xúc với tăng thân, tiếp xúc với Bụt, với Pháp, ta cũng đang tiếp xúc với thực tại. Khi ấy hành động cầu nguyện của ta rất cụ thể và sẽ đem đến cho ta sự chuyển hóa và trị liệu. Khi ta nói “Xin đại chúng gửi năng lượng đến anh A hay chị B đang gặp khó khăn”, ta thật sự nương tựa vào lực của tăng thân. Ta biết năng lượng tập thể của tăng thân là có thật. Vì trong tăng thân có Bụt, có Pháp nên ta cũng có năng lượng của Bụt, của Pháp. Năng lượng của Bụt linh động, của Pháp linh động có mặt với ta.

Nếu ta thực tập giỏi, năng lượng của sự cầu nguyện sẽ rất hùng hậu và làm chuyển đổi tình trạng. Năng lượng ấy có nơi người cầu nguyện, nơi tăng thân đang yểm trợ cho người ấy qua năng lượng tập thể. Vì trong tăng thân có Bụt và Pháp linh động, năng lượng ấy có thể rất hùng hậu. Năng lượng ấy được chế tác từ bên trong người ấy và từ tăng thân. Ta biết là năng lượng ấy chỉ có thể được chế tác khi niệm, định và tuệ có mặt. Ta – người xin tăng thân gửi năng lượng – phải thật sự có mặt. Ta phải có niệm, có định, và ta phải có cái thấy mình là một với người mà mình hướng về để cầu nguyện, mình cũng là một với người mà mình đang cầu nguyện cho. Đó là lý do tại sao cái thấy sáng tỏ rất quan trọng trong cầu nguyện. Và nếu niệm, định, tuệ có mặt, chuyển hóa và trị liệu sẽ xảy ra.

Nếu đi sâu hơn, ta sẽ thấy nếu người theo đạo Cơ Đốc cầu nguyện theo cách đó, nghĩa là với niệm, định, và đặc biệt là tuệ, thì sẽ không có sự khác biệt nào giữa đạo Bụt và đạo Cơ Đốc. Ta biết ta chính là một phần rất quan trọng của sự cầu nguyện. Hiệu quả của sự cầu nguyện tùy thuộc rất lớn vào ta, bởi vì nếu ta không có đó, không vững chãi, không có tuệ giác thì ta không thể tiếp xúc với năng lượng hùng hậu của tăng thân, của Bụt.

Trong đạo Bụt ta không nói đến Thượng đế, đấng sáng tạo, ta không nói đến khải huyền, ơn cứu rỗi hay trừng phạt. Trong đạo Bụt, cái tương đương với Thượng đế là Tâm thức, đặc biệt là tâm thức cộng đồng. Tâm thức là nền tảng của tất cả mọi thứ. Khi tâm ta tiếp xúc với tâm thức cộng đồng, thì cái gì cũng có thể thực hiện được. Nếu những người bạn Cơ Đốc giáo của ta thấy Thượng đế là linh hồn – là tâm thức cộng đồng, nền tảng của tất cả các biểu hiện – thì khoảng cách giữa đạo Bụt và đạo Cơ Đốc là không đáng kể. Tất cả tùy thuộc vào cách chúng ta hiểu về Thượng đế.

Nếu ta cho rằng Thượng đế là nền tảng của sự tồn tại, là nơi mà từ đó tất cả mọi thứ biểu hiện ra, thì cái hiểu đó của ta không khác với cái thấy của người Phật tử về tâm. Bởi vì trong giáo lý đạo Bụt, tâm là họa sư kiến tạo nên tất cả, đặc biệt là tâm thức cộng đồng.

Tại sao cầu nguyện bằng thân lại quan trọng?

Ai cũng biết là khi cầu nguyện, tư thế của thân thể rất quan trọng. Nếu ta chắp tay lại, trong tư thế quỳ, ta sẽ có thể dễ chú tâm hơn bởi vì ta đang thưa chuyện với Bụt, với tăng thân, hay với Chúa trong chánh niệm và sự tôn kính, và ta sẽ thực sự có mặt hơn. Về vấn đề tuệ giác, trong đạo Bụt ta được học là tâm và thân không phải là hai thực thể tách rời. Thân là một phần của tâm, và tâm là một phần của thân.

Thân là sự tiếp nối của tâm và tâm là sự tiếp nối của thân. Thực tại biểu hiện qua thân và tâm. Trong đạo Bụt có danh từ nāmarūpa, tương đương với thân tâm (psycho- soma) của khoa học Tây phương. Khi ta học về 12 khoen nhân duyên, ta biết vì có vô minh nên có thức. Nếu không có vô minh thì thức sẽ được gọi là tuệ giác.

Vì có sự tồn tại của vô minh cho nên mới có thức. Vì có vô minh nên có hành, hành sinh ra thức; thức là tâm có yếu tố vô minh. Và từ thức, thân và tâm biểu hiện. Vì vô minh nên ta nghĩ là thân không phải là tâm và tâm không phải là thân; nhưng cả hai đều là biểu hiện của thức.

Với cái thấy không lưỡng nguyên về thân và tâm, người Phật tử luôn luôn chú ý đến thân trong khi cầu nguyện và trong khi hành thiền. “Quán niệm thân trong thân, quán niệm tâm trong tâm.” Thân có chứa tâm và tâm có chứa thân.

Đó là lý do vì sao trong khi ngồi thiền, đi thiền, chấp tác, khi tập thở, thân và tâm phải luôn luôn nhất như thì sự thực tập mới đúng và mang lại kết quả. Ta không chỉ thiền tập bằng tâm, tâm chỉ là phân nửa. Ta phải thiền tập bằng thân nữa.

Khi ta tiếp xúc với bình diện bản môn, ta cũng phải tiếp xúc bằng thân mà không chỉ tiếp xúc bằng tâm. Khi ta tiếp xúc với nước Chúa, hay với Tịnh độ của Bụt, ta tiếp xúc bằng chân, tay, mắt, mà không chỉ tiếp xúc bằng tinh thần. Đó là lý do tại sao, trong truyền thống đạo Bụt, tâm và thân phải nhất như. Chúng biểu hiện từ một thực tại duy nhất là thức. Và trong truyền thống Cơ Đốc giáo, người ta cũng có thể thấy tương tự. Muốn cầu nguyện ta phải yên lặng, trở về với tự thân. Ta phải cầu nguyện bằng trái tim mình chứ không chỉ bằng miệng.

Nền tảng của sự cầu nguyện

Làm thế nào để tránh rơi vào cái bẫy của cầu nguyện theo thói quen hay hình thức?

Khi ta tụng kinh cũng như khi nghe tụng kinh, ta cần phải hợp nhất thân và tâm. Làm được như vậy, ta có niệm, có định; ta hòa vào tăng thân và trở thành một với tăng thân, như một dòng sông.

Ta không còn tồn tại như một cá nhân mà trở thành dòng sông tăng thân. Tâm lúc nào cũng phải có mặt với thân. Đó là lý do tại sao đi trong chánh niệm có thể được coi là sự cầu nguyện. Ta cầu nguyện bằng đôi chân; và khi đi trong chánh niệm ta có thể tiếp xúc được với nước Chúa, với Tịnh độ của Bụt. Và ta có thể thấy được hiệu quả của sự cầu nguyện ngay lập tức.

Khi ta thở vào thở ra trong chánh niệm, đó mới là thở thật sự. Thân và tâm về một mối. Thật đáng tiếc nếu ta chỉ cầu nguyện bằng cái miệng – đọc một cái gì đó, trong khi tâm ta rong ruổi về quá khứ hoặc tương lai, hoặc nghĩ tới một dự án nào đó. Đó không phải là cầu nguyện, bởi vì ta không có chánh niệm, không có định và không có tuệ. Nền tảng của cầu nguyện là niệm, định và tuệ. Trong truyền thống Cơ Đốc giáo, có những người có khả năng cầu nguyện như thế, với niệm, định và tuệ. Họ gọi đó là sự nguyện cầu của trái tim. Cầu nguyện với thân và tâm nhất như mà không chỉ chắp tay rồi tụng một cái gì đó. Khi lên tụng kinh, nếu trong khi tụng mà ta nghĩ ngợi về một điều gì đó, ta phải quay về tự hỏi mình: “Mình đang làm gì đây? Mình đang trình diễn chứ không phải là đang thực tập. Mình đang trình diễn một bài kinh. Mình đang không thực tập, mình không hề cầu nguyện”.

Những thành viên khác trong tăng thân là tiếng chuông chánh niệm, nhắc nhở ta bằng cách họ tụng kinh, cách họ thực tập, và ta phải giúp tăng thân thực tập như vậy. Thân luôn luôn có mặt với tâm, như thế ta mới tránh được cái bẫy của sự thực tập hình thức. Cái bẫy này rất phổ biến; nó có thể xảy ra trong đạo Bụt, trong đạo Cơ Đốc, trong bất kỳ một tôn giáo nào. Ta biết nếu thực tập như thế thì chẳng có hiệu quả gì. Ta không có Thiên quốc, cũng chẳng có Tịnh độ, bởi vì ta không có niệm, định và tuệ.

Đôi khi tôi có nhắc nhở tăng thân trước những bữa ăn chung, tôi nói rằng: “Mời đại chúng thở như thế nào để chúng ta trở thành một cơ thể”. Chúng ta cần phải tìm cách đọc kệ ngũ quán trước khi ăn như thế nào để sự thực tập đó không trở thành một cái lệ, trở thành hình thức. Ta cũng có một bài kệ để đọc thầm trước khi ăn: “Ăn cơm nơi tích môn/ Nuôi sống cả tổ tiên/ Mở đường cho con cháu/ Cùng tìm hướng đi lên.” Nếu tăng thân được nhắc nhở trước khi ăn, mọi người sẽ có cơ hội thực sự thực tập mà không chỉ ở hình thức. Khi lạy xuống trước bàn thờ trong một buổi lễ, ta lại có một bài kệ khác: “Trong thể tính chân như/ Không chủ thể đối tượng/ Đệ tử kính lạy Bụt/ Trong tương cảm nhiệm mầu”. Vì thế ta cần được nhắc nhở qua nhiều cách thức khác nhau, khuyến khích, thúc đẩy một cách thường xuyên để chúng ta không rơi vào cái bẫy hình thức. Ta phải khéo léo, nghệ thuật trong việc tìm ra những cách thức giúp cho sự thực tập của ta sống động. Đó là lý do tại sao chúng ta cần nói những lời sách tấn đại chúng trước khi bắt đầu buổi thiền hành hoặc thiền tọa.

Cầu nguyện trong cuộc sống hàng ngày

Trong cuốn sách Hiệu lực cầu nguyện của Thầy có một chương nói về thiền tập. Xin Thầy chia sẻ về mối quan hệ giữa thiền tập và cầu nguyện trong sự đời sống tu tập của chính Thầy.

Trong tinh thần của đạo Bụt, khi làm bất cứ việc gì mà có niệm, định, tuệ thì có thể xem đó là một sự cầu nguyện. Khi ta uống trà trong thất niệm, sự sống sẽ không có mặt. Ta không thực sự sống bởi vì ta không có mặt, không có chánh niệm và không có định. Giây phút đó không có sự thực tập. Chỉ là một giây phút bình thường. Nhưng khi ta bắt đầu nâng ly trà trong tay với chánh niệm và định tâm, và khi ta uống trà hoàn toàn trong chánh niệm và sự định tâm thì cũng như ta đang thực hành một nghi lễ tôn nghiêm. Và đó đã là một sự cầu nguyện. Khi ta đi, nếu ta thưởng thức từng bước chân, nếu mỗi bước chân nuôi dưỡng và đem lại cho ta sự chuyển hóa, thì mỗi bước chân chính là một lời cầu nguyện.

Cho nên trong giáo lý và sự hành trì của truyền thống đạo Bụt, thực sự không có sự phân biệt giữa thiền tập và cầu nguyện, bởi vì khi ta có niệm định tuệ, ta có thể tiếp xúc được với cõi Bụt, với Bụt và với Tăng. Khi ta thật sự cầu nguyện, ta tiếp xúc với Chúa Jesus, với Thiên quốc. Tiếp xúc được như thế thì sự trị liệu và chuyển hóa chắc chắn sẽ xảy ra. Khi có niệm, định và tuệ thì sẽ không có sự phân biệt giữa người cầu nguyện và người mà sự cầu nguyện đang hướng tới. Nhờ đó sự truyền thông trở nên toàn hảo và sâu sắc; sự chuyển hóa và trị liệu hẳn nhiên sẽ xảy ra.

Khi đi tại sân bay, mỗi bước chân của ta có thể trở thành một lời cầu nguyện. Ta đang thực sự sống, ta không bỏ phí thời gian, bỏ phí sự sống. Khi ta ngồi trong vững chãi, thảnh thơi, khi ta thở vào thở ra trong chánh niệm, khi ta tiếp xúc với sự sống mầu nhiệm, thì đó là thiền tập mà cũng là cầu nguyện. Trong sự cầu nguyện đích thực, không còn sự phân biệt giữa người cầu nguyện và người được cầu nguyện. Những người bạn đạo Cơ Đốc của chúng ta nói: “Sống mỗi giây mỗi phút trong sự hiện diện của Thượng đế”. Nếu ta sống trong niệm định tuệ, ta sẽ không bao giờ rời xa Thượng đế, ta luôn luôn tiếp xúc với Thượng đế, trong sự hiện diện của Thượng đế. Khi ta sống từng giây từng phút của đời sống hàng ngày trong sự hiện diện của Thượng đế nghĩa là cuộc sống hàng ngày của ta là một sự cầu nguyện. Có những người có khả năng làm được như vậy.

Trong đạo Bụt, có những cách rất cụ thể giúp ta chế tác năng lượng của niệm, định và tuệ. Và sự thực tập của ta là sự thực tập chế tác những năng lượng này. Nếu những năng lượng này có mặt, thì không còn sự phân biệt giữa người đang cầu nguyện và người được cầu nguyện. Khi ta có chánh niệm khi đi, khi ngồi, khi nấu ăn, rửa bát thì ta không phung phí sự sống. Ta sống sâu sắc từng giây phút. Cuộc sống của ta trở thành một sự cầu nguyện. Sống được như vậy ta sẽ có nhiều hạnh phúc và bình an.

Cuộc sống của ta là một sự cầu nguyện

Làm thế nào mà ta có thể có thời gian cầu nguyện mỗi ngày?

Những gì tôi đã chia sẻ ở trên phần nào đã trả lời cho câu hỏi này rồi. Khi mỗi bước chân, mỗi hơi thở, mỗi khoảnh khắc trong khi làm việc hay lái xe trở thành một lời cầu nguyện, ta không cần dành thời gian riêng để cầu nguyện nữa. Bởi vì ta đã đầu tư toàn bộ thời gian trong cuộc sống hàng ngày của ta cho sự thực tập cầu nguyện. Vì vậy, để trả lời câu hỏi này, có thể nói là ta không nên chia chẻ thời gian ra như vậy. Thời gian để làm việc, ăn uống, hoạt động ta làm trong thất niệm, rồi sau đó ta có thời gian riêng để thực tập niệm, định, tuệ và cầu nguyện. Đó không phải là cách thực tập của chúng ta.

Mỗi giây phút của cuộc sống hàng ngày có thể trở thành giây phút của sự cầu nguyện, của thiền quán, của sự thực tập. Ta cần phải được huấn luyện mới làm được. Có những khoảnh khắc ta không thật sự sống, ta bị sự lo lắng, giận dữ, hoặc những dự án kéo đi; và vì vậy ta phung phí sự sống. Không ai muốn phung phí sự sống cả. Ai cũng muốn sống sâu sắc, và cách duy nhất là bằng sự cầu nguyện, bằng cách chế tác năng lượng của niệm, định và tuệ. Như thế ta có thể sống một cách sâu sắc mỗi giây phút trong cuộc sống hàng ngày. Cuộc sống của ta là cuộc sống của sự hành trì, là cuộc sống của sự cầu nguyện. Không có sự phân biệt nào giữa thời gian cầu nguyện và thời gian “để sống” hoặc không cầu nguyện.

Thiền hành

Xin Thầy chia sẻ về một sự thực tập mà mọi người có thể áp dụng hàng ngày để giúp họ đến gần hơn với hạnh phúc mà họ đang tìm kiếm.

Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta di chuyển rất nhiều, vì vậy chúng tôi muốn hiến tặng cho các bạn một món quà, đó là sự thực tập đi trong chánh niệm. Muốn đi từ chỗ này đến chỗ kia, thậm chí chỉ cần bước năm, sáu bước, nhưng nếu ta biết bước những bước ấy một cách chánh niệm thì như vậy là tốt lắm rồi. Đi ra nhà để xe, ta nên thưởng thức từng bước chân. Đừng suy nghĩ gì cả, chỉ thưởng thức bước chân thôi. Đi đến văn phòng, đến chỗ làm hoặc ra phòng ăn: Mỗi bước chân phải đưa ta trở về hiện tại để ta có thể thưởng thức những gì đang xảy ra. Tôi nghĩ rằng nếu tất cả mọi người trên trái đất biết cách thưởng thức những bước chân chánh niệm thì trái đất và xã hội sẽ được chuyển hóa. Bởi vì nếu ai cũng nắm được bí quyết làm sao để chánh niệm hơn thì ai cũng sẽ biết cách thưởng thức từng bước chân của mình.

Đi thiền là việc ai cũng có thể làm. Có những người thấy khó ngồi thiền nhưng đi thì ai cũng đi. Cho nên tôi đề nghị bất cứ ai – dù là đang ở Berkeley, New York, Amsterdam, Paris hay Bangkok, v.v… – nên thưởng thức đi trong chánh niệm. Mỗi khi bước một bước chân trong chánh niệm là ta chấm dứt thất niệm, ta trở về với sự sống, tiếp xúc với những nhiệm mầu của sự sống để nuôi dưỡng và trị liệu cho thân tâm.

Thiền hành là một phương pháp thực tập rất dễ chịu, mang đến nhiều chuyển hóa và trị liệu. Tôi đề nghị các độc giả của tuần báo Publishers nên bắt đầu thực tập phương pháp này, và nó sẽ làm cuộc đời các bạn thay đổi. Khi thực tập đi trong chánh niệm, ta đi bằng cả thân và tâm. Ta theo dõi hơi thở trong khi đi, và ta trở nên hoàn toàn có mặt, thật sự đang sống, và ta sẽ đến gần hơn với hạnh phúc mà ta đang tìm kiếm.

Chánh niệm và hòa bình

Sự cầu nguyện có liên hệ như thế nào đến hòa bình và quá trình hòa giải?

Khi ta có chánh niệm, có định, có tuệ thì ta sẽ có nhiều bình an hơn trong thân và tâm. Nếu ta biết làm thế nào để cho năng lượng tập thể của tăng thân thấm vào trong thân ta, nếu ta biết làm thế nào để thực sự thở trong chánh niệm, buông bỏ căng thẳng trong thân, làm lắng dịu cảm xúc nhờ nương vào hơi thở chánh niệm, thì ta đã có nhiều bình an hơn rồi. Giây phút mà ta ngồi xuống và bắt đầu thở, làm lắng dịu thân tâm thì sự bình an liền có mặt. Và thở như thế chính là sự cầu nguyện. Khi trong ta có bình an, ta có thể kết nối với những người khác, có thể giúp họ cũng có bình an như mình. Cùng với nhau, chúng ta tạo thành một cơ thể bình an, một cộng đồng bình an.

Có nhiều người trong chúng ta rất hăng hái hoạt động cho hòa bình, nhưng lại không có bình an trong tự thân. Ta hò hét cho hòa bình với năng lượng giận dữ, và ta la hét ngay cả đối với những người đồng sự đang hoạt động cho hòa bình như ta. Có rất nhiều nhóm hoạt động cho hòa bình rất hết lòng, nhưng họ lại đấu đá lẫn nhau rất dữ và họ không hề có bình an. Hòa bình phải bắt đầu trong mỗi chúng ta: bằng cách thực tập ngồi yên, đi trong chánh niệm, chăm sóc thân thể, buông bỏ căng thẳng trong thân và làm lắng dịu cảm xúc. Vì vậy sự thực tập có thể mang bình an đến cho ta ngay lập tức. Khi ta bình an hơn, dễ chịu hơn, ta có thể tiếp xúc với những người khác, mời họ tham gia vào việc chế tác hòa bình một cách dễ dàng hơn. Và vì ta bình an, ta biết cách để nhìn, nói, hành xử một cách bình an, và ta có thể thuyết phục người khác tham gia vào công việc thúc đẩy cho hòa bình và hòa giải.

Ta không thể có hòa bình nếu chỉ ngồi đó để thỏa thuận hay lên kế hoạch. Ta phải học cách thở để an tịnh thân tâm, và ta phải có khả năng giúp người khác làm như vậy. Nếu không có yếu tố bình an trong ta và trong người kia, thì không có hoạt động nào hoặc việc làm nào có thể được cho là một hoạt động đích thực vì hòa bình.

Cho nên một vị tổng thống, một thủ tướng, một nhà lãnh đạo chính trị nào cũng phải thực tập hòa bình, phải cầu nguyện cho hòa bình bằng cả thân và tâm trước khi vị ấy có thể yêu cầu những vị thủ tướng và lãnh đạo quốc gia khác tham gia vào việc đem lại hòa bình một cách có hiệu quả. Tôi đề nghị là một hội nghị hòa bình nào cũng nên bắt đầu bằng thiền hành, thiền tọa, phải có ai đó hướng dẫn thiền buông thư để buông bỏ căng thẳng, giận dữ và sợ hãi trong thân tâm của những người tham gia hội nghị.

Làm như thế rất văn minh. Làm như thế thì có thể đem chất tâm linh vào đời sống chính trị xã hội. Bình an trong tự thân sẽ mang đến sự bình an trong cộng đồng và trên thế giới. Trong công ty, trường học, hay chốn nghị trường, ta đều cần thực tập bình an. Thầy cô giáo cần thực tập bình an, và dạy cho học sinh thực tập bình an. Quốc hội cũng cần thực tập bình an và yêu cầu mọi thành viên trong quốc hội cùng thực tập. Trong chiến lược hòa bình cần phải có sự thực tập bình an cho thân và tâm.

Những người theo đạo Cơ Đốc nhưng lại yêu thích giáo lý đạo Bụt thì có cần phải trở thành Phật tử để thực hành theo giáo lý đó không?

Những người Cơ Đốc nào biết chế tác niệm, định, tuệ thì đã là người Phật tử, dù cho họ có chính thức thọ Tam quy và Ngũ giới hay không. Họ chính là những Phật tử đích thực, dù họ không tự nhận mình là Phật tử, bởi vì tinh yếu của đạo Bụt là niệm, định và tuệ.

Có những người theo đạo Cơ Đốc có khả năng chế tác niệm định tuệ, và như thế họ đã là người Phật tử nhưng họ không cần phải mang danh người Phật tử. Khi họ bày tỏ ước mong được thọ Tam quy và Ngũ giới, họ biết là sự thực tập này giúp cho niềm tin ở Thiên Chúa càng vững mạnh hơn. Họ biết họ không mất đạo gốc, không phản bội truyền thống của họ, vì họ có tuệ giác là ngay trong chính truyền thống của họ, niệm, định, tuệ cũng rất quan trọng.

Đến một trung tâm thực tập đạo Bụt, những người này học hỏi các pháp môn thực tập để có thể giúp họ chế tác niệm, định và tuệ. Họ biết trong chính truyền thống của họ, những năng lượng này cũng rất thiết yếu. Họ muốn sử dụng tuệ giác, kinh nghiệm của họ để làm mới lại truyền thống, để chia sẻ với nhiều người trẻ những phương pháp cụ thể giúp chế tác ra các năng lượng này. Thực tập thiền Phật giáo trên tinh thần như vậy không những giúp họ trở nên những con chiên tốt hơn mà còn giúp họ làm mới lại Cơ Đốc giáo để người trẻ theo đạo Cơ Đốc thấy thoải mái hơn. Truyền thống nào cũng cần phải tự làm mới chính mình để đáp ứng được những nhu yếu mới của xã hội, đạo Bụt cũng vậy.

Vì vậy ta không nên kẹt vào hình thức. Có rất nhiều người tự cho mình là “Phật tử”, nhưng thật ra họ không Phật tử gì mấy, bởi vì họ vẫn còn nhiều kỳ thị và cố chấp. Những người này còn ít chất Phật tử hơn rất nhiều người Cơ Đốc. Có nhiều người Cơ Đốc không cho mình là Phật tử, nhưng họ lại còn Phật tử hơn những người Phật tử này. Chúng ta phải học cách nhìn như vậy. Khi một người Cơ Đốc thực tập các phương pháp thực tập của đạo Bụt một cách đúng đắn, người ấy sẽ không bao giờ bị bứng khỏi gốc rễ Cơ Đốc giáo của mình. Trái lại, người ấy sẽ có cơ hội bồi đắp và làm mới lại truyền thống của chính mình. Thái độ đúng đắn là không khuyến khích người khác rời bỏ gốc rễ tâm linh của họ. Thái độ đúng đắn là phải thúc đẩy họ quay về với gốc rễ tâm linh của họ, và sự thực tập niệm, định, tuệ trong đạo Bụt sẽ có thể làm được việc này. Tôi nghĩ là Phật giáo đã có đủ Phật tử rồi, chúng tôi không cần cải đạo người khác để có thêm Phật tử. Chỉ chăm sóc những Phật tử có sẵn, chúng tôi đã phải tiêu hao nhiều năng lượng, bởi nhiều người trong số họ không thực tập. Vì vậy không cần phải lo lắng về chuyện có thêm Phật tử.

Thầy nhận thấy điều gì khi trở về Việt Nam năm 2015? Ấn tượng của Thầy là gì?

Tôi đã xa xứ gần 40 năm. Tôi rời quê hương để ra nước ngoài vận động ngưng chiến, và vì vậy tôi đã không được phép trở về. Khi trở lại Việt Nam, tôi nhận ra rằng đã có 35 triệu người được sinh ra trong khi tôi vắng mặt. Phần lớn những người tôi gặp là những người tôi không quen biết. Nhưng nhìn cho kỹ, tôi thấy cha mẹ của họ, và tôi có thể tiếp xúc với họ một cách rất sâu sắc. Một điều nổi bật mà tôi nhận thấy là không còn chiến tranh ở Việt Nam, và đây là điều tuyệt vời nhất. Có những vấn đề khác, như tham nhũng, ô nhiễm môi trường, đói nghèo, nhưng không có sự tàn hại một số lượng lớn sinh mạng bằng vũ khí. Như vậy là đã tốt lắm rồi.

Tôi trở về quê hương cùng với một tăng thân gồm 100 vị xuất sĩ và 100 cư sĩ. Một tăng đoàn vững chãi, có niệm, định và tuệ là món quà mà chúng tôi mong muốn cúng dường cho đất nước, cho dân tộc. Tôi rất biết ơn các thầy, các sư cô và các bạn thiền sinh đã đi cùng tôi trong chuyến đi đó, bởi vì họ đã cố gắng hết sức mình để cống hiến sự có mặt đẹp nhất có thể của họ cho con người và đất nước Việt Nam. Có rất nhiều sợ hãi, nghi kỵ và hiểu lầm khi đó, và chúng tôi đã phải thực tập thật sâu sắc để có thể giúp đánh tan sự nghi kỵ, sợ hãi và hiểu lầm.

Các thầy, các sư cô trong phái đoàn thì được ở trong chùa. Thiền sinh thì ở trong các khách sạn. Các bạn thiền sinh đã biến các khách sạn thành trung tâm thực tập. Họ dậy sớm để ngồi thiền và đi thiền. Họ chỉ ăn các thức ăn chay. Họ không bao giờ hút thuốc, uống rượu hay bia. Vì vậy những người theo dõi chúng tôi bắt đầu thấy tăng thân của những người thực tập đạo Bụt là có thật. Họ thấy không những các vị xuất sĩ thực tập đàng hoàng, mà những người cư sĩ cũng vậy. Trong chúng tôi có cả những vị giáo thọ cư sĩ. Dần dần với sự kiên trì, nhẫn nại và từ bi chúng tôi bắt đầu làm cho mọi người thay đổi.

Chúng tôi đã có thể lấy đi cái thấy sai lạc của họ. Chúng tôi giúp họ giảm bớt sợ hãi, nghi kỵ, và trong tháng cuối cùng của chuyến đi, họ đã cho phép chúng tôi có pháp thoại công cộng bên ngoài. Trước đó không có cách nào thuyết phục họ cho phép chúng tôi có pháp thoại công cộng bên ngoài mà chỉ được có pháp thoại trong chùa.

Rất nhiều đảng viên và cán bộ nhà nước đã đến nghe pháp thoại. Họ không bao giờ đến chùa. Đối với rất nhiều người trong đảng và nhà nước, đó là lần đầu tiên họ được tiếp xúc với giáo lý Đạo Bụt Dấn Thân. Họ cảm thấy rất hứng thú. Có thể thấy độ sợ hãi, nghi kỵ và hiểu lầm mỗi ngày mỗi giảm, và chúng tôi đã phá vỡ được thành trì của sợ hãi, nghi kỵ, hiểu lầm.

Chúng tôi biết ảnh hưởng của cuộc viếng thăm đó vẫn tiếp tục. Vẫn còn rất nhiều việc phải làm – đối trị với nghèo đói, bất công xã hội, ô nhiễm môi trường, tham nhũng; và tôi có nói rằng không có tình huynh đệ, không có một chiều hướng tâm linh trong cuộc sống thì không làm thay đổi được tình trạng. Vì vậy trong các bài pháp thoại tôi đã kêu gọi các đảng viên và cán bộ nhà nước phải có sự thực tập tâm linh thì mới có khả năng đối phó với những khó khăn, thách thức mà đất nước đang phải đối diện.

Trong thời gian thăm Việt Nam, chúng tôi đã tổ chức các khóa tu cho những người xuất gia; mỗi khóa có hơn 1000 người tham dự. Ngoài ra còn có các khóa tu cho cư sĩ; pháp thoại và thiền hành. Mặc dù các hoạt động của chúng tôi không được phổ biến trên các phương tiện truyền thông nhưng rất nhiều người Việt vẫn biết về sự có mặt của chúng tôi, và tôi tin rằng có hơn hai trăm ngàn người đã đến và tiếp xúc trực tiếp với tăng thân và với sự thực tập.

Các bài pháp thoại bằng tiếng Việt đã được sao chép ra, và ngày chúng tôi rời Việt Nam, chúng tôi được biết là có năm mươi ngàn CD pháp thoại đã được phát hành, bởi vì người dân có nhu cầu tu tập rất lớn. Vào thời điểm đó, tại chùa Tổ và chùa Bát Nhã đã có khoảng 300 – 400 vị xuất gia thực tập theo pháp môn Làng Mai, và rất nhiều người cũng đang có hứng thú với pháp môn này bởi vì chúng tôi là một điển hình của một đạo Bụt được làm mới. Chúng tôi hy vọng rằng sự hiện diện của các trung tâm tu học này sẽ gây cảm hứng cho các chùa và các trung tâm tu học khác làm mới lại giáo lý và sự thực tập.

Năm nay Thầy sẽ tròn 80 tuổi. Thầy có dự định về hưu tại một thời điểm nào đó trong tư cách một vị lãnh đạo tâm linh không?

Trong đạo Bụt, chúng tôi thấy rằng giáo pháp được trao truyền không chỉ bằng lời nói, mà bằng cách sống. Cuộc sống của một vị thầy chính là giáo pháp, là thông điệp. Và vì tôi tiếp tục ngồi, đi, ăn, và có sự tiếp xúc với tăng thân và với mọi người, tôi vẫn tiếp tục giảng pháp, dù rằng tôi đã khuyến khích các đệ tử lớn của tôi bắt đầu thay thế tôi để cho pháp thoại.

Trong hai năm vừa qua, tôi đã kêu gọi các giáo thọ, cả xuất sĩ lẫn cư sĩ, lên cho pháp thoại. Rất nhiều người đã cho những bài pháp thoại tuyệt vời. Có nhiều bài còn hay hơn cả pháp thoại của tôi. Tôi thấy tôi đã có sự tiếp nối, và tôi sẽ không về hưu. Tôi sẽ tiếp tục giảng pháp, nếu không bằng pháp thoại, thì sẽ bằng cách tôi ngồi, ăn, cười và tiếp xúc với tăng thân. Tôi rất thích sống với tăng thân.

Thậm chí khi tôi không cho pháp thoại, tôi vẫn thích tham gia thiền hành, thiền tọa, ăn trong chánh niệm, v.v… Thành ra xin quý vị đừng lo. Khi người ta được tiếp xúc với sự thực tập, họ sẽ có cảm hứng. Không cần phải nói mới có thể giảng pháp. Chỉ cần sống một cách sâu sắc và chánh niệm.

Nguồn: https://plumvillage.org/thich-nhat-hanh-interviews/thich-nhat-hanh-answers-weekly-magazine/

Chữa lành vết thương chiến tranh

 

Velcrow Ripper

(Đăng trên tạp chí Lion’s Roar – trước đây là Shambhala Sun – ngày 1.9.2007)

Nhà làm phim Velcrow Ripper tường thuật chuyến đi lịch sử về thăm quê hương của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, chuyến trở về đã thu hút hàng vạn người cùng tới để hồi sinh sự thực tập đạo Bụt và chữa lành vết thương chiến tranh.

Ý về muôn vạn nẻo

Thiền lộ tâm an nhiên

Từng bước gió mát dậy

Từng bước nở hoa sen

– Thích Nhất Hạnh –

Trong tận cùng tăm tối của thời kỳ bom napalm, của bom trải thảm và chất độc màu da cam, một bông hoa đã hé cánh trong hình dạng của một tu sĩ Phật giáo trẻ với cái tên Thích Nhất Hạnh. Thay vì đóng cửa trái tim trước thảm kịch chiến tranh Việt Nam, người tu sĩ đó đã làm ngược lại, Thầy đã mở lòng ra để tiếp xúc với nguồn sức mạnh vô biên. Thầy đã khơi nguồn cho tình thương đích thực, và trong khi làm như vậy, Thầy đã khởi đầu cho một phong trào mà sau này đã lan rộng trên toàn thế giới, đó là phong trào Đạo Bụt Dấn Thân.

Thầy, như mọi người vẫn thường trìu mến gọi, nhận ra rằng tình thương đích thực phải bắt đầu với sự thực tập nhìn sâu, phải biết xóa tan trong tâm mình các tri giác, định kiến để nhường chỗ cho không gian trong tâm thức. Với một tâm hồn rỗng rang, vắng lặng mọi ảo tưởng, thì lòng từ bi, sự dũng cảm, niềm an lạc và tuệ giác sẽ có không gian để biểu hiện. Và tình thương đích thực sẽ xuất hiện.

Với hiểu biết từ kinh nghiệm trực tiếp về tính tương quan, tương duyên giữa mọi hình thái của sự sống – cái mà Thầy gọi là “tương tức” – Thầy vượt khỏi tư tưởng hay sự quán chiếu đơn thuần để tiến tới hành động. Ngay trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, Thầy đã sáng lập dòng tu Tiếp Hiện, xuất bản một tờ báo quan trọng vận động cho hòa bình, và thành lập trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội (TNPSXH) – một đoàn thể gồm những người được giáo lý của đạo Bụt thức tỉnh và thôi thúc họ trở thành “hoa sen trong biển lửa”. Thầy đã khai sinh ra nền Đạo Bụt Dấn Thân, một phong trào bắt nguồn từ đất nước Việt Nam nhỏ bé mà nay đã lan rộng trên toàn thế giới.

Năm 1966, ở tuổi 40, Thầy bị lưu đày khỏi quê hương Việt Nam thân yêu. Tội của Thầy là đã thấy được khổ đau của cả bên này và bên kia, của những người lính và dân thường, nạn nhân và tội phạm đều tương tức với nhau. Thầy đã khơi dậy nhân tính trong lòng mọi người có liên quan tới cuộc chiến tàn khốc này.

Trong bốn thập kỷ bị lưu đày, Thầy không hề ngơi nghỉ. Thầy đi khắp thế giới truyền đi thông điệp về hòa giải và hòa bình. Sau khi chiến tranh kết thúc, Thầy đã đem những cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam và những người Việt tị nạn đến với nhau để giúp họ tìm được sự hòa giải và hàn gắn. Thầy đến các nhà tù để giúp đỡ các tù nhân về mặt tâm linh, dẫn đầu các cuộc thiền hành vì hòa bình và giảng pháp, sẵn sàng đi tới tất cả những nơi cần đến tuệ giác của Thầy. Một lần, khi Thầy mới trở về từ chuyến thăm tù nhân đầu tiên ở trại cải huấn thuộc bang Maryland (những bài giảng ở đây đã làm căn bản cho cuốn sách Be Free Where You Are – Tự do ở bất kỳ nơi nào), Thầy đã nói rằng Thầy thà đến nơi tù ngục hơn là ở Tịnh độ, bởi vì chính nơi có nhiều khổ đau nhất là nơi có nhiều cơ hội nhất cho sự thực tập từ bi.

Nhưng trong những năm tháng đằng đẵng xa Việt Nam, Thầy luôn luôn lắng nghe tiếng gọi từ quê hương. Lúc này Thầy đã trở thành bậc thầy lỗi lạc trên thế giới. Sau nhiều lần xin phép, cuối cùng vào năm 2005, Thầy đã được trở về quê hương. Thầy và những thành viên trong tăng thân của Thầy đã đi xuyên đất nước Việt Nam, làm công việc khôi phục lại truyền thống tu tập đạo Bụt đã bị gián đoạn bao nhiêu năm bởi chiến tranh.

Mùa xuân năm 2007, Thầy đem tăng thân về thăm quê hương lần thứ hai. Tôi đã được tháp tùng đoàn với tư cách một nhà làm phim và ghi lại chuyến trở về lịch sử này. Trong thời gian ở đây, tôi may mắn được phỏng vấn Thầy và đã được giải thích khá dài về lý do của chuyến trở về và về những gì Thầy đang làm ở đây.

Thầy kể cho tôi rằng: “Chuyến đi này là một cơ hội trở lại Việt Nam và cùng mọi người tu tập. Trong bốn mươi năm, tôi đã không có cơ hội hiến tặng sự giảng dạy và thực tập cho đồng bào Việt Nam. Vì vậy, mục đích duy nhất của chuyến trở về lần này là được gặp mọi người, được đoàn tụ với mọi người, và được hiến tặng những khóa tu, những ngày Chánh Niệm, những bài pháp thoại và những buổi thiền hành. Phần lớn những người tới tham dự đều được sinh ra trong giai đoạn tôi xa quê hương. Nhưng khi nhìn họ, tôi vẫn có thể nhận ra thế hệ cha mẹ của họ. Họ là sự tiếp nối của cha mẹ và họ tiếp tục thực tập cho cha mẹ của mình. Thế hệ trẻ ngày nay rất có cảm hứng đối với một đạo Bụt có khả năng làm mới, vì vậy họ có thể tiếp nhận được giáo lý, hiểu, hành trì và thấm đạo.”

Nhưng Thầy còn muốn làm một điều khác nữa trong chuyến đi này: Liên hệ với những nạn nhân đã chết trong chiến tranh và giúp hàn gắn vết thương mà người dân đã phải gánh chịu trong chiến tranh. “Chúng tôi sẽ tiến hành các Trai đàn để cầu nguyện cho nạn nhân chiến tranh của cả hai phía. Đây là lần đầu tiên một trai đàn như vậy được phép tổ chức. Đó là nghi lễ truyền thống tôn giáo nhưng ở một khía cạnh khác cũng là một lễ hội.

Những người còn sống đến với nhau và tưởng nhớ tới người chết, cầu nguyện cho người chết và hòa giải. Chiến tranh đã để lại rất nhiều vết thương trong từng cá nhân và các bên lâm chiến đã không có cơ hội để hòa giải. Đây là sự thực tập hàn gắn, chữa lành mang tính cộng đồng. Nếu chúng ta không chuyển hóa những khổ đau và thương tích bây giờ thì những khổ đau và thương tích đó sẽ truyền xuống các thế hệ con cháu. Các thế hệ sau sẽ khổ đau mà không hiểu vì sao. Mình nên làm điều gì đó ngay bây giờ để chuyển hóa khổ đau và bất công mà mình đã trải qua.”

Dưới đây là câu chuyện mà tôi đã chứng kiến trong chuyến về Việt Nam năm 2007 của Thầy.

Thành phố Hồ Chí Minh

Thầy đã có cả một chương trình ba tháng dày đặc với các khóa tu, bài giảng và các Trai đàn, nói chuyện với đông đảo quần chúng đến đông kín sân chùa, hướng dẫn những khóa tu thiền có tới 10.000 người tham dự. Thầy còn đem lại cho chúng tôi niềm vinh hạnh khi được tháp tùng Thầy trong một hành trình đi sâu vào chánh niệm, tập trung vào việc hòa giải, giúp chuyển hóa những đau thương của chiến tranh thành tình thương.

Tôi tới sân bay Tân Sơn Nhất vào ngày chuyến hoằng pháp bắt đầu và thấy Thầy đang ngồi trên băng ghế, bao bọc bởi các sư thầy, các sư cô cười rất tươi và rạng ngời hạnh phúc. Một thầy đeo kính tên là Pháp Ấn, một trong những đệ tử lớn của Thầy, lại gần và tôi giải thích với thầy rằng tôi là một nhà làm phim Canada đã được mời tham gia chuyến đi để sưu tầm tài liệu cho bộ phim ký sự của tôi mang tên Fierce Light: When Spirit Meets Action (tạm dịch là Sức mạnh Ánh sáng: Khi tâm linh gặp hành động). Bộ phim này ghi lại tiến trình phát triển của chủ nghĩa tâm linh hành động trên toàn cầu. Chuyến đi của tôi đã kéo dài ba tháng, với mục đích tìm kiếm những câu chuyện đang xảy ra trên thế giới mà Ghandi từng gọi là “soul force” – quyền năng tâm linh, cái mà Alice Walker gọi là “human sunrise” – bình minh nhân loại và cái mà Thiền sư Thích Nhất Hạnh gọi là “love in action” – thương yêu trong hành động.

Chuyến đi của tôi bắt đầu từ New Zealand, viếng thăm một làng thực tập hòa bình của người Maori, ngôi làng mà trước đây phương thức phản kháng dân sự bất bạo động của họ đã truyền cảm hứng cho Gandhi. Ở Kenya, tôi tham dự Diễn đàn Xã hội Thế giới, cuộc họp mặt lớn nhất của những nhân vật lịch sử đã làm thay đổi thế giới. Ở Nam Phi, tôi thăm Phoenix Ashram, nơi phong trào Satyagraha (Chấp trì chân lý) của Gandhi được sinh ra. Ở Ấn Độ, tôi đến thăm những người Dalits (trước đây gọi là giai cấp cùng đinh), những người đang trong giai đoạn thay đổi và tranh đấu cho các quyền dân sự, tương tự như phong trào Dân Quyền ở Hoa Kỳ. Và ở Sri Lanka, tôi ghi hình cộng đồng Sarvadoyan, phong trào lớn nhất theo đường hướng của Gandhi ngày nay. Và giờ đây tôi đang ở Việt Nam với tăng đoàn Làng Mai cùng với một tập thể những thành viên của tăng thân quốc tế, bước vào xứ sở được coi là cái nôi của Đạo Bụt Dấn Thân.

Điểm dừng chân đầu tiên là Thành phố Hồ Chí Minh. Những đường phố của Thành phố Hồ Chí Minh được trang hoàng bởi các biểu ngữ đỏ, tràn ngập xe gắn máy và người qua lại. Ban đầu, băng qua đường tưởng như là một chuyện không thể, nhưng khi theo dõi những người bản xứ, tôi có thể thấy những dòng xe gắn máy rẽ ra như một đàn cá khi có người băng qua đường. Chỉ cần có niềm tin.

Sau bữa sáng trong im lặng với những thành viên khác của tăng thân quốc tế ở nhà hàng của khách sạn, chúng tôi lên xe bus đến chùa Pháp Vân, nơi xuất thân của Đạo Bụt Dấn Thân trong thập niên 60. Cả một rừng máy chụp ảnh đón chào sự trở về của Thầy. Thầy dẫn mọi người đi thiền hành thật chậm rãi và bình yên. Sau đó, chúng tôi đến nhà ăn để nhận áo tràng và bình bát. Tôi luôn bị thu hút bởi sự đơn giản và định tâm của những vị tu sĩ Làng Mai mà tôi được chứng kiến và tôi rất hào hứng trước cơ hội được thực tập gần như là một người tu trong vòng một tháng. Tôi nhìn quanh những người bạn cùng tháp tùng chuyến đi – 70 người nước ngoài từ khắp thế giới – tất cả đều khoác áo tràng lam, hơi ngần ngại nhưng cũng thấy thích thú bởi sự chuyển hóa đột ngột này. Chúng tôi không còn là những người thường nữa.

Đối với người dân Việt Nam, sự có mặt của tăng thân quốc tế này rất quan trọng. Nhiều người Việt đã từ bỏ văn hóa Phật giáo truyền thống, một phần có thể bởi vì họ thiếu sự tự tin. Phương Tây, qua các phương tiện truyền thông, được xem như là thiên đường, thế giới của những chiếc xe ô-tô, những sản phẩm hào nhoáng và sự giàu có dường như vô tận. Hình ảnh của một nhóm đông người Tây phương mặc áo tràng lam và thực tập Phật giáo Việt Nam đem tới cho họ niềm tự hào về văn hóa của dân tộc mình.

Sau một bữa trưa chay tịnh rất ngon miệng, ăn trong những chiếc bình bát mới, chúng tôi cởi giày và gặp nhau dưới một chiếc lều đã được dựng trước chánh điện. Sư cô Chân Không, đệ tử lâu năm và thân cận nhất của Thầy, đón tiếp chúng tôi. Năm 14 tuổi, Sư cô đã bị chấn động bởi khoảng cách bất công giữa người giàu và người nghèo. Sư cô bắt đầu đi gõ cửa từng nhà hàng xóm, nói với họ rằng “Hãy coi con như con chim mổ những hạt cơm sót trong nồi, cho con một nắm gạo, thế thôi, để chia sẻ với những ai không đủ ăn”. Sư cô đã sớm nhận ra vai trò của mình trong cuộc đời này là để thể hiện tình thương qua hành động. Nếu Thầy là thánh Francis thì Sư cô hẳn là thánh Clare.

Sư cô Chân Không là một trong sáu thành viên đầu tiên của dòng tu Tiếp Hiện và trong suốt thời kỳ chiến tranh, cùng với những thanh niên phụng sự xã hội, Sư cô đã hành động không sợ hãi vì hòa bình. Nhóm thanh niên dũng cảm này đã dấn thân vào những nơi xung đột, giúp nạn nhân chiến tranh ổn định lại cuộc sống, giúp tái thiết những xóm làng bị dội bom, xuyên qua làng mạc tan hoang trong tinh thần quả cảm. Có những làng vừa được dựng lại thì đã bị dội bom, rồi dựng lại, rồi bị dội bom, hết lần này đến lần khác. Rất nhiều người trong số những thanh niên đi theo con đường hành động tâm linh này bị giết hoặc bị thương, nhưng họ vẫn khước từ hận thù, nhất định không đứng về một phe nào, và không bỏ cuộc.

Mặc dù Thầy được coi là người đặt ra khái niệm “Đạo Bụt Dấn Thân” nhưng Thầy tin chắc rằng đạo Bụt dù dưới hình thức nào đều phải dấn thân, nếu không thì không phải là đạo Bụt. Thầy giải thích rằng “Khi thực tập ngồi thiền trong chùa mà nghe tiếng bom và tiếng kêu khóc ở ngoài, ta phải đi ra để giúp đỡ, bởi vì thiền là ý thức những gì đang xảy ra trong bản thân cũng như ở xung quanh. Trong tình trạng chiến tranh, ta phải dấn thân thì mới thực sự đúng với truyền thống từ bi và thương yêu. Nhưng nếu quá bận rộn làm công việc cứu trợ, ta sẽ đánh mất sự thực tập và sẽ bị kiệt sức. Đó là lý do tại sao ta phải tìm những phương pháp để duy trì sự thực tập, duy trì sự vững chãi, tự do và bình an trong khi làm việc”.

“Bất bạo động là biểu hiện của tình thương. Xã hội hiện giờ có rất nhiều tệ nạn, đó là hậu quả của quá trình phát triển và toàn cầu hóa. Nếu mình có tình thương đích thực, mình sẽ thấy cần phải làm gì để chuyển hóa những vấn đề như ma túy, bạo lực và sự tan vỡ gia đình. Có rất nhiều, rất nhiều cách để bày tỏ tình thương của mình”.

Mười ngàn trái tim

Sau chuyến về thăm Việt Nam lần đầu tiên, Thầy đã thành lập tu viện Bát Nhã, gần thị xã Bảo Lộc, cách Sài Gòn khoảng sáu tiếng đi xe buýt. Nơi đây thật đẹp với chánh điện, thiền đường, các cư xá nằm trên sườn đồi bao bọc bởi rừng thông và rừng cà phê. Thung lũng phía dưới được trang trí bởi những con đường đất đỏ mịn chạy ngoằn ngoèo rất lý tưởng cho đi thiền hành, đây đó có những thất nhỏ cho ngồi thiền. Cuối thung lũng là một tượng Bụt rất lớn ngồi dưới gốc cây và phía bên kia là tượng Bồ tát Quan Thế Âm – vị Bồ tát đại từ đại bi. Gương mặt Bồ tát thật thanh thản và rạng rỡ. Một ngôi chùa hiền lành với những lớp mái cong và sàn đá mát lạnh để lễ lạy và ngồi thiền, những hàng tượng lân đá được đặt tại các góc chùa, giống như các vị hộ pháp của lòng từ bi. Dưới chân đồi là hàng chữ khắc vào đá “Đã về, đã tới”.

Trước đây, chỉ có một ngôi chùa ở đây. Vị trụ trì là người yểm trợ Thầy hết lòng. Trong suốt thời gian Thầy xa quê hương, Thượng tọa Viện chủ vẫn giữ liên lạc và giúp Làng Mai thực hiện và mở rộng phạm vi các dự án xã hội trong vùng. Khi Thầy trở về Việt Nam lần đầu tiên ba năm về trước, Thầy đã thành lập một tu viện mới trên những khu đất xung quanh. Trong khoảng thời gian ba năm đó, tu viện đã được mở rộng nhanh chóng. Ba trăm vị xuất sĩ đang tu tập tại đây và những đợt xuất gia vẫn diễn ra đều đặn. Điều này chứng tỏ sự hồi sinh của Phật giáo tại Việt Nam.

Sau một ngày “làm biếng”, một ngày không thời khóa, chúng tôi bắt đầu một khóa tu cùng mười ngàn thiền sinh Việt Nam. Không ai ngờ con số lại lớn đến vậy, chứng tỏ một niềm khao khát mạnh mẽ đối với giáo pháp tại đây. Chúng tôi ngồi chung, mười ngàn trái tim, tiếp nhận sự tỏa rạng dịu dàng từ người Thầy đang trở về với quê hương, phục sinh lại một tôn giáo đã bị khô cứng.

Thầy nói rằng tôn giáo cũng giống như vỏ của quả mít, ta phải biết ăn những múi ngọt bên trong. Chúng ta cần trở lại với giáo lý Nguyên thủy. Đức Bụt đã dạy về vô tướng – nghĩa là đừng để bị kẹt vào tướng. Sư cô Chân Không nói với tôi: “Trong thời Bụt không có đạo Bụt. Chúng ta phải tiếp xúc với sự bình an, ánh sáng và sự hiểu biết sâu sắc trong tự thân mình. Đó là Bụt ở trong ta. Chúng ta có thể gọi đó là Thượng Đế hay Thánh Allah. Ta không cần đặt nó vào một khuôn khổ và gọi nó là đạo Bụt hay đạo Cơ Đốc hay đạo Do Thái. Chúng ta phải sử dụng pháp khí vô tướng mà Bụt đã trao truyền. Khi đó ta có thể tiếp xúc với thực tại vĩ đại và đẹp đẽ kia mà không bị kẹt vào danh xưng hay tướng trạng”.

Khi tình thương thấm đẫm trong ta

Đến giữa chuyến đi, tôi cảm thấy được bao trùm bởi tình thương. Tôi đã có thể tạm kìm được những bước chân của mình khi đi thiền hành – thiền hành đối với tôi lúc ấy giống như thiền trượt vậy. May mắn làm sao, tăng thân Làng Mai là nơi an toàn cho một người đang yêu. Không ai nghĩ tôi bị điên nếu tôi có cười hơi rộng miệng một chút. Mọi thứ đều diễn ra rất hài hòa. Đối với tôi bấy giờ, từng tiếng chim líu lo cũng trở thành bản tình ca.

Khi chứng kiến Thầy hướng dẫn thiền hành buổi sáng, tôi cảm nhận được trái tim rộng mở của Thầy. Hình thái thiền của Thầy khác xa với các khuôn mẫu thiền dùng gậy đập hay sử dụng công án rập khuôn của các vị Tổ. Thiền của Thầy là sự thực tập thấm đẫm tình thương, trong mọi chiều hướng. Bạn có thể thấy điều này đang truyền qua những đệ tử của Thầy. Tăng thân này tỏa chiếu tình thương và những nụ cười. Ngay cả khi Thầy không hiện diện, tôi vẫn hấp thụ được giáo pháp của Thầy, giáo pháp trao truyền nguyên vẹn qua những người đệ tử. Đây không phải là một đoàn thể các thầy, các sư cô nghiêm khắc, ép mình, những người sợ hãi, trốn tránh cuộc đời trong nếp sống tu viện. Những con người này thực sự dấn thân, họ sống sâu sắc trong giây phút hiện tại, chia sẻ hết lòng những cái thấy của họ trong quá trình tu tập với những người như chúng tôi.

Đại đức Pháp Ấn, một trong những đệ tử lớn của Thầy, nói rằng trước khi gặp Thầy, đại đức đã thiền quán nhiều năm về công án đơn giản “Tôi là ai?”. Những câu hỏi “Tôi là ai đang nâng cánh tay này? Tôi là ai đang bước đi? Tôi là ai đang di chuyển qua không gian?” trở thành điều ám ảnh. Sau khi được gặp Thầy, đại đức khám phá ra thiền tập trong hành động. Đại đức ngừng triết lý và bắt đầu sống, sống sâu sắc. Làng Mai cũng có những pháp môn thiền tập theo nghi thức truyền thống nhưng không nhiều. Điều quan trọng hơn cả là bạn sống ra sao, thực sự có mặt ra sao. Không phải là vấn đề phân tích bản thân để đưa tới sự giác ngộ, mà là sống. Sống thật sâu. Bây giờ, bây giờ và bây giờ.

Khi tôi hỏi đại đức Pháp Ấn về ý nghĩa của tình thương, đại đức nói “Khi bạn mở mắt là tình thương xuất hiện. Tình thương là một trạng thái của tâm khi mình sáng suốt, tỉnh thức. Giữa bạn và phần còn lại của vũ trụ kết nối mật thiết với nhau. Đó là nguồn năng lượng làm bạn hòa nhập với mọi vật. Quá trình cởi mở bắt đầu dần dần và tâm bạn bắt đầu mở rộng, bạn bắt đầu nhìn mọi việc rõ ràng hơn. Bạn nghe được tiếng chim ríu rít và thấy được màu tre xanh. Bạn cảm nhận được rất nhiều năng lượng để sống. Đó là tình thương. Nó cho bạn năng lượng để phụng sự. Bạn cảm thấy cuộc sống thật mầu nhiệm. Đó là tình thương có tính tâm linh.”

Tôi thích hỏi về tình thương, hiện tại tôi đang được sống trong tình thương. Tôi hỏi Sư cô Chân Không về tình thương, và câu trả lời của Sư cô đẹp đến nỗi làm tôi trào nước mắt. Sư cô nói ra từ chiều sâu của sự hiểu biết, với một giọng ngọt ngào, nhẹ nhàng nhưng mạnh mẽ. Ngọt ngào như một bông hoa và mạnh mẽ như sư tử. Sư cô nói rằng chúng ta cần thương yêu một người như thương yêu một cái cây – không chỉ yêu bề mặt, không chỉ yêu cành lá hay thân cây mà phải yêu cả gốc rễ. Chúng ta cần tập yêu tất cả những gì thuộc về người đó – tổ tiên, gia đình, bạn bè, ước mơ và hoài vọng của họ. Yêu tất cả những phần tạo nên con người ấy. Điều gì thực sự có ý nghĩa đối với người mình yêu? Một người biết yêu thương luôn luôn hiến tặng niềm vui và làm vơi nỗi khổ.

Có rất nhiều nỗi đau khổ ở Việt Nam cần được làm vơi. Như Thầy nói “Chiến tranh tạo ra biết bao nạn nhân. Có biết bao bất công đã xảy ra cho người dân ở cả hai miền Nam – Bắc, hàng trăm nghìn thuyền nhân đã bỏ mạng trên biển, bao nhiêu người chết trong ngục tù và trong các trại cải tạo, bao nhiêu chiến sĩ của cả hai miền Nam – Bắc đã chết trên chiến trường, giữa núi rừng và trên sông, bao nhiêu người mất không tìm ra hài cốt”.

Bữa cơm tối đơn sơ cùng Thầy

Sau vài tuần ở lại tu viện tôi đã chụp được những hình ảnh tôi cần, từ hình ảnh các thầy các sư cô thiền hành chậm rãi, cho đến những dòng suối tung bọt, tượng Bụt thật lớn, tượng Bồ tát Quan Thế Âm và những chú lân hộ pháp, những hàng áo nâu khiêm cung ngồi trên chánh điện với khuôn mặt thanh thản và cặp mắt khép nhẹ đang đi sâu vào thiền định.

Tôi có tất cả, chỉ còn thiếu hình ảnh của buổi phỏng vấn với Thầy. Tôi muốn hỏi Thầy về ý nghĩa đích thực của tình thương. Chúng tôi đã hoãn lại ngày rời tu viện đi Thành phố Hồ Chí Minh để chờ phỏng vấn Thầy. Ngày nào Sư cô Chân Không cũng đưa tin cho chúng tôi và bảo “Có thể ngày mai!”.

Những ngày tháng chờ đợi cứ trôi qua, chúng tôi bắt đầu cảm thấy như trong phim Chờ đợi Fidel, bộ phim kể về một đoàn làm phim tài liệu đến Cuba để phỏng vấn ngài Fidel Castro. Đoàn làm phim luôn được bảo rằng “Chắc chắn ngày mai”. Họ tự quay phim mình và dần dần phát điên, uống say rượu rum Cuba và suốt ngày tranh cãi. Họ không bao giờ có được buổi phỏng vấn, nhưng cũng cho ra một cuốn phim khôi hài làm bài học. Chúng tôi không uống say túy lúy ở đây, mặc dù thỉnh thoảng cũng có lẻn ra khỏi tu viện để ăn kem.

Cái mà chúng tôi nhận thấy là chúng tôi có thêm thời gian yên tĩnh để quán chiếu và có thêm kiên nhẫn. Một cơ hội cho giáo pháp thấm vào. Lúc đó đang có một khóa tu cho người xuất gia, tất cả đều nhẹ nhàng và yên lặng, một đại dương của những nụ cười không tắt. Cả tháng trời tôi chỉ cười và chắp tay vái như người điên. Nếu tôi tiếp tục làm như vậy khi về nhà thì chắc mọi người sẽ nghĩ tôi điên thật.

Một buổi sáng, khi đang theo lối mòn đi lên từ thung lũng nhỏ xinh mà tôi yêu thích, tôi bỗng thấy Thầy, chỉ đi cùng với hai thị giả. Tôi dừng lại xá chào và Thầy nở một nụ cười thật tuyệt vời với tôi. Tôi hơi sợ, bởi vì thông thường mỗi khi thấy Thầy thì hoặc là Thầy đang ngồi trước cả 10.000 người hoặc là đang thiền hành với hàng nghìn người phía sau. Tôi cũng cười thật tươi và định đi tiếp, nhưng Thầy nói “Thầy nghĩ hôm nay anh có thể phỏng vấn. Thầy sẽ cho biết sau.” Tôi vội vàng đáp lại “Con cảm ơn Thầy rất nhiều”.

Chúng tôi xá nhau, cười với nhau và tôi tiếp tục đi. Vài tiếng đồng hồ sau, buổi phỏng vấn được ấn định. Tôi xuống bếp và gặp Sư cô Chân Không.

“Anh đã sẵn sàng chưa? Đã có máy quay phim chưa?”

“Thưa, có ngay đây rồi.” Tôi vỗ vào chiếc túi nâu, chiếc máy ghi hình đã nằm gọn ghẽ bên trong.

“Bây giờ anh đi lấy thức ăn rồi mang xuống luôn.”

Thế là chúng tôi sẽ được ăn tối với Thầy. Người sản xuất phim của tôi, Cher, và tôi lấy đầy thức ăn vào bát, những món ăn chay đơn giản – cơm, mít, một chút đậu hũ, rau muống luộc. Sư cô Chân Không đưa chúng tôi xuống cốc của Thầy, một ngôi nhà nhỏ xinh, giống như một ngôi chùa thu nhỏ. Chúng tôi tháo giày và bước vào. Thầy đang ngồi sau chiếc bàn gỗ thấp có bày một khay thức ăn với những chiếc bát nhỏ đựng cơm gạo lứt và các loại rau xanh. Hai chiếc gối ngồi thiền đã được đặt sẵn cho chúng tôi. Thầy cười, “Mời quí vị vào, xin mời ngồi xuống.”

Chúng tôi ngồi xuống, bên cạnh Sư cô Chân Không.

“Hôm nay Thầy thấy anh đi xuống suối. Anh đang quay phim thác nước à?” Buổi sáng đó, khi đứng ở đầu dốc, tôi đã ghi hình Thầy đang bước đi dọc bờ suối. Thầy nhìn lên phía tôi khi tôi đang quay phim. Tôi sợ Thầy nghĩ rằng tôi đang xâm phạm sự riêng tư của Thầy, nhưng qua nụ cười của Thầy, tôi có thể thấy Thầy rất vui khi tôi ghi hình những cảnh đẹp của tu viện Bát Nhã.

“Thưa vâng, dưới đó thật đẹp, thật yên bình.”

Thầy chỉ vào bát của chúng tôi: “Mời các anh dùng cơm”.

Thể hiện lòng tôn kính, chúng tôi đợi đến khi Thầy gắp đũa đầu tiên mới bắt đầu ăn. Thầy gắp cho tôi một miếng đậu hủ kho sả. “Thử đi. Ngon lắm đấy.” Tôi đưa bát ra và Thầy bỏ vào.

“Thưa, ngon thật.” Tôi công nhận. “Những khu vườn ở đây thật đẹp. Mình có thể trồng rau quanh năm được không ạ?”

“Được chứ, quanh năm.”

Chúng tôi ăn trong im lặng một lát, rồi bàn về khóa tu cho cư sĩ. Tôi kể cho Thầy rằng tôi không thể tưởng tượng được tu viện lại có thể thu xếp ăn ở cho từng đó con người. “Thực tế là chúng tôi không có đủ cơ sở vật chất”, giọng Thầy thật nhẹ, “Mọi người ngủ ở mọi nơi, và không có đủ cả nhà vệ sinh. Chúng tôi sẽ phải xây thêm. Thử cái này đi. Anh có biết nó là gì không? Thầy không biết tiếng Anh gọi nó là gì”. Thầy lại gắp cho tôi một lá rau có mùi thơm.

“Thưa, cái này ăn giống rau ngò”, tôi đáp lời.

Thầy gắp một lá cho chính mình, nhai rất cẩn trọng, tận hưởng cảm giác thích thú. Thật đúng là thú vui của một thầy tu. Thầy gắp tiếp cho tôi một loại lá khác. “Cái này giúp nhuận tràng”, Sư cô Chân Không nói, dường như hơi quá nhiều thông tin. Sư cô lật qua một tạp chí Việt Nam trong đó có bài viết về chuyến đi. Sư cô rất thoải mái. Sư cô đã cùng Thầy đi chung con đường này hơn bốn thập kỷ qua.

Thầy bật cười nhẹ khi đưa cho chúng tôi đĩa nấm chiên và giải thích “Thịt chay đấy.” “Rồi các anh cảm thấy ra sao khi ở đây với chúng tôi?”

Tôi đáp: “Thưa, thật tuyệt vời. Nó cũng giúp chúng con thật sự nâng cao kỹ năng làm phim. Con luôn nói rằng làm phim là phải tỉnh thức, phải thực sự nhìn, nhưng ở đây, được bao bọc bởi sự thực tập chánh niệm của nhiều người, con thấy mình còn chánh niệm hơn nữa. Ngay cả khi con không trực tiếp tham gia thiền hành thì con cũng di chuyển từ chỗ này đến chỗ kia một cách chánh niệm. Từng khoảnh khắc đều là thiền. Cảm ơn Thầy vì điều đó.”

Cher nói thêm: “Nhóm thiền sinh muốn con kể cho Thầy biết họ thật là hạnh phúc khi được đi chuyến này cùng Thầy. Họ nhờ con gửi lời đến Thầy.”

Thầy chắp hai bàn tay và xá. Sư cô Chân Không kể về chuyến thăm của Sư cô tới những ngôi trường không phải đóng học phí và được dạy theo đường hướng tâm linh đạo Bụt do Làng Mai giúp thành lập ở những nơi trẻ em không có điều kiện đi học. Sư cô ngồi giữa các em nhỏ luôn luôn là hình ảnh ngọt ngào – trông Sư cô giống như em bé nhất giữa các em. Sư cô tả lại cho Thầy nghe Sư cô đã ngồi sau xe gắn máy ra sao để đến thăm được những ngôi trường ở vùng sâu vùng xa, nảy lên nảy xuống trên con đường đất đỏ bụi bặm xuyên qua những vườn cà phê và lên dốc xuống đèo. Sư cô cười phá lên khi kể đến đoạn người lái xe gắn máy cố gắng trấn an Sư cô: “Sư cô đừng lo, nếu Sư cô ngã thì con cũng ngã mà”. Niềm vui của Sư cô rộn rã, có phần đối lập với niềm vui bình lặng của Thầy.

Sau bữa tối, Thầy mời chúng tôi bánh quy và chúng tôi đặt máy quay phim cho buổi phỏng vấn. Thầy bảo tôi: “Câu hỏi hay sẽ có câu trả lời hay”.

Thầy nhìn sâu vào mắt tôi, ôm trọn tôi trong cái nhìn dịu dàng nhưng mạnh mẽ, như là câu trả lời đối với câu hỏi của tôi về ý nghĩa của tình thương. “Tình thương trong đạo Bụt có rất nhiều nghĩa. Trước hết, đó là lòng từ, khả năng hiến tặng niềm vui, hiến tặng hạnh phúc. Yếu tố thứ hai của tình thương đích thực trong đạo Bụt là tâm bi. Tâm bi là khả năng tháo gỡ niềm đau nỗi khổ và sự tuyệt vọng của người khác. Yếu tố thứ ba của tình thương đích thực là hỷ; trong tình thương đích thực phải có niềm vui. Và yếu tố cuối cùng của tình thương đích thực trong đạo Bụt là xả, nghĩa là bao dung. Mình không được loại trừ bất kỳ ai, không có sự phân biệt. Đây chính là yếu tố của tình thương đích thực. Nếu mình thương trong tinh thần đó, mình sẽ giữ được tự do. Mình sẽ không khổ đau nữa và không còn làm cho người khác khổ đau. Và khi chúng ta có tình thương đó trong lòng, tất cả những điều chúng ta nói, chúng ta làm đều biểu lộ tình thương.”

Đại Trai Đàn chẩn tế

Biểu hiện lớn nhất cho tình thương của Thầy là ba Đại Trai Đàn chẩn tế cho 3 – 5 triệu người đã chết trong chiến tranh. Ba Đại Trai Đàn đã được tổ chức tại ba thành phố ở ba miền Bắc, Trung, Nam – mỗi Trai Đàn kéo dài ba ngày – để hàn gắn vết thương chiến tranh. Thầy nhấn mạnh rằng nghi thức tế lễ và tán tụng ở các miền khá khác biệt, phản ánh tinh hoa và truyền thống của các vùng khác nhau trên đất nước Việt Nam. Mọi người ở khắp nơi trên thế giới đều được mời tham dự các buổi lễ, cầu nguyện theo bất kỳ hình thức nào thích hợp với họ, ngay cả những người không theo tôn giáo nào cũng có thể tham dự. Thầy mời những nhà lãnh đạo phát biểu những văn bản mang tính đề cao giá trị nhân văn. Thầy giải thích “Đây là sự thực tập có tác dụng trị liệu, đã có từ lâu đời và ăn sâu vào truyền thống của người Việt. Phần đông chúng tôi đều tin rằng linh hồn của những người đã khuất sẽ đáp ứng lại lời mời của chúng tôi mà đến thọ thực trong thời gian các Đại Trai Đàn diễn ra. Chúng tôi sẽ cúng dường thức ăn, nước uống và đặc biệt là cúng dường pháp để họ có thể nghe kinh và chuyển hóa những đau khổ của họ, và để họ có thể được sinh ra ở những nơi tốt hơn.”

Đại Trai Đàn đầu tiên được tổ chức một tháng sau khi bắt đầu chuyến đi tại một ngôi chùa lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh. Cả khuôn viên chùa trở nên sống động với các biểu ngữ, bàn thờ và những phòng ở tầng dưới đầy những danh sách tên của những người thiệt mạng. Hàng ngàn người đã ở lại trong suốt ba ngày nghi lễ tưng bừng của Đại Trai Đàn. Các vị tu sĩ đã tới thăm những nghĩa trang bị quên lãng trong nhiều thập kỷ qua, ngay cả đối với những thành viên trong gia đình người đã mất. Họ mời linh hồn những người bị bỏ rơi này tới tham dự Trai đàn. Tất cả đều được đón chào. Những chiếc thuyền giấy hình hoa sen nhiều màu sắc đã được thả xuống sông, những lễ dâng hương được tiến hành, những buổi tụng kinh kéo dài đến đêm khuya.

Thầy khai mạc Đại Trai Đàn ở Thành phố Hồ Chí Minh với một bài pháp thoại hùng hồn. Thầy ngồi trước chúng tôi, với đôi mắt bình thản, mở lớn và sáng quắc. Thầy hỏi chúng tôi khi người thương của mình mất đi, họ sẽ về đâu. Thầy nói mỗi người cần nhìn sâu để thấy rằng những người đã khuất đang có mặt trong chúng ta, giống như là đám mây đã trở thành mưa và nước mưa trở thành nước trà. Và như thế thì tổ tiên của chúng ta đang được tiếp nối trong chúng ta. Nếu chúng ta khỏe mạnh, nhẹ nhàng và tự do trong thân và tâm thì tổ tiên của chúng ta cũng sẽ được như vậy. Những người thương của chúng ta chỉ thay đổi về hình thức mà nội dung thì không đến không đi, không sinh không diệt. Tất cả những ai đã chết một cách oan ức trong chiến tranh cần đến năng lượng cộng đồng của toàn đất nước để được chữa lành. Chúng tôi đã ngồi tham dự buổi lễ kéo dài hàng giờ, toàn bộ gánh nặng của những gì đã xảy ra trên mảnh đất đầy thương tích này tràn về. Nước mắt tôi bắt đầu rơi, những giọt mưa của tổ tiên. Tôi đón chào những giọt nước mắt này. Từ khi tôi mở trái tim ra để thương, tôi đã thấy rằng tôi không còn sợ những giọt nước mắt nữa. Sư cô Chân Không nói với tôi rằng khi Hà Nội bị bỏ bom, Thầy đã khóc bởi vì những đồng bào của Thầy đang chết. Và khi Afghanistan bị bỏ bom, hay khi Iraq bị bỏ bom, Thầy cũng đã khóc với cùng một niềm quan tâm sâu sắc. Thầy không phân biệt. Tất cả những người đã khuất đều xứng đáng với những giọt nước mắt của chúng ta. Thầy đã viết một lá thư cho Tổng thống George W. Bush, hy vọng rằng Tổng thống có thể mở rộng trái tim mình để cảm thông cho những người dân đang bị ngài thả bom. Thầy nói rằng “Tôi mong ngài có thể khóc như tôi, ngài có thể đau khổ nhưng sau đó ngài có thể đưa ra những quyết định tốt nhất.”

Thầy không hề yếu đuối, ngay cả khi Thầy mở rộng trái tim mình. Thầy là một bằng chứng sống của lòng từ bi mạnh mẽ. Thời gian được cùng Thầy sắp chấm dứt. Thầy nhìn tôi với ánh mắt thật sâu. “Trong truyền thống đạo Bụt, tình thương bắt nguồn từ sự hiểu biết. Để có thể hiểu, mình phải dành thời giờ để nhìn sâu và lắng nghe sâu. Nếu mình có tình thương đó thì tất cả những lời mình nói, tất cả những điều mình làm đều bất bạo động, không phải đơn thuần là chiến thuật mà là sự biểu hiện của tình thương. Hiểu thấu được khổ đau của người khác sẽ đem lại tình thương đích thực.”

Nguồn: https://www.lionsroar.com/i-am-home/

Tình thương và giải thoát

 

Melvin McLeod

Chủ bút tạp chí Lion’s Roar – trước đây là Shambala Sun, đăng ngày 26.4.2010

Trong cuộc phỏng vấn này, Thiền sư Thích Nhất Hạnh nói về tình thương đích thực, những lợi ích của khổ đau và tuệ giác giúp chúng ta được giải thoát, tự do. Thầy nói rằng Thầy giảng dạy về Phật giáo Nguyên thủy theo tinh thần Đại thừa. Tôi có thể nói rằng cho đến hôm nay, tôi chưa gặp được một ai khác có thể truyền đạt những giáo lý cốt tủy của đạo Bụt một cách rõ ràng và sâu sắc như Thầy.

Melvin McLeod: Kính thưa Thầy, vì sao chánh niệm là chìa khóa của hạnh phúc?

Thầy: Chánh niệm đưa đến định. Định đưa đến cái thấy thâm sâu là tuệ giác. Tuệ giác có công năng giải phóng ta khỏi sự mê mờ, giận hờn và tham đắm. Khi ta thoát khỏi được phiền não thì hạnh phúc có mặt. Làm sao ta có thể hạnh phúc được khi trong ta đầy ắp giận hờn, si mê và tham lam? Thế nên cái thấy sâu sắc – tuệ giác – có công năng cởi trói cho ta khỏi những ràng buộc khổ lụy ấy chính là chìa khóa của hạnh phúc. Có rất nhiều điều kiện hạnh phúc đang có mặt, nhưng ta thường ít để ý nhận diện nó, bởi vì chúng ta không đủ chánh niệm.

Khi thân và tâm trở về một mối thì ta thật sự có mặt, ta thật sự đang sống. Ta có thể tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống đang có mặt bây giờ và ở đây. Thành ra, ta không chỉ thực tập với tâm, mà còn thực tập với thân của mình nữa. Thân và tâm phải hợp nhất, không phải là hai thực thể tách rời. Trên căn bản ấy, ta sẽ thấy những gì ta đang tìm cầu đã có mặt từ lâu rồi, cho dù cái mà ta tìm cầu là giác ngộ, niết bàn, giải thoát, Phật, Pháp, Tăng hay là hạnh phúc, tất thảy đều đang có mặt. Thực ra, địa điểm duy nhất và thời điểm duy nhất mà ta có thể tìm được những cái kể trên là bây giờ và ở đây.

Melvin McLeod: Ngược lại, khi thân và tâm tách rời, khi chúng ta bị lạc lối trong suy nghĩ và không còn ở hiện tại, phải chăng chúng ta đang dẫn dắt một xác chết.

Thầy: Có thể trên bề mặt trí năng, ai cũng đều biết rằng ta phải sống trong phút giây hiện tại, nhưng thói quen để cho tâm bị trôi lăn, phân tán đã hiện diện trong ta lâu lắm rồi. Nó cứ đẩy ta đi vòng vòng, cho nên ta đánh mất khả năng có mặt để sống sâu sắc trong phút giây hiện tại. Vì thế sự thực tập rất quan trọng. Nếu chỉ hiểu và nói về nó thôi thì chưa đủ. Ta phải thực tập đủ lâu để có thể thực sự dừng lại thói quen rong ruổi và thiết lập thân tâm trong phút giây hiện tại. Đó là sự thực tập rất cơ bản: dừng lại. Dừng lại, nhìn sâu và tìm ra hạnh phúc, tự do. Đó là con đường của Bụt.

Melvin McLeod: Thầy thường nhấn mạnh đến niềm vui trong sự thực tập – niềm vui khi đặt những bước chân trên mặt đất, niềm vui khi thở vào một hơi thở chánh niệm. Có thể vì cái quá khứ học Phật quá cứng nhắc và nghiêm khắc của chúng tôi mà chúng tôi thấy dễ chấp nhận hơn khi nghe rằng mình tu theo Bụt thì tu làm sao cho cứng cỏi, không để bị kéo đi bởi niềm vui. Chúng tôi gần như cảm thấy tôn giáo mà gắn liền với niềm vui và ăn mừng sự sống thì hình như có gì không đúng lắm.

Thầy: Tôi nghĩ rằng phần đông khi nghe giáo lý của Bụt về bốn sự thật mầu nhiệm (Tứ diệu đế), nhất là sự thật đầu tiên, họ nghe những chữ như khổ đau, phiền não cho nên họ nghĩ đạo Bụt chỉ nói đến khổ đau mà thôi. Nhưng họ không nhớ rằng sự thật thứ ba là nói về hạnh phúc, đối lập với phiền não, khổ đau. Bốn sự thật mầu nhiệm mà Bụt dạy là: 1. Có khổ đau, có phiền não; 2. Có con đường đưa ta đến chỗ khổ đau; 3. Có thể chấm dứt khổ đau, nghĩa là có hạnh phúc; 4. Có con đường dẫn tới hạnh phúc. Có lẽ chúng ta nên trình bày giáo lý Tứ diệu đế bắt đầu bằng hai sự thật thứ 3 và thứ 4 trước, cụ thể là: 1. Sự có mặt của hạnh phúc; 2. Có con đường đưa tới hạnh phúc; 3. Sự có mặt của khổ đau; 4. Có con đường đưa tới khổ đau.

Melvin McLeod: Khi có chánh niệm, ta khám phá ra nhiều niềm vui nhưng đồng thời cũng khám phá ra nhiều niềm đau và thương tích trong ta, đó là kinh nghiệm khó xử khi thực tập chánh niệm. Vậy khi khổ đau trỗi dậy, chúng ta cần thực tập như thế nào thưa Thầy?

Thầy: Khổ đau và hạnh phúc tương tức với nhau. Chúng ta có thể nhận diện được hạnh phúc dễ dàng hơn nhờ vào nền tảng khổ đau trong quá khứ. Ví dụ như ta thấy rõ hơn những chữ trắng nếu nó nằm trên nền đen. Nếu ta đã từng bị đói, ta mới thấm thía được niềm hạnh phúc khi có thứ gì đó để ăn. Nếu ta đã từng khổ đau vì chiến tranh, ta mới cảm nhận được giá trị lớn lao của hòa bình. Nếu không, ta sẽ không trân quý hòa bình, ta chỉ muốn đánh giặc thôi. Thành ra, kinh nghiệm của ta về khổ đau trong chiến tranh sẽ giúp ta tìm nhiều cách để gìn giữ hòa bình. Vì thế nếu có một chút khổ đau cũng là điều hữu ích, nhờ vào nền tảng khổ đau ấy mà ta nhận diện được hạnh phúc.

Phần đông chúng ta ai cũng có khuynh hướng tìm kiếm khoái lạc và trốn tránh khổ đau. Điều này có gốc rễ sâu xa từ một phần trong tàng thức của ta, gọi là mạt-na thức (tiếng Phạn là manas). Mạt-na chỉ muốn tìm kiếm dục lạc và lẩn tránh khổ đau. Vì bị vô minh che lấp nên mạt-na không thấy được những hiểm nguy của sự tìm kiếm dục lạc ấy. Như con cá đã được báo trước là hãy coi chừng những miếng mồi ngon vì bên trong có thể có lưỡi câu móc họng, nhưng nó vẫn không cưỡng được sự cuốn hút của miếng mồi. Mạt-na không nhận thấy được hiểm nguy của sự tìm kiếm dục lạc, và cũng không nhận thấy rằng khổ đau cũng có ý nghĩa của nó. Khổ đau một chút cũng tốt, bởi vì khổ đau giúp cho ta chế tác hiểu biết và thương yêu.

Bởi vì mạt-na không thấy được những hiểm nguy của dục lạc, cũng như không biết đến cái lợi lạc của bài học khổ đau nên chúng ta phải chuyển tải vào tàng thức cái thấy (hay tuệ giác) mà ta có được trong khi thiền tập. Bởi vì suy tư trên bề mặt ý thức thôi thì chưa đủ để đem lại một sự chuyển hóa tận gốc. Cái mà ý thức có thể làm là quán chiếu để đạt tới cái thấy sâu sắc và chuyển tải cái thấy đó xuống tàng thức.

Cái thấy đầu tiên cần được nhấn mạnh là thấy rằng sự tìm kiếm dục lạc rất nguy hiểm và trốn tránh khổ đau không phải là điều hay, bởi vì khổ đau cũng có lợi ích của nó. Nếu ta có chánh niệm, nếu ta đủ can đảm để trở về với chính ta và ôm ấp nỗi khổ trong lòng thì ta sẽ học được nhiều lắm và ta có thể chuyển hóa khổ đau. Nếu ta luôn tìm cách trốn chạy khổ đau thì ta sẽ không có cơ hội chuyển hóa. Bởi vậy cho nên Bụt dạy ta, trước hết là chấp nhận sự thật thứ nhất, sự thật là mình đang có khổ đau. Sau đó là nhìn sâu vào khổ đau để có thể tìm ra sự thật thứ hai là nguyên nhân đưa ta đến cái khổ đó. Đó là cách duy nhất để cho sự thật thứ tư, con đường hành trì để chuyển hóa khổ đau, đưa tới hạnh phúc có thể được hiển lộ. Vì thế ta nên nhấn mạnh đến vai trò của khổ đau. Nếu ta quá sợ khổ đau thì chúng ta không có cơ hội có được những khám phá ấy.

Melvin McLeod: Tôi nghĩ là ai trong chúng ta cũng từng thương một người trong cuộc đời. Ta sẽ sẵn sàng gánh chịu hết những khổ đau của người đó cũng như sẵn sàng trao tặng cho người đó những hạnh phúc ta có. Trải rộng tình thương đó ra cho nhiều người, và cuối cùng là cho tất cả mọi người, là điều hay nhất mà ta có thể làm để giúp cho thế giới tốt đẹp hơn. Vậy theo Thầy, làm sao để tình thương trong ta có thể lớn lên và trải rộng ra cho tất cả mọi người?

Thầy: Ngay giây phút lọt lòng mẹ, ta đã trải nghiệm sự sợ hãi – nỗi sợ nguyên thủy. Cái sợ đầu tiên đó thật lớn, thật sâu bởi vì ta có thể chết trong giây phút trọng đại, nguy ngập ấy. Ta vừa rời khỏi cung điện ấm áp (tử cung) của mẹ và sợi dây rốn gắn kết ta với mẹ không còn nữa. Giờ đây ta phải tự thở lấy. Phổi của ta khi ở trong bụng mẹ thì có nước, nhưng trong giây phút trọng đại này, ta phải đẩy thứ nước ấy ra khỏi phổi để tự hít vào hơi thở đầu tiên, nếu làm không được thì ta sẽ chết.

Thành ra, đó là lần đầu tiên ta kinh nghiệm về nỗi sợ hãi, và ước muốn được sống còn cũng phát sinh từ giây phút ấy. Là một em bé sơ sinh, ta thấy ta thật bất lực. Ta sẽ không sống sót nổi nếu không được ai chăm sóc. Khi nghe bước chân của ai đó đến gần và nhận ra đó là người chăm sóc cho ta thì ta hạnh phúc. Cả ngày ta chỉ chờ đợi tiếng bước chân đến gần bởi vì ta biết sau tiếng bước chân ấy có sữa, có sự ấm áp, có mọi thứ… Đó là cái sợ ban đầu và cái thèm khát ban đầu được phát sinh.

Rồi khi ta lớn lên, cái thèm khát có một người yêu cũng là sự tiếp nối từ cái thèm khát ban đầu đó. Ta thấy cần có một người để chăm sóc ta, nếu phải sống một mình thì thiếu thiếu cái gì đó và ta thấy hơi bất lực, mong manh. Ta không tự thấy yên tâm nếu chỉ sống một mình, vì vậy cứ tìm cách có một người yêu cùng sống bên nhau. Điều ấy cũng chứng tỏ là cái thèm khát ban đầu (khi mới sơ sinh) vẫn còn đó, rằng ta không cảm thấy an tâm nếu không có ai bên cạnh.

Thế nên người yêu, người bạn hôn phối cũng là một sự tiếp nối cái thèm khát ban đầu, cái nhu yếu có mẹ, có cha kề bên. Ta thấy có sự an ổn ngay khi có mẹ, có cha kề bên. Thật ra không phải sự có mặt thật sự của cha, của mẹ mới làm cho ta an tâm. Chính cái ý niệm “mẹ đang ở đây mà” hay “cha đang ở đây mà” đã khiến cho ta có cảm giác an ổn rồi. Nhưng sau một thời gian thì ta thấy người ở kề bên ta làm phiền ta quá và ta muốn ly dị. Thế nên thật ra không phải vì sự hiện diện của anh chàng hay cô nàng ấy cho ta có cảm tưởng thoải mái mà chính là cái ý niệm trong đầu và cái thèm khát ban đầu khi còn bé thơ đã sai khiến ta.

Trong đạo Bụt, tình thương lúc nào cũng cần bắt đầu với chính mình, trước khi thương yêu một ai khác trong cuộc đời. Thương yêu theo phương pháp Bụt dạy là ta cần trở về với chính ta và nhận diện được nỗi khổ, niềm đau trong ta. Sự hiểu biết sâu sắc nỗi khổ của tự thân khiến ta nhẹ ra và biết thương mình nhiều hơn, bởi vì ta cảm thấy có sự mãn ý, sự toàn vẹn trong chính con người mình. Và vì thế ta không cần phải tìm kiếm một người nào khác để bắt đầu thương yêu. Ta nên bắt đầu với chính ta.

Tình thương chân thật không phải chỉ dành cho một người. Khi tình thương có mặt, ta tỏa rạng như một ngọn đèn. Ánh sáng mà đèn tỏa chiếu ra không phải chỉ dành cho một người mà là dành cho tất cả mọi người có mặt trong không gian đó. Cũng thế, nếu trong ta thật sự có tình thương thì mọi người quanh ta đều được thừa hưởng – chẳng những con người mà ngay cả cầm thú, cỏ cây và đất đá cũng được thừa hưởng. Tình thương chân thật là như vậy. Trong tình thương chân thật có yếu tố xả, tức là bao trùm tất cả, không phân biệt một ai.

Melvin McLeod: Như vậy muốn trải tình thương ra thật rộng, thật xa thì trước tiên ta nên tập thương chính mình, làm cho mình trở thành một con người toàn vẹn, viên mãn?

Thầy: Đúng vậy!

Melvin McLeod: Trong một buổi thiền tập, Sư cô Chân Không hướng dẫn chúng tôi nhìn sâu để tiếp xúc với những điều kiện và yếu tố khác nhau đã làm nên con người chúng ta và những yếu tố đó vẫn đang có mặt trong ta như: cha mẹ, tổ tiên huyết thống, tổ tiên tâm linh và nhiều yếu tố văn hóa, xã hội, v.v… Sự thực tập này mang lại những lợi ích gì?

Thầy: Cái ngã được làm bởi những yếu tố không phải là ngã, đó là tuệ giác vô ngã. Tuệ giác ấy có công năng giải phóng ta. Chúng ta được làm bởi những yếu tố không phải là ta. Khi nhìn sâu, ta sẽ thấy trong ta có cha mẹ, tổ tiên, văn hóa, xã hội, v.v…, nói chung là có tất cả.

Có nhiều giảng sư Phật giáo giảng dạy giáo lý tương tức bằng những danh từ rất trừu tượng. Tôi nghĩ rằng giáo lý Bụt dạy có thể được diễn bày một cách rất đơn giản, dễ hiểu và ngay cả trẻ em cũng có thể hiểu được. Sáng nay chúng ta đã được hướng dẫn một buổi thiền tập quán chiếu về sự có mặt của gia đình huyết thống trong ta: “Thở vào tôi thấy cha tôi là một em bé năm tuổi, rất mong manh và dễ bị thương tích; Thở ra, tôi cười với em bé là cha tôi với nụ cười hiểu biết và xót thương”. Cách quán chiếu như vậy có thể giúp ta tiếp xúc được với tự tánh vô ngã. Khi biết ta được làm bởi các yếu tố không phải là ta, ta có thể thấy cha ta vẫn đang có đó trong ta. Cha ta đang thực sự sống trong từng tế bào của thân thể ta và những đau khổ của cha cũng vẫn còn đó trong ta.

Thực tập như vậy sẽ đưa tới tuệ giác tương tức và vô ngã. Nếu ta đang giận cha thì tuệ giác này có thể giải phóng ta khỏi những giận hờn, oán trách đó.

Melvin McLeod: Tại sao ta quán chiếu những yếu tố vô ngã trong ta không những bằng tuệ giác mà còn bằng tình thương?

Thầy: Tuệ giác và tình thương là một. Tuệ giác đưa tới tình thương và tình thương không thể nào có được nếu không có hiểu, không có tuệ giác. Nếu ta không hiểu thì ta không thể nào thương được. Tuệ giác là cái hiểu trực tiếp, không phải là những khái niệm, những tư duy trừu tượng. Trong thiền quán, ta phải để cho ánh sáng của tuệ giác soi sáng ta.

Đôi khi việc sử dụng hình ảnh có thể giúp ta hiểu một cách sâu sắc hơn. Ví dụ tôi hay dùng hình ảnh hạt bắp và cây bắp để giải thích cho các em nhỏ về tính tương tức. Tôi nói với các em rằng thật khó để giúp cho một cây bắp hiểu rằng nó từng là một hạt bắp. Thế nhưng đó là sự thật, và nếu ta thực sự nhìn theo cách đó, ta sẽ thấy được sự tương tức giữa hạt bắp và cây bắp. Bởi vì nếu không có hạt bắp thì làm sao có được cây bắp? Cũng tương tự như vậy đối với cha mẹ và con cái. Nếu ta chạm được sự thật đó qua thiền quán thì những giận hờn, trách móc sẽ tan biến và tình thương có thể phát sinh.

Melvin McLeod: Là một bậc thầy trong truyền thống thiền, với sự hiểu biết uyên thâm về các truyền thống Phật giáo khác, vậy mà suốt quá trình dạy cho thiền sinh trong năm ngày liên tiếp, Thầy chỉ nói phớt qua về khái niệm thiền. Thay vào đó, Thầy chỉ dạy về những giáo lý căn bản của đạo Bụt như pháp môn chánh niệm, bốn sự thật mầu nhiệm (Tứ diệu đế). Vì sao Thầy lại chọn hướng đi này?

Thầy: Khi nói về đạo Bụt, chúng ta biết rằng có đạo Bụt Nguyên thủy – bắt đầu từ khi Bụt thành đạo cho đến khi tăng đoàn phân chia thành nhiều bộ phái, và nhiều trường phái của đạo Bụt được phát sinh bởi những thế hệ sau. Nhưng cho dù là đạo Bụt Nguyên thủy, Thiền tông, Thiên Thai tông hay Kim Cương Thừa thì đó cũng là những điều Bụt dạy. Sự nghiệp của Bụt đã được tiếp nối bởi các vị đệ tử của Ngài. Tuệ giác và giáo pháp của Ngài vẫn được trao truyền qua nhiều thế hệ dù Ngài đã nhập niết bàn từ lâu. Ta thấy được Bụt qua nhiều thế hệ các bậc đại sư và đệ tử của họ.

Điều mà tôi đang làm là trình bày những phương pháp thực tập thuần túy của Phật giáo Nguyên thủy trong tinh thần của Phật giáo Đại thừa. Phật giáo Đại thừa có cái nhìn rất cởi mở, không gò bó và thật là tuyệt vời khi học hỏi Phật giáo Nguyên thủy bằng tinh thần khoáng đạt này. Khi ta sử dụng con mắt của Phật giáo Đại thừa để tìm hiểu, nhìn sâu vào Phật giáo Nguyên thủy, ta có thể khám phá ra biết bao nhiêu điều kỳ diệu và sâu sắc. Ta nhận ra rằng những lời dạy sâu sắc nhất của Phật giáo Đại thừa có thể tìm thấy trong các kinh điển Nguyên thủy. Những tư tưởng phóng khoáng của Đại thừa đã có rành mạch trong các kinh Nguyên thủy.

Những hạt giống của Phật giáo Đại thừa đã có đầy đủ từ trong Phật giáo Nguyên thủy. Thành ra khi ta dùng từ Phật giáo Nguyên thủy điều đó không có nghĩa là ta loại ra ngoài những bộ phái khác, những truyền thống mới khai triển sau này. Tôi chỉ muốn đem tất cả các truyền thống về với gốc rễ nguyên thủy của mình. Như vậy, Phật giáo Nguyên thủy được xem như mẫu số chung của tất cả các truyền thống Phật giáo. Do đó điều mà tôi muốn cống hiến là truyền đạt những điều Bụt dạy khi Ngài còn tại thế trong tinh thần Đại thừa.

Những giáo lý Bụt dạy khi Ngài còn tại thế rất đơn giản, nhưng cũng rất thâm sâu. Nhiều học giả đã làm cho đạo Bụt trở nên rắc rối, biến đạo Bụt thành một loại siêu hình học hay một loại triết học. Một số sinh viên Phật học đã bỏ quá nhiều thì giờ cho những hệ thống tư duy này mà không có thì giờ tu tập. Cũng như thiền sư Lâm Tế (Trung quốc gọi là Linji, Nhật gọi là Rinzai), Ngài học rất nhiều về Phật pháp nhưng sau đó cảm thấy không đủ. Vì thế Ngài bỏ hết những học thuyết và bắt đầu thực hành.

Melvin McLeod: Phật giáo ở phương Tây còn đang trong giai đoạn sơ khai, Thầy có cho rằng Phật giáo Nguyên thủy có thể sẽ hợp với người Tây phương hơn là những giáo lý được khai triển sau này không?

Thầy: Không phải một giáo lý riêng biệt nào mới thích hợp với thời đại chúng ta, mà quan trọng là cách ta hiểu giáo lý như thế nào – điều này phụ thuộc vào cách tiếp cận giáo lý của chúng ta. Nếu ta là một học giả và chỉ sử dụng trí năng mà thôi thì ta có thể giải thích giáo lý theo cách này, trong khi nếu là một hành giả thực tập thật sự thì có thể ta sẽ khám phá được chiều sâu của giáo lý và tiếp xúc được với tuệ giác phát sinh từ sự thực tập của ta. Và nhờ thế, ta có thể trình bày giáo lý kia một cách hoàn toàn khác hẳn với người chỉ dùng trí năng. Thành ra vấn đề không phải giáo lý này hay hơn, hay giáo lý kia thích hợp hơn, vấn đề là cách ta thực tập, trải nghiệm và áp dụng giáo lý vào sự tu tập của mình có phù hợp hay không.

Tuy vậy, phải nói rằng thật kỳ diệu là bài pháp thoại đầu tiên do Bụt thuyết vẫn còn thích hợp với thời đại chúng ta. Sau 2500 năm, bài thuyết pháp đầu tiên của Bụt vẫn có giá trị vững chãi. Trong bài thuyết pháp đầu tiên ấy, ta có thể tìm được đầy đủ những điều Bụt dạy mà ta có thể thực tập suốt đời. Điều đó thật đáng kinh ngạc.

Melvin McLeod: Trong những lời dạy của mình, Thầy nhấn mạnh đến yếu tố tăng thân – một nhóm người cùng tu tập chung. Thầy dạy về điều này nhiều hơn các vị thầy khác. Tại sao yếu tố tăng thân lại quan trọng như thế đối với Thầy?

Thầy: Xây dựng tình huynh đệ là nền tảng thiết yếu của một tăng thân. Nếu tăng thân hạnh phúc thì đó sẽ là nơi nương tựa cho nhiều người. Chúng tôi bắt đầu xây dựng tăng thân từ nhiều thập niên trước và giờ đây tăng thân chúng tôi đang trở nên lớn mạnh và vững chãi. Trong những khóa tu, chúng ta có thể cảm nhận được rất rõ năng lượng vững chãi của tăng thân, đặc biệt là với sự tham dự của nhiều người đã từng tu tập lâu năm. Trong kinh có nhắc đến câu chuyện về vua Ba Tư Nặc (Presenajit) của nước Kosala. Ngài gặp Đức Thế Tôn lần cuối, khi ấy cả hai đều đã 80 tuổi, nhà vua nói: “Bạch đức Thế Tôn, mỗi lần con thấy tăng thân của đức Thế Tôn là con lại có niềm tin nhiều hơn ở nơi đức Thế Tôn”. Tôi thấy thật ý nghĩa khi mọi người có thể thấy được Bụt qua tăng thân của Người. Tăng thân là công trình, là tác phẩm lớn nhất của Bụt. Bụt là một nghệ sĩ và tăng thân là công trình nghệ thuật của người nghệ sĩ ấy. Thành ra, Bụt vẫn đang sống cho đến ngày hôm nay trong tăng thân. Khi bạn thấy các thầy, các sư cô cùng các bạn cư sĩ tu tập nghiêm túc, thảnh thơi và an lạc là bạn có thể thấy được sự hiện diện của Bụt.

Melvin McLeod: Thầy đã cho một bài pháp thoại tại New York với đề tài: “Xây dựng một xã hội lành mạnh và từ bi”. Thế nào là con đường đưa tới một xã hội lành mạnh và từ bi? Năm phép tu tập chánh niệm mà Thầy đã làm mới lại trên nền tảng Năm giới của đạo Bụt truyền thống để thích hợp với tình trạng của xã hội hiện đại, đó có phải là cẩm nang để đưa tới một xã hội lành mạnh và từ bi không?

Thầy: Tuệ giác tương tức có khả năng tháo gỡ sự kỳ thị, sợ hãi và cách tư duy lưỡng nguyên trong ta. Chúng ta tương tức với nhau, ngay cả hạnh phúc và khổ đau cũng tương tức với nhau, vì vậy tuệ giác tương tức phải được xem là nền tảng cho bất cứ hành động nào. Tuệ giác ấy có thể đem tới hòa bình, tình huynh đệ cũng như giúp chuyển hóa bạo động và tuyệt vọng. Tuệ giác này có mặt trong tất cả các truyền thống tâm linh. Ta chỉ cần trở về với chính truyền thống tâm linh của ta và gắng làm sống lại những hạt giống tuệ giác ấy.

Năm phép tu tập chánh niệm (hay còn gọi là Năm giới) là biểu hiện cụ thể của sự thực tập từ bi. Trong truyền thống Phật giáo, chúng tôi luôn học hỏi cách thức để áp dụng Năm giới một cách hữu hiệu trong đời sống hằng ngày. Năm giới quý báu ấy là để thực tập, chứ không phải để suy luận và nghiên cứu. Ghi tên để xin thọ nhận Năm phép tu tập chánh niệm ấy không phải là ký tên ủng hộ một kiến nghị mà là làm cho nó trở thành sự sống của chính mình, trở thành con đuờng tu tập của mình. Bạn sẽ rất hạnh phúc vì biết rằng mình đã có đường đi – con đường của hiểu biết và thương yêu. Và khi đã có đường đi rồi thì bạn không còn lý do gì để lo sợ về tương lai của mình nữa cả.

Bạn có thể chia sẻ con đường lý tưởng của mình, chia sẻ cách mình tu tập để nuôi dưỡng, phát triển hiểu biết và tình thương với các bạn thuộc truyền thống khác. Họ không cần trở thành Phật tử để có thể thực tập theo Năm giới, họ chỉ cần trở về truyền thống tâm linh của họ, sống cho sâu sắc và tìm cho ra những phương thức tương đương với năm phép tu chánh niệm của Phật tử nơi chính truyền thống tâm linh của mình.

Mục đích của chúng tôi không phải là để thay đổi niềm tin của các bạn từ truyền thống khác và biến họ thành Phật tử, mà chỉ là chia sẻ con đường của hiểu biết và thương yêu. Các bạn vẫn tiếp tục là tín hữu Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo hay Hồi giáo, mà vẫn có thể thực tập như chúng tôi đang làm. Chúng tôi dùng ngôn từ Phật giáo, còn các bạn thì có thể dùng ngôn từ Cơ Đốc giáo, Hồi giáo, v.v… mà tu tập và chúng ta sẽ cùng đi đến một kết quả như nhau. Thế nên ta mới có thể gọi đó là một đường hướng tâm linh toàn cầu hay một nền đạo đức toàn cầu.

Melvin McLeod: Sẽ rất tuyệt vời nếu tất cả các vị lãnh đạo tâm linh từ nhiều truyền thống khác nhau có thể đến cùng nhau và bàn bạc làm thế nào xây dựng một nền đạo đức toàn cầu để mọi người đều có thể cùng nhau tu tập.

Thầy: Có thể họ không cần đến với nhau tại một nơi cụ thể. Họ chỉ cần ngồi yên nơi chốn của họ và tu tập, làm khơi dậy cái hiểu cho thâm sâu và mở rộng tình thương đến với mọi người, mọi loài. Đó là cách gặp nhau sâu sắc nhất.

Melvin McLeod: Cám ơn Thầy vô cùng. Thầy thật là từ bi, đã dành cho chúng tôi từng ấy thì giờ. Đây là một vinh dự lớn cho tôi và tôi cũng biết độc giả chúng tôi sẽ vô cùng lợi lạc.

Nguồn: https://www.lionsroar.com/shambhala-sun-love-and-liberation-an-interview-with-thich-nhat-hanh/

Thiền và nghệ thuật buông thư

 

(Phỏng vấn đặc biệt với Thiền sư Thích Nhất Hạnh)

Marianne Schnall

(Đăng trên The Huffington Post của Mỹ, ngày 21.05.2010)

Trong bài phỏng vấn dưới đây, Thiền sư Thích Nhất Hạnh chia sẻ những tuệ giác, những lời khuyên quý báu về việc làm thế nào sử dụng thời gian nghỉ để nuôi dưỡng thân tâm (Thầy nói “loài người chúng ta đã đánh mất thói quen nghỉ ngơi và thư giãn thật sự”), làm thế nào một Thượng nghị sĩ bận rộn của Quốc hội Mỹ có thể sử dụng thiền hành trên đường đi đến phòng nghị sự để giảm căng thẳng và làm đầu óc trở nên sáng suốt. Thầy cũng chia sẻ những lo ngại về ảnh hưởng của khoa học công nghệ lên xã hội và niềm tin vào sức mạnh của thiền tập trong việc tạo nên một xã hội bình an.

Marianne Schnall (MS): Xin Thầy chia sẻ về những kết quả mà sự buông thư và thiền tập mang lại trong cuộc sống hàng ngày của Thầy?

Thầy: Thiền tập có sức mạnh trị liệu rất lớn, như các nghiên cứu khoa học hiện đại đã cho thấy. Sự thực tập hơi thở ý thức, thiền tọa, thiền hành giúp giải tỏa những căng thẳng trong thân và trong tâm. Khi ta cho chính mình một cơ hội để buông bỏ tất cả những căng thẳng, khả năng tự trị liệu của cơ thể sẽ bắt đầu làm việc. Các con thú trong rừng đều biết điều này. Khi chúng bị thương, bệnh hoặc quá mệt, chúng biết phải làm gì. Chúng tìm một nơi yên tĩnh, nằm xuống để nghỉ ngơi. Chúng không đi tìm thức ăn hoặc đuổi theo những con thú khác, chúng chỉ nghỉ ngơi thôi. Sau vài ngày nằm yên để nghỉ ngơi, chúng được chữa lành và hoạt động bình thường trở lại.

Loài người chúng ta đã đánh mất tuệ giác của sự nghỉ ngơi và thư giãn thật sự. Chúng ta lo lắng quá nhiều. Chúng ta không cho phép cơ thể mình tự chữa lành, và cũng không cho phép tâm ta được chữa lành. Thiền tập có thể giúp ta ôm ấp những lo lắng, sợ hãi, giận hờn và điều này rất trị liệu. Ta để cho khả năng tự trị liệu trong ta được hoạt động một cách tự nhiên.

Thư giãn hoàn toàn chính là bí quyết để có an lạc trong khi ngồi thiền. Tôi ngồi với một cái lưng thật thẳng nhưng không gồng cứng, và tôi thư giãn tất cả các bắp thịt trong cơ thể. Thở vào, tôi đem tất cả sự chú ý đến một bộ phận nào đó trong cơ thể; thở ra tôi mỉm cười biết ơn và gửi tình thương đến bộ phận đó. Thí dụ như tôi thở vào và hướng sự chú tâm đến khuôn mặt. Trên mặt tôi có khoảng 300 bắp thịt và khi nào tôi lo lắng, giận dữ hoặc sợ hãi, 300 bắp thịt đó siết lại, và bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng có thể thấy tôi đang căng thẳng. Nhưng nếu trong khi thở vào, tôi có thể ý thức đến khuôn mặt của mình, và thở ra tôi có thể mỉm cười với khuôn mặt của mình, thì ngay lập tức sự căng thẳng sẽ tan biến. Điều đó gần như là một phép lạ. Chỉ trong một vài hơi thở, ta có thể cảm nhận được sự bình an, hạnh phúc và thư giãn trên khuôn mặt. Mặt ta trở nên nhẹ nhàng, tươi mát, giống như một bông hoa. Khuôn mặt ai cũng đều là một đóa hoa.

“Thở vào tôi ý thức về gương mặt tôi, thở ra tôi mỉm cười với gương mặt tôi”, ta có thể thực tập như vậy trong vòng ba đến bốn hơi thở. Sau đó, ta hướng sự chú tâm đến các bắp thịt trên hai vai, bởi vì các bắp thịt trên hai vai chúng ta thường hay bị căng thẳng. “Thở vào, tôi ý thức về các bắp thịt trên hai vai; thở ra, tôi thư giãn và mỉm cười với hai vai tôi”. Cứ như thế ta dần dần di chuyển đến khắp các vùng trên cơ thể, và chỉ sau một vài phút ta có thể làm cho cơ thể trở lại bình thường với trạng thái nhẹ nhàng, thư giãn.

Đây là điều mà ai cũng có thể làm được trong một vài phút đầu tiên sau khi ngồi xuống, không nhất thiết là chỉ ngồi trong thiền đường mà thôi. Bất cứ ngồi ở chỗ nào, ta cũng có thể ngồi thật đẹp, như là ta đang ngồi thiền vậy, ngồi đâu ta cũng có thể cảm thấy vững chãi, thảnh thơi. Ngồi xuống để ăn cơm hay làm việc văn phòng, ta nên ngồi thẳng và buông thư. Hãy ngồi như Bụt ngồi.

Tôi biết có một vài Nghị sĩ ở Quốc hội Mỹ thực tập thiền hành ở Capital Hill. Một vị nói với tôi là khi đi đến phòng bỏ phiếu để thông qua một dự luật, ông ấy luôn thực tập thiền hành, hoàn toàn dừng lại mọi suy nghĩ. Văn phòng của ông rất bận rộn, mỗi ngày ông phải trả lời rất nhiều câu hỏi, giải quyết bao nhiêu việc khác nhau. Vì vậy thời gian duy nhất trong ngày mà ông có thể thật sự dừng mọi suy nghĩ để nghỉ ngơi là khi ông rời văn phòng để đến phòng bỏ phiếu thông qua dự luật. Ông để tất cả tâm ý vào hơi thở và vào bước chân, hoàn toàn không suy nghĩ gì hết. Và ông nói điều đó thực sự giúp ông có thể sống còn trong cuộc sống bận rộn tối mắt tối mũi của một Nghị sĩ.

Chúng ta phải học lại nghệ thuật nghỉ ngơi và buông thư, điều này rất quan trọng. Nó không những giúp ngăn ngừa rất nhiều các bệnh tật phát sinh từ chứng căng thẳng và lo lắng mãn tính mà còn làm cho đầu óc sáng sủa, tập trung, từ đó tìm ra các phương cách sáng tạo để giải quyết vấn đề. Nếu như ta có thể buông bỏ tập khí luôn chạy về tương lai, biết dừng lại để thư giãn và trở về với chính mình, chúng ta sẽ thành công hơn trong bất cứ phương diện nào mà ta muốn. Và chúng ta sẽ có thêm niềm vui sống.

MS: Có những người cho rằng thời gian thư giãn của họ chính là lúc sử dụng những thiết bị điện tử, thí dụ như máy vi tính, ti-vi hoặc tweeting. Thầy nghĩ thiền tập giúp được gì trong trường hợp này, thưa Thầy?

Thầy: Câu hỏi này làm tôi nhớ đến một điều mà tôi quan sát thấy nơi những người đi nghỉ mát. Mục đích của việc đi nghỉ mát là có thời giờ để nghỉ ngơi. Nhưng có rất nhiều người không biết cách nghỉ ngơi, dù là họ đang được đi nghỉ mát. Khi trở về, họ còn mệt mỏi hơn trước khi đi. Vậy là sao?

Thư giãn là yếu tố vô cùng thiết yếu để làm nên sức khỏe về thể chất, tinh thần, tình cảm cũng như các mối quan hệ của chúng ta. Vì nó quá quan trọng như thế nên tôi rất mong các bạn thực sự quan sát kỹ chính mình trước và sau khi tham gia vào một hoạt động giải trí hay thư giãn nào, để thấy sau khi tham gia mình thực sự có khỏe nhẹ hơn trước khi tham gia hay không. Rồi sau đó các bạn có thể thử thực tập ngồi thiền, đi thiền hành và thiền buông thư để xem các bạn cảm thấy thế nào sau khi thực tập.

MS: Rất nhiều khi ta cảm thấy là cơ thể đang thư giãn, nhưng đầu óc thì lại rất bận rộn. Làm thế nào để có ý thức về khuynh hướng này và ngăn chặn không cho tâm bận rộn lấn át mình?

Thầy: Ý thức về hoạt động của tâm ý chính là chìa khóa. Tất cả đều bắt đầu từ tâm. Tại các trung tâm tu học của Làng Mai, chúng tôi đều thực tập là khi nghe tiếng chuông thì ta ngưng nói năng, suy nghĩ, và ngưng cái tâm tán loạn. Ta trở về với hơi thở, ngay bây giờ và ở đây, tiếp xúc với những gì đang xảy ra trong thân và trong tâm ta. Ta thật sự sống và thật sự có mặt trong giây phút này, ta không phải là một người máy chạy quanh một cách vô thức. Ta sẽ biết mình nên làm gì và không nên làm gì trong giây phút ấy. Thí dụ như ta sắp ăn một cái gì đó không lành, tiếng chuông sẽ cho ta một cơ hội để dừng và nhìn lại. Nếu ta đang chìm đắm trong những suy nghĩ về một ai đó khiến ta bực bội thì ta có thể dừng lại, ý thức về cảm xúc bực bội đó, nhìn sâu vào hoàn cảnh, ta có thể tìm ra một cách hiệu quả hơn để thoát khỏi tình trạng đó.

MS: Người ta thường nói là họ quá bận rộn nên không có thời gian để thư giãn. Vậy Thầy có cách nào đơn giản để họ có thể áp dụng trong cuộc sống bận rộn như thế không?

Thầy: Chúng ta đâu cần phải lên kế hoạch đi đến một trung tâm tu học mới có thể thưởng thức được lợi ích của việc dừng lại khi nghe chuông. Ta có thể sử dụng nhiều cái rất bình thường trong đời sống hàng ngày làm chuông chánh niệm để quay về với chính mình, trong giây phút hiện tại. Chẳng hạn như tiếng chuông điện thoại. Rất nhiều đệ tử của tôi dừng lại thở vào, thở ra ba hơi trong chánh niệm trước khi trả lời điện thoại. Làm như thế, họ có thể thật sự có mặt cho chính họ và cho người gọi. Hoặc khi đang lái xe, đèn đỏ có thể trở thành một người bạn tuyệt vời của ta, nhắc ta dừng lại, thư giãn, buông bỏ thói quen suy nghĩ tiêu cực và cảm thấy lòng mình rỗng rang hơn. Bỏ ra năm phút để chơi đùa với trẻ con hoặc các con thú, đi bộ để ngắm mây trời, cây cỏ, thưởng thức hơi thở, những điều này giúp ta buông bỏ được căng thẳng và trở nên nhẹ nhàng, tươi mát. Hãy nhận diện tiếng chuông chánh niệm yêu thích của mình, và để cho tiếng chuông đó thường xuyên nhắc chúng ta thưởng thức sự sống.

Tôi vừa viết xong một quyển sách nhỏ, hiện đang được biên tập, nói về đề tài này. Dự định sẽ đặt tựa đề bằng tiếng Anh là Peace Is Every Breath: Daily Practices for Our Busy Lives (Bình an trong từng hơi thở: Những thực tập hằng ngày cho người bận rộn), và sẽ được xuất bản vào năm 2011.

MS: Xin Thầy chia sẻ cái thấy của Thầy về vấn đề trẻ em đang bị lệ thuộc vào các thiết bị điện tử?

Thầy: Có nhiều nghiên cứu khoa học đã chứng minh ảnh hưởng tiêu cực của vấn đề này. Tôi thấy một trong những ảnh hưởng xấu nhất của tình trạng phụ thuộc vào thiết bị điện tử – coi đó như một nơi nương tựa chủ yếu để giải trí và vui thú – là cuối cùng người ta không thấy hạnh phúc hơn, mà ngược lại. Thiết bị điện tử có thể là một công cụ có ích nếu được sử dụng trong chánh niệm. Nhưng thường thường người ta sử dụng phương tiện truyền thông và trò chơi điện tử để khỏi phải đối diện với những cảm xúc không dễ chịu như lo lắng, trầm cảm, giận dữ, cô đơn, buồn chán, v.v… Chúng ta muốn khỏa lấp khổ đau và cảm giác trống rỗng trong lòng.

Khi ta có thói quen chạy trốn những gì đang thực sự diễn ra trong tâm, trong những mối quan hệ của ta thì cuối cùng ta sẽ càng trở nên lạc lõng hơn, buồn chán hơn. Có nhiều chương trình ti-vi, âm nhạc và trò chơi điện tử rất độc hại, tưới tẩm những hạt giống của sự tham đắm, sợ hãi và bạo động trong ta.

Đúng vậy, cuộc sống và những mối quan hệ đôi khi khá là thử thách. Nhưng nếu chúng ta quen phụ thuộc vào các thiết bị điện tử (cũng giống như các chất gây nghiện, hay ăn uống không chánh niệm) để rồi tê liệt trước những gì đang diễn ra, thì vấn đề của ta càng trở nên dai dẳng và trầm trọng hơn.

Nói như vậy không có nghĩa là ta cứ ngồi đó rồi suy nghĩ miên man, nhai đi nhai lại vấn đề ta đang có. Cả hai xu hướng đó đều không đúng. Thiền tập – ngồi yên, làm lắng dịu những lăng xăng của thân và tâm, thưởng thức cảm giác là mình đang còn sống qua hơi thở vào ra – là phương pháp hữu hiệu nhất để làm cho tâm ta sáng tỏ và thấy được lối ra cho vấn đề mà ta đang bị mắc kẹt.

MS: Thưa Thầy, nếu một số đông người thật sự bỏ thì giờ ra để thiền tập và thư giãn thì sẽ tác động đến xã hội như thế nào?

Thầy: Có một điều dễ dàng nhận thấy là có quá nhiều bạo động, đói nghèo và khổ đau xung quanh ta; nhưng ta nghĩ rằng ta quá nhỏ bé và bất lực để giúp thay đổi tình trạng. Có thể chính trong gia đình ta cũng có khó khăn; có thể một thành viên trong gia đình đang rất đau khổ, tuyệt vọng và người ấy lâm vào tình trạng nghiện ngập hoặc phạm tội. Ta tự nhủ rằng ta không biết phải làm sao để giúp người kia, trong khi đó ta còn có một cuộc sống bận rộn của riêng mình.

Nhưng chính xác là ta bận cái gì? Đối với rất nhiều người trong chúng ta, đó là bận làm việc để kiếm tiền trả cho cái bằng cấp, chiếc xe mới, cái nhà to hơn, hay một chuyến nghỉ mát kỳ thú. Khi ta dành thời gian để thư giãn và thiền tập, tắt đi những âm thanh ồn ào, không ngớt của các quảng cáo trên các thiết bị điện tử, ta sẽ nhận ra rằng thực ra để có hạnh phúc, ta cần rất ít.

Ta đã có sẵn rất nhiều điều kiện để có hạnh phúc mà không cần tốn một đồng nào hết. Thí dụ như đôi mắt. Đôi mắt của chúng ta thật là mầu nhiệm, là hai viên ngọc quý. Ta chỉ cần mở mắt ra là thấy được trời xanh, mây trắng, những đóa hoa xinh đẹp, thấy gương mặt của những người thương. Hoặc đôi tai của ta: Bất cứ khi nào ta thích, ta đều có thể nghe được âm thanh của bản nhạc gây cho ta cảm hứng, của tiếng chim, dòng suối, hoặc tiếng thông reo. Tất cả những cái đó đều là những mầu nhiệm của sự sống, có sẵn cho ta bất cứ lúc nào. Ta chỉ cần mở mắt, ta chỉ cần lắng tai thôi. Thân thể ta vẫn còn khỏe mạnh, đôi chân ta vẫn còn cứng cáp. Và tất cả những mầu nhiệm đó nằm trong chính thân thể của ta.

Chúng ta có thấy mãn nguyện trong những niềm vui không tốn kém này và sống đơn giản hơn để có thì giờ thật sự lắng nghe những người mà ta gần gũi, hoặc viết thư cho một vị đại biểu quốc hội hay không? Khi ta tỉnh thức, khi ta ý thức hơn về những gì đang xảy ra, và thấy rõ mình thật sự cần phải làm gì (và không nên làm gì), thì cuộc sống của cá nhân ta và toàn xã hội sẽ dễ dàng có những thay đổi lớn. Thật tình thì tôi không biết có cách nào khác để đem đến sự thay đổi ấy ngoài cách này.

Khi thân tâm được thư giãn, người ta sẽ có khuynh hướng bớt nói năng, hành xử một cách bạo động. Khi ấy người ta sẽ có thể chạm đến rất nhiều tuệ giác và nguồn năng lượng dồi dào mà lâu lắm rồi ta chưa chạm đến, từ hồi thơ ấu đến giờ. Trong suốt tiến trình lịch sử, con người – cả nam lẫn nữ – đã đạt được những thành quả có thể nói là không thể tưởng tượng được. Sự thật là, những thay đổi chúng ta có thể làm nên cho chính bản thân và cho xã hội qua sự thực tập chánh niệm là không có giới hạn. Ta chỉ cần bắt đầu thôi, bắt đầu nơi chúng ta đang có mặt, ngay bây giờ, ở đây.

MS: Làm thế nào để có sự cân bằng giữa việc dấn thân vào cuộc đời và nuôi dưỡng đời sống nội tâm của mình?

Thầy: Chúng ta cần xem lại ý niệm cho rằng thư giãn và thiền tập sẽ lấy bớt thời gian, không cho ta thực hiện được những mục tiêu khác, thí dụ như là có một nghề nghiệp hay một mối quan hệ thành công. Thực ra khi ta dành thời gian để thiền tập thì ta sẽ đạt được nhiều thành công ở các lĩnh vực khác trong cuộc sống. Điều này có vẻ hơi mâu thuẫn nhưng đó là kinh nghiệm của chính tôi và các đệ tử của tôi.

Thí dụ trong công việc, một sáng kiến hay có thể đem đến sự khác biệt lớn trong kết quả công việc, dù công việc của bạn là bán máy hút bụi hay lập hồ sơ cho một vụ kiện, ngoài ra nó còn giúp giảm thiểu những hao tổn về sức khỏe cũng như các hao hụt khác về nguồn lực. Trong các mối quan hệ trong gia đình hay ở sở làm, sự hiện diện của một người nhẹ nhàng, thư thái giúp ta tránh không nói những lời nóng nảy khó nghe khi ta đang giận.

Những mối quan hệ giống như một khu rừng: Phải rất lâu ta mới có thể tạo dựng được niềm tin nơi người khác, nhưng một câu nói hay một nhận xét thiếu suy nghĩ sẽ giống như bật một que diêm làm cháy rụi tất cả. Những ai đã từng thiền tập có thể thấy rất rõ ràng là thiền tập và thư giãn là những cách hữu hiệu nhất để nâng cao khả năng tư duy sáng tạo, làm những chọn lựa thông minh, đem lại thành công và viên mãn trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống.

Nguồn: https://www.huffpost.com/entry/beliefs-buddhism-exclusiv_b_577541

Bạn chỉ đẹp khi là chính mình

 

Andrea Miller

(Đăng trên tờ Lion’s Roar – trước đây là tờ Shambhala Sun – tháng 01 năm 2012)

Sau khóa tu tại Vancouver, Canada, năm 2011 với Thầy hoàn mãn, tôi được hai sư cô hướng dẫn vào một phòng khách nhỏ liền kề với bếp nấu ăn trong một ký túc xá sinh viên của trường đại học British Columbia. Tôi có thể nhìn thấy bầu trời xanh rực rỡ bên ngoài và eo biển Georgia. Còn bên trong thì chỉ toàn một màu nâu: Thầy, trong chiếc áo tràng nâu, đang thưởng thức một loại trà màu nâu trong chiếc ly thủy tinh trong suốt, trong khi đó thì một số vị xuất sĩ mặc áo nâu đang ngồi xúm xít trên một chiếc ghế sofa màu nâu, và cả trên sàn nhà. Sư cô Chân Không giới thiệu tôi với Thầy, rồi Sư cô tươi cười, nói tôi làm mọi người ngạc nhiên. Khi tôi gửi e-mail xin có một cuộc phỏng vấn với Thầy, mọi người không biết Andrea Miller là tên của một người nữ, vì vậy nên ai cũng nghĩ tôi là nam, là một người đã đứng tuổi. Vì vậy sự có mặt của tôi đem lại cho mọi người một sự bất ngờ. Nhưng rốt cuộc, trong cuộc phỏng vấn, chính tôi lại là người bị bất ngờ. Được hỏi về sự sống sau khi chết, về sự an lạc khi thiền tọa, về mối liên hệ giữa có mặt và hành động, Thầy đã cho tôi những câu trả lời thật bất ngờ. Lúc nào cũng tươi mát, đầy tuệ giác. Và sau đây là những gì Thầy đã chia sẻ trong buổi phỏng vấn ấy.

Thật đau lòng khi người thân của mình đang phải đối diện với những khó khăn nghiêm trọng, thí dụ như bị bệnh tâm thần, rối loạn tâm lý vì những tổn thương tinh thần trong quá khứ, hoặc nghiện ngập. Đôi khi ta cảm thấy vấn đề của họ quá lớn, vượt quá khả năng giúp đỡ của ta, vì vậy có lúc ta muốn không dính líu gì tới họ và vấn đề của họ. Lúc khác ta lại cố gắng giúp họ, nhưng lại bị mất sức vì sự vật vã của họ. Làm sao để có thể giúp những người thân của mình trong những hoàn cảnh như thế mà không bị nhấn chìm?

Khi bạn cảm thấy bị nhấn chìm có nghĩa là bạn đã cố gắng quá sức. Năng lượng đó không giúp gì được cho người kia và cũng không giúp gì được cho chính bạn. Đừng nên quá nhiệt tình muốn giúp đỡ ngay lập tức. Có hai điều: (to be) và làm (to do). Đừng nghĩ nhiều quá đến việc phải làm gì. phải đứng hàng đầu. Là bình an. Là niềm vui. Là hạnh phúc. Rồi trên nền tảng đó mới làm ra niềm vui, làm ra hạnh phúc. Vì vậy điều đầu tiên cần làm là tập trung vào sự thực tập để là sự tươi mát. Là bình an. Là sự ân cần. Là rộng lượng. Là từ bi. Đây là thực tập căn bản. Cũng giống như người kia đang ngồi dưới một gốc cây. Cái cây đó không làm gì cả, nhưng nó rất mát mẻ và sống động. Giống như cái cây đó, khi bạn tỏa ra năng lượng của sự tươi mát, bạn sẽ giúp cho khổ đau nơi người kia lắng dịu.

Sự hiện diện của bạn cần phải dễ chịu, điềm tĩnh, và bạn nên có mặt đó cho người kia. Được như vậy là bạn đã hiến tặng rất nhiều rồi. Khi trẻ con thích đến ngồi gần bạn không có nghĩa là bạn có nhiều bánh kẹo để cho chúng mà bởi vì ngồi gần bạn, chúng thấy dễ chịu, thấy khỏe ra. Vì vậy khi ngồi bên cạnh một người đang đau khổ, bạn hãy cố gắng hết sức để là con người tốt nhất của mình – dễ chịu, ân cần và tươi mát.

Khi đang quá giận dữ hoặc quá buồn, nếu con trở về và tập trung vào hơi thở thì chẳng phải đó là một cách để trốn tránh cảm xúc của mình hay sao?

Thường thường chúng ta hay đánh mất mình khi có một cảm xúc mạnh và bị nó nhận chìm. Đó không phải là cách để đối trị với cảm xúc, bởi vì khi đó ta trở thành nạn nhân của cảm xúc. Để tránh tình trạng này, ta cần trở về với hơi thở để lấy lại sự bình tĩnh. Khi ấy ta sẽ chứng nghiệm được rằng cảm xúc chỉ đơn thuần là cảm xúc mà thôi, không có gì hơn. Cái thấy này rất quan trọng, bởi vì nó giúp ta không còn sợ hãi nữa. Ta có thể bình tĩnh và không tìm cách trốn chạy, nhờ đó ta sẽ ứng phó với cảm xúc đó tốt hơn.

Hơi thở của bạn chính là bạn, bạn cần liên minh với hơi thở để được là chính mình, để mạnh hơn. Khi ấy bạn có thể ứng phó tốt hơn với cảm xúc của mình. Bạn không tìm cách quên đi cảm xúc ấy, mà trái lại bạn tìm cách để là chính mình hơn, khi ấy bạn có đủ vững chãi để đương đầu.

Thật là ấm áp khi thấy có nhiều trẻ con trong khóa tu. Tôi rất thoải mái với trẻ con. Chưa bao giờ tôi thấy mình xa cách với thế hệ trẻ. Tôi luôn giữ liên lạc với những bạn trẻ, dù đó là xuất sĩ hay cư sĩ. Đó là một trong những điều làm tôi hạnh phúc.

Đôi khi có những bà mẹ trẻ mang con vào trong thiền đường vì họ không muốn bị mất bài pháp thoại. Sự có mặt của các bé làm mọi người rất hạnh phúc. Trẻ nhỏ đâu biết cái gì đang xảy ra, nhưng chúng cảm được bầu không khí bình an. Năng lượng bình an đó rất hiếm hoi ngoài xã hội. Rất hiếm khi có một ngàn năm trăm người ngồi với nhau và chế tác ra năng lượng của chánh niệm, của bình an như vậy. Nếu bạn cống hiến cho trẻ em chỉ một thoáng bình an và tình thương, dù các bé còn rất nhỏ, chưa biết nói, nhưng các bé không phải là không cảm nhận được. Hãy hình dung một bà mẹ trẻ đang cho con bú trong khóa tu. Bà mẹ đó nghe pháp thoại, tiếp nhận bài pháp thoại đó, và vì vậy em bé sẽ vừa bú sữa mẹ vừa tiếp nhận bài pháp thoại cùng một lúc. Rất là hay. Sau này, khi lớn lên, phải đi qua những trắc trở trong cuộc sống, các em sẽ nhớ lại là mình đã từng có cơ hội tiếp xúc với năng lượng bình an.

Khi một tăng thân đến với nhau để tu tập thì luôn có thể tạo ra loại năng lượng bình an đó. Người trẻ có thể trải nghiệm nó và bắt đầu gieo những hạt giống cho tương lai. Đạo Bụt Dấn Thân đang cố gắng đem năng lượng bình an này đến nhiều nơi, nhiều lĩnh vực của cuộc sống. Tại trường học, bệnh viện, tòa thị chính, quốc hội, ở đâu cũng có thể thực tập hơi thở chánh niệm.

Sống trong hiện tại có trái chống với việc thưởng thức các phương tiện truyền thông không? Chúng ta có thể thưởng thức internet, truyền hình, phim ảnh và sách báo mà vẫn giữ chánh niệm không?

Có rất nhiều sách báo, phim ảnh lành mạnh và bổ ích mà ta có thể thưởng thức. Nhưng nhiều khi có những phim hoặc sách kém chất lượng nhưng ta vẫn xem, vẫn đọc bởi vì nếu không xem những thứ đó nữa thì ta sẽ phải trở về đối diện với những đau khổ đang có mặt trong ta. Đó là cái mà rất nhiều người trong xã hội đang làm. Rất nhiều người không thể đối diện với chính mình. Họ có những nỗi đau, hối tiếc hoặc lo lắng trong lòng, và họ đọc, xem hoặc nghe cái gì đó để khỏa lấp, để trốn chạy chính mình.

Tiêu thụ các phương tiện truyền thông như thế chỉ là chạy trốn và không có hiệu quả lâu dài. Bạn có thể quên đi các khổ đau của mình trong một thời gian, nhưng rồi cuối cùng bạn cũng phải quay trở lại với chính mình. Bụt dạy chúng ta không nên trốn chạy mà phải học cách chăm sóc khổ đau để có thể chuyển hóa chúng.

Thầy sẽ nói gì khi một người thấy ngồi thiền là đau và khó nên họ phải vật lộn trong khi tọa thiền?

Vậy thì đừng ngồi nữa.

Thật vậy sao thưa Thầy?

Đúng vậy. Nếu ngồi thiền mà thấy không dễ chịu thì đừng ngồi nữa. Ta cần phải nắm cho được tinh thần đúng đắn của thiền tọa. Nếu phải cố gắng trong khi ngồi thiền, ta sẽ bị căng thẳng và làm toàn thân đau nhức. Ngồi thiền phải có sự dễ chịu. Khi xem ti vi trong phòng khách, ta có thể ngồi hàng giờ mà không thấy khổ sở tí nào. Vậy mà trong khi ngồi thiền, ta khổ sở. Tại sao? Tại vì ta vật lộn. Ta muốn thành công trong khi ngồi thiền, vì vậy ta tranh đấu. Trong khi xem ti vi, ta không tranh đấu. Ta phải học cách ngồi thiền mà không cần tranh đấu mới được. Nếu ta biết ngồi như thế, ta sẽ thấy rất dễ chịu.

Khi Tổng thống Nelson Mandela đến thăm nước Pháp lần đầu, một nhà báo đã hỏi: “Ngài mong muốn điều gì nhất?”. Tổng thống trả lời là: “Tôi quá bận, cho nên điều mà tôi mong muốn nhất là ngồi yên và không làm gì cả”. Bởi vì được ngồi yên và không làm gì cả là điều rất dễ chịu. Ngồi như thế ta sẽ thấy khỏe khoắn trở lại. Đó là lý do tại sao Bụt diễn tả ngồi như ngồi trên một đóa sen. Khi ngồi ta thấy nhẹ, thấy khỏe, thấy tự do. Nếu ta không cảm thấy như vậy khi ngồi thiền thì việc ngồi thiền của ta trở thành một loại lao tác cực nhọc.

Đôi khi ta không ngủ đủ giấc, hoặc bị cảm lạnh, v.v… có thể buổi ngồi thiền không được dễ chịu như ta mong muốn. Nhưng nếu ta bình thường, không bị gì cả thì ta luôn có thể trải nghiệm sự dễ chịu trong khi ngồi thiền. Vấn đề không phải là ngồi hay không ngồi, mà là ngồi như thế nào. Ngồi như thế nào để ta có an lạc trong khi ngồi, nếu không thì ta chỉ phí thời gian vô ích.

So với những vị thầy khác trong Phật giáo thì Thầy nhấn mạnh nhiều đến sự thưởng thức – thưởng thức hơi thở, ngồi thiền, đi thiền, thưởng thức cuộc sống.

Trong giáo lý của đạo Bụt, nhẹ nhàng (khinh an) và niềm vui (hỷ) là hai trong bảy yếu tố giác ngộ. Trong cuộc sống đã có rất nhiều đau khổ. Tại sao ta phải tạo thêm khổ đau khi thực tập đạo Bụt? Ta thực tập đạo Bụt để bớt khổ, có phải vậy không? Bụt là một người hạnh phúc. Khi Ngài ngồi, Ngài ngồi một cách hạnh phúc, và khi Ngài đi, Ngài cũng đi có hạnh phúc. Tại sao ta lại muốn làm khác với Bụt?

Có thể vì người ta sợ bị nói “Tu tập mà không nghiêm túc gì cả. Toàn cười nói, chơi đùa. Muốn tu tập đàng hoàng thì phải rất nghiêm túc, cứng rắn”. Có thể vì muốn được đàn na tín thí cúng dường nhiều hơn nên có người đã quan niệm như vậy – để người khác có cảm giác là họ tu tập nghiêm túc hơn những người khác. Thí dụ như bạn thực tập ngồi thiền suốt đêm. Bạn không được nghỉ ngơi và bạn nghĩ rằng tu như thế là tu cao, nhưng bạn lại khổ sở cả đêm, và bạn phải uống cà phê để không buồn ngủ. Thật là vô lý. Chất lượng của buổi ngồi thiền mới chính là cái giúp cho bạn chuyển hóa chứ không phải là việc ngồi lâu và chịu đựng trong khi ngồi. Thiền tọa và thiền hành là để cho chúng ta thưởng thức, và cũng để cho chúng ta nhìn sâu và phát triển tuệ giác. Tuệ giác đó sẽ giúp ta giải thoát khỏi khổ đau, giận hờn và tuyệt vọng.

Con thật sự rất thích những buổi đi thiền hành ngoài trời trong khóa tu này.

Thường thường trong truyền thống đạo Bụt, người ta ngồi thiền một lúc, đứng dậy đi kinh hành trong thiền đường, rồi lại tiếp tục ngồi thiền. Ở đây chúng ta không làm như thế. Thay vào đó chúng ta đi thiền ngoài trời. Sự thực tập đó có ích lợi, bởi vì mọi người có thể áp dụng nó vào cuộc sống hàng ngày. Bạn có thể đi bình thường, không quá chậm nên sẽ không ai biết là bạn đang thực tập và người ta sẽ thấy bạn rất bình thường. Và khi về nhà, bạn có thể áp dụng cách đi như vậy khi đi từ chỗ đậu xe đến văn phòng.

Điều căn bản của sự thực tập là làm thế nào để thưởng thức – làm sao để thưởng thức khi đi, khi ngồi, khi ăn, khi tắm. Ta có thể thưởng thức tất cả mọi cái, nhưng xã hội đã được tổ chức theo cách thức làm cho mình không có thời gian để thưởng thức. Làm cái gì cũng phải làm cho thật nhanh.

Theo Thầy thì những yếu tố nào làm nên một người Phật tử?

Một người không mang danh Phật tử, nhưng người đó có thể còn Phật tử hơn là một Phật tử.

Đạo Bụt được làm nên bởi niệm, định và tuệ. Nếu bạn có những phẩm chất này thì bạn chính là một Phật tử. Còn nếu không thì bạn không phải là Phật tử. Khi nhìn vào một người mà ta thấy người đó có niệm, có từ bi, có tuệ giác thì ta biết người ấy là một Phật tử. Nhưng nếu người đó, dù là một người tu, mà lại không có những năng lượng và những phẩm chất này, thì vị ấy chỉ mang hình tướng của một Phật tử mà không có nội dung của một Phật tử.

Chỉ cần tham dự một buổi lễ (truyền Năm giới) là ta có thể trở thành Phật tử?

Không phải vậy. Một buổi lễ không thể làm bạn trở thành Phật tử, mà chính là cam kết thực tập của bạn. Có nhiều Phật tử bị kẹt vào những nghi thức và nghi lễ, nhưng Bụt không thích như vậy. Trong các kinh, nhất là những kinh được Bụt giảng sau khi thành đạo, Ngài có nói là chúng ta không nên kẹt vào nghi thức. Ta không thể giác ngộ hoặc giải thoát chỉ vì chúng ta thi hành các nghi thức. Nhưng vấn đề là người ta đã làm cho đạo Bụt trở nên quá nặng về nghi thức. Như thế là chúng ta không dễ thương với Bụt.

Thầy có tin vào sự tái sinh không?

Tái sinh có nghĩa là một linh hồn đã xuất khỏi thân và nhập vào một thân khác. Quan niệm này rất phổ thông và không đúng với quan niệm về sự tiếp nối trong đạo Bụt. Nếu bạn nghĩ rằng có một linh hồn, một cái ngã đang cư trú trong một thân thể, và linh hồn đó sẽ xuất ra khi thân thể này hoại diệt để nhập vào một hình tướng khác, thì đó không phải là đạo Bụt.

Khi nhìn vào một người, ta sẽ thấy năm uẩn, tức là năm yếu tố làm nên con người chúng ta: thân, thọ, tưởng, hành, và thức. Không có một linh hồn, một cái ngã nào nằm ngoài năm yếu tố này. Vì vậy khi năm yếu tố này tan rã, thì cái nghiệp, tức là những hành động mà ta đã tạo ra trong đời, chính là sự tiếp nối của ta. Những tư tưởng, lời nói, hành động của ta vẫn còn đó dưới dạng năng lượng. Ta không cần phải có một linh hồn, hoặc một cái ngã để có thể tái sinh.

Cũng giống như một đám mây. Ngay cả khi đám mây không có đó, nó vẫn luôn luôn được tiếp nối dưới dạng tuyết hoặc mưa. Đám mây không cần có một linh hồn để tái sinh. Không có nơi bắt đầu cũng không có nơi kết thúc. Ta không cần đợi đến khi thân thể này hoàn toàn tan rã mới có thể tái sinh, ta tái sinh trong mỗi giây mỗi phút.

Giả dụ như tôi trao truyền năng lượng của tôi cho hàng trăm người thì những người này sẽ tiếp nối tôi. Nếu bạn nhìn vào họ, bạn sẽ thấy tôi. Nếu bạn nghĩ tôi chỉ là cái này (Thầy tự chỉ vào mình) thì bạn chưa thấy được tôi. Nhưng nếu bạn thấy tôi qua lời nói, qua hành động thì bạn sẽ thấy những cái đó là sự tiếp nối của tôi. Khi nhìn vào các đệ tử xuất gia cũng như tại gia, vào bạn bè, vào những cuốn sách được xuất bản, bạn sẽ thấy sự tiếp nối của tôi. Tôi sẽ không bao giờ chết. Sẽ có sự tàn hoại của thân này, nhưng điều đó không có nghĩa là tôi sẽ chết. Tôi sẽ tái sinh hoài hoài.

Điều đó cũng đúng với tất cả chúng ta. Ta không chỉ là hình hài này, bởi vì năm uẩn luôn tạo ra năng lượng. Cái đó gọi là nghiệp, nhưng không có người tạo nghiệp – ta không cần người tạo nghiệp. Nghiệp là đã đủ. Điều này có thể hiểu qua vật lý lượng tử. Khối lượng và năng lượng, lực và vật chất, không phải là hai cái khác biệt.

Ta có thể làm gì để đối trị với lối sống quá thiên về vật chất trong xã hội hiện nay?

Ta có thể tạo nên một môi trường trong đó mọi người sống đơn giản mà hạnh phúc, sau đó ta mời người khác đến để quán sát. Đó là cách duy nhất có thể thuyết phục họ buông bỏ ý tưởng về hạnh phúc dựa trên vật chất. Họ nghĩ là chỉ khi nào có nhiều thứ để tiêu thụ thì mới có hạnh phúc, nhưng có rất nhiều người, dù rất giàu có nhưng không hề hạnh phúc. Trong khi đó, lại có những người tiêu thụ ít hơn, nhưng họ lại có nhiều hạnh phúc hơn.

Chúng ta cần chứng minh rằng nếp sống đơn giản cùng với sự thực tập tâm linh có thể làm cuộc sống của ta rất viên mãn. Bởi vì chỉ khi nào người ta tận mắt thấy và tự trải nghiệm thì người ta mới được thuyết phục. Ở Làng Mai, mọi người cười cả ngày, vậy mà không có ai có tài khoản riêng trong ngân hàng. Không ai có một chiếc xe hơi riêng hay một chiếc điện thoại riêng. Ai cũng ăn toàn thức ăn chay. Vậy mà chúng tôi không hề đau khổ vì không ăn trứng hoặc ăn thịt. Trên thực tế, chúng tôi còn hạnh phúc hơn bởi vì chúng tôi biết rằng mình không ăn thịt chúng sinh và chúng tôi đang bảo hộ trái đất. Điều đó mang lại rất nhiều niềm vui. Chúng tôi rất may mắn có thể sống như thế, có thể ăn như thế.

Người ta thường tin rằng khi nào mình có thật nhiều tiền, có một vị trí cao trong xã hội thì mới có thể thật sự hạnh phúc. Thật là khó để buông bỏ niềm tin đó cho đến khi người ta thấy được sự thật là hạnh phúc có thể đạt được bằng một cách sống khác. Thấy được điều đó thì con cháu chúng ta mới có một tương lai. Vì vậy tôi nghĩ rằng trong cộng đồng những người thực tập đạo Bụt, chúng ta phải tổ chức lại để có thể cho người ta thấy một nếp sống hạnh phúc làm bằng chất liệu của hiểu và thương, mà không phải dựa trên vật chất. Một bài pháp thoại thôi thì không đủ, bởi vì bài pháp thoại chỉ là một bài pháp thoại. Chỉ khi nào mọi người thấy được một cộng đồng sống không chạy theo vật chất, thấy được một lối sống như vậy thì họ mới được thuyết phục.

Nguồn: https://www.lionsroar.com/be-beautiful-be-yourself-january-2012/

Tình yêu dành cho đất Mẹ không còn là ý niệm về môi trường

 

Jo Confino

(Đăng trên tờ The Guardian, ngày 20.2.2012)

Thiền sư Thích Nhất Hạnh giải thích vì sao chúng ta cần một cuộc cách mạng tâm linh để bảo vệ sinh môi và giảm thiểu những tác động của biến đổi khí hậu.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh là người đã có 70 năm kinh nghiệm thực tập thiền và chánh niệm. Từ Thầy tỏa ra một sự bình an và tĩnh lặng lạ thường. Đây là con người đang sống những gì mình nói, con người được giới Phật tử coi như một vị Bồ tát, không ngừng tìm kiếm những cách thức tốt nhất để giúp người.

Ngay từ những ngày tháng trực tiếp sống và đối mặt với cuộc chiến thảm khốc tại Việt Nam, vị Thầy hiện đã 86 tuổi này phát nguyện cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp hòa bình và hóa giải xung đột. Năm 1967, Mục sư Martin Luther King đã đề cử Thầy cho giải Nobel Hòa bình, vì theo Mục sư “Những phát kiến cho hòa bình của thầy Nhất Hạnh, nếu được áp dụng, sẽ dựng nên một tượng đài của tinh thần đại đồng, tình huynh đệ và nhân bản”.

Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi những năm gần đây, Thầy không chỉ chú trọng tới việc hòa giải xung đột trong mối quan hệ giữa người với người, mà còn hướng sự quan tâm tới hành tinh xanh của chúng ta – nơi nương náu của mọi loài.

Thầy, như hàng ngàn thiền sinh và đệ tử vẫn gọi, thấy rằng vì đời sống thiếu ý nghĩa, thiếu sự liên hệ mật thiết với nhau mà chúng ta trở thành con nghiện của chủ nghĩa tiêu thụ. Chúng ta cần phải nhận ra và ứng phó với những áp lực mà ta đang gây ra cho trái đất, nếu loài người chúng ta muốn sống sót.

Điều mà đạo Bụt có thể đóng góp cho nhân loại là giúp chúng ta nhận diện sự có mặt của khổ đau trong mỗi chúng ta, và chỉ cho chúng ta con đường thoát khổ, đó là: Trực tiếp đối diện mà không phải tìm cách trốn chạy hay khỏa lấp bằng công việc, mua sắm, giải trí hay chăm chút làm đẹp. Những ham muốn về danh vọng, giàu sang, quyền lực và tình dục chỉ có tác dụng tạo nên ảo giác về hạnh phúc mà không phải là hạnh phúc đích thực, kết cục chỉ làm trầm trọng thêm cảm giác trống trải, xa cách.

Thầy lấy ví dụ câu chuyện của một tỷ phú, Giám đốc Điều hành một trong những công ty lớn nhất Hoa Kỳ. Ông này tới tham dự một khóa tu với Thầy, kể về những khổ đau, lo lắng và nghi ngờ của ông. Ông nghĩ rằng mọi người đến với ông chỉ vì muốn lợi dụng mình, nên ông chẳng có ai để làm bạn.

Trong một cuộc phỏng vấn tại Làng Mai – một trung tâm thiền tập của Thầy gần Bordeaux, Thầy đã chỉ rõ tại sao chúng ta lại cần một cuộc cách mạng tâm linh khi phải đối mặt với vô số thách thức về tình trạng môi trường hiện nay.

Trong khi nhiều chuyên gia chỉ tập trung nói về sự phức tạp và khó khăn trong việc giải quyết các vấn đề – từ chuyện hệ sinh thái bị phá hủy cho đến nạn tuyệt chủng của hàng triệu loài sinh vật, Thầy có thể nhìn xuyên suốt được vấn đề hóc búa này, và chỉ cần một “lát dao bén” của Thầy là có thể tháo gỡ được.

Vượt thoát ý niệm “môi trường”

Thầy cho rằng chúng ta cần phải vượt thoát ý niệm về môi trường, vì điều này khiến mọi người có cảm tưởng bản thân mình và trái đất là hai thực thể riêng biệt và nhìn hành tinh này dưới góc độ những lợi ích mà nó đem lại cho con người.

Chỉ khi nào ta công nhận con người và hành tinh này có trong nhau, hay tương tức, thì ta mới thay đổi được tình trạng.

Thầy nói: “Bạn đang mang đất Mẹ trong bạn. Đất Mẹ không ở bên ngoài. Đất Mẹ không chỉ là môi trường. Đất Mẹ là bạn. Nhìn bằng tuệ giác tương tức đó, chúng ta mới có thể thực sự truyền thông với đất Mẹ, đó là hình thức cầu nguyện tối ưu nhất. Trong mối tương quan này, bạn có đủ tình thương, sức mạnh và sự thức tỉnh để thay đổi cuộc sống của bạn.

“Thay đổi không chỉ là thay đổi những yếu tố bên ngoài ta. Trước hết, chúng ta cần có chánh kiến – cái thấy đúng – để vượt thoát mọi ý niệm, kể cả ý niệm về có – không, về tạo hóa – tạo vật, về tâm – vật. Tuệ giác này rất cần cho sự chuyển hóa và trị liệu. Chúng ta sợ hãi, xa cách, hận thù, sân giận là do cái thấy sai lầm cho rằng chúng ta và trái đất là hai thực thể riêng biệt, trái đất chỉ là môi trường. Chúng ta coi mình là tâm điểm và muốn làm điều gì đó cho trái đất để chúng ta có thể sống sót. Đó là cái thấy nhị nguyên.

“Vì vậy để cứu lấy đất Mẹ, bạn hãy thở vào, ý thức về cơ thể bạn và nhìn sâu vào cơ thể để thấy rằng bạn là trái đất, và tâm thức bạn cũng là tâm thức của trái đất. Không chặt phá rừng, không làm ô nhiễm nguồn nước – chừng ấy chưa đủ.”

Đặt cho thiên nhiên một giá trị kinh tế là chưa đủ

Mùa xuân này Thầy sẽ tới nước Anh để hướng dẫn một khóa tu năm ngày và một ngày hội thảo về chánh niệm trong lĩnh vực giáo dục. Thầy nói hiện nay trong giới kinh doanh xuất hiện trào lưu cho rằng cách tốt nhất để bảo vệ hành tinh là đặt cho môi trường thiên nhiên một giá trị kinh tế. Như vậy thì chẳng khác nào dùng một miếng băng để dán tạm thời lên trên một vết thương đang hở miệng.

“Tôi không nghĩ là biện pháp đó đem lại hiệu quả. Chúng ta cần một sự thức tỉnh và giác ngộ thực sự để thay đổi cách suy nghĩ và nhìn nhận sự việc của chúng ta”, Thầy nói.

Muốn thay đổi tận gốc thì thay vì đặt cho những khu rừng và thảm san hô những trị giá nào đó, ta phải thương yêu đất Mẹ trở lại. “Trái đất không thể được miêu tả bằng vật chất hay tinh thần. Vật chất hay tinh thần chỉ là những khái niệm. Thực chất chúng là hai mặt của cùng một thực tại. Cây tùng kia không chỉ là vật chất, bởi vì trong nó có chứa cái thấy biết của nó. Một hạt bụi không chỉ là vật chất, bởi từng nguyên tử trong hạt bụi đều là một thực thể sống và có trí thông minh. Khi ta nhận ra những đức hạnh, tài năng và vẻ đẹp của đất Mẹ, thì trong ta sẽ nảy sinh một cái gì đó. Cái đó là sự tương quan mật thiết giữa ta với đất Mẹ, là tình thương của ta dành cho đất Mẹ. Chúng ta muốn được kết nối, muốn được hòa là một, đó là ý nghĩa của tình thương. Khi thương một người nào đó, ta muốn nói ta cần người đó, ta muốn nương tựa vào người đó. Ta làm tất cả vì lợi ích của đất Mẹ và đất Mẹ sẽ làm tất cả cho sự an vui của chúng ta.”

Trong giới kinh doanh, Thầy lấy ví dụ về Yvon Chouinard, người sáng lập và sở hữu công ty may mặc Patagonia. Ông đã kết hợp giữa việc phát triển kinh doanh thành công với sự thực tập chánh niệm và từ bi. Thầy khẳng định: “Làm giàu theo cách không tàn phá, đề cao công bằng xã hội, làm tăng sự hiểu biết, giảm thiểu khổ đau đang tồn tại quanh ta, đó là điều ta có thể làm được. Nhìn cho sâu, ta thấy ngay trong thế giới kinh doanh, ta có thể mang lại nhiều hạnh phúc cho ta và cho người khác. Và như vậy thì công việc của ta trở nên có ý nghĩa.”

Thầy, tác giả của hơn 100 cuốn sách, đã chỉ ra rằng nguyên nhân đằng sau rất nhiều những căn bệnh của thời đại là do chúng ta mất sự kết nối với nhịp điệu tự nhiên của trái đất. Trong khi đó, một cách vô thức, ta lại đổ lỗi cho đất Mẹ, cũng giống như ta hay cho rằng những khổ đau bất hạnh của ta là do cha mẹ gây ra.

Trong bài viết Tâm tình với đất Mẹ mới đây, Thầy viết “Trong chúng con, có những người oán hận Mẹ vì Mẹ đã sinh ra họ và làm họ khổ, đó là bởi vì họ chưa có khả năng hiểu được Mẹ và chưa biết trân quý Mẹ.”

Chánh niệm giúp ta thiết lập lại mối tương quan mật thiết giữa ta và đất Mẹ

Thầy đưa ra rất nhiều bằng chứng để chứng tỏ chánh niệm có thể giúp loài người thiết lập lại mối tương quan mật thiết giữa mình với đất Mẹ bằng cách sống chậm lại và trân quý tất cả những món quà mà đất Mẹ hiến tặng cho ta.

“Rất nhiều người đau khổ cùng cực mà không biết là mình đang đau khổ. Họ cố gắng che đậy nỗi khổ đau bằng cách bận rộn. Nhiều người ốm đau bệnh tật chỉ vì họ xa lánh đất Mẹ. Thực tập chánh niệm giúp chúng ta tiếp xúc được với đất Mẹ trong ta, sự thực tập này có thể giúp chữa lành bệnh tật. Quá trình trị liệu, chữa lành cho con người phải được tiến hành đồng thời với việc chữa lành cho đất Mẹ. Đây là tuệ giác và ai cũng có thể thực tập được. Sự giác ngộ này rất quan trọng, đưa đến sự thức tỉnh cộng đồng. Trong đạo Bụt, chúng tôi nói về thiền tập như một hành động thức tỉnh, thức tỉnh trước thực trạng là trái đất đang lâm nguy, mọi loài sinh vật đang trong tình trạng nguy kịch.”

Thầy lấy một ví dụ rất đơn giản và bình dị, là việc uống một ly trà cũng có thể giúp chuyển hóa cuộc đời một con người, nếu người đó thực sự để hết tâm ý vào việc uống trà.

“Khi có chánh niệm, tôi thưởng thức ly trà sâu sắc hơn”, Thầy nói và rót cho mình một ly trà rồi chậm rãi nhấp ngụm đầu tiên. “Tôi có mặt hoàn toàn trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây, không bị kéo đi bởi sợ hãi, buồn đau, dự án, quá khứ hay tương lai. Tôi có mặt cho sự sống.

“Khi ta uống trà, giây phút uống trà là giây phút mầu nhiệm. Ta không cần nhiều quyền lực, danh vọng hay tiền bạc để có thể hạnh phúc. Chánh niệm có thể giúp ta hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Mỗi giây phút đều có thể là giây phút hạnh phúc. Chúng ta hãy thực tập để làm gương cho những người khác theo đó cùng thực tập theo. Chúng ta hãy dành ra vài phút để thực chứng điều này.”

Cần phải xử lý cơn giận trong tự thân trước khi muốn trở thành một nhà hoạt động xã hội hiệu quả

Trong hàng thập kỷ qua, Thầy đã dày công phát triển Đạo Bụt Ứng Dụng mà nền tảng là sự thực tập Năm nguyên tắc đạo đức – Năm phép thực tập chánh niệm hay còn gọi là Năm giới – trong đó đề cập rất rõ về tầm quan trọng của việc giải quyết những bất công xã hội.

Tuy nhiên, Thầy nhấn mạnh, nếu các nhà hoạt động xã hội và môi trường muốn làm việc có hiệu quả, trước tiên họ phải xử lý cơn giận trong họ. Chỉ khi nào phát khởi được tình thương và lòng từ bi đối với chính bản thân mình, ta mới có khả năng đối phó với những lực lượng mà ta qui trách nhiệm đang làm ô nhiễm biển và chặt phá rừng.

“Trong Đạo Bụt có nói đến ‘cộng nghiệp’. Khi có một chuyện gì không hay đang diễn ra trên thế giới, chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng đó là chuyện của người khác, người khác làm mà không phải là ta. Nhưng qua cách sống hàng ngày của ta, ta cũng đang góp phần vào tình trạng đó. Nếu ta có khả năng hiểu ra sự thật này, rằng không chỉ ta đang khổ mà người khác cũng đang khổ thì đó đã là một tuệ giác.

“Khi thấy ai đó đang khổ, ta không muốn trừng phạt hay lên án người đó, mà ta muốn giúp người đó bớt khổ. Nhưng nếu chính ta đang đầy sợ hãi, giận hờn, vô minh và đau khổ thì làm sao ta giúp được người khác? Khi có hạnh phúc, ta nhẹ nhàng hơn, tươi vui hơn, ai cũng dễ chịu khi ở gần ta và ta có khả năng giúp đỡ người khác. Những nhà hoạt động xã hội hay bảo vệ sinh môi cần phải thực tập tâm linh để có khả năng nuôi dưỡng hạnh phúc, xử lý khổ đau và giúp người bớt khổ, như vậy công việc phụng sự thế giới của họ mới có hiệu quả. Nếu trong ta còn đầy giận dữ và bất mãn thì ta không thể làm được gì cả.”

Tiếp xúc Bản môn

Điểm chính trong những lời dạy của Thầy là trong khi sống và sinh hoạt trong thế giới tích môn (thế giới của hiện tượng, được nhận thức qua khung thời gian và không gian), ta cần hiểu rằng hạnh phúc, an lạc của ta tùy thuộc vào việc nhận diện và tiếp xúc với bản môn (thế giới của bản thể, không sinh không diệt, không đến không đi, không còn không mất, không một không khác, vượt thoát giới hạn thời gian và không gian). Điều này rất quan trọng. “Nếu ta có khả năng tiếp xúc sâu sắc với thế giới tích môn – thông qua một chiếc lá, một bông hoa, một viên sỏi, một tia nắng, một con chim, ngọn núi, dòng sông và chính thân thể ta – thì khi đó ta cũng đang tiếp xúc được với bản môn. Bản môn không thể được diễn tả là con người hay phi con người, là vật chất hay tinh thần, chủ thể nhận thức hay đối tượng nhận thức. Ta chỉ có thể nói rằng nó luôn luôn tỏa sáng. Tiếp xúc với bản môn, ta cảm thấy hạnh phúc, thoải mái như con chim tự do trên bầu trời, như con nai được tự do trên đồng cỏ. Ta biết rằng ta không cần phải tìm kiếm bản môn ở ngoài ta, bản môn luôn có trong ta, ngay chính trong giây phút này.”

Dù tin rằng chúng ta có thể xây dựng mối liên hệ hài hòa hơn giữa loài người và trái đất, Thầy cũng đồng thời nhận thấy một hiểm họa thực sự đang xảy ra là con người vẫn tiếp tục lối sống tàn hoại và nền văn minh này có nguy cơ sụp đổ.

Thầy nói tất cả những gì chúng ta cần làm là quan sát cách phản ứng của thiên nhiên đối với những loài sinh vật khác khi chúng phát triển quá mức: “Khi nhu yếu sinh tồn bị thay thế bởi lòng tham lam và ngạo mạn thì bạo động sẽ phát sinh và luôn đưa tới những hủy diệt không đáng có. Chúng ta đã học bài học rằng gây bạo lực cho con người và cho những loài sinh vật khác chính là ta đang gây bạo lực với chính ta, còn khi ta biết bảo hộ mọi loài thì ta cũng đang bảo hộ chính ta.”

Lạc quan trước nguy cơ thảm họa

Trong thần thoại Hy Lạp, khi nàng Pandora mở hộp quà, tất cả những tai ương thoát ra ngoài và tràn xuống trái đất. Chỉ có một thứ còn sót lại, đó là “hy vọng”.

Thầy khẳng định rõ ràng rằng duy trì niềm lạc quan là điều rất cần thiết nếu chúng ta muốn tìm một con đường thoát khỏi nguy cơ hủy diệt do khí hậu thay đổi thất thường cũng như tránh những biến động lớn về mặt xã hội do sự thay đổi khí hậu gây ra.

Tuy nhiên, Thầy cũng nhận ra rằng nhiều thế lực hùng mạnh vẫn đang không ngừng đẩy loài người tới bờ vực thẳm.

Trong cuốn sách nổi tiếng viết về môi trường, Hướng đi của đạo Bụt cho hòa bình và môi sinh (The World We Have), Thầy viết: “Chúng ta đã tạo nên một hệ thống xã hội mà ta không còn kiểm soát được nữa. Ta bị nó điều khiển, khống chế và trở thành nạn nhân, nô lệ của hệ thống đó.

“Chúng ta tạo nên một xã hội mà người giàu càng giàu thêm và người nghèo càng thêm túng quẫn. Ta chỉ biết chăm chút lo cho riêng mình, và chỉ thấy những cái lợi trước mắt mà quên đi những hậu quả về sau. Chúng ta ít khi để tâm đến số phận của người khác, đến tương lai của đất Mẹ. Chúng ta có khác gì những con gà đang bị nhốt trong chuồng và đang giành xé nhau một vài hạt bắp mà không biết rằng lát nữa mình sẽ bị giết làm thịt”.

Nguồn: https://www.theguardian.com/sustainable-business/zen-thich-naht-hanh-buddhidm-business-values

Xem Video Jo Confino phỏng vấn Thầy

Không cần phải là Phật tử mới có thể thọ Năm giới

 

Thiền sư Thích Nhất Hạnh chia sẻ với Andrea Miller, Shambhala Sun, số ra tháng Giêng 2013, rằng: “Ai cũng có thể thực tập theo Năm giới – năm phép thực tập chánh niệm” để sống một cuộc đời đầy hiểu biết và thương yêu. Dưới đây là bài ghi lại cuộc phỏng vấn do Andrea Miller thực hiện tại Làng Mai.

Tại sao Thầy nói rằng không cần phải là Phật tử mới có thể nhận Năm giới?

Bạn không cần phải là một Phật tử mới có thể tư duy bằng hiểu biết và thương yêu. Bạn không cần phải là một Phật tử mới có thể nói những lời dễ thương và từ ái. Vì vậy chúng tôi có thể nói rằng Năm giới – năm phép thực tập chánh niệm là những giá trị đạo đức mang tính toàn cầu, dành cho cả những người Phật tử và những người không phải là Phật tử.

Pháp môn thực tập chánh niệm rất cụ thể. Bạn không thể chỉ nói về các phương pháp này mà bạn cần phải thực tập, phải sống với chúng. Nếu bạn đã đến Làng Mai tu tập một thời gian thì khi về, có thể bạn cũng muốn mang sự thực tập ở Làng Mai về nhà và làm cho gia đình của mình trở thành một tăng thân nhỏ như kiểu Làng Mai – có nghĩa là bạn và gia đình cùng tụng giới chung với nhau, cùng tập thở, tập ngồi và ăn cơm như thế nào để chế tác được hạnh phúc và làm vơi bớt khổ đau của chính mình và của mọi người.

Con được biết Năm giới là phương pháp thực tập cụ thể của bát chánh đạo – tám sự hành trì chân chính – gồm có: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Xin Thầy giải thích cụ thể hơn về điều này.

Chánh kiến là cái thấy về tương tức, vượt thoát mọi sự phân biệt, kỳ thị. Nhờ có cái thấy về tương tức mà ta có được chánh tư duy. Chánh tư duy là cách tư duy không có sự phân biệt, kỳ thị. Khi bạn khởi lên một ý nghĩ theo hướng chánh tư duy thì ý nghĩ đó sẽ mang đầy chất liệu hiểu biết và thương yêu. Nó có công năng trị liệu cho chính bạn và cho thế giới. Với chánh kiến – tức là với tuệ giác tương tức – bạn cũng có thể thực tập chánh ngữ. Bất cứ điều gì bạn nói ra hoặc viết xuống, dù đó là một email, một bài viết hay một bài thơ cũng đều có thể biểu hiện tinh thần không kỳ thị. Điều đó có nghĩa là những gì bạn nói và viết đều hoàn toàn thoát khỏi những chia rẽ, sợ hãi và hận thù. Nó chứa đầy chất liệu từ bi và hiểu biết. Chỉ bằng sự thực tập chánh ngữ, bạn cũng có thể chữa lành cho chính mình và cho thế giới này. Còn chánh nghiệp là những hành động do thân thể bạn làm ra. Nếu bạn không kỳ thị, không sợ hãi thì bất cứ điều gì bạn làm cũng có thể giúp duy trì sự sống của hành tinh này.

Thầy nói rằng hành động, lời nói và ý nghĩ là sự tiếp nối của chúng ta. Điều đó có nghĩa là gì?

Những gì bạn nghĩ, bạn nói và bạn làm chính là sự tiếp nối của bạn – đó là một loại năng lượng tồn tại trong một thời gian dài. Khi thân này đã tàn hoại, bạn sẽ vẫn được tiếp nối bởi ba loại năng lượng mà bạn chế tác ra mỗi ngày. Sau khi bạn rời bỏ hình tướng này, bạn sẽ mang một hình tướng khác bởi vì năng lượng mà bạn chế tác ra sẽ biểu hiện thành những hình tướng mới.

Giống như một đám mây. Khi đám mây không còn là đám mây nữa, nó sẽ biểu hiện thành một cái gì khác, chẳng hạn như mưa, hay tuyết hoặc mưa đá. Vì vậy khi không nhìn thấy đám mây trên trời, bạn không thể nói là đám mây không còn đó nữa. Nó vẫn còn đó, nhưng dưới những hình tướng khác mà thôi. Điều này cũng đúng đối với con người chúng ta. Khi bạn không còn biểu hiện dưới hình hài này nữa thì chính các hành động bằng thân, bằng ý nghĩ và bằng lời nói – hay còn gọi là nghiệp (karma) – sẽ là sự tiếp nối của bạn. Đó là lý do tại sao khi bạn thực tập niệm, định và tuệ thì chắc chắn bạn sẽ có một sự tiếp nối đẹp đẽ trong tương lai.

Thầy có hy vọng gì cho tương lai của Làng Mai?

Chúng tôi không lo lắng cho tương lai. Chúng tôi chỉ lo cho hiện tại, bởi vì chúng tôi biết rằng nếu trong giây phút hiện tại chúng tôi đã làm hết sức mình thì như vậy là quá đủ rồi. Đó là tất cả những gì chúng tôi có thể làm cho tương lai. Tương lai tùy thuộc vào hiện tại, vì vậy nếu ta để hết tâm trí vào những gì ta đang làm trong giây phút hiện tại, thì chúng ta luôn có hy vọng cho tương lai. Còn nếu trong giây phút hiện tại mà chúng ta cảm thấy tuyệt vọng, bất lực thì sẽ không có hy vọng gì cho tương lai cả. Sự sống của hành tinh này có thể duy trì được hay không đều tùy thuộc vào ngày hôm nay của chúng ta, tùy thuộc vào cách sống trong hiện tại của chính chúng ta.

Nguồn: https://www.lionsroar.com/you-dont-need-to-be-buddhist-january-2013/

Trong 100 năm nữa, có thể loài người sẽ không còn tồn tại trên trái đất

 

Tom Levitt

(Đăng trên tạp chí The Ecologist của Anh quốc, ngày 22.3. 2012)

Thiền sư Thích Nhất Hạnh – vị thầy nổi tiếng của Phật giáo – trò chuyện với tạp chí The Ecologist về những mất mát liên quan đến sự đa dạng sinh học và tại sao chúng ta không nên tuyệt vọng trước những tác động của biến đổi khí hậu đối với loài người.

Thầy nghĩ rằng loài người có thể tránh được sự sụp đổ của hệ thống môi sinh toàn cầu, hay chúng ta đang tự đưa mình về hướng đó?

Theo số liệu của Liên đoàn Bảo tồn Môi trường Hoang dã Hoa Kỳ (National Wildlife Federation), mỗi ngày có khoảng 100 loài thảo mộc và động vật bị tuyệt chủng do nạn phá rừng. Sự tuyệt chủng của các giống loài diễn ra hàng ngày. Trong một năm có thể có 200.000 loài đi đến chỗ diệt vong. Đó là cái đang diễn ra; đó không phải là vấn đề của tương lai. Chúng ta biết rằng 251 triệu năm về trước, sự hâm nóng trái đất đã diễn ra do hoạt động của các núi lửa khổng lồ. Đó là nguyên nhân gây nên sự tuyệt chủng tệ hại và lớn rộng nhất trong lịch sử của trái đất. Nhiệt độ trái đất tăng lên 6oC cũng đủ để làm cho 95% giống loài bị xóa sổ.

Giờ đây sự hâm nóng địa cầu lần thứ hai có thể xảy ra. Lần này là do nạn phá rừng và công nghiệp hóa, do con người làm ra. Có thể trong 100 năm tới, loài người sẽ không còn tồn tại trên trái đất. Chỉ trong 100 năm thôi. 251 triệu năm về trước, sau khi 95% giống loài trên trái đất biến mất, trái đất đã cần 100 triệu năm để hồi phục lại sự sống trên hành tinh này. Nếu nền văn minh của chúng ta tuyệt diệt, có lẽ sẽ cần một khoảng thời gian tương tự như vậy để cho một nền văn minh khác xuất hiện. Khi núi lửa hoạt động, khí CO2 tích tụ và làm nên hiệu ứng nhà kính. Đó là cái đã xảy ra 251 triệu năm về trước. Hiện tại sự tích tụ của khí CO2 là do cách sống và nền công nghiệp của chúng ta.

Nếu nhiệt độ của trái đất tăng lên 6oC thì 95% các giống loài sẽ bị hủy diệt, kể cả loài người (Homo sapiens). Đó là lý do vì sao chúng ta cần phải học cách tiếp xúc với tự tính bất sinh bất diệt trong hơi thở vào ra của mình. Sự diệt chủng của các giống loài đã từng xảy ra nhiều lần. Sự diệt chủng với quy mô lớn đã xảy ra năm lần, và lần này là lần thứ sáu. Theo đạo Bụt thì không có gì sinh mà cũng không có gì diệt. Sau khi bị tuyệt chủng, các loài sẽ biểu hiện trở lại qua những hình thức khác, vì vậy mà ta cần phải thở thật sâu để công nhận một sự thật là loài người chúng ta có thể sẽ biến mất khỏi trái đất chỉ trong vòng 100 năm tới.

Chúng ta phải học cách chấp nhận sự thật phũ phàng đó. Đừng để bị nhấn chìm trong tuyệt vọng. Giải pháp là học cách tiếp xúc với tự tính bất sinh bất diệt trong giây phút hiện tại. Chúng ta thường nói về môi trường cứ như nó là một cái gì hoàn toàn tách biệt khỏi chúng ta, trong khi đó chúng ta lại chính là môi trường.

Con người được làm bởi những yếu tố không-phải- con-người. Những yếu tố không-phải-con-người là môi trường của chúng ta, nhưng chúng ta lại là môi trường của các yếu tố không-phải-con-người, vì vậy chúng ta và môi trường là một. Chúng ta chính là môi trường. Chúng ta là trái đất, và trái đất có khả năng lấy lại sự cân bằng. Đôi khi nhiều giống loài phải biến mất để cho sự cân bằng đó được xảy ra. Sự tái lập cân bằng đó có thể biểu hiện dưới dạng lũ lụt, hay nóng bức, hay không khí thay đổi.

Dân số ở các thành phố khắp nơi trên thế giới càng lúc càng tăng. Chúng ta mất mát những gì (nếu có), khi con người trở nên đô thị hóa?

Cuộc sống ở thành thị và cuộc sống ở nông thôn có sự liên hệ mật thiết. Bởi vì phải nuôi người dân thành thị nên nông thôn phải thay đổi và bị ô nhiễm bởi nhiều thứ. Ở nông thôn, người dân quê phải dùng thuốc kháng sinh, thuốc diệt sâu rầy để có thể cung cấp đủ thực phẩm và các thứ khác cho người dân thành thị.

Vì vậy thôn quê không còn là một chỗ an toàn cho chúng ta nữa. Thậm chí nếu ta quay về nông thôn mà vẫn tiếp tục tiêu thụ như cũ thì cũng không giải quyết được gì. Bất cứ ở thôn quê hay ở thành thị ta vẫn bị mất mát rất nhiều, dù là khi ở thôn quê ta có cơ hội tiếp xúc với thiên nhiên, tiếp xúc với đất mẹ nhiều hơn. Thực tập tiếp xúc với thiên nhiên khi ở thôn quê giúp ta chữa lành thương tích dễ dàng hơn, nhưng thôn quê cũng đang đánh mất mình vì sự đô thị hóa.

Phần lớn các nhà hoạt động vì môi trường thu gọn các vấn đề mà chúng ta đang phải đối diện vào hai điểm chính: tiêu thụ quá mức và tăng dân số quá mức. Thầy nghĩ sao về điều này?

Dĩ nhiên là chúng ta cần tiêu thụ như thế nào để giảm thiểu khổ đau của các loài sinh vật trên trái đất, điều này rất rõ ràng. Nhưng chúng ta cũng phải giảm dân số lại. Trở thành người xuất gia cũng là một cách để giảm dân số, vì vậy tôi kêu gọi các bạn nên đi xuất gia với chúng tôi. Nếu bạn có thể tạo dựng nên những cộng đồng nho nhỏ, xây trường học và chăm sóc con cái của những người khác, bạn sẽ không cần phải có con. Vì vậy, dựa trên kinh nghiệm của bản thân là một người xuất gia, tôi thấy cuộc sống của mình không bị thiếu thốn bất cứ một thứ gì. Trái lại tôi có rất nhiều. Ngay cả khi tôi không có con do chính mình sinh ra, tôi thấy mình vẫn có rất nhiều con. Những người con này mang lại cho tôi rất nhiều niềm vui và sự tươi mát. Tôi nghĩ là chúng ta cần phải hành động trên cả hai phương diện: giảm thiểu sự tiêu thụ và giảm thiểu dân số. Đây là điều chúng ta có thể làm được thông qua nếp sống cộng đồng. Chúng ta sẽ không cảm thấy thiếu thốn bất cứ thứ gì, kể cả sự có mặt của trẻ em trong đời sống của chúng ta.

Trong cách sống mà thầy đã chọn, cái gì là thử thách lớn nhất?

Tôi không nghĩ mình bị mất mát bất cứ điều gì trong cuộc sống khi trở thành một người xuất gia. Trên thực tế, tôi rất tận hưởng cuộc sống của một thầy tu. Thí dụ như khi chúng tôi ăn chay trường, chúng tôi rất hạnh phúc khi mình có thể làm như vậy. Chúng tôi không bị khổ đau khi ăn chay, khi không ăn thịt. Chúng tôi thấy mình rất may mắn khi không ăn thịt bởi vì chúng tôi không phải ăn thịt của các loài khác để sinh tồn. Mình có thể bảo vệ sự sống qua cách ăn uống. Chúng ta cần phải học cách ăn như thế nào để bảo hộ trái đất và giảm thiểu khổ đau của các loài khác. Đó là lý do tại sao ăn chay có thể là một niềm vui lớn, nhất là khi bạn biết cách nấu nướng. Chúng ta cần phải xuất bản một quyển sách dạy nấu ăn để cho mọi người biết là ăn chay rất vui.

Chúng tôi nhận thấy cuộc sống của một người tu dễ hơn nhiều so với cuộc sống của một người cư sĩ. Là một người tu, bạn sống trong một tăng thân, và bạn chỉ cần đi theo tăng thân ngồi thiền, đi thiền, ăn cơm đúng giờ giấc, rất là dễ. Chỉ cần là một người tu thôi. Chúng tôi không bị thiệt thòi gì hết, bởi vì chúng tôi sống với nhau rất vui. Chúng tôi có thì giờ để xây dựng tình huynh đệ. Niềm vui đôi lứa không lâu bền bằng tình huynh đệ. Và chúng tôi đề nghị là mọi người không nên tiếp tục đổ xô về thành phố mà nên cố gắng xây dựng những cộng đồng ở thôn quê.

Bạn có thể xây dựng một cộng đồng của người cư sĩ, không nhất thiết phải là một cộng đồng Phật giáo. Ở đó, mọi người sử dụng xe hơi, xe máy cày chung với nhau. Sự hiện diện của trẻ con trong các cộng đồng là điều rất tuyệt vời và bạn không cần phải là một người cha hay người mẹ mới có thể thưởng thức sự có mặt của trẻ con.

Tôi xuất gia ở tuổi 16 và tôi không hề đau khổ vì điều đó, bởi vì tôi có rất nhiều con tâm linh, cả xuất sĩ lẫn cư sĩ. Trong một cộng đồng, ngay cả khi bạn không có con, bạn có thể coi con của những người khác là con của mình; bạn có thể xây trường học; cho người khác ở chung trong căn hộ, hay căn nhà của bạn. Sống trong một cộng đồng với 100 – 200 người, số lượng xe sử dụng sẽ được giảm thiểu, bởi vì bạn sẽ dùng xe chung của cộng đồng. Bạn sẽ dùng chung tủ lạnh, xe máy cày; bạn sẽ làm một khu vườn chung, trường học hoặc công viên chung; và bạn cũng sẽ coi con của người khác là con của mình.

Thầy làm thế nào để cuốn hút người trẻ theo Thầy?

Tôi không hề có ý cuốn hút người trẻ theo mình. Những người trẻ đến với Làng Mai vì khi tham gia các khóa tu và đến các trung tâm tu tập của Làng, họ thấy có tình huynh đệ. Và đó là cái mà chúng ta cần nhất trong đời. Rất nhiều người trẻ đã trải nghiệm tình yêu đôi lứa và những khổ đau trong tình yêu. Khi đến tu viện của chúng tôi, họ nếm trải được tình huynh đệ và được là chính mình. Chính năng lượng của tình huynh đệ đã nuôi dưỡng chúng tôi.

Đó là lý do vì sao việc xây dựng cộng đồng và xây dựng tình huynh đệ để được nuôi dưỡng là một điều vô cùng quan trọng. Bạn có thể đầu tư cả cuộc đời mình để làm điều đó. Vậy nên thay vì đi ra các thành phố lớn để hít thở không khí ô nhiễm, chúng ta có thể tổ chức như thế nào để xây dựng các cộng đồng ở thôn quê, và sống một cuộc sống có thể giúp bảo hộ đất Mẹ và môi sinh. Chúng ta có thể làm việc, đồng thời cũng có thì giờ để làm vườn, và ta có thể cùng làm với nhau. Bạn có thể sử dụng tài năng của mình để phụng sự cho cộng đồng trong việc xây dựng tình huynh đệ. Đó là một lối sống khác mà ta có thể trải nghiệm.

Vì vậy nếu người trẻ có đến với chúng tôi thì không phải vì chúng tôi kêu gọi, mà vì niềm vui, hạnh phúc chế tác được bởi tình huynh đệ. Sinh hoạt tu tập hàng ngày của chúng tôi nhằm để chế tác năng lượng thương yêu của tình huynh đệ. Nên có một đảng phái có khả năng chế tác tình huynh đệ, tình bác ái. Chúng ta biết tình huynh đệ rất quan trọng, nhưng ta lại không biết cách để chế tác, để xây dựng. Nếu có một đảng nào biết làm điều ấy thì ta sẽ tham gia vào đảng đó. Thế nhưng rất nhiều người chỉ có thể nói về điều đó mà thôi. Thiết lập những cộng đồng nho nhỏ như thế, chúng ta sẽ thực sự chế tác năng lượng của tình huynh đệ. Người trẻ có thể nhận thấy điều này, và rất nhiều người sẽ cống hiến cuộc đời họ để chế tác cái năng lượng mà bạn không thể nào mua được từ siêu thị.

Phần lớn người Tây phương chúng tôi vẫn kẹt vào lối sống tiêu thụ cao. Chúng tôi thích mua những đồ đạc mới và hấp dẫn. Có một lối sống nào khác đủ mạnh để thuyết phục chúng tôi rời bỏ lối sống tiêu thụ cao hay không?

Cái chúng ta cần là sự thay đổi tâm thức, thay đổi ý niệm của chúng ta về hạnh phúc, về lối sống. Không chỉ những người Tây phương mới bị kẹt vào lối sống tiêu thụ cao; ở các nước Á châu, người ta cũng đang lâm vào hoàn cảnh tương tự. Chúng ta thích mua đồ đạc mới lạ. Ta tìm kiếm hạnh phúc, nhưng trong ta vẫn đầy dẫy khổ đau. Chúng ta có một khoảng trống lớn ở bên trong, vì vậy ta luôn tìm cách để lấp đầy khoảng trống đó.

Đó là hoàn cảnh hiện nay của chúng ta. Chúng ta không cảm thấy bình an với chính mình. Ta có một khoảng trống lớn, và ta không biết cách lấp khoảng trống đó bằng cách nào khá hơn, nên ta tìm đến sự tiêu thụ. Ta nghĩ rằng nếu ta có thể mua các vật dụng mới lạ thì ta có thể khỏa lấp khổ đau và lấp đầy khoảng trống ấy trong lòng. Nhưng cách ấy không đem lại hiệu quả mà ta mong muốn. Ta tiêu thụ ngày càng nhiều nhưng lại không cảm thấy thỏa mãn trong lòng. Ta cần thương yêu, cần bình an, nhưng ta lại không biết làm thế nào để chế tác bình an, vì vậy ta tìm kiếm ở bên ngoài để khỏa lấp những khổ đau và trống vắng trong lòng.

Dĩ nhiên là phải có một lối sống khác có thể giúp ta chế tác được tình thương, niềm vui mà ta không cần phải đi ra siêu thị để mua sắm. Nếu ta không biết cách tạo ra một lối sống như thế thì ta sẽ vẫn tiếp tục đi mua sắm.

Giả dụ như bạn biết cách thưởng thức thiền hành. Với một chút luyện tập, bạn sẽ biết cách đem tâm bạn trở về với thân, để cho thân và tâm hợp nhất. Khi thân và tâm cùng có mặt, bạn cũng thật sự có mặt, và bạn có thể nhận ra cơn mưa thật tuyệt làm sao, cây cối sao mà đẹp, và khí trời vẫn trong lành biết bao. Bạn thưởng thức hơi thở vào ra, và bạn có thể tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống trong giây phút hiện tại. Khi ta có chánh niệm về hình hài của mình và về những gì đang diễn ra xung quanh, ta có thể tiếp xúc với những phép lạ của sự sống xung quanh ta. Giây phút hiện tại này chứa đầy những điều mầu nhiệm. Nếu bạn không biết thưởng thức những mầu nhiệm đó, bạn sẽ không biết trân quý sự sống – trân quý những gì đang có mặt. Thay vào đó, bạn lại chạy theo một cái gì đó mà bạn cho là sẽ đem lại cho mình hạnh phúc.

Giả dụ như bạn tìm hiểu về Năm giới – năm phép thực tập chánh niệm. Năm giới là lối sống dựa trên cái thấy được gọi là tương tức: Mọi sự vật, hiện tượng đều liên hệ mật thiết với nhau. Hạnh phúc của ta và hạnh phúc của những loài khác tương tức với nhau. Nếu bạn khỏe mạnh, hạnh phúc thì các hình thái khác của sự sống cũng nhờ bạn mà được lợi lạc. Nếu bạn bị bệnh và đau khổ thì các loài khác cũng đau khổ cùng với bạn. Tuệ giác về tương tức ấy sẽ giúp bạn thấy được rằng bạn gắn kết với tất cả mọi người, mọi loài. Để bảo hộ cho chính bạn, bạn phải biết bảo hộ thiên nhiên và tất cả các loài khác. Tuệ giác tương tức ấy sẽ giúp bạn cởi bỏ kỳ thị, sợ hãi, giận dữ và giúp bạn thấy khỏe khoắn hơn nhiều.

Năm giới giúp ta bảo hộ sự sống. Giới thứ nhất là về bảo hộ sự sống – sự sống của chính ta và của các loài khác.

Sự sống của ta có liên hệ mật thiết tới sự sống của các loài khác. Khi ta bảo hộ sự sống của các loài khác thì ta cũng đang đồng thời bảo hộ sự sống của chính ta. Để bảo hộ cho chính ta, ta phải bảo hộ cho các loài khác, và đó chính là sự thực tập của giới thứ nhất. Khi bạn thở trong chánh niệm, bạn có thể thấy đất Mẹ ở trong bạn và bạn chính là đất Mẹ. Tuệ giác này giúp bạn vượt thoát sợ hãi về cái chết, và giúp bạn thấy rằng muốn bảo hộ cho chính mình thì bạn phải bảo hộ cho đất Mẹ. Bảo hộ đất Mẹ cũng chính là bảo hộ cho các loài khác, mà cũng là bảo hộ cho chính ta. Điều này rất là rõ ràng.

Ngay cả khi loài người chúng ta là loài trẻ nhất trong tất cả các loài trên trái đất, chúng ta cũng có thể đóng vai trò của một người anh, người chị lớn trong việc bảo hộ sự an vui của các loài khác. Đó là một việc làm rất đẹp, và cũng là điều mà đất Mẹ mong đợi ở loài người chúng ta. Bảo hộ sự sống là niềm vui, và là một hành động, một lối sống phát khởi từ tuệ giác tương tức. Bạn làm việc đó cho chính bạn bởi vì sự sống tương tức, nó không thể bị chia cắt ra thành nhiều mảnh. Bảo hộ sự sống mang lại cho bạn thật nhiều niềm vui bởi vì tự thân hành động đó chính là tình thương. Khi trong bạn có tình thương, bạn không cần phải chạy theo hoặc tìm kiếm một cái gì nữa cả, bởi vì tình thương tự nó đã đủ để cho bạn có bình an và hạnh phúc.

Giới thứ hai là hạnh phúc chân thực. Nếu ta nhận ra rằng hạnh phúc không thể nào có được chỉ bằng cách kiếm tiền và mua sắm, thì ta cần biết làm thế nào để chế tác ra hạnh phúc chân thực.

“Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cướp, áp bức và bất công xã hội gây ra, con nguyện thực tập chia sẻ thời giờ, năng lực và tài vật của con với những kẻ thiếu thốn, trên cả ba phương diện: tư duy, nói năng, và hành động trong đời sống hằng ngày. Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra. Con nguyện thực tập nhìn sâu để thấy được hạnh phúc và khổ đau của người kia có liên hệ mật thiết đến hạnh phúc và khổ đau của chính con. Con biết hạnh phúc chân thực không thể nào có được nếu không có hiểu biết và thương yêu, trong khi đó đi tìm hạnh phúc bằng cách chạy theo quyền lực, danh vọng, giàu sang và sắc dục có thể đem lại nhiều hệ lụy và tuyệt vọng. Con ý thức được hạnh phúc chân thực phát sinh từ cách nhìn của con mà không phải từ bên ngoài đem tới. Thực tập tri túc giúp con sống hạnh phúc được ngay trong giây phút hiện tại để nhận diện những điều kiện hạnh phúc mà con đang có. Con nguyện thực tập Chánh mạng để có thể làm giảm thiểu khổ đau của mọi người, mọi loài, bảo hộ được trái đất và chấm dứt những nguyên nhân gây biến đổi khí hậu bất thường.”

Hạnh phúc chân thực là điều có thể có được và ta cần phải dừng lại, không chạy theo danh vọng, quyền hành, tiền bạc và dục lạc. Ta cần nhận diện những mầu nhiệm của sự sống đang có sẵn cho ta trong giây phút hiện tại. Ta phải có khả năng giúp chính mình và giúp người khác bớt khổ. Đó là những gì rất cụ thể mà chúng ta có thể làm được và đó cũng là một phần của lối sống mà ta đang tìm kiếm.

Giới thứ ba là về tình thương đích thực. Ta phải học cách chế tác năng lượng của từ, bi, hỉ và xả: Đó là nghệ thuật thương yêu.

Nếu bạn quá bận rộn, nếu bạn chỉ nghĩ về chuyện tiêu thụ, làm sao bạn có thì giờ để thương yêu? Có một điều mà ta học được ở giới thứ ba: Tình dục không phải là tình yêu, hai cái đó rất khác nhau, bởi vì tình yêu mang tính chất xây dựng, phục hồi và trị liệu. Ta phải học cách thương yêu chính bản thân mình, chăm sóc thân thể mình, buông bỏ các căng thẳng và đau nhức trong cơ thể. Có những cách rất cụ thể để làm việc đó.

Có thể bạn đã biết cách thực tập tiếp xúc với đất Mẹ qua những bước chân thiền hành, hoặc nghỉ ngơi, cho phép thiên nhiên trị liệu cho mình. Bạn cũng biết cách buông bỏ căng thẳng hay đau nhức trong cơ thể, không bắt cơ thể làm việc quá sức. Tất cả những cái đó bạn đều có thể làm được, nhưng nếu bạn quá bận rộn kiếm tiền để mua sắm thì làm sao bạn có thì giờ để thực hiện? Trong chúng ta có những người biết cách tổ chức cuộc sống để có thì giờ thương yêu, chăm sóc cho chính mình và cho những người xung quanh.

Mỗi khi tiếp xúc với khổ đau, hiểu được khổ đau của chính mình và của người khác thì năng lượng từ bi sẽ phát khởi trong tâm bạn. Thật vậy, mỗi khi ta tiếp xúc với khổ đau, nhìn sâu vào tự tánh của khổ đau, ta có thể thấy được nguyên nhân của nó, và khi đó từ bi sẽ phát khởi trong ta như một loại năng lượng, dù khổ đau đó là của chính ta hay của người khác. Vì vậy tiếp xúc với khổ đau và cho phép năng lượng của từ bi phát khởi là một việc ta có thể làm được, với điều kiện là ta không quá bận rộn kiếm tiền hay mua sắm. Năng lượng của từ bi có thể chữa lành cho ta, cho người khác và cho trái đất. Học chế tác niềm vui và hạnh phúc bằng cách tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống, và chế tác năng lượng từ bi bằng cách tiếp xúc và tìm hiểu nỗi khổ niềm đau là những cách thức mà ta có thể làm được. Đây cũng là một phần của lối sống có thể giúp chữa lành thương tích cho ta và cho đất Mẹ. Ta có thể thực tập giới thứ ba này chung với nhau như một cộng đồng tu học.

Giới thứ tư – Ái ngữ và Lắng nghe sâu – liên quan đến cách phục hồi truyền thông giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ chồng, giữa anh chị em, v.v… Nếu ta không thể truyền thông với nhau, ta sẽ khổ. Thông thường ta không có truyền thông ngay cả với chính mình. Ta không thích chính mình, ta ghét bản thân, ta không biết cách lắng nghe mình và giúp chính bản thân mình. Vì vậy thực tập ái ngữ và lắng nghe sâu cũng là thực tập với chính mình. Ta phải học cách lắng nghe chính mình, lắng nghe những thao thức sâu sắc nhất của mình, lắng nghe nỗi khổ niềm đau trong tâm mình để hiểu. Khi ta hiểu được khổ đau của chính mình, ước mong sâu sắc nhất của mình, ta sẽ có thể lắng nghe khổ đau và thao thức của người khác. Đây là việc ta có thể làm được – đây chính là đối tượng thực tập của giới thứ tư.

Xã hội chúng ta đang bị chia rẽ trầm trọng. Chúng ta muốn sát hại nhau, và sự sát hại xảy ra khắp mọi nơi, mọi lúc. Chúng ta có quá nhiều giận dữ, sợ hãi, kỳ thị, tuyệt vọng bởi vì không có đủ truyền thông giữa các thành viên trong cộng đồng nhân loại. Chúng ta không chỉ giết hại những loài sinh vật khác, mà chúng ta còn giết hại đồng loại. Điều đó cho thấy sự phát triển của khoa học công nghệ không đủ để kết nối mọi người lại với nhau. Ta phải học cách lắng nghe nhau, cách nói năng từ ái.

Đọc giới thứ tư, có thể thấy ta cần thời gian để rèn luyện cho mình khả năng lắng nghe sâu và nói năng bằng lời từ ái. Tuy nhiên, ai trong chúng ta cũng có thể làm được điều này. Chỉ cần bốn ngày tham dự khóa tu tại một trong những trung tâm tu tập của chúng tôi, thiền sinh đã báo cáo về những thành công của họ. Phép lạ luôn luôn xảy ra trong những khóa tu này. Tình thâm, sự truyền thông luôn có thể được nối lại. Đó là một phần của lối sống mà bạn đang tìm kiếm. Nó đang có đó – một lối sống cao quý. Bạn không cần phải là Phật tử mới có thể tiếp nhận lối sống ấy.

Giới thứ năm là về sự thực tập nuôi dưỡng và trị liệu. Tất cả chúng ta ai cũng cần được nuôi dưỡng và trị liệu. Phần đông ai cũng có bệnh nhưng ta không biết cách quay về với thiên nhiên để được trị liệu. Ta không biết cách chế tác năng lượng của từ bi và niềm vui để trị liệu cho chính mình. Ta trông cậy vào thuốc men, trụ sinh và phẫu thuật. Đọc giới thứ năm, ta có thể thấy tiêu thụ có chánh niệm chính là lối thoát cho chúng ta. Nội dung của giới thứ năm chính là một phần của câu trả lời giúp ta thoát khỏi lối sống tiêu thụ quá mức.

Đây là sự thực tập chính yếu: tiêu thụ. Ta không thể nào ra khỏi hoàn cảnh khó khăn đầy tuyệt vọng của mình trừ khi ta làm một cuộc bức phá trong cách tiêu thụ. “Con nguyện nhìn sâu vào các loại thực phẩm mà con tiêu thụ qua đường miệng và các giác quan, nhìn sâu vào bản chất của những ước muốn trong con cũng như những loại thức ăn cho tâm thức. Con nguyện không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy, không ăn uống hoặc tiêu thụ bất cứ một sản phẩm nào có độc tố, trong đó có mạng lưới toàn cầu, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình, sách báo, bài bạc và chuyện trò. Con nguyện thực tập thường xuyên trở về với giây phút hiện tại để tiếp xúc với những gì tươi mát, có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu trong con và xung quanh con mà không để cho tiếc nuối và ưu sầu kéo con trở về quá khứ; không để lo lắng và sợ hãi kéo con đi về tương lai. Con nguyện không tiêu thụ chỉ để khỏa lấp khổ đau, cô đơn và lo lắng trong con. Con nguyện nhìn sâu vào tự tính tương quan tương duyên của vạn vật để học tiêu thụ như thế nào mà duy trì được an vui trong thân tâm con, trong xã hội, và trong môi trường sống.”

Ta có thể đạt được sự thỏa mãn cả về tài chính lẫn tâm linh hay không? Hay có cái này thì không thể có cái kia?

Bạn có thể vừa là một người giàu có vừa là một người tâm linh hay không? Bạn có cần giàu có? Bạn có cần kiếm nhiều tiền hay không? Chúng tôi cũng cần tiền, nhưng không phải để tiêu thụ. Chúng tôi cần tiền để tổ chức các chuyến hoằng pháp, để thuê xe buýt, để xây dựng một trung tâm thiền tập. Khi chúng tôi đến một thành phố, chúng tôi cần một ít tiền để mua vé xe cho các thầy, các sư cô bởi vì chúng tôi biết là trong một khóa tu, để sự chuyển hóa có thể xảy ra cho thiền sinh, chúng ta cần có đủ số lượng các vị giáo thọ và xuất sĩ.

Nhưng chúng tôi tìm kiếm sự hỗ trợ về tài chính không phải để mua sắm các sản phẩm mới mẻ và hấp dẫn, mà để có thêm chỗ cho thiền sinh ở trong khóa tu và các vị xuất sĩ có thể tham gia với số lượng đông hơn, để xây dựng thiền đường, nơi tu học. Nhưng tất cả những hỗ trợ đó chỉ xảy ra khi sự thực tập tâm linh của chúng tôi mang lại hoa trái, khi đó sẽ có những người bạn xuất hiện hỗ trợ về mặt tài chính. Rất rõ ràng là sự thực tập tâm linh có thể mang đến rất nhiều hạnh phúc, tình thương và sự mãn ý. Và bạn không cần phải có rất nhiều tiền để có hạnh phúc, vì vậy tiền bạc không còn là một vấn đề đáng lo ngại. Nếu có sự yểm trợ về tài chính thì càng có nhiều người được lợi lạc từ sự thực tập. Nếu chúng tôi có sự giới hạn về điều kiện tài chính thì số lượng thiền sinh đến tu học cũng bị giới hạn, tuy nhiên chúng tôi sẽ không hy sinh đời sống tâm linh của mình để tài chính được dồi dào.

Nguồn: https://theecologist.org/2012/mar/22/thich-nhat-hanh-100-years-there-may-be-no-more-humans-planet-earth

Chỉ có tình thương mới có thể cứu chúng ta khỏi những hiểm họa của biến đổi khí hậu

 

Jo Confino

(Đăng ngày 21.1.2013 trên tờ The Guardian)

Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một trong những vị thầy tâm linh có ảnh hưởng hàng đầu trên thế giới. Năng lượng bình an nơi Thầy thật hùng hậu, ngay cả khi Thầy dự đoán nền văn minh của nhân loại có khả năng sụp đổ trong vòng một trăm năm tới do hậu quả của biến đổi khí hậu.

Vị thầy người Việt hiện đã 86 tuổi này – người có hàng trăm ngàn đệ tử xuất gia và tại gia trên khắp thế giới – cho rằng: Sở dĩ phần lớn chúng ta không hành động gì để đối phó lại trước nguy cơ trái đất bị hâm nóng, cho dù đã có vô số các chứng cứ khoa học, là vì chúng ta không có khả năng tự cứu mình khỏi những khổ đau của tự thân thì làm sao có thể lo lắng cho vận mệnh của đất Mẹ.

Thầy nói rằng bình an là điều mà chúng ta có thể có được nếu chúng ta chọc thủng được bức màn của thế giới hiện tượng vốn được xây dựng dựa trên ý niệm về sinh – diệt để chạm tới thế giới bản môn, thế giới không sinh không diệt.

Nhận thấy tính cách tương tức của vạn hữu trong vũ trụ, chúng ta sẽ vượt thoát ý niệm cho rằng chúng ta là những thực thể tách biệt, khi đó tình thương, lòng từ bi trong ta sẽ trở nên rộng lớn và chính năng lượng đó thôi thúc ta hành động để bảo hộ đất Mẹ.

Nhìn sâu vào nỗi sợ hãi

Trong tác phẩm mới xuất bản có tên là Nỗi sợ hãi (Fear), Thầy viết rằng con người chúng ta thường bỏ ra quá nhiều thời gian để lo lắng về bệnh tật, về cái già, về sự mất mát những gì mà chúng ta trân quý nhất, cho dù sự thật hiển nhiên là một ngày nào đó chúng ta sẽ phải buông bỏ tất cả.

“Chúng ta không chỉ là hình hài nhỏ bé này mà thôi, và chúng ta không phải từ không mà trở thành có và rồi từ có mà tan biến vào hư vô. Thấy được điều đó thì chúng ta sẽ thoát khỏi sợ hãi”, Thầy nói. “Không những vượt thoát được sợ hãi, chúng ta còn chạm tới được niềm vui lớn nhất”.

Chia sẻ với tôi tại Làng Mai – nước Pháp, Thầy nói rằng: “Chúng ta cần nhìn lại ý niệm của mình về thời gian. Đối với chúng ta, tình trạng hiện giờ rất khẩn cấp, rất đáng báo động, nhưng đối với đất Mẹ thì đất Mẹ vẫn có khả năng tự trị liệu cho chính mình cho dù công việc đó phải mất khoảng 100 triệu năm. Chúng ta cho rằng thời gian của con người trên trái đất chỉ khoảng 100 năm, thành ra chúng ta thiếu kiên nhẫn. Hành động và sự vô minh tập thể của loài người chúng ta cũng như năng lượng giận dữ và bạo động tập thể sẽ đưa chúng ta đến chỗ bị hủy diệt và chúng ta phải chấp nhận điều đó.

“Và có thể đất Mẹ sẽ sản sinh ra một vĩ nhân trong một thập niên tới… Chúng ta không thể biết và không thể nói trước được. Đất Mẹ rất tài năng. Người đã từng sản sinh ra các vị Bụt, các vị Bồ tát và các bậc đại nhân.

“Vì vậy ta hãy nương tựa đất Mẹ, phó thác thân mạng cho Mẹ và nhờ Mẹ trị liệu, cứu giúp chúng ta. Và ta phải chấp nhận rằng điều xấu nhất có thể sẽ xảy ra: Chúng ta sẽ bị hủy diệt như các chủng loại khác trên trái đất và đất Mẹ sẽ có khả năng đưa chúng ta biểu hiện trở lại, có thể là sau hàng triệu năm, và lần biểu hiện sau này chúng ta sẽ có nhiều tuệ giác hơn.”

Đối diện với sự thật

Thầy chỉ ra rằng phần lớn chúng ta thường chạy theo danh lợi, giàu sang, quyền hành và sắc dục, coi đây là nơi trú ẩn tuyệt hảo để trốn tránh thực tại đầy khó khăn, thách thức mà thế giới đang phải đối mặt. Thêm vào đó, lối sống xô bồ cùng thói quen hưởng thụ những tiện nghi vật chất chỉ tạo ra một miếng băng dán tạm thời để băng bó cho những vết thương sâu về cảm xúc và tâm linh bên trong ta. Điều này chỉ làm tăng thêm sự cô đơn và khổ đau.

Trước thực trạng con người vẫn chưa có những hành động cần thiết để đối diện với hệ thống sinh thái đang bị phá hủy, sự đa dạng sinh học đang suy giảm nhanh chóng, Thầy chia sẻ rằng: “Có những người đã thấy được thực trạng nhưng vẫn không muốn thức tỉnh, bởi vì thực trạng đó làm cho họ khổ, họ không thể đối diện với sự thực. Không phải là họ không biết chuyện gì đang xảy ra. Chỉ là họ không muốn nghĩ về nó mà thôi.

“Họ làm cho mình thật bận rộn để quên đi thực tại. Với những người như vậy, ta đừng khuyên họ nên làm thế này, không nên làm thế kia cho tương lai. Ta hãy trò chuyện như thế nào để chạm được trái tim của những người ấy, giúp họ cùng bước trên con đường của hạnh phúc chân thực, con đường của hiểu biết và thương yêu. Khi đã nếm được một chút bình an và thương yêu thì họ sẽ thức tỉnh”.

Thầy đã thành lập phong trào Đạo Bụt Dấn Thân nhằm thúc đẩy vai trò tích cực của cá nhân trong việc tạo ra sự thay đổi trong xã hội. Thông qua Năm giới tân tu – được xem như một tấm bản đồ chỉ đường đưa ta đi về nếp sống đạo đức – Thầy kêu gọi mọi người không tiêu thụ các sản phẩm gây hại đến môi trường và đối diện với những bất công xã hội.

Thuyết phục những người có thế lực trong xã hội thay đổi cách hành xử của mình là điều không hề dễ dàng, vì vậy Thầy cho rằng các phong trào tự phát từ quần chúng rất cần thiết, đây cũng là chiến thuật của Thánh Gandhi. Tuy nhiên, Thầy nhấn mạnh rằng điều này chỉ thực sự hiệu quả khi những nhà hoạt động vì môi trường biết cách đối diện với cơn giận và sự sợ hãi trong họ trước tiên, thay vì hướng năng lượng đó vào những người mà họ cho là phải chịu trách nhiệm cho tình trạng ô nhiễm môi trường.

Người tiêu thụ tỉnh thức có thể ảnh hưởng đến đường lối kinh doanh của doanh nghiệp.

Về những doanh nghiệp chuyên sản xuất các sản phẩm độc hại, Thầy nói rằng: “Những doanh nghiệp đó không nên tiếp tục sản xuất những sản phẩm độc hại. Chúng ta không cần các sản phẩm như vậy. Chúng ta cần những loại sản phẩm giúp ta khỏe mạnh hơn. Nếu những người tiêu thụ có sự tỉnh thức thì nhà sản xuất sẽ phải thay đổi. Chúng ta có thể buộc họ thay đổi bằng cách không tiêu thụ các sản phẩm của họ.

“Thánh Gandhi đã kêu gọi được người dân Ấn Độ tẩy chay một số hàng hóa để phản đối chính sách của nước Anh. Ông biết cách chăm sóc cho chính mình trong quá trình tranh đấu bất bạo động. Ông biết giữ gìn năng lượng vì cuộc đấu tranh sẽ kéo dài. Chính vì vậy sự thực tập tâm linh rất cần thiết nếu ta muốn giúp thay đổi xã hội.”

Thầy, tác giả của hơn 100 đầu sách trong đó có cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức, nói rằng những người có quyền lực trong xã hội không dễ lên tiếng về sự tàn hại mà hệ thống kinh tế hiện nay gây ra đối với môi trường, vì họ sợ bị tẩy chay và nhạo báng. Tuy nhiên, chúng ta cần có thêm nhiều nhà lãnh đạo có can đảm thay đổi tình trạng.

“Để có thể làm được điều này, các nhà lãnh đạo kinh tế và chính trị cần nuôi dưỡng tình thương, lòng từ bi để có thể ôm ấp và làm giảm bớt cái ngã của mình”, Thầy nói.

“Sở dĩ ta có can đảm nói ra sự thật là vì ta có lòng từ bi trong trái tim, lòng từ bi là một loại năng lượng rất hùng hậu,” Thầy nói. “Với lòng từ bi, ta có thể hy sinh thân mạng mình vì người khác, như người mẹ có thể hy sinh thân mạng cho đứa con của mình. Ta có can đảm nói ra sự thật vì ta không sợ mất gì cả, ta biết rằng hiểu biết và thương yêu là nền tảng của hạnh phúc. Còn nếu vẫn sợ mất địa vị, quyền lực thì ta sẽ không có đủ can đảm để làm điều đó”.

Giây phút suy ngẫm

Trong khi nhiều người đang mất phương hướng trước những phức tạp của cuộc sống và bị choáng ngợp bởi quá nhiều lựa chọn trong một xã hội tiêu thụ, những khóa tu do Thầy hướng dẫn chỉ ra cho mọi người một cách sống khác, khá giản dị mà vô cùng sâu sắc.

Trong khóa tu an cư kiết đông ở Làng, Thầy thường xuyên hướng dẫn cho hàng trăm xuất sĩ và cư sĩ về sự thực tập tắt “đài phát thanh” (những ồn ào không dứt) trong đầu mình và tập trung vào những thực tập căn bản về chánh niệm như thưởng thức hơi thở ý thức, chế tác niềm vui trong khi đi thiền hành và nhìn sâu vào giây phút hiện tại.

Thầy chỉ ra rằng thay vì tìm kiếm câu trả lời cho những vấn đề trong cuộc sống bằng tư duy triết học hay tìm kiếm những trải nghiệm tột đỉnh thăng hoa, ta có thể tìm thấy hạnh phúc thật sự khi tiếp xúc được với sự mầu nhiệm trong những điều rất đỗi bình thường của đời sống hàng ngày, những điều mà ta thường xem nhẹ.

Chẳng hạn như trái tim làm việc suốt ngày đêm để giữ gìn sự sống cho ta, nhưng ta có thường thể hiện sự trân quý đối với trái tim không? Thầy chia sẻ rằng ta có thể tìm thấy những chân lý thâm diệu khi định tâm vào một việc đơn giản như ăn một củ cà rốt. Khi sự định tâm của ta vững chãi, ta sẽ thấy được rằng củ cà rốt đó không thể nào tồn tại nếu không có sự góp mặt của cả vũ trụ.

“Nếu bạn thực sự tiếp xúc với một miếng cà rốt, bạn sẽ tiếp xúc được với đất, với mưa, với ánh nắng mặt trời,” Thầy nói. “Bạn cũng đồng thời tiếp xúc được với đất Mẹ. Ăn như thế, bạn cảm thấy mình đang thực sự tiếp xúc với sự sống, với gốc rễ của mình. Và đó là thiền quán. Nếu ta nhai mỗi miếng thức ăn theo cách đó, ta sẽ phát khởi tâm niệm biết ơn. Và chừng nào còn biết ơn, chừng đó ta còn hạnh phúc”.

Dù thiền tập mỗi ngày trong bảy mươi năm qua, Thầy vẫn tin rằng mình vẫn còn nhiều điều để học hỏi. “Trong đạo Bụt, thương yêu được diễn tả thành bốn khía cạnh mà chúng ta gọi là bốn tâm vô lượng hay tứ vô lượng tâm. Bốn tâm đó là từ, bi, hỷ và xả. Vô lượng có nghĩa là không thể đo lường được, không có biên giới.

“Đó là cách nhìn của Bụt. Các đệ tử của Bụt coi Bụt như một con người toàn hảo, nhưng đó là vì lòng thương kính mà thôi, sự thật là ta không bao giờ có thể toàn hảo được. Mà ta cũng không cần phải toàn hảo. Nếu mỗi ngày ta có tiến bộ một chút, có thêm một chút niềm vui và bình an, vậy là tốt rồi. Vì vậy tôi vẫn đang tiếp tục thực tập và có những cái thấy mỗi ngày mỗi sâu hơn.

“Sự thực tập không hề có giới hạn. Và tôi nghĩ là điều này cũng đúng đối với loài người chúng ta. Chúng ta có thể tiếp tục học hỏi từ thế hệ này sang thế hệ khác, và bây giờ là lúc chúng ta cần bắt đầu học hỏi cách thương yêu không kỳ thị, bởi vì loài người chúng ta đã có đủ thông minh, nhưng chưa có đủ tình thương.”

Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Một cuộc đời thầm lặng

Thầy thường được so sánh với Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhưng Người luôn tìm cách tránh sự chú ý của công chúng và chọn sống một nếp sống giản dị, thầm lặng của một người tu. Thầy đã tránh cái bẫy của sự nổi tiếng và chỉ đồng ý phỏng vấn đối với những phóng viên chịu dành thời gian thiền tập với Thầy trước khi phỏng vấn, vì chánh niệm là cái cần phải được trải nghiệm thay vì được mô tả.

Nhưng Thầy không phải là người sống khép kín. Người đã sống một cuộc đời phi thường và đã được Mục sư Martin Luther King đề cử cho giải Nobel Hòa bình vào năm 1967 vì những đóng góp của Người trong việc chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam. Trong thư đề cử của mình, Mục sư King nói rằng: “Cá nhân tôi không thấy ai xứng đáng được trao giải Nobel Hòa bình hơn vị thầy tu Phật giáo đến từ Việt Nam này. Những phát kiến cho hòa bình của Ngài, nếu được áp dụng, sẽ dựng nên một tượng đài của tinh thần đại đồng, tình huynh đệ và nhân bản”.

Thầy đã thành lập nên Làng Mai tại Pháp cách đây 30 năm, từ khi sống nơi xứ người, và sau đó thành lập thêm nhiều tu viện khác tại Mỹ, Thái Lan, Hồng Kông, cũng như Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) tại Đức. Người vẫn tiếp tục phụng sự cho hòa bình, hòa giải các cuộc xung đột trên thế giới, trong đó phải kể đến việc tổ chức các khóa tu cho người Israel và Palestin.

Dù đã đạt được rất nhiều thành tựu, – gần đây Thầy đã được mời làm Tổng biên tập danh dự của tờ báo Times of India khi tờ báo này ra ấn bản đặc biệt về hòa bình – Thầy vẫn khiêm tốn khi nhìn lại cuộc đời mình.

“Tôi không đạt được gì nhiều ngoài một chút bình an, một chút hỷ lạc trong tự thân. Như vậy cũng đã nhiều rồi,” Thầy nói. “Những giây phút hạnh phúc nhất là khi tôi ngồi yên và cảm nhận được sự có mặt của các vị xuất sĩ lẫn cư sĩ đang cùng nhau thực tập thiền tọa hay thiền hành. Đó là thành tựu chính, còn việc xuất bản sách và thành lập các viện Phật học ứng dụng như ở Đức, những cái đó không quan trọng.

“Điều quan trọng là xây dựng được một tăng thân – một cộng đồng tu học, và tôi có một cái thấy là đức Bụt của thời đại chúng ta có thể không phải là một cá nhân mà là một tăng thân. Nếu mỗi ngày ta thực tập thiền hành, thiền tọa và chế tác năng lượng của niệm, định và bình an thì ta đang là một tế bào trong thân của Bụt. Đây không phải là một giấc mơ. Điều này có thể thực hiện được ngay hôm nay và ngày mai. Bụt không phải ở một nơi xa xôi mà Bụt đang có mặt ngay bây giờ và ở đây”.

Mặc dù tại thời điểm này Thầy vẫn đang khỏe mạnh và trí tuệ của Người sắc bén như một lưỡi gươm nhưng Thầy đã lớn tuổi và sẽ không thể tiếp tục có những chuyến hoằng pháp dài ngày trên khắp thế giới như trước đây. Năm nay Thầy có chuyến hoằng pháp tại nhiều tiểu bang của Mỹ cũng như tại một số nước châu Á, và có lẽ đây sẽ là chuyến hoằng pháp ra nước ngoài cuối cùng của Thầy.

Dù Thầy tin rằng bản chất của chúng ta là vô sinh bất diệt nhưng Thầy cảm thấy như thế nào về sự ra đi của chính mình?

“Tôi sẽ không chết nhưng sẽ tiếp tục nơi những người khác, đó là điều rất rõ ràng,” Thầy nói. “Không có gì mất đi cả. Và tôi rất vui vì đã được tham gia vào công trình làm mới lại giáo lý của Bụt. Có nhiều người đã hiểu sai lời Bụt dạy, vì vậy chúng ta cố gắng làm cho giáo lý của Bụt trở nên dễ hiểu, dễ áp dụng đối với tất cả mọi người.”

Nâng chén trà trong tay, Thầy nói thêm: “Tôi đã chết rất nhiều lần, có thể nói chúng ta đều được sinh ra và chết đi trong mỗi phút giây, đó là cách mà chúng ta cần rèn luyện cho chính mình. Cũng giống như lá trà, khi ta cho lá trà vào ấm rồi đổ nước sôi lên, vài phút sau là ta có trà để uống. Rồi ta chế thêm nước sôi để có ly trà thứ hai. Sau vài lần như vậy, ta sẽ thấy rằng lá trà tuy còn trong ấm nhưng hương vị của nó đã đi vào ly trà rồi, cái còn lại trong ấm chỉ là bã trà mà thôi.

“Nhưng đó không có nghĩa là lá trà đã chết. Dù chỉ còn là bã trà nhưng ta vẫn có thể sử dụng chúng để bón cho chậu hoa trong vườn và như vậy lá trà vẫn tiếp tục hiến tặng cho cuộc đời. Chúng ta phải nhìn hiện tượng sinh – diệt theo cách đó. Vì vậy khi tôi nhìn các đệ tử xuất sĩ và cư sĩ đang thực tập, tôi thấy đó là sự tiếp nối của Bụt, đó cũng là sự tiếp nối của chính tôi.”

Nhận được một lá thư cho biết là có một vị đã xây một ngôi tháp tại Hà Nội để tưởng nhớ công đức của Thầy, gần đây Thầy đã gửi một lá thư cho Tổ đình Từ Hiếu tại Huế nơi Thầy xuất gia tu học và nói rõ rằng: “Thầy không muốn sau này quý vị xây cho thầy một ngôi tháp ở Tổ Đình. Tốn đất chùa vô ích. Thầy rất không thích chuyện lấy một mớ tro từ hình hài của thầy bỏ vào trong một cái hũ, rồi đặt vào trong tháp. Thầy không muốn được tiếp nối như vậy. Đem tro mà rải hết ra ngoài để nuôi cây cỏ. Đừng ngăn sự tiếp nối của nắm tro ấy.”

Thầy nói thêm: “Nếu đã lỡ xây rồi thì phải ghi lên trước tháp mấy chữ: Trong này không có gì. Thầy không nằm trong tháp ấy đâu. Nếu người ta vẫn chưa hiểu thì ghi thêm một câu nữa: Ngoài kia cũng không có gì. Và nếu vẫn còn chưa hiểu thì ghi thêm một câu chót là: Nếu có gì thì nó có trong bước chân và hơi thở của bạn”.

Nguồn: https://www.theguardian.com/sustainable-business/zen-master-thich-nhat-hanh-love-climate-change

Thiền sư Thích Nhất Hạnh nói gì về khổ đau, hy vọng và thành đạt

 

Malte Conradi Sarah Raich

(Đăng trên tờ The Suddeutsche Zeitung của Đức, ngày 1 & 2.06.2013)

Nếu nhân vật Yoda – nhà hiền triết trong phim Chiến tranh giữa các vì sao (Star Wars) – được xây dựng dựa trên một người có thật trong cuộc đời thì ắt hẳn phải là vị thầy này.

Đầu cạo sạch và mặc chiếc áo tràng nâu của một tu sĩ Phật giáo, Thiền sư Thích Nhất Hạnh, 86 tuổi, đang ngồi dưới sàn của thiền đường, mỉm cười thân thiện với chúng tôi. Trước mặt Thầy là một bình trà mới pha. Ông thầy tu nhỏ bé và hiền lành này được xem là người đại diện quan trọng nhất cho Phật giáo, sau Đức Đạt Lai Lạt Ma. Thầy buộc phải rời quê hương Việt Nam của mình từ năm 1966 để kêu gọi hòa bình và chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Điều này đã không làm hài lòng nhà cầm quyền Việt Nam thời bấy giờ, vì vậy Thầy không được về lại quê hương. Thầy sống lưu vong tại miền Nam nước Pháp và từ nơi này, Thầy đã đem những phương pháp thực tập của đạo Bụt giảng dạy cho người Tây phương. Mỗi năm một lần, Thầy đến Đức để giảng dạy cho các vị xuất sĩ lẫn cư sĩ tại một vùng quê của miền Rhineland.

Phỏng vấn ư? Thầy hiếm khi có thời giờ cho chuyện này. Và nếu có thì các đệ tử của Thầy cũng tận dụng cơ hội này để đến lắng nghe và học hỏi. Sau 90 phút, Thầy vẫn ngồi trong tư thế kiết già, lưng thẳng như cây nến, trong khi khách thì xương cốt đã rêm đau từ lâu rồi.

SZ: Thầy đã chứng kiến rất nhiều khổ đau trong cuộc đời, vậy Thầy làm cách nào để vẫn giữ cho mình niềm hy vọng?

Thầy: Đúng vậy, tôi đã chứng kiến rất nhiều khổ đau, nhất là trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam. Hồi đó, tôi cùng với các tác viên xã hội giúp xây dựng những ngôi làng ở vùng phi quân sự làm nơi tị nạn cho người dân. Sau đó không lâu, ngôi làng bị lính Mỹ dội bom. Chúng tôi đã dựng lại. Ngôi làng lại bị dội bom. Và chúng tôi dựng lại thêm một lần nữa. Đến lần thứ ba, chúng tôi bàn với nhau có nên dựng lại hay không. Lúc ấy tôi thấy rằng nếu chúng tôi bỏ cuộc thì người dân sẽ mất hết hy vọng. Vì thế chúng tôi đã tái thiết ngôi làng lần thứ ba, lần thứ tư và cuối cùng là lần thứ năm.

SZ: Nhưng Thầy đã lấy nghị lực từ đâu để làm được điều đó?

Thầy: Chúng tôi cố gắng biến khổ đau thành điều tốt lành. Hoa sen cũng phải cần có bùn để sống. Hoa sen không thể mọc trên đá cẩm thạch được. Chúng ta cần nhận thấy rằng hạnh phúc và khổ đau có mối liên hệ mật thiết với nhau. Nếu ta trốn chạy khổ đau thì cũng khó tìm ra hạnh phúc. Trái lại, chúng ta nên tìm hiểu những nguyên nhân gốc rễ đưa đến khổ đau. Chỉ khi đó hiểu biết và thương yêu trong ta mới có cơ hội lớn lên.

Hiểu biết và thương yêu là chìa khóa của hạnh phúc. Mọi của cải và quyền hành trên thế gian này không thể đem lại hạnh phúc, nếu không có hiểu và thương. Trước những hành động cực đoan, đàn áp, sân hận và sợ hãi thì mình chỉ có một cách mà thôi: Hãy nhìn sâu vào lớp bùn để có thể trồng trên đó một đóa sen. Nếu ta có thể nhận ra những khổ đau trong lòng của kẻ gây hấn với mình thì ta sẽ không còn thù ghét người đó nữa.

SZ: Hôm nay, Thầy mời những người Tây phương đến tu viện để chia sẻ về giáo lý của đạo Bụt. Cụ thể Thầy hướng dẫn những gì?

Thầy: Bạn không cần phải là Phật tử mới có thể áp dụng phương pháp thực tập của chúng tôi. Chúng tôi gọi phương pháp này là chánh niệm. Đó là nghệ thuật sống trong hiện tại, một loại năng lượng mà chính bạn có thể tự tạo ra. Chánh niệm giúp cho ta buông bỏ những căng thẳng, buồn phiền và thưởng thức cuộc sống nhiều hơn. Những người bạn Tây phương đến với chúng tôi được học cách đối diện với khổ đau, sân hận và hoang mang trong mình. Sau một khóa tu với chúng tôi, những vị ấy sẽ biết làm thế nào để chế tác thêm niềm vui và bình an trong cuộc sống của mình, làm thế nào để tái lập truyền thông với những người chung quanh. Có thể bạn gọi chúng tôi là những người Phật tử, nhưng thật ra những gì mà chúng tôi đang thực tập đều có thể áp dụng cho tất cả mọi người.

SZ: Điều Thầy vừa nói nghe có vẻ trừu tượng quá.

Thầy: Ồ, thực ra nó đơn giản lắm! Ví dụ khi đi từ bãi đậu xe đến văn phòng, bạn dừng lại hết những suy tư của bạn trong thời gian đó. Bạn chỉ đi bằng chân mà không đi bằng cái đầu của mình, bước từng bước từng bước thong thả như vậy. Phải cần thực tập một chút, nhưng những bước chân chánh niệm sẽ đưa bạn trở về với phút giây hiện tại, bây giờ và ở đây. Nó làm cho bạn trở thành một con người tự do. Nếu bạn biết thưởng thức từng bước chân của mình thì khi vào đến công sở, bạn sẽ có thể đưa ra những quyết định thật sáng suốt, thật hay. Bạn thấy đó, những thực tập này rất đơn giản và cụ thể. Chỉ cần vài ngày thực tập là bạn sẽ thấy rõ sự chuyển hóa và trị liệu. Chính bạn sẽ tự chứng nghiệm điều đó.

SZ: Nhưng trong đời sống ta có rất nhiều thứ phải suy nghĩ, lo âu và chịu nhiều áp lực. Làm sao ta có thể đi đến chỗ làm việc của mình một cách thảnh thơi được?

Thầy: Để tôi kể bạn nghe một câu chuyện. Trước đây tôi có biết một phụ nữ trẻ tên là Laura. Chồng của cô là Frederik, một doanh nhân thành đạt. Mặc dù có đầy đủ mọi thứ nhưng Laura không hạnh phúc, vì hai vợ chồng không có thì giờ cho nhau và cho đứa con trai của họ. Frederik chỉ có thì giờ cho công việc mà thôi. Lúc ban đầu, Laura rất hãnh diện về chồng mình, nhưng không lâu sau đó cô bắt đầu cảm thấy cô đơn. Cô thử nhiều cách như quay lại đại học và học thêm một văn bằng khác, tổ chức các công tác từ thiện. Nhưng dường như những cách này không giúp được gì cho cô cả. Nhiều đêm cô nằm khóc. Mỗi lần như vậy Frederik cố giải thích với cô rằng không ai có thể thay thế anh trong công việc ở công ty cả. Anh nói, có thể ba năm nữa anh sẽ bớt việc hơn. Nhưng sau ba năm, anh vẫn làm việc lu bù như trước. Thậm chí anh còn không có thì giờ đến nhà thương thăm đứa con trai khi nó làm phẫu thuật. Rồi một ngày nọ, Frederik bị tai nạn xe hơi và qua đời. Chỉ ba ngày sau đó, đã có một người khác lên thay vị trí của anh trong công ty. Chuyện như vậy có thể xảy ra với nhiều người. Chúng ta phải thức tỉnh thôi. Thức tỉnh ngay bây giờ, chứ không phải chờ đến ba năm nữa. Đừng hy sinh hạnh phúc hôm nay của mình cho một tương lai nào đó!

SZ: Vì sao người Tây phương lại thích pháp môn của Thầy?

Thầy: Chúng ta đang trải qua một cuộc khủng hoảng trầm trọng, nhất là ở Tây phương. Ngày càng có nhiều người chạy trốn những khổ đau, buồn phiền của chính mình, họ sợ phải đối diện với những khổ đau đó. Vì vậy họ tiêu thụ ngày càng nhiều: âm nhạc, rượu, thức ăn, internet. Họ không phải tiêu thụ vì họ cần những thứ đó, mà vì họ không chịu nổi sự cô đơn của mình, không chịu nổi khoảng trống vắng trong tâm hồn mình. Chúng ta lo sợ nỗi buồn sẽ nhấn chìm chúng ta, nếu chúng ta đối diện với nó. Nhưng nỗi buồn lại ngày càng lớn thêm lên. Chúng ta hối tiếc về quá khứ, sợ hãi và lo lắng cho tương lai. Trong tình trạng đó, sự thực tập chánh niệm sẽ giúp chúng ta. Khi chúng ta buông thả được quá khứ và tương lai, thì chúng ta cũng đồng thời giải thoát cho mình khỏi những ưu sầu và khổ đau rồi.

SZ: Thầy đã sống gần 50 năm ở Tây phương. Điều này có tạo ra sự thay đổi nào trong việc giảng dạy của Thầy không?

Thầy: Khi phải sống lưu vong sau chiến tranh Việt Nam, tôi phải tìm cách làm quen với cách suy nghĩ và làm việc của người Tây phương. Điều này giúp tôi trình bày giáo lý đạo Bụt theo những cách mà người phương Tây có thể tiếp nhận một cách dễ dàng. Tôi tránh dùng những từ Phật giáo, mà tìm những cách nói giản dị hơn. Ví dụ, từ “sám hối” là một từ khá nặng nề cho người Tây phương. Cho nên chúng tôi dùng từ “địa xúc” hay là “tiếp xúc với đất”. Bạn hãy chạm vào mặt đất và làm mới chính mình, hãy để quá khứ lại sau lưng bạn. Ngày nay, chúng tôi thậm chí còn đem một số cách nói như thế này sang tiếng Việt. Trong mọi ngôn ngữ, chúng ta đều cần một cách nói mới để truyền đạt cho giới trẻ. Người Tây phương thích pháp môn của chúng tôi, vì pháp môn này không rườm rà về nghi lễ. Chúng ta không nên làm cho sự thực tập tâm linh trở nên phức tạp và nặng nề về lý thuyết. Tất cả những sự thực tập đều gắn liền với đời sống hàng ngày của chúng ta. Tôi nghĩ rằng điều này cũng có thể áp dụng đối với Cơ Đốc giáo. Chỉ khi nào đạo Cơ Đốc được làm mới, được cải tiến thì mới có khả năng phụng sự được cho con người của xã hội hiện đại.

SZ: Những người canh tân thường không được những người chính thống ưa thích lắm.

Thầy: Đúng vậy. Khi còn là một thầy tu trẻ, tôi cũng có khó khăn với những người thủ cựu trong Phật giáo. Tôi thậm chí còn phải rời khỏi ngôi chùa mà mình đã xuất gia tu học. Cùng với một số bạn bè, tôi đã thành lập một nơi tu tập mới nằm giữa rừng già.

SZ: Thầy đã viết hơn 100 đầu sách. Làm sao mà Thầy có thể làm được điều đó?

Thầy: Chúng tôi làm chung với nhau. Như một dòng sông. Khẩu hiệu của chúng tôi là: “Đi như một dòng sông, không làm hạt nước nhỏ”. Chúng tôi không có những anh hùng cá nhân. Nhiều cuốn sách dù mang tên tôi nhưng không phải do tôi trực tiếp viết ra: Một thầy hay một sư cô ghi chép lại những bài giảng của tôi, một người khác biên tập rồi dàn trang và cho in ấn. Chúng tôi cùng nhau ra quyết định: Một vấn đề khi nào cũng được mọi người thảo luận, sau đó người chủ tọa cuộc họp sẽ đúc kết lại và đưa ra đề nghị về hướng giải quyết. Ai đồng ý thì im lặng. Ai không đồng ý thì lên tiếng. Chúng tôi hỏi ba lần xem mọi người có đồng ý với đề xuất đó không. Nếu cả ba lần mà tất cả đều im lặng nghĩa là đề xuất đó được thông qua. Đó là cách thức chúng tôi làm việc. Cách này cũng có thể được áp dụng trong các đoàn thể, ngay cả đối với các doanh nghiệp.

SZ: Thầy có nghĩ mình là một nhà kinh doanh giỏi không?

Thầy: Có. Chúng tôi đã tìm được một nguyên tắc tốt cho hoạt động của chúng tôi, đó là: Hạnh phúc và niềm vui phải là những điều quan trọng nhất. Không có niềm vui và hạnh phúc thì tiền tài chẳng có ích lợi gì. Nếu chúng ta làm việc hết lòng và có nhiều niềm vui thì chắc chắn chúng ta sẽ thành công trong công việc. Và việc kinh doanh sẽ thành đạt. Nhưng mục tiêu của chúng tôi không phải là tiền bạc, mà chính là nếp sống cộng đồng.

SZ: Thầy nói như một người hoàn toàn viên mãn. Thầy không khi nào đau khổ hay sao?

Thầy: (Cười) Nói như vậy chứng tỏ là anh vẫn chưa hiểu những gì tôi đã nói, anh bạn trẻ ơi! Không có khổ đau thì cũng không có hạnh phúc. Ngay cả tôi cũng không thể nào trồng hoa sen trên cẩm thạch được đâu.

Nguồn: https://plumvillage.org/thich-nhat-hanh-interviews/touch-the-earth-and-begin-anew/