Định đề 1

 

Không gian không phải là một pháp vô vi. Không gian chỉ biểu hiện chung với thời gian, vật thể và tâm thức.

Space is not an unconditioned dharma. It manifests together with time, matter and consciousness.

Chúng ta bắt đầu bằng ý niệm về không gian (space). Trong “Một trăm pháp”, không gian được liệt kê như một trong những pháp vô vi, hư không vô vi. Tại Làng Mai chúng ta không chủ trương hư không là một pháp vô vi.

Không gian không phải là một pháp vô vi. Không gian chỉ biểu hiện chung với thời gian, vật thể và tâm thức.

Chủ trương này kéo theo rất nhiều chủ trương khác cùng một loại. Ngày xưa, khi nhìn các vật thể như cái bàn, cái nhà, bông hoa hay đám mây v.v… các thầy thấy chúng đều thay đổi, đều vô thường, vô ngã. Các pháp do nhân duyên mà tập hợp, và phát hiện, nên được gọi là hữu vi. Bông hoa hay con người hay đám mây đều bị điều kiện hóa. Khi những điều kiện không còn đầy đủ nữa thì chúng tan rã nên những vật đó được gọi là hữu vi.

Nhưng khi nhìn hư không thì người ta thấy hư không có vẻ như thường hằng, không dính líu tới những vật thể khác. Dù có mây hay không có mây, dù có mưa hay không có mưa, dù có tâm thức hay không có tâm thức, dù có mặt trăng hay không có mặt trăng, dù có mặt trời hay không có mặt trời thì hư không vẫn là hư không. Hư không là một pháp vô vi, không lệ thuộc vào các pháp khác. Đó là cái thấy của một số thầy trong quá khứ. Khi học “Một trăm pháp” chúng ta thấy có nhiều pháp vô vi, ví dụ như chân như. Chân như là một pháp vô vi, không có sinh, không có diệt, không tùy thuộc vào những điều kiện. Quán sát không gian, các thầy thấy không gian cũng không sinh, không diệt và không tùy thuộc vào những điều kiện. Vì vậy không gian được gọi là một pháp vô vi.

Cái một chứa đựng cái tất cả

Tại Làng Mai chúng ta thấy không gian là một ý niệm và ý niệm về không gian được tạo ra bởi ý niệm về thời gian, về vật thể và về tâm thức. Không gian có ba chiều: chiều ngang, chiều dọc và chiều sâu. Nhưng còn có một chiều thứ tư, gọi là thời gian. Nhà Bác học Einstein có nói tới “time space continuum” bốn chiều.

Nếu quan sát kỹ chúng ta thấy không gian được làm bằng thời gian và thời gian được làm bằng không gian, không gian được làm bằng vật thể và vật thể được làm bằng không gian. Trong ánh sáng của khoa học hiện đại, chúng ta có thể thấy rõ: Không gian trước hết là một ý niệm, ý niệm không gian không thể tách rời khỏi ý niệm thời gian, ý niệm không gian không thể tách rời khỏi ý niệm vật thể và nhất là không thể tách rời ra khỏi ý niệm về tâm thức. Do đó không gian không phải là một thực tại khách quan mà chúng là một sáng tạo của tâm thức. Không gian chứa đựng thời gian, chứa đựng vật thể và chứa đựng tâm thức. Nếu lấy thời gian, lấy vật thể, lấy tâm thức ra thì không gian không còn là không gian nữa. Vì vậy cho nên không gian không phải là một pháp vô vi.

Kinh Hoa Nghiêm có nói: Cái một chứa đựng cái tất cả. Đứng về phương diện không gian thì cái một chứa đựng cái tất cả. Một vi trần chứa đựng tam thiên đại thiên thế giới, mà vi trần tức là vật thể nên vật thể có liên hệ tới không gian. Khoa học cho biết rằng nơi nào có vật thể cô đọng nhiều thì ở nơi đó không gian cong lại. Vì vậy, vật thể và không gian tương tức, ảnh hưởng lẫn nhau. Nói rằng không gian không bị ảnh hưởng của vật thể là sai. Không gian là vật thể, vật thể là không gian. Sắc và không rất gần với nhau, nó là nhau, cái một chứa đựng cái tất cả.

Giây phút chứa đựng thiên thu

Đứng về phương diện thời gian cũng vậy. Thời gian được chia làm ba: quá khứ, hiện tại và tương lai. Tại Làng Mai chúng ta hay nói: “Hãy sống trong giây phút hiện tại, đừng để bị quá khứ và tương lai kéo đi!”. Nếu không khéo thì chúng ta sẽ nghĩ rằng quá khứ, hiện tại và tương lai là ba cái tồn tại độc lập và chúng ta rơi vào trong chủ trương của Hữu Bộ: Tất cả (quá khứ, hiện tại và tương lai) đều có. Nhưng theo cái thấy của Làng Mai thì ba thời tương tức: quá khứ, hiện tại và tương lai dung chứa nhau. Trong quá khứ có hiện tại và có tương lai, trong tương lai có quá khứ và có hiện tại, trong hiện tại có quá khứ và tương lai. Tiếp xúc được với hiện tại một cách sâu sắc thì chúng ta có thể tiếp xúc được với quá khứ và tương lai ngay trong giây phút hiện tại. Đó là chủ trương của Làng Mai. Nếu chúng ta chăm sóc giây phút hiện tại với tất cả tấm lòng, với tất cả năng lượng của niệm, định và tuệ thì đó là chúng ta đang chăm sóc quá khứ và đang chăm sóc cả tương lai. Một giây phút chứa đựng tất cả các giây phút khác. Giây phút chứa đựng thiên thu. Đứng về phương diện không gian thì cái một chứa đựng cái tất cả. Đứng về phương diện thời gian thì giây phút chứa đựng thiên thu.

Không thời tương tức

Đi xa hơn nữa, theo kinh Hoa Nghiêm, không những không gian chứa đựng không gian, thời gian chứa đựng thời gian mà thời gian chứa đựng không gian và không gian chứa đựng thời gian. Trong kinh Hoa Nghiêm có một câu nói rất rõ: Không những một hạt bụi chứa đựng cả vũ trụ mà nó còn chứa đựng cả thời gian.

Thời gian chứa đựng không gian và không gian chứa đựng thời gian, vì vậy cho nên không gian và thời gian không phải là các pháp vô vi. Không gian và thời gian tương tức. Chúng ta đã bắt đầu thấy chủ trương về không gian kéo theo cái thấy về thời gian. Cái thấy về không gian là cái thấy tương tức, là cái thấy “cái một trong cái tất cả”, cái thấy về thời gian là “cái giây phút chứa đựng cái thiên thu”. Ta thấy được tính tương tức của không gian và tính tương tức của thời gian, thấy được luôn tính tương tức của không và thời (không gian và thời gian). Ý niệm về không gian có được là nhờ có ý niệm về thời gian và ý niệm về không gian và thời gian có được là nhờ có ý niệm về vật thể. Do đó không gian không phải là một pháp vô vi.

Nếu chia các pháp ra làm hai loại, vô vi và hữu vi, thì chúng ta không thể nói không gian thuộc về pháp vô vi. Nếu nói đến pháp vô vi thì có thể chỉ có một pháp vô vi, đó là Niết bàn, tức chân như, là tự tánh không sinh không diệt, là nền tảng của tất cả các pháp.

Tại Làng Mai, nếu cần phải phân biệt các pháp thì chúng ta có thể nói: Tất cả các pháp đều là hữu vi, chỉ trừ một pháp không phải là hữu vi, đó là Niết bàn. Cũng như tất cả các đợt sóng trên biển đều có lên có xuống, chỉ có một cái không lên không xuống, đó là nước. Niết bàn là nền tảng của tất cả các pháp.

Lời cảm ơn

 

Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các nhà báo cũng như các nhà xuất bản đã tạo cảm hứng và cho phép chúng tôi sử dụng những bài báo, bài phỏng vấn để làm nên cuốn sách này:

  • Andrea Miller
  • Anne A. Simpkinson
  • Bell Hooks
  • Claudio Gallo
  • Jo Confino
  • Marianne Schnall
  • Malte Conradi và Sarah Raich
  • Melvin McLeod
  • Parallax Press
  • Publishers Weekly
  • Tom Levitt
  • Trevor Carolan
  • Velcrow Ripper

Xin thành kính tri ân.

BAN BIÊN TẬP LÀNG MAI

Tiếng chuông chánh niệm: Chân dung Thiền sư Thích Nhất Hạnh

 

Trevor Carolan

(Đăng trên tờ Lion’s Roar – trước đây là Shambhala Sun – ngày 01.01.1996)

Lời kêu gọi thực tập chánh niệm với cái thấy tương tức của Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã gây cảm hứng cho phong trào Đạo Bụt Dấn Thân trên khắp thế giới. “Nơi nào có khổ đau, nơi đó chánh niệm sẽ đáp ứng lại bằng năng lượng từ bi”, vị thiền sư Việt Nam nói.

Đôi khi trong những kinh nghiệm sống của chúng ta lại có một khoảnh khắc đột biến, lúc mà tất cả những gì xảy ra trước và sau thời điểm đó đều in sâu trong tâm trí. Vì lý do nào đó, khoảnh khắc quyết định này phát triển mạnh trong tâm thức và trở thành một cái mốc, để rồi hết lần này đến lần khác ta quay về tìm kiếm xem phép lạ nào đã xảy ra.

Tôi nhớ lại điều này khi dự cuộc họp mặt gần đây tại San Francisco, nơi mà các bộ óc siêu việt trên thế giới được Quỹ Mikhail Gorbachev Hoa Kỳ triệu tập trong Diễn đàn về Tình trạng Thế giới[1].

Có rất nhiều ngôi sao sáng và đa dạng tham dự diễn đàn: Rigoberta Menchu – người được trao giải Nobel Hòa bình, Thabo Mbeki – Phó Tổng thống Nam Phi, Jane Goodall, Ruud Lubbers – Thủ tướng Hà lan, Fritjof Capra, Ted Turner, Sam Keen, Shirley MacLaine, Joan Halifax, Zbigniew Brzezinski, Oscar Arias – Tổng thống của Costa Rica và cả ông Gorbachev nổi tiếng.

Dễ thấy đây là một diễn đàn do những thiên tài cấp tiến chủ động, là một cuộc gặp gỡ đột phá, kết hợp giữa Viện Esalen, Lầu Năm Góc, Fortune 500 – 500 công ty lớn nhất của Mỹ và nhiều nhà tư tưởng lớn. Mục đích của họ là tìm kiếm và đưa ra câu trả lời cho những thử thách căn bản khi loài người chuẩn bị bước vào giai đoạn phát triển lịch sử sắp tới trên hành tinh quý giá này.

Tuy nhiên, vào ngày thứ ba của diễn đàn nặng ký này, một người đàn ông nhỏ bé bỗng xuất hiện, như nhân vật Rumpelstiltskin thần kỳ trong truyện cổ tích Grimm. Ông đến muộn, vào giữa buổi sáng khi đang có một cuộc thảo luận mang chủ đề “Expanding the Boundaries of Humanness” (tạm dịch: “Mở rộng biên giới của nhân tính”). Những khách mời trong buổi thảo luận gồm Rupert Sheldrake, Deepak Chopra, Michael Murphy – người sáng lập Viện Esalen, và Giám mục Alan Jones. Người đến trễ là một thầy tu Phật giáo người Việt Nam tên là Thích Nhất Hạnh.

Đề tài thảo luận khá rộng và trừu tượng: Các khái niệm khoa học máy móc từ 300 năm của Descartes vẫn ảnh hưởng như thế nào đến cái nhìn của thế giới Tây phương về bản thân, về nơi chốn và đời sống tâm linh; những cuộc hành hương bị du lịch hóa như thế nào; tại sao sự kết nối với thế giới của các vì sao qua thần giao cách cảm đáng cho chúng ta thử nghiệm. Michael Murphy nói về đánh gôn và về Sri Aurobindo – nhà hiền triết của Ấn Độ; Deepak Chopra cho rằng lý trí không đủ để hiểu về trí thông minh không theo đường thẳng, phi tuyến tính. Úi chà chà!!!

Đâu đó giữa chủ nghĩa thần bí mang tính khoa học của Tiến sĩ Chopra (hay có thể gọi nó là khoa học thần bí?) và quan niệm về tâm thức ngoại giáo Celtic trước Công nguyên mà một vị nào đó trình bày, tôi bắt đầu thấy thùy trán của mình càng lúc càng ù đặc. Thế rồi Giám mục Alan Jones giới thiệu thuyết trình viên chót.

Trong chiếc áo tràng nâu truyền thống của người xuất gia, Thiền sư Thích Nhất Hạnh nói bằng giọng nhỏ nhẹ, dễ hiểu với một thứ tiếng Anh rất chuẩn, thỉnh thoảng có pha chút âm tiếng Pháp. Ngôn ngữ và cách nói năng của Thầy rất thư thái, như những giọt nước mát dịu rót vào tai và vào tâm thức của người nghe. Hầu như mọi điều về Thầy Nhất Hạnh đều được đánh dấu bằng sự định tĩnh, một sự mát mẻ nhẹ nhàng vượt khỏi sự tĩnh lặng thông thường. Khi nói, Thầy nói với năng lượng chánh niệm hùng hậu – điều mà Thầy đã dày công thực tập.

Thầy Nhất Hạnh bắt đầu bằng một câu chuyện. “Một ngày nọ tôi đang tập các động tác chánh niệm trong rừng với các bạn trong tăng thân, sau khi đi thiền hành chung với nhau”, Thầy nói bằng một giọng nhỏ nhẹ. “Ngày nào chúng tôi cũng thực tập đi chậm, đi trong chánh niệm, thưởng thức từng bước chân; rồi chúng tôi ngồi xuống với nhau.

“Ngày đó tôi bỗng nhận ra là sở dĩ tôi có thể làm những động tác chánh niệm này là nhờ có cái cây đang đứng trước mặt tôi. Tôi ý thức thật rõ ràng là tôi có thể thở vào bởi vì cái cây đang hiện diện trước mặt tôi. Nó đang đứng đó cho tôi, và tôi đang thở vào, thở ra cho nó. Tôi thấy sự liên hệ này vô cùng sâu sắc.

“Trong truyền thống đạo Bụt có nói đến tính chất tương tức. Ta không thể nào tồn tại một cách riêng rẽ, ta phải tồn tại cùng với mọi người, mọi loài”, Thầy nói tiếp. “Vì vậy, có thể nói mình tương tức với cái cây: Nếu cái cây không có đó thì ta cũng không có đây.

“Trong kinh Kim Cương, Bụt khuyên ta nên quán chiếu về bốn ý niệm: ngã, nhân, chúng sinh và thọ giả. Ngài cũng dạy là sự thực tập để gạt bỏ những ý niệm này không khó, ai cũng có thể làm được.”

Sau khi nghe những tranh luận trước đó, nghe Thầy Nhất Hạnh nói, và cách mà Thầy diễn tả – không chút màu mè, hoặc quan trọng hóa; không tô điểm hay nói tới những gì mầu nhiệm; không ngụy khoa học (pseudo-science) cũng không mang tính hệ thống – giống như uống một ly trà nóng làm dịu đi một ngày mệt mỏi.

“Nếu quán sát một cách chánh niệm và sâu sắc,” Thầy giải thích, “ta sẽ thấy là ta được tạo thành bằng những yếu tố không phải là ta. Nếu ta nhìn sâu vào trong một bông hoa, ta sẽ thấy gì? Ta sẽ thấy ánh nắng mặt trời, đám mây, đất, các chất khoáng, người làm vườn, toàn thể vũ trụ. Tại sao? Bởi vì bông hoa được tạo nên bởi những yếu tố không phải là hoa: Đó là cái mà ta có thể nhận ra. Và cũng giống như bông hoa, thân thể của ta cũng được tạo nên bởi tất cả những cái khác – trừ một cái: Đó là cái ngã, cái ta riêng rẽ. Đây là giáo lý vô ngã trong đạo Bụt.

“Để được là chính mình, ta phải biết chăm sóc những yếu tố không phải là ta. Ai cũng biết là mình không thể tồn tại nếu không có những người khác, những loài khác, nhưng ta thường hay quên rằng vạn vật tương tức, rằng chúng sanh được làm nên bởi những yếu tố không phải chúng sanh.

“Đó là lý do tại sao ta phải thực tập thiền để giữ cho cái thấy này sống động. Trong truyền thống của chúng tôi, sự thực tập dừng lại, hay còn gọi là thiền chỉ (samatha), là để nuôi dưỡng và giữ cho cái thấy sáng tỏ này sống động 24 giờ đồng hồ mỗi ngày.”

Nghe đến đây, một thông tín viên truyền thanh nghiêng người về phía tôi thì thầm “Chính xác là ông thầy này từ truyền thống nào vậy? Điều mà ông ấy nói là từ Thiền hay từ đạo Phật nói chung?”. Nữ phóng viên già dặn của Quốc hội Mỹ đã được báo trước là muốn biết cuộc vận động cho môi trường hiện nay được thúc đẩy bởi những tư tưởng nào, cô phải nghe để biết những gì mà ông thầy tu Phật giáo người Việt này chia sẻ. Tuy nhiên, tôi cũng có những thắc mắc của riêng mình, lấy ý trong câu của Andrei Codrescu – một nhà thơ, nhà văn nổi tiếng người Mỹ gốc Rumani: Trong vai trò của một vị thầy, Thích Nhất Hạnh làm mọi cách để ẩn danh, trong khi những người khác thì làm mọi cách để nổi tiếng.

Sinh năm 1926, xuất gia đã được 53 năm, Thiền sư Thích Nhất Hạnh dành trọn cuộc đời mình để thực tập và truyền trao Đạo Bụt Dấn Thân – đây là sự kết hợp giữa đạo Bụt truyền thống và thiền, pháp môn hiện pháp lạc trú và hành động trên căn bản từ bi để chăm sóc cho tự thân và cho xã hội. Năm 1967, Thầy được Mục sư Martin Luther King đề cử cho giải Nobel Hòa bình vì những cống hiến của Thầy trong công cuộc vận động hòa bình cho Việt Nam.

Arnie Kotler có vẻ là người có đủ thông tin để trả lời cho những câu hỏi của tôi về Thầy Nhất Hạnh. Ông Kotler đã tham gia ấn hành rất nhiều quyển sách trong số 75 đầu sách của Thầy Nhất Hạnh. Ông cũng là một thành viên ban điều hành Cộng đồng sống chánh niệm (Community of Mindful Living) – một tổ chức phi lợi nhuận, đỡ đầu cho khoảng hơn 100 nhóm sinh viên trên thế giới đem chánh niệm vào mỗi phút giây của cuộc sống hàng ngày, theo truyền thống của Thầy Nhất Hạnh.

“Thầy là một thiền sư”, Kotler nói. “Thầy sống ở Làng Mai, một cộng đồng sống tỉnh thức gần Bordeaux, nước Pháp. Thầy đến từ Việt Nam, một nước Đông Dương, có thể vì vậy mà mọi người cho rằng Thầy theo truyền thống Nam tông. Thầy hay nhắc mọi người rằng Đông Dương chịu ảnh hưởng của cả Ấn Độ lẫn Trung Hoa, và đặc biệt là đạo Bụt Ấn Độ có ý nghĩa rất quan trọng đối với Thầy.”

Kotler nói rằng nhìn Thầy Nhất Hạnh trong bối cảnh đó thì sẽ dễ hiểu hơn “bởi vì ở Tây phương hễ nói tới thiền thì nghĩ ngay tới thiền Nhật; thế nhưng đó chỉ là một hình thái của thiền mà thôi. Thầy thuộc thế hệ thứ 42 của tông Lâm Tế – tông phái này có nguồn gốc từ Trung Quốc, đời nhà Đường. Một thiền phái ở Việt Nam có nguồn gốc từ tông Lâm Tế là phái Liễu Quán.

“Thầy là thế hệ thứ 8 của phái Liễu Quán và Thầy đã thấm nhuần tinh hoa của những truyền thống thiền này. Trong những năm 60, khi hoạt động mạnh nhất cho hòa bình, Thầy đã thành lập dòng tu Tiếp Hiện.”

Điều này giải thích tại sao có một nhóm kiệt xuất gồm các giáo viên, những người cầm bút và các nhà hoạt động có năng lực trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã và đang đồng hành cùng với sự phát triển của phong trào Đạo Bụt Dấn Thân do Thầy Nhất Hạnh khởi xướng: Joan Halifax, Joanna Macy, Deena Metzger, Bell Hooks, Wendy Johnson, Maxine Hong Kingston và nhiều người khác nữa. Chuyến hoằng hóa tại San Francisco mới đây của Thầy Nhất Hạnh đã làm xuất hiện các vị thầy ưu tú như Jack Kornfield, Sylvia Boorstein và Ram Dass.

Tại Spirit Rock, một trung tâm thực tập ở quận Marin do Jack Kornfield và một số giáo thọ khác thành lập, Thầy Nhất Hạnh đã hướng dẫn một ngày quán niệm, thu hút hơn 2.000 người đến tham dự.

Thật may mắn cho tôi, nhờ quá giang chung một chuyến xe mà tôi đã gặp được những người bạn mới, do vậy tôi đỡ cảm thấy cô đơn trong một đám đông quá lớn như thế. Phong cảnh tuyệt đẹp – các dãy núi nối nhau, rừng cây và đồng hoang. Sự kiện này là một thí dụ vượt trội của đạo Bụt Bắc Mỹ. Thời khóa của một ngày sinh hoạt ngoài trời gồm thiền tọa, thiền hành, thiền ca, ăn cơm yên lặng, thiền ăn táo do Ed Brown hướng dẫn; và Thầy Nhất Hạnh cho một bài pháp thoại dài và lôi cuốn mà sau đó đã trở thành một Bài thuyết giáo ở thung lũng Vale (Sermon in the Vale là tên bài hát nổi tiếng của ban nhạc Rock tên Golden Apes xuất phát từ Berlin, Đức).

“Ngày nay, sự truyền thông đã lan rộng khắp nơi trên thế giới,” Thầy Nhất Hạnh nhấn mạnh. “E-mail, fax, máy nhắn tin – người ta có thể liên lạc một cách dễ dàng từ Tokyo đến New York trong vòng nửa phút. Vậy mà trong gia đình, hoặc giữa hàng xóm với nhau, giữa vợ chồng, bạn bè với nhau, sự truyền thông đích thực vẫn rất khó khăn. Người ta tiếp tục càng lúc càng có nhiều khổ đau.

“Thời đại của chúng ta có rất nhiều người trẻ không cảm thấy kết nối với bất cứ thứ gì, vì vậy họ tìm kiếm một cái gì đó để xoa dịu như rượu, thuốc phiện, tiền hoặc quay về hướng chiếc ti-vi để bị xâm chiếm bởi bạo động và bất an. Vậy thì giáo pháp có thể giúp những người bị tổn thương tinh thần hay rối loạn tâm lý như thế nào?”, Thầy hỏi.

“Bồ tát Quán Thế Âm là người giỏi lắng nghe, lắng nghe với tâm từ bi,” Thầy gợi ý. “Chúng ta cần phải khôi phục lại cách nói năng và cách lắng nghe nhau như trong một gia đình thân thương. Nhưng khoa học kỹ thuật có thể giúp gì trong chuyện này? Tôi thấy chúng ta cần thực tập, lắng nghe trong chánh niệm. Một trái tim mở rộng lắng nghe là một bông hoa nở trên cây thực tập.”

Nghe pháp thoại của Thầy Nhất Hạnh, người ta dần dần làm quen với tiếng chuông – một phần không thể tách rời trên con đường thực tập của Thầy. Tiếng chuông chánh niệm là tiếng gọi của tổ tiên tâm linh. Thầy dạy: “Tiếng chuông gọi ta trở về với ngôi nhà đích thực trong phút giây hiện tại – về với sự rỗng rang. Khi thực tập tương tức, ta sẽ có bình an, vững chãi, thảnh thơi – cội nguồn của hạnh phúc. Sự thực tập vô ngã giúp ta phát hiện ra bản chất của không.”

Thầy Nhất Hạnh khuyên ta nên học hỏi và tụng niệm Tâm kinh Bát Nhã như một phương tiện để đạt đến cái thấy là tất cả mọi vật đều trống rỗng, không có tự tánh riêng biệt, nhưng đồng thời lại đầy cả vũ trụ vạn hữu trong đó. Trong pháp giới này, Thầy nói “Sinh, tử, có, không đều không thực sự tồn tại.” Tất cả những cái đó chỉ đơn giản là những ý niệm, và sự thực tập Tâm kinh là sự thực tập lấy đi hết mọi ý niệm.

Càng lúc càng thấy rõ là điều Thầy Nhất Hạnh truyền dạy không phải chỉ là “Phật giáo” mà là chuyên trì thiền tập. “Lắng nghe sâu”, “tiếp xúc sâu sắc”, “nhìn sâu” – sự giảng giải của Thầy về thiền Minh sát (Vipashyana) rất dễ dàng cho người theo Cơ Đốc giáo, Do Thái giáo, Lão giáo hoặc các truyền thống tâm linh khác áp dụng, như cho chính người Phật tử. Nhìn vào những ghi chép của tôi trong chín ngày đi theo, lắng nghe và ngồi trong sự hiện diện của Thầy, tôi nhận ra rất hiếm khi Thầy chia sẻ nhiều về mặt giáo lý – một điểm làm cho những người Phật tử thuần thành phải nhướng đôi mày.

“Đúng vậy, Thầy không nói nhiều về giáo lý Phật giáo”, Arnie Kotler đồng ý. “Thầy nói về phương pháp thực tập. Như Trungpa Rinpoche trong quyển sách đầu tay của ngài, Meditation In Action (Thiền trong hành động), đã cho chúng ta biết rằng thiền tập là sự thực tập cốt lõi của đạo Bụt. Đây cũng chính là nội dung chủ yếu mà Thầy Nhất Hạnh cống hiến: Thiền tập trong đời sống”.

“Thầy có phải là một người có sức thu hút đặc biệt không?”, một người bạn cũ thông tuệ nhưng sức khỏe càng ngày càng kém, hỏi vào một buổi chiều chúng tôi ngồi tại công viên Kim Môn ở San Francisco.

“Không” tôi trả lời, hơi ngạc nhiên vì câu trả lời của chính mình. “Không phải theo cái nghĩa thông thường. Nhưng Thầy ấy là thứ thiệt. Và Thầy là một nhà thơ. Bạn bè người Việt của tôi gọi Thầy là một vị Phật sống.”

Là một người tập võ thuật trong nhiều năm, tôi yêu thích những bậc thầy như Diogenes – triết gia Hy Lạp cổ đại và Trang Tử. Những vị này khi gặp gỡ các quân vương đều trở nên nổi tiếng vì phong cách rất độc đáo của họ. Và điều này cũng đã xảy ra khi Thầy Nhất Hạnh phát biểu tại Diễn đàn Tình hình Thế giới, lần này là trước ngài Gorbachev và những đại biểu nổi tiếng.

“Một mình trí năng thì không đủ để hướng dẫn chúng ta,” thiền sư tuyên bố với các đại biểu một cách khiêm cung. “Để định hình tương lai cho thế kỷ XXI, chúng ta cần thêm một cái khác. Không có bình an và hạnh phúc, ta không thể chăm sóc cho chính mình, không thể chăm sóc cho những loài khác, và không thể chăm sóc cho thế giới.

“Vì vậy ta cần sống như thế nào để có mặt thật sâu sắc trong mỗi khoảnh khắc, luôn sống và nuôi dưỡng tuệ giác tương tức, đây là điều vô cùng quan trọng.”

Rải rác trong bài thuyết trình của Thầy Nhất Hạnh là những tư tưởng mà Thầy đã trình bày trong cuốn sách mới xuất bản Living Buddha, Living Christ (Bụt ngàn đời, Chúa ngàn đời). Trong tác phẩm này, Thầy đã trình bày thật xuất sắc quan niệm của mình về chất thánh – hay năng lượng thánh linh – mà người phương Đông hay phương Tây cũng đều có thể tiếp xúc được. Quyển sách mới này đã thiết lập nền tảng cho “Phật pháp trong một Thế giới mới” (New World Dharma), ý tưởng được đề cập tới trong các bài viết nổi tiếng trong những năm gần đây như Pacific Shift (tạm dịch: Sự chuyển dịch về Thái Bình Dương) của William Irwin Thompson, Practice of the Wild (tạm dịch: Những bài học từ thế giới hoang dã) của Gary Snyder, và Dharma Gaia – tinh yếu của Phật giáo về sinh môi – của Alan Hunt Badiner.

“Theo tôi, chánh niệm cũng tương đương như Chúa Thánh Thần (Holy Spirit) trong Cơ Đốc giáo”, thiền sư giải thích với thính chúng gồm những người có quyền lực. “Tất cả chúng ta ai cũng có hạt giống của Chúa Thánh Thần trong mình; đó là khả năng trị liệu, chuyển hóa và thương yêu. Nơi đâu có khổ đau, nơi đó chánh niệm sẽ đáp ứng bằng năng lượng của từ bi và hiểu biết. Từ bi chính là điểm gặp gỡ giữa hai dòng sông tâm linh – Phật giáo và Cơ Đốc giáo”.

“Trong truyền thống của Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo, ta được học cách sống trong sự hiện diện của Thượng đế,” Thầy xác nhận. “Tương đương trong đạo Bụt là sự thực tập nuôi lớn chánh niệm, sống sâu sắc mỗi giây phút trong năng lượng của thánh linh. Nếu ta thay đổi cách sống hàng ngày – trong cách suy nghĩ, nói năng và hành xử – là ta bắt đầu thay đổi thế giới.

“Đây là điều mà tôi đã thảo luận với Mục sư Martin Luther King nhiều năm về trước; sự thực tập chánh niệm không chỉ là những giờ thiền trong im lặng, mà là từng giây phút của cuộc sống hàng ngày. Những vị thầy khác, như Thánh Basil, từng nói rằng ta có thể cầu nguyện trong khi làm việc, và ở Việt Nam, chúng tôi đã tạo ra một “Đạo Bụt Dấn Thân” để có thể tiếp tục nếp sống thiền quán trong khi giúp đỡ các nạn nhân chiến tranh. Chúng tôi làm việc để giúp giảm thiểu khổ đau trong khi vẫn cố gắng duy trì chánh niệm của mình.

“Vì vậy, để kết thúc bài chia sẻ này, tôi muốn nói rằng sự thực tập nhìn sâu không có nghĩa là thụ động, không làm gì cả. Bởi vì cái hiểu, cái thấy do sự thực tập nhìn sâu mang lại sẽ khiến ta trở nên rất năng động. Bất bạo động không có nghĩa là không làm gì cả. Nó có nghĩa là ta hành động với tình thương và từ bi, ta sống như thế nào để con cháu chúng ta còn có một tương lai. Xin cảm ơn quý vị.”

Và điều đó đã xảy ra. Ngôn ngữ và quyền lực tạm thời lắng xuống để giây phút tĩnh lặng kéo dài thành một sự im lặng sấm sét. Không còn gì để nói. Vị thầy tu chỉnh đốn lại tư thế, đứng lên và rời khỏi khán phòng, cũng lặng lẽ như khi ông đến. Tôi sẽ nhớ mãi điều này.

Trước đó, trong một buổi viếng thăm, tôi đã hỏi Thầy về bí ẩn của cái chết: Điều gì sẽ xảy ra khi ta chết? Thầy Nhất Hạnh là người biết cách khôi hài. “Không có gì sinh ra. Không có gì mất đi. Đó là một tuyên bố của Lavoisier – một người không phải là Phật tử,” trong câu trả lời của Thầy có thấp thoáng một nụ cười. “Nhưng như ta biết, người Phật tử cũng được tạo thành bởi những yếu tố không phải của Phật giáo…”

Tại diễn đàn, có tiếng hát của các sư cô – đệ tử của Thầy – từ một nơi gần bên vẳng đến. “Thở vào… thở ra,” họ hát, “Thở vào… thở ra.” Rồi tiếng hát vọng lên trên các phòng họp của tòa khách sạn cũ mà sang trọng: “Không gian thênh thang, không gian thênh thang…”

Trong một thoáng, tôi nghĩ đến Thánh Francis của Assisi, rồi nhìn các đại biểu trong khán phòng đang không nói nên lời, tôi có thể thề rằng mình đã thấy cả vũ trụ mỉm cười.

Nguồn: https://www.lionsroar.com/mindfulness-bell-a-profile-of-thich-nhat-hanh/

 

[1] Đây là cuộc họp đầu tiên của Diễn đàn về Tình trạng Thế giới (State of the World Forum) diễn ra từ ngày 27.9 – 1.10.1995 tại San Francisco, Mỹ .

Cuộc gặp gỡ giữa Bell Hooks và Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Làm thế nào để xây dựng một cộng đồng của tình thương?

 

(Đăng trên tạp chí Lion’s Roar – trước đây là Shambhala Sun – ngày 1.1.2000)

Thiền sư Thích Nhất Hạnh hiện diện trong cuộc đời tôi với vai trò của một vị thầy, một người chỉ đường đã hơn hai mươi năm nay. Trong vài năm trở lại đây, tôi bắt đầu có chút hồ nghi về sự liên hệ tâm linh giữa tôi với Thầy bởi vì tôi chưa bao giờ diện kiến hoặc trò chuyện với Thầy, thế nhưng Thầy lại luôn hiện diện trong quá trình thực tập của tôi. Tôi bắt đầu cảm thấy nhu yếu được gặp Thầy trực tiếp, cho dù trực giác bảo tôi hết lần này đến lần khác là khi đủ duyên thì chuyện ấy sẽ xảy ra. Và tôi thực tập tin vào trực giác của mình, đó cũng là sự thực tập thương yêu trong tôi.

Những ai gần gũi và thân thiết với tôi đều biết là trong nhiều năm qua, tôi đã và đang quán chiếu về chỗ đứng và ý nghĩa của thương yêu trong cuộc sống và văn hóa của chúng ta. Họ cũng biết là khi một chủ đề nào đó thu hút tôi cả về trí năng lẫn cảm xúc thì tôi sẽ thiết tha nghiên cứu nó từ mọi góc cạnh, để hiểu nó từ trong ra ngoài.

Để hòa điệu với cái cách mà tâm tôi làm việc, khi bắt đầu chiêm nghiệm sâu sắc về phần siêu hình của tình thương, tôi nói chuyện với tất cả mọi người xung quanh về nó. Tôi nói với đông đảo thính giả và thậm chí còn có những lần tôi nói chuyện riêng với trẻ em để xem chúng nghĩ gì về thương yêu. Tôi thuyết trình về thương yêu trong tất cả các hình thái của nó. Tôi còn khuyến khích nhà xuất bản ấn hành quyển sách mới của tôi, All about love: new visions (tạm dịch: Thương yêu và những cách nhìn mới), quảng bá nó bằng bưu ảnh, áo thun, và thậm chí cả bằng một quyển lịch với logo “Love in every state” (tạm dịch: Hãy thương yêu, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào). Bất cứ đi đâu tôi cũng nói về thương yêu.

Đối với tôi, tất cả những công việc mà tôi làm đều được xây dựng trên nền tảng của từ bi. Tình thương soi chiếu vạn vật. Và khi viết những bài phê bình văn hóa xã hội gây tranh cãi để làm cho tâm ý của người đọc được mở rộng, để suy nghĩ của họ có thể thoát khỏi khuôn khổ đã định sẵn, tôi nghĩ việc làm đó chính là tình thương được thể hiện qua hành động. Cho dù việc làm đó có thể thách thức, gây phiền lòng, có khi còn khiến người đọc sợ hãi hay nổi giận, tình thương vẫn là nơi tôi luôn bắt đầu và kết thúc công việc của mình.

Một đề tài xuyên suốt của cuốn sách All about love là từ khi còn thơ ấu cho đến tuổi trưởng thành, chúng ta thường tiếp nhận những quan niệm sai lầm về bản chất của thương yêu. Có lẽ quan niệm sai lầm phổ thông nhất là thương yêu có nghĩa là ta sẽ không hề bị thử thách và không phải thay đổi chính mình. Đây ắt hẳn là lý do vì sao những người đọc các bài viết về kỳ thị chủng tộc, phân biệt giới tính, kỳ thị người đồng tính luyến ái, tôn giáo, v.v… thấy các quan niệm có sẵn của họ bị thách thức, và họ thường có khuynh hướng cho rằng những bài viết ấy có vẻ khắc nghiệt hơn là yêu thương.

Trong tất cả các định nghĩa về thương yêu trên toàn vũ trụ này, tôi đặc biệt thích nhất định nghĩa trong quyển The Road Less Traveled (Hành trình trưởng thành đích thực) của nhà phân tâm học M. Scott Peck. Định nghĩa thương yêu là “ý chí mở rộng bản ngã nhằm mục đích nuôi dưỡng sự trưởng thành tinh thần của mình hoặc của người khác”, ông đã dựa trên quan niệm của Erich Fromm để nhấn mạnh hết lần này đến lần khác là tình thương yêu phải được biểu hiện trước hết và trước tiên qua hành động – qua sự thực hành – mà không chỉ qua cảm xúc.

Khi quyển The Art of Loving (Nghệ thuật thương yêu) của Fromm được xuất bản thì tôi chỉ mới bốn tuổi. Đó là quyển sách gối đầu giường của tôi trong những năm cuối của tuổi teen, khi tôi bối rối về bản chất của tình yêu. Ông nhấn mạnh rằng “tình yêu là sự quan tâm tích cực tới cuộc sống và tới sự phát triển của những cái mà ta yêu”, tôi thấy hợp lý mãi đến bây giờ. Peck đã mở rộng định nghĩa này. Biết rằng thế giới có thể là một thiên đường của hòa bình và sự công bằng nếu như công dân của thế giới chia sẻ cùng một quan điểm về thương yêu, từ đó dẫn dắt cách suy nghĩ và hành động của mình, tôi đã kêu gọi mọi người đi đến một cái hiểu chung về thương yêu trong cuốn sách All about love: new visions. Cái hiểu chung đó có thể được diễn đạt bằng những lời lẽ khác nhau nhưng đều chứa đựng một ý nghĩa chung cho mọi đối tượng với các trải nghiệm và văn hóa khác nhau.

Trong suốt hơn hai mươi năm viết về đề tài “chấm dứt sự thống trị dưới mọi hình thức” (kỳ thị chủng tộc, kỳ thị giới tính, hội chứng sợ đồng tính luyến ái, kỳ thị giai cấp), tôi đều liên tục tìm kiếm những con đường đưa đến sự chấm dứt bạo động và bất công. Vì phần lớn những suy nghĩ về tình yêu trong những năm cuối tuổi teen của tôi đều xoay quanh tình yêu gia đình và tình yêu đôi lứa, chỉ vào những năm đầu của tuổi hai mươi, khi viết lý thuyết về nữ quyền tôi mới bắt đầu nghĩ sâu về tình yêu liên quan đến sự thống trị.

Trong những năm đầu của tôi ở đại học, thông điệp về thương yêu của Mục sư Martin Luther King – con đường chấm dứt sự kỳ thị chủng tộc và chữa lành các thương tích do sự thống trị chủng tộc – đã bị thay thế bằng phong trào sức mạnh của người da đen nhấn mạnh đến sự tranh đấu bằng quân sự. Trong khi Mục sư King kêu gọi bất bạo động và từ bi, phong trào mới này kêu gọi chúng tôi phải có trái tim cứng rắn, dùng chiến tranh để chống lại kẻ thù. Các nhà lãnh đạo quân sự của chúng tôi nói: Thương yêu kẻ thù của mình làm cho chúng ta yếu đuối và dễ bị nô dịch. Và nhiều người đã quay lưng lại với thông điệp của Mục sư King.

Ngay khi năng lượng của cuộc đấu tranh cho dân quyền rời xa tiếng gọi của thương yêu, phong trào phụ nữ cũng phát động một chiến dịch phê phán tình thương, kêu gọi phụ nữ hãy quên thương yêu đi để giành lại quyền lực cho mình. Năm 19 tuổi, tôi tham gia vào các nhóm ý thức đang lên về quyền phụ nữ, tình thương bị bác bỏ vì cho là không phù hợp. Sự “nghiện ngập yêu thương” đã làm cho chúng ta phải ăn ngủ với kẻ thù (là nam giới). Để được tự do, các nhà lãnh đạo quân sự của phong trào nữ quyền nói với chúng tôi, chúng ta không nên tiếp tục để cho yêu thương làm trung tâm của sự tưởng tượng và khao khát của mình. Tình yêu có thể đưa đến sự sụp đổ của phong trào nữ quyền.

Hai phong trào tranh đấu cho công bằng xã hội này đã bắt đầu bằng luân lý tình thương và từng chiếm toàn bộ trái tim cũng như tâm trí của cả nước, nhưng rồi chúng đã bị biến thái bởi những nhà lãnh đạo chỉ quan tâm đến quyền hành. Đến những năm cuối của thập kỷ 70 thì không cần thiết phải dập tắt những tranh luận về tình yêu nữa; đề tài ấy đã không còn nằm trong bất cứ một chương trình nghị sự cấp tiến nào.

Một số người trong chúng tôi – những người vẫn còn khao khát nuôi dưỡng thương yêu – đã tìm cứu cánh nơi các tôn giáo. Chúng tôi tìm kiếm khắp nơi trên toàn thế giới những người thầy tâm linh có thể giúp chúng tôi quay lại với thương yêu. Sự tìm kiếm đã đưa tôi tới với đạo Bụt, được những nhà thơ của nhóm Beat đưa đường dẫn lối, qua những lần trao đổi riêng với Gary Snyder. Tại ngôi nhà trên núi của ông, lần đầu tiên tôi được gặp một vị nữ tu theo truyền thống Phật giáo và được đi trong chánh niệm với sư cô. Sự bình an ngọt ngào tỏa ra từ sư cô như một làn hương và trong suốt thời gian ấy tôi cứ tự hỏi đã bao giờ trái tim mình nếm được một sự bình an như thế.

Nỗ lực tìm kiếm đã đưa tôi đến với tác phẩm của một nhà tu Phật giáo mà Mục sư Martin Luther King đã gặp gỡ và được đánh động, đó là Thầy Nhất Hạnh. Tác phẩm đầu tiên của người thầy mới trong đời mà tôi được đọc là cuốn The Raft Is Not the Shore (Chiếc bè không phải là bờ bên kia) ghi lại cuộc đối thoại giữa Thầy và Linh mục Daniel Berrigan.

Cuối cùng thì tôi đã tìm ra một thế giới, nơi tâm linh và chính trị có thể đi đôi mà không có sự phân chia. Thật thế, trong thế giới ấy, tất cả những nỗ lực nhằm chấm dứt sự thống trị, đem lại hòa bình và công lý, đều là sự thực tập tâm linh. Tôi không còn bị giằng co giữa đấu tranh chính trị và thực tập tâm linh nữa. Và đây, một vị thầy rất cấp tiến – một thầy tu Việt Nam sống lưu vong – đã tuyên bố một cách can đảm rằng “nếu bạn phải chọn giữa đạo Bụt và hòa bình, thì bạn phải chọn hòa bình”.

Không như những người bạn và đồng chí da trắng của tôi, những người hay coi thường tôi vì tôi chưa bao giờ du lịch sang phương Đông hoặc từng học hỏi với những vị thầy nổi tiếng, Thầy Nhất Hạnh nói một cách điềm đạm: “Đạo Bụt nằm trong trái tim bạn. Ngay cả khi bạn không có một ngôi chùa, hay không có vị thầy nào dẫn dắt thì bạn vẫn có thể là một Phật tử trong tâm bạn và trong cuộc sống của bạn”. Đọc những lời của Thầy, tôi cảm thấy có một cái gì đó vỡ òa ở bên trong. Tôi chỉ có thể lập đi lập lại “Hãy lắng dịu lại, trái tim tôi ơi” (“Be still my heart”). Tôi giống như một người đang bị lạc trên sa mạc và đang chết khát. Tôi đã tìm ra nước. Cơn khát của tôi được thỏa mãn và cơn đói tâm linh của tôi lại “cồn cào” hơn.

Trong khoảng thời gian mười năm từ khi rời nhà để vào đại học, tôi luôn cảm thấy bị lôi kéo về mọi hướng bởi cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc, bởi phong trào nữ quyền, trào lưu tự do tình dục, bởi đạo Cơ Đốc chính thống mà tôi được nuôi dạy từ nhỏ. Tôi muốn hoạt động chính trị cấp tiến mà vẫn biết đến Chúa Trời. Tôi muốn kháng cự nhưng vẫn được cứu chuộc. Quyển sách Chiếc bè không phải là bờ bên kia giúp cho cuộc hành trình tâm linh của tôi có thêm sức mạnh. Thậm chí ngay cả khi chưa gặp Thầy Nhất Hạnh lần nào, Thầy cùng với Chögyam Trungpa Rinpoche, vẫn là hai người mà tôi chọn làm thầy chỉ đạo. Sự kết hợp giữa hai vị là một sự kết hợp đầy chất lửa.

Khi tinh thần của tôi trở nên khỏe mạnh, tôi bắt đầu nói về công trình của Thầy và trích dẫn lời Thầy trong những quyển sách tôi viết. Thầy đã giúp tôi gắn kết các lý thuyết về phục hồi chính trị với sự phục hồi tâm linh. Trong rất nhiều năm tôi không muốn gặp Thầy trực tiếp vì sợ mình sẽ thất vọng. Lần này sang lần khác tôi dự định sẽ có mặt ở những nơi mà Thầy đến và kế hoạch của tôi bao giờ cũng gặp trở ngại. Con đường của tôi và Thầy có giao nhau nhưng chúng tôi lại chưa từng gặp mặt.

Rồi bỗng nhiên, một cách thật tuyệt vời và không định trước, tôi đã gặp Thầy. Trong sự hiện diện của Thầy, tôi cảm thấy trào dâng lòng biết ơn, không chỉ vì phước duyên được gặp Thầy, mà còn vì tình thương yêu thật tinh khiết kết nối tôi với Thầy. Tôi thấy mình lâng lâng. Trái tim tôi nhảy múa vì quá vui mừng, vì sự hội ngộ, sự đoàn viên, được tắm mình trong sự hiện diện của một vị thầy, người hướng dẫn tâm linh cho mình, người luôn có mặt với mình về tinh thần trong cuộc hành trình tâm linh.

Hành trình tâm linh cũng là hành trình đến với người thầy của mình, và hơn thế nữa. Đó luôn là con đường dẫn đến trái tim, là sự nhất như với năng lượng thánh linh, là sự hợp nhất với toàn thể sự sống. Ngay từ năm 1975, Thầy Nhất Hạnh đã chia sẻ: “Con đường đạo phải nằm trong chính bạn; đích đến cũng nằm trong chính bạn mà không phải là ở một nơi nào khác trong không gian và thời gian. Nếu bạn chứng nghiệm được sự chuyển hóa tự thân đó ngay trong chính bạn thì bạn thực sự đã về, đã tới”.

Bước đi trên con đường của thương yêu trong một ngày đầy nắng để đến thăm Thầy, tôi gặp Sư cô Chân Không. Sư cô cũng là một người dạy đạo cho tôi. Sư cô cảm được là trái tim của tôi đã sẵn sàng. Tôi và Sư cô cùng nhớ về người thầy đang có mặt khắp nơi để đánh thức những trái tim. Như Sư cô đã viết trong đoạn cuối của quyển sách Learning True Love (Tình thương đích thực): “Thầy đang có mặt với con cũng như con đang có mặt với thầy, và thầy trò ta nâng đỡ khuyến khích nhau để cùng thành tựu trên con đường thương yêu”.

Bell Hooks: Con bắt đầu viết một quyển sách về tình thương vì con cảm thấy nước Mỹ càng lúc càng xa rời tình thương. Phong trào tranh đấu cho dân quyền, cho công bằng xã hội là một phong trào tuyệt vời vì trái tim của nó là tình thương – thương yêu tất cả mọi người. Như Thầy đã dạy, chính niềm tin rằng ai trong chúng ta cũng đều có thể làm mới chính mình nên ta luôn có thể thực tập tha thứ cho mình và cho người. Con không cần ghét bỏ một ai, bởi vì con luôn có thể làm mới, con luôn có thể hòa giải. Cái mà con cố gắng hiểu là tại sao chúng ta lại càng lúc càng xa rời ý niệm về một cộng đồng của thương yêu. Thầy nghĩ sao về việc mọi người rời bỏ tình thương, và làm sao để chúng ta có thể giúp mọi người trở lại với tình thương.

Thầy: Trong tăng thân Phật giáo của chúng tôi, cộng đồng là cốt lõi của tất cả mọi thứ. Tăng thân là một đoàn thể nơi mà sự hòa hợp, bình an và hiểu biết có mặt. Đó là cái được chế tác qua cách sống với nhau hàng ngày. Nếu tình thương có mặt trong đoàn thể, nếu chúng ta được nuôi dưỡng bởi sự hòa hợp của đoàn thể, thì chúng ta sẽ không bao giờ rời bỏ thương yêu.

Lý do làm ta đánh mất thương yêu, đó là vì ta luôn tìm kiếm ở bên ngoài, nghĩ rằng đối tượng của thương yêu hay hành động thương yêu là ở bên ngoài. Đó là lý do tại sao ta cho phép tình thương, sự hòa hợp, sự hiểu biết của ta dần phai nhạt đi. Tôi nghĩ, đó là điều căn bản. Đó là lý do tại sao ta cần phải quay lại với đoàn thể của ta và làm mới trở lại. Và khi đó thì tình thương sẽ đâm chồi trở lại. Hiểu biết và hòa hợp sẽ đâm chồi trở lại. Đó là điều thứ nhất.

Điều thứ hai là chính bản thân chúng ta cũng cần tình thương chứ không chỉ xã hội, thế giới bên ngoài mới cần tình thương. Ta không thể mong cầu tình thương đến từ bên ngoài. Ta phải tự hỏi rằng ta có khả năng thương yêu chính ta và yêu thương người khác hay không? Ta có đang đối xử với thân thể ta với đủ niềm vui, sự dịu dàng và bình an hay không? Hay ta đang tự đưa vào thân tâm mình những thứ độc hại mà ta mua từ thị trường – thị trường của giải trí, tri thức và tâm linh?

Vì vậy câu hỏi đặt ra là chúng ta có đang thực tập yêu thương chính mình hay không? Bởi vì yêu thương chính mình có nghĩa là yêu thương cộng đồng. Khi ta có khả năng thương yêu, nuôi dưỡng chính mình một cách đàng hoàng mà không phải là đầu độc chính mình, thì ta đã bảo hộ và nuôi dưỡng xã hội rồi. Bởi vì ngay giây phút ta có thể mỉm cười, nhìn chính ta với lòng từ bi thì thế giới của chúng ta đã bắt đầu thay đổi. Có thể là ta chưa làm gì cả nhưng khi ta thư giãn, bình an, khi ta có thể mỉm cười và không bạo động trong cách ta nhìn vào guồng máy xã hội thì ngay thời điểm ấy đã có một sự thay đổi trên thế giới rồi.

Vì vậy tuệ giác thứ hai có thể giúp ta là giữa cái ta và cái không phải ta thật sự không hề có sự phân biệt, chia cách. Bất cứ cái gì ta làm cho ta, ta cũng đang làm cho xã hội. Và bất cứ cái gì ta làm cho xã hội, ta cũng đang làm cho chính ta. Tuệ giác này được làm nên bởi sự thực tập vô ngã và có công năng giải phóng cho ta.

Bell Hooks: Con nghĩ một trong những quyển sách tuyệt vời nhất mà Mục sư Martin Luther King đã viết là Strength to Love (tạm dịch: Để yêu thương cần có sự dũng mãnh). Con luôn thích quyển sách này vì chữ “dũng mãnh”, nó ngược với quan niệm của Tây phương cho rằng thương yêu là chuyện dễ dàng. Thay vào đó, Martin Luther King nói rằng ta cần phải có can đảm để thương yêu, cần phải có một ý chí sâu sắc để hành động đúng đắn khi thương yêu, và tình thương yêu không đến một cách dễ dàng.

Thầy: Mục sư Martin Luther King là một người anh, người bạn, người lãnh đạo của chúng ta. Ông có khả năng nuôi dưỡng và giữ cho tình thương luôn sống động. Khi tiếp xúc với ông, ta tiếp xúc với một vị Bồ tát, bởi tình thương và sự hiểu biết của ông đủ lớn để ôm lấy tất cả. Ông đã cố gắng trao truyền tuệ giác và tình thương của ông cho cộng đồng, nhưng có thể ta chưa tiếp nhận đầy đủ. Ông đã cố gắng trao truyền cho chúng ta những gì hay nhất của mình: lòng nhân ái, tình thương và cái nhìn bất nhị (không phân biệt, kỳ thị). Nhưng vì chúng ta quá kẹt vào hình ảnh của ông như một cá nhân nên đã không đem những điều tinh túy mà ông dạy để áp dụng vào cộng đồng. Thành ra giờ đây khi ông không còn hiện diện nữa thì chúng ta bị hụt hẫng. Chúng ta phải ý thức rằng điều quan trọng nhất mà Mục sư King trao truyền cho chúng ta không phải là sự trao truyền quyền lực, địa vị mà là trao truyền pháp, hay nói cách khác đó là sự trao truyền thương yêu.

Bell Hooks: Đúng vậy. Đó không phải là sự trao truyền hình ảnh của một cá nhân. Một trong những lý do con bắt đầu viết về tình thương là vì, như Thầy nói, con cảm thấy là nền văn hóa của chúng con đang quên lãng những gì Mục sư King đã dạy. Càng lúc càng có nhiều con đường và trường học mang tên ông, nhưng cái đó chẳng quan hệ gì cả, bởi vì cái cần phải nhớ là tình thương và để yêu thương cần có sự dũng mãnh.

Cái mà chúng con phải nương vào để tiếp thêm can đảm là tinh thần thương yêu, mà không phải là hình ảnh cá nhân của Mục sư King. Điều này rất khó thực hành ở Tây phương, bởi vì văn hóa của chúng con bị ảnh hưởng nặng nề bởi hình ảnh và tính cách cá nhân. Chẳng hạn như vì con đã học hỏi rất nhiều từ Thầy trong nhiều năm, mọi người cứ hỏi là con đã gặp Thầy lần nào chưa.

Thầy: Tôi hiểu (cười).

Bell Hooks: Và con nói là có, con đã gặp Thầy, bởi vì Thầy đã cho con tình thương qua những gì Thầy dạy, qua sự thực tập chánh niệm. Con cứ nói với họ rằng, vâng, con rất mong được gặp Thầy một ngày nào đó, nhưng điều quan trọng là con đang sống và học hỏi từ những gì Thầy dạy.

Thầy: Đúng rồi. Và đó chính là tinh yếu của giáo lý tương tức. Chúng ta đã gặp nhau từ vô thỉ (cười). Bắt đầu bằng ước muốn, bắt đầu bằng những duyên lành.

Bell Hooks: Nhưng thưa Thầy, Thầy cũng từng dạy là: Giây phút mà ta được gặp vị thầy của mình cũng có thể là một giây phút mang lại sự chuyển hóa. Vì vậy người ta thắc mắc không biết học từ sách có đủ không hay cần phải gặp thầy, cần phải có một sự gặp gỡ trực tiếp?

Thầy: Trên thực tế thì người thầy đích thực nằm trong mỗi chúng ta. Một người thầy giỏi là người có thể giúp ta quay về và tiếp xúc với vị thầy đích thực bên trong ta. Bởi vì ta đã có sẵn tuệ giác ở trong ta rồi. Trong đạo Bụt, cái đó được gọi là tính Bụt (hay Phật tính). Ta không cần một người nào đó trao truyền tính Bụt cho ta, nhưng có thể ta cần một người bạn giúp ta tiếp xúc với hạt giống tỉnh thức và hiểu biết đang có mặt trong ta.

Vì vậy một vị thầy giỏi là người có thể giúp ta quay lại với người thầy bên trong. Vị thầy ấy có thể làm việc này bằng nhiều cách khác nhau mà không cần phải trực tiếp gặp mặt ta. Tôi thấy tôi có rất nhiều học trò đích thực mà chưa bao giờ gặp mặt. Rất nhiều người ở trong tu viện kín, chưa bao giờ ra ngoài. Có những người ở trong tù. Nhưng rất nhiều người đã thực tập những gì tôi dạy còn hay hơn những người gặp tôi hàng ngày. Đó là sự thật. Khi họ đọc một quyển sách của tôi, hay nghe một băng giảng, họ tiếp xúc được với tuệ giác ở bên trong, khi đó họ đã thực sự gặp tôi. Đó là một cuộc hội ngộ thực sự.

Bell Hooks: Làm thế nào để chúng ta có thể học cách yêu thương một thế giới đầy công bằng bác ái hơn là chỉ đến với nhau vì cùng một màu da, hay cùng một tiếng nói như hiện nay? Con hỏi câu này vì con biết đến Thầy nhờ lòng tôn kính của Mục sư King đối với Thầy, vì Thầy vẫn giữ được lòng từ bi đối với những người đã gây tàn hại đối với đất nước mình.

Thầy: Đây là một đề tài rất thú vị. Nó cũng là một vấn đề rất quan trọng đối với Bụt. Cách chúng ta quan niệm về công bằng tùy thuộc vào sự thực tập nhìn sâu của chúng ta. Ta có thể nghĩ công bằng nghĩa là tất cả mọi người phải bình đẳng, có những quyền giống nhau, có những cơ hội như nhau, nhưng có thể ta chưa có cơ hội nhìn vào bản chất của sự công bằng dựa trên cái thấy vô ngã. Loại công bằng mà ta thường nghĩ đến là loại công bằng dựa trên ý niệm về ngã, nhưng cũng có thể rất thú vị khi tìm hiểu loại công bằng dựa trên vô ngã.

Bell Hooks: Con nghĩ đó chính là loại công bằng mà Mục sư King đã nói đến – một sự công bằng cho mọi người dù là họ có bình đẳng với nhau hay không. Đôi khi trong cuộc sống, dường như tất cả mọi thứ đều không bình đẳng, vậy thì công bằng có nghĩa là gì khi không có sự bình đẳng? Một người cha hay mẹ có thể công bằng với đứa con, cho dù cha mẹ và con cái không thể nào bình đẳng. Con nghĩ điều này hay bị hiểu nhầm ở Tây phương, nơi mà mọi người cảm thấy rằng không thể có sự công bằng trừ khi mọi thứ đều như nhau. Đây là lý do làm con phần nào cảm thấy chúng con phải học lại cách thương yêu, bởi vì chúng con nghĩ về thương yêu phần nhiều dựa trên cái ngã.

Thầy: Có thể có công bằng mà không có sự bình đẳng hay không?

Bell Hooks: Có thể có công bằng mà không có sự bình đẳng, con tin là như vậy, nếu như có từ bi và hiểu biết. Nếu con có từ bi, thì nếu con có nhiều hơn Thầy, nghĩa là không đồng đều, con sẽ vẫn làm cho Thầy cảm thấy công bằng.

Thầy: Đúng rồi. Vậy ai đã tạo nên sự bất bình đẳng?

Bell Hooks: Con nghĩ sự bất bình đẳng là do tâm ta tạo nên. Con nghĩ đây là cái chúng ta học hỏi qua sự thực tập. Một khái niệm mà Thầy và Linh mục Daniel Berrigan nói đến trong quyển Chiếc bè không phải là bờ bên kia là chiếc cầu ảo tưởng phải bị đánh sập để chiếc cầu thật sự có thể được xây nên. Một trong những điều ta học được là sự bất bình đẳng chỉ là ảo tưởng.

Thầy: Có lý lắm (cười).

Bell Hooks: Trước khi đến đây con đã vật lộn với câu hỏi về cơn giận của mình đối với người bạn trai cũ. Con đã nhận Bồ tát giới, và vì vậy con luôn cảm thấy buồn chính mình mỗi khi con giận. Con đã đi đến chỗ tuyệt vọng, bởi vì ôm ấp cơn giận của mình đối với người đàn ông ấy thật quá khó đối với con. Vì vậy trong bài pháp thoại, Thầy có nói về sự thực tập nhận diện, ôm ấp cơn giận, rồi buông nó đi, đã rất quan trọng đối với con tại thời điểm này.

Thầy: Chúng ta là con người. Vì vậy giận dữ không sao cả, đó không phải là vấn đề. Nó chỉ trở thành vấn đề khi ta không thực tập với nó. Giận là một cái gì rất con người. Và học cách để cười với cơn giận, làm hòa với cơn giận là điều rất hay. Ý nghĩa của sự học hỏi và thực tập là nằm ở chỗ đó. Bằng cách nhìn sâu vào cơn giận, ta có thể chuyển hóa nó thành một loại năng lượng mà ta cần, năng lượng của hiểu biết và lòng xót thương. Ta có thể chuyển hóa năng lượng tiêu cực thành năng lượng tích cực.

Một bông hoa, dù rất đẹp, một ngày nào đó sẽ trở thành rác, nhưng nếu ta biết cách chuyển hóa rác thành hoa thì ta không còn cần phải lo lắng gì nữa. Ta không cần phải lo lắng về cơn giận của ta bởi vì ta biết cách đối trị với nó – nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa nó. Vì vậy đó là cái mà ta có thể làm được.

Bell Hooks: Con nghĩ đây là cái mà mọi người hiểu nhầm về câu nói của Mục sư King: “Hãy thương yêu kẻ thù của mình”. Họ nghĩ câu nói này thật vô lý. Nhưng điều mà Mục sư King muốn nói là những người Mỹ da đen chúng con cần buông bỏ sự giận dữ của mình, bởi vì khi giữ lấy cái giận, cũng có nghĩa là làm cho mình đi xuống. Chính mình áp bức mình bởi vì mình bám lấy cơn giận. Các học trò của con bảo con rằng: “Chúng em không muốn thương yêu! Chúng em mệt mỏi vì thương! “. Và con nói rằng nếu các em mệt mỏi vì thương yêu có nghĩa là các em chưa thật sự thương, bởi vì khi thương thật sự chúng ta sẽ có thêm sức mạnh. Như Thầy đã nói với chúng con ngày hôm qua, chúng ta sẽ mạnh mẽ hơn khi hành động với tình thương. Con nghĩ đây là điều mà người Mỹ da đen thấy tổn thương, đó là cảm thấy mình không thể thương yêu kẻ thù của mình. Người ta đã quên đi truyền thống tuyệt vời mà người Mỹ gốc Phi đã có, đó là sự thực tập tha thứ và từ bi. Nếu chúng con quên lãng truyền thống đó thì chúng con sẽ khổ.

Thầy: Khi ta có cơn giận trong lòng, ta đau khổ. Khi ta có sự kỳ thị trong lòng, ta đau khổ. Khi ta có mặc cảm hơn người hoặc thua người, ta cũng khổ. Nên khi ta có khả năng chuyển hóa những điều tiêu cực ấy trong ta, ta sẽ có tự do, và hạnh phúc có mặt.

Nếu những người làm ta tổn thương có những loại năng lượng ấy, ví dụ như giận dữ hoặc tuyệt vọng, thì họ khổ đau. Khi ta thấy ai đó khổ, có thể ta sẽ có ước muốn giúp họ bớt khổ. Đó cũng là tình thương, và tình thương không mang bất kỳ màu sắc nào. Người khác có thể kỳ thị ta, nhưng cái quan trọng hơn là ta có kỳ thị họ hay không. Nếu ta không có thì ta là một người hạnh phúc hơn, và khi là một người hạnh phúc hơn, ta ở trong một vị trí có thể giúp đỡ người khác. Và giận dữ không phải là cách giúp đỡ.

Bell Hooks: Và một điều cuối cùng, đó là sự sợ hãi. Bởi vì con nghĩ rất nhiều người da trắng tiếp xúc với người da đen hay người Á châu không phải bằng sự ghét bỏ hay giận dữ, mà bằng sự sợ hãi. Tình thương có thể làm được điều gì cho cái sợ đó?

Thầy: Sợ hãi sinh ra từ vô minh. Chúng ta nghĩ rằng người kia đang tìm cách lấy đi cái gì đó thuộc về mình. Nhưng nếu ta nhìn kỹ, ta sẽ thấy ao ước của người kia cũng giống như ao ước của mình, đó là có bình an, có cơ hội để được sống. Vì vậy nếu ta nhận ra rằng người kia cũng là con người như mình, cũng có một con đường tâm linh y hệt như mình, thì khi đó hai người có thể trở thành những người bạn đạo tốt của nhau. Cách này có thể áp dụng được cho cả hai phía.

Câu trả lời duy nhất cho vấn đề sợ hãi là phải có thêm hiểu biết. Chúng ta sẽ không thể nào hiểu được nếu chúng ta không cố gắng nhìn sâu để thấy cái gì đang có mặt trong tâm ta, và trong tâm của người kia. Bụt luôn nhắc ta rằng phiền não của ta, bao gồm sự sợ hãi và sự mong cầu, đều sinh khởi từ vô minh. Đó là lý do vì sao để đánh tan sợ hãi ta phải lấy đi tri giác sai lầm.

Bell Hooks: Nếu người ta nhận thức đúng đắn mà vẫn hành xử bất công thì thế nào, thưa Thầy?

Thầy: Đó là do họ chưa áp dụng được cái thấy của họ vào cuộc sống hàng ngày. Họ cần có một tăng thân để nhắc nhở. Đôi khi ánh sáng của tuệ giác lóe lên trong ta, nhưng nó không đủ mạnh để duy trì lâu dài. Vì vậy trong sự thực tập đạo Bụt, samadhi (định) là khả năng duy trì tuệ giác mà ta có được trong mỗi giây mỗi phút, để cho mỗi lời nói, mỗi hành động đều chứa đựng bản chất của tuệ giác ấy. Đó là vấn đề rèn luyện. Và ta có thể rèn luyện mình tốt hơn nếu ta được sự bảo bọc của tăng thân, gồm những người cũng thực tập giống như ta.

Bell Hooks: Con nghĩ cộng đồng là nơi tốt nhất để ta có thể thành tựu được sự thực tập thương yêu. Đây là điều mà con phải thực tập, bởi vì truyền thống thiên về tri thức của Tây phương rất mang tính cá nhân. Nó không có tính cộng đồng. Nói về tri thức, người ta hay nghĩ đến một người cô đơn và tách rời khỏi thế giới. Vì vậy con phải thực tập sẵn sàng rời khỏi nơi nghiên cứu của mình để ra với cộng đồng, làm việc trong cộng đồng, và để cho cộng đồng làm cho mình thay đổi.

Thầy: Đúng rồi, và khi đó ta học cách vận hành như một đoàn thể mà không phải như những cá nhân. Ở Làng Mai, đó chính là cái mà chúng tôi đang cố gắng thực hành. Chúng tôi là những huynh đệ đang sống cùng nhau. Chúng tôi thực tập vận hành như những tế bào trong cùng một cơ thể.

Bell Hooks: Con nghĩ đây chính là tình thương yêu mà chúng ta tìm kiếm trong thiên niên kỷ mới, một tình thương được trải nghiệm trong cộng đồng, vượt ra ngoài cái ngã thường tình.

Thầy: Vì vậy, cô hãy sống với sự thật ấy và phổ biến sự thật ấy trong những gì cô viết hay nói. Như vậy sẽ rất có ích trong việc duy trì cái thấy mà cô đã có.

Bell Hooks: Cảm ơn Thầy luôn là một tấm gương cho chúng con về tấm lòng rộng mở.

Nguồn: https://www.lionsroar.com/bell-hooks-and-thich-nhat-hanh-on-building-a-community-of-love/

Tôi sẽ nói gì với Osama bin Laden

 

Anne A. Simpkinson

Bài phỏng vấn này đã được đăng trong cuốn Calming the Fearful Mind: A Zen Response to Terrorism (tạm dịch: Lắng dịu tâm sợ hãi trong ta: Đối diện với chủ nghĩa khủng bố bằng thiền tập), của Nhà xuất bản Parallax Press. Thiền sư Thích Nhất Hạnh chia sẻ cái thấy của mình về việc nước Mỹ nên phản ứng như thế nào trước các vụ tấn công khủng bố.

Nếu Thầy có thể nói chuyện với Osama bin Laden, Thầy sẽ nói gì với ông ấy? Và nếu Thầy cũng đồng thời nói chuyện với người dân Mỹ thì Thầy nghĩ tại thời điểm này họ nên hành động như thế nào với tư cách một cá nhân và với tư cách một quốc gia?

Nếu tôi có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với Osama bin Laden, điều đầu tiên mà tôi sẽ làm là lắng nghe ông ấy. Tôi sẽ cố gắng tìm hiểu xem tại sao ông ấy lại hành xử một cách tàn bạo như vậy. Tôi sẽ cố gắng tìm hiểu tất cả những khổ đau đã đưa ông ta đến con đường bạo động. Có thể lắng nghe như vậy không phải là dễ, nhưng tôi sẽ phải giữ sự bình tĩnh và sáng suốt. Tôi sẽ cần rất nhiều người bạn ở cạnh bên, những người có sự vững vàng trong thực tập lắng nghe sâu, nghe mà không phản ứng, không phê bình và lên án. Bằng cách này, ta sẽ tạo ra được một bầu không khí nâng đỡ, yểm trợ cho ông ấy và cho những người có liên quan để họ có thể chia sẻ tận tường với niềm tin rằng họ đang được lắng nghe thật sự.

Sau một hồi lắng nghe, có thể chúng ta cần dừng lại nghỉ để cho những gì đã nghe thấm vào tàng thức. Cho đến khi nào chúng ta cảm thấy bình tĩnh và sáng suốt thì khi ấy chúng ta mới trả lời. Ta sẽ trả lời từng điểm một, nhẹ nhàng nhưng cương quyết, để giúp họ nhận ra được những hiểu lầm của chính họ, từ đó họ tự chấm dứt những hành động bạo tàn.

Với người dân Mỹ, tôi sẽ đề nghị rằng chúng ta nên làm mọi cách có thể để lấy lại sự bình tĩnh và sáng suốt trước khi đối phó với tình huống hiện tại. Nếu ta phản ứng quá nhanh trước khi hiểu rõ về những gì đã xảy ra thì có thể sẽ rất nguy hiểm. Điều đầu tiên ta có thể làm là khiến cho ngọn lửa giận dữ và hận thù đang cháy bừng trong ta nguội lại bớt. Như tôi đã chia sẻ, ta cần nhìn sâu vào cách ta nuôi dưỡng hận thù và bạo động trong ta, để từ đó cắt đứt liền nguồn thức ăn đó, điều này vô cùng quan trọng.

Khi chúng ta phản ứng dựa trên sợ hãi và hận thù, nghĩa là ta chưa có được cái hiểu sâu sắc về hoàn cảnh. Hành động của chúng ta khi ấy chỉ là một sự phản ứng nhanh và cạn cợt, không đem lại lợi ích và sự hàn gắn thật sự. Nhưng nếu chúng ta biết chờ đợi và cho mình đủ thời gian để lắng dịu cơn giận, nhìn sâu vào tình huống và thật sự có thiện chí lắng nghe để hiểu tận cùng gốc rễ của những khổ đau đã đưa đến hành động đầy bạo lực như thế, thì khi ấy chúng ta mới có đủ tuệ giác để đáp lại theo những cách có thể đem đến sự trị liệu và hòa giải cho tất cả những ai có liên quan.

Ở Nam Phi, Ủy ban Sự thật và Hòa giải (Truth and Reconciliation Commission) đã có những cố gắng tương tự. Tất cả các bên liên quan đến bạo động và bất công đã đồng ý lắng nghe nhau trong một môi trường có sự lắng dịu và yểm trợ. Họ cùng nhau nhìn sâu vào gốc rễ của các hành động bạo lực, từ đó tìm ra và thỏa thuận với nhau các cách thức xử lý tình huống. Sự hiện diện của những vị lãnh đạo tâm linh uy tín rất có ích trong việc yểm trợ và duy trì một môi trường như thế. Chúng ta có thể học hỏi ở mô hình này ngay bây giờ để giải quyết những mâu thuẫn đang nảy sinh mà không cần phải chờ đợi nhiều năm mới thực hiện được.

Cá nhân Thầy đã từng chứng kiến sự tàn phá của chiến tranh ở Việt Nam và đã góp phần để chấm dứt sự tang thương ấy. Thầy có thể nói gì với những người đang đau khổ và giận dữ vì đã bị mất người thân trong cuộc khủng bố?

Tôi đã từng bị mất những người con tâm linh của mình trong chiến tranh, khi họ dấn thân vào vùng tranh chấp để cứu giúp những nạn nhân dưới bom đạn. Một số đã chết trong chiến tranh, một số khác bị ám sát vì bị hiểu lầm họ là người của phía bên kia. Khi tôi nhìn xác bốn người con trai tâm linh của mình bị giết hại một cách tàn bạo như vậy, tôi đã đau khổ vô cùng.

Tôi hiểu được nỗi khổ đau của những người bị mất người thân trong thảm kịch này. Trước sự mất mát quá to lớn và tang thương, tôi phải giữ sự bình tĩnh để lấy lại sự sáng suốt, tâm hiểu biết và lòng từ bi của mình. Bằng sự thực tập nhìn sâu, tôi nhận ra rằng nếu tôi phản ứng lại sự tàn bạo bằng sự tàn bạo thì bất công và đau khổ chỉ leo thang mà thôi.

Khi tôi nghe tin về trận ném bom ở Bến Tre và các phi công trực tiếp ném bom đã nói với phóng viên rằng họ phải tiêu diệt cả làng để cứu nó thì tôi thật sự bị sốc, tôi thật sự rất giận và đau lòng. Tôi đã thực tập thiền hành với những bước chân nhẹ nhàng trên mặt đất để tìm lại sự định tĩnh và bình an trong tâm.

Mặc dù giữ cho tâm cởi mở vào thời điểm đó là điều thực sự khó khăn, nhưng điều thiết yếu là ta không nên phản ứng lại dưới bất cứ hình thức nào cho đến khi ta có đủ sự bình tĩnh và sáng suốt để thấy được cốt lõi của vấn đề. Chúng ta biết nếu phản ứng lại bằng bạo động và hận thù thì ta chỉ làm tổn hại thêm cho chính ta và những người xung quanh. Ta phải thực tập nhìn sâu vào khổ đau của những người đã hành xử tàn bạo với ta để thực sự hiểu họ và hiểu chính ta hơn. Với cái hiểu đó, ta mới có thể chế tác năng lượng từ bi để làm vơi nhẹ khổ đau của chính ta và của những người ở phía bên kia.

Ta phải hành động như thế nào mới gọi là “hành động đúng đắn” để đáp trả lại những cuộc tấn công khủng bố? Ta có nên tìm cách lấy lại công bằng thông qua hành động quân sự hay không? Hay qua các tòa án quốc tế? Nếu những biện pháp quân sự có thể ngăn chặn không để cho các thường dân vô tội bị giết hại thêm nữa thì việc sử dụng các biện pháp này có chính đáng không?

Tất cả những bạo động dù dưới hình thức nào đều là bất công. Ngọn lửa của hận thù và bạo động không thể nào bị dập tắt bằng cách tưới thêm hận thù và bạo động. Cách hóa giải duy nhất đối với bạo động là từ bi. Và từ bi được làm bằng những yếu tố nào? Nó được làm bằng sự hiểu biết. Khi không có hiểu biết thì làm sao ta có từ bi, làm sao ta có thể làm vơi nhẹ nỗi khổ đau quá lớn kia? Vì vậy hiểu biết chính là nền tảng thật sự để xây dựng lòng từ bi.

Làm thế nào ta có được hiểu biết và tuệ giác để dẫn dắt ta đi qua những khoảnh khắc đầy thử thách như hiện tại nước Mỹ đang phải đối diện? Để hiểu, chúng ta phải tìm ra các cách thức truyền thông sao cho ta có thể lắng nghe những người đang kêu gào một cách tuyệt vọng – bởi vì hành động tàn bạo như thế chính là một tiếng kêu tuyệt vọng để gây sự chú ý và mong ta giúp đỡ.

Làm thế nào ta có thể lắng nghe một cách bình tĩnh và sáng suốt, để không đánh mất ngay lập tức cơ hội làm cho cái hiểu trong ta lớn lên? Với tư cách của một quốc gia, chúng ta cần phải nhìn vào vấn đề này: Làm sao để tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc lắng nghe sâu, để cho cách phản ứng của ta xuất phát từ tâm bình tĩnh và sáng tỏ. Sự sáng tỏ là một món quà rất quý mà ta có thể hiến tặng vào lúc này.

Có những người chỉ muốn duy nhất một điều: Đó là trả thù. Trong giáo lý đạo Bụt, Bụt có nói là nếu dùng hận thù để đáp lại hận thù thì hận thù chỉ càng lúc càng tăng thêm. Nhưng nếu ta dùng tâm từ bi để ôm ấp những người muốn hại ta thì ngòi nổ của quả bom trong tâm ta và trong tâm những người ấy sẽ được tháo gỡ.

Vậy làm sao ta có thể có được những giọt nước từ bi tưới lên ngọn lửa của hận thù? Bạn biết không, người ta không bán từ bi trong siêu thị. Nếu họ bán từ bi thì ta chỉ việc mua về và có thể giải quyết vấn đề bạo động và hận thù trên thế giới một cách dễ dàng. Thế nhưng từ bi chỉ có thể được chế tác ra trong tâm qua sự thực tập của chính ta mà thôi.

Nước Mỹ đang bốc cháy bởi năng lượng hận thù. Vì vậy chúng ta phải nói với các bạn Cơ Đốc giáo rằng: Các bạn là những người con của Chúa. Các bạn cần phải quay về với chính mình và nhìn thật sâu để thấy tại sao bạo động lại xảy ra? Tại sao lại có quá nhiều thù hận như vậy? Cái gì nằm sau tất cả những bạo động này? Tại sao họ lại thù hận đến mức có thể hy sinh cả mạng sống để gây khổ đau cho người khác như vậy? Tại sao những người trẻ đầy sức sống lại sẵn sàng đánh đổi tính mạng của mình để gây ra những hành động bạo tàn như thế? Đó là những cái mà ta phải tìm hiểu.

Ta phải tìm cách để ngăn chặn bạo động, dĩ nhiên là như thế. Nếu cần thì phải bỏ tù những người chịu trách nhiệm trong việc gây ra bạo động. Nhưng điều quan trọng là phải nhìn sâu và hỏi: “Tại sao chuyện ấy lại xảy ra? Ta phải chịu trách nhiệm như thế nào trong việc ấy?” Có thể vì họ đã hiểu nhầm chúng ta. Nhưng sự hiểu nhầm đó là cái gì mà làm cho họ thù hận chúng ta đến nhường ấy?

Cách của Bụt là nhìn sâu để thấy được gốc rễ của khổ đau, gốc rễ của bạo động. Nếu ta có bạo động trong chính mình, bất cứ một hành động nào cũng sẽ làm cho sự bạo động đó nổ ra. Năng lượng của hận thù và bạo động này có thể rất mãnh liệt và khi nó có mặt trong một người nào đó thì ta sẽ thấy rất tội cho họ. Khi thấy tội cho họ tức là một giọt nước từ bi đã ứa ra trong tim ta, và ta sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn rất nhiều, bình an hơn rất nhiều trong tự thân. Nước cam lộ của từ bi trong ta đã được chế tác.

Nếu bạn đến một tu viện hay một trung tâm thực tập chính là để học cách làm như vậy, để bất cứ khi nào bạn đau khổ và thấy cơn giận bùng lên, bạn sẽ biết cách nhìn sâu để giọt nước từ bi trong tim bạn ứa ra giúp sự nóng bức của cơn giận tan đi. Chỉ có giọt nước từ bi mới có thể dập tắt lửa hận thù.

Ta phải nhìn thật sâu và thật trung thực vào hoàn cảnh hiện tại. Nếu có thể nhìn thấy được nguồn gốc của khổ đau trong ta và trong người kia, ta có thể bắt đầu tháo gỡ được cái vòng lẩn quẩn của hận thù và bạo động. Khi ngôi nhà của bạn phát hỏa, việc đầu tiên cần làm là chữa cháy trước khi tìm ra nguyên nhân phát hỏa. Tương tự như thế, nếu ta có thể làm dịu đi cơn giận và lửa hận thù trong tâm ta trước thì ta sẽ có cơ hội để tìm hiểu cặn kẽ tình trạng với sự sáng suốt và tuệ giác, nhờ đó ta có thể xác định tất cả những căn nguyên xa gần gây ra bạo động và hận thù mà ta và thế giới quanh ta đang phải trải qua.

“Hành động đúng đắn” là hành động có thể giúp dập tắt ngọn lửa của hận thù và bạo động.

Thầy có tin vào sự tồn tại của ác quỷ hay không? Và, nếu thế thì Thầy có coi những kẻ khủng bố là những tên ác quỷ không?

Ác quỷ tồn tại. Và Thượng đế cũng tồn tại. Ác quỷ và Thượng đế là hai mặt của chúng ta. Thượng đế là sự hiểu biết lớn, là tình thương lớn trong mỗi chúng ta. Phật tử chúng tôi gọi đó là Bụt, là năng lượng tỉnh thức có thể nhìn xuyên thấu bức màn vô minh.

Ác quỷ là gì? Đó là khi gương mặt của Thượng đế, của Bụt trong ta bị ẩn đi. Tùy thuộc vào việc ta chọn mặt ác quỷ là quan trọng, hay ta chọn để cho mặt Thượng đế và Bụt sáng lên. Dù cho gương mặt của vô minh, của cái ác biểu hiện rất mạnh mẽ cũng không có nghĩa là Thượng đế không có đó.

Kinh Thánh có nói rất rõ ràng rằng “Hãy tha thứ cho họ vì họ không biết họ đang làm gì”. Điều này có nghĩa là một hành động ác tức là một hành động của sự vô minh và hiểu lầm. Có thể có rất nhiều tri giác sai lầm ở phía sau một hành động tàn ác. Chúng ta phải thấy rằng vô minh và thiếu hiểu biết chính là gốc rễ của cái ác. Trong con người chúng ta, ai cũng có những yếu tố của hiểu biết lớn, từ bi lớn đồng thời có yếu tố của vô minh, thù hận và bạo động.

Trong quyển sách Giận vừa được ấn hành của Thầy, Thầy đã cho thí dụ về “lắng nghe với tâm từ bi” như là một công cụ để hòa giải trong gia đình. Có thể sử dụng công cụ ấy trên bình diện quốc gia được không? Nếu có thì ta phải sử dụng nó như thế nào?

Mùa hè vừa qua có một nhóm người Palestine và Israel đến Làng Mai, trung tâm thiền tập mà tôi đang sống ở miền Nam nước Pháp, để học hỏi và thực tập nghệ thuật lắng nghe sâu và sử dụng ái ngữ. (Mỗi năm vào mùa hè có khoảng 1.600 người đến Làng Mai từ hơn mười nước khác nhau để học cách lắng nghe và cách đem bình an, hiểu biết vào đời sống hàng ngày). Nhóm người Palestine và Israel tham gia vào các sinh hoạt hàng ngày như thiền hành, thiền tọa, ăn cơm im lặng. Họ đồng thời cũng được huấn luyện cách lắng nghe và nói năng với nhau như thế nào để có thêm hiểu biết và bình an giữa các cá nhân và giữa hai quốc gia với nhau.

Dưới sự hướng dẫn của các thầy, các sư cô, họ đã ngồi lại lắng nghe nhau. Khi một người nói thì không ai được ngắt lời. Ai cũng thực tập trở về với hơi thở chánh niệm và lắng nghe để người nói cảm thấy mình thực sự được nghe và được hiểu.

Khi nói, họ cố gắng không dùng những từ ngữ có tính cách trách móc, hận thù hay lên án. Họ nói trong một không khí đầy tin cậy và tôn trọng. Trong những buổi trao đổi đó, những người Palestine và Israel tham dự rất cảm động vì họ nhận ra rằng cả hai phía đều có nhiều sợ hãi và khổ đau. Họ rất quý sự thực tập lắng nghe sâu và lên kế hoạch chia sẻ những gì đã được học với những người khác sau khi trở về nước.

Chúng tôi đã đề nghị người Palestine và người Israel nói về những khổ đau, sợ hãi và tuyệt vọng của họ trong những diễn đàn để toàn thế giới được nghe. Tất cả chúng ta ai cũng có thể lắng nghe mà không phán xét, không lên án để có thể hiểu được trải nghiệm của cả hai phía. Như thế ta mới có thể thiết lập nền tảng cần thiết cho những cuộc đàm phán về hòa bình.

Hoàn cảnh tương tự đang xảy ra giữa người dân Mỹ và người dân của các nước Hồi giáo và Ả rập. Có quá nhiều hiểu lầm và thiếu truyền thông, khiến cho chúng ta khó có thể giải quyết những xung đột một cách hòa bình.

Từ bi đóng một vai trò quan trọng trong sự thực tập đạo Bụt. Nhưng ngay thời điểm hiện tại, từ bi đối với bọn khủng bố có vẻ như không tưởng. Có thực tế không khi nghĩ là người ta có thể phát khởi lòng từ bi thật sự trong hoàn cảnh hiện tại?

Không có hiểu biết thì từ bi là điều không tưởng. Khi bạn hiểu được khổ đau của người khác, bạn không cần phải ép mình có từ bi, cánh cửa của trái tim bạn sẽ tự động mở ra. Tất cả những kẻ không tặc đều còn rất trẻ, thế nhưng họ đã hy sinh mạng sống vì cái gì? Tại sao họ làm như vậy? Những khổ đau sâu sắc nhất của họ là cái gì? Ta cần phải lắng nghe sâu và nhìn sâu mới có thể hiểu được điều đó.

Phát khởi tâm từ bi trong hoàn cảnh này cũng đồng nghĩa với sự tha thứ rất vĩ đại. Đầu tiên, chúng ta có thể ôm ấp khổ đau đang có mặt ở trong lòng nước Mỹ và bên ngoài nước Mỹ. Chúng ta cần chăm sóc những nạn nhân ở trong nước, đồng thời gửi lòng từ bi đến cho những kẻ không tặc cùng với gia đình của họ, bởi vì họ cũng là nạn nhân của vô minh và thù hận. Bằng cách đó, ta có thể thực sự thực tập không kỳ thị. Ta không cần phải chờ nhiều năm hay mấy chục năm để thực hiện hòa giải và tha thứ. Ta cần phải thức tỉnh ngay bây giờ để không cho phép hận thù hoàn toàn chiếm ngự trái tim ta.

Thầy có tin là mọi việc xảy ra đều có nguyên nhân của nó hay không? Nếu có thì nguyên nhân của các cuộc tấn công vào nước Mỹ là gì?

Lý do sâu sắc đưa tới tình trạng hiện tại chính là cách chúng ta tiêu thụ. Công dân Mỹ tiêu thụ 60% nguồn năng lượng trên thế giới, trong khi dân số chỉ chiếm 6%. Trẻ em Mỹ chứng kiến 100.000 cảnh bạo động trên ti-vi khi đến tuổi hoàn thành bậc tiểu học. Một lý do khác đưa đến hoàn cảnh hiện tại của chúng ta là do chính sách ngoại giao và không có sự lắng nghe sâu trong các mối liên hệ đối ngoại. Chúng ta không sử dụng phương pháp lắng nghe sâu để hiểu được khổ đau và nhu cầu thật sự của người dân ở các nước khác.

Thầy nghĩ biện pháp tâm linh nào là hữu hiệu nhất để đối diện với thảm họa này?

Chúng ta có thể bắt đầu ngay lập tức sự thực tập làm lắng dịu cơn giận, nhìn sâu vào gốc rễ của hận thù và bạo động trong xã hội chúng ta và trên thế giới, lắng nghe với lòng từ bi để có thể nghe và hiểu những gì mà trước đây ta chưa có khả năng nghe và hiểu. Khi giọt nước từ bi bắt đầu ứa ra trong tâm, ta có thể bắt đầu đề đạt những biện pháp cụ thể để thay đổi tình trạng. Một khi ta lắng nghe và nhìn sâu, ta bắt đầu làm lớn lên năng lượng của tình huynh đệ giữa các quốc gia – đây là di sản tâm linh sâu sắc nhất mà ta thừa hưởng từ tất cả các tôn giáo và các truyền thống văn hóa. Bằng cách ấy hòa bình và hiểu biết trên thế giới sẽ ngày càng tăng trưởng.

Làm cho năng lượng từ bi trong trái tim ta lớn lên là phương pháp tâm linh duy nhất có thể giúp ta đáp lại thù hận và bạo động một cách hiệu quả. Năng lượng từ bi ấy có được là nhờ ta biết làm lắng dịu cơn giận trong ta, nhìn sâu vào gốc rễ của bạo động, lắng nghe sâu và hiểu được khổ đau của tất cả các bên có liên quan đến những hành động hận thù và bạo lực.

Nguồn: https://www.spiritualityandpractice.com/practices/literacy-world-features/view/24533/ what-i-would-say-to-osama-bin-laden

Bụt thương như vậy đó

 

Melvin McLeod

(Đăng trên tạp chí Lion’s Roar – ngày 1.3.2006)

Là chủ bút của tạp chí Lion’s Roar (trước đây là Shambhala Sun), một trong những phần việc thú vị nhất của tôi là được vinh hạnh pháp đàm một cách nghiêm túc, thậm chí thân mật, với các bậc thầy lớn. Là một người học Phật trước khi là một phóng viên, những câu hỏi tôi đưa ra thường có ý nghĩa sâu sắc với tôi với tư cách một con người và một hành giả. Kết quả của những cuộc tham vấn này là một bản đúc kết những lời dạy mà tôi đã tiếp nhận, hơn là một bài phỏng vấn theo tiêu chuẩn thông thường. Đây là một vinh dự và một đặc ân cho tôi, mong rằng bạn đọc cũng được lợi lạc từ đó.

Tôi gặp Thiền sư Thích Nhất Hạnh tại tu viện Lộc Uyển gần San Diego, một nơi hòa lẫn các yếu tố Đông và Tây, hiện đại và tao nhã, chánh niệm và vui tươi. Tu viện nằm giữa một thung lũng nhỏ, khéo tách rời khỏi khu vực ngoại ô chỉ cách đó một dặm. Những dãy nhà trệt và thấp gợi lên cảm giác tạm thời, dã chiến của một trại binh (đây từng là khu trại của hội khỏa thân và trung tâm huấn luyện cảnh sát), nhưng ngôi thiền đường thanh lịch mới xây lên thì lại hết sức đồ sộ uy nghiêm. Bên ngoài, các sư chú trẻ người Mỹ gốc Việt chơi bóng rổ trong khi các sư cô lớn tuổi, đầu đội nón lá, đang quét sân, các thiền sinh thì đang chăm chỉ pháp đàm. Thức ăn sáng được bày ra gồm các món chay Việt Nam bên cạnh Corn Flakes (cốm bắp ăn với sữa) và bơ đậu phụng. Khi có tiếng chuông đồng hồ, mọi hoạt động đều dừng lại để mọi người thực tập quay về với hơi thở chánh niệm.

Tôi được hầu chuyện với Thiền sư Thích Nhất Hạnh độ hơn một giờ, sau đó Thầy đưa cho tôi các thư pháp mà Thầy đã viết để làm quà cho tạp chí Shambhala Sun. Mặc dầu Thầy thường được biết đến nhiều nhất qua các nhận định sâu sắc trong lĩnh vực chính trị và các công tác xây dựng cộng đồng, nhưng tôi nhận ra nơi Thầy còn nhiều điều hay hơn thế. Tôi đã gặp một vị thầy đúng nghĩa trên nhiều phương diện, thâm sâu và chứng đạt, chú trọng cả tu tập lẫn xây dựng tăng thân, thấm nhuần vừa giáo pháp truyền thống vừa biết rõ hướng đi của thế giới ngày nay. Lời nói của Thầy đi thẳng vào trái tim tôi. Nếu có cơ duyên để nghe Thầy giảng, xin bạn đừng bỏ lỡ. Chữ nghĩa in trong sách báo không sao sánh được, không diễn tả hết được con người thật của Thầy.

Melvin McLeod: Tôi nhận thấy quanh tu viện này có nhiều câu thiền ngữ nhắc mọi người thực tập chánh niệm, trở về với hơi thở, với thân, và nhận ra tự tánh của mình. Trong giờ ăn, mọi người đều dừng lại khi nghe tiếng chuông đồng hồ trong phòng ăn để thực tập hơi thở chánh niệm. Tại sao việc trở về với hơi thở, đưa tâm về với thân, và có mặt trong giờ phút hiện tại lại quan trọng như vậy?

Thầy: Thiền tập nghĩa là quay về với chính mình. Nhờ vậy mà mình biết chăm sóc những gì đang xảy ra bên trong mình, cũng như những gì đang xảy ra chung quanh mình. Các bài thiền tập đều nhằm đưa mình trở về với tự thân, về với quê hương đích thực của mình. Nếu không biết khôi phục sự bình an nơi tự thân, không giúp thế giới khôi phục sự bình an, chúng ta sẽ không đi xa được trong sự tu tập.

Melvin McLeod: Cái ngã chân thật – cái ngã mà mình quay về – và cái mà chúng ta thường cho đó là mình khác nhau như thế nào?

Thầy: Cái ngã chân thật của mình là vô ngã, hay nói cách khác: Cái mà mình gọi là ngã được làm bằng những yếu tố không phải là ngã. Không có sự tách biệt giữa ta và người, vạn vật đều liên đới, gắn kết với nhau. Một khi nhận thức được điều đó, ta sẽ không còn kẹt vào ý niệm ta là một thực thể riêng biệt.

Melvin McLeod: Chuyện gì xảy ra khi ta nhận ra rằng tự tánh của ta là vô ngã, là không có cái ta riêng biệt?

Thầy: Nhận thức này đưa tới tuệ giác, đưa tới một cái thấy thật thâm sâu. Ta biết rằng hạnh phúc, khổ đau của ta tùy thuộc vào hạnh phúc, khổ đau của người khác. Tuệ giác này giúp ta không làm những việc đưa tới khổ đau cho mình và cho người. Nếu ta tìm cách giúp cho cha mình bớt khổ thì ta cũng được bớt khổ. Nếu ta có thể giúp cho con mình bớt khổ thì ta cũng sẽ bớt khổ. Nhờ nhận thức được rằng không có một cái ta riêng biệt, ta nhận ra rằng hạnh phúc và khổ đau không phải là vấn đề của cá nhân. Ta nhận ra tính tương quan, tương duyên (trong đạo Bụt gọi là tương tức), và ta biết rằng muốn bảo vệ chính mình thì ta phải bảo vệ cả những người xung quanh mình.

Nhận ra được tự tính vô ngã và tương tức, đó là mục đích của sự tu tập. Đây không phải là một ý niệm hay một điều ta chỉ hiểu trên bề mặt ý thức. Chúng ta cần áp dụng tuệ giác này vào đời sống hằng ngày. Vì vậy ta cần phải có định để duy trì tuệ giác vô ngã để tuệ giác ấy có thể soi sáng cho ta từng giây từng phút trong đời sống hằng ngày. Bây giờ các nhà khoa học đã thấy được tính vô ngã nơi não bộ, nơi thân thể, và nơi mọi sự vật. Nhưng khám phá ấy không giúp được gì cho họ, bởi vì họ không áp dụng được tuệ giác ấy vào đời sống hằng ngày của mình. Vì vậy họ vẫn khổ. Cũng vì lý do đó mà trong đạo Bụt chúng ta nói đến định. Nếu ta có tuệ giác về vô ngã, nếu ta có tuệ giác về vô thường, ta phải biến tuệ giác đó thành định – một loại năng lượng giúp ta duy trì được tuệ giác đó suốt cả ngày. Những gì mình nói, mình nghĩ, mình làm sẽ được soi sáng bởi tuệ giác đó, và mình sẽ tránh gây ra lầm lỗi, khổ đau.

Melvin McLeod: Như vậy thực tập chánh niệm là để duy trì tuệ giác vô thường và tương tức trong tất cả mọi thời.

Thầy: Đúng vậy.

Melvin McLeod: Con người chúng ta thường nói rằng tình thương là trên hết. Chúng ta muốn thương; chúng ta muốn được thương. Chúng ta biết tình thương là thuốc chữa lành mọi căn bệnh. Nhưng làm sao để tìm thấy tình thương trong trái tim mình? Thường thì điều này không hề dễ dàng.

Thầy: Thương là khả năng chăm sóc, bảo vệ và nuôi dưỡng. Nếu ta không phát khởi được năng lượng đó cho chính ta – nếu ta không chăm sóc được mình, không nuôi dưỡng được mình, không bảo hộ được mình – thì rất khó mà chăm sóc cho kẻ khác. Trong giáo lý đạo Bụt, thương mình chính là nền tảng để thương người. Thương yêu là một sự thực tập. Thương yêu thật sự là một sự thực tập.

Melvin McLeod: Tại sao mình lại không thương được mình?

Thầy: Có thể là do chúng ta có thói quen đi tìm hạnh phúc ở một nơi nào khác, mà không phải là trong hiện tại, bây giờ và ở đây. Chúng ta không có khả năng nhận ra rằng hạnh phúc là điều có thể có được ngay bây giờ và ở đây, rằng chúng ta đã có đủ các điều kiện để hạnh phúc ngay trong giờ phút này. Chúng ta quen nghĩ rằng hạnh phúc không thể có được ngay trong giờ phút này, rằng mình phải đi về tương lai để có thêm những điều kiện hạnh phúc. Thói quen này ngăn không cho chúng ta an trú trong giờ phút hiện tại, không cho chúng ta tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống đang có mặt bây giờ và ở đây. Đó là lý do tại sao ta không hạnh phúc được.

Trở về với giây phút hiện tại, chăm sóc chính mình, tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống đang thật sự có mặt, đó đã là thương rồi. Thương là tử tế với chính mình, có lòng xót thương với chính mình, làm phát khởi niềm vui, và nhìn mọi người bằng đôi mắt bao dung, không kỳ thị. Đó là điều mình phải trau dồi. Vô ngã là điều mà mình có thể chứng nghiệm được. Từ từ chúng ta có thể tiếp xúc được với vô ngã. Khi khám phá một điều gì, ban đầu ta có thể khám phá được một phần thôi. Nếu tiếp tục, ta có thể có cơ hội khám phá nhiều hơn. Và cuối cùng ta khám phá ra toàn bộ. Khi thương, nếu đó là tình thương chân thực, ta bắt đầu thấy người kia là một phần của mình và mình là một phần của người kia. Đạt tới nhận thức đó là đã bắt đầu có tuệ giác vô ngã. Nếu ta nghĩ rằng hạnh phúc của ta là khác, hạnh phúc của người kia là khác thì ta chưa thực chứng được chút gì về vô ngã và hạnh phúc không thể nào có được.

Khi ta tiếp xúc được nhiều hơn với tuệ giác vô ngã thì tình thương trong ta sẽ lớn lên và nhờ đó hạnh phúc sẽ tăng trưởng. Khi hai người thương nhau, những ngăn cách, phân chia, giới hạn giữa hai người bắt đầu tan biến, ta trở thành một với người ta thương, không còn ganh tị, giận hờn nữa. Tại vì giận người kia tức là mình tự giận mình rồi. Vì vậy vô ngã không phải là một học thuyết, giáo điều, hay một hệ tư tưởng mà là một sự chứng nghiệm có thể mang lại rất nhiều hạnh phúc.

Melvin McLeod: Và mang lại hòa bình.

Thầy: Hẳn vậy. Hòa bình là sự vắng bóng của chia rẽ, kỳ thị.

Melvin McLeod: Thầy nổi tiếng với những lời dạy về xây dựng cộng đồng mà trong đạo Bụt gọi là xây dựng tăng thân. Qua những thực tập như Mười Bốn Giới Tiếp Hiện, Thầy định nghĩa chánh niệm trong chiều hướng có tính cách xã hội, thậm chí chính trị. Thầy dạy về các phương pháp truyền thông và sức mạnh của ái ngữ và lắng nghe. Tại sao Thầy lại nhấn mạnh đến việc xây dựng cộng đồng và quan hệ giữa người với người?

Thầy: Khi ta đã có kinh nghiệm trong sự tu tập – có sự an lạc, chuyển hóa, và trị liệu, dựa trên nền tảng đó mà ta giúp cho người khác. Ta không chỉ tu tập với tư cách cá nhân, vì trên đường thực tập ta sẽ sớm nhận ra rằng ta cần phải thực tập chung với một cộng đồng, nếu ta muốn sớm có sự chuyển hóa và trị liệu. Đạo Bụt gọi đó là nương tựa tăng.

Khi thực tập chung với nhau, năng lượng của niệm, định và niềm vui sẽ hùng mạnh hơn. Đó là điều Bụt thích làm. Ngài đi đâu cũng có nhiều đệ tử đi theo, nhờ vậy mà các vị xuất gia này học được từ Bụt cách đi, cách ngồi và cách tiếp xử. Và tăng đoàn bắt đầu hoạt động như một cơ thể, ai cũng góp phần vào năng lượng chung – năng lượng bình an, hỷ lạc, định tĩnh và tình huynh đệ.

Đồng thời, mọi người trong tăng đoàn đều nói thay cho Bụt, không phải chỉ bằng lời mà qua cách họ hành động và cư xử với mọi người. Đó là lý do vì sao vua Ba Tư Nặc nói với Bụt: “Bạch đức Thế Tôn, mỗi khi nhìn thấy tăng đoàn của Ngài, con lại có thêm niềm tin nơi Ngài”. Vua muốn nói rằng tăng thân có khả năng đại diện cho Bụt. Với tăng thân, Bụt có thể thành tựu được nhiều điều. Tôi không nghĩ một vị thầy có thể làm được gì nhiều nếu không có tăng thân; cũng như một nhạc sĩ không thể biểu diễn được nếu không có nhạc cụ. Tăng thân rất quan trọng – tuệ giác và sự tu tập của một vị thầy có thể được nhìn thấy qua tăng thân. Khi ta chia sẻ giáo pháp và sự thực tập với tư cách một tăng thân thì hiệu quả sẽ lớn hơn nhiều.

Melvin McLeod: Như vậy để giáo pháp thật sự có sức mạnh, trên thực tế, chúng ta phải chuyển hóa không chỉ chính mình mà cả xã hội?

Thầy: Đúng vậy, đó là tinh thần của Đại thừa (Mahayana), là cùng đi với nhau trên một cỗ xe lớn. Đó là lý do vì sao đạo Bụt phải luôn luôn nhập thế. Ta sẽ không làm được điều đó nếu ta tách mình ra khỏi xã hội. Vì vậy mà ngay trong cái gọi là Tiểu thừa (Hinayana), ta có thể thấy sự có mặt của Đại thừa rồi.

Melvin McLeod: Thầy có nghĩ rằng một trong những lý do khiến Thầy nhấn mạnh đến việc xây dựng cộng đồng và xã hội như một sự thực tập là do cuộc chiến tranh khốc liệt mà Thầy đã chứng kiến ở Việt Nam? Phải chăng việc chứng kiến xã hội bị tàn phá bởi chiến tranh, những hy sinh mất mát, đã làm tăng thêm mối quan tâm của Thầy đối với đời sống cộng đồng?

Thầy: Tôi nghĩ điều này có phần đúng. Đó là tuệ giác ta có được khi tiếp xúc với thực trạng. Nhưng trong truyền thống đạo Bụt đã có sự chú trọng đến việc xây dựng tăng thân. Người Phật tử nào cũng tụng: “Con về nương tựa Tăng”, nhưng Tăng được làm bằng những cá nhân có tu tập. Vì vậy ta phải biết tự chăm sóc chính mình. Nếu ta không có đủ bình an, vững chãi và tự do trong lòng thì ta không có gì nhiều để đóng góp cho tăng thân. Đó là lý do vì sao muốn xây dựng tăng thân, ta cũng phải đồng thời chăm sóc chính mình. Tăng thân có trong ta và ta có trong tăng thân. Yếu tố này đi vào yếu tố kia. Đó là lý do tại sao tôi chú trọng đến việc xây dựng tăng thân. Nhưng điều đó không có nghĩa là ta không chú trọng đến việc tự tu. Chính nhờ chăm sóc tốt hơi thở, thân tâm, cảm thọ của chính mình mà ta có thể xây dựng một tăng thân tốt.

Melvin McLeod: Thầy đã sống ở Tây phương nhiều năm. Thầy nghĩ nên trình bày đạo Bụt theo cách nào để đáp ứng được những nhu cầu, mong mỏi của người Tây phương?

Thầy: Tôi nghĩ đạo Bụt nên mở ra cánh cửa của tâm học và trị liệu để đi vào xã hội Tây phương dễ dàng hơn. Đứng về phương diện tôn giáo, người Tây phương đã có nhiều đức tin nơi một đấng thần linh rồi. Mình không nên đi vào địa hạt tâm linh của Tây phương theo cửa ngõ của đức tin, bởi vì Tây phương đã có nhiều rồi.

Vậy thì tâm học là cánh cửa rất hay. Nền văn học A-tỳ- đạt-ma (Abhidharma) và học phái Duy thức trong đạo Bụt tiêu biểu cho sự hiểu biết rất phong phú về tâm, đã được khai triển qua nhiều thế hệ hành giả. Nếu đến với người Tây phương bằng con đường tâm học, ta có thể thành công hơn trong việc giúp người Tây phương hiểu được tâm họ, giúp họ thực tập như thế nào để chữa lành được thân tâm.

Thân và tâm liên hệ mật thiết với nhau, và chúng ta có thể nói thiền tập đạo Bụt có khả năng trị liệu cho thân và tâm. Chúng ta có thể thấy điều này rất rõ khi học các kinh căn bản về thiền tập như Kinh Quán Niệm Hơi Thở và Kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm. Thiền tập giúp ta buông bỏ những căng thẳng – nơi thân thể, tâm hồn, cảm xúc – để cho thân tâm có cơ hội được trị liệu, được chữa lành. Cho dù ta uống nhiều thuốc đi nữa mà nếu thân, tâm còn quá nhiều căng thẳng thì thuốc cũng sẽ ít công hiệu. Vì vậy Bụt đã đưa ra những bài tập rất thực tế như: “Thở vào, tôi ý thức toàn thân; thở ra tôi buông thư toàn thân. Thở vào tôi ý thức về cảm xúc đang có mặt trong tôi, thở ra tôi làm lắng dịu cảm xúc. Tôi ôm lấy thân và cảm xúc trong tôi bằng năng lượng chánh niệm.”

Sự thực tập buông thư những căng thẳng nơi thân tâm là nền tảng của sự trị liệu. Ban đầu sự thực tập này giúp ta giảm bớt căng thẳng. Rồi khi ta có nhiều niệm và định hơn, ta thực tập nhìn sâu vào những đau nhức, căng thẳng đó và tìm ra những gốc rễ sâu xa, nguyên nhân của căn bệnh. Ta khám phá ra sự thật thứ hai của Tứ diệu đế. Ta có thể nhận ra nguồn gốc của sự căng thẳng, trầm cảm, nguồn gốc của căn bệnh. Một khi đã nhìn ra nguyên nhân của khổ, tức sự thực thứ hai, ta bắt đầu nhìn thấy sự thực thứ tư của Tứ diệu đế, con đường dẫn đến sự chấm dứt bệnh tật, căng thẳng, khổ đau. Thấy được con đường là phần quan trọng nhất. Nếu ta đi theo con đường đó, chẳng bao lâu bệnh tật sẽ biến mất, nhường chỗ cho sự lành mạnh – sự thực thứ ba của Tứ diệu đế. Vì vậy, nguyên tắc hành trì của đạo Bụt cũng giống như nguyên tắc trị liệu trong y học.

Một cánh cửa khác nên mở là cánh cửa về sinh thái học (ecology), vì trong đạo Bụt có sự tôn trọng sâu sắc đến cầm thú, cỏ cây, và cả đất đá. Trong đạo Bụt Đại thừa, chúng ta nói ai cũng có Phật tánh – không chỉ con người mà cả cầm thú, cỏ cây, và đất đá. Học kinh Kim Cương, ta sẽ thấy kinh Kim Cương là văn kiện cổ nhất về bảo vệ sinh môi. Ý niệm về ngã, về cái ta, bị đánh đổ, vì cái ta được làm bằng những yếu tố không phải ta, và ý niệm về loài người cũng được đánh đổ, vì loài người được làm bằng những yếu tố không phải người, trong đó có cầm thú, cỏ cây, và đất đá, v.v… Điều đó có nghĩa là muốn bảo vệ con người, ta phải bảo vệ những yếu tố không phải người. Điều đó rất rõ ràng.

Vậy cánh cửa sinh thái học là cánh cửa rất tuyệt vời để bước vào xã hội Tây phương. Và thêm một cánh cửa nữa, đó là cánh cửa hòa bình, vì đạo Bụt là đạo của hòa bình. Một Phật tử chân chính không thể từ chối làm việc cho hòa bình. Ngoài ra còn có cánh cửa bình đẳng giới. Bụt đã mở cửa cho phụ nữ gia nhập tăng đoàn, đó là một hành động rất cách mạng của Ngài.

Tôi nghĩ những cánh cửa phương tiện này cần được mở rộng để người Tây phương có thể tiếp nhận được giáo pháp đích thực của Bụt. Những pháp môn này đều nằm sẵn trong gốc rễ đạo Bụt, nhưng nhiều thế hệ Phật tử đã đánh mất các giá trị ấy. Những người Phật tử nên thực tập như thế nào để khôi phục lại những giá trị ấy của đạo Bụt để có thể hiến tặng cho nhiều người.

Melvin McLeod: Ngược lại, Thầy có thấy điều gì trong tư tưởng và kiến thức Tây phương có thể đóng góp cho Phật giáo?

Thầy: Tôi nghĩ dân chủ và khoa học có thể giúp Phật giáo, nhưng không phải theo cách mà mọi người thường nghĩ. Chúng ta biết rằng sự thực tập dân chủ vốn đã có sẵn trong truyền thống đạo Bụt. Nhưng nếu đem so với dân chủ Tây phương, ta thấy dân chủ đạo Bụt đặt căn cứ trên thực tế nhiều hơn, vì lá phiếu của một người thầy có nhiều tuệ giác và kinh nghiệm có nhiều trọng lượng hơn lá phiếu của một vị sa di ít tuệ giác và kinh nghiệm. Vì vậy, trong đạo Bụt việc biểu quyết cần phải phối hợp giữa hai nguyên tắc dân chủ và thâm niên. Đó là điều có thể làm được. Chúng tôi đã làm điều này, với rất nhiều thành công, trong cộng đồng của chúng tôi, bởi vì những người trẻ và ít kinh nghiệm hơn thường tin tưởng và kính trọng những vị lớn. Nhưng ta biết có nhiều cộng đồng Phật giáo không theo cách đó; vị thầy quyết định tất cả và họ đánh mất chế độ dân chủ. Bây giờ chúng ta phải khôi phục lại chế độ dân chủ, nhưng không phải theo cách người ta làm ở Tây phương. Chúng ta phải phối hợp chế độ dân chủ với tinh thần thâm niên.

Riêng tôi, việc học khoa học đã giúp tôi hiểu đạo Bụt sâu hơn. Tôi đồng ý với Einstein rằng nếu có một tôn giáo có thể đồng hành với khoa học thì đó là đạo Bụt. Bởi vì đạo Bụt có tinh thần không chấp chặt vào giáo điều. Ta có thể có một cái hiểu về khoa học mà ta cho đó là sự thật, nhưng nếu ta chấp vào cái thấy đó thì ta cũng từ bỏ luôn cơ hội khám phá thêm những cái thấy mới. Chúng ta nên biết rằng với sự thực tập nhìn sâu, ta có thể có cái thấy rõ ràng hơn về đối tượng nghiên cứu. Vì vậy ta không nên có thái độ giáo điều đối với những gì mình từng thấy biết. Ta phải sẵn sàng buông bỏ cái thấy, cái biết của mình về khoa học để có được cái thấy sâu hơn. Rất là thú vị.

Trong kinh Kalama – kinh dạy cho những người trẻ thuộc bộ tộc Kalama, Bụt nói: “Đừng vội tin vào một điều gì dù điều đó đã được lập đi lập lại bởi nhiều người. Đừng vội tin điều gì vì nó được các bậc thầy nổi tiếng nói ra. Đừng vội tin vào một điều gì dù điều đó đã được chép trong kinh điển”. Ta phải quán sát, thử nghiệm và thực hành; nếu như nó có hiệu quả, nếu như nó giúp mình chuyển hóa khổ đau và mang lại an lạc, tự do thì ta có thể tin tưởng vào nó một cách rất khoa học.

Tôi nghĩ người Phật tử không nên sợ khoa học. Khoa học có thể giúp ta hiểu sâu hơn lời dạy của Bụt. Chẳng hạn như trong kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka Sutra), Bụt có dạy: Cái một được làm bằng cái tất cả, cái tất cả được làm bằng cái một (nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất). Điều này có thể chứng minh được bởi khoa học. Từ một tế bào người ta có thể làm ra một cơ thể toàn vẹn. Toàn bộ gia tài di truyền có thể được tìm thấy trong một tế bào và từ một tế bào chúng ta có thể làm lại một bản giống y hệt bản chính của toàn bộ cơ thể. Trong cái một mình chứa đựng cái tất cả. Những kiến thức khoa học này giúp mình hiểu giáo lý của Bụt một cách sâu sắc hơn.

Vì vậy không có lý do gì để Phật tử phải sợ khoa học cả, nhất là khi họ có khả năng buông bỏ cái thấy hiện có của mình để đạt tới một cái thấy sâu hơn, cao hơn. Và trong đạo Bụt cái thấy cao nhất là cái thấy vượt thoát mọi cái thấy, vượt thoát mọi ý niệm. Ta tưởng sự vật là thường còn, là không đổi thay thì ta bị kẹt vào một cái thấy sai lầm gọi là thường kiến. Và ta dùng vô thường để chỉnh lại cái tưởng là sự vật thường còn. Nhưng ta không để cho mình bị kẹt vào cái ý niệm vô thường. Khi ta có tuệ giác, ta thấy được cái chân tánh của sự vật thì chẳng những ta buông bỏ ý niệm là mọi vật luôn thường còn, mà cũng buông bỏ được luôn cái ý niệm về vô thường. Cũng như khi ta quẹt que diêm, ngọn lửa biểu hiện từ que diêm sẽ đốt luôn que diêm. Khi ta quán chiếu thật sâu thì ta đạt đến tuệ giác về vô thường; và tuệ giác về vô thường sẽ đốt cháy cái ý niệm về vô thường.

Đó là lý do vì sao tinh thần phá chấp trong đạo Bụt – không kẹt vào cái thấy, vào quan niệm của mình – rất mầu nhiệm. Vô ngã có thể xem là một ý niệm; vô thường cũng là một ý niệm. Nếu ta bị kẹt vào một ý niệm nào đó như vô ngã, vô thường, niết bàn và cho nó là chân lý thì ta không thật sự tự do. Thế giới của bản môn vượt ra ngoài mọi ý niệm. Vì vậy, niết bàn là sự tắt ngấm mọi ý niệm. Những ý niệm – dù là ý niệm về niết bàn, về vô thường và về vô ngã – có thể mang tới khổ đau nếu chúng ta sử dụng chúng để chống đối nhau.

Melvin McLeod: Tôi thật sự thích thú khi nghe Thầy giảng về những điều mà các truyền thống Phật giáo khác gọi là sự thật tương đối và sự thật tuyệt đối. Thầy thì gọi đó là bình diện tích môn và bình diện bản môn. Rất nhiều điều Thầy dạy chú trọng đến sự thật tương đối hay bình diện tích môn, như là nguyên tắc tương quan tương duyên mà Thầy hay gọi là tương tức (inter-being). Đó có phải là cách Thầy diễn tả thực tại toàn vẹn hay không? Hay còn một thực tại nằm ngoài tuệ giác tương tức?

Thầy: Trong đạo Bụt có hai cách tiếp cận thực tại: dựa trên bình diện tướng và dựa trên bình diện tánh. Tông phái Trung Quán (Madhyamika) và thiền Tào Động đều hướng dẫn thiền giả đi thẳng vào tánh chân thật của mình. Còn trong trường phái Duy thức thì thiền giả được dạy về nguyên tắc “tùng tướng nhập tánh”, nghĩa là tiếp xúc sâu sắc với tướng, với thế giới hiện tượng thì ta sẽ đi vào tánh – bản thể của thực tại hay bản môn. Bản môn không tách rời thế giới tích môn. Tiếp xúc sâu sắc với tích môn, ta sẽ tiếp xúc được với bản môn. Cũng như một lượn sóng. Ta có thể thấy sự phát sinh và sự chấm dứt của một lượn sóng. Có những lượn sóng to, có những lượn sóng nhỏ, lượn sóng cao, lượn sóng thấp. Nhưng lượn sóng cũng đồng thời là nước. Dĩ nhiên là lượn sóng có thể chỉ sống được đời sống của một lượn sóng thôi. Nhưng một lượn sóng có thể thấy mình vừa là sóng vừa là nước. Sóng thì có sinh ra và có bị tan biến (chết đi) nhưng nếu lượn sóng chịu nhìn sâu hơn và thấy rõ mình vừa là sóng mà cũng vừa là nước thì sóng sẽ không còn sợ hãi. Sinh ra, tan biến, đến, đi không làm cho sóng sợ hãi vì sóng biết mình vừa là sóng mà cũng vừa là nước. Nước thì không sinh ra, không chết đi, không đến, cũng không đi đâu hết. Khi nhân duyên đầy đủ thì sóng biểu hiện, khi nhân duyên không đầy đủ thì sóng ẩn tàng. Vì thế sóng cũng có hai bình diện: tích môn – có sinh, có diệt, có đến, có đi, có cao, có thấp; còn bản môn thì không sinh, không diệt, không đến, không đi, không cao, không thấp… Hai bình diện có trong nhau, không chia chẻ. Khi ta tiếp xúc với bình diện này đủ thâm sâu thì đồng thời cũng tiếp xúc luôn bình diện kia.

Melvin McLeod: Tôi có nói chuyện với một số người, hình như họ hiểu rằng khái niệm về tương tức là một lời tuyên bố rằng tất cả vốn là một. Đó cũng vẫn là một ý niệm (kiến). Vậy thì có lẽ ngay cả ý niệm “tất cả là một”, chúng ta cũng không nên nắm giữ phải không?

Thầy: Đúng vậy. “Một” là một khái niệm, mà “nhiều” cũng là một khái niệm. Cũng như cặp phạm trù có – không (hiện hữu – không hiện hữu) cũng là những khái niệm. Anh nói rằng Thượng Đế là nền tảng của hữu thể (being), vậy thì người ta sẽ hỏi: Thế thì ai là nền tảng của vô thể (non-being)? (cười). Thành ra cái khái niệm về hiện hữu hay khái niệm về không hiện hữu cũng chỉ là những khái niệm, không phải là thực tại. Là một (đồng) hay là khác (dị) cũng là khái niệm. Niết bàn là sự tắt ngấm mọi khái niệm, kể cả khái niệm về một và khái niệm về khác. Vì thế tương tức không có nghĩa là mọi sự vật là một. Nó giúp ta lấy ra hết những cặp khái niệm: một – nhiều, có – không, dị – đồng. Ta buông bỏ hết những khái niệm, những cái thấy chia chẻ.

Melvin McLeod: Thầy nói Bụt là một con người. Nhưng trong đạo Bụt Đại thừa nói có vô lượng Bụt và Bồ tát ở trong mọi cõi đang trải lòng từ đến mình. Làm sao những người Tây phương duy lý chúng tôi có thể hiểu những vị Bụt và Bồ tát này? Làm sao chúng ta có thể mở lòng ra với họ khi chúng ta không thể nhận biết họ qua năm giác quan?

Thầy: Trong đạo Bụt, Bụt được xem như một vị thầy, một con người, chứ không phải một vị thần linh. Ta cần phải nói cho mọi người biết điều thật sự quan trọng này. Chúng ta không cần Bụt là một đấng thần linh. Ngài là một bậc đạo sư, như vậy là đủ lắm cho chúng ta rồi! Tôi nghĩ chúng ta cần phải nói cho các bạn Tây phương biết như vậy. Chính vì Bụt là một con người, cho nên vô lượng người mới thành Bụt được và vì vậy mà ta mới có vô lượng Bụt.

Melvin McLeod: Bụt có chết không?

Thầy: Đương nhiên. Đã là một con người thì phải có sinh và có tử. Đó là bình diện tích môn. Nhưng ta phải tiếp xúc với Bụt một cách sâu sắc để tiếp xúc được bình diện bản môn của Ngài. Anh cũng có thể nhìn sâu vào một con người bình thường – không phải là Bụt – như anh hay tôi. Nếu nhìn sâu vào tự thân, ta thấy ta có bình diện tích môn – có sinh và có tử. Nhưng nếu nhìn sâu hơn nữa, ta sẽ thấy bản chất đích thực của ta là vô sinh, bất diệt. Ta cũng giống như Bụt: chưa bao giờ từng sinh và cũng sẽ không bao giờ chết. Vì vậy nhìn vào anh, tôi thấy một vị Bụt; trong mỗi người tôi đều thấy Bụt ở bình diện bản môn. Đó là lý do vì sao ta có thể nói đến vô lượng Bụt. Chính bởi Bụt là một con người nên mới có thể có vô lượng Bụt.

Chúng ta nên nhớ rằng trong tích môn có chứa đựng bản môn. Chúng ta không thật sự có sinh và diệt. Giống như một đám mây. Đám mây không thể nào chết được; đám mây chỉ có thể trở thành mưa, tuyết hay nước đá thôi chứ không thể nào trở thành hư vô. Đó là tự tánh của đám mây – vô sinh bất diệt. Bụt cũng có tự tánh vô sinh bất diệt ấy, và chúng ta cũng vậy.

Chúng ta biết trên trái đất này có nhiều người có trí tuệ lớn và từ bi lớn. Họ là những vị Bụt. Đừng nghĩ rằng Bụt ở đâu xa trên trời. Ta cần tiếp xúc với Bụt ở trong ta; ta cần tiếp xúc với Bụt nơi những người chung quanh. Điều này có thể làm được ngay bây giờ và ở đây, mầu nhiệm như vậy đó.

Bụt đang ở ngay đây. Nếu ta biết thực tập thiền hành thì ta có thể thưởng thức Tịnh độ ngay bây giờ và ở đây. Không phải là ta nói về Tịnh độ, mà ta có thể thực sự nếm được Tịnh độ. Trong truyền thống đạo Bụt, ta cần phải đi như thế nào để mỗi bước chân giúp ta tiếp xúc được với Tịnh độ. Tịnh độ có mặt cho ta ngay bây giờ và ở đây. Vấn đề là ta có thực sự có mặt cho Tịnh độ hay không? Ta có đang bị vướng vào những ganh tị, giận hờn, lo sợ của mình hay không? Nếu thế thì Tịnh độ không thể có mặt. Với niệm và định, ta có thể tiếp xúc với thế giới cực lạc của chư Bụt và Bồ tát ngay bây giờ và ở đây. Đó không phải là lý thuyết. Đó là cái mà chúng tôi sống mỗi ngày, thực tập mỗi ngày. Đó là điều ai cũng làm được.

Nhiều người trong chúng tôi có khả năng làm được việc đó. Khi nói chuyện với các bạn Cơ Đốc giáo, tôi nói là các bạn có thể tiếp xúc với Nước Chúa ngay bây giờ hoặc là không bao giờ cả. Khi ta có tự do, Nước Chúa có đó cho ta. Nếu ta không có tự do, Nước Chúa sẽ không bao giờ có mặt, kể cả trong tương lai. Cùng một giáo lý và sự thực tập có thể được chia sẻ giữa nhiều truyền thống khác nhau.

Melvin McLeod: Thầy đã sống một cuộc sống dài, trải qua một thế kỷ đau thương hơn bất cứ thế kỷ nào, trên một quê hương thống khổ hơn bất cứ quê hương nào. Tôi nghĩ nhiều người đang nhìn vào thế kỷ này, và một lần nữa, nhận ra những mầm mống thảm họa trên cả hai phương diện – con người và thiên nhiên. Theo Thầy, thế giới đang đi về đâu?

Thầy: Tôi nghĩ trong thế kỷ XX điều nổi bật nhất là chủ nghĩa cá nhân, hơn một trăm triệu người đã chết vì chiến tranh. Có quá nhiều bạo động, có quá nhiều tàn phá sự sống và thiên nhiên. Nếu chúng ta muốn thế kỷ XXI khác hơn, nếu chúng ta muốn trị liệu và chuyển hóa thì chúng ta cần phải nhận thức rằng chúng ta là những phần khác nhau của cùng một cơ thể, rằng sự an nguy của những thành phần khác cũng là sự an nguy của chính ta. Nhận thức này vô cùng quan trọng. Sinh vật học hiện đại đã thấy rằng con người chính là một cộng đồng của hàng tỉ tế bào. Không có tế bào nào là chủ cả; mỗi tế bào trong cơ thể hợp tác với các tế bào khác để tạo ra năng lượng cần thiết giúp cho cơ thể được bảo vệ và phát triển. Chỉ có sự tỉnh thức đó, chỉ có tuệ giác đó – rằng sự an nguy, hạnh phúc, khổ đau của chúng ta không phải là một cái gì riêng rẽ mà là một vấn đề chung – mới có thể ngăn ngừa những tác hại phát sinh từ chủ nghĩa cá nhân của thế kỷ XX.

Tuệ giác vô ngã, tuệ giác tương tức này rất thiết yếu cho sự sống còn của chúng ta và của hành tinh này. Không nên để cho cái thấy nầy chỉ là những khái niệm sách vở; tuệ giác này phải được giữ cho sống động trong đời sống hằng ngày của mỗi chúng ta. Trong trường học, trong ngành doanh thương, trong quốc hội, trong hội đồng thành phố, trong gia đình, chúng ta phải thực tập để nuôi dưỡng tuệ giác rằng chúng ta là những thành phần khác nhau của cùng một cơ thể, rằng bất cứ chuyện gì xảy ra cho các tế bào kia cũng đồng thời xảy ra cho chúng ta. Tuệ giác này hoàn toàn đi đôi với khoa học cũng như đi đôi với tinh thần đạo Bụt. Chúng ta cần học để sống với nhau như một cơ thể.

Tôi đã dành nhiều thời gian để xây dựng tăng thân – những cộng đồng tu học và tôi đã học được nhiều từ đó. Ở Làng Mai, chúng tôi tập sống như một cơ thể. Không ai có xe riêng, tài khoản ngân hàng riêng, điện thoại riêng. Ấy vậy mà chúng tôi vẫn hạnh phúc. Thực tập căn bản của chúng tôi là xem mỗi người như một tế bào của cơ thể, và vì vậy mà tình huynh đệ trở nên sống động. Khi ta được nuôi dưỡng bởi tình huynh đệ thì hạnh phúc có mặt, và nhờ vậy ta có thể làm không biết bao nhiêu là việc để giúp cho mọi người bớt khổ.

Điều này có thể thấy được, xúc chạm được. Đây không phải là điều nói suông. Đây là sự hành trì, là sự thực tập. Mỗi hơi thở, mỗi bước chân đều là để nuôi dưỡng cộng đồng. Sống trong một cộng đồng như vậy rất mầu nhiệm, vì sự an lạc của người kia cũng chính là sự an lạc của ta. Mang lại hạnh phúc cho một người, ta cũng đem lại hạnh phúc cho từng người trong cộng đồng. Đó là lý do vì sao tôi nghĩ rằng xây dựng cộng đồng, xây dựng tăng thân là công việc quan trọng nhất, cao quý nhất mà chúng ta có thể làm.

Cũng giống như trong lớp học, nếu cô giáo biết cách tổ chức lớp học như một gia đình, học sinh sẽ bớt khổ và có nhiều niềm vui hơn. Trong hội đồng thành phố hay trong một công ty cũng vậy. Những người lãnh đạo công ty có thể tổ chức công ty của mình như một gia đình trong đó mọi người xem nhau là những tế bào trong cùng cơ thể.

Chúng ta biết trong cơ thể chúng ta có nhiều loại tế bào: tế bào gan, tế bào phổi, tế bào thần kinh, v.v… Tế bào nào cũng làm hết sức mình, không có sự ganh tị về địa vị với các tế bào khác, vì không có sự phân biệt. Làm một tế bào gan cho tốt là mình đã nuôi dưỡng các tế bào khác rồi. Tế bào nào cũng đóng góp cái hay nhất của mình để mang lại sự hài hòa, khỏe mạnh cho toàn cơ thể. Không có sự kỳ thị, không có chiến tranh giữa các tế bào, đó là điều mình học được từ ngành sinh học hiện đại. Chúng ta có thể tổ chức theo cách này trong gia đình, lớp học, hội đồng thành phố, quốc hội. Đó là điều có thể làm được, bởi vì nếu các tế bào của chúng ta có thể làm chuyện đó thì con người chúng ta cũng có thể làm được chuyện đó.

Melvin McLeod: Hy vọng Thầy không phiền tôi hỏi câu này, Thầy cũng không cần phải trả lời nếu không tiện. Nhưng tôi rất cảm động khi đọc những gì Thầy viết về mối tình Thầy từng có với một người mà rõ ràng Thầy đã yêu thương rất nhiều và rồi đã từ bỏ mối tình đó. Bây giờ thì Thầy thấy chuyện đó ra sao? Tại thời điểm này của cuộc đời, Thầy có thấy chuyện đó là điều đáng tiếc không?

Thầy: Tình yêu đó chưa bao giờ mất. Nó vẫn tiếp tục lớn lên. Đối tượng thương yêu của tôi được mở rộng ra mỗi ngày, mỗi ngày, mỗi ngày, cho đến khi tôi có thể ôm được tất cả mọi người. Thương một người là cơ hội mầu nhiệm để mình thương mọi người, nếu như đó là tình thương đích thực. Trong tuệ giác vô ngã, ta thấy đối tượng của tình thương luôn có đó, và tình thương của ta tiếp tục lớn lên. Không có gì mất đi cả, và ta không có gì để hối tiếc, bởi vì nếu ta có tình thương đích thực trong lòng thì ta và tình thương ấy cùng đi về một hướng, và mỗi ngày ta đều có thể thương thêm được nhiều hơn và nhiều hơn nữa. Vì vậy, thương một người là cơ hội lớn để ta thương được nhiều người hơn.

Melvin McLeod: Thế nhưng trong đời sống xuất gia, Thầy khuyến khích những người muốn trở thành tu sĩ từ bỏ tình yêu ấy. Tại sao lại nên từ bỏ cơ hội thương yêu này?

Thầy: Khi bước vào đời sống xuất gia, ta phát nguyện làm lớn thêm hiểu biết và thương yêu. Ta muốn có khả năng ôm trọn tất cả mọi người trong tình thương của mình. Vì vậy, như tôi đã nói, thương một người là cơ hội để mình thương được nhiều người. Nhất là khi người kia có cùng lý tưởng với mình, thì càng thương ta càng giàu có và càng hạnh phúc, không có khổ đau gì hết. Là một người xuất gia, ta sống đời sống phạm hạnh và ở với tăng thân. Nếu người mình thương biết vậy thì người đó sẽ không khổ mà mình cũng sẽ không khổ, bởi vì tình thương chân thật rộng lớn và thâm sâu hơn là tình yêu đôi lứa. Vì tình thương lớn, ta có thể hy sinh khía cạnh đó của tình yêu, và tình thương của ta trở nên cao cả hơn, rộng lớn hơn. Tình thương đó nuôi dưỡng ta, nuôi dưỡng người kia, nuôi dưỡng mọi người chung quanh và cuối cùng tình thương đó không còn biên giới nữa. Đó là tình thương của Bụt.

Nguồn: https://www.lionsroar.com/this-is-the-buddhas-love/

Nghệ thuật cầu nguyện

 

Nhân dịp cuốn sách Hiệu lực cầu nguyện của Thiền sư Thích Nhất Hạnh được xuất bản, Tuần báo Publishers của Mỹ đã thỉnh cầu Thầy trả lời 10 câu hỏi về sự thực tập cầu nguyện và Thầy đã trả lời những câu hỏi này trong bài pháp thoại ngày 9.3.2006.

Các yếu tố của sự cầu nguyện

Nhiều người theo đạo Cơ Đốc có niềm xác tín rằng Thượng đế ở bên ngoài mình và là đấng có quyền lực tối cao, họ sẽ rất ngạc nhiên khi biết là người Phật tử cũng cầu nguyện. Thầy sẽ giải thích với họ như thế nào thưa Thầy?

Có thể cái hiểu của người theo đạo Cơ Đốc về sự cầu nguyện khác với cái hiểu của người Phật tử. Trước tiên, tôi thấy khi nói về sự cầu nguyện, ta thường nghĩ rằng người cầu nguyện, đấng mà ta hướng về để cầu nguyện và người mà ta cầu nguyện cho là ba người khác nhau. Có thể người mà ta cầu nguyện cho là chính bản thân ta, ta mong muốn được bình an khỏe mạnh, nhưng ta luôn luôn phân biệt ba người: người cầu nguyện, đấng mà ta hướng về để cầu nguyện, và người mà ta cầu nguyện cho.

Nếu nói rằng người Phật tử không dựa vào một người hay một tha lực để cầu nguyện thì không chính xác lắm. Cầu nguyện còn là mong cầu sự giúp đỡ, và trong truyền thống đạo Bụt, ta mong cầu sự giúp đỡ của tăng thân, của Bụt. Người mong cầu, người cầu nguyện chính là điểm khởi đầu. Người ấy cần phải thấy sự việc đủ rõ ràng, đủ bình an và đủ thành tâm để cầu mong sự giúp đỡ. Và trước tiên người đó phải thật sự có mặt, thật sự chú tâm với một ước mong, một ý định. Đây là điều kiện căn bản nhất để sự cầu nguyện có hiệu quả. Người cầu nguyện phải thật sự có mặt, thiết lập thân tâm vững chãi trong giây phút hiện tại, có một mục đích rõ ràng, một ao ước sáng tỏ là mình cầu nguyện cho ai, và nguyện cầu ai. Nếu người cầu nguyện có thể đặt mình vào hoàn cảnh đó thì đã làm được rất nhiều rồi. Người ấy đã bắt đầu chế tác được năng lượng của sự cầu nguyện rồi, bởi vì người ấy thật sự đang có mặt bây giờ và ở đây với niệm, định và sự tác ý. Nếu không có những cái đó thì sẽ không có gì xảy ra cả.

Kế đến, người mà mình hướng về để cầu nguyện phải là một người mình hiểu rõ. Người đó không phải chỉ là một ý niệm trong tâm mình. Nếu mình hướng về Bụt để cầu nguyện thì mình phải biết Bụt là ai, mà không phải là chỉ có một số ý niệm về Bụt. Nếu ta biết Bụt là ai thì sự cầu nguyện của ta sẽ có hiệu quả. Nếu ta cảm thấy Bụt đang có mặt hoàn toàn bây giờ và ở đây và ta có khả năng tiếp xúc với Bụt, thì sự cầu nguyện của ta sẽ có hiệu quả. Ta biết là Bụt cũng đồng thời có mặt trong chính ta, dưới hình thức của niệm, định, của từ bi; khi đó, Bụt không còn là một ý niệm nữa mà là một thực tại.

Giả sử bạn hướng về cha của mình để cầu nguyện, bạn cầu mong là cha sẽ giúp đỡ bạn. Cha của bạn: Bạn biết ông là ai. Cha bạn sống thọ đến 90 tuổi, và các tế bào của cha vẫn còn trong bạn. Vì vậy khi bạn cầu nguyện cha của mình: “Cha ơi, giúp con với”, bạn tiếp xúc với cha một cách vô cùng cụ thể, bạn không chỉ tiếp xúc với một ý niệm. Cha không phải là một ý niệm. Bạn chính là sự tiếp nối của cha mình.

Giả sử có ai đó nói với bạn rằng có thể bạn đang mang bệnh ung thư. Bạn có thể cầu cứu với cha: “Cha ơi, con biết cha rất vững chãi, những tế bào của cha rất tuyệt vời, và con đang mang những tế bào của cha trong con, xin cha hãy đến giúp con”. Khi đó bạn sẽ cảm nhận được sự đáp ứng của cha ngay lập tức trong thân thể bạn. Cha bạn nói: “Cha có mặt đây. Con đừng sợ. Mình có những tế bào rất khỏe mạnh và chúng biết cách để nhân ra. Con yên tâm.”

Khi bạn cầu nguyện như vậy, bạn tiếp xúc với cha mình, và bạn sẽ thấy sự cầu nguyện của bạn hiệu nghiệm ngay lập tức. Nếu bạn có một người bà, người ông vững chãi, bạn sẽ biết là người mà bạn cầu nguyện luôn luôn trong bạn và chung quanh bạn. Vì vậy trong sự thực tập này, bạn sẽ thấy là cha, mẹ, ông bà của bạn vẫn luôn có mặt trong những hình tướng mới của họ. Ta không hướng sự cầu nguyện về một người hay một cái gì đó trừu tượng, không có thật, mà là về một thực tại.

Điều này cũng đúng khi ta cầu nguyện Bụt hay Chúa. Tuệ giác của chúng ta cho thấy là Bụt vẫn đang tiếp nối, Chúa Jesus vẫn đang tiếp nối trong những hình tướng mới. Nếu bạn là một người thực tập đạo Bụt, bạn là sự tiếp nối của Bụt; vì vậy Bụt – đối tượng mà bạn hướng về để cầu nguyện – chính là một thực tại, mà không phải chỉ là một ý niệm. Sự thực tập này dựa trên cái thấy căn bản là không có gì thực sự mất đi. Cha bạn vẫn còn đây, bà của bạn vẫn còn đây, Bụt vẫn còn đây trong những biểu hiện mới.

Vì vậy, người thứ hai trong sự cầu nguyện – người mà ta hướng về để cầu nguyện – là một thực tại rất cụ thể, thật sự có đó, và ta có thể tiếp xúc với người ấy. Đó là lý do tại sao cái thấy này rất quan trọng. Chúa Jesus, Bụt và ông bà tổ tiên không phải chỉ tồn tại trong quá khứ; các vị vẫn còn hiện diện ngay bây giờ và ở đây. Các vị có trong ta, xung quanh ta, và ta có thể tiếp xúc với các vị. Cũng giống như tăng thân, tăng thân có đó và khi ta có khó khăn, ta chỉ cần nói: “Quý thầy, quý sư cô ơi, hãy giúp con”. Tăng thân không phải là một ý niệm, tăng thân là một thực tại.

Ta biết là tăng thân đang có đó; quý thầy, quý sư cô và các bạn đồng tu đang có đó cho ta. Ta luôn có thể nương tựa vào tăng thân. Trong tăng thân luôn có Pháp linh động và Bụt linh động. Vì vậy tiếp xúc với tăng thân, tiếp xúc với Bụt, với Pháp, ta cũng đang tiếp xúc với thực tại. Khi ấy hành động cầu nguyện của ta rất cụ thể và sẽ đem đến cho ta sự chuyển hóa và trị liệu. Khi ta nói “Xin đại chúng gửi năng lượng đến anh A hay chị B đang gặp khó khăn”, ta thật sự nương tựa vào lực của tăng thân. Ta biết năng lượng tập thể của tăng thân là có thật. Vì trong tăng thân có Bụt, có Pháp nên ta cũng có năng lượng của Bụt, của Pháp. Năng lượng của Bụt linh động, của Pháp linh động có mặt với ta.

Nếu ta thực tập giỏi, năng lượng của sự cầu nguyện sẽ rất hùng hậu và làm chuyển đổi tình trạng. Năng lượng ấy có nơi người cầu nguyện, nơi tăng thân đang yểm trợ cho người ấy qua năng lượng tập thể. Vì trong tăng thân có Bụt và Pháp linh động, năng lượng ấy có thể rất hùng hậu. Năng lượng ấy được chế tác từ bên trong người ấy và từ tăng thân. Ta biết là năng lượng ấy chỉ có thể được chế tác khi niệm, định và tuệ có mặt. Ta – người xin tăng thân gửi năng lượng – phải thật sự có mặt. Ta phải có niệm, có định, và ta phải có cái thấy mình là một với người mà mình hướng về để cầu nguyện, mình cũng là một với người mà mình đang cầu nguyện cho. Đó là lý do tại sao cái thấy sáng tỏ rất quan trọng trong cầu nguyện. Và nếu niệm, định, tuệ có mặt, chuyển hóa và trị liệu sẽ xảy ra.

Nếu đi sâu hơn, ta sẽ thấy nếu người theo đạo Cơ Đốc cầu nguyện theo cách đó, nghĩa là với niệm, định, và đặc biệt là tuệ, thì sẽ không có sự khác biệt nào giữa đạo Bụt và đạo Cơ Đốc. Ta biết ta chính là một phần rất quan trọng của sự cầu nguyện. Hiệu quả của sự cầu nguyện tùy thuộc rất lớn vào ta, bởi vì nếu ta không có đó, không vững chãi, không có tuệ giác thì ta không thể tiếp xúc với năng lượng hùng hậu của tăng thân, của Bụt.

Trong đạo Bụt ta không nói đến Thượng đế, đấng sáng tạo, ta không nói đến khải huyền, ơn cứu rỗi hay trừng phạt. Trong đạo Bụt, cái tương đương với Thượng đế là Tâm thức, đặc biệt là tâm thức cộng đồng. Tâm thức là nền tảng của tất cả mọi thứ. Khi tâm ta tiếp xúc với tâm thức cộng đồng, thì cái gì cũng có thể thực hiện được. Nếu những người bạn Cơ Đốc giáo của ta thấy Thượng đế là linh hồn – là tâm thức cộng đồng, nền tảng của tất cả các biểu hiện – thì khoảng cách giữa đạo Bụt và đạo Cơ Đốc là không đáng kể. Tất cả tùy thuộc vào cách chúng ta hiểu về Thượng đế.

Nếu ta cho rằng Thượng đế là nền tảng của sự tồn tại, là nơi mà từ đó tất cả mọi thứ biểu hiện ra, thì cái hiểu đó của ta không khác với cái thấy của người Phật tử về tâm. Bởi vì trong giáo lý đạo Bụt, tâm là họa sư kiến tạo nên tất cả, đặc biệt là tâm thức cộng đồng.

Tại sao cầu nguyện bằng thân lại quan trọng?

Ai cũng biết là khi cầu nguyện, tư thế của thân thể rất quan trọng. Nếu ta chắp tay lại, trong tư thế quỳ, ta sẽ có thể dễ chú tâm hơn bởi vì ta đang thưa chuyện với Bụt, với tăng thân, hay với Chúa trong chánh niệm và sự tôn kính, và ta sẽ thực sự có mặt hơn. Về vấn đề tuệ giác, trong đạo Bụt ta được học là tâm và thân không phải là hai thực thể tách rời. Thân là một phần của tâm, và tâm là một phần của thân.

Thân là sự tiếp nối của tâm và tâm là sự tiếp nối của thân. Thực tại biểu hiện qua thân và tâm. Trong đạo Bụt có danh từ nāmarūpa, tương đương với thân tâm (psycho- soma) của khoa học Tây phương. Khi ta học về 12 khoen nhân duyên, ta biết vì có vô minh nên có thức. Nếu không có vô minh thì thức sẽ được gọi là tuệ giác.

Vì có sự tồn tại của vô minh cho nên mới có thức. Vì có vô minh nên có hành, hành sinh ra thức; thức là tâm có yếu tố vô minh. Và từ thức, thân và tâm biểu hiện. Vì vô minh nên ta nghĩ là thân không phải là tâm và tâm không phải là thân; nhưng cả hai đều là biểu hiện của thức.

Với cái thấy không lưỡng nguyên về thân và tâm, người Phật tử luôn luôn chú ý đến thân trong khi cầu nguyện và trong khi hành thiền. “Quán niệm thân trong thân, quán niệm tâm trong tâm.” Thân có chứa tâm và tâm có chứa thân.

Đó là lý do vì sao trong khi ngồi thiền, đi thiền, chấp tác, khi tập thở, thân và tâm phải luôn luôn nhất như thì sự thực tập mới đúng và mang lại kết quả. Ta không chỉ thiền tập bằng tâm, tâm chỉ là phân nửa. Ta phải thiền tập bằng thân nữa.

Khi ta tiếp xúc với bình diện bản môn, ta cũng phải tiếp xúc bằng thân mà không chỉ tiếp xúc bằng tâm. Khi ta tiếp xúc với nước Chúa, hay với Tịnh độ của Bụt, ta tiếp xúc bằng chân, tay, mắt, mà không chỉ tiếp xúc bằng tinh thần. Đó là lý do tại sao, trong truyền thống đạo Bụt, tâm và thân phải nhất như. Chúng biểu hiện từ một thực tại duy nhất là thức. Và trong truyền thống Cơ Đốc giáo, người ta cũng có thể thấy tương tự. Muốn cầu nguyện ta phải yên lặng, trở về với tự thân. Ta phải cầu nguyện bằng trái tim mình chứ không chỉ bằng miệng.

Nền tảng của sự cầu nguyện

Làm thế nào để tránh rơi vào cái bẫy của cầu nguyện theo thói quen hay hình thức?

Khi ta tụng kinh cũng như khi nghe tụng kinh, ta cần phải hợp nhất thân và tâm. Làm được như vậy, ta có niệm, có định; ta hòa vào tăng thân và trở thành một với tăng thân, như một dòng sông.

Ta không còn tồn tại như một cá nhân mà trở thành dòng sông tăng thân. Tâm lúc nào cũng phải có mặt với thân. Đó là lý do tại sao đi trong chánh niệm có thể được coi là sự cầu nguyện. Ta cầu nguyện bằng đôi chân; và khi đi trong chánh niệm ta có thể tiếp xúc được với nước Chúa, với Tịnh độ của Bụt. Và ta có thể thấy được hiệu quả của sự cầu nguyện ngay lập tức.

Khi ta thở vào thở ra trong chánh niệm, đó mới là thở thật sự. Thân và tâm về một mối. Thật đáng tiếc nếu ta chỉ cầu nguyện bằng cái miệng – đọc một cái gì đó, trong khi tâm ta rong ruổi về quá khứ hoặc tương lai, hoặc nghĩ tới một dự án nào đó. Đó không phải là cầu nguyện, bởi vì ta không có chánh niệm, không có định và không có tuệ. Nền tảng của cầu nguyện là niệm, định và tuệ. Trong truyền thống Cơ Đốc giáo, có những người có khả năng cầu nguyện như thế, với niệm, định và tuệ. Họ gọi đó là sự nguyện cầu của trái tim. Cầu nguyện với thân và tâm nhất như mà không chỉ chắp tay rồi tụng một cái gì đó. Khi lên tụng kinh, nếu trong khi tụng mà ta nghĩ ngợi về một điều gì đó, ta phải quay về tự hỏi mình: “Mình đang làm gì đây? Mình đang trình diễn chứ không phải là đang thực tập. Mình đang trình diễn một bài kinh. Mình đang không thực tập, mình không hề cầu nguyện”.

Những thành viên khác trong tăng thân là tiếng chuông chánh niệm, nhắc nhở ta bằng cách họ tụng kinh, cách họ thực tập, và ta phải giúp tăng thân thực tập như vậy. Thân luôn luôn có mặt với tâm, như thế ta mới tránh được cái bẫy của sự thực tập hình thức. Cái bẫy này rất phổ biến; nó có thể xảy ra trong đạo Bụt, trong đạo Cơ Đốc, trong bất kỳ một tôn giáo nào. Ta biết nếu thực tập như thế thì chẳng có hiệu quả gì. Ta không có Thiên quốc, cũng chẳng có Tịnh độ, bởi vì ta không có niệm, định và tuệ.

Đôi khi tôi có nhắc nhở tăng thân trước những bữa ăn chung, tôi nói rằng: “Mời đại chúng thở như thế nào để chúng ta trở thành một cơ thể”. Chúng ta cần phải tìm cách đọc kệ ngũ quán trước khi ăn như thế nào để sự thực tập đó không trở thành một cái lệ, trở thành hình thức. Ta cũng có một bài kệ để đọc thầm trước khi ăn: “Ăn cơm nơi tích môn/ Nuôi sống cả tổ tiên/ Mở đường cho con cháu/ Cùng tìm hướng đi lên.” Nếu tăng thân được nhắc nhở trước khi ăn, mọi người sẽ có cơ hội thực sự thực tập mà không chỉ ở hình thức. Khi lạy xuống trước bàn thờ trong một buổi lễ, ta lại có một bài kệ khác: “Trong thể tính chân như/ Không chủ thể đối tượng/ Đệ tử kính lạy Bụt/ Trong tương cảm nhiệm mầu”. Vì thế ta cần được nhắc nhở qua nhiều cách thức khác nhau, khuyến khích, thúc đẩy một cách thường xuyên để chúng ta không rơi vào cái bẫy hình thức. Ta phải khéo léo, nghệ thuật trong việc tìm ra những cách thức giúp cho sự thực tập của ta sống động. Đó là lý do tại sao chúng ta cần nói những lời sách tấn đại chúng trước khi bắt đầu buổi thiền hành hoặc thiền tọa.

Cầu nguyện trong cuộc sống hàng ngày

Trong cuốn sách Hiệu lực cầu nguyện của Thầy có một chương nói về thiền tập. Xin Thầy chia sẻ về mối quan hệ giữa thiền tập và cầu nguyện trong sự đời sống tu tập của chính Thầy.

Trong tinh thần của đạo Bụt, khi làm bất cứ việc gì mà có niệm, định, tuệ thì có thể xem đó là một sự cầu nguyện. Khi ta uống trà trong thất niệm, sự sống sẽ không có mặt. Ta không thực sự sống bởi vì ta không có mặt, không có chánh niệm và không có định. Giây phút đó không có sự thực tập. Chỉ là một giây phút bình thường. Nhưng khi ta bắt đầu nâng ly trà trong tay với chánh niệm và định tâm, và khi ta uống trà hoàn toàn trong chánh niệm và sự định tâm thì cũng như ta đang thực hành một nghi lễ tôn nghiêm. Và đó đã là một sự cầu nguyện. Khi ta đi, nếu ta thưởng thức từng bước chân, nếu mỗi bước chân nuôi dưỡng và đem lại cho ta sự chuyển hóa, thì mỗi bước chân chính là một lời cầu nguyện.

Cho nên trong giáo lý và sự hành trì của truyền thống đạo Bụt, thực sự không có sự phân biệt giữa thiền tập và cầu nguyện, bởi vì khi ta có niệm định tuệ, ta có thể tiếp xúc được với cõi Bụt, với Bụt và với Tăng. Khi ta thật sự cầu nguyện, ta tiếp xúc với Chúa Jesus, với Thiên quốc. Tiếp xúc được như thế thì sự trị liệu và chuyển hóa chắc chắn sẽ xảy ra. Khi có niệm, định và tuệ thì sẽ không có sự phân biệt giữa người cầu nguyện và người mà sự cầu nguyện đang hướng tới. Nhờ đó sự truyền thông trở nên toàn hảo và sâu sắc; sự chuyển hóa và trị liệu hẳn nhiên sẽ xảy ra.

Khi đi tại sân bay, mỗi bước chân của ta có thể trở thành một lời cầu nguyện. Ta đang thực sự sống, ta không bỏ phí thời gian, bỏ phí sự sống. Khi ta ngồi trong vững chãi, thảnh thơi, khi ta thở vào thở ra trong chánh niệm, khi ta tiếp xúc với sự sống mầu nhiệm, thì đó là thiền tập mà cũng là cầu nguyện. Trong sự cầu nguyện đích thực, không còn sự phân biệt giữa người cầu nguyện và người được cầu nguyện. Những người bạn đạo Cơ Đốc của chúng ta nói: “Sống mỗi giây mỗi phút trong sự hiện diện của Thượng đế”. Nếu ta sống trong niệm định tuệ, ta sẽ không bao giờ rời xa Thượng đế, ta luôn luôn tiếp xúc với Thượng đế, trong sự hiện diện của Thượng đế. Khi ta sống từng giây từng phút của đời sống hàng ngày trong sự hiện diện của Thượng đế nghĩa là cuộc sống hàng ngày của ta là một sự cầu nguyện. Có những người có khả năng làm được như vậy.

Trong đạo Bụt, có những cách rất cụ thể giúp ta chế tác năng lượng của niệm, định và tuệ. Và sự thực tập của ta là sự thực tập chế tác những năng lượng này. Nếu những năng lượng này có mặt, thì không còn sự phân biệt giữa người đang cầu nguyện và người được cầu nguyện. Khi ta có chánh niệm khi đi, khi ngồi, khi nấu ăn, rửa bát thì ta không phung phí sự sống. Ta sống sâu sắc từng giây phút. Cuộc sống của ta trở thành một sự cầu nguyện. Sống được như vậy ta sẽ có nhiều hạnh phúc và bình an.

Cuộc sống của ta là một sự cầu nguyện

Làm thế nào mà ta có thể có thời gian cầu nguyện mỗi ngày?

Những gì tôi đã chia sẻ ở trên phần nào đã trả lời cho câu hỏi này rồi. Khi mỗi bước chân, mỗi hơi thở, mỗi khoảnh khắc trong khi làm việc hay lái xe trở thành một lời cầu nguyện, ta không cần dành thời gian riêng để cầu nguyện nữa. Bởi vì ta đã đầu tư toàn bộ thời gian trong cuộc sống hàng ngày của ta cho sự thực tập cầu nguyện. Vì vậy, để trả lời câu hỏi này, có thể nói là ta không nên chia chẻ thời gian ra như vậy. Thời gian để làm việc, ăn uống, hoạt động ta làm trong thất niệm, rồi sau đó ta có thời gian riêng để thực tập niệm, định, tuệ và cầu nguyện. Đó không phải là cách thực tập của chúng ta.

Mỗi giây phút của cuộc sống hàng ngày có thể trở thành giây phút của sự cầu nguyện, của thiền quán, của sự thực tập. Ta cần phải được huấn luyện mới làm được. Có những khoảnh khắc ta không thật sự sống, ta bị sự lo lắng, giận dữ, hoặc những dự án kéo đi; và vì vậy ta phung phí sự sống. Không ai muốn phung phí sự sống cả. Ai cũng muốn sống sâu sắc, và cách duy nhất là bằng sự cầu nguyện, bằng cách chế tác năng lượng của niệm, định và tuệ. Như thế ta có thể sống một cách sâu sắc mỗi giây phút trong cuộc sống hàng ngày. Cuộc sống của ta là cuộc sống của sự hành trì, là cuộc sống của sự cầu nguyện. Không có sự phân biệt nào giữa thời gian cầu nguyện và thời gian “để sống” hoặc không cầu nguyện.

Thiền hành

Xin Thầy chia sẻ về một sự thực tập mà mọi người có thể áp dụng hàng ngày để giúp họ đến gần hơn với hạnh phúc mà họ đang tìm kiếm.

Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta di chuyển rất nhiều, vì vậy chúng tôi muốn hiến tặng cho các bạn một món quà, đó là sự thực tập đi trong chánh niệm. Muốn đi từ chỗ này đến chỗ kia, thậm chí chỉ cần bước năm, sáu bước, nhưng nếu ta biết bước những bước ấy một cách chánh niệm thì như vậy là tốt lắm rồi. Đi ra nhà để xe, ta nên thưởng thức từng bước chân. Đừng suy nghĩ gì cả, chỉ thưởng thức bước chân thôi. Đi đến văn phòng, đến chỗ làm hoặc ra phòng ăn: Mỗi bước chân phải đưa ta trở về hiện tại để ta có thể thưởng thức những gì đang xảy ra. Tôi nghĩ rằng nếu tất cả mọi người trên trái đất biết cách thưởng thức những bước chân chánh niệm thì trái đất và xã hội sẽ được chuyển hóa. Bởi vì nếu ai cũng nắm được bí quyết làm sao để chánh niệm hơn thì ai cũng sẽ biết cách thưởng thức từng bước chân của mình.

Đi thiền là việc ai cũng có thể làm. Có những người thấy khó ngồi thiền nhưng đi thì ai cũng đi. Cho nên tôi đề nghị bất cứ ai – dù là đang ở Berkeley, New York, Amsterdam, Paris hay Bangkok, v.v… – nên thưởng thức đi trong chánh niệm. Mỗi khi bước một bước chân trong chánh niệm là ta chấm dứt thất niệm, ta trở về với sự sống, tiếp xúc với những nhiệm mầu của sự sống để nuôi dưỡng và trị liệu cho thân tâm.

Thiền hành là một phương pháp thực tập rất dễ chịu, mang đến nhiều chuyển hóa và trị liệu. Tôi đề nghị các độc giả của tuần báo Publishers nên bắt đầu thực tập phương pháp này, và nó sẽ làm cuộc đời các bạn thay đổi. Khi thực tập đi trong chánh niệm, ta đi bằng cả thân và tâm. Ta theo dõi hơi thở trong khi đi, và ta trở nên hoàn toàn có mặt, thật sự đang sống, và ta sẽ đến gần hơn với hạnh phúc mà ta đang tìm kiếm.

Chánh niệm và hòa bình

Sự cầu nguyện có liên hệ như thế nào đến hòa bình và quá trình hòa giải?

Khi ta có chánh niệm, có định, có tuệ thì ta sẽ có nhiều bình an hơn trong thân và tâm. Nếu ta biết làm thế nào để cho năng lượng tập thể của tăng thân thấm vào trong thân ta, nếu ta biết làm thế nào để thực sự thở trong chánh niệm, buông bỏ căng thẳng trong thân, làm lắng dịu cảm xúc nhờ nương vào hơi thở chánh niệm, thì ta đã có nhiều bình an hơn rồi. Giây phút mà ta ngồi xuống và bắt đầu thở, làm lắng dịu thân tâm thì sự bình an liền có mặt. Và thở như thế chính là sự cầu nguyện. Khi trong ta có bình an, ta có thể kết nối với những người khác, có thể giúp họ cũng có bình an như mình. Cùng với nhau, chúng ta tạo thành một cơ thể bình an, một cộng đồng bình an.

Có nhiều người trong chúng ta rất hăng hái hoạt động cho hòa bình, nhưng lại không có bình an trong tự thân. Ta hò hét cho hòa bình với năng lượng giận dữ, và ta la hét ngay cả đối với những người đồng sự đang hoạt động cho hòa bình như ta. Có rất nhiều nhóm hoạt động cho hòa bình rất hết lòng, nhưng họ lại đấu đá lẫn nhau rất dữ và họ không hề có bình an. Hòa bình phải bắt đầu trong mỗi chúng ta: bằng cách thực tập ngồi yên, đi trong chánh niệm, chăm sóc thân thể, buông bỏ căng thẳng trong thân và làm lắng dịu cảm xúc. Vì vậy sự thực tập có thể mang bình an đến cho ta ngay lập tức. Khi ta bình an hơn, dễ chịu hơn, ta có thể tiếp xúc với những người khác, mời họ tham gia vào việc chế tác hòa bình một cách dễ dàng hơn. Và vì ta bình an, ta biết cách để nhìn, nói, hành xử một cách bình an, và ta có thể thuyết phục người khác tham gia vào công việc thúc đẩy cho hòa bình và hòa giải.

Ta không thể có hòa bình nếu chỉ ngồi đó để thỏa thuận hay lên kế hoạch. Ta phải học cách thở để an tịnh thân tâm, và ta phải có khả năng giúp người khác làm như vậy. Nếu không có yếu tố bình an trong ta và trong người kia, thì không có hoạt động nào hoặc việc làm nào có thể được cho là một hoạt động đích thực vì hòa bình.

Cho nên một vị tổng thống, một thủ tướng, một nhà lãnh đạo chính trị nào cũng phải thực tập hòa bình, phải cầu nguyện cho hòa bình bằng cả thân và tâm trước khi vị ấy có thể yêu cầu những vị thủ tướng và lãnh đạo quốc gia khác tham gia vào việc đem lại hòa bình một cách có hiệu quả. Tôi đề nghị là một hội nghị hòa bình nào cũng nên bắt đầu bằng thiền hành, thiền tọa, phải có ai đó hướng dẫn thiền buông thư để buông bỏ căng thẳng, giận dữ và sợ hãi trong thân tâm của những người tham gia hội nghị.

Làm như thế rất văn minh. Làm như thế thì có thể đem chất tâm linh vào đời sống chính trị xã hội. Bình an trong tự thân sẽ mang đến sự bình an trong cộng đồng và trên thế giới. Trong công ty, trường học, hay chốn nghị trường, ta đều cần thực tập bình an. Thầy cô giáo cần thực tập bình an, và dạy cho học sinh thực tập bình an. Quốc hội cũng cần thực tập bình an và yêu cầu mọi thành viên trong quốc hội cùng thực tập. Trong chiến lược hòa bình cần phải có sự thực tập bình an cho thân và tâm.

Những người theo đạo Cơ Đốc nhưng lại yêu thích giáo lý đạo Bụt thì có cần phải trở thành Phật tử để thực hành theo giáo lý đó không?

Những người Cơ Đốc nào biết chế tác niệm, định, tuệ thì đã là người Phật tử, dù cho họ có chính thức thọ Tam quy và Ngũ giới hay không. Họ chính là những Phật tử đích thực, dù họ không tự nhận mình là Phật tử, bởi vì tinh yếu của đạo Bụt là niệm, định và tuệ.

Có những người theo đạo Cơ Đốc có khả năng chế tác niệm định tuệ, và như thế họ đã là người Phật tử nhưng họ không cần phải mang danh người Phật tử. Khi họ bày tỏ ước mong được thọ Tam quy và Ngũ giới, họ biết là sự thực tập này giúp cho niềm tin ở Thiên Chúa càng vững mạnh hơn. Họ biết họ không mất đạo gốc, không phản bội truyền thống của họ, vì họ có tuệ giác là ngay trong chính truyền thống của họ, niệm, định, tuệ cũng rất quan trọng.

Đến một trung tâm thực tập đạo Bụt, những người này học hỏi các pháp môn thực tập để có thể giúp họ chế tác niệm, định và tuệ. Họ biết trong chính truyền thống của họ, những năng lượng này cũng rất thiết yếu. Họ muốn sử dụng tuệ giác, kinh nghiệm của họ để làm mới lại truyền thống, để chia sẻ với nhiều người trẻ những phương pháp cụ thể giúp chế tác ra các năng lượng này. Thực tập thiền Phật giáo trên tinh thần như vậy không những giúp họ trở nên những con chiên tốt hơn mà còn giúp họ làm mới lại Cơ Đốc giáo để người trẻ theo đạo Cơ Đốc thấy thoải mái hơn. Truyền thống nào cũng cần phải tự làm mới chính mình để đáp ứng được những nhu yếu mới của xã hội, đạo Bụt cũng vậy.

Vì vậy ta không nên kẹt vào hình thức. Có rất nhiều người tự cho mình là “Phật tử”, nhưng thật ra họ không Phật tử gì mấy, bởi vì họ vẫn còn nhiều kỳ thị và cố chấp. Những người này còn ít chất Phật tử hơn rất nhiều người Cơ Đốc. Có nhiều người Cơ Đốc không cho mình là Phật tử, nhưng họ lại còn Phật tử hơn những người Phật tử này. Chúng ta phải học cách nhìn như vậy. Khi một người Cơ Đốc thực tập các phương pháp thực tập của đạo Bụt một cách đúng đắn, người ấy sẽ không bao giờ bị bứng khỏi gốc rễ Cơ Đốc giáo của mình. Trái lại, người ấy sẽ có cơ hội bồi đắp và làm mới lại truyền thống của chính mình. Thái độ đúng đắn là không khuyến khích người khác rời bỏ gốc rễ tâm linh của họ. Thái độ đúng đắn là phải thúc đẩy họ quay về với gốc rễ tâm linh của họ, và sự thực tập niệm, định, tuệ trong đạo Bụt sẽ có thể làm được việc này. Tôi nghĩ là Phật giáo đã có đủ Phật tử rồi, chúng tôi không cần cải đạo người khác để có thêm Phật tử. Chỉ chăm sóc những Phật tử có sẵn, chúng tôi đã phải tiêu hao nhiều năng lượng, bởi nhiều người trong số họ không thực tập. Vì vậy không cần phải lo lắng về chuyện có thêm Phật tử.

Thầy nhận thấy điều gì khi trở về Việt Nam năm 2015? Ấn tượng của Thầy là gì?

Tôi đã xa xứ gần 40 năm. Tôi rời quê hương để ra nước ngoài vận động ngưng chiến, và vì vậy tôi đã không được phép trở về. Khi trở lại Việt Nam, tôi nhận ra rằng đã có 35 triệu người được sinh ra trong khi tôi vắng mặt. Phần lớn những người tôi gặp là những người tôi không quen biết. Nhưng nhìn cho kỹ, tôi thấy cha mẹ của họ, và tôi có thể tiếp xúc với họ một cách rất sâu sắc. Một điều nổi bật mà tôi nhận thấy là không còn chiến tranh ở Việt Nam, và đây là điều tuyệt vời nhất. Có những vấn đề khác, như tham nhũng, ô nhiễm môi trường, đói nghèo, nhưng không có sự tàn hại một số lượng lớn sinh mạng bằng vũ khí. Như vậy là đã tốt lắm rồi.

Tôi trở về quê hương cùng với một tăng thân gồm 100 vị xuất sĩ và 100 cư sĩ. Một tăng đoàn vững chãi, có niệm, định và tuệ là món quà mà chúng tôi mong muốn cúng dường cho đất nước, cho dân tộc. Tôi rất biết ơn các thầy, các sư cô và các bạn thiền sinh đã đi cùng tôi trong chuyến đi đó, bởi vì họ đã cố gắng hết sức mình để cống hiến sự có mặt đẹp nhất có thể của họ cho con người và đất nước Việt Nam. Có rất nhiều sợ hãi, nghi kỵ và hiểu lầm khi đó, và chúng tôi đã phải thực tập thật sâu sắc để có thể giúp đánh tan sự nghi kỵ, sợ hãi và hiểu lầm.

Các thầy, các sư cô trong phái đoàn thì được ở trong chùa. Thiền sinh thì ở trong các khách sạn. Các bạn thiền sinh đã biến các khách sạn thành trung tâm thực tập. Họ dậy sớm để ngồi thiền và đi thiền. Họ chỉ ăn các thức ăn chay. Họ không bao giờ hút thuốc, uống rượu hay bia. Vì vậy những người theo dõi chúng tôi bắt đầu thấy tăng thân của những người thực tập đạo Bụt là có thật. Họ thấy không những các vị xuất sĩ thực tập đàng hoàng, mà những người cư sĩ cũng vậy. Trong chúng tôi có cả những vị giáo thọ cư sĩ. Dần dần với sự kiên trì, nhẫn nại và từ bi chúng tôi bắt đầu làm cho mọi người thay đổi.

Chúng tôi đã có thể lấy đi cái thấy sai lạc của họ. Chúng tôi giúp họ giảm bớt sợ hãi, nghi kỵ, và trong tháng cuối cùng của chuyến đi, họ đã cho phép chúng tôi có pháp thoại công cộng bên ngoài. Trước đó không có cách nào thuyết phục họ cho phép chúng tôi có pháp thoại công cộng bên ngoài mà chỉ được có pháp thoại trong chùa.

Rất nhiều đảng viên và cán bộ nhà nước đã đến nghe pháp thoại. Họ không bao giờ đến chùa. Đối với rất nhiều người trong đảng và nhà nước, đó là lần đầu tiên họ được tiếp xúc với giáo lý Đạo Bụt Dấn Thân. Họ cảm thấy rất hứng thú. Có thể thấy độ sợ hãi, nghi kỵ và hiểu lầm mỗi ngày mỗi giảm, và chúng tôi đã phá vỡ được thành trì của sợ hãi, nghi kỵ, hiểu lầm.

Chúng tôi biết ảnh hưởng của cuộc viếng thăm đó vẫn tiếp tục. Vẫn còn rất nhiều việc phải làm – đối trị với nghèo đói, bất công xã hội, ô nhiễm môi trường, tham nhũng; và tôi có nói rằng không có tình huynh đệ, không có một chiều hướng tâm linh trong cuộc sống thì không làm thay đổi được tình trạng. Vì vậy trong các bài pháp thoại tôi đã kêu gọi các đảng viên và cán bộ nhà nước phải có sự thực tập tâm linh thì mới có khả năng đối phó với những khó khăn, thách thức mà đất nước đang phải đối diện.

Trong thời gian thăm Việt Nam, chúng tôi đã tổ chức các khóa tu cho những người xuất gia; mỗi khóa có hơn 1000 người tham dự. Ngoài ra còn có các khóa tu cho cư sĩ; pháp thoại và thiền hành. Mặc dù các hoạt động của chúng tôi không được phổ biến trên các phương tiện truyền thông nhưng rất nhiều người Việt vẫn biết về sự có mặt của chúng tôi, và tôi tin rằng có hơn hai trăm ngàn người đã đến và tiếp xúc trực tiếp với tăng thân và với sự thực tập.

Các bài pháp thoại bằng tiếng Việt đã được sao chép ra, và ngày chúng tôi rời Việt Nam, chúng tôi được biết là có năm mươi ngàn CD pháp thoại đã được phát hành, bởi vì người dân có nhu cầu tu tập rất lớn. Vào thời điểm đó, tại chùa Tổ và chùa Bát Nhã đã có khoảng 300 – 400 vị xuất gia thực tập theo pháp môn Làng Mai, và rất nhiều người cũng đang có hứng thú với pháp môn này bởi vì chúng tôi là một điển hình của một đạo Bụt được làm mới. Chúng tôi hy vọng rằng sự hiện diện của các trung tâm tu học này sẽ gây cảm hứng cho các chùa và các trung tâm tu học khác làm mới lại giáo lý và sự thực tập.

Năm nay Thầy sẽ tròn 80 tuổi. Thầy có dự định về hưu tại một thời điểm nào đó trong tư cách một vị lãnh đạo tâm linh không?

Trong đạo Bụt, chúng tôi thấy rằng giáo pháp được trao truyền không chỉ bằng lời nói, mà bằng cách sống. Cuộc sống của một vị thầy chính là giáo pháp, là thông điệp. Và vì tôi tiếp tục ngồi, đi, ăn, và có sự tiếp xúc với tăng thân và với mọi người, tôi vẫn tiếp tục giảng pháp, dù rằng tôi đã khuyến khích các đệ tử lớn của tôi bắt đầu thay thế tôi để cho pháp thoại.

Trong hai năm vừa qua, tôi đã kêu gọi các giáo thọ, cả xuất sĩ lẫn cư sĩ, lên cho pháp thoại. Rất nhiều người đã cho những bài pháp thoại tuyệt vời. Có nhiều bài còn hay hơn cả pháp thoại của tôi. Tôi thấy tôi đã có sự tiếp nối, và tôi sẽ không về hưu. Tôi sẽ tiếp tục giảng pháp, nếu không bằng pháp thoại, thì sẽ bằng cách tôi ngồi, ăn, cười và tiếp xúc với tăng thân. Tôi rất thích sống với tăng thân.

Thậm chí khi tôi không cho pháp thoại, tôi vẫn thích tham gia thiền hành, thiền tọa, ăn trong chánh niệm, v.v… Thành ra xin quý vị đừng lo. Khi người ta được tiếp xúc với sự thực tập, họ sẽ có cảm hứng. Không cần phải nói mới có thể giảng pháp. Chỉ cần sống một cách sâu sắc và chánh niệm.

Nguồn: https://plumvillage.org/thich-nhat-hanh-interviews/thich-nhat-hanh-answers-weekly-magazine/

Chữa lành vết thương chiến tranh

 

Velcrow Ripper

(Đăng trên tạp chí Lion’s Roar – trước đây là Shambhala Sun – ngày 1.9.2007)

Nhà làm phim Velcrow Ripper tường thuật chuyến đi lịch sử về thăm quê hương của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, chuyến trở về đã thu hút hàng vạn người cùng tới để hồi sinh sự thực tập đạo Bụt và chữa lành vết thương chiến tranh.

Ý về muôn vạn nẻo

Thiền lộ tâm an nhiên

Từng bước gió mát dậy

Từng bước nở hoa sen

– Thích Nhất Hạnh –

Trong tận cùng tăm tối của thời kỳ bom napalm, của bom trải thảm và chất độc màu da cam, một bông hoa đã hé cánh trong hình dạng của một tu sĩ Phật giáo trẻ với cái tên Thích Nhất Hạnh. Thay vì đóng cửa trái tim trước thảm kịch chiến tranh Việt Nam, người tu sĩ đó đã làm ngược lại, Thầy đã mở lòng ra để tiếp xúc với nguồn sức mạnh vô biên. Thầy đã khơi nguồn cho tình thương đích thực, và trong khi làm như vậy, Thầy đã khởi đầu cho một phong trào mà sau này đã lan rộng trên toàn thế giới, đó là phong trào Đạo Bụt Dấn Thân.

Thầy, như mọi người vẫn thường trìu mến gọi, nhận ra rằng tình thương đích thực phải bắt đầu với sự thực tập nhìn sâu, phải biết xóa tan trong tâm mình các tri giác, định kiến để nhường chỗ cho không gian trong tâm thức. Với một tâm hồn rỗng rang, vắng lặng mọi ảo tưởng, thì lòng từ bi, sự dũng cảm, niềm an lạc và tuệ giác sẽ có không gian để biểu hiện. Và tình thương đích thực sẽ xuất hiện.

Với hiểu biết từ kinh nghiệm trực tiếp về tính tương quan, tương duyên giữa mọi hình thái của sự sống – cái mà Thầy gọi là “tương tức” – Thầy vượt khỏi tư tưởng hay sự quán chiếu đơn thuần để tiến tới hành động. Ngay trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, Thầy đã sáng lập dòng tu Tiếp Hiện, xuất bản một tờ báo quan trọng vận động cho hòa bình, và thành lập trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội (TNPSXH) – một đoàn thể gồm những người được giáo lý của đạo Bụt thức tỉnh và thôi thúc họ trở thành “hoa sen trong biển lửa”. Thầy đã khai sinh ra nền Đạo Bụt Dấn Thân, một phong trào bắt nguồn từ đất nước Việt Nam nhỏ bé mà nay đã lan rộng trên toàn thế giới.

Năm 1966, ở tuổi 40, Thầy bị lưu đày khỏi quê hương Việt Nam thân yêu. Tội của Thầy là đã thấy được khổ đau của cả bên này và bên kia, của những người lính và dân thường, nạn nhân và tội phạm đều tương tức với nhau. Thầy đã khơi dậy nhân tính trong lòng mọi người có liên quan tới cuộc chiến tàn khốc này.

Trong bốn thập kỷ bị lưu đày, Thầy không hề ngơi nghỉ. Thầy đi khắp thế giới truyền đi thông điệp về hòa giải và hòa bình. Sau khi chiến tranh kết thúc, Thầy đã đem những cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam và những người Việt tị nạn đến với nhau để giúp họ tìm được sự hòa giải và hàn gắn. Thầy đến các nhà tù để giúp đỡ các tù nhân về mặt tâm linh, dẫn đầu các cuộc thiền hành vì hòa bình và giảng pháp, sẵn sàng đi tới tất cả những nơi cần đến tuệ giác của Thầy. Một lần, khi Thầy mới trở về từ chuyến thăm tù nhân đầu tiên ở trại cải huấn thuộc bang Maryland (những bài giảng ở đây đã làm căn bản cho cuốn sách Be Free Where You Are – Tự do ở bất kỳ nơi nào), Thầy đã nói rằng Thầy thà đến nơi tù ngục hơn là ở Tịnh độ, bởi vì chính nơi có nhiều khổ đau nhất là nơi có nhiều cơ hội nhất cho sự thực tập từ bi.

Nhưng trong những năm tháng đằng đẵng xa Việt Nam, Thầy luôn luôn lắng nghe tiếng gọi từ quê hương. Lúc này Thầy đã trở thành bậc thầy lỗi lạc trên thế giới. Sau nhiều lần xin phép, cuối cùng vào năm 2005, Thầy đã được trở về quê hương. Thầy và những thành viên trong tăng thân của Thầy đã đi xuyên đất nước Việt Nam, làm công việc khôi phục lại truyền thống tu tập đạo Bụt đã bị gián đoạn bao nhiêu năm bởi chiến tranh.

Mùa xuân năm 2007, Thầy đem tăng thân về thăm quê hương lần thứ hai. Tôi đã được tháp tùng đoàn với tư cách một nhà làm phim và ghi lại chuyến trở về lịch sử này. Trong thời gian ở đây, tôi may mắn được phỏng vấn Thầy và đã được giải thích khá dài về lý do của chuyến trở về và về những gì Thầy đang làm ở đây.

Thầy kể cho tôi rằng: “Chuyến đi này là một cơ hội trở lại Việt Nam và cùng mọi người tu tập. Trong bốn mươi năm, tôi đã không có cơ hội hiến tặng sự giảng dạy và thực tập cho đồng bào Việt Nam. Vì vậy, mục đích duy nhất của chuyến trở về lần này là được gặp mọi người, được đoàn tụ với mọi người, và được hiến tặng những khóa tu, những ngày Chánh Niệm, những bài pháp thoại và những buổi thiền hành. Phần lớn những người tới tham dự đều được sinh ra trong giai đoạn tôi xa quê hương. Nhưng khi nhìn họ, tôi vẫn có thể nhận ra thế hệ cha mẹ của họ. Họ là sự tiếp nối của cha mẹ và họ tiếp tục thực tập cho cha mẹ của mình. Thế hệ trẻ ngày nay rất có cảm hứng đối với một đạo Bụt có khả năng làm mới, vì vậy họ có thể tiếp nhận được giáo lý, hiểu, hành trì và thấm đạo.”

Nhưng Thầy còn muốn làm một điều khác nữa trong chuyến đi này: Liên hệ với những nạn nhân đã chết trong chiến tranh và giúp hàn gắn vết thương mà người dân đã phải gánh chịu trong chiến tranh. “Chúng tôi sẽ tiến hành các Trai đàn để cầu nguyện cho nạn nhân chiến tranh của cả hai phía. Đây là lần đầu tiên một trai đàn như vậy được phép tổ chức. Đó là nghi lễ truyền thống tôn giáo nhưng ở một khía cạnh khác cũng là một lễ hội.

Những người còn sống đến với nhau và tưởng nhớ tới người chết, cầu nguyện cho người chết và hòa giải. Chiến tranh đã để lại rất nhiều vết thương trong từng cá nhân và các bên lâm chiến đã không có cơ hội để hòa giải. Đây là sự thực tập hàn gắn, chữa lành mang tính cộng đồng. Nếu chúng ta không chuyển hóa những khổ đau và thương tích bây giờ thì những khổ đau và thương tích đó sẽ truyền xuống các thế hệ con cháu. Các thế hệ sau sẽ khổ đau mà không hiểu vì sao. Mình nên làm điều gì đó ngay bây giờ để chuyển hóa khổ đau và bất công mà mình đã trải qua.”

Dưới đây là câu chuyện mà tôi đã chứng kiến trong chuyến về Việt Nam năm 2007 của Thầy.

Thành phố Hồ Chí Minh

Thầy đã có cả một chương trình ba tháng dày đặc với các khóa tu, bài giảng và các Trai đàn, nói chuyện với đông đảo quần chúng đến đông kín sân chùa, hướng dẫn những khóa tu thiền có tới 10.000 người tham dự. Thầy còn đem lại cho chúng tôi niềm vinh hạnh khi được tháp tùng Thầy trong một hành trình đi sâu vào chánh niệm, tập trung vào việc hòa giải, giúp chuyển hóa những đau thương của chiến tranh thành tình thương.

Tôi tới sân bay Tân Sơn Nhất vào ngày chuyến hoằng pháp bắt đầu và thấy Thầy đang ngồi trên băng ghế, bao bọc bởi các sư thầy, các sư cô cười rất tươi và rạng ngời hạnh phúc. Một thầy đeo kính tên là Pháp Ấn, một trong những đệ tử lớn của Thầy, lại gần và tôi giải thích với thầy rằng tôi là một nhà làm phim Canada đã được mời tham gia chuyến đi để sưu tầm tài liệu cho bộ phim ký sự của tôi mang tên Fierce Light: When Spirit Meets Action (tạm dịch là Sức mạnh Ánh sáng: Khi tâm linh gặp hành động). Bộ phim này ghi lại tiến trình phát triển của chủ nghĩa tâm linh hành động trên toàn cầu. Chuyến đi của tôi đã kéo dài ba tháng, với mục đích tìm kiếm những câu chuyện đang xảy ra trên thế giới mà Ghandi từng gọi là “soul force” – quyền năng tâm linh, cái mà Alice Walker gọi là “human sunrise” – bình minh nhân loại và cái mà Thiền sư Thích Nhất Hạnh gọi là “love in action” – thương yêu trong hành động.

Chuyến đi của tôi bắt đầu từ New Zealand, viếng thăm một làng thực tập hòa bình của người Maori, ngôi làng mà trước đây phương thức phản kháng dân sự bất bạo động của họ đã truyền cảm hứng cho Gandhi. Ở Kenya, tôi tham dự Diễn đàn Xã hội Thế giới, cuộc họp mặt lớn nhất của những nhân vật lịch sử đã làm thay đổi thế giới. Ở Nam Phi, tôi thăm Phoenix Ashram, nơi phong trào Satyagraha (Chấp trì chân lý) của Gandhi được sinh ra. Ở Ấn Độ, tôi đến thăm những người Dalits (trước đây gọi là giai cấp cùng đinh), những người đang trong giai đoạn thay đổi và tranh đấu cho các quyền dân sự, tương tự như phong trào Dân Quyền ở Hoa Kỳ. Và ở Sri Lanka, tôi ghi hình cộng đồng Sarvadoyan, phong trào lớn nhất theo đường hướng của Gandhi ngày nay. Và giờ đây tôi đang ở Việt Nam với tăng đoàn Làng Mai cùng với một tập thể những thành viên của tăng thân quốc tế, bước vào xứ sở được coi là cái nôi của Đạo Bụt Dấn Thân.

Điểm dừng chân đầu tiên là Thành phố Hồ Chí Minh. Những đường phố của Thành phố Hồ Chí Minh được trang hoàng bởi các biểu ngữ đỏ, tràn ngập xe gắn máy và người qua lại. Ban đầu, băng qua đường tưởng như là một chuyện không thể, nhưng khi theo dõi những người bản xứ, tôi có thể thấy những dòng xe gắn máy rẽ ra như một đàn cá khi có người băng qua đường. Chỉ cần có niềm tin.

Sau bữa sáng trong im lặng với những thành viên khác của tăng thân quốc tế ở nhà hàng của khách sạn, chúng tôi lên xe bus đến chùa Pháp Vân, nơi xuất thân của Đạo Bụt Dấn Thân trong thập niên 60. Cả một rừng máy chụp ảnh đón chào sự trở về của Thầy. Thầy dẫn mọi người đi thiền hành thật chậm rãi và bình yên. Sau đó, chúng tôi đến nhà ăn để nhận áo tràng và bình bát. Tôi luôn bị thu hút bởi sự đơn giản và định tâm của những vị tu sĩ Làng Mai mà tôi được chứng kiến và tôi rất hào hứng trước cơ hội được thực tập gần như là một người tu trong vòng một tháng. Tôi nhìn quanh những người bạn cùng tháp tùng chuyến đi – 70 người nước ngoài từ khắp thế giới – tất cả đều khoác áo tràng lam, hơi ngần ngại nhưng cũng thấy thích thú bởi sự chuyển hóa đột ngột này. Chúng tôi không còn là những người thường nữa.

Đối với người dân Việt Nam, sự có mặt của tăng thân quốc tế này rất quan trọng. Nhiều người Việt đã từ bỏ văn hóa Phật giáo truyền thống, một phần có thể bởi vì họ thiếu sự tự tin. Phương Tây, qua các phương tiện truyền thông, được xem như là thiên đường, thế giới của những chiếc xe ô-tô, những sản phẩm hào nhoáng và sự giàu có dường như vô tận. Hình ảnh của một nhóm đông người Tây phương mặc áo tràng lam và thực tập Phật giáo Việt Nam đem tới cho họ niềm tự hào về văn hóa của dân tộc mình.

Sau một bữa trưa chay tịnh rất ngon miệng, ăn trong những chiếc bình bát mới, chúng tôi cởi giày và gặp nhau dưới một chiếc lều đã được dựng trước chánh điện. Sư cô Chân Không, đệ tử lâu năm và thân cận nhất của Thầy, đón tiếp chúng tôi. Năm 14 tuổi, Sư cô đã bị chấn động bởi khoảng cách bất công giữa người giàu và người nghèo. Sư cô bắt đầu đi gõ cửa từng nhà hàng xóm, nói với họ rằng “Hãy coi con như con chim mổ những hạt cơm sót trong nồi, cho con một nắm gạo, thế thôi, để chia sẻ với những ai không đủ ăn”. Sư cô đã sớm nhận ra vai trò của mình trong cuộc đời này là để thể hiện tình thương qua hành động. Nếu Thầy là thánh Francis thì Sư cô hẳn là thánh Clare.

Sư cô Chân Không là một trong sáu thành viên đầu tiên của dòng tu Tiếp Hiện và trong suốt thời kỳ chiến tranh, cùng với những thanh niên phụng sự xã hội, Sư cô đã hành động không sợ hãi vì hòa bình. Nhóm thanh niên dũng cảm này đã dấn thân vào những nơi xung đột, giúp nạn nhân chiến tranh ổn định lại cuộc sống, giúp tái thiết những xóm làng bị dội bom, xuyên qua làng mạc tan hoang trong tinh thần quả cảm. Có những làng vừa được dựng lại thì đã bị dội bom, rồi dựng lại, rồi bị dội bom, hết lần này đến lần khác. Rất nhiều người trong số những thanh niên đi theo con đường hành động tâm linh này bị giết hoặc bị thương, nhưng họ vẫn khước từ hận thù, nhất định không đứng về một phe nào, và không bỏ cuộc.

Mặc dù Thầy được coi là người đặt ra khái niệm “Đạo Bụt Dấn Thân” nhưng Thầy tin chắc rằng đạo Bụt dù dưới hình thức nào đều phải dấn thân, nếu không thì không phải là đạo Bụt. Thầy giải thích rằng “Khi thực tập ngồi thiền trong chùa mà nghe tiếng bom và tiếng kêu khóc ở ngoài, ta phải đi ra để giúp đỡ, bởi vì thiền là ý thức những gì đang xảy ra trong bản thân cũng như ở xung quanh. Trong tình trạng chiến tranh, ta phải dấn thân thì mới thực sự đúng với truyền thống từ bi và thương yêu. Nhưng nếu quá bận rộn làm công việc cứu trợ, ta sẽ đánh mất sự thực tập và sẽ bị kiệt sức. Đó là lý do tại sao ta phải tìm những phương pháp để duy trì sự thực tập, duy trì sự vững chãi, tự do và bình an trong khi làm việc”.

“Bất bạo động là biểu hiện của tình thương. Xã hội hiện giờ có rất nhiều tệ nạn, đó là hậu quả của quá trình phát triển và toàn cầu hóa. Nếu mình có tình thương đích thực, mình sẽ thấy cần phải làm gì để chuyển hóa những vấn đề như ma túy, bạo lực và sự tan vỡ gia đình. Có rất nhiều, rất nhiều cách để bày tỏ tình thương của mình”.

Mười ngàn trái tim

Sau chuyến về thăm Việt Nam lần đầu tiên, Thầy đã thành lập tu viện Bát Nhã, gần thị xã Bảo Lộc, cách Sài Gòn khoảng sáu tiếng đi xe buýt. Nơi đây thật đẹp với chánh điện, thiền đường, các cư xá nằm trên sườn đồi bao bọc bởi rừng thông và rừng cà phê. Thung lũng phía dưới được trang trí bởi những con đường đất đỏ mịn chạy ngoằn ngoèo rất lý tưởng cho đi thiền hành, đây đó có những thất nhỏ cho ngồi thiền. Cuối thung lũng là một tượng Bụt rất lớn ngồi dưới gốc cây và phía bên kia là tượng Bồ tát Quan Thế Âm – vị Bồ tát đại từ đại bi. Gương mặt Bồ tát thật thanh thản và rạng rỡ. Một ngôi chùa hiền lành với những lớp mái cong và sàn đá mát lạnh để lễ lạy và ngồi thiền, những hàng tượng lân đá được đặt tại các góc chùa, giống như các vị hộ pháp của lòng từ bi. Dưới chân đồi là hàng chữ khắc vào đá “Đã về, đã tới”.

Trước đây, chỉ có một ngôi chùa ở đây. Vị trụ trì là người yểm trợ Thầy hết lòng. Trong suốt thời gian Thầy xa quê hương, Thượng tọa Viện chủ vẫn giữ liên lạc và giúp Làng Mai thực hiện và mở rộng phạm vi các dự án xã hội trong vùng. Khi Thầy trở về Việt Nam lần đầu tiên ba năm về trước, Thầy đã thành lập một tu viện mới trên những khu đất xung quanh. Trong khoảng thời gian ba năm đó, tu viện đã được mở rộng nhanh chóng. Ba trăm vị xuất sĩ đang tu tập tại đây và những đợt xuất gia vẫn diễn ra đều đặn. Điều này chứng tỏ sự hồi sinh của Phật giáo tại Việt Nam.

Sau một ngày “làm biếng”, một ngày không thời khóa, chúng tôi bắt đầu một khóa tu cùng mười ngàn thiền sinh Việt Nam. Không ai ngờ con số lại lớn đến vậy, chứng tỏ một niềm khao khát mạnh mẽ đối với giáo pháp tại đây. Chúng tôi ngồi chung, mười ngàn trái tim, tiếp nhận sự tỏa rạng dịu dàng từ người Thầy đang trở về với quê hương, phục sinh lại một tôn giáo đã bị khô cứng.

Thầy nói rằng tôn giáo cũng giống như vỏ của quả mít, ta phải biết ăn những múi ngọt bên trong. Chúng ta cần trở lại với giáo lý Nguyên thủy. Đức Bụt đã dạy về vô tướng – nghĩa là đừng để bị kẹt vào tướng. Sư cô Chân Không nói với tôi: “Trong thời Bụt không có đạo Bụt. Chúng ta phải tiếp xúc với sự bình an, ánh sáng và sự hiểu biết sâu sắc trong tự thân mình. Đó là Bụt ở trong ta. Chúng ta có thể gọi đó là Thượng Đế hay Thánh Allah. Ta không cần đặt nó vào một khuôn khổ và gọi nó là đạo Bụt hay đạo Cơ Đốc hay đạo Do Thái. Chúng ta phải sử dụng pháp khí vô tướng mà Bụt đã trao truyền. Khi đó ta có thể tiếp xúc với thực tại vĩ đại và đẹp đẽ kia mà không bị kẹt vào danh xưng hay tướng trạng”.

Khi tình thương thấm đẫm trong ta

Đến giữa chuyến đi, tôi cảm thấy được bao trùm bởi tình thương. Tôi đã có thể tạm kìm được những bước chân của mình khi đi thiền hành – thiền hành đối với tôi lúc ấy giống như thiền trượt vậy. May mắn làm sao, tăng thân Làng Mai là nơi an toàn cho một người đang yêu. Không ai nghĩ tôi bị điên nếu tôi có cười hơi rộng miệng một chút. Mọi thứ đều diễn ra rất hài hòa. Đối với tôi bấy giờ, từng tiếng chim líu lo cũng trở thành bản tình ca.

Khi chứng kiến Thầy hướng dẫn thiền hành buổi sáng, tôi cảm nhận được trái tim rộng mở của Thầy. Hình thái thiền của Thầy khác xa với các khuôn mẫu thiền dùng gậy đập hay sử dụng công án rập khuôn của các vị Tổ. Thiền của Thầy là sự thực tập thấm đẫm tình thương, trong mọi chiều hướng. Bạn có thể thấy điều này đang truyền qua những đệ tử của Thầy. Tăng thân này tỏa chiếu tình thương và những nụ cười. Ngay cả khi Thầy không hiện diện, tôi vẫn hấp thụ được giáo pháp của Thầy, giáo pháp trao truyền nguyên vẹn qua những người đệ tử. Đây không phải là một đoàn thể các thầy, các sư cô nghiêm khắc, ép mình, những người sợ hãi, trốn tránh cuộc đời trong nếp sống tu viện. Những con người này thực sự dấn thân, họ sống sâu sắc trong giây phút hiện tại, chia sẻ hết lòng những cái thấy của họ trong quá trình tu tập với những người như chúng tôi.

Đại đức Pháp Ấn, một trong những đệ tử lớn của Thầy, nói rằng trước khi gặp Thầy, đại đức đã thiền quán nhiều năm về công án đơn giản “Tôi là ai?”. Những câu hỏi “Tôi là ai đang nâng cánh tay này? Tôi là ai đang bước đi? Tôi là ai đang di chuyển qua không gian?” trở thành điều ám ảnh. Sau khi được gặp Thầy, đại đức khám phá ra thiền tập trong hành động. Đại đức ngừng triết lý và bắt đầu sống, sống sâu sắc. Làng Mai cũng có những pháp môn thiền tập theo nghi thức truyền thống nhưng không nhiều. Điều quan trọng hơn cả là bạn sống ra sao, thực sự có mặt ra sao. Không phải là vấn đề phân tích bản thân để đưa tới sự giác ngộ, mà là sống. Sống thật sâu. Bây giờ, bây giờ và bây giờ.

Khi tôi hỏi đại đức Pháp Ấn về ý nghĩa của tình thương, đại đức nói “Khi bạn mở mắt là tình thương xuất hiện. Tình thương là một trạng thái của tâm khi mình sáng suốt, tỉnh thức. Giữa bạn và phần còn lại của vũ trụ kết nối mật thiết với nhau. Đó là nguồn năng lượng làm bạn hòa nhập với mọi vật. Quá trình cởi mở bắt đầu dần dần và tâm bạn bắt đầu mở rộng, bạn bắt đầu nhìn mọi việc rõ ràng hơn. Bạn nghe được tiếng chim ríu rít và thấy được màu tre xanh. Bạn cảm nhận được rất nhiều năng lượng để sống. Đó là tình thương. Nó cho bạn năng lượng để phụng sự. Bạn cảm thấy cuộc sống thật mầu nhiệm. Đó là tình thương có tính tâm linh.”

Tôi thích hỏi về tình thương, hiện tại tôi đang được sống trong tình thương. Tôi hỏi Sư cô Chân Không về tình thương, và câu trả lời của Sư cô đẹp đến nỗi làm tôi trào nước mắt. Sư cô nói ra từ chiều sâu của sự hiểu biết, với một giọng ngọt ngào, nhẹ nhàng nhưng mạnh mẽ. Ngọt ngào như một bông hoa và mạnh mẽ như sư tử. Sư cô nói rằng chúng ta cần thương yêu một người như thương yêu một cái cây – không chỉ yêu bề mặt, không chỉ yêu cành lá hay thân cây mà phải yêu cả gốc rễ. Chúng ta cần tập yêu tất cả những gì thuộc về người đó – tổ tiên, gia đình, bạn bè, ước mơ và hoài vọng của họ. Yêu tất cả những phần tạo nên con người ấy. Điều gì thực sự có ý nghĩa đối với người mình yêu? Một người biết yêu thương luôn luôn hiến tặng niềm vui và làm vơi nỗi khổ.

Có rất nhiều nỗi đau khổ ở Việt Nam cần được làm vơi. Như Thầy nói “Chiến tranh tạo ra biết bao nạn nhân. Có biết bao bất công đã xảy ra cho người dân ở cả hai miền Nam – Bắc, hàng trăm nghìn thuyền nhân đã bỏ mạng trên biển, bao nhiêu người chết trong ngục tù và trong các trại cải tạo, bao nhiêu chiến sĩ của cả hai miền Nam – Bắc đã chết trên chiến trường, giữa núi rừng và trên sông, bao nhiêu người mất không tìm ra hài cốt”.

Bữa cơm tối đơn sơ cùng Thầy

Sau vài tuần ở lại tu viện tôi đã chụp được những hình ảnh tôi cần, từ hình ảnh các thầy các sư cô thiền hành chậm rãi, cho đến những dòng suối tung bọt, tượng Bụt thật lớn, tượng Bồ tát Quan Thế Âm và những chú lân hộ pháp, những hàng áo nâu khiêm cung ngồi trên chánh điện với khuôn mặt thanh thản và cặp mắt khép nhẹ đang đi sâu vào thiền định.

Tôi có tất cả, chỉ còn thiếu hình ảnh của buổi phỏng vấn với Thầy. Tôi muốn hỏi Thầy về ý nghĩa đích thực của tình thương. Chúng tôi đã hoãn lại ngày rời tu viện đi Thành phố Hồ Chí Minh để chờ phỏng vấn Thầy. Ngày nào Sư cô Chân Không cũng đưa tin cho chúng tôi và bảo “Có thể ngày mai!”.

Những ngày tháng chờ đợi cứ trôi qua, chúng tôi bắt đầu cảm thấy như trong phim Chờ đợi Fidel, bộ phim kể về một đoàn làm phim tài liệu đến Cuba để phỏng vấn ngài Fidel Castro. Đoàn làm phim luôn được bảo rằng “Chắc chắn ngày mai”. Họ tự quay phim mình và dần dần phát điên, uống say rượu rum Cuba và suốt ngày tranh cãi. Họ không bao giờ có được buổi phỏng vấn, nhưng cũng cho ra một cuốn phim khôi hài làm bài học. Chúng tôi không uống say túy lúy ở đây, mặc dù thỉnh thoảng cũng có lẻn ra khỏi tu viện để ăn kem.

Cái mà chúng tôi nhận thấy là chúng tôi có thêm thời gian yên tĩnh để quán chiếu và có thêm kiên nhẫn. Một cơ hội cho giáo pháp thấm vào. Lúc đó đang có một khóa tu cho người xuất gia, tất cả đều nhẹ nhàng và yên lặng, một đại dương của những nụ cười không tắt. Cả tháng trời tôi chỉ cười và chắp tay vái như người điên. Nếu tôi tiếp tục làm như vậy khi về nhà thì chắc mọi người sẽ nghĩ tôi điên thật.

Một buổi sáng, khi đang theo lối mòn đi lên từ thung lũng nhỏ xinh mà tôi yêu thích, tôi bỗng thấy Thầy, chỉ đi cùng với hai thị giả. Tôi dừng lại xá chào và Thầy nở một nụ cười thật tuyệt vời với tôi. Tôi hơi sợ, bởi vì thông thường mỗi khi thấy Thầy thì hoặc là Thầy đang ngồi trước cả 10.000 người hoặc là đang thiền hành với hàng nghìn người phía sau. Tôi cũng cười thật tươi và định đi tiếp, nhưng Thầy nói “Thầy nghĩ hôm nay anh có thể phỏng vấn. Thầy sẽ cho biết sau.” Tôi vội vàng đáp lại “Con cảm ơn Thầy rất nhiều”.

Chúng tôi xá nhau, cười với nhau và tôi tiếp tục đi. Vài tiếng đồng hồ sau, buổi phỏng vấn được ấn định. Tôi xuống bếp và gặp Sư cô Chân Không.

“Anh đã sẵn sàng chưa? Đã có máy quay phim chưa?”

“Thưa, có ngay đây rồi.” Tôi vỗ vào chiếc túi nâu, chiếc máy ghi hình đã nằm gọn ghẽ bên trong.

“Bây giờ anh đi lấy thức ăn rồi mang xuống luôn.”

Thế là chúng tôi sẽ được ăn tối với Thầy. Người sản xuất phim của tôi, Cher, và tôi lấy đầy thức ăn vào bát, những món ăn chay đơn giản – cơm, mít, một chút đậu hũ, rau muống luộc. Sư cô Chân Không đưa chúng tôi xuống cốc của Thầy, một ngôi nhà nhỏ xinh, giống như một ngôi chùa thu nhỏ. Chúng tôi tháo giày và bước vào. Thầy đang ngồi sau chiếc bàn gỗ thấp có bày một khay thức ăn với những chiếc bát nhỏ đựng cơm gạo lứt và các loại rau xanh. Hai chiếc gối ngồi thiền đã được đặt sẵn cho chúng tôi. Thầy cười, “Mời quí vị vào, xin mời ngồi xuống.”

Chúng tôi ngồi xuống, bên cạnh Sư cô Chân Không.

“Hôm nay Thầy thấy anh đi xuống suối. Anh đang quay phim thác nước à?” Buổi sáng đó, khi đứng ở đầu dốc, tôi đã ghi hình Thầy đang bước đi dọc bờ suối. Thầy nhìn lên phía tôi khi tôi đang quay phim. Tôi sợ Thầy nghĩ rằng tôi đang xâm phạm sự riêng tư của Thầy, nhưng qua nụ cười của Thầy, tôi có thể thấy Thầy rất vui khi tôi ghi hình những cảnh đẹp của tu viện Bát Nhã.

“Thưa vâng, dưới đó thật đẹp, thật yên bình.”

Thầy chỉ vào bát của chúng tôi: “Mời các anh dùng cơm”.

Thể hiện lòng tôn kính, chúng tôi đợi đến khi Thầy gắp đũa đầu tiên mới bắt đầu ăn. Thầy gắp cho tôi một miếng đậu hủ kho sả. “Thử đi. Ngon lắm đấy.” Tôi đưa bát ra và Thầy bỏ vào.

“Thưa, ngon thật.” Tôi công nhận. “Những khu vườn ở đây thật đẹp. Mình có thể trồng rau quanh năm được không ạ?”

“Được chứ, quanh năm.”

Chúng tôi ăn trong im lặng một lát, rồi bàn về khóa tu cho cư sĩ. Tôi kể cho Thầy rằng tôi không thể tưởng tượng được tu viện lại có thể thu xếp ăn ở cho từng đó con người. “Thực tế là chúng tôi không có đủ cơ sở vật chất”, giọng Thầy thật nhẹ, “Mọi người ngủ ở mọi nơi, và không có đủ cả nhà vệ sinh. Chúng tôi sẽ phải xây thêm. Thử cái này đi. Anh có biết nó là gì không? Thầy không biết tiếng Anh gọi nó là gì”. Thầy lại gắp cho tôi một lá rau có mùi thơm.

“Thưa, cái này ăn giống rau ngò”, tôi đáp lời.

Thầy gắp một lá cho chính mình, nhai rất cẩn trọng, tận hưởng cảm giác thích thú. Thật đúng là thú vui của một thầy tu. Thầy gắp tiếp cho tôi một loại lá khác. “Cái này giúp nhuận tràng”, Sư cô Chân Không nói, dường như hơi quá nhiều thông tin. Sư cô lật qua một tạp chí Việt Nam trong đó có bài viết về chuyến đi. Sư cô rất thoải mái. Sư cô đã cùng Thầy đi chung con đường này hơn bốn thập kỷ qua.

Thầy bật cười nhẹ khi đưa cho chúng tôi đĩa nấm chiên và giải thích “Thịt chay đấy.” “Rồi các anh cảm thấy ra sao khi ở đây với chúng tôi?”

Tôi đáp: “Thưa, thật tuyệt vời. Nó cũng giúp chúng con thật sự nâng cao kỹ năng làm phim. Con luôn nói rằng làm phim là phải tỉnh thức, phải thực sự nhìn, nhưng ở đây, được bao bọc bởi sự thực tập chánh niệm của nhiều người, con thấy mình còn chánh niệm hơn nữa. Ngay cả khi con không trực tiếp tham gia thiền hành thì con cũng di chuyển từ chỗ này đến chỗ kia một cách chánh niệm. Từng khoảnh khắc đều là thiền. Cảm ơn Thầy vì điều đó.”

Cher nói thêm: “Nhóm thiền sinh muốn con kể cho Thầy biết họ thật là hạnh phúc khi được đi chuyến này cùng Thầy. Họ nhờ con gửi lời đến Thầy.”

Thầy chắp hai bàn tay và xá. Sư cô Chân Không kể về chuyến thăm của Sư cô tới những ngôi trường không phải đóng học phí và được dạy theo đường hướng tâm linh đạo Bụt do Làng Mai giúp thành lập ở những nơi trẻ em không có điều kiện đi học. Sư cô ngồi giữa các em nhỏ luôn luôn là hình ảnh ngọt ngào – trông Sư cô giống như em bé nhất giữa các em. Sư cô tả lại cho Thầy nghe Sư cô đã ngồi sau xe gắn máy ra sao để đến thăm được những ngôi trường ở vùng sâu vùng xa, nảy lên nảy xuống trên con đường đất đỏ bụi bặm xuyên qua những vườn cà phê và lên dốc xuống đèo. Sư cô cười phá lên khi kể đến đoạn người lái xe gắn máy cố gắng trấn an Sư cô: “Sư cô đừng lo, nếu Sư cô ngã thì con cũng ngã mà”. Niềm vui của Sư cô rộn rã, có phần đối lập với niềm vui bình lặng của Thầy.

Sau bữa tối, Thầy mời chúng tôi bánh quy và chúng tôi đặt máy quay phim cho buổi phỏng vấn. Thầy bảo tôi: “Câu hỏi hay sẽ có câu trả lời hay”.

Thầy nhìn sâu vào mắt tôi, ôm trọn tôi trong cái nhìn dịu dàng nhưng mạnh mẽ, như là câu trả lời đối với câu hỏi của tôi về ý nghĩa của tình thương. “Tình thương trong đạo Bụt có rất nhiều nghĩa. Trước hết, đó là lòng từ, khả năng hiến tặng niềm vui, hiến tặng hạnh phúc. Yếu tố thứ hai của tình thương đích thực trong đạo Bụt là tâm bi. Tâm bi là khả năng tháo gỡ niềm đau nỗi khổ và sự tuyệt vọng của người khác. Yếu tố thứ ba của tình thương đích thực là hỷ; trong tình thương đích thực phải có niềm vui. Và yếu tố cuối cùng của tình thương đích thực trong đạo Bụt là xả, nghĩa là bao dung. Mình không được loại trừ bất kỳ ai, không có sự phân biệt. Đây chính là yếu tố của tình thương đích thực. Nếu mình thương trong tinh thần đó, mình sẽ giữ được tự do. Mình sẽ không khổ đau nữa và không còn làm cho người khác khổ đau. Và khi chúng ta có tình thương đó trong lòng, tất cả những điều chúng ta nói, chúng ta làm đều biểu lộ tình thương.”

Đại Trai Đàn chẩn tế

Biểu hiện lớn nhất cho tình thương của Thầy là ba Đại Trai Đàn chẩn tế cho 3 – 5 triệu người đã chết trong chiến tranh. Ba Đại Trai Đàn đã được tổ chức tại ba thành phố ở ba miền Bắc, Trung, Nam – mỗi Trai Đàn kéo dài ba ngày – để hàn gắn vết thương chiến tranh. Thầy nhấn mạnh rằng nghi thức tế lễ và tán tụng ở các miền khá khác biệt, phản ánh tinh hoa và truyền thống của các vùng khác nhau trên đất nước Việt Nam. Mọi người ở khắp nơi trên thế giới đều được mời tham dự các buổi lễ, cầu nguyện theo bất kỳ hình thức nào thích hợp với họ, ngay cả những người không theo tôn giáo nào cũng có thể tham dự. Thầy mời những nhà lãnh đạo phát biểu những văn bản mang tính đề cao giá trị nhân văn. Thầy giải thích “Đây là sự thực tập có tác dụng trị liệu, đã có từ lâu đời và ăn sâu vào truyền thống của người Việt. Phần đông chúng tôi đều tin rằng linh hồn của những người đã khuất sẽ đáp ứng lại lời mời của chúng tôi mà đến thọ thực trong thời gian các Đại Trai Đàn diễn ra. Chúng tôi sẽ cúng dường thức ăn, nước uống và đặc biệt là cúng dường pháp để họ có thể nghe kinh và chuyển hóa những đau khổ của họ, và để họ có thể được sinh ra ở những nơi tốt hơn.”

Đại Trai Đàn đầu tiên được tổ chức một tháng sau khi bắt đầu chuyến đi tại một ngôi chùa lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh. Cả khuôn viên chùa trở nên sống động với các biểu ngữ, bàn thờ và những phòng ở tầng dưới đầy những danh sách tên của những người thiệt mạng. Hàng ngàn người đã ở lại trong suốt ba ngày nghi lễ tưng bừng của Đại Trai Đàn. Các vị tu sĩ đã tới thăm những nghĩa trang bị quên lãng trong nhiều thập kỷ qua, ngay cả đối với những thành viên trong gia đình người đã mất. Họ mời linh hồn những người bị bỏ rơi này tới tham dự Trai đàn. Tất cả đều được đón chào. Những chiếc thuyền giấy hình hoa sen nhiều màu sắc đã được thả xuống sông, những lễ dâng hương được tiến hành, những buổi tụng kinh kéo dài đến đêm khuya.

Thầy khai mạc Đại Trai Đàn ở Thành phố Hồ Chí Minh với một bài pháp thoại hùng hồn. Thầy ngồi trước chúng tôi, với đôi mắt bình thản, mở lớn và sáng quắc. Thầy hỏi chúng tôi khi người thương của mình mất đi, họ sẽ về đâu. Thầy nói mỗi người cần nhìn sâu để thấy rằng những người đã khuất đang có mặt trong chúng ta, giống như là đám mây đã trở thành mưa và nước mưa trở thành nước trà. Và như thế thì tổ tiên của chúng ta đang được tiếp nối trong chúng ta. Nếu chúng ta khỏe mạnh, nhẹ nhàng và tự do trong thân và tâm thì tổ tiên của chúng ta cũng sẽ được như vậy. Những người thương của chúng ta chỉ thay đổi về hình thức mà nội dung thì không đến không đi, không sinh không diệt. Tất cả những ai đã chết một cách oan ức trong chiến tranh cần đến năng lượng cộng đồng của toàn đất nước để được chữa lành. Chúng tôi đã ngồi tham dự buổi lễ kéo dài hàng giờ, toàn bộ gánh nặng của những gì đã xảy ra trên mảnh đất đầy thương tích này tràn về. Nước mắt tôi bắt đầu rơi, những giọt mưa của tổ tiên. Tôi đón chào những giọt nước mắt này. Từ khi tôi mở trái tim ra để thương, tôi đã thấy rằng tôi không còn sợ những giọt nước mắt nữa. Sư cô Chân Không nói với tôi rằng khi Hà Nội bị bỏ bom, Thầy đã khóc bởi vì những đồng bào của Thầy đang chết. Và khi Afghanistan bị bỏ bom, hay khi Iraq bị bỏ bom, Thầy cũng đã khóc với cùng một niềm quan tâm sâu sắc. Thầy không phân biệt. Tất cả những người đã khuất đều xứng đáng với những giọt nước mắt của chúng ta. Thầy đã viết một lá thư cho Tổng thống George W. Bush, hy vọng rằng Tổng thống có thể mở rộng trái tim mình để cảm thông cho những người dân đang bị ngài thả bom. Thầy nói rằng “Tôi mong ngài có thể khóc như tôi, ngài có thể đau khổ nhưng sau đó ngài có thể đưa ra những quyết định tốt nhất.”

Thầy không hề yếu đuối, ngay cả khi Thầy mở rộng trái tim mình. Thầy là một bằng chứng sống của lòng từ bi mạnh mẽ. Thời gian được cùng Thầy sắp chấm dứt. Thầy nhìn tôi với ánh mắt thật sâu. “Trong truyền thống đạo Bụt, tình thương bắt nguồn từ sự hiểu biết. Để có thể hiểu, mình phải dành thời giờ để nhìn sâu và lắng nghe sâu. Nếu mình có tình thương đó thì tất cả những lời mình nói, tất cả những điều mình làm đều bất bạo động, không phải đơn thuần là chiến thuật mà là sự biểu hiện của tình thương. Hiểu thấu được khổ đau của người khác sẽ đem lại tình thương đích thực.”

Nguồn: https://www.lionsroar.com/i-am-home/

Tình thương và giải thoát

 

Melvin McLeod

Chủ bút tạp chí Lion’s Roar – trước đây là Shambala Sun, đăng ngày 26.4.2010

Trong cuộc phỏng vấn này, Thiền sư Thích Nhất Hạnh nói về tình thương đích thực, những lợi ích của khổ đau và tuệ giác giúp chúng ta được giải thoát, tự do. Thầy nói rằng Thầy giảng dạy về Phật giáo Nguyên thủy theo tinh thần Đại thừa. Tôi có thể nói rằng cho đến hôm nay, tôi chưa gặp được một ai khác có thể truyền đạt những giáo lý cốt tủy của đạo Bụt một cách rõ ràng và sâu sắc như Thầy.

Melvin McLeod: Kính thưa Thầy, vì sao chánh niệm là chìa khóa của hạnh phúc?

Thầy: Chánh niệm đưa đến định. Định đưa đến cái thấy thâm sâu là tuệ giác. Tuệ giác có công năng giải phóng ta khỏi sự mê mờ, giận hờn và tham đắm. Khi ta thoát khỏi được phiền não thì hạnh phúc có mặt. Làm sao ta có thể hạnh phúc được khi trong ta đầy ắp giận hờn, si mê và tham lam? Thế nên cái thấy sâu sắc – tuệ giác – có công năng cởi trói cho ta khỏi những ràng buộc khổ lụy ấy chính là chìa khóa của hạnh phúc. Có rất nhiều điều kiện hạnh phúc đang có mặt, nhưng ta thường ít để ý nhận diện nó, bởi vì chúng ta không đủ chánh niệm.

Khi thân và tâm trở về một mối thì ta thật sự có mặt, ta thật sự đang sống. Ta có thể tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống đang có mặt bây giờ và ở đây. Thành ra, ta không chỉ thực tập với tâm, mà còn thực tập với thân của mình nữa. Thân và tâm phải hợp nhất, không phải là hai thực thể tách rời. Trên căn bản ấy, ta sẽ thấy những gì ta đang tìm cầu đã có mặt từ lâu rồi, cho dù cái mà ta tìm cầu là giác ngộ, niết bàn, giải thoát, Phật, Pháp, Tăng hay là hạnh phúc, tất thảy đều đang có mặt. Thực ra, địa điểm duy nhất và thời điểm duy nhất mà ta có thể tìm được những cái kể trên là bây giờ và ở đây.

Melvin McLeod: Ngược lại, khi thân và tâm tách rời, khi chúng ta bị lạc lối trong suy nghĩ và không còn ở hiện tại, phải chăng chúng ta đang dẫn dắt một xác chết.

Thầy: Có thể trên bề mặt trí năng, ai cũng đều biết rằng ta phải sống trong phút giây hiện tại, nhưng thói quen để cho tâm bị trôi lăn, phân tán đã hiện diện trong ta lâu lắm rồi. Nó cứ đẩy ta đi vòng vòng, cho nên ta đánh mất khả năng có mặt để sống sâu sắc trong phút giây hiện tại. Vì thế sự thực tập rất quan trọng. Nếu chỉ hiểu và nói về nó thôi thì chưa đủ. Ta phải thực tập đủ lâu để có thể thực sự dừng lại thói quen rong ruổi và thiết lập thân tâm trong phút giây hiện tại. Đó là sự thực tập rất cơ bản: dừng lại. Dừng lại, nhìn sâu và tìm ra hạnh phúc, tự do. Đó là con đường của Bụt.

Melvin McLeod: Thầy thường nhấn mạnh đến niềm vui trong sự thực tập – niềm vui khi đặt những bước chân trên mặt đất, niềm vui khi thở vào một hơi thở chánh niệm. Có thể vì cái quá khứ học Phật quá cứng nhắc và nghiêm khắc của chúng tôi mà chúng tôi thấy dễ chấp nhận hơn khi nghe rằng mình tu theo Bụt thì tu làm sao cho cứng cỏi, không để bị kéo đi bởi niềm vui. Chúng tôi gần như cảm thấy tôn giáo mà gắn liền với niềm vui và ăn mừng sự sống thì hình như có gì không đúng lắm.

Thầy: Tôi nghĩ rằng phần đông khi nghe giáo lý của Bụt về bốn sự thật mầu nhiệm (Tứ diệu đế), nhất là sự thật đầu tiên, họ nghe những chữ như khổ đau, phiền não cho nên họ nghĩ đạo Bụt chỉ nói đến khổ đau mà thôi. Nhưng họ không nhớ rằng sự thật thứ ba là nói về hạnh phúc, đối lập với phiền não, khổ đau. Bốn sự thật mầu nhiệm mà Bụt dạy là: 1. Có khổ đau, có phiền não; 2. Có con đường đưa ta đến chỗ khổ đau; 3. Có thể chấm dứt khổ đau, nghĩa là có hạnh phúc; 4. Có con đường dẫn tới hạnh phúc. Có lẽ chúng ta nên trình bày giáo lý Tứ diệu đế bắt đầu bằng hai sự thật thứ 3 và thứ 4 trước, cụ thể là: 1. Sự có mặt của hạnh phúc; 2. Có con đường đưa tới hạnh phúc; 3. Sự có mặt của khổ đau; 4. Có con đường đưa tới khổ đau.

Melvin McLeod: Khi có chánh niệm, ta khám phá ra nhiều niềm vui nhưng đồng thời cũng khám phá ra nhiều niềm đau và thương tích trong ta, đó là kinh nghiệm khó xử khi thực tập chánh niệm. Vậy khi khổ đau trỗi dậy, chúng ta cần thực tập như thế nào thưa Thầy?

Thầy: Khổ đau và hạnh phúc tương tức với nhau. Chúng ta có thể nhận diện được hạnh phúc dễ dàng hơn nhờ vào nền tảng khổ đau trong quá khứ. Ví dụ như ta thấy rõ hơn những chữ trắng nếu nó nằm trên nền đen. Nếu ta đã từng bị đói, ta mới thấm thía được niềm hạnh phúc khi có thứ gì đó để ăn. Nếu ta đã từng khổ đau vì chiến tranh, ta mới cảm nhận được giá trị lớn lao của hòa bình. Nếu không, ta sẽ không trân quý hòa bình, ta chỉ muốn đánh giặc thôi. Thành ra, kinh nghiệm của ta về khổ đau trong chiến tranh sẽ giúp ta tìm nhiều cách để gìn giữ hòa bình. Vì thế nếu có một chút khổ đau cũng là điều hữu ích, nhờ vào nền tảng khổ đau ấy mà ta nhận diện được hạnh phúc.

Phần đông chúng ta ai cũng có khuynh hướng tìm kiếm khoái lạc và trốn tránh khổ đau. Điều này có gốc rễ sâu xa từ một phần trong tàng thức của ta, gọi là mạt-na thức (tiếng Phạn là manas). Mạt-na chỉ muốn tìm kiếm dục lạc và lẩn tránh khổ đau. Vì bị vô minh che lấp nên mạt-na không thấy được những hiểm nguy của sự tìm kiếm dục lạc ấy. Như con cá đã được báo trước là hãy coi chừng những miếng mồi ngon vì bên trong có thể có lưỡi câu móc họng, nhưng nó vẫn không cưỡng được sự cuốn hút của miếng mồi. Mạt-na không nhận thấy được hiểm nguy của sự tìm kiếm dục lạc, và cũng không nhận thấy rằng khổ đau cũng có ý nghĩa của nó. Khổ đau một chút cũng tốt, bởi vì khổ đau giúp cho ta chế tác hiểu biết và thương yêu.

Bởi vì mạt-na không thấy được những hiểm nguy của dục lạc, cũng như không biết đến cái lợi lạc của bài học khổ đau nên chúng ta phải chuyển tải vào tàng thức cái thấy (hay tuệ giác) mà ta có được trong khi thiền tập. Bởi vì suy tư trên bề mặt ý thức thôi thì chưa đủ để đem lại một sự chuyển hóa tận gốc. Cái mà ý thức có thể làm là quán chiếu để đạt tới cái thấy sâu sắc và chuyển tải cái thấy đó xuống tàng thức.

Cái thấy đầu tiên cần được nhấn mạnh là thấy rằng sự tìm kiếm dục lạc rất nguy hiểm và trốn tránh khổ đau không phải là điều hay, bởi vì khổ đau cũng có lợi ích của nó. Nếu ta có chánh niệm, nếu ta đủ can đảm để trở về với chính ta và ôm ấp nỗi khổ trong lòng thì ta sẽ học được nhiều lắm và ta có thể chuyển hóa khổ đau. Nếu ta luôn tìm cách trốn chạy khổ đau thì ta sẽ không có cơ hội chuyển hóa. Bởi vậy cho nên Bụt dạy ta, trước hết là chấp nhận sự thật thứ nhất, sự thật là mình đang có khổ đau. Sau đó là nhìn sâu vào khổ đau để có thể tìm ra sự thật thứ hai là nguyên nhân đưa ta đến cái khổ đó. Đó là cách duy nhất để cho sự thật thứ tư, con đường hành trì để chuyển hóa khổ đau, đưa tới hạnh phúc có thể được hiển lộ. Vì thế ta nên nhấn mạnh đến vai trò của khổ đau. Nếu ta quá sợ khổ đau thì chúng ta không có cơ hội có được những khám phá ấy.

Melvin McLeod: Tôi nghĩ là ai trong chúng ta cũng từng thương một người trong cuộc đời. Ta sẽ sẵn sàng gánh chịu hết những khổ đau của người đó cũng như sẵn sàng trao tặng cho người đó những hạnh phúc ta có. Trải rộng tình thương đó ra cho nhiều người, và cuối cùng là cho tất cả mọi người, là điều hay nhất mà ta có thể làm để giúp cho thế giới tốt đẹp hơn. Vậy theo Thầy, làm sao để tình thương trong ta có thể lớn lên và trải rộng ra cho tất cả mọi người?

Thầy: Ngay giây phút lọt lòng mẹ, ta đã trải nghiệm sự sợ hãi – nỗi sợ nguyên thủy. Cái sợ đầu tiên đó thật lớn, thật sâu bởi vì ta có thể chết trong giây phút trọng đại, nguy ngập ấy. Ta vừa rời khỏi cung điện ấm áp (tử cung) của mẹ và sợi dây rốn gắn kết ta với mẹ không còn nữa. Giờ đây ta phải tự thở lấy. Phổi của ta khi ở trong bụng mẹ thì có nước, nhưng trong giây phút trọng đại này, ta phải đẩy thứ nước ấy ra khỏi phổi để tự hít vào hơi thở đầu tiên, nếu làm không được thì ta sẽ chết.

Thành ra, đó là lần đầu tiên ta kinh nghiệm về nỗi sợ hãi, và ước muốn được sống còn cũng phát sinh từ giây phút ấy. Là một em bé sơ sinh, ta thấy ta thật bất lực. Ta sẽ không sống sót nổi nếu không được ai chăm sóc. Khi nghe bước chân của ai đó đến gần và nhận ra đó là người chăm sóc cho ta thì ta hạnh phúc. Cả ngày ta chỉ chờ đợi tiếng bước chân đến gần bởi vì ta biết sau tiếng bước chân ấy có sữa, có sự ấm áp, có mọi thứ… Đó là cái sợ ban đầu và cái thèm khát ban đầu được phát sinh.

Rồi khi ta lớn lên, cái thèm khát có một người yêu cũng là sự tiếp nối từ cái thèm khát ban đầu đó. Ta thấy cần có một người để chăm sóc ta, nếu phải sống một mình thì thiếu thiếu cái gì đó và ta thấy hơi bất lực, mong manh. Ta không tự thấy yên tâm nếu chỉ sống một mình, vì vậy cứ tìm cách có một người yêu cùng sống bên nhau. Điều ấy cũng chứng tỏ là cái thèm khát ban đầu (khi mới sơ sinh) vẫn còn đó, rằng ta không cảm thấy an tâm nếu không có ai bên cạnh.

Thế nên người yêu, người bạn hôn phối cũng là một sự tiếp nối cái thèm khát ban đầu, cái nhu yếu có mẹ, có cha kề bên. Ta thấy có sự an ổn ngay khi có mẹ, có cha kề bên. Thật ra không phải sự có mặt thật sự của cha, của mẹ mới làm cho ta an tâm. Chính cái ý niệm “mẹ đang ở đây mà” hay “cha đang ở đây mà” đã khiến cho ta có cảm giác an ổn rồi. Nhưng sau một thời gian thì ta thấy người ở kề bên ta làm phiền ta quá và ta muốn ly dị. Thế nên thật ra không phải vì sự hiện diện của anh chàng hay cô nàng ấy cho ta có cảm tưởng thoải mái mà chính là cái ý niệm trong đầu và cái thèm khát ban đầu khi còn bé thơ đã sai khiến ta.

Trong đạo Bụt, tình thương lúc nào cũng cần bắt đầu với chính mình, trước khi thương yêu một ai khác trong cuộc đời. Thương yêu theo phương pháp Bụt dạy là ta cần trở về với chính ta và nhận diện được nỗi khổ, niềm đau trong ta. Sự hiểu biết sâu sắc nỗi khổ của tự thân khiến ta nhẹ ra và biết thương mình nhiều hơn, bởi vì ta cảm thấy có sự mãn ý, sự toàn vẹn trong chính con người mình. Và vì thế ta không cần phải tìm kiếm một người nào khác để bắt đầu thương yêu. Ta nên bắt đầu với chính ta.

Tình thương chân thật không phải chỉ dành cho một người. Khi tình thương có mặt, ta tỏa rạng như một ngọn đèn. Ánh sáng mà đèn tỏa chiếu ra không phải chỉ dành cho một người mà là dành cho tất cả mọi người có mặt trong không gian đó. Cũng thế, nếu trong ta thật sự có tình thương thì mọi người quanh ta đều được thừa hưởng – chẳng những con người mà ngay cả cầm thú, cỏ cây và đất đá cũng được thừa hưởng. Tình thương chân thật là như vậy. Trong tình thương chân thật có yếu tố xả, tức là bao trùm tất cả, không phân biệt một ai.

Melvin McLeod: Như vậy muốn trải tình thương ra thật rộng, thật xa thì trước tiên ta nên tập thương chính mình, làm cho mình trở thành một con người toàn vẹn, viên mãn?

Thầy: Đúng vậy!

Melvin McLeod: Trong một buổi thiền tập, Sư cô Chân Không hướng dẫn chúng tôi nhìn sâu để tiếp xúc với những điều kiện và yếu tố khác nhau đã làm nên con người chúng ta và những yếu tố đó vẫn đang có mặt trong ta như: cha mẹ, tổ tiên huyết thống, tổ tiên tâm linh và nhiều yếu tố văn hóa, xã hội, v.v… Sự thực tập này mang lại những lợi ích gì?

Thầy: Cái ngã được làm bởi những yếu tố không phải là ngã, đó là tuệ giác vô ngã. Tuệ giác ấy có công năng giải phóng ta. Chúng ta được làm bởi những yếu tố không phải là ta. Khi nhìn sâu, ta sẽ thấy trong ta có cha mẹ, tổ tiên, văn hóa, xã hội, v.v…, nói chung là có tất cả.

Có nhiều giảng sư Phật giáo giảng dạy giáo lý tương tức bằng những danh từ rất trừu tượng. Tôi nghĩ rằng giáo lý Bụt dạy có thể được diễn bày một cách rất đơn giản, dễ hiểu và ngay cả trẻ em cũng có thể hiểu được. Sáng nay chúng ta đã được hướng dẫn một buổi thiền tập quán chiếu về sự có mặt của gia đình huyết thống trong ta: “Thở vào tôi thấy cha tôi là một em bé năm tuổi, rất mong manh và dễ bị thương tích; Thở ra, tôi cười với em bé là cha tôi với nụ cười hiểu biết và xót thương”. Cách quán chiếu như vậy có thể giúp ta tiếp xúc được với tự tánh vô ngã. Khi biết ta được làm bởi các yếu tố không phải là ta, ta có thể thấy cha ta vẫn đang có đó trong ta. Cha ta đang thực sự sống trong từng tế bào của thân thể ta và những đau khổ của cha cũng vẫn còn đó trong ta.

Thực tập như vậy sẽ đưa tới tuệ giác tương tức và vô ngã. Nếu ta đang giận cha thì tuệ giác này có thể giải phóng ta khỏi những giận hờn, oán trách đó.

Melvin McLeod: Tại sao ta quán chiếu những yếu tố vô ngã trong ta không những bằng tuệ giác mà còn bằng tình thương?

Thầy: Tuệ giác và tình thương là một. Tuệ giác đưa tới tình thương và tình thương không thể nào có được nếu không có hiểu, không có tuệ giác. Nếu ta không hiểu thì ta không thể nào thương được. Tuệ giác là cái hiểu trực tiếp, không phải là những khái niệm, những tư duy trừu tượng. Trong thiền quán, ta phải để cho ánh sáng của tuệ giác soi sáng ta.

Đôi khi việc sử dụng hình ảnh có thể giúp ta hiểu một cách sâu sắc hơn. Ví dụ tôi hay dùng hình ảnh hạt bắp và cây bắp để giải thích cho các em nhỏ về tính tương tức. Tôi nói với các em rằng thật khó để giúp cho một cây bắp hiểu rằng nó từng là một hạt bắp. Thế nhưng đó là sự thật, và nếu ta thực sự nhìn theo cách đó, ta sẽ thấy được sự tương tức giữa hạt bắp và cây bắp. Bởi vì nếu không có hạt bắp thì làm sao có được cây bắp? Cũng tương tự như vậy đối với cha mẹ và con cái. Nếu ta chạm được sự thật đó qua thiền quán thì những giận hờn, trách móc sẽ tan biến và tình thương có thể phát sinh.

Melvin McLeod: Là một bậc thầy trong truyền thống thiền, với sự hiểu biết uyên thâm về các truyền thống Phật giáo khác, vậy mà suốt quá trình dạy cho thiền sinh trong năm ngày liên tiếp, Thầy chỉ nói phớt qua về khái niệm thiền. Thay vào đó, Thầy chỉ dạy về những giáo lý căn bản của đạo Bụt như pháp môn chánh niệm, bốn sự thật mầu nhiệm (Tứ diệu đế). Vì sao Thầy lại chọn hướng đi này?

Thầy: Khi nói về đạo Bụt, chúng ta biết rằng có đạo Bụt Nguyên thủy – bắt đầu từ khi Bụt thành đạo cho đến khi tăng đoàn phân chia thành nhiều bộ phái, và nhiều trường phái của đạo Bụt được phát sinh bởi những thế hệ sau. Nhưng cho dù là đạo Bụt Nguyên thủy, Thiền tông, Thiên Thai tông hay Kim Cương Thừa thì đó cũng là những điều Bụt dạy. Sự nghiệp của Bụt đã được tiếp nối bởi các vị đệ tử của Ngài. Tuệ giác và giáo pháp của Ngài vẫn được trao truyền qua nhiều thế hệ dù Ngài đã nhập niết bàn từ lâu. Ta thấy được Bụt qua nhiều thế hệ các bậc đại sư và đệ tử của họ.

Điều mà tôi đang làm là trình bày những phương pháp thực tập thuần túy của Phật giáo Nguyên thủy trong tinh thần của Phật giáo Đại thừa. Phật giáo Đại thừa có cái nhìn rất cởi mở, không gò bó và thật là tuyệt vời khi học hỏi Phật giáo Nguyên thủy bằng tinh thần khoáng đạt này. Khi ta sử dụng con mắt của Phật giáo Đại thừa để tìm hiểu, nhìn sâu vào Phật giáo Nguyên thủy, ta có thể khám phá ra biết bao nhiêu điều kỳ diệu và sâu sắc. Ta nhận ra rằng những lời dạy sâu sắc nhất của Phật giáo Đại thừa có thể tìm thấy trong các kinh điển Nguyên thủy. Những tư tưởng phóng khoáng của Đại thừa đã có rành mạch trong các kinh Nguyên thủy.

Những hạt giống của Phật giáo Đại thừa đã có đầy đủ từ trong Phật giáo Nguyên thủy. Thành ra khi ta dùng từ Phật giáo Nguyên thủy điều đó không có nghĩa là ta loại ra ngoài những bộ phái khác, những truyền thống mới khai triển sau này. Tôi chỉ muốn đem tất cả các truyền thống về với gốc rễ nguyên thủy của mình. Như vậy, Phật giáo Nguyên thủy được xem như mẫu số chung của tất cả các truyền thống Phật giáo. Do đó điều mà tôi muốn cống hiến là truyền đạt những điều Bụt dạy khi Ngài còn tại thế trong tinh thần Đại thừa.

Những giáo lý Bụt dạy khi Ngài còn tại thế rất đơn giản, nhưng cũng rất thâm sâu. Nhiều học giả đã làm cho đạo Bụt trở nên rắc rối, biến đạo Bụt thành một loại siêu hình học hay một loại triết học. Một số sinh viên Phật học đã bỏ quá nhiều thì giờ cho những hệ thống tư duy này mà không có thì giờ tu tập. Cũng như thiền sư Lâm Tế (Trung quốc gọi là Linji, Nhật gọi là Rinzai), Ngài học rất nhiều về Phật pháp nhưng sau đó cảm thấy không đủ. Vì thế Ngài bỏ hết những học thuyết và bắt đầu thực hành.

Melvin McLeod: Phật giáo ở phương Tây còn đang trong giai đoạn sơ khai, Thầy có cho rằng Phật giáo Nguyên thủy có thể sẽ hợp với người Tây phương hơn là những giáo lý được khai triển sau này không?

Thầy: Không phải một giáo lý riêng biệt nào mới thích hợp với thời đại chúng ta, mà quan trọng là cách ta hiểu giáo lý như thế nào – điều này phụ thuộc vào cách tiếp cận giáo lý của chúng ta. Nếu ta là một học giả và chỉ sử dụng trí năng mà thôi thì ta có thể giải thích giáo lý theo cách này, trong khi nếu là một hành giả thực tập thật sự thì có thể ta sẽ khám phá được chiều sâu của giáo lý và tiếp xúc được với tuệ giác phát sinh từ sự thực tập của ta. Và nhờ thế, ta có thể trình bày giáo lý kia một cách hoàn toàn khác hẳn với người chỉ dùng trí năng. Thành ra vấn đề không phải giáo lý này hay hơn, hay giáo lý kia thích hợp hơn, vấn đề là cách ta thực tập, trải nghiệm và áp dụng giáo lý vào sự tu tập của mình có phù hợp hay không.

Tuy vậy, phải nói rằng thật kỳ diệu là bài pháp thoại đầu tiên do Bụt thuyết vẫn còn thích hợp với thời đại chúng ta. Sau 2500 năm, bài thuyết pháp đầu tiên của Bụt vẫn có giá trị vững chãi. Trong bài thuyết pháp đầu tiên ấy, ta có thể tìm được đầy đủ những điều Bụt dạy mà ta có thể thực tập suốt đời. Điều đó thật đáng kinh ngạc.

Melvin McLeod: Trong những lời dạy của mình, Thầy nhấn mạnh đến yếu tố tăng thân – một nhóm người cùng tu tập chung. Thầy dạy về điều này nhiều hơn các vị thầy khác. Tại sao yếu tố tăng thân lại quan trọng như thế đối với Thầy?

Thầy: Xây dựng tình huynh đệ là nền tảng thiết yếu của một tăng thân. Nếu tăng thân hạnh phúc thì đó sẽ là nơi nương tựa cho nhiều người. Chúng tôi bắt đầu xây dựng tăng thân từ nhiều thập niên trước và giờ đây tăng thân chúng tôi đang trở nên lớn mạnh và vững chãi. Trong những khóa tu, chúng ta có thể cảm nhận được rất rõ năng lượng vững chãi của tăng thân, đặc biệt là với sự tham dự của nhiều người đã từng tu tập lâu năm. Trong kinh có nhắc đến câu chuyện về vua Ba Tư Nặc (Presenajit) của nước Kosala. Ngài gặp Đức Thế Tôn lần cuối, khi ấy cả hai đều đã 80 tuổi, nhà vua nói: “Bạch đức Thế Tôn, mỗi lần con thấy tăng thân của đức Thế Tôn là con lại có niềm tin nhiều hơn ở nơi đức Thế Tôn”. Tôi thấy thật ý nghĩa khi mọi người có thể thấy được Bụt qua tăng thân của Người. Tăng thân là công trình, là tác phẩm lớn nhất của Bụt. Bụt là một nghệ sĩ và tăng thân là công trình nghệ thuật của người nghệ sĩ ấy. Thành ra, Bụt vẫn đang sống cho đến ngày hôm nay trong tăng thân. Khi bạn thấy các thầy, các sư cô cùng các bạn cư sĩ tu tập nghiêm túc, thảnh thơi và an lạc là bạn có thể thấy được sự hiện diện của Bụt.

Melvin McLeod: Thầy đã cho một bài pháp thoại tại New York với đề tài: “Xây dựng một xã hội lành mạnh và từ bi”. Thế nào là con đường đưa tới một xã hội lành mạnh và từ bi? Năm phép tu tập chánh niệm mà Thầy đã làm mới lại trên nền tảng Năm giới của đạo Bụt truyền thống để thích hợp với tình trạng của xã hội hiện đại, đó có phải là cẩm nang để đưa tới một xã hội lành mạnh và từ bi không?

Thầy: Tuệ giác tương tức có khả năng tháo gỡ sự kỳ thị, sợ hãi và cách tư duy lưỡng nguyên trong ta. Chúng ta tương tức với nhau, ngay cả hạnh phúc và khổ đau cũng tương tức với nhau, vì vậy tuệ giác tương tức phải được xem là nền tảng cho bất cứ hành động nào. Tuệ giác ấy có thể đem tới hòa bình, tình huynh đệ cũng như giúp chuyển hóa bạo động và tuyệt vọng. Tuệ giác này có mặt trong tất cả các truyền thống tâm linh. Ta chỉ cần trở về với chính truyền thống tâm linh của ta và gắng làm sống lại những hạt giống tuệ giác ấy.

Năm phép tu tập chánh niệm (hay còn gọi là Năm giới) là biểu hiện cụ thể của sự thực tập từ bi. Trong truyền thống Phật giáo, chúng tôi luôn học hỏi cách thức để áp dụng Năm giới một cách hữu hiệu trong đời sống hằng ngày. Năm giới quý báu ấy là để thực tập, chứ không phải để suy luận và nghiên cứu. Ghi tên để xin thọ nhận Năm phép tu tập chánh niệm ấy không phải là ký tên ủng hộ một kiến nghị mà là làm cho nó trở thành sự sống của chính mình, trở thành con đuờng tu tập của mình. Bạn sẽ rất hạnh phúc vì biết rằng mình đã có đường đi – con đường của hiểu biết và thương yêu. Và khi đã có đường đi rồi thì bạn không còn lý do gì để lo sợ về tương lai của mình nữa cả.

Bạn có thể chia sẻ con đường lý tưởng của mình, chia sẻ cách mình tu tập để nuôi dưỡng, phát triển hiểu biết và tình thương với các bạn thuộc truyền thống khác. Họ không cần trở thành Phật tử để có thể thực tập theo Năm giới, họ chỉ cần trở về truyền thống tâm linh của họ, sống cho sâu sắc và tìm cho ra những phương thức tương đương với năm phép tu chánh niệm của Phật tử nơi chính truyền thống tâm linh của mình.

Mục đích của chúng tôi không phải là để thay đổi niềm tin của các bạn từ truyền thống khác và biến họ thành Phật tử, mà chỉ là chia sẻ con đường của hiểu biết và thương yêu. Các bạn vẫn tiếp tục là tín hữu Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo hay Hồi giáo, mà vẫn có thể thực tập như chúng tôi đang làm. Chúng tôi dùng ngôn từ Phật giáo, còn các bạn thì có thể dùng ngôn từ Cơ Đốc giáo, Hồi giáo, v.v… mà tu tập và chúng ta sẽ cùng đi đến một kết quả như nhau. Thế nên ta mới có thể gọi đó là một đường hướng tâm linh toàn cầu hay một nền đạo đức toàn cầu.

Melvin McLeod: Sẽ rất tuyệt vời nếu tất cả các vị lãnh đạo tâm linh từ nhiều truyền thống khác nhau có thể đến cùng nhau và bàn bạc làm thế nào xây dựng một nền đạo đức toàn cầu để mọi người đều có thể cùng nhau tu tập.

Thầy: Có thể họ không cần đến với nhau tại một nơi cụ thể. Họ chỉ cần ngồi yên nơi chốn của họ và tu tập, làm khơi dậy cái hiểu cho thâm sâu và mở rộng tình thương đến với mọi người, mọi loài. Đó là cách gặp nhau sâu sắc nhất.

Melvin McLeod: Cám ơn Thầy vô cùng. Thầy thật là từ bi, đã dành cho chúng tôi từng ấy thì giờ. Đây là một vinh dự lớn cho tôi và tôi cũng biết độc giả chúng tôi sẽ vô cùng lợi lạc.

Nguồn: https://www.lionsroar.com/shambhala-sun-love-and-liberation-an-interview-with-thich-nhat-hanh/

Thiền và nghệ thuật buông thư

 

(Phỏng vấn đặc biệt với Thiền sư Thích Nhất Hạnh)

Marianne Schnall

(Đăng trên The Huffington Post của Mỹ, ngày 21.05.2010)

Trong bài phỏng vấn dưới đây, Thiền sư Thích Nhất Hạnh chia sẻ những tuệ giác, những lời khuyên quý báu về việc làm thế nào sử dụng thời gian nghỉ để nuôi dưỡng thân tâm (Thầy nói “loài người chúng ta đã đánh mất thói quen nghỉ ngơi và thư giãn thật sự”), làm thế nào một Thượng nghị sĩ bận rộn của Quốc hội Mỹ có thể sử dụng thiền hành trên đường đi đến phòng nghị sự để giảm căng thẳng và làm đầu óc trở nên sáng suốt. Thầy cũng chia sẻ những lo ngại về ảnh hưởng của khoa học công nghệ lên xã hội và niềm tin vào sức mạnh của thiền tập trong việc tạo nên một xã hội bình an.

Marianne Schnall (MS): Xin Thầy chia sẻ về những kết quả mà sự buông thư và thiền tập mang lại trong cuộc sống hàng ngày của Thầy?

Thầy: Thiền tập có sức mạnh trị liệu rất lớn, như các nghiên cứu khoa học hiện đại đã cho thấy. Sự thực tập hơi thở ý thức, thiền tọa, thiền hành giúp giải tỏa những căng thẳng trong thân và trong tâm. Khi ta cho chính mình một cơ hội để buông bỏ tất cả những căng thẳng, khả năng tự trị liệu của cơ thể sẽ bắt đầu làm việc. Các con thú trong rừng đều biết điều này. Khi chúng bị thương, bệnh hoặc quá mệt, chúng biết phải làm gì. Chúng tìm một nơi yên tĩnh, nằm xuống để nghỉ ngơi. Chúng không đi tìm thức ăn hoặc đuổi theo những con thú khác, chúng chỉ nghỉ ngơi thôi. Sau vài ngày nằm yên để nghỉ ngơi, chúng được chữa lành và hoạt động bình thường trở lại.

Loài người chúng ta đã đánh mất tuệ giác của sự nghỉ ngơi và thư giãn thật sự. Chúng ta lo lắng quá nhiều. Chúng ta không cho phép cơ thể mình tự chữa lành, và cũng không cho phép tâm ta được chữa lành. Thiền tập có thể giúp ta ôm ấp những lo lắng, sợ hãi, giận hờn và điều này rất trị liệu. Ta để cho khả năng tự trị liệu trong ta được hoạt động một cách tự nhiên.

Thư giãn hoàn toàn chính là bí quyết để có an lạc trong khi ngồi thiền. Tôi ngồi với một cái lưng thật thẳng nhưng không gồng cứng, và tôi thư giãn tất cả các bắp thịt trong cơ thể. Thở vào, tôi đem tất cả sự chú ý đến một bộ phận nào đó trong cơ thể; thở ra tôi mỉm cười biết ơn và gửi tình thương đến bộ phận đó. Thí dụ như tôi thở vào và hướng sự chú tâm đến khuôn mặt. Trên mặt tôi có khoảng 300 bắp thịt và khi nào tôi lo lắng, giận dữ hoặc sợ hãi, 300 bắp thịt đó siết lại, và bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng có thể thấy tôi đang căng thẳng. Nhưng nếu trong khi thở vào, tôi có thể ý thức đến khuôn mặt của mình, và thở ra tôi có thể mỉm cười với khuôn mặt của mình, thì ngay lập tức sự căng thẳng sẽ tan biến. Điều đó gần như là một phép lạ. Chỉ trong một vài hơi thở, ta có thể cảm nhận được sự bình an, hạnh phúc và thư giãn trên khuôn mặt. Mặt ta trở nên nhẹ nhàng, tươi mát, giống như một bông hoa. Khuôn mặt ai cũng đều là một đóa hoa.

“Thở vào tôi ý thức về gương mặt tôi, thở ra tôi mỉm cười với gương mặt tôi”, ta có thể thực tập như vậy trong vòng ba đến bốn hơi thở. Sau đó, ta hướng sự chú tâm đến các bắp thịt trên hai vai, bởi vì các bắp thịt trên hai vai chúng ta thường hay bị căng thẳng. “Thở vào, tôi ý thức về các bắp thịt trên hai vai; thở ra, tôi thư giãn và mỉm cười với hai vai tôi”. Cứ như thế ta dần dần di chuyển đến khắp các vùng trên cơ thể, và chỉ sau một vài phút ta có thể làm cho cơ thể trở lại bình thường với trạng thái nhẹ nhàng, thư giãn.

Đây là điều mà ai cũng có thể làm được trong một vài phút đầu tiên sau khi ngồi xuống, không nhất thiết là chỉ ngồi trong thiền đường mà thôi. Bất cứ ngồi ở chỗ nào, ta cũng có thể ngồi thật đẹp, như là ta đang ngồi thiền vậy, ngồi đâu ta cũng có thể cảm thấy vững chãi, thảnh thơi. Ngồi xuống để ăn cơm hay làm việc văn phòng, ta nên ngồi thẳng và buông thư. Hãy ngồi như Bụt ngồi.

Tôi biết có một vài Nghị sĩ ở Quốc hội Mỹ thực tập thiền hành ở Capital Hill. Một vị nói với tôi là khi đi đến phòng bỏ phiếu để thông qua một dự luật, ông ấy luôn thực tập thiền hành, hoàn toàn dừng lại mọi suy nghĩ. Văn phòng của ông rất bận rộn, mỗi ngày ông phải trả lời rất nhiều câu hỏi, giải quyết bao nhiêu việc khác nhau. Vì vậy thời gian duy nhất trong ngày mà ông có thể thật sự dừng mọi suy nghĩ để nghỉ ngơi là khi ông rời văn phòng để đến phòng bỏ phiếu thông qua dự luật. Ông để tất cả tâm ý vào hơi thở và vào bước chân, hoàn toàn không suy nghĩ gì hết. Và ông nói điều đó thực sự giúp ông có thể sống còn trong cuộc sống bận rộn tối mắt tối mũi của một Nghị sĩ.

Chúng ta phải học lại nghệ thuật nghỉ ngơi và buông thư, điều này rất quan trọng. Nó không những giúp ngăn ngừa rất nhiều các bệnh tật phát sinh từ chứng căng thẳng và lo lắng mãn tính mà còn làm cho đầu óc sáng sủa, tập trung, từ đó tìm ra các phương cách sáng tạo để giải quyết vấn đề. Nếu như ta có thể buông bỏ tập khí luôn chạy về tương lai, biết dừng lại để thư giãn và trở về với chính mình, chúng ta sẽ thành công hơn trong bất cứ phương diện nào mà ta muốn. Và chúng ta sẽ có thêm niềm vui sống.

MS: Có những người cho rằng thời gian thư giãn của họ chính là lúc sử dụng những thiết bị điện tử, thí dụ như máy vi tính, ti-vi hoặc tweeting. Thầy nghĩ thiền tập giúp được gì trong trường hợp này, thưa Thầy?

Thầy: Câu hỏi này làm tôi nhớ đến một điều mà tôi quan sát thấy nơi những người đi nghỉ mát. Mục đích của việc đi nghỉ mát là có thời giờ để nghỉ ngơi. Nhưng có rất nhiều người không biết cách nghỉ ngơi, dù là họ đang được đi nghỉ mát. Khi trở về, họ còn mệt mỏi hơn trước khi đi. Vậy là sao?

Thư giãn là yếu tố vô cùng thiết yếu để làm nên sức khỏe về thể chất, tinh thần, tình cảm cũng như các mối quan hệ của chúng ta. Vì nó quá quan trọng như thế nên tôi rất mong các bạn thực sự quan sát kỹ chính mình trước và sau khi tham gia vào một hoạt động giải trí hay thư giãn nào, để thấy sau khi tham gia mình thực sự có khỏe nhẹ hơn trước khi tham gia hay không. Rồi sau đó các bạn có thể thử thực tập ngồi thiền, đi thiền hành và thiền buông thư để xem các bạn cảm thấy thế nào sau khi thực tập.

MS: Rất nhiều khi ta cảm thấy là cơ thể đang thư giãn, nhưng đầu óc thì lại rất bận rộn. Làm thế nào để có ý thức về khuynh hướng này và ngăn chặn không cho tâm bận rộn lấn át mình?

Thầy: Ý thức về hoạt động của tâm ý chính là chìa khóa. Tất cả đều bắt đầu từ tâm. Tại các trung tâm tu học của Làng Mai, chúng tôi đều thực tập là khi nghe tiếng chuông thì ta ngưng nói năng, suy nghĩ, và ngưng cái tâm tán loạn. Ta trở về với hơi thở, ngay bây giờ và ở đây, tiếp xúc với những gì đang xảy ra trong thân và trong tâm ta. Ta thật sự sống và thật sự có mặt trong giây phút này, ta không phải là một người máy chạy quanh một cách vô thức. Ta sẽ biết mình nên làm gì và không nên làm gì trong giây phút ấy. Thí dụ như ta sắp ăn một cái gì đó không lành, tiếng chuông sẽ cho ta một cơ hội để dừng và nhìn lại. Nếu ta đang chìm đắm trong những suy nghĩ về một ai đó khiến ta bực bội thì ta có thể dừng lại, ý thức về cảm xúc bực bội đó, nhìn sâu vào hoàn cảnh, ta có thể tìm ra một cách hiệu quả hơn để thoát khỏi tình trạng đó.

MS: Người ta thường nói là họ quá bận rộn nên không có thời gian để thư giãn. Vậy Thầy có cách nào đơn giản để họ có thể áp dụng trong cuộc sống bận rộn như thế không?

Thầy: Chúng ta đâu cần phải lên kế hoạch đi đến một trung tâm tu học mới có thể thưởng thức được lợi ích của việc dừng lại khi nghe chuông. Ta có thể sử dụng nhiều cái rất bình thường trong đời sống hàng ngày làm chuông chánh niệm để quay về với chính mình, trong giây phút hiện tại. Chẳng hạn như tiếng chuông điện thoại. Rất nhiều đệ tử của tôi dừng lại thở vào, thở ra ba hơi trong chánh niệm trước khi trả lời điện thoại. Làm như thế, họ có thể thật sự có mặt cho chính họ và cho người gọi. Hoặc khi đang lái xe, đèn đỏ có thể trở thành một người bạn tuyệt vời của ta, nhắc ta dừng lại, thư giãn, buông bỏ thói quen suy nghĩ tiêu cực và cảm thấy lòng mình rỗng rang hơn. Bỏ ra năm phút để chơi đùa với trẻ con hoặc các con thú, đi bộ để ngắm mây trời, cây cỏ, thưởng thức hơi thở, những điều này giúp ta buông bỏ được căng thẳng và trở nên nhẹ nhàng, tươi mát. Hãy nhận diện tiếng chuông chánh niệm yêu thích của mình, và để cho tiếng chuông đó thường xuyên nhắc chúng ta thưởng thức sự sống.

Tôi vừa viết xong một quyển sách nhỏ, hiện đang được biên tập, nói về đề tài này. Dự định sẽ đặt tựa đề bằng tiếng Anh là Peace Is Every Breath: Daily Practices for Our Busy Lives (Bình an trong từng hơi thở: Những thực tập hằng ngày cho người bận rộn), và sẽ được xuất bản vào năm 2011.

MS: Xin Thầy chia sẻ cái thấy của Thầy về vấn đề trẻ em đang bị lệ thuộc vào các thiết bị điện tử?

Thầy: Có nhiều nghiên cứu khoa học đã chứng minh ảnh hưởng tiêu cực của vấn đề này. Tôi thấy một trong những ảnh hưởng xấu nhất của tình trạng phụ thuộc vào thiết bị điện tử – coi đó như một nơi nương tựa chủ yếu để giải trí và vui thú – là cuối cùng người ta không thấy hạnh phúc hơn, mà ngược lại. Thiết bị điện tử có thể là một công cụ có ích nếu được sử dụng trong chánh niệm. Nhưng thường thường người ta sử dụng phương tiện truyền thông và trò chơi điện tử để khỏi phải đối diện với những cảm xúc không dễ chịu như lo lắng, trầm cảm, giận dữ, cô đơn, buồn chán, v.v… Chúng ta muốn khỏa lấp khổ đau và cảm giác trống rỗng trong lòng.

Khi ta có thói quen chạy trốn những gì đang thực sự diễn ra trong tâm, trong những mối quan hệ của ta thì cuối cùng ta sẽ càng trở nên lạc lõng hơn, buồn chán hơn. Có nhiều chương trình ti-vi, âm nhạc và trò chơi điện tử rất độc hại, tưới tẩm những hạt giống của sự tham đắm, sợ hãi và bạo động trong ta.

Đúng vậy, cuộc sống và những mối quan hệ đôi khi khá là thử thách. Nhưng nếu chúng ta quen phụ thuộc vào các thiết bị điện tử (cũng giống như các chất gây nghiện, hay ăn uống không chánh niệm) để rồi tê liệt trước những gì đang diễn ra, thì vấn đề của ta càng trở nên dai dẳng và trầm trọng hơn.

Nói như vậy không có nghĩa là ta cứ ngồi đó rồi suy nghĩ miên man, nhai đi nhai lại vấn đề ta đang có. Cả hai xu hướng đó đều không đúng. Thiền tập – ngồi yên, làm lắng dịu những lăng xăng của thân và tâm, thưởng thức cảm giác là mình đang còn sống qua hơi thở vào ra – là phương pháp hữu hiệu nhất để làm cho tâm ta sáng tỏ và thấy được lối ra cho vấn đề mà ta đang bị mắc kẹt.

MS: Thưa Thầy, nếu một số đông người thật sự bỏ thì giờ ra để thiền tập và thư giãn thì sẽ tác động đến xã hội như thế nào?

Thầy: Có một điều dễ dàng nhận thấy là có quá nhiều bạo động, đói nghèo và khổ đau xung quanh ta; nhưng ta nghĩ rằng ta quá nhỏ bé và bất lực để giúp thay đổi tình trạng. Có thể chính trong gia đình ta cũng có khó khăn; có thể một thành viên trong gia đình đang rất đau khổ, tuyệt vọng và người ấy lâm vào tình trạng nghiện ngập hoặc phạm tội. Ta tự nhủ rằng ta không biết phải làm sao để giúp người kia, trong khi đó ta còn có một cuộc sống bận rộn của riêng mình.

Nhưng chính xác là ta bận cái gì? Đối với rất nhiều người trong chúng ta, đó là bận làm việc để kiếm tiền trả cho cái bằng cấp, chiếc xe mới, cái nhà to hơn, hay một chuyến nghỉ mát kỳ thú. Khi ta dành thời gian để thư giãn và thiền tập, tắt đi những âm thanh ồn ào, không ngớt của các quảng cáo trên các thiết bị điện tử, ta sẽ nhận ra rằng thực ra để có hạnh phúc, ta cần rất ít.

Ta đã có sẵn rất nhiều điều kiện để có hạnh phúc mà không cần tốn một đồng nào hết. Thí dụ như đôi mắt. Đôi mắt của chúng ta thật là mầu nhiệm, là hai viên ngọc quý. Ta chỉ cần mở mắt ra là thấy được trời xanh, mây trắng, những đóa hoa xinh đẹp, thấy gương mặt của những người thương. Hoặc đôi tai của ta: Bất cứ khi nào ta thích, ta đều có thể nghe được âm thanh của bản nhạc gây cho ta cảm hứng, của tiếng chim, dòng suối, hoặc tiếng thông reo. Tất cả những cái đó đều là những mầu nhiệm của sự sống, có sẵn cho ta bất cứ lúc nào. Ta chỉ cần mở mắt, ta chỉ cần lắng tai thôi. Thân thể ta vẫn còn khỏe mạnh, đôi chân ta vẫn còn cứng cáp. Và tất cả những mầu nhiệm đó nằm trong chính thân thể của ta.

Chúng ta có thấy mãn nguyện trong những niềm vui không tốn kém này và sống đơn giản hơn để có thì giờ thật sự lắng nghe những người mà ta gần gũi, hoặc viết thư cho một vị đại biểu quốc hội hay không? Khi ta tỉnh thức, khi ta ý thức hơn về những gì đang xảy ra, và thấy rõ mình thật sự cần phải làm gì (và không nên làm gì), thì cuộc sống của cá nhân ta và toàn xã hội sẽ dễ dàng có những thay đổi lớn. Thật tình thì tôi không biết có cách nào khác để đem đến sự thay đổi ấy ngoài cách này.

Khi thân tâm được thư giãn, người ta sẽ có khuynh hướng bớt nói năng, hành xử một cách bạo động. Khi ấy người ta sẽ có thể chạm đến rất nhiều tuệ giác và nguồn năng lượng dồi dào mà lâu lắm rồi ta chưa chạm đến, từ hồi thơ ấu đến giờ. Trong suốt tiến trình lịch sử, con người – cả nam lẫn nữ – đã đạt được những thành quả có thể nói là không thể tưởng tượng được. Sự thật là, những thay đổi chúng ta có thể làm nên cho chính bản thân và cho xã hội qua sự thực tập chánh niệm là không có giới hạn. Ta chỉ cần bắt đầu thôi, bắt đầu nơi chúng ta đang có mặt, ngay bây giờ, ở đây.

MS: Làm thế nào để có sự cân bằng giữa việc dấn thân vào cuộc đời và nuôi dưỡng đời sống nội tâm của mình?

Thầy: Chúng ta cần xem lại ý niệm cho rằng thư giãn và thiền tập sẽ lấy bớt thời gian, không cho ta thực hiện được những mục tiêu khác, thí dụ như là có một nghề nghiệp hay một mối quan hệ thành công. Thực ra khi ta dành thời gian để thiền tập thì ta sẽ đạt được nhiều thành công ở các lĩnh vực khác trong cuộc sống. Điều này có vẻ hơi mâu thuẫn nhưng đó là kinh nghiệm của chính tôi và các đệ tử của tôi.

Thí dụ trong công việc, một sáng kiến hay có thể đem đến sự khác biệt lớn trong kết quả công việc, dù công việc của bạn là bán máy hút bụi hay lập hồ sơ cho một vụ kiện, ngoài ra nó còn giúp giảm thiểu những hao tổn về sức khỏe cũng như các hao hụt khác về nguồn lực. Trong các mối quan hệ trong gia đình hay ở sở làm, sự hiện diện của một người nhẹ nhàng, thư thái giúp ta tránh không nói những lời nóng nảy khó nghe khi ta đang giận.

Những mối quan hệ giống như một khu rừng: Phải rất lâu ta mới có thể tạo dựng được niềm tin nơi người khác, nhưng một câu nói hay một nhận xét thiếu suy nghĩ sẽ giống như bật một que diêm làm cháy rụi tất cả. Những ai đã từng thiền tập có thể thấy rất rõ ràng là thiền tập và thư giãn là những cách hữu hiệu nhất để nâng cao khả năng tư duy sáng tạo, làm những chọn lựa thông minh, đem lại thành công và viên mãn trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống.

Nguồn: https://www.huffpost.com/entry/beliefs-buddhism-exclusiv_b_577541