Định đề 31

 

Báo thân gồm cả y lẫn chánh, cả cộng lẫn tự. Ta bà của chúng sinh là Tịnh độ của Bụt.

Retribution consists of both body-mind and enviroment, and is both individual and collective. This land is the Saha land for living beings but Pure land for Buddhas and Bodhisattvas.

Mới đọc qua định đề 31 chúng ta thấy giống như nó không dính líu tới định đề 30, nhưng thật ra định đề 30 có thể đi đôi với định đề 31.

Quả báo là ba nghiệp: thân, khẩu, ý

Thân có nghĩa là sự biểu hiện. Đạo Bụt nói tới quả báo tức những hoa trái ta gặt hái trong tương lai, những cái ta gieo trồng hôm nay sẽ thành hoa trái ta gặt hái trong tương lai. Cái ta gieo trồng hôm nay là ba nghiệp: ý nghiệp, khẩu nghiệp và thân nghiệp. Khi tư duy thì ta tạo ra ý nghiệp, nếu đó là chánh tư duy thì ta tạo nghiệp tốt, còn nếu đó là tà tư duy thì ta tạo nghiệp xấu. Chánh tư duy là sự tư duy trên nền tảng tuệ giác, không phân biệt. Ta thấy chủ thể và đối tượng nhận thức không phải là hai thực thể tách rời nhau. Thấy ngã là một thực thể tách rời khỏi pháp thì đó không phải là chánh tư duy. Chánh tư duy không dựa trên sự phân biệt giữa ngã và pháp, giữa chủ thể và đối tượng như hai sự vật tồn tại độc lập với nhau. Khi có được chánh kiến thì chánh tư duy luôn luôn đi đôi với hiểu và thương. Sự kỳ thị giữa ngã và pháp sẽ sinh ra những giận hờn, buồn tủi và sợ hãi. Chánh tư duy đi đôi với tuệ giác vô ngã, vô thường, không kỳ thị, tuệ giác của hiểu và thương. Phát ra một tư tưởng chánh tư duy là gieo trồng được một hạt giống tốt. Nói ra một lời căn cứ trên chánh kiến, không phân biệt kỳ thị, có tính cách hiểu và thương là một thiện nghiệp. Làm một hành động nương trên tuệ giác hiểu và thương là gieo trồng một hạt giống tốt. Gieo trồng hạt giống tốt liên tục trong đời sống hằng ngày thì quả báo của ta sẽ đẹp, ta sẽ có một sự tiếp nối đẹp. Không cần phải đợi đến khi thân này tan rã rồi thì ta mới có sự tiếp nối, chỉ trong vài ngày là đã có thể thấy ta đẹp hơn. Đó là báo thân.

Báo thân là sự biểu hiện của thức, bao gồm chủ thể và đối tượng

Báo thân không phải chỉ là chủ thể nhận thức mà cũng là đối tượng nhận thức. Nếu chủ thể nhận thức lành thì đối tượng nhận thức cũng đồng thời đẹp và lành. Khi ta buồn thì cảnh vật u ám, khi ta vui thì cảnh vật tươi ra dù là trời đang mưa. Báo thân là một quả báo (retribution). Ta đừng nên tưởng tượng có một thế giới khách quan để báo thân của ta đi vào. Nghĩ như vậy là nhị thủ, là kẹt vào cái chấp có ngã riêng biệt và pháp riêng biệt, có một cái ngã đi vào trong một thế giới và sống trong đó.

Báo thân là sự biểu hiện của thức mà thức bao gồm cả chủ thể và đối tượng, vì vậy cho nên báo thân bao gồm cả y báo và chánh báo. Khi tâm tư ta buồn thảm thì đi đâu ta cũng thấy cảnh vật buồn thảm. Thi sĩ Nguyễn Du có nói:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ

Cảnh và tâm dính vào nhau. Thức biểu hiện thành tâm và cảnh, tức là đối tượng của tâm. Tâm, cảnh biểu hiện đồng thời. Tâm và cảnh không tồn tại độc lập với nhau.

Hầu hết chúng ta đang bị kẹt vào ý niệm: Đây là ta và đây là hoàn cảnh của ta, đây là chủ thể và đây là đối tượng, đây là con người và đây là thế giới, đây là ngã và đây là hoàn cảnh của ngã. Thật ra, khi ta gieo trồng bằng ba nghiệp thân, khẩu, ý thì nghiệp nhân đưa thành nghiệp quả và nghiệp quả biểu hiện ra thành hai mặt là y báo và chánh báo. Vì vậy nhìn môi trường sống của ta, ta biết đó cũng chính là ta. (We are our environment.) Ví dụ trong một vùng nào đó trên trái đất, người ta đang sống với rất nhiều hận thù và nghi ngờ. Tâm thức hận thù và nghi ngờ biểu hiện ra trong môi trường nên đi đâu người ta cũng sợ và không có niềm tin, đi chợ cũng sợ, đi học cũng sợ vì bom có thể nổ bất cứ lúc nào. Tâm người như thế nào thì hoàn cảnh cũng như thế đó, vì tâm và cảnh đều là sự biểu hiện của chiều sâu tâm thức.

Ta rời những thành phố ồn ào tìm tới Làng Mai và ta có thể cùng có mặt, cùng ngồi yên với những thành phần khác của Tăng thân. Cái gì đã dẫn ta tới đây? Đó là cái muốn, cái tư duy của ta. Tâm ta muốn đi tìm sự thoát ly, sự thanh tịnh, an lạc, tìm thầy, tìm tăng thân. Ý tưởng đưa tới hành động, ta điện thoại hỏi địa chỉ, rồi ta mua vé xe lửa hay vé máy bay. Thân, khẩu, ý lành đưa ta tới hoàn cảnh lành, vì hoàn cảnh cũng là một sáng tạo phẩm của tâm ta. Làng Mai không phải là một thực tại có ngoài tâm ta. Làng Mai là một sáng tạo của tâm thức ta, vì ta có ý đó, có hành động đó nên bây giờ Làng Mai trở thành hoàn cảnh của ta. Con người và hoàn cảnh của con người đều là báo thân. Thân của ta không chỉ là chánh báo mà còn là y báo cho nên đám mây kia, sân cỏ kia cũng là ta.

Chánh kiến là nền tảng của chánh tư duy, chánh ngữ và chánh nghiệp

Hoàn cảnh của ta chính là ta, là quả báo mà ta đã huân tập được bằng tư duy, ngôn ngữ và hành động, tức bằng ba nghiệp của ta. Giáo lý của đức Thế Tôn rất rõ ràng và đơn giản: Có một cái gọi là chánh kiến, tức cái thấy đúng, hay còn gọi là tuệ giác. Chánh kiến là cái thấy không phân biệt giữa chủ thể và đối tượng, không nhị thủ, thấy được chủ thể và đối tượng đều là biểu hiện của tâm thức và cái mà ta gọi là ngã, là pháp đều là những giả danh. Trên cái thấy không phân biệt kỳ thị đó ta sẽ có chánh tư duy, chánh ngữ và chánh nghiệp. Không có nền tảng chánh kiến thì tư duy là tà tư duy, lời nói là tà ngữ và hành động là tà nghiệp. Vì vậy chánh kiến là nền tảng của chánh tư duy, chánh ngữ và chánh nghiệp và khi có chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp thì ta có sự tiếp nối tốt đẹp, sự tiếp nối được biểu hiện trên hai phương diện chánh báo và y báo.

Báo thân có cả cộng lẫn tự

Trong sự biểu hiện chúng ta thấy có cộng biểu và biệt biểu. Ví dụ chúng ta cùng sống tại Làng Mai, cùng thức dậy lúc năm giờ, cùng nghe chuông trong chánh niệm, cùng đi thiền hành trên một con đường, cùng ngồi trong một thiền đường. Làng Mai như một cái gì mang tính cách chung, một cộng biểu. Tuy nhiên, với cùng một môi trường tu tập, cũng tiếng chuông đó, cũng con đường đó, cũng thiền đường đó, nhưng mức độ tiếp nhận mỗi người mỗi khác, tùy theo tự do trong lòng mỗi người. Cũng con đường đó mà có người đi có hạnh phúc tới 80-90%, còn mình đi chỉ có hạnh phúc được 7-8%. Trong cộng có tự, trong cái chung có cái riêng. Con đường đó là cộng (collective) hay tự (individual)? Câu trả lời là nó vừa cộng vừa tự, trong cái cộng có cái tự và trong cái tự có cái cộng. Cộng và tự có trong nhau, không thể lấy ra khỏi nhau được.

Ví dụ hệ thần kinh của ta có tính cách riêng tư, đó là tự biểu. Khi lái xe ta sử dụng thần kinh thị giác của riêng ta, nhưng nếu lái xe lớn thì thần kinh thị giác của ta có liên hệ tới mạng sống của những người ngồi trong xe. Vì vậy thần kinh thị giác của ta không phải là vật sở hữu riêng của ta, nó không hoàn toàn tự biểu, nó còn có tính cộng biểu. Ta có những nỗi buồn khổ và ta nghĩ rằng nỗi buồn đó là của riêng ta, ta ôm lấy và ráng chịu đựng. Nhưng sự thật thì nỗi buồn khổ của ta cũng có ảnh hưởng tới mọi người. Cái nhìn của ta, bước chân của ta, cách ta đối xử… đều có ảnh hưởng tới cộng đồng. Ngược lại, nếu trong tăng thân có từ bi, có hiểu biết thì cách mọi người chấp nhận và đáp ứng lại cũng giúp cho ta nhận thức và chuyển đổi tình trạng của ta.

Tự và cộng đi đôi với nhau, không thể có một cái hoàn toàn tự hay hoàn toàn cộng. Ví dụ chúng ta đốt lên một ngọn đèn. Đèn cầy tỏa chiếu ánh sáng chung quanh nó và đi càng xa thì ánh sáng càng lu mờ. Bây giờ chúng ta thắp lên cây đèn thứ hai. Chúng ta thấy cây đèn cầy phát ánh sáng ra ngoài nhưng cũng chiếu vào tự thân nó và chính nó hưởng ánh sáng của nó nhiều nhất. Cây đèn cầy thứ nhất tự soi sáng chính nó và soi sáng cây đèn cầy thứ hai. Khi chúng ta thắp lên cây đèn thứ hai thì cây đèn này cũng tự soi sáng mình và soi sáng cây đèn thứ nhất. Nhìn vào bất cứ điểm nào ở vùng giao thoa ta cũng thấy có cộng và có tự.

Tất cả đều do tâm

Duy biểu học cho chúng ta thấy trong tự có cộng và trong cộng có tự, không có gì hoàn toàn tự và không có gì hoàn toàn cộng, cho đến khi vượt thắng được hai ý niệm cộng và tự thì ta mới thấy được sự thật.

Trong định đề 31 có hai điều chúng ta cần phải học:

  1. Báo thân của ta được làm bằng tư duy, ngôn ngữ và hành động của ta.
  2. Chiếu theo tư duy, ngôn ngữ và hành động đó, nghiệp được biểu hiện ra thành y báo lẫn chánh báo, tức cả chủ thể lẫn nhận thức, cả chung lẫn riêng.

Đám cỏ kia không hoàn toàn chung, nó cũng có riêng; mặt trời kia tuy là của chung tất cả mọi người nhưng cách sử dụng mặt trời của mỗi người mỗi khác. Thiền đường hay tăng thân cũng vừa chung vừa riêng, và Ta bà của chúng sinh là Tịnh độ của Bụt. Khi tâm ta được giải phóng khỏi phiền não thì hoàn cảnh và nhận thức của ta phản chiếu được sự giải thoát, an lạc đó. Người buồn thấy cảnh vật cũng buồn, người tươi vui thấy cảnh vật cũng tươi vui.

Khi tâm ta là vọng tâm (deluded mind) thì đối tượng của vọng tâm là vọng cảnh (illusion). Khi vọng tâm được gạn lọc hết tà kiến và trở thành chân tâm thì chân như biểu hiện ra. Đối tượng của chân tâm là chân như, là Niết bàn. Chủ thể và đối tượng luôn luôn đi đôi với nhau, một cái vọng thì cái kia cũng vọng, một cái buồn thì bên kia cũng buồn, một cái vướng mắc thì cái kia cũng vướng mắc, một cái giải thoát thì cái kia cũng giải thoát. Y báo và chánh báo đi liền với nhau, không thể phân biệt được. Cái mà ta cho là Ta bà đầy khổ đau, ta muốn trốn chạy đi thì đức Thế Tôn lại thấy đó là Tịnh độ của Ngài. Tâm Ngài là tâm giải thoát nên đi đâu Ngài cũng thấy giải thoát. Ngài thích ở cõi Ta bà vì ở đây có chuyện cho Ngài làm, và niềm vui của Ngài là giúp được người. Ta bà hay Tịnh độ là tùy theo ta, cái thấy của đạo Bụt là cái thấy hiện pháp lạc trú, không từ bỏ cái hiện tại để đi tìm cái tương lai. Đạo Bụt thấy tất cả đều do tâm, nếu tâm trong sáng và hạnh phúc thì hoàn cảnh trở nên trong sáng và hạnh phúc. Khổ đau là những cơ hội để ta được nuôi lớn lòng từ bi và hạnh phúc của ta. Lòng từ bi và chí nguyện của ta cần được nuôi dưỡng, và Ta bà là chỗ lý tưởng để nuôi dưỡng lòng từ bi. Lòng từ bi càng lớn thì hạnh phúc càng lớn.

Định đề 30

 

Pháp không phải là một sự vật, một cái, một thực thể mà là một quá trình, một sự kiện đang xảy ra, và trước hết là một đối tượng của tâm thức.

A dharma is not a thing, an entity but a process, an event and first of all an object of mind.

Mười tám lĩnh vực của hiện hữu

Chữ pháp trong định đề 30 không có nghĩa là giáo pháp của đức Thế Tôn. Pháp là một trong sáu đối tượng của sự nhận thức: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Sắc là đối tượng của mắt, thanh là đối tượng của tai, hương là đối tượng của mũi, vị là đối tượng của lưỡi, xúc là đối tượng của thân và pháp là đối tượng của ý. Pháp trước hết là một đối tượng của tâm thức, tức ý (manas). Ý là thức thứ bảy, tức mạt na thức. Mạt na và pháp tiếp xúc với nhau sinh ra ý thức, cũng như mắt và sắc tiếp xúc nhau sinh ra nhãn thức.

Trong pháp số có 18 giới, tức 18 lĩnh vực của sự hiện hữu. Đó là sáu căn, sáu trần và sáu thức. Sáu căn là sáu cơ quan cảm giác: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sáu trần là sáu đối tượng của sáu căn: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Sáu căn và sáu trần tiếp xúc với nhau sinh ra sáu thức. Tất cả cộng lại thành 18 giới, gọi là Thập bát giới. Đó là 18 lĩnh vực của hiện hữu (realm of existence) và không có gì đi ra khỏi 18 lĩnh vực đó.

Pháp là một trong sáu trần, là đối tượng của tâm thức (ý). Thông thường chúng ta thấy các pháp (như mặt trời, cây sồi, đám mây) độc lập, có mặt riêng rẽ và ý thức của ta cũng độc lập, có mặt riêng rẽ. Chúng ta có khuynh hướng cho rằng các pháp tồn tại độc lập ngoài ý thức của ta. Nhưng theo đạo Bụt, pháp trước hết là đối tượng của tâm thức. Khi ta quán sát các căn như mắt, tai, mũi thì căn cũng là pháp, vì nó cũng là đối tượng của tâm thức. Năm căn hay năm trần đều là đối tượng của thức.

Pháp là đối tượng của tâm thức

Kinh Tứ Niệm Xứ có nói đến bốn lĩnh vực của sự quán niệm: lĩnh vực đầu là thân, lĩnh vực thứ hai là thọ, lĩnh vực thứ ba là tâm và lĩnh vực thứ tư là pháp. Chánh niệm về bốn đối tượng: thân, thọ, tâm, pháp. Chữ pháp được dịch là object of mind, tức đối tượng của tâm thức. Tất cả những cái gọi là pháp đều là đối tượng của tâm thức. Trong đời sống hằng ngày chúng ta thường cho pháp là cái gì biệt lập ngoài tâm thức, nhưng thực ra pháp không phải là một cái gì biệt lập ngoài tâm thức.

Trong bài tụng thứ 17 của “Ba mươi bài tụng Duy biểu” có nói: Thức của chúng ta biểu hiện ra làm hai phần: phân biệt và bị phân biệt.

Thị chư thức chuyển biến

Phân biệt sở phân biệt

Do thử bỉ giai vô

Cố nhất thiết duy thức

Các thức (A lại da, mạt na và ý thức) chuyển biến ra thành phân biệt và sở phân biệt. Vì phân biệt và sở phân biệt đều không có thật (do thử bỉ giai vô) nên tất cả đều là biểu hiện của thức (cố nhất thiết duy biểu). Người chưa tu, chưa quán chiếu thường hay bị kẹt vào cái chấp nhị thủ (double grasping), tức cái chấp “phân biệt và bị phân biệt”. Chúng ta thường bị kẹt vào ý niệm: Cái phân biệt tồn tại độc lập ngoài đối tượng phân biệt. Chúng ta bị vướng một lần vào hai cái kẹt. Chúng ta nghĩ rằng những pháp ta thấy, tự nó có mặt độc lập ngoài nhận thức của ta.

Trong khi đó thì ngay cả giáo lý 18 giới cũng nói pháp là đối tượng của ý thức mà không phải là một hiện tượng độc lập ngoài tâm thức. Khi ta kẹt vào chủ thể phân biệt thì chủ thể đó sẽ trở thành cái ngã tồn tại độc lập. Khi thấy có một cái ta tồn tại độc lập thì ta cũng kẹt luôn vào sự vật mà cái ta đó phân biệt, nắm bắt và sự vật đó cũng trở thành một sự vật (pháp) tồn tại độc lập. Ta bị kẹt đồng thời vào hai cái: ngã và pháp. Kẹt vào ngã là kẹt vào pháp, kẹt vào pháp là kẹt vào ngã. Đó gọi là nhị thủ.

Ngã và pháp không phải là hai thực thể riêng biệt

Để quý vị dễ hiểu hơn, tôi xin trích bài tụng đầu của “Ba mươi bài tụng Duy biểu”:

Do giả thuyết ngã pháp

Hữu chủng chủng tướng chuyển

Bỉ y thức sở biến

Thử năng biến duy tâm

Do những giả thuyết về ngã và pháp nên có nhiều tướng trạng biểu hiện ra. Bản dịch của thầy Huyền Trang không sát lắm với nguyên văn tiếng Phạn do thầy đã dùng thể gọi là causality (nhân quả): Vì lý do có những giả thuyết về ngã và pháp cho nên có những tướng trạng về ngã và pháp khác nhau hiện ra. Trong nguyên văn tiếng Phạn là: Những giả thuyết về ngã pháp được biểu hiện ra thành nhiều tướng trạng vì ngã và pháp không phải là những thực tại mà chỉ là những khái niệm, những tạo tác của tâm ý (mental constructions), những cái gọi là giả danh.

Chủ thể nhận thức biểu hiện ra dưới tướng trạng tôi, anh, chúng ta, chúng nó, cha, con, bà, cháu, người Pháp, người Úc, v.v… Đó là những tướng trạng biểu hiện ra từ ngã. Tôi không phải là anh, chúng tôi không phải là chúng nó, cha không phải là con, bà không phải là cháu. Tất cả những tướng trạng đó như một lưỡi gươm chặt thực tại ra từng mảnh nhỏ. Đó là tâm phân biệt (discriminative mind), là sự biểu hiện của ngã ra thành nhiều tướng trạng khác nhau.

Ý niệm về pháp cũng biểu hiện ra thành nhiều tướng trạng như đám mây, cơn mưa, nước đá, sương v.v… Chúng ta chặt các pháp ra thành từng cái tách rời nhau: Mây không phải là mưa, mưa không phải là nước đá, nước đá không phải là sương, mà ta không thấy được tính tương tức của tất cả: Mây cũng là mưa, mưa cũng là nước đá, nước đá cũng là sương.

Tôi có một bài thơ, trong đó có câu:

Ôi những mảnh rời nhau, khổ đau

tách ra ngoài đại thể.

(Tôi sẽ xin rằng: “Tất cả” – thơ Nhất Hạnh)

Ý niệm về ngã, tức chủ thể phân biệt, biểu hiện ra thành những pháp khác nhau như tôi, anh, cha, con, bà, cháu, người Pháp, người Úc, v.v… Những ý niệm về sở phân biệt (đối tượng nhận thức) được biểu hiện ra như mây, mưa, nước đá, sương, v.v… Vì chúng ta có ý niệm “ngã là chủ thể và pháp là đối tượng” nên sinh ra chuyện phân biệt giữa người này người kia, đứng về phương diện chủ thể và giữa cái này cái kia, đứng về phương diện đối tượng. Theo cách dịch mới là: Những ý niệm về ngã và pháp được biểu hiện ra thành nhiều chủng loại khác nhau là do tâm thức và có ba loại thức biểu hiện.

Ngã và pháp là những giả danh

Bài tụng thứ nhất và bài tụng thứ 17 của “Ba mươi bài tụng Duy biểu” có cùng một ý. Chúng ta bị kẹt vào ý niệm nhị thủ, cho rằng chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức là hai cái tồn tại riêng biệt, nghĩa là có cái ngã nhận thức và có cái thế giới bị nhận thức.

Câu do thử bỉ giai vô nói rất rõ: do hai cái đó không thật có. Hai cái đó là gì? Hai cái đó là ngã và pháp. Ngã và pháp là những giả thuyết, những giả danh. Trong bài tụng thứ nhất, thầy Thế Thân dùng chữ upacāra, nhưng có khi trong kinh luận dùng chữ prajñapti. Prajñapti là giả danh, chúng ta dịch là conventional designation. Chúng ta đồng ý với nhau gọi một hiện tượng bằng cái tên đó, cũng như các nhà làm rượu đồng ý với nhau gọi loại rượu đó là Beaujolais, cũng như cả nhà đồng ý với nhau gọi tên nó là thằng cu Tý. Tên đó là giả danh. Thật ra thằng cu Tý với ba nó không phải là hai thực thể riêng biệt, thằng cu Tý với mẹ nó cũng không phải là hai thực thể riêng biệt. Nhưng để tiện sử dụng chúng ta đã đặt cho nó một cái tên và làm cho nó một thẻ căn cước riêng. Nó giống như một thực thể biệt lập nhưng thật ra không có gì có thể chia chẻ được. Con là sự tiếp nối của cha, cha là sự tiếp nối của con, trong cha có con, trong con có cha.

Có khi người ta cũng dùng chữ saṃketa. Upacāra, prajñapti hay saṃketa đều có nghĩa là giả danh. Để tiện dụng trong đời sống nên chúng ta dùng những giả danh, nhưng nếu khéo léo thì ta không để giả danh trói buộc ta. Ta gọi người kia là cha nhưng ta biết ta là sự tiếp nối của cha ta. Thấy được như vậy thì những tên gọi, những giả danh không còn trói buộc được ta.

Bài tụng thứ nhất và bài tụng thứ 17 của “Duy thức tam thập tụng” cùng nói đến một ý nhưng nói bằng những cách khác nhau: Những giả thuyết về ngã và pháp được biểu hiện ra dưới nhiều hình tướng khác nhau và tất cả những biểu hiện đó đều do tâm thức biến hiện. Khi biểu hiện thì nó luôn luôn biểu hiện thành chủ thể và đối tượng. Chủ thể và đối tượng không thể tồn tại độc lập, cũng như một đồng bạc luôn luôn có mặt trái và mặt phải.

Ngã và pháp là sự biểu hiện đồng thời của tâm thức

Pháp không phải là một thực thể mà là một quá trình, một sự kiện đang xảy ra. Pháp không phải là một sự vật cố định và bất hoại. Nghiên cứu về tâm thức ta thấy tâm thức là một dòng hiện tượng chuyển biến một cách mau lẹ vô cùng. Đứng về phương diện chủ thể nhận thức, chúng ta thấy rất rõ sự chuyển biến của tâm thức trong từng sát na, ta không nắm bắt được tâm thức. Ở Tây phương từ thế kỷ 19 có người đã nói: Tâm thức có tính cách điện ảnh (nature cinématographique). Nó là những hình ảnh được chiếu liên tục lên màn ảnh, luôn luôn chuyển biến và ta không nắm bắt được.

Khi đi qua lĩnh vực của đối tượng nhận thức như sông, núi, cây cỏ, đám mây, mặt trời, v.v… ta có cảm tưởng là chúng trường cửu hơn, vững bền hơn và còn đó muôn đời. Nhưng sự thật không phải như vậy, ngay trong kinh Kim Cương Bụt có dạy chúng ta nhìn các pháp là vô thường vì nó chuyển biến rất nhanh.

Nhất thiết hữu vi pháp

Như mộng, huyễn, bào, ảnh

Như lộ diệc như điện

Ưng tác như thị quán

Ưng tác như thị quán có nghĩa là phải tập nhìn những hiện tượng chung quanh ta như là một giấc mộng. Giấc mộng thì không có thật, không thể nắm bắt được. Như mộng, huyễn, bào, ảnh: Huyễn là sự sáng tạo của nhà ảo thuật, nó không có thật. Bào là những giọt nước, ảnh là hình bóng.

Như lộ diệc như điện: Như lộ là như sương, rất mong manh, như điện là như tia chớp.

Bụt dùng những hình ảnh để giúp chúng ta dễ dàng quán chiếu và nhìn sự vật vô thường như: mộng, huyễn, bào, ảnh, lộ, điện. Thi sĩ Pháp Victor Hugo, sau khi con gái ông bị chết đuối, cũng đã thấy được rằng tất cả đều vô thường. Ông nói: Tất cả những gì con người thấy đều ngắn ngủi, vô ích, phù du, không đáng để theo đuổi, nắm bắt. (Tout ce que l’homme voit est court, inutile et fuyant.) Là người có tu tập, có quán chiếu, ta phải thấy được như vậy và còn phải thấy sâu hơn.

Hiện nay các nhà khoa học vật lý lượng tử cũng thấy được như vậy. Ta thấy cái bàn giống như một hình thể rắn chắc, cố định bất động, nhưng dưới mắt của các nhà khoa học vật lý thì không có gì là rắn chắc trong cái bàn, phần lớn cái bàn được làm bằng không gian. Nếu có phương pháp đem các nguyên tử của cái bàn xếp lại gần nhau thì cái bàn sẽ chỉ còn bằng một hạt mè. Mỗi nguyên tử có một hạt nhân và có những điện tử xoay chung quanh hạt nhân với một tốc độ rất nhanh, gần 300.000 km/giây. Đó là cái thấy của các nhà khoa học.

Ngày xưa Bụt nói các pháp như “mộng, huyễn, bào, ảnh, lộ, điện”. Chúng như một giấc mơ, một sáng tạo phẩm của nhà huyễn thuật, như bọt nước, như hình bóng, như hạt sương, như tia chớp. Vì vậy chúng ta đừng coi pháp như những sự vật chắc thật. Nó không phải là một cái, một thực thể mà là một quá trình (process), một sự kiện đang xảy ra (event). Chúng ta nương theo lời dạy của Bụt để quán chiếu thì thấy tất cả những gì nằm trong phạm vi đối tượng nhận thức của ta đều có tính cách “như mộng, huyễn, bào, ảnh, lộ, điện”, và trước hết nó không tồn tại độc lập, nó là đối tượng của tâm thức. Tâm thức ta đi nhanh như một tia chớp và đối tượng của tâm thức ta cũng đi nhanh như một tia chớp. Cả hai đều là sự biểu hiện đồng thời của tâm thức. Sự biểu hiện của tâm thức là một sự biểu hiện đôi, sự biểu hiện đồng thời của chủ thể và đối tượng và ta kẹt vào chủ thể và đối tượng đó mà cho là ngã và pháp. Vì vậy ngã và pháp là những giả danh, những phương tiện, những tên gọi ta đồng ý với nhau để dùng cho tiện lợi. Đây là một giáo lý rất sâu sắc của đạo Bụt.

Không có ngã không có nghĩa là không có nhận thức và đối tượng nhận thức. Không có ngã là không có một chủ thể nhận thức riêng biệt và bền vững. Không có pháp không có nghĩa là không có đối tượng nhận thức, không có pháp chỉ có nghĩa là không có những sự vật chắc thật, cố định và tồn tại ngoài chủ thể nhận thức.

Pháp không phải là một sự vật, một cái, một thực thể mà là một quá trình, một sự kiện đang xảy ra: câu này nói về tính vô thường, không chắc thật của vạn pháp. Và là một đối tượng của tâm thức: câu này nói về tính không độc lập của vạn pháp.

Sau này nếu cần giảng giải hoặc quán chiếu, quý vị có thể sử dụng bài tụng thứ nhất và thứ 17 trong “Ba mươi bài tụng Duy biểu”. Hai bài tụng này cho chúng ta đủ các chi tiết để giúp cho người ta thấy được ngã và pháp là hai ý niệm, hai sự biểu hiện đồng thời của tâm thức. Tâm thức không phải là cái độc lập ngoài đối tượng tâm thức.

Định đề 29

 

Sinh diệt chỉ là biểu và vô biểu. Biểu là biểu hiện, năng sở đồng thời. Trong khi có biểu này thì có vô biểu kia. Trong khi cái này biểu thì cái kia vô biểu.

Birth and death are only manifestation or non-manifestation. Both manifestor and manifested occur at the same time, the manifestation of A is the non-manifestation of B .

Sinh diệt chỉ là biểu và vô biểu

Biểu là biểu hiện ra để ta có thể nhận thức được, tiếng Anh là manifestation. Chữ biểu được dịch từ tiếng Phạn – vijñapti. Bất cứ danh từ tiếng Phạn nào có tiền từ vi đều có nghĩa là phân biệt, nhận thức, tri giác. Chữ biểu có thể được hiểu như là sinh ra, thật ra chữ biểu hay hơn chữ sinh. Sinh là trước đó không có mà bây giờ trở thành có, nên ý niệm có và không làm cho chúng ta bị kẹt. Biểu chỉ là biểu hiện ra chứ không phải từ không mà trở thành có, nó thoát khỏi cái có và cái không. Làng Mai chúng ta có câu: Em không phải tạo sinh mà chỉ là biểu hiện. Nhìn một bông hoa nở trong cỏ chúng ta mỉm cười nói: Ta biết em không phải tạo sinh mà chỉ là biểu hiện (I know you are not a creation, you are a manifestation.)

Biểu có đối tượng và chủ thể, có năng và sở. Cái đẹp của bốn mùa vô cùng mầu nhiệm: mùa đông có tuyết, mùa thu có lá vàng, mùa xuân có hoa nở và mùa hè xanh mướt. Chúng ta cũng học nhìn bốn mùa của đất trời bằng cái nhìn vô biểu. Khi nhìn thấy tuyết trắng, mây bạc, trăng trong, khi nghe thông reo, khi ngắm hoa nở, ta biết mỗi sự biểu hiện đều có hai mặt, chủ thể và đối tượng, và hai mặt đó đều đang biểu hiện cùng một lúc, gọi là năng sở đồng thời. Đó là ý nghĩa của vijnapti mà quý vị đã nghe giảng nhiều lần: Nhận thức bao giờ cũng là nhận thức một cái gì, ý thức bao giờ cũng là ý thức một cái gì và không bao giờ có đối tượng mà không có chủ thể, không thể nào có chủ thể mà không có đối tượng. Đây là Duy biểu học. Chấp vào một cái gọi là chủ thể và một cái khác gọi là đối tượng là nhị thủ, tức là hai cái kẹt (double grasping).

Biểu là biểu hiện, năng sở đồng thời

Nhìn tấm hình của một vị hòa thượng đang nằm trong kim quan và bên ngoài thì là cảnh trời xanh, mây trắng và những cây tùng mà nói “đối tượng còn đó mà chủ thể đi đâu rồi?” là một sự sai lầm. Ta sai lầm tại vì ta coi hòa thượng như một chủ thể nằm ngoài đối tượng. Vì vậy nhìn trời xanh, mây trắng mình thấy đó cũng là chủ thể, cái xác kia cũng cùng bản chất với trời xanh, mây trắng. Trong chủ thể có đối tượng, trong đối tượng có chủ thể, không có gì đã qua, không có gì mất đi và phải quán chiếu kỹ thì mới thấy được.

Vào đời Lý có một quan thượng thư tên Đoàn Văn Khâm thường tới chùa tu học với một vị thiền sư tên Quảng Trí. Khi thiền sư viên tịch, một số đệ tử than khóc nói thầy mình không còn nữa. Ông quan thượng thư là một người có tài văn học và cũng có tuệ giác của sự tu học, đã làm một bài thơ cho thiền sư mà hai câu cuối là:

Đạo lữ bất tu thương vĩnh biệt

Viện tiền sơn thủy thị chân hình.

Hồi còn là một vị tỳ kheo tôi đã được đọc bài thơ này. Đạo lữ là các bạn tu, các thầy, các sư cô, các Phật tử. Bất tu là không nên. Này các thầy, các sư cô, các Phật tử, ta đừng nên than khóc chuyện biệt ly, vì nhìn ra phía trước thiền viện (viện tiền) ta thấy nước và núi (sơn thủy) và đó là hình hài đích thực của thầy ta (thị chân hình). Thầy ta còn đó, cứ nhìn cảnh vật đẹp thì thấy thầy ta ở đó. Đó là một cái nhìn rất thoáng, rất sâu. Nhìn với chánh niệm, thấy được cái đẹp của trăng trong, mây bạc thì đó là thầy ta cũng đang nhìn. Hễ có đối tượng là có chủ thể và hễ có chủ thể là có đối tượng. Biểu là sự biểu hiện đồng thời của chủ thể và đối tượng (double manifestation of the subject and the object at the same time). Ta khóc thương, sầu khổ là do ta không nắm được sự mầu nhiệm của Duy biểu:

Không có gì mất đi, chỉ có sự biểu hiện và sự dừng lại của biểu hiện để tiếp tục biểu hiện dưới hình thái khác.

Trong khi có biểu này thì có vô biểu kia

Những cái ta không thấy ta cho là không có, nhưng thật ra không phải không có. Ví dụ nhìn bàn tay của tôi, quý vị không thấy khả năng viết thư pháp của bàn tay này. Chỉ khi nào bàn tay cầm bút, nhúng bút vào mực và viết thì quý vị mới thấy khả năng viết bút pháp của nó. Có những cái ta không thấy được như bàn tay này có thể thỉnh chuông, thỉnh mõ, có thể làm thơ. Ta không thấy được vì những cái ấy chưa biểu hiện (vô biểu) chứ không phải là không có. Thấy biểu thì ta cho là có và không thấy biểu thì ta cho là không có, đó là một sự sai lầm.

Trên đại dương miền Bắc cực có những tảng băng sơn rất lớn, có khi lớn bằng một trái núi (iceberg), nhưng bị mặt nước che lấp gần hết và chỉ để lộ ra những cái chóp rất nhỏ. Ngồi trên máy bay nhìn xuống chúng ta chỉ thấy được những cái chóp nhỏ nhưng thật ra phía dưới là những tảng băng sơn. Những gì ta không thấy mà ta cho rằng không có là không đúng. Sinh diệt chỉ là biểu và vô biểu, biểu và vô biểu đi đôi với nhau một lần, trong khi cái này biểu thì cái kia vô biểu. Vô biểu không có nghĩa là không có, mà chỉ chưa biểu hiện mà thôi. Nếu quán chiếu chúng ta sẽ thấy rất rõ là không có sinh và không có diệt mà chỉ có biểu và vô biểu. Khi thấy được vô biểu thì sự chấm dứt của biểu không động được tới ta.

Trong khi làm học trò thì tính học trò của ta biểu hiện ra (biểu) và tính thầy không biểu hiện (vô biểu). Ví dụ sư cô Tuệ Nghiêm đang ngồi đóng vai học trò nghe thầy giảng, con người học trò của sư cô đang biểu hiện ra. Nhưng khi sư cô qua Mỹ hay về Việt Nam giảng dạy thì con người học trò trở thành vô biểu và con người giáo thọ trở thành biểu. Vì vậy khi cái này biểu thì cái kia vô biểu, chúng ta phải học nhìn như vậy.

Hiện bây giờ chúng ta thấy đức Thích Ca, thầy của chúng ta, là vô biểu vì không còn hình hài của Siddhartha nữa. Nhưng ta thấy được pháp thân, ứng thân cũng là những tiếp nối của đức Thích Ca. Đức Thích Ca quả là không sinh không diệt, Ngài biểu và vô biểu một cách rất mầu nhiệm. Nếu tiếp xúc được với cái ấy là tiếp xúc được tính vô sinh bất diệt của đức Thích Ca. Trong khi cái này biểu thì cái kia vô biểu và hai cái luân phiên đóng trò với nhau. Khi có nước thì không có mây, khi có tuyết thì không có nước đá. Chúng ta đừng để bị kẹt vào cái có, cái không, cái sinh, cái diệt. Nhất là khi học về Duy biểu chúng ta thấy có cộng biểu và biệt biểu. Cộng biểu là biểu hiện chung, biệt biểu là biểu hiện riêng.

Tăng thân có khi biểu hiện như một cộng biểu (collective manifestation) và có khi như một biệt biểu (individual manifestation). Nhưng trong cộng có biệt và trong biệt có cộng. Là một thầy hay một sư cô, ta là một cá nhân, nhưng ta đang mang tăng thân trong mình. Đi ra ngoài ta đại diện cho tăng thân, đó là trong biệt có cộng. Tăng thân đứng ra như một cộng đồng và trong cộng đồng đó chứa đựng những biệt biểu. Đi thêm một bước, thấy được tính cách của cộng biểu và biệt biểu thì ta mới thấy được hoàn toàn bản chất của Duy biểu.

Nhìn khóm tre, tháp chuông, đám mây, trời xanh, ta nên nhớ rằng đó là đối tượng của nhận thức ta, chúng là cộng biểu và đồng thời cũng là biệt biểu. Hai người cùng nhìn lên một đám mây và cùng thấy đám mây, đám mây là một cộng biểu, là đối tượng chung của tâm thức hai người. Nhưng một người thấy đám mây giống như một cái áo và người kia thấy đám mây giống hình một con ngựa. Hai người thấy khác nhau vì tâm thức hai người không giống nhau. Trong truyện “Quan Âm Thị Kính” có nói về vấn đề này qua câu:

Phù vân một đóa bay đi

Khi thì áo trắng lúc thì chó đen

Người thì thấy đám mây là áo trắng, người thì thấy là chó đen. Tùy theo tâm người mà chúng ta thấy như thế này hay như thế kia.

Ví dụ nước Pháp, nước Pháp là đối tượng của sự nhận thức của ta. Nước Pháp có núi sông, phong cảnh, có những thành phố; nước Pháp là đối tượng của sự nhận thức chung, là một cộng biểu. Nhưng mỗi người chúng ta nhìn nước Pháp với một tâm trạng khác nhau, vì vậy trong cái cộng có cái biệt. Thành phố Paris có mấy triệu người ở, nó là Paris chung cho mấy triệu người đó. Nhưng mỗi người dân Paris đều có cái Paris riêng của mình. Tâm của ta nhìn thành phố Paris, nhìn nước Pháp, nhìn trời, nhìn bốn mùa khác nhau; ta tưởng nó là biệt nhưng thật ra trong biệt có cộng. Tâm ta là tâm cộng đồng, nó không chỉ là biệt biểu, nó cũng là cộng biểu.

Đồng Euro hay đồng Dollar là một cộng biểu. Đồng Euro là đồng Euro nhưng chính tâm của ta làm cho đồng Euro đi lên hay đi xuống. Giá trị của đồng Euro không phải tự nó có mà do tâm của ta tạo ra. Khi ta sợ hãi, hoang mang thì đồng bạc xuống giá, khi ta có niềm tin thì đồng bạc lên giá. Ta đừng tưởng đồng Euro là một thực tại có ngoài ta, nó có liên hệ rất nhiều tới tâm ta.

Ở Việt Nam, một thời có mốt mặc áo dài rất ngắn, gọi là mini áo dài. Những người rời Việt Nam trước thời đó lấy làm ngạc nhiên tại sao người ta mặc áo dài cụt ngủn như vậy mà lại cho là đẹp. Theo họ, mặc áo dài tha thướt thì mới là đẹp, nên khi thấy các cô mặc áo dài ngắn củn cởn như vậy thì họ thấy rất lạ. Nhưng khi về nước ở vài ba tháng thì ta lại thấy mặc áo dài dài quá thì xấu. Tâm thức của ta đã bị ảnh hưởng bởi tâm thức cộng đồng. Những buổi trình diễn thời trang đều là những hoạt động của tâm thức. Đẹp hay xấu không phải là những thực tại khách quan mà được sáng tạo ra bởi tâm thức chủ quan.

Có những bức tranh trưng bày trong triển lãm, ta thấy không đẹp nhưng ai cũng khen. Nhất là khi người ta để giá rất đắt, ta cứ chắc chắn là bức tranh phải đẹp lắm nên người ta mới để giá đắt như vậy. Nhìn một hồi thì ta cũng thấy bức tranh đẹp, vì ta tin rằng nếu nó không thật sự đẹp thì người ta đã không để giá mấy triệu đồng như vậy. Ta thấy được rằng tâm con người đóng một vai trò rất quan trọng. Không những đám mây có tính cách cộng biểu và biệt biểu mà tâm chúng ta cũng vậy.

Chúng ta đang chuẩn bị cho ba tháng an cư mùa Đông. Chúng ta dọn dẹp sạch sẽ xóm của chúng ta và chúng ta cũng dọn dẹp sạch sẽ tâm của chúng ta. Ta phải dọn cho sạch những cái còn bê bối chung quanh ta và trong tâm ta. Chúng ta có khoảng năm ngày để làm retreat-cleaning. Những người nào có máy tính riêng hay có điện thư riêng thì phải trình lên chúng. Trong cư xá, trong phòng mình không để thức ăn riêng, mì gói riêng, không để những DVD, CD âm nhạc không hợp pháp. Các xóm phải tổ chức một số thùng để các thầy, các sư cô, các cư sĩ vứt vào đó những cuốn sách, những CD nhạc hay phim ảnh không lành mạnh theo chánh pháp. Ta phải làm lễ chôn cất cho đàng hoàng. Đó gọi là buông bỏ và phát lộ. Mỗi xóm đều phải tổ chức như vậy, chúng ta phải dọn cho sạch từ trong tới ngoài, từ trong tâm cho tới ngoài hoàn cảnh. Tôi rất mong Hội đồng giáo thọ cũng như Ban chăm sóc các xóm để ý tới việc này để cho khóa tu mùa Đông của chúng ta được thật thanh tịnh. Mỗi buổi trưa chúng ta phải cúng ngọ, mỗi chiều thứ bảy chúng ta phải cúng thí thực và mỗi ngày đều có tụng kinh bằng tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp. Những người không biết tiếng Việt phải học kinh tiếng Việt, những người không biết tiếng Anh thì học kinh tiếng Anh, phải học và tụng cho thuộc.

Chúng ta phải thực tập như thế nào để mỗi buổi ngồi thiền và mỗi buổi đi thiền hành đều có tính cách nuôi dưỡng, đừng để rơi vào trong sự thực tập hình thức. Ta phải thật sự có mặt trong các sinh hoạt tu tập của chúng như ngồi thiền, đi thiền hành. Ta phải có mặt khi đại chúng tập họp để đi thiền hành, đừng nên ở lại trong phòng hoặc đi ra trễ. Ta có giám niệm trong mỗi xóm, hễ có chuyện gì cần thì cứ đến hỏi vị đó.

Xin chúc đại chúng một mùa An Cư Kết Đông nhiều hạnh phúc và xây dựng được nhiều tình huynh đệ.

Định đề 28

 

Giải thoát luân hồi không có nghĩa là chấm dứt một bổ đặc già la (pudgala) vốn không thật có, cũng không phải là chấm dứt giới thân và tuệ mạng của một đời tu.

Liberation from saṃsāra does not mean putting an end to the personal self (pudgala), because that person is not a real entity anyway, nor does it mean putting an end to the precepts’ body and the spiritual life.

Ngã là một ý niệm mà vô ngã cũng là một ý niệm

Nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng phải có một cái gì đi qua luân hồi sinh tử. Nếu không thì cái gì sinh và cái gì tử? Nói đến giải thoát thì phải có cái gì giải thoát. Vì vậy nên người ta dùng cái ngã để giải thích giải thoát luân hồi.

Nhiều người nghĩ giải thoát luân hồi có nghĩa là từ “có một cái ngã” mình tu để trở thành “không có ngã” và khi không có ngã nữa thì mình được giải thoát khỏi luân hồi. Những câu hỏi như “Khi chết ta đi về đâu?” giả định có một cái ngã, ai đi và đi về đâu. Ý niệm về ngã trong đạo Bụt gọi là pudgala (bổ đặc già la). Đúng theo tinh thần đạo Bụt thì đó là một ý niệm chứ không phải là một sự thật. Ngã là một ý niệm mà không phải là một thực thể, nó có thể tan rã nhờ sự tu tập của ta. Tu tập giải thoát không có nghĩa là để từ có ngã mà trở thành không có ngã. Chính trong giờ phút này ta đã là vô ngã rồi, không phải đợi đến khi có giải thoát thì ta mới trở nên vô ngã. Vấn đề tu tập là vấn đề phá tan ý niệm về ngã mà không phải là phá tan ngã. Ngã làm gì có để phá tan, chỉ có ý niệm về ngã cần phải được phá tan mà thôi. Ý niệm về ngã là ngã chấp (attachment to the idea of a self).

Hiện bây giờ ta đang là vô ngã nên ta không cần đi tìm vô ngã. Đã là vô ngã rồi thì không cần phải diệt ngã mà chỉ cần lấy đi ý niệm về ngã. Chúng ta đã được học nhiều về Trung đạo, nghĩa là tính không sinh, không diệt, không có, không không, không một, không nhiều, không tới, không đi. Những cái gọi là sinh, diệt, tới, đi, một, nhiều đó chỉ là những ý niệm mà không phải là những sự thật. Ngã cũng là một ý niệm và vô ngã cũng là một ý niệm. Vì vậy giải thoát luân hồi không có nghĩa là chấm dứt một thực thể gọi là ngã (pudgala) để đi tới một thực thể khác gọi là vô ngã. Chúng ta sử dụng khái niệm vô ngã để đập phá khái niệm ngã, nếu còn kẹt vào ý niệm vô ngã thì có nghĩa là ta vừa thoát ra khỏi khái niệm này để lại chui vào trong một khái niệm khác.

Giải thoát ra khỏi những khái niệm

Chúng ta cần phân biệt giữa thực thể (entity) và ý niệm (notion). Đây là vấn đề nhận thức, nhận thức có ngã thì ta đau khổ và nhận thức vô ngã thì ta lo sợ, ta cảm thấy lạc lõng. Vì vậy ngã và vô ngã đều là những ý niệm; giải thoát luân hồi là vượt thắng những ý niệm như ngã, vô ngã, có, không, sinh và diệt. Ý chính của định đề 28 là đừng nên giả định có một cái ngã để làm cho ta tù túng, khổ đau và ta tu hành là để phá tan cái giả định đó. Ngã chỉ là một ý niệm, ta bị kẹt vào một ý niệm chứ không phải bị kẹt vào một trạng huống. Ta có những lo lắng, sợ hãi không đâu; những sợ hãi, lo lắng không căn cứ đó trở thành ngục tù giam hãm ta. Ta có sự ganh ghét và sợ hãi do tâm ta tạo ra; sự ganh ghét và sợ hãi đó trở thành một ngục tù giam hãm ta. Nó không phải là sự thật, nó chỉ là những ý niệm. Vấn đề ở đây là phá tan một ý niệm, chứ không phải phá tan một thực thể.

Ví dụ như một người thợ điêu khắc có một khúc gỗ. Ông dùng dụng cụ điêu khắc làm việc một hồi thì khúc gỗ trở thành một ông thần. Tự nhiên ông ta đâm ra sợ ông thần đó và cứ lạy xuống trước ông thần, trước tác phẩm của chính ông ta. Tâm ta tạo ra cái đó rồi ta trở thành nạn nhân của nó. Những quan điểm, những khái niệm ta sáng tạo ra có thể là ngục tù của chính ta. Vì vậy giải thoát có nghĩa là giải thoát ra khỏi những khái niệm.

Giới thân và tuệ mạng tiếp tục luân hồi dưới những hình thức khác

Giải thoát luân hồi cũng không có nghĩa là chấm dứt giới thân, tuệ mạng của một đời tu.

Chúng ta có danh từ giới thân, tuệ mạng. Thân là hình hài (body), mạng là mạng sống. Trong đời của một người tu còn có giới thân. Giữ giới thì người tu có giới thân, giới thân bảo vệ tự do cho ta. Năm giới, mười giới, mười bốn giới,… giữ cho ta được tự do, hạnh phúc. Giới thân lớn lên nhờ sự tu tập của ta và khi chúng ta thực tập nuôi dưỡng giới thân thì ta cũng làm cho trí tuệ lớn lên. Trí tuệ có khả năng giải phóng cho ta. Đời sống của trí tuệ gọi là tuệ mạng. Nếu u mê thì ta bị kẹt vào sinh tử luân hồi, kẹt vào khổ đau, sợ hãi, tuyệt vọng. Tuệ giác đánh phá được những vô minh, sợ hãi, hận thù và làm cho ta trở thành con người có tự do, hạnh phúc. Tuệ giác có mạng sống của nó và chúng ta phải nuôi dưỡng tuệ mạng đó.

Khi hình hài ta tan rã thì giới thân và tuệ mạng không chấm dứt, chúng tiếp tục mãi mãi dưới những hình thức khác. Giới thân, tuệ mạng đi luân hồi, được tiếp tục và làm lợi lạc cho mọi loài hữu tình. Chúng ta được tiếp tục dưới những hình thức khác của sự sống. Đoạn thứ hai của định đề 28 cho biết giải thoát giác ngộ không phải là sự chấm dứt của bất cứ một cái gì. Nó là sự chấm dứt của những tà kiến và là sự tiếp tục của những tuệ giác. Giải thoát giác ngộ có nghĩa là được giải thoát khỏi tà kiến và được tiếp tục bởi tuệ giác. Đức Thế Tôn, thầy của chúng ta, có một giới thân và một tuệ mạng rất lớn. Sau khi hình hài của Ngài tan rã, giới thân và tuệ mạng của Ngài vẫn được nuôi dưỡng và tiếp tục bởi những thế hệ đệ tử. Chúng ta có thể thấy được sự tiếp nối của đức Thế Tôn qua các thế hệ. Nhờ chúng ta tiếp tục hành trì giới luật, khai mở tuệ giác mà giới thân tuệ mạng của đức Như Lai được đưa về những thế hệ tương lai. Chúng ta là những người tham dự vào dòng giới thân và dòng tuệ mạng đó, ta là sự tiếp nối của đức Như Lai. Đức Như Lai được luân hồi dưới dạng giới thân và tuệ mạng chứ không phải dưới dạng ngã chấp và si mê. Cả một đời tu mà không được tiếp nối về tương lai thì rất uổng.

Khi thực tập là ta thực tập cho cả tổ tiên của ta, tổ tiên tâm linh cũng như tổ tiên huyết thống. Ta thực tập cho Bụt để giới thân và tuệ mạng của Bụt được tiếp nối. Ta thực tập để ông bà, cha mẹ trong ta và trong con cháu ta được thừa hưởng giới thân tuệ mạng đó. Nhờ sự thực tập của ta mà giới thân tuệ mạng được truyền về thế hệ tương lai. Ta không muốn cho tà kiến và ngã chấp đi luân hồi, tà kiến và ngã chấp đi luân hồi về tương lai sẽ gây ra nhiều đau khổ. Luân hồi – cái gì luân hồi? Không có ngã vẫn có luân hồi?

Nhìn một đám mây, chúng ta hỏi nó có ngã hay không mà nó vẫn có thể đi luân hồi, nó có thể tiếp tục bằng mưa, bằng sương mù, bằng tuyết, bằng dòng suối, bằng ruộng lúa? Đám mây không bao giờ chấm dứt. Nếu đám mây không bị ô nhiễm thì luân hồi của nó rất đẹp. Làm thế nào để đám mây được luân hồi dưới dạng đẹp nhất của nó? Chúng ta cũng không muốn luân hồi dưới những dạng xấu xí của tà kiến, ngã chấp, tham, sân, si, chia rẽ, hận thù, bạo động. Chúng ta muốn luân hồi dưới những dạng đẹp như từ bi, trí tuệ, giải thoát, niềm vui, tình huynh đệ. Chúng ta tu học là để chấm dứt sự luân hồi của những cái tiêu cực và làm tiếp nối sự luân hồi của những cái đẹp, cái hay. Vì vậy luân hồi có nghĩa là sự tiếp nối, có luân hồi xấu và luân hồi đẹp. Nếu đó là sự luân hồi của trí tuệ và từ bi thì chúng ta có thể ca ngợi luân hồi: Vạn tuế luân hồi! tại vì sự sống rất cần tuệ giác và từ bi.

Nếu có ai hỏi: “Nếu không có ngã thì ai đi luân hồi?” thì các thầy, các sư cô, các vị Phật tử phải trả lời cho được. Nhìn một đám mây chúng ta có thể biết nó đi luân hồi như thế nào. Nó có cần một cái ngã hay không? Tình huynh đệ mà chúng ta chế tác có thể đi luân hồi và sẽ làm đẹp cho cuộc đời.

Định đề 27

 

Vì phiền não và bồ đề đều có tính hữu cơ nên sự thực tập cần được liên tục để mang tới sự chuyển hóa và giữ không cho đọa lạc. Luân hồi là sự tiếp nối: cái đẹp và cái lành cần được tiếp nối càng lâu dài càng tốt, cái xấu và cái dở cần được chuyển hóa để đừng tiếp tục, rác phải được sử dụng để nuôi hoa.

Since the afflictions (kleśāḥ) and the awakening (bodhi) are of an organic nature, the practice needs to be constant in order for transformation to continue and for regression not to take place. Saṃsāra is a continuation and the beautiful and wholesome things need to be continued for as long as possible, while the not beautiful and unwholesome need to be transformed so that they do not continue. The compost has to be used to nourish the flowers.

Trong định đề 26, chúng ta đã học “phiền não tức bồ đề,” không thể tìm được một bồ đề ngoài phiền não. Định đề 27 sẽ giải nghĩa rõ thêm về tính tương tức của phiền não và bồ đề.

Không chạy trốn khổ đau

Tại Làng Mai, chúng ta thường nói Tịnh độ và Ta bà tương tức. Tịnh độ được làm bằng chất liệu của Ta bà, cũng như hoa được làm bằng chất liệu của rác, nếu không có rác thì sẽ không có hoa. Ví dụ mà chúng ta thường dùng là sen với bùn, không có bùn thì không thể có sen, chỗ nào có sen là chỗ đó có bùn và chỗ nào có bùn thì ở đó chúng ta có thể trồng sen. Chúng ta thường nói với các bạn Kitô giáo: Ý niệm cho Thiên đường (Thiên quốc) là một nơi biệt lập không có khổ đau cũng như ý niệm coi Tịnh độ là một nơi không có khổ đau là những ý niệm còn ngây thơ.

Là người học Phật sâu sắc chúng ta phải thấy được điều đó. Con người thường sợ hãi, chán ghét khổ đau nên tìm cách trốn chạy khổ đau. Người ta mơ tưởng đến một cõi không còn khổ đau và gọi đó là Tịnh độ hay Thiên quốc. Đó là khuynh hướng chung của mọi người, khuynh hướng trốn chạy cõi khổ đau này để đi tìm một cõi khác không có khổ đau. Vì vậy Tịnh độ hay Thiên quốc có thể là một sáng tạo phẩm của trí óc chúng ta. Đó là nhu yếu của con người. Nếu Tịnh độ hay Thiên quốc là một nơi không có khổ đau thì quả thật đó là một sản phẩm do trí óc tưởng tượng. Nhưng nói như vậy không có nghĩa Tịnh độ và Thiên quốc không phải là những cái gì không có thật, chúng có thật nhưng không có như chúng ta nghĩ.

Theo định nghĩa của Làng Mai thì Tịnh độ và Thiên quốc là những nơi có hiểu biết, có thương yêu. Đó là nơi con người biết sử dụng khổ đau để chế tác hạnh phúc. Chúng ta cần sự hiểu biết và thương yêu nên ta mới mong về Thiên quốc và Tịnh độ. Nơi nào có hiểu và thương thì nơi đó ít khổ. Quán chiếu tính tương tức giữa rác và hoa, giữa phiền não và bồ đề, chúng ta thấy làm gì có hiểu và thương nếu không có khổ đau, làm gì có sen nếu không có bùn? Khổ đau dạy cho ta biết hiểu và biết thương. Khổ đau có công dụng của nó, chúng ta lớn lên và làm người được là nhờ khổ đau, chúng ta học hỏi được là nhờ khổ đau.

Phương pháp của đạo Bụt không phải là chạy trốn khổ đau mà là nhận diện và nhìn sâu vào khổ đau. Ngay trong sự thật thứ nhất của giáo lý Tứ diệu đế tức khổ đế, giáo lý căn bản của đạo Bụt, chúng ta đã thấy thái độ của đạo Bụt là không chạy trốn khổ đau mà ta phải dừng lại, đưa nỗi khổ niềm đau lên và nhìn sâu vào nó. Ta nhìn sâu vào trong khổ đau để thấy nguyên do, gốc rễ của khổ đau, nghĩa là thấy được sự thật thứ hai là tập đế. Hiểu được sự thật thứ nhất và sự thật thứ hai thì ta sẽ đi tới sự thật thứ tư là đạo đế, tức con đường đưa tới sự chuyển hóa khổ đau.

Ta không thể hiểu được sự thật thứ ba (diệt đế) nếu ta không hiểu được sự thật thứ nhất và sự thật thứ hai. Điều kiện căn bản để thấy được đạo là phải hiểu được khổ và bản chất của khổ là gì. Chạy trốn khổ đế và tập đế thì không bao giờ thấy được đạo đế, mà không thấy được đạo đế thì không bao giờ có thể đạt tới hạnh phúc, tức diệt đế. Diệt là diệt khổ, diệt đế là sự chuyển hóa và chấm dứt khổ đau.

Khổ đau cho con nguời cơ hội để hiểu và thương

Tứ diệu đế có hai cặp nhân – quả: Tập làm nhân cho khổ và đạo làm nhân cho diệt, gốc rễ khổ đau tạo ra khổ đau, và con đường thực tập đưa tới sự chấm dứt khổ đau. Ngay trong giáo lý căn bản Tứ diệu đế, chúng ta cũng đã thấy được tính tương tức của hoa và rác, của khổ và diệt, của tập và đạo. Một nơi mà không có khổ đau thì cũng không có hiểu biết và thương yêu. Chúng ta nói tới sự thiết dụng của khổ đau (the goodness of suffering): Khổ đau rèn luyện con người, cho con người có cơ hội để có thể hiểu và vì hiểu được nên mới thương được.

Chúng ta hãy thử gửi con cháu ta tới một nơi không có khổ đau. Con cháu ta sẽ không bao giờ có cơ hội chế tác chất liệu của hiểu và thương nếu chúng không biết đói, biết nghèo, biết chiến tranh là gì. Cho rằng Tịnh độ hay Thiên quốc không có khổ đau là một điều rất vô lý! Chư Bụt và chư Bồ tát lấy gì để dạy cho dân chúng ở những nơi đó? Chúng ta lấy gì để nuôi sen nếu không có bùn?

Ở cõi Ta bà có dư giả khổ đau nên chúng ta có cơ hội thực tập. Khổ đau cần thiết nhưng chúng ta không cần phải chế tác thêm nữa vì chúng đã có quá nhiều. Rác có quá nhiều nên bây giờ ta phải học cách chuyển rác thành hoa. Nhờ có rác nên có hoa, nhờ có nhiều rác nên ta có nhiều hoa.

Khi đối thoại với các truyền thống tôn giáo khác, chúng ta có thể cho họ biết quan điểm của chúng ta về Thiên đường hay về Tịnh độ vì giáo lý đạo Bụt không dựa trên đức tin mà dựa trên sự quán chiếu. Sự quán chiếu cho chúng ta biết rằng không có phiền não thì không có bồ đề, không có rác thì không có hoa, không có Ta bà thì không có Tịnh độ. Đó là tính tương tức giữa phiền não và bồ đề, một dấu ấn của Phật pháp và nếu đánh mất dấu ấn đó thì chúng ta đi vào tà đạo.

Người hành giả thấy rác không sợ, có rác thì ta biến rác thành hoa. Người hành giả thấy khổ đau không sợ, có khổ đau thì ta biến khổ đau thành hiểu và thương. Chúng ta có thể đánh tan cái ảo giác “có một cõi chỉ có hạnh phúc mà không có khổ đau” khi thấy được tính tương tức giữa phiền não (sự thật thứ nhất) và bồ đề (sự thật thứ ba).

Quan niệm bất thối chuyển

Trong đạo Bụt chúng ta có quan niệm bất thối chuyển, tức là sự không còn rơi xuống, không còn đọa lạc trở lại. Không đọa lạc trở lại không có nghĩa rằng nếu đã là hoa thì sẽ vĩnh viễn là hoa và không thành rác trở lại. Ta tưởng khi mới tu thì ta đang ở cõi khổ đau, mê mờ, ta đang ở cõi rác. Khi tu thành rồi thì ta ở cõi hạnh phúc, cõi sáng suốt và ta sẽ thường tại trong cõi đó, ta vĩnh viễn xa lìa cõi khổ đau. Nhưng vì khổ đau và hạnh phúc tương tức cho nên bất thối chuyển không có nghĩa là rác không trở thành hoa và hoa không thành rác trở lại. Hoa có thể thành rác trở lại. Một niềm vui hay một hạnh phúc cũng vậy, vì tất cả đều vô thường. Vô thường là một dấu ấn của Phật pháp (một trong Tam pháp ấn). Giáo lý nào đi ngược lại vô thường, vô ngã và Niết bàn thì giáo lý đó không phải đích thật là giáo lý đạo Bụt. Khổ đau và hạnh phúc cũng như rác và hoa, chúng đều vô thường. Chữ bất thối chuyển ở đây không có nghĩa là hoa không trở thành rác mà có nghĩa là khi hoa thành rác thì ta vẫn giữ được khả năng chuyển rác thành hoa. Chúng ta đã từng hiểu lầm chữ bất thối chuyển, ta cho rằng: Khi rác đã trở thành hoa, phiền não đã trở thành bồ đề rồi thì ta vĩnh biệt rác, vĩnh biệt phiền não. Trên sự thật vô thường thì bông hoa nào cũng phải trở thành rác. Nếu là một người làm vườn khéo léo ta sẽ không sợ hãi khi hoa trở thành rác, vì ta biết trong rác có hoa và ta sẽ chuyển rác thành hoa trở lại.

Đó là sự sống, sự sống là vô thường, vô ngã và tương tức. Chữ “không đọa lạc” có nghĩa là không sợ hãi khi hoa trở thành rác vì ta biết cách liên tục biến rác thành hoa trở lại. Bất thối chuyển là nắm vững được pháp môn chứ không phải là sự tách rời vĩnh viễn giữa hoa và rác, sự tách rời vĩnh viễn giữa phiền não và bồ đề.

Hoa vĩnh viễn là hoa và mãi mãi không còn là rác nữa, ý niệm đó đi ngược lại với tuệ giác tương tức vì nhìn vào trong rác ta thấy hoa và nhìn vào trong hoa ta thấy rác. Muốn học Phật một cách thông minh ta phải có khả năng buông bỏ những ý niệm ngây thơ của mình về Phật pháp.

Trong cơ thể ta có rác và có hoa. Khi ta nâng lên trong tay một dĩa thức ăn thơm ngon thì dĩa thức ăn đó là hoa. Nhưng một giờ đồng hồ sau khi ăn thì dĩa thức ăn đó sẽ biến thành rác. Tất cả những chất liệu bổ dưỡng thấm vào cơ thể ta, lúc đầu là chất nuôi dưỡng, nhưng sau đó nó cũng thành rác và ta phải bài tiết ra, ta bài tiết không chỉ bằng cách đi cầu, đi tiểu mà còn bằng cách thở hay toát mồ hôi. Những chất ta bài tiết đều là rác. Nhìn vào dĩa cơm thơm ngon ta biết đó là từ rác mà ra. Nếu không có phân rác thì làm sao ta làm ra hoa trái, lúa gạo? Đó là đứng về phương diện vật chất. Đứng về phương diện tinh thần cũng vậy, những niềm vui và những đau khổ của ta đều có tính cách hữu cơ. Chúng là hoa, nhưng sau một thời gian thì trở thành rác. Tất cả đều theo định luật vô thường, rác vô thường mà hoa cũng vô thường. Chính nhờ vô thường nên ta có thể biến phiền não thành bồ đề.

Không đánh mất ý thức về hạnh phúc

Hôm qua ta có tuệ giác về vô thường nên ta rất vui. Nhưng hôm nay ta đánh mất tuệ giác đó nên ta ăn nói, hành xử giống như ta chưa bao giờ có tuệ giác đó. Khi mới tới Làng Mai, trong năm đầu ta cảm thấy rất hạnh phúc, ta trân quí mỗi điều kiện của hạnh phúc. Sống được vài năm, ta thấy chán, thấy buồn, ta muốn bỏ đi, hoa đã trở thành rác.

Người xuất gia hay người cư sĩ hãy cùng nhau nhìn lại: Lúc mới được chấp nhận vào sống ở Làng Mai, chúng ta hạnh phúc biết bao nhiêu, chúng ta muốn sống như vậy đời đời. Nhưng sau một thời gian chúng ta bắt đầu thấy lờn và không còn cảm thấy hạnh phúc nữa. Ban đầu ta cương quyết phải sống như thế nào để ta và đoàn thể đều có được hạnh phúc. Nhưng sau đó ta có thể sống bê bối và tạo ra những khó khăn, bực bội trong cộng đồng. Cuối cùng cộng đồng chịu không nổi nên không cho phép ta ở nữa và ta phải đi. Lúc đó ta mới thật sự tiếc. Theo thanh quy của Làng Mai, nếu một xóm không cho một người nào đó ở nữa thì các xóm khác cũng không cho. Người ấy phải đi, nhưng sau một năm người đó có thể viết thư xin trở lại. Lúc đó đã nếm mùi đau khổ ở ngoài nên người đó biết trân quí trở lại những cái trước kia mình được thọ dụng. Thấy người đó biết trân quí thì chúng có thể xét và có thể cho người đó một cơ hội được hội nhập trở lại.

Bí quyết của hạnh phúc là nuôi dưỡng được ý thức về hạnh phúc. Ta biết ta có may mắn, ta có những điều kiện của hạnh phúc và ta nguyện sẽ không bao giờ đánh mất ý thức về sự có mặt của những điều kiện hạnh phúc đó. Ngày xưa ta có tuệ giác nên thấy mình có may mắn được sống trong tăng thân và nhờ có tuệ giác đó mà ta có hạnh phúc. Bây giờ ta đánh mất tuệ giác đó, đồng thời ta cũng đánh mất luôn hạnh phúc.

Phiền não vô thường mà bồ đề cũng vô thường. Ngu si vô thường mà tuệ giác cũng vô thường. Người tu phải biết nuôi dưỡng tuệ giác cho bền lâu. Nếu một phần tuệ giác bị đánh mất thì nhờ sự tu học mà ta phục hồi được tuệ giác và chuyển rác thành hoa trở lại. Đó gọi là bất thối chuyển. Bất thối chuyển không có nghĩa là khi rác thành hoa rồi thì hoa sẽ tồn tại vĩnh viễn dù ta không tiếp tục thực tập. Vì vậy trong 14 giới Tiếp Hiện có giới “phải nuôi dưỡng ý thức về khổ đau, đừng đánh mất ý thức về khổ đau của sự sống”. Đánh mất ý thức về khổ đau là đánh mất ý thức về những điều kiện của hạnh phúc mình đang có. Giới điều này đi rất sát với Tứ diệu đế.

Vì phiền não và bồ đề đều có tính hữu cơ nên sự thực tập cần được liên tục để mang tới sự chuyển hóa và giữ không cho đọa lạc.

Đọa lạc là đánh mất hết điều kiện của hạnh phúc. Ta chỉ còn có một đống rác và đống rác đó không có khả năng biến thành hoa trở lại. Bất thối chuyển là khả năng thường xuyên chuyển rác thành hoa, ta tu như thế nào để nắm được khả năng đó. Ta sẽ không sợ rác nữa vì ta luôn luôn biết tận dụng rác để làm thành hoa. Vì vậy đọa lạc có nghĩa là đáng mất khả năng chuyển rác thành hoa và bất thối chuyển có nghĩa là giữ vững khả năng chuyển rác thành hoa, nếu chúng ta muốn hiểu theo chân tinh thần của đạo Bụt.

Thỉnh thoảng chúng ta có nghe chuyện của một ông tiên tu đến một mức độ khá cao, đã có thần thông rồi nhưng ông vẫn bị đọa lạc. Như thế có nghĩa là khi hoa thành rác ông không có khả năng chuyển rác thành hoa trở lại. Sự sống vô thường nên hoa và rác đều vô thường và phiền não và bồ đề đều vô thường. Lâu nay chúng ta vẫn nghĩ phiền não là vô thường còn bồ đề thì không thể vô thường, cái thấy này không phù hợp với tuệ giác thâm sâu của đạo Bụt.

Luân hồi là sự tiếp nối phi cục bộ của ba nghiệp

Chúng ta thường hình dung luân hồi như một sự đi vòng. Nhưng trước hết luân hồi là một sự tiếp nối và luân hồi có thể được nhận thức trong từng giây phút. Ta chế tác ra một tư duy, một ý tưởng; tư duy và ý tưởng đó đi luân hồi liền lúc đó. Một tư duy lành, hiền, đẹp, đi đôi với hiểu và thương có kết quả ngay lập tức trên sức khỏe của ta và trên cuộc đời. Đó là sự tiếp tục. Tư duy của ta là nghiệp, là một sáng tạo phẩm của ta và nó là sự tiếp nối của ta. Một lời nói phát ra cũng là một sáng tạo phẩm của ta và nó cũng đi luân hồi. Một câu nói đầy tình thương làm cho ta và cho người kia khỏe liền. Vì vậy luân hồi là sự tiếp nối, tiếp nối ít nhất bằng ba dạng: tư duy (ý), ngôn ngữ (khẩu) và hành động (thân). Sự tiếp nối của chúng ta phải được nhìn qua ba dạng của nghiệp: Thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Không phải khi nào xác thân hoàn toàn tiêu hoại rồi ta mới đi luân hồi mà ta đang đi luân hồi trong mỗi giây mỗi phút, ở đây và ở các nơi khác. Ta phát ra một tâm niệm lành thì tâm niệm lành đó làm sáng ngời cả trái đất, chuyển hóa được ở đây và khắp nơi. Ta thấy được ta ở đây và ở mọi nơi, ta không còn tính cách cục bộ (local) nữa. Ta phải học để thấy được tính không cục bộ (non-local) của sự tiếp nối ta dưới ba dạng thân, khẩu và ý, như trong bài hát của sư chị Giải Nghiêm: An vui nơi này, an khắp mọi phương.

Ta tu tập đúng phương pháp thì gia đình, dòng họ, đất nước của ta cũng được thừa hưởng. Mỗi tư duy, mỗi lời nói, mỗi hành động của ta đều có ảnh hưởng trên tự thân và trên thế giới. Ta phải thấy nghiệp dưới ánh sáng không cục bộ. Non local là một danh từ mới của khoa học vật lý, còn danh từ phi thời gian có nghĩa là bao trùm cả thời gian, có giá trị vượt thoát thời gian.

Tuy hình hài này đang còn nhưng ta đã đi luân hồi dưới ba dạng của nghiệp. Ta được tiếp nối không những bởi hình hài và tâm thức này, mà ta còn được tiếp nối dưới dạng không cục bộ ở khắp mọi nơi. Không phải chỉ có Bụt và các vị Bồ tát mới có thần thông, mới có mặt được đồng thời trong ba cõi. Chính ta cũng có mặt một lần trong ba cõi. Mỗi tư duy ta phát ra làm chấn động toàn thế giới, nó có ảnh hưởng tới gia đình, đất nước quê hương ta. Nếu tư duy đó là hận thù, tuyệt vọng thì nó làm tan vỡ cả tự thân và thế giới. Nếu là bồ đề tâm thì nó nâng cả thế giới đi lên. Vì vậy chúng ta phải học nhận diện sự tiếp nối của ta qua dạng không cục bộ.

Trí tuệ và lòng từ bi của ta đem lại niềm vui và sự trị liệu cho rất nhiều hình thái của sự sống. Ngay khi quyết định làm một “ngày không xe” thì ta đã biết là sẽ có một sự thay đổi trên thế giới dù sự thay đổi đó chưa đủ như ta mong cầu. Ta có một tư duy, tư duy ấy biến thành hành động và biến đổi hình hài, tâm tư ta, biến đổi thế giới. Với ba nghiệp của ta, ta có thể biến đổi thế giới theo chiều tích cực hay tiêu cực. Thông thường người ta nghĩ sự luân hồi chỉ xảy ra khi phổi không còn thở nữa, trái tim không còn đập nữa. Nhưng sự luân hồi, theo đúng nghĩa của nó, xảy ra trong mỗi giây phút của đời sống hàng ngày vì sự sinh diệt của từng tế bào trong cơ thể và sự sinh diệt của các niệm trong tâm xảy ra từng giờ từng phút. Cái này luân hồi thành cái kia, em bé năm tuổi luân hồi thành em bé sáu tuổi, chàng trai mười tám tuổi luân hồi thành chàng trai mười tám tuổi rưỡi. Luân hồi đẹp hay không đẹp là do ta, nếu ba nghiệp của ta đẹp thì sự tiếp nối sẽ đẹp, nếu ba nghiệp ta không đẹp thì sự tiếp nối sẽ không đẹp.

Nghệ thuật nuôi hoa

Cái đẹp và cái lành cần được tiếp nối càng lâu dài càng tốt, đây là nghệ thuật nuôi dưỡng hạnh phúc và tuệ giác. Ta có tuệ giác, nhưng nếu không được nuôi dưỡng thì tuệ giác của ta sẽ bị lu mờ.

Tâm là đài gương sáng

Mỗi ngày cần lau chùi

Đó là bài kệ của thầy Thần Tú. Nhờ tu học nên ta có được một phần tuệ giác nào đó. Phần tuệ giác đó khiến ta biết được điều gì nên làm và điều gì không nên làm để đừng tạo ra đổ vỡ và để tạo ra hạnh phúc cho mình và cho người trong giây phút hiện tại. Tuệ giác đó rất quan trọng, nó có sinh mạng của nó, sinh mạng đó dài hay ngắn là tùy ở ta. Sinh mạng của tuệ giác gọi là tuệ mạng. Tuệ mạng có thể chết yểu, hôm nay ta có chút tuệ giác nhưng nếu không được nuôi dưỡng thì nó sẽ lu mờ. Gương phải được lau mỗi ngày, nghe thầy dạy, ngồi thiền quán là lau gương để tuệ giác của ta càng ngày càng sáng. Ta cắt một bông hoa, muốn giữ bông hoa được lâu dài thì mỗi ngày ta phải theo dõi nước trong bình hoa hay canh chừng không khí cho hoa thở. Nếu cắt bông hoa về rồi vứt trên sàn nhà thì hoa chỉ có thể sống dưới 24 giờ đồng hồ.

Nghệ thuật nuôi hoa có hai phương diện:

  • Nuôi hoa cho bền lâu.
  • Biết cách chuyển rác thành hoa trở lại khi hoa đã thành rác.

Quá trình chuyển rác thành hoa là một quá trình liên tục, hễ có một phiền não còn tồn tại là ta phải nhận diện và ủ nó để nuôi hoa. Ta phải xử lý hoa và xử lý rác, xử lý hoa là chăm sóc cho hoa được lâu dài, xử lý rác là biết cách ủ rác và chuyển rác thành hoa trở lại. Một người làm vườn giỏi không bao giờ đi ngược lại nguyên tắc đó.

Người tu là người làm vườn và khu vườn của ta là vườn tâm. Vườn tâm cũng có hoa và rác nên ta phải nuôi dưỡng tuệ giác và hạnh phúc. Khi rác xuất hiện ta phải biết chăm sóc rác và chuyển rác thành hoa.

Cái xấu và cái dở cần được chuyển hóa càng sớm càng hay để đừng tiếp tục, rác phải được sử dụng để nuôi hoa.

Định đề 27 giúp chúng ta hiểu một cách đúng đắn những danh từ như đọa lạc, bất thối chuyển, luân hồi. Cái hiểu này đi đôi với Tam pháp ấn nên nó đích thực là tuệ giác của Bụt, nó không bao giờ rời dấu ấn vô thường – vô ngã – Niết bàn. Nhờ tuệ giác này mà những quan điểm của ta về Tịnh độ và Ta bà được thay đổi và ta có khả năng thấy được Tịnh độ ngay trong cõi Ta bà.

Định đề 26

 

Tăng thân, Phật thân và Pháp thân tương tức. Trong chân Tăng có chân Phật và chân Pháp.

The Sangha body, the Buddha body and the Dharma body inter-are. In a true Sangha you can find the true Buddha and the true Dharma.

Những danh từ Phật thân (Buddha-kāya) và Pháp thân (Dharma-kāya) đã có sẵn trong Tam tạng kinh điển của nền văn học Phật giáo, nhưng danh từ Tăng thân là một cống hiến của Làng Mai. Làng Mai là đoàn thể tu học đầu tiên sử dụng danh từ tăng thân (Sangha- kāya). Mỗi người chúng ta đều có Phật thân, Pháp thân và Tăng thân. Người không có tăng thân là người mồ côi trên bước đường tu học. Không có tăng thân thì dễ gì có được Phật thân và Pháp thân. Chính đức Thế Tôn cũng có tăng thân và sự nghiệp vĩ đại của đức Thế Tôn thành tựu được là nhờ tăng thân của Ngài.

Một nhạc công sẽ không làm gì được nếu không có cây đàn, đức Thế Tôn cũng sẽ không tạo được một sự nghiệp tồn tại trên 2500 năm nếu không có tăng thân. Pháp thân và Tăng thân làm ra Phật thân, trong Phật thân có Pháp thân và Tăng thân. Nói tới chuyện tu học mà không nói tới Tăng thân là một chuyện xa vời. Thiếu tăng thân thì hầu như Phật không có mặt mà Pháp cũng không có mặt. Đánh mất tăng thân là tai nạn lớn nhất của người tu, người tu đừng bao giờ để mất Tăng thân.

Tam bảo trong nhục thân

Trong định đề 26 chúng ta có nói đến Tam thân. Tam bảo là Tam thân. Mỗi người trong chúng ta đều có ba thân: Phật thân, Pháp thân và Tăng thân. Cố nhiên chúng ta có nhục thân (chúng sinh thân), nhưng là người tu thì trong nhục thân cũng có Tam thân (Tam bảo, ba viên ngọc quí). Thường thường trong tôn giáo người ta đi tìm một đối tượng của sự kính ngưỡng, sự tin tưởng và sự thờ phụng ở bên ngoài. Ta đi tìm Thượng đế, tìm nước Chúa, tìm những đối tượng tâm linh ở ngoài mình. Nhưng trong tinh thần của đạo Bụt, ta không đi tìm những đối tượng đó ở ngoài mà tìm ngay trong tự thân của ta. Ngay trong chúng sinh thân của ta, ta có thể tìm ra được Phật thân, Pháp thân và Tăng thân. Phải vượt thoát ý niệm trong và ngoài thì ta mới có thể mới tiếp xúc thật sự với ba thân. Ba thân có mặt trong giây phút hiện tại.

Phật giáo Đại thừa đã có ý niệm về ba thân là Phật thân, Pháp thân và Hóa thân (báo thân). Ba thân này không có gì khác hơn là Tam bảo tại vì Phật có Phật thân, Pháp có Pháp thân và Tăng có Tăng thân. Ba thân này ta không đi tìm cầu bên ngoài mà tìm ngay trong nhục thân của ta. Chính ta có khả năng làm cho ba thân hiển lộ, cũng giống như ta không đi tìm hoa trái ngoài mặt đất mà làm cho hoa trái biểu lộ từ lòng đất. Sự tu tập cũng là một sự trồng trọt. Chữ bhāvanā có nghĩa là tu tập, mà bhāvanā là làm cho biểu hiện ra. Ta không có lúa, gạo, bắp thì ta làm biểu hiện ra lúa, gạo, bắp. Đó là gieo trồng, bhāvanā có nghĩa là gieo trồng và gặt hái.

Ta có Phật, Pháp, Tăng hay không là do ta có gieo trồng, có làm cho ba viên ngọc quí ấy biểu hiện hay không? Nền tảng của sự gieo trồng là đất, đất ở đây là tâm của ta. Trong đất tâm có những hạt giống của Bụt, của Pháp và của Tăng. Nếu ta thực tập đúng pháp, gieo trồng đúng pháp thì hoa trái của sự tu học tức Phật, Pháp, Tăng sẽ biểu hiện ra.

Có sự tu tập là điều kiện căn bản của một chân Tăng

Phật, Pháp và Tăng không phải là ba thực tại có ngoài nhau, mà tương dung (cái này chứa đựng cái kia), và tương tức (cái này là cái kia). Sự tìm cầu bên ngoài không phải là tinh thần của đạo Phật. Ngoài Phật, không tìm được Pháp và Tăng, ngoài Pháp không tìm được Phật và Tăng, ngoài Tăng không tìm được Phật và Pháp. Tiếp xúc được với một trong ba là tiếp xúc được cả ba. Chân Tăng (the true Sangha) là cái ta có thể tiếp xúc được. Khi chân Tăng phát hiện thì chân Phật và chân Pháp cũng phát hiện cùng thời làm chỗ nương tựa cho chúng ta và cho cả mọi loài. Làm cho Tăng thân biểu hiện là công phu tu tập của chúng ta.

Có một Phật tử cư sĩ ở Việt Nam, rất giỏi về Phật pháp, làm hội trưởng một hội Phật giáo khá lớn. Ông làm việc không hợp với mấy thầy tại vì chưa bao giờ ông học cách làm việc với tăng thân, cách làm của ông không theo tinh thần của lục hòa. Vì giận mấy thầy nên ông đã tuyên bố: “Tôi chỉ quy y hai bảo là Phật và Pháp thôi. Tôi không quy y Tăng!”. Có thể do chưa hiểu được tính tương tức của Tam bảo, nên ông mới nghĩ rằng có thể loại trừ Tăng (với những khuyết điểm làm ông bực mình) và chỉ tin vào Phật và Pháp thôi.

Tăng thân là một cái gì có thật, ta có thể nghe, có thể thấy và có thể tiếp xúc được trong giây phút hiện tại. Tăng thân có thể có những khuyết điểm, nhưng chính vì có những khuyết điểm cho nên mới cần sự tu tập. Nếu đã toàn hảo thì đâu cần tu tập nữa. Vấn đề là trong tăng thân có sự tu tập hay không chứ không phải là Tăng thân toàn hảo hay không toàn hảo. Trong tăng thân mà có sự tu tập thì tăng thân đó đã là một chân Tăng rồi. Chân Tăng không cần phải toàn hảo. Điều kiện căn bản của một chân Tăng là có sự tu tập. Trong chân Tăng có tham, sân, si nhưng cũng có sự tu tập để chuyển hóa tham, sân và si.

Bhāvanā là tu tập và gieo trồng. Trong khu vườn thế nào cũng có cỏ, rác, hoa và trái. Không thể có một khu vườn chỉ có hoa trái mà không có cỏ rác. Vì vậy chúng ta cần có người làm vườn để nhổ cỏ, chuyển hóa rác ra thành phân nuôi hoa, nuôi trái. Tăng thân là một khu vườn có hoa, có trái nhưng cũng có rác, có cỏ. Tu tập là làm thế nào để nhận diện được cỏ rác, chuyển hóa chúng thành phân xanh đem nuôi hoa trái. Đó là công việc rất đẹp của người tu. Ta không nói: “Ô, Tăng thân này có rác, có cỏ nên tôi không thích, tôi đi tìm một tăng thân nào toàn hảo không có cỏ, không có rác”. Không bao giờ ta có thể tìm được một Tăng thân như vậy, không bao giờ ta tìm ra được một khu vườn không có cỏ rác.

Hồ sen có hoa sen, lá sen và bùn đất. Không có bùn đất thì làm gì có hoa sen. Chỗ nào có sen thì chỗ đó có bùn, chỗ nào có bùn là chỗ đó ta có thể trồng sen. Cỏ rác là bùn rất cần thiết để nuôi sen, vì vậy phiền não đóng một vai trò rất quan trọng, không có phiền não (kleśa) thì không có bồ đề (bodhi). Nhìn vào phiền não ta thấy bồ đề, nhìn vào bồ đề ta thấy phiền não; cũng như nhìn vào hoa ta thấy có rác và nhìn vào rác ta thấy có hoa đang ẩn tàng trong đó.

Ta tới quy y Tăng không phải vì Tăng toàn hảo mà do Tăng có sự tu tập. Sự tu tập của Tăng làm cho Bụt và Pháp có mặt. Nếu không có sự tu tập thì không phải là chân Tăng, không phải chân Tăng thì trong đó không có Bụt và không có Pháp. Đó chỉ là cái vỏ Tăng trong đó không có nội dung.

Giới là sự bảo hộ tự do

Muốn là chân Tăng thì ta phải thực tập giới (Śīla), vì vậy mỗi tuần ta đều có buổi tụng giới và pháp đàm về giới. Sự hành trì giới luật là nền tảng của một Tăng thân chân chính. Giới luật và uy nghi là bản chất của một tăng thân. Nếu không thực tập Năm giới thì chúng ta không phải là một chân Tăng. Nếu không thực tập 10 giới, 14 giới, 250 giới thì chúng ta không phải là một chân Tăng. Điều kiện đầu tiên để Tăng là một chân Tăng là sự hành trì giới luật. Giới luật được hành trì không như là một sự bó buộc làm ta mất tự do. Trái lại, giới đem lại hạnh phúc và tự do đích thực cho ta. Người nào xem giới là một sự ràng buộc thì người đó chưa hiểu được giới. Ta có thể dịch chữ Śīla là tự do. Định nghĩa truyền thống của giới là tự do (giải thoát).

Thọ 10 giới của Sa di và Sa di ni một thời gian thì ta được thọ Đại giới (Pratimoksa). Pratimoksa được dịch là biệt biệt giải thoát, biệt biệt là từng cái từng cái, giải thoát là tự do. Giữ được giới không uống rượu thì ta có một tự do, giữ được giới không nói dối thì ta có một tự do khác, giữ được giới không tà dâm thì ta có một tự do khác, mỗi giới bảo đảm cho ta một tự do. Vì vậy cho nên giới có nghĩa là bảo đảm tự do. Có nhiều thứ tự do, ví dụ như không nói dối thì ta không cần phải sợ hãi, không tà dâm thì ta không bị mắc kẹt. Mỗi giới cho ta một tự do khác nhau nên gọi là biệt biệt giải thoát. Pratimokșa có thể được dịch ra tiếng Anh là freedom at every step hay freedom wherever you are. Trong lĩnh vực nào ta cũng có tự do vì ta có giới. Giới bảo hộ cho ta, không đi ăn cắp thì ta không bị vô tù. Khi thực tập Pratimokșa ta có rất nhiều tự do. Vì vậy giới không phải là sự hạn chế tự do, ngược lại giới là sự bảo hộ tự do. Vậy thì giới là giải thoát (vimukti) và giới cũng là niệm (smṛti). Giới không phải là những gò bó, những áp đặt lên ta, bắt ta phải làm mà giới là sự thức tỉnh, là sự tình nguyện.

“Vì biết tà dâm đưa tới hậu quả đớn đau cho mình và cho người khác nên tôi nguyện giữ giới không tà dâm”, đó là do ta tự nguyện chứ không phải người ta ép ta giữ giới. Tự nguyện là chánh niệm.

“Sử dụng ma túy đưa tới sự phá sản tâm hồn và thân thể, biết như vậy nên tôi giữ giới không sử dụng ma túy”. Động cơ khiến ta giữ giới là chánh niệm, chứ không phải do sự áp đặt hay bắt buộc của người khác. Giới có nghĩa là tự do, là chánh niệm, như thế mới đúng thật là giới. Nếu thấy giới như sự hạn chế tự do thì ta chưa thấy được giới.

Cái đẹp của người tu

Khi hiểu được giới là niệm thì cái gì trong đời sống hàng ngày của ta cũng là giới. Bước một bước chân có chánh niệm là giới; ăn sáng, biết là đang ăn sáng, không suy nghĩ vẩn vơ cũng là giới; uống trà, biết là đang uống trà, an trú không bị phân tâm trong khi uống trà cũng là giới. Thực tập giới là làm cho mình đẹp và làm cho tăng thân của mình đẹp.

Cái đẹp của người tu là chánh niệm, là giới. Không có yếu tố của giới luật, không có tự do, không có thảnh thơi thì người tu không phải là người tu. Làm đẹp cho mình, danh từ Phật học là trang nghiêm tự thân. Ta làm đẹp cho ta bằng giới, bằng sự thảnh thơi, bằng chánh niệm.

Thảnh thơi là tự do, không bị vướng mắc vào rượu, vào ma túy và sắc dục. Giới, thảnh thơi và chánh niệm, tuy gọi là ba nhưng là một, chúng làm đẹp cho người tu, làm đẹp cho tăng thân của người tu và làm cho tăng thân trở thành chân Tăng. Hễ có chân Tăng là có chân Phật và chân Pháp. Chân Tăng là chỗ nương tựa cho không biết bao nhiêu người. Sự nghiệp của người tu là xây dựng một chân Tăng. Muốn Bụt, Pháp có mặt trên đời này thì công việc của chúng ta là xây dựng tăng thân, xây dựng bằng sự thực tập giới.

Có giữ giới là có chất thánh

Sáng nay chúng ta đã tụng bài Bốn phép tùy niệm, tức niệm Bụt, niệm Pháp, niệm Tăng và niệm Giới:

Tăng thân của đức Thế Tôn

Là đoàn thể mà chúng con đang quay về nương tựa

Là đoàn thể đang đi trên đường sáng ngời.

Chân Tăng là đoàn thể đang đi trên con đường sáng ngời. Con đường sáng ngời là con đường của giới, của niệm, của giải thoát.

Là đoàn thể đang đi trên đường chính trực

Là đoàn thể đang đi trên đường ứng hợp chân lý

Biết có con đường chánh thì ta an tâm. Ta không đi vào những nẻo đường xấu ác gọi là tà đạo. Ta đang đi trên chánh đạo.

Là đoàn thể đang đi trên đường thánh thiện

Thánh thiện là holy. Sở dĩ ta biết được đó là con đường thánh thiện là vì con đường đó có giới. Có giới nên con đường trở thành con đường thánh, lệch ra khỏi giới là ta đi vào tà đạo. Vì vậy sự hành trì giới rất quan trọng. Giới đem lại tự do, đem lại chánh niệm.

Là đoàn thể gồm thâu bốn đôi và tám bậc thánh quả

Nếu con đường là con đường thánh thì người đi trên con đường đó cũng có chất thánh. Ta là người phàm, ta gọi tăng thân của ta là phàm Tăng. Nhưng nếu thực tập giới thì ta đưa chất thánh vào trong bản thân của ta, vào trong tăng thân của ta và tăng thân bắt đầu có chất thánh.

Chất thánh là gì? Tại sao ta gọi người kia là bậc thánh (His Holiness)? Tại vì người đó có giữ giới, có sự thảnh thơi và có chánh niệm. Ta thấy người đó có chất thánh và ta gọi người đó là His Holiness. Nếu thấy người đó không giữ giới, không có sự thảnh thơi, không có chánh niệm mà ta gọi người đó là His Holiness tức là ta nói dối, ta chỉ là một nhà ngoại giao chứ không phải là một nhà tu. Ta không muốn làm nhà ngoại giao, người đó không có chất thánh thì ta đừng gọi ông ta là His Holiness.

Một sư em tuy còn rất trẻ nhưng giữ giới nghiêm túc, sống tự do, có chánh niệm thì ta thấy chất thánh trong sư em, ta có thể gọi sư em là “your Holiness”. Ta không có mặc cảm; hễ có giữ giới, có sống thảnh thơi, có chánh niệm là có chất thánh, ta nói Tăng thân của ta có chất thánh và chất thánh đó càng ngày càng đi lên.

Chất thánh được làm bằng chất gì? Chất thánh được làm bằng chất phàm. Không có phàm thì làm sao có thánh, không có rác thì làm sao có hoa? Thấy có một ít rác ta đừng nên sợ, ta để dành rác này để làm thành hoa. Nếu trong Tăng thân còn sót lại những chất phàm thì ta hãy mỉm cười, đừng đau khổ, buồn rầu, tuyệt vọng vì ta biết cách chuyển rác thành hoa, chuyển phàm thành thánh. Tăng thân có những khuyết điểm, những yếu kém nhưng nếu ta đã biết phương pháp chuyển rác thành hoa thì ta có thể chuyển phiền não thành bồ đề và chuyển phàm thành thánh. Ta không đi tìm thánh ở đâu xa, ta không cần phải qua Tây phương, không cần phải đi Ấn Độ. Ngay tại đây, ta nhận diện những chất phàm và chuyển chúng thành chất thánh bằng sự thực tập giới luật.

Hạnh phúc chân thật của một Tăng thân

Nhờ thực tập giới, ta có sự bảo hộ, có tự do, ta sống trong chánh niệm nên hạnh phúc của ta ngày mỗi lớn lên. Vấn đề ở đây là vấn đề hạnh phúc.

Người ta thường đánh giá sự phát triển của một quốc gia theo tiêu chuẩn GNP (Gross National Product), nghĩa là nước nào sản xuất nhiều thì nước đó phát triển cao (sản xuất được hiểu theo nghĩa có được nhiều lúa gạo, nhiều mặt hàng, thu vào được nhiều tiền). Nhưng có thể GNP đi lên mà hạnh phúc lại đi xuống. Ta sản xuất được rất nhiều hàng hóa và ta có cảm tưởng như là càng ngày ta càng giàu có hơn, nhưng sự thực có thể là càng ngày ta lại càng có thêm nhiều khổ đau. Chúng ta có một danh từ mới là GNH (Gross National Happiness). Người dân càng ngày càng có hạnh phúc hay không, đó là vấn đề quan trọng, chứ không phải là người dân càng ngày càng tiêu thụ nhiều để làm ô nhiễm thêm sinh môi. Vấn đề là hạnh phúc có tăng trưởng hay không chứ không phải là vấn đề có đồng ra đồng vào nhiều hay không?

Sự hưng thịnh của một tăng thân không thể được đo lường bằng hình thức, bằng tổ chức, bằng số lượng công việc mà bằng hạnh phúc của tăng thân, cũng như là hạnh phúc của từng người trong Tăng thân. Chúng ta tu tập như thế nào để cho hạnh phúc càng ngày càng lớn. Đây không phải là hạnh phúc của sự tiêu thụ. Hạnh phúc này là có nhiều tự do hơn (more freedom), nhiều từ bi hơn (more compassion), nhiều định tĩnh hơn (more concentration), nhiều tuệ giác hơn (more insight). Hễ có nhiều niệm là có nhiều định, hễ có nhiều định thì có nhiều tuệ, hễ có nhiều tuệ thì có nhiều giải thoát, nhiều từ bi. Đó là hạnh phúc chân thật của một tăng thân.

Sự nghiệp của người tu: xây dựng tăng thân

Hạnh phúc phải được định nghĩa là sự có mặt của sự thảnh thơi, của tình thương, tình huynh đệ và của trí tuệ. Vì vậy chân Tăng là mục tiêu của chúng ta. Ta đem hết năng lực của ta để xây dựng chân Tăng (Sangha building). Đó là sự nghiệp của người tu và đó cũng là sự nghiệp của đức Thế Tôn. Suốt cuộc đời của Ngài, đức Thế Tôn chỉ làm một việc là xây dựng Tăng thân. Đức Thế Tôn là một người dựng Tăng tài ba. Tuy gặp rất nhiều khó khăn, nhưng Ngài đã thành công. Đức Thế Tôn là một nghệ sĩ và Tăng thân là một tác phẩm nghệ thuật của Ngài.

Là người tu ta phải lấy sự nghiệp xây dựng tăng thân làm sự nghiệp của đời mình. Ta cũng làm như đức Thế Tôn ngày xưa. Có được một chân Tăng, có được một đoàn thể tu học có hạnh phúc là có Bụt và có Pháp. Hễ có chân Tăng là có Bụt và có Pháp và hễ có Bụt, có Pháp và có Tăng là có chỗ cho người ta nương tựa. Đó là mục tiêu, là hạnh phúc, là sự nghiệp của đời mình. Trong chân Tăng có chân Phật và chân Pháp.

Sự chứng ngộ dưới cái nhìn của Làng Mai

Chúng ta nói đến Tăng thân như một đoàn thể, trong đó có người chứng đạt, có các vị đã về đã tới, có các vị đang an trú trong giây phút hiện tại, có các vị đã thấy được tính tương tức.

Là đoàn thể gồm thâu bốn đôi và tám bậc thánh quả (tứ song bát bối):

Trong tăng thân có các bậc đã vào dòng, có các bậc không còn đọa lạc, không còn sanh ra trở lại, có các bậc A la hán. Về sự chứng ngộ, Làng Mai có những cái thấy về những quả vị như sau:

  1. Quả vị đầu tiên: Đã về đã tới (phi cóc tính)

Có những người đã đạt tới quả vị đã về đã tới tức là đã cảm thấy an lạc, thoải mái trong tăng thân, không muốn bỏ đi, thấy đây là nhà của mình và có thể an trú hạnh phúc

trong giây phút hiện tại. Những người đó được coi như đã chứng đạt quả đầu gọi là quả đã về đã tới. Có những người còn có cảm tưởng chắc là mình cần đi đâu đó hay phải làm cái gì khác, những người đó chưa đạt tới quả đã về đã tới. Họ đang ở trong tình trạng “cóc bỏ vào dĩa”. “Cóc bỏ vào dĩa” là một thành ngữ của người Việt Nam có nghĩa là ngồi không yên. Đó là tâm trạng của những người chưa về chưa tới, không cảm thấy thoải mái và an lạc trong Tăng thân ngay trong giây phút hiện tại. Quả đầu tiên ta phải chứng là quả phi cóc tính (froglessness) tức là ở yên, cảm thấy hạnh phúc, an lạc với tăng thân, không muốn đi đâu nữa.

Những người đó là những người có hạnh phúc, có chất thánh. Họ giữ giới, họ cảm thấy thoải mái, an lạc ngay trong tăng thân. Họ thấy họ đang tu tập và có thể giúp đời. Đó là họ đã có chất thánh, ta có thể gọi họ là your Holiness dù họ mới là sa di hay sa di ni. Ta phải nhìn bằng đôi mắt chánh niệm, đừng nghĩ rằng ta chỉ cung kính một vị xuất gia khi vị ấy đã thọ giới lớn rồi mà thôi. Mới thọ Năm giới hay Mười giới mà người đó đã có chất thánh thì ta phải nghiêng mình cung kính dù người đó còn rất trẻ.

  1. Quả vị thứ hai: An trú, lạc trú.

Nếu quả thật ta đã về được, đã tới được thì ta có khả năng an trú và lạc trú. Tuy chưa chứng các quả tương tức và vô sinh, nhưng ta đã bắt đầu có hạnh phúc rồi. Có hạnh phúc rồi thì sự đi tới được đảm bảo. Ta không cần phải gấp gáp làm gì.

  1. Quả vị thứ ba: Tương tức

Với cái thấy tương tức, ta thấy sư em mình cũng là mình, những khổ đau và khó khăn của sư em chính là những khổ đau và khó khăn của chính mình và ta lo cho sư em như lo cho chính mình. Đó là đạt tới quả vị tương tức. Trong tăng thân của ta có những người như vậy. Họ không thấy có biên giới giữa họ và sư anh của họ, giữa họ và sư chị của họ. Có những người đang hướng về quả vị đó và có những người đã đạt được quả vị đó. Những người đó có chất thánh ở trong họ. Ta còn đi tìm thánh ở đâu nữa? Phải tìm thánh ngay trong sự tu tập.

  1. Quả vị cao nhất: Vô sinh

Tu tập và giữ được cái thấy về tính tương tức thì một ngày kia ta sẽ đạt tới quả vị vô sinh, tức thấy được tính không sinh không diệt. Ta không sợ chết nữa vì ta thấy được bản chất của thực tại là không sinh không diệt. Nhìn đám mây, ta thấy đám mây là không sinh không diệt. Nhìn chiếc lá, ta thấy chiếc lá là không sinh không diệt. Nhìn bản thân, ta thấy bản thân ta cũng không sinh không diệt. Ta không còn sợ hãi nữa, đó là quả vị cao nhất. Có những người đang hướng về những quả vị đó và có những người đã đạt tới quả vị đó.

Nhìn vào một chân Tăng chúng ta thấy có những người đứng vào trong hàng tứ song bát bối, có những người đang hướng về những quả vị đó và có những người đã đạt tới quả vị đó. Thấy những người như vậy ta biết là có chất thánh trong Tăng thân của ta và ta rất vui. Chất thánh đó lớn dần mỗi ngày nhờ vào sự thực tập, cho nên ta gọi đó là chân Tăng.

Chúng ta có thể làm gì cho tăng thân?

Giả sử có một người từ bên ngoài tới, chưa tiếp xúc được nhiều với Tăng thân, và thấy toàn chất thánh trong tăng thân. Ở lâu trong Tăng thân một thời gian, họ bắt đầu thấy có cả chất phàm. Nếu người kia chưa thấy được, thì ta phải nói với họ:

  • Anh đừng có ảo tưởng, trong Tăng thân của chúng tôi cũng có chất phàm. Chính nhờ chất phàm đó mà chúng tôi cần phải tu tập. Nếu không có chất phàm thì chúng tôi tu làm gì nữa? Và lấy gì làm nên chất thánh?

Ta nói để người kia đừng bị sốc khi thấy chất phàm hiện ra trong tăng thân. Chính ta cũng vậy. Ta có một khái niệm về Tăng thân, ta nghĩ các sư anh sư chị ở Làng là tuyệt hảo. Ai dè khi tới ta thấy họ cũng có những khuyết điểm, cũng có những cái kẹt và ta vỡ mộng. Tăng thân nào mà không có khuyết điểm, nhưng chính nhờ những khuyết điểm đó nên ta mới tu tập. Vấn đề là có pháp môn và có sự tu tập hay không? Có pháp môn và có sự tu tập rồi thì ta không còn sợ nữa, ta không còn sợ những yếu kém đang còn tồn tại. Dù có những yếu kém thì chân Tăng vẫn có mặt. Sự tu tập của ta để làm gì nếu không phải là để cho hạnh phúc của Tăng thân càng ngày càng lớn!

“Chúng ta có thể tu tập như thế nào? Chúng ta có thể làm gì để cho Tăng thân có hạnh phúc nhiều hơn ngày hôm qua?”. Đó là những câu hỏi rất hay. Công việc đó nằm trong tầm tay của ta, làm cho Tăng thân có hạnh phúc thêm là việc nằm trong tầm tay của ta chứ không phải là cầu xin ở ngoài mà có được.

Chân Tăng là đối tượng của sự đầu tư của mình

Là đoàn thể xứng đáng để được cúng dường

Là đoàn thể xứng đáng được quy kính

Là đoàn thể xứng đáng được tôn sùng

Là đoàn thể xứng đáng được ngưỡng mộ

Là ruộng phước quí hóa nhất trên đời

Những câu trên có cùng một ý: Chân Tăng là đối tượng của sự đầu tư của ta, ta phải đầu tư nơi Tăng thân. Cuộc đời của ta, tất cả những vốn liếng của ta, từ tài năng cho tới hạnh phúc, lý tưởng, ta phải đầu tư nơi Tăng thân vì Tăng thân là một mảnh đất rất phì nhiêu. Gieo hạt vào trong mảnh đất Tăng thân thì sẽ gặt hái không biết bao nhiêu là hoa trái. Tăng thân là phước điền (ruộng phước). Nếu có vốn liếng và được hỏi nên đầu tư vào hãng nào thì ta trả lời: “Nên đầu tư vào Tăng thân!”. Tăng thân là một mảnh ruộng rất phì nhiêu, những hạt giống ta giao phó cho Tăng thân sẽ đem tới kết quả đẹp nhất vì tăng thân không phải là cái gì kém hơn Bụt và Pháp. Muốn đầu tư vào Bụt và Pháp, muốn làm cho Bụt và Pháp hưng thịnh thì ta phải đầu tư vào Tăng thân. Đầu tư vào Tăng thân là cách hay nhất để làm cho Bụt và Pháp có mặt trên cõi đời. Tăng thân chứa đựng Phật thân và Pháp thân.

Khi ta quay lưng lại với Tăng thân, muốn rời bỏ Tăng thân thì ta nên biết rằng ta đang rút lui sự đầu tư của ta. Ta đầu tư vào chỗ nào nữa? Còn chỗ nào khác đáng cho ta đầu tư? Mỗi chúng ta nên đặt cho mình câu hỏi:

  • Tôi nên đầu tư cuộc đời tôi vào đâu?

Câu hỏi trả lời sẽ rất rõ ràng:

  • Tôi đầu tư vào Tăng thân.

Tăng thân chính là phước điền, chính Tăng thân làm nở ra đóa hoa của Phật thân và Pháp thân. Sự đầu tư đưa tới cho ta hoa trái của tình thương, của giải thoát (thảnh thơi) và hạnh phúc. Thay vì dùng chữ GNH (Gross National Happiness) chúng ta dùng chữ GSH (Gross Sangha Happiness). Là người xuất gia cũng như tại gia, tứ chúng đều hưởng được hạnh phúc của Tăng thân. Tăng thân có thể có rất nhiều hạnh phúc và khi Tăng thân có nhiều hạnh phúc rồi thì ta có thể tha hồ ban phát, chia sẻ hạnh phúc với những người đến với ta.

Định đề 25

 

Khổ lạc tương tức, phiền não và bồ đề đều có tính hữu cơ.

Happiness and suffering inter-are, affliction and enlightenment are both of an organic nature.

Thông thường chúng ta nghĩ khổ là khổ còn hạnh phúc là hạnh phúc, khổ và hạnh phúc không dính gì tới nhau, khổ là cái ngược lại với hạnh phúc.

Trong văn mạch của Tứ diệu đế, chữ dukkha có thể được dịch là ill-being, tức là sự có mặt của một cái gì không suôn sẻ, không thông, không dễ chịu. Ill-being, tiếng Việt là khó ở, khó ở trong hình hài và trong tâm ý. (You are not at peace with youself.) Ta không có sự thoải mái và sự an lạc trong thân và trong tâm. Ill là bệnh, bệnh không những trong thân mà còn trong tâm, nên chữ ill- being này không được hay lắm.

Khó ở (khổ) là sự thật cao quí thứ nhất trong bốn sự thật cao quí. Hiểu được bản chất và thấy được gốc rễ của sự khó ở rất cần thiết và chỉ có thiền quán mới thấy được cội nguồn, căn nguyên của sự khó ở đó. Học qua sự thật cao quí thứ ba chúng ta hiểu diệt đế là sự chấm dứt của ill-being và sự chấm dứt của ill-being (khổ diệt) có nghĩa là bắt đầu sự có mặt của well-being (lạc). Vì vậy cho nên sự thật thứ ba là lạc đế (the Truth of well-being). Sự thật thứ nhất là khổ đế (the Truth of ill-being), trong khi sự thật thứ ba là lạc đế (the Truth of well-being). Vậy thì giữa khổ và lạc có liên hệ như thế nào? Khổ và lạc có phải là kẻ thù của nhau không?

Nuôi dưỡng khổ đau để duy trì hạnh phúc

Theo tuệ giác của đạo Bụt thì tất cả các hiện tượng (pháp) đều có liên hệ với nhau, cái này làm ra cái kia. Chúng ta thấy rằng khổ và lạc tương tức. Nếu chưa từng biết khổ thì ta chưa nhận diện được an lạc, hạnh phúc. Trong chúng ta, ai đã từng khổ thì người đó có điều kiện để có hạnh phúc. Không nhìn hạnh phúc qua kinh nghiệm của khổ là không thấy được hạnh phúc. Nếu quên khổ đi thì có thể ta không nhận diện được hạnh phúc. Đi vào hạnh phúc với kinh nghiệm của cái khổ thì ta thấy rất hạnh phúc, nhưng ở trong hạnh phúc một thời gian thì ta lại thấy lờn và không còn hạnh phúc nữa. Cũng khung cảnh đó, cũng với những người đó, cũng những điều kiện sinh sống đó mà ba năm trước ta thấy hạnh phúc vô cùng. Nhưng ba năm về sau thì ta không thấy hạnh phúc nữa và muốn bỏ đi. Đó là do ta đã lờn, đã đánh mất ý thức về khổ đau. Vì thế, nuôi dưỡng ý thức về khổ đau cũng là một cách để duy trì hạnh phúc. Nếu chưa biết đói thì ta không biết cái hạnh phúc khi được nâng bát cơm đầy trên tay. Nếu ta chưa từng bơ vơ thì ta không có khả năng thấy được sự quí giá của một người bạn, ta coi thường sự có mặt của người đó. Duy trì ý thức về khổ đau, đừng quên khổ đau là một bí quyết để giữ gìn hạnh phúc.

Trong truyền thuyết Trung Quốc có chuyện Lưu Thần và Nguyễn Triệu. Hai người lọt vào trong miền non bồng diễm ảo gọi là Thiên Thai. Họ sống rất hạnh phúc. Nhưng sau đó họ nhớ nhà và đánh mất đời sống hạnh phúc. Họ có những nhớ nhung, thương tiếc, có cái gì đó khiến cho họ không còn tiếp xúc được, không đánh giá được những điều kiện hạnh phúc mà họ đang có. Họ đã bỏ Thiên Thai để về cõi trần. Về tới cõi trần họ thấy thời gian họ xa cõi trần đã 600 năm trong khi trên Thiên Thai chỉ mới có sáu tháng. Tất cả những người quen thuộc ở cõi trần trước kia đều đã chết. Bây giờ họ muốn trở lại Thiên Thai nhưng không được nữa.

Đó là một câu chuyện giúp chúng ta nhận diện được sự thật: hạnh phúc tùy thuộc rất nhiều ở tâm của ta. Nếu đã có những kinh nghiệm về khổ đau, về sự cô độc, lẻ loi, về sự bơ vơ không có lý tưởng, không nơi nương tựa và nếu duy trì được ý thức đó thì ta có thể nhận diện được những điều kiện hạnh phúc của ta bây giờ. Bây giờ ta có tăng thân, có anh, có chị, có em, có pháp môn, có con đường đi, có thầy, có cơ hội giúp đời, giúp người. Nhận diện được những điều kiện ấy thì tự nhiên ta có hạnh phúc lớn. Ta thấy được sự thật tương tức giữa khổ đau và hạnh phúc.

Người hành giả phải để ý nhiều tới khía cạnh này trong đời sống hàng ngày. Mỗi bước chân ta đi có thể đem lại hạnh phúc, mỗi hơi thở có thể đem lại hạnh phúc, mỗi con đường của xóm Thượng, xóm Trung, xóm Hạ đều có thể đem lại hạnh phúc. Mỗi buổi sáng, buổi chiều, mỗi giọt sương, mỗi lá cỏ đều có thể đem lại hạnh phúc. Ta không cần đi tìm hạnh phúc ở một nơi khác hoặc ở trong tương lai. Sống hạnh phúc quả thật là một nghệ thuật và nghệ thuật đó ta phải đào luyện mới có. Nó tùy thuộc rất nhiều ở tâm ta, nó tùy thuộc ở tâm ta cho đến độ nếu ta đánh mất khung cảnh này và phải đi sang một khung cảnh khác thì ta vẫn còn có thể giữ được hạnh phúc. Tâm của ta rất quan trọng! Khổ đau và hạnh phúc tương tức với nhau.

Ta bà thành Tịnh độ

Trong một định đề mà ta sắp học có nói: Đây là cõi Ta bà, một cõi gọi là “chịu đựng”. Nhưng khi đức Thế Tôn ra đời, với cách nhìn rất khác của Ngài đã biến cõi Ta bà của chúng ta trở thành cõi Tịnh độ của Bụt. Ta bà của chúng sinh là Tịnh độ của Bụt. Tùy theo mắt ta nhìn. Nhìn với con mắt của chúng sinh thì đây là cõi Ta bà mà ta phải chịu đựng còn nếu nhìn dưới con mắt của Bụt thì đây là cõi Tịnh độ. Ta bà thành Tịnh độ. Lúc bé Thơ được 16 tuổi, tôi có viết tặng cháu một bài thơ:

Bụt hiện hoa hàm tiếu

Pháp ca dòng suối trong

Ta bà thành Tịnh độ

Đầu núi áng mây hồng.

Ngày xưa tôi rất cưng các em bé. Khi các cháu đến tuổi cài trâm, tôi thường cho mỗi em một bài thơ và bé Thơ đã được bài thơ trên.

Bụt hiện hoa hàm tiếu: Nhìn vào một đóa hoa sắp nở ta thấy được Bụt.

Pháp ca dòng suối trong: Nghe tiếng suối chảy là nghe tiếng Pháp.

Ta bà thành Tịnh độ: Nếu mắt ta là mắt của Bụt, của giải thoát, của vô ưu thì ta thấy Ta bà là Tịnh độ.

Hồi đó bé Thơ còn nhỏ quá nên không hiểu chữ Ta bà. Bé hiểu chữ Ta bà là ta và bà ngoại của ta, ta và bà ngoại của ta đều thành Tịnh độ. Cho đến mấy năm sau bé Thơ mới hiểu được Ta bà là gì.

Phiền não tức bồ đề

Phiền não và bồ đề đều có tính cách hữu cơ. Phiền não là những tâm hành khổ đau của ta, bồ đề là giác ngộ. Ta thường nghĩ là phiền não và bồ đề chống đối nhau, phiền não gây ra khổ đau, bồ đề đem tới an lạc. Nếu khổ và lạc tương tức thì phiền não và bồ đề cũng tương tức, có nghĩa là phiền não được làm bằng chất liệu của bồ đề và bồ đề được làm bằng chất liệu của phiền não, giống như hoa được làm bằng rác và rác được làm bằng hoa. Hoa để vài tuần thì thành rác và rác được ủ một thời gian thì cũng thành phân để làm hoa trở lại. Hoa và rác đều có tính cách hữu cơ (organic). Khi thấy có rác thì ta đừng lo, bởi vì nếu biết cách quản lý rác thì thế nào ta cũng làm ra được rất nhiều hoa. Ta không nên chạy trốn rác mà nên học phương pháp biến rác thành hoa. Vì vậy trong đạo Bụt chúng ta thường nói: Phiền não tức bồ đề. Câu này có nghĩa là phiền não và bồ đề tương tức (affliction and awakening inter-are).

Trong sự thực tập của đạo Bụt chúng ta không cần phải trốn chạy, không cần phải cầu mong đi đến một địa điểm khác hay một thời gian khác. Ngay bây giờ và ở đây chúng ta có thể tìm thấy hạnh phúc và giác ngộ. Đứng về phương diện lý trí chúng ta thấy định đề 25 không khó hiểu gì mấy. Có trái thì có phải, có trên thì có dưới. Không bao giờ có phải mà không có trái, không thể nào có trên mà không có dưới. Trái và phải làm ra nhau, trên và dưới làm ra nhau. Bỏ một cái để đi tìm một cái khác là một thái độ ngây thơ. Một thiền sinh hỏi một vị thiền sư:

  • An lạc, giải thoát, giác ngộ, bồ đề mà thầy nói đó, con phải tìm chúng ở đâu?

Thiền sư trả lời:

  • Con đi tìm giác ngộ ngay trong lòng phiền não. Con đi tìm Niết bàn ngay trong lòng của sinh tử tại vì Niết bàn và sinh tử tương tức.

Tình huynh đệ là hạnh phúc lớn nhất

Giả dụ chúng ta ngồi lại, thiền quán và nhìn kỹ xem trong xóm của mình ai là người có nhiều hạnh phúc nhất trong chúng? Sư anh nào có hạnh phúc nhất trong chúng? Có được mấy sư anh có đủ hạnh phúc? Đây cũng là một công phu quán chiếu. Ta đặt câu hỏi: “Tại sao sư anh đó có hạnh phúc?”.

Chúng ta hỏi trong xóm mình sư chị nào có hạnh phúc nhất? Có được mấy sư chị có hạnh phúc? Rồi ta đặt câu hỏi: “Tại sao sư chị đó có hạnh phúc?”. Đây không phải là những chủ đề quá trừu tượng như phiền não, bồ đề hay Niết bàn. Đây là sự thật hằng ngày, ta không cần sử dụng những danh từ trừu tượng. Ta quán chiếu, ta nhìn vào trong chúng để xem sư anh, sư chị hay sư em nào chưa có hạnh phúc hay chưa có đủ hạnh phúc, nét mặt của họ chưa tươi, nụ cười của họ chưa sáng, ánh mắt của họ chưa trong. Ta hỏi tại sao nụ cười của sư anh chưa tươi, cặp mắt của sư anh chưa long lanh, bước chân của sư anh chưa hạnh phúc? Tại sao nét mặt của sư chị còn nhăn nhó, nụ cười của sư chị còn héo? Và chính bản thân ta đã có đủ hạnh phúc chưa? Ta đã có tạm 50% hạnh phúc hay đã có hơn, nhưng tại sao ta không có được 90% hay 100% hạnh phúc như sư anh của ta?

Quý vị sẽ tìm ra câu trả lời và câu trả lời đó rất gần với điều tôi vừa mới nói: Có hạnh phúc hay không là tùy thuộc ở tâm ta, ở cách nhìn của ta chứ điều đó không tùy thuộc ở ngoại cảnh hay ở người khác. Ta hạnh phúc hay khổ đau không phải là do ngoại cảnh hoặc là vì người khác mà chính là do ở cách ta nhìn ngoại cảnh hay nhìn người khác. Nếu biết nhìn bằng con mắt thương yêu và có chí nguyện muốn nâng đỡ thì khi nhìn người đó ta đã không khổ mà lại thấy thương và ta sống có ý nghĩa hẳn lên.

Một hôm, đi bộ từ nhà Tùng Bút lên thiền đường Thái Bình Dương để ngồi thiền buổi sáng, tôi nghe tiếng hô chuông của sư em Pháp Đệ. Tiếng hô chuông rất hùng tráng, sư em hô chuông bằng tiếng Anh. Sư em đã lớn tuổi, đã 72 tuổi rồi mà tiếng hô chuông còn hùng tráng, bước chân của sư em còn rất vững chãi.

Lắng lòng nghe lắng lòng nghe

Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm

Đi từng bước thảnh thơi lên thiền đường Thái Bình Dương, tôi nghe lời hô chung và cảm thấy rất dễ chịu. Sư em ngày xưa đã từng làm linh mục công giáo. Hiện bây giờ sư em cũng còn thương đạo Cơ đốc, thương chúa Kitô. Sở dĩ sư em xuất gia tu học với tăng thân là vì sư em thấy ở đây có những pháp môn giúp sư em nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa những phiền não để đạt tới an lạc. Đạo Kitô cũng dạy về thương yêu, về giải thoát, nhưng trong đạo Kitô không có được những pháp môn cụ thể như trong đạo Bụt. Vì vậy cho nên sư em, dù đã lớn tuổi rồi, cũng quyết tâm xin xuất gia. Sư em đã tập sự được ba năm, cuối năm nay sư em sẽ về Làng Mai để thọ giới lớn làm một vị khất sĩ. Sư em có hạnh phúc, nhìn đời sống của sư em thì ta biết là sư em đang có hạnh phúc. Tôi đặt cho sư em tên là Pháp Đệ vì lúc đó tôi hơi ngại. Một người đã từng làm linh mục, một người đã học giỏi giáo lý Cơ đốc, một người đã có kinh nghiệm nhiều thì chắc là có khó khăn khi làm em của những sư anh chỉ mới 16 hay 17 tuổi. Sợ Pháp Đệ có thể coi thường những sư anh còn trẻ nên tôi mới đặt tên là Chân Pháp Đệ (True Young Brother) để sư em nhớ tuy mình đã lớn tuổi, tuy đã có nhiều kinh nghiệm đời, tuy có nhiều kiến thức về thần học nhưng sư em vẫn cần phải làm một sư em. Nhưng sự lo ngại của tôi cũng không thiết yếu lắm vì sư em rất ham học, 70 tuổi mà ngày nào cũng tìm học về kinh, về giới luật, uy nghi. Đó là một gương sáng cho những sư anh trẻ của sư em.

Trong một buổi ngồi chơi với tôi trước khi tôi trở về Pháp, sư em có hỏi một câu. Sau khi tôi trả lời thì sư em nói sư em rất hạnh phúc vì trong đời sống hàng ngày sư em được hưởng tình huynh đệ, cái mà ngày xưa trong thời gian làm linh mục sư em không được hưởng. Tình huynh đệ là quí nhất, tình huynh đệ là một cái gì có thật.

Sáng hôm nay có bốn sư em tương lai, bốn vị tập sự có mặt ở đây. Bốn vị tập sự này ít nhất cũng đã sống ở đây vài ba tuần, cũng cảm thấy tình huynh đệ nuôi dưỡng mình, làm cho mình lớn, bảo hộ mình, cho nên đã phát tâm xin xuất gia. Tình huynh đệ là một cái gì rất cao quí. Sau này nếu ta thành công được đó cũng sẽ là nhờ tình huynh đệ. Tình huynh đệ và lòng từ bi có cùng một bản chất, giống như khi ta có một chậu nước trong và đặt vào đó một tảng nước đá thì tảng nước đá đó có cùng một bản chất với chậu nước trong. Tình huynh đệ đặt vào biển đại từ đại bi của Bụt thì hai cái có cùng một bản chất. Không có tình huynh đệ thì không có đại từ đại bi.

Xây dựng tình huynh đệ

Chúng ta tu tập là để có khả năng chế tác tình huynh đệ. Tình huynh đệ nuôi dưỡng và làm cho chúng ta thành đạt trong cuộc đời của một người tu. Xây dựng tình huynh đệ là một công trình, là cả một nghệ thuật. Chúng ta không xây dựng tình huynh đệ bằng quyền hành, bằng chức vụ của ta mà bằng tình thương.

Trong một giây phút bực bội ta có thể bỏ chúng ra đi, và ta đánh mất tăng thân. Nhưng khi đánh mất tăng thân rồi thì ta nhận ra là ta cũng đánh mất luôn tình huynh đệ, tức cái quí nhất ta có thể có. Ta giận, ta buồn gì đó, ta bỏ tăng thân mà đi, giống như một bà mẹ hay một ông cha đang tắm cho một em bé mới có mấy tháng trong bồn nước, thấy nước dơ nên đổ nước tắm và đổ luôn em bé ra ngoài sân. Vì một chút giận hờn mà ta đánh mất tăng thân, đánh mất tình huynh đệ. Đó là điều mà tôi mong rằng sẽ không xảy ra cho bốn sư em tương lai. Các em đã nếm được tình huynh đệ và có cảm tưởng là nó sẽ nuôi dưỡng mình suốt đời. Nhưng các em phải nuôi dưỡng ý thức đó vì trong tương lai sẽ có những lúc mình cảm thấy bực bội, bất mãn, hay giận hờn. Nếu vì những bực bội, bất mãn, giận hờn mà ta đánh mất tăng thân thì đồng thời ta cũng đánh mất tình huynh đệ, giống như là ta liệng luôn em bé ra sân cùng với nước tắm.

Chúng ta là những đức Bụt kế tiếp

Sự thực tập của chúng ta là một quá trình, trong quá trình đó thế nào cũng có những giai đoạn khó khăn, có những nghịch cảnh. Chúng ta hãy nhớ lại quá trình thực tập của đức Thế Tôn. Ngài cũng có những nghịch cảnh nhưng Ngài không đầu hàng, không bỏ rơi nửa chừng con đường của mình. Sau khi thành đạo, tuy đã có hàng ngàn đệ tử rồi nhưng Ngài vẫn còn gặp những nghịch cảnh. Có những đệ tử mà Ngài rất thương tự nhiên bỏ đi. Có những người ngoại đạo chôn xác một người nữ trong tu viện rồi đi báo cảnh sát, làm cho cả thành phố nghi ngờ và mất niềm tin ở tăng đoàn. Các thầy không dám xuống phố đi khất thực, sợ người ta nhìn mình bằng ánh mắt khinh khi, nghi ngờ. Ngay chính khi Bụt đã thành đạo, đã có tăng đoàn lớn mà vẫn còn gặp nghịch cảnh thì làm sao mà trong đời tu chúng ta không có những nghịch cảnh! Ta có thể đi qua những giai đoạn nghi ngờ, buồn tủi, giận hờn. Nhưng nếu vì sự nghi ngờ, buồn tủi, giận hờn đó mà ta đánh mất tăng thân thì cũng giống như ta liệng nước tắm cùng với em bé ra ngoài cửa sổ.

Cái làm cho Pháp Đệ hạnh phúc là tình huynh đệ, cái làm cho tôi hạnh phúc cũng là tình huynh đệ. Đó là cái quí nhất của đời mình. Maitri là từ (loving kindness), chữ maitri từ chữ mitra mà ra, và chữ mitra có nghĩa là bạn (hữu 友 ). Chúng ta có một sư em tên Pháp Hữu nghĩa là người bạn trong đạo. Tất cả những người sống với chúng ta đều là pháp hữu, là những người bạn trong giáo pháp. Từ là thương yêu, một loại thương yêu rất trong sáng, đó là tình bạn. Người nào sống trên đời mà có tình bạn là người đó có hạnh phúc, có sự bảo hộ. Tu là phải thực tập từ, tức là phải chế tác tình bạn. Nhờ tình bạn mà chúng ta được nuôi dưỡng, nhờ tình bạn mà ta lớn lên và nhờ tình bạn mà chúng ta có thể độ được người để cho tất cả đều trở thành bạn của ta.

Có khi chúng ta gọi đức Thế Tôn là bậc giác ngộ, bậc toàn giác, nhưng có khi chúng ta gọi Ngài là đức Từ Bi, tức người biết thương. Theo dự đoán của đức Thích Ca thì đức Phật kế tiếp của chúng ta có tên là “Người Thương”(Maitreya). Maitreya là Di Lặc, là Từ Thị, tại Làng Mai chúng ta dịch là Mr Love. Ai là Maitreya, ai sẽ là đức Bụt kế tiếp? Chính chúng ta là đức Bụt kế tiếp, chính sư cô, sư chú, chính tôi, chính quý vị cư sĩ phải là những đức Bụt kế tiếp. Chúng ta phải đại diện cho tình thương đó mà không đợi đến tương lai. Bụt Di Lặc đã có ngay trong giây phút hiện tại. Tùy cách ta nhìn, cách ta lắng nghe, nói chuyện và hành xử mà Bụt Từ Thị có mặt hay không có mặt trong giây phút hiện tại. Chúng ta đừng nghĩ Từ Thị là một vị Bụt chưa ra đời. Bụt Từ Thị đã ra đời rồi, chỉ những người không có mắt mới không thấy mà thôi. Mỗi chúng ta có thể làm một tế bào trong cơ thể của Bụt Di Lặc ngay trong giờ phút này.

Tất cả những gì chúng ta xúc chạm trong đời sống hàng ngày, như một con đường nhỏ, hay một cụm hoa, một đám mây, một cốc nước trong, hay một sư em, đều có thể đem lại hạnh phúc cho ta nếu ta biết trân quí. Chúng ta, dù còn trẻ, cũng đã từng nếm mùi của khổ đau, mùi của bơ vơ, lạc lõng, không có hướng đi. Vì vậy cho nên chúng ta mới tìm tới đức Thế Tôn. Hiện bây giờ chúng ta có một hướng đi, có một con đường. Con đường này rất rõ, đó là con đường sống trong giây phút hiện tại, nhận diện hạnh phúc và nhận diện khổ đau. Ta nhận diện khổ đau để chuyển hóa, để thấy rằng ta đang có hạnh phúc và ta nhận diện hạnh phúc để có hạnh phúc thêm.

Xây dựng tăng thân

Định đề 25, mới nghe qua giống như lý thuyết, nhưng đi vào sâu ta thấy tính hiện thực của nó rất vững vàng. Chúng ta đi tìm hạnh phúc ở đâu nữa? Chúng ta phải tìm hạnh phúc ngay trong hoàn cảnh hiện tại. Trong bản thân ta, trong anh chị em ta có những cái tích cực và có những cái tiêu cực. Nhưng cái tích cực làm gì có nếu không có cái tiêu cực? Sự thực tập của chúng ta là biết xử lý cái tiêu cực để nó đừng gây ra đau khổ, để nó đóng góp làm nên cái tích cực. Sư em của chúng ta không có hạnh phúc, ta làm cho sư em nở được một nụ cười, đó là sự thành công của ta. Khi ta thương yêu các em, chấp nhận những yếu kém của các em, giúp cho các em chuyển hóa thì ta có rất nhiều hạnh phúc. Hạnh phúc còn được tìm ở chỗ nào khác nữa? Khi ta thương thì ta sẽ được thương và được tin cậy, mà khi được thương và được tin cậy thì ta có hạnh phúc.

Chúng ta sống với nhau như một cành hoa, chúng ta không sống một mình. Chúng ta hãy tưởng tượng cành hoa đó chỉ có một lá đơn độc thôi. Cành hoa sở dĩ đẹp là tại nó có hoa có lá, có những lá nằm ở dưới, có những lá nằm ở trên, nhưng lá nào hoa nào cũng đẹp cả. Chúng ta phải nhìn toàn thể để thấy cái đẹp của cành hoa. Nếu tất cả lá đều dành đứng ở trên thì cành hoa không còn đẹp nữa. Trong vị trí của ta, ta phải thấy được cái đẹp của chính mình và cái đẹp của tăng thân, vì ta là ta nhưng đồng thời ta cũng là người kia. Ta và người kia tương tức. Ta không cho là ta thấp còn người kia cao. Trong một tăng thân cần có một sự hòa điệu, một trật tự, có hạnh phúc và sự mầu nhiệm. Chúng ta cần có tuệ giác đó để xây dựng tăng thân.

Gia đình xuất gia “cây vú sữa” mới xuất gia chưa được hai năm, nhưng đã có hàng trăm sư em. Chỉ cần nghĩ tới chuyện đó là ta biết ta phải sống như thế nào rồi. Ta phải sống như thế nào để có thể là một sư anh xứng đáng cho mấy trăm sư em đó. Chỉ cần nghĩ tới và thương các sư em thì tự nhiên ta trở thành một sư chị đàng hoàng, một sư chị đẹp. Ta không hiện hữu như một thực tại biệt lập, ta tương tức với tất cả những thành phần khác của tăng thân. Là một tăng thân thì ta có quyền lực rất lớn để được hạnh phúc và giúp đời. Là một cá nhân đơn độc thì ta không có quyền lực gì nhiều và không giúp được ai nhiều. Vì vậy cho nên cái mà Pháp Đệ quí nhất chính là tình huynh đệ, cái mà tôi quí nhất cũng là tình huynh đệ, cái mà đức Thế Tôn quí nhất cũng là tình huynh đệ.

Nếu lỡ cảm thấy không có đủ hạnh phúc thì ta phải nhìn vào sư anh, sư chị, sư em của ta. Ta nhìn những sư anh, sư chị, sư em đang có hạnh phúc và tự hỏi tại sao họ có nhiều hạnh phúc như vậy? Ta phải tìm ra lý do. Ta nghĩ: Sở dĩ sư anh, sư chị, sư em đó có hạnh phúc là vì họ được thầy thương, thầy tin cậy, được chúng thương, chúng tin cậy. Có thể là đúng như vậy, nhưng tại sao người đó được thầy thương và tin cậy, được chúng thương và tin cậy? Đó là vì người đó không sống như một hải đảo, người đó sống đồng thời cho những người khác. Người đó chăm sóc các sư anh, sư chị, sư em của họ như là chăm sóc chính mình nên họ được các sư anh, sư chị, sư em tin cậy và thương yêu. Khi một người được chúng thương và tin cậy thì tự nhiên thầy cũng thương và tin cậy người đó. Không phải ta muốn thương là thương được, ta muốn tin cậy là tin cậy được. Theo kinh nghiệm của tôi thì, khi một thầy, một sư cô, một sư chú hay một Phật tử cư sĩ mà được chúng thương và tin cậy thì thầy cũng thấy thương và tin cậy người đó một cách rất tự nhiên, không cần phải có một cố gắng nào cả. Mở lòng ra, thấy được những huynh đệ của ta, thấy được những khó khăn, những hạnh phúc, những cấn cái và bế tắc của những người đó, đem trái tim của mình ra để giúp tháo gỡ cho người đó; đó là sự thực tập rất lớn đem lại cho ta nhiều hạnh phúc. Khi tăng thân có hạnh phúc thì tăng thân sẽ có quyền lực rất lớn. Đây không phải là quyền lực chính trị, kinh tế mà là quyền lực của tình thương, có thể giúp được rất nhiều người.

Thực tập hòa bình và bất bạo động

Người ta báo cáo rằng trong niên học 2006 tại các trường học ở Pháp có đến 88.000 vụ bạo động xảy ra giữa học sinh với học sinh hay giữa học sinh với thầy cô giáo. Trước năm 2000 Liên Hiệp Quốc đã ra một nghị quyết 10 năm đầu của thế kỷ thứ 21 là 10 năm của sự thực tập thương yêu, bất bạo động, thực tập an lạc, hòa bình (decade for the culture of peace and non violence), nhất là cho người trẻ. Hưởng ứng lại lời kêu gọi của Liên Hiệp Quốc, quốc hội của nước Tây Ban Nha đã làm ra một đạo luật cho phép đem môn học “Hòa bình và bất bạo động” vào các trường học, từ cấp tiểu học lên cấp đại học. Người ta tìm ra những môn giảng dạy giúp cho học sinh từ cấp dưới tới cấp cao được học về phương pháp chuyển hóa khổ đau, bạo động và hận thù. Đó là một bước tiến rất lớn.

Tại Pháp có một ủy ban gọi là “La Coordination pour la Décennie” cũng đang vận động quốc hội Pháp làm ra một đạo luật để đưa môn “Thực tập hòa bình và bất bạo động” vào trường học.

Học hỏi và thực tập hòa bình bất bạo động là chuyện chúng ta làm hàng ngày tại Làng Mai. Chúng ta thực tập để có thêm tình thương, thêm hiểu biết để chuyển hóa bạo động và hận thù trong lòng. Chúng ta đã sản xuất ra được những tư liệu để giảng dạy về môn này và chúng ta trực tiếp huấn luyện những người tới Làng Mai để họ cùng thực tập. Chúng ta có cuốn “Anger” (Giận), đó là một sách giáo khoa để đối phó với năng lượng bạo động trong người mình, để tái lập sự truyền thông và giải tỏa sự hiểu lầm giữa những người trong gia đình với nhau, dựng lại tình thâm, đem lại hạnh phúc. Chúng ta có một cuốn sách khác, cũng là một giáo khoa thư nói về phương pháp chuyển hóa bạo động, hận thù. Đó là cuốn “Creating true peace”, tuy chưa có bằng tiếng Việt, nhưng đã có bằng tiếng Anh, tiếng Pháp và một số các thứ tiếng khác. Sách này do ông giám đốc UNESCO nhiệm kỳ trước, ông Federico Mayor, đề nghị tôi viết. Khi tôi viết xong thì UNESCO có giám đốc mới nên tôi đã giao cho một nhà xuất bản Hoa Kỳ xuất bản. Nhà xuất bản ấy nghĩ rằng nếu sách đó là một giáo khoa thư thì đọc không vui nên chúng ta đã cho vào thêm nhiều câu chuyện ví dụ để cho cuốn sách dễ đọc. Vào ngày 07 tháng 10 sắp tới, khi thuyết trình ở UNESCO Paris, tôi sẽ đề nghị hai chuyện:

  • Thứ nhất là UNESCO tổ chức một ngày không sử dụng xe hơi để giáo dục tất cả dân chúng trên thế giới về tình trạng hâm nóng trái đất. Tôi đề nghị ngày đó gọi là “Ngày không xe (No car day) cho thế giới”. Chúng ta có thể mạnh dạn nói được vì chúng ta đã và đang làm được tại Làng Mai, Lộc Uyển, và các trung tâm khác của Làng Mai trên thế giới. Chúng ta cũng đang kêu gọi 800 tăng thân của mình khắp mọi nơi cố gắng làm theo. Chúng ta không nói suông, chúng ta nói cái mình đang làm.
  • Thứ hai là UNESCO tổ chức một trung tâm huấn luyện cho các giáo viên, giáo sư các trường tiểu học và trung học về phương thức chuyển hóa bạo động để họ có thể đem ra dạy trong lớp của mình. Môn học này không thể chỉ học bằng lý thuyết mà phải thực tập ngay trong trường. Ta là thầy giáo hay cô giáo thì chính bản thân ta phải biết thở, biết đi thiền hành, biết nhận diện và chuyển hóa cơn giận, biết tái lập truyền thông. Lúc đó ta mới có thể đem dạy các em học sinh tiểu học, trung học, đại học. Những “training center for peace and non violence” (trung tâm huấn luyện về hòa bình và bất bạo động) đó, nếu UNESCO mở được ở Paris thì Làng Mai tình nguyện đưa người lên dạy khóa đầu tiên và sẽ dạy theo tính cách không tôn giáo để tất cả mọi người đều có thể tiếp thu. Một trung tâm như vậy không thể có đủ chỗ cho hàng chục, hàng trăm ngàn thầy cô giáo. Vì vậy ta có thể tổ chức ba tháng một khóa, rồi những cán bộ đã học trong khóa đó tiếp tục thực tập, đem về dạy trong lớp mình và mở những khóa thực tập khác tại địa phương.

Đó là những đề nghị rất cụ thể. Năm nay là năm kỷ niệm 2.550 năm đức Thế Tôn nhập Niết bàn. UNESCO sẽ để ra hai ngày để tôn kính đức Thế Tôn và các nước Phật giáo có cơ hội tổ chức những buổi hội thảo. Tôi sẽ có 30 phút để thuyết trình ở UNESCO trong dịp này, tôi nghĩ thời gian 30 phút là dư dã cho tôi trình bày hai điểm trên.

Sự thức tỉnh tập thể

Chúng ta là những người tu, là những người muốn đi theo con đường của đức Thế Tôn. Bụt là người giác ngộ, người tỉnh thức. Sở dĩ chúng ta lâm vào tình trạng bạo động, khổ đau, hận thù, ô nhiễm là vì số người tỉnh thức còn quá ít. Vì vậy cho nên chúng ta phải thực tập như thế nào để có sự tỉnh thức tập thể (collective awakening). Hành động tổ chức một ngày không xe cho toàn thế giới hay tổ chức một trung tâm huấn luyện bất bạo động cho các thầy cô giáo trên thế giới sẽ có tác dụng giúp cho mọi người tỉnh thức, vượt ra khỏi sự bận rộn của đời sống hàng ngày, thấy được nguy cơ của trái đất, nguy cơ của bạo động đang lan tràn trên thế giới và làm cho đức Thế Tôn có mặt đích thực trong cộng đồng con người sống chung trên trái đất. Vì vậy cho nên các vị có mặt ở đây, các thầy, các sư cô, các sư chú, các vị Phật tử, nếu thật sự muốn nối tiếp sự nghiệp của đức Thế Tôn thì phải góp vào một bàn tay, đẩy mạnh bánh xe pháp để tạo ra hiện tượng thức tỉnh tập thể. Chỉ có sự thức tỉnh tập thể mới có thể cứu chúng ta ra khỏi tình trạng khó khăn của ngày hôm nay. Chúng ta hành động như một tăng thân, trong tình huynh đệ. Có tình huynh đệ thì ta có thể làm được chuyện đó.

Định đề 24

 

Chỉ có thể hiểu luân hồi đúng mức theo đệ nhất nghĩa đế trong ánh sáng của vô thường, vô ngã và tương tức.

We can only understand the real teaching of rebirth in the light of impermanence, nonself and interbeing.

Hai loại sự thật: tục đế và chân đế

Có hai loại sự thật: sự thật tương đối và sự thật đúng mức tức sự thật tuyệt đối. Sự thật tương đối là tục đế và sự thật tuyệt đối là thắng nghĩa đế hay đệ nhất nghĩa đế. Tục đế là sự thật tương đối, ví dụ như có sự bắt đầu, sự chung cục, có trên, có dưới, có trong, có ngoài, cha là cha, con là con, cha không thể là con, con không thể là cha. Sự thật tuyệt đối là thắng nghĩa đế, nghĩa là ý nghĩa, thắng là cao hơn, thắng nghĩa là nghĩa lý cao. Đó là sự thật đúng mức, có khi còn được gọi là đệ nhất nghĩa đế (paramārtha-satya). Nhìn người cha ta thấy được người con và nhìn người con ta thấy được người cha, cha và con không phải là hai thực tại riêng biệt. Con là sự tiếp nối của cha đứng về phương diện tương lai và cha là sự tiếp nối của con đứng về phương diện quá khứ, trong cha có con và trong con có cha. Sự thật này cao hơn, sâu hơn, nên gọi là thắng nghĩa đế.

Luân hồi là samsāra (rebirth), luân hồi có thể được hiểu theo tục đế hay thắng nghĩa đế. Phần lớn trong chúng ta (có thể là trên 90%) đều hiểu luân hồi theo tục đế. Chúng ta không có cái hiểu đúng mức về luân hồi, về tái sinh. Đạo Bụt cũng có thể được hiểu dưới hai góc độ: góc độ thâm sâu và góc độ bình dân. Đạo Bụt thâm sâu rất khác với đạo Bụt bình dân. Có cơ hội học được đạo Bụt thâm sâu (buddhisme profond) thì chúng ta sẽ hiểu được luân hồi một cách sâu sắc hơn, hiểu đúng mức chứ không phải hiểu một cách cạn cợt như đại đa số mọi người đã hiểu.

Hai quan niệm lưỡng nguyên về thân và tâm

Đại đa số mọi người thường có cái nhìn lưỡng nguyên về thân và tâm, họ nghĩ cái thân và cái tâm hoàn toàn khác biệt. Trong khi đó theo đệ nhất nghĩa đế thì thân và tâm là một khối.

Hiện nay trong lĩnh vực khoa học thần kinh não bộ, 98-99% các nhà khoa học vẫn tin rằng tâm là một sản phẩm của thân, ý thức là một sản phẩm của não bộ (consciousness is a property of the brain) mà không phải là một thực tại độc lập. Có hai quan niệm về thân và tâm:

  1. Não bộ (thân) là một thực tại (entity) và từ thực tại đó phát sinh ra tâm thức. Tâm thức đó là một cái gì phải dựa trên não bộ mà phát sinh, không có não bộ thì không có tâm. Đại đa số các nhà khoa học thần kinh não bộ đều tin rằng tâm thức của ta phát xuất từ não bộ, từ các thần kinh. Nhưng theo ánh sáng của đạo Bụt thì chừng nào còn nghĩ như vậy thì người ta còn có những khó khăn.

Nếu chúng ta bị điên loạn hay bị trầm cảm là vì có cái gì bất thường xảy ra trong não bộ, ví dụ như não bộ không có đủ những chất dẫn truyền thần kinh (neuro- transmitteur). Vì vậy muốn cho tâm được an không bị bệnh thì người ta phải chữa nơi não bộ thần kinh. Khuynh hướng đó cho rằng não bộ là cái gốc và người ta bị trầm cảm nặng là do có cái gì sai trong não bộ. Những chất dẫn truyền thần kinh không làm việc nên phải cho người bệnh uống thuốc, gọi là thuốc chống trầm cảm (anti-dépressant) để chế tác thêm những chất dẫn truyền thần kinh. Uống thuốc đó thì người bệnh có thuyên giảm, bớt khổ nhưng họ phải dùng thuốc chống trầm cảm suốt đời. Dùng thường thì quen thuốc nên người ta phải luôn tăng thêm liều lượng.

  1. Một bên là não bộ, tức vật chất (matière) và một bên là tâm thức, tức tâm. Não bộ và tâm thức độc lập nhau, vật chất là khác và tâm là khác. Tâm có thể tồn tại ngoài vật và vật có thể tồn tại ngoài tâm. Những người nghiên cứu về những hiện tượng đặc biệt nói rằng: Trong trường hợp những nguời bất tỉnh nhân sự thì hồn của họ xuất ra ngoài và quan sát. Nó thấy cái này, nghe cái kia.

Hồn đó có mắt, có tai, nó quán sát, nó thấy. Khi hồn nhập lại vào xác thì những người kia tỉnh dậy và kể lại như vậy.

Quan niệm này cũng là một quan niệm lưỡng nguyên (dualistic): Thân làm chuyện khác và tâm làm chuyện khác. Linh hồn có thể tồn tại ngoài thân của ta.

Một bên cho tâm là một sản phẩm của thân, một bên cho tâm là một hiện tượng độc lập với thân (separate entity). Cả hai bên đều có khuynh hướng lưỡng nguyên. Vấn đề thân tâm (body and mind) là một vấn đề rất lớn. Ngay hiện bây giờ vấn đề thân và tâm là một vấn đề căn bản chưa giải quyết được. Là thân thì không thể là tâm, mà là tâm thì không thể là thân.

Tín ngưỡng của những Phật tử không đi sâu được vào trong giáo lý thì có khuynh hướng đi theo quan điểm thứ hai tức là cho thân khác với tâm. Khi thân tan rã rồi thì tâm vẫn còn y nguyên, nó bay bỗng ở một nơi nào đó trên không gian, đợi có một bào thai để nhập vô và có sự liên tục. Đó gọi là luân hồi theo quan điểm bình dân của đa số những người không có cơ hội đi sâu vào trong đạo Bụt thâm sâu. Chúng ta là những người có thì giờ để tu học, chúng ta phải có cái thấy gần với sự thật hơn. Đó là cái thấy thắng nghĩa.

Vì vậy ta chỉ có thể hiểu được luân hồi trong ánh sáng của vô thường, vô ngã và tương tức. Không thấy được vô thường, vô ngã và tương tức thì chúng ta chưa hiểu được luân hồi theo thắng nghĩa đế mà chỉ hiểu được luân hồi theo tục đế. Khi chúng ta phân biệt được hai quan niệm về luân hồi đang phổ biến hiện nay, thứ nhất là quan niệm tâm với thân là hai thực tại riêng biệt, thứ hai là quan niệm tâm là một sản phẩm của thân, thì câu hỏi đặt ra cho chúng ta là: Vậy thì cái thấy của đạo Bụt về thân và tâm là như thế nào? Muốn cung cấp cho người ta một câu trả lời, một lối thoát, một giải đáp thì ta phải nắm được giáo lý về vô thường, vô ngã và tương tức, phải có một ít kinh nghiệm về tự tính vô thường, vô ngã và tương tức. Ta sẽ thoát ra khỏi hai quan niệm lưỡng nguyên đó và vấn đề về thân và tâm mới có thể giải quyết được.

Tháng tám này chúng ta sẽ có một khóa tu về đề tài này, những nhà khoa học thần kinh não bộ sẽ đến tham dự và chúng ta sẽ đặt vấn đề một cách rõ ràng.

Hai tà kiến: đoạn kiến và thường kiến

Trong định đề 23 chúng ta đã học: Có thể nói tới con người như một dòng ngũ uẩn chuyển biến liên tục, liên hệ tương duyên và trao đổi với những dòng hiện tượng khác mà không thể nói tới con người như một cái ta biệt lập, bất biến và thường hằng. Định đề 23 rất sát với định đề 24. Có một sự tương tục (samtati), có một sự tiếp nối, ví dụ như có đám mây và có cơn mưa. Cơn mưa tiếp nối đám mây và có dòng sông tiếp nối cơn mưa, đó là một sự liên tục không đứt đoạn.

  1. Đoạn kiến

Từ một cái có (being) mà trở thành cái không có (non-being), cái thấy này gọi là đoạn kiến (annihilation). Theo đạo Phật đoạn kiến là một tà kiến (wrong view).

Đâu có lẽ có chiều qua mà không có sáng nay

Đó là một câu thơ của Vũ Hoàng Chương. Những người đã đau khổ vì sự mất mát của người thương, nghĩ rằng: “Hôm qua người đó có đó, nắm tay mình đi, mà hôm nay người đó không có nữa”, họ đang bị kẹt vào đoạn kiến. Họ tin rằng cái “có” có thể trở thành cái “không”, họ bị kẹt vào cái thấy đoạn kiến. Đoạn 斷 là cắt đứt, trong chữ đoạn có chữ cân 斤 tức là cái rìu cắt đứt làm đôi. Đoạn kiến là một tà kiến.

  1. Thường kiến

Tà kiến thứ hai là thường kiến. Thường (eternalism) là còn mãi còn hoài. Sau khi chết anh vẫn còn giữ lại một linh hồn, đi tìm một cái xác mới nhập vô để tiếp tục. Cái thấy đó gọi là thường kiến.

Tuệ giác đạo Bụt: Vượt thoát đoạn kiến và thường kiến

Tuệ giác của đạo Bụt vượt thoát cả hai cái thấy thường kiến và đoạn kiến. Là một nhà khoa học thần kinh, muốn cho thật là khoa học thì ta phải chấp nhận sự thật đó. Ta phải thấy thường kiến không đúng với sự thật mà đoạn kiến cũng không đúng với sự thật. Sự thật vượt thoát hai cái thấy thường và đoạn. Đó không phải là giáo lý tuyên bố bởi một vị thần linh mà là kết quả của sự quán sát. Khoa học là quán sát và trắc nghiệm. Chúng ta có thể làm như các nhà khoa học, ta nhìn, trắc nghiệm và thấy: Tuy là có sự tương tục, có sự nối tiếp, nghĩa là không có đoạn, nhưng trong sự nối tiếp đó cũng không có cái gì bất biến vì nó chuyển biến từng giây từng phút. Hôm qua nó là đám mây, hôm nay nó là cơn mưa và ngày mai nó là dòng sông. Nó có sự liên tục nhưng nó không có tính đồng nhất, bất biến. Đó là vô thường. Vô thường là một chìa khóa giúp ta vượt thoát cái thấy thường kiến.

Nhưng vượt thoát thường kiến rồi, ta lại có thể rơi vào đoạn kiến. Tương tục là không có đoạn nhưng cũng không có thường, tương tục nhưng phải tương tức, tương tục trong ánh sáng của tương tức. Hai ý niệm tương tục và tương tức bổ sung cho nhau, nâng đỡ nhau, giúp cho ta không rơi vào một trong hai tà kiến thường và đoạn.

Theo quan niệm thông thường thì cái ta của mình đi trong thời gian theo con đường thẳng.

Trong suốt chặng đường này ta nghĩ ta cứ vẫn là ta, có thể thân xác ta thay đổi nhưng linh hồn ta vẫn là ta. Anh Nguyễn văn A vẫn là anh Nguyễn văn A và chị Trần thị B vẫn là chị Trần thị B. Đó gọi là thường kiến. Muốn thoát được thường kiến ta phải quán chiếu về vô thường, có sự thay đổi từng giây từng phút. Nhìn cho kỹ chúng ta thấy con người của anh Nguyễn văn X có năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Quán chiếu vào trong năm uẩn của anh Nguyễn văn X, vừa thân (sắc) vừa tâm (thọ, tưởng, hành, thức), chúng ta thấy tất cả đều vô thường biến chuyển. Chúng ta phải nhìn anh Nguyễn văn X như vậy. Anh Nguyễn văn X khi mới sinh rất khác với anh Nguyễn văn X lúc mười tuổi, khác về sắc mà cũng khác về thọ, tưởng, hành, thức. Chúng ta thấy tính vô thường của dòng tương tục và thoát được thường kiến.

Mỗi giây phút là tiếp nhận và hiến tặng

Quán sát kỹ, chúng ta thấy dòng tương tục đó cũng tương tức với những dòng tương tục khác. Sự biểu hiện của anh Nguyễn văn X là do vô số những yếu tố, những nhân duyên, trong đó có cha, có mẹ, có tổ tiên, có không khí, có đất, có nước, có thực phẩm, có giáo dục, v.v… Những nhân duyên hội tụ lại làm biểu hiện anh Nguyễn văn X. Nhìn bông hoa bằng con mắt của sự quán chiếu, ta thấy có những điều kiện hội tụ đi vào bông hoa như có đám mây, có cơn mưa, có ánh sáng mặt trời, có hạt giống, có đất đai, có người làm vườn… Có một chùm hội tụ của nhân duyên, của điều kiện. Nhìn bông hoa mà thấy được chùm nhân duyên hội tụ đó là bắt đầu thấy được sự thật. Nhìn bông hoa như một thực tại riêng biệt là chưa thấy được sự thật. Đó là những nhập kiện (inputs) mà trong giây phút nào của đời sống chúng ta cũng có. Trong bất cứ giây phút nào của đời sống chúng ta cũng thở, cũng tiếp nhận, tiếp nhận từ tăng thân, từ xã hội, từ cơm ăn, từ áo mặc, từ không khí thở. Luôn luôn có những nhập kiện đi vào ta và đồng thời cũng có những xuất kiện (outputs) từ ta đi ra. Không cần đợi tới khi lớn thì ta mới có thể hiến tặng được, mới tượng hình trong bụng mẹ ta đã có những xuất kiện. Trong mỗi giây phút của sự có mặt của bào thai, những nhập kiện như tình thương của mẹ, cơm của mẹ ăn, áo của mẹ mặc, những tư duy của mẹ, sự săn sóc của cha, tất cả đều đi vào trong bào thai. Và em bé cũng đã bắt đầu hiến tặng, mỗi khi nghĩ đến bào thai thì trong lòng người mẹ thấy cảm động, thương yêu. Tuy con mình chỉ mới bằng hạt đậu nhưng ta đã có thể nói chuyện với con: “Con ơi, mẹ biết con đã có mặt đó rồi, mẹ rất hạnh phúc”. Em bé cũng gây được niềm vui hoặc sự lo lắng cho cha: “Có đứa con rồi, bây giờ làm sao có đủ tiền để nuôi”. Đó là những xuất kiện. Tuy em bé mới nhỏ xíu nhưng đã bắt đầu có xuất kiện, tức là đã bắt đầu đóng góp cho cuộc đời. Có những thiếu phụ có niềm vui rất lớn khi biết mình mang thai, ngày nào cũng nói chuyện với đứa con tuy là nó chưa có tai, có mắt, có mũi, có ý.

Trong mỗi giây phút của dòng tương tục đều có sự tiếp nhận những nhập kiện và sự hiến tặng những xuất kiện. Nếu ta sống có hạnh phúc, có vững chãi, có thảnh thơi thì mỗi giây phút của đời ta là một giây phút có hiến tặng. Ta hiến tặng cho tăng thân, cho gia đình, cho xã hội những niềm vui và sự vững chãi thảnh thơi đó. Không có giây phút nào mà ta không hiến tặng. Nếu có đau khổ, lạc loài, giận hờn thì ta hiến tặng những cái tiêu cực ấy cho cuộc đời. Nếu sống thảnh thơi, an lạc, hạnh phúc thì tuy ta không làm gì nhưng ta cũng đang hiến tặng rất nhiều. Ví dụ như cái cây ngoài sân không có làm gì cả nhưng sự có mặt của nó rất cần thiết cho loài người, cho những loài khác và cho trái đất. Nếu cây đó sống mạnh khỏe thì sự có mặt của nó đóng góp rất nhiều. Dòng sông hay đám mây cũng vậy, sự có mặt của những dòng hiện tượng đó đều mang theo sự thu nhận những điều kiện và sự hiến tặng những điều kiện cho sự sống.

Khi nhìn vào một dòng liên tục ta phải thấy tính tương tức của nó, lúc đó ta mới thoát ra được cái thấy hữu ngã. Ngã kiến là tà kiến thứ ba. Dòng liên tục không hẳn chỉ đi theo con đường thẳng, nó còn đi theo con đường cong. Đường thẳng chỉ là một hướng, trong khi đó anh Nguyễn văn X đi theo rất nhiều đường. Bất cứ ai trong chúng ta cũng nghĩ là mình đi theo con đường thẳng, mình có quá khứ ở phía sau và tương lai ở trước mặt. Thật ra chúng ta đang đi về mọi phía, ta đang có những nhập kiện và những xuất kiện và đó là sự tiếp nối của chúng ta.

Luân hồi trong từng giây từng phút

  1. Ý nghiệp

Ví dụ hồi 30 tuổi, ta đã chế tác ra một tư tưởng, tư tưởng đó có thể là chánh tư duy hay là tà tư duy, một tư tưởng hận thù hay một tư tưởng bao dung, tha thứ, thương yêu. Đó là một xuất kiện phát sinh ra từ một dòng liên tục mà ta nghĩ là ngã. Ngay khi tư tưởng đó được chế tác thì nó lên đường, lên đường không chỉ theo chiều thẳng mà còn theo những chiều khác vì tư tưởng của ta là một năng lượng và năng lượng đó thế nào cũng có ảnh hưởng đến thế giới, đến cuộc sống. Đứng về phương diện hành động, đó là một nghiệp nhân của ta, gọi là ý nghiệp. Mỗi ngày chúng ta phát ra không biết bao nhiêu là tư tưởng, đó là ý nghiệp của ta, ý nghiệp đó đi đường thẳng, đi đường vòng, đi khắp nơi. Ý nghiệp của ta là năng lượng, là sự tiếp nối của ta. Đó là luân hồi, là tái sinh. Không đợi tới lúc trăm tuổi mới có tái sinh. Chúng ta tái sinh trong từng giây từng phút trong đời sống hàng ngày. Khi làm một bài thơ hay viết một cuốn sách thì bài thơ hay cuốn sách đó là chất liệu của đời ta, nó tiếp tục ta, nó đưa ta đi luân hồi. Nếu bài thơ đó, cuốn sách đó đem lại niềm vui, hạnh phúc và tuệ giác thì đó là một sự tiếp nối rất tốt. Còn nếu bài thơ hay cuốn sách đó chứa đựng quá nhiều hận thù, khổ đau thì ta được tiếp nối dưới dạng của hận thù, khổ đau. Trong mỗi giây phút ta đều đi luân hồi chứ không phải đợi tới khi nằm xuống không còn biết gì nữa thì ta mới đi luân hồi. Luân hồi của ý nghiệp đang xảy ra từng giây từng phút và khi đã đi luân hồi rồi thì khó mà kéo lui trở lại.

Tư duy của ta là một năng lượng. Vật chất với năng lượng là một, không phải chỉ có vật chất sinh ra năng lượng mà năng lượng cũng có thể trở thành vật chất. Vật chất là năng lượng cô đọng lại rất đặc và năng lượng là vật chất pha loãng ra, vì vậy năng lượng và vật chất là một. Tư duy của ta là năng lượng chuyên tải sắc, thọ, tưởng, hành, thức của ta. Mỗi khi ta phát ra một tư duy thì tư duy đó là sự tiếp nối của ta. Ta phải chịu trách nhiệm về tư duy đó tại vì nó mang chữ ký của ta. Ta không chạy trốn nó được, đó là chính ta. Luân hồi là như vậy.

  1. Khẩu nghiệp

Một câu nói của ta có thể làm người khác chới với, khổ đau, tuyệt vọng, đi tự tử. Lời nói đó cũng là một năng lượng, một xuất kiện của ta. Đó là sự tiếp nối của ta, ta trở thành con dao giết người. Luân hồi như vậy thì buồn quá, cho nên ta chỉ nên nói những câu gây niềm tin, làm cho người hoan hỷ và hạnh phúc. Người tu chỉ nên nói những câu như vậy, đó gọi là chánh ngữ.

Ta đừng chế tác những tà tư duy, những tà ngữ, vì chúng gây đau khổ cho người khác và là sự tiếp nối rất xấu của ta. Khẩu nghiệp cũng là một năng lượng từ sắc, thọ, tưởng, hành, thức của ta đi ra. Ta không muốn luân hồi xấu, ta muốn luân hồi thật đẹp.

  1. Thân nghiệp

Thân nghiệp là hành động của ta. Nếu ta giết chóc, đàn áp, hành hạ thì những hành động đó gây đau khổ cho ta và cho người khác. Đó là năng lượng tiếp tục đưa ta đi về tương lai, không những đi theo đường thẳng mà nó còn đi theo đường cong.

Phần lớn những đường mà ta tưởng là đường thẳng đều là đường cong. Tại vì chúng dài quá nên ta tưởng là thẳng, ví dụ như khi mình ngồi trên bãi biển ta tưởng mặt nước là một đường thẳng, thật ra nó là một đường cong. Ngồi trên máy bay ta tưởng ta đi theo đường thẳng nhưng thật ra ta bay theo đường cong. Nếu từ Paris mà đi theo đường thẳng thì sẽ không bao giờ tới được Los Angeles. Ta đừng tưởng rằng con đường thời gian là con đường thẳng. Nó là một con đường cong.

Ngã kiến là một tà kiến

Thấy được vô thường là một cơ duyên để thấy được vô ngã. Ta thấy sự tiếp nối của ta xảy ra từng giây từng phút và sự tiếp nối của ta cũng là sự tiếp nối của những nhập kiện trong ta. Luôn luôn có sự đi vào và đi ra. Đây là một sự thật về cơ thể của ta. Những tế bào như tế bào thần kinh luôn luôn tiếp nhận và luôn luôn hiến tặng. Không phải chỉ là toàn cơ thể mà từng bộ phận của cơ thể cũng tuân theo qui luật đó: vô thường, vô ngã, luôn luôn tiếp nhận những nhập kiện và luôn luôn hiến tặng những xuất kiện. Nhưng nếu không có sự tu tập thì ta tiếp thu những điều kiện xấu, rồi ta hiến tặng ra những điều kiện xấu.

Trong định đề 23 chúng ta đã học là có những dòng tương tục, nhưng những dòng tương tục ấy vâng theo qui luật vô thường, vô ngã và chúng tương tức với những dòng tương tục khác. Đám mây, cơn mưa, dòng sông là những dòng tương tục. Chúng không phải chỉ có ngoài ta mà còn có trong ta. Nhìn cho kỹ ta thấy ta được làm bằng mây. Trong ta có tới 90% mây. Khi thấy được vô thường, vô ngã thì ta thấy được tương tức. Ta là đám mây, đám mây là ta. Ta tưởng ta là ta còn đám mây chỉ là đám mây. Điều dó không đúng! Thở ra một cái là ta thành đám mây vì trong hơi thở ra của ta có hơi nước. Ta phải tiếp xúc cho được sự thật về tương tức và khi thấy được sự thật về tương tức thì ta thấy được vô ngã.

Không có ngã nhưng vẫn có luân hồi, chính vì không có ngã nên mới có luân hồi. Khi chưa hiểu thì ta hỏi: “Nếu không có ngã thì cái gì đi luân hồi?”. Kỳ thật không có ngã vẫn có luân hồi, cũng như không cần có người tư duy vẫn có sự tư duy. Quán chiếu kỹ trong suốt quá trình liên tục đó ta không thấy một chủ thể nào bất biến thường tại. Luôn luôn có những nhập kiện và xuất kiện, chúng diễn tiến và biến chuyển, và ta thấy không cần có cái ngã mà vẫn có sự tiếp tục. Đám mây không cần có cái ngã mà vẫn là đám mây và vẫn luân hồi được để trở thành cơn mưa. Không có cái ngã cơn mưa vẫn trở thành dòng sông. Vì vậy ngã là một tà kiến lớn! Một nhà khoa học đích thực phải thấy được tự tánh vô thường, vô ngã, phải vượt thoát cái thấy thường và đoạn.

Các nhà khoa học vật lý đã tới rất gần với sự thật vô thường và vô ngã. Nghiên cứu về lượng tử và quang tử họ tiếp xúc được với tính vô thường và vô ngã của lượng tử và quang tử. Trong khi nghiên cứu, các nhà khoa học thần kinh não bộ đã thấy được các tế bào thần kinh chuyền tin tức cho nhau, làm những quyết định và hành xử, nhưng họ không thấy một ông chủ nào trong đó. Họ kết luận là toàn thể các tế bào thần kinh của ta cộng tác với nhau như một ban nhạc mà không cần một nhạc trưởng. Không có nhạc trưởng nhưng vẫn có nhạc và có sự hòa điệu.

Luân hồi cũng không cần có một cái ngã. Tất cả đều có sự tiếp nối, nếu không công nhận điều đó là ta rơi vào đoạn kiến. Ông bà cha mẹ ta vẫn còn đó dưới những hình dạng mới và ta có thể tiếp xúc được với họ. Ta không còn nghĩ ông bà cha mẹ đã thuộc về quá khứ. Cha mẹ, ông bà, tổ tiên vẫn có mặt đó, chỉ cần có con mắt tuệ là ta có thể thấy được cha mẹ ông bà trong những hiện hữu mới. Không thấy mây nhưng ta không buồn vì ta thấy được mây dưới dạng cơn mưa. Uống một ly nước trong, nhìn kỹ ta thấy ta đang uống mây. Không cần phải là thi sĩ mới uống được mây. Đây không phải là vấn đề mơ mộng. Ta đang thật sự uống mây vì mây và nước mưa ta đang uống không phải là hai cái khác nhau. Ông bà tổ tiên của ta cũng vậy. Ta đừng tưởng các vị thuộc về quá khứ. Các vị đang ở trong hiện tại và chỉ cần có mắt sáng là ta có thể tiếp xúc với ông bà tổ tiên của ta.

Giẫm vào bản môn

Khi đi thiền hành một mình ta có thể đi chậm, mỗi bước chân của ta giẫm vào hiện tại, đồng thời cũng giẫm vào quá khứ và giẫm vào tương lai, vì hiện tại ôm được quá khứ và tương lai. Giẫm vào hiện tại cho thật sâu thì đồng thời cũng giẫm vào quá khứ và tương lai ngàn đời. Khi đi ta thấy tổ tiên đang còn sống, đang đi với ta và con cháu ta cũng đang đi với ta. Đi như vậy ta sống được trong bản môn. Ta có thể đi trong tích môn, nhưng nếu đi trong tích môn mà có nhiều năng lượng của chánh niệm và chánh định thì ta giẫm lên được bản môn. Chúng ta có bài kệ:

Đi chơi trong bản môn

Tay ta nắm tay người

Ngàn xưa và ngàn sau

Cùng về chung một lối

(As we enjoy walking in the ultimate dimension

The Buddha’s hand is in ours.

All the past and all the future

Join with the present on one path.)

Chữ “người” là chữ hay nhất trong bài kệ. Muốn nắm tay người nào thì ta chọn người đó, nhưng nắm tay người nào để đi cho thanh thản, cho hạnh phúc. Nghĩ cho kỹ thì nắm tay đức Thế Tôn là hay nhất vì đức Thế Tôn không có lên xuống và hay giận hờn như người yêu của ta. Ai cũng muốn nắm tay người yêu mà đi, nhưng đi như vậy rất mệt. Tuy đức Thế Tôn biểu hiện 2.600 năm về trước, nhưng nếu đi được trong bản môn thì giây phút nào ta cũng có thể nắm tay đức Thế Tôn mà đi. Theo kinh nghiệm của tôi thì nắm tay đức Thế Tôn đi là an toàn nhất. Ta phải chọn nắm tay ai khi đi thiền hành. Tôi đã tìm ra sự thật là nắm tay Bụt đi là khỏe nhất, là hạnh phúc nhất và Bụt luôn có mặt đó cho ta. Nếu ta tiếp xúc được với bản môn, nếu ta thấy quá khứ và tương lai nằm trong giây phút hiện tại thì mỗi bước chân làm cho ta sống được cái thiên thu. Nếu không thì ta chỉ sống được trong giây phút của tích môn.

Sự thực tập này rất mầu nhiệm. Có cơ duyên sống trong một thiền viện, ta có thì giờ đi thiền hành mà ta lại không hưởng thì rất uổng cho ta. Đi một bước ta tiếp xúc với hiện tại cho sâu sắc, rồi sâu hơn nữa ta tiếp xúc luôn với cả quá khứ và tương lai nằm trong hiện tại. Trong ánh sáng tương tức thì quá khứ cũng là hiện tại và hiện tại cũng là tương lai, vì vậy tiếp xúc với hiện tại trong giây phút này là tiếp xúc được với quá khứ và tương lai, tiếp xúc được với thời gian vô cùng và không gian vô biên. Ta có thể chọn lựa, muốn nắm tay ai thì nắm. Tuy ta đang đi trong hiện tại nhưng ta đi sâu cho đến nỗi tất cả quá khứ và tương lai đều tới với ta trong giây phút hiện tại. Sống như vậy mới thực sự là sống trong hiện tại. Nếu ta còn sợ hãi quá khứ và sợ hãi tương lai thì ta chưa thật sự sống trong giây phút hiện tại.

Bản chất của thực tại

Khoa học cũng như triết học đều muốn khám phá bản chất của thực tại. Khoa học cũng có tiếng nói đối với thời gian và không gian. Khoa học đã đi rất gần tới sư thật tương tức của thời gian và không gian. Thường thì chúng ta nghĩ thời gian là một thực tại riêng biệt và không gian là một thực tại riêng biệt.

Nhưng theo tuyết tương đối của Einstein thì thời gian và không gian là một sự tiếp nối. Nhìn kỹ chúng ta thấy thời gian và không gian tương tức, trong thời gian có không gian và trong không gian có thời gian. Nói tới thời gian, không gian là nói tới vật thể, nói tới vật thể là nói tới năng lượng. Nói tới vật thể, năng lượng là nói tới tốc độ. Thời gian, không gian, vật thể, năng lượng và tốc độ được quán sát bởi tâm thức. Khi có tâm thức can thiệp vào thì tất cả hiện ra như những thực tại riêng biệt. Nhưng nhìn kỹ thì tất cả tương tức: thời gian, không gian, vật thể, năng lượng, tốc độ đều tương tức, ta không thể rứt cái này ra khỏi cái khác. Hiện nay khoa vũ trụ học cũng như khoa học vật lý nguyên tử tới rất gần với giáo lý tương tức. Có rất nhiều dữ kiện để chúng ta có thể chứng minh được sự thật tương tức. Thấy được tính tương tức rồi thì chúng ta trả lời rất dễ dàng những câu hỏi như câu hỏi: Thân và tâm là hai hay là một?

Trong khoa học vật lý lượng tử người ta nói: Có khi lượng tử biểu hiện như sóng và có khi biểu hiện như hạt. Đứng về phương diện khái niệm thì sóng rất khác với hạt. Vậy mà trong khi quán sát và trắc nghiệm ta thấy rõ là lượng tử có khi biểu hiện thành hạt, có khi biểu hiện thành sóng và cũng có khi nó biểu hiện đồng thời thành sóng và hạt.

Thân và tâm của chúng ta cũng vậy, chúng tương tức nhau. Nhìn thân thì thấy tâm, nhìn tâm thì thấy thân. Tại sao ta nói cái này sinh ra cái kia? Khoa học thần kinh bây giờ thấy được rằng bộ óc của chúng ta có tính dẻo (plasticity) và nhu nhuyến. Ta có thể huấn luyện, có thể dạy, có thể chuyển biến được não bộ của ta bằng cái thấy, bằng tư duy, bằng cái tâm của ta. Nếu não bộ có ảnh hưởng trên tâm thức thì tâm thức cũng có ảnh hưởng trên não bộ. Nếu thân có ảnh hưởng trên tâm thì tâm cũng có thể ảnh hưởng trở lại trên thân, tâm có thể trị liệu được thân.

Ta đừng nên nói cái này là vật sở hữu của cái kia. Thay vì nói tâm thức là một thuộc tính của não bộ thì ta có cái thấy sâu sắc hơn: cả não bộ và tâm thức có cùng một bản chất, có khi ta thấy nó là não bộ, có khi ta thấy nó là tâm thức. Hai cái nương nhau mà phát hiện. Ta không thể nói thời gian sinh ra không gian hay không gian sinh ra thời gian mà chúng nó nương vào nhau để sinh ra.

Ta chỉ có thể giải quyết vấn đề “thân và tâm” trên cơ bản tương tức. Người ta đã tìm ra sự thật là điện tử kia là sóng mà cũng là hạt. Sóng và hạt là hai mặt của một thực tại, vậy thì tại sao chúng ta không nói thân và tâm là hai mặt của một thực tại? Tại sao chúng ta còn tranh luận với nhau: Thân và tâm hai cái riêng biệt, cái này là chính còn cái kia là phụ.

Ta không thể nào hiểu được luân hồi một cách tận gốc theo đệ nhất nghĩa đế nếu ta không sử dụng tuệ giác vô thường, vô ngã và tương tức và nhìn luân hồi dưới ánh sáng của vô thường, vô ngã và tương tức. Các nhà khoa học hiện nay có những giằng co, những bất đồng ý kiến về thân và tâm. Họ chỉ giải quyết được vấn đề khi họ biết sử dụng tuệ giác vô thường, vô ngã và tương tức. Họ phải sẵn sàng để có thể chấp nhận tuệ giác đó vì đó là kết quả của sự quán sát, chiêm nghiệm trong đạo Phật từ 2500 năm nay. Khoa học có thể lợi dụng tuệ giác đó để đi trên con đường khám phá, vượt thắng những tà kiến như thường kiến, đoạn kiến, ngã kiến và nhất là cái thấy lưỡng nguyên.

Định đề 23

 

Có thể nói tới con người như một dòng ngũ uẩn liên tục luôn luôn chuyển biến liên hệ tương duyên và trao đổi với các dòng hiện tượng khác, mà không thể nói tới con người như một cái ta biệt lập, bất biến và thường hằng.

We can talk of man as a continuous and ever-changing stream of five aggregates. This stream is always flowing. It is in connection with and exchanges with other streams of phenomena. However we cannot speak of man as an unchanging and permanent separate self.

Định đề 23 nói về giáo lý vô ngã của đạo Bụt. Chúng ta đã học về con người của Bụt. Bụt có thân chúng sinh, thân ngoài thân, thân tiếp nối, thân pháp, thân tăng, thân pháp giới, thân pháp tính. Do đó chúng ta đã có được những điều kiện để hiểu định đề 23.

Nền tảng của giáo lý đạo Bụt là không có cái ngã, không có cái ta. Điều này là một điều rất khó chấp nhận, vì ai cũng có khuynh hướng tin rằng có một cái ta riêng biệt. Trong giáo lý đạo Bụt có ba pháp ấn, tức ba dấu ấn để chứng thực giáo pháp này đích thật là giáo pháp đạo Bụt. Đó là vô thường, vô ngã và Niết bàn. Vô ngã là một trong ba dấu ấn quyết định giáo lý đó có phải đích thật là giáo lý đạo Bụt hay không? Giáo lý nào đi ngược lại với tuệ giác vô ngã thì giáo lý đó không phải là giáo lý đạo Bụt.

Trong định đề 23 chúng ta được học là có những dòng hiện tượng mà không có những thực thể bất biến. Dòng hiện tượng đó, tuy liên tục tiếp nối, nhưng luôn luôn biến chuyển. Vì luôn luôn biến chuyển nên không có cái gì thường tại, bất biến, còn hoài. Khi sử dụng những danh từ như tôi, anh, bác, chị, họ, v.v… thì chúng ta nghĩ tới những thực tại biệt lập, tới những cái ngã. Ta cần phải sử dụng những danh từ như tôi, anh, nó, v.v… trong khi suy nghĩ, nói năng. Nhưng là người giác ngộ thì ta không bị kẹt khi sử dụng những ý niệm đó. Ngược lại, những người không giác ngộ, khi sử dụng những đại danh từ đó thì lại bị kẹt vào ý niệm ngã.

Quán chiếu sâu sắc vào con người, chúng ta thấy có năm yếu tố gọi là năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Năm yếu tố đó phối hợp với nhau tuôn chảy như một dòng sông. Nó có sự liên tục, nhưng nó luôn luôn chuyển biến. Nhìn cho kỹ chúng ta thấy không có cái gì bất biến, thường tại trong năm uẩn. Chúng ta có thể nói: Năm uẩn là có thật, nhưng cái ngã, cái ta bất biến thường hằng thì không có thật. Điều này chúng ta cần phải có nhiều công phu quán chiếu mới tìm ra được.

Trong thế kỷ thứ 21, các nhà sinh học và thần kinh học đã đi tới được gần sát với chân lý vô ngã. Họ tìm thấy những yếu tố liên tục chuyển biến tiếp nối, nhưng họ không tìm thấy một cái ngã thường tại. Nếu các nhà tâm linh học và các nhà khoa học làm việc chung với nhau, nương vào nhau để khám phá thì sẽ có những kết quả rất hay.

Ba kiến chấp về ngã

Hồi thầy La Hầu La còn trẻ, chưa tới hai mươi tuổi, Bụt đã bắt đầu dạy cho thầy về giáo lý vô ngã. Bụt nói có ba kiến chấp:

  1. Ngã là uẩn

Uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức và ta cho năm uẩn đó là ngã. Ta nói thân thể tôi, cảm giác tôi, tri giác tôi, tâm hành tôi và nhận thức tôi là tôi, điều đó không đúng. Cho ngã là uẩn là một sai lầm.

  1. Ngã không phải là uẩn

Có quan niệm cho rằng ngã và uẩn là hai cái khác nhau, ngã nằm ngoài uẩn. Đó cũng là một sự sai lầm. Năm uẩn là của tôi mà không phải là tôi, tôi là cái nằm ngoài năm uẩn. Thân là thân của tôi, cảm thọ là cảm thọ của tôi, tri giác là tri giác của tôi, tâm hành là tâm hành của tôi và nhận thức là nhận thức của tôi. Trong khi kiến chấp đầu là: ta là uẩn thì kiến chấp thứ hai là: ta không phải là uẩn, nhưng ta là chủ sở hữu của uẩn, uẩn là vật sở hữu của ta.

  1. Trong ngã có uẩn và trong uẩn có ngã

Kiến chấp thứ ba có nghĩa là: Ngã không phải là uẩn nhưng ngã cũng không phải khác uẩn. Trong ngã có uẩn và trong uẩn có ngã. Quan niệm thứ ba gọi là quan niệm tương tại, cái này nằm trong cái kia (residing in each other).

Thầy La Hầu La được dạy phải quán chiếu về ba quan niệm đó.

Vô thường là vô ngã

Tại Làng Mai chúng ta có một lối giải thích về vô ngã rất dễ hiểu. Chúng ta bắt đầu từ pháp ấn thứ nhất là vô thường, pháp ấn thứ hai là vô ngã. Khi chúng ta đã chấp nhận sự vật là vô thường thì theo lý luận logic, chúng ta cũng phải chấp nhận vô ngã. Hễ chấp nhận vô thường là phải chấp nhận vô ngã, vì đứng về phương diện thời gian nếu nó là vô thường thì về phương diện không gian nó phải là vô ngã. Nếu tất cả đều thay đổi hoài hoài thì có gì là bất biến thường hằng đâu? Vì vậy vô thường có nghĩa là vô ngã. Nếu ta đã chấp nhận rằng tất cả đều chuyển biến từng giây từng phút thì ta cũng phải chấp nhận không có gì còn hoài, còn mãi, trước sau như một. Vô thường, vô ngã là hai tên gọi của một thực tại, thực tại đó Duy biểu học gọi là hằngchuyển. Hằng tại vì nó có vẻ liên tục, nó có sự tiếp nối không đứt đoạn như một dòng sông. Dòng sông tuy là còn đó giống như là dòng sông mình đã thấy hôm qua, nhưng nhìn kỹ thì những giọt nước hôm nay đã là những giọt nước khác rồi. Người Tây phương có câu: “Không ai có thể tắm hai lần trong một dòng sông.” Dòng sông có vẻ hằng nhưng đồng thời nó cũng là chuyển. Chuyển là thay đổi từng giây từng phút, vì vậy cho nên cái ngã, cái ta thường tại bất biến là một ảo tưởng (illusion).

Nhưng nói như vậy không có nghĩa là không có một dòng ngũ uẩn liên tục chuyển biến. Có một dòng ngũ uẩn và dòng ngũ uẩn đó là một môi trường liên tục (continuum) vì năm uẩn dính vào nhau, là nhau. Ta không thể tách rời năm uẩn ra. Cái này dựa vào cái kia để phát khởi và cái kia dựa vào cái này để phát khởi. Không có sắc thì không có thọ, không có tưởng, không có hành, không có thức. Không có thức thì không có sắc, không có thọ, không có hành, không có tưởng. Cũng như khối lượng (masse) và năng lượng (énergie) không thể tách rời nhau mà có, cái này là cái kia, nó là tương tức. Năm uẩn là một môi trường liên tục, ta không thể đặt cái này bên cạnh cái kia tách rời chúng ra được.

Không có ngã nhưng vẫn có luân hồi

Người không học, không tu tin rằng có một cái ta thường tại bất biến, khi ba tuổi mình có cái ta đó, đến ba mươi tuổi cái ta đó vẫn còn y nguyên, đến chín mươi tuổi vẫn là cái ta đó và đến khi chết thì cái ta đó có thể lên thiên đường hay xuống địa ngục. Hiểu luân hồi theo kiểu nông cạn thì cái ta đó là cái hồn. Sau khi thân chết rồi thì hồn bay đi và nhập vào một bào thai để có một cái hình hài khác. Như vậy, ý niệm về luân hồi, về tái sinh đó không chính thống, không liễu nghĩa tại vì nó căn cứ vào ý niệm về ngã, mà hễ còn căn cứ vào ý niệm về ngã thì không phải là giáo lý đạo Bụt.

Ta có thể nói về luân hồi, nhưng là luân hồi theo thắng nghĩa đế tức là luân hồi theo tinh thần vô thường, vô ngã và tương tức. Không có ngã vẫn có luân hồi.

Tương tục và tương tức

Có thể nói tới con người như một dòng ngũ uẩn liên tục luôn luôn chuyển biến liên hệ tương duyên và trao đổi với các dòng hiện tượng khác, mà không thể nói tới con người như một cái ta biệt lập, bất biến và thường hằng.

Như vậy, ta công nhận có sự liên tục, có sự tiếp nối; không những liên tục trong một giai đoạn mà liên tục hoài hoài. Ví dụ như đám mây biến thành mưa, giữa đám mây và cơn mưa có sự liên tục, không có đứt đoạn. Giữa cơn mưa và dòng sông có sự liên tục, giữa dòng sông và đám mây lại có sự liên tục. Ta công nhận quả quyết có sự liên tục, nhưng đồng thời ta cũng phải công nhận sự tương tức, có nghĩa là những dòng liên tục đó không tách biệt với nhau. Anh là một dòng liên tục, tôi là một dòng liên tục nhưng giữa tôi với anh có sự tương tức (inter- connectedness). Nếu ta nghĩ có sự liên tục mà không thấy được sự tương tức của những dòng liên tục thì ta vẫn có thể bị kẹt vào ý niệm về ngã.

Con người là một dòng liên tục, có sự liên tục từ khi sinh ra cho tới khi chết. Nhưng trong thời gian đó có sự trao đổi, có sự tương quan, tương duyên giữa những dòng liên tục với nhau. Trong sự sống, trong xã hội luôn luôn có những nhập kiện (input) và xuất kiện (output), vì vậy chỉ có những dòng liên tục tương quan, tương duyên, tương tức mà không có ngã. Đám mây cũng là dòng sông, dòng sông cũng là cơn mưa và sức nóng mặt trời có liên hệ tới đám mây, tới dòng sông. Có những dòng liên tục, nhưng những dòng liên tục này không đứng riêng, chúng tương quan, tương duyên và tương tức (inter-being). Vì vậy bản chất của định đề 23 là tương tục và tương tức.

Chúng ta phải hiểu nghĩa của luân hồi, của tái sinh trong ánh sáng của tương tục và tương tức thì mới phù hợp với giáo lý đạo Bụt.

Có tư tưởng nhưng không có người tư duy

Descartes nói “Tôi tư duy nên có tôi đây”, tức là có cái ta làm chủ thể cho tư duy. Nếu không có tôi thì ai tư duy? Sự kiện có tư duy xác nhận có cái ta, phải có người tư duy. Dưới ánh sáng quán chiếu của đạo Bụt thì tư duy là một tâm hành, gọi là tầm hay từ (vitarka). Tiếng Anh có thể dịch tầm là initial thinking, từ là applied thinking. Tư duy là một trong 51 tâm hành. Khi một tư tưởng phát hiện thì chủ thể và đối tượng của tư tưởng đó đồng thời phát hiện cùng một lần. Nó phát hiện trong một phần ngàn hay một phần triệu giây, rồi có những sát na tư tưởng khác tới tiếp nối. Nó cho ta có ảo giác là có một dòng tư tưởng thường hằng và có một chủ thể thường hằng. Ví dụ như lúc quay phim chúng ta chụp rất nhiều hình liên tiếp nhau, khi chiếu ra chúng ta thấy có sự liên tục, nhưng thật ra đó chỉ là nhiều hình ráp lại với nhau.

Nhìn cho kỹ chúng ta có thể nói: Có tư tưởng, nhưng không cần phải có người tư duy. (Il y a la pensée mais il n’y a pas de penseur.)

Chúng ta có Rodin, nhà điêu khắc tài tình, đã tạo tượng “Người tư duy” (Le penseur) rất đẹp. Có tư duy nhưng không cần phải có người tư duy, tư duy là một hiện tượng. Chúng ta quán chiếu để lấy đi cái ảo tưởng mình có về thực tại. Cũng như trong đêm đen, có một người cầm bó đuốc đang quay vòng tròn. Từ xa nhìn lại, ta có cảm tưởng là có một vòng lửa, nhưng thật ra chỉ có những đóm lửa liên tục với nhau. Đó là ảo tưởng thị giác.

Các tâm hành của ta như buồn, giận, lo lắng, tham đắm, v.v… biểu hiện liên tục và mỗi tâm hành có thể kéo dài trong mấy phút. Thật ra chỉ có những sát na tâm hành nối tiếp nhau mà thôi, cũng như phim ảnh có nhiều hình rất ngắn ráp lại với nhau cho ta có cảm tưởng là có một sự liên tục. Sự thật này đi ngược lại với khuynh hướng âm thầm chấp ngã câu sinh của mình. Khuynh hướng chấp ngã đã có từ khi ta sinh ra và càng ngày càng dày đặc hơn. Chỉ có quán chiếu hàng ngày, nhìn cho thật sâu thì mới thấy được rằng chỉ có những sát na hiện tượng liên tục phát hiện làm cho ta có cảm tưởng là có những dòng hiện tượng.

Bây giờ ta nghiên cứu về tâm thức, về ý thức bằng cách nhìn vào não bộ. Mới đây một tạp chí khoa học có đăng một bài báo với đề tài “La science à la porte de la conscience” (Khoa học đứng ở ngưỡng cửa tâm thức) tức là khoa học sắp tìm ra, sắp mở được cánh cửa đi vào tâm thức. Người ta có những máy móc để đo, để chụp hình, để có thể nhận ra tâm thức. Cái ngây thơ của tựa đề này là nghĩ rằng: Ý thức là một chuyện khác và khoa học là một chuyện khác. Thật ra trong khoa học (la science) có ý thức (la conscience), nếu trong khoa học mà không có ý thức thì làm sao có khoa học. Vì vậy chúng ta đừng nghĩ rằng ý thức nằm ở ngoài khoa học. Khoa học đã có được những phương tiện, những dụng cụ để có thể hiểu được ý thức, và bây giờ khoa học chỉ cần mở toang cánh cửa để đi vào khám phá sâu hơn về tâm thức.

Trong khoa thần kinh não bộ, khi nghiên cứu những hoạt động của các tế bào óc người ta khám phá ra rằng: Có một sự cộng tác, có một sự giao lưu giữa các tế bào thần kinh để đưa tới những tâm hành như xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư hay giận. Tất cả các tế bào trong não bộ tới với nhau, trao đổi những dữ kiện với nhau để tạo thành một bản hòa tấu. Bản hòa tấu đó có thể là một tâm hành, nhưng nhìn kỹ thì không thấy có người nhạc trưởng đang điều khiển bản hòa tấu đó. Người ta khám phá ra được tính tương quan, tương duyên để làm biểu hiện ra một tâm hành. Cái thấy đó của các nhà khoa học rất gần với cái thấy của đạo Phật.

Đứng về phương diện ngôn ngữ học, nếu xét lại cách ta tư duy và nói năng thì chúng ta thấy sự ngây thơ của ta trong khi nhận thức sự vật. Chúng ta nói: Gió thổi! Nói như vậy rất là buồn cười, có một chủ thể là “gió” và một động tác là “thổi”. Quý vị hãy tưởng tượng nếu “gió không thổi” thì có gió không? Chúng ta nói: Mưa rơi! Nếu “mưa không rơi” thì có phải là mưa không? Khi ta nói: “Tôi biết mưa đang rơi!” thì trong đó có cái “tôi”, có cái ngã và cái cái ngã đó làm chủ thể cho cái “biết”, biết đối tượng là “mưa đang rơi”. Nói “mưa rơi” là rất buồn cười, “mưa” là đối tượng của “biết” và chủ thể của “biết” là “tôi”. Nếu muốn nói cho đúng thì chúng ta chỉ cần nói: “Mưa” là đủ vì trong “mưa” đã có cái “biết”. Không “biết” thì làm sao nói “mưa”. Nói “gió”, “giận”, “suy nghĩ” là đủ rồi, tại sao còn phải cần có chữ “tôi“?

Câu “Je pense donc je suis” ban đầu giống như một phương trình toán học, một lý luận sắc bén: Tôi suy nghĩ, vì vậy cho nên có tôi đây. Nhưng trong ánh sáng của sự quán chiếu thì chỉ có một tư duy, tư duy đó chỉ tồn tại trong một sát na và nó có thể được một sát na tư duy khác tới thay thế. Chúng ta có khuynh hướng đi tìm một chủ thể khi có một động tác xảy ra. Chúng ta nói “trời mưa”, nghĩa là phải có một tác giả (actor) là ông trời, phải có ông trời mới có mưa nhưng thật ra không cần ông trời mà vẫn có mưa.

Chúng ta không phải là những cá thể biệt lập

Trước chuyến đi Việt Nam vào đầu năm 2005, có một trận hải chấn đã làm chết không biết bao nhiêu người, những người địa phương, những du khách tới từ Âu châu, Mỹ châu, những em bé, những người trẻ. Cả thế giới chấn động, ai cũng đau khổ, ai cũng kinh ngạc. Nhiều người đặt câu hỏi, tại sao Thượng đế lại để cho một tai họa như vậy xảy ra? Nếu Thượng đế có lượng từ bi cao cả thì tại sao Thượng đế lại để cho sự kiện đó xảy ra? Trong số những người chết có ngư nhân, nhưng cũng có người đi du lịch, có những em bé rất nhỏ không biết tội tình gì mà phải chết. Không lẽ đó là sự trừng phạt của Thượng đế đối với những em bé đó? Nó mới từng ấy tuổi thì đã gây ra tội tình gì để bị chết một cách oan ức như vậy? Đó là câu hỏi các nhà thần học đã đặt ra. Một nhà thần học khá nổi tiếng bên Đức trả lời: “Chỉ có im lặng mới có thể trả lời được cho câu hỏi đó”. (1) Câu chuyện này thầy đã kể trong một bài pháp thoại trước. Hôm nay vì muốn làm sáng tỏ định đề 23, Thầy lại kể lại. Chúng tôi cứ để y nguyên bài giảng mà không cắt bớt.

Hôm đó tại Làng Mai có một bài pháp thoại bằng tiếng Việt. Tôi và quý vị ở Làng Mai đều bị chấn động bởi thảm kịch đó. Tôi không vừa ý với câu trả lời của nhà thần học kia. Tôi nói cái thấy của tôi trong bài pháp thoại, bài pháp thoại này đã được đăng trong Lá thư Làng Mai và được sư chị Chân Đức dịch ra tiếng Anh đăng trên tờ Mindfulness Bell và trên các tạp chí khác. Câu trả lời của tôi trong bài giảng hôm đó căn cứ trên tuệ giác vô ngã. Nếu kẹt vào ý niệm ngã thì ta không thể nào trả lời được câu hỏi đó. Ta chỉ trả lời được câu hỏi đó khi ta tiếp xúc được với bản tính tương tức của mọi loài.

Chúng ta không phải là những cá thể biệt lập mà nhân loại là một cơ thể. Tôi là tôi và anh là anh, nhưng kỳ thực tôi là anh và anh cũng là tôi. Khi hai người thương nhau thì họ bắt đầu thấy được sự thật đó. Họ đau khổ được với những đau khổ của người kia và họ hạnh phúc với những thành đạt, những hạnh phúc của người kia. Họ thấy giữa hai người có sự tương tức và cái bản ngã bị xóa nhòa không còn ranh giới nữa. Tình bè bạn, tình mẹ con cũng có thể giúp ta tiếp xúc được một phần nào với tính vô ngã.

Khi nhìn thấy nhân loại là cơ thể của ta thì người đó chết tức là ta chết, ta cũng đau khổ, nhiều khi còn đau khổ hơn người đó. Người chết đau khổ ít hơn là những người không chết. Khi thương nhau, nếu người đó chết tức là ta cũng chết, có thể là ta chết nhiều hơn, đau khổ nhiều hơn người đó nữa. Nhiều người trong chúng ta đã đau niềm đau đó, chúng ta có cảm giác là một phần của ta cũng chết trong trận hải chấn. Trong bài pháp thoại tôi đã nói: “Những người ở đó chết là mình cũng chết”. Đó là nhìn theo cái nhìn vô ngã, ta là họ và họ là ta, đó là tương tức. Và tôi nói thêm: “Mình đang còn sống tức là họ cũng đang còn sống. Mình phải sống cho xứng đáng, mình phải sống cho họ”. Họ chết tức là ta chết và ta đang còn sống tức là họ đang còn sống. Chúng ta là một chủng loại trên trái đất. Trong thế kỷ vừa qua và trong thế kỷ này chúng ta đã gây tàn hại rất nhiều cho nhau, cho trái đất, cho sinh môi khiến cho đất Mẹ phải quằn quại đau xót. Những tai nạn xảy ra có thể là những tiếng chuông chánh niệm báo hiệu cho chúng ta biết để ta nhìn lại. Ta phải biết kềm chế, phải biết thương nhau, phải biết bảo hộ trái đất và thân mạng của ta. Những đau khổ xảy ra cho con người trên trái đất đều là những tiếng chuông chánh niệm. Những người chết trong những tai nạn cũng chính là ta chết, nhưng nhờ ta còn sống nên những người đó cũng còn sống, ta thấy ta trong họ và họ trong ta.

Trong bài thuyết pháp lần đó, tôi có nhắc tới thi sĩ Victor Hugo. Khi vừa mới mất đứa con gái cưng Léopoldine, ông đau xót quá nên đã trách trời trách đất. Ông nói: Con người mong manh như một cây sậy. Con người chỉ thấy được một phía của sự vật, còn phía kia thì bị che lấp bởi một màn bí ẩn và con người như đi trong đêm đen. Thượng đế, con đến đây, đem đến cho Ngài những mảnh vỡ của trái tim con. Chính Ngài đã đập vỡ trái tim con.

Je viens à vous, Seigneur, père auquel il faut croire;

Je vous porte, apaisé,

Les morceaux de ce coeur tout plein de votre gloire

Que vous avez brisé;

Je conviens que vous seul savez ce que vous faites,

Et que l‘homme n’est rien qu’un jonc qui tremble au vent;

Chỉ có Ngài mới biết được những gì Ngài đang làm, còn con người chẳng qua chỉ là một cây sậy yếu đuối, run rẩy trong gió.

L’homme subit le joug sans connaître les causes.

Con người phải đeo cái ách rất nặng mà không biết tại sao.

Tout ce qu’il voit est court, inutile et fuyant.

Tất cả những gì con người thấy đều là tạm bợ, vô thường, đều mong manh, chớp nhoáng.

Đó chỉ là niềm than trách mà không dám là một sự phản kháng. Tại sao một cô gái mới lớn, xinh đẹp, chưa làm nên tội tình gì mà trời lại bắt chết? Đó là câu hỏi giống như câu hỏi đã được đặt ra sau trận hải chấn. Sở dĩ người ta không tìm được câu trả lời là do họ không có được cái nhìn vô ngã. Nếu có tuệ giác vô ngã, nếu thấy rằng cái đau của người kia là cái đau của ta và lòng từ bi của ta phát khởi ra thì cũng làm cho người kia hết đau khổ.

Bài pháp thoại có tựa đề “Ôm lấy niềm đau sau trận hải chấn”. Nếu ta đau và lớn lên được thì niềm đau đó có ích lợi. Nếu ta học được bài học của khổ đau và sống cho đàng hoàng, ta biết thương yêu nhau, biết bảo vệ sự sống, bảo vệ trái đất thì những người kia cũng được thừa hưởng. Chết là cùng chết và sống là cùng sống, họ chết cho ta và ta sống cho họ, trong khi họ chết là ta chết và trong khi ta sống họ cũng được sống. Sở dĩ tôi nói được bài pháp thoại đó là vì trong đạo Bụt có tuệ giác vô ngã. Con của họ chết là con của ta chết, họ chết là ta chết. Con của ta sống là con của họ còn sống. Vì vậy ta phải sống cho họ, đó là nội dung của bài thuyết pháp hôm ấy.

Khi quán chiếu, tu tập trong đời sống hàng ngày, nhìn người thân của ta, đứa con của ta, người mẹ, người bạn của ta mà ta thấy được tính vô ngã, tính tương tức giữa ta và người đó thì ta sẽ không còn trách móc, hờn giận, trừng phạt nữa. Tuệ giác tương tức đem tới sự tha thứ, sự thương yêu và lòng từ bi. Tuệ giác vô ngã rất cần thiết. Đó là trí tuệ, là sự hiểu biết đưa tới thương yêu và từ bi. Vì vậy vô ngã không phải là một triết lý khô khan mà là sự thực tập quán chiếu. Nếu trong một đoàn thể mà chúng ta biết nhìn nhau bằng tuệ giác vô ngã, thấy được tính tương tức của nhau thì cái hiểu và cái thương có mặt, hạnh phúc sẽ lớn và ta có thể làm chỗ nương tựa cho rất nhiều người.

Hầu hết tất cả các câu hỏi về triết học, về cuộc sống, về khổ đau mà người ta đem tới hỏi đức Thế Tôn đều được Ngài trả lời căn cứ trên tuệ giác vô ngã. Muốn có tuệ giác vô ngã mà chỉ học hỏi trong kinh điển thôi thì chưa đủ, ta phải nhìn chung quanh ta, nhìn bản thân ta trong đời sống hàng ngày để thấy không có gì có thể sống biệt lập. Có những dòng liên tục luôn luôn chuyển biến và chúng tương tức, tương nhập với nhau. Thấy được như vậy thì ta có thể chuyển hóa được rất nhiều tâm hành tiêu cực đã làm cho ta đau khổ trong đời sống hàng ngày.

Định đề 22

 

Bụt có nhiều thân: chúng sinh thân, pháp thân, thân ngoại thân, tăng thân, thừa kế thân, pháp giới thân và pháp giới tính thân. Con người vì có thể là Bụt nên cũng có đầy đủ các thân ấy.

The Buddha has many bodies: the body of a living being, the Dharmabody, the body outside of the body, the sanghabody, the continuation body, the Dharma-realm body, and the true nature of the Dharma-realm body. Since human beings can become Buddha they also have all these bodies.

Tong Hoa Nghiêm tông có quan niệm về Mười thân của Phật. Có tông phái chủ trương Bụt có năm thân, có tông phái chủ trương Bụt có mười thân và có tông phái chủ trương Bụt có hai thân.

Thuyết hai thân

Chúng ta biết rằng trong lúc đức Thế Tôn còn tại thế người ta đã bắt đầu thần thánh hóa Ngài. Ta thương thầy ta, ta tả thầy ta giỏi, đẹp, dù cho thỉnh thoảng thầy cũng có rầy la ta. Điều đó rất con người. Nhưng khi đức Thế Tôn qua đời rồi thì sự tiếc thương rất lớn nên ý hướng muốn làm đẹp, muốn tuyệt đối hóa thầy trở nên rất mạnh, và chuyện này là một chuyện rất tự nhiên. Đó là sự yếu kém của những đệ tử luôn luôn muốn tả thầy mình cho đẹp. Ngay trong lúc thầy còn tại thế, ta đã có những giai thoại, những truyền thuyết về thầy, làm như thầy ta không phải là con người mà là một bậc thánh. Ngay trong khi thầy còn sống ta đã có khuynh hướng đó, huống nữa là khi thầy đã mất. Ta bơ vơ, ta cần thầy quá nên ta có khuynh hướng muốn thần thánh hóa thêm.

Đứng về phương diện hình thức, ta nói thầy rất đẹp, thầy có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp, mắt của thầy giống như hoa sen, tai của thầy giống như lá sen, v.v… Nếu đến Bồ Đề Đạo Tràng ở Ấn Độ ta sẽ thấy người ta vẽ cái bánh xe hay nhiều cái đẹp khác dưới bàn chân Bụt. Họ nói thái quá, cái gì của Bụt cũng đẹp, cũng hay, mồ hôi của Bụt cũng thơm, nước tiểu của Bụt cũng ngọt. Ta tạo ra một khoảng cách rất lớn giữa ta và Bụt. Mỗi khi Bụt đi thì giống như một tòa núi châu báu đang di động.

Trong khi Bụt còn tại thế ta đã có quan niệm về hai thân. Hôm đó Bụt đi thăm thầy Vakkhali đang bị bệnh dưới chân núi. Thầy đang ở trong nhà một ông thợ làm đồ gốm. Bụt hỏi thăm thầy có đau nhức không, có tiếc nuối gì không? Thầy nói:

  • Con chỉ tiếc một điều là con không được lên núi Thứu để nhìn ngắm Bụt.

Đức Thế Tôn nói:

  • Hình hài của tôi không quan trọng, chánh pháp của tôi mới là quan trọng. Nếu thầy có pháp thân của tôi trong thầy thì đã đủ, thầy không cần phải tìm tới nhục thân của tôi làm gì nữa.

Vì vậy trong khi Bụt còn tại thế, đã có quan niệm hai thân: nhục thân, có sinh có diệt và pháp thân, không sinh không diệt. Pháp thân là giáo lý, là những pháp môn Bụt trao truyền, là tuệ giác của Ngài. Một khi đã có pháp thân rồi thì ta giữ được lâu, không như thân xương thịt của ta. Pháp thân thường trú còn nhục thân thì không thường trú, vì vậy người ta nghĩ tới Pháp thân nhiều hơn.

Ngũ phần pháp thân

Sau khi Bụt nhập Niết bàn, ngay trong thời kỳ Phật giáo bộ phái người ta đã phát triển ý niệm về pháp thân rất nhiều. Pháp thân của Bụt trường tồn vĩnh viễn, Bụt là bất diệt và pháp thân đó có năm yếu tố gọi là Ngũ phần Pháp thân (the five aspects of the Dharma body). Quan niệm này cũng được Đại thừa chấp nhận, tuy là Đại thừa hiểu khác hơn một chút. Phật giáo bộ phái (có khi được gọi là Phật giáo tiểu thừa) chủ trương pháp thân (Dharma- kāya) có năm phần:

  1. Giới thân (śīla-kāya): Bụt có giới thân (the sila body), nếu có thọ giới và hành trì giới thì ta cũng có giới thân. Nhưng giới thân của ta khiếm khuyết hơn so với giới thân của Bụt. Giới thân càng vững chãi thì hạnh phúc càng lớn, vì vậy khi nói đến pháp thân của Bụt trước hết ta phải nghĩ tới giới thân. Pháp môn mà không chuyển tải được giới thì không thể gọi là tuệ giác, là pháp môn hay, vì vậy phần quan trọng của pháp thân là giới thân. Tuy nói hai thân nhưng trong pháp thân đã chứa năm thân.
  2. Định thân (samādhi-kāya): Đức Thế Tôn có định rất lớn, định vô thường, định vô ngã, định Niết bàn, sau này có định Lăng nghiêm, định Sư tử phấn tấn, v.v… Nhờ có định lực hùng hậu nên đức Thế Tôn rất vững chãi, rất hào hùng. Định thân (the samādhi body) có liên hệ tới giới thân, nếu không có giới thì không có định. Giới thân và định thân, tuy là hai nhưng lại có tính tương tức. Ta cũng có định thân. Khi ngồi thiền, khi đi thiền hành, khi ăn cơm trong chánh niệm là ta đang có định thân.
  3. Tuệ thân (jñāna-kāya): Đức Thế Tôn có tuệ thân (wisdom body), tức là có trí tuệ. Trí tuệ của Bụt rất lớn, rất cao (vô thượng chánh đẳng chánh giác). Ta cũng có tuệ thân, ta cũng có hạt giống của giác ngộ, của giải thoát. Nếu tin như vậy và thực tập hàng ngày thì tuệ giác của ta càng ngày càng sáng tỏ. Giới thân, định thân và tuệ thân cần phải lớn lên cùng với sự thực tập của ta.
  4. Giải thoát thân (vimukti-kāya): Giải thoát thân của Bụt là tự do của Ngài. Bụt có tự do rất lớn và nhờ có tự do lớn nên có hạnh phúc lớn. Chúng ta cũng có tự do nhưng tự do của chúng ta nhỏ bằng trái táo hoặc trái bí. Ta phải làm thế nào để càng ngày càng có thêm tự do. Ta biết giới, định và tuệ càng lớn thì giải thoát càng lớn. Bốn thân tương tức nhau.
  5. Giải thoát tri kiến thân (vimukti-jñāna-darśana- kāya): Kiến là darśana, tri (trí) là jñāna. Giải thoát tri kiến là bản chất, là trí tuệ, là khả năng ta có khi ta đạt tới sự giải thoát hoàn toàn. Ta cắt đứt được tất cả những gì cần phải cắt đứt, ta thành tựu được những gì cần phải thành tựu. Giải thoát tri kiến thân sẽ trở thành Pháp thân sau này.

Khi dâng hương, muốn cho hương có giá trị của một phẩm vật cúng dường lên đức Thế Tôn thì ta quán tưởng hương đó không phải chỉ là hương trầm (chiên đàn). Nếu ta có giới và ta đốt hương giới lên cúng dường thì công đức ấy rất nhiều. Nếu ta có định và ta đốt hương định lên cúng dường thì công đức ấy rất nhiều. Vì vậy ta xướng: “Giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương và giải thoát tri kiến hương”, năm thứ hương tượng trưng cho pháp thân của ta. Bụt có năm thân, ta cũng có năm thân, nhưng ta là hữu học còn Bụt là vô học. Hữu học là còn phải luyện tập, còn phải tu. Như vậy ta đã thấy được sự bình đẳng giữa ta và Bụt. Quan niệm “sinh Phật bất nhị” (Phật và chúng sinh không thể tách rời ra) đã có sẵn trong ý niệm này. Là học trò, là con của Bụt ta phải có đầy đủ năm thân, cho dù chúng còn yếu, còn nhỏ nhưng với sự tu học hàng ngày ta đang làm lớn mạnh năm thân ấy trong ta.

Quan niệm “ngũ phần pháp thân” được Phật giáo bộ phái chấp nhận và cũng được Phật giáo đại thừa chấp nhận.

Pháp thân là giáo hóa thân

Khi dùng danh từ pháp thân, Bụt chỉ muốn nói đến giáo pháp, chữ Dharma là giáo pháp: Nếu thầy đã tiếp nhận được giáo pháp tôi trao truyền là thầy đã có tôi trong thầy. Đó là nghĩa đầu của chữ pháp thân (the Teaching body) nên chúng ta có thể gọi pháp thân đó là giáo thân hay giáo hóa thân. Chúng ta thấy rõ nhục thân của Bụt không còn nữa nhưng pháp thân của Ngài vẫn còn tiếp tục. Nghĩa đầu của chữ pháp thân là giáo lý, là tuệ giác Bụt trao truyền. Là con của Bụt ta được thầy trao truyền pháp thân của Ngài cho ta. Ta có pháp thân, nhưng ta có nhiều cách giáo hóa:

  • Có sự giáo hóa bằng lời, bằng miệng (ngữ giáo hay khẩu giáo) và nhờ sự giáo hóa đó mà người ta được sinh ra trong chánh pháp. Đệ tử của Bụt nói: Đức Thế Tôn đã sinh chúng con ra trong đời sống tâm linh và chúng con đã được sinh ra từ miệng Ngài. Đức thế Tôn đã nói pháp và nhờ pháp của Ngài mà ta được sinh ra trong đời sống tâm linh.
  • Nhưng pháp của đức Thế Tôn không phải chỉ là pháp được diễn tả bằng lời. Khi đi Ngài cũng diễn tả pháp, khi tiếp xử Ngài cũng diễn tả pháp. Khi đức Thế Tôn ăn cơm, uống nước, tất cả những gì xảy ra trong đời sống hàng ngày của Ngài đều phản chiếu được giáo pháp của Ngài. Đó cũng là pháp, gọi là thân giáo (teaching with your life). Câu nói của Mahātma Gandhi “My life is my message” có nghĩa là thông điệp mà tôi muốn gửi đến quý vị là cách sống của tôi. Đó gọi là thân giáo, còn những điều được nói ra trong bài giảng là khẩu giáo.

Ban đầu pháp thân có hai nghĩa: khẩu giáo và thân giáo. Từ từ người ta đi tới “pháp thân năm phần”. Sở dĩ khẩu giáo và thân giáo có giá trị là vì ở trong nó có giới thân, có định thân, có tuệ thân, có giải thoát thân và giải thoát tri kiến thân. Quan niệm về hai thân và quan niệm về năm thân biểu hiện ra theo một trật tự đàng hoàng.

Thuyết ba thân

Sau này một số các kinh luận Đại thừa như kinh Pháp Hoa, Nhiếp Đại Thừa Luận, v.v… đưa ra quan niệm ba thân. Ba thân gồm có pháp thân (dharma-kāya), báo thân và ứng thân hay ứng hóa thân hay hóa thân.

  • Hóa thân

Theo quan niệm ba thân, đức Thích Ca chỉ là một hóa thân, chưa phải là thân thật. Thân đó vô thường, được đặt trong khung thời gian và không gian. Đó là một hóa thân (manifestation body). Trong kinh Pháp Hoa chúng ta thấy một hình ảnh rất đẹp: Lần đó Bụt đang ngồi trên núi Thứu nói kinh Pháp Hoa, tự nhiên có âm nhạc nổi lên trên không trung. Nhìn lên người ta thấy một bảo tháp, từ trong bảo tháp một giọng nói rất trong, rất uy hùng vọng ra: “Hay quá! Hay quá! Đức Thích Ca Mâu Ni đang giảng kinh Pháp Hoa! Tôi đến đây để yểm trợ cho Ngài”. Mọi người nhìn lên thấy một bảo tháp hiện trên không trung rất đẹp nên hỏi Bụt:

  • Bạch thầy, tháp đó từ đâu tới vậy? Người xướng ra câu nói đó là ai?

Bụt nói:

  • Này quý vị, đó là Bụt Đa Bảo. Bụt Đa Bảo ngày xưa có phát lời nguyện, sau này mỗi khi có một đức Phật ra đời và thuyết kinh Pháp Hoa thì Ngài sẽ có mặt để tỏ lời khen ngợi.

Lúc đó toàn thể đại chúng đều mong ước thấy được Bụt Đa Bảo. Bụt Đa Bảo đã có từ ngàn xưa, còn thầy mình được sinh ra ở thành Ca Tỳ La Vệ cách đây chỉ mới năm chục năm. Bụt Đa Bảo là Bụt vĩnh viễn, Bụt của muôn đời, còn thầy mình có thể chỉ có một thọ mạng rất ngắn. Lúc đó người ta mới bắt đầu có sự phân biệt, có một ý niệm sơ lược về Bụt của tích môn và Bụt của bản môn. Đức Thích ca, thầy chúng ta là Bụt của tích môn và đức Đa Bảo đang ngồi trong tháp kia là Bụt của bản môn.

Tất cả đại chúng nhìn vào đức Thích Ca, mong ước làm sao đức Thích Ca tìm cách mở cửa tháp để mọi người được thấy Bụt của bản môn, người vừa phát ngôn ra một câu rất vi diệu. Đức Thích Ca nói:

  • Mở được cửa tháp thật khó quá! Muốn mở cửa tháp để thấy được Bụt Đa Bảo, tôi phải gọi tất cả những hóa thân của tôi từ mười phương về mới được.

Tất cả mọi người đều xoay về đức Thế Tôn, chắp tay năn nỉ. Đức Thế Tôn phát ra một luồng hào quang quét ngang tam thiên đại thiên thế giới. Trong chốc lát các hóa thân của Bụt Thích Ca từ mười phương trở về hằng hà sa số, đầy cả hư không. Lúc đó mọi người mới thấy rõ ràng cái thân bảy thước của thầy mình chẳng qua chỉ là một phần nhỏ của thầy. Thầy mình vĩ đại hơn nhiều. Chúng ta chỉ mới thấy được cái con người nhỏ bé đang ngồi đó là thầy mình, không ai biết được rằng thầy mình đang có mặt khắp mười phương các cõi. Lúc đó mọi người mới thấy được tầm cỡ vĩ đại của thầy mình. Cái hình hài của thầy mình đang ngồi đây chỉ là một trong vô số hóa thân của người. Trong bài kệ cúng ngọ có câu:

Cúng dường

Thanh tịnh pháp thân Tỳ Lô Giá Na Phật

Viên mãn báo thân Lô Xá Na Phật

Thiên bách ức hóa thân Thích Ca Mâu Ni Phật

Thích Ca Mâu Ni không phải là một mà là ngàn trăm ức (thiên bách ức). Ý niệm về hóa thân rất rõ. Ta tôn sùng thầy, ta thấy nếu thầy là một con người thì chưa phải là thầy ta vì con người nhỏ bé quá, con người chỉ là một hóa thân thôi. Lâu nay ta tưởng thầy ta chỉ là một hóa thân thôi, ai ngờ thầy ta vĩ đại hơn nhiều. Từ đó ta có khuynh hướng đi tìm thầy trong tầm cỡ lớn hơn, trong hình thái gọi là báo thân và Phật thân.

  • Báo thân

Báo thân là sambhoga-kāya. Nếu đức Thế Tôn đã trải qua muôn vạn kiếp tu tập và giáo hóa, nếu công đức và trí tuệ của Ngài là vô lượng thì thân của Ngài đâu thể nào chỉ là cái thân bảy thước nho nhỏ của con người? Kết quả của sự tu học, sự hành trì, sự cứu độ của bao nhiêu triệu kiếp phải vĩ đại hơn là cái thân bảy thước của con người rất nhiều. Vì thế người ta đi tìm, người ta tưởng tượng ra cái locanabuddha tức viên mãn báo thân. Ta chỉ thấy được báo thân khi đi vào định hay khi tưởng tượng. Bao nhiêu công đức, bấy nhiêu trí tuệ mà quả báo chỉ là một thân người bé nhỏ thôi thì vô lý, cho nên ta buông bỏ cái thân chúng sinh của Bụt để đi tìm báo thân của Bụt. Báo thân đó phải có ít nhất 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp và nó rạng rỡ, cao lớn vô cùng.

Báo thân là thân quả báo. Quả báo của trí tuệ, của công đức, của độ sinh. Từ bi lớn bao nhiêu thì báo thân phải lớn và đẹp bấy nhiêu. Báo thân, tiếng Anh là enjoyment body, hay retribution body. Công đức tu hành của Bụt là vô lượng cho nên báo thân, quả vị của sự tu tập của Ngài là vĩ đại.

Nếu bây giờ chúng ta quan niệm có một vị Bụt ở trên trời (celestial Buddha) thì quan niệm đó đã phát sinh từ quan niệm báo thân. Ta bỏ thân chúng sinh của Bụt để đi tìm báo thân rất lớn nhưng cũng dưới hình thức con người của Ngài. Báo thân đó cũng chỉ là một thân thôi, thân thật của Bụt là pháp thân.

  • Pháp thân

Thân thật của Bụt là pháp thân. Ý niệm về pháp thân phát sinh từ ý niệm “ngũ phần pháp thân” nhưng nó không còn ý nghĩa của giáo hóa thân (teaching body) nữa mà nó là bản chất của vũ trụ, bản chất của Bụt, tức là thanh tịnh pháp thân. Đó là Tỳ Lô Giá Na (Vairocana).

Trong Phật giáo Đại thừa chúng ta có rất nhiều thi ca để ca ngợi pháp thân. Tất cả những mầu nhiệm của sự sống như hoa vàng, trúc tím, trăng trong, mây bạc,… đều là những biểu hiện của pháp thân. Ta có thể tiếp xúc được với pháp thân bất diệt của Bụt. Pháp thân đó không hẳn phải mang hình thái của con người, nó có thể mang hình thái của bạch vân, minh nguyệt, của chim hót, thông reo, hoa nở. Trời xanh, mây trắng đều là những biểu hiện của pháp thân (Dharmakāya). Chữ Dharma ở đây không có nghĩa là teaching nữa mà là cosmos. Đó mới chính là Phật, Phật của tự tánh, của bản môn.

Cái đẹp, cái hay đó được hun đúc vào trong hình thái báo thân rất vĩ đại mà chỉ có con mắt của những người chứng đạo, những người có duyên thì mới thấy được báo thân. Phần lớn chúng ta chỉ có thể thấy được hóa thân của Bụt. Thích Ca Mâu Ni chỉ là con người nhưng Bụt là cái gì hơn con người. Đó là khuynh hướng của Đại thừa, muốn lý tưởng hóa, muốn thầy mình là cái đẹp nhất, cái vĩ đại nhất, cái hay nhất. Có khi chúng ta đi tới gần quan niệm cho rằng thầy mình là Thượng đế, Bụt là Thượng đế, là bản thể của vũ trụ vạn hữu. Mật tông đã đi tới gần quan niệm đó, quan niệm về Tỳ Lô Giá Na (Vairocana). Trong khi đó thì, như ta đã biết, lúc ban đầu pháp thân chỉ có nghĩa là giáo lý, giáo lý được dạy bằng lời hoặc bằng đời sống.

Phật thân: Bụt trước hết là một con người

Khi còn thực tập như một sa di, tôi đã được học và ghi nhớ về quan niệm ba thân của Bụt. Mãi đến ba bốn chục năm sau, nhờ sự thực tập, nghiên cứu và học hỏi, tôi mới khám phá ra được: Trước hết Bụt là một con người.

Nếu đánh mất hình ảnh Bụt là một con người thì ta đánh mất rất nhiều. Ta đã học trong buổi pháp thoại trước: Bụt là Bụt, nhưng Bụt vẫn là người. Quan niệm này cũng có ngay trong Kitô giáo. Trong Phúc Âm có nói rất rõ: Chúa Kitô là con của Thượng đế mà cũng là con của con người. (He is the son of God but he is also the son of man). Đó là điều tôi thích nhất trong Thánh Kinh. Muốn tìm con của Thượng đế ta phải đi tìm nơi con người. Câu này đi một cách tuyệt hảo với câu: Sinh Phật bất nhị. Phật và chúng sinh không phải là hai cái khác nhau, rời cái này thì không có cái kia.

  1. Chúng sinh thân

Bụt có nhiều thân, trước hết là chúng sinh thân hay nhân thân. Bụt trước hết là một con người. Nếu giảng dạy cho người trẻ ở Tây phương hay Đông phương thời nay, điều đầu tiên quý vị phải nói với người trẻ là: Bụt trước hết là một con người. (He is a human being.) Ta phải cho Bụt làm một chúng sinh. Là một chúng sinh nhưng nhờ tu tập nên ta thành Phật. Nếu Bụt không là một chúng sinh thì ta còn có cơ hội gì nữa đâu? Vì vậy câu “Bụt trước hết là một con người” rất quan trọng. Nhờ quý vị nói như vậy nên người ta mới có hy vọng, có niềm tin là họ cũng có thể làm được như Bụt. Nếu không, người ta sẽ nghĩ: Mình suốt đời chỉ lạy, chỉ quỳ để xin xỏ thôi. Như vậy rất trái với giáo lý của Bụt.

Vì vậy trước hết ta phải cho người ta thấy Bụt cũng là một con người. Thân đầu của Bụt là chúng sinh thân, nhân thân (human body). Nhìn vào Cơ đốc giáo, ta thấy Cơ đốc giáo có một nền tảng để đi tới: Kitô là con của Thượng đế, nhưng cũng là con của con người. Muốn đi tìm Thượng đế ta phải tìm nơi con người, rời con người để đi tìm Thượng đế thì ta sẽ không thành công. Kitô nằm ngay đó nhưng ta không thấy tại vì ta nghĩ Kitô ở chỗ khác ngoài con người.

Từ sau khi thấy đạo rồi, tôi bắt đầu hành trì và giảng dạy theo tuệ giác đó. Cuốn “Đường xưa mây trắng” là một chứng tích của sự thật đó. “Đường xưa mây trắng” là một nỗ lực giúp người ta thấy rằng Bụt trước hết là một con người. Đó là một niềm tin, một niềm hy vọng rất lớn mà ta có thể hiến tặng cho con người. Nếu không thì ta mãi mãi chỉ là những tín đồ, những người thờ phụng suốt đời và sự thực tập của ta chỉ là sự cầu xin, tín ngưỡng (devotion) mà thôi.

Trong kinh điển của đức Thế Tôn cũng như trong lời dạy của các tổ sư, quan niệm “sinh Phật bất nhị” rất rõ. Ta đừng đi tìm Bụt ở đâu khác ngoài con người, ta phải tìm thân Phật ngay trong thân chúng sinh.

  1. Tăng thân

Thân thứ hai của Bụt theo tuệ giác của chúng ta là tăng thân. Điều này rất cụ thể. Suốt đời Bụt chỉ vun đắp một sự nghiệp. Ngài biết pháp thân của Ngài không trường cửu được nếu không có tăng thân. Tăng thân là một cái gì cụ thể để chuyên chở pháp thân cho nên Ngài đã để hết tâm huyết xây dựng tăng thân. Vua Ba Tư Nặc đã từng nói: “Bạch đức Thế Tôn, mỗi khi thấy tăng thân của Ngài là con thấy Ngài.”

Tăng thân cũng là thân của Bụt. Tăng thân được làm bằng những con người, nhìn vào tăng thân ta thấy pháp thân và Phật thân. Ta đi tìm Bụt ở đâu? Cõi trời thứ ba mươi mấy hay Tây phương Cực Lạc thế giới? Muốn tìm Bụt dễ nhất là tìm nơi tăng thân vì khi tăng đích thực là tăng thì tăng chuyên chở Pháp và chuyên chở Bụt. Đó là Tam bảo. Chân tăng chuyên chở chân Phật và chân pháp. Sự hướng dẫn rất rõ ràng: Muốn tìm Phật, tìm pháp thì tới tăng. Quy y tăng cũng là quy y Phật và quy y pháp.

Một vị Bụt mà không có tăng thì cũng không làm được gì nhiều vì tăng là công trình của Bụt, là tác phẩm của Bụt. Đức Thế Tôn đã để ra bao nhiêu công sức, bao nhiêu thời gian, bao nhiêu tâm huyết để dựng tăng. Muốn cho Bụt, cho pháp trường tồn thì ta phải tiếp nối công trình dựng tăng ấy của Ngài.

  1. Thừa kế thân

Thừa kế thân là thân tiếp nối, tiếng Anh có thể dịch là continuation body. Bụt không phải chấm dứt ở Kusinara, giữa hai cây sala song thọ. Bụt vẫn còn tiếp tục, không có gì mất đi. Đám mây còn không mất đi thì tại sao Bụt lại mất đi được? Đám mây không thể từ có mà trở thành không, nó chỉ trở thành mưa, thành tuyết, thành nước đá. Bụt cũng vậy, Bụt không thể nào từ có mà trở thành không. Ta phải tìm sự tiếp nối của Bụt. Ta tìm ở đâu? Phải có con mắt tuệ thì ta mới tìm ra được.

Bụt không phải không có, ngay trong đời mạt pháp này nếu có mắt tinh đời, ta có thể tìm thấy Bụt nơi tăng, nơi những người không gọi là tăng nhưng có năm phần của pháp thân trong họ, đó là: giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến. Bụt có thể được nhận diện trong tăng đoàn, trong tứ chúng, trong ba tạng kinh điển, trong văn học, nghệ thuật và nếp sống tu học hành trì của tứ chúng.

Chúng ta đừng nên than phiền là ta sinh ra trễ quá, Bụt đã nhập diệt rồi. Bụt vẫn còn đó trong thừa kế thân của Ngài và nếu nhìn bằng con mắt tuệ giác, chúng ta vẫn có thể tiếp xúc được với năm phần (ngũ phần pháp thân) của Bụt.

  1. Thân ngoại thân

Bụt có thân ngoại thân, tức cái thân ở ngoài thân. Ta tưởng Siddharta là Bụt với từng đó xương thịt, từng đó máu huyết, từng đó cảm thọ. Nhưng sự thật không như vậy, tầm cỡ của Bụt rất lớn, ta phải thấy được Bụt ngoài cái tướng mà ta đã quen.

Trong kinh Pháp Hoa, khi Bụt gọi tất cả những hóa thân của Ngài về để có điều kiện mở cửa tháp thì người ta thấy rõ ràng là vị thầy ngồi trên núi Linh Thứu dạy mình lâu nay chỉ là một phần của thầy mình. Ngoài thân này, thầy mình còn có mặt dưới nhiều thân khác, gọi là thân ngoại thân. Trong ý niệm thân ngoại thân đã có hóa thân.

Thầy Nhất Hạnh không phải chỉ là cái thân 51 ký này. Trong nhà tù có thể có những tù nhân đang ngồi thiền, đang thiền hành, đang mỉm cười. Đó cũng là thân của thầy Nhất Hạnh, vì họ đã đọc sách của thầy, họ đang thực tập và tiếp nối thầy. Đó là thân ngoại thân. Cũng như cha và con, khi cha nhìn con với con mắt của Bụt thì sẽ thấy con mình cũng là mình. Mình là cha, nhưng mình cũng là con. Nhìn như vậy thì thấy được thân ngoại thân của cha. Con nhìn cha mà thấy được mình trong cha thì con thấy được thân ngoại thân của con. Nhìn con cái mình thấy mình, nhìn cháu nội mình thấy mình là mình bắt đầu thấy được thân của mình ngoài cái thân này (body outside of this body).

Bụt có thừa kế thân và thân ngoại thân. Ta đang có rất nhiều cơ hội để tìm ra Bụt, thực tập với Bụt, để ngồi uống trà và đi chơi với Bụt.

Với ý niệm “Kitô là con của con người”, Cơ đốc giáo có thể đi được rất xa. Chúng ta đã từng học: Bụt là Bụt nhưng Bụt cũng là người. “Bụt là người” là một chuyện rất mầu nhiệm, đem lại cho chúng ta biết bao nhiêu hy vọng và niềm tin. “Bụt là người” có nghĩa như thế nào? Có nghĩa là Bụt cũng biết đói bụng, Bụt cũng bị đau nhức, thỉnh thoảng Bụt cũng bị cúm. Khi đói thì Bụt biết đói, khi nhức thì Bụt biết nhức và khi còn trẻ (35, 40, 50 tuổi) Bụt cũng có năng lượng của tình dục như con người vì Bụt là người. Nếu không có những thứ đó thì tu để làm gì và làm sao tu được? Nhờ có giới thân, định thân, tuệ thân nên những thứ đó không làm Ngài đau khổ.

Quan niệm này sẽ không được mọi người chấp nhận dễ dàng, nhất là những Phật tử bảo thủ. Họ có thể cho rằng nói vậy là xúc phạm đến Bụt, là nhục mạ Bụt. Ta thương họ và hiểu được rằng sở dĩ họ nghĩ như vậy là do họ đã được giáo dục theo một lối khác, họ đóng kín cái biết của mình nên không chấp nhận được một cái thấy nào khác. Ta chỉ nên cầu nguyện cho những vị đó. Đó là thái độ của người con Phật: Khi có người chọc ghẹo Bụt hoặc nói xấu đức Thế Tôn thì mình phải cầu nguyện cho họ chứ mình không nên tới phóng hỏa đốt đền chùa của họ, đốt nhà thờ của họ.

Có người nghĩ đức Thế Tôn được sinh ra phía bên hông trái của Mẹ. Mình nói điều đó không đúng, đức Thế Tôn cũng sinh ra theo lối thường như chúng ta vậy. Nhưng người ta không chấp nhận điều đó, người ta nói đức Thế Tôn khi sinh ta thì đi được ngay bảy bước, một tay chỉ lên trời và một tay chỉ xuống đất nói: “Tôi là number one!”. Nếu mình không chấp nhận như vậy thì người ta có thể tới đánh mình, phá mình, đốt chùa của mình. Với tinh thần bao dung, các tông phái đạo Bụt đã cùng lúc có mặt, hỗ trợ nhau mà không xung khắc nhau để phải xảy ra những cuộc chiến tranh. May thay!

Định đề 22 nói về Phật thân. Chúng ta đã học về năm thân của Bụt. Nhưng năm thân đó cũng là một cách đếm tạm, ta có thể nói sáu hay bảy thân, trong đó điểm đặc thù nhất là chúng sinh thân. Chúng sinh thân rõ ràng hơn báo thân hay hóa thân. Chúng ta đã học rằng Bụt trước hết là một con người và chính với thân người mà ta thành Bụt.

Trong thuyết ba thân có pháp thân, báo thân và ứng thân, nhưng trong thuyết năm thân thì thân đầu tiên mà chúng ta nhắc tới là thân người. Không có thân người thì ta không thể thành Bụt. Chính vì mang thân người nên ta gặp những điều kiện, những thử thách của một con người và nhờ đó mà ta có thể vượt thắng được để thành Bụt. Điều đặc sắc của định đề 22 là khi nói đến các thân của Bụt thì ta nói đến thân người đầu tiên. Bụt phải có chúng sinh thân. Chúng sinh thân có những điểm ưu thắng và những điểm bất lợi. Đứng về phương diện sinh lý, con người có bộ óc và so với những loài khác thì bộ óc của con người phát triển đến mức rất cao. Từ khi con người đứng thẳng dậy và sử dụng hai bàn tay để làm việc chứ không phải để leo trèo như con khỉ thì bộ óc con người phát triển rất nhanh. Nhất là con người có khả năng biết được cái gì đang xảy ra (niệm) và biết được thân phận của mình. Có những con thú khá thông minh như con chó hay con ngựa. Nhiều con có thể làm toán được như con khỉ chẳng hạn, nhưng những con thú đó chưa biết được thân phận của chúng. Chúng sống bằng bản năng nhiều hơn là bằng ý thức.

Con người có những điều kiện sinh lý và tâm lý, những điều kiện này đặt ra như những thách đố để con người có thể vượt thắng và chuyển hóa. Khi đã vượt thắng và chuyển hóa được chúng thì con người thành Bụt. Vì vậy chúng sinh thân rất quan trọng! Con người biết đói, biết khát, biết buồn, biết vui. Con người có những chất hóa học, những chất dẫn truyền thần kinh và sự vui, buồn, giận, ghét của con người phụ thuộc vào những chất hóa học đó. Phải đối diện với những hoàn cảnh như bạo động, chia rẽ, hận thù, oan ức nên con người có cơ hội để quán chiếu, để vượt thắng, để chuyển hóa và do đó con người mới có thể thành Bụt.

Ôn lại cuộc đời của đức Thế Tôn, chúng ta thấy Ngài cũng đã từng lâm vào những trạng huống mà chúng ta thường lâm vào. Đức Thế Tôn cũng bị ganh ghét, bị âm mưu sát hại, loại trừ. Đức Thế Tôn cũng đã phải đối diện với cái bệnh, cái chết, cái vui, cái buồn, đối diện với những năng lượng tiêu cực trong con người mình. Đức Thế Tôn cũng có năng lượng của cái giận, cái buồn, của sự tuyệt vọng, cũng có năng lượng của sinh lý. Ý niệm người trong hóa thân không rõ ràng, vì vậy khi đề cập tới các thân của Bụt ta phải nói tới nhân thân (thân người) của Ngài.

Học nhiều về tăng thân, chúng ta biết nếu không có tăng thân thì sự nghiệp hoằng pháp của Bụt cũng không đi xa được. Tăng thân là một tác phẩm của Bụt, chính nhờ tăng thân mà Bụt có thể thực hiện được sự nghiệp của mình. Tăng cũng là thân của Bụt. Khi gặp Bụt, vua Ba Tư Nặc có ca ngợi tăng thân: “Mỗi lần con thấy tăng thân thì con có niềm tin nơi Ngài”. Trong khi đó từ xưa đến nay trong quan niệm “tam thân” chưa có tăng thân mà chỉ có pháp thân, báo thân và ứng thân.

Thừa kế thân là sự tiếp nối của Bụt. Bụt có sự tiếp nối, cũng như con người, như đám mây, như bông hoa. Đám mây được tiếp nối bằng tuyết, bằng mưa, bằng nước đá, bằng dòng sông. Bông hoa được tiếp nối bằng trái, bằng hạt, bằng hương, bằng sắc. Không có gì mất đi và vì vậy chắc chắn là Bụt có thừa kế thân. Chúng ta cũng có thừa kế thân, ta phải nhận diện được thừa kế thân đó. Chúng ta cũng là thừa kế thân của Bụt, ta là sự nối tiếp của Bụt, đó là đứng về phương diện thời gian. Đứng về phương diện không gian thì ta có thân ngoại thân. Thân ngoại thân là thân ở ngoài thân. Ta thấy thân của ta không phải chỉ ở trong da thịt này mà thôi, nó còn ở ngoài da thịt này. Khi có con mắt sáng, khi có tình thương lớn thì ta thấy rõ ràng người kia cũng là ta. Người ta thương là ta và khi người đó đau thì ta cũng đau, người đó nhức thì ta cũng nhức. Người đó là thân ngoại thân của ta. Người đó chết là ta cũng chết.

Trong trận hải chấn xảy ra năm 2004 bao nhiêu nhà thần học đã được đặt câu hỏi: “Tại sao Thượng đế lại để cho chuyện đó xảy ra? Thượng đế tạo ra con người làm gì mà để cho con người chịu thảm họa lớn lao như vậy?”. Có rất nhiều câu trả lời cho rằng sở dĩ trận hải chấn xảy ra là do Thượng đế muốn như vậy. Nếu Thượng đế không muốn thì làm sao nó xảy ra được? Nhưng tại sao Thượng đế muốn nó xảy ra trong khi Thượng đế là bậc nhân từ? Các nhà thần học bí lối, tìm đủ cách để giải thích. Hans Küng, một nhà thần học rất nổi tiếng người Đức nói: “Câu trả lời duy nhất tôi có thể cống hiến cho quý vị là sự im lặng”.

Tại Làng Mai, chúng ta đã cầu siêu, ngồi thiền, quán chiếu và đã tìm được câu trả lời. Trong bài “Ôm lấy niềm đau sau trận hải chấn” chúng ta thấy rằng những nạn nhân chết trong trận hải chấn tức là ta chết, thân của họ là thân của ta. Khi họ chết thì ta đau xót, ta thấy như là ta cũng chết. Đó là tuệ giác về thân ngoại thân. Nhưng đồng thời ta cũng thấy rằng thân của ta cũng là thân của họ. Vì họ chết nên ta cũng chết theo, và vì ta đang còn sống cho nên họ vẫn đang còn sống. Ta phải sống cho họ, sống cho sâu sắc, sống cho xứng đáng. Thấy được như vậy thì ta biết rất rõ thân ngoại thân là một cái gì có thật. Khi người ta thương như cha ta, mẹ ta, anh ta, em ta hay người yêu của ta chết thì ta có cảm tưởng là ta chết, họ khốn đốn thì ta khốn đốn. Người đó là thân của ta, thân ngoại thân. Chỉ khi nào ta bị bít lấp trong ý niệm về một cái ngã nhỏ nhoi, hạn hẹp, không có trí tuệ, không có tình thương thì ta mới không thấy được sự thật đó. Khi trí tuệ và tình thương bắt đầu mở ra thì ta thấy thân này không phải chỉ được giới hạn trong một lớp da, thân này có mặt ngoài cả lớp da đó. Vì vậy chúng ta có tuệ giác “lá lành đùm lá rách”.

Thừa kế thân thuộc về thời gian, thân ngoại thân thuộc về không gian. Ta có ở đây nhưng ta cũng có ở kia. Ta đang hành đạo ở nước Pháp nhưng ta cũng đang hành đạo ở Việt Nam. Tại Việt Nam, ta có thân ngoại thân của ta đang hướng dẫn, dạy dỗ và thực tập. Ta có thể có mặt một lần (đồng thời) trong ba cõi. Không phải chỉ khi nào thành một vị toàn giác như đức Như Lai hay một vị Bồ tát lớn thì ta mới có thể có mặt đồng thời trong ba cõi. Chính ngay bây giờ, nếu có chút trí tuệ, có chút tình thương thì ta có thể có mặt bên này và ta cũng có mặt bên kia. Đó là thân ngoại thân.

  1. Pháp giới thân

Pháp giới thân khác với pháp thân. Pháp giới là the realm of dharmas, giới là the realm (domaine). Trong các pháp có tâm pháp, tâm sở pháp, sắc pháp, vô vi pháp, tâm bất tương ưng pháp. Có nhiều loại pháp và tất cả các pháp được gọi là pháp giới. Pháp giới là nền tảng của ta. Nhìn vào thân ta, ta thấy có đất, có nước, có hơi nóng, có gió tới từ pháp giới. Và ta cũng thấy có tình thương, có trí tuệ, có học vấn. Tình thương, trí tuệ, học vấn đó tới từ pháp giới. Con người ta chứa đựng pháp giới, trong con người có đủ cả pháp giới. Cũng như khi nhìn một bông hoa, ta thấy trong bông hoa đó có mặt trời, có đám mây, có dòng sông, có đại địa. Nhìn vào một bông hoa ta thấy được pháp giới thân. Pháp giới và vũ trụ tới với nhau, cộng tác với nhau để làm biểu hiện ra bông hoa, vì vậy bông hoa là một pháp. Thân của bông hoa là hoa thân nhưng hoa thân cũng có pháp giới thân, tại vì bông hoa chứa đựng toàn thể vũ trụ, toàn thể pháp giới. Pháp giới là nền tảng của ta cho nên sự tan rã của hình hài này, sự tan rã của nhân thân không có nghĩa là sự tan rã của pháp giới thân. Pháp giới thân còn đó thì còn sự hình thành của những thân người khác, những thân hoa khác.

Hồi nhỏ chúng ta hay chơi kính vạn hoa (kaleidoscope). Mỗi động tác của ngón tay làm cho một hình ảnh đẹp tan biến đi để nhường chỗ cho một hình ảnh đẹp khác. Tuy rằng hình ảnh này tiếp tục hình ảnh khác rất đẹp, nhưng bất cứ hình ảnh nào cũng căn cứ trên những mảnh màu nằm trong ống kính. Không có gì mất đi cả! Những mảnh màu đó là nền tảng của tất cả những hình ảnh đẹp ta thấy được trong ống kính. Mỗi khi một hình ảnh tan biến để nhường chỗ cho một hình ảnh khác thì ta không đau buồn, không tiếc nuối. Không có hình ảnh này thì sẽ có hình ảnh khác.

Ta cũng vậy, ta là một biểu hiện nhiệm mầu của pháp giới thân. Khi không biểu hiện như thế này thì ta sẽ biểu hiện như thế khác. Tại sao ta phải lo lắng, sợ hãi, ta sợ mất ta? Pháp giới thân là nền tảng của thân người, của thân Phật, của thân mây, của thân hoa, của thân cây.

Pháp giới (dharmadhātu) là lĩnh vực của các pháp. Lĩnh vực đó rất rộng, các pháp biểu hiện ra bằng nhiều cách. Bông hoa là một pháp, dòng sông là một pháp, đám mây là một pháp, biển cả là một pháp, ta thấy tất cả ở trong ta. Trong bài thơ “Uyên nguyên” có câu:

Himalaya là dãy núi nào?

trong tôi có một ngọn hùng phong đỉnh vươn cao trời mây khói

Sông Cửu Long chảy nơi đâu?

trong tôi có một trường giang cuồn cuộn, không biết đã bắt đầu tự chốn thâm sơn nào

Trong ta có núi. Trong ta cũng có sông.

Trong triết học Đông phương có câu: Nhân thân tiểu thiên địa, nghĩa là thân người là vũ trụ, là trời đất thu nhỏ lại. Thiên địa là nền tảng của những tiểu thiên địa. Tiểu thiên địa không mất, tiểu thiên địa chỉ biến hóa như tất cả các pháp khác. Các pháp có sinh có diệt, có biến hoại nhưng các pháp nương nhau mà có, và chúng đều có chung một nền tảng. Cũng như những đợt sóng, những đợt sóng có lên có xuống, có cao có thấp, đợt sóng có thể hùng mạnh hay mong manh nhưng đợt sóng dựa trên đại dương. Đợt sóng này được các đợt sóng khác xúm lại đưa lên, nhưng khi thấy nền tảng của mình là đại dương thì đợt sóng không còn sợ hãi. Thấy được pháp giới thân rất quan trọng, thấy được pháp giới thân thì ta không còn sợ hãi nữa. Bụt có pháp giới thân, ta cũng có pháp giới thân.

 

  1. Pháp giới tánh thân

Đứng về phương diện hiện tượng ta thấy các pháp trong pháp giới có sinh có diệt, có thành có hoại, có có có không. Nhưng nhìn sâu thì những sinh diệt, thành hoại, có không đó là do nhận thức của ta mà ra. Bản chất của các pháp là không sinh không diệt, không thành không hoại, không cao không thấp. Đó gọi là pháp giới tánh. Tánh là bản thể (true nature). Đứng về phương diện hiện tượng thì nói là pháp giới (phénomène), còn đứng về phương diện bản thể thì nói là pháp giới tánh (noumène).

Bụt có pháp giới tánh thân, ta có pháp giới tánh thân, bông hoa cũng có pháp giới tánh thân và đám mây cũng có pháp giới tánh thân. Đó là Niết bàn, là tự tánh của không sinh không diệt, không có không không của vạn hữu. Nhân thân thì mong manh, dễ vỡ; nhưng cái mong manh, dễ vỡ đó dựa trên một nền tảng không sinh không diệt rất vững chãi. Đó là pháp giới tánh thân. Tu tập là để thấy được đợt sóng là đại dương, thấy được mình là pháp giới thân. Định đề 22 cũng phát xuất từ giáo lý “sinh Phật bất nhị”, chúng sinh và Phật không thể tách rời được. Ta đi tìm Phật ở đâu? Biết bao người đang đi tìm Phật mà phần lớn đều đi tìm ở ngoài chúng sinh. Đó là một sai lầm căn bản. Muốn tìm Phật thì phải tìm nơi chúng sinh, tức là phải qua thân người, ta mới thấy được thân Phật. Thân người ở đâu cũng có, nhìn vào thân người cho sâu thì ta thấy rõ bảy thân khác: chúng sinh thân, tăng thân, thừa kế thân, pháp thân, thân ngoại thân, pháp giới thân và pháp giới tánh thân.

Chư pháp tùng duyên sinh

Trong Tạp A Hàm và trong Tương Ưng Bộ có kinh tên là kinh Tỳ Bà. Tỳ bà (cithare) là một loại nhạc cụ mà khi vào tay một nhạc sĩ có tài thì phát ra một âm thanh rất vi diệu làm rung động lòng người. Có một ông vua muốn biết nguồn gốc âm thanh đó từ đâu ra, ra lệnh đem cây đàn tỳ bà đến gần cho vua quan sát, ngắm nghía để xem cái âm thanh vi diệu kia phát ra từ đâu, nó núp ở đâu trong cây đàn tỳ bà, nó núp ở sợi dây hay ở cái trống.

Hồi ba tuổi, tôi được nghe cải lương từ một máy hát. Hồi đó chưa có radio, chưa có video cassette; tôi rất ngạc nhiên không hiểu tại sao trong đó lại có tiếng người, tiếng đàn ông đàn bà cười, nói, hát, than thở. Trong đầu em bé ba tuổi nghĩ chắc là có người đang có mặt ở trong cái hộp vuông đó, hai ba người nho nhỏ núp trong đó nói ra. Nếu không thì tại sao nghe có tiếng nói, tiếng hát rõ ràng, giọng lại rất trong, rất hay như vậy? Có lẽ ông vua cũng ở trong tâm trạng đó. Nghe tiếng tỳ bà vi diệu như vậy, ông muốn biết ở trong cây đàn đó có gì.

Ông vua giống như một đứa con nít, muốn khám phá ra cái lõi, cái nguồn gốc của âm thanh vi diệu đó. Ông tháo cây đàn ra từng mảnh và quán sát cả ngày mà không tìm được gì cả. Cũng như chú bé ba tuổi đã tưởng có ba, bốn người núp trong cái máy hát, nếu mở máy hát để tìm thì sẽ thất bại vô cùng. Ông vua cũng đã thất bại. Trong khi đó tiếng đàn vi diệu làm cảm động lòng người kia là có thật, không phải là ảo tưởng hay là một giấc mơ. Tiếng hát kia là có thật, ta nghe rõ ràng chứ không phải là ảo tưởng.

Đức Thế Tôn cũng vậy và ta cũng vậy. Nếu ta phân tích, chẻ năm uẩn, lột trần năm uẩn ra thì cũng không tìm thấy một cái ngã, một cái ta, cái ta nói, cười, hát đó. Nhưng vẫn có nói, có cười, có múa, có hát, chỉ không có cái ta mà thôi.

Sau khi kể xong câu chuyện, Bụt nói: Cái mà quý vị gọi là cái ta (I am) đó là một vọng tưởng. Bụt không có cái ngã và ta không có cái ngã, nhưng điều đó không có nghĩa là Bụt không có và ta không có đó. Bụt là một bản nhạc rất tuyệt vời, đã có mặt và vang vọng trong thế giới. Bản nhạc đó đã ghi lại những ấn tượng đẹp trong lòng người, đã tồn tại, đang tồn tại và sẽ được kéo dài trong tương lai.

Đàm hoa lạc khứ hữu dư hương là một câu vế đối ở chùa tổ, nó có nghĩa là hoa ưu đàm tuy đã rụng nhưng hương hoa vẫn còn thơm mãi mãi. Sự tiếp nối đó gọi là thừa kế thân. Không thể nói là Bụt không có, Bụt có và Bụt được tiếp tục, nhưng nếu đi tìm trong đó một cái ngã thì không có.

Giáo lý của đạo Bụt tìm đủ mọi cách để cho chúng ta thấy rằng cái mà ta gọi là “I am” không có thật. Tuy không có cái ngã nhưng vẫn có sự mầu nhiệm của bảy thân. Đây không phải là một triết lý. Descartes đã nói: “Je pense donc je suis” – Tôi suy nghĩ nên rõ ràng là có tôi. Đó là lý luận theo toán học, có sự suy nghĩ tức là phải có người để suy nghĩ. Nhưng sự thật thì không cần phải có một chủ thể suy nghĩ mới có sự suy nghĩ (thought without thinker), sự suy nghĩ biểu hiện ra như vậy thôi. Một tư duy, một cảm thọ, một cảm xúc biểu hiện ra như vậy thôi và chủ thể với đối tượng cùng biểu hiện ra một lần. Có người hỏi: Nếu không có cái ta thì cái gì đi luân hồi? Cái gì nhận chịu quả báo? Không cần phải có cái ta, chỉ có một sự liên tục nối tiếp cái này sau cái kia vậy thôi.

Vọng tưởng lớn nhất của con người là cái “I am”, là có cái “tôi”, có một cái ta bất biến thường hằng núp trong ngũ uẩn. Nhìn vào cái máy hát hay nhìn vào cây đàn ta thấy cây đàn được làm bằng gỗ, bằng tài của người thợ mộc, của người thợ làm đàn. Có những sợi dây đàn, có người nghệ sĩ và khi tất cả điều kiện đó tụ hội lại thì làm phát sinh ra một âm thanh rất vi diệu mà không cần phải có một cái ta mới có được.

Chư pháp tùng duyên sinh

Đạt tới vô ngã thì ta thảnh thơi vô cùng. Sở dĩ chúng ta đau khổ nhiều là tại vì vọng tưởng về cái ngã. Trong ngôn ngữ sử dụng hàng ngày ta không thoát ra được “I am”, “you are”. Trong tiếng Việt ta nói: Đi chơi không? Ta không cần dùng “I” hay “you”.

Điều này có liên hệ tới sự thực tập. Khi lên đứng tụng kinh thì ta phải thấy là không có cái ngã, ta không nên nghĩ tại sao ta phải đứng phía trước mà không đứng phía sau cho khỏe. Đứng phía trước thì ai cũng thấy, hôm qua ta ngủ không được, nếu đứng trước thì ai cũng thấy hai con mắt ta đang mỏi. Ta đang kẹt vào cái ta.

Với nhiệt độ 1°C thì nước vẫn là nước. Những phân tử nước lưu chuyển như những nguyên tử đơn độc, riêng rẽ. Nhưng khi nhiệt độ xuống tới 0°C thì có sự chuyển đổi lớn, một trật tự mới được sinh ra: Tất cả các phân tử nước giao hòa với nhau để biến thành băng và không còn có những phân tử nước riêng rẽ nữa. Một phân tử nước trở thành tất cả phân tử nước. Cái một trở thành cái tất cả và cái tất cả trở thành cái một. Đó gọi là phù hợp pha (enter to a phase). Có một trật tự mới, trong đó mỗi phân tử nước trở thành toàn thể nước đá, các phân tử hòa hợp nhau, chúng không hành xử một cách riêng rẽ nữa.

Thực tập vô ngã

Tụng kinh là một pháp môn, tụng kinh không phải để cầu xin được mạnh khỏe, được thi đậu hay buôn bán phát tài. Trong đạo Phật ta tụng kinh không phải để cầu nguyện mà để thấy được cái gọi là “I am” không còn nữa. Đứng chắp tay tụng kinh là một sự thực tập rất sâu sắc. Ta đứng ở trên chắp tay nhìn xuống và các vị ở dưới chắp tay nhìn lên, tất cả đều tham dự vào cùng một pha, không còn người xướng tụng và cũng không còn người nghe tụng. Người xướng là người nghe, người nghe là người xướng, không còn có cái ngã. Cũng như khi từ 1°C xuống 0°C thì tất cả phân tử nước đều hành xử như một. Lúc đó năng lượng tăng rất lớn và thấm vào từng người. Chính tuệ giác vô ngã này đã chữa lành không biết bao nhiêu là đau nhức, bệnh tật.

Lúc ngồi, người thì nghĩ chuyện này, người thì nghĩ chuyện kia. Nhưng khi nghe tiếng chuông thì mọi người đều ngưng lại, trở về hơi thở và cùng thở một nhịp. Tất cả những con người cá biệt trở thành một khối tăng thân cùng thở với nhau rất đẹp. Năng lượng tập thể đó đi vào trong từng người.

Khi làm tia laser, người ta hâm nóng những nguyên tử trong ống laser. Khi các nguyên tử bị kích thích thì những điện tử âm rời quỹ đạo của nó đi lên và phát ra những quang tử (photon). Những quang tử giao tiếp với nhau, đi vào cùng một pha và tạo ra tia laser rất mạnh. Các quang tử hành xử như một tập thể mà không như những quang tử riêng biệt. Nhà bác học Einstein có nói tới một chất tụ gọi là Bose-Einstein-condensate. Khi tới một nhiệt độ nào đó thì tất cả các nguyên tử đi vào cùng một pha và hành xử như một, không còn sự chia rẽ giữa cá thể nguyên tử này với cá thể nguyên tử kia. Trong khoa học thần kinh não bộ người ta đã bắt đầu khám phá ra rằng mỗi khi tế bào óc (neuron) được kích thích thì nó cũng đi vào pha và trao truyền tất cả những dữ kiện, những thông tin. Tất cả đều hành xử như là một chứ không như là những tế bào thần kinh riêng biệt.

Khi đi thiền hành cho đúng thì ta không còn là một cái ngã riêng biệt hay là một giọt dầu trong một bát nước mà ta trở thành tăng thân, ta trở thành dòng sông. Đi trong cái thấy vô ngã, ta hạnh phúc vô cùng. Những đau khổ, lo lắng, những riêng tư, chia cách không còn. Vì vậy trong khi đi thiền hành thì sự nuôi dưỡng và trị liệu rất lớn. Cũng như khi nghe tiếng chuông, năng lượng chánh niệm phát sinh nối kết chúng ta lại và tự nhiên từ những cá thể biệt lập ta trở thành một tập thể tăng thân.

Trong tăng thân, chúng ta chế tác ra những phương pháp thực tập như pháp môn ngồi thiền. Trong khi ngồi thiền ta không còn là những cá nhân nữa, một là tất cả và tất cả là một. Trong khi đi thiền hành, trong khi thở, trong khi tụng kinh chúng ta cũng phải thực tập như vậy mới có chiều sâu. Lên tụng kinh không phải là lên trình diễn để người ta khen mình hay chê mình. Trong khi tụng kinh, tất cả những người tụng hành xử như một, người tụng kinh với người nghe kinh không phải là hai. Dù ngồi ở dưới hay đứng ở trên thì chúng ta cũng đang tham dự, cũng đi vào pha và cũng thấy được sự bất khả phân ly. Đây thuộc về phạm vi của pháp giới tánh. Khi đi vào được kinh nghiệm đó rồi thì những mặc cảm như thua người, hơn người hay bằng người không còn và ta sẽ không đau khổ nữa.

Vô ngã không phải là một triết lý để học hỏi mà là một sự thực tập hàng ngày trong khi ngồi, trong khi nghe chuông, trong khi đi thiền hành, trong khi lên tụng kinh. Vì vậy hôm trước tôi có đề nghị rằng: Trước khi đi thiền hành, mỗi xóm nên để một vị giáo thọ hay một vị tập sự giáo thọ nhắc nhở khoảng ba phút cho ta nhớ phải đi như thế nào để đạt tới hạnh phúc lớn nhất của sự thực tập thiền hành. Ta không đi cho có đi, ta đi như thế nào để có hạnh phúc, đi như thế nào để có thể chạm tới tính vô ngã, tới pháp giới tánh thân của mình. Đi như vậy mới sâu, chứ đi cho có hình thức thì hơi uổng. Khi tụng kinh, ta tụng như thế nào để không còn cái ngã mà ta là tất cả. Quý vị đã có kinh nghiệm khi nghe chuông. Tiếng chuông là một sự kích thích, cũng giống như khi làm tia laser thì người ta phải kích thích các nguyên tử trong ống laser. Khi được kích thích, các điện tử xoay quanh hạt nhân rời bỏ quỹ đạo của chúng và bắt đầu nhả ra những hạt ánh sáng. Những hạt ánh sáng này đi vào pha và tạo thành ra cái một. Trong chất tụ Bose-Einstein tất cả các nguyên tử hành xử như một nguyên tử, trong đó không còn khung cảnh của thời gian và không gian riêng nữa.

Vì vậy tôi đề nghị rằng chúng ta đừng nên làm theo kiểu hình thức mà uổng. Lên tụng kinh trước khi có pháp thoại là một cơ hội rất lớn để thực tập vô ngã. Người tụng và người nghe tụng như nhau. Năng tụng sở tụng tánh không tịch. Chúng ta phải có vài lời nhắc nhở trước khi bắt đầu tụng kinh, trước khi ngồi thiền, trước khi đi thiền hành hay trong khi nghe chuông. Khi nghe tiếng chuông, tự nhiên chúng ta trở thành một khối, không còn cái ngã nữa. Tôi thở cho anh, anh thở cho tôi. Em thở cho chị, chị thở cho em. Chính kinh nghiệm vô ngã đó chữa trị được sự cô đơn, những tủi hờn, tuyệt vọng của ta.

Sự thực tập có nhiều chiều, ta đừng nên chọn chiều cạn mà phải đi sâu từ từ. Khi đi ta phải đi cho tất cả tăng thân, ta phải đi cho cha, cho mẹ, cho Bụt, cho những người đang chết mỗi ngày ở Iraq. Phải đi như vậy thì ta mới thật sự thấy được thân ngoại thân, thừa kế thân của ta. Quý vị nên tổ chức như thế nào để sự thực tập của mình đừng rơi vào cái bẫy hình thức. Nếu không thì rất uổng cho cuộc đời tu học. Ta có thể làm những điều Bụt làm, ta có thể sống với tuệ giác của Bụt và của các vị hiền thánh ngay trong đời sống này.