Ông đạo và giếng nước thơm trong

(Chuyển ngữ từ cuốn sách ” At home in the World” của Sư Ông Làng Mai).

  Tôi lớn lên ở Thanh Hoá, miền Bắc Việt Nam. Một ngày nọ, thầy giáo chúng tôi thông báo là chúng tôi sẽ có một chuyến dã ngoại lên núi Na, một ngọn núi trong vùng. Thầy nói là ở trên đỉnh núi đó có một ông đạo-một người tu sống một mình và ngồi yên suốt đêm ngày để đạt được sự an tĩnh như Đức Bụt. Tôi chưa bao giờ được gặp ông đạo, nên trong lòng rất háo hức.

Một ngày trước chuyến đi, chúng tôi đã chuẩn bị thức ăn để đi đường. Chúng tôi thổi cơm, vắt lại và gói trong lá chuối, làm đậu phộng muối mè để ăn với cơm vắt. Chúng tôi cũng nấu nước để đem theo. Sáng sớm hôm sau, chúng tôi bắt đầu một cuộc hành trình dài để đến chân núi. Khi đã đến nơi, tôi và các bạn bắt đầu leo núi rất mau. Hồi đó chúng tôi chưa biết cách đi trong chánh niệm, chỉ đua nhau leo núi rất nhanh.

Khi lên tới đỉnh, mọi người ai cũng mệt nhoài, nước mang theo thì đã uống hết trên đường lên núi. Tôi nhìn quanh, kiếm ông đạo mà chẳng thấy đâu, chỉ thấy một túp lều nhỏ được làm bằng tranh và rơm. Bên trong túp lều có một cái chõng nhỏ và một cái bàn thờ làm bằng tre, nhưng tôi không nhìn thấy ông đạo ở đâu cả. Cũng có thể Người đã nghe tiếng chúng tôi đến và lánh mặt ở đâu đó để tránh đám con nít ồn ào.

Giờ cơm trưa đã đến, nhưng tôi không cảm thấy đói. Tôi rất thất vọng vì đã không gặp được ông đạo. Tôi bỏ lại đám bạn và một mình leo tiếp lên núi, với hy vọng sẽ tìm được ông. Tôi đi sâu vào trong rừng và bỗng nhiên nghe tiếng nước chảy róc rách. Tiếng nước chảy thật trong trẻo, thật êm tai. Tôi bắt đầu leo theo hướng tiếng nước chảy, một lúc sau tôi tìm thấy một cái giếng thiên nhiên, nó một cái hồ nhỏ với những tảng đá lớn nhiều màu vây quanh. Nước trong hồ rất trong, có thể nhìn thấy rõ tới đáy. Vì đang rất khát nên tôi quỳ xuống và dùng hai bàn tay bụm nước lên mà uống. Nước rất ngọt. Tôi chưa bao giờ uống thứ nước nào ngon như vậy. Tôi cảm thấy vô cùng mãn nguyện, chẳng còn muốn gì hay cần gì hơn nữa, ngay cả cái ý muốn được gặp ông đạo cũng phút chốc tan biến. Tôi có cảm tưởng như tôi đã gặp được rồi. Tôi tưởng tượng có thể ông đã tự mình biến thành cái giếng này.

Mệt nhoài nên tôi ngả mình nằm xuống đất nghỉ ngơi vài phút bên cạnh cái giếng. Đưa mắt nhìn lên tôi thấy một nhánh cây in hình trên nền trời. Nhắm mắt lại, và chẳng mấy chốc tôi đã chìm vào giấc ngủ. Tôi không biết mình đã ngủ thiếp đi trong vòng bao lâu. Khi tỉnh dậy, mới đầu tôi không nhận ra là mình đang ở đâu, rồi tôi nhìn thấy nhánh cây in trên nền trời và cái giếng kỳ diệu, sau đó tôi đã nhớ lại tất cả.

Đến lúc phải trở về với các bạn trong lớp, tôi lưu luyến chào tạm biệt cái giếng và bắt đầu đi xuống núi. Trong khi rời khỏi khu rừng ấy, sâu thẳm trong lòng tôi bỗng dưng vang lên một câu nói. Nó giống như một câu thơ vậy: “Tôi đã nếm được hương vị của thứ nước ngon nhất trên đời.”

Sau đó, tôi ngồi ăn trưa cùng với các bạn. Thấy tôi trở về, các bạn rất vui và hỏi tôi đã đi đâu nhưng tôi không muốn thổ lộ. Tôi nâng niu và muốn gìn giữ những gì mà tôi vừa trải nghiệm cho chính mình lâu hơn một chút nữa, bởi vì nó đã thật sự đã làm tôi chấn động sâu sắc. Tôi lặng lẽ ngồi ăn trưa trên cỏ. Cơm vắt chấm muối mè thật là ngon.

Mặc dù đã leo ngọn núi đó nhiều năm về trước nhưng hình ảnh cái giếng cùng tiếng nước nhỏ xuống trong sự tĩnh lặng ấy vẫn sống mãi trong lòng tôi. Có lẽ bạn cũng đã gặp được ông đạo của bạn rồi. Có thể đó là một tảng đá, một cội cây, một vì tinh tú, hay cảnh mặt trời lặn cuối ngày…

Đó là trải nghiệm tâm linh đầu tiên của tôi. Về sau, tôi trở nên bình an và tĩnh lặng hơn. Tôi cảm thấy không có nhu cầu muốn kể lại trải nghiệm ấy với bất cứ ai, tôi muốn giữ nó sống mãi trong trái tim tôi. Ước muốn đi tu trong tôi ngày càng lớn. Năm 16 tuổi, tôi được phép cha mẹ cho vào chùa Từ Hiếu ở Huế để làm điệu, và sau đó tôi đã trở thành chú tiểu.

 

Tình huynh đệ

Sáng tác và trình bày: Thầy Pháp Khả

 

 

Tình huynh đệ rộng lớn như biển khơi

Vững như thành, bền chắc như núi cao

Lặng như tờ, trong sáng như trăng sao

Tình huynh đệ chẳng có gì quý hơn.

Ngày qua ngày là bát cơm xào rau

Tình huynh đệ là chắp tay chào nhau

Tình huynh đệ chuyển hoá bao thương đau

Đời vô thường và nắng mưa thay màu.

Từng bước thảnh thơi giấc mơ nào đợi ta vươn tới

Và bờ vai gầy gửi gắm bao niềm thương

Còn đó quê hương đón nhau về bữa cơm dưa muối

Câu hát vang lên trong ngần hôm nay.

Tình huynh đệ mở lối con đường vui

Còn đâu là hình bóng anh và tôi

Trời phương ngoại ta hát ca rong chơi

Thầy mỉm cười cùng chúng con xây đời.

Không có kẻ thù

Trích trong sách “Giận” của Sư Ông Làng Mai

 

 Hiểu biết và từ bi là hai nguồn năng lượng rất mạnh. Hiểu biết và từ bi ngược lại với u mê và thụ động. Nếu cho rằng từ bi là thụ động, yếu đuối hay hèn nhát tức là không hiểu gì hết về ý nghĩa đích thực của hiểu biết và từ bi. Nếu cho rằng những người có tâm từ bi không bao giờ chống đối và phản ứng với bất công là lầm. Họ là những chiến sĩ, những anh hùng, liệt nữ đã từng thắng trận. Khi hành động với tâm từ bi, với thái độ bất bạo động, khi hành động trên căn bản của quan điểm bất nhị thì ta phải có rất nhiều dũng lực. Ta không hành động vì sân hận. Ta không trừng phạt hay chê trách. Từ bi luôn luôn lớn mạnh trong ta và ta có thể thành công tranh đấu chống bất công. Thánh Gandhi chỉ có một mình. Thánh Gandhi không có bom, không có súng, không có đảng. Thánh Gandhi chỉ hành động với tuệ giác bất nhị, với sức mạnh của từ bi chứ không phải với tâm sân hận.

Con người không phải là kẻ thù. Kẻ thù của ta không phải là người kia. Kẻ thù của ta là bạo động, u mê, bất công trong ta và trong người kia. Khi tranh đấu bằng từ bi và hiểu biết ta không tranh đấu với kẻ khác mà là tranh đấu với ý hướng chiếm đoạt, đàn áp, và bóc lột. Chúng ta không muốn tiêu diệt những người kia, nhưng không để cho họ bóc lột chúng ta và những người khác. Chúng ta phải tự bảo vệ. Chúng ta đâu có ngu ngốc. Chúng ta rất thông minh và chúng ta có tuệ giác. Từ bi không có nghĩa là để cho người khác mặc tình bạo hành chính bản thân họ và bạo hành ta. Từ bi có nghĩa là thông minh. Hành động bất bạo động phát xuất từ tình thương chỉ có thể là một hành động thông minh.

Từ bi không có nghĩa là chịu đau khổ vô ích hoặc đánh mất khôn ngoan. Ví dụ khi bạn hướng dẫn một đoàn người đi thiền hành bạn đi chậm rãi và thật đẹp. Thiền hành có thể tạo nên rất nhiều năng lượng; thiền hành đem yên tịnh, vững chãi, và bình an đến cho mọi người. Nhưng nếu bất thần trời đổ mưa thì chúng ta đâu có để cho ai cũng bị ướt? Như thế là không thông minh. Nếu giỏi thì bạn sẽ đổi qua chạy thiền hành thay vì đi thiền hành. Bạn vẫn giữ được niềm vui của thiền hành. Bạn vẫn có thể cười, bạn vẫn có thể bông đùa, để tỏ ra rằng sự thực tập của bạn không phải là một thực tập ngô nghê. Bạn vẫn có thể giữ chánh niệm trong khi chạy dưới cơn mưa. Phải thực tập cho thông minh. Thiền tập không có nghĩa là nhắm mắt bắt chước làm theo người bên cạnh. Khi thiền tập ta phải khéo léo và sử dụng thông minh cho đúng.

Xây Dựng Một Lực Lượng Cảnh Sát Có Tâm Từ Bi

Hiền lành, tử tế không có nghĩa là thụ động. Từ bi không có nghĩa là để cho người khác dày đạp, tiêu diệt mình. Phải tự bảo vệ và bảo vệ những người khác. Nếu cần giam một người nào rất nguy hiểm thì phải giam vậy. Nhưng mà phải làm chuyện đó với tâm từ bi. Động lực là ngăn ngừa người ấy tiếp tục phá hoại và tự tưới tẩm tâm sân hận.

Không cần phải là một ông thầy tu mới từ bi. Một cảnh sát, một quan tòa hay một người canh tù cũng có thể từ bi. Cảnh sát, quan tòa hay người canh tù phải là những vị Bồ Tát, có tâm từ bi rộng lớn. Mặc dầu cần phải cứng rắn nhưng luôn luôn giữ sáng tâm từ bi.

Nếu đã thực tập nếp sống chánh niệm thì bạn phải giúp cho những người cảnh sát hành động với tâm từ bi và không sợ hãi. Trong thời đại chúng ta, những người cảnh sát luôn luôn sợ hãi, giận dữ và căng thẳng vì họ đã bị tấn công nhiều lần. Những ai thù ghét và miệt thị cảnh sát là không hiểu họ. Mỗi buổi sáng, khi người cảnh sát mặc bộ sắc phục và đeo súng vào, họ không biết chắc là chiều hôm đó họ có còn sống để về nhà hay không. Người cảnh sát rất đau khổ. Gia đình họ cũng rất đau khổ. Họ không vui gì đánh đập, bắn chết người khác. Nhưng chỉ vì họ không biết cách xử lý sợ hãi, đau khổ, bạo động trong họ cho nên họ cũng có thể trở thành những nạn nhân của xã hội như bất cứ ai khác. Cho nên, là một cảnh sát trưởng, nếu bạn hiểu thấu được tâm tư của những cảnh sát dưới quyền, thì bạn phải thực tập để nuôi lớn từ bi và hiểu biết trong mình. Khi đó bạn mới có khả năng huấn luyện và giúp đỡ nhân viên thuộc quyền hằng ngày, hằng đêm phải thi hành nhiệm vụ khó khăn là gìn giữ an ninh trật tự trong thành phố.

Nước Pháp gọi những người cảnh sát là những người “giữ hòa bình (peace-keeper).” Nhưng nếu không có hòa bình trong tâm thì làm sao có thể giữ được hòa bình cho cả thành phố? Trước phải giữ bình an trong bản thân. Bình an ở đây có nghĩa là không sợ hãi, sáng suốt, và có tuệ giác. Người cảnh sát có được học những kỹ thuật tự vệ. Nhưng kỹ thuật tự vệ không đủ. Phải thông minh, phải hành động không phải vì sợ hãi. Nếu sợ hãi quá thì có thể lầm lỗi, sẽ có xu hướng dùng súng và có thể giết người vô tội.

Không Thể Theo Phe

Tại Los Angles, bốn cảnh sát viên đánh một người da đen gần chết. Báo chí khắp thế giới đua nhau viết về chuyện đó và ai cũng muốn đứng về một phe, hoặc là bênh người bị đánh hoặc là bênh người cảnh sát. Khi bạn phán xét và thiên về một bên là bạn đã hành động như là bạn không can dự vào việc đã xẩy ra, như là bạn không phải là người da đen bị đánh hay bốn người cảnh sát đánh người da đen. Nhưng nếu nhìn cho kỹ thì bạn là người da đen đồng thời cũng là bốn người cảnh sát. Sân hận, sợ hãi, bực bội và bạo động có mặt trong người bị đánh, trong người đánh. Cũng như sân hận, sợ hãi, bực bội và bạo động có mặt trong chính chúng ta.

Muốn hiểu những người cảnh sát và giúp họ bớt đau khổ, hãy tưởng tượng bạn là vợ hay chồng của một người cảnh sát. Có sống chung bạn mới thấy rõ đời sống khó nhọc của người bạn đường. Bạn sẽ cố gắng ngày đêm giúp chồng hay vợ chuyển hóa sân hận, lo sợ và bực dọc. Khi bạn có thể giúp được chồng hay vợ mình như thế thì toàn cả thành phố được lợi lạc. Ngay cả đến những thanh niên hư hỏng cũng được lợi lạc. Đây là cách hay nhất để giúp cộng đồng. Nhờ thông minh, tuệ giác và từ bi bạn có thể giúp tránh được nhiều tai họa.

Đối Thoại Để Chấm Dứt Sân Hận và Bạo Động

Hình ảnh của một người cảnh sát đầy bạo động, kỳ thị là một hình ảnh không mấy đẹp. Rất nhiều người trẻ coi những người cảnh sát như kẻ thù. Chúng đốt xe cảnh sát, đánh phá cảnh sát, bởi vì cảnh sát là đối tượng của sân hận và bực bội trong chúng. Chúng ta nên tổ chức một cuộc họp mặt hay hội thoại giữa cảnh sát và những thanh niên đã có những hành vi bạo động, hay đang bị giam giữ. Tại sao chúng ta lại không tổ chức những cuộc hội thoại như thế để cho những người cảnh sát có cơ hội nói ra tất cả những uẩn ức, giận dữ hay lo sợ của mình? Tại sao chúng ta lại không để cho những người trẻ đó có cơ hội nói ra tất cả những uẩn ức, giận dữ hay bực bội của mình? Tại sao chúng ta không trình chiếu những cuộc hội thoại như thế trên đài truyền hình cho cả nước đều xem, đều biết?

Đây có thể là một thiền tập đích thực: thiền tập quán chiếu sâu sắc, không phải chỉ trên bình diện cá nhân, mà trên bình diện của cả thành phố, của cả nước. Chúng ta đã không thấy được sự thật. Chúng ta đã coi rất nhiều phim ảnh, đọc truyện trinh thám nhưng chúng ta chưa thấy được sự thật bên trong tâm tư sâu kín của những con người thật. Chúng ta phải tổ chức những cuộc đối thoại như thế để cho sự thật được trình bày cho cả nước coi chung.

Thả Bom Lên Chính Mình

“Xin Chúa tha tội cho họ, vì họ không biết họ đã làm gì,” Chúa Jesus đã nói như vậy. Một người phạm tội ác hoặc gây đau khổ cho kẻ khác là vì người ấy không biết mình đang làm gì. Nhiều người trẻ đã phạm tội mà không biết, không hiểu rằng sự bạo hành của họ đã gây nên biết bao đau khổ. Mỗi khi bạo hành như vậy họ gây đau khổ cho chính họ và cho người khác. Họ nghĩ rằng hành động tàn bạo, giận dữ như vậy là có thể làm giảm bớt cơn giận. Nhưng sân hận trong họ chỉ lớn thêm mà thôi.

Khi thả bom lên trên kẻ thù, bạn đã thả quả bom ấy lên chính bạn, lên quê hương bạn. Trong cuộc chiến Việt Nam, người dân Hoa Kỳ cũng đã đau khổ như người dân Việt nam. Vết thương chiến tranh tại Hoa Kỳ cũng sâu đậm như vết thương chiến tranh tại Việt nam. Chúng ta phải chấm dứt bạo động. Chúng ta không thể chấm dứt bạo động nếu chúng ta không có được cái tuệ giác rằng những gì chúng ta gây cho một người khác là chúng ta tự gây cho chúng ta. Các thầy giáo phải chỉ cho học sinh biết rằng khi bạo động, chính chúng sẽ chịu đau khổ. Nhưng các thầy giáo không thể chỉ nói suông, mà phải sáng tạo hơn là chỉ nói suông. Khi chia sẻ tuệ giác với người khác không nên quá giáo điều mà phải mềm dẻo, và sử dụng phương tiện thiện xảo. Phương tiện thiện xảo rất quan trọng. Một bậc Đại Nhân cần phải khéo léo khi hành đạo cũng như khi giúp người.

 

 

Đọc thêm sách GIẬN

Ảo Hóa

Thơ và Nhạc: Sư Ông Làng Mai

Trình bày: Sư cô Chân Không

 

 

Mí mắt chân trời mỏi

đầu núi nghiêng nghiêng tìm gối tựa

đêm về thơm giấc cỏ hoa

ảo hoá

bàn tay gió dậy

ngân hà nến ngọc lung linh

khung cửa lưng đồi bỏ ngỏ

sao băng vụt cháy lời kinh

vạn kiếp xoay quanh vòng mộng mị

đêm nay chợt thấy chân hình

Xóm Mới

Thơ: Sư Ông Làng Mai

Nhạc: sư cô Hoàn nghiêm, sư cô Trăng Hồ Sen

Trình bày: Sư cô Trăng Hồ Sen  

 

 

Sáng hôm nay hộp diêm của tôi hết rồi

Bếp  lạnh như trời cuối thu ướt lạnh

Tác phẩm dở dang còn đó

Tôi sang nhà láng giềng xin lửa

(hồi bé chúng ta thường hai đứa chạy xin)

Em hỏi tôi sẽ làm sao nếu nhà láng giềng không còn lửa

– chúng tôi sẽ họp hai người hát ca

Nhớ lời em dặn “là những bông hoa”

Chúng tôi sẽ cầm đuốc đi bên nhau hướng về Xóm Mới

 

Em cũng cứ hát ca đi, trong khi chờ đợi,

Thế nào trong xóm ta cũng có nhà còn lửa

Thôi tôi xin mọi người đưa tay nói thực: có phải

Tất cả chúng ta đang tin ở điều đó như đang

Tin hôm nay ở hiện hữu nhiệm mầu?

Tôi biết có những nhà nghèo, nhưng trấu hồng ngún

Cháy ngày đêm trong bếp hồng âm ỉ

Tôi sẽ nhớ lời em không quấy động bếp lành

Một nắm rơm đặt vào

Đợi khói toả mầu xanh,

Em nhìn xem: chỉ một hơi thở nhẹ của hồn tôi thôi

Cũng đủ gọi về lửa đỏ.

 

Anh về, người lữ khách hôm nay thấy lòng ấm áp

Một buổi chiều nhìn khói lam ấp ủ mái tranh thơ

Về xóm mới chúng tôi đi! tất cả vẫn mong chờ

Em tôi vẫn còn trông nom chút lửa hồng bếp cũ

Mái chèo xuôi nước sông

Thuyền về không do dự

Sao đêm an lành thuyền anh đi mãi

Nhìn bóng chiều sa không ngại

Vì biết tình thương hôm nay còn đủ sưởi ấm ngày mai.

Bếp tôi ấm rồi, mời anh về với chúng tôi thôi

Công phu của ai ngàn năm bắc một nhịp cầu nối liền xa cách

Tác phẩm còn tươi nét mực

Lấy giọng trong lành, em tôi sẽ đọc lên cho chúng

Mình nghe, bên tiếng nổ tí tách của những cành lửa reo vui.

Em bé thơ

Sáng tác: Thầy Pháp Thiên

Trình bày: Quý sư chú, sư cô trẻ Làng Mai

 

 

Hồn nhiên em bé thơ

Cười tươi như nắng mai

Tâm hồn em thơm nụ hé

Tia sáng hồng tinh khôi.

 

Đôi môi xinh thắm xinh

Đôi mắt biếc sáng trong

Bàn tay em như búp măng tràn nhựa sống.

 

Nước non mừng vẫy gọi

Bước tới bước tới hoài

Hai bàn chân vui với

Nắng trên đường sớm mai.

 

Ơi, em bé là ai

Phải ta nghìn thuở trước

Vượt qua bao kiếp trược

Lại tao phùng hoa khai.

 

Mây trắng bay trên đầu

Ngồi ngẫm chuyện thiên thâu

Mơ thấy làm em bé

Mỉm cười cùng hoa ngâu.

Truyền thông với tâm từ bi

Trích trong sách “Giận” của Sư Ông Làng Mai

Thực Tập Lắng Nghe Sâu

Truyền thông là một thực tập. Muốn truyền thông thì phải khéo léo. Chỉ có thiện chí thôi thì không đủ. Phải học. Có thể là bạn không có khả năng lắng nghe. Có thể là người kia luôn luôn nói lời đắng cay, lên án, trách móc khiến bạn chán ngán, không thể nghe được nữa và chỉ muốn tránh mặt. Bạn tránh mặt người đó vì sợ. Bạn không muốn khổ. Nhưng làm như thế thì có thể gây hiểu lầm. Người kia có thể nghĩ rằng bạn có thái độ khinh mạn, muốn tẩy chay, không thèm để ý, và càng thêm đau khổ. Bạn không muốn gặp mặt người ấy nhưng đồng thời cũng không thể lánh mặt người ấy. Giải pháp duy nhất là thực tập để có thể thiết lập truyền thông trở lại. Con đường thực tập là lắng nghe sâu.

 

 

Chúng ta biết rằng có nhiều người đau khổ vì nghĩ rằng không ai hiểu họ hay hiểu hoàn cảnh của họ. Ai cũng bận rộn và hình như không ai có khả năng lắng nghe. Nhưng chúng ta ai cũng cần có một người có thể lắng nghe mình.

Hiện nay có những nhà tâm lý trị liệu chỉ có việc ngồi đó để nghe bệnh nhân thổ lộ tâm tình. Nhà tâm lý trị liệu biết lắng nghe sâu mới thật là một nhà tâm lý trị liệu giỏi. Một nhà tâm lý trị liệu giỏi có khả năng lắng nghe chăm chú, không kỳ thị, không phán xét. Tôi không biết những nhà tâm lý trị liệu đã tu luyện như thế nào để có được khả năng lắng nghe sâu ấy. Nhà tâm lý trị liệu chắc cũng đầy đau khổ. Trong khi ngồi nghe bệnh nhân những hạt giống đau khổ trong họ cũng sẽ được tưới tẩm. Nếu một nhà tâm lý trị liệu bị đau khổ của chính mình tràn ngập thì làm sao họ có thể lắng nghe bệnh nhân một cách đàng hoàng? Muốn học làm một nhà tâm lý trị liệu thì phải học nghệ thuật lắng nghe sâu. Lắng nghe với tâm từ bi là lắng nghe làm sao mà người kia cảm nhận được là bạn đang lắng nghe thật sự, đang cảm thông thật sự, bạn đang lắng nghe hết lòng với tâm từ bi. Nhưng mấy ai trong chúng ta mà có thể lắng nghe được như vậy? Chúng ta đồng ý theo nguyên tắc rằng chúng ta sẽ lắng nghe với quả tim, để có thể thật sự nghe người kia đang nói gì. Chúng ta đồng ý rằng là chúng ta phải cho người nghe cảm tưởng rằng họ đang được nghe và đang được hiểu. Làm được như vậy người kia mới có thể vơi bớt khổ đau. Nhưng, thật ra, trong chúng ta mấy ai mà có thể lắng nghe như vậy?

Lắng nghe sâu, lắng nghe với tâm từ bi không phải là lắng nghe để phân tích hay để tìm biết chuyện gì đã xảy ra. Ta lắng nghe trước hết là để cho người kia bớt khổ, để cho người kia có cơ hội bộc bạch tâm tư và cảm nhận rằng ít ra là có người đã hiểu mình. Lắng nghe sâu là lắng nghe mà có thể giúp ta thắp sáng tâm từ bi suốt thời gian người kia đang nói, thời gian này có thể là nửa giờ hay bốn mươi lăm phút. Trong khoảng thời gian đó ta chỉ có một ý muốn duy nhất là lắng nghe để cho người kia có cơ hội nói ra và bớt khổ. Đây là mục đích duy nhất. Phân tích, tìm hiểu những gì đã xảy ra chỉ là kết quả thứ yếu, chỉ là phó sản (by product), của sự lắng nghe. Trước hết là phải lắng nghe với tâm từ bi.

Tâm Từ Bi Là Linh Dược Giải Độc Sân Hận

Nếu tâm từ bi được duy trì trong suốt thời gian lắng nghe thì sân hận, bực dọc không thể phát hiện. Nếu không thì những gì người ấy nói ra sẽ khiến cho bạn bực dọc, sân hận và khổ đau. Chỉ cần tâm từ bi thôi, bạn cũng đã được che chở để khỏi bị bực dọc, sân hận và khổ đau.

Vậy thì bạn muốn hành xử như một Bậc Đại Nhân trong khi lắng nghe vì bạn biết rằng người kia đang vô cùng đau khổ và đang cần bạn giang tay cứu độ. Nhưng bạn phải được trang bị để làm công việc đó.

Khi những người lính cứu hỏa đi chữa cháy họ phải có những dụng cụ thích hợp: thang leo, vòi xịt nước và áo chống hơi nóng. Họ phải biết cách tự phòng vệ và biết cách dập tắt lửa. Khi lắng nghe một người đang đau khổ thì bạn đang bước vào một vùng lửa cháy. Vùng lửa khổ đau, sân hận đang đốt cháy bên trong người mà bạn đang nghe. Nếu bạn không có đầy đủ dụng cụ thì bạn chẳng giúp được gì mà lại có thể là nạn nhân vì lửa giận của người kia. Vì vậy bạn cần phải có dụng cụ.

Dụng cụ của bạn là tâm từ bi được nuôi dưỡng và duy trì bằng hơi thở chánh niệm. Hơi thở chánh niệm chế tác năng lượng chánh niệm. Hơi thở chánh niệm giúp bạn giữ vững ước muốn căn bản là giúp người kia bộc lộ tâm tư. Khi người kia nói, có thể là lời nói của người ấy sẽ đầy chua cay, lên án, và phán xét. Lời nói của người ấy có thể sẽ chạm đến khổ đau của chính bạn. Nhưng nếu bạn giữ sáng tâm từ bi, nếu bạn thực tập hơi thở chánh niệm, bạn sẽ được bảo hộ. Bạn có thể ngồi nghe hàng giờ mà không đau khổ. Tâm từ bi sẽ nuôi dưỡng bạn, bạn biết rằng mình đang giúp cho người kia bớt khổ. Bạn hãy hành xử như một vị Bồ Tát. Bạn sẽ là một nhà tâm lý trị liệu tài ba hạng nhất.

Tâm từ bi phát xuất từ hạnh phúc và hiểu biết. Khi tâm từ bi và hiểu biết được thắp sáng thì bạn sẽ được an toàn. Những gì người ấy nói ra không thể làm cho bạn khổ và bạn có thể lắng nghe sâu sắc. Bạn lắng nghe thật sự. Khi bạn không có khả năng lắng nghe với tâm từ bi thì bạn không nên giả vờ đang lắng nghe. Người kia sẽ nhận ra ngay là bạn chỉ có đầy khái niệm về khổ đau nhưng bạn không thật sự hiểu họ. Khi có hiểu biết thì bạn có thể lắng nghe với tâm từ bi, bạn có thể lắng nghe sâu sắc, và phẩm chất của sự lắng nghe ấy là hoa trái của sự tu tập của bạn.

 

 

Nuôi Dưỡng Tự Thân

Tiếp xúc với đau khổ giúp nuôi dưỡng tâm từ bi và nhận diện hạnh phúc khi hạnh phúc có mặt. Nếu không tiếp xúc được với đau khổ thì không biết hạnh phúc đích thực là gì. Vậy thì sự thực tập của chúng ta là tiếp xúc với đau khổ. Nhưng khả năng của mỗi chúng ta có giới hạn. Chúng ta không thể làm quá sức mình.

Vì vậy cho nên phải biết tự chăm sóc. Nếu lắng nghe quá nhiều nỗi khổ, niềm đau, giận hờn, bực bội của người khác thì sẽ bị ảnh hưởng không tốt, vì ta chỉ tiếp xúc với khổ đau mà không có cơ hội tiếp xúc với những yếu tố tích cực. Như thế sẽ mất thăng bằng. Vậy thì trong cuộc sống hằng ngày ta phải thực tập như thế nào để có thể tiếp xúc với những gì tươi mát như trời xanh, mây trắng, chim hót, em bé, bất cứ gì có thể đem lại tươi mát, chữa trị và nuôi dưỡng ở trong ta và chung quanh ta.

Đôi khi ta bơ vơ lạc hướng trong đau khổ, lo âu. Hãy để cho bạn bè cứu giúp ta. Họ có thể nói, “Này bạn, mời  bạn nhìn bầu trời sáng nay. Tuy sương mù nhưng cảnh đẹp biết bao! Thiên đường ở ngay đây. Sao không trở về với hiện tại để thưởng thức cảnh đẹp trước mắt?” Bạn có tăng thân bao quanh, có sư anh, sư chị, có những người có khả năng sống hạnh phúc bao quanh. Tăng thân cứu bạn, giúp bạn tiếp xúc với những mầu nhiệm của cuộc đời. Đây là thực tập nuôi dưỡng, một thực tập rất quan trọng.

Chúng ta phải sống sâu sắc mỗi ngày trong vui vẻ, bình an, trong tình thương, bởi vì thời gian qua mau. Mỗi buổi sáng tôi thắp một nén hương, dâng lên Bụt và tự hứa rằng tôi sẽ sống sâu sắc từng giây, từng phút trong ngày. Chính nhờ thực tập hơi thở chánh niệm, bước chân chánh niệm mà tôi có thể tận hưởng từng giây, từng phút trong cuộc sống hằng ngày. Hơi thở chánh niệm và bước chân chánh niệm là hai người bạn giúp tôi an trú trong hiện tại, ngay bây giờ và ở đây, để có thể tiếp xúc với những mầu nhiệm sẵn đó của cuộc đời.

Chúng ta cần tiếp nhận sự nuôi dưỡng tươi mát. Nghe chuông là một thực tập nuôi dưỡng và dễ chịu. Tại Làng Mai, mỗi khi có tiếng điện thoại, hay tiếng chuông chúng tôi có cơ hội dừng lại, ngưng làm việc, ngưng nói năng, ngưng suy nghĩ. Đây là những tiếng chuông chánh niệm. Khi nghe chuông ta thư giãn thân tâm và trở về với hơi thở. Chúng ta ý thức rằng mình đang còn sống và có thể tiếp xúc với những mầu nhiệm sẵn có đó cho ta. Chúng ta dừng lại một cách tự nhiên, trong niềm vui, không quan trọng, không gò ép. Thở vào, thở ra ba lần trong niềm vui vì biết là ta đang còn sống. Khi dừng lại, ta phục hồi bình an trong ta và ta có tự do. Công việc ta đang làm trở nên vui thích hơn, bạn bè chung quanh ta trở nên có thật hơn.

 

 

Phép thực tập dừng lại và theo dõi hơi thở theo tiếng chuông là một ví dụ về phương pháp thực tập giúp ta tiếp xúc với gì tươi đẹp, nuôi dưỡng trong cuộc sống hằng ngày. Ta có thể thực tập một mình nhưng nếu có tăng thân thì sự thực tập sẽ dễ hơn. Tăng thân luôn luôn có đó. Mỗi khi ta bị chìm đắm trong đau khổ thì tăng thân có thể cứu ta và giúp ta trở về tiếp xúc với những yếu tố tích cực của cuộc đời.

Sự thực tập là biết rõ giới hạn của sức mình. Mặc dầu bạn là một giáo thọ có khả năng lắng nghe đau khổ của người khác nhưng bạn cũng phải tự biết giới  hạn của sức mình. Bạn cần phải đi thiền hành, cần phải thưởng thức một tách trà. Bạn cần được gần gũi với những người có hạnh phúc để được nuôi dưỡng. Để lắng nghe được người khác đồng thời bạn phải tự chăm sóc. Một mặt mỗi ngày bạn cần được nuôi dưỡng bởi những gì lành mạnh, tươi mát. Một mặt bạn phải thực tập nuôi dưỡng tâm từ bi. Có thế bạn mới có đủ hành trang trong sứ mạng lắng nghe người khác. Bạn phải là một Bậc Đại Nhân, nghĩa là một người tràn đầy hạnh phúc cho nên có khả năng cứu độ chúng sanh đau khổ.

Đọc thêm sách GIẬN

Tiếp xúc với bản môn

 

Khải Bạch

Bạch đức Thế Tôn, trong những lúc tâm sự với đức Thế Tôn, con thường nghĩ đến hóa thân Thích Ca Mâu Ni của đức Thế Tôn hai ngàn sáu trăm năm về trước. Con biết đức Thế Tôn còn đó, dưới muôn ngàn hóa thân khác, và con cũng biết là đức Thế Tôn đang có mặt trong con, và con là sự tiếp nối của đức Thế Tôn, là một trong những hóa thân nhỏ bé của đức Thế Tôn. Nhờ được đức Thế Tôn mở mắt cho, con biết đức Thế Tôn không bị giới hạn bởi thời gian và không gian, và thọ mạng của đức Thế Tôn là vô lượng. Sinh diệt biến dị không động chạm được đến Thế Tôn, bởi vì Thế Tôn đã chứng đắc vô sinh. Con biết là nếu con tiếp xúc được tự tính vô sinh của con, thì con cũng thấy được rằng thọ mạng của con là vô lượng. Con cũng có thể cưỡi trên sóng sinh tử mà đi như các vị Bồ tát lớn, bởi vì khi đạt tới vô sinh thì sinh diệt biến dị cũng không còn động được tới con.

Bạch đức Thế Tôn, Ngài đã dạy rằng nếu chúng con tiếp xúc được sâu sắc với bất cứ một cái gì của thế giới tích môn, dù cho là một chiếc lá, một bông hoa, một đám mây, một con hạc, một dòng sông, một đỉnh núi hay chính hình hài của chúng con là chúng con đồng thời tiếp xúc được với bản môn ấy. Bản môn không phải là một cái gì tách ra khỏi tích môn. Trong thế giới của bản môn, không có sinh diệt, khổ vui, tới đi, thiện ác. Chúng con phải tập nhìn sự vật trong bản môn. Bản môn ấy là chân như, là pháp thân, là vượt ra ngoài những ý niệm có không, tâm vật, chủ thể đối tượng, nhân hay phi nhân. Nó luôn luôn chiếu sáng. Tiếp xúc với bản môn, chúng con sẽ có bình an và hạnh phúc. Chúng con không còn lo lắng và sợ hãi, như những con chim về được với trời mây hay những con nai thảnh thơi chạy nhảy ở đồng quê. Chúng con biết chúng con không cần phải đi tìm bản môn ở một nơi nào xa xôi, bởi vì bản môn ấy là tự tính đích thực của chúng con, có mặt trong chúng con ngay trong giây phút hiện tại. Thực tập chánh niệm, quán chiếu duyên khởi, thực chứng không và tương tức là chúng con có thể trở về bản môn bất cứ lúc nào.

Con xin hứa với đức Thế Tôn là con sẽ thực tập tinh chuyên, không vướng vào những lo tính và dự án thế gian để có thời gian và cơ hội thực tập. Con xin đức Thế Tôn chứng minh và yểm trợ cho con. Con xin lạy xuống để tạ ơn Ngài đã lắng nghe con, và đã nâng đỡ cho con trong thời gian thực tập.

Địa Xúc

Con xin lạy xuống ba lạy để tập tiếp xúc với đức Thế Tôn trong thọ mạng vô lượng của Ngài và cũng để tiếp xúc được với thọ mạng vô lượng của con. (C)

Vượt thoát ý niệm về hình hài

 

Khải Bạch

Bạch đức Thế Tôn, con thấy được thân tứ đại này không đích thực là con, con không bị giới hạn trong hình hài này. Con là tất cả dòng sinh mạng tâm linh và huyết thống từ ngàn xưa liên tục diễn biến tới ngàn sau. Con là một với tổ tiên của con, con là một với con cháu của con. Con là sự sống biểu hiện dưới vô lượng hình thức. Con là một với mọi người và mọi loài, dù an lạc hay khổ đau, vô úy hay lo lắng. Con đang có mặt khắp nơi trong giờ phút này, và từ quá khứ cho tới tương lai. Sự tan rã của hình hài này không động được tới con, như một cánh hoa đào rơi không làm cho sự có mặt của cây hoa đào suy giảm. Con thấy con là một con sóng trên mặt đại dương. Con thấy con trong tất cả các con sóng khác và tất cả các con sóng khác trong con. Sự biểu hiện hay ẩn tàng của hình tướng con sóng không làm suy giảm sự có mặt của đại dương. Pháp thân và tuệ mạng của con không sinh mà cũng không diệt. Con thấy được sự có mặt của con trước khi hình hài này biểu hiện và sau khi hình hài này biến diệt. Con thấy được sự có mặt của con ngoài hình hài này, ngay trong giờ phút hiện tại. Khoảng thời gian tám chín mươi năm không phải là thọ mạng của con. Thọ mạng của con, cũng như của một chiếc lá hay của các vị Bụt Thế Tôn, là vô lượng. Con thấy con vượt thoát ý niệm con là một hình hài biệt lập với mọi biểu hiện khác của sự sống, trong thời gian cũng như trong không gian.

Địa Xúc

Con xin đức Thế Tôn cho con lạy xuống ba lạy để con thấy được tính vô sinh bất diệt của con, và buông bỏ được ý niệm con là một hình hài biệt lập với những biểu hiện của sự sống. (C)

Đức Thế Tôn có trong Pháp trong Tăng và trong con

 

Khải Bạch

Kính bạch đức Thế Tôn, con cũng thấy được Ngài nơi tăng đoàn nguyên thủy. Cũng như vua Ba Tư Nặc, mỗi khi thấy được tăng đoàn xuất gia của Ngài thì càng thấy được tầm vĩ đại của Ngài, càng có niềm tin tưởng nơi Ngài và niềm mến phục đối với Ngài, con thấy được sự có mặt của Ngài nơi tăng đoàn nguyên thủy. Ngài đã trao truyền tuệ giác và từ bi cho không biết bao nhiêu người, xuất gia cũng như tại gia, và những vị đệ tử này một phần nào đó đều là sự tiếp nối của Ngài, đều là Ngài. Con thấy được Thế Tôn trong giây phút hiện tại qua bốn chúng của tăng đoàn. Con thấy được Thế Tôn qua những pháp môn hành trì thông minh đang mang tới sự chuyển hóa. Con nhận diện được đức Thế Tôn nơi năng lượng trí tuệ và từ bi không những nơi con người mà còn nơi văn học, thi ca, kiến trúc, âm nhạc và những biểu hiện văn hóa và nghệ thuật khác nữa. Con nhận diện được Thế Tôn trong con, trong những hạt giống tuệ giác và tình thương, trong những lúc con hành xử theo tuệ giác và từ bi ấy.

Xin cho con lạy xuống một lạy để tiếp xúc với đức Thế Tôn trong con, trong tăng thân con, trong giáo pháp và pháp môn đang được lưu hành trong nhân gian, và trong cả những cái đẹp cái hay mà Thế Tôn đã tạo dựng được trong nếp phong hóa của con người.

Địa Xúc

Một lòng tiếp xúc với Bụt Thích Ca Mâu Ni, Thầy gốc của con, trong con và chung quanh con. (C)

Một lòng kính lạy Bụt Nhiên Đăng, Người đã thọ ký cho đức Bổn Sư của con. (C)