Tôi cần em hát ca

 

Chào Sư em!

Lâu ngày quá! Tôi đã hứa nhiều lần là sẽ viết thư cho em, vậy mà đến hôm nay tôi mới làm được. Tính tôi cứ quen dây dưa như vậy đó. Nhưng hôm nay tôi sẽ viết, sẽ kể cho em nghe những điều đơn giản, vì biết em chỉ cần điều đó. Em nói, hãy viết về bầu trời, về mùa xuân nơi tôi đang ở. Tôi mỉm cười vì chỉ có trẻ con mới còn những ước mong như thế. Bầu trời, có lẽ đây là điều mà tôi cảm thấy khó viết nhất. Sao em lại biểu tôi nói về một cái to lớn như thế chứ? Những gì tôi sắp viết xuống đây không thể nào diễn tả hết cái lồng lộng của nó. Tôi viết có bao nhiêu xin em nhận bấy nhiêu, vậy nhé!

Hoa của trời

Làng Mai những ngày này, trời trong thăm thẳm không một gợn mây, nắng như có hương thơm, và mùa xuân đang vào thời tươi sắc nhất. Mùa này rừng đẹp lắm, bách bộ giữa rừng em sẽ được tắm mình trong thế giới của màu xanh non. Rừng cây luôn huyền nhiệm không khác gì một gia tài tâm linh em ạ. Lòng em có rộng rãi đến mấy vẫn cảm thấy không đủ chỗ cho nó đi vào. Hoa thì nở đó đây, đủ màu. Đa số hoa ở đây đều là hoa dại. Người xưa nói, hoa dại là hoa của Trời. Tôi tin vào điều đó. Bông hoa nào cũng là sứ giả, cũng có một nụ cười riêng. Tôi biết em yêu thích thiên nhiên, nên khi đọc những dòng này chắc em vui sướng lắm! Vậy thật tốt, em đi đến đâu thì nơi ấy cũng dễ trở thành quê hương. Cây anh đào (cherry) bên mái hiên đã cho hoa trắng toát, mỗi ngày tôi đều dành chút thời giờ để nhìn ngắm chúng khi nắng chiếu qua. Hai cây anh đào cạnh thiền đường Nước Tĩnh cũng đã mãn khai, và tỏa hương thơm ngát. Mỗi trưa đều có các thầy đến ngồi quanh hai gốc anh đào, có mặt, thưởng hoa. Tôi cũng thế, cũng tập cho mình một thói quen, không lỗi hẹn với những nhiệm màu. Làng Mai Xóm Thượng là một thiên đường. Điều này rất rõ. Trưa hôm nay, lúc đi từ thiền đường về, những bước chân tôi bỗng trở nên cẩn trọng hơn, vì cảm thấy mỗi bước chân là một phép lạ. Không phép lạ làm sao khi quanh mình là những nụ mới, là trong trẻo tiếng chim, là rừng sồi với những chồi lá xanh non tưng bừng nhựa sống. Mắt và nắng đang vẽ ra một bức tranh bình yên nơi tâm thức. Nền trời xanh là bức bình phong cho bức tranh kia.

 

 

Nơi hẹn về

Em từng nói với tôi rằng mình chưa may mắn được đọc một đoản văn hay bài thơ nào diễn tả hết được cái lồng lộng của bầu trời. Người ta chỉ viết vài dòng về trời xanh, hoặc chỉ tạt nhẹ vài câu để chuyển tải cảm xúc hay một thông điệp khác. Có lẽ họ cảm thấy không cần thiết, hoặc chưa đủ nhân duyên và nguồn cảm hứng để viết xuống cái khôn cùng của bầu trời. Tôi nghĩ người ta đúng, làm sao mà cái hữu hạn có thể diễn tả hết cái vô hạn, phải không em? Em thử nhìn đi, ngước mắt lên nền trời mênh mông, em sẽ hiểu được thế nào là vô tận. Nhưng ở nơi cái khoảng không ấy, chính là nơi mà mắt ta thấy thỏa mãn nhất. Ta không thể tìm ra điểm tận cùng. Người ta nói, giấc mơ của tuổi trẻ cũng phải bất tận như thế! Người ta làm khó mình quá, phải không em?

Nhìn bầu trời xanh, đôi mắt thường sáng lên đầy hy vọng. Cái màu xanh ấy luôn tạo cho mình rất nhiều sự lạc quan. Nhưng khi nhìn kỹ hơn, có khi nào em cảm thấy có chút gì như vô vọng không? Tôi hỏi thật đấy. Vì bản năng sống luôn thúc đẩy mình tìm một điểm tận cùng ở đâu đó, đơn giản chỉ để chinh phục, hoặc là để cảm thấy có bờ bến, nhờ đó mà thấy an tâm. Nhưng bầu trời xanh thì vời vợi, nằm ngoài khả năng thấy biết của con người. Nó phá sập hết những ý niệm mà chúng ta có về phương diện không gian. Vì nó nên những câu hỏi như: vũ trụ rộng đến đâu, bắt đầu từ khi nào, đâu là điểm tận cùng của miền hư không ấy…? đã thôi thúc người ta tìm kiếm từ rất lâu rồi. Trong vòng xoay của ý niệm không gian, họ cứ tìm kiếm mãi. Họ vẫn xem họ là chủ thể, và đang đi tìm cái đối tượng bên ngoài, cái gọi là biên giới của hư không. Họ chưa chịu thừa nhận rằng tâm thức và không gian biểu hiện cùng một lúc, không gian cũng chỉ là sản phẩm của tâm thức họ. Hôm nay, mình đừng nói gì thêm về những điều đó nữa, vì nó dông dài và chắc cũng không cần thiết là bao! Mình chỉ tập cảm nhận cái vi diệu của bầu trời mà không cần dựa vào ý niệm không gian. Tuổi trẻ của mình cần điều đó hơn, em nhỉ? Bầu trời cho em biết về sự rộng rãi, một cái gì không biên giới mà năm giác quan đơn sơ của em không thể nào thấy hết được. Em sẽ biết khiêm cung với những gì mình từng học và biết. Chúng không hẳn là tất cả, vì em còn chưa biết hết về bầu trời cơ mà. Nhưng, em sẽ thấy quý đôi mắt, chúng còn tươi sáng đủ để nhìn trời xanh. Đời sống con người dễ làm tâm ta chật hẹp lắm, và khi đó bầu trời xanh cao sẽ là nơi cho chúng ta hẹn về. Mỗi lần ngước nhìn lên, thở vài hơi thôi sẽ thấy lòng thênh thang trở lại. Đôi mắt như chiếc cầu, nó mang bầu trời vào trong tâm thức. Em trở thành một với bầu trời, trở thành linh thiêng và vô biên như nó. Nó và em cùng biểu hiện một lúc với nhau. Em muốn bỏ qua những điều nhỏ nhặt, vì muốn lòng cũng được rộng rãi như bầu trời. Em sẽ nhìn bầu trời với rất nhiều sự biết ơn.

 Em bé và bầu trời

Chắc là em cũng đã quên rồi, như tôi, cái ngày đầu tiên chúng ta nhìn thấy cái khoảng không trong xanh ấy. Ngày đó, chắc chúng mình còn bé lắm! Em và tôi, chắc còn chưa biết nói, còn chưa biết đi cơ. Nhưng lúc đó ta đã có một đôi mắt sáng, và đã nhìn thấy bầu trời. Ta nhìn thấy nhưng không hề nhận biết được đó là bầu trời, thú vị quá đúng không? Giây phút đó, mặc dù có thể hai ta đều đã quên, nhưng tôi nghĩ là chúng ta đã sung sướng lắm! Sung sướng vì lần đầu tiên gặp gỡ một khoảng không mênh mông, mà không hề biết rằng: cái đó – người lớn gọi là bầu trời. Nhìn thấy, cảm được mà không hề có ý niệm, nên chúng ta có thể đã thấy được thực tại của bầu trời. Cái gọi là bầu trời, thực ra chỉ là cái ý niệm của người lớn, tôi nghĩ thế! Cái ý niệm đó chưa hẳn là thực tại, nhưng khi em bé lần đầu nhìn lên khoảng không mà không hề biết nó là gì, đôi khi lại là thực tại của bầu trời. Em và tôi đều đã trải nghiệm những phút giây thú vị như thế đấy! Trẻ thơ luôn sẵn có những điều thật phi thường.

Đôi khi, tôi cũng nhìn trời xanh ở Làng Mai với nhãn quan của một em bé. Với tôi đó cũng là sự thực tập. Thế giới mình đang sống được hình thành dựa trên những ý niệm, tôi nghĩ cũng cần thiết, nhưng nhiều quá thường làm chúng ta mệt và dễ mắc kẹt. Những tư duy phân biệt thường quấy rầy chúng ta, em nhỉ. Tôi hy vọng mỗi khi buồn giận, trách cứ ai, tôi sẽ không quên sự thực tập này. Làm mới tự thân bằng cách tiếp xúc với trời xanh bằng đôi mắt bé thơ. Chỉ nhìn và trực cảm, chẳng cần đặt nó một cái tên. Như vậy chúng ta sẽ có được những giây phút lặng yên và chuyển hóa, và hình hài năm uẩn của ta với hư không cũng sẽ hòa làm một…

 

 

Trong tôi có một em bé, trong em cũng có một em bé. Trong tôi có một bầu trời, và trong em cũng có một bầu trời. Vì vậy, trong em cũng có tôi. Ta trở thành nhau tự hồi nào, tôi cũng không biết nữa. Cứ truyền thông với em bé và bầu trời trong mình mỗi khi cần, em nhé!

Làng

Mấy ngày này, Làng vắng lắm! Rất dễ cảm nhận cái mát lạnh của cơn gió, rất dễ nghe cái âm nhạc của rừng cây. Trời trong nên ban đêm sao cũng nhiều vô kể. Người ta nói một tư duy an lành sẽ phát sáng ra vũ trụ và lấp lánh như một vì sao. Làng vắng nhưng sinh động. Chưa bao giờ tôi thấy Làng hiu quạnh cả, ngay cả những khi vắng người như bây giờ. Ở Làng, ngóc ngách nào cũng linh thiêng. Giờ này đang là mùa xuân, những phiến lá non trên hàng cây là biểu hiện rõ ràng cho điều ấy. Tôi có tạo một góc trà nhỏ dưới mái hiên, để thi thoảng ngồi yên uống trà. Chính vườn cây trước mặt là niềm cảm hứng cho tôi làm điều đó. Có nhiều người bạn đã đến đây ngồi chơi với tôi. Những lúc một mình, tôi cũng thích ngồi nhìn ra khu vườn, nơi có những chiếc lá xanh non. Mình phải biết tranh thủ chứ em, vì những chiếc lá kia đâu có tươi xanh cho mình hoài mãi. Hơi thở một hồi cũng hòa vào hơi thở của lá, nụ hoa hay hòn sỏi. Chúng từ từ đưa tôi vào với sự sống thênh thang. Tôi có một niềm tin lớn vào sự sống, dù điều gì xảy ra cũng không thể làm cho nó dừng lại. Muốn cho nó dừng lại, hình như là điều không thể. Sự sống luôn tiếp diễn, sinh động như những chiếc lá mới kia, muôn hình vạn trạng. Ngồi yên, tôi thấy Làng bình yên và màu nhiệm. Những hiện hữu, lớn như cánh rừng phía trước, hay bé như cánh hoa bồ công anh bay lơ lửng trước mắt tôi, và ngay cả chính tôi đây; đều rất lạ kỳ.

Tôi cần em hát ca

Cuộc sống vô thường thật em nhỉ. Nó vô thường trên cả khả năng lường đoán của chúng ta. Thế sự như đại mộng, chúng ta đâu ngờ rằng đại dịch lại xảy ra vào thế hệ của anh em mình cơ chứ! Sự ra đi của đời người xảy ra chỗ này chỗ kia do dịch bệnh khiến những ai dù hờ hững đến đâu cũng sẽ nảy sinh lòng trắc ẩn. Em có thấy mình có liên hệ gì với những con người kia không? Tôi thì thấy tất cả chúng ta đang trải qua chung một niềm đau lớn. Thử đặt mình vào trong hoàn cảnh ấy, nhiễm dịch với thân thể già yếu, hay một cơ thể bệnh tật, em sẽ thấy việc ngồi yên ngắm những chiếc lá xanh non trở nên mầu nhiệm biết chừng nào! Món quà ấy từ sự sống, tôi nghĩ em sẽ nhận nó với tất cả sự nâng niu. Dịch bệnh như một tiếng chuông lớn, cảnh tỉnh và nói với chúng ta thật nhiều điều. Một trong số đó là nhờ đại dịch mà sự tiêu thụ năng lượng và nguồn tài nguyên được giảm, nhờ đó Đất Mẹ được nghỉ ngơi và chữa trị phần nào. Đã lâu lắm rồi, Đất Mẹ chưa được nghỉ ngơi. Ai cũng thấy thương và mừng cho Đất Mẹ quá! Vậy sự ra đi của những con người ấy đã đóng góp âm thầm vào việc kéo dài sự sống, vào sự tiếp diễn nhiệm màu của hành tinh, em thấy như thế không? “Sự sống làm bằng sự chết, cái có làm bằng cái không” là điều gì đó rất dễ nhận ra vào lúc này. Nhưng tôi nghĩ ý của câu đó muốn nói đến cái chết trên bề mặt hiện tượng, cũng như cái gọi là sự sống trên hành tinh này cũng là trên bề mặt hiện tượng. Với mình, cái gì đóng góp vào sự lưu chuyển nhiệm màu của cuộc đời thì không bao giờ chết cả. Không thể nào một cái “chết” vĩnh cửu mà có thể đóng góp được vào cái gì “sống” được. Cho nên, những nạn nhân của đại dịch chưa bao giờ mất đi, họ vẫn còn đó trong đại thể, trong dòng chảy rộng lớn. Những gì tôi đang viết cho em đây chỉ là suy đoán trí năng, hoặc chỉ lặp lại lời của ai trước đó. Muốn thấy biết được chúng, mình phải để tâm quán chiếu. Nhưng dù sao, hãy nhìn những nạn nhân của dịch bệnh với thật nhiều tình thương và sự biết ơn, em nhé!

Bây giờ, chúng mình cần ngồi lại và hát ca. Mùa xuân đẹp thế mà không hát thì uổng lắm! Tôi cần em hát ca, lâu rồi tôi chưa được nghe em hát. Viết xong thư cho em, tôi thấy mình nhẹ hẳn. Lòng tôi đã khoáng đạt cho mùa xuân đi vào. Biết đâu trên cuộc đời này, tiếng hát là thứ gì quý nhất mình có thể cho đi. Ai đó đã lấy mất đi rất nhiều sự bình an của mọi người ngoài kia rồi, trong này mình mà còn bị đánh cắp bình an nữa thì thật vô lý quá. Khi mùa dịch qua, tôi sẽ viết thư cho em trở lại. Còn bây giờ, tôi hẹn em nơi góc trà dưới mái hiên, em hãy hát cho tôi nghe nhé!

 

 

Chân Pháp Khả

Định đề 40

 

Các giáo lý vô thường, vô ngã, duyên khởi, không, vô tướng, vô tác, niệm, định, tuệ, v.v… là trái tim của tuệ giác đạo Bụt có thể đi đôi với tinh thần khoa học, đối thoại, hướng dẫn, gợi ý và nâng đỡ cho khoa học. Khoa học hiện đại cần vượt cho được nhị thủ. Nhà khoa học cần luyện tập và phát triển hơn nữa khả năng trực giác của mình.

The teachings on impermanence, non-self, interdependence, emptiness, signlessness, aimlessness, mindfulness, concentration, and insight, etc… constitute the heart of the Buddhist wisdom. They can go together with the spirit of science, they can be used in dialogue with science and offer suggestions and support for science. Modern science should try to overcome the tendency of double grasping and scientists should train themselves to develop their capacity for intuition.

 

Có những giáo lý, những sự thực tập mà chúng ta có thể xem như là trái tim của tuệ giác đạo Bụt. Những giáo lý hay sự thực tập khác không phải là trái tim, nó có cũng được mà không có cũng không sao, ví dụ như có hay không có cõi Tịnh độ, có hay không có hằng sa số chư Bụt hoặc Siddharta sinh ra hay không sinh ra từ bên hông, Maya phu nhân hiện đang ở tầng trời nào, thái tử sinh ra có đi bảy bước, có nói “trên trời dưới đất tôi là số một” không… Đó không phải là trái tim của tuệ giác đạo Bụt mà chỉ là đối tượng của sự tín mộ. Dù đang ở trong truyền thống Thiền hay Tịnh độ hay Thiên Thai hay Mật thì ta cũng phải công nhận trái tim của tuệ giác đạo Bụt là vô thường, vô ngã, tương tức, niệm, định, tuệ, không, vô tướng và vô tác. Những giáo lý này có mặt trong tất cả những truyền thống Phật giáo. Không có thì không phải là Phật giáo. Đó là những dấu ấn chứng tỏ đây là đạo Phật thật. Chú Lăng Nghiêm, chú Đại Bi hay đàn tràng chẩn tế có hay không có hiệu nghiệm, điều đó không quan trọng mấy. Điều quan trọng là phải thấy được đâu là trái tim của tuệ giác đạo Bụt. Truyền thống nào cũng phải công nhận giáo lý và sự thực tập niệm, định, tuệ, vô thường, vô ngã, Niết bàn, tương tức. Chúng ta sử dụng những giáo lý và sự thực tập đó khi đối thoại với khoa học.

Chánh kiến chân thật là sự vắng mặt của tất cả các kiến

Chúng ta phải phân biệt tinh thần khoa học và những khám phá khoa học. Tinh thần khoa học là tinh thần không bám víu vào bất kỳ một khám phá nào và cho đó là khám phá cao nhất vì ngày mai có thể có khám phá cao hơn và ta phải biết buông bỏ khám phá của ngày hôm nay. Tinh thần khoa học này rất Phật học vì trong Phật học có giáo lý phá chấp (non-attachment to views). Ta có những cái thấy rất hay nhưng ta không bị kẹt vào đó, ta không cho đó là cao nhất, không có gì có thể vượt thắng được chúng. Chúng ta hãy nghĩ đến hình ảnh của một cái thang, leo lên đến nấc thứ bảy ta thấy cao quá nhưng thế nào ta cũng phải bỏ nấc thang thứ bảy để có thể leo lên nấc thang thứ tám.

Cái thấy, trong đạo Phật gọi là kiến, tiếng Anh là view. Cái thấy đúng là chánh kiến (right view). Vô thường là một chánh kiến, thường là tà kiến, ta chọn chánh kiến vô thường và bỏ tà kiến thường. Nhưng xét trên phương diện ý niệm, thì đó chưa phải là chánh kiến mà chỉ mới là ý niệm. Ta có ý niệm về vô thường mà ta chưa có tuệ giác về vô thường và ý niệm về vô thường chưa giúp nhiều được cho ta. Học về vô thường ta chưa thấy có ích lợi gì nhiều vì đó chỉ là kiến, dù cho là chánh kiến. Đạo Bụt nói rất rõ là dù đó là chánh kiến ta cũng phải bỏ luôn vì chánh kiến được đưa ra không phải để làm mẫu mực cho chân lý tuyệt đối.

Những giáo lý về vô thường, vô ngã, duyên khởi không phải được đưa ra như những chân lý tuyệt đối mà như những phương tiện để đạt tới chánh kiến chân thật. Que diêm không phải là cứu cánh, nhưng ta rất cần que diêm nếu ta muốn có lửa. Muốn có tuệ giác giải thoát đích thật ta phải cần tới chánh kiến như vô thường, vô ngã, v.v… Nếu ta cứ mân mê, trân quý các que diêm thì không khi nào có được lửa, ta phải biết cách sử dụng que diêm thì mới làm ra được ngọn lửa. Cái thấy về vô thường, vô ngã, niệm, định, tuệ không có ích lợi nếu ta không biết cách sử dụng chúng và khi sử dụng được thì chính tuệ giác sẽ đốt cháy các kiến ấy. Nếu ta biết cách sử dụng thì chánh kiến vô thường làm ra tuệ giác vô thường và khi tuệ giác vô thường phát sinh ra thì nó đốt cháy chánh kiến vô thường. Sự thật không thường mà cũng không vô thường. Vì vậy trong đạo Phật nói rất rõ: Chánh kiến chân thật là sự vắng mặt của tất cả các kiến. (The absolute right view is the absence of all views.) Những giáo lý Bụt đưa ra không phải là những chân lý tuyệt đối mà là những dụng cụ để mình đốt đi những quan điểm của mình. Trong kinh Kim Cương nói: Không những ta phải buông bỏ cái phi pháp mà pháp ta cũng phải buông bỏ luôn. Pháp thượng ưng xả hà huống phi pháp? Trong kinh Người Bắt Rắn có hình ảnh của chiếc bè được ta kết để qua sông, qua sông rồi thì phải liệng chiếc bè chứ không vác bè lên lưng mà đi. Tất cả giáo lý về vô thường, vô ngã, duyên sinh, niệm, định, tuệ là những chiếc bè. Tuệ giác phát sinh thành ngọn lửa đốt cháy tất cả các kiến dù đó là kiến vô thường, vô ngã. Giới đầu tiên trong 14 giới Tiếp Hiện có nói về tinh thần cởi mở và bao dung: Ý thức được những khổ đau do thái độ cuồng tín và thiếu bao dung gây ra, con xin nguyện thực tập để đừng bị vướng mắc vào bất cứ một chủ nghĩa nào, một lý thuyết nào, một ý thức hệ nào, kể cả những chủ thuyết Phật giáo. Những giáo nghĩa Bụt dạy phải được nhận thức như những pháp môn hướng dẫn thực tập để phát khởi tuệ giác và từ bi mà không phải là những chân lý để thờ phụng và bảo vệ, nhất là bảo vệ bằng những phương tiện bạo động. Đó là tiếng gầm sư tử lớn trong đạo Phật. Trên thế gian ít có truyền thống nào dám nói: Giáo lý của tôi chỉ là phương tiện, đừng thờ giáo lý đó như chân lý tuyệt đối, đừng nhân danh giáo lý đó mà đi giết người khác. Nếu chúng ta thực tập đúng theo đó thì thế giới sẽ có hòa bình, chỉ cần thực tập giới đầu tiên của 14 giới Tiếp Hiện là đủ để có hòa bình trên thế giới.

Vượt thoát nhị thủ và sử dụng trực giác

Khi đối thoại với những nhà khoa học ta đừng đem những giáo lý đó ra để đàm thuyết. Hiện nay đã có những cuốn sách đối thoại với những nhà khoa học, nhưng tác giả chỉ đối thoại trên mặt lý thuyết. Tổ Lâm Tế sẽ không đem tới một cuốn kinh để đối thoại với khoa học mà tổ sẽ đem tới cây gậy và tiếng hét. Sau này quý vị muốn đối thoại với các nhà khoa học thì đừng đem theo sách vở mà nên đem theo sự thực tập của mình. Ta đi, ngồi, mỉm cười cho đàng hoàng để những người kia có thể thấy là họ đang thiếu cái đó. Trái tim của đạo Bụt không phải là một mớ lý thuyết về vô thường, vô ngã mà là tuệ giác về vô thường, vô ngã ta đạt tới được nhờ sự thực tập của mình. Đó là pháp linh động (the living Dharma) có đủ sức thuyết phục và có tinh thần khoa học. Tinh thần khoa học là tinh thần cởi mở và bao dung, không vướng vào bất cứ một kiến chấp nào.

Các nhà khoa học không thực tập sẽ bị dính vào những ý niệm khoa học. Chính nhà khoa học cũng cần phải thực tập buông bỏ và phá chấp, huống hồ là nhà Phật học. Nhờ trong đạo Phật có tinh thần phá chấp, buông bỏ nên đạo Phật mới đối thoại được với khoa học một cách dễ dàng. Đạo Phật không giáo điều. Vô thường, vô ngã không phải là giáo điều mà chỉ là những phương tiện, là que diêm mà chưa phải là ngọn lửa. Đạo Phật hướng dẫn được khoa học, không phải hướng dẫn bằng lý thuyết mà bằng tuệ giác. Đạo Phật có thể gợi ý và nâng đỡ cho khoa học. Trong thế kỷ thứ 21, nếu tu đàng hoàng thì ta có thể chơi với các nhà khoa học và giúp được họ.

Khoa học hiện đại cần vượt cho được nhị thủ (double grasping) thấy đối tượng và chủ thể là hai cái khác nhau, vật chất và tinh thần là hai cái khác nhau, thân và tâm là hai cái khác nhau, thời gian và không gian là hai cái khác nhau. Người quán sát và vật bị quán sát không phải là hai cái riêng biệt tách biệt nhau mà có.

Khoa học đã bắt đầu cảm thấy cái không có ranh giới giữa chủ thể và đối tượng, giữa tâm và vật, giữa não bộ và tâm thức, giữa người quán sát và sự vật được quán sát. Nhưng phần lớn các nhà khoa học vẫn còn sử dụng phương pháp phân tích, diễn dịch, quy nạp. Thỉnh thoảng mới có một nhà khoa học có trực giác khá mạnh. Nếu để trực giác dẫn đường thì họ sẽ đi tới những khám phá rất mầu nhiệm. Nếu họ chỉ dùng lý trí phân tích (discriminative mind) thì họ sẽ còn đi quanh rất lâu. Những nhà tu tập, như đức Thế Tôn ngày xưa, không dùng phân biệt trí mà sử dụng niệm, định để phát triển vô phân biệt trí (tuệ). Những khám phá của Ngài là do con đường trực giác mà không phải do con đường phân tích và diễn dịch. Vì vậy vấn đề của khoa học hiện đại là vượt được nhị thủ. Trong lĩnh vực vi mô (microscopic) các nhà khoa học đã thấy được: Tâm và vật quan sát dính với nhau, không thể tách rời. Nhìn một vật, trước tiên ta thấy được tâm của ta, cũng như chú gấu Pooh khi nhìn thấy những dấu chân trên tuyết, tưởng đó là dấu chân của con vật nào khác, nhưng không ngờ đó lại là dấu chân của chính nó.

Vượt thoát nhị thủ là vấn đề lớn nhất của các nhà tu và của các nhà khoa học. Vấn đề thứ hai là nhà khoa học phải căn cứ nhiều hơn trên trực giác (trí vô phân biệt) và họ đừng nên nghĩ rằng mình sẽ thành công được chỉ nhờ dựa trên trí phân tích, diễn dịch và quy nạp mà thôi.

Định đề 39

 

Duyên, thọ, uẩn, xứ, giới, thức, v.v… có thể được trình bày dưới nhiều mô thức khác nhau. Các mô thức này không nhất thiết phải chống đối nhau.

Conditions, feelings, skandhas, āyatanas, dhātus, vijñānas, etc…can be represented in different models. These models do not necessarily oppose each others.

Những mô thức không có tính cách tuyệt đối

Duyên

Duyên là những điều kiện (conditions), chúng ta nghe nói có bốn duyên, sáu duyên, chín duyên, mười duyên, mười hai duyên hay hai mươi bốn duyên. Có nhiều cách thức trình bày các duyên và có những pháp số khác nhau. Học mười hai nhân duyên, chúng ta nghĩ phải là con số 12 mới đúng. Mười hai nhân duyên bắt đầu từ vô minh đến hành, danh sắc, v.v… và chúng ta không đồng ý khi nghe người khác nói có thể có 13 nhân duyên hoặc chỉ có 8 nhân duyên vì chúng ta đã quen với một mô thức.

Mười hai nhân duyên thật ra chỉ là một trong những mô thức trình bày. Nghiên cứu lại những kinh Nguyên thỉ, trong kinh có lúc Bụt nói sáu duyên, chín duyên và có khi Bụt nói mười duyên hay mười hai duyên. Trong sự trình bày nhân duyên có sự tinh luyện và phát triển, những con số và mô thức đưa ra không có tính cách tuyệt đối. Mô thức nào cũng đều đúng, nếu có khuynh hướng phân tích ta có thể làm thành 24 duyên. Có truyền thống Phật giáo đã phân tích thành 24 duyên. Vì vậy chúng ta đừng nên kẹt vào những con số. Chúng ta phải linh động, mềm dẻo để đừng bị kẹt vào giáo điều (dogma).

Thọ

Thọ là cảm thọ, gồm có cảm thọ khó chịu, cảm thọ dễ chịu và cảm thọ trung tính. Nhưng thỉnh thoảng Làng Mai có nói đến bốn thọ. Làng Mai thêm vào một cảm thọ vừa khó chịu vừa dễ chịu, ví dụ như khi ta đang bị nhức mỏi mà có người ấn vào (massage) thì ta có cảm thọ vừa đau vừa sướng. Trong kinh Nikaya có câu chuyện: Một thầy và một vị cư sĩ, cả hai đều học Phật giỏi, họ tranh chấp với nhau về vấn đề “có bao nhiêu thọ”. Một người cho là Bụt nói có ba thọ, người kia cho là Bụt nói có năm thọ. Hai người cãi nhau và không ai chịu nhường ai cả. Cuối cùng nội bộ đem lên cho Bụt xét xử, Bụt nói: Ba thọ hay năm thọ cũng được, tại sao lại phải cãi nhau như vậy? Kinh này được ghi chép lại trong Tam Tạng, chứng tỏ Bụt không bị kẹt vào con số 3 hay con số 5. Lại còn có con số năm thọ: đó là khổ, lạc, ưu, hỷ và xả.

Chúng ta phải học bài học này, ta đừng chia rẽ nhau, đừng lập ra những phân phái khác nhau để chống đối nhau chỉ vì lý do ta không đồng ý với nhau về mô thức trình bày.

Uẩn

Thường thì chúng ta nói có năm uẩn, nhưng ta có thể nói hai, ba hay bốn uẩn cũng được, tùy theo cách chúng ta phân tích. Khi nói danh sắc (nāma-rūpa), Bụt nói tới hai uẩn. Con người của ta có hai uẩn là danh (nāma) và sắc (rūpa) giống như psychosoma (psycho là tâm, soma là thân). Nhưng trong kinh Niệm Xứ Bụt chia ra làm bốn uẩn, tức bốn lĩnh vực quán niệm: niệm thân trong thân, niệm thọ trong thọ, niệm tâm trong tâm và niệm pháp trong pháp (pháp là đối tượng của tâm). So sánh với ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) thì sắc thuộc về thân, thọ thuộc về cảm thọ, tưởng và hành thuộc về tâm. Vậy thì thức nằm ở đâu? Thức nằm dưới hành, thức là tâm vương còn hành là tâm sở, cũng như dòng sông là tâm vương và những giọt nước là tâm sở. Không có nước thì không có sông nên nói những giọt nước là đủ mà không cần nói tới dòng sông. Thức là nền tảng của sắc, thọ, tưởng, hành vì vậy chúng ta chỉ cần nói bốn uẩn là đủ mà không cần nói tới uẩn thứ năm.

Xứ và giới

Xứ và giới (āyatana) là những lĩnh vực của hiện hữu đứng về phương diện điều kiện mà nói. Chúng ta có 12 xứ: sáu căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý) và sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Do sự xúc chạm giữa sáu căn và sáu trần mà sinh ra sáu thức. Sáu căn, sáu trần và sáu thức làm thành 18 giới, tức là 18 lĩnh vực của hiện hữu. Tâm Kinh Bát Nhã nói: Không có 18 giới từ nhãn giới cho tới ý thức giới. Đó là mô thức 18 giới. Sau này, Phật giáo phát triển có nói tới thức thứ bảy, thức thứ tám và có khi nói tới thức thứ chín. Nếu nói tới thức thứ bảy thì phải nói tới 14 xứ hay 21 giới, nói tới thức thứ tám thì phải nói tới 16 xứ hay 24 giới. Vì vậy mô thức 18 giới chưa chắc là đúng, sau này chúng ta có mô thức 21 giới hoặc mô thức 24 giới. Trong truyền thống của chúng ta, có thức thứ bảy tức Mạt na và thứ thứ tám tức A lại da. Nhưng có truyền thống còn nói tới thức thứ chín Bạch tịnh thức (vimala) tức là có 27 giới. Đó là những mô thức sử dụng để giảng bày, là những phương tiện chứ không phải là sự thật khách quan của thực tại.

Các nhà khoa học bây giờ cũng làm theo phương cách đó. Họ đặt ra biết bao nhiêu là tên như phân tử, nguyên tử, điện tử, trung hòa tử, giới tử v.v… và đưa ra nhiều mô thức khác nhau về cái cực nhỏ cũng như cái cực lớn. Những tên gọi và những mô thức ấy do từ trong đầu của chúng ta mà ra nhiều hơn là do thực tại mà có.

Khoa học, giống như Phật học, đưa ra những mô thức để diễn tả về thực tại và những mô thức không hẳn là phải giống nhau. Biết được điều đó ta phải buông bỏ thái độ cuồng tín và cố chấp vào giáo điều mà các nhà khoa học đang kẹt vào. Mỗi năm họ đều khám phá và đặt tên cho những hạt mới, nhưng không có một mô thức nào được gọi là tuyệt đối cả.

Khoa học có nói tới một thức gọi là bình hành (sự thăng bằng), tiếng Pháp là équilibration, tiếng Anh là equilibrium. Chúng ta ít nói tới thức bình hành nhưng nó rất quan trọng, đó là cảm giác thăng bằng mà chúng ta có được. Ví dụ khi bị xoay như chong chóng, chúng ta không biết phương hướng, không biết ta đang ở đâu, đâu là phía trên và đâu là phía dưới. Khi ngồi yên lại thì ta thiết lập lại sự thăng bằng, ta ý thức được đây là phía trên, đây là phía dưới, đây là phía trước, đây là phía sau. Khoa học đã tìm ra một thức tương đương với cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái xúc chạm, đó là thức bình hành mà căn của nó nằm trong tiểu não ở phần trong của lỗ tai (oreille interne). Nếu không có thức bình hành thì ta sẽ không có cảm giác thăng bằng. Ngồi thiền ta có cảm giác rất thăng bằng, ta biết được đâu là trên và đâu là dưới, trước là gì và sau là gì. Không có cảm giác thăng bằng thì ta sẽ không có cảm giác yên tịnh, an lạc. Đó là một loại thức, mà có thức thì có xứ và giới, tức có đối tượng và chủ thể.

Sau này chúng ta có thể nói tới nhiều thức hơn là năm thức cảm giác (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) và bình hành thức là thức thứ sáu trước khi đi tới ý thức. Ý thức nằm ở dưới tất cả các thức cảm giác. Chúng ta không kẹt vào những con số và những giáo điều nên sau này trong khi hành đạo, chúng ta có thể đưa ra những mô thức mới hơn. Điều đó không có nghĩa là ta không trung kiên với truyền thống. Tinh thần của truyền thống là sự không cố chấp, là sự mềm dẻo, cởi mở, nhu nhuyến để có thể tìm ra những mô thức mới có thể diễn tả cái thấy mới một cách thích hợp hơn.

Đạo Phật có mục đích khác với khoa học, đạo Phật diễn tả để giúp cho sự tu học chứ không phải chỉ để thỏa mãn nhu yếu hiểu biết mà thôi. Đạo Phật chia các uẩn thành hai (danh, sắc) hay thành bốn (thân, thọ, tâm, pháp) hay thành năm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) không phải để chia chẻ mà chỉ để giúp cho người ta tu tập. Khi cần chia chẻ theo cách khác thì ta cứ tự do chia chẻ và phân tích mà đừng bị kẹt vào một cách thức cố định nào đó.

Tiếp nối sự nghiệp của Bụt

Kinh Quán Niệm Hơi Thở trong Nhật Tụng Thiền Môn có nói đến 16 hơi thở. Trong khi giảng dạy Làng Mai đã đề nghị đưa số hơi thở lên trên 20 mà không sợ không theo đúng truyền thống. Nếu ôn lại các hơi thở, quý vị sẽ thấy những hơi thở chúng ta đưa ra rất hay và chúng ta đã tiếp nối được công trình của Bụt. Bụt không bao giờ nói: “Ta đưa ra 16 hơi thở thì các người chỉ được thực tập 16 hơi thở thôi. Ai nói 17 hơi thở tức là phản lại ta!”. Chính Bụt cũng đã có sự phát triển trong quá trình giảng dạy của Ngài. Trước khi giảng 12 nhân duyên, Ngài đã giảng 8 hay 9 nhân duyên, nếu sống thêm vài năm nữa có thể Ngài sẽ giảng lên 14 nhân duyên. Kinh Quán Niệm Hơi Thở là kinh làm cho tôi có nhiều hạnh phúc nhất vì nó rất thực tế, rất khoa học. Chúng ta có thể khai thác kinh đó để áp dụng trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong lĩnh vực y khoa trị liệu. Ta đã bắt đầu công việc khai thác đó bằng những khóa tu về kinh Quán Niệm Hơi Thở. Ta có khuynh hướng ấy và đã bắt đầu khai triển, mà không còn nằm trong khuôn khổ của 16 hơi thở. Con số 16 là để cho dễ nhớ (4 hơi thở về thân, 4 hơi thở về thọ, 4 hơi thở về tâm và 4 hơi thở về pháp). Ngày xưa người ta không có máy ghi âm, không có ipod, nếu Bụt nói nhiều con số quá sợ người ta không nhớ hết. Nhưng bây giờ ta không còn gặp phải vấn đề đó nữa, nên ta phải có can đảm, phải có cái nhìn phóng khoáng và tiếp nối sự nghiệp của đức Thế Tôn một cách thông minh.

Quán chiếu vô thường, vô dục, tịch diệt và buông bỏ

Học 16 phép quán niệm hơi thở ta thấy rõ Bụt chỉ dạy cho ta một cách rất khoa học từ thân tới thọ, tâm và pháp. Nhưng vì khả năng ghi chép chỉ được như vậy nên Bụt đã đưa ra mô thức 16. Hơi thở thứ 13 của kinh Quán Niệm Hơi Thở là quán chiếu về vô thường:

Thở vào tôi quán chiếu về vô thường

Câu này rất hay vì quán chiếu về vô thường là một chìa khóa để thấy được vô ngã. Vô thường và vô ngã không phải là hai, đứng về phương diện thời gian là vô thường còn đứng về phương diện không gian là vô ngã, mà thời gian thì không thể tách rời không gian. Nếu sự vật đã vô thường thì nó không duy trì được tính đồng nhất của nó, nó là vô ngã. Tôi bây giờ không còn là tôi của mấy phút trước đây vì vậy tôi không là tôi và người không phải là người. Vô thường đưa tới vô ngã. Theo lý luận đó thì hơi thở kế tiếp phải là hơi thở quán chiếu về vô ngã:

Thở vào tôi thấy tính vô ngã của vạn pháp

Khám phá tính chất vô ngã, ta thấy ta và cha ta không phải là hai thực thể khác biệt, ta chẳng qua chỉ là sự tiếp nối của cha ta, ta giận cha tức là ta giận chính ta. Như vậy ta đả phá được rất nhiều vô minh.

Nhưng trong kinh Quán Niệm Hơi Thở không có hơi thở quán chiếu về vô ngã mà có hơi thở quán chiếu về vô dục. Vô dục cũng là sự tiếp nối của vô thường. Nếu sự vật là vô thường mà ta cứ chạy theo nắm bắt nó thì ta khổ.

Trăm năm còn có gì đâu

Chẳng qua một nắm cỏ khâu xanh rì

Là vô thường thì sự vật sớm còn tối mất, không đáng để ta đem hết cả cuộc đời mà theo đuổi. Ta đang theo đuổi một bằng cấp, ta nghĩ ta phải mất 10 hay 15 năm mới đạt được nó, không có nó thì ta không thể có hạnh phúc và trong khi đeo đuổi nó thì ta khổ. Nhưng ta lại thấy những người không có bằng cấp mà tại sao họ lại rất hạnh phúc? Vì vậy quán chiếu vô thường có thể đi tới vô dục, không ham muốn những cái vô thường như pháo bông, như bọt nước, như cầu vồng. Ta thấy chúng đẹp nhưng ta không có ước muốn nắm bắt chúng vì ta biết chúng là vô thường. Ai mà đi nắm bắt một làn hương? Tuệ giác về vô thường đưa tới thái độ vô dục và cũng như đưa tới tuệ giác về vô ngã. Hơi thở thứ 14, thay vì là hơi thở quán chiếu về vô ngã, thì ở đây là hơi thở quán chiếu về vô dục. Đức Thế Tôn đã chọn vô dục, vô dục là tính cách không đáng chạy theo, không đáng tìm cầu của những đối tượng ái dục.

Ngày xưa mấy ông nho sĩ, tuy không tu Phật giáo, nhưng thỉnh thoảng cũng đạt tới cái thấy vô thường và vô dục. Một ông nho sĩ đã từng chạy theo một cô nàng và đã lên xuống quá nhiều vì cô đó. Ông làm ra hai câu hát và tới nhà hát nhờ một cô đào nương hát theo kiểu hát nói. Hai câu này chứng tỏ ông đã đạt tới cái thấy về vô thường và vô dục:

Vị gì một cánh bèo mây

Làm cho biển ái khi đầy khi vơi

Cánh bèo rất mong manh, nổi bập bềnh trên mặt nước và trôi chỗ này đến chỗ khác. Cô kia rất bất thường, cô lên xuống và làm cho ông cũng lên xuống, cô là một cánh bèo mây, cô là vô thường.

Hơi thở thứ 15 là:

Thở vào tôi quán chiếu về tịch diệt

Tịch diệt là chân tính không sinh, không diệt, không tới, không đi, không có, không không, không còn, không mất. Đó là bản thể của ta. Sóng có thì giờ, có cơ hội để quán chiếu và thấy được mình cũng là nước. Trong thế giới của sinh diệt, lên xuống, có không, còn mất, ta đau khổ như một đợt sóng; ta bị cuốn theo thế giới hiện tượng. Nhưng nhờ có duyên, ta tiếp xúc được với Phật pháp, với thầy, với tăng thân. Ta có cơ hội ngồi lại để thấy ta không phải chỉ là thế giới của hiện tượng, ta không chỉ sống trong thế giới của tích môn mà ta cũng đang ở trong bản môn. Nền tảng của ta là bản môn, khi tiếp xúc được với bản môn thì ta không còn đau khổ, lúc lên lúc xuống, khi vào khi ra, khi còn khi mất. Mục đích tối hậu của một kiếp người là đạt tới tịch diệt. Ngày xưa các tổ ở Việt Nam gọi đó là cái lặng lẽ, tức là không còn ngôn từ, không còn những ý niệm như có, không, sinh, diệt, còn, mất.

Trường Viễn Đông Bác Cổ Paris còn giữ được một kinh gọi là kinh “Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng”, có bản dịch sang chữ nôm thực hiện vào khoảng thế kỷ 15-16. Tất cả những chữ “Phật” đều được dịch là chữ Bụt. Bản của trường Viễn Đông Bác Cổ được in lại vào đời chúa Trịnh và chữ lặng lẽ nói trên có nằm trong kinh này. Nhà học giả Tạ Trọng Hiệp làm việc nghiên cứu ở Paris đã xin vào sao chép một bản gửi về Việt Nam. Hiện nay có một học giả khác đã phiên âm ra chữ quốc ngữ và in lại tất cả. Chúng ta hiện đang có một bản ở đây. Theo bản này chúng ta biết:

  1. Lặng lẽ là chữ ngày xưa các tổ đã dùng để dịch chữ tịch diệt.
  2. Các chữ Phật đều được dịch là Bụt.

Điều này chứng tỏ rằng, dân tộc Việt Nam từ ngày xưa cho đến thế kỷ 17 vẫn dùng chữ Bụt. Ta mới bắt đầu dùng chữ Phật chỉ mấy trăm năm nay thôi. Ngày xưa cha mẹ được gọi là áng nạ, áng là cha, nạ là mẹ. Điều đặc biệt là trong nghi thức mở đầu buổi tụng kinh có xưng tụng danh hiệu của thánh mẫu Maya và di mẫu Gotama. Vì vậy việc Làng Mai lạy tôn giả ni trưởng Kiều Đàm Di cũng không phải là cách mạng lắm. Các tổ của ta đã từng lạy trước những người phụ nữ như Quan Âm Diệu Thiện, tức bà Chúa Ba đã dâng cánh tay làm thuốc cứu cha; như thánh mẫu Maya, người đã hạ sinh đức Thế Tôn; như di mẫu Kiều Đàm Di. Có thể nói Làng Mai rất là truyền thống.

Hơi thở thứ 16 là hơi thở quán chiếu về phóng khí, về buông bỏ. Buông bỏ những ý niệm làm cho ta kẹt như ý niệm về thọ mạng, những ý niệm mà trong kinh Kim Cương đã nói tới như ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả.

Trong khuôn khổ của 16 hơi thở chúng ta chỉ có bốn hơi thở về phương diện tưởng (tri giác), pháp (đối tượng của tri giác). Nhưng thật ra những hơi thở giúp ta đạt tới sự giải thoát giác ngộ có thể nhiều hơn con số 16, như hơi thở về vô ngã, về tương tức, về duyên sinh. Chính nhờ quán chiếu về duyên sinh mà người ta có thể thành Phật như các vị Độc giác Phật, các vị Bích chi Phật hay ngay cả chính đức Thế Tôn. Không có hơi thở về duyên sinh trong 16 hơi thở thì hơi thiếu, nhưng Bụt đã muốn dùng bốn hơi thở cho mỗi lĩnh vực của bốn lĩnh vực (4×4) cho người ta dễ nhớ. Là học trò thông minh của đức Thế Tôn ta phải giúp Ngài khai phá thêm những hơi thở quan trọng đưa tới sự giải phóng tâm thức của ta, trong đó có hơi thở về duyên sinh, vô ngã và tương tức.

Phật giáo có thể đi đôi với khoa học

Nhà Bác học Einstein nói rằng: Nếu sau này có một tôn giáo có thể đi đôi với khoa học thì tôi nghĩ rằng đó là Phật giáo. Chúng ta thấy trong Phật giáo có tinh thần khoa học. Tinh thần khoa học là tinh thần cởi mở, có khả năng buông bỏ những ý niệm và những kiến thức cũ để đạt tới chân trời mới của sự thật. Nhưng cũng có những nhà khoa học cố chấp. Những nhà khoa học nào có khả năng xả, buông bỏ nhiều nhất là những người có cơ hội khám phá nhiều nhất. Đó là phía của những nhà khoa học, còn những nhà Phật học thì sao? Có những nhà Phật học rất cố chấp, vì vậy cho nên không đi xa được. Những nhà Phật học không cố chấp khám phá được rất nhiều chiều sâu trong đạo Bụt bằng những kinh nghiệm tâm linh của mình. Giáo lý về phá chấp, không kẹt vào ngôn từ và ý niệm cho chúng ta thấy đạo Bụt có tinh thần khoa học và có thể đi đôi với khoa học.

Khoa học cũng đưa ra những mô thức để giải thích vũ trụ. Đạo Bụt cũng đưa ra những mô thức, nhưng không phải để giải thích vũ trụ mà để chúng ta nương vào đó mà tu tập. Đạo Bụt có thái độ mềm dẻo, không cố chấp nên không kẹt vào những mô thức của mình và luôn luôn sẵn sàng đưa ra những mô thức mới. Như vậy không có nghĩa là những mô thức cũ sai, đưa ra 12 nhân duyên không có nghĩa là 9 nhân duyên sai, nói năm uẩn không có nghĩa là bốn uẩn sai. Mỗi mô thức có sứ mạng của nó. Nhà khoa học cũng đưa ra những mô thức và những đề nghị. Sau này nếu trực giác đưa tới cái thấy sâu hơn thì ta sẵn sàng buông bỏ mô thức cũ để đưa ra một mô thức mới. Vì vậy chúng ta thấy có viễn tượng sau này các nhà Phật học sẽ làm việc chung với các nhà khoa học. Các nhà khoa học chỉ dùng trí phân tích của họ, nhưng người nào có khả năng sử dụng trực giác (intuition) thì người đó sẽ có cơ hội khám phá nhiều hơn. Trong đạo Bụt ta được khuyến khích nương vào trực giác nhiều hơn. Ta dùng giới, niệm, định để nuôi dưỡng trực giác, gọi là vô phân biệt trí (non- discrimination wisdom).

Ở Á châu người ta có cảm tưởng cái thấy, cái biết, cái thương nằm trong bụng chứ không nằm trong đầu. Ở Á châu người ta hay nói: Lòng của mình. Chữ lòng không có nghĩa là não, người ta rất ít dùng chữ não. Á châu dùng chữ tâm phúc, tâm là trái tim, phúc là cái bụng. Suy bụng ta ra bụng người có nghĩa là bụng của mình nghĩ như vậy nên mình tưởng người ta cũng nghĩ như vậy. Có khi tức quá ta nói: Để tôi mổ bụng ra cho quý vị biết tâm can của tôi là như thế đó. Đó là trực giác của người Á châu. Cái gì thân thiết nhất thì ta gọi là ruột rà, Tâm Kinh được gọi là Kinh Ruột. Khoa học hiện đại vừa khám phá ra ruột là bộ óc thứ hai của con người, có hàng chục triệu tế bào óc trong ruột. Ruột có khả năng chế tác ít nhất là 70-85% tế bào miễn nhiễm và ruột cũng chế tạo ra tới 30 chất gọi là dẫn truyền thần kinh (neuro transmitter). Những cảm nghĩ, những suy tư, những thương yêu, những quyết định của ta nằm trong bụng rất nhiều. Giữa hai bộ óc có sự liên hệ rất mật thiết. Các họa sĩ ngày xưa khi nói có Bụt trong tâm thì nghĩ ngay đến tâm ở trong bụng, vì vậy một họa sĩ đã vạch bụng lên và chỉ cho thấy có một đức Bụt ở bên trong. Chúng ta có một trực giác mà ta chưa chứng minh được, nhưng có thể sau này khoa học với những khám phá, những tìm hiểu sẽ chứng minh được trực giác ấy của mình. Những tuệ giác như “Tất cả là một, một là tất cả”, “Cái một được làm bằng cái tất cả, cái tất cả nằm trong cái một”, những cái thấy như “phương ngoại”, “kiếp ngoại”, “vượt thoát thời gian, vượt thoát không gian”, “Niết bàn”, v.v… đều là trực giác do trí vô phân biệt truyền tới, trong khi đó khoa học chỉ sử dụng trí phân biệt. Đạo Phật là một kho tàng trí tuệ đạt được nhờ trực giác (vô phân biệt trí). Sau này vô phân biệt trí sẽ làm việc với phân biệt trí để chứng minh rằng: Từ ngày xưa đạo Phật đã nắm được những cái mà khoa học bây giờ mới bắt đầu thấy. Có những cái rất khó hiểu, khó tin đã trở thành đối tượng của niềm tin của ta như:

Trong hạt bụi có vô số Bụt

Mỗi vị an trú chúng hội mình

Đức tin của con vẫn tràn đầy

Trong mỗi hạt bụi của pháp giới

Cái vô cùng lớn nằm trong cái vô cùng nhỏ. Vì vậy cái ta muốn tìm, ta không cần tìm trong thời gian và không gian xa xôi, ta có thể tìm ngay trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây. Đó là những tuệ giác rất lớn trong đạo Bụt mà khoa học bây giờ bắt đầu cảm thấy. Khoa học lượng tử bây giờ giống như một nền triết học, bắt đầu gõ cửa bản thể để thấy được cái gọi là lặng lẽ, tức cái thế giới Niết bàn không sinh, không diệt, không này, không kia, vượt thoát thời gian và vượt thoát không gian.

Phải thay đổi mình trước

Khi có những đau khổ hay khó khăn ta đừng đổ lỗi cho hoàn cảnh hay cho người khác. Ta đau khổ là vì ta không tu, ta không thực tập hiểu và thương. Không phải tại người ta như vậy nên ta đau khổ, những người đổ lỗi cho người khác làm mình đau khổ là những người không tu. Ngồi đó đợi người ta thay đổi là chuyện không bao giờ có. Ta phải thay đổi mình trước, thay đổi bằng cách thực tập hiểu và thương. Người thế gian nghĩ hạnh phúc là có nhiều tiền bạc hay có nhiều quyền hành; nhưng là một người tu ta không nghĩ như vậy. Có nhiều tiền bạc, quyền hành có thể có rất nhiều đau khổ. Có hiểu và thương nhiều thì có hạnh phúc nhiều và không có đau khổ. Nếu ở đây mà ta không học được phương pháp làm lớn lên cái hiểu biết và cái thương yêu của ta thì ta ở đây chỉ vô ích. Ta chê người này, người khác; ta cho rằng sở dĩ ta không có được hạnh phúc là tại người này hay người kia. Ta ngồi ở đây đợi những người khác thay đổi cho ta có hạnh phúc trong khi ta không chịu làm công việc thay đổi chính mình.

Những đau khổ, những lề thói hành xử trong gia đình của ta ngày xưa, ta mang về đây và ta không chịu học hỏi để chuyển hóa. Sử dụng những tập khí đó để phán xét, chê bai, trách móc thì ta không thừa hưởng được sự có mặt của Làng Mai. Ta tới Làng Mai là để tu tập chứ không phải để chờ đợi người ta thay đổi cho ta có hạnh phúc. Ta tới đây để tu chứ không phải để đòi hỏi người này phải như thế này, người kia phải như thế kia. Tôi rất hạnh phúc khi thấy trong chúng có những người có tu, có hạnh phúc, có nụ cười, có chuyển hóa. Cũng có người chưa có hạnh phúc lắm vì họ tu còn dở. Ta cho họ cơ hội, thời gian và điều kiện, nhưng họ chưa biết sử dụng. Có những người về Làng Mai chỉ được năm, bảy ngày thôi mà họ rất hạnh phúc, đã chuyển hóa rất nhiều và đem sự chuyển hóa đó về cho gia đình. Nếu đã ở Làng Mai ba năm mà không chuyển hóa được là uổng cho ta và uổng cho Làng Mai.

Ta nhận được nhiều lá thư chia sẻ về sự chuyển hóa sau một thời gian thực tập tại Làng Mai. Một cô thiền sinh 25 tuổi ở xóm Mới viết một lá thư rất dài, nói về những khổ đau ngày xưa cô đã gánh chịu trong gia đình. Mẹ cô đã làm khổ cô, làm khổ ba cô và tự làm khổ mình như thế nào. Lúc còn nhỏ cô cứ nghĩ hạnh phúc là chuyện của ngày mai, sau khi mình thoát khỏi hoàn cảnh bây giờ. Lớn lên, đi học rồi đi làm, cô cũng có bạn trai, có chơi bời nhưng những đau khổ của cô vẫn không chuyển hóa được. Cô vẫn cảm thấy có sự trống rỗng trong lòng và không có khả năng xử lý được những đau khổ đó. Ngày xưa cô nghĩ sau này lớn lên mình sẽ thật sự có tự do. Bây giờ cô có thể đi chơi, có bạn trai nhưng cô vẫn không có khả năng hạnh phúc. Những giây phút chơi bời, đùa giỡn chỉ là để phủ lấp những niềm đau nỗi khổ trong lòng. Khi tới được Làng Mai cô bắt đầu thấy rằng hạnh phúc là có thể có được. Sự thực tập ở Làng Mai cho cô thấy sự sống đích thực có thể có được ngay bây giờ chứ không phải ở trong tương lai. Lần đầu tiên tiếp xúc với tăng thân cô thấy được tình thương, tình huynh đệ, tính tương tức, sự nâng đỡ lẫn nhau của những thành phần trong tăng thân, cái mà ngày xưa cô không bao giờ cảm thấy được trong gia đình. Cô đã tới Làng Mai nhiều lần. Cô đã bắt đầu giúp cho cha, cho mẹ, cho bạn bè. Sau một thời gian ở Làng Mai cô trở về với bạn bè ở vùng Bordeaux và thấy rất tội cho các bạn cô. Cô hy vọng với sự chuyển hóa của mình cô có thể giúp những người bạn thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của đau khổ.

Khi đọc được những lá thư như thế mình rất vui. Có những người thừa hưởng được sự thực tập ở Làng Mai, thừa hưởng được sự có mặt của tăng thân, của các thầy, các sư cô. Họ thấy rất rõ đây là con đường cho họ, đây là sự thật mỗi ngày: Đi ra đi vào, ngồi xuống, ăn cơm, lúc nào cũng có hạnh phúc, có năng lượng tập thể, có tình huynh đệ. Đây không phải là một hy vọng hay một niềm tin vào tương lai.

Lần đầu tiên cô thiền sinh cảm thấy được người ta lắng nghe và được người ta hiểu mình. Cô nói với ba cô là mùa hè cô sẽ về Làng Mai với ba. Ba cô rất mừng, ông không bao giờ tưởng tượng được chuyện đó có thể xảy ra, vì ngày xưa cô tuyệt đối chống đối với ba, cô không thể tìm sự an ủi, hạnh phúc và sự bình an nào mỗi khi nói chuyện hay nghĩ tới ba. Bây giờ cô đã nói chuyện được với ba cô. Đó là một thay đổi rất lớn.

Truyền thống dân chủ của Làng Mai

Trong các tu viện Cơ đốc giáo, các vị xuất gia sống theo ba nguyên tắc:

  • Sống nghèo (pauvreté), đạo Bụt gọi là an bần, tự nguyện sống đơn giản.
  • Phạm hạnh (chasteté hoặc chastity).
  • Vâng lời (obedience), không được cãi lại, người lớn nói sao thì phải nghe vậy, mẹ bề trên nói thì phải nghe theo mà không được đặt điều kiện.

Mùa đông năm 2004, chúng ta đã có ba tháng an cư tại tu viện Lộc Uyển. Chúng ta đã nghiên cứu giới luật của Phật giáo, Vinaya của Pháp Tạng Bộ, đồng thời chúng ta cũng nghiên cứu về giáo chế (code monastique) của dòng Benedictin và so sánh hai bên. Nếu quý vị muốn nghe thì có thể tìm những bài giảng đã được ghi lại trong băng đĩa.

Làng Mai được thừa hưởng truyền thống Tự tứ của đạo Bụt, thực tập lắng nghe và ái ngữ cho nên ta thực tập làm quyết định chung gọi là tác pháp yết ma. Tác pháp yết ma là lấy ý kiến và quyết định chung chứ không chỉ do vị viện trưởng hay vị trụ trì quyết định. Theo truyền thống đạo Bụt, những người thọ giới lớn được quyền tham dự tác pháp yết ma, những người chưa thọ giới lớn thì không được quyền có mặt. Những người thọ giới lớn là nòng cốt của tăng đoàn. Những người chưa thọ giới lớn, mới là sa di, sa di ni thì chưa có tư cách tham dự vào tác pháp yết ma. Nếu đã thọ giới lớn, dù chỉ mới thọ một ngày, cũng được tham dự vào tác pháp yết ma. Trước khi làm tác pháp yết ma chúng ta hỏi: “Quý vị đã tập họp đầy đủ chưa? Có sự hòa hợp trong đại chúng không? Những người chưa thọ giới lớn đã ra khỏi nơi này chưa?” rồi mới bắt đầu đưa ra lời tác bạch và hỏi ba lần. Nếu sau ba lần hỏi mà mọi người đều im lặng thì quyết định được chấp nhận. Từ 2.600 năm trước, trong đạo Bụt đã có dân chủ và các tu viện Phật giáo được điều hành trên thể chế dân chủ tác pháp yết ma.

Làng Mai duy trì tác pháp yết ma, trong buổi họp các vị tỳ kheo hoặc tỳ kheo ni quyết định tất cả. Làng Mai có Hội đồng giáo thọ gồm những vị đã được truyền đăng làm giáo thọ, những vị giáo thọ tập sự được tham dự các buổi họp của giáo thọ. Nhưng chúng ta nói rất rõ: Hội đồng giáo thọ không quyết định giùm cho Hội đồng tỳ kheo và tỳ kheo ni. Giáo thọ chỉ chuyên môn về chương trình tu học, những quyết định của Hội đồng giáo thọ phải được Hội đồng tỳ kheo, tỳ kheo ni chấp nhận thì mới có hiệu lực. Thầy và đại chúng luôn luôn nhắc rằng Hội đồng giáo thọ không đứng cao hơn Hội đồng tỳ kheo, tỳ kheo ni mà nằm trong Hội đồng tỳ kheo, tỳ kheo ni. Trong nếp sống xuất gia đó là pháp chế ngàn xưa từ thời Bụt. Làng Mai đã đi xa hơn, tuy các vị tỳ kheo, tỳ kheo ni quyết định nhưng mình cũng cho các em sa di, sa di ni và các vị cư sĩ được quyền phát biểu trước đó. Các vị tỳ kheo, tỳ kheo ni phải ngồi lắng nghe các em mình trước khi đi tới sự thực tập tác pháp yết ma. Đó là một tiến bộ rất lớn của Làng Mai. Trước đó sa di, sa di ni chỉ vâng theo (y giáo phụng hành). Tại Làng Mai các sa di, sa di ni được họp chung với nhau, nhiều khi được họp chung với các vị đã thọ giới lớn và được phát biểu cảm tưởng và ý kiến của mình.

Trong thể chế dân chủ của một nước, người được bầu làm dân biểu quốc hội được quyền bỏ phiếu trong quốc hội. Dân chúng có quyền phát biểu, tập họp, biểu tình, đưa ra đề nghị, nhưng người bỏ phiếu phải là dân biểu quốc hội. Thể chế đó tương đương như trong tu viện: những người thọ giới lớn được tác pháp yết ma nhưng các anh các chị thọ giới lớn cần ý kiến của các sadi, sadini, thức xoa. Là đàn em mình được khuyến khích giúp ý kiến cho các anh chị để họ có quyết định sát với nhu yếu của đại chúng. Vì vậy chúng ta có những buổi họp của sa di, sa di ni, những buổi họp của cư sĩ để nói lên cái thấy của mình. Căn cứ trên cái thấy đó các vị tỳ kheo, tỳ kheo ni sẽ đi tới quyết định cho toàn chúng.

Sau khi làm xong bổn phận của mình tức nói lên ý của mình rồi thì mình phó thác cho Hội đồng tỳ kheo, tỳ kheo ni quyết định. Khi đã có quyết định thì mình phải tuân theo, mình không thể phản đối vì đó là thể chế dân chủ. Khi Hội đồng đã quyết định thì mình phải chấp nhận. Chính các thầy, các sư cô trong Hội đồng tỳ kheo, tỳ kheo ni, dù không đồng ý hoàn toàn, cũng phải chấp nhận huống hồ là sa di, sa di ni hay cư sĩ. Nhưng mình luôn luôn học hỏi được thêm trong quá trình thực tập. Mình có thể thấy được: quyết định kia nếu chưa đáp ứng được lại trái tim của mình một cách hoàn toàn, có lẽ mình phát biểu còn hơi vụng về, mình chưa thuyết phục được các anh, các chị. Đôi khi các anh, các chị chưa thấy rõ được vấn đề, một phần tại vì mình không truyền đạt được đầy đủ cái thấy của mình. Mình tự trách mình mà không trách các anh, các chị trong Hội đồng tỳ kheo, tỳ kheo ni. Mình nghĩ lần sau mình sẽ làm hay hơn và mình sẽ giúp các anh, các chị làm hay hơn.

Quốc hội có thể đưa ra vài đạo luật không vừa ý dân, nhưng vì họ là dân biểu, họ đã đưa ra quyết định thì ta phải chấp nhận. Ta phải vận động dư luận, ta phải viết thư cho vị dân biểu mà ta đã bầu lên, ta phải viết bài trên báo, ta phải đưa kiến nghị, ta phải đi biểu tình bất bạo động để đề đạt ý của mình lên Quốc hội xin xem xét lại. Có thể trong kỳ họp tới, Quốc hội sẽ có những quyết định hay hơn.

Tôi rất hài lòng về cách làm việc của Làng Mai. Nhìn quanh các tu viện, các trung tâm tu học Phật giáo trên thế giới, ngay cả Việt Nam, tôi thấy chưa có nơi nào làm được như vậy, chưa có nơi nào mà các sa di, sa di ni, các cư sĩ được lắng nghe như vậy. Các em được quyền nói nhưng với điều kiện là phải nói lễ phép, phải dùng ái ngữ, không được trách móc, lên án. Ta có tập quán bị cha mẹ đàn áp ngày xưa, ta không bao giờ được phát biểu, giờ đây có cơ hội nên ta có thể làm thái quá. Ngày xưa cha mẹ ta không lắng nghe ta như các anh tỳ kheo và các chị tỳ kheo ni. Họ đã được thực tập lắng nghe và họ lắng nghe như vậy là hay lắm rồi. Ta còn đòi hỏi, trách móc gì nữa? Ta đã nói ra được những gì ta muốn nói, nói một cách thật mềm mỏng, dễ thương, rõ ràng. Vấn đề là ta được nói, được phát biểu, nếu quyết định không hoàn toàn như ta muốn thì ta phải kiên nhẫn đợi đến kỳ sau. Đứng về phương diện nguyên tắc cũng như phương diện thực tế ta cũng làm như vậy. Ta có những buổi họp sa di, sa di ni, thức xoa ma na để ta có thể đề đạt ý kiến, ta có thể viết thư cho các anh, các chị, ta có thể viết thư cho thầy, thầy cũng đọc thư và lắng nghe ta. Nếu trong đại chúng có một vài anh chị hơi thủ cựu, hơi muốn sử dụng quyền hành của người lớn thì đó cũng là chuyện rất thường.

Nếu ngoài xã hội có đảng bảo thủ và đảng tiến bộ thì trong chùa cũng có đảng bảo thủ dù trong đảng đó chỉ có một hay hai người. Nhưng để đối phó với đảng bảo thủ ta có Hội đồng tỳ kheo, tỳ kheo ni quyết định theo đa số. Không phải vì một hay hai người đó mà ta chịu chết. Trong gia đình thì ba má muốn làm gì thì làm và mình phải chịu. Nhưng một hay hai người bảo thủ sẽ không làm gì được vì các vị tân tỳ kheo, tân tỳ kheo ni cũng có quyền tương đương với họ. Ta có bổn phận, có phương tiện để thực hiện tuệ giác, ước mong của ta. Tôi rất vui và rất hãnh diện vì chúng ta đã làm được như vậy. Tôi đã từng đi thăm những trung tâm tu học và nhiều tu viện khác, tôi tin rằng với cơ cấu, kinh nghiệm và tinh thần truyền thống của mình, nếu chấp hành nghiêm chỉnh thì hạnh phúc của mình sẽ rất lớn. Càng ngày chúng ta càng học hỏi được thêm, cái hiểu và thương của ta sẽ tiến bộ và hạnh phúc của ta sẽ rất lớn. Ta đừng theo tập khí của ngày xưa. Ta tới đây để tập nhận diện tập khí của ngày xưa. Tập khí đó đã có thể làm tan nát gia đình của ta, tại sao ta lại còn muốn đem nó vào trong chùa. Trách móc, lên án, nói lời không dễ thương, không có tình, không có nghĩa, đó có thể là tập khí của ta khi ta chưa đi xuất gia, bây giờ đi tu thì ta phải thay đổi.

Nhiều nhóm người Tây phương có ý định thành lập những trung tâm tu tập do người cư sĩ lãnh đạo. Đó là điều tôi rất mơ ước. Nếu tại các tu viện các vị xuất gia làm được thì tại các trung tâm tu học cho người cư sĩ, người cư sĩ cũng làm được. Nhiều nhóm người bên Mỹ, bên Âu châu đã đứng ra tổ chức được những trung tâm tu học. Họ cũng đã gặp rất nhiều khó khăn. So với những khó khăn của họ thì những khó khăn của các thầy, các sư cô Làng Mai rất nhỏ. Hiện nay chúng ta có một số trung tâm do các vị cư sĩ điều động. Nếu quý vị không bằng lòng với cách thức của Làng Mai thì có thể đến các trung tâm đó để nếm thử xem người cư sĩ thực tập điều động trung tâm như thế nào. Nếu mà ta không biết thừa hưởng chế độ tự do thì ở đây cũng chỉ vô ích. Hạnh phúc của ta là do sự thực tập mà có. Ngồi đợi người khác phải thế này thế kia thì không bao giờ ta có được hạnh phúc. Tập khí lâu đời ngày xưa mà ta chưa chuyển hóa được thì đi đâu ta cũng không có hạnh phúc.

Tăng thân của ta vẫn còn khuyết điểm và chưa được toàn hảo. Nhưng vấn đề không phải là có một tăng thân toàn hảo, vấn đề là ta có thực tập hay không? Dù cho ta đang có nhiều khuyết điểm, nhưng nếu ta đang thực tập thì cái đó đã đủ cho ta có được hạnh phúc, đủ cho ta hãnh diện về tăng thân của mình. Câu hỏi ta phải đặt ra cho mình là ta có đang thực tập hay không, ta đang thực tập để hiểu và thương hay không hay ta chỉ ngồi đó mà trách người này, người kia?

Xin đại chúng hãy sử dụng cơ cấu tổ chức của mình để giải quyết mọi vấn đề. Các sa di, sa di ni, thức xoa ma na hãy ngồi họp với nhau về hạnh phúc và về sự tu tập của mình. Các vị cư sĩ cũng ngồi lại soi sáng cho nhau để nhìn lại sự tu tập và hạnh phúc của mình. Quý vị có thể nói ra với các thầy, các sư cô trong Hội đồng giáo thọ. Các thầy, các sư cô cũng có những buổi họp hạnh phúc với các sa di, sa di ni. Ta có đủ các pháp môn để làm hạnh phúc cho tăng thân, vấn đề là ta có chịu làm hay không. Nếu có tu tập thì sự nhẹ nhàng và cái an vui của mình có thể giúp được cho tăng thân trưởng thành một cách mau chóng. Nếu ta đau khổ, khó chịu thì không bao giờ ta đóng góp được vào công trình giúp tăng thân chuyển hóa.

Những sản phẩm Làng Mai hiến tặng cho Việt Nam

Các đức Thế Tôn, các bậc đạo sư đều có ước mong, có lý tưởng thành lập một tăng thân trong đó có hòa điệu, có tình huynh đệ để làm chỗ nương tựa cho không biết bao nhiêu người và ngay cả cho vị đạo sư. Các vị Bụt, các vị Bồ tát, các vị tổ sư đều làm như vậy. Là người xuất gia hay người tại gia ta cũng rất muốn thành lập những tăng thân để làm chỗ nương tựa cho nhiều người. Nhưng thành lập như thế nào nếu ta không tu, không biết ái ngữ, không nhận diện được những tập khí của ta, ta để nó vung vãi ra làm khổ mình và những người chung quanh, và như thế ta không giúp gì được cho tăng thân.

Làng Mai cũng có chia sẻ với các chùa, các đạo tràng trong nước về 30 năm kinh nghiệm của Làng Mai trong việc xây dựng tăng thân. Tăng thân Làng Mai không phải là một tăng thân đơn văn hóa. Chúng ta đã tới từ những nền văn hóa rất khác nhau. Trong tăng thân Làng Mai có nhiều văn hóa khác nhau, từ cách ăn uống cho tới cách hành xử. Nhưng nói một cách tương đối, trong tăng thân Làng Mai có đủ tình huynh đệ, có đủ hạnh phúc để nuôi dưỡng thầy và tăng thân. Đó là một sự thành công. Ở Việt Nam chúng ta đã chia sẻ những kinh nghiệm rất cụ thể mà chúng ta đã có về việc xây dựng tăng thân. Những kinh nghiêm đó không phải là những lý thuyết ta có về công trình xây dựng tăng thân. So với mấy chục thiên uy nghi cũ thì 41 thiên uy nghi mới trong cuốn “Bước tới thảnh thơi” có thể nói là giàu có và đầy đủ hơn nhiều. Những thiên uy nghi mới có được không phải do sự nghiên cứu mà do sự cọ xát trong sống đời sống hàng ngày và những kinh nghiệm học hỏi trong tăng thân. Đó là những kinh nghiệm thật của mình để chia sẻ với tăng thân ở quê nhà.

Sám pháp địa xúc là một phép thực tập rất hay, nó rất phù hợp với tuổi trẻ, với thời đại mới. Sám pháp địa xúc cũng là một sản phẩm chúng ta hiến tặng cho các đạo tràng ở Việt Nam trong chuyến đi sắp tới.

Quyền uy tinh thần do sự hành trì mà có

Vấn đề không phải là ta có yếu kém hay không mà ở chỗ ta có đang thực tập để chuyển hóa những yếu kém đó hay không? Sự thực tập của ta phải được biểu lộ qua sự hành trì giới luật và uy nghi.

Là một sa di ta hành trì 10 giới sa di và có các pháp uy nghi sa di thì ta trở thành một sa di đích thực. Vị trí và quyền hạn của ta không nằm ở danh từ sa di mà nằm ở bản chất sa di. Giới và uy nghi rất quan trọng. Người xuất gia và người cư sĩ khác nhau ở chỗ đó. Người cư sĩ có thể giỏi hơn người xuất gia về phương diện học hỏi, nhưng nếu không thọ năm giới thì người cư sĩ vẫn không có chỗ đứng trong tăng thân. Những người thọ 14 giới có chỗ đứng khác, những người thọ giới sa di có chỗ đứng khác và những người thọ giới tỳ kheo có chỗ đứng khác. Không phải vì sự thọ giới mà vì sự hành trì giới nên ta có chỗ đứng khác nhau. Nếu thọ giới tỳ kheo mà ta không thực tập đúng, ta phạm giới thì ta cũng không có địa vị đó, ta bị biệt trú, không được dự tác pháp yết ma. Không phải danh từ tỳ kheo hay tỳ kheo ni cho ta một chỗ đứng mà chính sự hành trì giới luật cho ta chỗ đứng. Không phải người xuất gia có quyền hơn người tại gia, không phải người thọ 14 giới có quyền nhiều hơn người thọ năm giới. Đây là quyền uy tinh thần do sự hành trì mà có chứ không do các danh từ như Tiếp Hiện, sa di hay tỳ kheo mà có được. Chính sự hành trì giới và uy nghi cho ta một uy đức.

Có những người không xuất gia nhưng rất hạnh phúc, có khi họ còn hạnh phúc hơn cả những người xuất gia. Hạnh phúc của họ không phải nương vào hình thức xuất gia mà nương vào tăng thân tu tập mà có. Người xuất gia không thực tập, không an trú, không hạnh phúc với giới luật và uy nghi thì người đó không hạnh phúc bằng người tại gia. Có người tại gia hạnh phúc và người tại gia không hạnh phúc. Cũng vậy, có người xuất gia hạnh phúc và người xuất gia không hạnh phúc. Người xuất gia được khép vào trong kỷ luật, bị bắt buộc phải thực tập đàng hoàng vì vậy người xuất gia có lợi thế hơn là một khi đã đi thì đi luôn không thể quay lui trở lại. Chính nhờ bị khép vào quy củ mà ta có thể chuyển hóa các tập khí của ta được, người nào chịu được quy củ thì có tiến bộ, người nào chịu không được thì phải văng ra.

Định đề 38

 

Thực chất của Tịnh độ và Niết bàn vượt thoát không gian và thời gian. Thực chất của vạn pháp cũng đều như thế.

The reality of the Pure Land or Nirvāṇa transcend both space and time. The reality of everything else is exactly the same.

Chúng ta cảm thấy định đề này quen thuộc vì chúng ta đã học hai định đề tương tự như vậy, đó là định đề thứ nhất và thứ hai: 1 – Không gian không phải là một pháp vô vi. 2 – Đứng về phương diện tích môn các pháp đều là hữu vi, đứng về phương diện bản môn tất cả các pháp đều là vô vi.

Tịnh độ và Niết bàn không phải là những thực tại khách quan

Chúng ta phải cẩn thận khi đọc định đề 38. Có người khi nghe nói đến Tịnh độ hay Niết bàn thì nghĩ ngay rằng đây là những tạo tác của tâm ý của những người theo tôn giáo. Những người theo tôn giáo tạo tác ra Thượng đế hay Thiên quốc, Niết bàn hay Tịnh độ. Đó là những cái không có trong thực tại khách quan bên ngoài. Những người không có đức tin, không có đời sống tâm linh thường có khuynh hướng cảm thấy tội nghiệp những người chạy theo những cái không có thật, những cái do tâm ý tạo tác ra như thiên đường, Tịnh độ, Niết bàn. Họ nghĩ: “Họ tin vào những cái bâng quơ như Tịnh độ, Niết bàn, Thiên quốc, Thượng đế. Đúng thật là duy tâm!”.

Duy tâm theo họ nghĩ có nghĩa là do tâm ý tạo tác ra. Họ tội nghiệp những người có một đức tin về tôn giáo. Nhưng họ không biết rằng trong truyền thống mà chúng ta đang thực tập, chúng ta cũng nghĩ như họ: Tịnh độ hay Niết bàn là do tâm. Nhưng Tịnh độ và Niết bàn không chỉ là những tạo tác của tâm ý. Nếu cho Tịnh độ và Niết bàn là những thực tại khách quan có mặt ở bên ngoài tâm ý thì chúng ta mới bị vướng vào những tạo tác của tâm ý. Nhưng chúng ta không nghĩ như vậy, chúng ta không cho Tịnh độ và Niết bàn là những cái khách quan có thật ở bên ngoài và cái ý thức chủ quan của ta ở bên trong. Trong chúng ta có những người có thể tiếp xúc được với Tịnh độ và Niết bàn, và Tịnh độ hay Niết bàn đó không còn là một ý niệm về một thực tại ở bên ngoài ta mà là cái ta có thể sờ mó, kinh nghiệm được ngay bây giờ trong đời sống. Đối với những người này thì câu nói mỉa mai: “Ôi, các ông chỉ mơ mộng tới những chuyện đâu đâu không có thật” thì không có ảnh hưởng gì đến họ vì Tịnh độ, Niết bàn ấy đã là đối tượng của kinh nghiệm.

Cũng có người nghĩ rằng Tịnh độ, Niết bàn, Thiên quốc là một cái gì có thật ở bên ngoài và sau khi ta chết đi, thân xác ta tan hoại rồi thì ta mới đi đến đó. Như vậy, Tịnh độ, Niết bàn hoặc Thiên quốc đó đang nằm trong một không gian khác và cũng đang nằm trong thời gian ở tương lai.

Tịnh độ và Niết bàn là phi thời và phi xứ

Nhưng những người đã từng có kinh nghiệm về Tịnh độ và Niết bàn biết rằng Tịnh độ và Niết bàn không nằm trong khuôn khổ của thời gian và không gian. Họ thấy được thực chất của Tịnh độ và Niết bàn là phi thời và phi xứ. Phi thời là non-temporal, not the matter of time (akalika). Phi thời có thể được dịch là thời ngoại hoặc kiếp ngoại. Phi xứ được dịch là xứ ngoại hay phương ngoại. Trong bài “Phóng cuồng ca” của Tuệ Trung Thượng Sĩ có câu: Chống gậy rong chơi chừ phương ngoại phương. Ngài chống gậy đi chơi ở cõi gọi là phương ngoại phương (trời phương ngoại) tức ở không gian nằm ngoài không gian. Sen nở trời phương ngoại là sen không nở trong thời gian và không gian. Thời gian và không gian là do tâm mình tạo tác.

Khi đi thiền hành quý vị có thể rong chơi trong thời gian: ta có một giờ đồng hồ tức 60 phút để đi thiền hành. Quý vị đi thong thả, nếm từng bước chân an lạc. Ta được đi với thầy, được bước những bước thảnh thơi với thầy, ta rất hạnh phúc. Ta đang rong chơi trong thời gian và không gian vì ngày mai có thể thầy tịch rồi và ta không được đi chơi với thầy nữa. Dù ta đang có hạnh phúc, ta đang được đi với thầy nhưng ta vẫn còn ở trong thời gian và không gian. Ta chưa đi được ở phương ngoại và trong kiếp ngoại. Ngày xưa thầy Trúc Diệp có làm một bài thơ ca ngợi Đản sanh: Hoa lòng nở nở, hoài trong kiếp ngoại. Nở trong kiếp ngoại là nở ngoài thời gian, nở ngoài thời gian thì hoa không thể nào tàn.

Nếu là bậc cao nhân, bậc có căn cơ lớn thì trong khi đi thiền ta có thể lọt ra khỏi thời gian và đi trong kiếp ngoại, ta có thể lọt ra khỏi không gian và đi trong phương ngoại. Chống gậy rong chơi chừ phương ngoại phương, Tuệ Trung Thượng Sĩ chống gậy đi chơi và ông đã đi chơi ra khỏi thời gian và không gian. Ông đã nếm được cái bất tử, nếm được Niết bàn. Ta thấy ông đang đi trong không gian và thời gian và ta có thể đi chơi với ông, nhưng thật ra ta đang đi trong cõi khác và ông đang đi trong cõi khác, đó là cõi kiếp ngoại.

Khoa học lượng tử hiện nay dùng danh từ non-local nói rằng thực tại của những lượng tử là non-local. Ta không thể đem một lượng tử nhốt vào khung không gian và thời gian. Một lượng tử có thể có mặt một lần ở đây và ở chỗ khác, đó là thực tại của một lượng tử. Tất cả những nhà khoa học nổi tiếng trong khoa học lượng tử như W. Newman đều nói: The reality of a quantum should be non-local. (Cái thực chất của một lượng tử không mang tính cục bộ địa phương). Một lượng tử mà còn như vậy huống hồ là Tịnh độ hay Niết bàn.

Những người mới tu học thường nghĩ rằng Tịnh độ nằm ở phía Tây, nằm trong không gian và khi chết rồi thì ta mới sang được bên đó. Trong khi đó các vị tổ sư, các vị thầy dạy chúng ta:

Tịnh độ vốn sẵn nơi chân tâm

Di Đà hiện ra từ tự tánh

Đức Di Đà không phải là một thực tại nằm trong không gian và thời gian. Đức Di Đà là một thực tại siêu việt không gian và thời gian. Đó là giáo lý duy tâm Tịnh độ tức Tịnh độ trong tâm. Tịnh độ trong tâm thì không thể nào tìm được trong không gian và thời gian. Trong “Nghi thức cầu siêu” thỉnh thoảng chúng ta thấy những câu rất hay:

Tây phương không xa cách

Tây phương trước mặt người

Ngàn sông về biển lớn

Trăng lặn không lìa trời

Những câu ấy có nghĩa là Tịnh độ không phải ở đâu xa, Tịnh độ ở trước mặt chúng ta. Trăng đêm có lặn nhưng vẫn ở trong trời. Quý vị có thể tìm những câu đó ngay trong “Nhật tụng thiền môn 2000”. Biết được tính chất của Tịnh độ là phi thời (kiếp ngoại) và phi xứ (phương ngoại) thì ta có thể tiếp xúc với Tịnh độ ngay trong giây phút hiện tại. Có điều rất lạ là trong khi nghiên cứu về lượng tử thì các nhà khoa học cũng tìm ra được sự thật: Bản chất của các lượng tử là phi thời gian và phi không gian (siêu việt thời gian và không gian). Thực chất của Tịnh độ và Niết bàn cũng vậy, là non-local và non- temporal.

Nắm tay Bụt rong chơi trời phương ngoại

Trong kinh Pháp Hoa có một phẩm nói về thọ mạng của các vị Bụt. Ta nghĩ Bụt sinh ra, ở lại đời chừng 80 năm để giáo hóa rồi Ngài ra đi, không còn nữa. Kinh Pháp Hoa mở cho chúng ta thấy thọ mạng của chư Bụt là vô lượng. Không những thọ mạng của đức Di Đà là vô lượng mà thọ mạng của đức Thích Ca cũng vô lượng. Cái thấy của chúng ta về Bụt không đúng, ta nghĩ Bụt được sinh ra, lớn lên, lập gia đình, đi xuất gia, thành đạo, đi giáo hóa rồi nhập Niết bàn, tất cả chỉ trong vòng 80 năm. Đó chưa phải là thọ mạng của Bụt, thấy như vậy thì ta chưa thấy được Bụt thật. Đọc phẩm Thọ mạng của Bụt trong kinh Pháp Hoa chúng ta khám phá ra rằng: Đức Thích Ca chưa bao giờ lìa chúng ta. Nếu chân chúng ta biết bước vào trời phương ngoại, thì chúng ta có thể gặp được Ngài và cùng nắm tay Ngài đi chơi. Đó không phải chuyện nói chơi vì trong chúng ta có những người đã làm được như vậy, đã bước vào được trời phương ngoại và cầm tay ba mẹ, ông bà, các tổ sư và Bụt đi chơi. Đó là nhờ công phu tu tập. Những người đó chỉ mỉm cười khi nghe nói Tịnh độ và Niết bàn là những tạo tác của tâm ý vì Tịnh độ và Niết bàn là những cái họ đang sống và đang tiếp xúc được.

Ta có thể đi qua núi Thứu và leo lên núi với đức Thế Tôn. Ta nghĩ ta đang sống trong không gian và thời gian của Bụt, Bụt với ta đang ở chung. Bụt đang leo núi Thứu với ta, nhưng có thể Bụt đang ở trong phương ngoại còn ta đang ở trong phương nội. Ta đi thiền hành với thầy, ta tưởng ta đang đi với thầy nhưng đôi khi thầy đang đi ở phương ngoại còn ta lại đang đi trong phương nội. Nếu đi được trong phương ngoại với thầy thì sau này khi thầy tịch ta sẽ không khóc vì ta không thấy thầy đã mất. Vì vậy khi đi với thầy ta cũng tập bước được vào khung trời phương ngoại.

Bốn ý niệm cần phải lấy đi

Trong kinh Kim Cương chúng ta thấy có bốn ý niệm ta cần phải ấy ra khỏi đầu mình:

  1. Khái niệm về ngã, về ta
  2. Khái niệm về nhân, về con người
  3. Khái niệm về chúng sinh
  4. Khái niệm về thọ mạng

Khái niệm về ngã

Những người đọc kinh Kim Cương không hiểu, tưởng ngã là ta, còn nhân là người khác. Chữ nhân ở đây có nghĩa là con người, con người đối lại với những loài khác như loài cầm thú, cỏ cây, đất đá. Cái ngã ở đây đối lập với cái phi ngã. Nhìn cha, ta thấy cha là một người khác và ta là một người khác, ta có ý niệm con là một thực tại đối lập với cha, hai thực tại không dính gì với nhau. Đó là ý niệm cố chấp về ngã cần phải lấy đi. Ta phải thấy được con là sự nối tiếp của cha đứng về phương diện tương lai và cha là sự nối tiếp của con đứng về phương diện quá khứ. Ngã đối với phi ngã, khi thấy ngã và phi ngã không thể tách rời nhau thì ta lấy ra được ý niệm về ngã.

Khái niệm về nhân

Con người (nhân) đối với những gì không phải con người (phi nhân) tức các loài động vật, thực vật, khoáng vật. Con người không khác với những gì không phải con người vì nếu không có những loài khác thì sẽ không có con người. Con người do các loài khác sanh ra trên con đường tiến hóa, vì vậy nhìn vào con người ta thấy các loài khác. Chữ nhân không có nghĩa là người khác, mà có nghĩa là con người và ngược lại với con người là những loài khác như cầm thú, cỏ cây, đất đá. Chúng ta phải lấy đi các ý niệm con người và không phải con người vì con người không thể tồn tại nếu không có những loài khác, con người không phải là một thực tại biệt lập.

Người Á Đông ngày xưa có quan niệm tam tài, tức thiên (trời), địa (đất), nhân (người), con người đứng giữa trời và đất. Quan niệm “thiên, địa, nhân” được biểu hiện trong triết học cũng như trong nghệ thuật. Nghệ thuật cắm hoa Ikebana quan niệm bình hoa phải có ít nhất là ba cành tượng trưng cho thiên, địa và nhân. Cắm hoa trong truyền thống Á Đông phải có ba yếu tố thiên, địa, nhân. Nếu không có trời đất thì làm gì có người, cho nên ta phải lấy đi quan niệm có con người độc lập với những loài khác.

Khái niệm về chúng sinh

Chúng sinh (living beings) tức là các loài hữu tình, tiếng Anh là sentient beings, loài hữu tình đối lập với loài vô tình.

Quan niệm loài hữu tình có thể tồn tại độc lập ngoài loài vô tình là một quan niệm sai lầm. Các loài hữu tình cũng từ các loài vô tình mà ra, ta không thể lấy cái vô tình ra khỏi cái hữu tình. Hữu tình và vô tình tương tức, cái hữu tình chứa cái vô tình và cái vô tình chứa cái hữu tình, vì vậy chúng ta cần lấy đi cái quan niệm về chúng sinh.

Khái niệm về thọ mạng

Quan niệm về thọ mạng cho rằng Bụt chỉ sống 80 năm và ta cũng sống khoảng 70, 80 hay 90 năm. Nhưng thọ mạng của Bụt là vô lượng. Ban đầu chúng ta nói thọ mạng của Bụt là vô lượng nhưng sau ta nói thọ mạng của ta cũng là vô lượng. Ý niệm về thọ mạng (life span) căn cứ trên ý niệm về thời gian. Trong vòng thời gian có một điểm ta sinh ra (điểm sinh), có một điểm ta chết đi (điểm tử) và thọ mạng của ta được đo từ điểm sinh tới điểm tử, trước đó không có ta và sau đó ta không có, từ vô ta đi tới hữu, rồi sau đó lại đi tới vô.

Thọ mạng của Bụt không như vậy, thọ mạng của Bụt là vô lượng. Và sau đó ta thấy: Không những thọ mạng của Bụt là vô lượng mà thọ mạng của ta đây cũng là vô lượng và thọ mạng của đám mây cũng là vô lượng. Đám mây vô sinh vô diệt, vì vậy tự tính của đám mây kia cũng là tự tính Niết bàn. Đám mây không cần bay về Niết bàn vì nó đang an trú trong Niết bàn. Ta không cần phải đi tìm Niết bàn, ta đang an trú trong Niết bàn, cũng như đợt sóng không cần đi tìm nước, nó đang là nước. Đợt sóng không cần đi tìm nước, ta không cần đi tìm Tịnh độ hay Niết bàn. Ta đang ở trong Tịnh độ, trong Niết bàn mà ta không biết. Ta đi tìm. Mà hễ có đi tìm thì có sự phân biệt giữa người đi tìm (chủ thể) và vật đi tìm (đối tượng).

Thực chất của Tịnh độ và Niết bàn vượt thoát không gian và thời gian, thực chất của tất cả sự vật đều như vậy. Bụt có thọ mạng vô lượng, con người hay đám mây hay một lượng tử cũng có thọ mạng vô lượng. Giả dụ chúng ta có vé máy bay, ta bay sang Tịnh độ của đức Di Đà. Đức Di Đà với các vị Bồ tát ra đón và ta lập tức tham dự vào buổi thiền hành. Đức Di Đà đang nắm tay đức Quan Âm và đức Thế Chí đi thiền hành, ta sung sướng đi theo. Ta nghĩ ta đang đi trong khung trời của Bụt, nhưng có ngờ đâu lúc đó Bụt đang đi trong trời phương ngoại còn ta lại đang đi trong trời phương nội.

Tiếp xúc với bản môn

Thầy trò, huynh đệ được sống với nhau rất hạnh phúc, nhưng nếu ta không tiếp xúc sâu thì hạnh phúc đó cũng vô thường, ngày mai nó sẽ không còn nữa. Nếu ta biết sống cho sâu thì trong tích môn ta tìm được bản môn, trong đợt sóng ta tìm được nước. Tìm được nước rồi thì vấn đề “có hay không có sóng” không còn quan trọng. Vì vậy trong khi thầy trò ngồi thiền hay đi thiền với nhau ta phải tiếp xúc được bản môn để cái giây phút đó trở thành thiên thu. Và tích môn không phải là cái gì tồn tại độc lập với bản môn. Tiếp xúc cho sâu sắc thì tích môn trở thành bản môn, tiếp xúc với sóng cho sâu sắc là tiếp xúc được với nước. Tiếp xúc được với nước rồi thì sóng lớn hay sóng nhỏ, sóng này hay sóng kia không còn quan trọng nữa.

Các nhà khoa học sử dụng những dụng cụ đo lường và diễn tả bằng ngôn từ toán học của họ. Chúng ta là những người tu, chúng ta thực chứng bằng pháp môn, bằng tâm của mình. Ngồi xuống là ta vận dụng hơi thở để tiếp xúc với thân và tâm, đi sâu vào thực chất của bản thân và hoàn cảnh để thấy rõ được rằng: Ban đầu ta có mặt ở trong thời gian và không gian, nhưng sau đó ta phá vỡ được cái khung không gian và thời gian, đi được vào trong phương ngoại và kiếp ngoại. Đó là phần thưởng quý giá nhất của sự tu tập để không uổng một đời tu. Có được một người tu tập thành công như vậy thì thế giới sẽ giàu có và sẽ đẹp hơn rất nhiều.

Định đề 37

 

Phép tu căn bản của đạo Bụt Nguyên thỉ là phép tu Niệm Xứ có công năng nhận diện, chuyển hóa tập khí và làm thành tựu viên mãn bảy giác chi và tám chánh đạo. Các pháp thiền quán Đại thừa kể cả thiền tổ sư cần được thỉnh thoảng trở về tắm trong dòng suối Nguyên thỉ ấy để đừng đánh mất cốt tủy của Phật pháp.

The basic practice of original Buddhism is the Four Domains of Mindfulness which has the function to recognize and transform the habit energies and fully realize the Seven Factors of Enlightenment and the Noble Eightfold Path. The Mahāyāna practice of meditation including the Zen of the patriarchs needs from time to time to go back to take a bath in Source Buddhism in order not to lose the essential Teaching of Buddhadharma.

Trong thời của đức Thế Tôn kinh Niệm Xứ cũng như kinh Quán Niệm Hơi Thở được các thầy và các sư cô học thuộc lòng như chúng ta học thuộc lòng chú Lăng Nghiêm hay kinh Di Đà bây giờ. Trong thế kỷ thứ 19, 20 người tu chúng ta thường học thuộc lòng hai kinh này. Có người học thuộc chú Lăng Nghiêm trong một tuần, có người phải học trong sáu tháng, nhưng tất cả đều phải học thuộc lòng. Trong thời của đức Thế Tôn, các thầy và các sư cô, thông minh nhiều hay thông minh ít, đều phải học thuộc lòng kinh Anapanasatisutta vì đó là sách gối đầu giường của người xuất gia.

Niệm Xứ là phép tu căn bản của đạo Bụt Nguyên thỉ

Trong khi nghiên cứu chúng ta thấy trong thời đức Thế Tôn các thầy, các sư cô không thuộc lòng kinh Di Đà hay chú Lăng Nghiêm mà thuộc lòng kinh Niệm Xứ. Khi có người sắp chết, dù người đó là người tại gia hay người xuất gia thì các thầy, các sư cô cũng đọc kinh Niệm Xứ cho người sắp qua đời. Có thể người sắp qua đời đó cũng đã học thuộc lòng và có hành trì rồi nhưng làm chưa trọn vẹn. Nếu có thể nghe kinh lần cuối thì người đó có cơ hội để thực tập và chết một cách thanh thản, giải thoát. Có người đã nắm được cơ hội cuối cùng đó, nghe kinh thì nắm lấy thực tập liền và chỉ nội trong nửa ngày là chứng đạt được. Chúng ta không nên chờ đến giờ ấy mới làm như vậy. Trong khi còn có tháng rộng năm dài thì ta phải lo làm cho xong.

Kinh Niệm Xứ dạy chúng ta quán niệm những gì xảy ra trong bốn lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực của thân tức quán chiếu hình hài của ta. Hơi thở của ta cũng thuộc về hình hài cho nên quán niệm hơi thở cũng thuộc về niệm xứ. Ta bắt đầu bằng hơi thở và đi vào trong lĩnh vực của hình hài vì hình hài có liên hệ đến tâm. Tâm sẽ không biểu hiện được nếu không có hình hài, cũng như hình hài không biểu hiện được nếu không có tâm. Hình hài và tâm là hai cái không thể tách rời ra được, giống như mặt trái và mặt phải của đồng Euro, mặt trái không thể có nếu không có mặt phải.

Trong đạo Bụt không có quan niệm lưỡng nguyên về thân và tâm, thân không phải là cái gì biệt lập với tâm và tâm không phải là cái gì biệt lập với thân. Tâm dựa vào thân mà biểu hiện, thân cũng dựa vào tâm mà biểu hiện. Đó là cái thấy bất nhị, non-dualism. Khi quán niệm về hình hài là ta đã bắt đầu tiếp xúc được với tâm rồi. Ta không đợi quán niệm hình hài xong rồi mới đi ngang qua lĩnh vực của tâm. Ta chia ra lĩnh vực đầu là lĩnh vực của thân (hình hài), lĩnh vực thứ hai là lĩnh vực của cảm thọ mà cảm thọ là thân mà cũng là tâm. Lĩnh vực thứ ba là tâm, tức những tâm hành. Có 51 tâm hành mà tâm hành nào cũng dính tới thân, từ tâm hành giận cho đến tâm hành đam mê, thương yêu. Ta tưởng thương hay ghét là do tâm, gọi là tâm thương ghét, nhưng nếu không có thân thì cũng không thể thương ghét được. Chất adrénaline rất liên hệ tới cái giận và cái lo của ta. Không có thân thì không thể buồn, giận, lo lắng. Vì vậy tâm liên hệ tới thân, hai cái nương nhau mà thành lập. Chúng ta phải học để thấy có thân trong 51 tâm hành. Tâm nhẹ nhàng giúp cho thân nhẹ nhàng và thân nhẹ nhàng giúp cho tâm nhẹ nhàng. Hơi thở thuộc về thân, buồng phổi thuộc về thân, hai chân thuộc về thân. Nhưng nếu chúng ta biết sử dụng hơi thở, buồng phổi và hai chân mà thực tập thì sự nhẹ nhàng an ổn của thân tạo ra sự nhẹ nhàng an ổn của tâm và sự nhẹ nhàng an ổn của tâm giúp cho thân được trị liệu và nuôi dưỡng. Phép tu Niệm Xứ ôm cả thân và tâm gọi là thân tâm nhất như (the non-dualistic nature of body and mind).

Ở Trung Quốc, Đại Hàn, Việt Nam, Nhật Bản, chúng ta đã thực tập thiền tổ sư, thực tập những công án, những thoại đầu và có nhiều thế kỷ chúng ta không chịu trở về tắm lại trong dòng suối Nguyên thỉ. Vì vậy chúng ta có thể đánh mất cái tinh túy của một thứ thiền mà chính đức Thế Tôn và các đệ tử của Ngài, nam cũng như nữ, đã thực tập trong thời đó. Lịch sử cho chúng ta biết trong thời đức Thế Tôn, ai cũng thực tập Niệm Xứ, kể cả đức Thế Tôn. Nếu trong thời đại này chúng ta không thực tập Niệm Xứ thì chúng ta không làm giống như tăng đoàn Nguyên thỉ. Thực tập Niệm Xứ là đem hết cả thân và tâm vào sự thực tập, thực tập bằng hai chân, bằng lỗ tai, bằng hai mắt, bằng trái tim, bằng buồng phổi, bằng hơi thở chứ không chỉ thực tập bằng tâm. Cái gọi là thói quen, tập khí cũng không hẳn chỉ là tâm mà cũng là thân vì tập khí cũng nằm trong thân.

Nhờ có chánh niệm mà chúng ta nhận diện ra tập khí xấu và tập khí tốt. Nhận ra tập khí tốt thì ta vui mừng và thực tập để nó càng ngày càng mạnh. Thói quen mỗi khi nghe chuông dừng lại để thở, thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười, là một tập khí tốt. Thói quen mỗi khi bực mình không nói gì hết và trở về với hơi thở là một tập khí tốt. Tu tập là để tạo ra những tập khí tốt và chuyển hóa những tập khí xấu. Những tập khí này không chỉ là của tâm mà còn là của thân. Khoa học có thể chứng minh những tập khí đó được khắc vào trong vỏ não của chúng ta. Tài nghệ chơi dương cầm không phải từ mười ngón tay mà từ nơi vỏ não mà ra. Chơi tennis hay, chơi nhạc hay, múa hay vừa là tập khí của tâm vừa là tập khí của thân. Kinh Tứ Niệm Xứ nói rõ: Tu tập Tứ Niệm Xứ sẽ đi tới trong sự thành tựu được Bảy yếu tố của sự giác ngộ (Thất bồ đề phần) và Bát chánh đạo.

Trong Bát chánh đạo có chánh kiến, tức cái thấy đúng, chính xác, cái thấy cho ta tiếp xúc được tự tính vô thường, vô ngã, tương tức. Chánh kiến làm căn bản cho chánh tư duy, không có chánh kiến thì không có chánh tư duy. Thực tập chánh tư duy là khởi lên những tư tưởng có năng lượng của sự hiểu biết, tha thứ, hòa giải, thương yêu. Khi phát khởi được một tư tưởng đi đôi với chánh kiến, đi đôi với hiểu và thương thì tự nhiên ta thấy khỏe. Tư tưởng đó có công năng trị liệu thân và tâm của ta. Nếu tư tưởng của ta thảnh thơi, nhẹ nhàng, không có lo lắng thì thân ta sẽ nhẹ nhàng và được trị liệu. Nếu ta cứ lo lắng, buồn khổ, giận hờn, bức xúc thì những tư tưởng đó làm hình hài ta càng ngày càng nặng nề thêm.

Nói xong một câu nói có chất liệu chánh ngữ, ta thấy khỏe, ta thấy nói ra được câu đó rất hay, vì nó có khả năng tha thứ, hiểu, chấp nhận và thương được người kia. Đó là chánh ngữ có khả năng trị liệu thân và tâm. Người kia cảm thấy hạnh phúc và ta cũng cảm thấy hạnh phúc.

Nhiều khi ta không cần đi bác sĩ uống thuốc, ta chỉ cần ngồi đó, nói ra những điều lành thì thân tâm ta cũng được nuôi dưỡng bởi những điều lành đó. Những hành động săn sóc, thương yêu, bảo hộ cũng có tính cách nuôi dưỡng và trị liệu. Đó là bốn phần đầu của Bát chánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ và chánh nghiệp. Tu tập chánh niệm làm thành tựu Bát chánh đạo, vì vậy đạo Bụt Nguyên thỉ nằm ở Tứ niệm xứ, Thất bồ đề phần và Bát chánh đạo. Đó là dòng suối Nguyên thỉ mà các thầy, các sư cô trong thời đức Thế Tôn đã thực tập theo.

Trở về dòng suối nguyên thỉ

Làng Mai cũng muốn thực tập theo đó vì vậy ta đã mang đạo Bụt Đại thừa, Tịnh độ tông, Thiền tông, Chân ngôn tông (Mật tông) về tắm lại trong dòng suối Nguyên thỉ, tức Niệm Xứ. Ta có trì chú, làm đám chay và cúng thí thực. Nghi thức thí thực cô hồn thuộc về trì chú, Tâm Kinh Bát Nhã, chú Đại bi cũng là một thần chú. Đạo Phật Việt Nam có Mật tông (Chân ngôn tông), Tịnh độ tông, Thiền tông và Làng Mai đem tất cả về tắm lại trong dòng suối Nguyên thỉ. Sự thực tập ở Làng Mai không bao giờ đánh mất cái tinh túy của Phật pháp vì chúng ta đã biết trở về dòng suối Nguyên thỉ ấy.

Thiền tổ sư chú trọng về công án, thoại đầu. Chúng ta tham cứu những công án như “Tổ Bồ Đề Đạt Ma đi qua Đông độ có mục đích gì?” hay “Tất cả quay về cái một, vậy cái một quay về cái gì?”(Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ?) hoặc “Thế nào là tiếng vỗ của một bàn tay?” hay “Con chó có Phật tánh hay không?”. Thực tập công án chúng ta có thể đi lạc nếu không biết trở về tắm lại trong dòng thiền Nguyên thỉ.

Làng Mai dù theo Thiền nhưng vẫn thực tập Tịnh độ. Nhờ thực tập Niệm Xứ chúng ta có thể biết Tịnh độ có thể có mặt trong giây phút hiện tại. Tịnh độ cũng như Thiên quốc là một cái gì không cục bộ, nó mang tính phương ngoại, tức là nằm ngoài không gian. Tịnh độ không có vị trí trong không gian, Tịnh độ ở ngay trong tâm của mình (duy tâm Tịnh độ). Tại Làng Mai, khi đi thì mỗi bước chân phải đi vào Tịnh độ. Chúng ta không đợi đến khi hình hài tan rã rồi mới đi về Tịnh độ. Trái lại, trong đời sống hàng ngày chúng ta phải bước được vào trong Tịnh độ, chúng ta duy trì bước chân trong Tịnh độ. Như vậy Đại thừa trong Tịnh độ tông được trở về tắm trong dòng thiền Nguyên thỉ, tức Niệm Xứ. Tại Làng Mai, Thiền và Tịnh độ không chống đối nhau, chúng có thể đi đôi với nhau một cách tuyệt hảo với sự thực tập hiện pháp lạc trú, hiện pháp Niết bàn (DrstadharmaNirvāṇa). Niết bàn cũng như Tịnh độ có mặt ngay trong giây phút hiện tại. Tịnh độ tông của chúng ta đã được trở về tắm trong dòng thiền Nguyên thỉ.

Làng Mai không ngồi mơ tưởng một Niết bàn, một Tịnh độ, một nước Chúa trong tương lai, chúng ta phải nếm, phải tiếp xúc với cái đó ngay trong giây phút hiện tại. “Thiên quốc là ở đây, nếu không có bây giờ thì sẽ không bao giờ có” (The Kingdom of God is now or never), đó là một sự thách đố rất lớn. Ta có cơ hội để tiếp xúc với Bụt, với Tịnh độ, với Niết bàn ngay trong giây phút hiện tại nếu ta có niệm, có định. Làm được thì ta có hạnh phúc liền, ta không cần trốn chạy cái bây giờ và ở đây. Ta chấp nhận cái bây giờ và ở đây và tìm cái ta muốn tìm ngay bây giờ và ở đây.

Thiền mà chúng ta tiếp nhận từ các vị tổ sư như Vân Môn, Tào Động hay Lâm Tế, ta cũng đưa về tắm ở dòng thiền Nguyên thỉ. Ngay trong Lâm Tế Lục ta cũng đã khám phá ra câu: Bước chân trên mặt đất là thể hiện thần thông (Địa hành thần thông), tức mỗi bước chân đều là phép thần thông, bước trong giây phút hiện tại, tiếp xúc được với Tịnh độ, mỗi bước chân có tự do, thảnh thơi, giải thoát. Đem Thiền trở về với dòng suối Nguyên thỉ thì chắc ăn, chúng ta không bay bổng trên vòm trời lý thuyết siêu hình, hai chân của chúng ta luôn chấm đất. Sự thực tập của chúng ta ở đây không có tính cách siêu hình lý thuyết mà rất thực tế. Sự giải thoát an lạc nằm ngay trong thân và tâm của mình, ngay ở đây trong giây phút hiện tại. Những gì ta muốn tìm đang có ngay trong giây phút hiện tại, trong đó có giải thoát, giác ngộ, niềm vui, hạnh phúc, Tịnh độ hay Niết bàn.

Mật tông là Chân ngôn tông, chân ngôn là những câu linh chú. Tại Làng Mai chúng ta có bốn câu linh chú, bây giờ ta có thêm câu linh chú thứ năm. Nếu ai đến Làng Mai mà chưa biết bốn câu linh chú thì nên tìm học ngay vì chúng có hiệu quả liền lập tức. Một câu chân ngôn là một câu phát xuất từ định. Khi thân, miệng, ý hòa hợp thì chữ nào, câu nào phát ra cũng đều là chân ngôn. Ta phát ra một câu bằng tất cả trái tim, tất cả hình hài của ta và tam nghiệp kết đọng lại thành một khối. Trong trạng thái hùng mạnh đó, bất cứ câu nào nói ra đều trở thành chân ngôn.

Vừa rồi báo Giác Ngộ có viết qua một câu hỏi nhờ tôi trả lời:

  • Tại sao Thiền sư lại tổ chức Trai đàn chẩn tế vốn là một sinh hoạt của Mật tông, hay là Thiền sư đã thay đổi phương pháp tu?

Tôi đã trả lời báo Giác Ngộ như sau:

  • Thiền có công năng trị liệu và chuyển hóa. Thiền phải có niệm, định và tuệ. Nếu không có niệm, định, tuệ thì làm sao có Thiền? Khi có niệm ta biết được những gì đang xảy ra trong lòng ta và chung quanh ta. Cái ta thấy đang xảy ra là nỗi oan khổ của đồng bào đã trải qua một cuộc chiến tranh rất lâu dài. Có hàng trăm ngàn chiến sĩ đã bỏ mình trên nhiều nẻo đường đất nước và có nhiều vị hài cốt chôn vùi không biết ở đâu. Khí oan đó còn ở người chết và ở người sống. Có những gia đình người Hoa Kỳ đã trông ngóng và hy vọng tìm ra được hài cốt của những thân nhân họ đã bị chôn vùi ở Việt Nam. Chính quyền Hoa Kỳ đã bỏ ra rất nhiều tiền để thuê người tìm những hài cốt đó. Ở Việt Nam cũng có hàng trăm ngàn chiến sĩ chết trên rừng núi, trên chiến trường mà hài cốt không tìm ra được. Hàng triệu người đã chết vì bom đạn, 13 triệu tấn bom đã dội xuống đất nước cùng bao nhiêu chất độc hóa học, ba bốn triệu người đã chết vì bom đạn. Khi bỏ đất nước ra đi để tìm một tương lai cho con cháu thì hàng trăm ngàn thuyền nhân đã thiệt mạng trên biển cả và làm mồi cho cá. Những vết thương đó vẫn còn đó trong đất nước, trong dân tộc và những oan khổ đó vẫn còn rất lớn. Nếu chúng ta làm lơ thì những vết thương kia sẽ không bao giờ được chữa trị, chúng sẽ truyền lại cho những thế hệ tương lai và hận thù vẫn tiếp tục. Tổ chức một trai đàn chẩn tế giải oan là để công nhận niềm đau nỗi khổ đó, đưa nỗi oan khổ đó từ chỗ chôn vùi nơi tiềm thức lên trên vùng ánh sáng của ý thức. Đó là Thiền. Những lời cầu nguyện từ trái tim đã được nói lên, hay những câu chân ngôn đã được tụng lên. Một khi những nỗi khổ niềm đau của ta đã được công nhận, thì tự nhiên chúng sẽ được nhẹ đi và được chuyển hóa. Những lời kinh được đọc trong Đại trai đàn chẩn tế là để công nhận và cầu nguyện giải trừ chính những nỗi oan khổ đó. Đó là những chân ngôn có khả năng trị liệu, làm lành những vết thương trong lòng đất nước và dân tộc.

Điều này rất quan trọng! Tất cả các gia đình của những đồng bào tử nạn trong và ngoài nước đã cùng thực tập chung. Những người không hiểu tưởng rằng sự cầu nguyện này là mê tín. Người hiểu được thì thấy rằng đây là một phép tâm lý trị liệu rất sâu sắc: Công nhận những nỗi khổ đó và đưa chúng lên trên vùng ánh sáng chánh niệm, cùng phát ra những lời nguyện cầu đồng tâm đồng ý với nhau gọi là những chân ngôn. Những chân ngôn đó có khả năng chuyển hóa và trị liệu những vết thương trong lòng người, người đã qua đời cũng như người đang còn sống và đang còn gánh chịu.

Trong lá thư viết cho ông Chủ tịch nước tôi nói: Nếu Ngài chủ tịch nước đến tham dự được buổi lễ dâng hương bạch Phật cho Đại trai đàn chẩn tế giải oan thì đó là một sự đóng góp rất lớn cho sự trị liệu và chuyển hóa những vết thương của đất nước và dân tộc. Trong thời đại Lý Trần các vua đã làm như vậy: Sau khi thống nhất lãnh thổ các vua tìm cách để thống nhất lòng người. Lòng người có thống nhất thì mới có đủ sức mạnh để bảo vệ quê hương đất nước. Sự phát triển về kỹ thuật, kinh tế trên đà toàn cầu hóa sẽ tạo ra rất nhiều tệ nạn xã hội. Nếu không có sự đồng tâm đồng ý, nếu còn nhiều vết thương, hận thù, chia rẽ thì ta không có khả năng bảo vệ quê hương đất nước trong giai đoạn rất quan trọng này của lịch sử.

Dưới cái nhìn đó, Trai đàn chẩn tế tuy có thể có hình dáng là Mật tông, nhưng cũng có chất liệu Thiền vì Thiền có khả năng nhận diện, chuyển hóa và trị liệu.

Trong Trai đàn chẩn tế chúng ta đã kêu gọi mọi gia đình ở Việt Nam và ở hải ngoại, trong ba ngày Trai đàn chẩn tế, thiết lập một bàn thờ vong linh trước hiên nhà. Trên trang nhà Làng Mai có sẵn những bài vị bằng chữ Hán, ta có thể tải xuống in lên giấy đỏ để thiết lập bàn thờ. Trên bàn thờ ta cúng dường một văn bản về Tam quy ngũ giới cùng hương hoa, cháo trắng, nước trong và mỗi ngày ta nhớ thay cháo, thay nước. Ta có thể tải xuống văn bản cầu nguyện trên trang Làng Mai. Nếu ở xa ta không thể đến tham dự trực tiếp Trai đàn nhưng ta có thể tải xuống những nghi thức đó để nghe và tụng theo.

Trong suốt ba ngày đó, lòng dân đã hướng về một hướng, cùng cầu nguyện cho tất cả những người không may đã qua đời một cách oan ức trong thời gian của cuộc chiến. Đây là một sự thực tập rất khoa học đứng về phương diện sử học cũng như tâm lý học. Trai đàn chẩn tế giải oan không phải là sự mê tín. Đó là một sự thực tập rất khoa học để chuyển hóa và trị liệu những vết thương âm thầm, lâu ngày của đất nước và của dân tộc mà mỗi người chúng ta đều có mang trong lòng.

Như vậy ngay chính Mật tông cũng đã được đưa về tắm trong dòng thiền Nguyên thỉ. Vào thế kỷ thứ ba, ở Việt Nam thiền sư Tăng Hội đã chú giải kinh An Ban Thủ Ý, và cũng đã phiên dịch và chú giải những kinh thiền Nguyên thỉ trong khi Phật giáo mà Ngài giảng dạy và thực tập là Phật giáo Đại thừa. Như vậy việc đưa Phật giáo Đại thừa về tắm trong dòng suối Nguyên thỉ đã được thiền sư Tăng Hội thực hiện vào đầu thế kỷ thứ ba, cách đây khoảng 1.800 năm. Vì vậy Làng Mai đem Thiền tông, Tịnh độ tông, Mật tông về tắm trong dòng suối thiền Niệm Xứ thì cũng là chuyện bình thường và đó cũng chỉ là công việc tiếp nối công trình mà tổ sư Tăng Hội đã thực hiện cách đây 18 thế kỷ.

Định đề 36

 

Ý thức nhờ sự thực tập giới, định, tuệ mà có thể học hỏi và chuyển tải xuống những kinh nghiệm tuệ giác của mình cho tàng thức, và giao cho tàng thức trách nhiệm làm chín muồi và biểu hiện những hạt giống tuệ giác đã có sẵn trong nó.

With the practice of mindfulness, concentration and insight, Mind consciousness can learn and download its insights to Store consciousness and leave Store consciousness to do the work of maturation and then manifest the seeds of wisdom that are already innate in Store consciousness.

Chữ chín muồi ngày xưa gọi là thục. Những hạt giống của tuệ giác đã có sẵn, phải có những điều kiện để những hạt giống đó lớn lên, già dặn ra, chín muồi và trở thành hoa trái của hạnh phúc. Chữ chuyển xuống trong định đề 36 chứng tỏ giữa ý và tàng có sự liên hệ rất mật thiết. Năm thức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân chuyển trực tiếp vào tàng thức những kinh nghiệm theo lề lối vô thức. Nhưng khi đi ngang qua ý thức, thì nhờ sự thực tập giới, định, tuệ mà những kinh nghiệm đó được chuyển xuống một cách có ý thức, nghĩa là ý thức giao cho tàng thức những công tác thật sự. Ví dụ như khi thầy giao cho ta một công án để quán chiếu thì phải có sự truyền thông giữa thầy và ta. Cũng giống như thế, ví dụ khi ý thức giao cho tàng thức một trách nhiệm như “Sáng mai mình phải dậy sớm để ra phi trường!” thì sáng mai ta có cơ duyên thức dậy sớm. Thường thì tàng thức nghe theo lời của ý thức như người làm vườn đào một cái lỗ trong vườn và gieo vào đó một hạt giống, mấy ngày sau nhờ sự tưới tẩm và sức ấm mà hạt đó nảy mầm. Công án thầy giao cho ta quán chiếu giống như một hạt giống. Mỗi ngày ta đi thiền, ngồi thiền, quán chiếu giống như ta đang tưới tẩm một hạt giống. Nhờ công phu đó hạt giống kia nẩy mầm. Lúc đi, lúc đứng, lúc nằm, lúc ngồi, ta ý thức được hạt giống đang có đó. Có thể ta không dùng tư duy, nhưng tàng thức làm việc giống như đất, nó ấp ủ, nuôi nấng, làm chín hạt giống đó và một ngày nào đó tự nhiên ta thấy được mà không cần phải có tư duy, có tầm từ.

Ý thức phát hiện từ tàng thức

Những cái thấy về vô thường, vô ngã, tương tức, về sự ích lợi của khổ đau được tải xuống tàng thức và giao cho tàng thức trách nhiệm làm chín muồi rồi phát hiện toàn diện những tuệ giác đã có sẵn trong đó. Trong định đề này có một chi tiết ta phải để ý: Ta thấy giống như là ý thức chuyển tuệ giác xuống cho tàng thức, nhưng thật ra ý thức cũng từ tàng thức mà biểu hiện. Tàng thức là căn bản của ý thức, ý thức được sinh ra từ tàng thức. Nhờ sự quán chiếu mà ta đạt được tuệ giác, nhưng những tuệ giác vô thường, vô ngã, tương tức đã là những hạt giống có sẵn trong tàng thức. Nhờ chúng vốn có sẵn nên giới – định – tuệ mới khám phá ra được chúng. Phật tính, giác ngộ, vô sinh bất diệt có sẵn dưới dạng những hạt giống. Ý thức và tàng thức liên minh với nhau để nhận diện ra những hạt giống và làm cho chúng lớn lên, già dặn, chín muồi và phát hiện một cách toàn diện. Khi những hạt giống đó biểu hiện ra thì chúng sanh trở thành Phật. Hạt giống của Phật đã nằm trong chúng sanh. Không những Mạt na mà ý thức cũng biểu hiện từ tàng thức.

Giáo lý đạo Bụt là sự hướng dẫn tu tập để chuyển hóa

Những kiến thức về Duy Biểu học, những cái thấy về Mạt na, ý thức và tàng thức không phải là một môn tâm lý học mà là những chỉ dẫn cần thiết cho sự tu tập của mình. Đạo Phật không có mục đích trình bày một nền tâm lý học, mục đích của đạo Phật là hướng dẫn cho ta tu tập để chuyển hóa khổ đau và trong khi hướng dẫn tu tập thì cái thấy về tâm được biểu hiện ra. Thiền sư Thường Chiếu đời Lý Trần nói: Nếu chúng ta biết được một ít về sự vận hành của tâm thức thì sự tu tập của ta sẽ dễ dàng hơn. Vì vậy học Duy Biểu rất có ích lợi cho sự tu tập của ta. Không nên học Duy Biểu như học một nền tâm lý học để làm thỏa mãn sự tò mò của ta mà học để giúp cho ta tu tập có được kết quả tốt.

Trong khi hướng dẫn tu tập chuyển hóa, giáo lý của đức Thế Tôn cũng có nói đến thiên nhiên, vũ trụ, nói về sắc, thọ, tưởng và hành. Trong sự tiếp nhận phương pháp tu tập để chuyển hóa thì đồng thời chúng ta cũng tiếp nhận cái thấy của Bụt về thiên nhiên, về thế giới, về vật thể. Nhưng như vậy không có nghĩa đạo Phật là một khoa học về thiên nhiên, đạo Phật trước hết là một sự hướng dẫn tu tập để chuyển hóa và trong khi hướng dẫn thì phải đề cập tới những vấn đề đó. Đạo Phật không phải là khoa tự nhiên học hay khoa tâm lý học, nhưng qua giáo lý chúng ta biết được cái thấy của đạo Bụt về tự nhiên học, về cơ thể học và về tâm lý học.

Định đề 35

 

Mạt na có khuynh hướng tìm an ổn, lạc thú bền bỉ, không thấy được luật tiêu thụ có chừng mực, không thấy được mục đích và sự nguy hại của sự tìm cầu dục lạc, không thấy được sự thiết dụng của khổ đau, sự cần thiết của tuệ giác vô thường, vô ngã, tương tức, từ bi và truyền thông.

Manas has the tendency to seek for security and long lasting pleasure. It is ignorant of the law of moderation, the danger of pleasure seeking and the goodness of suffering. It does not see the necessity for insight into impermanance, non-self, inter-being, compassion and communication.

Mạt na phát sinh từ tàng thức

Nhờ thực tập niệm, định và tuệ, ý thức sẽ thấy được những cái Mạt na không thấy. Ý thức sẽ trao truyền xuống tàng thức tuệ giác đó. Trong tàng thức có một data base, trong đó những lề lối hành xử của thức được sắp đặt sẵn. Vì vậy cho dù không có thuyền trưởng thì chiếc thuyền vẫn có thể tự động lèo lái.

Mạt na là thức thứ bảy, được phát sinh từ thức thứ tám (tàng thức). Mạt na được làm bằng những nhu yếu tự tồn, tự bảo hộ, tự nuôi dưỡng, tự tiếp nối. Nhưng trong Mạt na không có đủ tuệ giác, không đại diện được những mầm tuệ giác có sẵn trong tàng thức. Mạt na có công năng và khuynh hướng bám víu tàng và coi tàng là vật sở hữu của nó, đó là cái ngã. Cũng như dây leo mọc ra một cánh tay và cánh tay đó quấn lại thân cây, Mạt na phát sinh từ tàng và trở lại quấn tàng. Mạt na có khuynh hướng tìm sự an ổn, tìm sự an thân, không muốn mệt, cho nên khuynh hướng làm biếng nằm trong Mạt na. Ví dụ như trời lạnh và có người bị tai nạn ở ngoài. Ý thức nói: “Trời ơi, tội nghiệp quá, mình phải chạy ra trong đêm lạnh để giúp người ta!”. Nhưng đó không phải là khuynh hướng tự nhiên của Mạt na, Mạt na nói: “Trời đang lạnh như vậy, mình đang nằm trong chăn ấm quá, đi ra ngoài làm gì cho mệt!”.

Mạt na có khuynh hướng đi tìm cầu khoái lạc

Mạt na có khuynh hướng đi tìm những lạc thú bền bỉ (long lasting pleasures), không thấy được luật tiêu thụ có chừng mực (law of moderation). Khi ăn thì nó ăn mà không cần biết phải ăn đến mức nào thì vừa đủ. Vì vậy trước khi ăn ta thực tập quán niệm để nhắc Mạt na ý thức về những tâm hành tiêu cực, trong đó có tâm hành không biết chừng mực. Mạt na thích đi tìm khoái lạc (pleasures seeking). Ý thức phải giúp Mạt na vì trong ý thức có niệm, định và tuệ.

Mạt na không thấy được sự nguy hại của sự tìm cầu dục lạc. Năng lượng tình dục là một phương tiện để thỏa mãn nhu yếu sâu sắc của con người, nhu yếu được tiếp nối trong tương lai chứ không phải là đi tìm lạc thú. Mục đích của hôn nhân là để có sự tiếp nối.

Trong văn hóa Á Đông, không có con là một sự bất hiếu. Bất hiếu hữu tam, nghĩa là bất hiếu có ba hình thức, trong đó hình thức bất hiếu đầu tiên là không có sự tiếp nối. Vô hậu vi đại, có nghĩa là không có sự tiếp nối là lỗi lớn nhất. Nếu ta nói sau này ta sẽ không nhận đệ tử, đó cũng là một sự bất hiếu. Trao truyền được tuệ giác mà ta đã nhận được từ thầy là có hiếu, nếu ta làm biếng, sợ mệt khi có đệ tử là bất hiếu. Cũng như cây kia làm ra những cánh hoa sặc sỡ không phải để chơi hay làm đẹp cuộc đời. Hoa nở trước hết là để lôi kéo ong bướm đến để giúp nó đậu trái. Vậy mà chàng thi sĩ lãng mạn kia cứ tưởng hoa nở vì mình.

Mạt na không thấy được sự nguy hại của sự tìm cầu dục lạc nên đi theo con đường tự dẫn, tự động. Phải có sự can thiệp của ý thức để thấy được sự nguy hại của dục.

Sự thiết dụng của khổ đau

Mạt na có khuynh hướng chạy trốn khổ đau. Nó đi tìm cầu khoái lạc, sự dễ dàng, sự an thân, nó không thấy được khổ đau là sự cần thiết. Chúng ta lớn lên được, học hỏi được là nhờ khổ đau. Chúng ta có bản lĩnh là nhờ đã từng trải qua khổ đau. Nếu không gặp những nghịch cảnh khổ đau thì ta không thể nào lớn lên được. Trong trường đời, khổ đau và nghịch cảnh rèn luyện cho ta trở thành một bậc đại trượng phu. Mạt na không thấy được điều đó, cứ chạy trốn khổ đau và đi tìm an ổn trong dục lạc.

Lúc còn là một thầy tu trẻ, tôi có làm bài thơ “Hãy nguyện cầu cho bóng tối thêm sâu hỡi ngàn sao lấp lánh”. Nếu bóng tối không sâu thì sao không hiện rõ, trời càng tối thì sao càng sáng. Trong ca dao Việt Nam có câu:

Người ta đi cấy lấy công

Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề

Trông trời trông đất trông mây

Trông mưa trông gió trông ngày trông đêm

Trông cho chân cứng đá mềm…

Câu hay nhất trong bài là Trông cho chân cứng đá mềm. Cái ta mong ước không phải là hoàn cảnh dễ dãi với ta mà là ta có đủ sức mạnh để đối phó với bất cứ hoàn cảnh nào. Trong bài thơ tôi viết:

Người lữ hành sáng hôm nay đang ngắm trời mây

Và thản nhiên cười trước sóng

Đã không nguyện cho trời yên bể lặng

Mà nguyện cầu cho chân cứng đá mềm

Người vượt biển không cầu cho trời yên bể lặng mà cầu cho mình có khả năng đối phó được với bão tố. Mạt na chỉ cầu được yên, nó không sẵn sàng dấn thân đi vào cuộc đời đau khổ như một vị Bồ tát.

“Thuyền về bến cũ” là một bài thơ khác tôi đã làm hồi đó. Có những chiếc thuyền mong ước trở về nằm nghỉ thanh bình trong bến xưa. Nhưng có những chiếc thuyền muốn đi ra biển cả đối phó với bão tố để cứu độ và giúp đời. Đó là tâm trí đại hạnh của các vị Bồ tát, không sợ khổ đau vì chính những khổ đau đó làm cho ta thành người. Mạt na không thấy được sự cần thiết của tuệ giác vô thường, vô ngã, tương tức, từ bi. Ta rất sợ vô thường và vô ngã. Tuy tuệ giác vô thường, vô ngã và tương tức làm cho ta mất đi cái cảm giác an ổn vì nó chống đối lại khuynh hướng đi tìm dục lạc bền bỉ của ta nhưng chính tuệ giác đó đem lại bình an và hạnh phúc chân thật cho ta sau này. Đó là sự can thiệp của tuệ giác vào trong đời sống.

Định đề 35 nói về ý và định đề 36 nói về ý thức. Ý thức đóng vai trò chính trong sự thực tập. Ý thức là người làm vườn còn tàng thức là khu vườn, người làm vườn giúp cho khu vườn hiến dâng những hoa trái ngọt ngào của sự thực tập. Chính ý thức thực hiện được niệm, định và tuệ, tức Tam vô lậu học. Niệm – định – tuệ là trái tim của sự thực tập giáo lý đạo Bụt.

Niệm là thắp sáng lên ý thức, làm sao để có sự tham dự của ý thức vào trong đời sống hàng ngày mà không để tàng thức tự dẫn, tự động đưa mình đi. Sống có niệm thì tự nhiên có định, ta không còn máy móc, tự dẫn, ta sống từng phút của đời sống hàng ngày với chánh niệm. Có niệm thì ta sống sâu sắc hơn, nghĩa là ta có định. Khi có niệm và sống sâu sắc hơn thì ta có tuệ. Chính tuệ giác vô thường, vô ngã, tương tức sẽ chuyển hóa được những mê mờ, những khổ đau và những tập khí xấu, như tập khí đi tìm sự an ổn. Ta có được tuệ giác chân thật giúp, ta không còn sợ hãi nữa vì Mạt na luôn luôn sợ hãi, nó tìm cách trốn chạy và thỏa mãn dục lạc.

Định đề 34

 

Tàng thức có công năng học hỏi, huân tập, lưu trữ, sắp đặt kế hoạch đối phó, bảo hộ, nuôi dưỡng, trị liệu và tiếp nối. Tàng thức có công năng thiết lập một kho tư liệu, những lề lối hành xử vô thức đã được sắp đặt sẵn để chiếc thuyền có thể tự lèo lái mà không cần có mặt của một vị thuyền trưởng.

Store consciousness has the capacity of learning, storing, protecting, responding, nourishing, healing and continuing. Its funtion is to establish a data base, unconscious habits of responding to situations, which is comparable to a boat being on auto-pilot.

Tàng thức có công năng học hỏi, huân tập

Tàng thức là Ālaya-vijñāna, chúng ta thường dịch ra tiếng Anh là store consciousness. Tàng có nghĩa là cất giữ. Các nhà tâm lý học Tây phương, các nhà tâm lý trị liệu, các nhà khoa học thần kinh não bộ cũng có cái thấy về tàng thức. Tàng thức có khi được gọi là thức bối cảnh (back-ground-consciousness). Thức bối cảnh nằm phía sau, còn nằm phía trước là ý thức. Tàng thức là background consciousness, ý thức là foreground consciousness.

Hữu Bộ (Sarvāstivāda) gọi đó là căn bản thức (root consciousness), mūla-vijñana, mūla là gốc rễ. Trong Duy Biểu học có những danh từ rất xưa và cũng rất lý thú khi so sánh những danh từ xưa đó với những danh từ dùng trong khoa thần kinh não bộ hiện nay. Tàng thức có công năng học hỏi, huân tập. Chữ huân tập (vāsanā) là một danh từ xưa trong Duy Biểu học, bây giờ chúng ta thường dùng chữ học hỏi.

Trong truyền thống đạo Bụt, thức phát hiện dựa vào những điều kiện, những duyên (pratyaya), vì vậy sự có mặt của cơ thể, của hệ thần kinh não bộ rất cần thiết cho sự biểu hiện của tàng thức. Thần kinh não bộ và cơ thể là tăng thượng duyên, chứ chưa phải là nhân duyên. Sự học hỏi đã bắt đầu rất sớm, huân tập có nghĩa là học hỏi và tập thành thói quen, lúc đầu ta chưa biết nhưng tập từ từ thì thành ra biết.

Huân tập là tiếp nhận từ từ để trở thành thói quen

Từ nhỏ tôi đã tập chải răng bằng tay phải. Nhưng một hôm tôi nghĩ nếu có vấn đề gì xảy ra cho tay phải thì tay trái phải làm thay, nên tay trái cũng nên bắt đầu học hỏi. Ngày đầu tiên tôi giao cho tay trái chải răng tôi quán sát và thấy tay trái làm rất vụng về và tay phải ngứa ngáy muốn giành lấy bàn chải của tay trái để làm cho mau. Tay phải có khuynh hướng muốn giật lại công việc, không phải do tay phải kỳ thị, coi thường tay trái mà do sự thúc đẩy của những kinh nghiệm đã được học hỏi từ lâu đời được tích lũy trong tàng thức, đó là thói quen muốn làm cách nào cho nhanh nhất, hay nhất và ít tốn năng lượng nhất. Nhận ra điều đó, tôi cười và nói: “Tay phải hãy để cho tay trái làm!”. Tay trái đang trên đường học hỏi nên nó làm không được tự nhiên và ý thức phải đi theo tay trái nhiều hơn trong khi tay phải một mình làm rất hay mà không cần đến sự tham dự của ý thức. Tay trái cần có ý thức phải cầm bàn chải như thế nào để làm cho hay. Vì vậy chải răng bằng tay trái dễ có chánh niệm hơn là chải răng bằng tay phải. Khi tay trái làm giỏi rồi thì nó không cần chánh niệm, không cần ý thức nữa, nó có thể làm như cái máy. Tôi cũng có giao cho tay trái tập viết, lúc đầu nó viết xấu như chú bé bốn, năm tuổi viết. Nhưng ngay trong trang đầu tay trái đã có sự học hỏi và thực tập, nó đã có sự tiến bộ. Không biết bằng cách nào mà những nét chữ viết đẹp của tay phải được truyền sang tay trái, thỉnh thoảng có những chữ “g” tay trái viết y hệt như tay phải. Hình như có sự âm thầm trao truyền tuệ giác giữa tay phải và tay trái ở dưới mặt vô thức. Bây giờ tay trái của tôi chải răng khá giỏi và tay phải ít có khuynh hướng muốn giành. Huân tập là học hỏi, sắp đặt và xử lý những tin tức được tiếp nhận vào. Chúng ta học hỏi những tin tức thu vào từ sáu giác quan. Sự học hỏi đã xảy ra từ lúc chúng ta tượng hình trong bụng mẹ và tiếp diễn không ngừng, danh từ xưa gọi là huân tập. Huân là ướp vào, thấm vào từ từ cũng như chúng ta hái hoa lài cho vào hộp trà, qua một đêm thì hương của hoa lài thấm từ từ vào trong lá trà. Khi chúng ta pha trà, dù không còn hoa lài, nhưng trong trà đã có mùi hương của hoa lài. Huân là thấm vào từ từ và thấm hồi nào mình không hay. Chúng ta không thấy được sự thấm vào cũng như không thấy được sự học hỏi. Nó được diễn ra một cách vô thức, trở thành một thói quen và tự động vận hành mà không cần được sai khiến, đó gọi là tập. Huân tập là học hỏi để thành một thói quen. Phương pháp giáo dục của Làng Mai đi theo đường lối huân tập.

Ngày xưa tôi không hề được theo học những khóa xướng tán, không hề có một thầy đem tang, mõ ra dạy cho mình xướng tán từng câu. Tôi chỉ nghe Sư ông và các thầy lớn xướng tán rồi từ từ huân vào và một ngày nào đó tự nhiên tôi làm được. Đó là huân tập. Quý vị nghĩ mình chưa biết chúc tán tổ sư, quý vị chỉ nghe tôi chúc tán, nhưng có lúc nào đó quý vị làm thử xem, có thể là mình đã làm được rồi. Tuy mình không có ý học hỏi nhưng lắng nghe thầy, lắng nghe sư anh, sư chị một thời gian thì tự nhiên mình làm được. Huân tập là tiếp nhận để thấm vào và cuối cùng trở thành một thói quen. Thói quen là một năng lượng, gọi là tập khí (habit energy).

Chọn môi trường tốt để có huân tập tốt

Có thứ huân tập tốt và thứ huân tập không tốt. Ở gần người xấu một thời gian thì những thói quen tật xấu của người đó sẽ huân vào mình thành tập khí dù mình không muốn học. Vì vậy mình phải chọn bạn mà chơi, tìm một môi trường tốt để sống. Nhất là đối với các em bé, nếu mình không cẩn thận cứ để em bé trong một môi trường xấu thì nó sẽ học hỏi, huân tập những tập khí xấu rất nhanh.

Ngày xưa ở Việt Nam có những vị cao tăng bắt đầu tu từ hồi sáu, bảy tuổi. Lúc còn nhỏ các vị lên chùa rồi tự nhiên thích đi tu, ý thích này có lẽ do hạt giống từ nhiều đời nhiều kiếp mà có. Ý hướng muốn tu học đã có trong tổ tiên của mình cho nên khi đến chùa với không khí thanh tịnh của chùa, với uy nghi và chánh niệm của thầy thì tự nhiên mình thấy thích liền lập tức. Vì vậy sự huân tập không bắt đầu từ đời mình mà từ những đời trước, tự nhiên mình thích tu, thích đi, đứng, cười như thầy. Ở trong chùa từ hồi còn nhỏ, được nuôi dưỡng trong không khí thanh tịnh của chùa nên mình được huân tập những cái tốt. Chùa là một môi trường thanh tịnh, không có hình ảnh của những thèm khát, hận thù, rất tốt để chúng ta huân tập những cái hay, cái đẹp, cái tích cực.

Hiện nay các chùa ở Việt Nam và Mỹ có khuynh hướng gửi các điệu đi học các trường tiểu học hay trung học ở ngoài. Khi học ở trường ngoài các điệu tiếp xúc với một môi trường khác với môi trường trong chùa vì vậy họ bị huân tập những cái mà ngày xưa các tổ không bị huân tập. Môi trường của học đường bây giờ xấu hơn môi trường học đường ngày xưa rất nhiều, vì vậy gửi các điệu đi học trường bên ngoài là một hành động không khôn ngoan cho lắm. Nhưng phụ huynh của các điệu cũng muốn con mình được đi học cho nên cũng trình bày ý muốn đó với thầy trụ trì. Kết quả là các điệu thời đại này rơi rớt nhiều hơn ngày xưa. Từ một khung cảnh rất an ninh, thanh bình, có sự bảo hộ của giới luật và uy nghi họ đi ra một khung cảnh có ma túy, nghiện ngập, tình dục. Các điệu bị huân tập những cái tiêu cực cho nên số lượng các điệu đậu lại để tu tập suốt đời ít hơn ngày xưa rất nhiều.

Tôi cũng muốn chia sẻ với các vị tôn túc, các thầy, các sư cô ở Việt Nam về vấn đề này. Các điệu còn nhỏ thì phải học nhưng mình phải tổ chức thế nào để các điệu được học ngay trong chùa mà không phải đi ra các trường bên ngoài. Ai cũng thấy rõ rằng trong các trường bên ngoài hiện nay có rất nhiều bạo động, khổ đau, và những tệ nạn khác như ma túy, cờ bạc, tình dục… Nếu chúng ta không thay đổi được lề thói giáo dục như hiện nay thì số lượng các điệu rơi rụng sẽ rất cao.

Phương pháp giáo dục của Làng Mai

Tại Làng Mai, các sư bé được học ngay tại Làng, không được gửi ra trường trung học ở ngoài. Học ngay tại Làng Mai họ có thể đi rất nhanh vì họ chỉ học những điều thiết yếu. Tôi hy vọng ở Việt Nam sẽ làm được như vậy: Các điệu cần phải học, nhưng hãy cho họ học ngay trong chùa mà không bị gửi ra các trường bên ngoài. Trong các chùa bên Mỹ các thầy cũng có nuôi nhiều người trẻ và rất thương họ, nhưng người trẻ rơi rớt rất nhiều có khi lên đến 80%-90%. Rất uổng công nuôi dưỡng và đào tạo!

Ban đầu chúng ta thấy cách dạy của Làng Mai không được hợp lý. Tại sao những thầy đã học 12 hay 15 năm rồi mà cũng cùng ngồi nghe pháp thoại chung với các chú, các cô mới tu hai ba tháng? Đáng lý chúng ta phải chia ra thành từng lớp theo từng trình độ khác nhau. Nhiều khi chúng ta có những bài pháp thoại trình độ rất cao, nhưng các cô, các chú mới xuất gia cũng được tham dự. Đứng về phương diện hình thức chúng ta thấy hình như làm như vậy không được hợp lý. Nhưng cách học ở Làng Mai không giống như cách học ở ngoài, ta không chỉ sử dụng ý thức mà còn sử dụng tàng thức rất nhiều nữa. Sự giáo dục ở Làng Mai đi theo phương pháp huân tập. Nghe một bài giảng của thầy, ta nghe và có thể hiểu được 10% hoặc ít hơn, nhưng lời giảng đi vào một cách tự nhiên và ta không cần phải cố gắng. Sau này những lời giảng đó được lặp lại trong những bài pháp thoại khác, bằng cách giảng dạy khác và sự huân tập vẫn được tiếp tục. Một ngày nào đó, dù không có cố gắng nhưng tự nhiên ta hiểu. Ta thật sự không được học xướng tán, nhưng ở trong khung cảnh có xướng tán nên tự nhiên âm điệu đi vào trong ta như hương của hoa lài đi vào trong trà. Danh từ ngày xưa chúng ta dùng là huân tập, huân là ướp và tập là thành thói quen. Phương pháp giáo dục của Làng Mai đi theo chiều hướng huân tập. Hiểu được như vậy chúng ta sẽ không thấy phương pháp giáo dục của Làng Mai là không hợp lý. Phương pháp đó rất hợp lý, chúng ta không cố gắng thúc ép mà để các thông tin và kiến thức kia đi vào một cách tự nhiên. Sự học hỏi, sự xử lý, sự lưu trữ và sự truy cập đều xảy ra một cách rất tự nhiên.

Tàng thức xử lý và lưu trữ, sắp đặt kế hoạch đối phó để bảo vệ, nuôi dưỡng, trị liệu và tiếp nối

Xử lý là processing, lưu trữ là storing. Danh từ ngày xưa là tàng, tàng là cất giữ, danh từ ngày nay là lưu trữ. Tàng thức xử lý và cất giữ, âm thầm hoạt động, sắp đặt kế hoạch đối phó. Kế hoạch này đã được học hỏi trước để đối phó với những biệt cảnh, những hiểm nguy, để bảo hộ (protecting) và nuôi dưỡng (nourishing). Cơ thể chúng ta cũng có những công năng đó. Có khi chúng ta ăn vào những thức ăn độc hại nhưng cơ thể có công năng chọn lọc, loại trừ, bảo vệ. Có một sự tranh đấu trong cơ thể để chỉ tiếp nhận những thức ăn tốt và loại trừ những thức ăn xấu. Ngay bộ phận tiêu hóa của chúng ta cũng có cách xử lý như tàng thức. Chúng ta không cần ra lệnh, nó đã có lề thói, có kế hoạch đối phó, trục xuất những chất có hại cho cơ thể để bảo vệ, nuôi dưỡng, trị liệu và tiếp nối.

Tàng thức cũng có cách riêng để trị liệu. Có những khổ đau, khó khăn, bệnh tật dù chúng ta không dùng ý thức để nhận diện và quyết định tìm cách trị liệu thì cũng có những lề lối, những thói quen để làm công việc nuôi dưỡng và trị liệu.

Tiếp nối là tìm đủ mọi cách để có thể được tiếp nối, để được đi về tương lai, để có con có cháu. Cũng như cây bưởi, cây chanh, cây cam có khuynh hướng làm hoa, làm trái, làm hạt để có sự tiếp nối cho cây. Năng lượng của tình dục, của thương yêu cũng nằm trong khuynh hướng tự nhiên của tàng thức để tiếp nối. Một bông hoa nở ra có màu hồng, màu vàng không phải không có lý do. Bông hoa có đủ màu cũng do khuynh hướng của tàng thức, muốn thu hút hấp dẫn, quyến rũ các loài ong bướm đến để giúp nó trong công việc tiếp nối, giúp nó kết trái và đi về tương lai. Tàng thức có khuynh hướng tiếp nối rất rõ.

Tàng thức có công năng thiết lập một kho tư liệu. Những gì chúng ta học hỏi, thu thập được sắp đặt một cách khéo léo và được lưu trữ, bảo tồn. Tàng thức là một data base nói theo danh từ của máy tính, trong đó những lề thói hành xử vô thức được sắp đặt sẵn để khi có một sự tình xảy ra thì nó phản ứng lại ngay mà không cần chúng ta phải suy nghĩ. Một data base của cách hành xử được sắp đặt trước. Một chương trình tự động, tự dẫn để chiếc thuyền có thể tự lèo lái được mà không cần sự có mặt của một vị thuyền trưởng, đó là tàng thức. Tự động là auto piloting, máy bay có thể tự lái lấy vì trong máy đã có sẵn chương trình.

Phần lớn trong chúng ta sống như vậy, chúng ta để chương trình tự dẫn đưa mình đi. Chúng ta sống không có ý thức, ta để cho tàng thức đưa đường chỉ lối. Ta sống như cây cỏ, chim thú, ta giao phó hết cho tàng mà không mời ý thức tới để nhận diện. Tự dẫn là tự một mình đi (auto navigating). Khi đói thì hai chân tự động đi về hướng tủ lạnh mà không cần sự tham dự của ý thức: “À hình như mình đang đói, mình phải tìm cái gì ăn“.

Những người tu là những người không mãn ý với cách sống đó. Ta muốn sống cuộc đời của chính ta nên ta thắp sáng ý thức để khi ăn ta biết được ta đang ăn, ăn đồ độc hại thì biết ta đang ăn đồ độc hại, ăn đồ bổ dưỡng lành mạnh thì biết ta đang ăn đồ bổ dưỡng lành mạnh. Nhờ có ý thức nên sự thực tập niệm, định, tuệ được thành công.

Định đề 33

 

Phật tử qua các thế hệ phải liên tục đối kháng lại với hai khuynh hướng thần hóa và ngã hóa biểu hiện những nhu yếu đại chúng nhất của con người.

Each generation of Buddhist practitioners has to resist the human tendencyand need to make the Buddha divine and to try to find a principle to take the place of a self.

Thần hóa đức Thế Tôn

Người ta có nhu yếu muốn biến đức Thế Tôn thành một thần linh, một Thượng đế sáng tạo ra vũ trụ. Tư tưởng này dễ làm người ta tin tưởng và chấp nhận vì nó đem lại cho họ sự bình an dễ dàng và nhanh chóng hơn. Bụt có quyền phép, Bụt có thể làm bất cứ điều gì, Bụt là chỗ nương tựa, Bụt sáng tạo ra tất cả. Khuynh hướng thần hóa đức Thế Tôn đã có ngay từ hồi Ngài còn tại thế. Người ta muốn lý tưởng hóa, muốn thần thánh hóa thầy của mình. Thầy của mình là một cái Ngã siêu việt.

Lịch sử của đạo Bụt là lịch sử của sự đối kháng lại hai khuynh hướng đó. Người ta không muốn cho đức Thế Tôn làm người mà chỉ muốn Ngài làm một vị thần linh, một vị chúa tể, làm bản thể của vũ trụ. Trong đạo Bụt có nói tới nhục thân, hóa thân của Bụt và cũng có nói tới pháp thân của Ngài (Dharmakāya). Ban đầu pháp thân chỉ có nghĩa là giáo pháp của đức Thế Tôn nhưng sau đó pháp thân trở thành bản thể, nền tảng của tất cả chư Bụt. Đó là Bụt Tỳ Lô Giá Na (Vairocana), là thanh tịnh pháp thân Tỳ Lô Giá Na bất sinh bất diệt, là nền tảng của tất cả. Quan niệm này rất gần với quan niệm Thượng đế là nền tảng của tất cả mọi hiện hữu. Bụt Tỳ Lô Giá Na của Mật giáo rất gần với Thượng đế của Cơ đốc giáo. Chỉ cần lệch qua một chút nữa thôi là chúng ta mất đạo Bụt, chúng ta trở thành đạo Chúa. Ngay trong Duy Biểu học cũng có nói: “Chỉ có thức, chỉ có biểu! Vạn hữu, vũ trụ, muôn loài đều do sự biểu hiện của tâm thức”. Nếu lệch thêm một chút nữa thì tâm thức đó sẽ trở thành Thượng đế, nền tảng của tất cả vạn hữu. Thức A-lại-da rất gần với Thượng đế. Chúng ta phải rất cẩn thận mới giữ được đạo Phật của đức Phật. Chúng ta sống với một đạo Phật mà chúng ta sáng tạo ra cho mình, nhưng đạo Phật đó không phải là đạo Phật của đức Phật. Vì nhu yếu tín ngưỡng, nhu yếu đi tìm sự nương tựa nơi một cái gì vững chãi và toàn năng nên khuynh hướng muốn thần hóa đức Thích Ca, muốn biến Ngài thành một vị thần linh ban quyền phép và làm nền tảng cho vũ trụ rất mạnh. Học lịch sử Phật giáo, chúng ta thấy rõ các Phật tử trong các thời đại đã tranh đấu rất nhiều để đối kháng lại khuynh hướng thần hóa đức Phật.

Khi viết cuốn “Đường xưa mây trắng” tác giả đã cố gắng đóng góp vào việc chống đối lại khuynh hướng thần hóa đức Phật và trình bày cho người đọc thấy rằng đức Thế Tôn trước hết là một con người. Đó là công đức của cuốn “Đường xưa mây trắng”. Đức Thế Tôn đã được trình bày như một con người, có đau khổ, có tu tập, chuyển hóa và đạt tới từ bi, trí tuệ. Trong suốt 2.600 năm, các thế hệ Phật tử đã liên tục phấn đấu để giữ cho đức Phật còn là một con người, là một bậc thầy mà không để Ngài trở thành một vị thần linh, một vị chúa tể của vũ trụ. Từ giáo lý Duy thức, từ giáo lý Pháp thân đi sang quan niệm Thượng đế chỉ là một bước nhỏ. Đó là khuynh hướng đầu. Khuynh hướng thứ hai là ngã hóa.

Ngã hóa

Đối với đám đông, nói không có ngã mà vẫn có luân hồi, có tư duy mà không có người tư duy thì quá khó hiểu. Muốn hiểu được giáo lý đó cần phải có sự quán chiếu mà người ta thì phần lớn chỉ cần sự nương tựa, sự bám víu nhiều hơn. Vì vậy phần tôn giáo trong đạo Phật được phát triển nhiều hơn phần tự giác, vì đại đa số chúng ta thường có nhu yếu nương tựa.

Đã có những trường phái Phật giáo chủ trương có ngã như Độc Tử Bộ. Độc Tử Bộ chủ trương phải có cái ta mới có thể tu tập, học hỏi, đưa ra một Bổ đặc già la (pudgala) và trích dẫn kinh điển để chứng minh chủ trương của mình:

Có một người mà sự xuất hiện của người ấy đem lại bao nhiêu lợi lạc và hạnh phúc cho nhân loại. Người ấy là ai? Người ấy là đức Thế Tôn.

Như vậy kinh điển nói rõ ràng là có ngã. Độc Tử Bộ tiếp tục trích những câu trong kinh như:

Thầy A nan ơi, thầy có thấy thành phố Vaisali đẹp không?

Như vậy là có một đức Bụt và một thầy A nan, có một cái ngã này nói chuyện với một cái ngã khác.

Chúng ta thấy chủ trương đó không chính thống, vì tuệ giác căn bản của đạo Bụt là vô ngã. Chính vì nhu yếu muốn dễ dàng hóa sự học hỏi và thực tập nên người ta đã phải đưa ra giả thuyết có một cái ngã và điều đó đã phản lại ngay giáo lý truyền thống của mình.

Chúng ta đã từng học qua những quan điểm trong Dị Bộ Tông Luân Luận. Độc Tử bộ (Vatsīputrīya) đưa ra chủ trương: Có một cái ngã không phải là năm uẩn mà cũng không nằm ngoài năm uẩn. Trong năm uẩn không tìm thấy ngã vì trong kinh nói rất rõ: Thân này không phải là tôi, cảm thọ này không phải là tôi. Người ta cố gắng tìm ra một cái ngã gọi là “phi tức phi ly uẩn ngã” có nghĩa là có một cái ngã không phải là uẩn (tức uẩn) mà cũng không lìa uẩn mà có (ly uẩn). Một mặt người ta muốn được chấp nhận trong truyền thống đạo Bụt và mặt khác cũng muốn có một cái ngã để cho dễ thực tập. Chúng ta đã được học về khuynh hướng muốn bám víu vào một cái gì đó. Chính ý niệm tuơng tục cũng là một sự bám víu và vì muốn cứu ý niệm này nên chúng ta thêm vào: Có một tương tục trên căn bản của tương tức.

Lịch sử tư tưởng Phật giáo (History of the Buddha’s thought) là một lịch sử của sự giằng co giữa cái thấy vô ngã chính thống đạo Bụt và khuynh hướng muốn thiết lập một cái ngã nào đó để dễ dàng giảng dạy giáo lý. Không có ngã thì ai đi luân hồi? Nếu không có ngã thì ai gây nghiệp nhân và ai chịu nghiệp báo? Vì vậy trong quá khứ các thầy đã cố tìm cách đưa ra một thứ ngã nào đó. Có khi người ta gọi là cùng sinh tử uẩn, tức một loại tập hợp của năm uẩn đi ngang qua suốt quá trình sinh tử. Đó là chủ trương của Hóa Địa Bộ (Mahīśāsaka). Đó là một sự níu kéo để có một cái ngã. Khuynh hướng này rất mạnh và rất dai dẳng.

Học về lịch sử phát triển tư tưởng Phật giáo chúng ta thấy khuynh hướng thần hóa đức Phật và khuynh hướng níu kéo một cái ngã rất lớn. Vì vậy Phật tử của các thế hệ phải liên tục đối kháng lại hai khuynh hướng thần hóa và ngã hóa, vì nó biểu hiện nhu yếu rất đại chúng, rất con người. Chúng ta phải giúp đức Thế Tôn ráng giữ lại đạo Phật thâm sâu, nếu không chúng ta sẽ mất đi nền tuệ giác rất lớn và đạo Phật sẽ trở thành một tôn giáo như các tôn giáo khác. Nếu các thầy, các sư cô, sư chú muốn dễ thương với Bụt thì phải cố gắng thực hiện được việc này.

Tiếp nối tuệ giác của Bụt

Trong đạo Bụt có quan niệm pháp thân, Niết bàn, Tỳ lô giá na, bạch tịnh thức, Như lai tạng, chân như. Tất cả những khái niệm này đều có thể bị lợi dụng để biến đức Thế Tôn, một bậc thầy, trở thành nền tảng của vũ trụ, một vị sáng tạo ra vũ trụ, một vị thần linh. Ngay cả quan niệm Không cũng có thể trở thành một dụng cụ để biến Sakyamuni thành Thượng đế. Không là nền tảng của hiện hữu, cũng như trong Cơ đốc giáo nói Thượng đế là nền tảng của hiện hữu. Nói Không là nền tảng của hiện hữu thì cũng như nói Thượng đế là nền tảng của hiện hữu, chỉ cần bước nửa bước nữa thôi là chúng ta đi tới thần giáo. Đức Thế Tôn trông cậy vào quý vị để bảo tồn nguồn tuệ giác của đạo Phật, đừng biến đạo Phật thành ra một tôn giáo của tín ngưỡng, vì đại đa số quần chúng rất cần một tín ngưỡng, rất cần sự nương tựa.

Sự nương tựa có thể đem lại cho chúng ta một sự an ổn, một sự xoa dịu nào đó. Nhiều người trong chúng ta đang hiến tặng cho người khác những an ủi, xoa dịu. Nhưng như vậy không có nghĩa là ta tiếp nối được đức Thế Tôn. Những an ủi, những xoa dịu đó các truyền thống tôn giáo ngoài Phật giáo cũng có thể làm được và còn có thể làm hay hơn. Cái đặc sắc nhất của Phật giáo là nguồn tuệ giác dựa trên cái thấy về vô ngã giúp chúng ta thoát khỏi cái nhìn lưỡng nguyên nhị thủ. Đó mới thật là chánh kiến. Nếu đi theo trào lưu thần hóa và ngã hóa thì chúng ta sẽ chỉ hoạt động và tu tập trên cơ bản tà kiến mà thôi.

Thỉnh thoảng trong Phật giáo có xuất hiện một vị thầy như tổ Lâm Tế, tổ hét lên một tiếng để giúp chúng ta trở về. Ngài nói: “Quý vị đi tìm cái gì? Quý vị đi tìm Phật, đi tìm pháp thân, mà Phật và pháp thân là gì? Phật và pháp thân chính là quý vị, là những người đang ngồi nghe pháp trước mặt tôi đây!”. Nhưng tiếng hét đó không phải dành cho đa số vì đa số đang đi tìm cầu một chỗ nương tựa, chỗ ẩn náu. Chỉ có một số ít người có thể nghe, có thể hiểu được tiếng hét đó và có thể tiếp nối tuệ giác của đức Thế Tôn.

Sáng nay chúng ta đã được thực tập theo thiền hướng dẫn. Chúng ta có cơ hội thấy được cơ thể mà ta gọi là hình hài của ta cũng chính là hình hài của cha, của mẹ, của thầy tổ. Ta tiếp xúc được hình hài của tổ tiên, cha mẹ trong ta, ta thấy hình hài này không phải là một cái ta độc lập mà là một sự tiếp nối, một sự tương tục. Sự thực tập này một phần nào giúp chúng ta thoát ra khỏi khuynh hướng ngã hóa và thần hóa. Chúng ta thực tập: Hình hài này của con cũng là hình hài của ba mẹ và cũng là hình hài của Bụt vì ta là đệ tử của Bụt, ta tiếp nhận tuệ giác của Bụt. Tuệ giác của Bụt đi vào trong từng tế bào cơ thể ta. Nếu ta nuôi nấng và phát triển những tế bào đó trong ta thì ta có thể tư duy, nói năng và hành động như Bụt, ta có thể đi lui, đi tới và ngồi xuống như Bụt. Hình hài của ta cũng là hình hài của cha mẹ, của tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh. Ta có cơ hội tiếp xúc với tính vô ngã của hình hài này. Ta thực tập để thấy tự do, hạnh phúc mà ta tìm có thể được tiếp xúc và kinh nghiệm ngay trong giây phút hiện tại.

Người ta nói nếu tu tập thì một ngày kia ta sẽ được giải thoát, hạnh phúc, thảnh thơi. Ngày kia là ngày nào? Là ba hay năm năm nữa, hay là tuần sau? Vấn đề là sự giải thoát, sự thảnh thơi và hạnh phúc đó phải tìm được ngay trong giây phút hiện tại. Ngồi thiền là để chứng được ngay sự giải thoát trong giây phút hiện tại. Ta phải thấy được sự giải thoát mà ta đi tìm đó có mặt ngay trong giây phút hiện tại. Nếu an lạc, giải thoát không có ngay trong giây phút hiện tại thì nó không thể nào có được trong tương lai. Vì vậy khi thở vào, thở ra thì ta phải có an lạc, giải thoát. Ta buông bỏ tất cả và lúc đó Bụt, tổ và thầy đều cùng có mặt vì tuệ giác đang có mặt.

Ta có một thao thức, một trông chờ, một kỳ vọng nào đó. Ta có một nỗi buồn, một niềm đau nào đó kéo ta đi. Đôi khi ta không biết ta mong chờ cái gì, nhưng vẫn có một sự mong chờ. Đối tượng của sự mong chờ rất mơ hồ, mong chờ một lá thư, một tin tức, mong chờ một sự kiện nào xảy đến để cuộc đời ta bớt buồn chán, bớt tầm thường. Chính sự trông chờ đó không cho phép ta có an lạc và thảnh thơi. Ta có sự buồn khổ, trách móc nào đó; có người hiểu lầm ta; thầy không hiểu ta; sư anh, sư chị, sư em không hiểu ta. Ta mang một nỗi buồn và nỗi buồn đó ngăn cản, không cho mình có hạnh phúc, an lạc trong giờ phút này. Trong lúc thở ra, thở vào ta phải làm sao chọc thủng được và buông thả được những cảm giác đó. Ta biết nếu ta không có an lạc ngay bây giờ thì ta sẽ không có an lạc bất cứ lúc nào trong tương lai, nếu ta không có tự do bây giờ thì ta sẽ không bao giờ có tự do trong tương lai. Ta phải ngồi thở trong cái thấy đó, trong quyết định đó thì giờ ngồi thiền mới là giờ của hạnh phúc của tự do. Quả đi liền theo nhân như bóng theo hình mà không phải chờ đến tương lai. Chính trong giây phút hiện tại ta phải chọc thủng được (break through), nếu không thì sự thực tập thiền thở, thiền ngồi, thiền đi chỉ là việc làm vô ích. Trước khi ăn cơm chúng ta quán niệm: Chúng ta ăn cơm như thế nào để có thảnh thơi, tự do và hạnh phúc ngay trong khi ăn. Ăn cơm là một sự thực tập rất sâu sắc. Trong khi ăn cơm ta có thể nhai những quá khứ, tương lai, nhai những ước vọng, những chờ đợi, buồn khổ. Ăn cơm như vậy không có thảnh thơi, hạnh phúc. Trong mỗi bữa cơm chúng ta đều được nhắc nhở: Chúng ta ăn như thế nào để có niềm vui, có giải thoát, thảnh thơi. Trong khi ăn cơm, chấp tác, lái xe hay tưới rau cũng vậy, những động tác trong khi làm việc phải đi theo với sự thực tập để có giải thoát và an lạc ngay trong giây phút đó. Nếu không thì ta cũng không khác gì với những người đang bôn ba ngoài đời, đi làm để nuôi vợ con hay phấn đấu để có một mảnh bằng, một địa vị, một chức vụ. Chúng ta tới đây không phải để làm những việc của người ngoài đời. Chúng ta tới đây với mục đích là tìm tự do vì ta biết không có tự do thì không có hạnh phúc. Chúng ta mang đến đây những bức xúc, những cái kẹt với mong muốn được tháo gỡ qua sự thực tập. Vì vậy chúng ta phải sử dụng mỗi giây phút của đời sống tu tập để chọc thủng những bức màn đó và có được tự do trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, trong khi chấp tác, trong khi thở. Đó là điều mà đức Thế Tôn trông cậy ở chúng ta. Khi ta đi xuất gia thì gia đình, dòng họ, đất nước, tăng thân, Bụt, chư tổ, thầy đều trông cậy ta làm được chuyện đó.

Mỗi một ngày đi qua cho ta rất nhiều cơ hội. Ta đi thế nào để mỗi bước chân có an lạc, tự do. Nếu thật sự muốn tự do thì ta sẽ có tự do, nếu thật sự muốn an lạc thì ta sẽ có an lạc. Nếu cái muốn đó thật mạnh thì mỗi bước chân, mỗi hơi thở đều có tự do, an lạc. Ta đang được hiến tặng những điều kiện để thực tập mà ta không biết tận dụng thì rất uổng cho ta. Biết bao nhiêu người rất muốn có được điều kiện để thực tập như ta nhưng họ không có thầy, không có tăng thân, không có ai chỉ đường, không có giáo pháp. Ta có đủ các điều kiện mà không chịu thực tập thì ta thật không xứng đáng với sự trông chờ của cha mẹ, tổ tiên, của Bụt, của thầy và của tăng thân.

Định đề 32

 

Không có ngã nhưng vẫn có luân hồi, có cái gọi là tương tục, nhưng cái tương tục nào cũng đều có tính cách tương tức.

There is no self but still there is the cycle of birth and death, there is inter-continuation and the nature of all inter-continuation is interbeing.

Cái gì sinh, cái gì diệt?

Chúng ta đã có cơ hội học về sự sinh diệt của các hành và cũng có cơ hội nhìn sâu vào bản chất của cái gọi là vô thường, sinh diệt.

Chư hành vô thường

Thị sinh diệt pháp

Sinh và diệt là hai cửa ngõ phải đi qua. Sinh thì cái gì sinh và diệt thì cái gì diệt? Phải có một cái gì đó để từ đó mới có sinh, rồi đi ngang qua sinh diệt, và chúng ta tưởng tượng ra hai cửa ngõ: một cửa là sinh và một cửa là diệt.

Chúng ta thấy ở đây có sự vô lý của ngôn ngữ. Nếu có một cửa sinh và một cửa diệt thì phải có một cái đi ngang qua cửa sinh để rồi đi ngang qua cửa diệt. Như vậy, trước khi sinh nó đã có đó và sau khi diệt rồi thì nó vẫn còn đó. Khi nghe hai câu kệ trên Tuệ Trung Thượng Sĩ hỏi: “Cái gì sinh, cái gì diệt?”. Thùy sinh diệt? chỉ có ba chữ thôi nhưng câu hỏi này đặt lại tất cả vấn đề: Anh nói sinh diệt, nhưng cái gì sinh, cái gì diệt? Phải có cái để sinh, để diệt! Có một cái đi ngang qua sinh, có nghĩa là trước khi sinh nó đã có, mà đã có thì cần gì phải sinh. Có một cái đi ngang qua diệt, có nghĩa là khi diệt rồi nó vẫn còn có đó, mà nếu còn có đó thì không thể cho là diệt. Câu hỏi “Cái gì sinh? Cái gì diệt?” vô lý hóa tất cả ý niệm và ngôn từ mà chúng ta đã sử dụng.

Chư hành vô thường

Thị sinh diệt pháp

Sinh diệt diệt dĩ

Tịch diệt vi lạc

Nhà triết học Wittgenstein có nói: Chúng ta không nên nói những gì mà chúng ta không biết. Chúng ta thường không có khái niệm rõ ràng, hoặc không hiểu vô thường và sinh diệt mà cứ nói về vô thường và sinh diệt. Hai câu đầu của bài kệ nói về phương diện tích môn hay phương diện hiện tượng và hai câu sau đưa chúng ta vào phương diện bản môn hay phương diện bản thể. Khi đi vào bản môn thì những ý niệm như sinh diệt tan biến và sinh diệt tan biến rồi thì không cần có “một cái” để đi ngang qua sinh diệt.

Khi giảng về giáo lý về vô thường, sinh diệt, luân hồi, chúng ta phải giả định ra một cái ngã để có được một cái gọi là vô thường và đi qua sinh diệt. Tâm tư của người bình thường ngoài đời khó đạt được cái thấy: Tuy không có ngã nhưng vẫn có thể có sinh diệt.

Không có ngã nhưng vẫn có luân hồi

Nếu không có ngã thì cái gì đi luân hồi? Không có ngã nhưng vẫn có luân hồi. Khi quán sát chúng ta thấy điều này đúng, ví dụ như đám mây không có ngã nhưng đám mây vẫn đi luân hồi. Đám mây thành mưa, thành tuyết, thành dòng sông, thành sương mù và thành đám mây trở lại. Triết gia Descartes nói: “Je pense donc je suis!” (Tôi tư duy nên tôi tồn tại), giống như tư duy là một động từ và phải có cái tôi mới có thể tư duy. Sự thật chúng ta không cần tôi mới có thể tư duy. Chúng ta thấy có một tư duy (thought, pensée), trong đạo Phật gọi là tầm, từ. Tầm là mới bắt đầu tư duy, chưa sâu, cũng như con bướm chỉ mới đậu xuống cành hoa và từ là tư duy sâu hơn, như con bướm đi thám hiểm bông hoa.

Từ những hạt giống nào đó dưới tàng thức biểu hiện ra một tâm sở gọi là tư duy (tầm). Nếu cố tìm chúng ta thấy trong tư duy đó có chủ thể và đối tượng, vì tư duy bao giờ cũng là tư duy về cái gì. Chủ thể và đối tượng tư duy cùng biểu hiện một lần, nó nương nhau mà biểu hiện, không phải một cái có trước rồi cái kia có sau. Chúng ta vẽ một tam giác ABC và kéo xuống một đường thẳng AH thì tự nhiên sinh ra hai tam giác nhỏ ABH và ACH. Hai tam giác nhỏ cùng phát sinh ra một lần, không có tam giác nhỏ này thì không có tam giác nhỏ kia. Chủ thể và đối tượng của tâm sở tầm cũng vậy, khi biểu hiện thì chủ thể và đối tượng cùng biểu hiện ra một lần. Khi Descartes tuyên bố câu “tôi tư duy nên tôi tồn tại” thì ông thấy chủ thể có trước rồi đi tìm đối tượng, tức cái ngã có trước rồi đi tìm cái pháp. Đó gọi là nhị thủ (double grasping). Phần lớn chúng ta vì không tu học, không quán chiếu nên trở thành nạn nhân của nhị thủ. Chúng ta tưởng tượng có một cái ngã thường tại và cái ngã đó nhận diện, giác tri các pháp.

Có tư duy mà không cần phải có ngã. Tư duy là một tâm hành, trong tàng thức của chúng ta có những hạt giống, khi những hạt giống đó bị kích thích, tưới tẩm thì tư duy (tâm hành) biểu hiện ra. Cái mà chúng ta thấy là một tư duy mà không cần phải có một người tư duy vì tư duy đó bao gồm cả chủ thể, và đối tượng tư duy; chủ thể và đối tượng tư duy cùng biểu hiện ra đồng thời.

Cái thấy này rất khó hiểu đối với đại chúng bình dân, họ không nắm được giáo lý sinh về Tịnh độ hay giáo lý quả báo luân hồi. Họ chỉ hiểu được giáo lý này qua nhận thức về ngã: Có ngã thì mới có luân hồi quả báo, mới có Tịnh độ. Chúng ta có một đạo Bụt bình dân của đại đa số những người có nhu yếu tín ngưỡng, và chúng ta có một đạo Bụt thâm sâu gọi là le Bouddhisme profond. Hai loại đạo Bụt này có liên hệ với nhau nhưng cũng có chỗ khác nhau. Đa số chỉ có thể theo được đạo Bụt của đại chúng, mà không theo được đạo Bụt thâm sâu. Đạo Bụt thâm sâu dựa trên cái thấy vô ngã và vô pháp, dựa trên chánh kiến vượt thoát nhị thủ. Tư duy không dựa trên chánh kiến là tà tư duy mà không phải là chánh tư duy. Ngôn ngữ không dựa trên chánh kiến là tà ngữ mà không phải là chánh ngữ. Hành động không dựa trên chánh kiến là tà nghiệp mà không phải là chánh nghiệp.

Câu “không có ngã nhưng vẫn có luân hồi” cũng quan trọng như câu “không có tôi nhưng vẫn có tư duy”. Câu tuyên bố của triết gia Descartes giống như một công thức toán học, buộc người ta phải theo logic: Tôi đang tư duy, tại vì tôi đang tư duy nên thế nào cũng phải có người tư duy. Tôi tư duy nghĩa là có tôi đây! Tất cả giáo lý đạo Phật đều để công kích cái gọi là “je suis”, “I am”. Đó là chấp ngã, mà hễ có chấp ngã thì luôn luôn có chấp pháp đi theo. Tất cả những hệ thống tư tuởng và phương pháp hành trì của đạo Bụt đều nhắm vào việc xô ngã ý niệm về sự có mặt của một cái ngã.

Để trả lời Descartes, chúng ta nói: Thưa giáo sư, tôi chỉ thấy có cái tư duy mà không thấy có ngã. Không có cái tôi mà vẫn có thể có tư duy, cũng như đám mây không cần phải có một cái tên mà nó vẫn có thể đi luân hồi.

Luân hồi là sự tiếp nối liên tục

Chúng ta nghĩ là phải có một người nào đó thì mới có tái sinh và luân hồi. Nhưng luân hồi ở đây có nghĩa là một sự nối tiếp, một sự liên tục, như đám mây được nối tiếp bởi cơn mưa. Không cần có một cái ngã thường tại bất biến mà vẫn có sự nối tiếp. Cơn mưa sẽ trở thành bát canh, bát canh sẽ trở thành một tư tưởng hay một bài pháp thoại. Có một sự đi vòng, một sự liên tục gọi là tái sinh (rebirth) hay luân hồi (samsara). Sự tiếp nối là có thật. Có cái gọi là tương tục (continuum), một dòng tương tục trong đó sát na thực tại này được nối tiếp bằng sát na thực tại khác. Có những sát na gọi là point instant. Lúc năm tuổi chúng ta có point instant của năm tuổi và khi đến 30 tuổi chúng ta có một point instant khác. Nếu so sánh sát na thực tại này với sát na thực tại kia thì chúng ta thấy nó rất khác nhau. Năm uẩn của ta lúc năm tuổi khác rất nhiều với năm uẩn của ta lúc 30 tuổi. Giữa hai point instant đó có hàng ngàn muôn ức những point instant khác nối tiếp nhau. Chúng ta thấy có sự liên tục mà không cần phải có cái ngã. Không có gì bất biến trong năm uẩn từ hình hài qua cảm thọ, tới tri giác, tâm hành và nhận thức. Tất cả đều chuyển biến, một sát na thực tại này được nối theo một sát na thực tại khác theo nguyên tắc nhân quả: Cái sau thừa hưởng cái trước, cái trước đưa tới cái sau.

Tương tục trên căn bản tương tức

Có một sự tương tục gọi là samtati, nhưng cái tương tục đó cũng đồng thời là một tương tức. Khi nói đến tương tục, các Tổ có nói đến tự tương tục (this continuum) và tha tương tục (the other continuum). Ví dụ thầy Pháp Hữu là một dòng tương tục và thầy Pháp Niệm là một dòng tương tục khác, nhưng có sự liên hệ giữa hai dòng tương tục đó. Thầy Pháp Hữu và thầy Pháp Niệm đồng thời tương tức.

Trong ta có đất, nước, lửa, gió. Đất, nước, lửa, gió trong ta có liên hệ với đất, nước, lửa, gió ngoài ta. Tương tục không thể nào có mặt nếu không có tương tức. Những tương tục luôn luôn thu vào những nhập kiện (inputs) và đưa ra những xuất kiện (outputs). Trong mỗi giây của những tương tục đều có những nhập kiện và xuất kiện.

Khi thở ra chúng ta hiến tặng CO2 của ta, khi thở vào ta tiếp nhận O2 của cây cỏ. Ta với cây cỏ tương tức. Dù có sự tương tục nhưng sự tương tục xảy ra trên căn bản tương tức, vì vậy cái tương tục đó không phải là một cái ngã tách rời ra khỏi những tương tục khác. Cái tương tục là cái có thật, nhưng chúng ta không thật sự tiếp xúc được với cái tương tục đó nếu chúng ta không thấy được tính tương tức của nó. Bất cứ một tương tục nào cũng đồng thời là tương tức, nếu đánh mất đi cái thấy về tương tức thì cái thấy về tương tục là một cái thấy sai lầm, cái tương tục sẽ trở thành một cái ngã. Cái tương tục đó không phải là một cái ngã vì đồng thời nó cũng là tương tức.