Trời che đất chở

Chân Sắc Nghiêm

Con tin là người dân ở quốc độ nào, biên giới nào, quốc gia nào trên hành tinh xanh xinh đẹp này đều có tình thương cho đất. Dù có ý thức hay trong vô thức, tình thương đó luôn luôn hiện hữu. Tình thương có thể phát khởi từ lòng trắc ẩn khi thấy một chú cá heo qua đời vì hàng trăm mảnh nylon trong bụng. Tình thương có thể phát khởi từ lòng biết ơn vì nhờ đất sản sinh hoa màu, cây trái,… cung cấp đủ thực phẩm cho sự sống con người. Hay tình thương phát khởi khi hiểu rằng đất rên xiết chống chọi những trận thiên tai, hiểm họa… 

Người Việt từ bao đời được đất chở che, nuôi dưỡng. Nếp sống của cha ông từ ngàn đời luôn gần gũi với thiên nhiên. Tình thương cho đất đã đi vào kho tàng ca dao, tục ngữ: Đất lành chim đậu, Tấc đất tấc vàng,… 

Đất không chỉ là nguồn cội – Quê cha đất tổ. Đất còn là cơm áo, chỉ cần có đất là có ấm no, có sự nghiệp. Có “mảnh đất cắm dùi” thì yên tâm khởi nghiệp, không còn sợ nữa. Đất tạo ra vật chất, đất mang giá trị tinh thần. Khi gia cảnh túng thiếu, phải bán hết mọi thứ trong nhà nhưng “đất hương hỏa” thì không bao giờ được bán, nó như mạng mạch của gia đình. Cái tình với đất được biểu hiện rõ ràng nơi những người dân cày sâu cuốc bẫm, tiếp xúc và sống hàng ngày với đất, lên xuống theo diễn biến của những vụ mùa. 

Còn người dân thành phố như con, trước khi đi tu, liên hệ với đất không khắng khít, chặt chẽ như vậy. Sự hiểu biết của con về tương tức còn chưa được hình thành. Trên bề mặt nhận thức mình biết về sự tương quan, nhưng cái nhận thức đó chưa trở thành đời sống, thế nên cách sống của mình vẫn phản ánh cái nghĩ: mình và đất đai, khí hậu, môi trường là hai thực thể tách biệt. 

Những năm tháng trong chùa, những câu kinh tiếng kệ, rồi tâm thức cộng đồng và sự học, hiểu thêm về giáo lý tương tức đã cho con có cơ hội nhìn đất trong phạm trù tương tức. Con thấy mình biết thương đất nhiều hơn. Thương đất cũng là thương sông ngòi, núi non, không khí, cỏ cây,… Con thấy mình biết nhìn ngắm cái đẹp của đất trời. Biết trân trọng những buổi sáng huy hoàng khi mặt trời lên làm long lanh những giọt sương trên đầu ngọn cỏ. Biết trân trọng không khí trong lành buổi sớm mai cho mình hít thở những hơi thở đầu ngày. Biết quý những buổi chiều vàng mùa thu khi ánh nắng xuyên qua làm rạng rỡ những chiếc lá vàng đỏ… Tất cả những vẻ đẹp đó nuôi dưỡng tâm hồn, chữa trị những vết thương và cho con thêm niềm vui sống. 

Mỗi lần đọc Bài kinh Ca tụng đất Mẹ của Sư Ông là mỗi lần con xúc động trước sự bao dung, đẹp đẽ tròn đầy của đất Mẹ: 

Mẹ đã sinh ra bao chủng loại

Tạo bao mầu nhiệm ở trên đời 

Thương yêu hết mực, không kỳ thị 

Ôm lấy muôn loài chẳng sót ai 

Thuần hậu, bao dung và vững chãi 

Mẹ đang chuyên chở cả muôn loài. 

Khi mình thương, mình mong muốn biến tình thương của mình thành hành động. Hành động đến từ ước muốn tôn trọng và bảo vệ. Nhưng trước tiên, tình thương phải bắt đầu từ sự hiểu biết thì tình thương đó mới có thể bền chặt theo tháng năm. 

Niềm tin 

Con nhớ, năm 2016, con được về Việt Nam thăm nhà, sau năm năm sống ở Viện Phật học, Đức. Về đến sân bay Tân Sơn Nhất đã là mười giờ tối. Hình ảnh ấn tượng đầu tiên con bắt gặp đến từ một chú bán trái cây bên đường. Không hiểu sao lúc đó con rơi nước mắt. Thấy thương vô cùng! Thương người dân mình cơ cực! Gương mặt khắc khoải của chú, trong một buổi khuya Sài Gòn với hàng trái cây đơn sơ làm cho con xúc động. Việc mưu sinh đâu có dễ dàng. Cái quan tâm về cơm áo gạo tiền hàng ngày nó chiếm trọn tất cả các quan tâm khác. 

Có hôm bố hỏi con: “Muốn ăn sầu riêng không, bố mua cho?”. Mẹ nói: “Thôi, thuốc không à!”. Bố nói: “Có cái gì mà không có thuốc đâu!”. Rồi con biết thêm, người ta trồng rau cũng trồng thành hai luống. Một luống để bán, có thuốc và một luống để ăn, không có thuốc. Đi đâu con cũng nghe bàn tán những vấn đề về thực phẩm ô nhiễm. 

Lại thêm mật độ xe ở thành phố ngày càng dày hơn, phải làm thêm cầu vượt, phải mở rộng đường, khói bụi tỉ lệ thuận với số khẩu trang. Ra đường ngày trước đã khó nhận ra người quen, giờ còn khó hơn vì ai cũng che phủ từ đầu đến chân; đôi mắt cũng không thấy vì phải đeo kiếng chống bụi, chống nắng. Tham gia giao thông trên đường về, con thấy mình căng và mệt. Con cứ mải miết suy tư về môi trường sống. 

Rồi con nhớ đến thằng em trai. Có hôm nó đi học về, chạy chiếc xe Max, tay cầm bịch nước mía đã uống hết (có cái ống hút) trên tay. Con hỏi: “Sao không quăng cái bịch uống hết rồi đi em, cầm về nhà làm chi vậy?”. Nó nói: “Đi suốt đường mà không thấy cái thùng rác nào hết, chị Hai”. 

Nghe nó trả lời mà con thấy ấm lòng. Thằng em, té ra cũng có cách bảo vệ môi trường riêng của nó. 

Gần đây, con tình cờ nghe câu chuyện về dự án xe điện Datbike của Nguyễn Bá Cảnh Sơn, một bạn 9X ở Đà Nẵng. Một người đã có việc làm ổn định, là một kỹ sư phần mềm ở Silicon, thao thức về lại quê nhà với khát vọng cống hiến. Nghe bạn chia sẻ: Khi làm việc ở Silicon, em suy nghĩ mãi liệu những việc mình đang làm ở bên kia, làm cho những trang web chạy nhanh hơn, làm cho hệ thống xử lý dữ liệu chạy nhanh hơn có thật sự quan trọng không khi mà điều kiện căn bản nhất của cuộc sống là hít thở thì người thân và bạn bè của mình ở đây còn chưa có. Em quyết định về lại Việt Nam để thành lập Datbike... 

Không biết từ bao giờ mà việc mang khẩu trang này đi ra đường đối với người Việt Nam chúng ta trở thành một phần tất yếu của cuộc sống. Ô nhiễm môi trường càng ngày càng trầm trọng. Đó không phải là những gì em đã từng có trước đây và điều đó làm em suy nghĩ mãi. Vì vậy em trở về Việt Nam, thành lập Datbike với một mục tiêu duy nhất làm sao để cho người Việt Nam chúng ta khi ra đường không ai phải đeo cái khẩu trang này nữa”. 

Nghe bạn chia sẻ con thấy mừng và có thêm niềm tin tưởng vào thế hệ trẻ của Việt Nam. Các em 9X, sau con một thế hệ, dám sống, dám ước mơ, dám thực hiện. Khi khởi nghiệp, các em đã biết suy tư về vấn đề môi trường, về giá trị đạo đức, giá trị nhân văn của nghề nghiệp mình chọn. Đó là chánh mạng, nghề nghiệp chân chánh. 

 

 

Bé Thanh An 

Bé Thanh An sinh năm 2016, là thế hệ thứ ba của gia đình. Bé sinh ra đúng ngày thứ 50 sau khi ông ngoại bé qua đời. Vào bệnh viện, bế bé trên tay, con cảm nhận rõ ràng bé là một hiện hữu nhiệm mầu, là một món quà của vũ trụ, là sự tiếp nối đẹp đẽ trong gia đình. Ngày bé ra đời, con viết xuống trong quyển sổ nhỏ: 

Bé đã sinh ra rồi
Chân trời xôn xao dâng ánh sáng. 

(“Bé đã sinh ra rồi” – Thơ Sư Ông) 

Thương bé Thanh An cũng là thương 360 ngàn em bé sinh ra cùng ngày, thương 134 triệu em bé sinh ra cùng năm với Thanh An. Con thấy tình thương dành cho Thanh An – cháu ruột của mình – cũng dễ dàng nhân rộng ra cho hàng triệu em bé khác một cách tự nhiên. 

Những bất ổn về môi trường ở Việt Nam có lúc làm cho sự lo lắng trong con lên cao. Con nghĩ thế hệ của bé sẽ đối diện với nhiều khó khăn hơn về môi trường sống và về vấn đề tiêu thụ. Có lúc cái lo lắng trong mình nói với mình rằng hay là gia đình tìm cách nào cho bé ra sống ở nước ngoài, có môi trường sống xanh sạch hơn. Con mỉm cười với mình! Dùng lăng kính tương tức soi vào thì thấy dù có đi với tốc độ ánh sáng, đi hoài đi mãi không ngừng nghỉ cũng không thể đi ra khỏi thế giới tương tức này. Một tảng băng tan ở Nam Cực cũng có tầm ảnh hưởng đến tất cả địa cầu. Điều mà con có thể làm được cho bé có chăng là dạy bé biết thở bình an trước những thử thách, sợ hãi trong đời sống. Điều ước của con là ước gì Liên Hiệp Quốc có thể thêm vào quyền trẻ em một điều khoản: Mỗi đứa trẻ có quyền được đến Làng Mai một lần! Đến Làng, chỉ để được học cách sống đơn giản, có mặt và gần gũi với thiên nhiên. Rồi sau này, những chất liệu đó nơi tàng thức sẽ nuôi được các bé trong đời sống bộn bề. 

Tứ vô lượng tâm 

Khi mình thương một người, mình muốn bảo vệ, che chở cho người đó. Nhưng thử tưởng tượng ngày nào mình cũng than khóc, sợ hãi, tức giận vì người đó đang khổ đau. Mình quằn quại, đau đớn theo. Đặt bạn vào hoàn cảnh được thương như vậy bạn cảm thấy thế nào? Với con, chắc con buồn lắm. Bản thân đã khổ mà thấy người thương mình cũng khổ thì nỗi khổ ấy lại cộng thêm lên. Tình yêu đất Mẹ cũng như vậy! 

Những năm gần đây, sự sống của trái đất đang đi đến lằn biên báo động. Những cảnh báo ở mức độ toàn cầu về tình trạng của đất Mẹ ngày càng mạnh mẽ và khẩn thiết. Con thấy mình may mắn vì đang sống trong một tăng thân biết thương đất Mẹ và cũng biết thương nhau. Vì tình thương chung nên hành động cũng là hành động chung. Mình mạnh mẽ hơn nhiều khi làm cùng nhau, san sẻ chung với nhau một nỗi quan tâm. 

Mùa An cư kiết thu năm nay, anh chị em chúng con đã cùng nâng cao ý thức về vấn đề môi trường. Những buổi sinh hoạt theo chủ đề (workshop) được mở ra để cùng nhau học hỏi, hiểu biết thêm về thực trạng của đất Mẹ và từ đó có những hành động cụ thể. Những bảng khảo sát về mức độ quan tâm đến đất Mẹ trong đại chúng rất khả quan. Anh chị em nào bồ đề tâm cũng mạnh mẽ, dễ dàng xúc động, dễ có tình thương khi nhìn thấy các chú hải cẩu chết hàng loạt, những đàn dơi chết la liệt trên mặt đất hay khi thấy cây rừng bị tàn phá. Ngồi xem phim tài liệu chung với nhau, cảm nghe được năng lượng tập thể, ý thức cộng đồng lan tỏa mạnh mẽ trong thiền đường. 

Rồi sáu workshop được chuẩn bị chu đáo từ các nhóm nhỏ. Mỗi nhóm chăm sóc workshop đều đóng góp hết lòng. Khó nhất là phải nghiên cứu từ trong đời sống của đại chúng, để thấy được phương cách tăng thân đang sinh hoạt và từ đó cống hiến những buổi workshop gần gũi, cụ thể. Không khí của những buổi workshop thật vui tươi, người tham dự và người thuyết trình đều rạng rỡ. Thấy được tình trạng chung và cũng lạc quan thấy rằng những hành động nhỏ của mình như phân rác ra đúng loại, mua thực phẩm sạch, theo mùa, tiết kiệm nước, ăn thực phẩm thuần chay (vegan),… cũng đã thể hiện một phần sự quan tâm của mình đến đất Mẹ. Khi thấy biển Aral ở Trung Á khô cạn thì ý thức về việc bớt mua sắm quần áo cũng dễ dàng nâng cao. Rồi khi anh chị em trong workshop về năng lượng ước tính được lượng khí thải carbon (Carbon Footprint) của xóm thì vấn đề tiết kiệm sưởi, điện, giảm di chuyển bằng máy bay cũng được quan tâm nhiều hơn. 

Điều ấn tượng cho con là các anh chị em cùng học, cùng làm việc chung với nhiều niềm vui và tình huynh đệ. Nhóm nào cũng thể hiện được sự sáng tạo, hài hước, thông tin được chắt lọc phù hợp. Nhớ lại câu chuyện mất rác mà vẫn còn thấy vui. Chuyện là nhóm workshop về “chuyển hóa rác” có một yêu cầu rằng ai tham dự workshop cần phải tự gom rác cá nhân mà mình sử dụng trong tuần để mang đến workshop và cùng học cách phân loại. Có một thầy gom rác cả tuần, gần đến ngày tham dự workshop thì phát hiện ra… mình mất bao rác. Cái cảm giác chưa bao giờ việc mất bịch rác lại trở nên quan trọng và đáng tiếc đến như vậy! Có những thứ những tưởng không cần, vậy mà có lúc mất đi cũng khiến ta thấy tiếc vô cùng. 

Sáu workshop diễn ra hài hòa. Người hướng dẫn không thấy tự hào vì mình biết nhiều hơn, và cũng không đòi hỏi, áp đặt ý mình. Người tham dự cũng hết lòng trân trọng, lắng nghe bằng trái tim cùng đôi mắt mở to. Tất cả đều cùng một nhịp, không phán xét, không tạo áp lực cho nhau. 

Những chia sẻ dễ thương và nuôi dưỡng sau những giờ sinh hoạt, những giây phút mọi người cùng ngồi lại sau giờ thuyết trình để viết vào những bảng khảo sát cách mình hiểu, những gì học được và đưa ra những ước nguyện nhỏ bày tỏ tình thương với đất Mẹ: Con nguyện không mua thêm đồ nếu không cần thiết. Giảm tiêu thụ, lựa chọn sản phẩm BIO và giảm dùng nylon. Xem xét kỹ trước khi muốn mua hay vứt bỏ một thứ gì đó. Ít thay đổi giày dép, vật dụng cá nhân. Khi mua nên chọn đồ kỹ càng, yểm trợ thực phẩm, mặt hàng của địa phương,… 

Đối với câu hỏi: “Điều ấn tượng nhất trong suốt buổi thuyết trình là gì?”, đa số kết quả là hạnh phúc vì năng lượng tập thể, vì được cùng làm chung với nhau trong tinh thần sáng tạo, vui tươi. Cùng với nhau mình có thể làm hay hơn rất nhiều! 

Được nhìn ngắm anh chị em cùng học hỏi và chơi với nhau trong tinh thần ấy con thấy lòng ấm áp và con biết đất Mẹ cũng đang mỉm cười. Tình yêu cho đất Mẹ cũng cần lắm những chất liệu của hòa hợp và an vui! 

 

Đường về mây trắng gọi trời xanh

Chân Minh Hy

Thầy Pháp Lượng là một vị giáo thọ Làng Mai, xuất gia năm 2001, trong gia đình Cây Dâu Tây. Thầy đã thị tịch ngày 24 tháng 7 năm 2019 tại Đức. Sau đây là những dòng tâm sự của quý thầy, quý sư cô trong buổi lễ Hộ niệm cho thầy diễn ra tại thiền đường Thánh Mẫu Ma-Gia ở Sơn Hạ vào sáng ngày 26.07.2019 được thầy Minh Hy ghi lại. 

Sư anh Pháp Lượng thương quý! 


Đã hơn một tháng nay ở Làng không có một giọt mưa. Có hai đợt nóng khủng khiếp từ 38 – 41°C. Thế mà từ tối hôm qua trời trở gió và hôm nay mưa khá nhiều. Ai cũng mừng. Nếu ghé thăm xóm Thượng, sư anh thế nào cũng mừng lắm. Sư anh là người yêu thiên nhiên mà. Mấy hồ sen nhờ trận mưa mà có thêm nhiều nước. Chắc sư anh sẽ vui khi nhìn đàn cá tung tăng bơi lội dưới hồ bên cạnh những bông sen trắng tinh khiết. Mưa làm cho những bông hoa chicorée càng thêm tươi thắm. Hoa chicorée đã nở khắp nơi trên xóm Thượng. Sư anh có thể ngồi ở đâu đó để ngắm hoa và thưởng thức từng ngụm trà nóng. 

Sư em rất thích hình ảnh ung dung tự tại của sư anh. Đi đâu sư anh cũng đeo cái bình thủy bên mình, trong đó có trà, trà đậm lắm, chắc là sư anh uống trà thay nước luôn. Đến bây giờ sư em mới tiếc là chưa bao giờ được tặng sư anh một gói trà hay một bông sen ướp trà Bắc. Tiếc thật! Mùa này sư em ướp được nhiều trà sen lắm. 

Mấy hôm nay sư em rất nhớ sư anh. Các anh em ở đây ai cũng nghĩ đến sư anh, hình ảnh của sư anh hiện rõ trong sư em hơn bao giờ hết. Có cảm tưởng như sư anh đang ở đây. Sư anh đang dạo chơi, đi ra vườn, đi xuống bếp thăm anh em nấu ăn, hay đang ngồi uống trà cùng với các huynh đệ. Thỉnh thoảng được nghe cái giọng cười khàn khàn của sư anh rất là thích. 

Hẳn sư anh còn nhớ cái buổi sư anh ngồi uống trà ở phòng sư anh Pháp Dung trong khóa tu xuất sĩ đầu năm chứ. Các sư anh nói chuyện gì mà cười vui quá làm mấy sư em ai cũng thèm được vào chơi. Sau buổi ngồi chơi đó, đại chúng được thấy một hình ảnh rất đẹp của tình huynh đệ: hai sư anh đã lên pháp tòa chung trong một buổi pháp thoại. Sáng hôm nay thầy Pháp Dung đã nhắc lại kỷ niệm đó trong buổi lễ. Trong buổi pháp thoại đó, sư anh đã nói một điều làm nhiều người tâm đắc, sư anh nói rằng: “…Sống trong tăng thân thì mình cố gắng đi ra phụng sự, mình đừng có ngại, mình đi ra giúp thì người khác mới có cơ hội được nghỉ ngơi”. Trong câu nói ấy chứa rất nhiều tình thương của sư anh. Còn nhớ nhiều năm về trước, khi Thầy và tăng thân cử sư anh đi tu viện Rừng Phong, sư anh hoan hỷ đi. Cử sư anh lên thiền đường Hơi Thở Nhẹ, sư anh hoan hỷ đi. Rồi lần sau đó cử sư anh đi xây dựng Học viện EIAB, sư anh cũng sẵn sàng đi. Hình như ở đâu có khó khăn, vất vả thì sư anh đều sẵn sàng đến. Sư em tu còn yếu, mỗi khi gặp khó khăn, nguy hiểm thì lòng còn e dè, run sợ, nhưng sư anh thì thường hay cười và nói: “Có gì đâu, có gì đâu!”. Sư anh có tình thương đủ, có sự hiểu biết đủ để thương Thầy và tăng thân trong mọi hoàn cảnh như thế. 

Sư cô Chân Không cũng có mặt trong buổi lễ sáng nay.Khi hay tin sư anh ra đi, sư cô đã lên Phật đường đốt trầm và mời sư anh cùng ngồi yên với sư cô. Thật kỳ diệu, sư anh đã có mặt đó và cùng ngồi với sư cô. Sư cô cũng đã mời các thầy, các sư cô bên Học viện cùng ngồi thở với sư cô, cùng ôm ấp, cùng tha thứ, cùng cảm thông, cùng trị liệu nỗi đau này. Sáng nay, sư cô
đã mời tăng thân và sư anh cùng ngồi yên trong thiền đường Thánh Mẫu Ma-Gia ở Sơn Hạ. Thiền đường tuy nhỏ nhưng có thể chứa đựng được tất cả. Trong thế giới bản môn, tất cả anh em mình đã gặp nhau. Có buồn đau, có tiếc nuối, có nước mắt nhưng sau cùng đã có được những nụ cười. “Có gì đâu!”. Chỉ là trò chơi trốn tìm thôi mà. 

Sư anh là một người tu rất giản dị. Chiếc áo tràng đã bạc màu nhiều năm rồi nhưng sư anh vẫn rất quý, hiếm khi thấy sư anh mặc đồ mới. Sư anh thích cây cảnh (bonsai). Sư anh kiếm đâu đó mấy cây con con, bỏ vào chậu, có khi thêm cục đá bên cạnh và nó trở thành một tác phẩm nghệ thuật. Đã không ít hơn một lần ở Học viện, quý thầy, quý sư cô đã mở lớp rồi mời sư anh hướng dẫn cho thiền sinh học cách làm bonsai. Điều ấy đã khiến Sư Ông lấy làm thích thú và thường hay sách tấn các sư em: “Thầy Pháp Lượng không nói được tiếng Đức hay tiếng Anh, vậy mà cũng có thể hướng dẫn thiền sinh làm bonsai đó con!”. Chỉ cần có một tấm lòng thôi phải không sư anh! 

 

 

Có một hôm, sư cô Bảo Nghiêm nói: “Pháp Lượng, xin sư em lên xóm Mới giúp các sư cô tỉa mấy cái cây”. Sư anh nói: “Sư em chỉ chăm cây ở xóm Thượng thôi, xóm Mới có các sư chị rồi”. Thế nhưng mỗi khi lên xóm Mới, trong túi của sư anh đều có sẵn cái kéo, thấy cái cành nào khô, mọc không đúng là sư anh tỉa cho nó gọn gàng. 

Nhiều khi các anh em khi về phòng thì bỗng thấy có một chậu bonsai, một cục đá hay một gói trà của ai đó để trên bàn. Nhiều khi đoán biết được người đó là sư anh, nhưng sư anh là thế, rất lặng lẽ, kín đáo, không muốn ai biết. Thương anh em thế là đủ rồi. 

Sư cô Giác Nghiêm cũng rất quý sư anh ở điều này. Sư cô đã nhắc đến một kỷ niệm rất đẹp lúc sư anh lên thiền đường Hơi Thở Nhẹ thuở ban đầu. Lần đó, sư anh đi vắng, vì cần chỗ nhiều ánh nắng để đặt mấy tấm pin năng lượng mặt trời nên quý sư cô đã chuyển khu vườn nho nhỏ với những chậu cà chua, chậu rau cải của sư anh sang một chỗ khác. Quý sư cô rất ngại vì thấy sư anh rất quý khu vườn ấy. Thế rồi, khi sư anh trở về, sư anh không nói gì cả, không hề than, không hề trách, vẫn tươi cười chơi với khu vườn của mình. Cho đến một tháng sau, khi cùng thưởng thức những trái cà chua đầu tiên, sư cô đã rất biết ơn sư anh vì sự yểm trợ âm thầm mà kín đáo ấy. “Có gì đâu” phải không sư anh! Thế nhưng đối với sư em, đó quả thật phải là một người có công phu tu học thâm sâu mới làm được. Đối với sư cô, sư anh là một người bạn tu rất tuyệt vời dù rằng không có nhiều truyền thông bằng ngôn ngữ. 

Ở Học viện EIAB, ai cũng biết quý thầy, quý sư cô đã gọi sư anh là Sư Bố. Bởi vì sư anh có dư tình thương để che chở cho các sư em, bên nam cũng như bên nữ. Ở đâu cần là sư anh có mặt. Sư anh có đủ tình thương và sự tin cậy để hiểu thầy Pháp Ấn, sư anh của mình. Sư anh không bao giờ đứng về một phía nào cả. Giống như một người có hai cánh tay thương yêu dang rộng và không chấp nhận mình là người chỉ yêu thương với một cánh tay. Sáng nay, những chia sẻ của sư cô Sắc Nghiêm về sư anh, về sự chăm sóc tận tụy và sự thủy chung của sư anh với Học viện khiến cho ai cũng cảm động. 

Có một kỷ niệm vui, không biết sư anh còn nhớ không? Lúc ấy, sư anh còn là một cư sĩ ở xóm Thượng. Một đêm trước ngày xuất gia của thầy Pháp Hải, không biết kiếm đâu ra được một chiếc áo nhật bình lam, sư anh đến với thầy Pháp Hải và nói: “Đây, anh cần nó cho ngày mai”. Lúc đó ở Làng rất hiếm đồ cho người tu. Thầy Pháp Hải đã rất mừng với chiếc áo đó. Mãi về sau thầy mới khám phá ra rằng đó là chiếc áo nhật bình dành cho bên quý sư cô! Nhưng chắc là sư anh không biết đâu, vì chỉ người xuất gia mới biết điều đó. Sư anh lúc ấy là cư sĩ mà. 

Kết thúc phần chia sẻ, thầy Pháp Ứng đọc lại bài kệ truyền đăng mà Sư Ông đã trao cho sư anh trong đại giới đàn Mùa Sen Mới: 

Pháp môn thi thiết tuy vô lượng 

Phật quả ngày mai quyết định thành 

Đất thơm hiến tặng mùa xuân mới 

Đường về mây trắng gọi trời xanh. 

Sau phần ôn lại những kỷ niệm với sư anh, đại chúng hòa lòng mình vào bài Sám Quy mạng như một lời thệ nguyện sắt son cùng nhau của tình huynh đệ. 

Kiếp này xin nguyện xây thêm
Cao tòa phước đức vững nền đạo tâm Chờ mong đạo nghiệp vun trồng
Từ bi trí tuệ nảy mầm tốt tươi
Kiếp sau xin được làm người
Sanh ra gặp Pháp sống đời chân tu
Dắt dìu nhờ bậc minh sư
Nương vào chánh tín hạnh từ xuất gia. 

Lời kinh thắm thiết, trầm hùng mà ngọt mát như những giọt cam lộ. 

Sau cùng, thầy Pháp Ứng đã mời đại chúng thực tập lạy Bụt, đã mời sư anh, mời quý thầy, quý sư cô ở Học viện cùng trở về nương tựa Bụt, nương tựa Pháp và nương tựa Tăng, cùng học hiểu, học thương. Mình cần có nhau bây giờ và mãi mãi, phải không sư anh? 

Cảm ơn sư anh đã biểu hiện trong cuộc đời. Cảm ơn gia đình huyết thống, ba mẹ, tổ tiên đã gửi sư anh đến với tăng thân. Sư anh đã làm một người tu rất đẹp. Cảm ơn bài học yêu thương, vị tha của sư anh. 

“Có gì đâu”. Sư anh mãi là thế! 

Chúc sư anh tiếp tục rong chơi, tiếp tục làm đẹp cho cuộc đời. 

Thương kính 

 

Tình yêu

(Trích trong cuốn sách “Nói với tuổi 20” của Sư Ông Làng Mai)

Không ai cấm em, trong khi yêu, tạo dựng thần tượng. Em nói: đời này yêu thì yêu chứ thần tượng thì không. Tôi nghĩ không phải như vậy. Nếu không còn thần tượng thì không còn là yêu. Có lẽ tôi cổ hủ mất rồi, nhưng biết làm sao? Nếu em đồng ý rằng trong khi yêu ta không tránh khỏi sự tạo dựng thần tượng thì em nên bắt đầu tạo dựng ngay thực chất cho thần tượng ấy. Chỉ có một cách làm cho tình yêu bền vững mãi, đó là giữ cho người yêu mãi mãi là nguồn cần thiết và ngọt ngào của mình. Một mình người yêu của em làm việc ấy thì nặng quá: em phải giúp sức người yêu của em. Và phải giúp một cách thật tế nhị. Công việc này chỉ cần kiên nhẫn và sáng suốt là được; trong tình yêu, em rất dễ ảnh hưởng đến người em yêu. Tình yêu sẽ trợ lực em. Mãnh lực của tình yêu rất lớn lao.

Trước hết, em nên hiểu rằng danh vọng, sắc đẹp và tài ba không thể bảo đảm được rằng đối tượng kia sẽ là nguồn cần thiết và ngọt ngào bất tuyệt của mình. Tìm ra được người thích hợp với em không phải là dễ dàng. Em phải biết nguyện vọng, sở thích, tính khí, kiến thức và lý tưởng của người đó, và xem những thứ đó có hợp với em không. Hợp không có nghĩa là giống mà chỉ có nghĩa là không xung khắc, là có thể bổ túc cho nhau. Những thứ đó sẽ là những mối dây liên lạc, hợp nhất, những chất liệu nuôi dưỡng tình yêu.

Chính những đeo đuổi, những sở thích và những lo âu chung của hai người sau này sẽ là chất keo sơn gắn bó hai người với nhau, và gắn hai người với những người đồng tâm đồng điệu khác. Chính những thứ đó xua đuổi dần những bóng tối cô đơn vây phủ bản ngã. Lý tưởng chính nó là một thần tượng, do đó người yêu khôn ngoan bao giờ cũng đồng hóa hoặc liên hệ mình với lý tưởng của người mình yêu vì thế sẽ cũng bất diệt như thần tượng. Em sẽ không bao giờ mất người yêu nếu em sốt sắng với lý tưởng của người yêu. Có một người bạn trẻ bảo tôi, giọng đầy phẫn uất: tại sao tình yêu không thể tự nó là nó được mà phải nhờ đến những cái khác, như là ý tưởng, như là Thượng Đế…mới có thể tồn tại? Người bạn trẻ đã ghét cay ghét đắng câu nói của Saint Exupéry “yêu nhau không phải là nhìn nhau mà cùng nhìn vế một hướng”. Thực ra tôi không có nói gì giống Exupéry, tôi chỉ nói đến cách bảo vệ nuôi dưỡng tình yêu thôi, nhưng tôi cũng xin trả lời người bạn trẻ: “không có cái gì có thể tự nó là nó được; cái gì cũng là hợp thể của nhân và duyên, nghĩa là của điều kiện. Cái này có nhờ cái kia có, cái này không thì cái kia không. Bản thân ta đã có thể tự nó là nó chưa, huống hồ tình yêu là một cái gì phát sinh từ bản thân ta. Không có cái gì có tự thể ; cái gì cũng phải nương trên những cái khác mới có thể có; cái gì cũng chỉ tồn tại trong liên hệ nhân duyên. Tình yêu cũng thế: anh có bổn phận nuôi dưỡng nó, nếu anh không muốn nó chết“. Nếu Exupéry nói tình yêu nam nữ chỉ có thể tồn tại qua tình yêu đối với đấng Thượng Đế thì ông mục sư của André Gide trong cuốn La symphonie pastorale lại không nói ngược lại rằng “Lạy Chúa, đôi khi con có cảm tưởng rằng con cần tình yêu của nàng mới có thể yêu được Chúa” hay sao?

 

 

Nhất định là tình yêu phải nương vào những điều kiện khác mà hiện hữu. Ngày nào em không bồi đắp cho tình yêu thì ngày đó em làm cho tình yêu ngắn đi, yếu đi. Không phải leo lên chiếc xe đạp và đạp vài vòng thì chiếc xe có thể đi mãi như một chiếc xe gắn máy. Em phải tiếp tục đạp, dù là thong thả. Nếu em không đạp thì khi hết đà, chiếc xe sẽ ngã. Khi đó, tình yêu sẽ cạn như một dòng suối khô cạn và sự phụ bạc có thể là sẽ tới một cách tự nhiên, bởi vì em đã biết tình yêu là một nhu yếu.

Xã hội kết án nhưng xã hội không chịu xem xét những nguyên nhân nào đã đưa tới sự phụ bạc. Hậu quả là một cái gì phải đến sau nguyên nhân; hậu quả không đáng trách, chỉ có nguyên nhân là đáng trách. Tình yêu cũng như bất cứ một hiện tượng tâm lý nào khác, gồm có một chủ thể và một đối tượng. Luật yêu thương đòi hỏi chủ thể một khả năng yêu thương và ở đối tượng những điều kiện để đựợc yêu thương. Đối tượng không đáng yêu hoặc đáng yêu mà không tự bảo tồn được tính cách đáng yêu của mình, hoặc đáng yêu nhưng không chịu phát triển những tính cách đáng yêu của mình để đáp ứng với nhu cầu của chủ thể yêu thương thì đối tượng ấy sẽ tự mình rút lui ra khỏi giới hạn đối tượng và không thể đòi hỏi ở chủ thể một tính cách chung thủy. Lẽ giản dị là muốn được yêu thì phải đáng yêu. Tự hủy bỏ tính cách đáng yêu nơi mình đi tức là tự ý thôi không muốn được yêu thương nữa. Hơn thế, trong khi chủ thể thương yêu thăng hóa tiến bộ mà đối tượng không chịu cố gắng để cùng thăng hóa tiến bộ, nghĩa là để được đẹp thêm, sáng thêm thì chủ thể có thể bỏ xa đối tượng. Trong trường hợp này lỗi cũng tại đối tượng. Không thể đòi hỏi tính cách chung thủy của chủ thể.

Như vậy trách nhiệm hoàn toàn nằm ở đối tượng sao? Không hẳn đâu em. Chủ thể cũng chịu chung một phần trách nhiệm. Yêu thương mà không hiểu được đối tượng thương yêu, không giúp được đối tượng thương yêu tự bảo tồn được tính cách đáng yêu không làm phát sinh được nơi đối tượng một sức mạnh đi tới để thêm đẹp, thêm sáng, để kịp thời lên cao một lần với mình thì chủ thể cũng có lỗi. Bởi vì thương yêu là chịu hết trách nhiệm về người mình yêu thương. Cái lỗi của chủ thể là thương yêu không đúng, không sáng, không đủ chân thành, không đủ mầu nhiệm, không đủ sức mạnh để bảo tồn, nuôi dưỡng và hướng dẫn đối tượng. Và đó chính là chỗ đáng trách của chủ thể.

Nếu cả hai bên đều cố gắng bồi đắp tiến bộ theo luật đó thì thủy chung là một hoa trái đẹp tất nhiên phải có. Còn nếu một bên thiếu cố gắng – cũng có nghĩa là hai bên thiêu cố gắng – thì phụ bạc là điều có thể xảy ra. Cả hai bên đều đáng trách, tuy rằng một bên đáng trách nhiều hơn. Nếu em nắm được nguyên lý đó thì em không còn sợ hãi nữa. Không sợ hãi em, không sợ hãi ai. Không sợ hãi cuộc đời. Em có thể đánh bại được mọi đe dọa.

Tìm được một người mà em có thể yêu với một tình yêu như thế, em nên biết rằng em đang sung sướng. Em hãy ý thức em đang ở vào một tuổi rất đẹp. Em đang được sống trong lòng tổ quốc có trời mây, có hoa lá, có sương mù buổi sớm, có sao trăng đầu hôm. Và em đang yêu, và đang được yêu. Với từng ấy điều kiện mà đâu phải chỉ từng ấy điều kiện- thì dù em đang có bao nhiêu vấn đề đi nữa em cũng là một người sung sướng thực sự rồi mà. Em nên nhắc em và nói cho người yêu của em biết là em đang sung sướng và may mắn hơn rất nhiều kẻ khác. Để em thận trọng đừng vụng dại làm đổ vỡ những gì quý báu em có trong tầm tay em. Thường thường khi mất đi một hạnh phúc người ta mới biết là hạnh phúc đó quý giá. Như hai con mắt chúng ta đây, có phải là lắm khi ta  quên rằng chúng quý giá vô cùng hay không. Tôi có nói với em rằng chỉ có người mất thị giác rồi mới thấy sự quý giá của đôi mắt. Vậy em đang sung sướng. Những hờn giận, ghen tuông chắc chắn sẽ xảy ra, làm sao tránh được. Tôi không khuyên em tránh chúng một chút nào, bởi vì những hiện tượng ấy chứng minh rằng em đang yêu, và người yêu của em cũng đang yêu em tha thiết. Hãy đón nhận những hờn giận ghen tuông ấy mà phần nhiều đều là do quá yêu và do vô minh nữa gây nên. Phần lớn đều xuất phát từ những nguyên nhân nhỏ như hạt cát, hoặc những nguyên nhân nhỏ hơn hạt cát nữa, như sự hiểu lầm vô cớ, bóng gió. Vậy hãy bình tĩnh đừng để cho chúng trở thành lớn hơn hạt cát. Sau những cái giận nho nhỏ ấy, các em lại càng thương yêu nhau hơn, càng quý chuộng nhau hơn không sao. Nhưng mà đừng vụng về đừng nên làm lớn chuyện những gì nhỏ như hạt cát. Cái khôn ngoan cần thiết nhất là ý thức về sự quý giá của hạnh phúc, của sự may mắn. Có sự khôn ngoan ấy rồi, em trở nên một người yêu chín chắn và tình yêu sẽ bền vững.

Và nếu em đã sung sướng thì em hãy nghĩ đến chúng tôi và nghĩ đến người khác. Tình yêu của em sẽ nhờ đó mà bền vững hơn lên và chúng tôi cũng sẽ nhờ đó mà sung sướng hơn lên.

 

 

 

Tu là một nghệ thuật và người tu là nghệ sĩ

(Trích trong pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 12 tháng 12 năm 1996 tại Xóm Mới- Làng Mai Pháp quốc)

 

 

Chúng ta ai cũng có những nỗi khổ niềm đau truyền lại từ ông bà, cha mẹ. Nó có thể không phải là những nỗi khổ niềm đau mà chúng ta đã gom góp ở trong kiếp này. Trong mỗi chúng ta có thể có một ngọn núi lửa đang ngủ. Đó là những bực nhọc, những đau buồn, những giận hờn, những oán trách từ ngày xưa. Cho nên chúng ta phải ý thức về ngọn núi lửa ấy, và khi núi lửa cựa quậy thì ta bắt đầu phun lửa. Ta biến thành một hỏa diệm sơn, và ta sẽ đốt cháy hết tất cả. Khi núi lửa sắp phun, nó có những triệu chứng. Người hiểu về núi lửa thì khi nghe thấy những triệu chứng đó, họ tìm cách trốn chạy.

Khi có chánh niệm và biết là núi lửa sắp phun, chúng ta phải lo chạy để được an toàn. Nó phun ra bằng những lời nói không chánh ngữ, khiến cho người nghe khổ đau, và làm tan nát đổ vỡ cho những người chung quanh. Cho nên chúng ta phải học nhận diện ngọn núi lửa trong ta và trong những người khác. Nhận diện để mà hiểu mà thương. Tại vì không phải chỉ người kia mới có núi lửa mà chính ta cũng có núi lửa ở trong mình. Khi núi lửa trong ta phun lên thì tất cả đều tan nát, do đó chúng ta phải có cách để có thể đối phó với ngọn núi lửa ấy. Ta có những bực dọc, uất ức, đè nén, và ta có cảm tưởng rằng nếu nói ra không được thì ta sẽ chết. Tại sao vậy? Tại vì chúng ta không biết quản lý nó, không biết quản lý cái năng lượng núi lửa của chúng ta.

Đạo Bụt có phương pháp gọi là tịnh khẩu. Tịnh khẩu tức là không nói, làm cho miệng núi lửa đừng phun. Dù có lửa trong lòng nhưng ta không để cho nó phun ra, mà tìm cách cho lửa trở về nguyên quán. Giữ an ninh cho ta và mọi người.

Tịnh khẩu là một thực tập thương yêu: “Tôi biết nếu tôi mà nói là tôi sẽ nói những điều làm cho anh đau, làm cho chị đau, vì vậy tôi thực tập tịnh khẩu, để tôi không nói”. Nhưng tịnh khẩu không có nghĩa là đè nén xuống. Nếu đè nén thì tịnh khẩu trở thành một thực tập rất nguy hiểm. Tại vì nén xuống, đến khi nó phun lên, thì nó phun mạnh gấp mười lần, và nguy hiểm gấp mười lần! Vì vậy trong khi tịnh khẩu thì ta thực tập quán chiếu, tức là nhìn sâu. Nhìn sâu thì mới làm cho lửa tàn đi, làm cho sức nóng dịu xuống.

“Ngày hôm qua gặp ông kia, ông ta nói với mình một câu làm cho mình điên tiết! Mình có cảm tưởng nếu không nói lại được thì chắc mình chết quá! Giận ghê, ông ta nói xong thì ông ta bỏ đi, không cho mình cơ hội để trả đũa! Nếu trả đũa lại được, thì mình bớt khổ biết bao! Thành ra về nhà, mình đau khổ cả buổi chiều! Vậy mà không biết tại sao, sau một giấc ngủ ngon, sáng mai thức dậy, mình nghĩ lại thì thấy buồn cười quá. Tại sao mình lại muốn nói lại cho bằng được? Mình thấy rõ ràng không nói thì mình đâu có chết? Bây giờ nhớ lại thì thấy rất buồn cười! Cả mình và ông ta đều buồn cười. Ông ta nói câu ra đó rất là tội nghiệp, mà mình nổi nóng lên, và mình muốn trả đũa để ông ta đau, thì cũng tội nghiệp cho mình. Chỉ có một đêm ngủ ngon thôi là đủ cho mình thấy được sự thật. Còn trong lúc ấy thì mình là người mê mờ”.

Trong cơn mê, trong cơn cuồng si mình làm những điều tạo ra đổ vỡ, và khổ đau. Cho nên mình phải tìm ra phương pháp để những lúc mình sa vào giây phút cuồng si, thì mình sẽ được thiên thần bảo hộ. Thiên thần đó mình phải nuôi dưỡng, phải mang theo. Còn đến lúc đó mới cầu cứu thiên thần thì thiên thần không rảnh để đến với mình đâu. Trong đời sống hàng ngày ta phải biết đi, biết thở, biết cười, biết bảo hộ thân tâm, thì những lúc cần đến, thiên thần mới có mặt cho mình.

Dưới đây là một phương pháp tịnh khẩu mà tôi đã chỉ cho nhiều người. Phương pháp này cũng dễ thực tập. Mỗi khi thấy ngứa mắt, ngứa tai, muốn phát ngôn, thấy bực quá mà không nói thì không được, lúc ấy mình chỉ tập thở và đừng nói. Rồi vào phòng, lật cuốn vở ra, ghi lại câu mình muốn nói. Thay vì nói ra bằng miệng, thì mình chỉ tập thở và viết nguyên câu đó vào cuốn vở. Ví dụ: “Mày là đồ ngu! Mày là một người rất ác độc! Mày là người có ác ý, muốn làm đổ vỡ tất cả! Mày là một người vô ơn v.v…”

Mình viết lại và ghi luôn ngày giờ cho rõ ràng. Ghi lại cả câu người kia nói và câu mình muốn trả lời. Ghi được như vậy cũng đỡ khổ rồi. Ba ngày sau đem ra xem lại và tự hỏi: Nếu lúc đó mình nói câu này thì sẽ ra sao, sẽ có những đổ vỡ nào?

Sự thực tập này đâu có khó? Mình có thể thực tập tịnh khẩu trong hai tuần. Trong hai tuần đó mình làm như vậy, làm mà không đè nén. Chỉ không nói thẳng thôi, và viết hết tất cả những câu mình nghe xốn tai, và cả những câu mình muốn trả lời. Mình sẽ thấy rằng những đau khổ của cuộc đời mình, và những đau khổ của người khác, có thể là do mình tạo ra, do mình không biết nói, không biết thực tập chánh ngữ của mình tạo ra.

Nếu ta biết thực tập chánh ngữ, biết nghệ thuật nói thì chúng ta tạo hạnh phúc cho rất nhiều người. Người Việt thường nói: “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Lời  nói có thể làm cho người kia hoan hỷ, phấn chấn, thêm tự tin và hy vọng. Lời nói có thể giải tỏa những hiểu lầm, những giận hờn, những hiềm hận, và nhỏ nhen trong người kia. Tại sao chúng ta giàu có như vậy mà chúng ta lại không biết sử dụng gia tài của mình? Gia tài đó là khả năng chánh ngữ.

 

 

Chánh hay tà?

Muốn lời nói có chánh ngữ, mà muốn có chánh kiến thì chúng ta phải biết quán chiếu. Ngoài ra, chúng ta phải thực tập pháp môn gọi là Bẻ gãy thế tam giác. Đây là một phương pháp thực tập của Làng Mai.

Chúng ta thường ưa liệt người đó vào một phe, phe tà hay phe chánh. Đây là một điều rất nguy hiểm!

Nếu quý vị đọc “Tiểu ngạo giang hồ” thì biết triết lý của bộ tiểu thuyết trường thiên đó: Trong người gọi là phe chánh, luôn luôn có chất tà, và trong người phe tà luôn luôn có chất chánh. Tiếu Ngạo Giang Hồ là chuyện tình giữa hai người bạn. Họ đến với nhau vì âm nhạc. Khi hai người tới với nhau để chơi nhạc, một người thổi sáo, một người đánh đàn. Hạnh phúc của họ lớn như  không có hạnh phúc nào bằng. Bài nhạc đó tên là Tiếu Ngạo Giang Hồ. Họ là hai người bạn, nhưng oái ăm là một người thuộc chánh phái, còn người kia thuộc về tà phái. Theo nguyên tắc thì chánh không được chơi với tà, vì vậy cho nên khi hai người muốn hòa nhạc với nhau, họ phải rủ nhau đi đến nơi tận cùng hiểm trở, nơi mà không ai bén mảng tới. Họ phải nhìn quanh để chắc chắn là không có ai nhìn thấy, thì hai người mới hòa nhạc với nhau.

Cái chánh và cái tà nó không phải là thực chất của mình, tại vì trong chánh nó có tà, trong tà nó có chánh. Cái đó gọi là tương tức. Chúng ta phải tập để đừng suy tư theo chiều hướng của thiện- ác, đúng-sai và chánh-tà. Chúng ta nên làm ngược lại. Chúng ta tập suy tư trên cơ bản khéo hay không khéo. Có nghệ thuật nhiều hay có nghệ thuật ít. Tại vì thật tình ta không muốn cho người kia đau khổ. Ai trong chúng ta mà lại muốn làm cho anh, hay chị, hay em của mình đau khổ? Không có ai cả! Nhưng vì chúng ta vụng về mà thôi. Vụng khi nói, khi cười, khi hành xử nên ta làm cho người kia đau khổ.

Vì vậy nên tu là một vấn đề nghệ thuật hơn là một vấn đề chánh tà. Và chánh niệm là chất liệu của nghệ thuật. Vì khi có chánh niệm thì mình sẽ khéo hơn, mình sẽ có ý tứ hơn. Một bà mẹ dạy con gái, bà thường dặn: “Con ơi, con đi, đứng, nằm ngồi cho có ý tứ. Mà có ý tứ thì con đẹp thêm nhiều lắm”. Ý tứ đây là chánh niệm. Khi có ý tứ thì mình không để cho món trứng chiên của mình cháy. Khi có ý tứ thì bát canh của mình sẽ không mặn quá. Tại vì ý tứ cho mình biết mình đang làm cái gì, và mình có làm đúng hay không. Khi mình nói năng có ý tứ thì mình không gây những lầm lỡ, những vụng dại, gây đau khổ cho người, và cho mình.

Không ai trong chúng ta lại dám công nhận mình là một nghệ sĩ bậc nhất! Chúng ta đều đang học hỏi, chính tôi cũng vậy. Nếu học hỏi thì càng ngày chúng ta càng có chánh niệm hơn, và khéo léo hơn. Tu là một nghệ thuật, và người tu là một nghệ sĩ.

“Xin lỗi em, chị không có ý làm khổ em đâu, chỉ vì chị vụng về thôi. Chị xin lỗi em!” Đó là câu mà chúng ta phải học thuộc và có thể nói bất cứ lúc nào. Khi thấy người kia khổ là ta có thể nói ra được. Tôi đã từng xin lỗi học trò. Tôi nói: “Thầy xin lỗi con!

Chúng ta thực tập để đừng tạo ra thế tam giác ở trong gia đình, trong đoàn thể, và trong xã hội. Vì nếu có một thế tam giác rồi, nó sẽ tạo thế tam giác thứ hai, thứ ba, và mọi người sẽ đi vào một mê lộ. Hạnh phúc của chúng ta là do chính ta, chúng ta phải khéo léo. Ta phải ngồi lại với nhau để tìm ra phương pháp giúp chúng ta sống có hạnh phúcChúng ta đã có những phương pháp để thực tập hạnh phúc, trong đó phương pháp nghe và phương pháp nói là hai phương pháp mà chúng ta có thể thực tập mỗi ngày.

Cách nói còn quan trọng hơn là điều mình nói. Tại vì khi không hiểu được người nghe, khi không có chánh kiến và chánh tư duy, thì điều mình nói sẽ như nước đổ lá khoai, không ích lợi gì, không mang lại sự chuyển hóa cho người nghe. Ngày xưa trong những buổi pháp thoại của đức Thế Tôn, thỉnh thoảng có những người giác ngộ ngay trong khi nghe giảng. Vì trong buổi nghe giảng đó, những hạt giống lành của họ được Đức Thế Tôn tưới tẩm và chúng nở hoa ngay lập tức. Tại sao đức Thế Tôn làm được như vậy? Tại vì ngài nhìn thấu trái tim của người nghe. Ngài biết rằng người đó cần cơn mưa ấy, hay người đó cần phải có cái búa kia. Có nhiều khi ngài đã không ngại dùng những cái búa rất lớn để đập xuống. Cái đó gọi là chánh ngữ.

Chánh ngữ còn có một tác dụng khác nữa là gỡ bom. Trong mỗi chúng ta đều có một trái bom nho nhỏ và nó có thể nổ bất cứ lúc nào. Dù mình đã xuất gia, trái bom đó cũng vẫn còn. Nếu không cẩn thận, nó nổ một cái là mình tan xác.

Có một phương pháp để gỡ bom. Nhiều người vì đau khổ quá cho nên đã trở thành những trái bom. Nhìn vào, mình thấy người đó giống hệt như trái bom, rất nguy hiểm. Đụng tới người đó thì bom sẽ nổ và mình sẽ tan xác. Cho nên mình sợ, mình tránh xa, làm người đó tưởng là mình tẩy chay. Nhưng kỳ thực mình đâu có tẩy chay, mình thương nhưng chỉ tại mình sợ quá mà thôi!

Chánh ngữ là một phương pháp mầu nhiệm mà chúng ta có thể sử dụng để gỡ  bom ở trong người kia. Gỡ giùm bom ra để chúng ta được an toàn, và để người đó cũng được an toàn, vậy sẽ hạnh phúc hơn. Tháo bom là một pháp môn mà mọi người cần phải học để giúp cho mình và cho mọi người an toàn và hạnh phúc.

 

Những con ma đói

Trích từ pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 14/4/2003.

Tôi có biết một anh chàng họa sĩ người Huế sống ở Hoa Kỳ. Ngày xưa anh đã rời quê hương một cách rất khó khăn. Anh ta xin làm bồi trên một chiếc tàu thủy để có thể đi qua một nước Tây phương và nghĩ rằng mình sẽ có tương lai ở đó. Vào đêm anh từ giã bà mẹ, hai mẹ con khóc. Bà cụ là một phụ nữ Huế, không biết đọc, không biết viết, nhưng bà đã dặn đứa con trai như thế này: “Này con, khi mà con sang bên nớ, mỗi khi thấy nhớ mẹ nhiều lắm, con đưa bàn tay lên, con nhìn bàn tay con cho kỹ, con sẽ thấy bớt nhớ mẹ”. Trong suốt mấy mươi năm ở bên Mỹ, không có cơ hội trở về Việt Nam, anh ta thường đưa bàn tay lên để nhìn ngắm theo lời bà mẹ căn dặn. Anh cảm thấy được an ủi rất nhiều. Cố nhiên bà mẹ Việt Nam đó chưa bao giờ học triết học, chưa từng học khoa học nhưng bà có tuệ giác của cha ông để lại, bà biết rằng: Mình có mặt trong bàn tay của đứa con trai mình.

Chúng ta biết rằng tất cả những gia tài di truyền của tổ tiên mà ông bà cha mẹ chúng ta đã tiếp nhận đang có mặt đích thực trong từng tế bào của cơ thể mình. Đó là một sự thật, rất khoa học. Tất cả những kinh nghiệm, trí tuệ, hạnh phúc của tổ tiên, của ông bà, của cha mẹ đã được trao truyền cho chúng ta. Tất cả những khổ đau, những khó khăn, những bức xúc của tổ tiên, ông bà, cha mẹ cũng đã trao truyền cho chúng ta. Tổ tiên chúng ta, kể cả thế hệ tổ tiên trẻ nhất là cha mẹ đang có mặt một cách đích thực trong từng tế bào của cơ thể. Bà mẹ kia tuy không biết triết học, không biết khoa học, nhưng đã đạt được tuệ giác đó: “Này con, mỗi khi con nhớ mẹ, con chỉ cần đưa tay lên nhìn thì con sẽ thấy đỡ nhớ”. Bà không nói rõ nhưng lời dặn dò đó đã ẩn chứa ý nghĩa: Mẹ đang có mặt trong từng tế bào cơ thể của con. Sự thật khoa học đó hiện bây giờ đã được mọi người chấp nhận.

Chúng ta thường hay nói với nhau: “Con cái ở đâu thì ông bà ở đó”. Điều này cũng là một sự thật rất khoa học. Ông bà đi theo con cái, không phải là đi sau lưng hoặc bên phải hoặc bên trái hoặc trước mặt mà ông bà đi theo ngay trong từng tế bào của cơ thể của mình. Chúng ta đi đâu là chúng ta đem tổ tiên, ông bà đi theo đó. Điều đó có thể hiểu một cách rất là khoa học. Chúng ta đi Mỹ thì tổ tiên đi Mỹ. Chúng ta đi Hòa Lan thì tổ tiên đi Hòa Lan. Chúng ta đi Úc thì tổ tiên đi Úc. Chúng ta lên Thiên Đường thì tổ tiên sẽ lên Thiên Đường. Chúng ta xuống địa ngục, tổ tiên cũng sẽ xuống địa ngục với chúng ta.

Xã hội của chúng ta trong cuối thế kỷ thứ hai mươi và đầu thế kỷ hai mươi mốt, con người có cảm tưởng là mình mất gốc, mình cảm thấy bơ vơ, lạc loài, mình không thấy được sự liên hệ giữa mình và tổ tiên, ông bà cha mẹ mình. Có những người trai trẻ lớn lên giận cha, giận mẹ, phủ nhận văn hóa của mình, phủ nhận dân tộc, đất nước của mình vì họ đã gánh chịu quá nhiều khổ đau. Có những thanh niên Tây phương khi giận cha tới mức có thể tuyên bố như thế này: Ông đó hả! Tôi không có muốn có gì liên hệ tới ông đó hết! Khi mình cảm thấy rằng những đau khổ của mình là do cha mẹ mình gây ra thì mình thù hận cha mẹ và không muốn có liên hệ gì tới cha mẹ nữa. Đó là những con người phóng thể, những con người không có gốc rễ. Khi chúng ta không có gốc rễ, chúng ta không thể nào có hạnh phúc được.

Thời đại chúng ta đã chế tạo ra không biết bao nhiêu con ma đói. Những con ma đói bằng xương bằng thịt đàng hoàng. Nó đi trong xã hội, đi trong cuộc đời, đi kiếm một chút hiểu và một chút thương, đi kiếm một nơi nương tựa nhưng hoàn toàn bơ vơ. Chúng ta chỉ cần bỏ một chút thì giờ nhìn quanh là nhận diện ra được những con ma đói đó. Đói ở đây không phải đói cơm hay đói áo mà là đói hiểu biết và đói tình thương. Cái hiểu đó, cái thương đó gia đình đã không cung cấp được cho họ.

Họ không tin vào hạnh phúc gia đình. Họ nghĩ rằng hạnh phúc gia đình là một ảo tưởng, là một cái không bao giờ có. Từ khi sinh ra, họ chưa bao giờ thấy ở trong gia đình có hạnh phúc. Cha làm khổ mẹ, mẹ làm khổ cha, cha đay nghiến mẹ, mẹ đay nghiến cha. Tất cả những cái đó đã gây ra những vết thương rất sâu đậm nơi người con trai, người con gái. Khi giữa cha mẹ không có truyền thông, giữa cha con không có truyền thông, cha không nhìn mặt con được, con không nói chuyện với cha được, làm sao có hạnh phúc? Gia đình không phải là chỗ người trẻ muốn trở về. Người trẻ đi tìm quên lãng ở những lĩnh vực khác. Người trẻ sa vào hầm hố của tội ác, tội phạm, ma túy, trác táng.

Ở Pháp, mỗi ngày có khoảng ba mươi ba thanh niên tự tử. Họ tự tử không phải là vì thiếu cơm thiếu áo mà vì họ lâm vào trạng thái tuyệt vọng. Trong cuộc đời của họ, chưa bao giờ họ tiếp nhận được hiểu và thương từ gia đình, từ xã hội. Cuộc sống đối với họ không có một ý nghĩa nào hết. Họ nghĩ rằng muốn chấm dứt khổ đau, phương pháp duy nhất còn lại của họ là chấm dứt cuộc đời mình. Mỗi ngày ba mươi ba thanh niên Pháp tự tử, con số đó hơi nhiều đối với tôi. Các nước khác ở Âu châu tình trạng cũng tương tự. Tôi không biết tại Việt Nam mỗi ngày có bao nhiêu thanh niên Việt Nam tự tử? Bao nhiêu gia đình, trong đó cha không truyền thông được với mẹ, con không truyền thông được với cha và mọi người trong gia đình không cảm thấy có hạnh phúc? Con số đó càng ngày càng tăng, tỉ số những cặp vợ chồng ly dị ngày càng tăng. Ở Hòa Lan, nghe nói rằng tỉ số những cặp vợ chồng ly dị trên năm mươi phần trăm. Cấu trúc gia đình ở tại xã hội Tây phương bây giờ rất lỏng lẻo và mong manh. Cấu trúc đó có thể tan rã bất cứ lúc nào.

Ngày xưa chúng ta có một gia đình vững chãi hơn nhiều. Khi có những khó khăn ở trong gia đình, mình có thể chạy sang nhà ông chú, bà thím, ông bác để tỵ nạn, sau đó chúng ta có thể trở về nhà được. Nhưng bây giờ gia đình trở thành nhỏ xíu, mỗi gia đình sống ở một căn hộ nhỏ hẹp trong chung cư. Những gia đình đó được gọi là gia đình hạt nhân (nuclear family) rất là nhỏ, chỉ có hai vợ chồng, một đứa con hoặc hai đứa con.

Khi mình cảm thấy không nương tựa được vào gia đình, không có gốc rễ trong gia đình, không có gốc rễ trong truyền thống tâm linh, không có gốc rễ trong xã hội và văn hóa của đất nước thì mình trở thành một con ma đói. Xã hội Tây phương hiện giờ sản xuất rất nhiều con ma đói. Trung tâm tu học của chúng tôi ở tại Pháp quốc và Mỹ quốc luôn luôn tiếp nhận những con ma đói. Không khó khăn gì hết, mình chỉ nhìn họ một phút đồng hồ là biết rằng đó có phải đích thực là ma đói hay không. Nhìn cách họ đi, cách họ ngồi, cách họ nhìn, cách họ nói chuyện là mình có thể biết được họ có phải là ma đói hay không. Họ đói tình thương, đói hiểu biết và họ hoàn toàn bơ vơ.

 

 

Tu tập để làm gì?

Trong những năm hành đạo ở tại Tây phương, chúng tôi đã giúp không biết bao nhiêu người Tây phương trở về được với gia đình của họ, tái lập lại được truyền thông với cha mẹ và xây dựng lại được tình thân ở trong gia đình. Chúng tôi đã giúp cho vô số những cặp vợ chồng, cha con, mẹ con hòa giải được với nhau. Chúng tôi đã sử dụng những yếu tố của văn hóa Việt Nam để làm chuyện đó. Tôi nói với một người thanh niên: Anh muốn nói rằng anh không có liên hệ gì với cha của anh, điều đó rất là buồn cười. Nếu có thì giờ, anh nhìn lại một chút xíu, anh thấy rõ ràng anh là sự tiếp nối của cha anh, anh chính là cha anh đó. Anh hãy nhìn một hạt bắp mà người ta mới gieo xuống đất, năm ngày sau hạt bắp sẽ nẩy mầm và có một cây bắp con biểu hiện với hai hay ba lá.

Khi cây bắp con biểu hiện ra rồi, mình không thấy hình tướng của hạt bắp nguyên sơ nữa. Hạt bắp coi như đã chết để cho cây bắp được sinh ra, nhưng mà kỳ thật hạt bắp đâu có chết, hạt bắp chỉ luân hồi thành cây bắp. Không có cái chết, tự tánh của hạt bắp là vô sinh bất diệt. Khi anh là người có trí tuệ, anh nhìn vào cây bắp, anh có thể thấy được hạt bắp, không phải với tướng cũ mà với tướng mới của nó. Cây bắp là sự tiếp nối của hạt bắp, cây bắp chính là hạt bắp. Khi cây bắp lên được một thước rưỡi, cây bắp có bông và hai trái bắp, đó cũng là sự tiếp nối của hạt bắp ban đầu. Khi nhìn cờ bắp và những trái bắp mới, ta phải thấy được hạt bắp ban sơ.

Cũng vậy, anh nhìn vào anh xem, anh sẽ thấy rằng anh là sự tiếp nối của cha anh, anh là sự tiếp nối của mẹ anh. Anh chính là cha anh, anh chính là mẹ anh. Đây là một sự thực hiển nhiên. Anh phải công nhận là cha anh, mẹ anh đang có mặt một cách rất hiện thực trong từng tế bào của cơ thể anh. Anh không thể nào lấy con người của cha anh ra khỏi con người của anh được. Anh không thể nào lấy mẹ anh ra khỏi con người của anh được. Như vậy, anh giận cha anh tức là anh giận chính bản thân anh. Anh không có nẻo thoát. Anh nên sử dụng những phương pháp của chúng tôi đề nghị để hòa giải với cha anh trong anh trước. Thật là vô vọng nếu anh muốn lấy cha anh ra khỏi anh. Đó là điều anh không thể nào làm được vì anh là sự tiếp nối của cha anh, anh chính là cha anh. Cho nên, anh không có con đường nào khác, chỉ có một con đường duy nhất là hòa giải với cha anh trong anh. Đó là phương pháp quán chiếu, thấy mình là sự tiếp nối của cha, thấy mình là cha. Có thể cha mình trong quá khứ, trong thời thơ ấu đã không được may mắn, đã bị bầm dập, đã không được thương yêu, không được chăm sóc. Do đó những vết thương của tuổi thơ nơi cha mình chưa bao giờ lành cả. Cha mình chưa có cơ duyên gặp được chánh pháp, gặp được một thầy, một sư cô hay một vị lãnh đạo tinh thần giúp cho cha có thể nhận diện vết thương, ôm ấp vết thương và chuyển hóa vết thương. Vậy nên cha mình đã trao truyền cho mình nguyên vẹn vết thương mà cha mình đã tiếp nhận. Khi có niềm đau, nỗi khổ mà chúng ta không có biện pháp để trị liệu và chuyển hóa, chắc chắn chúng ta sẽ trao truyền niềm đau nỗi khổ đó cho con cháu chúng ta. Chắc chắn là như vậy.

Cho nên sự tu tập rất quan trọng. Tu tập để làm gì? Để nhận diện những niềm đau, nỗi khổ trong ta, để có thể trị liệu, có thể chuyển hóa và không tiếp tục trao truyền lại cho những thế hệ tương lai. Nếu mình là một người cha hay, một người mẹ giỏi, mình chỉ muốn trao truyền những cái hay cái đẹp, cái hạnh phúc của mình thôi. Muốn như vậy phải có sự tu tập. Nếu là một người thầy giỏi mình chỉ trao truyền những cái đẹp, những cái hay, những tuệ giác, những từ bi của mình thôi. Còn những yếu kém, những khổ đau mình phải biết ôm ấp, phải biết chuyển hóa, phải biết trị liệu trước khi mình trao truyền cho thế hệ tương lai.

 

Anh đi tìm chi?

(Trích trong cuốn sách “Bây giờ mới thấy” của Sư Ông Làng Mai)

Người yêu ơi, từ bấy lâu nay anh đã đi tìm. Anh đã bỏ ra biết bao nhiêu tháng năm mà chưa từng tìm thấy. Đi tìm như thế cũng như đi mò kim dưới đáy biển. Anh đi tìm chi? Tìm tình yêu chân thật hay tìm một bóng hình hạnh phúc ảo tưởng. Đúng rồi, cái tình mà anh đi tìm phải là vàng đá, là cái chân tình, chứ không phải là cái trăng hoa, cái sắc dục. 

Bấy lâu đáy biển mò kim, 

là vì vàng đá phải tìm trăng hoa.

Chân tình là cái gì? Anh tìm ở đâu?

Cái thương nằm trong cái hiểu. Anh có khả năng đi tìm cái hiểu và cái thương ngay chính trong tự thân anh không? Có phải anh đang khát khao được thương và được hiểu? Ai là kẻ có thể hiểu anh, có thể thương anh? Nếu anh không hiểu được anh, nếu anh không thương được anh, thì anh sẽ hiểu được ai và anh sẽ thương được ai? Anh phải có một chiếc kính thần mới có thể tìm ra được người yêu đích thật của anh. Với chiếc kính thần ấy anh sẽ nhận diện được nàng. Không có chiếc kính thần ấy thì dù nàng đang ngồi ngay trước mặt anh, anh cũng không thấy được.

Chiếc kính thần ấy anh phải tu luyện mới chế tác ra được. Anh phải lắng nghe anh. Anh phải nhận diện và lắng nghe những nỗi khổ niềm đau trong anh. Những nỗi khổ niềm đau ấy đang mang theo trong chúng những nỗi khổ niềm đau của cha mẹ anh, của tổ tiên anh, của giống nòi anh. Nếu anh hiểu được những nỗi khổ niềm đau ấy thì nguồn cam lộ của xót thương sẽ ứa ra từ nơi trái tim anh và bắt đầu làm cho anh lắng dịu lại. Quá trình trị liệu trong anh bắt đầu. Anh sẽ cảm thấy khỏe nhẹ và an lành. Tình thương chân thật có khả năng chuyển hóa và trị liệu. Ôm lấy niềm đau của anh, anh sẽ hiểu được nó. Anh sẽ hiểu được những thao thức, những trăn trở và những ước vọng sâu sắc, thầm kín nhất của anh. Anh sẽ thấy được anh, hiểu được anh và anh sẽ trở thành người yêu của chính anh. Và đó là chiếc kính thần giúp anh nhận diện được người yêu của anh.

 

 

 

Cái cơ hội mà anh trông chờ ấy, nó có mặt ngay trong giây phút hiện tại. Mỗi bước chân là một cơ hội, mỗi hơi thở là một cơ hội. Cơ hội để cho anh trở về được với cái bây giờ, để anh không còn phiêu lãng ngàn đời trong cái bấy lâu. Ngày mà anh chờ đợi chính là ngày hôm nay, giây phút mà anh chờ đợi chính là giây phút này. Phải chọc thủng được bức màn thời gian và không gian để đi vào được cái bây giờ và ở đây. Anh không cần tốt nghiệp đại học để mới có hạnh phúc. Anh phải có hạnh phúc ngay trong khi anh còn là sinh viên. Nếu anh không có hạnh phúc ngay khi còn làm sinh viên thì sau khi tốt nghiệp anh cũng sẽ không có hạnh phúc. Chúng ta có cơ hội đồng đều như nhau.

Trong cái bây giờ anh sẽ tìm thấy cái mà anh đi tìm.

Bạn ơi, đừng nói cơ hội đã qua rồi và bây giờ đã là quá muộn. Có thể trong quá khứ vì hoàn cảnh khó khăn, vì những lời gièm pha, vì những tin tức sai lạc hoặc vì những tri giác sai lầm mà chúng ta đã không có cơ hội thấy được và nhận diện được sự có mặt đích thực của nhau. Những trở ngại ấy là mây che lấp mặt trăng, là sương che khuất khóm hoa. Ta nghĩ rằng tất cả đã bị đổ vỡ, ta nghĩ rằng trăng đã tàn, hoa đã héo và ta đã mất nhau. Nhưng bạn ơi, nếu trong giây phút hiện tại có chánh niệm, có thiền định thì ta sẽ có thể làm tiêu tan được những hiểu lầm, những buồn giận hoặc nghi ngờ ngày trước. Chính trong cái bây giờ và trong ngày hôm nay mà ta phải làm công việc ấy. Ta phải ngồi lại định tĩnh, dùng thiền quán quét sạch vọng tưởng, thành kiến và tri giác sai lầm. Ta sẽ làm cho mây bay đi để mặt trăng hiện ra rõ ràng trở lại giữa trời, làm cho sương mù tan biến để những đóa hoa diễm lệ có cơ hội hiển hiện ra rõ ràng đầu ngõ. Ta vẫn còn có nhau. Không có gì đã qua và đã mất. Đó là vì cái bây giờ đang còn đó, đó là vì cái ngày hôm nay vẫn còn đây. Trăng sẽ sáng hơn xưa, hoa sẽ tươi hơn trước vì ta đã biết cách làm cho tan sương đầu ngõ và vén mây ở giữa trời. Cuộc đời còn giữ cho ta ngày hôm nay, thì cũng không đến nỗi nào. Còn ngày hôm nay là còn tất cả. 

Trời còn để có hôm nay

tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời.

Hoa tàn mà lại thêm tươi

 trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa

Gửi ba kính thương

Ba ơi, đây là lần đầu tiên con đặt bút và viết cho ba một lá thư. Thật lòng con cũng không biết liệu mình có đủ dũng khí để cho ba đọc những dòng tâm sự này của con không nữa. Nhưng con cũng xin được lấy cơ hội mùa Vu Lan sắp tới để trải lòng và kết nối với ba từ sâu thẳm trái tim con. Con mong một ngày nào đó ba con mình sẽ không còn như hai ốc đảo xa lạ, và con sẽ không còn chối bỏ những gì của ba mà con mang trong mình nữa.

Thật khó để mở lòng và viết xuống bởi vì con biết rằng đã từ lâu con luôn tìm cách tránh mặt ba. Có lẽ sẽ dễ dàng hơn nếu con bắt đầu bằng những kỷ niệm đẹp của hai cha con mình những ngày con còn thơ bé.

Con thấy mình thật may mắn khi mẹ luôn là người động viên và tạo cơ hội để con giữ liên lạc và kết nối với gia đình bên nội sau khi ba mẹ ly hôn. Lúc đó con chỉ mới tròn một tuổi. Không phải cho đến bây giờ con mới cảm nhận hết nỗi đau và những tác động khi không được lớn lên trong gia đình có đủ ba và mẹ. Nhưng con vẫn luôn biết ơn ba, mẹ, và bà nội vì cả nhà luôn giữ gìn cho con, và không bao giờ nói những điều không tốt về mẹ kế hay về ba. Và ba không khi nào để con phải chứng kiến những cảnh cãi vã hay gây gổ của ba mẹ để con có thể lớn lên một cách lành mạnh.

Còn nhớ quãng thời gian tiểu học, lúc đó con chẳng có nhiều bạn để chơi. Mẹ không muốn con xem tivi để không bị tưới tẩm quá nhiều nên nhà mình không có tivi, lên lớp thì tụi bạn chỉ toàn kể với nhau về những bộ phim hoạt hình đang phát sóng. Con không muốn trách cứ hay đổ lỗi cho mẹ, nhưng hồi đó con thơ ngây nghĩ là “nếu mà ba ở nhà thì chắc chắn là trong nhà sẽ phải có tivi. Làm sao mà một đạo diễn phim lại không xem tivi chứ?”. Khi bà nội khoe là ba từ Bắc Kinh sẽ về thăm con, con đã rất háo hức và chờ đợi khoảnh khắc ấy. Con biết chắc chắn là thế nào ba cũng sẽ đưa con đi chơi khắp nơi, đến những địa điểm thú vị như: công viên giải trí, viện bảo tàng, và nhiều nơi khác nữa. Lên lớp con say sưa kể cho các bạn nghe về những lần đi chơi rất vui ấy của hai ba con mình. Con thường ước ao là ba sẽ như ông tiên bất ngờ xuất hiện cùng với cái tivi…Mỗi năm vài lần, ba về thăm, con luôn chăm chú nghe ba kể về những bộ phim hấp dẫn hay là sung sướng khi ba mang về cho con một vài quyển sách hay. Với con ba là một thế giới hoàn toàn khác so với mẹ-một người Phật tử thuần thành, luôn luôn chọn lọc và chỉ tưới tẩm những hạt giống thiện lành bằng những câu chuyện của Bụt và Chúa. Con nhớ mãi những tháng ngày êm đềm ấy: có mẹ ở bên, và cứ mỗi năm ba lại ghé thăm vài lần, ở nhà không có một cuộc xung đột hay cãi vã nào, con vẫn ngây ngô với những vấn đề và khổ đau của người lớn,…

Năm 2012 là một bước ngoặt, mà kể từ đó cuộc đời của con hoàn toàn thay đổi, chính xác hơn là ngày ba nói với con sự thật mà ba đã cố gắng giấu kín bấy lâu, ba đã có một gia đình khác và chỉ một tuần nữa thôi thì con sẽ có thêm một đứa em trai cùng cha khác mẹ. Con không biết là ba đã đọc sách của mẹ viết hay chưa? Và ba đã đọc đoạn mà con kể về những cảm xúc của con thời gian ấy trong cuốn sách trong cuốn sách của mẹ chưa? Nhưng cũng không sao, con chỉ nhớ đó là những chuỗi dài của nước mắt và đau buồn. Khi nghe tin ấy con có cảm cảm giác bơ vơ như một đứa trẻ bị bỏ rơi thêm một lần nữa. Ba sẽ tập trung vào gia đình của ba, ba sẽ tập trung chăm sóc cho em bé sắp sinh, và ba sẽ chẳng còn thời gian và tâm trí để đưa con đi chơi nữa. Mặc dù ba nói là ba vẫn sẽ quan tâm và thương yêu con, những người trong nhà cũng nói như vậy, và con cùng thường xuyên tự an ủi động viên mình nhưng đó thật sự là những tháng ngày tăm tối. Cho đến tận bây giờ, con vẫn sợ gặp ba, và sợ nhìn thấy gia đình kia của ba. Con thường tỏ ra bướng bỉnh, mặt mũi cau có, và ăn nói thì cộc cằn, con đã nói rằng con không muốn nhìn thấy ba, không muốn gặp ba nữa. Nhưng ba ơi, thật lòng trong con chỉ toàn là nước mắt chứ không hề tức giận ba. Con đã lo sợ rằng ba sẽ không còn thương con như trước nữa, con sợ để ba thấy những yếu đuối của con, và con cũng sợ mẹ sẽ khổ đau thêm. Nỗi sợ hãi bủa vây lấy con. Mấy năm trước ba cũng về thăm vài lần, con cảm thấy mình cần phải xin lỗi ba về thái độ hờ hững, lạnh nhạt của con đối với ba, với mẹ kế và với em, đó chỉ là vỏ bọc mà con dùng để tự vệ trước những sợ hãi và tổn thương của mình.

Cho đến năm ngoái, khi con quyết định tới Làng Mai để tập sự xuất gia, lúc đó trái tim con mách bảo là con nên chia sẻ trực tiếp ước nguyện này với ba. Không biết động lực mạnh mẽ này từ đâu mà tới, nhưng con đã rất cảm phục chính mình khi có thể nói ra được những điều mình cần nói. Ba khuyên con là nên học xong đại học đã, rồi ba nói với con về chính trị. Con bắt đầu khám phá nhiều điều mới mẻ về ba. Dù cách ba biểu lộ không giống như những gì mà con trông mong. Con bắt đầu thấy những quan tâm của ba dành cho con qua những câu chuyện chính trị. Con cũng cảm nhận được cảm giác tội lỗi của ba với đối với con và mẹ.

Trong con vẫn còn chưa thoải mái để nói chuyện trực tiếp với ba, con vẫn chưa có thể tiếp nhận thêm những câu chuyện chính trị của ba. Con vẫn chưa chấp nhận được những khó khăn trong con. Nhưng bây giờ con đang được đi trên con đường mà con ước mơ, ở nơi đây con có rất nhiều cơ hội để khám phá và nhận ra những đức hạnh mà ba đã trao truyền cho con. Con thấy con cũng có một đôi tay nghệ thuật từ ba-một nhà đạo diễn phim. Mặc dù phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và rủi ro nhưng ba vẫn luôn giữ gìn những chuẩn mực đạo đức trong nghề. Con cũng thấy trong con được trao truyền đức tính liêm khiết và trung thực này của ba.

Nhiều lúc con cảm thấy mặc cảm tủi thân khi con không có được tình cha con ấm áp như những người bạn đồng trang lứa khác. Con biết là ba thương con và muốn được gần gũi con, ba đã từng nói với con là hãy viết thư cho ba mỗi khi con con có thời gian. Ba ơi, chỉ là tại chính con cảm thấy chưa sẵn sàng. Nhưng con biết chắc chắn là con sẽ mời ba trong con cùng ngồi thiền để con có thể hiểu và thương ba nhiều hơn.

Và trên hết, con muốn nói với ba: ba là ba của con, ba đã luôn là một phần không thể thiếu trong cuộc đời con.

Con yêu ba,

Con gái nhỏ của ba:

Chân Trăng Hiếu Đức

(Sư cô Chân Trăng Hiếu Đức là người Hong Kong. Sư cô xuất gia năm 22 tuổi trong gia đình cây Hạt Dẻ. Sư cô là một người trẻ dễ thương, năng động và tràn đầy nhiệt huyết. Sư cô rất yêu âm nhạc và đã tự sáng tác nhiều bài thiền ca góp phần tan tỏa chất liệu bình an và nuôi dưỡng đến các bạn thiền sinh trên khắp thế giới. Bức thư gửi ba của sư cô đã được BBT chuyển ngữ từ Tiếng Anh.)


 

 

Phòng Thở

(Trích trong cuốn sách “Đạo Phật của tuổi trẻ” của Sư Ông Làng Mai)

Trong thế kỷ thứ 21, mỗi nhà đều cần phải có một căn phòng, gọi là phòng tĩnh tâm, thiền phòng, hoặc phòng thở. Trong nhà, chúng ta có đủ thứ phòng: phòng khách, phòng bếp, phòng ăn, phòng ngủ, nhưng chúng ta còn thiếu một căn phòng để dành cho đời sống tâm linh của ta. Nhiều lúc ta cần nuôi dưỡng chính ta, để ta có thể tĩnh tâm, tìm lại niềm vui và sự thăng bằng. Vì vậy ta cần thiết lập một phòng thở trong gia đình để cho cha mẹ và con cái thực tập với nhau. Đó là lãnh thổ của bình an, tĩnh tâm và chánh niệm. Mỗi khi bước vào phòng là bước vào lãnh thổ của Đức Thế Tôn. Ta bước rất nhẹ và chánh niệm, vì có Đức Thế Tôn đang ngự tọa trong phòng.

Căn phòng đó nhỏ thôi, hai hoặc ba thước cũng được. Không cần phải trang trí nhiều, chỉ cần một cái bàn nho nhỏ, bình hoa với một bông hoa. Quan trọng nhất là ta có một cái chuông nhỏ. Nếu ta tìm được một tượng Bụt đẹp mà khi nhìn vào ta có cảm giác thanh thoát và nhẹ nhàng thì ta mới nên thỉnh tượng về để trong phòng thở, còn nếu không thì ta nên chờ đợi. Trong khi chưa có tượng Bụt, ta có thể cắm một bông hoa vào trong bình. Bông hoa đó tượng trưng cho Đức Thế Tôn. Mỗi khi ta xá bông hoa là ta đang xá Bụt. Bông hoa có sự tươi mát và sự mầu nhiệm, đại diện cho cả vũ trụ. Vì vậy bông hoa xứng đáng đại diện cho Bụt trong khi chúng ta chờ đợi để thỉnh một tượng Bụt thật đẹp.

Mỗi khi trong lòng bất an, giận hờn, buồn tủi thì ta có thể đi vào phòng thở để tập thở với tiếng chuông. Tiếng chuông là tiếng gọi của Đức Thế Tôn gọi ta trở về với tự tâm để giúp ta làm mới lại mình và khôi phục sự vững chãi, thảnh thơi và an vui trong hiện tại. Trong gia đình chúng ta phải ký một hiệp ước với nhau là mỗi khi có người đang thực tập trong phòng thở thì tất cả những người khác phải tắt hết radio, Ti-vi,… Và nếu ta đang học bài, nấu bếp,… thì ta cũng làm những công việc đó trong yên lặng, ta tôn trọng sự thực tập của người kia. Người kia đang bất an, giận dữ, buồn tủi nên người đó rất cần sự thanh tịnh. Vậy nên ta cũng thực tập như vậy để yểm trợ người kia. Trong chùa chúng tôi cũng làm như thế, buổi sáng trong khi đại chúng công phu và thiền tọa, thì những vị ở dưới bếp làm thức ăn sáng cũng thực tập làm việc trong im lặng, theo dõi hơi thở, lắng nghe tiếng chuông cũng như tiếng kinh. Trong gia đình chúng ta cũng có thể thực tập như vậy.

Trong gia đình, phòng thở như là một thiền đường nhỏ. Nơi ấy cho chúng ta không gian để làm mới lại thân tâm, giúp ta khôi phục lại sự bình an, vững chãi và thảnh thơi. Vì vậy nên mọi người trong gia đình, từ cha mẹ đến con cái đều phải tôn trọng không gian ấy. Chỉ vào phòng thở những lúc mình cần thực tập thôi, không được dùng phòng thở cho những mục đích khác.

Hạnh phúc của cha mẹ là món quà quý giá nhất cho con

Không khí trong gia đình có thể trở nên ngột ngạt rất nhanh. Nhiều khi cha nói một câu gì đó làm mẹ đau khổ. Rồi mẹ khóc hay là mẹ nói lại một câu gì đó làm cho cha bực bội. Không khí gia đình phút chốc trở nên khó thở. Bầu không khí căng thẳng và ngột ngạt đó không lành mạnh cho những đứa con. Khi cha mẹ làm khổ nhau thì vô tình làm tổn thương trái tim của những đứa trẻ. Trái tim của các em còn ngây thơ, dễ bị tổn thương. Mỗi khi nghe ba nói một câu nặng nề với mẹ, thấy mẹ khóc, cha nổi trận lôi đình thì trái tim em bé cũng đang đi qua một vùng bão tố lớn. Khi người lớn nổi giận và làm khổ nhau thì họ không để ý tới điều đó. Ta vô tình gây thương tích trong trái tim của những đứa con mà ta không hay biết. Đứa bé lớn lên, sẽ giữ mãi những vết thương ấy trong lòng. Nhiều người trẻ đã tâm sự rằng: “món quà lớn nhất mà cha mẹ có thể để lại cho chúng con chính là hạnh phúc của cha mẹ”. Nếu cha mẹ không hạnh phúc, chỉ làm khổ nhau thì không để lại được gì cho các con hết. Các con không cần một chiếc xe hơi, một tài khoản tiết kiệm, hay một căn nhà lầu. Điều các con cần nhất là hạnh phúc của cha mẹ, là không khí đầm ấm của gia đình-tổ ấm mà các em được nuôi dưỡng và lớn lên. Là cha mẹ, chúng ta hãy lắng nghe tiếng nói của trẻ thơ.

Ngày xưa ở Việt Nam, nhà thường có vườn rộng, hay ao, hồ xung quanh. Mỗi khi đau khổ, em bé có thể chạy ra vườn hoặc chạy qua nhà hàng xóm, nhà dì, nhà cô, nhà chú để than thở và trốn tránh. Nhưng bây giờ ở chung cư, em bé không có cách nào để chạy trốn không khí nặng nề và ngạt thở ấy. Dù có chạy vào toilet và đóng cửa lại nhưng tiếng cãi vã của cha mẹ vẫn vọng vào như thường. Nếu có phòng thở, em bé có thể trốn vào đó và thỉnh lên một tiếng chuông. Khi cha mẹ nghe tiếng chuông ấy, cả hai người đều biết rằng mình đang làm khổ con và sẽ ngừng cãi nhau, ngừng làm khổ nhau. Tiếng chuông mà em bé thỉnh lên trong phòng thở là một tiếng kêu cứu rất lớn. Em bé kêu cứu Bụt và kêu cứu cha mẹ.

 

 

Tiếng chuông chánh niệm

Nếu là một gia đình tin Phật, chúng ta phải cam kết với nhau, cam kết giữa cha mẹ và con cái là mỗi khi nghe chuông thì tất cả đều dừng lại để trở về theo dõi hơi thở. Nhờ đó ta có thể khôi phục lại sự thanh tịnh, an lạc trong mình. Phòng thở là lãnh thổ của bình an và hòa thuận. Khi chúng ta đã vào phòng thở ngồi, thì không ai có quyền đi theo. Những khi em bé bị la rầy và em bé đi vào phòng thở, em bé ngồi thỉnh chuông thực tập thì cha mẹ không có quyền đi theo để la mắng. Mỗi khi người vợ cảm thấy đau buồn và khổ sở thay vì vào trong phòng và khóa cửa khóc một mình thì nên học cách đi thiền hành về phía phòng thở. Sau đó khi vào phòng thì xá Đức Thế Tôn, rồi thỉnh chuông và ngồi xuống thực tập. Khi nghe tiếng chuông vọng lên, người chồng biết là người vợ đang đau khổ. Người chồng sẽ quán chiếu và nhìn lại xem mình đã nói gì, đã làm gì để cho người vợ của mình đau khổ như vậy. Các con cũng thực tập để yểm trợ mẹ, khi biết mẹ đang đau khổ thì các con sẽ nhẹ nhàng hơn, im lặng hơn trong những động tác thường ngày.

Mỗi buổi sáng, trước khi đi làm hoặc đi học, chúng ta có thể dành vài phút mở cửa và bước vào phòng thở một cách nhẹ nhàng. Sau khi khép cửa lại, ta xá Bụt hoặc xá bông hoa, ngồi xuống và bắt đầu thỉnh chuông. Chúng ta thực tập theo dõi hơi thở vào và hơi thở ra theo bài kệ “thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười”. Chúng ta thực tập theo dõi hơi thở như vậy trong khi thỉnh và lắng nghe ba tiếng chuông. Với mỗi tiếng chuông chúng ta thực tập ba hơi thở vào và ra. Rồi ta đứng dậy xá chào Bụt và đi làm. Nếu con chúng ta còn đi học thì ta cũng dạy cho các con thực tập như vậy. Sau khi mặc áo, soạn sách vở xong thì đến phòng thở, để cặp ở bên ngoài, mở cửa nhẹ nhàng, thở vào thở ra rồi bước vào phòng. Khi bước vào phòng, cháu hướng về bàn thờ xá Bụt hoặc xá bông hoa một cái, rồi ngồi xuống và thực tập thỉnh chuông y như vậy. Thở được chín hơi, cháu đứng dậy, xá Đức Thế Tôn, mở cửa đi ra ngoài, cầm cặp sách và đi học.

Thông thường, chúng ta hay chúc nhau một ngày mới tốt lành, nhưng đó chỉ là lời chúc, còn đây là sự thực tập. Nếu chúng ta bắt đầu ngày mới với nụ cười ý thức và những hơi thở chánh niệm thì chúng ta đã thật sự khởi đầu ngày mới rất nhẹ nhàng và an lạc rồi. Trước khi đi ngủ chúng ta cũng thực tập như buổi sáng, vào phòng thở, ngồi xuống và thỉnh lên ba tiếng chuông. Chúng ta tập thở trước khi đi ngủ. Ta cần phải làm như vậy và tập cho các con chúng ta làm theo. Đó là một nếp sống đẹp.

Trong các gia đình Thiên Chúa giáo, trước khi đi ngủ các em bé thường chắp tay cầu nguyện. Bây giờ không còn nhiều em làm như vậy nữa. Nhưng ngày xưa, trước khi lên giường, các em quỳ dưới chân giường và nói chuyện với Chúa. Đó là một hình ảnh rất đẹp. Đức Thế Tôn là người mà chúng ta kính trọng và yêu mến. Chúng ta có thể trò chuyện với Đức Thế Tôn, vì Người ở ngay trong trái tim của chúng ta. Mỗi khi em bé khóc, giận hờn hay buồn tủi thì cha hoặc mẹ có thể nói với em: “Con ơi, cầm lấy tay cha, và hai cha con mình sẽ cùng đi vào phòng thở để thực tập với nhau”. Ta nắm tay em bé với tất cả tình thương, dắt em bé đi từng bước vững chãi và nhẹ nhàng tới phòng thở. Từ giây phút được cha hay mẹ nắm tay thì em bé đã thấy đỡ nhiều rồi. Nếu có cha, có mẹ biết thực tập, và hướng dẫn cho mình thực tập thì đó là một điều rất mầu nhiệm. Ta mở cửa phòng thở, bước vào, đóng cửa nhẹ nhàng, xá Bụt rồi ngồi xuống và bắt đầu thỉnh chuông. Hai cha con hoặc hai mẹ con ngồi thực tập với nhau, giúp cho em bé lấy lại sự trầm tĩnh trong tâm hồn. Đó là một hành động rất đẹp trong gia đình. Chúng ta có thể mua một bức tranh đắt tiền của Van Gogh. Nhưng bức tranh đó không đẹp bằng hình ảnh hai mẹ con, hai cha con ngồi xuống thực tập với nhau. Khi người kia nói một câu xúc phạm tới ta, làm cho ta đau khổ, thay vì cãi lại, ta trở về chăm sóc cơn giận của mình. Ta đứng dậy, theo dõi hơi thở ý thức và bước những bước thiền hành về phía phòng thở.Thấy như vậy, người kia sẽ biết nhìn lại: họ đã nói gì, làm gì khiến cho ta đau khổ. Đó là tiếng chuông chánh niệm. Khi thấy sự thực tập của ta, trong tâm người đó sẽ phát sinh niềm cung kính và tôn trọng.

Giấc mơ lớn nhất của đời anh là gì?

 

Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai trong ngày Quán niệm dành cho người Việt (18/08/2013), tại Đại học Brock, Canada

Trong đời sống hàng ngày, chúng ta có nhiều mối lo lắng và quan tâm như làm sao để có công ăn việc làm, có nhà, có xe, có tiền đủ để cho con đi học, làm sao để không bị bênh… Những quan tâm đó gọi là quan tâm thường nhật. Các con của mình còn nhỏ nên chúng không cần phải lo. Chúng ta là bố mẹ nên phải lo. Và có thể  những mối quan tâm thường nhật đó lấy hết thì giờ nên mình không có cơ hội thực hiện những ước vọng sâu sắc nhất.

Ngoài những tiện nghi vật chất, mình còn đi tìm những tiện nghi tình cảm. Là con người chúng ta cần tình cảm, cần tình thương. Nếu mình có khó khăn trong truyền thông với chồng, vợ, hay với con của mình thì mình không có hạnh phúc. Hai vợ chồng không nói chuyện được với nhau; hai cha con không nói chuyện được với nhau. Điều đó làm ta khổ. Khi thiếu thốn những tiện nghi tình cảm, khi trong gia đình không có hạnh phúc thì chúng ta có xu hướng tìm kiếm những tiện nghi tình cảm ở ngoài. Mình vướng vào người này, vướng vào người khác. Gia đình của mình càng ngày càng khó khăn, càng lục đục. Vì mải mê đi tìm những tiện nghi vật chất và tình cảm mà chúng ta không còn thì giờ để tu học.

 Có khi nào quý vị có thời gian ngồi lại và tự hỏi: “Mình muốn làm gì với cuộc đời của mình? Mình có một chí nguyện nào muốn thực hiện không? Mình có ước mong gì sâu sắc hơn, cao siêu hơn là chuyện kiếm sống và đi tìm những tiện nghi vật chất và tình cảm không?” Đó gọi là mối quan tâm tối hậu. Có khi nào quý vị ngồi xuống và hỏi bố mình: “Bố ơi, trong cuộc đời của bố, bố có ước mơ nào mà bố muốn thực hiện không? Nếu bố chưa thực hiện được thì bố có muốn con thực hiện giúp bố không?” Quý vị đã có cơ hội đó chưa? Nếu cứ mải mê đi kiếm những tiện nghi bên ngoài thì làm sao có thì giờ để nghĩ tới những quan tâm tối hậu ấy. Hay quý vị chỉ nói chuyện về tiền bạc, về tiện nghi vật chất mà thôi?

Hai cha con có thể nói chuyện với nhau về những ước mơ sâu sắc nhất của một đời người. Có khi nào quý vị ngồi với mẹ để thăm hỏi như vậy chưa? Mẹ mình suốt đời bận rộn lo toan cho chồng con. Lúc trẻ chắc mẹ cũng có một ước mơ nào đó chứ? Không có lẽ suốt đời chỉ bận tâm về những tiện nghi vật chất và tình cảm thôi sao? Có khi nào chúng ta hỏi mẹ: “Mẹ ơi, mẹ có ước mơ nào mà mẹ chưa thực hiện được không? Mẹ có muốn con thực hiện giúp cho mẹ không?” Khi hai mẹ con chia sẻ được chuyện đó thì mình sẽ có tương lai và giống nòi sẽ có tương lai. 

Trên đời có những người được  gọi là đại nhân. Đại nhân không phải là những người to lớn mà là những người có chí nguyện. Họ có ước mong lớn và họ thực hiện được ước mong đó. Hoặc có thể là họ thực hiện được một phần ước mong đó và họ muốn con cháu của họ tiếp tục thực hiện ước mong đó cho họ. Quý vị là một cặp vợ chồng đang sống chung với nhau. Có khi nào quý vị ngồi với nhau để hỏi nhau: “Cuộc đời của mình có phải chỉ là sinh vài đứa con thôi sao? Anh có chí nguyện nào, anh có ước mơ nào muốn thực hiện không? Em có ước mơ nào muốn thực hiện không?”.

Nếu hai vợ chồng không có thời gian để chia sẻ những điều ấy thì rất đáng tiếc. Không lẽ cuộc đời mình chỉ là để đi tìm kiếm những tiện nghi vật chất và tình cảm thôi sao? Khi hai vợ chồng chia sẻ được với nhau thì trở thành đồng chí của nhau và hạnh phúc gia đình sẽ lớn lên. Khi mới cưới, tình yêu luôn rất đẹp. Chúng ta nghĩ rằng không có nhau thì không sống nổi. Nhưng tình yêu cũng giống như bất cứ một sự sống nào, nó cũng cần có thức ăn. Dù cho có đẹp đến mấy đi nữa mà nếu mình không biết cách nuôi dưỡng thì tình yêu cũng sẽ chết. Tình yêu sẽ biến thành sự chán nản, và sự giận hờn.

Giống như bông hoa, nếu mình không chăm sóc, không tưới nước thì hoa sẽ héo tàn, và sẽ biến thành rác. Tình yêu cũng như vậy. Nếu không biết cách gìn giữ và nuôi dưỡng thì chỉ trong vòng vài năm là tình yêu ấy sẽ trở nên ốm o, gầy mòn và bắt đầu chết dần. Đức Thế Tôn dạy rằng không có gì có thể sống sót được nếu không có thực phẩm. Chúng ta đã học cách nuôi tình yêu chưa? Hay là sống với nhau vài năm thì chán nhau và đi tìm kiếm những cái mới mẻ ở ngoài để rồi gây ra sự xáo trộn trong gia đình.

Đứa con của mình lúc mới chào đời rất đẹp, rất dễ thương. Đứa con cũng là đối tượng của tình yêu. Nếu mình không biết cách nuôi dưỡng tình yêu đó thì sau này có thể mình sẽ ghét, sẽ từ đứa con của mình. Mình sẽ thấy rằng nó không phải là con của mình. Vậy nên mình phải học cách nuôi dưỡng tình yêu giữa mình với con. Học cách làm thế nào để trao truyền hạnh phúc, trí tuệ, kinh nghiệm của mình cho con. Để đứa con sẽ trở thành sự tiếp nối đẹp của mình về  phương diện hình hài và lý tưởng. 

 

 

Có hiểu mới có thương

Một hôm có một nữ ký giả của tờ báo Elle ở Paris về phỏng vấn các sư cô. Tờ báo Elle là một tờ báo phụ nữ. Các sư cô ở Xóm Mới đã mời bà ở lại bảy ngày để cùng thực tập. Nếu chỉ có phỏng vấn thì bài viết sẽ không truyền tải được nội dung. Phải thực tập mới hiểu được. Vị nữ ký giả đó ở lại 6 ngày thì tôi tới thăm và giảng cho các sư cô. Nhân tiện bà ấy muốn phỏng vấn tôi và tôi nói : “Bà về bà viết như thế nào mà giúp người ta chuyển hóa được mới hay. Nếu chỉ viết lý thuyết thì không hay lắm”.

Tôi chia sẻ với bà một phương pháp thực tập. Tôi nói rằng nếu bà biết được phương pháp thực tập này thì bà sẽ giúp cho nhiều cặp vợ chồng tìm lại được hạnh phúc. Tôi gợi ý là bà hãy viết như vậy: “Sau khi ăn cơm chiều xong như thường lệ, ông vào phòng khách và xem ti vi. Trong khi rửa bát, và dọn dẹp ở bếp thì bà thực tập theo dõi hơi thở “Thở vào tâm tĩnh lặng. Thở ra miệng mỉm cười”  làm lắng dịu nỗi khổ niềm đau trong mình. Sau đó, bà đi vào phòng khách và ngồi xuống bên cạnh ông. Bà vẫn tiếp tục thực tập hơi thở chánh niệm. Thở cho đến khi nào cảm thấy trong lòng thoải mái, lắng dịu rồi thì mới quay sang và nói với ông : “Anh ơi, anh có thể tắt tivi được không? Em có chuyện quan trọng muốn nói với anh.”

Khi nghe bà nói như vậy ông rất ngạc nhiên:”Không biết bà ấy muốn cái gì đây?” Ông ngán lắm nhưng bắt buộc phải làm. Ông tắt tivi rồi xoay lại sẵn sàng để đối chiến. Vẫn giữ nụ cười, bà nói: “Anh ơi, tại sao mình có đủ hết: có nhà, có xe, có công ăn việc làm, có tài khoản tiết kiệm, mà mình vẫn không có hạnh phúc? Anh thử nghĩ giúp em là tại sao lại như vậy? Anh có ý gì không?”. Mình khéo léo mời người bạn đời của mình chia sẻ để tìm hiểu sự thật là tại sao mình có rất nhiều điều kiện hạnh phúc mà lại không hạnh phúc. Có nhiều người không được như mình. Họ không có một ngôi nhà, xe hơi, hay công việc như mình. Mình có tất cả nhưng tại sao mình lại không có hạnh phúc?

Hai vợ chồng cần dành thời gian để nhìn lại tình trạng của mình, tại sao có đầy đủ tiện nghi như vậy nhưng không có hạnh phúc? Nhiều khi ông mở tivi xem, mặc dù chương trình tivi rất dở nhưng ông vẫn xem. Nếu tắt tivi đi thì ông không biết làm gì. Nói chuyện với bà thì không có hạnh phúc. Ngày xưa chỉ cần nhìn nhau là đủ hạnh phúc rồi. Bây giờ nhìn nhau thì không thấy hạnh phúc nữa, chỉ thấy cái mặt muốn ghét. Ngày xưa thì nói “không có em làm sao anh sống nổi”, nhưng bây giờ có em thì sống hơi khó. Cho nên xem tivi không phải vì mê tivi,  mà chỉ để khỏa lấp sự trống trải, khỏa lấp những nỗi khổ niềm đau trong mình.

Bà cũng vậy. Bà đọc tiểu thuyết, nghe nhạc hay lên mạng Internet không phải vì bà thích mấy thứ ấy. Bà cũng có những nỗi khổ, niềm đau, sự trống trải, cô đơn nên bà đi tìm những cái khác để khỏa lấp. Cả ông cả bà đều làm giống hệt nhau. Không biết cách nuôi dưỡng tình yêu, mình để cho tình yêu chết dần. 

Quý vị đã đọc cuốn “Hoàng tử bé”(Le petit prince) của Antoine de Saint-Exupéry chưa?. Trong truyện ông có viết một câu: “Yêu nhau không phải ngồi đó để nhìn nhau mà cùng nhau nhìn về một hướng”. Câu nói này rất đúng và rất hay. Nghĩa là khi mình đã yêu nhau thì mình phải có chung một lý tưởng. Tôi nghĩ rằng mình cũng có thể nhìn nhau. Trước hết là mình nhìn nhau và thấy được vẻ đẹp của nhau. Nếu không đẹp thì mình cưới nhau làm gì. Anh là hoàng tử còn em là công chúa của anh. Yêu nhau mình có quyền ngồi nhìn nhau, để thưởng thức nét đẹp của người mình yêu. Đồng thời, khi nhìn nhau mình cũng nhìn thấy những nỗi khổ, niềm đau của nhau. Chúng ta không ai không có nỗi khổ, niềm đau. Có thể những nỗi khổ, niềm đau ấy được bố mẹ hay ông bà trao truyền lại. Nhiều khi bận rộn quá nên mình không có thời gian để lắng nghe và tìm hiểu những nỗi khổ niềm đau của người mình thương. Khi thấy được nỗi khổ niềm đau của người kia thì tự nhiên tình thương và lòng từ bi của mình được biểu hiện. 

 Năng lượng của từ bi có khả năng trị liệu và nuôi dưỡng. Khi nhìn người yêu không phải là chỉ nhìn thấy cái đẹp, cái lành của người yêu. Mình cũng thấy được những khó khăn, những nỗi khổ, niềm đau của người yêu. Khi hiểu được những nỗi khổ, niềm đau đó thì mình càng thêm thương. Mình muốn nói hay muốn làm một điều gì đó cho người yêu mình bớt khổ.  “Từ” có nghĩa là hiến tặng niềm vui còn “Bi” có nghĩa là làm vơi nỗi khổ. Tình yêu đích thực có Từ và có Bi. Khi nhìn người yêu, mình nhận diện sự có mặt quý giá của người ấy tức là mình hiến tặng niềm vui cho người yêu. Khi nhìn thấy khổ đau của người ấy và mình nói một câu hay làm một điều gì đó giúp người kia bớt khổ,.

Trong đạo Bụt, giáo lý về thương yêu rất sâu sắc và rõ ràng. Muốn thương thì phải hiểu. Nếu anh không hiểu thì anh không thương được. Nếu cha không hiểu con thì không thể nào thương con. Phải hiểu, phải thấy được những khó khăn, những đau khổ của con thì mới thương được. Nếu không thì chỉ có la rầy và đánh mắng. Con cũng vậy, muốn thương cha thì phải thấy được những khó khăn, bức xúc, nỗi khổ và niềm đau của cha thì mới thương cha được. Cho nên thương được làm bằng hiểu. Nếu quý vị không hiểu được những nỗi khổ, niềm đau, khó khăn của người kia thì đừng nói là tôi yêu anh hay tôi yêu em. Quý vị có thể hỏi người kia như thế này: “Này em, em có nghĩ rằng anh đã hiểu được em chưa? Nếu anh chưa hiểu được em thì em hãy giúp anh. Nói cho anh nghe những nỗi khổ, niềm đau của em.” Đó là tu tập.

Mình thương con thì mình phải hiểu được những nỗi khổ niềm đau của con. Nếu cứ tiếp tục rầy la, trừng phạt thì đó không phải là thương. Mình yêu người bạn đời của mình thì mình phải lắng nghe, phải tìm hiểu những nỗi khổ, niềm đau, những khó khăn của người đó. Và luôn luôn phải hỏi để người đó có cơ hội chia sẻ cho mình hiểu. Nhiều khi nỗi khổ niềm đau của chính mình mình cũng chưa hiểu được thì làm sao mình có thể hiểu được nỗi khổ niềm đau của người kia. Cho nên ta phải thiết lập truyền thông, phải chia sẻ và trao đổi với nhau thường xuyên để có thể hiểu nhau hơn. Khi có hiểu thì mới có thương.

Khi nói “nhìn về một hướng” tức là hai người đồng tâm đồng chí với nhau. “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”. Đó là cùng nhìn về một hướng. Trong trường hợp này vợ chồng cùng nhìn về một hướng, nhưng hướng này là hướng tivi. Nhìn về một hướng để cho đỡ khổ. Vì mình không nhìn nhau được cho nên mình phải nhìn về hướng tivi cho bớt khổ. Đó là một bi kịch trong gia đình.

Khi hai vợ chồng không thương nhau, không hiểu nhau thì làm sao dạy được các con? Giữa hai thế hệ có một khoảng cách lớn. Nhất là khi sống ở một đất nước lạ với nền văn hóa khác biệt. Các con của mình sinh ra và lớn lên xã hội Tây phương và học những thói quen của người Tây phương. Lối sống của người Tây phương có những điều hay nhưng cũng có những cái chưa hay. Mình thuộc về một văn hóa khác, con mình lại thuộc về một văn hóa khác, vì vậy sự truyền thông giữa cha mẹ và con cái trở nên khó khăn. Nếu mình là cha mẹ thì mình có thời gian để ngồi chơi với con cái không? Nếu mình là người trẻ thì có bao giờ mình hỏi bố: “Bố ơi, hồi còn bé bố chơi cái gì? Bố kể cho con nghe đi”. Mình kể cho con của mình nghe những trò chơi ngày xưa của mình. Bây giờ các con của mình chơi những trò chơi rất khác. Hai cha con kể cho nhau nghe những trò chơi như vậy của hai thế hệ. Điều đó rất nuôi dưỡng.

Bố có thể trao truyền cho con những trò chơi rất đơn giản nhưng đem lại nhiều niềm vui. Mẹ cũng vậy. Ngày xưa, mẹ có những trò chơi rất đơn giản mà cũng có rất nhiều hạnh phúc. Mẹ không chơi những trò điện tử như con. Nếu hai mẹ con bàn với nhau và trao đổi được với nhau như vậy thì rất tốt. Từ từ, khoảng cách giữa hai nền văn hóa sẽ được thu ngắn lại. Khi có thời gian, mẹ hãy hỏi con: “Ở trường các con sinh hoạt như thế nào? Các con chơi như thế nào? Con thích cái gì? Con không thích cái gì?” Nếu ông bà không có thì giờ để ngồi với con , để hỏi chuyện con, để hiểu được những khó khăn, nỗi khổ niềm đau của chúng thì làm sao có được sự truyền thông giữa cha mẹ và con cái?

Đừng tưởng rằng các con còn trẻ không có vấn đề. Tuổi trẻ bây giờ có rất nhiều vấn đề. Tuổi trẻ cũng có nỗi khổ, niềm đau của tuổi trẻ. Vậy nên sự truyền thông giữa cha với mẹ, giữa cha mẹ và con rất quan trọng. Nếu chúng ta quá bận rộn, để hết thời gian cho việc tìm kiếm những tiện nghi vật chất thì sẽ không thể làm được việc ấy. Hạnh phúc của mình không chỉ do vật chất mà có.

Ở Làng Mai chúng tôi sống rất đơn giản. Không ai có tiền lương, nhà riêng hay xe hơi riêng. Cái gì cũng chung hết. So với cuộc sống của người cư sĩ thì chúng tôi tiêu thụ rất ít. Chúng tôi ăn chay và trồng rau để tự cung cấp một phần. Nhưng chúng tôi cũng có thời gian để ngồi với nhau, để than thở với nhau, để tâm sự với nhau về những nỗi khổ niềm đau của chúng tôi. Chúng tôi biết  sự truyền thông rất quan trọng. Nếu không có hạnh phúc, không có đoàn kết, không có tình huynh đệ thì chúng tôi không nên đi mở khóa tu. Vì nếu mình không có hạnh phúc thì làm sao mình có thể giúp cho người khác có hạnh phúc được?

Vì vậy nên chúng ta cần tổ chức lại đời sống của mình. Nếu cần thì chúng ta có thể làm việc ít lại, không cần phải có thật nhiều tiền thì mới có hạnh phúc. Sống đơn giản lại. Sống đơn giản như vậy nhưng mà hạnh phúc rất lớn. Chúng tôi đã làm được như vậy. Nhất là khi thấy thiền sinh tới tu học và đạt được nhiều chuyển hóa, hòa giải được với gia đình thì chúng tôi có hạnh phúc lắm. Chúng tôi thấy đời sống của mình có ý nghĩa. Tôi mong rằng các bạn sẽ tổ chức lại cuộc sống của các bạn.

 

 

Gia tài lớn nhất

Khóa tu mùa hè năm nay có một thiền sinh từ Hà Tĩnh tới. Cô ấy được nghe tôi giảng lần đầu tiên tại khách sạn Melia ở Hà Nội và cô đã tới tham dự khóa tu mùa hè tại Làng Mai. Sau khi nghe giảng về đề tài này thì cô hỏi: “Thầy ơi, thầy có giấc mơ nào mà thầy chưa thực hiện được không? Chúng con sẽ thực hiện cho thầy.” Cô muốn áp dụng ngay lập tức giáo lý vừa mới được học. Tôi trả lời như thế này: “Cám ơn con. Thầy có một may mắn là chưa bao giờ đánh mất liên hệ với người trẻ. Và thầy có sự may mắn thứ hai là thầy đang thực hiện được giấc mơ của thầy mỗi ngày”.

“Thầy có một sự may mắn là thầy chưa bao giờ đánh mất sự liên hệ với thế hệ trẻ. Tuy rằng 30 năm nay thầy không dùng điện thoại”. Điều đó là sự thật. Tôi không dùng điện thoại 30 năm nay, vậy mà liên hệ của tôi với thế hệ trẻ không bao giờ bị đứt đoạn. Tôi có rất nhiều đệ tử trẻ tuổi. Có nhiều người rất trẻ. Đừng tưởng rằng phải có điện thoại, phải có email thì mới có liên hệ. Mình phải có khả năng lắng nghe, phải có khả năng hiểu thì tự nhiên mình sẽ có sự kết nối. Chìa khóa ở đây là mình biết lắng nghe. Mình thấy được những nỗi khổ niềm đau của người kia, dù đó là một người đang còn rất trẻ.

Giấc mơ của Thầy rất đơn sơ. Hồi 9 tuổi, lần đầu tiên thấy bức hình của Đức Thế Tôn ngồi bình an trên bãi cỏ ở bìa của một tờ báo tạp chí Phật Học Thầy đã cảm thấy chấn động. Ngồi trên cỏ nhưng Ngài ngồi một cách thoải mái, an lạc. Bức họa đã tạo cảm hứng cho Thầy. Tự nhiên cậu bé nhỏ xíu nghĩ rằng: bây giờ mình làm thế nào để được giống như người này, ngồi rất thoải mái, rất an lạc. Ước muốn đi tu để trở thành một người như vậy đã ươm mầm ở nơi cậu bé. Lớn lên đọc lịch sử và thấy đời Lý, đời Trần là những triều đại mà đất nước có nhiều hạnh phúc, các vị Vua đều biết tu tập. Vua Lý và Vua Trần đều tu tập rất giỏi. Sử gia Hoàng Xuân Hãn nói rằng đời Lý, đời Trần là những đời thuần từ và hòa bình nhất trong lịch sử Việt Nam. Vua tôi thương nhau, người dân đều đồng lòng.

Chúng ta hãy nhớ lại khi Vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con trai của mình là Trần Anh Tông và đi xuất gia trên núi Yên Tử. Thời đó Phật giáo Việt Nam rất thịnh hành. Vua cha thì trở thành người xuất gia tu tập ở trên núi, chăm sóc khía cạnh tâm linh cho đất nước. Vua con thì ngồi trên ngai vàng để chăm sóc đất nước về phương diện chính trị. Đạo đức và chính trị đi đôi với nhau. Lúc đó nước ta rất hùng mạnh và đã đánh tan được sự xâm lăng của phương Bắc.

Giấc mơ của thầy là làm sao để giúp làm mới Đạo Bụt. Để  Đạo Bụt có thể phù hợp với người trẻ và người trí thức. Đạo Bụt hồi đó rất cũ và xưa, còn nhiều mê tín dị đoan. Hiện tại bây giờ mình đang có một Đạo Bụt đi vào cuộc đời, một pháp môn tu tập thích hợp với tuổi trẻ. Đạo Bụt đó đem ra để giảng dạy và áp dụng ở Âu Châu và ở Mỹ Châu. Người trẻ tuổi và người trí thức theo học rất đông. Khi đem về Á Châu, Thái Lan, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam thì tuổi trẻ, người trí thức cũng theo học rất đông. Như vậy là giấc mơ của thầy đã thành hiện thực. Thầy thấy rằng ngày nào cũng được làm những việc mình thích làm thì đâu còn ước mơ gì hơn nữa. Mỗi ngày mình thấy ước mơ của mình đang được thực hiện. Và nếu con muốn thì con có thể nối tiếp chí nguyện đó của thầy. Tức là nuôi dưỡng chí nguyện đem đạo Bụt đi vào cuộc đời để giúp chuyển hóa xã hội ở trong nước cũng như ở ngoài nước.

Nói tóm lại là đừng để mình bận rộn quá vì những lo toan, những nhu yếu về tiện nghi, vật chất. Mình phải thay đổi cách sống. Mình có thể tập tiêu dùng ít hơn để có thời gian chăm sóc cho nhau, tái lập truyền thông, hòa giải và để nuôi dưỡng con cháu. Như vậy thì hạnh phúc mới có thật. Và mình mới có thể trao truyền những gì tốt đẹp của mình cho thế hệ tương lai. Mình phải có từ bi, hạnh phúc, giải thoát, và an lạc thì mình mới có cái để trao truyền lại cho con cháu. Các loài thảo mộc và các loài động vật cũng làm như vậy. Mỗi thế hệ động vật, thực vật đều có những kinh nghiệm và trao truyền những kinh nghiệm đó qua gen cho những thế hệ sau. Mình cũng vậy. Nhờ kinh nghiệm thực tập mà mình chế tác được tình thương, hiểu biết, và hạnh phúc. Đó là gia tài mà mình có thể trao truyền lại cho con cháu của mình để con cháu sẽ tiếp tục trao truyền cho những thế hệ tiếp theo. Để lại tài sản vật chất không quan trọng. Khi mình trao truyền cho con cháu một nếp sống đẹp, nếp sống có hạnh phúc, có từ bi, có hiểu biết, có tình thương thì đó mới là gia tài quý giá nhất. Như vậy là giấc mơ lớn nhất của đời mình được thành tựu.