Gửi ba kính thương

Ba ơi, đây là lần đầu tiên con đặt bút và viết cho ba một lá thư. Thật lòng con cũng không biết liệu mình có đủ dũng khí để cho ba đọc những dòng tâm sự này của con không nữa. Nhưng con cũng xin được lấy cơ hội mùa Vu Lan sắp tới để trải lòng và kết nối với ba từ sâu thẳm trái tim con. Con mong một ngày nào đó ba con mình sẽ không còn như hai ốc đảo xa lạ, và con sẽ không còn chối bỏ những gì của ba mà con mang trong mình nữa.

Thật khó để mở lòng và viết xuống bởi vì con biết rằng đã từ lâu con luôn tìm cách tránh mặt ba. Có lẽ sẽ dễ dàng hơn nếu con bắt đầu bằng những kỷ niệm đẹp của hai cha con mình những ngày con còn thơ bé.

Con thấy mình thật may mắn khi mẹ luôn là người động viên và tạo cơ hội để con giữ liên lạc và kết nối với gia đình bên nội sau khi ba mẹ ly hôn. Lúc đó con chỉ mới tròn một tuổi. Không phải cho đến bây giờ con mới cảm nhận hết nỗi đau và những tác động khi không được lớn lên trong gia đình có đủ ba và mẹ. Nhưng con vẫn luôn biết ơn ba, mẹ, và bà nội vì cả nhà luôn giữ gìn cho con, và không bao giờ nói những điều không tốt về mẹ kế hay về ba. Và ba không khi nào để con phải chứng kiến những cảnh cãi vã hay gây gổ của ba mẹ để con có thể lớn lên một cách lành mạnh.

Còn nhớ quãng thời gian tiểu học, lúc đó con chẳng có nhiều bạn để chơi. Mẹ không muốn con xem tivi để không bị tưới tẩm quá nhiều nên nhà mình không có tivi, lên lớp thì tụi bạn chỉ toàn kể với nhau về những bộ phim hoạt hình đang phát sóng. Con không muốn trách cứ hay đổ lỗi cho mẹ, nhưng hồi đó con thơ ngây nghĩ là “nếu mà ba ở nhà thì chắc chắn là trong nhà sẽ phải có tivi. Làm sao mà một đạo diễn phim lại không xem tivi chứ?”. Khi bà nội khoe là ba từ Bắc Kinh sẽ về thăm con, con đã rất háo hức và chờ đợi khoảnh khắc ấy. Con biết chắc chắn là thế nào ba cũng sẽ đưa con đi chơi khắp nơi, đến những địa điểm thú vị như: công viên giải trí, viện bảo tàng, và nhiều nơi khác nữa. Lên lớp con say sưa kể cho các bạn nghe về những lần đi chơi rất vui ấy của hai ba con mình. Con thường ước ao là ba sẽ như ông tiên bất ngờ xuất hiện cùng với cái tivi…Mỗi năm vài lần, ba về thăm, con luôn chăm chú nghe ba kể về những bộ phim hấp dẫn hay là sung sướng khi ba mang về cho con một vài quyển sách hay. Với con ba là một thế giới hoàn toàn khác so với mẹ-một người Phật tử thuần thành, luôn luôn chọn lọc và chỉ tưới tẩm những hạt giống thiện lành bằng những câu chuyện của Bụt và Chúa. Con nhớ mãi những tháng ngày êm đềm ấy: có mẹ ở bên, và cứ mỗi năm ba lại ghé thăm vài lần, ở nhà không có một cuộc xung đột hay cãi vã nào, con vẫn ngây ngô với những vấn đề và khổ đau của người lớn,…

Năm 2012 là một bước ngoặt, mà kể từ đó cuộc đời của con hoàn toàn thay đổi, chính xác hơn là ngày ba nói với con sự thật mà ba đã cố gắng giấu kín bấy lâu, ba đã có một gia đình khác và chỉ một tuần nữa thôi thì con sẽ có thêm một đứa em trai cùng cha khác mẹ. Con không biết là ba đã đọc sách của mẹ viết hay chưa? Và ba đã đọc đoạn mà con kể về những cảm xúc của con thời gian ấy trong cuốn sách trong cuốn sách của mẹ chưa? Nhưng cũng không sao, con chỉ nhớ đó là những chuỗi dài của nước mắt và đau buồn. Khi nghe tin ấy con có cảm cảm giác bơ vơ như một đứa trẻ bị bỏ rơi thêm một lần nữa. Ba sẽ tập trung vào gia đình của ba, ba sẽ tập trung chăm sóc cho em bé sắp sinh, và ba sẽ chẳng còn thời gian và tâm trí để đưa con đi chơi nữa. Mặc dù ba nói là ba vẫn sẽ quan tâm và thương yêu con, những người trong nhà cũng nói như vậy, và con cùng thường xuyên tự an ủi động viên mình nhưng đó thật sự là những tháng ngày tăm tối. Cho đến tận bây giờ, con vẫn sợ gặp ba, và sợ nhìn thấy gia đình kia của ba. Con thường tỏ ra bướng bỉnh, mặt mũi cau có, và ăn nói thì cộc cằn, con đã nói rằng con không muốn nhìn thấy ba, không muốn gặp ba nữa. Nhưng ba ơi, thật lòng trong con chỉ toàn là nước mắt chứ không hề tức giận ba. Con đã lo sợ rằng ba sẽ không còn thương con như trước nữa, con sợ để ba thấy những yếu đuối của con, và con cũng sợ mẹ sẽ khổ đau thêm. Nỗi sợ hãi bủa vây lấy con. Mấy năm trước ba cũng về thăm vài lần, con cảm thấy mình cần phải xin lỗi ba về thái độ hờ hững, lạnh nhạt của con đối với ba, với mẹ kế và với em, đó chỉ là vỏ bọc mà con dùng để tự vệ trước những sợ hãi và tổn thương của mình.

Cho đến năm ngoái, khi con quyết định tới Làng Mai để tập sự xuất gia, lúc đó trái tim con mách bảo là con nên chia sẻ trực tiếp ước nguyện này với ba. Không biết động lực mạnh mẽ này từ đâu mà tới, nhưng con đã rất cảm phục chính mình khi có thể nói ra được những điều mình cần nói. Ba khuyên con là nên học xong đại học đã, rồi ba nói với con về chính trị. Con bắt đầu khám phá nhiều điều mới mẻ về ba. Dù cách ba biểu lộ không giống như những gì mà con trông mong. Con bắt đầu thấy những quan tâm của ba dành cho con qua những câu chuyện chính trị. Con cũng cảm nhận được cảm giác tội lỗi của ba với đối với con và mẹ.

Trong con vẫn còn chưa thoải mái để nói chuyện trực tiếp với ba, con vẫn chưa có thể tiếp nhận thêm những câu chuyện chính trị của ba. Con vẫn chưa chấp nhận được những khó khăn trong con. Nhưng bây giờ con đang được đi trên con đường mà con ước mơ, ở nơi đây con có rất nhiều cơ hội để khám phá và nhận ra những đức hạnh mà ba đã trao truyền cho con. Con thấy con cũng có một đôi tay nghệ thuật từ ba-một nhà đạo diễn phim. Mặc dù phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và rủi ro nhưng ba vẫn luôn giữ gìn những chuẩn mực đạo đức trong nghề. Con cũng thấy trong con được trao truyền đức tính liêm khiết và trung thực này của ba.

Nhiều lúc con cảm thấy mặc cảm tủi thân khi con không có được tình cha con ấm áp như những người bạn đồng trang lứa khác. Con biết là ba thương con và muốn được gần gũi con, ba đã từng nói với con là hãy viết thư cho ba mỗi khi con con có thời gian. Ba ơi, chỉ là tại chính con cảm thấy chưa sẵn sàng. Nhưng con biết chắc chắn là con sẽ mời ba trong con cùng ngồi thiền để con có thể hiểu và thương ba nhiều hơn.

Và trên hết, con muốn nói với ba: ba là ba của con, ba đã luôn là một phần không thể thiếu trong cuộc đời con.

Con yêu ba,

Con gái nhỏ của ba:

Chân Trăng Hiếu Đức

(Sư cô Chân Trăng Hiếu Đức là người Hong Kong. Sư cô xuất gia năm 22 tuổi trong gia đình cây Hạt Dẻ. Sư cô là một người trẻ dễ thương, năng động và tràn đầy nhiệt huyết. Sư cô rất yêu âm nhạc và đã tự sáng tác nhiều bài thiền ca góp phần tan tỏa chất liệu bình an và nuôi dưỡng đến các bạn thiền sinh trên khắp thế giới. Bức thư gửi ba của sư cô đã được BBT chuyển ngữ từ Tiếng Anh.)


 

 

Phòng Thở

(Trích trong cuốn sách “Đạo Phật của tuổi trẻ” của Sư Ông Làng Mai)

Trong thế kỷ thứ 21, mỗi nhà đều cần phải có một căn phòng, gọi là phòng tĩnh tâm, thiền phòng, hoặc phòng thở. Trong nhà, chúng ta có đủ thứ phòng: phòng khách, phòng bếp, phòng ăn, phòng ngủ, nhưng chúng ta còn thiếu một căn phòng để dành cho đời sống tâm linh của ta. Nhiều lúc ta cần nuôi dưỡng chính ta, để ta có thể tĩnh tâm, tìm lại niềm vui và sự thăng bằng. Vì vậy ta cần thiết lập một phòng thở trong gia đình để cho cha mẹ và con cái thực tập với nhau. Đó là lãnh thổ của bình an, tĩnh tâm và chánh niệm. Mỗi khi bước vào phòng là bước vào lãnh thổ của Đức Thế Tôn. Ta bước rất nhẹ và chánh niệm, vì có Đức Thế Tôn đang ngự tọa trong phòng.

Căn phòng đó nhỏ thôi, hai hoặc ba thước cũng được. Không cần phải trang trí nhiều, chỉ cần một cái bàn nho nhỏ, bình hoa với một bông hoa. Quan trọng nhất là ta có một cái chuông nhỏ. Nếu ta tìm được một tượng Bụt đẹp mà khi nhìn vào ta có cảm giác thanh thoát và nhẹ nhàng thì ta mới nên thỉnh tượng về để trong phòng thở, còn nếu không thì ta nên chờ đợi. Trong khi chưa có tượng Bụt, ta có thể cắm một bông hoa vào trong bình. Bông hoa đó tượng trưng cho Đức Thế Tôn. Mỗi khi ta xá bông hoa là ta đang xá Bụt. Bông hoa có sự tươi mát và sự mầu nhiệm, đại diện cho cả vũ trụ. Vì vậy bông hoa xứng đáng đại diện cho Bụt trong khi chúng ta chờ đợi để thỉnh một tượng Bụt thật đẹp.

Mỗi khi trong lòng bất an, giận hờn, buồn tủi thì ta có thể đi vào phòng thở để tập thở với tiếng chuông. Tiếng chuông là tiếng gọi của Đức Thế Tôn gọi ta trở về với tự tâm để giúp ta làm mới lại mình và khôi phục sự vững chãi, thảnh thơi và an vui trong hiện tại. Trong gia đình chúng ta phải ký một hiệp ước với nhau là mỗi khi có người đang thực tập trong phòng thở thì tất cả những người khác phải tắt hết radio, Ti-vi,… Và nếu ta đang học bài, nấu bếp,… thì ta cũng làm những công việc đó trong yên lặng, ta tôn trọng sự thực tập của người kia. Người kia đang bất an, giận dữ, buồn tủi nên người đó rất cần sự thanh tịnh. Vậy nên ta cũng thực tập như vậy để yểm trợ người kia. Trong chùa chúng tôi cũng làm như thế, buổi sáng trong khi đại chúng công phu và thiền tọa, thì những vị ở dưới bếp làm thức ăn sáng cũng thực tập làm việc trong im lặng, theo dõi hơi thở, lắng nghe tiếng chuông cũng như tiếng kinh. Trong gia đình chúng ta cũng có thể thực tập như vậy.

Trong gia đình, phòng thở như là một thiền đường nhỏ. Nơi ấy cho chúng ta không gian để làm mới lại thân tâm, giúp ta khôi phục lại sự bình an, vững chãi và thảnh thơi. Vì vậy nên mọi người trong gia đình, từ cha mẹ đến con cái đều phải tôn trọng không gian ấy. Chỉ vào phòng thở những lúc mình cần thực tập thôi, không được dùng phòng thở cho những mục đích khác.

Hạnh phúc của cha mẹ là món quà quý giá nhất cho con

Không khí trong gia đình có thể trở nên ngột ngạt rất nhanh. Nhiều khi cha nói một câu gì đó làm mẹ đau khổ. Rồi mẹ khóc hay là mẹ nói lại một câu gì đó làm cho cha bực bội. Không khí gia đình phút chốc trở nên khó thở. Bầu không khí căng thẳng và ngột ngạt đó không lành mạnh cho những đứa con. Khi cha mẹ làm khổ nhau thì vô tình làm tổn thương trái tim của những đứa trẻ. Trái tim của các em còn ngây thơ, dễ bị tổn thương. Mỗi khi nghe ba nói một câu nặng nề với mẹ, thấy mẹ khóc, cha nổi trận lôi đình thì trái tim em bé cũng đang đi qua một vùng bão tố lớn. Khi người lớn nổi giận và làm khổ nhau thì họ không để ý tới điều đó. Ta vô tình gây thương tích trong trái tim của những đứa con mà ta không hay biết. Đứa bé lớn lên, sẽ giữ mãi những vết thương ấy trong lòng. Nhiều người trẻ đã tâm sự rằng: “món quà lớn nhất mà cha mẹ có thể để lại cho chúng con chính là hạnh phúc của cha mẹ”. Nếu cha mẹ không hạnh phúc, chỉ làm khổ nhau thì không để lại được gì cho các con hết. Các con không cần một chiếc xe hơi, một tài khoản tiết kiệm, hay một căn nhà lầu. Điều các con cần nhất là hạnh phúc của cha mẹ, là không khí đầm ấm của gia đình-tổ ấm mà các em được nuôi dưỡng và lớn lên. Là cha mẹ, chúng ta hãy lắng nghe tiếng nói của trẻ thơ.

Ngày xưa ở Việt Nam, nhà thường có vườn rộng, hay ao, hồ xung quanh. Mỗi khi đau khổ, em bé có thể chạy ra vườn hoặc chạy qua nhà hàng xóm, nhà dì, nhà cô, nhà chú để than thở và trốn tránh. Nhưng bây giờ ở chung cư, em bé không có cách nào để chạy trốn không khí nặng nề và ngạt thở ấy. Dù có chạy vào toilet và đóng cửa lại nhưng tiếng cãi vã của cha mẹ vẫn vọng vào như thường. Nếu có phòng thở, em bé có thể trốn vào đó và thỉnh lên một tiếng chuông. Khi cha mẹ nghe tiếng chuông ấy, cả hai người đều biết rằng mình đang làm khổ con và sẽ ngừng cãi nhau, ngừng làm khổ nhau. Tiếng chuông mà em bé thỉnh lên trong phòng thở là một tiếng kêu cứu rất lớn. Em bé kêu cứu Bụt và kêu cứu cha mẹ.

 

 

Tiếng chuông chánh niệm

Nếu là một gia đình tin Phật, chúng ta phải cam kết với nhau, cam kết giữa cha mẹ và con cái là mỗi khi nghe chuông thì tất cả đều dừng lại để trở về theo dõi hơi thở. Nhờ đó ta có thể khôi phục lại sự thanh tịnh, an lạc trong mình. Phòng thở là lãnh thổ của bình an và hòa thuận. Khi chúng ta đã vào phòng thở ngồi, thì không ai có quyền đi theo. Những khi em bé bị la rầy và em bé đi vào phòng thở, em bé ngồi thỉnh chuông thực tập thì cha mẹ không có quyền đi theo để la mắng. Mỗi khi người vợ cảm thấy đau buồn và khổ sở thay vì vào trong phòng và khóa cửa khóc một mình thì nên học cách đi thiền hành về phía phòng thở. Sau đó khi vào phòng thì xá Đức Thế Tôn, rồi thỉnh chuông và ngồi xuống thực tập. Khi nghe tiếng chuông vọng lên, người chồng biết là người vợ đang đau khổ. Người chồng sẽ quán chiếu và nhìn lại xem mình đã nói gì, đã làm gì để cho người vợ của mình đau khổ như vậy. Các con cũng thực tập để yểm trợ mẹ, khi biết mẹ đang đau khổ thì các con sẽ nhẹ nhàng hơn, im lặng hơn trong những động tác thường ngày.

Mỗi buổi sáng, trước khi đi làm hoặc đi học, chúng ta có thể dành vài phút mở cửa và bước vào phòng thở một cách nhẹ nhàng. Sau khi khép cửa lại, ta xá Bụt hoặc xá bông hoa, ngồi xuống và bắt đầu thỉnh chuông. Chúng ta thực tập theo dõi hơi thở vào và hơi thở ra theo bài kệ “thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười”. Chúng ta thực tập theo dõi hơi thở như vậy trong khi thỉnh và lắng nghe ba tiếng chuông. Với mỗi tiếng chuông chúng ta thực tập ba hơi thở vào và ra. Rồi ta đứng dậy xá chào Bụt và đi làm. Nếu con chúng ta còn đi học thì ta cũng dạy cho các con thực tập như vậy. Sau khi mặc áo, soạn sách vở xong thì đến phòng thở, để cặp ở bên ngoài, mở cửa nhẹ nhàng, thở vào thở ra rồi bước vào phòng. Khi bước vào phòng, cháu hướng về bàn thờ xá Bụt hoặc xá bông hoa một cái, rồi ngồi xuống và thực tập thỉnh chuông y như vậy. Thở được chín hơi, cháu đứng dậy, xá Đức Thế Tôn, mở cửa đi ra ngoài, cầm cặp sách và đi học.

Thông thường, chúng ta hay chúc nhau một ngày mới tốt lành, nhưng đó chỉ là lời chúc, còn đây là sự thực tập. Nếu chúng ta bắt đầu ngày mới với nụ cười ý thức và những hơi thở chánh niệm thì chúng ta đã thật sự khởi đầu ngày mới rất nhẹ nhàng và an lạc rồi. Trước khi đi ngủ chúng ta cũng thực tập như buổi sáng, vào phòng thở, ngồi xuống và thỉnh lên ba tiếng chuông. Chúng ta tập thở trước khi đi ngủ. Ta cần phải làm như vậy và tập cho các con chúng ta làm theo. Đó là một nếp sống đẹp.

Trong các gia đình Thiên Chúa giáo, trước khi đi ngủ các em bé thường chắp tay cầu nguyện. Bây giờ không còn nhiều em làm như vậy nữa. Nhưng ngày xưa, trước khi lên giường, các em quỳ dưới chân giường và nói chuyện với Chúa. Đó là một hình ảnh rất đẹp. Đức Thế Tôn là người mà chúng ta kính trọng và yêu mến. Chúng ta có thể trò chuyện với Đức Thế Tôn, vì Người ở ngay trong trái tim của chúng ta. Mỗi khi em bé khóc, giận hờn hay buồn tủi thì cha hoặc mẹ có thể nói với em: “Con ơi, cầm lấy tay cha, và hai cha con mình sẽ cùng đi vào phòng thở để thực tập với nhau”. Ta nắm tay em bé với tất cả tình thương, dắt em bé đi từng bước vững chãi và nhẹ nhàng tới phòng thở. Từ giây phút được cha hay mẹ nắm tay thì em bé đã thấy đỡ nhiều rồi. Nếu có cha, có mẹ biết thực tập, và hướng dẫn cho mình thực tập thì đó là một điều rất mầu nhiệm. Ta mở cửa phòng thở, bước vào, đóng cửa nhẹ nhàng, xá Bụt rồi ngồi xuống và bắt đầu thỉnh chuông. Hai cha con hoặc hai mẹ con ngồi thực tập với nhau, giúp cho em bé lấy lại sự trầm tĩnh trong tâm hồn. Đó là một hành động rất đẹp trong gia đình. Chúng ta có thể mua một bức tranh đắt tiền của Van Gogh. Nhưng bức tranh đó không đẹp bằng hình ảnh hai mẹ con, hai cha con ngồi xuống thực tập với nhau. Khi người kia nói một câu xúc phạm tới ta, làm cho ta đau khổ, thay vì cãi lại, ta trở về chăm sóc cơn giận của mình. Ta đứng dậy, theo dõi hơi thở ý thức và bước những bước thiền hành về phía phòng thở.Thấy như vậy, người kia sẽ biết nhìn lại: họ đã nói gì, làm gì khiến cho ta đau khổ. Đó là tiếng chuông chánh niệm. Khi thấy sự thực tập của ta, trong tâm người đó sẽ phát sinh niềm cung kính và tôn trọng.

Giấc mơ lớn nhất của đời anh là gì?

 

Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai trong ngày Quán niệm dành cho người Việt (18/08/2013), tại Đại học Brock, Canada

Trong đời sống hàng ngày, chúng ta có nhiều mối lo lắng và quan tâm như làm sao để có công ăn việc làm, có nhà, có xe, có tiền đủ để cho con đi học, làm sao để không bị bênh… Những quan tâm đó gọi là quan tâm thường nhật. Các con của mình còn nhỏ nên chúng không cần phải lo. Chúng ta là bố mẹ nên phải lo. Và có thể  những mối quan tâm thường nhật đó lấy hết thì giờ nên mình không có cơ hội thực hiện những ước vọng sâu sắc nhất.

Ngoài những tiện nghi vật chất, mình còn đi tìm những tiện nghi tình cảm. Là con người chúng ta cần tình cảm, cần tình thương. Nếu mình có khó khăn trong truyền thông với chồng, vợ, hay với con của mình thì mình không có hạnh phúc. Hai vợ chồng không nói chuyện được với nhau; hai cha con không nói chuyện được với nhau. Điều đó làm ta khổ. Khi thiếu thốn những tiện nghi tình cảm, khi trong gia đình không có hạnh phúc thì chúng ta có xu hướng tìm kiếm những tiện nghi tình cảm ở ngoài. Mình vướng vào người này, vướng vào người khác. Gia đình của mình càng ngày càng khó khăn, càng lục đục. Vì mải mê đi tìm những tiện nghi vật chất và tình cảm mà chúng ta không còn thì giờ để tu học.

 Có khi nào quý vị có thời gian ngồi lại và tự hỏi: “Mình muốn làm gì với cuộc đời của mình? Mình có một chí nguyện nào muốn thực hiện không? Mình có ước mong gì sâu sắc hơn, cao siêu hơn là chuyện kiếm sống và đi tìm những tiện nghi vật chất và tình cảm không?” Đó gọi là mối quan tâm tối hậu. Có khi nào quý vị ngồi xuống và hỏi bố mình: “Bố ơi, trong cuộc đời của bố, bố có ước mơ nào mà bố muốn thực hiện không? Nếu bố chưa thực hiện được thì bố có muốn con thực hiện giúp bố không?” Quý vị đã có cơ hội đó chưa? Nếu cứ mải mê đi kiếm những tiện nghi bên ngoài thì làm sao có thì giờ để nghĩ tới những quan tâm tối hậu ấy. Hay quý vị chỉ nói chuyện về tiền bạc, về tiện nghi vật chất mà thôi?

Hai cha con có thể nói chuyện với nhau về những ước mơ sâu sắc nhất của một đời người. Có khi nào quý vị ngồi với mẹ để thăm hỏi như vậy chưa? Mẹ mình suốt đời bận rộn lo toan cho chồng con. Lúc trẻ chắc mẹ cũng có một ước mơ nào đó chứ? Không có lẽ suốt đời chỉ bận tâm về những tiện nghi vật chất và tình cảm thôi sao? Có khi nào chúng ta hỏi mẹ: “Mẹ ơi, mẹ có ước mơ nào mà mẹ chưa thực hiện được không? Mẹ có muốn con thực hiện giúp cho mẹ không?” Khi hai mẹ con chia sẻ được chuyện đó thì mình sẽ có tương lai và giống nòi sẽ có tương lai. 

Trên đời có những người được  gọi là đại nhân. Đại nhân không phải là những người to lớn mà là những người có chí nguyện. Họ có ước mong lớn và họ thực hiện được ước mong đó. Hoặc có thể là họ thực hiện được một phần ước mong đó và họ muốn con cháu của họ tiếp tục thực hiện ước mong đó cho họ. Quý vị là một cặp vợ chồng đang sống chung với nhau. Có khi nào quý vị ngồi với nhau để hỏi nhau: “Cuộc đời của mình có phải chỉ là sinh vài đứa con thôi sao? Anh có chí nguyện nào, anh có ước mơ nào muốn thực hiện không? Em có ước mơ nào muốn thực hiện không?”.

Nếu hai vợ chồng không có thời gian để chia sẻ những điều ấy thì rất đáng tiếc. Không lẽ cuộc đời mình chỉ là để đi tìm kiếm những tiện nghi vật chất và tình cảm thôi sao? Khi hai vợ chồng chia sẻ được với nhau thì trở thành đồng chí của nhau và hạnh phúc gia đình sẽ lớn lên. Khi mới cưới, tình yêu luôn rất đẹp. Chúng ta nghĩ rằng không có nhau thì không sống nổi. Nhưng tình yêu cũng giống như bất cứ một sự sống nào, nó cũng cần có thức ăn. Dù cho có đẹp đến mấy đi nữa mà nếu mình không biết cách nuôi dưỡng thì tình yêu cũng sẽ chết. Tình yêu sẽ biến thành sự chán nản, và sự giận hờn.

Giống như bông hoa, nếu mình không chăm sóc, không tưới nước thì hoa sẽ héo tàn, và sẽ biến thành rác. Tình yêu cũng như vậy. Nếu không biết cách gìn giữ và nuôi dưỡng thì chỉ trong vòng vài năm là tình yêu ấy sẽ trở nên ốm o, gầy mòn và bắt đầu chết dần. Đức Thế Tôn dạy rằng không có gì có thể sống sót được nếu không có thực phẩm. Chúng ta đã học cách nuôi tình yêu chưa? Hay là sống với nhau vài năm thì chán nhau và đi tìm kiếm những cái mới mẻ ở ngoài để rồi gây ra sự xáo trộn trong gia đình.

Đứa con của mình lúc mới chào đời rất đẹp, rất dễ thương. Đứa con cũng là đối tượng của tình yêu. Nếu mình không biết cách nuôi dưỡng tình yêu đó thì sau này có thể mình sẽ ghét, sẽ từ đứa con của mình. Mình sẽ thấy rằng nó không phải là con của mình. Vậy nên mình phải học cách nuôi dưỡng tình yêu giữa mình với con. Học cách làm thế nào để trao truyền hạnh phúc, trí tuệ, kinh nghiệm của mình cho con. Để đứa con sẽ trở thành sự tiếp nối đẹp của mình về  phương diện hình hài và lý tưởng. 

 

 

Có hiểu mới có thương

Một hôm có một nữ ký giả của tờ báo Elle ở Paris về phỏng vấn các sư cô. Tờ báo Elle là một tờ báo phụ nữ. Các sư cô ở Xóm Mới đã mời bà ở lại bảy ngày để cùng thực tập. Nếu chỉ có phỏng vấn thì bài viết sẽ không truyền tải được nội dung. Phải thực tập mới hiểu được. Vị nữ ký giả đó ở lại 6 ngày thì tôi tới thăm và giảng cho các sư cô. Nhân tiện bà ấy muốn phỏng vấn tôi và tôi nói : “Bà về bà viết như thế nào mà giúp người ta chuyển hóa được mới hay. Nếu chỉ viết lý thuyết thì không hay lắm”.

Tôi chia sẻ với bà một phương pháp thực tập. Tôi nói rằng nếu bà biết được phương pháp thực tập này thì bà sẽ giúp cho nhiều cặp vợ chồng tìm lại được hạnh phúc. Tôi gợi ý là bà hãy viết như vậy: “Sau khi ăn cơm chiều xong như thường lệ, ông vào phòng khách và xem ti vi. Trong khi rửa bát, và dọn dẹp ở bếp thì bà thực tập theo dõi hơi thở “Thở vào tâm tĩnh lặng. Thở ra miệng mỉm cười”  làm lắng dịu nỗi khổ niềm đau trong mình. Sau đó, bà đi vào phòng khách và ngồi xuống bên cạnh ông. Bà vẫn tiếp tục thực tập hơi thở chánh niệm. Thở cho đến khi nào cảm thấy trong lòng thoải mái, lắng dịu rồi thì mới quay sang và nói với ông : “Anh ơi, anh có thể tắt tivi được không? Em có chuyện quan trọng muốn nói với anh.”

Khi nghe bà nói như vậy ông rất ngạc nhiên:”Không biết bà ấy muốn cái gì đây?” Ông ngán lắm nhưng bắt buộc phải làm. Ông tắt tivi rồi xoay lại sẵn sàng để đối chiến. Vẫn giữ nụ cười, bà nói: “Anh ơi, tại sao mình có đủ hết: có nhà, có xe, có công ăn việc làm, có tài khoản tiết kiệm, mà mình vẫn không có hạnh phúc? Anh thử nghĩ giúp em là tại sao lại như vậy? Anh có ý gì không?”. Mình khéo léo mời người bạn đời của mình chia sẻ để tìm hiểu sự thật là tại sao mình có rất nhiều điều kiện hạnh phúc mà lại không hạnh phúc. Có nhiều người không được như mình. Họ không có một ngôi nhà, xe hơi, hay công việc như mình. Mình có tất cả nhưng tại sao mình lại không có hạnh phúc?

Hai vợ chồng cần dành thời gian để nhìn lại tình trạng của mình, tại sao có đầy đủ tiện nghi như vậy nhưng không có hạnh phúc? Nhiều khi ông mở tivi xem, mặc dù chương trình tivi rất dở nhưng ông vẫn xem. Nếu tắt tivi đi thì ông không biết làm gì. Nói chuyện với bà thì không có hạnh phúc. Ngày xưa chỉ cần nhìn nhau là đủ hạnh phúc rồi. Bây giờ nhìn nhau thì không thấy hạnh phúc nữa, chỉ thấy cái mặt muốn ghét. Ngày xưa thì nói “không có em làm sao anh sống nổi”, nhưng bây giờ có em thì sống hơi khó. Cho nên xem tivi không phải vì mê tivi,  mà chỉ để khỏa lấp sự trống trải, khỏa lấp những nỗi khổ niềm đau trong mình.

Bà cũng vậy. Bà đọc tiểu thuyết, nghe nhạc hay lên mạng Internet không phải vì bà thích mấy thứ ấy. Bà cũng có những nỗi khổ, niềm đau, sự trống trải, cô đơn nên bà đi tìm những cái khác để khỏa lấp. Cả ông cả bà đều làm giống hệt nhau. Không biết cách nuôi dưỡng tình yêu, mình để cho tình yêu chết dần. 

Quý vị đã đọc cuốn “Hoàng tử bé”(Le petit prince) của Antoine de Saint-Exupéry chưa?. Trong truyện ông có viết một câu: “Yêu nhau không phải ngồi đó để nhìn nhau mà cùng nhau nhìn về một hướng”. Câu nói này rất đúng và rất hay. Nghĩa là khi mình đã yêu nhau thì mình phải có chung một lý tưởng. Tôi nghĩ rằng mình cũng có thể nhìn nhau. Trước hết là mình nhìn nhau và thấy được vẻ đẹp của nhau. Nếu không đẹp thì mình cưới nhau làm gì. Anh là hoàng tử còn em là công chúa của anh. Yêu nhau mình có quyền ngồi nhìn nhau, để thưởng thức nét đẹp của người mình yêu. Đồng thời, khi nhìn nhau mình cũng nhìn thấy những nỗi khổ, niềm đau của nhau. Chúng ta không ai không có nỗi khổ, niềm đau. Có thể những nỗi khổ, niềm đau ấy được bố mẹ hay ông bà trao truyền lại. Nhiều khi bận rộn quá nên mình không có thời gian để lắng nghe và tìm hiểu những nỗi khổ niềm đau của người mình thương. Khi thấy được nỗi khổ niềm đau của người kia thì tự nhiên tình thương và lòng từ bi của mình được biểu hiện. 

 Năng lượng của từ bi có khả năng trị liệu và nuôi dưỡng. Khi nhìn người yêu không phải là chỉ nhìn thấy cái đẹp, cái lành của người yêu. Mình cũng thấy được những khó khăn, những nỗi khổ, niềm đau của người yêu. Khi hiểu được những nỗi khổ, niềm đau đó thì mình càng thêm thương. Mình muốn nói hay muốn làm một điều gì đó cho người yêu mình bớt khổ.  “Từ” có nghĩa là hiến tặng niềm vui còn “Bi” có nghĩa là làm vơi nỗi khổ. Tình yêu đích thực có Từ và có Bi. Khi nhìn người yêu, mình nhận diện sự có mặt quý giá của người ấy tức là mình hiến tặng niềm vui cho người yêu. Khi nhìn thấy khổ đau của người ấy và mình nói một câu hay làm một điều gì đó giúp người kia bớt khổ,.

Trong đạo Bụt, giáo lý về thương yêu rất sâu sắc và rõ ràng. Muốn thương thì phải hiểu. Nếu anh không hiểu thì anh không thương được. Nếu cha không hiểu con thì không thể nào thương con. Phải hiểu, phải thấy được những khó khăn, những đau khổ của con thì mới thương được. Nếu không thì chỉ có la rầy và đánh mắng. Con cũng vậy, muốn thương cha thì phải thấy được những khó khăn, bức xúc, nỗi khổ và niềm đau của cha thì mới thương cha được. Cho nên thương được làm bằng hiểu. Nếu quý vị không hiểu được những nỗi khổ, niềm đau, khó khăn của người kia thì đừng nói là tôi yêu anh hay tôi yêu em. Quý vị có thể hỏi người kia như thế này: “Này em, em có nghĩ rằng anh đã hiểu được em chưa? Nếu anh chưa hiểu được em thì em hãy giúp anh. Nói cho anh nghe những nỗi khổ, niềm đau của em.” Đó là tu tập.

Mình thương con thì mình phải hiểu được những nỗi khổ niềm đau của con. Nếu cứ tiếp tục rầy la, trừng phạt thì đó không phải là thương. Mình yêu người bạn đời của mình thì mình phải lắng nghe, phải tìm hiểu những nỗi khổ, niềm đau, những khó khăn của người đó. Và luôn luôn phải hỏi để người đó có cơ hội chia sẻ cho mình hiểu. Nhiều khi nỗi khổ niềm đau của chính mình mình cũng chưa hiểu được thì làm sao mình có thể hiểu được nỗi khổ niềm đau của người kia. Cho nên ta phải thiết lập truyền thông, phải chia sẻ và trao đổi với nhau thường xuyên để có thể hiểu nhau hơn. Khi có hiểu thì mới có thương.

Khi nói “nhìn về một hướng” tức là hai người đồng tâm đồng chí với nhau. “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”. Đó là cùng nhìn về một hướng. Trong trường hợp này vợ chồng cùng nhìn về một hướng, nhưng hướng này là hướng tivi. Nhìn về một hướng để cho đỡ khổ. Vì mình không nhìn nhau được cho nên mình phải nhìn về hướng tivi cho bớt khổ. Đó là một bi kịch trong gia đình.

Khi hai vợ chồng không thương nhau, không hiểu nhau thì làm sao dạy được các con? Giữa hai thế hệ có một khoảng cách lớn. Nhất là khi sống ở một đất nước lạ với nền văn hóa khác biệt. Các con của mình sinh ra và lớn lên xã hội Tây phương và học những thói quen của người Tây phương. Lối sống của người Tây phương có những điều hay nhưng cũng có những cái chưa hay. Mình thuộc về một văn hóa khác, con mình lại thuộc về một văn hóa khác, vì vậy sự truyền thông giữa cha mẹ và con cái trở nên khó khăn. Nếu mình là cha mẹ thì mình có thời gian để ngồi chơi với con cái không? Nếu mình là người trẻ thì có bao giờ mình hỏi bố: “Bố ơi, hồi còn bé bố chơi cái gì? Bố kể cho con nghe đi”. Mình kể cho con của mình nghe những trò chơi ngày xưa của mình. Bây giờ các con của mình chơi những trò chơi rất khác. Hai cha con kể cho nhau nghe những trò chơi như vậy của hai thế hệ. Điều đó rất nuôi dưỡng.

Bố có thể trao truyền cho con những trò chơi rất đơn giản nhưng đem lại nhiều niềm vui. Mẹ cũng vậy. Ngày xưa, mẹ có những trò chơi rất đơn giản mà cũng có rất nhiều hạnh phúc. Mẹ không chơi những trò điện tử như con. Nếu hai mẹ con bàn với nhau và trao đổi được với nhau như vậy thì rất tốt. Từ từ, khoảng cách giữa hai nền văn hóa sẽ được thu ngắn lại. Khi có thời gian, mẹ hãy hỏi con: “Ở trường các con sinh hoạt như thế nào? Các con chơi như thế nào? Con thích cái gì? Con không thích cái gì?” Nếu ông bà không có thì giờ để ngồi với con , để hỏi chuyện con, để hiểu được những khó khăn, nỗi khổ niềm đau của chúng thì làm sao có được sự truyền thông giữa cha mẹ và con cái?

Đừng tưởng rằng các con còn trẻ không có vấn đề. Tuổi trẻ bây giờ có rất nhiều vấn đề. Tuổi trẻ cũng có nỗi khổ, niềm đau của tuổi trẻ. Vậy nên sự truyền thông giữa cha với mẹ, giữa cha mẹ và con rất quan trọng. Nếu chúng ta quá bận rộn, để hết thời gian cho việc tìm kiếm những tiện nghi vật chất thì sẽ không thể làm được việc ấy. Hạnh phúc của mình không chỉ do vật chất mà có.

Ở Làng Mai chúng tôi sống rất đơn giản. Không ai có tiền lương, nhà riêng hay xe hơi riêng. Cái gì cũng chung hết. So với cuộc sống của người cư sĩ thì chúng tôi tiêu thụ rất ít. Chúng tôi ăn chay và trồng rau để tự cung cấp một phần. Nhưng chúng tôi cũng có thời gian để ngồi với nhau, để than thở với nhau, để tâm sự với nhau về những nỗi khổ niềm đau của chúng tôi. Chúng tôi biết  sự truyền thông rất quan trọng. Nếu không có hạnh phúc, không có đoàn kết, không có tình huynh đệ thì chúng tôi không nên đi mở khóa tu. Vì nếu mình không có hạnh phúc thì làm sao mình có thể giúp cho người khác có hạnh phúc được?

Vì vậy nên chúng ta cần tổ chức lại đời sống của mình. Nếu cần thì chúng ta có thể làm việc ít lại, không cần phải có thật nhiều tiền thì mới có hạnh phúc. Sống đơn giản lại. Sống đơn giản như vậy nhưng mà hạnh phúc rất lớn. Chúng tôi đã làm được như vậy. Nhất là khi thấy thiền sinh tới tu học và đạt được nhiều chuyển hóa, hòa giải được với gia đình thì chúng tôi có hạnh phúc lắm. Chúng tôi thấy đời sống của mình có ý nghĩa. Tôi mong rằng các bạn sẽ tổ chức lại cuộc sống của các bạn.

 

 

Gia tài lớn nhất

Khóa tu mùa hè năm nay có một thiền sinh từ Hà Tĩnh tới. Cô ấy được nghe tôi giảng lần đầu tiên tại khách sạn Melia ở Hà Nội và cô đã tới tham dự khóa tu mùa hè tại Làng Mai. Sau khi nghe giảng về đề tài này thì cô hỏi: “Thầy ơi, thầy có giấc mơ nào mà thầy chưa thực hiện được không? Chúng con sẽ thực hiện cho thầy.” Cô muốn áp dụng ngay lập tức giáo lý vừa mới được học. Tôi trả lời như thế này: “Cám ơn con. Thầy có một may mắn là chưa bao giờ đánh mất liên hệ với người trẻ. Và thầy có sự may mắn thứ hai là thầy đang thực hiện được giấc mơ của thầy mỗi ngày”.

“Thầy có một sự may mắn là thầy chưa bao giờ đánh mất sự liên hệ với thế hệ trẻ. Tuy rằng 30 năm nay thầy không dùng điện thoại”. Điều đó là sự thật. Tôi không dùng điện thoại 30 năm nay, vậy mà liên hệ của tôi với thế hệ trẻ không bao giờ bị đứt đoạn. Tôi có rất nhiều đệ tử trẻ tuổi. Có nhiều người rất trẻ. Đừng tưởng rằng phải có điện thoại, phải có email thì mới có liên hệ. Mình phải có khả năng lắng nghe, phải có khả năng hiểu thì tự nhiên mình sẽ có sự kết nối. Chìa khóa ở đây là mình biết lắng nghe. Mình thấy được những nỗi khổ niềm đau của người kia, dù đó là một người đang còn rất trẻ.

Giấc mơ của Thầy rất đơn sơ. Hồi 9 tuổi, lần đầu tiên thấy bức hình của Đức Thế Tôn ngồi bình an trên bãi cỏ ở bìa của một tờ báo tạp chí Phật Học Thầy đã cảm thấy chấn động. Ngồi trên cỏ nhưng Ngài ngồi một cách thoải mái, an lạc. Bức họa đã tạo cảm hứng cho Thầy. Tự nhiên cậu bé nhỏ xíu nghĩ rằng: bây giờ mình làm thế nào để được giống như người này, ngồi rất thoải mái, rất an lạc. Ước muốn đi tu để trở thành một người như vậy đã ươm mầm ở nơi cậu bé. Lớn lên đọc lịch sử và thấy đời Lý, đời Trần là những triều đại mà đất nước có nhiều hạnh phúc, các vị Vua đều biết tu tập. Vua Lý và Vua Trần đều tu tập rất giỏi. Sử gia Hoàng Xuân Hãn nói rằng đời Lý, đời Trần là những đời thuần từ và hòa bình nhất trong lịch sử Việt Nam. Vua tôi thương nhau, người dân đều đồng lòng.

Chúng ta hãy nhớ lại khi Vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con trai của mình là Trần Anh Tông và đi xuất gia trên núi Yên Tử. Thời đó Phật giáo Việt Nam rất thịnh hành. Vua cha thì trở thành người xuất gia tu tập ở trên núi, chăm sóc khía cạnh tâm linh cho đất nước. Vua con thì ngồi trên ngai vàng để chăm sóc đất nước về phương diện chính trị. Đạo đức và chính trị đi đôi với nhau. Lúc đó nước ta rất hùng mạnh và đã đánh tan được sự xâm lăng của phương Bắc.

Giấc mơ của thầy là làm sao để giúp làm mới Đạo Bụt. Để  Đạo Bụt có thể phù hợp với người trẻ và người trí thức. Đạo Bụt hồi đó rất cũ và xưa, còn nhiều mê tín dị đoan. Hiện tại bây giờ mình đang có một Đạo Bụt đi vào cuộc đời, một pháp môn tu tập thích hợp với tuổi trẻ. Đạo Bụt đó đem ra để giảng dạy và áp dụng ở Âu Châu và ở Mỹ Châu. Người trẻ tuổi và người trí thức theo học rất đông. Khi đem về Á Châu, Thái Lan, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam thì tuổi trẻ, người trí thức cũng theo học rất đông. Như vậy là giấc mơ của thầy đã thành hiện thực. Thầy thấy rằng ngày nào cũng được làm những việc mình thích làm thì đâu còn ước mơ gì hơn nữa. Mỗi ngày mình thấy ước mơ của mình đang được thực hiện. Và nếu con muốn thì con có thể nối tiếp chí nguyện đó của thầy. Tức là nuôi dưỡng chí nguyện đem đạo Bụt đi vào cuộc đời để giúp chuyển hóa xã hội ở trong nước cũng như ở ngoài nước.

Nói tóm lại là đừng để mình bận rộn quá vì những lo toan, những nhu yếu về tiện nghi, vật chất. Mình phải thay đổi cách sống. Mình có thể tập tiêu dùng ít hơn để có thời gian chăm sóc cho nhau, tái lập truyền thông, hòa giải và để nuôi dưỡng con cháu. Như vậy thì hạnh phúc mới có thật. Và mình mới có thể trao truyền những gì tốt đẹp của mình cho thế hệ tương lai. Mình phải có từ bi, hạnh phúc, giải thoát, và an lạc thì mình mới có cái để trao truyền lại cho con cháu. Các loài thảo mộc và các loài động vật cũng làm như vậy. Mỗi thế hệ động vật, thực vật đều có những kinh nghiệm và trao truyền những kinh nghiệm đó qua gen cho những thế hệ sau. Mình cũng vậy. Nhờ kinh nghiệm thực tập mà mình chế tác được tình thương, hiểu biết, và hạnh phúc. Đó là gia tài mà mình có thể trao truyền lại cho con cháu của mình để con cháu sẽ tiếp tục trao truyền cho những thế hệ tiếp theo. Để lại tài sản vật chất không quan trọng. Khi mình trao truyền cho con cháu một nếp sống đẹp, nếp sống có hạnh phúc, có từ bi, có hiểu biết, có tình thương thì đó mới là gia tài quý giá nhất. Như vậy là giấc mơ lớn nhất của đời mình được thành tựu.

 

Tập khí

Trích trong sách “Hạnh phúc cầm tay” của Sư Ông Làng Mai

 

 

Có một câu chuyện thiền về một anh chàng đang cưỡi ngựa. Anh ta phi ngựa rất nhanh như thể anh đi đâu quan trọng lắm. Một người đàn ông đứng bên lề đường thấy vậy liền hỏi lớn: “Anh đi đâu vậy?”. Anh ta trả lời: “Tôi không biết. Hỏi con ngựa.” Có thể ta cười anh ta, nhưng đó cũng là câu chuyện của ta. Ta đang cưỡi ngựa mà không biết mình đang đi đâu. Và ta không thể dừng lại được. Con ngựa là tập khí của ta đang lôi kéo ta đi, còn ta thì yếu thế, bất lực. Ta luôn chạy, và chạy đã trở thành tập khí của ta. Lúc nào ta cũng đấu tranh kể cả trong khi ngủ. Ta đấu tranh với chính mình và rồi đấu tranh với người khác.

Ta phải học nghệ thuật dừng lại. Dừng lại những suy nghĩ, dừng lại những tập khí, dừng lại những thất niệm và dừng lại những cảm xúc mạnh đang thống trị ta. Khi cơn bảo cảm xúc đi lên, ta bất an, đứng ngồi không yên. Ta mở ti vi lên, rồi lại tắt ti vi. Ta cầm quyển sách lên rồi lại bỏ sách xuống. Làm sao ta có thể dừng lại tình trạng bực bội, bất an này? Làm sao ta có thể dừng lại được những nỗi sợ hãi, thất vọng, giận hờn và tham lam? Ta có thể dừng lại bằng hơi thở chánh niệm, bằng lời nói ái ngữ, bằng nụ cười ý thức và bằng cách nhìn sâu. Khi có chánh niệm, tiếp xúc sâu sắc với giây phút hiện tại thì luôn luôn sản sinh ra hoa trái hiểu biết, chấp nhận và thương yêu, khiến cho ta có ước muốn làm vơi đi nỗi khổ đau và đem niềm vui đến cho người.

Tuy nhiên tập khí thường mạnh hơn ước muốn. Ta không muốn nói và làm những điều ấy nhưng rồi ta vẫn nói và vẫn làm, sau đó ta lại cảm thấy hối hận. Ta làm cho mình, cho người khác khổ, và gây nên nhiều tổn hại cho nhau. Ta nguyện lần sau sẽ không lặp lại nữa, nhưng lần sau ta vẫn làm y như vậy. Tại sao? Tại vì tập khí đẩy ta, khiến ta làm.

Chúng ta cần năng lượng chánh niệm để nhận diện tập khí và có mặt cho nó để dừng lại quá trình phá hoại này. Nhờ chánh niệm mà ta có khả năng nhận diện tập khí khi chúng phát khởi. “Xin chào tập khí, tôi biết em ở đó”. Chỉ cần ta mỉm cười là cường độ của nó sẽ giảm xuống. Chánh niệm là một năng lượng cho phép ta nhận diện tập khí và ngăn ngừa không cho nó hoành hành ta.

Thất niệm là ngược lại. Uống trà mà ta không biết là ta đang uống trà. Ngồi với người thương mà ta không ý thức là người thương đang ở bên cạnh ta. Ta đi mà không thực sự đi. Ta mơ mơ màng màng, đang ở đâu đâu, nghĩ về quá khứ, mơ tưởng tương lai. Con ngựa tập khí lôi kéo ta và giam hãm ta. Ta phải biểu con ngựa dừng lại và giành lại tự do của mình. Ta cần chiếu ánh sáng chánh niệm vào những gì ta đang làm để cho bóng tối của thất niệm tan đi.

 

*** Bạn mến, tuần này, thương mời bạn cùng thực tập “Buông thư”. 

Tập buông thư trong thế nằm

Nằm ngửa trên mặt phẳng không có nệm, không có gối. Duỗi hai tay theo thân thể, duỗi hai chân. Mỉm cười hàm tiếu. Duy trì nụ cười hàm tiếu. Thở ra, hít vào thật nhẹ, chú ý tới hơi thở. Buông thả tất cả bắp thịt trên toàn thân thể. Tuồng như cục sáp thật mềm xuống, mềm như một tấm lụa tẩm sương. Buông thả hoàn toàn. Chỉ duy trì hơi thở và nụ cười hàm tiếu. Nghĩ tới một con mèo nằm xụ trong bếp, đụng tới thì êm như một đám bông gòn. Duy trì trong hai mươi hơi thở.

Buông thư trong tư thế ngồi

Ngồi kiết già, bán già, ngồi xếp bằng, ngồi trên hai bàn chân, hai gối quỳ hoặc ngồi trên ghế dựa buông thõng hai chân. Mỉm cười hàm tiếu. Thở, duy trì nụ cười và thư giãn toàn thân.

Thông báo về các trang thông tin chính thức Làng Mai

Kính thưa quý thân hữu, 

Trong thời gian qua, nhờ vào mạng xã hội mà những hình ảnh và lời dạy của Sư Ông Làng Mai đến được với đồng bào ở khắp mọi nơi. Chúng tôi vô cùng biết ơn các bạn quản trị viên (admin) các trang Facebook (fanpage) và các nhóm Facebook (Facebook group) đã dành thời gian, tâm sức để đầu tư, chăm sóc và làm cho những lời dạy của Sư Ông về sự thực tập chánh niệm được lan tỏa rộng rãi đến với mọi người. 

Tuy nhiên, để tránh những hiểu lầm đáng tiếc, đặc biệt là liên quan đến việc quyên góp tiền cũng như để đảm bảo tính chính xác khi trích dẫn những lời dạy của Sư Ông, chúng tôi xin đề nghị với các bạn quản trị viên, những người quản lý các trang và nhóm Facebook đang sử dụng hình ảnh và lời dạy của Sư Ông với một số sự thực tập như sau: 

  1. Xin hoan hỷ không tự ý kêu gọi quyên góp tiền bạc trên trang Facebook và nhóm Facebook đang sử dụng hình ảnh và chia sẻ giáo lý của Sư Ông Làng Mai (dù là những hoạt động từ thiện do chính trang đề xướng).

    2. Xin liên lạc với với Làng Mai theo email: vncopyright@plumvillage.orgđể nhận được sự cấp phép chính thức cho việc sử dụng những tác phẩm, hình ảnh của Sư Ông hoặc bất kỳ tài sản trí tuệ nào do Làng Mai sở hữu và/hoặc quản lý trên trang Facebook, nhóm Facebook, Fanpage và Website hoặc bất kỳ hình thức xuất bản nào khác.

    3. Khi được quyền sử dụng, xin truy cập đúng nguồn gốc, trích dẫn đúng bản gốc tác phẩm để đảm bảo tôn trọng quyền nhân thân của Sư Ông đối với các tác phẩm.

    4. Xin hoan hỷ tuyên bố Facebook, nhóm Facebook, Fanpage hoặc Website mà quý vị đang sử dụng không phải do Làng Mai quản lý hoặc sở hữu hoặc có bất kỳ mối liên hệ với Làng Mai về mặt luật pháp.

Sư Ông đã từng nói rằng Sư Ông là của núi sông, của quê hương, đất nước. Vì vậy, chúng tôi ý thức rằng những lời dạy, những pháp môn mà Sư Ông khởi xướng, kể cả những hình ảnh của Sư Ông và quý thầy quý sư cô Làng Mai cũng không phải là sản phẩm của riêng Làng Mai. Tuy nhiên, chúng tôi xin quý thân hữu hiểu cho những khó khăn của chúng tôi khi nhận được những thông tin trái chiều liên quan đến hình ảnh của Sư Ông, nhất là liên quan tới vấn đề tiền bạc. Vì vậy, chúng tôi kính mong quý vị, nhất là các bạn đang quản trị các trang Facebook sử dụng hình ảnh của Sư Ông, hoan hỷ thực hiện những lời đề nghị trên để yểm trợ cho tăng thân Làng Mai chúng tôi trong việc chia sẻ hình ảnh và những lời dạy của Sư Ông đến với mọi người một cách chánh niệm và hòa hợp.

Nhân dịp này, chúng tôi cũng xin thông báo về những Website (trang mạng), Facebook và các kênh Youtube chính thức của các trung tâm thuộc Làng Mai như sau:

 

     
Trung TâmNgôn NgữWebsiteFacebookYoutube
Làng Mai
Tiếng Việtlangmai.orgLàng MaiLàng Mai
Tiếng Anhplumvillage.orgPlum VillagePlum Village
Tiếng Phápplumvillage.org/frVillage des PruniersVillage des Pruniers
Tu viện Suối Tuệ, ParisTiếng Anhhealingspringmonastery
 Tiếng Pháphttps://sourceguerissante.fr/
Thiền đường Hơi Thở Nhẹ, ParisTiếng Phápmaisondelinspir.org
Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu, Đức
Tiếng Việt Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu
– Làng Mai Đức
Tiếng Anh
Tiếng Đức
Tu Viện Vườn Ươm, Thái Lan
Tiếng Việtlangmaithailan.orgTu viện Vườn Ươm –
Làng Mai Thái Lan
Tiếng Anh 
 Tiếng Tháithaiplumvillage.org
Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Á, Hồng Kông
Tiếng Việt
Tiếng Anh
Tiếng Trung
Tu viện Lộc Uyển (California, Mỹ)Tiếng Anhdeerparkmonastery.orgDeer Park MonasteryDeer Park Monastery
Tu viện Bích Nham (New York, Mỹ)
Tiếng Việthttps://tuvienbichnham.org/  
Tiếng Anhbluecliffmonastery.orgBlue Cliff MonasteryBlue Cliff Monastery Online
Tu viện Mộc Lan, (Missisippi, Mỹ)
Tiếng Việt Tu viện Mộc Lan 
Tiếng Anhmagnoliagrovemonastery.orgMagnolia Grove Meditation
Practice Center
MagnoliaGroveMPC
Tu viện Nhập Lưu, Úc
 
Tiếng Việt
 
 
Tu viện Nhập LưuGallery Nhap Luu
Tiếng AnhStream Entering  Monastery 
Tu viện Sơn Tuyền, ÚcTiếng Anhmountainspringmonastery.orgMountain Spring MonasteryMoutain Spring Monastery
Làng Mai tại Việt NamTiếng Việtlangmai.orgLàng Mai Việt NamYoutube Làng Mai

Chúng tôi xin thành kính tri ân sự yểm trợ của quý thân hữu đối với Sư Ông cũng như tăng thân Làng Mai trong thời gian qua. Nguyện cầu hồng ân Tam Bảo gia hộ cho quý vị cùng gia đình một năm mới luôn mạnh khỏe và nhiều an lạc, thảnh thơi.

Trân kính và biết ơn,

Tăng thân Làng Mai.

Mùa Giáng Sinh 2020

Cứ mỗi mùa Giáng Sinh, Làng Mai luôn là mái nhà tâm linh đón hàng trăm thiền sinh từ khắp nơi trên thế giới trở về cùng thực tập và dự lễ. Năm nay, vắng bóng những hình ảnh và nụ cười quen thuộc ấy, quý thầy quý sư cô đã tổ chức một đêm Giáng Sinh trực tuyến trong bầu không khí  ấm áp và thiêng liêng để thiền sinh muôn phương có thể cùng chung vui.

Trong mùa này, Làng vẫn duy trì và bồi đắp những truyền thống cao đẹp và ý nghĩa như đi tảo mộ, tặng chả giò, hát mừng Giáng Sinh,…cho các vị thân hữu tại địa phương. Điều đó không chỉ nuôi dưỡng tình làng nghĩa xóm mà còn nuôi dưỡng những hạt giống thiện lành nơi mỗi người con của Làng.

Kính mời đại chúng cùng theo chân quý thầy, quý sư cô về thăm Làng mùa Giáng Sinh qua những khoảnh khắc dưới đây:

 

Năm mới ta cũng mới

(Trích Pháp thoại Tết dương lịch 2014 tại thiền đường Hội Ngàn Sao, xóm Hạ, Làng Mai của Sư Ông Làng Mai– được chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Anh)

Bây giờ chúng ta cùng nhau quán chiếu về năm mới. Quý vị có thể nghĩ rằng năm cũ đang rời xa chúng ta. Nhưng tôi thì không dám chắc về điều đó. Có thể năm cũ còn ở lại với chúng ta dài dài. Bởi vì năm tháng không chỉ được làm bởi thời gian, mà còn được làm bởi không gian và đặc biệt là làm bởi những hành động của chính chúng ta.

Những hành động bằng thân, bằng ý và bằng lời của chúng ta chính là Nghiệp (karma) mà ta đã tạo ra trong năm qua. Có thể trong năm mới, chúng ta bắt đầu gặt hái những nghiệp quả mà ta đã gieo trồng trong năm cũ. Vì vậy, cũng không chắc khi nói rằng năm cũ sẽ rời chúng ta, vì nó vẫn còn ở lại với chúng ta trong năm mới dưới hình thức của những nghiệp quả.

Không có gì mất đi. Những lời nói dễ thương, từ ái mà ta đã tặng cho người khác trong năm cũ sẽ đơm hoa kết trái trong năm mới. Và những hành động từ bi, đầy tình thương mà ta đã làm trong suốt năm qua, rồi ta cũng sẽ hội ngộ trong năm mới, đó chính là nghiệp quả.

Năm Mới, ta cũng mới

Chúng ta có câu đối để thực tập trong năm mới, đó là: “Năm Mới, ta cũng mới” (“New Year New Me”). Nhưng muốn cho năm mới thực sự mới thì bản thân ta cũng phải mới. Làm sao anh có thể hy vọng có một năm mới nếu như anh không có gì mới? Không thể nào có được! 

Năm mới thì ta cũng phải mới. Nếu ta không mới thì cũng không có năm mới. Điều này hết sức đơn giản, ai cũng hiểu được. Nếu ta không có gì mới mẻ thì dù ta có gọi đó là năm 2014 hay 2015, 2016…thì cũng chẳng có gì khác, nó vẫn là năm cũ thôi. Vì vậy để có một năm mới thì ta phải làm mới chính mình.

“Ta cũng mới”, đó là một sự thực tập. Chúng ta cần phải học cách làm mới chính mình. Cách chúng ta đi, cách ngồi, cách ăn, cách cười…chúng ta cần biết cách thực tập như thế nào để mỗi khi đi, khi ngồi, khi ăn, khi cười đều có thể đem lại niềm vui, niềm hạnh phúc và nuôi lớn tình thương trong ta. Đó là sự thực tập chánh niệm.

Ta có thể phát nguyện trong năm mới rằng: “Con xin nguyện thực tập đi trong chánh niệm trong cả năm. Từ bãi đỗ xe cho đến văn phòng làm việc, con sẽ thưởng thức từng bước chân của mình”. Đó là điều mà chúng ta có thể làm được, vì ta không cần phải có thêm thời gian để thực tập. Chúng ta chỉ cần thay đổi cách đi mà thôi. Từ bãi đỗ xe, ta bắt đầu thực tập thiền đi. Ta đi như thế nào để trong mỗi bước chân ta có thể tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống trong ta và xung quanh ta.

Sự sống xung quanh ta rất mầu nhiệm. Bông hoa, không khí mà ta đang thở, ánh sáng, đám mây, cơn mưa, ánh nắng mặt trời, cỏ cây, hoa lá, tất cả đều là những mầu nhiệm. Nếu ta không có đủ chánh niệm, không có mặt thật sự cho sự sống, hoặc nếu ta đang chìm đắm trong những lo lắng, đau buồn, sợ hãi, giận hờn hay trong những dự án ở tương lai thì tất cả những mầu nhiệm này của sự sống cũng không thực sự có mặt cho ta.

Anh đang ở trong nước Chúa, trong Thiên quốc, nhưng anh lại không tận hưởng được. Vậy anh hãy đến hỏi bông hoa về nước Chúa, anh sẽ nhận được câu trả lời, vì bông hoa cũng thuộc về nước Chúa. Bông hoa có ngôn ngữ của nó. Bông hoa đang kể cho anh nghe về nước Chúa. Nếu anh thật sự có mặt, và có đủ chánh niệm thì thế nào anh cũng sẽ nghe được. Bông hoa sẽ chỉ cho anh làm cách nào để tận hưởng được Thiên quốc đó.

Vì thiếu chánh niệm, chúng ta cũng không thấy được hình hài của mình cũng là một bông hoa, là một mầu nhiệm của sự sống. Hình hài của ta cũng thuộc về nước Chúa. Ấy vậy mà chúng ta đã không biết cách chăm sóc bông hoa ấy, không biết chăm sóc hình hài ta.

 

 

Vì vậy khi ta thực tập đi thiền hành từ bãi đỗ xe tới văn phòng làm việc, ta phải đi như thế nào để mỗi bước chân có thể đưa ta trở về để tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống và làm cho nước Chúa biểu hiện trong từng bước chân. Đó là sự thực tập chánh niệm.

Thời gian là sự sống

Ta chỉ cần có ý thức chánh niệm thì mỗi bước chân đều có thể đưa ta trở về tiếp xúc được với nước Chúa, với tất cả những mầu nhiệm. Không thì khi sắp sửa từ giã cõi đời này, nếu như có ai đó hỏi: “Anh đã ở trong nước Chúa, vậy anh có tận hưởng được nước Chúa chưa?” Ta trả lời rằng: “Chưa, vì tôi bận quá, làm gì có thời giờ để mà tận hưởng!”

Theo cái thấy của tôi là nước Chúa (trong đạo Bụt sử dụng danh từ Pháp thân hay cõi Tịnh Độ) luôn có mặt trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây. Điều này không khó để thấy. Nếu anh là một nhà sinh học chuyên nghiên cứu về cơ thể người, anh có thể thấy rằng cơ thể con người là một mầu nhiệm. Anh sẽ rất thích thú tìm hiểu và khám phá sự kỳ diệu của cơ thể, của đôi mắt hay của não bộ. Thật là tuyệt vời!

Nước Chúa hay cõi Tịnh Độ thực sự đang có mặt đó cho chúng ta. Nhưng chúng ta lại quá bận rộn, chúng ta không có thời giờ để tận hưởng. Vì vậy câu hỏi đặt ra cho chúng ta là: “Chúng ta có mặt cho nước Chúa, cho cõi Tịnh Độ hay không?” Năm mới mang đến cho chúng ta một cơ hội mới! Chúng ta thực tập bước đi như thế nào để nước Chúa hay cõi Tịnh Độ có mặt trong mỗi bước chân mình, để sau này chúng ta không phải hối tiếc là “mình đã từng được ở trong nước Chúa, trong cõi Tịnh Độ nhưng mình chưa từng có thời gian để tận hưởng thiên đường ấy”.

Ở Làng Mai, mặc dù chúng tôi làm rất nhiều việc, nhưng mỗi ngày chúng tôi đều có thời gian để đi cùng nhau. Chúng tôi gọi đó là thiền hành, là sự thực tập đi trong chánh niệm. Mỗi bước chân đều đưa chúng tôi trở về để tiếp xúc với nước Chúa, với cõi Tịnh Độ hiện tiền. Mỗi bước chân đều có khả năng chế tác niềm vui và hạnh phúc. Điều này tất cả chúng ta đều có thể làm được. Mỗi bước chân có niệm, có định sẽ giúp chúng ta tiếp xúc được với tất cả những mầu nhiệm của sự sống.

Khi chúng ta đi cùng nhau, thực tập cùng nhau, chúng ta chế tác ra được một nguồn năng lượng chánh niệm tập thể rất hùng hậu, nhờ vậy mà mọi người có thể thực tập dễ dàng hơn. Chúng ta có thể dễ dàng tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống và hạnh phúc liền ngay bây giờ và ở đây. Chúng ta không phải chạy về tương lai để tìm kiếm hạnh phúc. Chúng ta không còn nói “thời gian là tiền bạc”, mà chúng ta sẽ nói “thời gian là sự sống”.

Vì vậy chúng ta phải thử thách chính mình: “Liệu tôi có thể đi từ bãi đỗ xe đến văn phòng với những bước chân chánh niệm và thảnh thơi hay không?”. Nếu bạn là giám đốc của một công ty, bạn có thể chia sẻ sự thực tập này với nhân viên của mình. Bạn có thể chia sẻ rằng: “Mỗi buổi sáng khi đỗ xe và đi bộ tới văn phòng, tôi đều thực tập đi trong chánh niệm và tôi muốn mời các bạn cùng thực tập với tôi, vì khi đi như vậy, tôi thấy rất an lạc. Với mỗi bước chân ý thức tôi tiếp xúc được với những mầu nhiệm đang có mặt trong tự thân và xung quanh. Khi đi, tôi không suy nghĩ, chỉ cảm nhận sự hiện hữu của nước Chúa, của cõi Tịnh Độ trong giây phút đó mà thôi. Tôi thấy mình đang thật sự sống. Trong khi bước đi, tôi buông xuống tất cả những căng thẳng trong thân tâm. Đi mà không cần phải suy nghĩ. Điều đó giúp cho thân tâm tôi được làm mới trở lại. Đó là sự thực tập chánh niệm”.

 

 

Tình huynh đệ bao la

Chân Hội Nghiêm

Tình huynh đệ bao la” là câu thư pháp Thầy viết treo trong khóa tu xuất sĩ năm 2014 tại xóm Thượng. Tôi rất thích và có ấn tượng với câu thư pháp này. Sau khóa tu, tôi xin về treo ở xóm Hạ. Tôi thích câu thư pháp này có lẽ một phần vì tôi thích bao la. Tôi thích cái gì bao la rộng lớn, không bị ràng buộc, không bị giới hạn, không bị vướng bận. Tôi thích tự do. Mà bao la là tự do. Tôi hạnh phúc mỗi khi nhìn nó. Nhìn nó và mỉm cười.

Muốn tình huynh đệ bao la thì lòng mình cũng phải bao la. Có bao la mới chấp nhận được nhau, chấp nhận những khác biệt, những vụng về yếu kém của nhau. Có bao la mới cảm thông và tha thứ cho nhau. Có bao la mới trân quý, hạnh phúc với những vẻ đẹp và niềm vui của nhau. Thật thênh thang và sống động! Đến với huynh đệ là để hiến tặng và tận hưởng cái bao la đó.

Ấy vậy mà có lúc thấy lòng mình cũng chật chội, muốn khép cánh cửa trái tim lại, chẳng muốn mở ra để tiếp nhận thêm bất cứ điều gì. Tự nhiên tôi làm mấy câu thơ:

Tình huynh đệ bao la mà lòng mình chật hẹp

Thiên nhiên rất đẹp sao tâm cứ hững hờ?

Tình thương của Bụt không bến bờ

Sao mình cập bến không muốn ra khơi

Bước tới thảnh thơi sao mình không bước?

Ai bảo từ khước rồi ngồi đó thở than!

Đất trời thênh thang mà mình cứ vướng vào những điều vụn vặt

Con đường thẳng tắp mà mình cứ luẩn quẩn quanh co

Thầy bảo đừng lo mà mình quan tâm đến mệt mỏi

Đường đi đá sỏi mà cứ muốn trơn tru

Ai bảo không tu nên mới hoài lận đận

Thôi! Bận chi thì bận cũng nhớ thở nhớ cười

Tu học đừng lười mới đến nơi đến chốn

Những lúc nguy khốn hãy để Bụt lo
Tĩnh tại, tự do mới xứng danh con Bụt.

Làm thơ là để cho mình thực tập buông bỏ, để cho lòng mình bao la mà đón nhận những ân tình từ người khác trao tặng.

Thầy từng nói: “Không có sự giải thoát nào không đi ngang qua tình huynh đệ”. Câu nói hùng hồn của Thầy làm tôi chấn động. Tôi cứ ngỡ giải thoát giác ngộ là phải được tìm thấy trong thiền định, phải ngồi thiền ở một nơi yên vắng trong hang sâu núi thẳm hay trong rừng cây tĩnh lặng. Ai ngờ nếu không đi ngang qua tình huynh đệ thì sẽ không tìm thấy giải thoát. Giải thoát giác ngộ phải được tìm thấy trong đời sống hằng ngày, qua những tiếp xúc va chạm với huynh đệ, với những người thương chung quanh mình. Bằng không thì sự giải thoát đó có thể chỉ là sự ngộ nhận. Hay có thể đó chỉ mới là sự ngộ đạo mà chưa thực sự sống đạo. Bởi vì trong tình huynh đệ có đại từ, đại bi, đại hỷ và đại xả. Nếu không có từ, bi, hỷ, xả làm sao xây dựng được tình huynh đệ, làm sao tha thứ và cảm thông cho nhau? Mà có sự giải thoát nào lại vắng mặt từ, bi, hỷ, xả?

Trong tình huynh đệ, nếu nhìn cho thật sâu, ta cũng sẽ thấy có yếu tố thiền định trong đó. Đó là một thứ thiền định thâm sâu không có hình tướng. Bởi không có định làm sao có sự kiên nhẫn, làm sao có tình thương yêu, làm sao có tuệ giác để hiểu được huynh đệ của mình.

Thầy thường dạy: “Tất cả những gì mình làm, mình nói đều phải có mục đích xây dựng tình huynh đệ. Có tình huynh đệ thì có tất cả, không có tình huynh đệ thì không có gì hết. Không có gì quý hơn tình huynh đệ”.

Có lần Thầy kể Thầy nằm mơ, trong giấc mơ của Thầy, anh chị em từ khắp nơi trở về, nấu một nồi cơm ăn chung với nhau rất vui. Khi tỉnh dậy Thầy vẫn còn thấy vui.

Vui là bởi vì ở đó có tình huynh đệ. Tình huynh đệ đã đi vào giấc mơ của Thầy. Tình huynh đệ đơn giản chỉ thế thôi mà vui và ấm cúng vô cùng. Đâu cần phải có những thứ cao lương mỹ vị. Đâu cần những điều kiện vật chất sang trọng lớn lao mới xây dựng được tình huynh đệ. Tình huynh đệ thật đơn giản, nhưng vui và đẹp.

Có một nếp sống giản đơn không cần bày biện

Ngồi lại bên nhau ta có buổi tiệc vui.

Có những cái tình rất đơn sơ mà làm tôi cứ phải nhớ hoài. Hình ảnh các sư em đến chơi, ngồi hát cho tôi nghe, tặng cho tôi chiếc lá cỏ bốn lá, hay hình ảnh sư chị chuẩn bị phòng rất chu đáo và mời các chị em đến nghe nhạc. Những sư chị, sư anh, sư em luôn có mặt đó cho tôi, luôn sẵn sàng giúp đỡ tôi một cách vô điều kiện. Những buổi đi bộ quanh những con đường làng, những lần chị em ngồi uống trà trên biển ngắm mặt trời lên, những lần đuổi bắt hoàng hôn trên biển, những lần đi núi, mấy chị em băng từ ngọn núi này sang ngọn núi khác, hái hoa hái nấm về đốt lửa quây quần bên nhau, rất vui và đẹp. Tình huynh đệ cũng chập chùng vui và đẹp như núi rừng hùng vĩ, như biển cả bao la.

 

 

 

Nói đến tình huynh đệ thì không thể không nói đến những khóa tu xuất sĩ. Lúc đó mình có nhiều thời gian cho mình và cho nhau, không cần phải giải quyết nhiều công việc, không cần phải lo lắng chăm sóc thiền sinh. Chỉ cần có mặt cho nhau, chơi với nhau mà thấy nuôi dưỡng nhiều. Trong những khóa tu xuất sĩ tại xóm Thượng, có những buổi sáng yên lắng, mặt trời lên ửng hồng, sáng rực cả bầu trời. Từ cốc Ngồi Yên của Thầy nhìn ra khu rừng trước mặt là cả một không gian thênh thang. Nhiều anh chị em không hẹn mà đến, đều tụ về đó để ngắm mặt trời lên, để uống trà, ăn sáng trong yên lặng với nhau. Nhẹ nhàng, thênh thang và đẹp. Tôi thấy tình huynh đệ cũng đẹp, nhẹ nhàng và thênh thang không kém gì đất trời những buổi sáng ấy. Đôi khi cũng chỉ có cơm với rau luộc thôi mà chị em ngồi quây quần bên nhau, hạnh phúc và ấm cúng vô ngần.

Một buổi sáng hương cơm thơm ngào ngạt

Tình nghĩa chất đầy trong đĩa rau xanh

Một buổi sáng có tình chị tình anh

Nuôi em mãi một đời tươi sáng.

Khóa tu xuất sĩ là khóa tu để tận hưởng tình huynh đệ. Đôi khi chỉ ngồi chơi, có mặt cho nhau thôi mà nuôi nhau cả một đời. Không cần phải làm gì cả. Không cần phải nói năng, suy nghĩ nhiều. Không cần phải cố gắng. Tôi nhớ có lần làm ban tổ chức cho khóa tu, mấy chị em trong ban tổ chức ở chung một phòng với nhau. Trưa nào về phòng các sư em cũng đòi tôi làm thiền buông thư. Tất cả đều lên giường, tôi cũng lên giường, vừa buông thư, vừa làm thiền buông thư cho các chị em. Thật thanh thản và ngoạn mục như những chiếc lá mùa thu đang rơi.

Nói đến tình huynh đệ cũng cần phải nói đến tình bạn. Bởi vì chữ Từ (tình thương) trong đạo Bụt bắt nguồn từ chữ Maitri (tiếng Phạn). Mà Maitri có nguồn gốc từ Mitra, có nghĩa là Bạn. Có tình bạn rồi thì tình huynh đệ sẽ bền lâu. Nếu huynh đệ mình là bạn mình, không có một ranh giới cấp bậc thì mình sẽ cởi mở chân thành, sẽ dễ dàng buông xả, dễ dàng cảm thông và bỏ qua những lỗi lầm của nhau mà không đòi hỏi trách móc, sẽ dễ dàng hiểu và chấp nhận nhau, dễ dàng hạnh phúc với nhau. Nếu không hiểu nhau, không có sự cảm thông nhau thì sẽ không có tình thương yêu đích thực.

Tôi có những người bạn mà mỗi lần nghĩ đến là mỗi lần thấy trân quý, biết ơn và hạnh phúc. Bạn luôn có đó cho tôi, yểm trợ tôi, không đòi hỏi tôi bất cứ điều gì dù là đòi hỏi sự chuyển hóa nơi tôi. Chấp nhận tôi như tôi đang là với những vụng về yếu kém, với những lầm lỡ khó khăn, dù là bạn đang ở gần hay ở xa tôi. Những người bạn như thế dù có khi ở rất xa nhau mà vẫn thấy như rất gần. Tôi nuôi mình rất nhiều bằng những ân tình bè bạn đó.

Có tình bạn trong tình huynh đệ thì tình huynh đệ sẽ có rất nhiều tự do, không bị ràng buộc, không bị vướng bận. Sống hết lòng, cho đi cũng hết lòng, không đòi hỏi, không nắm bắt. Rộng mở thênh thang, thong dong nhẹ nhàng.

Tình thầy là ánh trăng đầy,

Tình huynh đệ, áng mây bay giữa trời.

Nói như thế không có nghĩa là tình huynh đệ chỉ có ngọt bùi, đẹp đẽ, tươi mát, nhẹ nhàng, thanh cao. Tình huynh đệ cũng có lúc đi qua những khó khăn thăng trầm. Nhưng nếu kiên nhẫn thì mình vẫn luôn còn có nhau và bồi đắp cho tình huynh đệ thêm sâu dày. Đôi khi những lúc khó khăn lại là những lúc anh chị em thương nhau nhiều nhất, dù khó khăn đó là khó khăn ngoại tại hay khó khăn nội tại. Tôi chưa bao giờ thấy lần nào mà anh chị em thương nhau như lúc bị đuổi ra khỏi Bát Nhã và ở chùa Phước Huệ, các huynh đệ gần gũi thương yêu nhau và vì nhau như anh chị em ruột thịt.

Đôi khi ta muốn em đi qua bão dông

Cho nghĩa đệ tình huynh ngày thêm thắt chặt.

Người ta đã gây khó khăn cho mình và cho huynh đệ mình nhiều rồi, mình đâu nỡ làm cho huynh đệ khó khăn khổ đau thêm nữa. Mình chỉ muốn thương yêu thôi. Có gì quý, có gì ngon cũng muốn đem đi hiến tặng. Mọi người đều hết lòng đặt tình thương vào đó để nâng đỡ, yểm trợ và xây dựng cho nhau. Những lúc tôi có khó khăn là những lúc tôi nhận được nhiều tình thương và quan tâm nhất. Các chị em có mặt cho tôi bằng tất cả trái tim, bằng những quan tâm chăm sóc hỏi han, bằng những lời tâm tình, an ủi, động viên, bằng những cái nhìn thấu hiểu. Cái tình ấy thật đẹp!

Khó khăn nội tại có lẽ là khó khăn lớn nhất. Nhưng cũng nhờ thế mà mình hiểu được thế nào là tình thương yêu, thế nào là lòng kiên nhẫn. Kiên nhẫn với chính mình và kiên nhẫn với những người chung quanh. Tuy nhiên mình phải có khả năng tha thứ, phải có khả năng buông bỏ và chữa lành thương tích. Những lúc này mà mình chấp nhận được nhau thì đó mới thực sự là tình thương yêu đích thực.

Cũng có những lúc mình bị hiểu lầm, bị oan ức, mình có cảm tưởng như không ai hiểu mình, không ai tin mình thì may thay có núi sông làm chứng cho mình: “Giờ phút này sông núi chứng minh”. Núi sông làm chứng cho lòng mình được nhẹ nhàng bao la trở lại. Trong số huynh đệ mình cũng có những người có khả năng đó. Im lặng, không nói năng nhiều mà năng lượng hùng hồn như núi sông, có khả năng làm chỗ dựa tinh thần cho mọi người quay về nương tựa, có khả năng làm cho lòng người bao la trở lại, dù có khi người đó ở cách xa mình cả ngàn dặm về mặt địa lý. Khó khăn lớn chừng nào thì khi vượt thoát rồi mình hạnh phúc chừng đó. Thật là bao la!

Tình huynh đệ bao la quá làm sao nói hết. Mong sao cho tình huynh đệ lan mãi trong nhân gian.

 

Chọn người tri kỷ

(Trích trong pháp thoại ngày 31.7.2007 của Sư Ông Làng Mai)“Tìm người tri kỷ”(Trích trong pháp thoại ngày 31.7.2007 của Sư Ông Làng Mai)

“Tại sao anh đã không chọn người khác mà chọn mình? Sự lựa chọn đó do đâu mà có? Sự ham muốn bóng sắc tự nó không đủ. Phải có điều gì đó.”

Ở bên Mỹ, có anh chàng kia rất đẹp trai, tài ba, tốt nghiệp đại học thuộc hàng ưu tú, có việc làm lương cao, và có nhiều người đẹp theo đuổi. Bà mẹ anh ta rất ngạc nhiên khi thấy anh rất thân với một cô gái không phải là đẹp nhất. Cô này hơi thấp, nước lại da hơi đen, mà tại sao con trai mình có vẻ thích cô này hơn các cô khác? Bà cũng tò mò.

Bữa ấy lúc hai mẹ con ngồi riêng với nhau, bà hỏi:“Má thấy mấy đứa kia ngó được quá mà sao con không chọn, con lại đi chọn con nhỏ này, nó hơi đen mà lại thấp nữa?”

Anh chàng không biết phải trả lời làm sao. Anh chàng bị hỏi bất ngờ không kịp suy nghĩ nên không trả lời được.

Nhưng sau ba bốn ngày quán chiếu, anh ta tìm ra câu trả lời. Cô gái mà anh thương, mỗi khi anh nói chuyện, thì cô rất biết lắng nghe. Anh là nhà khoa học nhưng anh cũng thích làm thơ. Mỗi khi anh đọc thơ, cô đều lắng nghe chăm chú. Và cô còn hỏi những câu hỏi chứng tỏ cô hiểu được thơ của anh. Còn những cô khác cũng nghe, nhưng nghe do lịch sự, bắt buộc phải nghe thơ nhưng không thích. Thành điều đặc biệt của cô gái này là cô thích thơ, cô hiểu thơ, và cô lắng nghe thơ. Và cô trở thành tri kỷ của anh.

Tri kỷ là người hiểu được mình. Trên cuộc đời này mà tìm được một người có thể hiểu được mình thì mình là người có hạnh phúc. Món quà quý nhất mà người kia có thể tặng cho mình là khả năng hiểu được mình. Có những người sống trong cuộc đời này mà chưa bao giờ tìm được một người có thể gọi là hiểu được mình. Dù là con trai hay con gái, trong cuộc sống này nếu mình có thể tìm được một người có khả năng lắng nghe mình, có thể hiểu được những khó khăn, những khổ đau, những ước vọng của mình tức là mình tìm thấy nơi người đó một tâm hồn tri kỷ. Tri kỷ là biết nhau, là hiểu nhau.

Con người đi tìm trong đời này một người tri kỷ, một người hiểu được mình. Tìm ra được người đó thì hạnh phúc. Ngày xưa có một vị quan lớn chơi đàn thập lục huyền cầm rất tuyệt diệu. Trong giới quan quyền, bạn hữu không có ai có thể hiểu được nghệ thuật và tài năng của ông. Mỗi lần chơi đàn, ông thường đem theo một vài người hầu cận, leo lên núi cao tìm một chỗ đẹp. Rồi ông trải chiếu, pha trà, thắp trầm lên. Trong không khí trang nghiêm ấy, ông bắt đầu chơi đàn. Ông rất hạnh phúc. Ông có cảm tưởng là chỉ có suối, cây, núi rừng, mây nước mới hiểu được tiếng đàn của ông. Bữa đó, đang đàn thì tự nhiên một dây đàn bị đứt. Ông ta tháo dây đàn đứt đó ra, thay một dây mới. Vừa đàn thêm một câu nữa thì dây đàn lại bị đứt, và cứ đứt dây như vậy ba lần. Ông ta nghĩ: “Chắc hẳn là có người đang nghe trộm mình”. Ông đứng lên, nói lớn: “Có vị tri kỷ nào đang nghe trộm tiếng đàn thì xin cho tôi gặp mặt”.

Tự nhiên có một anh tiều phu xuất hiện. Anh tiều phu này đã nghe lén, đã cảm được tất cả những cái hay, cái đẹp, cái tài ba của người đàn. Và vì vậy cho nên dây đàn bị đứt. Ông quan đánh đàn tên là Vương Bá Nha, người tiều phu tên là Chung Tử Kỳ. Hai người nói chuyện rất tâm đầu ý hợp. Bá Nha lần đầu tiên tìm ra được một người tri kỷ, một người hiểu được nghệ thuật của mình. Tử Kỳ chấp nhận làm bạn tri kỷ của Bá Nha, nhưng không muốn về kinh đô nhận những chức vụ như là thư ký văn phòng. Tử Kỳ chỉ muốn làm tiều phu thôi. Lâu lâu, Bá Nha nhớ tới bạn, sắp xếp công việc trong triều rồi hẹn với bạn. Hai người cùng uống trà. Bá Nha hạnh phúc vô cùng vì ông đã tìm ra được một người tri kỷ, tri âm. Tình bạn đó lưu truyền cho tới ngày hôm nay.

 

 

Hồi mới mười tám tuổi, tôi đã làm một bài thơ ca tụng tình bạn của Bá Nha và Tử Kỳ. Trong cuộc đời mà có một người nghe được mình, hiểu được mình thì mình là một trong những người may mắn nhất ở trên đời rồi.

Cho nên anh chàng ở Cali, ba ngày sau gặp lại mẹ, mới trả lời câu hỏi của mẹ: “Hôm trước má hỏi tại sao con thương cô đó. Tại sao má biết không? Tại vì người đó hiểu con. Thành ra dù cô ấy có hơi đen một chút, hơi thấp một chút, nhưng con thương cô ấy hơn tất cả những cô gái xinh đẹp, cao ráo, và sang trọng kia”.

Đời người mà tìm ra được một người hiểu mình thì hạnh phúc vô cùng. Con mà hiểu cha, đệ tử mà hiểu thầy thì làm cho cha, cho thầy rất hạnh phúc. Thành ra mình biết ơn người đã hiểu được mình. Cảm ơn em đã hiểu được anh, cảm ơn con đã hiểu được cha, cảm ơn cha đã hiểu được con. Tu tập là làm thế nào để có thể có được cái hiểu. Muốn hiểu thì phải lắng nghe, phải quan sát mới hiểu được. Khi mình sống với một người có khả năng hiểu mình thì mình có hạnh phúc lắm. Vì cái hiểu là nền tảng của cái thương. Không hiểu thì không thể nào thương được. Trong tình yêu đôi lứa mình phải cẩn thận. Mình chỉ cần thử nghiệm vài cái là biết người đó có hiểu mình hay không. Mà nếu người đó không hiểu mình thì dù người đó có bằng cấp cao, lương nhiều, xe đẹp, nhà cửa sang trọng, bảnh trai, hay sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành đi nữa, khi cưới người đó thì mình cũng sẽ khổ suốt đời, như là khổ sai chung thân. Và tình yêu đó là một cái nhà tù.

Người mà khi mình nói cứ cắt lời mình, không để cho mình nói, cứ khoe cái của họ, không có khả năng hiểu được những khó khăn, những khổ đau của mình, không biết lắng nghe mình… muốn nhận ra người đó rất dễ, chỉ cần vài ba phút là được. Đừng để cho mình bị hấp dẫn bởi những thứ bên ngoài: Sắc đẹp, địa vị, danh lợi, xe hơi, nhà cửa, lương tiền, bằng cấp… Đừng để cho những cái đó làm cho mình mờ mắt. Hai con mắt mình hãy tỉnh táo để có thể nhận rằng người con gái ấy, hay người con trai ấy là một người có thể hiểu được mình. Hiểu được mình thì có thể có khả năng thương mình. Điều đó rất rõ ràng. Đó là tiêu chuẩn của đạo Phật về hạnh phúc, về tình yêu. Những người yếu đuối thường bị hấp dẫn bởi những thứ phù phiếm bên ngoài.

Trong xã hội Việt Nam mới phát triển, một cô gái có thể đánh mất trinh tiết của mình để đánh đổi lấy một chiếc xe gắn máy. Thật dễ sợ! Đạo đức đã suy đồi tới mức đó. Mình muốn thoát ra khỏi cái thân phận nghèo khổ, mình muốn có một chiếc xe giống như người ta, và mình đánh mất cái quý giá nhất của đời mình. Chuyện đó đã và đang xảy ra. Thành ra mình không thể coi thường sự hấp dẫn của vật chất, của bề ngoài phù phiếm. Mình sẽ đi lạc và dấn thân vào những nẻo đời khổ đau nếu mình không cẩn thận.

 

Thực tập như thế nào khi ta làm người khác tổn thương?

Trích trong sách ” Thiền sư và em bé 5 tuổi” của Sư Ông Làng Mai.

Chúng ta phải làm gì khi làm người khác bị tổn thương và họ xem ta như kẻ thù của họ? Người này có thể là những người trong gia đình ta, trong tăng thân ta, hay trong một đất nước khác. Tôi biết là chúng ta đã có câu trả lời. Có rất nhiều điều chúng ta có thể làm. Đầu tiên là ta phải làm thế nào để nói cho được: “Tôi xin lỗi. Vì vô minh, vì thiếu chánh niệm, vì thiếu khéo léo mà tôi đã làm cho anh bị tổn thương. Tôi sẽ cố gắng hết sức để hiểu và thông cảm hơn. Tôi sẽ không nói với anh những điều như thế nữa. Tôi không muốn làm anh tổn thương”. Đôi khi chúng ta không có chủ tâm làm cho người kia bị tổn thương nhưng vì ta không đủ chánh niệm và khéo léo nên đã làm người khác đau khổ. Vì vậy thực tập chánh niệm trong đời sống hằng ngày là rất quan trọng, nhờ đó chúng ta có khả năng sử dụng ngôn ngữ hòa ái để không làm tổn thương người khác.

Điều thứ hai mà ta có thể làm là cố gắng biểu hiện những điều tốt đẹp nhất về bản thân mình, những đức tính tốt, những bông hoa tươi đẹp để chuyển hóa bản thân. Đây là cách duy nhất mà ta có thể dùng để chứng minh những gì ta vừa mới nói. Khi chúng ta trở nên tươi mát và dễ chịu, người kia sẽ sớm nhận ra được. Sau đó, khi có cơ hội đến gần người kia, ta đến như một bông hoa tươi mát và người kia sẽ nhận ra ngay. Có thể chúng ta không cần phải nói gì cả. Chỉ cần nhìn cách ta thay đổi thì người kia sẽ chấp nhận và tha thứ cho ta. Ta làm theo những gì ta nói chứ không phải là những lời nói suông.

 

 

Khi ta thấy được “kẻ thù” ta đang khổ đau là ta bắt đầu có tuệ giác. Thấy được trong tự thân có ước muốn giúp người kia hết khổ, đó là dấu hiệu của tình thương yêu. Nhưng chúng ta cũng phải cẩn thận. Đôi khi ta nghĩ rằng ta mạnh hơn khả năng ta có. Để thử sức mạnh của mình, ta thử đến với người kia và nói chuyện với người ấy. Chúng ta sẽ khám phá ra ngay lập tức là tình thương và lòng từ bi của ta có thực sự vững mạnh hay không. Chúng ta cần một người khác có mặt đó cho ta thử nghiệm sức mạnh của ta. Nếu thiền tập chỉ dựa trên những nguyên tắc trừu tượng về hiểu biết và thương yêu thì có thể đó chỉ là sự tưởng tượng mà không phải là sự hiểu biết và tình thương yêu đích thực.

Hòa giải là bỏ lại sau lưng những cái nhìn lưỡng nguyên và khuynh hướng muốn trừng phạt. Hòa giải không đứng về một bên. Trong một cuộc xung đột xảy ra, hầu hết chúng ta đều muốn đứng về một bên nào đó. Chúng ta phân biệt giữa cái đúng và cái sai, một phần dựa trên những bằng chứng, hoặc những tin đồn. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta cần sự căm phẫn để hành động. Nhưng cho dù sự căm phẫn ấy có đúng lý và chính đáng đi chăng nữa cũng không đủ. Thế giới này không thiếu những người sẵn sàng lao mình vào hành động. Điều chúng ta cần là những người có khả năng thương yêu và không đứng về một bên để họ có thể ôm được cả hai bên, ôm được thực tại một cách trọn vẹn.

Chúng ta phải tiếp tục thực tập chánh niệm và hòa giải cho đến khi nào ta có khả năng thấy được hình hài của những trẻ em đói khổ là hình hài của chính ta, nỗi khổ đau của mọi người mọi loài là nỗi khổ đau của chính ta. Lúc đó chúng ta sẽ nhận ra được tình thương chân thật vô phân biệt. Chúng ta có thể nhìn tất cả mọi người mọi loài bằng con mắt từ bi và chúng ta có thể làm công việc giúp người thực sự, đó là làm vơi đi nỗi khổ đau trong lòng người.