Có một con suối nhỏ từ núi chảy xuống. Nó rất nhỏ tuổi, và nó muốn ra tới biển thật nhanh. Nó không biết sống với hiện tại một cách bình an. Nó rất vội vã vì nó còn rất trẻ. Nó không biết thực tập “đã về đã tới” nên từ núi đổ xuống, nó hối hả vượt qua cánh đồng và trở thành một dòng sông.
Là sông thì nó chảy chậm hơn. Điều này làm cho nó bứt rứt vì nó sợ không bao giờ gặp được biển. Vì là sông nên nó chảy chậm hơn, và mặt nước tĩnh lặng hơn. Dòng sông bắt đầu soi bóng mấy đám mây trên bầu trời – mây hồng, mây bạc, mây trắng… Nhiều hình dạng thật đẹp đẽ. Suốt ngày sông trôi chảy theo mây. Nó trở nên vướng mắc với những đám mây xinh đẹp. Và dòng sông đau khổ vì mây thì vô thường. Mây di động luôn luôn theo các cơn gió, chúng bỏ dòng sông, đi tới những chốn xa xôi. Sông đau khổ vô cùng. Nó cố gắng hoài hủy để đuổi theo mây. Thật là đáng buồn vì mây không ở yên một chỗ với sông bao giờ.
Một hôm trời giông bão, mây bị cuốn đi hết. Bầu trời trống, trong vắt và xanh tuyệt. Dòng sông thất vọng não nề! Không có một gợn mây trên trời. Tấm lòng tan nát vì bầu trời trống trải. “Không có mây thì sống làm sao? Không có người thương nữa thì sống làm gì?” Dòng sông muốn tự tử, nhưng nó không biết làm sao để chết. Cả đêm sông than khóc.
Đêm hôm đó, dòng sông có cơ hội để nghe được tiếng khóc của mình. Đó là tiếng sóng vỗ vào hai bên bờ sông. Khi nó nghe được tiếng sóng vỗ của chính nó, dòng sông tỉnh ngộ. Nó hiểu ra là bản chất của sông cũng là bản chất của mây. Nó chính là mây. Mây đang nằm trong sông vì cả hai cùng có bản chất là nước. Mây làm bằng nước. Vậy thì tại sao mình phải chạy theo mây? Sông tự nhủ, “ta chỉ chạy theo mây nếu như ta không phải là mây mà thôi!”
Đêm đó, trong tận cùng tuyệt vọng và cô đơn, dòng sông thức tỉnh và nhận ra nó cũng là mây. Buổi sớm hôm sau, bầu trời trong vắt trước đây làm cho sông cảm thấy cô đơn, lại hiện ra thật mới lạ, kỳ diệu và trong sáng. Màu xanh của bầu trời biểu hiện sự hồn nhiên và tự do mà dòng sông mới nếm được. Sông biết bầu trời là nơi trú ẩn của tất cả các đám mây, mây không thể ra khỏi bầu trời được. Dòng sông hiểu rằng bản chất của mây là không sinh – không diệt, không đến – không đi, vậy thì tại sao sông lại khóc? Sao ta lại khóc như bị chia lìa với mây vậy?
Dòng sông còn có một giác ngộ khác buổi sáng hôm đó. Nó nhìn thấy bản chất không sinh-diệt của bầu trời. Điều này làm cho sông trở nên rất an nhiên tự tại. Nó bắt đầu tiếp nhận và phản chiếu bầu trời. Trước kia nó không phản chiếu bầu trời, nó chỉ biết tới những đám mây. Nay thì sông có bầu trời luôn luôn hiện diện ngày đêm. Trước đây dòng sông không tiếp xúc được với bản chất của thực tại, nó chỉ tiếp xúc được với những gì thay đổi, sinh diệt. Nay tiếp xúc với cả bầu trời, dòng sông trở nên bình an và thanh thản vô cùng, như chưa bao giờ được vậy.
Chiều hôm đó khi những đám mây trở lại, sông không còn vướng bận vào đám nào nữa hết. Không còn đám mây nào sông cảm thấy là đặc biệt, là của riêng nó nữa. Nó mỉm cười với tất cả các đám mây, chào mừng và yêu mến tất cả.
Bây giờ dòng sông cảm nhận được hạnh phúc của sự buông xả. Nó không còn tùy thuộc hay yêu mến đặc biệt một đám mây nào. Sông yêu thương tất cả. Nó thưởng thức và phản chiếu bất cứ đám mây nào đi qua bầu trời. Khi mây bay xa, nó nói: “Tạm biệt mây nhé, gặp lại nay mai.” Và dòng sông thấy nhẹ lòng. Nó biết đám mây sẽ trở lại sau khi mây biến thành mưa hay tuyết.
Dòng sông được tự do. Hầu như nó cũng không còn thấy cần chảy ra ngoài biển nữa. Đêm đó trăng tròn và chiếu sáng cả lòng sông. Mặt trăng, dòng sông và nước đều thiền quán bên nhau. Dòng sông thưởng thức sự tự do nhiệm màu của giây phút hiện tại. Nó được giải thoát khỏi mọi đau buồn.
Khi chúng ta chạy đuổi theo một thứ gì, muốn nắm bắt nó, ta sẽ đau khổ. Khi không có gì để đuổi theo, ta cũng khổ đau. Nếu bạn đã là dòng sông, nếu bạn đã từng chạy theo mây, đau khổ, than khóc vì cảm thấy cô đơn, xin hãy nắm lấy tay chính mình như nắm tay một người bạn. Hãy quán chiếu thật sâu, bạn sẽ thấy rằng thứ mà bạn tìm kiếm kia vẫn thường hiện diện ngay đây, đó chính là bạn!
Bạn là thứ mà bạn muốn trở thành. Vậy thì tìm kiếm làm gì nữa? Bạn là một sự biểu hiện tuyệt diệu. Tất cả vũ trụ đều góp phần vào việc làm cho bạn hiển hiện. Không có gì không ở trong bạn cả. Vương quốc của Thượng đế, Niết bàn, Tịnh độ, Hạnh phúc và Tự do, tất cả đều trong bạn.
Khi nói đến thiền tập đạo Bụt, chúng ta luôn nói đến hai khía cạnh của sự thực tập đó là thiền chỉ và thiền quán. Chỉ tiếng Phạn là Samatha (Stopping), nghĩa là dừng lại, ngưng lại, là lắng trong, là làm cho yên tĩnh lại để có thể chuyên chú vào một đối tượng – tâm nhất cảnh, không để cho tâm ý trôi lăn, đi hoang. Quán tiếng Phạn là vipaśyanā ; Pali: vipassanā (Insight meditation; Deep looking), nghĩa là nhìn sâu, là thấy rõ, là thấu hiểu được bản chất chân thực của đối tượng quán chiếu. Chỉ và Quán là hai danh từ rất quan trọng trong truyền thống thiền tập đạo Bụt và rất đặc thù đạo Bụt. Cốt lõi của chỉ và quán là niệm, định và tuệ; đó là ba nguồn năng lượng thánh gọi là tam vô lậu học, tức là ba nguồn năng lực mầu nhiệm nếu được phát huy một cách đúng đắn và vững chãi thì sẽ đưa tới sự trị liệu, chuyển hóa và tự do rất lớn. Ba nguồn năng lượng thánh này có mặt trong nền tảng giáo lý cốt lõi của đạo Bụt như trong Bát Chánh Đạo, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần… Chỉ và quán Bụt dạy rất kỹ, rất cụ thể trong các kinh nguyên thỉ như kinh Tứ Niệm Xứ, Quán Niệm Hơi Thở. Dù chúng ta tu tập ở truyền thống đạo Bụt nào thì phép tu chỉ quán vẫn luôn là trái tim, là cốt lõi của sự thực tập.
Mười Bốn Bài Kệ Chỉ Quán được Sư Ông Làng Mai phóng tác, có lẽ vào khoảng năm 2002-2003 và đã được Sư Ông lược giảng vào năm 2003, song rất tiếc là chưa tìm lại được băng đĩa thâu lại những bài giảng ấy. Qua Mười Bốn Bài Kệ Chỉ Quán, chúng ta thấy được chủ ý của tác giả rất rõ là muốn đem nguồn tuệ giác thâm sâu của đạo Bụt Đại Thừa, của thiền Đại thừa vào tắm trở lại trong dòng sông đạo Bụt Nguyên thỉ, qua đó chúng ta có một nên tảng pháp hành vững chắc và thực tiễn, có hệ thống, và chúng ta có cơ hội tiếp xúc tất cả những tinh tuý và sự sinh động của cả hai dòng chảy của sự truyền thừa mà không cảm thấy có sự tách biệt nào. Khi nói tới thiền Đại thừa thì chúng ta cũng bao gồm cả thiền Đông độ, một dòng thiền được sinh sôi nãy nở từ Trung Quốc, vốn được lưu xuất từ dòng thiền Nguyên thỉ, nhưng biến dạng cho phù hợp với văn hóa và tâm tư của người Trung Hoa hay nói chung là người Á đông.
Nhưng trên tất cả, phép tu Chỉ và Quán vẫn là nền tảng, là cốt lõi và chánh niệm chính là trái tim của thiền tậpđạo Bụt. Trong nền tảng giáo lý căn bản của Bụt như giáo lý Tứ Diệu Đế trong đó có Bát Chánh Đạo và trong các phẩm trợ đạo như ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần… đều có nói đến chánh niệm. Từ đó chúng ta có thể khẳng định rằng chánh niệm là trái tim của thiền tập mà hễ có chánh niệm là có chánh định và tất yếu là có chánh kiến, tức là tuệ. Qua Mười Bốn Bài Kệ Chỉ Quán và pháp môn tu học của Làng Mai, chúng ta thấy chánh niệm chính là nền tảng, là trái tim của sự thực tậpLàng Mai. Trong suốt 49 năm hành đạo của Bụt, ngài chỉ đề cập tới khổ và còn đường chuyển hóa khổ đau, đem lại an lạc, giải thoát và hạnh phúc ngay trong kiếp này và cùng nhau tạo dựng một thế giới an lành và hài hòa ngày bây giờ và ở đây. Vì vậy con đường Bụt là con đường hiểu biết và thương yêu được thể hiện quá giáo lý Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo và nền tảng pháp hành của giáo lý đạo Bụt là kinh Tứ Niệm Xứ và kinh Quán Niệm Hơi Thở hay còn gọi là kinh An Ban Thủ Ý.
Khóa học này sẽ kéo dài trong thời hạn khoảng 1 năm hoặc có thể hơn vì mỗi tháng chỉ học một ngày vào ngày Chủ Nhật; vừa học vừa tham cứu, trải nghiệm. Mười Bốn Bài Kệ Chỉ Quán nhìn thì đơn giản nhưng chứa đựng một nội hàm giáo lý và phương pháp tu tập trong truyền thống thiền rất phong phú và thực tiễn. Vì vậy dù biết rằng năng lực còn giới hạn nhưng vì các sư cô sư chú trẻ và các thiền sinh có duyên với Làng Mai chưa được học trực tiếp Mười Bốn Bài Kệ từ Thầy (Sư Ông Làng Mai) nên chúng tôi vẫn mạo muội chia sẻ lại cho các vị ấy được tiếp cận để học hỏi và thực tập.
Kính bạch Thầy, trong quá trình trình bày, chắc chắn chúng con sẽ con rất nhiều thiếu sót, chúng con ngưỡng cầu Thầy yểm trợ và soi sáng cho chúng con có đủ năng lực và sự sáng suốt để truyền trao lại cho các thế hệ của các sư em của chúng con.
Đệ tử kính lễ,
Thích Chân Pháp Niệm
…………………………….
Các buổi giảng sẽ được phát trực tuyến qua Zoom và trên Youtube Làng Mai vào 9:00 sáng (giờ Thái Lan). Và sẽ được cập nhật lịch học hàng tháng trên langmai.org.
Để tham gia khóa học này, đại chúng có thể lưu lại liên kết Zoom dưới đây:
Tác giả Dã Hạc chính là Thượng tọa Tâm Tông, hiệu Chân Giác Thanh, tự Trạm Nhiên, thế danh Lê Văn Hiếu.
Thầy Giác Thanh sinh ngày 9 tháng 6 năm 1947 (Đinh Hợi) tại một thôn xóm hẻo lánh của làng Sóc Sơn, quận Tri Tôn, tỉnh Rạch Giá. Con của cụ ông Lê Văn Đạt và cụ bà Nguyễn Thị Nhớ, Thượng tọa là con thứ ba của gia đình sáu anh em gồm bốn trai và hai gái.
Như bao nhiêu đứa trẻ của đồng quê Việt Nam lớn lên trong hoàn cảnh đất nước điêu linh vì chiến tranh và nghèo khó, Thầy Giác Thanh có một tuổi thơ sớm biết theo anh chị ra đồng hái rau, bắt cá, phơi mặt mày thanh tú cho nắng nhiệt đới ươm da. Tuy nhiên hạt giống tu tập đã có mặt từ kiếp xưa nên mới bảy, tám tuổi đã bắt đầu biết chảy nước mắt cảm thương thân phận bé nhỏ của kiếp nhân sinh trước cảnh sương khói bao la của đất trời. Thời gian sống tại vùng quê xa vắng này chấm dứt khi ông bà cụ rời nhà ra tỉnh Rạch Giá. Cũng từ ấy Thầy bắt đầu viết những chữ a, b xiêu vẹo đầu tiên trong cuộc đời sách bút học trò. Đầy là thời điểm nửa vùng quê hương phương Nam tạm yên tiếng súng qua hiệp định Geneve.
Rồi ngày tháng đi qua, chú bé mặt rám nắng hồng của thôn Trà Lóc quê mùa năm xưa, giờ đã thành cậu học sinh ưu tú, thông minh và đầy can trường khi thừa tiếp hào khí yêu quê hương của anh hùng Nguyễn Trung Trực. Thầy Giác Thanh đã lớn lên trong ngôi trường ấy. Thầy đã thể hiện tâm tư của mình qua bài thơ đầu đời Thầy viết cho quê hương vào năm học đệ nhất, 1967. Bài thơ có tên: “Khóc Quê Hương”.
Quê hương ơi có những đêm dài lặng lẽ
Ta nằm đổ lệ khóc thương mi.
Quê hương ơi ngươi có tội tình chi
Để lũ quỷ đem mi ra dày xéo,
Chẳng xót, chẳng thương,
Chẳng nghĩ đến tình người?
Chúng bán mi cho loài quỷ vương.
Ta thương mi ta mua lại bằng xương máu,
Bằng khối óc, bằng con tim
Và bằng cả xác thân này.
Xác thân dù hóa thành tro bụi,
Nguyện trải đường đi đến thái hòa.
Người xưa dạy: “Nam nhi tự hữu xung thiên chí”, làm trai có chí xông trời thẳm. Nếu ta không muốn làm hạt cát bị hất tung vào cơn gió xoáy để đi tàn phá quê hương, thì ta hãy nằm yên đây. Hoặc đẹp hơn nữa hãy làm kẻ độc hành lội ngược dòng sinh tử. Thầy đã chuyển hướng cuộc đời, đặt lý tưởng và tình yêu lớn của mình vào con đường khám phá nội tâm. Thầy đi xuất gia vào giữa năm 1967 tại chùa Thanh Hoa, làng Tấn Mỹ, quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên. Pháp hiệu Giác Thanh được bổn sư là Hòa thượng Phổ Huệ đặt cho từ lúc ấy.
Thầy đã ở chùa Giác Nguyên (quận IV Sài gòn) vào năm 1968, rồi dời về chùa Xá Lợi năm 1969 và thọ đại giới tại Tổ đình Giác Viên vào sau mùa Vu Lan 1970. Thầy đã vào đại học Vạn Hạnh năm 1971 và đã mòn gót chân ruổi rong khi nghe nơi nào có bậc danh tăng thuyết pháp dạy kinh. Rồi cơ duyên khai mở ban đầu đã đến khi thầy bắt gặp quyển “Thanh Quy” của tu viện Chơn Không. Tự thân thầy tuy không nhập khóa đầu tiên nhưng mỗi năm đã về tu viện những tháng hè để học và thực tập.
Ngày đầu xuân 1974, Thầy về lại Chơn Không, bắt đầu nhập khóa II chính thức của tu viện. Rồi những sáng nghe kinh, những chiều thiền tọa, trà khuya sương khói đọng bếp lửa nắng chiều nghiêng. Đạo tình huynh đệ và pháp nhũ của vị thầy già trên núi Tao Phùng đã khơi mở và thắp sáng nẻo về nơi người con trai cùng tử ấy. Thầy Giác Thanh là một thiền sinh giỏi và cũng là một sư anh lớn trong những sư anh dễ thương nhất của tu viện Chơn Không. Hầu như không có phật tử hay khách tăng nào đến đây mà không có ấn tượng tốt đẹp về vị tri khách hiền dịu, nhẹ nhàng và chân tình ấy. Thầy còn là bóng mát, là sự ngọt ngào cho những đứa em mới vào tu, là sự bao dung, sự hiểu biết rộng và sâu để điều hòa và nối kết tình đồng môn.
Thế rồi lịch sử Việt Nam một lần nữa lật sang trang. Sau mùa xuân 1975, những ngày tháng yên bình, tĩnh tại của thiền sinh Chơn Không đã lùi vào quá khứ. Có những buổi lao động dưới cơn nắng lửa, Thầy dừng cuốc bảo: “Trượng phu việc lớn chưa xong, chôn tấm thân hữu dụng vì ba miếng khoai sắn như thế ư? Các em ạ! Chúng ta hãy dành một chút thì giờ cho chính mình.” Từ đó có được phút giây thanh thản nào, Thầy ngồi tĩnh tại độc ẩm trà bên khóm tre vàng râm mát trước sân. Khi sáng sớm, lúc chiều hôm, nhìn sương khói mơ hồ lãng đãng, thấy tình người chấp cánh bay cao, Thầy nghe ngọa khí đầy lòng lên thốt ra lời thơ Độc Ẩm:
Cư nhân gian thượng
Hữu ngã độc ẩm
Tam thập niên mộng
Duy nhất trà bình
Làm người sống ở trên đời
Có ta ta biết uống chơi một mình
Ba mươi năm mộng phù sinh
Bạn bè khuya sớm một bình trà thôi.
Rồi mùa đông năm 1977, Thầy rời thiền viện Thường Chiếu về Mỹ Luông cất Ẩn Không am để tĩnh cư. Ẩn Không am bằng tre lá. Bên cạnh am có một thiền thất nhỏ làm chỗ thiền tọa cho Thầy. Toàn cảnh toát ra phong vị của thiền sư có cuộc sống thanh cao, khiết bạch, đạo hạnh sáng ngời, và nó cũng có một chút gì lãng đãng mộng mơ của thi nhân. Sau bốn năm dừng chân tại Ẩn Không am, Thầy lại lên đường như đoạn kết của bài thơ Mộng Vàng Hoa.
Ta lữ khách,
Trong cát bụi thời gian dài thăm thẳm
Hồn tưởng chừng lạc lõng giữa cồn hoang.
Mộ sáng nọ cồn hoang thức dậy
Chim gào to ta giục giã lên đường
Đời gió cát tưởng chừng như tắm gội,
Giữa trùng khơi sóng nước đại dương.
Vào thượng tuần tháng 7 năm 1981, Thầy có mặt trên chiếc tàu vượt biên băng ngang qua vùng vịnh Thái Lan. Cũng như bao chuyến vượt biển đau thương của người Việt, tàu Thầy đi không tránh khỏi cướp biển man rợ giữa trùng khơi. Chứng kiến cảnh cướp bóc, sát hại, hãm hiếp dã man, lòng bi phẫn của người con Phật nổi lên, Thầy bảo họ: “Các anh có còn trái tim không? Sao nở ra tay và nhẫn tâm với đồng loại như vậy.” Kẻ dữ tức giận quăng Thầy xuống biển khơi. May thay cũng có người còn sót lại trái tim nên lời thầy có năng lực đánh động chất người trong họ. Hắn là tên thuyền trưởng của tàu, hắn đã quăng lưới kéo Thầy lên, thế là trò chơi sinh tử lại thêm một lần hò hẹn nữa.
Thầy đã ở trại Song La (Indonesia) từ tháng 7, 1981 cho đến đầu năm 1982 thì được Hòa Thượng Thích Mãn Giác, hội chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam bảo lãnh Thầy sang Hoa Kỳ. Đặt chân lên đất Mỹ, lần đầu tiên có được 300 USD, Thầy đi chợ mua trà cụ và trà và rồi tự tay nấu nước pha trà dâng lên cúng dường Ôn. Ôi! Của không đáng, chỉ một chung trà nóng có nghĩa gì đâu? Nhưng đẹp lòng làm sao việc này, nó gói được tấm lòng biết ơn sâu sắc của người con trai mòn gót phiêu linh. Ôn đã là bóng mát, làm bến đỗ để thuyền đời Thầy Giác Thanh dừng lại. Dù thời gian lưu lại chùa Phật Giáo Việt Nam không được lâu lắm nhưng năng lượng thương yêu như mẹ hiền của Ôn đã vá được những vết hằn ngao ngán trong lòng người lãng tử. Cuối mùa xuân năm 1982, vâng lời Ôn, Thầy về giúp Thầy Trí Tuệ ở chùa Nam Tuyền (Virginia). Thầy đã sống đầm ấm với Thầy Trí Tuệ.
Trong thời gian này Thầy cũng lang thang đến các trung tâm tu tập theo các truyền thống Nhật Bản, Đại Hàn và Miến Điện. Có lẽ sương khói của cuộc lữ du đã tắt trong mắt trong, nhưng hành trình phải trở về nhà xưa đang thôi thúc trong lòng ngùn ngụt lửa. Thầy đã lại lê gót tây đông, gõ khắp cửa của các bậc đạo sư, mong đón nhận một cú đẩy để trượt thẳng vào không gian lồng lộng.
Thế rồi cuối mùa hè năm 1986, Thầy gặp Sư Ông Làng Mai qua Bắc Mỹ mở các khóa quán niệm cho thiền sinh Hoa Kỳ. Sư Ông thấy Thầy mỏi mệt với công phu để tác thành định huệ lực. Sư Ông bảo: “Thầy Giác Thanh à! Thầy hãy bỏ hết chuyện công phu nặng nhọc ấy đi. Hãy đi dạo với tôi. Thầy nhìn kìa lá phong mùa này đang chuyển từ màu vàng sang màu đỏ, đẹp vô cùng. Sự sống là như vậy, mầu nhiệm như vậy, nó chưa từng sinh và chưa từng diệt. Hãy nhìn và tiếp nhận sự sống như chính nó đi.” Lời khai thị của Sư Ông như giọt nước làm tràn ly đầy, như tiếng sét xé tan màn mây, lộ ra khung trời trong bát ngát. Từ đó Thầy dừng lại cuộc tìm kiếm qua cách thế dụng công.
Khóa tu mùa hè năm 1990, tại Làng Mai thiền sinh Âu Mỹ được tiếp xúc với vị thầy Việt Nam mới có mặt tại Làng. Vị ấy là Thầy Giác Thanh. Nụ cười Thầy biểu lộ niềm bình an và tĩnh lạc đã có mặt từ bên trong. Vào năm 1991, Thầy về hẳn bên Làng Mai sống hạnh phúc bên cạnh cây lão sồi, làm cây sồi anh che chắn gió mưa cho các cây sồi em thêm bụ bẫm. Thuở ấy cộng đồng Phật tử Việt ở châu Âu, nhất là ở thiền đường Hoa Quỳnh, Paris, quen gọi Thầy bằng các quen rất thơ là Thầy Hoa Quỳnh. Dĩ nhiên đây là tên gọi vì Thầy làm giáo thọ phụ trách và hướng dẫn sự tu tập nơi này. Nhưng một mặt khác đây cũng là tên gọi xứng với phong cách tinh khiết và thầm lặng tỏa hương của Thầy. Cuối năm 1991, Thầy được truyền đăng làm giáo thọ. Pháp kệ Sư Ông Làng Mai trao cho Thầy trong lễ truyền đăng:
Giác tánh nguyên thường tánh
Thanh Âm diễn Diệu Âm
Biển Tỳ Lô trăng sáng
Sóng nhạc vẫn trầm hùng.
Và đây là bài kệ Thầy trình trước Sư Ông và đại chúng trong lễ truyền trăng:
Vô tướng
Bình nước trắng bên này
Bình nước tiểu bên kia
Sẽ đi về trời mây
Biển cả với sông ngòi.
Mặt trời sáng ban ngày
Mặt trăng soi ban đêm
Chỉ rõ lối đi về
Đường ta đi thênh thang.
Làng Mai đối với Thầy Giác Thanh là chiếc nôi nuôi lớn hạnh phúc cho mình, cho người, nơi gieo hạt mầm hiểu biết thương yêu cho nhiều thế hệ, nhiều quốc gia. Thầy viết một bài thơ “Thấu Thể” đề: Riêng tặng Ân Sư” để nói lên lòng kính trọng và khuất phục đến Sư Ông Làng Mai:
Một cái nhìn chớp nhoáng
Xô ngã mấy trường thành
Con cúi đầu tiếp nhận
Đời đời nguyện chẳng quên.
Sư Ông đã cất cho Thầy chiếc thất gỗ xinh xắn bên bìa rừng gần thất ngồi yên của Sư Ông. Thất Thầy quanh năm rộn rã tiếng chim và đong đưa sắc hoa bìm tim tím. Thầy đã từng chọn cho mình cái tên Phù Vân cốc. Từ đây vùng trời tâm linh không gian lồng lộng, Thầy đã có những bước chân thong dong và vững chãi, rồi cũng từ ấy nụ cười và tiếng nói mang tặng được cho thiền sinh phẩm chất của sự an lạc sâu hơn. Và nhờ vậy chuyến hoằng pháp của Thầy vào năm 1992 với các khóa tu mở ra cho các tăng thân miền Đông – Bắc Mỹ đã thành công thật lớn. Có thể nói không sợ sai lầm rằng trên bước đường hoằng pháp, Thầy đi đến các nơi như Pháp, Mỹ, Úc, Canada … mở các khóa tu, hướng dẫn thiền sinh, thành lập các tăng thân từ năm 1992 đến 1995, cho đến khi về trụ tại Rừng Phong năm 1998, về Lộc Uyển năm 2000 và mãi cho đến khi thu thần tịch diệt, nơi nào có bước chân Thầy đi qua, thiền sinh đều cảm nhận được năng lượng ngọt ngào, tươi mát, an lạc, thảnh thơi của Thầy tỏa ra. Và họ đã dành cho Thầy tất cả niềm thương yêu và kính trọng.
Mùa thu năm 1995, cơn bệnh tiểu đường, gan và phổi tiềm phục lâu năm nay bắt đầu phát tác. Thầy đã sống với cơn bệnh từ năm 1992, cũng có thể trước đó. Thầy đã dùng hơi thở mình ôm ấp và làm dịu đi cơn bệnh. Thầy đã bảo bọc thương yêu nó như một bà mẹ, không hề trách cứ phiền hà con, cho dù con có hoang nghịch ra sao. Người xưa lắm vị gặp chướng duyên, thân kề cái chết đã nỗ lực dụng công nên một đời liễu quyết được đại sự. Thầy thân mang trọng bệnh, tâm vẫn cứ an nhiên, và nhất là những lời thơ cuối đuợc viết từ năm 1997 trở về sau đã gây được niềm tin lớn cho Phật tử.
Bước chân trên đất thực
Hoa thắm nở ngàn nơi
Chỉ một niệm chiếu soi
Siêu nhiên ngoài ba cõi.
Và bài ‘Ánh Sáng Của Mùa Đông’ như một bản tuyên ngôn hùng tráng của người đã về:
Đối diện cùng tuyết trắng
Bỗng dưng tôi biến mất
Và cả một vũ trụ
Trở thành ánh sáng của tự tâm.
Năm 1997, Thầy Giác Thanh được đề cử làm Giáo Thọ hướng dẫn việc tu học tại tu viện Rừng Phong và đạo tràng Thanh Sơn ở Vermont. Thầy đã tặng những bước chân vững chãi và hạnh phúc của mình cho tất cả thầy, cô và phật tử về tu học nơi đây. Vào năm 2000, Thầy cùng một số người trong tăng thân Làng Mai chọn đất Lộc Uyển, rồi được Sư Ông suy cử chức trụ trì Lộc Uyển Tự, Đại Ẩn Sơn. Thầy đã biết đây là chốn an trụ cuối cùng của cuộc đời nên muốn đem hết hơi tàn để đền ơn bậc đạo sư mà mình quý trọng nhất. Thế nhưng lần này cơn bệnh ngang bướng không thỏa hiệp và cuối cùng như mọi hiện tượng sinh diệt của nhân gian. Thầy đã trả hình hài sương khói về cho mộng huyễn. Các bậc thánh La Hán khi thu thần nhập niết bàn từng tuyến bố: “Việc đáng làm đã làm xong.” Thầy đã về Lộc Uyển vào đầu hè năm 2000 và đã ra đi vào mùa thu năm 2001. Ngày tháng lưu ngụ nơi này thật ngắn so với tuổi thọ trung bình của một đời người và phù du biết mấy khi so với tuổi thọ của trăng sao. Thế nhưng điều Thầy đã làm được lớn vô vàn và đã đi vào bao nhiêu tấm lòng của người còn ở lại. Một giọng nói hiền hòa, chậm rãi đầy thương yêu, một nụ cười an lạc cho đến phút giây cận kề thần chết, một cái nhìn sắc bén trí tuệ thấm sâu và mênh mông từ ái, những bước chân an bình diễn đạt nội tâm ‘đã về, đã tới.’ Đó là món quà lớn lao nhất Thầy tặng cho các sư em và cho tất cả tăng thân có mặt nhiều nơi trên thế giới. Thấy quả xứng đáng vị giáo thọ của các thiền sinh Âu , Mỹ và Việt. Tuy Thầy có ra đi nhưng Thầy đã hóa thân vào trong họ. Lời Thầy đã làm hành trang cho họ để họ đi vào tự thân trí tuệ, và tự thân của hạnh phúc và thương yêu. Nhất là những bài pháp thoại cuối cùng, Thầy gượng dậy giữa cơn đau thuyết cho thính chúng tại thiền đường Trăng Rằm, Lộc Uyển Tự. Ôi! Lời Thầy sao mà sâu sắc đến vậy. Thầy là một sư anh lớn được thương quý nhất trong lòng các sư em hiện tại. Ở đây mỗi sư em nhớ về Thầy một cách khác nhau. Thầy như người anh chở che, đôi khi nghiêm khắc, như vị thầy từ ái, như mẹ hiền vỗ về, như người chị chăm sóc thương yêu, như người bạn mở lòng ra cho mình tâm sự. Thầy đã cho các sư em hết cả tấm lòng thương yêu mà mình có. Thấy như cánh đồng đầy hoa thơm cỏ lạ và cũng có nhiều loại hoa mộc mạc, bình dị, đơn sơ để các em dạo chơi tùy thích. Đến với Thầy các em thấy mình mất hút và hòa tan như con nước sông hòa tan vào biển lớn. Các sư em nghĩ sẽ khó mà có được một sư anh đáng quý như Thầy. Bài thơ cho các sư em Thầy viết:
Xin đừng la rầy trách mắng các em tôi
Vì sợ rằng màu xám của buồn đau
Sẽ phủ vây những mảnh hồn trong suốt tinh anh.
Thầy cũng là một học trò đạo nghĩa thật sâu. Niềm hiếu kính đối với Sư Ông Làng Mai nơi Thầy thăm thẳm. Thầy cũng tròn ân đối với vị ân sư khơi mở bước đầu trên con đường tâm linh khi ngài có dịp đặt chân lên đất Mỹ vào tháng 10 năm 2000. Thầy đã cùng một số sư em, phật tử và tăng thân Nam – Bắc Cali hỗ trợ và tổ chức các buổi thuyết pháp của Hòa thượng Trúc Lâm bình yên trên vùng nam Cali. Việc Thầy làm đã thành công kỳ diệu nhưng cũng thầm lặng nào ai biết. Đối với bạn hữu và người thân ngoài đời hay trong đạo Thầy cư xử rất trọn tình. Lần đầu tiên về thăm lại quê hương Việt Nam vào năm 1992, bạn bè rất ngỡ ngàng vì Thầy quá bình dị. Không ngờ Thầy đã sống nhiều, đã kinh qua niềm đau nỗi khổ, trải nghiệm lắm truân chuyên và hiểu biết rộng sâu bởi đã học hỏi thân cận các bậc đạo sư lớn, thế mà khiêm tốn và bình thường đến dễ thương như vậy. Khoác chiếc áo Tiếp Hiện, đeo túi vải thô lòng thòng trên vai, không kẻ đón người đưa, không kiêu xa, không hình thức của kẻ áo gấm về làng. Cũng nụ cười mỉm mỉm và nhẹ nhàng, Thầy đi qua các chướng ngại mang tin vui vật chất và niềm tịnh lạc của pháp hành về tặng cho một số đông người ở quê hương. Ngoài việc chung là vậy, Thầy đã dành thì giờ thăm lại bạn bè xưa. Những bạn tu đón Thầy bồi hồi xúc động. Bạn bè nhân gian chảy nước mắt, mừng mừng chẳng biết nói chi. Người thân trong gia đình bàng hoàng như gặp Thầy trong cơn mơ. Sau đó Thầy lên đường về Mỹ. Trước khi về Thầy tìm mua bộ đồ trà mình yêu thích nhất, gói ghém thật gọn mang về để trân trọng tặng bạn thân. Bằng hữu của Thầy hiện tại nơi đây không đếm được bao nhiêu, nhưng nhìn sự thương quý của họ đối với Thầy đủ biết được tình Thầy trao cho họ.
Làm về thăm quê hương thứ hai vào năm 1999, Thầy bảo các bạn: “Mình về thăm lần này là lần cuối, chắc mình không về được nữa đâu.” Lời nói tưởng chừng đùa ai ngờ đâu sự thật. Lần này một người bạn thân thuở nhỏ đã giúp Thầy hoàn thành những gì cần giúp đỡ đối với người thân trong gia đình trước lúc đi xa. Thầy đã đến và đi trong cuộc đời này đẹp như thế đó. Sống kiêu hùng và cũng khiêm cung, phong lưu nhưng cũng chất chiu từng đồng tình nghĩa. Cuộc đời Thầy như đóa quỳnh tinh khiết nở trong đêm. Phút cận tử mắt nhắm nghiền tưởng chìm vào cõi vĩnh hằng, ấy thế mà khi nghe pháp ngữ của Sư Ông Làng Mai từ Bắc Kinh gọi về khai thị, Thầy đã mỉm cười, mặt tươi hồng và mở mắt ra, thần thái tinh anh rạng rỡ:
Trượng phu tiếng đã biết
Việc đáng làm đã làm
Tháp vừa dựng sườn núi
Tiếng cười trẻ đã vang.
Ngoài ra Sư Ông còn làm hai câu đối tặng Thầy:
Một lá ngô đồng rơi, người vẫn cùng ta leo đổi thế kỷ
Ngàn hoa thủy tiên hé, đất cứ theo trời hát khúc vô sinh.
Người xưa khi nói câu: ‘Việc đáng làm đã làm’ hẳn sẽ không còn tái hiện nhân thân trong cuộc đời vô thường nữa. Tuy nhiên kẻ trượng phu ra vào tự tại, đến đi thong dong, quả đại giác chưa tròn tức sẽ tái lai hành Bồ Tát đạo. Xin nguyện trăm kiếp nghìn đời luôn cùng Thầy làm bạn pháp.
Lộc Uyển Tự – Đại Ẩn Sơn,
19/10/2001
Thích Phước Tịnh
Xem thêm:
Đêm Thơ Nhạc: “Bão xuống cho đời rực rỡ sen” để tưởng nhớ thầy Giác Thanh sau 20 năm thầy rong chơi cùng Phù Vân.
Từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 10 năm 2021, Hội nghị thượng đỉnh tại COP26 do TED tổ chức đã diễn ra tại Edinburgh. Thầy Pháp Hữu, thầy Pháp Linh, sư cô Lăng Nghiêm và sư cô Hiến Nghiêm đại diện Tăng thân Làng Mai đã đem những lời dạy của Thầy và những phương pháp thực tập của Làng đến hiến tặng cho sự kiện TED Countdown trước thềm Hội nghị thượng đỉnh về khí hậu COP26 ở Glasgow. Quý thầy quý sư cô đã tổ chức những buổi thiền tập, hội thảo về nghệ thuật lắng nghe sâu, và một buổi học đặc biệt về “Làm thế nào để trở thành một Tổ Tiên tốt”, với tác giả Roman Krznaric và Rev. Yearwood.
Đây thật sự là một niềm vinh hạnh mà cũng là trải nghiệm sâu sắc đối với người xuất gia trong thời đại mới, khi có cơ hội góp mặt và chia sẻ những phương pháp thực hành tâm linh căn bản trước các nhà chính trị gia, nhà khoa học, nhà hoạt động môi trường, nhà lãnh đạo tư tưởng và nhà lãnh đạo doanh nghiệp. Trong đó, có bà Cristiana Figueres- người học trò xuất sắc của Thầy. Quý thầy quý sư cô cũng đã dành thời gian trò chuyện với người lãnh đạo của COP – ông Nigel Topping và nam diễn viên hài huyền thoại Rainn Wilson.
Qua dịp này, đoàn cũng có dịp kết nối và chia sẻ với Tăng thân cư sĩ ở Edinburgh nhân dịp xuất bản cuốn sách mới của Thầy về Thiền và nghệ thuật bảo vệ Trái Đất (Zen and the Art of Saving the Planet).
Trong tuần này, có 2 vị giáo thọ xuất sĩ của Làng Mai sẽ tiếp tục Hội nghị với mong muốn tiếp tục đóng góp sự có mặt và hiến tặng năng lượng bình an cũng như chia sẻ về thực tập chánh niệm.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới chương trình TED, nhiếp ảnh gia Gilberto Tadday và Lash đã cho phép chúng tôi chia sẻ những khoảnh khắc dưới đây:
Sư cô Hiến Nghiêm với bài chia sẻ tại TED ngày 15/10/2021. Nội dung bài chia sẻ xoay quanh 3 câu hỏi sư cô đặt ra cho mọi người cùng tìm câu trả lời cho mình: 1. Tôi là ai? 2. Tôi đang ở đâu? 3. Tôi muốn gì?
MC Lindsay Levin giới thiệu sư cô Hiến Nghiêm trước buổi chia sẻ
Tọa đàm “Làm sao để trở thành một Tổ Tiên tốt” tại TED.
Sư cô Lăng Nghiêm và Rev. Yearwood trong buổi tọa đàm “Làm sao để trở thành một Tổ Tiên tốt”.
Tọa đàm “Sức mạnh của sự có mặt: Nói và Nghe mang tính chuyển hóa” tại TED.
Tọa đàm “Sức mạnh của sự có mặt: Nói và Nghe mang tính chuyển hóa” tại TED.
Sư cô Hiến Nghiêm hướng dẫn mọi người thực tập nghe chuông trong buổi tọa đàm
Thầy Pháp Hữu chia sẻ thực tập trong buổi tọa đàm
Một khoảnh khắc huyền thoại! Quý thầy, quý sư cô trong đoàn gặp gỡ và tặng sách mới xuất bản của Sư Ông Làng Mai cho Al Gore.
Hãy hiểu khổ đế như những nỗi khổ đau có thực của chính bản thân và thời đại
Chúng ta thường được học và hiểu về khổ đế như là cái khổ của sinh, già, bệnh và chết; như là sự ham muốn nhưng không được thỏa mãn yêu thương nhau mà phải xa lìa; ghét nhau mà phải gần nhau; như là khổ đau khi năm uẩn chống báng nhau… Đây là cách diễn tả về khổ đế của người xưa. Nó mang tính biểu trưng, tính hình thức. Nếu nói nguyên nhân xuất gia của thái tử Tất Đạt Đa chỉ vì thấy cảnh sanh, lão, bệnh, tử trong một chuyến du ngoạn qua bốn cổng thành thì quá sơ sài. Chúng ta được biết lúc đi xuất gia, thái tử đã 26, 27 tuổi rồi, lại là người rất thông minh, tinh thông triết học, lẽ nào lại không biết sanh, lão, bệnh, tử là gì? Trong “Đường Xưa Mây Trắng” tôi nói thái tử đi xuất gia là vì thấy trong dân chúng khổ và trong triều đình cũng khổ, vua cha khổ mà các quan đại thần cũng khổ. Tuy họ có quyền hành và địa vị nhưng họ vẫn khổ vì sự chia rẽ, tranh giành quyền lực, đấu đá lẫn nhau; vì chính họ cũng có những khó khăn không giải quyết được nên họ không thể nào giúp được cho người dân, để cho dân chúng lâm vào cảnh nghèo đói, bệnh tật. Từ thực tế ấy, Ngài thấy được rằng chính trị, quyền hành và địa vị không thể mang lại niềm an vui cho chính mình và cho đất nước. Do đó, Ngài muốn đi tìm hạnh phúc, an vui cho mình, cho những người xung quanh theo một hướng khác.
Ở thời đại này, khi đề cập đến khổ đế, ta cần phải trình bày sao cho khế hợp. Trong khóa tu với nội dung: “Đạo Phật Dấn Thân” được tổ chức tại Hà Nội nhân dịp lễ Phật đản năm 2008, tôi có nói rằng khi nhắc đến khổ, trước tiên ta cần đề cập đến những nỗi khổ có thật trong thân và tâm của chính ta như: lo lắng, sợ hãi, căng thẳng, bạo động, giận hờn, trừng phạt… Đó là những căn bệnh kinh niên. Không biết lo cái gì, sợ cái gì, nhưng cứ lo hoài, sợ hoài. Khi năng lượng của sự giận dữ xâm chiếm thì ta muốn đập phá, muốn trừng phạt và muốn làm cho người kia đau khổ, tại vì người đó đã dám làm cho ta đau khổ. Trong ta sẵn có năng lượng bạo động, bực tức, muốn phản ứng và muốn phá đổ.
Khủng bố là bạo động
Hiện nay trong xã hội có rất nhiều năng lượng bạo động. Việc khủng bố vốn là bạo động nhưng chống khủng bố cũng bạo động không kém gì. Tôi còn nhớ, trong chuyến hoằng pháp tại Nam Hàn, tôi có tham dự một buổi diễn đàn hoà bình của tổ chức Liên Tôn. Lúc ấy, tình hình Iraq rất căng thẳng. Dù Mỹ chưa chiếm đóng Iraq nhưng mọi thứ chuẩn bị cho việc đánh chiếm Iraq đã sẵn sàng. Iraq có thể bị bỏ bom, có thể bị bao vây bất cứ lúc nào. Trong buổi thuyết trình ấy, tôi có nói là nếu là một người dân đang sống tại thành phố sắp bị chiếm đóng thì sẽ rất lo sợ, không biết bom sẽ dội xuống thành phố lúc nào. Những người dân phải sống trong tình trạng sợ hãi như vậy trong suốt một ngày thì sức khỏe sẽ bị ảnh hưởng rất xấu. Huống hồ gì phải sống trong tình trạng ấy liên tục nhiều ngày nhiều tháng? Thành phố có thể chưa bị bao vây, chưa bị chiếm đóng, nhưng người dân đã lo lắng và sợ hãi rồi. Cái đó là bạo động, là khủng bố. Khủng bố và bạo động với chính mình. Như vậy, bạo động và khủng bố đến từ hai phía chứ không đến từ một phía như thông thường ta hay nghĩ. Bạo động có trong tất cả chúng ta. Người có nhiều bạo động thì khổ nhiều, người có ít bạo động thì khổ ít.
Bạo hành trong gia đình
Một trong những vấn đề được quan tâm nhất hiện nay của xã hội là hiện tượng bạo hành trong gia đình. Khi cha mẹ chống báng nhau, gia đình đổ nát thì những đứa con phải lãnh chịu rất nhiều bất hạnh và khổ đau. Chúng khó có thể phát triển toàn diện và bình thường về nhân cách được. Khi trưởng thành, đại đa số những người con ấy mất niềm tin vào cuộc sống lứa đôi. Trên thế giới, tỉ lệ ly dị của các cặp vợ chồng rất lớn. Ở Hòa Lan tỉ lệ ly dị lên tới hơn 50%.
Những rạn nứt trong đời sống gia đình, lứa đôi và sức ép của xã hội đã dẫn đến những hậu quả khá nghiêm trọng và rất thương tâm. Đặc biệt là tình trạng tự tử. Theo thống kê, ở Việt Nam, khoảng vài giờ đồng hồ là có một người tự tử. Ở Pháp, mỗi năm, có trên mười hai ngàn (12.000) người trẻ tự tử. Nghĩa là mỗi ngày, có khoảng ba mươi ba (33) thanh niên chết vì tự tử. Bên cạnh đó còn có chiến tranh, khủng bố, sự phá hoại của môi trường và sự hâm nóng của địa cầu. Đây là những cái khổ đang có thực trong đời sống và ta phải gọi đúng tên chúng. Ta phải hiểu rằng Khổ đế là những nỗi khổ đang đích thực có mặt. Đừng hiểu lầm ý Bụt mà khẳng định rằng cái gì cũng chỉ toàn là khổ đau. Ta cần phải phân biệt được rõ ràng hai vấn đề sau: Chấp nhận khổ đau đang có mặt, và xử lý khổ đau. Rõ ràng, hai vấn đề này hoàn toàn khác nhau. Chúng ta cần điều chỉnh lại cách nhận thức của mình về giáo lý khổ đế mà Bụt đã dạy. Ví dụ, chúng ta có thể nói cái bàn vô thường hoặc vô ngã thì được, chứ còn nói cái bàn khổ thì hơi khó nghe. Mình khổ chỉ khi nào mọi vật vô thường mà mình cho là thường, mọi vật vô ngã mà cho là ngã. Khổ là một thái độ, một sự phản ứng của ta với các hiện tượng chứ không phải là bản chất của sự vật. Ta đừng nên bị nhồi sọ bởi thái độ giáo dục: Đi tìm khổ như bản chất của vạn hữu. Nếu làm vậy, ta đang nghĩ oan cho Bụt. Bụt chỉ nói rằng, có khổ đau, đừng chạy trốn khổ đau, và phải nhận diện những khổ đau đó để tìm cách giải quyết.
Nhận diện và chuyển hóa khổ đau
Nếu bị kẹt vào ý niệm mọi thứ đều là khổ, ta sẽ trốn chạy, sẽ đè nén, sẽ không dám đối diện với những khổ đau. Trong khi đó muốn chuyển hóa được khổ đau, ta phải nhìn sâu vào khổ đau để tìm ra cội rễ của những khổ đau này. Ví dụ, ta đang có sự căng thẳng trong thân, nếu không biết tại sao có những căng thẳng ấy thì làm sao ta có thể tự chữa trị cho chính mình? Nếu biết được căng thẳng là do ta quá bận rộn, do ta không an trú được trong giây phút hiện tại, do ta chưa có cơ hội để buông thư, thì ta sẽ có được giải pháp rất thích hợp cho chế độ nghỉ ngơi của chính mình. Còn ngược lại nếu mỗi ngày một ít, ta tự chất chứa, dồn nén những căng thẳng thì sau nhiều ngày, những căng thẳng bị dồn chứa ấy sẽ mang đến cho ta nhiều bệnh tật. Do vậy, khi có căng thẳng, ta cần phải cho phép mình được buông thư, hoặc dành thời gian để ngồi thiền, đi thiền thì những căng thẳng sẽ được thư giãn, không bị dồn nén nữa. Xã hội bây giờ ai cũng có căng thẳng, đó là sự thật thứ nhất. Sự thật thứ hai là cách ta tổ chức đời sống làm cho ta càng ngày càng bị căng thẳng. Đó là những sự thật về đạo đức mà không phải là những giả thuyết. Đó là thực tế.
Ta đã cùng nhau nhận diện và gọi tên những khổ đau của xã hội ngày nay. Những khổ đau này không có mặt riêng biệt. Chúng tương tức với nhau. Phần lớn các vấn đề xảy ra đều có liên quan đến sự căng thẳng. Nếu không căng thẳng, ta có thể giải quyết vấn đề một cách nhẹ nhàng, bình tĩnh, không nóng nảy. Tất cả những cái khổ đều tương tức với nhau. Do đó, khi tìm ra được nguyên do của một cái, ta sẽ tìm ra được nguyên do của những cái khác. Ta cũng nên biết, mỗi khổ đau xảy đến từ nhiều nguyên nhân.
Bàn tay phải này còn làm được nhiều chuyện khác nữa. Ví dụ như mỗi khi muốn cầm cái búa thì nó cầm rất giỏi, bàn tay kia cầm dở lắm, đóng không được mạnh, đôi khi còn đóng trật. Bàn tay này đôi khi cũng có trật nhưng nó đóng khá hơn. Bàn tay này đã từng viết chữ, làm thơ, viết thư pháp và làm nhiều chuyện khác nữa nhưng bàn tay này không bao giờ kỳ thị, phân biệt hay chê trách bàn tay kia. Nó không nói rằng: “Này, bàn tay trái ơi, anh là đồ vô tích sự, anh chẳng làm được gì hết, không làm thơ được, không viết thư pháp được”. Bàn tay phải không bao giờ nghĩ như vậy. Trong bàn tay phải không có cái gọi là kỳ thị, phân biệt, không có cái mạn, là tôi hơn anh, tôi bằng anh hay tôi thua anh. Trong bàn tay này có trí tuệ gọi là vô phân biệt trí. Cho nên nó sống một cách rất hài hòa và an lạc với bàn tay trái. Bàn tay trái cũng không có mặc cảm, nó không nói: “Trời đất ơi, anh làm hết tất cả mọi cái, còn tôi chẳng làm được gì hết”. Hai bàn tay không mặc cảm, vì chúng nó biết rằng cả hai đều từ một gốc mà ra. Chúng là hai anh em, giữa hai anh em không có sự kỳ thị, phân biệt nên không có vấn đề với nhau.
Bây giờ chị gái mình với mình có cư xử được như hai bàn tay không? Em trai mình với mình có cư xử được như hai bàn tay không? Đôi khi còn đánh lộn nữa, đôi khi còn giận hờn, ganh tỵ, đủ thứ hết. Thành ra mình chưa có vô phân biệt trí nhiều như hai bàn tay của mình. Chúng ta thấy sự phân biệt tạo ra biết bao nhiêu khổ đau: người da trắng kỳ thị người da đen, người Hồi giáo kỳ thị người Ấn Độ giáo, người Ấn Độ giáo kỳ thị người Hồi giáo, người Do Thái kỳ thị người Palestine, người Palestine kỳ thị người Do Thái. Chúng ta không cư xử được với nhau như hai bàn tay của cùng một cơ thể tại vì trong chúng ta chưa có cái thấy sâu sắc của vô phân biệt trí. Ta nên biết rằng khi bàn tay này đau thì mình cũng đau, phải có cái thấy như vậy thì mới được.
Có một lần thầy dùng tay phải cầm cái búa, tay trái cầm cái đinh tính treo một bức thư pháp trên tường cho đẹp, ai dè thầy đóng làm sao mà đã không đóng trên cái đinh, lại đóng trên ngón tay khiến nó đau quá chừng. Lập tức tay phải bỏ cái búa xuống, nắm lấy cái tay đang bị đau và đi kiếm thuốc, kiếm băng để băng bó. Bàn tay phải của thầy làm một cách rất tự nhiên, không nói rằng ta là bàn tay phải, ta đang băng bó cho ngươi, ta đang chăm sóc cho ngươi, ngươi phải nhớ điều đó mà đừng vô ơn bạc nghĩa. Bàn tay phải không bao giờ suy nghĩ như vậy. Nó không có sự kỳ thị, phân biệt giữa ta và người vì trong nó có cái vô phân biệt trí rất hay. Cho nên hai bàn tay sống với nhau rất hài hòa. Khi hai bàn tay chắp lại thành búp sen thì rất đẹp. Khi ăn cơm, bàn tay trái cầm cái chén, bàn tay phải cầm đôi đũa. Tay trái không nói là tôi nâng cái chén mệt mỏi quá, còn tay phải cũng không nói là tôi phải và cơm vào miệng mệt quá. Không bao giờ chúng có sự kỳ thị, phân biệt hay than phiền như vậy. Cho nên, chúng ta biết rằng trí vô phân biệt là cái có thật mà mình có thể thấy được. Khi mình tu học thành Phật, thành Bồ tát hay La hán thì hoàn toàn mình được như vậy. Mình không còn có sự kỳ thị, phân biệt nữa.
Con là người mới biết và thực tập pháp môn của Làng được hơn ba tháng nhưng cuộc sống của con đã có rất nhiều thay đổi tích cực. Và sự thay đổi nhiều nhất là ngay chính bản thân con. Trước đó, con luôn là người suy nghĩ tiêu cực vì trải qua những cú sốc tuổi trẻ và thấy cuộc đời thật khắc nghiệt và đau khổ. Khi lòng tốt của con muốn trao đến mọi người thì chính họ đã làm tổn thương con và từ đó trái tim con cứ dần thu hẹp. Con tự xây cho mình một bức tường để muốn giữ khoảng cách với tất cả. Con luôn tự hỏi “hạnh phúc là gì? Mình phải sống như thế này mãi sao?”. Con luôn ước ao có được hạnh phúc chân thực và định nghĩa hạnh phúc của mình không phải vật chất mà là tinh thần. Con hay nghĩ đến những tháng ngày tuổi thơ vui vẻ, hồn nhiên và lại hỏi “tại sao mình không được như vậy nữa?”. Luôn có sức nặng nề trong tâm mà con không biết phải làm thế nào để giải quyết. Vì bản thân có vấn đề nên con đã gây ra đau khổ cho những người xung quanh con. Con thấy mình sai, hối hận và thất vọng về bản thân. Con đã luôn cầu nguyện với Phật và Bồ Tát Quan Thế Âm gia hộ cho con tìm được vị Chân Sư trong cuộc đời này. Con đã lang thang đi tới các chùa để tìm cho được người Thầy đó nhưng mãi không thấy. Có những lúc con đã bật khóc vì cô đơn trong con đường tâm linh của mình.
Và rồi, cảm tạ đức Phật Thích Ca và Bồ Tát Quan Thế Âm đã đưa con đến với Sư Ông trong một ngày đẹp trời. Lúc đó, con đang quá vô vọng thì ánh sáng đã lóe lên khi con được tiếp xúc pháp môn thực tập Làng Mai trong khóa tu 5 ngày vào tháng 6 năm 2021. Con khóc rất nhiều, khóc như một đứa trẻ được tiếp xúc với pháp môn nhiệm màu của Sư Ông. Con đã rúng động khi nghe những lời giảng sâu sắc của quý thầy, quý sư cô tại Làng Mai Thái Lan và đồng cảm với những nỗi khổ của các thiền sinh trong khóa tu đó. Chỉ trong năm ngày ngắn ngủi, vậy mà con cứ như được sống trong thiên đường. Ánh mắt của con trở nên trìu mến và mọi vật xung quanh con như một bức tranh màu sắc sống động. Con như được ôm lấy và nuôi dưỡng trong những lời dạy sâu sắc của quý thầy, quý sư cô.
Sau khóa tu, con “say mê” đọc sách của Sư Ông quên cả giờ giấc, càng đọc con càng tâm đắc và hạnh phúc. Con cảm thấy tâm thức hạnh phúc của mình đang bị bỏ “đói” bấy lâu nay và lời dạy của Thầy đã giúp cho cái tâm thức đó có cảm giác dần được no hơn. Nhưng rồi thời gian sau đó, con ngẫm ra rằng nếu như mình cứ bay bổng và được ru êm ái trong câu văn của Thầy mà không chịu đi đôi với thực hành nghiêm túc thì có lẽ mình chỉ đang tiếp xúc với cái bóng mà thôi. Thế là con bắt đầu áp dụng sự thực tập cho bản thân và thấy rằng “con đường tu không thực sự dễ dàng”.
Khi lắng nghe sâu bản thân, con đã trồi sụp nhiều lần khi áp dụng sự thực tập chánh niệm trong đời sống hàng ngày và cố gắng tự nhủ “đừng thất vọng, hãy quay về hơi thở”. Khi quay về thân và tâm thì đồng nghĩa ta phải sẵn sàng đối mặt với niềm vui cũng như nỗi đau trong ta. Niềm vui thì không sao nhưng khi phải đối mặt với nỗi khổ, tổn thương, giận dữ thì thật không dễ dàng gì. Khi những đau khổ cứ trồi lên, con đã luôn gọi Bụt trong con giúp con ôm ấp, yêu thương em bé đáng thương này. Có lúc thành công nhưng có lúc thì không. Có thể chánh niệm trong con chưa đủ lớn để dang rộng vòng tay ôm ấp em bé đáng thương của mình.
Mỗi khi có khó khăn, con lại ngồi nghe Sư Ông giảng hay chăm chú đọc sách. Nhờ đó, con bắt đầu quay lại thực hành với những phương pháp căn bản, thở thật chậm và lắng nghe sâu, sâu hơn nữa, yêu thương mình hơn nữa. Một khi bản thân được cân bằng, con dễ dàng mỉm cười trở lại. Sau mỗi lần thực tập như thế, con có thể sống sâu sắc và nhận diện được những điều hạnh phúc nho nhỏ xung quanh mà trước giờ con không để ý. Con trở nên trầm hơn, ít nói và hành động cũng nhẹ nhàng hơn. Điều đó đã làm chồng con rất vui và tiếp tục ủng hộ con thực tập theo con đường tu học của Làng. Kể từ đó, hạt giống thích làm thơ và vẽ tranh trong con được phát hiện. Con chưa bao giờ nghĩ mình có khả năng này.
Trong quá trình thực tập, con nhận ra rằng: khi có thể lắng nghe thân tâm của mình càng sâu sắc bao nhiêu thì ta có thể tĩnh lặng lắng nghe âm thanh và hình ảnh nhiệm mầu từ Đất Mẹ rõ ràng bấy nhiêu. Quả thật là vậy. Hít vào thở ra, sâu chậm, khỏe nhẹ, Đất Mẹ tuyệt vời, trời xanh mây trắng, chim hót lá reo, gió đùa với lá, nắng trải muôn nơi, ngồi yên tĩnh lặng, đôi môi mỉm cười.
Mỗi sáng thức dậy, khi nghe những chú chim hót líu lo hay nhìn ánh nắng mới nhè nhẹ xuyên qua cửa sổ, con thấy mọi thứ sao mà đẹp và bình an đến vậy!. Có những lúc, năng lượng chánh niệm trong con bị chùng xuống, con rơi vào căng thẳng, thế là cả gia đình con cùng nhau đi ra ngoại ô, tìm tới những vùng đất có âm thanh của ếch ộp, châu chấu để lắng nghe những tiếng gọi của thiên nhiên như thế. Được tiếp xúc với hương thơm của những loài hoa cỏ dại, con cũng cảm thấy mình có sự liên kết với Đất Mẹ thân yêu, tâm như được cởi trói ngay lúc đó. Đất Mẹ đã nhiều lần hiến tặng cho chúng con ánh trăng rằm lung linh dưới mặt hồ tĩnh lặng. Nhìn thấy trăng, con thấy được hạt giống Bụt trong mình cũng sáng đẹp và thiện mỹ như vậy. Thì ra tìm đến Mẹ đơn giản lắm, chỉ cần ta muốn lắng nghe, muốn quay về thì ta có thể làm được ngay. Muốn là được, đó là sức mạnh của xứ sở hiện tại. Mẹ ở đây, thân ta ở đây, tâm ta đang ở đây, nhiệm màu đang xuất hiện.
Sau khi duy trì sự thực tập lắng nghe để hiểu và thương bản thân mình được một thời gian, con bắt đầu có kiên nhẫn để lắng nghe người thương của con. Chỉ khi nhận diện về năm uẩn của tự thân thì mới nhận diện được những vấn đề trong mình để biết mình đang bị bệnh gì? tại sao đau khổ? sao cứ quanh quẩn lòng vòng? Và con bắt đầu hiểu rằng người thương của con cũng có những lúc như con. Khi những cảm xúc tiêu cực và tri giác sai lầm khuấy động trong tâm, làm sao để gọi ánh sáng của Bụt chiếu rọi và làm tan cơn bão đó. Nếu cứ loay hoay mãi trong vòng xoáy thì ta sẽ kiệt sức và sẽ phát sinh ra những hành động bất thường. Vì vậy, con đã hiểu được nỗi khổ và vất vả của những người con thương: chồng con, bố mẹ hai bên nội ngoại, anh em, bạn bè, mọi người xung quanh. Từ đó, những xung đột mẫu thuẫn ngày xưa dần dần được tháo gỡ, dù chưa thật sự hoàn toàn nhưng đã êm ái hơn nhiều. Con đã nhận ra rằng: Mọi tổn thương đều cần thêm thời gian để trị liệu. Mỗi ngày một ít rồi mọi chuyện sẽ tốt đẹp.