Thời thơ ấu

 

Thiền sư Thích Nhất Hạnh, tên khai sinh là Nguyễn Đình Lang, sinh ngày 11 tháng 10 năm 1926 trong một đại gia đình tại cố đô Huế, miền Trung Việt Nam[i]. Cha của Thầy là Nguyễn Đình Phúc, người làng Thành Trung (nay thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế). Ông làm quan trong triều đình nhà Nguyễn thời Pháp thuộc, đảm trách công việc di dân lập ấp. Mẹ là bà Trần Thị Dĩ, người làng Hà Trung, tỉnh Quảng Trị[ii]. Thầy là con áp út trong số sáu người con. Thầy có ba người anh lớn, một người chị và một em trai út sinh sau Thầy không lâu. Cho đến khi lên năm tuổi, Thầy sống trong nhà của ông bà nội cùng với đại gia đình gồm các chú bác và anh em họ. Đó là một ngôi nhà lớn có sân, vườn trong thành nội.

Năm Thầy lên bốn tuổi, cha của Thầy được phái đến vùng miền núi ở phía Bắc tỉnh Thanh Hóa, cách nhà khoảng 500 cây số, để giám sát việc khai phá rừng làm đất canh tác cho nông dân nghèo. Một năm sau đó, cả gia đình Thầy chuyển về huyện Nông Cống, Thanh Hóa để sống cùng với cha. Thầy học tiểu học ở đó và khi nghỉ hè thì đi học thêm ở các lớp dạy tư tại nhà. Thầy được ghi danh đi học với tên mà cha mẹ đặt cho là Nguyễn Đình Lang. Vốn hiếu học, ngoài giờ ở trường, Thầy còn dành thời gian rảnh để trau dồi thêm quốc ngữ, tiếng Pháp và tiếng Hán cổ. Thầy thích thú đọc những cuốn sách hay những tờ báo Phật giáo mà anh Nho, anh trai của Thầy, đem về nhà. Đây là người anh mà Thầy rất thương kính và ngưỡng mộ. Anh Nho cũng dạy Thầy cách vẽ truyền thần, thậm chí còn dạy Thầy cả cách chụp và rửa ảnh từ một cái máy do anh tự chế.

Trong nhiều bài pháp thoại sau này, Thầy thường nhớ lại một khoảnh khắc vô cùng quan trọng, có lẽ vào năm Thầy lên chín tuổi, đó là khi Thầy tình cờ nhìn thấy hình Bụt trên bìa của một tạp chí Phật giáo mà anh Nho mang về. Hình ảnh Bụt ngồi thật an nhiên trên bãi cỏ với nụ cười từ bi đã chiếm lấy tâm trí của cậu bé và để lại trong cậu một dấu ấn sâu đậm về sự bình an và tĩnh lặng. Hình ảnh ấy thật tương phản với những khổ đau và bất công mà cậu nhìn thấy xung quanh mình, trong bối cảnh đất nước nằm dưới sự đô hộ của người Pháp. Bức hình đã đánh thức ước muốn rất rõ ràng và mãnh liệt trong lòng cậu bé, ước muốn được giống như Bụt – hiện thân của sự tĩnh lặng, bình an, thảnh thơi – và có thể giúp những người xung quanh cũng làm được như vậy[iii]. Năm Thầy khoảng mười một tuổi, vào một buổi tối sau khi ăn cơm xong, Thầy cùng các anh trai và hai người bạn ngồi chơi, trò chuyện với nhau về ước muốn mình sẽ làm gì khi lớn lên. Có người muốn làm bác sĩ, có người muốn làm luật sư. Anh Nho của Thầy là người đầu tiên trong nhóm muốn trở thành một người tu. Ban đầu, ý tưởng đi tu thật là mới mẻ với những người còn lại trong nhóm, nhưng sau một hồi nói chuyện với nhau thì cả nhóm đều đồng ý là sẽ đi tu hết. Sau này Thầy có nói: “Trong buổi nói chuyện đó, có một ước muốn đi lên trong thầy rất rõ ràng. Thầy biết là tận sâu trong lòng mình, thầy muốn làm một người tu”[iv].

Khoảng sáu tháng sau đó, trong một chuyến đi dã ngoại do trường tổ chức tới một ngọn núi thiêng trong vùng, cậu bé đã có được sự trải nghiệm tâm linh đầu tiên, theo như Thầy diễn tả sau này[v]. Khi các bạn cùng lớp ngồi ăn trưa, cậu đã háo hức một mình đi khám phá ngọn núi này, vì nghe nói có một ông đạo sống trên núi[vi]. Cậu không tìm được ông đạo nhưng, vừa khát vừa mệt, cậu tình cờ thấy một cái giếng thiên nhiên có nước rất mát và tinh khiết. Cậu bé vốc nước uống rồi nằm xuống tảng đá cạnh bên ngủ một giấc ngon lành. Trải nghiệm đó đem đến cho cậu một cảm giác mãn ý vô cùng sâu sắc. Cậu có cảm tưởng mình đã gặp được ông đạo dưới hình thức cái giếng và đã tìm được một thứ nước ngon nhất trên đời để thỏa mãn cơn khát[vii]. Trong đầu cậu bé đi lên một câu tiếng Pháp: J’ai gouté l’eau la plus délicieuse du monde (tôi đã nếm được thứ nước ngon nhất trên đời). Từ ngày ấy trở đi, cậu nuôi ước muốn xuất gia.

Năm Thầy lên 12 tuổi, anh Nho quyết định xuất gia. Con đường mà anh Nho – người anh mà thầy vô cùng quý kính – chọn để bước đi đã gây cảm hứng cho Thầy. Anh Nho xuất gia tại chùa Đại Bi ở Thanh Hóa, cách nhà khoảng 15km[viii]. Thời gian đó, rất khó để cha mẹ chấp nhận chọn lựa này của anh Nho, bởi vì cha mẹ biết rằng cuộc sống của một người xuất gia có thể rất khó khăn. Dù vậy Thầy vẫn muốn xuất gia cùng với anh, nhưng Thầy đã chờ cho đến khi được cha mẹ cho phép. Mặc dù tuổi còn nhỏ nhưng những bài viết và các câu chuyện Phật giáo mà Thầy được đọc đã gây cảm hứng và cho Thầy ý tưởng là đạo Bụt có thể giúp mang lại nhiều công bằng, tự do và thịnh vượng hơn cho xã hội Việt Nam[ix]. Không lâu sau đó, anh Nho đã được Ôn Trú trì chùa Đại Bi, Thiền sư Trừng Pháp Chân Không gửi đi Huế để tiếp tục tu học tại chùa Từ Hiếu. Thầy rất háo hức muốn được đi cùng. Cuối cùng thì cha mẹ đã đồng ý cho Thầy thực hiện ước mơ xuất gia, Thầy theo anh Nho vượt 500 cây số đường dài ngược về phía Nam.

Năm 1942, lúc 16 tuổi, Thầy được xuất gia với thầy bổn sư là thiền sư Chân Thật (1884-1968), thuộc dòng thiền Lâm Tế chánh tông và phái Liễu Quán[x]. Lúc mới vào chùa, Thầy được gọi là Điệu Sung. Ba năm sau, vào sáng sớm ngày rằm tháng 9 (âm lịch) năm 1945, Thầy chính thức được thọ giới sa di. Khi thọ Năm giới, Thầy được nhận pháp danh là Trừng Quang, nghĩa là ánh sáng tịch tĩnh. Khi thọ giới sa di, Thầy được bổn sư đặt pháp tự là Phùng Xuân 逢春, có nghĩa là “đi gặp mùa xuân“. Đây là tên mà Thầy được gọi trong chùa.

 

 

 

[i] Thầy thuộc thế hệ thứ 15 của dòng họ Nguyễn Đình. Trong dòng họ của Thầy có nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu – một danh nhân của Việt Nam – thuộc thế hệ thứ 9 của dòng họ Nguyễn Đình.

[ii]Bà có pháp danh là Trừng Thính. Cha mẹ của Thầy đã thọ Năm Giới khi lên thăm Thầy tại chùa Từ Hiếu vào dịp Tết Nguyên đán năm 1947.

[iii] Tờ báo đó là tờ Đuốc Tuệ. Câu chuyện này đã được ghi lại trong cuốn sách A Pebble for Your Pocket (2001).

[iv] Pháp thoại của Thầy, ngày 8.6.1992

[v] Thầy đã kể câu chuyện này trong buổi vấn đáp tại trường đại học Brock, Toronto, Canada vào ngày 15.8.2013; cũng như trong buổi vấn đáp ngày 19.7.2009 tại Làng Mai, Pháp.

[vi] Ngọn núi đó có tên là Núi Na, ở Thanh Hóa. Câu chuyện về ông đạo ở Núi Na đã từng xuất hiện trong tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ – một danh sĩ ở thế kỷ 16. Có thể nó dựa trên một câu chuyện có thật về một vị quan đời Trần lui về ẩn cư trên núi vào thế kỷ 14. Để tìm hiểu thêm, xin xem tại đây.

[vii] Câu chuyện này đã được kể lại trong tác phẩm The Hermit and the Well (2001).

[viii] Anh Nho xuất gia với Thiền sư Trừng Pháp Chân Không tại chùa Đại Bi ở Thanh Hóa, với pháp danh là Thích Giải Thích. Nhiều thập kỷ sau, vào năm 2010, Thầy đã lấy tên Chùa Đại Bi để đặt cho nơi ở của quý sư cô ở Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) tại Đức.

[ix] Một trong những tạp chí Phật học mà Thầy được đọc lúc khoảng 9 tuổi là tờ Đuốc Tuệ, trong đó có những bài viết về Nhân gian Phật giáo, tức là đề tài Phật giáo đi vào cuộc đời. Trong bài pháp thoại được đăng trên Mindfulness Bell #08, mùa xuân 1993, với tựa đề “Cultivating our Deepest Desire”, Thầy chia sẻ: “Tôi nhớ trong tờ báo đó có một loạt bài viết về chủ đề đạo Bụt đi vào cuộc đời – một đạo Bụt được thực tập trong gia đình và xã hội mà không chỉ trong chùa mà thôi. Những bài viết ấy đã thắp lên trong tôi ước muốn tỉnh thức, giác ngộ.”

[x] Thiền sư Chân Thật thuộc thế hệ 41 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 7 của phái Liễu Quán. Thiền sư có pháp danh là Thanh Quý 清季, pháp tự là Cứu Cánh 究竟 và pháp hiệu là Chân Thật 真寔.

Cáo phó: Thiền sư Thích Nhất Hạnh viên tịch

Tổ Đình Từ Hiếu

Đạo Tràng Mai Thôn

Nam Mô Đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni

Kính khải bạch chư tôn Trưởng lão Hòa thượng, chư Thượng tọa Đại đức Tăng Ni,

Kính thưa quý vị Thân hữu, Thiền sinh và Phật tử cư sĩ các giới khắp nơi trên thế giới,

Sau những năm tháng an dưỡng tại Tổ đình Từ Hiếu, vào lúc 01:30 ngày 22 tháng 01 năm 2022 (nhằm ngày 20 tháng Chạp năm Tân Sửu), Thiền sư pháp hiệu trước Nhất sau Hạnh, Niên Trưởng Trú trì Tổ đình Từ Hiếu đã thâu thần thị tịch tại Tổ đình, nơi Người đã xuất gia cách đây tám mươi năm, trụ thế 96 tuổi và 70 hạ lạp.

 

Thiền sư Thích Nhất Hạnh – Sư Ông Làng Mai là bậc thầy hướng dẫn tâm linh có công hạnh hoằng hóa rộng rãi và ảnh hưởng sâu dày trên khắp thế giới. Thiền sư đồng thời là một nhà văn hóa, một nhà văn, một nhà thơ, một học giả, một sử gia và một nhà hoạt động hòa bình. Thiền Sư được biết đến qua những buổi thuyết giảng công cộng cho cả hàng chục ngàn người và hơn 120 tác phẩm xuất bản giá trị. Thiền sư đã mở ra hướng đi và phát triển những pháp môn thực tập với nhiều khoá tu dành cho các nhà giáo dục, thanh thiếu niên, nghệ sĩ, doanh nhân, các nhà lãnh đạo, y bác sĩ… Bên cạnh sự nghiệp hoằng pháp Thiền sư cũng đã tổ chức nhiều Đại Giới Đàn và lễ Truyền Đăng, Việt hoá Nghi lễ và tân tu Giới bản để tiếp dẫn hậu lai. 

 

Mục sư Martin Luther King vinh danh Thiền sư như là “một Thánh tông đồ của hòa bình và bất bạo động” khi đề cử Người cho giải Nobel Hòa bình vào năm 1967. Trong gần 40 năm sống xa quê hương, Thiền sư là một trong những người tiên phong mang đạo Bụt, đặc biệt là pháp môn chánh niệm đến xã hội phương Tây và góp phần xây dựng một cộng đồng Phật giáo Dấn thân cho thế kỷ XXI với gần 1250 đệ tử xuất gia, hàng triệu đệ tử tại gia và hàng trăm triệu độc giả trên khắp năm châu. Rất nhiều học trò của Thiền sư đã gặt hái được nhiều hoa trái trong sự thực tập và tiếp nối được sự nghiệp hoằng hoá mà Thiền sư trao truyền suốt những thập kỷ qua.

 

lược Tiểu s

  • Thiền sư Thích Nhất Hạnh, thế danh Nguyễn Xuân Bảo, sinh năm Bính Dần (1926) tại làng Thành Trung, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Là con kế út trong gia đình có sáu anh chị em, cha là cụ ông Nguyễn Đình Phúc, mẹ là cụ bà Trần Thị Dĩ.
  • Năm 1942, xuất gia tại Tổ đình Từ Hiếu với Thiền sư Thanh Quý Chân Thật, được ban pháp danh Trừng Quang.
  • Tháng 9 năm 1945, thọ giới Sa di với Bổn sư, được ban pháp tự Phùng Xuân.
  • Năm 1947, theo học Phật học đường Báo Quốc, Huế.
  • Năm 1949, rời Huế vào Sài Gòn tiếp tục tu học. Bắt đầu sự nghiệp sáng tác với pháp hiệu Thích Nhất Hạnh, một trong nhiều bút hiệu của Thiền sư. Đồng sáng lập chùa Ấn Quang, làm giáo thọ Phật học đường Nam Việt.
  • Tháng 10 năm 1951, thọ Giới Lớn tại chùa Ấn Quang, Sài Gòn  với Hòa thượng Đường đầu Thích Đôn Hậu.
  • Năm 1954: Tổng Hội Phật Giáo giao trách nhiệm cải cách giáo dục, làm Giám học Phật Học Đường Nam Việt.
  • Năm 1955, làm chủ bút Nguyệt san Phật giáo Việt Nam, cơ quan ngôn luận của Tổng hội Phật Giáo Việt Nam.
  • Năm 1957, thành lập Phương Bối Am, Bảo Lộc.
  • Năm 1961 – 1963, tham học, nghiên cứu và giảng dạy tại đại học Princeton và Columbia, Hoa Kỳ. Sáng tác đoản văn “Bông Hồng Cài Áo”.
  • Năm 1964, được mời trở về Việt Nam tham gia lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), thành lập Viện Cao đẳng Phật học Sài Gòn tại chùa Pháp Hội (tiền thân của Viện đại học Vạn Hạnh) và nhà xuất bản Lá Bối. Làm chủ bút tuần san Hải Triều Âm, cơ quan ngôn luận của Viện Hóa Đạo.
  • Năm 1965, thành lập trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội.  Năm 1966, thành lập Dòng tu Tiếp Hiện. 
  • Ngày 1.5.1966, được Bổn sư phú pháp truyền đăng tại chùa Từ Hiếu và được kế thừa Trú trì Tổ đình Từ Hiếu sau khi Bổn sư viên tịch.
  • Ngày 11.05.1966, rời Việt Nam kêu gọi Hòa bình, bắt đầu 39 năm lưu vong. 
  • Năm 1967, được mục sư Martin Luther King Jr. đề cử giải Nobel Hòa bình.
  • Năm 1968 – 1973, vận động hòa bình cho Hội nghị Hòa bình Paris (1968-1973). Trong thời gian này, được mời dạy môn “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” tại trường đại học Sorbonne, Pháp Quốc và soạn Việt Nam Phật giáo Sử luận 3 tập với bút hiệu Nguyễn Lang.
  • Tháng 9 năm 1970, được GHPGVNTN chính thức đề cử làm lãnh đạo Phái đoàn Phật giáo Hòa bình tại Hội nghị Paris. 
  • Tháng 5 năm 1970, tham gia soạn thảo Tuyên ngôn Menton về vấn đề tàn hại sinh môi, ô nhiễm môi trường và sự gia tăng dân số. Cùng các cộng sự gặp ông U Thant, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc và được ông cam kết yểm trợ.
  • Năm 1972, chủ trì Hội nghị Môi trường có tên Đại Đồng với nội dung: sinh thái học bề sâu, tính tương tức và tầm quan trọng của việc bảo hộ trái đất. 
  • Năm 1971, thành lập Phương Vân Am, Paris.
  • Năm 1976, cứu giúp thuyền nhân và thực hiện chương trình “Máu chảy ruột mềm”.
  • Năm 1982, thành lập Đạo tràng Mai Thôn tại Pháp.
  • Năm 1998, thành lập Tu viện Thanh Sơn, Hoa Kỳ; năm 2000, thành lập Tu viện Lộc Uyển, Hoa Kỳ.
  • Năm 1999, cùng với các chủ nhân giải Nobel Hòa bình soạn thảo Tuyên ngôn 2000 về một nền hòa bình và bất bạo động cho thiên niên kỷ mới.
  • Năm 2005, trở về Việt Nam lần thứ nhất. Thành lập tu viện Bát Nhã, Bảo Lộc.
  • Năm 2007, trở về Việt Nam lần thứ hai, tổ chức ba Đại Trai Đàn Bình Đẳng Chẩn Tế tại ba miền.
  • Năm 2008, trở về Việt Nam lần thứ ba, thuyết giảng tại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc.
  • Từ năm 2008, thành lập Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu, Đức; Tu viện Bích Nham, Tu viện Mộc Lan, Hoa Kỳ; Thiền đường Hơi Thở Nhẹ, Paris; Làng Mai Thái Lan; Viện Phật học Ứng dụng Châu Á, Hong Kong;  Tu viện Nhập Lưu, Úc; Ni xá Diệu Trạm, Ni xá Trạm Tịch, Việt Nam, tiếp tục mở rộng công trình hoằng pháp và xây dựng Tăng thân trên khắp thế giới.
  • Tháng 10 năm 2018, trở về an dưỡng tại Tổ đình Từ Hiếu, Việt Nam.
  • 01:30 giờ ngày 22 tháng Giêng năm 2022, an nhiên thị tịch tại Thất Lắng Nghe, Tổ đình Từ Hiếu. 

Nhất tâm đảnh lễ Tân Viên Tịch, Tự Lâm Tế Tông Tứ Thập Nhị Thế, Liễu Quán Pháp Phái Đệ Bát Thế, Từ Hiếu Tổ Đình Niên Trưởng Trú Trì, Mai Thôn Đạo Tràng Quốc Tế Khai Sơn, Huý Thượng Trừng Hạ Quang, Tự Phùng Xuân, Hiệu Nhất Hạnh Thiền Sư, Nguyễn Công Hoà Thượng Giác Linh.

 

Chúng con sẽ cập nhật thông tin về chương trình Tang lễ trên Trang nhà Làng Mai

Xem thêm:

 

Kinh Duy Ma Cật

VIMAXAKIRTI NIRDESA

Sao gọi là không “an trú nơi vô vi”? Bồ Tát quán không, nhưng không lấy không làm đối tượng tu chứng. Bồ tát tu tập về vô tướng và vô tác nhưng không lấy vô tướng và vô tác làm đối tượng tu chứng. Tu tập vô sanh mà không lấy vô sanh làm đối tượng tu chứng. Quán niệm vô thường mà không bỏ việc lợi hành. Quán niệm về khổ mà không chán ghét sinh tử. Quán niệm về sinh diệt mà không đi vào tịch diệt. Quán niệm về buông thả mà thân vẫn thực hiện các pháp lành. Quán niệm sự không qui túc mà vẫn qui túc theo vạn pháp. Quán niệm vô sanh mà vẫn nương vào hữu sanh để gánh vác nhiệm vụ. Quán niệm về vô lậu mà vẫn còn ở thế giới nhân duyên. Quán niệm về vô hình mà vẫn tiếp tục hành động để giáo hóa. Quán niệm về không vô mà không bỏ đại bi. Quán niệm về tính cách hư vọng, không bền, không nhân, không chủ, không tướng của các pháp mà không từ bỏ công trình phước đức, Thiền định và trí tuệ. Bồ Tát tu các pháp như thế gọi là không trú nơi vô vi. 
Bồ Tát cũng vì có đầy đủ phước đức mà không trú ở vô vi, và đủ trí tuệ mà không chấm dứt ở hữu vi. Vì lòng thương lớn mà không trú vô vi, vì muốn thực hiện đại nguyện mà không chấm dứt ở hữu vi.

 

Kinh Bảo Tích

SIKSHASAMUCCAYA RATNAKUTA

Hành giả tìm tâm, tâm nào? Tâm tham, tâm giận hay tâm si? Tâm quá khứ, tâm hiện tại hay tâm vị lai. Tâm quá khứ không còn. Tâm vị lai chưa có. Tâm hiện tại không trú.

Này Ca Diếp, tâm không thể nắm bắt từ bên trong hay bên ngoài, hay ở giữa. Tâm vô hướng vô niệm, không có chỗ sở y, không có nơi qui túc. Chư Phật không thấy tâm trong quá khứ, trong hiện tại và trong vị lai. Cái mà chư Phật không thấy thì làm sao quán niệm nổi. Nếu có quán niệm thì chẳng qua là sự quán niệm về sinh diệt của các đối tượng tâm ý. Tâm như một ảo thuật, vọng tưởng điên đảo cho nên có sinh diệt muôn trùng. Tâm như nước trong dòng sông không bao giờ dừng lại. Vừa sinh đã hoại diệt. Tâm như ngàn lưỡi đao do nhân duyên mà có. Tâm như chớp giật loé lên rồi tắt. Tâm như không gian nơi muôn vật đi ngang. Tâm như bạn xấu tạo tác nhiều lầm lỗi. Tâm như lưỡi câu đẹp nhưng nguy hiểm. Tâm như ruồi xanh ngó đẹp nhưng rất xấu. Tâm như kẻ thù tạo tác nhiều nguy biến. Tâm như yêu ma tìm nơi hiểm yếu để hút sinh khí người. Tâm như kẻ trộm, trộm hết căn lành.

Tâm ưa thích hình dung như mắt con thiêu thân, ưa thích âm thanh như trống trận, ưa thích mùi hương như lợn thích rác bẩn, ưa thích vị ngon như ruồi thích thức ăn thừa, ưa thích xúc giác như con ruồi sa đĩa mật. Tìm tâm hoài mà không thấy tâm đâu. Đã tìm không thấy thì không thể phân biệt được. Những gì không thể phân biệt được thì không có quá khứ và hiện tại lẫn vị lai. Những gì không có quá khứ hiện tại lẫn vị lai thì không có mà cũng không không.

Hành giả tìm tâm bên trong cũng như bên ngoài không thấy. Không thấy tâm nơi ngũ uẩn, nơi tứ đại, nơi lục nhập. Hành giả không thấy tâm nên tìm dấu của tâm và quán niệm : tâm do đâu mà có? Rồi ý thức rằng hễ khi nào có vật thì có tâm. Vậy vật và tâm có phải là hai thứ khác biệt?

Không có cái gì là vật, cái đó cũng là tâm. Nếu vật và tâm là hai thứ thì hoá ra tâm có tới hai tầng? Cho nên vật chính là tâm… Vậy thì tâm có thể quán tâm không. Không, tâm không thể quán tâm. Một con dao không thể tự cắt mình, ngón tay không tự sờ mình, tâm không thể quán mình.

Bị dằn ép tứ phía, tâm phát sinh mà không có khả năng an trú, như con vượn chuyền cành, như hơi gió thoảng qua. Tâm không có tự tính. Biến chuyển rất nhanh chóng, bị cảm giác làm dao động, lấy lục nhập làm môi trưởng, duyên thứ này tiếp thứ khác. Làm cho tâm ổn định, bất động, tập trung an tĩnh, không loạn động, đó gọi là Quán niệm tâm ý.

 

Lời chúc và câu đối Tết Nhâm Dần 2022

Trong dịp chào đón năm mới Nhâm Dần, tăng thân Làng Mai có hai câu đối “Ngày xuân trên hoà dưới thuậnBốn mùa trong ấm ngoài êm” làm món quà gởi đến quý thân hữu để quý vị có thể in lên giấy hồng điều đón xuân và thực tập với tăng thân.

Nhiều năm qua, tăng thân Làng Mai luôn gởi đến đại chúng câu đối trong mỗi dịp Tết về. Lúc cón trẻ, Sư Ông từng viết câu đối để làm quà cho những gia đình tại Việt Nam. Câu đối lúc ấy trở thành một ngọn nến sáng giữa đêm dài chiến tranh. Có những năm Sư Ông viết câu đối chỉ có hai chữ, hay bốn chữ để đại chúng thực tập. Câu đối trong truyền thống Làng Mai mang theo trái tim của sự thực tập. Câu đối được dán lên một cách trang trọng, chánh niệm để thưởng thức trong khoảnh khắc đầu năm, và trở thành tiếng chuông nhắc nhở chúng ta thực tập suốt năm. Sự thực tập ấy trở thành một nguồn năng lượng tập thể nuôi lớn tuệ giác của mỗi thành phần trong tăng thân, giúp chúng ta “xây dựng tình huynh đệ, đi với nhau như một dòng sông và thực tập để làm lớn thêm ba đức là trí đức, ân đức và đoạn đức, để thực hiện được sự nghiệp giác ngộ tập thể”. (Giới Tiếp Hiện)

Khi chúng ta nói “trên hoà dưới thuận”, cũng như khi người Việt nói “kính trên nhường dưới”, điều đó không có nghĩa là ta phân chia ranh giới rành mạch ai trên ai dưới, ai anh ai em; điều đó không có nghĩa là trên thì trên thôi, dưới thì dưới thôi, không khác được. Nó chỉ có nghĩa như trong một chỗ ngồi quá đường, chúng ta sẽ nhận diện rất rõ ta cũng là anh, là chị mà ta đồng thời cũng là em, ta cũng ngồi trên mà đồng thời ta cũng ngồi dưới. Đó là sự tương tức và vô ngã trong tất cả mọi chỗ ngồi. Cái thấy đó đưa mình đến sự ứng xử cũng biểu hiện được tuệ giác vô ngã. Vô ngã là tuệ giác mà không phải là một lời tuyên bố. Vô ngã không có nghĩa là không thầy, không trò, không sư anh, sư chị, sư em, không cha mẹ, không con cái gì nữa. Vô ngã thì dù ta làm thầy, làm trò, làm anh, làm em, làm cha mẹ hay làm con cái, ta đều thực tập được. “Trên hoà dưới thuận” nghĩa là mình làm thầy cho ra thầy, mình làm sư anh, sư chị cho ra sư anh sư chị, mình làm sư em cho ra sư em, mình làm con cháu cho ra con cháu, mình làm cha mẹ cho ra cha mẹ. Mình hiện thân trong tất cả những bóng dáng đó, bóng hình nào cũng suy nghĩ, nói năng và hành xử có thuận có hoà, có đầy sự hiểu biết, cảm thông, nâng đỡ và thương yêu. Duy biểu học gọi đó là Đại viên cảnh trí và Diệu quan sát trí. Sự thực tập này giúp ta vượt thoát mặc cảm như bị chèn ép, mặc cảm rằng người trên dùng quyền, hay người dưới không nghe lời, giúp ta vượt thoát mặc cảm hơn người, thua người, bằng người. 

Sự thực tập đó càng sâu thì trong ta có ánh sáng, nhờ đó mà những gì xảy ra quanh ta cũng được chánh niệm chiếu soi rõ ràng. “Trong ấm ngoài êm” đi theo “trên hoà dưới thuận” một cách song hành. Những từ ngữ diễn đạt rất đơn giản nhưng chuyên chở tuệ giác của tổ tiên. Trở về với tự thân, nuôi dưỡng những hạnh phúc đang có bằng bước chân và hơi thở chánh niệm, bằng lời nói ái ngữ, bằng cái nhìn bao dung và hiểu biết, chúng ta giữ gìn tâm thương yêu và biết cách hiến tặng niềm vui cho cuộc đời.

Trong giờ phút thiêng liêng đón mừng xuân mới, bốn chúng Làng Mai kính chúc quý thân hữu một năm mới thật nhiều sức khỏe, nhiều niềm vui, bình an và có nhiều hoa trái trong sự thực tập. Tăng thân kính tri ân tất cả quý vị đã đồng hành và yểm trợ cho Tăng thân trong suốt một năm đầy thử thách vừa qua.

 

Tải câu đối Tết tại đây

 

 

Trở về ôm lấy em bé thương tích.

Trích từ sách ” Đi gặp mùa xuân” của Sư Ông Làng Mai.

Nhiều người trong chúng ta có một thời thơ ấu đã từng đi ngang qua những giai đoạn rất khó khăn và có nhiều thương tổn( traumatisme) rất nặng. Nên ta thường không muốn nhớ lại những giai đoạn khổ đau đó. Mỗi lần tiếp xúc với những kỉ niệm đau buồn ấy thì ta chịu không nổi, cho nên cơ chế tự tồn, tự vệ trong mỗi chúng ta có khuynh hướng vùi chôn đi những kỉ niệm đau thương đó ở những vùng xa thẳm của tâm thức. Khi có một người nào tới khơi dậy mối thương tâm đó thì ta khóc, buồn khổ và có khi không ăn cơm được trong một, hai hay ba ngày. Em bé trong ta có thể đang bị thương tích rất nặng. Nhưng vì không có đủ sức mạnh cho nên trong quá khứ mấy chục năm vừa rồi ta chỉ muốn trốn tránh và không dám gặp mặt em bé ấy. Cho nên em bé ấy vẫn tiếp tục đau khổ và đòi hỏi sự săn sóc, thừa nhận từ chúng ta. Vì sợ khổ nên chúng ta luôn trốn tránh và làm ngược lại chuyện đó. Phương pháp của đạo Bụt là thực tập như thế nào để chế tác được năng lượng chánh niệm. Với năng lượng đó chúng ta không cần phải sợ hãi nữa mà có thể trở về gọi đích danh em. Ôm lấy và nói chuyện với em. 

Đầu tiên là nhận diện. Này em bé trong tôi đang bị thương tích, tôi biết em đang có mặt đó. Trong những năm vừa qua, tôi đã rất tệ bạc, bỏ em một mình bơ vơ với những vết thương nặng nề. Bây giờ, tôi đã trở lại. Xin em cho phép tôi ôm em vào lòng. Tội nghiệp em quá! Mình ôm ấp và nói chuyện với em bé thương tích trong mình như vậy. Nếu cần thì cả hai chị em cùng khóc với nhau. Trong giờ thiền toạ cũng được. Hãy nói chuyện với em bằng ngôn ngữ vắng lặng. Trong rừng mình có thể nói chuyện với em. Mình với em không phải là hai mà cũng không phải là một. Đã có nhiều người thực tập theo pháp môn này và sau một thời gian thì thấy có sự thuyên giảm và được chuyển hoá, trị liệu.  Mối liên hệ giữa họ với những người thương cũng trở nên dễ dàng hơn. Khi đã thực sự trở về chữa trị cho em bé bị thương trong ta rồi thì ta có đủ sức mạnh và  khả năng để hiểu và thương những người xung quanh ta nhiều hơn. Người em, chị, anh kia có thể cũng đang có một em bé bị thương tích nặng nề ở trong họ và ta có thể giúp người đó được. Cho nên sau khi đã chửa trị cho mình rồi, ta thấy liên hệ giữa ta và những người khác trở thành tốt đẹp, dễ dàng hơn. Bởi vì ta đã có nhiều hiểu biết và bình an hơn. 

 

 

 Trong ánh sáng của kinh Trung Đạo Nhân Duyên, cho ta thấy được rằng em bé thương tích trong ta không chỉ là ta mà đó cũng chính là mẹ của ta. Tại vì trong suốt cuộc đời, mẹ đã từng đau khổ và bị thương tích rất nhiều. Có thể mẹ chưa gặp được chánh pháp để biết được phương pháp trở về ôm lấy em bé bị thương trong mẹ. Vì vậy em bé bị thương trong ta cũng chính là mẹ ta đang bị thương. Ta cần ôm lấy em bé đó bằng tất cả tình thương yêu. Trong khi ôm lấy em bé ấy, ta cũng đang ôm lấy hết những em bé trong quá khứ của nhiều thế hệ. Ta vỗ về và trị liệu cho chúng. Sự thực tập này không phải là cho cái ngã của ta mà là thực tập cho không biết bao nhiêu thế hệ của tổ tiên và con cháu. Khi đã ôm ấp được em bé bị thương tích ấy, ta cũng đã ôm ấp được mẹ và cha của ta. Nếu không làm bây giờ thì bao giờ ta mới làm? Em bé ấy luôn có mặt đó. Nhưng  ta thường hay bỏ quên. Bây giờ ta phải trở về, nhận diện, ôm ấp, công nhận sự có mặt của em. Phải cùng khóc với em và dùng năng lượng của chánh niệm để mà trị thương cho em. Em bé đó ở đâu? Em bé đó nằm trong tất cả các tế bào của cơ thể. Không có tế bào nào của ta mà không có em bé thương tích nằm trong đó. Những tế bào của danh và sắc. Tâm thức của chúng ta được làm bằng những tế bào cho nên trong mỗi tế bào ấy đều có em bé thương tích đang nằm bơ vơ và đợi chờ được quan tâm, săn sóc. Ta không cần tìm đâu xa. không cần tìm về quá khứ, ba trăm năm về trước. không cần đi tìm về những thời đại thạch khí. không cần tìm về thời thơ ấu hoặc là thời ông cố, ông ngoại. Tại vì tất cả những dữ liệu, sự thật đó. Tất cả những đau thương, những em bé bị thương tích đó hiện bây giờ đang nằm trong phút giây hiện tại, trong từng tế bào của danh và sắc. Ta chỉ cần trở về và tiếp xúc là thấy được. Cũng như tuệ giác của tổ tiên, của Bụt. Hạnh phúc của tổ tiên, của Bụt cũng đang có mặt trong từng tế bào của cơ thể. Ta phải biết trở về và lợi dụng những yếu tố đó, những hạnh phúc đó, những tuệ giác đó để chế tác năng lượng chánh niệm, năng lượng thương yêu mà ôm ấp lấy em bé bị thương. Đau thương nằm trong từng tế bào. Hạnh phúc, tuệ giác cũng nằm trong từng tế bào của ta. Bụt đã trao truyền, tổ đã trao truyền, Thầy đã trao truyền cho ta tuệ giác đó. Ta hãy trở về, với hơi thở, với bước chân để chế tác năng lượng của chánh niệm, của tuệ giác và nhờ năng lượng đó ta có thể ôm ấp, trị liệu em bé thương tích trong ta. 

 

 

Câu linh chú cho lá thư hoà giải

(Trích trong sách “Thiền sư và em bé năm tuổi” của Sư Ông Làng Mai)

Ở Làng Mai có ba câu linh chú để thực tập khi ta khổ đau vì một ai đó. Chúng ta có thể viết xuống, cất vào ví của mình để nhắc nhở ta thực tập. Câu thứ nhất là: “Em yêu, tôi đang giận. Tôi đang khổ đau và tôi muốn em biết điều này”. Bằng lời nói ái ngữ, ta cho người kia biết sự thật là ta đang khổ đau, ta đang giận người ấy. Có thể ta tự cao tự đại, tự cho mình là đúng. Và khi một người khác tới hỏi ta có ổn không, ta có giận không, có thể ta nói: “Tôi à, tôi mà giận à? Tôi không giận gì cả, không khổ đau gì hết”. Điều này là đi ngược lại với sự thực tập. Thay vì nói như vậy, ta nói rằng: “Em yêu, tôi giận lắm, thật sự rất giận. Tôi khổ đau và muốn em biết điều này”. Nếu muốn ta có thể nói tiếp: “Tôi không hiểu tại sao em lại nói những điều như thế, em lại làm những điều như thế đối với tôi. Tôi rất đau khổ”. Đó là nội dung của câu thần chú thứ nhất.

Câu thần chú thứ hai: “Tôi sẽ cố gắng hết sức”. Điều này có nghĩa là tôi đang thực tập. Tôi biết là mỗi khi tôi giận, tôi không nên nói và làm gì cả mà chỉ trở về với hơi thở, thực tập ôm ấp cơn giận bằng chánh niệm, và nhìn sâu vào nó để thấy rõ gốc rễ sâu xa của nó. Tôi đang cố gắng hết sức. Ta chỉ cho người kia thấy được ta là một hành giả, ta biết cách xử lý cơn giận của ta. Điều này tạo thêm niềm tin và sự kính trọng trong lòng người ấy. Đây cũng là một lời mời gián tiếp, mời người kia cùng thực tập và tự hỏi: “Mình đã làm gì, nói gì khiến người kia đau khổ như vậy?”. Chừng đó là đã bắt đầu thực tập rồi. Câu thần chú thứ hai là mời người kia nhìn sâu để xem thử là người kia đã nói và làm như vậy có chính đáng hay không.

Câu thần chú thứ ba là: “Xin em hãy giúp đỡ tôi”. Bởi vì một mình tôi, tôi không thể chuyển hóa nổi nỗi khổ đau và cơn giận này. Nếu có khả năng viết ra câu thần chú thứ ba này thì ta đã bớt khổ đi rồi. Khi đã trở thành bạn đồng hành với nhau trên con đường thực tập, ta phải chia sẻ với nhau cả niềm hạnh phúc lẫn nỗi khổ đau. “Bây giờ tôi khổ đau và tôi muốn chia sẻ nỗi khổ đau này với anh và tôi muốn anh giúp tôi.” Nếu ta có khả năng viết xuống câu này nghĩa là ta đã vượt qua được sự tự ái của ta.

 

 

Thông thường khi bị tổn thương quá nặng, ta muốn trở về phòng, khóc một mình và từ chối sự giúp đỡ của người khác. Chúng ta tự ái. Chúng ta muốn trừng phạt người kia, bằng cách cho người ấy biết không có người ấy ta vẫn có thể sống bình thường. Vì vậy ba câu này là những hướng dẫn giúp ta thực tập. Thay vì từ chối sự giúp đỡ, ta nói: “Em yêu, anh rất giận em. Anh đang khổ đau. Anh muốn em biết điều này. Anh đang làm hay nhất có thể để xử lý nỗi khổ đau của mình. Xin em giúp đỡ anh”. Ta có thể viết những câu này xuống trên những tấm giấy nhỏ cỡ tấm ‘name card’ và cất vào ví. Khi năng lượng giận dữ xuất hiện, ta biết ta nên làm gì. Ta có thể lấy nó ra đọc. Trong giây phút này Bụt sẽ có mặt với ta. Ta biết rõ những gì nên làm và những gì không nên làm. Nhiều người đã thực tập điều này và chuyển hóa được mối quan hệ của mình, giữa cha và con trai, mẹ và con gái hay giữa những cặp vợ chồng với nhau. Thực tập hơi thở chánh niệm và đi thiền hành giúp ta làm lắng dịu thân tâm rất lớn. Chúng ta cố gắng hết sức mình để giải quyết tình trạng. Đừng phản ứng, đừng để cho cơn giận và bạo động gây thêm khổ đau nữa.

Lá thư hòa giải

Ba câu linh chú này là nền tảng căn bản của một lá thư hòa giải. Viết thư là một sự thực tập rất quan trọng. Cho dù ta có thiện chí lớn bao nhiêu đi nữa nhưng nếu sự thực tập của ta không đủ vững chãi, chúng ta cũng có thể bực bội cáu gắt khi nói chuyện và rồi ta sẽ phản ứng thiếu khéo léo. Điều đó sẽ đánh mất cơ hội hòa giải. Vì vậy đôi khi để an toàn và dễ dàng hơn ta nên viết thư. Trong thư ta cũng có thể nói thật hoàn toàn. Chúng ta có thể cho người kia biết những điều mà người kia đã làm khiến cho ta khổ đau và tổn thương. Chúng ta có thể viết tất cả những điều ta cảm nhận trong lòng.

Trong khi viết thư, sự thực tập của chúng ta là làm lắng dịu những cảm xúc và sử dụng ngôn ngữ hòa ái, thương yêu. Chúng ta cố gắng thiết lập một cuộc đối thoại. Chúng ta có thể viết: “Anh ơi, có thể em là nạn nhân của tri giác sai lầm, và những gì em viết ra đây có thể không phản ánh đúng sự thật. Tuy nhiên, đây là cái thấy của em, là điều em thật sự cảm nhận trong trái tim mình. Nếu tri giác em sai lầm thì xin anh hãy giúp em lấy đi cái tri giác sai lầm này ra khỏi em. Nếu những gì em viết không đúng sự thật thì xin anh hãy cùng em nhìn lại để làm rõ vấn đề này hơn và phá tan những hiểu lầm trong nhau”. Khi viết thư chúng ta phải sử dụng ái ngữ. Nếu có một câu nào đó chưa đủ khéo léo, ta có thể làm mới lại và viết lại câu khác dễ thương hơn.

Trong lá thư, chúng ta phải chứng minh là ta có khả năng hiểu được nỗi khổ đau của người kia. “Anh thương mến, em biết là anh đang đau khổ. Và em biết là anh không hoàn toàn chịu trách nhiệm về nỗi khổ đau của anh”. Khi thực tâp nhìn sâu, ta có thể khám phá ra gốc rễ và nguyên nhân nỗi khổ đau của người kia. Chúng ta có thể nói cho người kia nghe tất cả những gì ta thấy. Chúng ta cũng có thể nói cho người kia biết nỗi khổ của ta, và cho người kia biết là ta hiểu được vì sao người kia lại hành xử, nói năng như vậy.

Chúng ta có thể để dành một, hai, ba tuần để hoàn tất lá thư bởi vì đây là một lá thư rất quan trọng.

 

 

Lá thư này rất thiết thực cho hạnh phúc của chúng ta. Khoảng thời gian ta dành để viết lá thư này thậm chí còn quan trọng hơn là khoảng thời gian một, hai năm ta dùng để viết luận án tiến sĩ. Luận án của ta không quan trọng bằng lá thư. Viết thư như thế là cách hay nhất ta có thể làm để phá tan những chướng ngại trong ta và tái lập được truyền thông. Chúng ta là bác sĩ, là nhà tâm lý trị liệu giỏi nhất cho người thương của ta, bởi vì ta hiểu người đó nhất.

Chúng ta không làm điều này một mình. Chúng ta có những người anh, người chị đã từng thực tập có thể soi sáng và giúp ta viết lá thư này. Người mà ta cần, có mặt ngay tại đây trong tăng thân của chúng ta. Khi viết một cuốn sách, ta thường gởi bản thảo cho bạn bè hoặc cho những nhà chuyên môn nhờ họ đọc và góp ý giúp. Những người bạn đồng hành trong sự thực tập của ta là những chuyên gia, bởi vì họ biết thực tập lắng nghe bằng tâm từ bi, biết quán chiếu vấn đề sâu sắc và biết nói năng bằng lời ái ngữ. Vì vậy ta đưa thư nhờ sư chị sư anh đọc giúp, và xin sư chị sư anh nói cho ta biết là ngôn ngữ ta sử dụng có đủ hòa ái, bình an, trầm tĩnh chưa, tuệ giác của ta đã đủ sâu chưa. Sau đó ta đưa lá thư này cho một người sư anh sư chị khác. Chúng ta cứ tiếp tục làm như vậy cho đến khi ta thấy lá thư có khả năng mang đến sự chuyển hóa trong người kia và giúp người kia trị liệu.

Chúng ta phải đầu tư thời gian, năng lượng và tình thương yêu vào những lá thư như thế. Không ai lại từ chối giúp đỡ ta trong nỗ lực quan trọng này. Tái lập truyền thông với người ta thương yêu và quan tâm chăm sóc là điều rất quan trọng. Người đó có thể là cha ta, mẹ ta, con gái, con trai ta hay là người bạn hôn phối của ta. Người đó cũng có thể là người ngồi cạnh ta. Chúng ta có thể bắt đầu liền ngay bây giờ. Chúng ta có thể bắt đầu viết thư hôm nay. Chúng ta sẽ khám phá ra rằng chỉ cần một cây viết và một tờ giấy thôi là chúng ta có thể làm thay đổi mối quan hệ của chúng ta.

Trong khi ngồi thiền, đi thiền, làm vườn, dọn dẹp hay nấu ăn ta không nghĩ về lá thư. Tuy nhiên tất cả những gì ta làm đều liên quan đến lá thư. Thời gian ta ngồi xuống viết thư chỉ là thời gian ta trải lòng mình ra lên tờ giấy. Chúng ta viết thư khi ta tưới rau, đi thiền hành, nấu cơm cho đại chúng. Tất cả những thực tập này giúp cho ta vững chãi hơn, bình an hơn. Chánh niệm và chánh định mà ta chế tác qua những công việc hằng ngày giúp cho hạt giống của sự hiểu biết, thương yêu trong ta lớn lên. Nếu lá thư của ta được viết ra từ nguồn năng lượng chánh niệm mà ta chế tác trong ngày thì đó là một lá thư quá tuyệt vời. Cho dù những lúc ta không nghĩ về lá thư thì lá thư cũng đang được viết từ trong chiều sâu tâm thức của ta.

Chúng ta không thể chỉ ngồi viết thư thôi. Chúng ta cũng cần phải làm những thứ khác nữa. Chúng ta uống trà, nấu ăn, giặt áo, tưới rau. Thời gian ta làm những công việc này vô cùng quan trọng. Chúng ta phải làm cho đàng hoàng. Chúng ta phải để một trăm phần trăm con người mình vào việc nấu ăn, tưới cây hay rửa chén. Chúng ta thưởng thức tất cả những gì ta đang làm và làm một cách sâu sắc. Điều này rất quan trọng cho lá thư của ta và cho bất cứ điều gì ta muốn thực hiện.

Giải thoát, giác ngộ không tách rời việc rửa chén hay trồng rau. Học cách sống sâu sắc trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày bằng năng lượng chánh niệm và chánh định là sự thực tập của chúng ta. Những ý niệm và những sáng tạo cho tác phẩm nghệ thuật của ta diễn ra ngay nơi mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Lúc ta bắt đầu viết nhạc hay làm thơ chỉ là thời gian ta sinh nó ra. Giống như là thời gian ta sinh con vậy. Đứa bé đã có trong ta rồi trước khi ta sinh ra. Nếu trong ta không có ý niệm gì thì cho dù ta có ngồi vào bàn từ giờ này sang giờ khác, ta cũng không viết được gì, không có gì để cho ra cả. Tuệ giác, lòng từ bi và khả năng viết thư khiến cho trái tim người kia xúc động là hoa trái của sự thực tập. Chúng ta phải tận dụng từng phút giây của đời sống hằng ngày để cho tuệ giác và từ bi đơm hoa.

 

 

Chính năng lượng chánh niệm trong ta cho phép ta viết một lá thư rất thực, đầy tình thương yêu và có khả năng hòa giải với người kia. Một lá thư chân thành đầy tình thương yêu được làm bằng tuệ giác, hiểu biết và từ bi. Nếu không thì đó không phải là một lá thư đầy tình thương yêu. Một lá thư chân thành đầy tình thương yêu phải có khả năng mang lại sự chuyển hóa trong người kia và trên thế giới. Nhưng trước khi mang lại sự chuyển hóa cho người kia chúng ta phải chuyển hóa trong tự thân mình. Có những lá thư mà ta có thể để ra cả đời để viết.

 

Thực tập như thế nào khi thấy trống trải trong lòng

Trích từ pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 2/02/2012 tại Xóm Thượng, Làng Mai.

Trong mỗi chúng ta ai cũng điều có cảm giác trống trải và cô đơn. Vì vậy ta luôn cần một người thương ta để bớt đi cảm giác lạnh lẽo và cô đơn ấy. Vì không biết cách xử lí “khoảng trống ”trong lòng nên ta có khuynh hướng muốn tìm một người để lấp vào khoảng trống đó. Có khi người kia chấp nhận để lấp vào khoảng trống ấy và trở thành cái bóng của ta. Như vậy người đó cũng mất đi tự do. Nhưng nếu người kia không chịu thì ta giận, cho rằng người đó không thương mình và trừng phạt bằng cách nói rằng: “Anh không thương tôi”. Như vậy thì không được gọi là thương yêu.

Có câu chuyện kể về một dòng sông suốt ngày chỉ để hết thời gian của mình đuổi chạy theo những đám mây trên trời, hết đám mây này đến đám mây khác. Nhưng đám mây thì vô thường, bây giờ nó ở đây nhưng đến chiều thì nó đi mất. Vì không thấy được mình là đám mây nên dòng sông cứ mãi đuổi chạy theo đám mây, không bao giờ thấy thoả mãn. Nếu như dòng sông có thể trở về được với chính mình thì sẽ thấy rằng mình toàn là mây thôi. Cái thấy đó sẽ làm cho dòng sông không còn cô đơn, trống trãi nữa. Những gì mà mình đi tìm cầu thì đã có sẵn hết rồi. Cái thấy này có thể đạt được khi mình có Niệm, Định và Tuệ. Niệm tức là khả năng ý thức được những mầu nhiệm xảy ra trong giây phút hiện tại. Định có nghĩa là gìn giữ được cái thấy đó lâu dài và Tuệ là cái thấy làm cho mình vượt qua những lo lắng, buồn khổ, trống trải đó. Khi chúng ta ngồi yên, thở và ý thức về sự có mặt của Bụt, Pháp, Tăng, của tâm bồ đề trong mình thì ta sẽ cảm thấy rất đầy đủ và không còn muốn tìm cầu gì nữa.

 

 

Mình là người tu thì phải biết chế tác những nguồn năng lượng của NIệm, Định, Tuệ trong đời sống hằng ngày. Nếu mình không cảm thấy an lạc, đầy đủ thì sẽ không có gì để cống hiến cho người khác. Vì không ôm ấp được nỗi trống trải cho nên mình tìm một ai đó để lấp vào khoảng trống ấy. Đó là nhu yếu của sự chiếm hữu mà không phải là tình yêu đích thực. Tình yêu đích thực là sự cống hiến và người đầu tiên được đón nhận điều ấy chính là bản thân mình mà không phải là một ai khác. Mình có thể cho bản thân sự tươi mát, niềm vui, bình an, thảnh thơi và tự do bằng sự thực tập chánh niệm. Nếu như thực sự để tâm thực tập thì chỉ với một vài phút, vài giờ hay là một ngày thì đã thấy khác rồi. Đó được gọi là hạ thủ công phu, tức là thực tập thiệt. Sự thực tập này không mang tính nặng nhọc mà ngược lại rất dễ chịu. Thiết lập chánh niệm qua những sinh hoạt hằng ngày như đi, đứng, nằm, ngồi, ăn cơm, rửa bát, giặt áo,… Để mình đích thực trở về có mặt cho thân và tâm. Giúp nhận diện, ôm ấp và chuyển hoá năng lượng của sự trống trải, sợ hãi và lo lắng. Để có thêm bình an và sự vững chãi.

Như những cái nồi mà chưa có nắp đậy lên, nên ta đi kiếm một cái nắp và nghĩ rằng sau khi nồi đã có nắp rồi thì sẽ được bình an. Nhưng không phải như vậy. Sau khi đậy nắp rồi thì nước lại trào ra làm cho tắt lửa, tắt luôn cả cái bếp.

Trong chúng ta, ai cũng có sự trống trải, sợ hãi và có những ước mong. Sợ hãi vì nghĩ rằng trên đời này sẽ không có người nào làm chỗ nương tựa và chăm sóc cho ta. Đó là những tình cảm nảy sinh từ thời thơ ấu. Khi mới sinh ra, tuy đã có tai, mắt, tay, chân nhưng chúng ta chưa dùng được. chúng ta không có khả năng để tự lo cho mình. Một em bé ba tháng, sáu tháng hay một năm làm sao có thể tự lo cho mình được. vì vậy em bé rất trống trải, rất sợ hãi. Nếu không có một người mẹ hay người vú em có mặt khi đói, khi lạnh thì em bé không biết phải làm thế nào để vượt qua những giây phút khó khăn đó. Sinh nở là một chuyện nguy hiểm, nhất là ngày xưa. Cho nên giây phút được chào đời là một khoảnh khắc hiểm nguy và có thể đi theo chúng ta đến lúc trưởng thành.

Dù là con trai hay con gái. Ta có cảm tưởng mình là cái nồi chưa có nắp nên cố đi tìm cho được cái nắp. Khi tìm được một người rồi thì ta mừng quá và cảm thấy yên tâm. Ta quên rằng nguồn gốc của sự tìm kiếm đó được phát sinh từ thời thơ ấu. Đối tượng mà ta tìm kiếm đó chính là một người cha, người mẹ, người vú em. Ngồi bên người yêu ta nói: “Như vậy là được rồi, yên tâm rồi, bây giờ đã có người lo cho mình”. Người yêu đó cũng chính là sự tiếp nối hình bóng người cha, người mẹ và người vú em thôi. Nhưng rồi sự yên tâm đó chỉ được vài tháng hay vài năm. Người kia thay vì chăm sóc thì lại gây ra bao nhiêu khó khăn cho ta. Khi người đó không còn là cha, mẹ hay người vú em nữa thì mình lại đi tìm một nắp nồi khác. Thành ra em bé với nhiều sợ hãi trong ta vẫn còn sống. Chúng ta cần phải quán chiếu và dùng năng lượng của Niệm, Định, Tuệ để ý thức ta không còn là một em bé nữa. Chúng ta bây giờ đã lớn rồi. Đã có thể tự thở và chăm sóc cho bản thân được. Ta không cần một người cha, người mẹ hay người vú em nữa. Chúng ta cần nhắc mình như vậy nếu không thì ta vẫn tiếp tục đi tìm một cái nắp nồi như thường.

Khi chúng ta cảm thấy được đầy đủ thì không cần tìm cầu gì nữa. Vì vậy câu linh chú của ta là “i am here for you”. Chữ “you” ở đây có nghĩa là chính mình. Nếu ta có mặt được cho chính mình thì nồi đã có nắp rồi nên không cần phải sợ hãi nữa. Trong chúng ta ít người có khả năng có mặt cho chính mình lắm. Vì vậy mình muốn một ai đó có mặt để khoả lấp sự trống trải ấy. Tự mình không làm được công việc đó nên ta đi tìm một người khác làm giúp. Đó là sự thật. Không cần có cái nắp, không cần tìm một người cha, người mẹ, người vú em là tuệ giác mà ta cần đạt được. Chúng ta đã lớn rồi, không còn là một em bé bất lực nữa. Chúng ta  có thể tự lo cho mình. Sự thật là ta có hai chân còn khoẻ và tự đi lấy cơm, nước uống được. Ta có thể làm việc để có thực phẩm, có chỗ ở. Vì vậy chúng ta cần trở thành một người lớn thực sự.

Có mặt cho mình để làm gì?

Đầu tiên ta cần có  mặt và mang thân, tâm về lại với nhau. Nuôi dưỡng bản thân bằng cách nhận diện những mầu nhiệm của cuộc sống đang có mặt ở trong ta và xung quanh ta. Đó là vai trò của chánh niệm. Khi thở hay đi trong chánh niệm thì mình đem thân về lại với tâm, có mặt được cho giây phút hiện tại và cho chính mình. Khi đó ta sẽ có khả năng nuôi dưỡng, trị liệu thân tâm bằng những yếu tố mầu nhiệm của cuộc sống. Đó là sự có mặt để tự nuôi dưỡng, chăm sóc chính mình.

Điều thứ hai. Nếu có những tâm hành lo lắng, buồn khổ, sợ hãi đi lên thì mình có mặt để nhận diện, ôm ấp, nhìn sâu và chuyển hoá những tâm hành đó. Không nên đi tìm một ai khác để làm chuyện đó cho mình. Sự thực tập ở đây là có mặt và phải biết chăm lo cho chính mình. Trước hết là tiếp xúc và nuôi dưỡng thân tâm bằng những yếu tố tích cực, sau đó là có mặt nhận diện những khổ đau, thiếu thốn, buồn tủi. Nhìn sâu để tìm thấy gốc rễ sâu xa và thoát ra được. Nếu như sự trống trãi không được làm tan biến bằng cách có mặt cho chính mình mà lại cố tìm kiếm một ai đó để lấp vào khoảng trống ấy thì cả hai điều mất đi tự do và lại không giúp được gì cho nhau. Khi  không có khả năng tự lo cho chính mình thì làm sao có thể lo cho người khác. Nếu như người kia không chăm sóc cho mình được như mong đợi thì mình giận và nói rằng: “Tôi đem anh tới để lo cho tôi mà anh không lo được”. Sự thật là như vậy cho nên chúng ta phải nhìn cho sâu sắc để thấy được bản chất đích thực của tình yêu là gì.

 

Trái tim là một nhiệm mầu của sự sống

 

 

Bạch Đức Thế Tôn. Khi con quán chiếu về thân thể con theo kinh thân hành niệm (niệm thân kinh), con khám phá ra rằng cơ thể con rất mầu nhiệm. Khi con có ý thức là đôi mắt con còn sáng thì con rất trân quý đôi mắt của con. Mỗi lần mở mắt là con có thể nhìn thấy trời xanh mây trắng và những khuôn mặt thân thương, con biết đó là một trong những điều kiện hạnh phúc mà con đang có, vì vậy con rất trân quý đôi mắt của con.

Những mầu nhiệm, những phép lạ ấy nhiều khi con quên mất, con hờn giận, con tủi thân tại vì con không biết rằng trong con có những mầu nhiệm tuyệt vời của sự sống. Mỗi khi con có chánh niệm về trái tim thì con biết rằng trái tim con cũng đang đập một cách bình thường. Có một trái tim bình thường là một điều hết sức mầu nhiệm.

Có rất nhiều người ở trên thế giới đang sống trong lo sợ tại vì trái tim của họ có thể bị nghẽn bất cứ lúc nào. Con được biết là ở tại nước Pháp, cứ mỗi 3 phút là có một người chết vì bệnh nghẽn tim, nên ôm ấp lấy trái tim của con con thấy con có rất nhiều may mắn. Trái tim của con đưa máu đi nuôi thân thể, nhưng trái tim của con cũng suy tư, cũng thương yêu, cũng làm được quyết định vì con biết rằng 60% những tế bào trong tim cũng là những tế bào óc và con muốn ký một hiệp ước sống chung an lạc với trái tim con. Con biết rằng tiêu thụ những sản phẩm như là café, như là thuốc lá, như là rượu mạnh, như là chất dầu mỡ nhiều chất cholesterol, đó là những hành vi không có thân hữu đối với trái tim. Cho nên con nguyện chăm sóc cẩn thận để giữ gìn cho trái tim con được khỏe mạnh. Con cũng trân quý những bộ phận khác của cơ thể như lá gan, trái thận của con bằng cách sống cho có chánh niệm, không tiêu thụ những gì làm hại cho cơ thể con. Và khi giữ gìn bảo hộ thân thể con, con cũng đang giữ gìn bảo hộ thân thể của cha mẹ con, của tổ tiên con và của các con cháu của con.