Anh muốn làm gì với đời anh?

 

Các kỹ sư của Google tham dự ngày chánh niệm

Cần có một chiều hướng tâm linh trong đời sống hàng ngày

Một điều có thể nhận thấy qua chuyến đi hoằng pháp tại Bắc Mỹ lần này là tất cả mọi người – kể cả giới chính trị, giới doanh thương, và các nhà trí thức – đều nhận ra rằng mình cần phải thực tập một cái gì đó, mình phải có một chiều hướng tâm linh trong đời sống hàng ngày, nếu không thì mình sẽ không thể chịu nổi và sẽ “giữa đường đứt gánh”.

Trong chuyến này mình chọc thủng được màn lưới và đưa sự thực tập chánh niệm vào dòng chảy chính của xã hội (mainstream). Mình được mời hướng dẫn hai ngày thực tập tại Ngân hàng thế giới (World Bank – viết tắt là WB). Rất nhiều người ngạc nhiên: tại sao WB lại cần tới mấy ông thầy tu làm gì? Chính những nhân viên trong WB cũng nói: trời đất ơi, tại sao lại đem mấy ông thầy tu tới đây?

Ông Kim Young Jim, Giám đốc WB rất thích có một ngày chánh niệm do Thầy và Tăng đoàn Làng Mai hướng dẫn tại trụ sở của WB. Ngày xưa khi còn làm Viện trưởng Viện đại học Darmouth, ông rất thích cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức. Ông nói là cuốn sách này đã thay đổi cuộc đời ông. Và khi được Tổng thống Obama cử làm Giám đốc WB, ông muốn đem những điều đã đọc trong cuốn sách này vào thực tập trong WB. Thầy Pháp Lưu – vốn là sinh viên trường Darmouth – viết thư cho ông và hỏi ông có muốn có một ngày chánh niệm tại WB không. Ông nói rất muốn. Nhưng ông cũng sợ người ta phản đối.

Ông Kim đưa lá thư của thầy Pháp Lưu cho một người phụ tá tên là Nicolas và nói: này anh, anh làm thế nào để có được ngày quán niệm trong WB, anh ráng đi. Tiến sĩ Nicolas là người tin cẩn nhất của ông trong WB. Nicolas lên Internet tìm hiểu Tăng đoàn Làng Mai là ai, thực tập như thế nào. Ông cũng rất muốn có một ngày chánh niệm nhưng cũng sợ sự phản ứng nặng nề của các nhân viên trong WB. Bữa đó, ông có than thở với phu nhân thì được bà chia sẻ rằng nếu Làng Mai đến WB thì đó là chuyện hy hữu, có thể đó là chuyện hay nhất từ trước đến nay tại WB. Được bà yểm trợ nên ông cương quyết tổ chức. Ông trả lời thầy Pháp Lưu là Giám đốc Kim sẽ viết thư mời Thầy và tăng đoàn Làng Mai.

Đối thoại với Giám đốc Kim và các nhà khoa học tại WB

Để cho đỡ sốc, ngày đầu WB mời các nhà khoa học tới để đối thoại với Thầy, để chứng tỏ là mình không đem chuyện tôn giáo vào trong WB. Họ mời những người như Tiến sĩ Davidson Richard và Tiến sĩ Brian Davey – những nhà thần kinh học để nói về chuyện tu tập chánh niệm có thể giúp người ta như thế nào, ví dụ như giảm căng thẳng,v.v. Ngày đó, những người có ý nghi ngờ, tuy không ra dự nhưng vẫn âm thầm ngồi nghe trong văn phòng để xem thử mình nói gì. Rốt cuộc ngày hôm sau, tất cả đều bỏ hết công việc ra tham dự. Và ngày hôm đó trở thành một ngày thực tập rất hạnh phúc, có đi thiền hành, có pháp thoại, có thiền buông thư, có vấn đáp v.v. Rất là hay.

Sau ngày ấy, nhân viên WB viết thư khen ngợi ông Giám đốc hết lời. Nghe nói là ở WB có một bức tường để mình dán lên những điều gì mình bất mãn đối với những vị trong Ban Giám đốc. Mình có thể viết và dán lên đó để “xì hơi”. Trước đó thì nhiều người chỉ trích và lên án đủ thứ, nhưng sau ngày đó, họ dán lên toàn là những lời khen ngợi.

Khoa học kỹ thuật có thể giúp con người trở về với chính mình?

Tăng đoàn Làng Mai cũng đã đến hướng dẫn một ngày Chánh niệm tại trụ sở của Google. Những lời hướng dẫn thiền hành và bài pháp thoại cùng buổi vấn đáp của Thầy được truyền đi khắp thế giới cho các nhân viên của Google ở tất cả các nước. Hôm đó theo chương trình, các thầy, các sư cô Làng Mai tới ăn sáng với nhân viên Google, sau đó đi thiền hành. Bảy trăm người đi thiền hành rất nghiêm túc. Có những người đến muộn, vào lúc tất cả đều đang ngồi lặng yên giữa buổi thiền hành, đã có cảm giác năng lượng tại Googleplex – trụ sở của Google – hôm đó thật hùng tráng kỳ diệu. Sau giờ thiền hành thì có pháp thoại. Thầy làm thiền hướng dẫn trước khi nói pháp thoại. Sau đó có ăn cơm im lặng, rồi có thiền buông thư, vấn đáp, v.v. Rất là hạnh phúc.

Chiều đó, Thầy cùng với các thầy Pháp Dung, Pháp Lưu, Pháp Linh và sư cô Hiến Nghiêm có một buổi gặp gỡ với một số vị kỹ sư trẻ trong Google. Vấn đề đưa ra là khoa học kỹ thuật (technology) có thể giúp con người bớt khổ được hay không? Trong bài pháp thoại tại Google, Thầy đã nói: mỗi người trong chúng ta đều có những nỗi khổ, niềm đau trong lòng, và những nỗi khổ niềm đau đó có thể mang theo những nỗi khổ, niềm đau của cha, của mẹ, của ông bà, tổ tiên. Phần lớn chúng ta không biết xử lý nỗi khổ, niềm đau cho nên chúng ta hay khỏa lấp và chạy trốn. Chúng ta dùng những phương tiện kỹ thuật để chạy trốn chính mình. Chúng ta dùng Internet, telephone, truyền hình, âm nhạc, sách báo để khỏa lấp nỗi khổ, niềm đau, tại vì chúng ta không có khả năng trở về để xử lý những khổ đau ấy.

Một nét đặc trưng của nền văn minh chúng ta là trốn chạy, trốn chạy bản thân. Và khi mình trốn chạy bản thân thì mình cũng trốn chạy khỏi gia đình mình, tại vì nếu mình không thể có mặt cho chính mình thì làm sao có thể có mặt cho những người mình thương. Thành ra mình bỏ bê gia đình luôn. Đồng thời mình cũng trốn chạy thiên nhiên, trốn chạy đất Mẹ. Đất Mẹ rất đẹp, rất lành; đất Mẹ có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu. Nhưng mình không có khả năng trở về với đất Mẹ để được chữa trị và nuôi dưỡng. Mình trốn chạy bản thân, gia đình và đất Mẹ. Mà khoa học kỹ thuật (technology) đang giúp mình chạy trốn. Những máy móc, những thiết bị điện tử và mạng lưới Internet giúp cho con người chạy trốn bản thân, chạy trốn gia đình và chạy trốn xã hội. Và trong khi tiêu thụ những thứ đó thì nỗi khổ niềm đau trong mình cứ từ từ tăng tiến. Đó là tình trạng của thế giới ngày nay. Vậy thì câu hỏi đặt ra cho những nhà doanh thương, cho những hãng lớn chuyên sản xuất ra những thiết bị điện tử là những thiết bị điện tử đó có thể đóng được một vai trò ngược lại hay không? Thay vì giúp người ta chạy trốn bản thân, chạy trốn gia đình, chạy trốn thiên nhiên thì làm sao để những thiết bị điện tử đó nhắc mình trở về để chăm sóc hình hài của mình, chăm sóc những cảm thọ, tri giác của mình, những khổ đau trong lòng mình? Các anh có thể làm cho tôi một cái máy; các anh có thể đưa những software nào vào trong các thiết bị điện tử hoặc điện thoại cầm tay, để mỗi khi tôi đi hấp tấp thì cái máy đó nhắc rằng: “này bạn, tại sao lại đi hấp tấp như vậy? Hãy đi theo kiểu thiền hành. Hãy đi từng bước thảnh thơi. Đừng suy nghĩ nữa”. Cái máy điện thoại của anh có thể làm được chuyện đó hay không?

Mỗi khi anh giận và chất adrenaline lên cao ở trong máu thì cái máy ấy có thể nhận biết và nhắc: “Anh đang giận, anh đang có một cảm xúc. Anh không nên làm gì hết. Hãy trở về để thở và chăm sóc cảm thọ trong anh”. Và khi có một người sắp tự tử đang kêu cứu trên mạng Internet thì tự khắc có người nói rằng: “Đừng, anh đừng làm chuyện đó. Bây giờ  anh phải nghe lời dạy của một vị thầy: một cảm xúc chỉ là một cảm xúc thôi. Nó tới, nó ở lại một thời gian rồi nó đi, tại sao anh phải chết vì một cảm xúc như vậy?”.

Cái máy có thể nhắc mình: “Câu thần chú thứ nhất: người thương ơi, tôi đang có mặt cho em đây (I am here for you) rất hay, tại sao hôm nay anh chưa thực tập? Anh hãy gọi về nhà và nói với chị câu thần chú ấy đi”. Những thiết bị điện tử bây giờ có thể được trang bị bằng những thiết bị cảm ứng (sensor) có thể biết những gì đang xảy ra trong cơ thể mình và trong tâm của mình. Chúng có thể nhắc mình trở về chăm sóc chính mình và chăm sóc gia đình của mình.

Những thiết bị điện tử kia có thể đưa người sử dụng tới một tu viện online, để người đó có thể biết được đường hướng phải thực tập như thế nào, để có thể xử lý được những cảm xúc mạnh, những cơn giận, những nỗi buồn, những nỗi niềm thất vọng của mình. Các anh rất giỏi về kỹ thuật và công nghệ, vậy các anh hãy giúp chúng tôi làm ra những thiết bị điện tử có khả năng giúp chúng tôi trở về với chính mình, trở về với gia đình của chúng tôi, lập ra một tu viện trực tuyến để chúng tôi đến tu tập và chuyển hóa.

Thầy và tăng đoàn Làng Mai đã ngồi với các vị kỹ sư của Google để bàn luận về việc chế ra được những thiết bị như vậy. Tăng đoàn Làng Mai cũng đã đến thăm và làm việc với Facebook và Twitter. Có khả năng Facebook hay Google sẽ giúp mình mở một trung tâm thực tập online để giúp nhân viên của họ và những người trên thế giới có thể trở về để được hướng dẫn tu tập khi có vấn đề khổ đau hay tuyệt vọng. Thầy tin rằng thế nào pháp môn thực tập chánh niệm, nhờ kỹ thuật và công nghệ, cũng sẽ được phổ biến trên thế giới một cách rộng rãi gấp trăm, gấp ngàn lần bây giờ.

Làm thế nào để giữ thăng bằng giữa công việc và đời sống?

Một vấn đề nữa mà Google đặt ra là làm thế nào để giữ thăng bằng giữa công việc và đời sống. Tại vì nếu mình bận rộn quá thì mình không có thì giờ để sống. Không lẽ chúng ta sống chỉ là để kiếm tiền thôi sao? Trong khi lo làm cho được nhiều tiền, bỏ hết thì giờ để trở thành doanh nghiệp Number One thì ta không có thì giờ để sống, để chăm sóc cho ta và cho những người mà ta thương yêu. Như vậy có đáng để cho ta thành công không? Làm thế nào để sử dụng công phu thực tập chánh niệm mà thiết lập lại được sự cân bằng giữa công việc và đời sống?

Thầy nói rằng ở Làng Mai chúng tôi có bốn hoạt động: tu, học, làm việc và chơi. Cách chúng tôi là làm sao để tu cũng là chơi, học cũng là chơi, làm việc cũng là chơi. Mà chơi cũng là làm việc, chơi cũng là học, tại vì trong khi chơi chúng tôi cũng chế tác được tình huynh đệ, cũng làm mới lại được thân tâm. Thành ra anh có thể làm thế nào để công việc của anh trở nên dễ chịu, và công việc đó không làm đánh mất sự sống của các anh.

Phải làm thế nào để công việc trở thành sự sống. Ví dụ như trong lúc viết thư pháp – vẽ một vòng tròn,  thì khi thở vào, tôi vẽ nửa vòng tròn trước; khi thở ra, tôi vẽ nửa vòng tròn còn lại và tôi mỉm cười. Có khi tôi mời thầy tôi, mời cha tôi, mời các đệ tử của tôi cùng vẽ vòng tròn với tôi. Trong khi vẽ vòng tròn như vậy, tôi thấy đây không chỉ là công việc mà đây là sự sống, đây là tu học, đây là niềm vui, đây là công tác xây dựng tăng thân. Và như vậy công việc này cũng là chơi, công việc này cũng là xây dựng tình huynh đệ, công việc này cũng là sự sống.

Vấn đề là làm sao khi làm việc các anh đừng tự đánh mất mình trong công việc, mà phải thấy công việc là niềm vui. Chánh niệm có thể giúp các anh làm được điều đó. Đừng tư duy theo kiểu lưỡng nguyên, cho công việc là một chuyện, còn đời sống là một chuyện khác. Phải làm sao để mình được sống trong khi làm việc, mà không đánh mất mình trong công việc.

Ước muốn sâu sắc nhất của đời mình là gì?

Tăng đoàn Làng Mai đã gặp một số các nhà doanh thương lớn ở Mỹ, những nhà tỷ phú. Họ muốn biết làm thế nào để trong khi làm ra tiền, mình không bị khổ đau, không đánh mất sự sống của mình. Chính Google đề ra khẩu hiệu là: chúng ta có thể làm giàu, nhưng chúng ta không cần phải đi con đường tà (we can make money without being evil). Thầy đặt câu hỏi: nếu trong khi làm giàu mà anh bỏ bê bản thân anh, bỏ bê gia đình anh, anh bỏ bê trái đất thì cái đó có phải là “evil” không? Theo Thầy thì cái đó cũng là “evil” rồi.

Vì vậy cho nên tư niệm thực (ước muốn sâu sắc nhất của mình) rất quan trọng. Thầy đề nghị tất cả các nhà doanh thương, những ông chủ lớn đều phải có bồ đề tâm, tức là một ước muốn sâu sắc và thánh thiện (volition hay intention). Đây cũng là một trong những nội dung chính yếu được giảng dạy trong chuyến đi hoằng pháp lần này.

Google đã đề nghị Thầy nói về ba đề tài: intention (ý định, ước muốn), insight (tuệ giác) và innovation (đổi mới, cải cách). Thầy nói ước muốn chân chính của mình (intention) phải là giúp xã hội, giúp con người trở về với bản thân, tại vì hướng đi của văn minh bây giờ là chạy trốn bản thân, chạy trốn gia đình và chạy trốn thiên nhiên. Đó là một hướng đi sai lạc, làm cho khổ đau càng ngày càng lớn. Bây giờ đây, đường hướng sử dụng kỹ thuật (technology) của anh và công ty của anh phải có một hướng đi cho tốt. Và hướng đi này sẽ làm cho anh có hạnh phúc. Đó là làm sao giúp được con người trở về được với bản thân để tự chăm sóc mình, chăm sóc những người thương và chăm sóc thiên nhiên. Vì vậy cho nên chuyện làm ra tiền trở thành thứ yếu, tại vì có tiền mà không có hạnh phúc thì có tiền để làm gì?

Tại World Bank, Thầy đã nói câu đó. Thầy nói: giữa hai cái, anh phải chọn một cái thôi, một là trở thành Number One, hai là hạnh phúc. Anh thấy cái nào quan trọng thì anh chọn. Nếu anh muốn trở thành number one thì anh phải hy sinh hạnh phúc, còn nếu anh muốn hạnh phúc thì anh phải hy sinh cái ý định trở thành number one. Vậy thì tư niệm thực (volition) của anh là gì? Muốn có nhiều tiền, muốn thành number one hay muốn có hạnh phúc?

Thầy có đề nghị các nhà doanh thương, các nhà kỹ thuật phải ngồi lại và tìm hiểu xem thử mình thật sự muốn gì. Đâu là ước muốn sâu sắc của đời mình? Thầy đã sử dụng những cụm từ mà Thầy đã dùng trong khóa tu mùa hè ở Làng. Con người chúng ta có những mối quan tâm thường nhật như: làm thế nào để có nhà ở, có cơm ăn, có áo mặc, có người thương. Nhưng ngoài những tiện nghi vật chất và tình cảm đó, mình còn có cái ước muốn nào cao hơn nữa không?

Anh muốn làm gì với đời anh? Hay mục đích của đời anh chỉ là để đi tìm những tiện nghi vật chất và tình cảm? Ngoài những quan tâm thường nhật, anh còn có mối quan tâm tối hậu (ultimate concern): anh muốn làm gì với cuộc đời mình? Thầy đề nghị các nhà doanh thương, các nhà chính trị và các nhà kỹ thuật phải tìm một nguồn tư niệm thực lành mạnh. Thầy thấy nguồn tư niệm thực hay nhất bây giờ là ý chí giúp con người trở về với bản thân để chăm sóc bản thân, trở về với gia đình để chăm sóc gia đình mình, và trở về với thiên nhiên để được nuôi dưỡng và trị liệu, cũng như giúp thiên nhiên phục hồi lại được cái đẹp của nó. Đó là những nét chính của sự giảng dạy trong chuyến đi.

Hôm 25.10.2013, Tăng đoàn cử ra mười thầy và sư cô đi với Thầy để gặp khoảng 30 nhà doanh thương cỡ lớn nhất ở Mỹ. Sau buổi sinh hoạt có đi thiền hành vào khoảng 40 phút. Tối hôm sau (26/10), các nhà doanh thương này đều đến nghe thầy giảng tại nhà hát Paramount Theatre ở Oakland. Đề tài chiều hôm ấy là: làm cho máu trở về tim, tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống. Nội dung của buổi nói chuyện sáng hôm 25/10 tại Presidio Park, San Francisco cũng tương tự như buổi gặp gỡ ở Google. Buổi sáng hôm ấy, Thầy đã có dịp viếng thăm công viên Kaiser và thiền viện San Francisco với phái đoàn xuất sĩ.

Sức mạnh của từ bi

Trong chuyến hoằng pháp tại Bắc Mỹ lần này có hai trường đại học mời mình, đó là đại học Harvard và đại học Standford.

Trường Y (Harvard Medical School) và Trường Y tế Cộng đồng (Harvard School of Public Health) cùng đứng ra tổ chức hai ngày học hỏi và tu tập chánh niệm với sự cộng tác của tổ chức Cambridge Health Alliance Physicians. Các bác sĩ tới tu tập trong hai ngày đó sẽ nhận được tín chỉ của chương trình giáo dục thường xuyên (continued education). Bên Mỹ họ bắt buộc các nhà hành nghề y khoa mỗi năm phải học thêm về chuyên ngành.

Thầy và Tăng đoàn tại đại học Havard

Ngày đầu tiên (11/9), có mười mấy giáo sư dạy về thiền quán và về tâm lý trị liệu.  Ngày hôm sau (12/9), Thầy nói về phương pháp trị liệu thân tâm bằng thiền tập. Hôm ấy có hướng dẫn thiền tọa, thiền hành, pháp thoại và vấn đáp. Đề tài là sức khỏe cộng đồng và sức khỏe cá nhân. Làm sao thiền quán có thể giúp phục hồi sức khỏe con người và sức khỏe cộng đồng?

Ngày 24/10, đại học Standford tổ chức một buổi đàm luận về đề tài từ bi. Trong khuôn khổ của ngành não bộ thần kinh (neuroscience), họ muốn tìm hiểu từ bi có ảnh hưởng gì đến sức khỏe con người. Năng lượng từ bi có thể có tác dụng chữa trị cho con người được hay không? Thầy được mời tới để chia sẻ về đề tại này.

Trong buổi đàm luận này, các giáo sư cho biết là lâu nay y khoa chỉ tìm hiểu những yếu tố gây ra bệnh tật để chữa trị, mà chưa tìm hiểu những yếu tố tích cực giúp tăng cường sức khỏe. Đây là lần đầu tiên có một trường đại học nghiên cứu về từ bi, và thấy được vai trò của từ bi trong sự trị liệu cho con người và làm tăng tiến phẩm chất của đời sống.

Thầy nói rất rõ là từ bi có khả năng hóa giải hận thù, và khi hóa giải được hận thù thì con người mình trở nên thư giãn ra. Sự thư giãn đó giúp cơ thể phục hồi và trị liệu được. Khi có từ bi thì mình ngủ ngon hơn. Năng lượng từ bi còn có tác dụng bảo hộ cho mình. Súng ống và quân đội chưa chắc bảo vệ được mình nhiều bằng năng lượng từ bi. Như trường hợp của thầy Baddhiya, hồi thầy còn làm thống đốc một tiểu bang, có quân đội, có lính gác, nhưng thầy luôn sống trong lo sợ và không có an ninh. Khi đi tu rồi, thầy có rất nhiều từ bi và luôn được bảo hộ bởi năng lượng từ bi, vì vậy mà thầy thấy an ninh hơn rất nhiều, không sợ bị cướp, bị giết như trước đây nữa.

Ngoài ra, khi mình có từ bi thì mình có rất nhiều bạn. Giống như trong trường hợp Anathapindika (Cấp Cô Độc), ông là người rất từ bi cho nên ông có rất nhiều bạn bè và nhiều an ninh. Khi ông bị phá sản thì các bạn tới giúp ông gây dựng lại sự nghiệp một cách dễ dàng.

Nếu mình giàu thì cũng có rất nhiều người đến với mình, nhưng những người đến với mình có thể không phải để làm bạn đâu, họ đến với mình để mà nhờ cậy vào tiền của mình thôi. Vì vậy mà những nhà tỷ phú thường rất cô đơn. Họ luôn nghi ngờ những người đến với họ không phải là vì tình bạn, mà vì muốn lợi dụng vị thế của họ. Còn người có từ bi thì không bao giờ bị cô đơn. Không có từ bi thì mình không thể nào liên hệ với bất kỳ chúng sinh nào, bất kỳ con người nào khác. Vì vậy cho nên từ bi có khả năng chữa trị, có khả năng thiết lập liên hệ giữa mình với những người khác rất hay.

Buổi sinh hoạt hôm ấy rất hào hứng. Trong trường đại học có một buổi sinh hoạt như vậy rất là mới lạ, tại vì khung cảnh các buổi tọa đàm ở đại học thường rất khô khan với những con số, những công thức, những dữ kiện,v.v.Buổi sinh hoạt hôm đó rất linh động. Thầy đã nói rất nhiều về phương pháp chế tác từ bi.

Thầy đề nghị trong trường đại học, các giáo sư và sinh viên đừng chỉ nghiên cứu và giảng dạy bằng miệng và bằng khối óc, mà cần phải ngồi lại để cùng nhau chế tác năng lượng từ bi bằng chánh niệm, chánh định và tuệ giác. Quý vị phải dạy từ bi bằng cách sống của mình, chứ không phải bằng những bài giảng mà thôi. Khi quý vị có khả năng chế tác từ bi thì cách quý vị nhìn, cách nghe, cách tiếp xử với người khác khiến người ta thấy rất rõ năng lượng từ bi đó, chứ không phải chỉ do sự giảng dạy mà người ta hiểu được từ bi. Mọi người tham dự, trong đó có giáo sư James Doty – chủ tọa của buổi đàm luận rất thích và có nhiều cảm hứng từ những điều Thầy chia sẻ.

Giáo sư James Doty và Thầy

Hành trình của chuyến hoằng pháp tại Bắc Mỹ

Chuyến đi bắt đầu với khóa tu cho các nhà giáo tại đại học Brock, Toronto, Canada, với đề tài với đề tài “Thầy cô giáo hạnh phúc sẽ làm thay đổi thế giới” (“Happy teachers will change the world”). Khóa tu bắt đầu từ ngày 11/8 đến ngày 16/8. Khóa tu vừa chấm dứt thì ngày 17/8 có một buổi thuyết giảng công cộng tại Trung tâm Biểu diễn Nghệ thuật Sony (Sony Centre for the Perfoming Arts). Trong buổi thuyết giảng này Thầy giảng về chủ đề: Present moment – Wisdom for global peace and happiness (Giây phút hiện tại – Tuệ giác đem lại bình an và hạnh phúc cho thế giới). Ngày 18/8 là một ngày quán niệm dành cho người Việt, có 900 người tới tham dự. Ngày 19/8 thì Thầy và Tăng đoàn qua Mỹ.

Ngày 22/8, có một ngày xuất sĩ tại tu viện Bích Nham. Từ ngày 25 – 30/8 thì có khóa tu cho những người nói tiếng Mỹ. Trước khi lên đường sang tu viện Mộc Lan, có một buổi thuyết giảng tại Beacon Theatre, New York ngày 7/9. Và cũng trong ngày này, Thầy đã khai mạc buổi triễn lãm thư pháp tại ABC Home, New York. Phòng triễn lãm này sẽ mở cửa trong vòng 4 tháng, và theo báo cáo, ngày nào cũng có rất đông người đến tham quan. Có rất nhiều người đã đặt mua những thư pháp ở đó. Sợ rằng sau bốn tháng thì những thư pháp ở đó sẽ bị bán hết, không còn để cho thầy Pháp Nguyện tổ chức một buổi triễn lãm khác.

Ngoài hai ngày cho World Bank (9 – 10/9) và hai ngày cho Havard (11 – 12/9), mình còn có một buổi pháp thoại công cộng ngày 14/9 và một buổi ngồi thiền công cộng (Sit in Peace) ngày 15/9 trước nhà thờ Trinity Church ở Boston. Chủ đề ở Boston là The country of the present moment – the wisdom for global peace and happiness (Xứ sở của giây phút hiện tại – Tuệ giác đem lại bình an và hạnh phúc cho thế giới).

Pháp thoại công cộng tại nhà thờ Trinity Church, Boston

Ở Mộc Lan có hai khóa tu, một khóa tu cho người Việt (19 – 22/9) và một khóa tu cho người Mỹ (24 – 29/9). Sau hai khóa tu ở Mộc Lan thì Tăng đoàn đi Lộc Uyển. Ngày 4 – 8/10 là khóa tu cho người nói tiếng Việt. Và khóa tu tiếng Anh với chủ đề “Tìm lại ngôi nhà đích thực của chúng ta” (“Finding our true home”) bắt đầu từ ngày 11/10 và kết thúc ngày 16/10. Ngày 19/10, Thầy có buổi thuyết giảng công cộng tại Pasadena. Rồi sau đó mình đi lên miền Bắc California.

Ngày 23/10 là dành cho Google, ngày 24/10 là dành cho Standford, ngày 25/10 là để cho các nhà doanh thương, ngày 26/10 là diễn thuyết công cộng tại Paramount Theatre với đề tài “Làm mới thân tâm – Tiếp xúc với sự sống mầu nhiệm” (“Refreshing our Hearts, Touching the Wonders of Life”). Ngày 27 là ngày quán niệm cho người Việt tại tu viện Kim Sơn. Và ngày 28 thì Thầy và Tăng đoàn về lại Pháp, kết thúc chuyến hoằng pháp tại Bắc Mỹ năm 2013.

Các bài có liên quan:

– Có Bụt trong xe

– Bụt có khổ không?

Bụt có khổ không?

 

 

Pháp thoại công cộng tại Paramount Theatre, Oakland

Trong chuyến đi hoằng pháp tại Bắc Mỹ năm nay, có nhiều chuyện để kể từ từ. Nếu Thầy quên thì các vị khác sẽ bổ túc cho Thầy.

Cần có thêm vài ngàn người xuất gia nữa…

Một trong những điều mình thấy là số người muốn ghi tên tham dự các khóa tu và những buổi thuyết giảng rất đông. Ví dụ như buổi thuyết giảng công cộng tại Oakland, nhà hát chỉ chứa được 3200 người thôi nhưng khi mình mở đăng ký trực tuyến qua Internet cho người ta ghi danh tham dự khóa tu thì chỉ bốn giờ sau là hết chỗ, không mua vé được nữa. Rất nhiều người muốn tới nghe mà không có chỗ, do đó mình phải mời họ lên mạng để nghe trực tuyến. Có một tổ chức tên là Sounds True phụ trách về việc thông báo và ghi tên những người lên mạng để nghe. Hôm đó Sounds True báo cáo rằng số người lên mạng để nghe pháp thoại trực tuyến là 35000 người. Điều đó chứng tỏ rằng số người muốn tu học rất đông. Tất cả các khóa tu đều như vậy.

Trong khi đó phương tiện của mình để đáp ứng được nhu cầu tu học hiện nay lại rất hạn chế. Có những khóa tu mình chỉ có thể tiếp nhận được chừng 1000 người thôi hoặc ít hơn, nhưng luôn luôn có 700 – 800 người ở trong danh sách chờ đợi (waiting list). Như khóa tu ở Hồng Kông đầu tháng năm năm nay, mình chỉ có thể đáp ứng được cho 1300 người thôi, trong khi đó số người muốn tới tu rất đông. Tại tu viện Lộc Uyển, Bích Nham, Mộc Lan cũng vậy.

Trong những khóa tu ấy, Thầy có nói chuyện về tình trạng của Tăng đoàn Làng Mai. Thầy nói rằng ở châu Âu, nước nào cũng muốn có một khóa tu mỗi năm nhưng ước nguyện đó vẫn chưa thành đạt. Hiện nay, tại châu Âu chỉ có 3 nước: Pháp, Đức, Hà Lan là có khóa tu hàng năm. Còn những nước khác như Ý, Tây Ban Nha… nhiều lắm là hai năm mới có một khóa tu. Đó là vì tăng đoàn không có đủ người để gửi đi, mình thiếu các vị giáo thọ. Vì vậy Thầy kêu gọi phải có thêm vài ngàn người xuất gia nữa mới tạm đáp ứng được nhu cầu tu học. Thầy nói rằng trong quý vị ngồi đây, nếu ai thấy ngoài đời không có chuyện gì đáng làm thì nên đi xuất gia để mà phụng sự. Tại vì chỉ trong một khóa tu 6 ngày mà đã có rất nhiều người chuyển hóa và hòa giải được với gia đình. Người ta hạnh phúc lắm.


Cõi Tịnh Độ hay nước Chúa không phải là nơi không có khổ đau

Trong chuyến đi lần này, có những điều Thầy nói làm cho thiên hạ sốc rất nhiều. Những điều này đơn giản thôi, nhưng đối với họ rất mới lạ. Ví dụ như: trong cõi Tịnh độ của Bụt, cõi thiên đường của Chúa có đau khổ không? Hầu hết mọi người đều tin rằng ở cõi Tịnh độ hay ở cõi thiên đường thì làm gì có đau khổ nữa? Nhưng theo giáo lý tương tức của đạo Bụt, không có khổ đau thì không có hạnh phúc. Không có bùn thì không có sen. Nếu muốn có những bông sen thơm và tinh khiết thì phải có bùn mới được. Có bùn mới làm ra sen. Hạnh phúc và khổ đau cũng vậy. Chính nhờ cái bùn của khổ đau mà mình làm ra được bông sen của hạnh phúc. Vì vậy, Thầy nói rằng: “theo tôi, nước Chúa không phải là chỗ không có khổ đau. Nếu không có khổ đau thì cũng không có hạnh phúc. Chắc chắn là như vậy”.

Thầy cũng nói: “Nếu quý vị gửi con của quý vị tới những chỗ không có khổ đau thì con của quý vị sẽ không có cơ hội học hỏi để hiểu và để thương. Nếu không có hiểu và thương thì mình không phải là một người có hạnh phúc. Và muốn học hiểu, học thương thì mình phải tiếp xúc với khổ đau. Cõi Tịnh độ hay nước Chúa không phải là chỗ không có khổ đau, mà là chỗ người ta biết học hỏi từ khổ đau, biết sử dụng khổ đau để chế tác hạnh phúc cũng như người biết sử dụng bùn để nuôi sen.”

Chuyện ở nước Chúa mà có khổ đau là chuyện mà lâu nay người ta không nghĩ tới, không ai tin như vậy. Hầu hết mọi người đều tin rằng đã là nước Chúa, đã là Thiên quốc rồi thì chắc chắn là không còn khổ đau nữa. Nhưng sự thật mà mình quan sát được là nếu không có khổ đau thì cũng không có hạnh phúc. Khổ đau và hạnh phúc đi với nhau như một cặp bài trùng, không có cái này thì không có cái kia, cũng như một tờ giấy có mặt trái và mặt phải vậy. Mình không thể lấy mặt trái ra khỏi mặt phải. Mình không thể nói: anh tới đây lấy mặt trái đi về Bordeaux, còn chị lấy mặt phải đi về Toulouse. Đó là điều không thể làm được. Hai cái chỉ muốn ở chung thôi, không có cái này thì cũng không có cái kia.

Nếu không có dưới thì cũng không có trên, không có phải thì không có trái, nếu không có thì không có không, nếu không có khổ đau thì không có hạnh phúc. Rất rõ ràng. Đó là sự thật 100%. Vậy nên chúng ta đừng có ảo tưởng tìm tới một cõi không có khổ đau. Không! Tịnh độ và nước Chúa là những nơi có khổ đau, chắc chắn là như vậy. Nhưng ở những nơi đó người ta biết cách khổ, biết cách sử dụng khổ đau để chế tác hạnh phúc. Thầy có dạy rằng khi quý vị biết cách khổ thì quý vị khổ rất ít. “If you know how to suffer, you suffer much less”. Câu này họ thích lắm. Nếu mình biết cách khổ thì mình khổ rất ít, và mình lại có thể làm ăn khá hơn: mình có thể sử dụng khổ đau đó để chế tác thành hiểu và thương để làm nền tảng cho hạnh phúc.

Bụt có khổ, nhưng vì Bụt biết cách khổ cho nên Ngài khổ rất ít

Thầy có kể rằng ngày xưa khi còn trẻ, thầy cũng tin như mọi người là khi mình thành Bụt rồi thì mình không còn khổ nữa. Nếu thành Bụt rồi mà còn khổ thì thành Bụt để làm gì? Đó là lý luận của mình. Nhưng nếu mình thấy được sự thật là khổ đau và hạnh phúc tương tức thì mình có một cái nhìn rất khác. Thành ra sự thật là Bụt có khổ, nhưng vì Bụt có tuệ giác và tình thương lớn, và vì Bụt biết cách khổ cho nên Bụt khổ rất ít. Thầy nghĩ rằng Bụt cũng có nhức đầu, đau bụng, nhức mỏi chứ không phải là không. Nói rằng Bụt không đau bụng, nhức đầu, không nhức mỏi là không đúng. Tại vì đã có hình hài thì phải có những chuyện đó thôi. Nhưng vì Bụt có trí tuệ và từ bi lớn, và vì Bụt biết cách khổ cho nên Bụt khổ rất ít.

Có thể có những người không đồng ý với Thầy. Họ nói: nếu thành Bụt mà còn khổ thì thành Bụt để làm gì? Đó là lý luận của đa số. Nhưng Thầy thấy rất rõ là Bụt cũng khổ như mình nhưng Bụt khổ rất ít, tại vì Ngài có quá nhiều trí tuệ và từ bi. Nếu cần khổ thì Ngài cũng khổ. Ví dụ như nghe tin đệ tử thương yêu của mình là thầy Xá Lợi Phất tịch thì Bụt có buồn không? Bụt có phải là một tảng đá đâu? Khi đệ tử thương của mình qua đời mà Bụt tỉnh bơ thì đâu được. Chắc chắn là Bụt có khổ nhưng vì Bụt có sẵn tuệ giác về vô thường, vô ngã, biết rằng thầy Xá Lợi Phất đang tiếp tục có mặt trong các sư em của thầy, thì Bụt khổ ít hơn các thầy khác nhiều. Bụt khổ ít hơn thầy Ananda, có phải vậy không? Cho nên sự thật Thầy trao truyền là Bụt có khổ nhưng Ngài khổ rất ít. Ngài biết cách khổ. Cũng như Thầy vậy, Thầy cũng khổ nhưng Thầy khổ ít hơn nhiều người khác. Ví dụ nếu mình biết giáo lý về mũi tên thứ hai. Mũi tên thứ hai là sự lo lắng, sự bực bội của mình, nó làm cho mình khổ gấp mười lần, và vì vậy đừng để cho mũi tên thứ hai cắm vào thì mình đã bớt khổ nhiều rồi, huống hồ mình lại còn có những phương pháp khác.

Khi thành Bụt rồi thì mình còn phải tu nữa hay không?

Khi còn là một thầy tu trẻ, Thầy còn có một câu hỏi nữa là: khi thành Bụt rồi thì mình còn phải tu nữa hay không? Thực tế trong kinh nói rất rõ là Bụt cũng có ngồi thiền, đi thiền hành và thực tập an ban thủ ý như các thầy khác. Thành ra mình hỏi tại sao thành Bụt rồi mà còn phải thực tập nữa, còn phải tu nữa? Tu là để thành Bụt, tại sao thành Bụt rồi còn phải tu nữa? Đó là những câu hỏi rất thực tế.

Câu trả lời cũng dễ thôi, nhưng tại sao mình loay hoay mất bao nhiêu năm mà tìm không ra. Đó là vì hạnh phúc cũng vô thường. Bụt có rất nhiều hạnh phúc, và vì hạnh phúc của Bụt cũng vô thường như hạnh phúc của mình cho nên Ngài phải tiếp tục tu để tiếp tục chế tác hạnh phúc. Thí dụ như mình đạp xe đạp, mình đạp mấy cái thì xe chạy, nhưng nếu mình không tiếp tục đạp thì xe đâu chạy nữa. Hạnh phúc của Bụt cũng vậy. Ngài biết cách nuôi dưỡng hạnh phúc cho nên hạnh phúc của Ngài kéo dài. Còn mình không biết nuôi dưỡng hạnh phúc cho nên hạnh phúc của mình rất ngắn ngủi.

Bởi vậy cho nên thành Bụt rồi mà Bụt cũng phải thực tập thôi. Ngài cũng thực tập an ban thủ ý, Ngài cũng thực tập thiền hành, thiền tọa, ăn cơm im lặng như mình vậy để nuôi dưỡng hạnh phúc của Ngài. Câu trả lời rất dễ, vậy mà trước đây mình cứ dại dột cho rằng: đã thành Bụt rồi thì còn tu nữa để làm gì?

Thầy nói những điều  này bằng một ngôn ngữ đơn giản và dễ hiểu cho nên thiền sinh dễ hiểu và dễ chấp nhận. Những cái ban đầu gây sốc cho người ta rốt cuộc rồi người ta cũng hiểu và chấp nhận được.

(còn tiếp)

Bài viết có liên quan:

Có Bụt trong xe

Có Bụt trong xe

(Trích pháp thoại của Thầy ngày 31/10/2013 tại xóm Thượng – phần I)

Kính thưa đại chúng, hôm nay là ngày 31 tháng 10 năm 2013. Chúng ta đang ở tại thiền đường Nước Tĩnh, xóm Thượng, trong khóa tu mùa thu. Sáng nay tại Phương Khê, khi thức dậy thì ở ngoài là 3 độ C. Làng Mai đang vào mùa thu, lá chưa vàng nhiều. Sáng nay có sương mù nhưng khi mặt trời lên thì sương cũng tan hết. Hôm nay Thầy có cơ hội kể lại một ít về chuyến đi vừa qua ở Bắc Mỹ. Chiều nay, có thể các vị khác sẽ tiếp tục kể. Thầy chỉ kể vài nét chính thôi.

Cầu nguyện Đất Mẹ cho một ngày mưa

Chuyến đi vừa qua kéo dài hai tháng hai mươi ngày. Trước khi lên đường, Thầy không được khỏe lắm, còn ho. Sang tới Canada vẫn còn ho. Nhưng chuyến đi này rất may mắn. Sau khóa tu Canada thì Thầy hết ho. Ở Mỹ, mình có ba tu viện: tu viện Bích Nham ở New York, tu viện Mộc Lan ở Mississippi và tu viện Lộc Uyển ở California. Ba nơi đều không có mưa; trời nắng kéo dài và trong rừng suối khô cạn. Nhưng khi tăng đoàn tới thì cả ba nơi đều có mưa. Ban đầu thì là Bích Nham. Thầy tới được chừng ba, bốn ngày thì trời bắt đầu mưa. Rất là hạnh phúc. Các loài chúng sanh, kể cả loài người nữa, đều hạnh phúc. Cây cối cũng rất là hạnh phúc.

Mộc Lan cũng vậy. Thiếu mưa rất lâu, nhưng sau khóa tu cho người Việt thì có mưa. Vì vậy mà khóa tu cho người nói tiếng Mỹ được hưởng cái sự mát mẻ đó, rất là hay. Tại tu viện Lộc Uyển, nắng lâu ngày quá nên nhiều cây sage đã bắt đầu chết. Vì vậy trước khi về Lộc Uyển,  Thầy đã bắt đầu chú nguyện, gửi năng lượng cầu đất Mẹ và cha Trời cho mưa, nhưng đến khi xuống tới phi trường Los Angeles rồi thì nghe nói vẫn chưa có mưa. Vì vậy mà ngồi trên xe, Thầy tiếp tục chú nguyện. Thầy nói: Tăng đoàn Làng Mai xin đất Mẹ và trời Cha cho một ngày mưa hoặc một đêm mưa. Và đôi khi Thầy nghĩ đất Mẹ và cha Trời chưa thương Tăng đoàn Làng Mai đủ để trời mưa, cho nên Thầy cầu cứu với đất Mẹ là tất cả các loài chúng sanh ở trong rừng, kể cả các loài cây cối đang rất mong đất Mẹ cho một ngày mưa, một đêm mưa.

Và cuối cùng thì có mưa. Chiều hôm đó, Thầy ngồi thiền trong nhà và nhìn ra thấy mưa rất đẹp, trong lòng có rất nhiều hạnh phúc. Ngày hôm sau Thầy đi thăm cây, và thấy rõ ràng là cây cối đang rất hạnh phúc. Chỉ cần năm ngày sau là các cây sage lấy lại phong độ, bắt đầu cho ra những đọt non. Thành ra chuyến đi này rất may mắn, có ba trận mưa tại ba trung tâm của mình.

Chuyến đi này có rất nhiều khóa tu, nhiều ngày quán niệm, và nhiều buổi diễn thuyết công cộng. Phái đoàn làm việc rất nhiều. Các thiền sinh cũng như quần chúng được hưởng rất nhiều lợi lạc. Không những vậy mà các thầy các sư cô ở tại ba tu viện đều có cơ hội đi theo Thầy và tăng đoàn trong suốt chuyến đi. Thành ra thầy trò và huynh đệ có cơ hội làm việc chung với nhau, ngồi với nhau, đi với nhau, phụng sự với nhau, rất là hạnh phúc.

Bụt có ngồi trong xe không?

Có một hôm ngồi trên xe bus, Thầy hỏi vị thị giả của Thầy: “Con nghĩ là Đức Thế Tôn có ngồi trong xe với mình hay không?”. Thầy Pháp Nguyện trả lời: Dạ có. Thầy nói: có chắc hay không? Hôm ấy có tới ba chiếc xe bus. Thầy ngồi trong một chiếc, và còn hai chiếc kia… Muốn biết là có Bụt ngồi trong xe hay không, chuyện đó cũng dễ thôi.

Nếu trong xe năm chục người ngồi mà có một người thôi đang thở trong chánh niệm thì có nghĩa là Bụt đang ngồi trong xe. Mà nếu có hai người, ba người, năm người cùng thở, cùng ngắm phong cảnh trong chánh niệm thì sự có mặt của Bụt rất là rõ ràng. Và nếu tất cả năm chục người đều đang thở thì chuyện đó là chuyện rất mầu nhiệm. Thầy có nói rằng chỉ cần trong xe có một người thở trong chánh niệm thôi là đã có Bụt ở trong xe. Và có Bụt ở trong xe thì tất cả mọi người trong xe đều được bảo hộ bởi năng lượng đó và trong xe có an ninh hơn nhiều.

Ngồi trong xe, xe bus hoặc xe van hoặc xe thường, nếu quý vị muốn hỏi câu hỏi “có Bụt ngồi trong xe này hay không?” thì quý vị có thể tự trả lời được. Mình có quyền làm cho Bụt có mặt trong xe hay không? Nếu mình thở trong chánh niệm thì mình biết chắc là có Bụt đang ngồi trong xe và cả xe đều được bảo vệ.

Ngồi trên máy bay từ San Francisco về Paris, Thầy cũng có hỏi: Có Bụt ở trong máy bay này hay không? Câu trả lời rất rõ. Muốn có Bụt trong máy bay thì mình chỉ cần thở trong chánh niệm. Thành ra mình có một quyền năng rất lớn mà mình không biết. Nếu có hai người, ba người thở thì sự có mặt của Bụt càng rõ ràng hơn nữa. Cho nên Thầy muốn các vị, từ xóm Thượng đi xuống xóm Hạ hay đi về xóm Mới, khi ngồi trên xe nên hỏi: trong xe này có Bụt ngồi với mình hay không?

Thầy nhớ trong một chuyến đi Ấn Độ do giáo thọ Shantum Seth tổ chức, mình đi một phái đoàn tới 300 người, vì vậy cho nên mình có tới 11 chiếc xe bus. Và Thầy muốn là trên chiếc nào cũng có Bụt ngồi cả chứ không phải chỉ có chiếc của Thầy. Cho nên Thầy yêu cầu trên mỗi chiếc xe bus đều có một cái chuông, lâu lâu mình thỉnh một tiếng chuông cho mọi người thở. Và khi mọi người đều thở thì chắc chắn là có Bụt đang ngồi trong xe với mình. Bụt đang ngồi với mình thì mình có hạnh phúc nhiều hơn, có an ninh nhiều hơn. Thành ra muốn biết là Bụt có ở trong xe hay không, câu trả lời rất dễ.

Khắp nơi trên thế giới, tăng thân mình khi đi xe nên có chuông trên xe. Phải có một cái chỗ để chuông. Ở Việt Nam cũng như ở các nước Phật giáo, trong xe hơi người ta thường treo tượng Bụt, hoặc là treo một túi kinh trong đó có Bát Nhã Tâm Kinh,v.v., nhưng không có nghĩa rằng khi mình có treo tượng Bụt thì có Bụt ở trong xe. Dù tượng Bụt làm bằng plastic, hay làm bằng ngọc đi nữa thì cái đó cũng không phải là Bụt. Chỉ khi nào trong xe có người thở và nhìn trong chánh niệm thì khi đó mới có Bụt thật mà thôi. Cho nên Thầy đề nghị từ nay về sau, trong mỗi xe của tu viện đều phải dán lên câu: Có Bụt ngồi trong xe không? Và khi lên xe thấy câu đó thì mình có thể nói: thôi, để mình làm cho Bụt có mặt đi! Nếu những người khác đang bận lo lắng, bận suy nghĩ về những chuyện khác thì mình làm việc này cho họ.

Ngày hôm qua Thầy đã viết xuống câu thư pháp “Bụt có ngồi trong xe không?” hay là câu “Có Bụt trong xe không?”. Từ nay về sau trên mỗi xe, hoặc là xe bus, hoặc là xe van hoặc xe thường đều nên dán câu đó, và chúng ta cũng cần có thêm một cái chuông nhỏ nữa. Và vị nào lái xe thì khi đại chúng đã lên xe rồi, có thể nhắc: không biết có Bụt ở trong xe hay không? Và nhờ một người thỉnh chuông cho mọi người thở. Đó cũng là một phương pháp thực tập chánh niệm.

Có Bụt trong cuộc đời là chúng ta đã có hạnh phúc nhiều lắm! Nhưng đâu phải chỉ có Bụt trong cuộc đời, mà mình còn có nhau nữa, cho nên hạnh phúc đó rất là lớn! Vì vậy khi mình thỉnh chuông thì mọi người sẽ không nói chuyện, không suy nghĩ mà trở về với hơi thở và ý thức rằng mình đang có Bụt trong cuộc đời và mình cũng đang còn có nhau. Còn hạnh phúc nào lớn hơn thế nữa?

(còn tiếp)

Tổng kết chuyến đi Bắc Mỹ

Có Bụt trong xe
Ở Việt Nam cũng như ở các nước Phật giáo, trong xe hơi người ta thường treo tượng Bụt, hoặc là treo một túi kinh trong đó có Bát Nhã Tâm Kinh,v.v., nhưng không có nghĩa rằng khi mình có treo tượng Bụt thì có Bụt ở trong xe. Dù tượng Bụt làm bằng plastic, hay làm bằng ngọc đi nữa thì cái đó cũng không phải là Bụt. Chỉ khi nào trong xe có người thở và nhìn trong chánh niệm thì khi đó mới có Bụt thật mà thôi.
Bụt có khổ không?
(Trích pháp thoại của Thầy ngày 31/10/2013 tại xóm Thượng – phần II)
Anh muốn làm gì với đời anh?
(Trích pháp thoại của Thầy ngày 31/10/2013 tại xóm Thượng – phần III)

Ngày Chánh Niệm tại World Bank, 9-10.09.2013

Nhân duyên với World Bank

Hai mươi năm về trước có một bác sĩ trẻ (gốc người Hàn quốc nhưng lớn lên ở Hoa Kỳ) tên Kim Young Jim đọc được quyển sách Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức – một quyển sách do Thiền Sư Thích Nhất Hạnh viết cho những anh em Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội đang làm việc dưới bom đạn năm 1974 trong chiến tranh Việt Nam. Khi nhậm chức Viện Trưởng Viện Đại Học Darmouth vào năm 2009, ông đã tuyên bố “Quyển sách Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức của Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã làm thay đổi đời tôi.”

Kim Young Jim và Sư Ông Làng Mai

Khi vừa hay tin Tổng Thống Barack Obama mời Kim Young Jim làm Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (World Bank, xin viết tắt là WB) – tổ chức chuyên cho các nước nghèo mượn vốn nhằm xóa đói giảm nghèo, thầy Pháp Lưu vốn là sinh viên Đại Học Darmouth nhớ câu tuyên bố khi xưa của ông Viện Trưởng nên thử e-mail báo tin cho ông Kim biết tác giả quyển sách mà ông khâm phục đó sắp đi dạy một vòng Hoa Kỳ. Thầy Pháp Lưu viết thêm rằng tác giả này là một thiền sư nên không thích nói lý thuyết và gặp gỡ để chào hỏi xã giao. Nếu ông muốn tham dự khóa tu của thầy tôi thì chúng tôi sẽ để dành cho ông một chỗ danh dự tại một trong những khóa tu mà thầy chúng tôi hướng dẫn trên đất Mỹ.

Ông mừng quá và hỏi thăm là Thiền sư có thể nào đến giảng cho nhân viên WB nghe không? Thầy Pháp Lưu nói thầy chúng tôi chỉ muốn chia sẻ sự thực tập chánh niệm cho nhiều người  để họ có thêm bình an trong cuộc sống tất bật hôm nay, chỉ cách cho họ chuyển hóa được những cảm xúc mạnh như giận dữ, sợ hãi, tuyệt vọng v..v chứ không chỉ đến WB để thuyết pháp một cách đơn thuần. Ông viết thư hỏi lại: “Vậy Thiền Sư có thể đến dạy một ngày chánh niệm tại WB không?”

Lúc đó là tháng 5/2013, Sư Ông và tăng thân đang ở bên Hàn quốc. Thầy Pháp Lưu sợ các thầy các sư cô trong ban giáo thọ sẽ bác bỏ đề nghị chia bớt 2 ngày nghỉ ngơi của Sư Ông ở Tu Viện Bích Nham, vì muốn giữ gìn sức khỏe cho Sư Ông. Thầy điện thoại trực tiếp đến ban thị giả nhờ trình lên, xin Sư Ông hoan hỷ chấp nhận dạy hai ngày cho WB. Nghe nói ông Kim Young Jim là người có tâm bồ đề lớn, nếu mình không giúp thì thật là đáng tiếc! Trước đó nhiều năm, ông Kim đã từng nhuận văn và in một quyển sách 600 trang chứng minh là WB làm việc không có hiệu quả và thậm chí còn làm tổn hại người nghèo… Vì lý do đó, ông đề nghị WB nên ngưng hoạt động. (Có thể đó là một số kiến nghị của ông nhằm cải thiện tình trạng cho WB). Hay cũng vì lý do đó mà Tổng Thống Obama tiến cử ông vào vị trí chủ tịch WB để ông có dịp chứng minh những gì mình nói là có thể thực thi được. Như chúng ta được biết vừa vào vị trí mới, ông ra lệnh đuổi ngay hai trong bốn “đại thần” của WB, vì ông nắm được những việc làm chưa hay, hay chưa đúng tinh thần xóa đói giảm nghèo của họ. Ông Kim còn cắt bớt ngân sách này, giảm thiểu những chi tiêu phí phạm kia, khiến cả ngàn nhân viên cũng khá lo âu và bất an vì với đà này không biết số phận mình sẽ ra sao. Kết quả là gần đây ông đã chỉnh lý ngân sách và thanh lọc được một số việc nội bộ.

Cuối cùng, Sư Ông cũng nhận lời nhờ vào những thông tin thầy Pháp Lưu cung cấp. Trong buổi sinh hoạt đầu tiên ông Kim thuật lại với nhân viên chuyện trao đổi qua lại giữa ông với thầy Pháp Lưu. Khi thầy Pháp Lưu báo tin Sư Ông nhận lời tới WB, ông nói: “Ôi chao! thật là một may mắn quá bất ngờ khi tôi hay tin Thiền Sư nhận lời tới dạy cho chúng ta! Vì thế mới có được ngày hôm nay…

Chương trình sinh hoạt hai ngày tại WB:

Ngày 09/09, Sư Ông Làng Mai cùng 36 quý thầy, quý sư cô từ đạo tràng Mai Thôn và các trung tâm khác của Làng trên thế giới tới World Bank để hướng dẫn ngày chánh niệm. Vì chỗ ngồi có giới hạn nên chỉ có 500 nhân viên được tham dự trực tiếp, danh sách ghi danh chờ đợi (waiting list) khá dài. Hai ngày sinh hoạt với Sư Ông và tăng thân Làng Mai đều được thu hình và phát sóng đến các văn phòng của World Bank trên khắp thế giới.

  • Ngày 09/09/2013: trò truyện và tham khảo giữa Tiến sĩ Richard Davidson, Tiến sĩ Brian Davey, Chủ tịch World Bank Jim Young Kim và Sư Ông Làng Mai.

Bắt đầu vào 11:00, Chủ tịch Kim giới thiệu Sư Ông, Tiến sĩ Brian Davey, Tiến Sĩ Richard Davidson. Nội dung buổi trò chuyện như sau:

Tiến sĩ Kim Young Jim, Khoa học gia thần kinh Davidson Richard, Ts Brian Davey và Sư Ông Làng Mai

Trong giảng đường, Thiền sư ngồi giữa 3 vị học giả: Tiến sĩ Kim Young Jim, Khoa học gia về thần kinh học Davidson Richard và Tiến sĩ Brian Davey. Tiến sĩ Davidson nói về những tác động tích cực của các kỹ thuật giảm căng thẳng, những bằng chứng khoa học và y tế cho thấy khi lợi ích của cá nhân được chăm sóc thì họ sẽ tạo nên một lực lượng lao động hiệu quả hơn và hạnh phúc hơn. Tiến sĩ Davey nói về chương trình chăm sóc sức khỏe của World Bank cho công nhân viên.

Sau khi Khoa học gia Richard Davidson chia sẻ, Thiền sư ngồi thật yên, thật dung dị, thoải mái, chia sẻ về cách Thiền sư và Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội làm việc xóa đói giảm nghèo ra sao trong những năm 1965 – 1975: bắt đầu làm hai làng hoa tiêu thử nghiệm từ đầu năm 1964 đến tháng 9 năm 1965 với hay bàn tay trắng không tiền bạc, rồi thành lập chính thức trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội (TNPSXH) tháng 9 năm 1965. Phong trào phụng sự kéo dài mãi cho tới tháng năm 1975 mới chấm dứt. Những người tình nguyện dấn thân phụng sự được gọi là tác viên xã hội của TNPSXH. Trường này chủ trương là không đem tiền tới nơi nghèo đói mà chỉ đi tới những làng mạc nghèo với hai bàn tay không và một tấm lòng tự nguyện dấn thân, chia sẻ cho đồng bào cơ cực. Họ chỉ có một trái tim thơm nồng tình thương cùng với sự dấn thân của tuổi trẻ vào con đường cách mạng bản thân, giúp dân nghèo làm cách mạng, cùng với dân  tự lập, tự xây dựng cho thôn làng của họ bằng sự tự đứng lên lo cho con em mình với khả năng và những điều kiện có sẵn trong  tay mà không chờ đợi sự trợ giúp bên ngoài; giúp người dân sáng suốt tìm cách tự trợ, rồi sau đó mình mới kêu gọi bà con bên ngoài giúp một tay. Ý thâm sâu của Thiền sư là nếu anh tới với quá nhiều tiền thì hư việc hết, bởi vì thiên hạ chỉ nghĩ tới đồng tiền của anh và họ chỉ muốn mượn càng nhiều càng tốt.

Thiền sư dạy cách làm cho tâm bình an, về thiền chánh niệm có công năng trị liệu, chuyển hoá, hòa giải, tái lập truyền thông, chế tác bình an và hạnh phúc trong cuộc sống hàng ngày. Tiến sĩ Richard Davidson ngồi lắng nghe thật say sưa những điều hình như quá mới lạ với ông… Ông Kim thì cứ cười hoài, tâm đắc. Chỉ có tiến sĩ Brian Davey thì mặt còn hơi nghiêm, nhưng nét mặt của ông cũng từ từ giãn ra.

Tiếp theo là phần đặt câu hỏi:

1.Trong xã hội tranh giành ảnh hưởng ngày nay, mình không có thì giờ để ăn, để sống cho thoải mái hạnh phúc được. Ai cũng muốn là người giỏi nhất, làm tốt nhất. Vậy mình phải làm sao?

Sư Ông hỏi: “Ai cũng muốn làm number ONE đó hả? Thì phải chọn thôi, chọn làm NUMBER ONE hay chọn được HẠNH PHÚC?” Thiên hạ cười lớn thích thú.

2. “Thời bây giờ, đôi khi trong sở làm họ bắt mình thực hiện ba bốn việc, ba bốn dự án cùng một lúc. Khó quá! Thầy có cách gì không?”

Sư Ông trả lời ngắn gọn: “Chánh niệm là ăn thì chỉ ăn thôi, đi thì chỉ đi thôi, như vậy thì tiếp xúc với thức ăn mới sâu, đi từng bước mới thâm sâu. Làm việc cũng phải như thế.

 

  • Ngày 10/9/2013: Ngày quán niệm tại World Bank.

Phương pháp làm quyết định và Ban “Lắng nghe từng nhân viên”


Thời khoá như sau:

    8:15- Thiền hướng dẫn
    8:30- Ông Chủ tịch Kim giới thiệu Sư Ông với thính chúng
    8:40- Tụng Kinh
    9:00- Sư Ông cho pháp thoại
    10:30- Vấn đáp với Sư Ông
    11:30 – Thiền hành
    13:00 – Ăn trưa trong chánh niệm
    14-15:00- Thiền buông thư (Sư Cô Chân Không)
    15:00- Vấn đáp với quý thầy cô giáo thọ
    6:30- Buổi tiệc ăn chiều cám ơn

      Ngày 10/09, tăng thân trở lại WB từ sáng sớm để có trọn ngày quán niệm. Ngày hôm đó họ làm bình phong cao để chặn không cho người vào nếu không có ghi tên. Sư cô Đẳng Nghiêm hướng dẫn ngồi thiền, thầy  Pháp Lai dạy thiền ca. Quý thầy cô lên ngồi phía trên để nghe Sư Ông dạy đoạn đầu trước khi tụng kinh.

      Trước hết, Sư Ông chỉ cách sống thế nào để an trú được trong phút  giây hiện tại. Sư Ông dạy thiền đi, thiền chỉ (dừng lại), thiền quán, dạy về năng lượng từ bi trong mỗi người, năng lượng lắng nghe sâu gọi là quán thế âm (avalokiteshvaraya). Có quán thế âm trong tự thân từng người cộng hưởng với quán thế âm của  đại chúng thì sức mạnh trị liệu tập thể  mới dũng mãnh. Rồi Sư Ông giảng rằng quý thầy sư cô tụng kinh không phải là để cầu nguyện mà để tập trung năng lượng lắng nghe sâu, đem bình an trị liệu cho chính mình khi tụng lần đầu. Lần tụng thứ hai sẽ gửi năng lượng cho những người chung quanh mình và tụng lần thứ ba thì gửi năng lượng cho những người đang đau khổ khắp nơi. Tăng thân bắt đầu lên tập trung lắng nghe sư cô Trai Nghiêm đàn và sau đó cả tăng đoàn bắt đầu niệm danh hiệu Bồ tát Lắng nghe sâu Quán Thế Âm bằng tiếng Phạn. Hình như có nhiều người khóc.

      Tăng đoàn Làng Mai niệm danh hiệu Đức Quán Thế Âm bằng tiếng Phạn (Namo Avalokiteshvara)

      Trong hai ngày ở WB, năng lượng hùng hậu của Sư Ông đã được chuyển tải qua các bài pháp thoại, đem lại nhiều lợi lạc cho thính chúng. Điều này có thể thấy được qua sự chăm chú lắng nghe của Tiến sĩ Richard Davidson và gương mặt càng lúc càng tươi lên của ông. Đối tượng chia sẻ thứ hai của Sư Ông là ông Kim – Giám Đốc WB, bắt đầu từ “chuyện tình 20 năm về trước ở Đại Học Darmouth” (đã tuyên bố với sinh viên trong buổi nhậm chức là tác giả quyển Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức đã thay đổi đời tôi như đã nói ở trên). Vì người thuyết pháp (chủ thể) và người nghe (đối tượng) là một nên dù buổi giảng ngày hôm qua cũng chỉ từng ấy nội dung mà lại rất khác bao nhiêu lần khác. Ngày hôm đó cũng thế. Cũng bốn câu thần chú Sư Ông đã thuật biết bao nhiêu lần, vậy mà lần này dường như sống động, hấp dẫn hơn các lần trước khiến các Thầy và các sư cô cảm thấy tiếc cho ông Kim. Sau khi tụng kinh ông phải đi ngay vì có buổi họp với các lãnh đạo cao cấp đến từ nhiều nước. Các sư cô cứ xuýt xoa “Ui chao, uổng cho ông Kim quá đi, nếu ông được học hôm nay sẽ biết cách về đọc thần chú cho vợ con. Gia đình ông sẽ có bình an hạnh phúc hơn.”

      Tuy nhiên, khi tăng thân về lại State Hotel Plaza, thị giả cho biết là trưa hôm qua Ông Kim Young Jim đã có buổi tham vấn riêng với Thiền Sư Thích Nhất Hạnh rồi mà không có thị giả nào được ngồi kề bên. Sư Ông dạy nhiều thứ lắm và ông cũng mở lòng ra trình bày và xin ý kiến về nhiều vấn đề, từ chuyện gia đình đến việc làm v…v. Ông ghi chép cẩn thận như đi học chứ không nghe suông, không xem nhẹ những điều Sư Ông nói.

      Nghệ Thuật Lắng Nghe

      Kế tiếp Sư Ông dạy thêm về nghệ thuật lắng nghe mà không phản ứng, không phán xét để người kia có dịp nói ra hết những phiền muộn trong lòng mình. Nhờ thế mà mọi việc trở nên nhẹ nhàng hơn. Nếu mình có oan ức vì người kia hiểu sai về mình thì cũng tiếp tục thực tập lắng nghe. Bởi vì, mục đích của mình là để cho người kia nói ra cho bớt khổ. Chuyện hòa giải sẽ dễ dàng hơn và sau đó người bị oan sẽ từ từ cung cấp những thông tin xác thực để người kia dần dần thấy mình sai và sẽ tự động xin lỗi sau.

      Tình yêu thương chân thật

      Sư Ông dạy về tình thương chân thật phải có bốn yếu tố của bốn tâm vô lượng: Từ là tìm cách luôn đem niềm vui cho người kia; Bi làm vơi được nỗi khổ của người kia, muốn được thế thì phải tập lắng nghe sâu để hiểu, để thấy và để làm vơi nỗi khổ; Hỷ là tạo không khí vui tươi khi ở bên nhau, ý thức sự có mặt của nhau; Xả là không phân biệt kỳ thị, niềm vui, niềm hạnh phúc là của chung, niềm đau nỗi buồn, sự rủi ro cũng là của chung. Mình tập như thế với hai người, rồi ba người, rồi bốn người rồi cả những người cùng chung mái nhà, văn phòng, đoàn thể…

      Sư Ông cũng dạy nghệ thuật truyền thông đưa đến hòa giải như chuyện những người Palestinians và người Do Thái đến làng Mai tu học…

      Phương pháp làm quyết định

      Sư Ông đề nghị phương pháp làm quyết định (decision making process) mà World Bank có thể áp dụng theo mô hình của Làng Mai. Ở Làng Mai, không có một cá nhân nào có thể làm quyết định một mình, ngay cả Sư Ông. Tất cả đều do Hội đồng Tỳ kheo quyết định. Nhưng Sư Ông chính cũng là một Tỳ kheo nên những chuyện liên quan đến Sư Ông thì thầy Trụ trì đi thỉnh ý Sư Ông trước. Còn những chuyện lớn trong chúng, thầy Trụ trì có bổn phận ngồi thưa chuyện với từng sư anh lớn để thỉnh ý, để biết ý và dung hòa ý với các sư anh trước. Khi họp Hội đồng Tỳ kheo, thầy Trú Trì trình bày những nét chính để Hội đồng Tỳ kheo góp ý. Ai cũng góp ý kiến của mình hết, dù tuổi hạ (năm xuất gia) còn rất thấp. Khi có bất đồng ý kiến thì sư anh lớn có mặt hôm đó sẽ nhẹ nhàng giải thích bằng tuệ giác và kinh nghiệm của sư anh về việc ấy cho người sư em đang bất đồng ý kiến nghe cho tới khi nào trong Hội đồng Tỳ kheo có sự đồng ý hoàn toàn, có trên có dưới và ai cũng ý hòa đồng duyệt.

      Ở Làng dù chuyện lớn hay chuyện nhỏ gì đều cũng phải do Hội đồng Tỳ kheo hoặc Hội đồng Tỳ kheo ni làm quyết định. Sau khi có sự đồng ý 100% rồi mới theo phương pháp Tác Pháp Yết Ma (sangha karman). Người chủ buổi họp có thể nêu lên như sau: “Đây là sự đề nghị của Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng Tỳ kheo v.v…, nếu ai đồng ý thì xin giữ im lặng và nếu ai không đồng ý thì xin nói lên.” Làm như thế ta sẽ cho người khác có cơ hội nói lên ý kiến của mình. Người chủ tọa buổi họp sẽ thông báo như thế 3 lần. Sau 3 lần nếu không có ai phát biểu gì, có nghĩa là sự đề nghị về quyết định ấy đã được chấp thuận. Đây là phương pháp làm quyết định lấy sự hài hoà của tập thể làm nền tảng mà trong đó không có cá nhân nào cảm thấy có áp lực riêng. Ai cũng được đóng góp vào quá trình làm quyết định trong công trình xây dựng…

      Ban “Lắng nghe từng nhân viên”

      Sư Ông đề nghị World Bank cũng nên thành lập một ban “Lắng nghe sâu”. Ban Lắng nghe này có bổn phận và trách nhiệm lắng nghe với tâm từ bi về những khó khăn, khổ đau hoặc sợ hãi mà những công nhân viên đang phải đối diện. Tập lắng nghe như thế ta sẽ giúp được những người ấy vơi nhẹ được nỗi khổ niềm đau trong lòng của họ. Họ sẽ có tự tin nơi chính mình, vào các bạn đồng nghiệp và công ty hơn. Nếu một người có niềm tin, có hạnh phúc thì sự đóng góp của người ấy sẽ được cao hơn. World Bank có thể gửi nhóm người trong Ban lắng nghe này về Làng hoặc các trung tâm tu học của Làng tại Mỹ để được đào tạo.

      Chia sẻ của ông Kim và nhân viên World Bank:

      Vào ngày 20-09-2013, ông Kim đã gửi một lá thư rất dễ thương tỏ lòng biết ơn của ông đến Sư Ông và tăng thân Làng Mai đã đến hướng dẫn ngày Chánh niệm ở World Bank. Ông Kim rất biết ơn tuệ giác và sự chỉ đạo của Sư Ông dành cho ông và công nhân viên của World Bank. Ông nói, “Cái mà chúng tôi cần phải xây dựng bây giờ là một tăng thân World Bank thật sự—nơi mà tất cả mọi người đều làm việc chung để cùng nhau đạt được nhiều thành tích.” Sau khi đó thầy Pháp Lưu cũng viết một lá thư hồi âm lại cho ông Kim để  bày tỏ lòng biết ơn về sự tử tế và thái độ cởi mở của ông khi đem sự thực tập chánh niệm vào World Bank. Thầy Pháp Lưu sẽ tiếp tục giữ liên hệ và yểm trợ sự thực tập ở World Bank cùng với ông Kim.

      Sau hai ngày sinh hoạt với Sư Ông và tăng đoàn Làng Mai, nhân viên World Bank đã có nhiều phản hồi rất dễ thương và tích cực. Có người nói những phương pháp thực tập như thiền đi, thiền ăn, thiền buông thư cứ như là trong huyền thoại. Họ nói: “Truyền thống tâm linh này không có vẻ gì là một giáo phái (sect). Tôi thấy cách tu tập của họ rất cụ thể, ai cũng sử dụng được và nó vượt lên trên tôn giáo (Tôi là người Công Giáo vậy mà tôi cảm thấy mình có thể thực tập được và có nhiều lợi lạc). Những chia sẻ của các thầy các sư cô thật đơn giản và rất thực tế từ sự thực tập của chính họ. Chúng tôi đã được nghe những đề nghị cụ thể và đầy tuệ giác của họ về cách hành xử hàng ngày, nhờ sự thực tập mà ta có thể xử lý công việc khéo léo hơn và cuộc sống của ta sẽ đỡ khổ hơn. Các thầy các sư cô làm tất cả những điều này với một sự tươi vui, thanh thản và nhẹ nhàng. Điều đó đã tạo cảm hứng và tiếp thêm sức mạnh cho tôi.”

      Một nhân viên khác là E.C.T chia sẻ: “Thật là một sự kiện tuyệt vời và tạo nhiều hứng khởi! Thiền hành là thực tập mà tôi thích nhất. Tôi tập trung duy nhất vào việc đi, đi thật chậm, mắt nhìn xuống đất, để ý tới cỏ xanh, tới những chiếc lá sồi, tới những trái sồi rụng trên mặt đất … Tôi không biết là mình đã đi bao xa và đi đến đâu, nhưng điều đó thật không có gì quan trọng trong khi thiền hành. Tôi chỉ biết là mình có dừng lại, ngồi yên lặng cạnh hồ và sau đó quay về. Tôi ước gì lúc đó có máy đo huyết áp. Chắc chắn là huyết áp của tôi đã giảm một cách chưa từng thấy. Một kinh nghiệm phải nói là quá tuyệt vời.”

      Và một nhân viên nữa nói là cô ấy có cảm tưởng như Sư Ông đang nói chuyện trực tiếp với mình dù là Sư Ông đang giảng cho cả một khán phòng. Cô mong rằng những đồng nghiệp khác trong các chi nhánh của Ngân hàng Thế giới ở khắp nơi cũng có được cơ hội để được gặp “Brother Thầy”. Cô này thật dễ thương, cô nghĩ tên của Sư Ông là Thầy. Brother, trong tiếng Anh dùng để gọi một vị tu sĩ nam (Chú thích của BBT).

      Một nhân viên khác đã đến Làng Mai tu tập vài năm về trước chia sẻ: “Brother Thầy đã có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời của tôi. Tôi nghĩ mọi người nên đến Làng Mai bên Pháp để dự khóa tu ở đó. Vài năm trước đây tôi đã đến đó để tu tập 1 tuần. Sau khi học cách sống giản dị và ăn thức ăn chay tịnh (chỉ cần 24 tiếng đồng hồ là mình sẽ quen ngay), sự căng thẳng và sợ hãi  vốn là nguyên nhân khiến tôi tìm đến Làng đã bắt đầu giảm bớt. Thật đáng ngạc nhiên là chỉ cần một thời gian ngắn ngủi như vậy mà tôi đã có được sự thay đổi đó. Những bài pháp thoại của Thầy thật sự đem lại cho tôi rất nhiều cảm hứng.”

      Còn rất nhiều những phản hồi tích cực như vậy và kết quả là World Bank đã quyết định mở ra hai phòng để dành cho nhân viên thực tập thiền. Chúng tôi thật sự vui mừng vì nhân viên của World Bank có được nhiều cảm hứng khi tiếp xúc với pháp môn chánh niệm. Chúng tôi tin rằng họ sẽ làm việc có hiệu quả hơn trong việc phục vụ cho nhân loại khi đem phép thực tập này vào trong công việc và đời sống hàng ngày.

      Thị giả

      Xem thêm:


      Nhân viên World Bank thực tập thiền với Sư Ông và Tăng thân Làng Mai

      Sư Ông đưa nhân viên World Bank đi thiền hành trên đường phố Washington DC

      Nhân viên World Bank ngồi thiền bên bờ hồ với Sư Ông Làng Mai


      Nhật ký thị giả

      Sau khi kết thúc ngày quán niệm dành cho người Việt tại đại học Brock với khoảng 900 người tham dự. Ngày 20/08/2013, Sư Ông lên xe bus cùng với quý thấy, quý sư cô về Tu viện Bích Nham. Ngày 25.08 mới bắt đầu có khóa tu đầu tiên nhưng các thầy, các sư cô từ Mộc Lan, Lộc Uyển đã tới tu viện Bích Nham trước để có dịp gần gũi và chơi với Sư Ông, sau nữa là giúp một tay cho các khóa tu ở Bích Nham. Tôi được chơi với các anh chị sư em thật vui. Tăng thân xuất sĩ, gồm có 103 vị.

      Quý thầy và quý sư cô  cùng 74 cư sĩ tình nguyện đảm đương từ khâu tổ chức đến việc lo mướn hotel, xe buýt để đưa đón 850 thiền sinh (325 người ở phòng và cắm lều quanh tu viện, 525 người ở ngoài hotel). Đến việc sắp xếp địa điểm ăn-ngủ và mọi sinh hoạt khác như nấu ăn, dọn dẹp, rửa nồi… cho 1042 (thiền sinh và xuất sĩ). Quả thật là tuyệt vời! Tôi thầm cảm ơn cha mẹ các em đã yểm trợ cho con mình nhập vào dòng sông lý tưởng. Toàn là những người con ưu tú của gia đình dòng họ.

      Tổng số có 850 thiền sinh được khéo léo chia vào 43 gia đình để cùng pháp đàm và thực tập làm việc trong chánh niệm trong những giờ thiền làm việc. Có hơn 600 người trên danh sách chờ đợi (waiting list) nhưng phải đau lòng  mà từ chối vì cố gắng nhận 850 thiền sinh là con số quá tải của mình rồi.


      Có rất nhiều chuyện quá vui trong khóa tu này mà Sư Ông dặn thị giả nhớ ghi lại kẻo quên. Nhóm pháp đàm của sư chú Pháp Triển nghe các em thiếu nhi và thanh niên nói: “Trời ơi, trong khóa này mình có một siêu sao (superstar). Sư cô gì mà quay như cái bông vụ, bay bay đẹp hết xẩy.” (Khi đó là lúc sư cô Chân Không đang dạy 5 thế Hy Mã Lạp Sơn, thế quay vòng tròn mà không chóng mặt). Trong ngày thực tập chánh niệm cũng có thanh thiếu niên nói: Thật là quá “ngầu”! Có một sư cô đó lớn cỡ bà ngoại mình, đi thanh thản vào bảo chúng mình nằm dài xuống buông thư. Mới năm phút sau, thiên hạ đã ngủ khò hết còn sư cô thì cầm máy phát âm lên hát để ru mình ngủ bằng cả tiếng Anh, tiếng Pháp và  tiếng Việt. Hay dễ sợ luôn! Khi mọi người thức dậy, sư cô lại dạy về phương pháp làm chủ cơn giận rồi tiếp xúc với tổ tiên huyết thống, tổ tiên đất đai và tổ tiên tâm linh nữa. Chúng tôi “thích sư cô ngầu” nầy nhất!”

      Có một vị chia sẻ trong pháp đàm rằng: Năm nay ông đã 60 tuổi, sắp xin hưu trí vì thấy mệt mỏi với ngành dạy học sau 40 năm phục vụ. Nhờ sắp hưu trí nên mới đi khóa tu để giải khuây. Bỗng sáng nay nghe Sư Ông kể chuyện mục sư  Martin Luther King, Sư Ông nói: “Cái hồi đó đó, hồi mà tôi còn trẻ lắm, cách đây hơn 20 năm. Lúc đó, tôi mới có sáu mươi bảy tuổi thôi, tôi đã làm… gì đó. Ông nghe Sư Ông nói hồi Sư Ông còn trẻ lắm, mới sáu mươi bảy tuổi thôi mà làm biết bao nhiêu là việc phụng sự cho đời. Còn mình, bây giờ mới 60 tuổi mà đã than già, tính chuyện về hưu, nhất định kỳ này về sẽ để hết năng lượng vào vấn đề đưa cách dạy ứng dụng đạo đức toàn cầu cho học sinh trong lớp học. Ông nói: “ông đã làm việc lâu năm nên rất có uy tín trong trường, thế nào tiếng nói của ông cũng được lắng nghe”.

      Trong nhóm pháp đàm của thầy Pháp Hữu có một cô gái 26 tuổi, mặt eo xèo, buồn bực và rất hay quạu. Ngày thứ nhất: Khi mọi người giới thiệu thì cô nói: “Tui không thích đi khóa tu này, tui bị mẹ tui ép đi, tui không thích cái gì ở đây hết.” Ngày thứ hai: cô ngồi yên, ít quạu hơn nhưng cũng ít chia sẻ. Buổi pháp đàm chót cô đã chia sẻ là cô làm việc cho một trại cai nghiện rất khó xử lý. Khi cô đi khóa tu nầy thì cô khóa điện thoại lại, không mở ra. Trước hai ngày kết thúc khóa tu cô mới mở điện thoại thì thấy toàn là tin xấu và rất bức xúc. Cô bực mình, giận phát run. Tự nhiên cô bắt gặp mình tự trở về hơi thở và nói: “Chào em, cơn giận của tôi, tôi thở đây!”. Trời! Cô buông rơi chiếc máy điện thoại, cô không tưởng tượng mình có thể phát ra câu này, cái câu mà trong khóa tu cô rất ghét, không thích nghe, cô không thích làm mấy điều Sư Ông nói. Và lạ quá, cô thấy mình có sự bình tĩnh sau khi nói và thở như vậy. Vì thế, vào ngày cuối của khóa tu cô đã nhận năm giới. Mặt cô tươi ra, không còn quạu quọ như ngày mới tới. Cô còn hẹn gặp lại các bạn trẻ Wake Up vùng New York City…

      Trong nhóm pháp đàm Hoa Thủy Tiên của sư cô Chân Không, có bà cụ than lãng tai nặng quá không nghe gì hết. Đến giờ pháp thoại của Sư Ông bà đổi chỗ ngồi ba lần mà vẫn không nghe. Nhưng hôm sau trở lại bà vui hẳn ra. Hỏi bà đã nghe được chưa? “Chưa! Nhưng đâu có gì quan trọng, không khí tu tập ở đây khiến tôi vui quá chừng. Tôi thật là may mắn tham dự được khóa tu mà đáng lẽ đã hết chỗ từ lâu, tôi cứ đi liều đến dù điện thoại không ai trả lời. Thế rồi, tôi cũng có một chỗ ngủ trong phòng nhiều người. Niềm vui lớn! Tôi được học giáo lý của Bụt, chủ nhật thì đi nhà thờ Episcopal.

      Trong khóa tu này ai cũng có chỗ đứng theo truyền thống tâm linh của mình, thật đẹp và lành hay thật là bao dung. Tôi vừa là con chiên vừa là Phật tử. Còn John thì khóc cả buổi, vợ nhất định ly dị nên anh cũng đành phải chịu nhưng rất thương hai đứa con. Sau khi nghe sư cô dạy về phương pháp làm mới, về khiêm cung, tìm hiểu cái tưởng sai lầm về mình và cái tưởng sai lầm về người kia, vì vậy mà mình làm cho nhau khổ đau, mắt anh sáng lên, như nắm được chiếc chìa khóa của vấn đề.

      Khóa tu chấm dứt bằng buổi truyền 5 phép Tu Tập Chánh Niệm cho hơn 500 người.

      Ngày chủ nhật 1/9/2013 là ngày chánh niệm gây quỹ cho Tu Viện Bích Nham. Mỗi người tham dự xin được đóng góp 35 dollars. Có hơn 2000 người ghi tên. Thế là Bích Nham sắp có 70 000 dollars để làm tường cách nhiệt trong phòng ngủ của các sư cô.

      Một buổi sáng thật mầu nhiệm. Từ khi Sư Ông giảng sơ lược chương trình trọn ngày rồi dạy từng pháp môn cụ thể như thiền hành, thiền thở, cách nghe chuông hay ăn trong chánh niệm… Sau đó tăng thân xuất sĩ tụng kinh Nammo Valokiteshvaraya. Tập thể dục rồi mới thuyết pháp. Hôm nay Sư Ông nói về Bốn câu thần chú và thiếu phụ Nam Xương.

      Đến thời khóa thực tập thiền hành phải chia thành hai nhóm vì có hơn 2170 người. Buổi chiều sư cô Chân Không hướng dẫn thiền buông thư làm cho nhiều người hạnh phúc. Một vị nói trong pháp đàm: “Lạ quá, sư cô vừa đi vào là bắt thiên hạ nằm dài xuống hết và sau đó hướng dẫn buông thư”. Ồ! mới năm phút thôi là thiên hạ đã rơi vào giấc ngủ. Mà vui quá mình còn nghe có cả tiếng ngáy nữa. Kế đó sư cô còn hát ru mọi người ngủ, giọng hát của sư cô nghe sao trẻ quá như cô gái 17 tuổi vậy. Lạ ghê!  Sau giờ buông  thư sư cô  mời mọi người ngồi dậy, rồi chia sẻ về cách làm chủ cơn giận. Trước tiên, sư cô nói chuyện chú bé 11 tuổi nổi giận vì là nạn nhân của tập khí do ba chú bé truyền lại. Rồi sau đó sư cô từ từ đưa mọi người vào cách lạy có chánh niệm để tiếp xúc với tổ tiên.

      Bốn giờ chiều là vấn đáp với quý Thầy cô giáo thọ.Thầy Pháp Dung trả lời rất khéo về việc thèm ăn (craving) sô cô la của các sư em của thầy, cách trả lời chứng tỏ thầy có thực tu. Buổi vấn đáp ấy mọi người rất thích và mê cách quý thầy sư cô trả lời nữa. Chấm dứt một ngày chánh niệm hoàn mãn. Ai cũng hạnh phúc và gặt hái thật nhiều lợi lạc “Đi có một ngày mà mình được học nhiều thứ quá!”

      Sau đó thầy Pháp Nguyện, sư cô Chân Không và sư cô An Nghiêm trả lời phỏng vấn cho tờ Wall Street. Cô này thích quá nói cô sẽ viết một loạt ba bài. Sư Cô Tùng Nghiêm cũng trả lời cô phóng viên của một tờ báo khác. Sư Ông cũng đồng ý tiếp các phóng viên của tờ Times Magazine cùng với sư cô Hiến Nghiêm và sư cô Chân Không.

      Kết thúc khóa tu, hết ngày chánh niệm trời đổ mưa rất lớn. Sư Ông cầu nguyện cho tu viện Lộc Uyển (Deer Park) có mưa  để cho cỏ cây thêm tươi mát. Vì nghe nói lâu rồi không mưa!

      Thị giả

      Nghệ thuật xử lý khổ đau

      Hôm nay, ngày 25 tháng 8 năm 2013, từ lúc 2 giờ chiều thiền sinh từ các nơi bắt đầu về tới tu viện Bích Nham để tham dự khoá tu “The Art of Sufffering” (Nghệ thuật xử lý khổ đau) được tổ chức từ ngày 25 cho đến hết ngày 30 tháng 8 năm 2013. Số thiền sinh tham dự là 770 người, trong đó có 685 người lớn, 65 trẻ em và 20 thanh thiếu niên. Khoảng một nửa số thiền sinh ngủ lại đêm tại tu viện Bích Nham và một nửa còn lại mỗi ngày phải về ngủ ở Trung Tâm Nghỉ Mát Honor’s Haven (Honor’s Haven Resort) cách tu viện Bích Nham chừng 20 phút đi xe buýt. Tu viện phải thuê phòng cho những vị này vì Bích Nham không đủ chỗ ở.

      Niệm Bồ Tát QTA 2013

      Niệm danh hiệu Bồ Tát Avalokiteshvara

      Buổi sáng thiền sinh thức dậy lúc 5 giờ, ở Tu viện cũng như ở Trung Tâm Nghỉ Mát. 5 giờ 30 thì thiền sinh ở Trung Tâm lên xe buýt về Tu viện để kịp 6 giờ sáng đi thiền hành với Thầy và đại chúng. Sau đó thì đi vào thiền đường Đại Đồng để ngồi thiền buổi sáng. Sau giờ ăn chiều thiền sinh lên xe buýt trở về TrungTâm Nghỉ Mát để tham dự pháp đàm. Tại Trung Tâm Nghỉ Mát cũng có 32 vị xuất sĩ, gồm có 15 thầy và 17 sư cô có mặt để hướng dẫn pháp đàm và giám sát cho sự thực tập im lặng hùng tráng sau giờ pháp đàm cho đến sau buổi ăn sáng ngày hôm sau tại Tu viện.

      Tu viện Bích Nham toạ lạc tại một vùng rừng đồi thuộc thị trấn Pine Bush, tiểu bang New York. Cảnh trí rất xanh tươi và ngoạn mục. Địa chỉ của Tu viện là số 3, đường Mindfulness, Pine Bush, New York, 12566, U.S.A.

      Số lượng các vị xuất sĩ có mặt tại Bích Nham trong khoá tu này là 103 vị, trong đó có những vị tới từ các tu viện Lộc Uyển, Mộc Lan và Mai Thôn. Ngoài ra còn có 35 tình nguyện viên trong số thiền sinh Hoa Kỳ phụ tá cho các thầy, các sư cô chăm sóc và điều hành khoá tu.

      Hạnh phúc ta trao nhau

      Hạnh phúc ta trao nhau

      Chủ đề của khoá tu như ta đã biết là Nghệ Thuật Xử Lý Khổ Đau. Ai cũng có khổ đau trong lòng, và vì vậy ai cũng cần học cách xử lý khổ đau trong bản thân để đừng bị khổ đau của mình sai xử, tạo khổ đau cho kẻ khác. Biết cách xử lý khổ đau của tự thân, mình sẽ khổ đau rất ít và có thể sử dụng khổ đau một cách khéo léo để chế tác hiểu biết và từ bi, làm hạnh phúc cho mình và cho kẻ khác. Xử lý được khổ đau tự thân, ta sẽ không làm khổ người khác và có thể giúp cho họ xử lý được khổ đau của họ. Phép thực tập này ai cũng cần học hỏi, dù người ấy thuộc về bất kỳ một tôn giáo hoặc lập trường chính trị nào. Môn học này, Làng Mai gọi là Global Ethics (Đạo Đức Toàn Cầu); Không có mầu sắc tôn giáo và ý thức hệ.

      thiền sinh BN 2013

      Thiền ca trước giờ pháp thoại

      Có tới 700 người trong danh sách chờ đợi, họ muốn ghi tên vào khoá tu này nhưng Tu viện đã hết chỗ. Thiết bị của Tu viện không đủ để thu nhận trên con số 770 người, đó là một điều đáng tiếc. Điều đáng tiếc này cũng vừa xảy ra cho khoá tu mà tăng thân hướng dẫn tại trường Đại Học Brock ở St. Catherine, gần Toronto, Canada. Tuy là một trường Đại Học, nhưng họ chỉ nhận 1350 thiền sinh, và cũng có khoảng 700 thiền sinh vì ghi tên trễ nên đã không có dịp tham dự. Khoá tu ở Canada này dành cho giới giáo chức, vì vậy ¾ các thiền sinh là giáo chức, đại đa số là người Canada và người Mỹ (xem bài liên quan Điểm đến của nền giáo dục hiện đại)..

      Tối nay lúc 7 giờ tại thiền đường Đại Đồng, lễ khai mạc khoá tu sẽ được cử hành với sự thực tập trì niệm Hồng Danh Avalokitesvara (Bồ Tát Quán Thế Âm) do các vị xuất sĩ phụ trách. Sau đó các vị giáo thọ Chân Linh Nghiêm người Thái Lan và Chân Pháp Lưu người Hoa Kỳ sẽ nói pháp thoại hướng dẫn tổng quát để toàn thể thiền sinh biết cách tham dự khoá như thế nào để có nhiều hạnh phúc và chuyển hoá nhất.

      Sư cô Linh Nghiêm và Thầy Pháp Lưu cho hướng dẫn tổng quát

      Khóa tu dành cho giáo chức tại đại học Brock (11-16/08/2013), Toronto, Canada

      Trường đại học Brock, nơi diễn ra khóa tu dành cho giáo chức thành lập năm 1964. Sinh viên của trường đến từ hơn 80 quốc gia trên thế giới. Trường là một trong những trường dẫn đầu về chất lượng đào tạo các chương trình đại học và các chương trình học thuật ở Canada. Ban tổ chức của khóa tu cho biết, chương trình ghi danh cho khóa tu vừa để lên mạng trong vòng 1 giờ đồng hồ đầu là đã có hơn 400 người ghi danh. Trong vòng 4 tuần đầu số người đăng ký đã lên đến 800 người. Tổng cộng tính luôn chúng xuất sĩ số người tham dự khóa tu là 1425 người, trong đó có 100 tình nguyện viên (volunteers), 780 giáo chức, còn lại là những người làm việc trong trường như nhân viên xã hội (social workers), tư vấn (consultants), quản trị (administrators)… Có hơn 800 người trên danh sách chờ đợi để đăng ký nếu còn cơ hội.

      1425 người là con số tối đa mà trường Đại Học Brock có thể chấp thuận vì sức chứa của cả phòng ngủ và phòng ăn đều có hạn. Đại học Brock có hai nhà ăn: Decew và Lowenberger, mỗi nhà ăn chỉ chứa được 360 người. Mỗi nhà ăn nhận phục vụ phân nửa thiền sinh là 720 người nên phải chia ra thành hai đợt, mỗi đợt 360 người. Trong khi nhóm A gồm 360 người ăn trước thì nhóm B 360 người còn lại tập thể dục, tập khí công, yoga hay về nhà nghỉ. Các bạn tình nguyện viên đã làm việc từ sớm để biến nhà tập thể dục (Gymnasium) thành một giảng đường trang nghiêm vì giảng đường chính thức quá nhỏ không đủ chỗ cho tất cả mọi người.

      Nhà tập thể dục (Gymnasium) biến thành thiền đường dành cho thiền sinh ngồi thiền và nghe pháp thoại      

       

      Pháp thoại: Có trà trong thư pháp của Thầy

      Trong khóa tu này, Sư Ông giảng ba bài pháp thoại và ngày thứ tư thiền sinh được đặt câu hỏi trực tiếp với Sư Ông. Vì có 900 thiền sinh là người mới nên ngày đầu tiên Sư Ông dạy những pháp môn căn bản như: nghe chuông trong chánh niệm, đi thiền hành, ăn trong chánh niệm… truớc khi vào đề tài chính: “Thầy cô giáo hạnh phúc sẽ làm thay đổi thế giới”. Nghe chuông như thế nào mà tất cả các tế bào trong cơ thể mình cùng nghe. Mình có thể mời ông bà, tổ tiên mình cùng nghe chuông với mình. Khi nghe chuông mình dừng tất cả các hành động, suy nghĩ và nói năng và đặt sự chú tâm vào hơi thở. Thở vào: Con đang lắng nghe bằng tất cả các tế bào trong cơ thể của con và để cho năng lượng bình an thấm vào từng tế bào của cơ thể… Thở ra: Tiếng chuông đưa con trở về ngôi nhà đích thực bây giờ và ở đây. Khi cả ngàn người cùng thở như vậy thì năng lượng chánh niệm và bình an sẽ rất hùng hậu… Điều tuyệt vời nhất mà khóa tu có thể đem lại đó là năng lượng chánh niệm tập thể, năng lượng này có khả năng trị liệu rất lớn. Sư Ông nâng ly trà lên và bắt đầu giảng về tương tức, về không sinh không diệt và có trà trong thư pháp mà thầy viết. Sư Ông giảng về Bát Chánh Đạo và Bốn loại thực phẩm. Không có cái gì tồn tại nếu không có thức ăn. Tình thương, hạnh phúc và bình an cũng vậy.

        Khóa tu có 60 em thiếu nhi nên Sư Ông luôn dành 15-20 phút đầu của buổi giảng để chia sẻ thực tập cho các em. Ngày thứ ba (13/08), Sư Ông kể cho các em thiếu nhi về một giấc mơ mà trong đó Sư Ông thấy mình được tuyển đi một cuộc thi đặc biệt. Khi lọt vào bên kia cách cửa tuyển chọn, Sư Ông nhìn lui thấy có anh chàng mặt y chang như Sư Ông mà Sư Ông mời vào thì ban giám khảo lắc đầu: “Thầy thì được, nhưng ông kia thì rất tiếc, không được!”. Sư Ông thấy mình đi dọc theo những hành lang được trình bày rất nghệ thuật, rất khác thường và có cảm tưởng cuộc thi này đặc biệt lắm. Khi lên tới chỗ thi thì nguy nhất là họ cho biết cuộc thi này là thi âm nhạc! Mà Sư Ông có phải là nhạc sĩ đâu? Sư Ông sờ trong túi trên áo choàng ngoài, bỗng Sư Ông mừng quá vì sờ đúng một quả chuông con! Sử dụng chuông thì Sư Ông rất rành từ hồi 16 tuổi kia. Nhìn quanh, Sư Ông thấy thiền sinh rất đông đảo mà ngút ngàn như trong một đấu trường (arèna), bao quanh là một khung trời lồng lộng. Tên Sư Ông được kêu lên đầu tiên. Sư Ông rất tự tại, đi từng bước nhẹ nhàng ra trình diễn trước thính chúng… Giám khảo hình như là đức Bụt Như Lai… Sư Ông sắp trình bày chi đó thì giật mình tỉnh dậy. Hồi đó thì Sư Ông chưa hiểu. Nhưng bây giờ thì Sư Ông hiểu rồi. Cái người  giống hệt Sư Ông mà không được vào phòng cũng chính là Sư Ông nhưng hồi đó chưa được chuyển hóa. Sư Ông nói: “Các con cũng thế, mình khi chưa tu học cũng là người đó. Nhưng khi đã chuyển hóa rồi thì cũng là người đó nhưng nhẹ nhàng hơn, bình an hơn, sâu sắc hơn. Các con ráng thực tập dừng lại, trở về hơi thở, không nghĩ suy lung tung, sống cho sâu sắc từng phút giây hiện tại. Có định tâm từng phút giây hiện tại thì cái thấy nào cũng có định và khi có định tâm thì cái thấy sâu sắc hơn, nhiều tuệ giác hơn.”

        Tiếng chuông huyền diệu đưa về quê hương

        Sau đó, Sư Ông dạy các em thỉnh chuông. Trước khi thỉnh chuông, mình sẽ thức chuông để báo cho mọi người biết là sắp có một tiếng chuông vang lên. Như vậy người nghe có đủ thời gian để trở về với hơi thở, dừng lại mọi suy nghĩ và hành động để nghe chuông. Tiếng chuông là tiếng gọi của Bụt, có khả năng đánh thức mọi người và mọi loài. Trước khi thỉnh chuông, mình đọc bài thi kệ Thỉnh chuông:

        Nguyện tiếng chuông này vang pháp giới
        Xa xôi tăm tối mọi loài nghe
        Những ai lạc bước mau dừng lại
        Tỉnh giấc hôn mê thấy nẻo về.

        Sư Ông dạy các em mỗi khi thỉnh một tiếng chuông thì thở vào thở ra ba hơi thở, nhưng vì các em nhỏ nên hơi thở sẽ ngắn hơn người lớn. Sau khi thở xong ba hơi, các em có thể thêm 10 giây nữa cho người lớn có đủ thời gian thở ba hơi thật sâu và đầy đủ. Thỉnh chuông và nghe chuông trong chánh niệm có thể đem tới rất nhiều niềm vui, bình an và thư giãn.

        Sau khi các em nhỏ ra ngoài chơi, Sư Ông dạy cho thiền sinh làm sao thực tập chánh niệm trong các buổi họp, thiết lập không gian thực tập tại nhà, cách tưới tẫm hạt giống tốt và ăn trong chánh niệm. Người cũng dạy về Tứ Niệm Xứ (Thân, Thọ, Tâm, Pháp). Ngày thứ hai sư ông nói về Henri Kỷ Cương, giáo sư của trường French School ở Toronto, tu tập chánh niệm rất hay và dạy học sinh nghe chuông rất hay. Giáo Sư Nguyễn Văn Kỷ Cương có pháp danh Tâm Thành, thọ 14 giới Tiếp Hiện với Sư Ông Làng Mai năm 1991 với pháp hiệu Chân Tịnh Nhãn. Ông trở thành Giáo Thọ của Làng Mai từ năm 1994. Ông đã viết cuốn sách mỏng, được nhiều người tìm đọc, là cuốn “Thiền trong lớp học,” nói về kinh nghiệm mang Thiền vào trường học, dạy cho các học sinh thực tập ngay trong lớp học.

          Trong buổi Vấn Đáp ngày thứ tư, điều làm đại chúng bất ngờ và vô cùng xúc động là có một em trai khoảng 5-6 tuổi lên hỏi Sư Ông bằng tiếng Pháp: “Sư Ông có thể hát một bài không?” Chúng xuất sĩ ai cũng hồi hộp không biết Sư Ông sẽ trả lời em thế nào. Lúc đó sư cô Định Nghiêm lên để thông dịch cho Sư Ông nên mọi người nghĩ là Sư Ông sẽ trả lời: “Có Sư Ông trong sư cô Định Nghiêm nên sư cô Định Nghiêm sẽ hát cho con nghe.” Nhưng thật bất ngờ, Sư Ông đã hát một bài hát con nít bằng tiếng Pháp mà Sư Ông học từ ngày xưa. Sư Ông vừa hát vừa nhịp tay và nhịp chân rất tự nhiên. Hình ảnh đó dễ thương quá nên Sư Ông hát xong cả thiền đường nở đầy hoa.

          Có những câu hỏi về vấn đề tự tử. Sư Ông đề nghị mình nên có tăng thân để cùng tu học nâng đỡ nhau. Trong tăng thân có chừng vài ba người mà mình tin tưởng được thì những lúc lâm nguy phải cầu cứu họ. Những phút giây bực tức rất vô thường, nó sẽ chuyển hóa sau vài chục phút nói chuyện với bạn bè mình tin cậy. Trong buổi vấn đáp có hai câu hỏi liên quan tới các vấn đề biến đổi về khí hậu.

          Áp dụng Chánh niệm như thế nào trong đời sống, công việc và nghề nghiệp?

          Khóa tu có đến 55 nhóm pháp đàm, mỗi nhóm từ 25 đến 30 người, trong đó có những nhóm dành riêng cho giáo sư đại học, giáo sư trung học… Nhóm nào cũng chia sẻ là họ rất hạnh phúc. Hạnh phúc không chỉ vì những lời dạy của Sư Ông mà còn vì những gì quý thầy, quý sư cô chia sẻ và dạy dỗ. Mỗi khi nhìn quý thầy, quý sư cô chia sẻ, chơi với nhau, chia nhau một chút thức ăn… họ thấy có một thứ tình cảm rất dễ thương, không giống ở ngoài. Có một em trai người Hoa Kỳ bị bệnh trầm cảm đến không muốn sống, em không thấy ý nghĩa của sự sống. Em đã thử hút xì ke nhưng chỉ lâng lâng được vài phút. Ba mẹ em quá chừng lo lắng nhưng cũng chẳng giúp gì được cho em. Tới khi em gặp được tăng thân ở Bích Nham, có cái gì khó diễn tả thâm trầm mà sâu sắc đã giữ được nụ cười và niềm tin nơi em. Và em nhất định đi theo tăng thân suốt đời. Có rất nhiều người trẻ, xinh đẹp cũng học giỏi, ba mẹ là người thành công nơi đất mới, là người rất tử tế trong cộng đồng người Việt nhưng không hiểu sao cháu nào cũng bị bệnh trầm cảm…

          Sau này tìm hiểu ra chúng tôi mới biết chìa khóa chỉ là “Ái ngữ và Lắng nghe”. Ba mẹ làm rất hay, thành công tốt trong xã hội nhưng có sai sót là mặc nhiên nghĩ con mình phải hiểu rằng ba mẹ đi vượt biên đã bị hải tặc cướp hết, giờ đây con không bị những thứ đó thì con chỉ lo học thôi. Nhưng các con lại nghĩ học có nhiều bằng cấp để làm gì? Sao mà “boring” ngán đến thế. Các cháu uống rượu nhiều cũng chưa hết ngán. Đi chơi chỗ này chỗ kia… cũng vậy thôi, ngán quá chừng và cứ thế mà bị trầm cảm, đưa đi bác sĩ tâm lý trị liệu cũng chẳng đi đến đâu. Có lẽ ba mẹ không đủ ái ngữ khi thuật cho các cháu nghe nổi cực khổ của ba mẹ. Nhưng khi gặp Sư Ông, các cháu thấy được một hướng đi mới, một niềm tin mới… Mà sao lạ quá, Sư Ông cũng nói như ba mẹ, mà lại… khác!

          Gia đình pháp đàm do thầy Pháp Đăng làm chủ tọa dành cho các bác sĩ trị liệu tâm thần nhưng cũng có sự tham gia của các vị làm cai tù, làm xã hội, cố vấn cho người trẻ nghiện ngập. Thầy đưa ra câu hỏi: “Bạn áp dụng Chánh niệm như thế nào trong đời sống, công việc, nghề nghiệp của quí vị?”. Thiền sinh có cơ hội chia sẻ kinh nghiệp làm việc và đời sống của họ. Đa số bác sĩ là những người giỏi, làm việc ở các bệnh viện, trường đại học lớn. Họ là những người có lòng muốn giúp đời nhưng họ đều công nhận chỉ nếp sống chánh niệm mới giúp họ có đủ sức tự chăm sóc mình và giúp cuộc đời. Họ nói công việc chăm sóc người bệnh tâm thần rất cần tâm bình an, tỉnh táo, cởi mở, yêu thương. Các tâm này chính là chánh niệm. Chánh niệm trước hết là sống tỉnh thức để tự chăm sóc chính mình bằng cách tiếp xúc với sự sống mầu nhiệm, tươi mát, yêu thương.

          Các bác sĩ rất muốn nghe thầy Pháp Đăng kể kinh nghiệm làm sao thầy vượt qua bệnh tật, sống vui và cười hoài. Nhưng thầy mời họ chia sẻ tiếp về đời sống của họ, bởi vì thầy thấy họ có nhu cầu cần được chia sẻ nhiều hơn. Sau đó thầy mới chia sẻ:“Chánh niệm là nguồn năng lượng trị liệu vô biên. Chánh niệm là có mặt thật sự, có nhiều trình độ chánh niệm, chánh niệm cao nhất là có mặt mạnh mẽ với sự sống, bạn không còn suy nghĩ gì nữa, bạn thâm nhập vào sự sống, bạn là nắng, là không khí, là trời xanh…Chánh niệm là tâm cởi mở nên bạn luôn tiếp xúc với sự sống vì thế bạn tiếp nhận nhiều nguồn năng trong lành để trị liệu. Cái trọng yếu là bạn trở thành một với nắng, bạn luôn an trú trong hiện tại. Sự thật là hiện tại chưa bao giờ rời xa bạn, chỉ có bạn bị kẹt vào gì đó trong tâm hay trong đời sống vì thế bạn không kết nối được với sự sống.”

          Chánh niệm cho trẻ em

          Các em thiếu nhi được Sư cô Đàn Nghiêm, sư cô Phú Nghiêm, thầy Pháp Triển và sư chú Bồ Đề chăm sóc. Năng lượng của các em rất nhiều, các em vui chơi rất hết lòng. Nhìn các em chơi và thực tập luôn luôn tạo nhiều niềm vui và tiếng cười cho rất nhiều người. Các em được các thầy các sư cô dạy hát thiền ca, chơi trò chơi, thực tập ngồi thiền, thiền hành, thiền lạy, ăn trong chánh niệm… như người lớn nhưng được các thầy các sư cô hướng dẫn theo cách thức để các em dễ dàng tiếp nhận. Các em nhỏ  thực tập rất dễ thương. Khi người lớn đi nghe chia sẻ về Năm phương pháp thực tập chánh niệm thì các em được nghe chia sẻ về sự thực tập Hai Lời Hứa.

          • Con xin mở rộng lòng thương và tìm cách bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài, cỏ cây, cầm thú và đất đá.
          • Con xin mở rộng tầm hiểu biết để có thể thương yêu và chung sống với mọi người và mọi loài, cỏ cây, cầm thú và đất đá.

          Cuối khóa tu có 20 em đã nhận Hai lời hứa để tiếp tục nuôi lớn tình thương và hiểu biết.

          Chương trình cho thanh thiếu niên (Teenage Program)

          Vì thời khóa đi thiền hành khá sớm (6 giờ sáng) nên nhiều em nhỏ không thức dậy nổi. Các em được ngồi thiền riêng 30 phút trễ hơn đại chúng trong một căn phòng nhìn ra cả một khu vườn xanh. Mỗi sáng các em đều ngồi thiền 30 phút rồi được hướng dẫn đi thiền hành tự do vào nhà ăn và được ngồi ăn chung bàn với các bạn teen của mình trong im lặng. Sau khi thời khóa buổi sáng chấm dứt, các em cũng được đi thiền hành vào nhà ăn, cùng khất thực trong im lặng nhưng được ngồi ăn trưa ngoài trời để sau 15 phút im lặng các em có cơ hội trò chuyện với quý thầy, quý sư cô và các bạn của mình. Chương trình teens đáng lẽ chỉ dành cho các em từ 13 tới 17 tuổi nhưng lại có đến 5-6 em 11-12 tuổi xin gia nhập vì thích chương trình. Các em tham dự rất hăng hái, hết lòng và tích cực.

          Đặc biệt, trong buổi chia sẻ về Năm phương pháp thực tập chánh niệm, thầy Pháp Uyển và sư chú Trời Hiện Tại đã chia sẻ về kinh nghiệm trước khi đi tu đã từng dùng thuốc phiện, uống rượu và có những liên hệ tình dục… và họ đã chuyển hóa được những tập khi đó nhờ thực tập chánh niệm nên các em rất rúng động. Các em đã mở lòng chia sẻ trong các buổi pháp đàm về những khó khăn mà mình đang đi qua và cuối cùng cả 20 em đều phát nguyện nhận Năm Giới (tuy trong thời khóa mới thuyết trình được ba giới thôi). Có lẽ vì các em thật sự thấy được sự tương tức và lợi ích của Năm giới. Trong lễ truyền giới có một em chưa viết đơn xin nhận giới nhưng rồi lại quyết định bước ra để nhận giới cùng các bạn. Trong thời gian của khóa tu các em cũng có cơ hội tham vấn với các thầy các sư cô. Các em tỏ ra rất quyến luyến và đến ngày đi vẫn chưa muốn rời. “Chị rất được nuôi dưỡng bởi khóa tu và chơi với các em Teens!” – Sư cô Bạch Nghiêm chia sẻ.

          Thầy Pháp Uyển, sư cô Bạch Nghiêm, sư chú Trời Hiện Tại và Trời Giải Thoát cùng các em thanh thiếu niên

          Một buổi làm mới bất ngờ

          Trước khi thầy Pháp Đăng và sư cô Định Nghiêm hướng dẫn về pháp môn làm mới có một cô thiền sinh bị tàn tật la lớn tiếng là cô đang đau khổ vì không ai quan tâm đến người tàn tật. Cô giận nên cô nói rất nặng lời, cả đại chúng đều thở để lắng nghe. Không khí thật nặng nề, mọi người đều bị ảnh hưởng bởi năng lượng buồn đau của cô. Có lẽ cô mặc cảm là không ai quan tâm đến cô, cô đòi mọi người chú ý tới cô và phải công nhận sự có mặt của cô. Giọng nói của cô đầy trách móc và cả đại chúng đều thực tập để ôm ấp năng lượng giận hờn đó.

          Sau đó, sư cô Định Nghiêm chia sẻ phần đầu phương pháp làm mới. Thầy Pháp Đăng đã cám ơn những gì cô thiền sinh chia sẻ và bắt đầu nói về cách chăm sóc cho dòng sông cảm thọ, tâm tư, làm sao để giúp dòng sông trôi chảy…Thiền sinh mở lòng ra, không khí trở nên thông cảm, nhẹ nhàng hơn. Thầy tiếp tục chia sẻ và đại chúng mở lòng thêm. Thầy đã dùng ngôn ngữ hết sức thương yêu. Cô thiền sinh ban nãy giờ ngồi rất yên, không còn phản ứng nữa, mặt cô thư giãn ra.

          Cuối cùng thầy mời thiền sinh lên thực tập làm mới. Có hai mẹ con nọ lên làm mới trước, sau đó thầy mời cô thiền sinh ấy lên thực tập. Lần này ngôn ngữ của cô nhẹ nhàng hơn. Cả hội chúng đều cảm thấy nhẹ lòng. Tuy là hiểu lầm nhưng cô đau khổ thì mình phải tìm cách giúp và lắng nghe cô. Thiền sinh rất hạnh phúc vì thấy thầy và sư cô đã thực tập những gì mà Sư Ông dạy. Thầy khích lệ thiền sinh tiếp tục thự tập làm mới với người thương bằng điện thoại. Sau buổi làm mới các thiền đến cám ơn thầy và sư cô đã giải quyết khổ đau cho cô thiền sinh tàn tật thật tuyệt vời. Họ nói: “You are the role model for us.” (Thầy và sư cô đã làm gương cho chúng con.)

          Ngoài pháp đàm, trong khóa tu còn có các nhóm sinh hoạt về các chủ đề khác nhau: Đem chánh niệm vào các lĩnh vực giáo dục,Trị liệu và chuyển hoá căng thẳng (stress) trong công việc, Ái ngữ và Lắng nghe sâu do thầy Pháp Dung, Richard Brady, Jack Miller, Meena Srinivasan, Michele Chaban, Theo Koffler, Jon Kristian Salunga, Katherine Weare, and John Bell  hướng dẫn- Họ là những thiền sinh đã có nhiều năm ứng dụng pháp môn Chánh niệm vào các lĩnh vực giảng dạy và thực tập. Các buổi thuyết trình đều rất hào hứng và sôi nổi, tạo cảm hứng thực tập cho rất nhiều người.

          Đa số thiền sinh là giáo sư đại học. Nghe khóa tu cho giáo chức họ nghĩ là sẽ có những hội nghị bàn tròn, các giáo sư lão thành phát biểu ý kiến, v.v… Nhưng buổi đầu khóa tu lại nghe tụng kinh, mấy trăm thầy tu niệm Bồ tát Quan Thế Âm… Họ sốc lắm nhưng đến cuối khóa tu thì có khoảng 500 người thọ Năm Giới. Một cô thiền sinh tham dự khóa tu đã chia sẻ: “Rõ ràng là nếu bây giờ bạn muốn có một đời sống bình an và bảo vệ sự sống, bạn phải có một cái nhìn sáng tỏ về cách thức tiêu thụ. Năm giới là sự đóng góp cho nền đạo đức toàn cầu.” Chia sẻ của cô liên quan đến kinh nghiệm thực tập về giới thứ 2: Hạnh phúc chân thật và giới thứ 5: Tiêu thụ có chánh niệm.

          Khóa tu chấm dứt thật tuyệt vời, không ai muốn ra về. Ai cũng đòi chụp hình với quý thầy quý sư cô. Ba tăng thân ở Toronto đồng tổ chức khóa tu này, mỗi tăng thân được tặng một bức thư pháp của Sư Ông. Các bạn tình nguyện viên thì ra về hạnh phúc với tấm áo pull có dòng chữ: “Happy teacher will change the world”. Sư cô Định Nghiêm chia sẻ: “Các thầy cô giáo tội lắm, họ khát khao tu tập, làm cho chị ước gì từ đây về sau cứ dành khóa tu cho họ, để sau đó họ lại đi dạy bao nhiêu là con nít và người trẻ.

          Một vài hình ảnh của khóa tu:

          Có trà trong thư pháp của Thầy

          u

          m. 

          Ban tổ chức và các tình nguyện viên

          in clusive irises family

          Các em nhỏ chơi trò chơi ngoài trời

          Điểm đến của nền giáo dục hiện đại

          Sư Ông Làng Mai cùng gần 30 quý thầy quý sư cô rời phi trường Bordeaux ngày 08.08.2013 để tới Toronto, Canada bắt đầu cho chuyến hoằng pháp Bắc Mỹ kéo dài gần ba tháng với sự mong đợi của các thầy các sư cô ở các tu viện Lộc Uyển, Bích Nham và Mộc Lan cũng như rất nhiều các tăng thân cư sĩ người Việt, người Mỹ và người Canada. Trong Tăng đoàn đi Bắc Mỹ có các vị đệ tử lớn của Người như sư cô Chân Không, thầy Pháp Đăng, thầy Pháp Niệm, thầy Pháp Dung, sư cô Thoại  Nghiêm, sư cô Định Nghiêm, sư cô Tuệ Nghiêm, sư cô Bích Nghiêm, sư cô Thanh Ý… và cũng có các thầy, các sư chú, các sư cô trẻ khác cùng đi.

          Khoá tu dành cho giáo chức và sinh viên với chủ đề: Thầy cô giáo hạnh phúc sẽ làm thay đổi thế giới có 1326 thiền sinh trong đó có tới 780 nhà giáo dục và 931 thiền sinh mới dự lần đầu tiên. Ba tu viện của Làng ở Mỹ đã đề cử hơn một nửa quý thầy, quý sư cô thường trú (hơn 30 vị) đến Toronto để cùng Sư Ông hướng dẫn cho khóa tu này. Trong đó có Sư cô Trung Chính, sư cô Giới Nghiêm, sư cô Thệ Nghiêm, sư cô Kính Nghiêm, thầy Pháp Hải,… Các sư chú mới xuất gia trong gia đình cây Kim Ngân Hoa (tháng 11/2012) cũng được cùng các sư cha, sư mẹ đi hướng dẫn khóa tu. Sư cô Linh Nghiêm (Làng Mai Thái Lan) và sư cô Châu Nghiêm (Học viện EIAB – Đức) cũng có mặt để yểm trợ. Trong khóa tu này có tới 55 gia đình pháp đàm trong đó có những nhóm dành riêng cho giáo sư đại học, giáo sư trung học… sinh viên và có chương trình thanh thiếu niên và chương trình dành cho trẻ em (có khoảng 45 em). Thiền sinh tới từ Mỹ, Mexico, Canada,… ai cũng khao khát tu học, hết lòng thực tập và trông cậy vào sự thực tập Chánh Niệm như một hướng đi cho tương lai của ngành giáo dục hiện đại.

          Niệm danh hiệu Bồ Tát Avalokiteshvara

          Ngày 11/08, sau lời khai thị của Sư Ông, quý thầy quý sư cô đã niệm danh hiệu Bồ Tát Avalokiteshvara để mở đầu cho khóa tu rất trang nghiêm và cảm động. Sư Ông bắt đầu buổi hướng dẫn tổng quát với những lời hướng dẫn ngắn gọn về thiền hành trong khoảng 15 phút: Thiền hành là một phương pháp thực tập mầu nhiệm để có thể sống một cách sâu sắc trong giây phút hiện tại, trong đời sống hàng ngày. Mỗi bước chân đều có thể đưa chúng ta trở về với ngôi nhà đích thực của mình ngay bây giờ và ở đây. Trở về để cảm nhận những màu nhiệm của sự sống. Trở về để tiếp xúc với những yếu tố trong lành xung quanh để có thể được nuôi dưỡng và trị liệu. Điểm đến của chúng ta là trong mỗi bước chân. Mỗi chúng ta đều ý thức rằng, quá khứ đã đi qua và tương lai chưa tới. Chỉ có một giây phút duy nhất mà sự sống tồn tại. Về với giây phút hiện tại không phải là một tuyên ngôn mà là sự chứng nghiệm.

          Với phong cách giảng hóm hỉnh chứa đựng đầy tình thương, Sư Ông từ bi nhắc lại những các thực tập thở như thế nào khi đi. Kết hợp bước chân và hơi thở: Thở vào bước 2 – 3 bước: đã về, đã về; thở ra bước 3 – 4 bước: đã tới, đã tới, đã tới. Làm sao để có thể về trong từng bước chân của mình và bước đi như một con người tự do. Mỗi bước chân đều có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu. Mỗi bước chân có thể chế tác được vững chãi và tự do. Chỉ cần thực tập thiền hành, mỗi chúng ta đã có thể tự trị liệu. Sư Ông luôn luôn gây cảm hứng thực tập cho các Sư con của mình cũng như thiền sinh trên khắp thế giới bằng chính niềm vui, hạnh phúc, sự vững chãi trong mỗi bước đi.

          Sư Ông còn kể một câu chuyện về một cô phóng viên tới Làng với dự định là viết một bài về thực tập Chánh Niệm. Cô ở lại xóm Mới hai tuần, và mặc dù cô đã nghe tất cả những lời hướng dẫn về thiền hành nhưng buổi đầu tiên khi cô thực tập, tâm cô đã “từ chối” không chịu đi thiền hành cùng với đôi chân của cô. Nhưng chỉ sau đó 15 phút, cô đã có thể đưa tâm trở về và tận hưởng từng bước chân của mình. Khi trở về cô đã viết một bài báo về Làng Mai với tựa đề: Xứ sở của giây phút hiện tại. Sư Ông khen bài báo đó rất hay vì nó đã được viết bằng chính kinh nghiệm thực tập của cô phóng viên.

           

          Hướng dẫn tổng quát.jpg

          Sư cô Tùng Nghiêm và Thầy Pháp Hải cho hướng dẫn tổng quát

          Sau đó, Sư Ông mời thầy Pháp Hải tới từ tu viện Lộc Uyển (Mỹ) và sư cô Tùng Nghiêm tới từ Làng Mai Pháp Quốc lên chia sẻ về những thực tập cụ thể trong khóa tu. Trước khi đi nghỉ Sư Ông mời đại chúng sáng hôm sau đi thiền hành với Sư Ông vào lúc sáu giờ sáng trước buổi ngồi thiền.

          Vì thiền sinh khá đông nên sáng hôm sau, ban tổ chức chia thành hai nhóm để đi thiền hành. Một nhóm do Sư Ông hướng dẫn và một nhóm do Sư cô Trung Chính (tu viện Lộc Uyển) hướng dẫn đi từ hai tòa nhà của đại học Brock. Khi sư ông ngồi xuống nghỉ thì nhóm do sư cô Trung Chính hướng dẫn nhập vào và sau khi ngồi thiền một vài phút, Sư Ông dẫn đại chúng về thiền đường rồi bắt đầu giờ thiền tọa.

          Đi như một con người tự do

          Trước khi đi Bắc Mỹ, thầy Pháp Dung đã gửi một lá thư cho Bộ trưởng bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam Phạm Vũ Luận để chia sẻ về ước mơ: Đem chánh niệm vào các lãnh vực giáo dục Việt Nam. Trong lá thư thầy Pháp Dung có chia sẻ: “Có thể Việt Nam đang nhìn về phương Tây để tìm kiếm một mô hình giáo dục cho đất nước mình. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy rằng Việt Nam vốn là một đất nước giàu truyền thống văn hóa, trong đó giáo dục là một khía cạnh thiết yếu và quan trọng của nền văn hóa dân tộc. Lịch sử Việt Nam đã có biết bao vị thầy lỗi lạc đáng để chúng ta kính ngưỡng và học hỏi. Tình nghĩa thầy trò cũng là một di sản văn hóa quý giá và độc đáo của Việt Nam. Thật vậy, nghề giáo luôn được đánh giá cao và rất được quý trọng trong xã hội Việt Nam. Vào dịp lễ Tết, các bậc phụ huynh và học sinh đều đến thăm thầy cô giáo để bày tỏ tấm lòng quý kính và biết ơn của mình. Không những vậy, Việt Nam còn có ngày lễ truyền thống để tôn vinh các nhà giáo, đó là ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11. Tuy nhiên, chúng tôi cũng đồng thời nhận thấy rằng truyền thống giáo dục của Việt Nam hiện đang gặp nhiều khó khăn và thách thức trước tình trạng các trường học hiện chú trọng quá nhiều vào thi cử và bằng cấp, giáo viên và học sinh ngày càng bị áp lực căng thẳng và không có sự thực tập để giúp họ lắng dịu thân tâm và chăm sóc các cảm xúc mạnh. Chính vì vậy mà chúng tôi mong muốn cung cấp một chương trình đào tạo có khả năng đưa sự thực tập chánh niệm vào trong mô hình giáo dục hiện đại, đồng thời giúp duy trì và nuôi dưỡng tình nghĩa thầy trò trong trường học.” Lá thư đã nhận được nhiều phản hồi tích cực của các bạn trẻ trong đó có giảng viên, sinh viên, học sinh tại Việt Nam.

           

          14/08, khóa tu đã tới ngày thứ 4, các bài pháp thoại đã được đưa trên Pháp đường trực tuyến. Ngày mai, thiền sinh sẽ được đặt câu hỏi trực tiếp với Sư Ông. Ban biên tập sẽ chuyển ngữ những lời dạy của Sư Ông trong khóa tu này và đăng trong thời gian tới để chia sẻ với quý vị về những lời dạy của Người. Ước mong các thầy cô và các bạn sinh viên, học sinh Việt Nam có thể thừa hưởng được tuệ giác của Thầy và ứng dụng những thực chánh niệm vào trong việc giảng dạy cũng như học tập của mình.

          Một số hình ảnh về khóa tu:

          Niệm danh hiệu Bồ Tát (4).jpg

          Niệm danh hiệu Bồ Tát như một cơ thể


          Thiền hành (1).jpg

          Từng bước chân thảnh thơi

          Ngồi yên (1).jpg

          Ngồi yên như núi




          Hoằng Pháp Tại Bắc Mỹ

          Điểm đến của nền giáo dục hiện đại
          Khóa tu dành cho giáo chức 11-16.08 tại đại học Brock, Toronto, Canada
          Khóa tu dành cho giáo chức tại đại học Brock (11-16/08/2013), Toronto, Canada
          Nghệ thuật xử lý khổ đau
          Khóa tu tại tu viện Bích Nham 25.8-30.8/2013
          Nhật ký thị giả
          Khóa tu tại Tu viện Bích Nham 2013
          Ngày Chánh Niệm tại World Bank, 9-10.09.2013
          Ghi chép của thị giả về những lời dạy của Sư Ông cho ông Kim Young Jim – Chủ tịch Ngân hàng thế giới (World Bank) và nhân viên trong hai ngày sinh hoạt chánh niệm (9-10.09.2013) tại World Bank, Washington DC.
          Tổng kết chuyến đi Bắc Mỹ