Tiếng gầm sư tử lớn

y bay – mây trắng bay 

một đóa tường vi nở

bay đó, vốn là mây

nở đó là hoa vậy

tường vi một đóa nở

y trắng từng cụm bay

không mây thì không bay

không hoa thì không nở

y là bay

hoa là nở

giả thiết và lập ngôn

hình bóng và khái niệm

đã mở ra trận đồ

điểm là nơi gặp gỡ

của hai đường tìm nhau

đường là điểm di chuyển

tôi dựng cao bằng thấp

i xây thấp bằng cao

i lập trái bằng phải

i chia nhiều bằng một.

bàn tay tôi năm ngón

nhng ngón dài ngón ngắn

là cành cây lá non

tư tưởng tôi sinh trưởng

như hoa nở thành búp

y sắc thân máu huyết

thịt xương và đờm dãi

tế bào và thần kinh

hình tượng và độc ảnh

thức ăn – và bài tiết

y đây những khớp xương

(mà ngày mai còn lại

không phải là của tôi

không phải là của anh

nhưng ôi tội nghiệp thay –

y huyễn giác vô thường

khiến em đã đôi khi

khóc thầm cho thân phận)

tư tưởng tôi gửi đi

mười phương sóng giao cảm

em tìm cách chép ghi

ngôn từ tôi nói ra

âm ba dồn dập chuyển

em tìm cách chép ghi

hình ảnh tôi chiếu rọi

miệng tôi nói, mắt cười

em tìm cách chép ghi

ngỡ rằng giữ lại được

chiều theo thời không gian

em tìm lại dấu vết

dấu vết y như thực

tôi chiếu lại khúc phim

nhng ngón tay em

lấm tấm trên màn bạc

t thương

t thương chi

British Museum hôm ấy

người đó nằm khum sấp xuống

nghiêng nghiêng vừng ưu tư

ba nghìn năm trước Chúa

ba nghìn năm sau Chúa

ô hay nào khác chi?

cát nóng đã giữ lại

như máy ghi âm kia

 

t nóng giữ được gì?

(hay chỉ là một tờ

thông điệp đau mầu nhiệm?)

da thịt tôi nóng mềm

u chảy tươi, êm ả

có những hạch tiết tuyến

chưa khô cạn hôm nay

có tinh dịch, nước bọt

có nụ cười rất tươi

có ước muốn, dự tưởng

i đã từng ôm lấy

cả cuộc đời trong tay

một chiếc bong bóng đỏ

trong tay em bé quê

vì máu huyết chưa khô

vì tinh dịch chưa cạn

có đã là mầu nhiệm

không cũng là mầu nhiệm

có không đều như nhau

không khác

chỉ ảo tưởng về tôi

tạo cảm giác khổ đau                  

 

thịt tôi mềm hôm nay

thần kinh tôi xúc động

nệm giường đời êm ấm

tôi nghe lời rên siết

ôi màu sắc tuyệt trần

bởi vì tôi có mắt

ôi âm thanh vi diệu

v ì tôi đang có tai

tuyt trần và vi diệu

là với mắt với tai

tuyt trần và vi diệu

là với manas này

có manas là vi diệu

không manas cũng là vi diệu

vi diệu là vi diệu

manas, manas ơi

không vi diệu là không vi diệu

manas, manas ơi

có có manas

không là không manas 

vi diệu là không hay là có

manas có hay kng

manas ô manas

kng manas ô kng manas

cả manas c kng manas

đều manas hết

có kng đu ba đt

manas, cho tôi i!

tôi gim chân khóc rng

khi m mt

hôm y nng mai hng

gió thi v na đêm

một ít nhiu nưc mt

thm lng chy thành ng

nhng tuyến ca nưc mt

còn cho a đông

mẹ i

m kng i

kng m hay có m

tôi gim chânlún đt

đất lún vào chân kng

 

hôm qua tri du nng

mẹ trng vài lung hoa

mẹ chết lúc na đêm

luống hoa lên

bông hoa i

y đng i

i đánh thy m

ô hay cái ông này k quá

cười hay kng i

lúc bây gi cũng hết

hết hay kng hết

y gi cũng hết

ông nói như đ điên

mắt em t đi

rng ngi yêu thương

hay kng

leo lên cây làm chi

để ri em s n

đặt vn đ làm chi

cho vô minh xao đng

cho ngăn tràn s sng

mắt em t đi

oán hn ngp tràn

bàn tay tôi đây

nước gii oan ty ra

ng kia vô ti

bông hoa, viên đn đng

nuôi nng cho hoa n

nhng chiếc gai đ châm

con sâu ăn cung non

con sâu xanh mu ngc

git nưc mt pha

giọt nưc bùn vn đc

ôi tôi biết nói gì

cười cũng ngu phu

khóc cũng ngu phu

vừa i li va khóc

ng vn ngu phu

không i cũng kng khóc

ng vn ngu phu

cười i khóc khóc

nở thêm hoa cho đi

trong khuôn mt thế gian

hoa vn thit hoa

bông hoa ca ng

ôm chm kng thi gian

thoát ra ngoài ng biên

vật cht tc đ

vật cht lưu chuyn

ôi n i giác ng

ôi n i quái đn

ôi n i hoc

ôi n i t bi!

Đây là một bài thơ rất lạ. Tôi thấy trong No v ca Ý có một đoạn văn có thể giúp cho chúng ta đọc lại bài thơ này một cách chăm chú hơn. Xin trích ra đây: “Steve ơi, tôi muốn kể Steve nghe câu chuyện này. Năm kia, khi ghé Luân Đôn tôi được đi xem British Museum. Trong những thứ tôi để ý nhất, có một xác người hóa thạch trong một ngôi mộ cát, chôn cách đây gần năm ngàn năm, nghĩa là ba ngàn năm trước Thiên Chúa giáng sinh. Kiểu chôn thời ấy khác xa với kiểu chôn bây giờ. Người ta đặt xác người chết nằm khum nghiêng nghiêng, hai gối co lên; mặt, hai tay và hai chân đều quay về phía tay trái. Xác người hóa thạch còn giữ được nguyên vẹn mọi chi tiết. Tôi thấy những lọn tóc – đây là xác đàn ông, tôi thấy mắt cá nơi hai chân, tôi thấy những ngón tay ngón chân nguyên vẹn. Năm nghìn năm, người ấy đã nằm như thế và sức nóng của cát trong buổi đầu đã giúp người ấy hóa đá. Đây không phải là xác ướp đâu, Steve đừng lẫn lộn. Tôi thích đứng ngắm cảnh tượng này và trong lòng cảm thấy một thứ rung động khó tả. Một em bé đi chơi với tôi, tám tuổi, xinh đẹp, ngắm cái cảnh tượng ấy một hồi rồi bá lấy áo tôi hỏi một cách lo lắng: “Will it happen to me” (Rồi con có bị vậy không, hở ông?)

Tôi rùng mình, nhìn lại nụ hoa nhân loại mơn mởn, yếu đuối và nhỏ bé không một khí giới tự vệ đó, dù là khí giới tư tưởng, và vội vàng trả lời: “Không, không, không bao giờ con lại bị như thế đâu”. Em bé an lòng; tôi vội kéo em đi sang phòng khác. Tôi đã nói dối một điều mà Xa Nặc ngày xưa không nói.

Nhưng mà ngày mai lại, công việc bề bộn làm tôi quên khuấy đi mất cái thân người hóa thạch kia. Rồi mấy tuần sau đó, tại đường Doudeauville Ba Lê, họp mặt với các bạn sinh viên bên đó, tôi được vặn cho nghe vài bản nhạc của ban Thăng Long trình diễn. Và trong một giây phút nào đó, nghe giọng cô Thái Thanh, tôi bỗng thấy hiện ra rõ rệt tất cả những cordes vocales nơi cổ họng của cô ca sĩ nổi tiếng mà tôi rất ưa chuộng. Tôi thấy được hết những hạch tiết tuyến nơi cổ họng, những tế bào, những bộ phận lớn nhỏ đã phụ họa với nhau để phát ra những âm thanh trong, ấm, thanh tao và kỳ diệu kia. Tôi chưa gặp Thái Thanh lần nào cả, Steve ạ. Hãy nghĩ rằng cô trẻ, đẹp và đằm thắm như giọng hát của cô, và chỉ giữ lại từng đó thôi. Nếu ta nghiêng mình lệch đi một tí, bình diện thời gian thay đổi, thì cô Thái Thanh đã ở bên kia tự bao giờ rồi, ví dụ năm nghìn năm về trước hoặc năm nghìn năm về sau. Băng nhựa không phải là những tế bào sinh lý, không phải là những nước bọt, không phải là những cordes vocales, không phải là những tình cảm len lỏi lả lướt trong giọng hát. Những băng nhựa cũng phát ra đúng những âm thanh mà cô Thái Thanh năm ngàn năm trước đây đã phát ra bằng cổ họng xinh đẹp của cô. Băng nhựa đã giữ lại, và băng nhựa giữ lại gì? Hay là một lời nhắn nhủ, một tờ thông điệp có thể gây đau nhức cho con người mà cũng có thể tạo nụ cười giải thoát trên môi con người? Một trận gió thổi qua sa mạc, cát bụi tung trời. Tôi nhớ hai câu thơ của thiền sư Trần Thái Tông:

Tm thi trn lim thiên biên tĩnh

Nguyt lc trưng giang d k canh?

(Giây lâu tan bi, bên tri lnh

Trăng ln ng ng, đêm my canh?)

Tối hôm đó tôi bị cảm hàn bởi hồi chiều tôi đã đi ngoài trời lạnh có mưa tuyết. Nguyên Ân đánh gió cho tôi bằng dầu cù là Mac Phsu. Tôi uống hai viên aspirine và đắp chăn kỹ lưỡng. Nhưng mà tôi không ngủ được, một phần có lẽ aspirine tuy có trị cảm nhưng lại giữ tôi thức giấc. Cái tật của tôi là uống aspirine ban đêm lại thấy khó ngủ.

Tôi nằm trăn trở hoài và một lúc nào đó tôi bỗng tình cờ thấy tôi đang nằm trong một tư thế giống hệt như tư thế của xác người hóa thạch ở British Museum! Và tôi thấy bàn tay phải của tôi đang sờ nắm những bắp thịt nơi cánh tay trái như là để xem những bắp thịt này đã cứng như những bắp thịt hóa thạch kia không. Cử chỉ ấy không được trí óc tôi điều khiển. Nhưng hình như trí óc tôi khuyến khích bàn tay tôi tiếp tục như vậy. Điều tôi muốn nói cho Steve nghe là tâm trạng tôi lúc đó bình tĩnh và thanh tịnh một cách rất lạ; tôi không hề có một ý niệm xót xa, lo lắng hay đau buồn nào. Bỗng dưng tôi thấy rằng giá tôi là thân người hóa thạch của năm ngàn năm trước đây hay năm ngàn năm sau đây thì điều đó cũng không có khác chi với điều tôi đang ngồi ở đây hết. Tôi vẫn cười như thường. Ý niệm về quá khứ, hiện tại và tương lai như bốc khói; Steve ơi, tôi thấy tôi đứng thấp thoáng ở cửa ngõ của một thứ hiện tại thoát ly thời gian, thoát ly mọi sự chuyển động.

Tôi chỗi dậy và ngồi trong tư thế thiền tọa suốt một đêm đó. Mưa như thác đổ trong tâm hồn tôi. Mưa như xối chảy. Những giọt nước to, những dòng suối nhỏ tuôn ào ạt vừa gột rửa, vừa vỗ về, vừa thấm nhuận, vừa nuôi dưỡng. Không còn gì hết, chỉ có sự vững chãi an tịnh. Tôi ngồi như một trái núi đá, và miệng tôi mỉm cười. Nếu có ai chứng kiến được những gì đã xảy ra cho tôi đêm đó chắc người đó sẽ nói: “Xong, xong hết tất cả rồi! Sáng mai sẽ có thay đổi lớn”. Nhưng không có sự thay đổi nào hết, Steve thân yêu ạ. Lúc đó bảy giờ sáng, tôi lấy giấy bút ghi lại một vài nét những điều còn dào dạt trong tâm hồn tôi. Những vần thơ lạ kỳ đó, tôi còn giữ đây. Và buổi sáng mai, tôi ăn điểm tâm với các bạn, bình thản như không có gì xảy ra trong đêm qua hết. Và chúng tôi bàn tính công việc. Vẫn là những công việc đã dự trù từ những ngày hôm qua. Những công việc cho tương lai. Steve nghe không. Cho tương lai. Nghĩa là tôi đã được đặt trở lui trên bình diện không thời gian ước lệ cũ.

Tôi bàn với các bạn trẻ về từng chi tiết của công việc, và chính tôi cũng ngạc nhiên không hiểu tại sao tôi lại có thể làm công việc đó, công việc mà người chứng kiến hiện tượng đêm qua có thể xem như là không dính líu gì tới con người đương sự hết. Đối với đêm qua, tất cả công việc hôm nay phải là hoa đốm hư không. Nhưng mà không, nó không phải là hoa đốm hư không. Đứng ở hôm qua mà nhìn thì nó khác. Đứng ở hôm nay mà nhìn thì nó khác. Nó không phải là hoa đốm hư không. Có một điều rất rõ rệt, là tuy tôi đề cập đến mọi chi tiết của công việc một cách kỹ lưỡng, để hết tâm ý vào chúng, nhưng tâm hồn tôi lúc đó thật là bình thản, thanh tịnh, không náo nức, không khiếp sợ, không lo lắng. Tôi thấy tôi có thêm nhiều sức mạnh và tâm hồn tôi được gạn lọc trong sạch hơn nhiều.

Steve, một đêm như thế quả có thể thay đổi được cả cuộc đời chúng ta. Và một đêm như thế lại sẽ mở cửa cho những đêm khác như thế. Tôi sẵn sàng để trở lại. Tôi thấy diện mục của tôi nó phảng phất đâu đây. Lần đó tôi đã suýt tóm được nó.”

Bỗng tan đi

sương đọng giọt

nhng đuôi lá trĩu xuống

trái cây sắp chín rồi 

trên buổi sáng trái đất

đường hoa thủy tiên

sáng lên

bỗng nhiên khởi sự tan sương đầu ngõ

thương tuổi nhỏ

đường mê

đêm thâu những giọt nến chảy dài

một nụ hoa vừa nở giờ này trên sa mạc hiu quạnh

đâu đây

một hành tinh lạnh

chưa bao giờ mang hình ảnh nương cau vườn sắn

chưa bao giờ

hiến mình cho sự sống

bỗng tan đi

niềm khát khao vĩnh cửu của con người

 

Câu “bỗng nhiên khởi sự tan sương đầu ngõ” trong Tiếng đập cánh in là “bỗng nhiên khởi sự vén mây đầu ngõ”. Có lần đọc bài này Thầy nói là nên chữa lại “vén mây” thành “tan sương” để cho hợp với lời “tan sương đầu ngõ vén mây cuối trời” trong truyện Kiều. Anh Võ Đình và chị Teo Savory dịch như sau:

Disappearance

the leaf-tips bend

under their weight of dew

fruits are ripening in

earth’s early morning

jonquils light up in the sun

the curtain of cloud at the gateway

of the garden path begins to shift:

have pity for childhood,

the way of illusion

late at night the candle gutters

this instant in

some distant desert

a flower opens

and somewhere else a cold

aster that never knew

cassava patch or gardens of areca palms

never knew the joy of life

at that instant disappears:

man’s eternal yearning

Đại trượng phu

cửa tùng đôi cánh khép

một mũi tên sáng loáng lìa dây cung

lao vút tới

mặt trời nổ tung

đầy sân hoa cam rụng

phảng phất

bóng vô cùng.

 

Đây là bài thơ tôi thích nhất trong tập Tiếng đập cánh loài chim lớn, anh Võ Đình có dịch ra Anh văn và đã minh họa bằng mực Tàu rất đẹp. Chị Michèle Chamant cũng đã dịch ra Pháp văn nhưng tôi thấy những bản dịch này chưa lột tả được tinh thần của bài thơ. Bản dịch của anh Võ Đình có chị Teo Savory góp ý được đăng lần đầu trong tạp chí Paintbrush (số 6, bộ III, năm 1976, Wyoming, Hoa Kỳ). Cũng năm này Unicorn Press lại cho in trong tập Zen Poems. Những bản dịch ấy như sau:

The virtuous man

the two leaves of the pinewood gate fall shut

a shinning arrow leaves the bow-string

speeds upward cleaving the sky

explodes the sun

the blossoms of the orange trees fall

until the courtyard is carpeted

 

flickering reflection

of infinity

L’homme vertueux

les portes de pin fermées

une flèche scinetillante

quitte la corde tremblante

 

lair se déchire

le soleil explose.

les fleurs d’oranger tombent

tombent

tapissent la cour

 

est l’ombre

de l’infini.

Bàn tay, bàn tay

đêm trên thành phố lạ

ng trời bình yên

hiền từ biết mấy

đám mây bay

trên một rừng sao trăng

cơ man ánh đèn đêm đô thị

còn vùng trời quê hương tôi

gió nín thinh

tiếng xé không gian

B52

suốt ngày đêm đe dọa

a không dám chín

mạ không dám xanh

rừng loang lổ đầy mình

nhng đám cháy đen

và núi cây từng mảng đau bom đạn

nhng con sông hiền từ

run rẩy

nhng phiên chợ chiều

tt ngấm

đòn gánh buồn trĩu nặng

tiếng trực thăng

 

nhưng hãy còn

uy hùng Cửu Long giang

hò reo hải triều âm sáng mai này bừng dậy

y cho tôi

bàn tay em gang thép

quê hương

đêm nay

đợi chúng ta

đưa thoát lửa bạo tàn.

Từ 1970 đến 1972, đi diễn thuyết các nơi về đau thương của chiến tranh, tôi thường có dịp ngâm bài này bằng giọng Nam. Đây là một trong những bài thơ chống chiến tranh mà tôi rất ưa; tôi đã từng chứng kiến tận mắt những vùng núi rừng bị cày lên từng mảng đau bom đạn. Tại những miền đồng ruộng thuộc các tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, quả thật là lúa không dám chínmạ cũng không dám xanh, vì không ngày nào vắng bóng phi cơ oanh tạc. Không hiểu sao tôi lại có đức tin mãnh liệt là hễ mình đi làm việc cứu trợ thì bom đạn phải né tránh mình. V ì thế mà lần nào ra dạy học ở miền Trung tôi cũng tổ chức đi cứu trợ: nhiều lần ghe chúng tôi bị kẹt giữa những cuộc đụng độ mà trong chúng tôi, chưa hề có người nào bị thương…

Thịt da và gạch ngói

y bay thật đã bay đi

nắng im lìm

trưa xế, nao lòng đất cũ

và lửa cháy tàn rồi

mái chùa cong đổ nát

tượng Phật thếp vàng loang lổ ngồi kia, mỉm cười nhìn vôi gạch

chiều thêm im

tiếng sáo diều vi vu tiềm thức

đám mây bay

nát mái chùa làng chở che đàn bé thơ

tóc mướt học trò

nhng đứa bị thương đã về bịnh xá

nhng đứa tắt thở

sẽ được đem chôn sáng mai nghĩa địa cuối làng

âm thầm đất nước tôi

anh chị em tôi – hôm nay còn đang cắn răng chịu đựng

để đâu cho hết căm hờn thống khổ?

chị Năm làm gì với những thúng đạn

nhng trái đạn nổ tung, my mươi mảnh ghép ghim một thân người!

ơi thịt da ơi

và gạch ngói ơi

thế kỷ hai mươi gọi về quá khứ

có phải đứa bé nuôi bằng khoai sắn đất nghèo

sinh sau hiệp định Genève

ng có thịt da, tư tưởng

nô đùa cười vang trên cánh đồng cỏ non mỗi khi tiếng chuông chiều xuống

có phải đã mất từ lâu quyền được làm người?

Trong tập Tiếng đập cánh loài chim lớn có nhiều bài thơ chống chiến tranh rất mãnh liệt như các bài Các anh còn tàn phá đến bao giờ, Bài thơ niềm uất hận Mặt trời tương lai, Chiếc lô cốt cô độc Kẻ thù. Giọng điệu những bài này có khi giận dữ, có khi chua chát, cay đắng. Tôi hiểu tâm sự của Thầy bởi vì mãi đến năm 1968 dân Sài Gòn mới biết được sự tàn phá của chiến tranh cũng đã gây không biết bao nhiêu là thảm hại đau thương. Thời gian này tôi dạy Thực vật ở Đại học Khoa học Huế. Cứ mỗi tháng Viện Đại học Huế gửi vào Sài Gòn cho tôi một vé phi cơ khứ hồi để tôi bay ra Huế dạy mười hai giờ. Tôi thu xếp để dạy hai ngày liên tiếp, mỗi ngày luôn sáu giờ. Sau đó tôi ở thêm năm ngày ở miền Trung để đi cứu trợ nạn nhân chiến tranh ở các làng mạc xa tận Quảng Nam, Quảng Ngãi và Quảng Tín. Tại miền Nam, ngoài các giờ làm việc tại Đại học Sài Gòn, tôi cũng đã nhiều lần cùng đi công tác với anh em Thanh niên Phụng sự Xã hội tận Bình Long, An Lộc, đem thuốc, sữa và gạo cho nạn nhân chiến cuộc sau những trận đánh lớn. Chúng tôi đi xuyên qua những cánh đồng và những khu rừng thuộc chiến khu D thăm nhiều xóm làng xơ xác vì bom đạn. Chúng tôi đã khóc với một bà mẹ bên đứa con sáu tuổi bị bom xăng đặc đốt cháy, băng bó toàn thân, chỉ còn chừa hai con mắt. Chúng tôi cũng đã ôm trong tay những em bé cụt chân, gãy tay mới được băng bó sơ sài và hiểu được niềm vô vọng của đồng bào ở các miền chiến tranh này. Tại những địa điểm cứu trợ tôi ăn không được, ngủ cũng không được, trong khi tôi biết tại Sài Gòn, ít ai thấy được thảm trạng của người đồng bào mình trong vùng chiến nạn. Đi cứu trợ về, tôi nhận được bản thảo tập Tiếng đập cánh loài chim lớn. Đọc tập thơ này tôi thấy phải đem in. Thầy ở xa ngàn vạn dặm mà thấy được thảm trạng của người đồng hương rõ hơn những đứa trong chúng tôi lúc ấy sống tại quê hương:

có ai trong chúng ta

lại tàn nhẫn trao cho đứa bé đói khổ

một nắm gạch vụn

khi nó chìa tay run rẩy

xin nửa chén cơm?

các anh đã cho trẻ con chúng tôi

nhng viên đạn những quả bom

các anh đã dội trên đầu chúng

nhng trái bích kích

những trái napalm…

(Các anh còn tàn phá đến bao giờ)

Tôi chạy đi tìm nhà in. Nhà in anh Trần Thanh Hiệp ngày xưa đã chịu in Hoa sen trong biển lửa, không giấy phép, đến hai lần, bây giờ e rằng không dám in sách Nhất Hạnh nữa. Nhà in Công giáo mà cha Lan quen, đã từng in Đối thoại cánh cửa hòa bình, và nhà in thầy Lưu Phương từng in Đừng quên, xin đừng vội quên, cũng không dám nhận. (Hồi đó đã có lệnh cấm lưu hành Hoa sen trong biển lửa Đừng quên xin đừng vội quên trong quân đội). Tôi mang bản thảo tới nhà in chùa Quan Thế Âm do thầy Thông Bửu làm giám đốc và thầy nhận in liền. Tiếng đập cánh loài chim lớn không được lưu truyền rộng rãi bởi vì cuộc tấn công Tết Mậu Thân đã thiêu hủy mất một trong những kho chứa sách.

Suốt thời gian tôi cho xuất bản và phát hành không có giấy phép các tác phẩm của Thầy, tôi không hề bị bắt. Một hôm chở mấy trăm cuốn Đừng quên xin đừng vội quên trên chiếc Mobylette từ nhà in về, tôi bị cảnh sát chặn lại xét ở ngay cầu Trương Minh Giảng. Tôi nghĩ thế nào tôi cũng sẽ bị bắt, và tôi thanh thản đứng niệm Phật Quan Âm trong khi ông cảnh sát khám xét. Ông mở sách ra đọc: “Em, ở đây mà tôi cũng nghe được tiếng hát của Trịnh Công Sơn…”. Ông cho đó là thơ tình; ông xếp lại và cho phép tôi đi. Thế là tôi thoát nạn. Có một lần từ Sài Gòn ra Huế dạy, tôi lại bị xét và trong giấy tờ tôi lúc đó có một tờ kiến nghị hòa bình do các giáo sư các trường Đại học Sài Gòn soạn thảo. Người cảnh sát trẻ ở Huế đã đọc tờ kiến nghị. Tay ông hơi run. Nhưng ông làm lơ để cho tôi qua. Lần đó tôi cũng thoát nạn. Ấy vậy mà tôi cũng bị bắt một lần trong khi tôi không có tài liệu gì về hòa bình trong người hết. Lần đó tôi cũng ra Huế dạy và trong va li tôi có một tập Hoa sen trong biển lửa của Thảo gửi ra Huế cho mẹ Thảo. Cuốn sách được gói trong giấy bông cẩn thận nhưng tôi nào biết trong đó có cuốn Hoa sen trong biển lửa. Tôi bị bắt một cách vô duyên như thế, bị giam tại Huế một tuần rồi giải về Sài Gòn. Tôi ở trong khám Tổng nha hai tuần, sau đó nhờ Viện Đại học Sài Gòn can thiệp, tôi được thả.

Những giọt không

mát lòng, nhờ

những giọt không

bỗng đâu thuyền đã

sang sông

tới bờ!

t mềm, bãi vắng

nguyền xưa…

Anh Võ Đình và chị Teo Savory (Giám đốc Nhà xuất bản Unicorn Press) đã dịch bài này ra Anh văn và cho đăng ở tạp chí Paintbrush số 4, năm 1975, Wyoming, Hoa Kỳ. Bản Anh văn như sau:

Drops of Nothingness

 

my heart is cooled

by drops of nothingness

suddenly I see

my boat has crossed the river

and already reached the other shore!

soft sand, empty beach

         old promises…

Mưa quê hương

mưa ướt áo ướt đầu

ưt chân em

mẹ thì xa

ti nay ai bắt gió xoa dầu

gió réo gọi chiều nay hung dữ lạ!

trước mặt tôi

nước mưa xóa nhòa phố xá

nhớ tới quê hương

cơn mưa nặng hạt

gió về nghiêng ngả vườn cau.

Bài này chắc đã được viết vào một ngày mưa trên đất khách và đã được tác giả phổ nhạc.

Kiến trúc chân như

đừng la mắng những con chim bé nhỏ

vì tiếng hát ca cần thiết cho cuộc đời

đừng ghét bỏ thân thể em

vì đó là đền thờ linh thiêng của linh hồn nhân loại

mắt trong của em là minh châu ngời sáng chứa đựng bóng hình tam thiên thế giới

và tai em có quyền hạn tối cao với suối chim

với hải triều sớm tối

với Beethoven, với Bach, với Chopin

với tiếng khóc trẻ thơ

vi giọng ru an lành

và bàn tay em

là những bông hoa thương yêu ngàn đời không cần ai hái

(nhng bông hoa còn bừng nở nhiệm mầu

làm diễm lệ cả khu vườn nhân loại)

và vừng trán em

là bình minh sáng nhất của các bình minh

 

đừng phá hoại kiến trúc chân như!

bông lúa, nội cỏ, hương đêm đều đã cất lên tiếng bảo vệ hòa bình

tôi biết một viên đạn đồng có thể đến ghim vào trái tim con sơn ca

sáng nay trên cành xuân

đương ngợi ca cuộc đời tha thiết.

nhưng bông lúa

hương đêm

nội cỏ

rồi ngàn sao, vừng nguyệt,

bằng tất cả sắc mầu, thanh âm, bóng hình,

cương quyết

ng chúng tôi, nguyền bảo vệ cho em.

Tôi có nghe thi sĩ Đinh Hùng ngâm bài này trên Đài Phát thanh Sài Gòn năm 1965. Tôi nghĩ bài này nói lên ước muốn bảo vệ sinh mệnh của tuổi trẻ đứng trước sự đe dọa của bom đạn chiến tranh.

Nhập lưu

mỗi ông thầy tu có một chỗ nơi góc chiếc chiếu để ngồi thiền

hãy ngồi yên trên chỗ đó

trái đất mang tất cả chúng ta đi

và chỗ ngồi cũng như một chỗ ngồi trên toa xe lửa hạng nhì

đến ga rồi thì ông thầy tu cũng phải đi xuống

và chỗ ngồi đó sẽ được phủi bụi đi để cho người khác tới ngồi.

 

mỗi ông thầy tu ngồi trên chỗ nơi góc chiếc chiếu của mình được bao lâu?

tuy thế hãy ngồi yên trên đó

như sẽ không bao giờ có ga để xuống

chiếc xe lửa

chiếc xe đầy lửa trong lòng nó

sẽ đưa ông thầy tu về đâu?

 

mỗi ông thầy tu ngồi kiết già trên chỗ nơi góc chiếu của mình

bắt chước trái núi hùng vĩ

trái núi sừng sững đứng đó

nhưng trái núi cũng xoay tròn theo ông thầy tu

chiếc xe lửa của chúng ta đang đi

 

sáng nay ông thầy tu ngồi vào chỗ ngồi của mình trên góc chiếu, và mỉm cười

tôi không có ngồi hoài đâu ông

chiếc xe lửa khi tới ga sẽ không mang theo tôi

một góc chiếu, hay là một bó cỏ tươi

tôi ngồi xuống

một lần này nữa thôi.

Mt góc chiếu hay là một bó cỏ tươi, hình ảnh này nhắc lại chuyện em bé mục đồng có cảm tình với đạo sĩ Tất Đạt Đa (Siddharta) lúc ấy đang tu trong núi, không biết làm thế nào để tỏ cảm tình ấy của mình liền đem tặng đạo sĩ một bó cỏ tươi em vừa mới cắt để đem về cho bò của em ăn. Tất Đạt Đa cảm ơn, nhận bó cỏ, và trải xuống gốc bồ đề làm nệm ngồi. Tất Đạt Đa ngồi thiền suốt đêm hôm ấy và khi sao mai mọc thì thoát nhiên đại ngộ. Bài thơ Nhập lưu (nhập lưu nghĩa là nhập vào dòng giác ngộ) này đã được tác giả dịch đăng trong tạp chí văn học Unmuzzled Ox ở Nữu Ước, số 1 bộ IV, năm 1976. Bản dịch như sau:

Getting into the Stream

each monk has a corner of the mat

a place to sit

for meditation

there, monk, sit still on it

the spinning earth carries us all along.

the place you sit is like a seat in a second class train

any monk will eventually get off

at his station

and his place will be dusted

for another

how long is the monk to sit

in his corner of the mat?

sit still on it anyway

how long is the monk to sit

in his corner of the mat?

sit still on it anyway

sit as if you will never give it up

as if there is no station to arrive at

the engine with its flames

will carry you along.

each monk will sit in the lotus position

at his corner of the mat

the monk will sit like an ancient

enormous moutain

the moutain is there still

but like the monk is on the turning earth.

this train of ours

this fire-filled engine

is hurrying ahead.

 

this morning

the monk sits as usual

on his corner of the mat

but he grins.

I shall not sit here forever”, he tells himself

“when the train arrives at the station

I will be elsewhere-

a corner of the mat

or an armful of grass

I am sitting down

just one more time.”

Ruột đau chín khúc

1.

i đến đây đ cùng khóc vi các anh các ch,

x s ta đau thương cnh tình ta bi đát

bàn tay tôi đây xin các anh nm ly, xin các em nm ly.

i mun đưc nói cùng các anh các ch: sao t chúng ta cũng phi can đm đ mà lo lng cho tr thơ, cho ngày mai.

2.

đã mt tháng rưi tri sau khi nưc rút, em tôi nhn đưc ca cu tr hai ln, mt ln chưa đy lon go.

ba ngày mi có mt ba cơm, chiu nay ti thăm em, tôi đưc em cho biết rng ti nay em phi ăn đt cau bp thi

thương thay em tôi

(biết bao chiếc đu xanh vô ti

một đàn tr con da ng mt bng )

đi kiết t hơn mt tun nay, kng thuc kng men.

nưc cun mt m em ri, nưc cun mt c cha em, nưc cun mt c em em na

trên chiếc đu t ngây, khăn tang kng có

nhưng nng chiu ng vt trên cánh đng tan hoang xác xơ khn kh

đã chiếc khăn tang ph trn tâm hn tôi.

3.

y ti đây mà chng kiến cnh nhng ngưi thương ca tôi trong trn bão lt Giáp Tn, đến đ m trong tay em xanh xao đã ri ro còn sng.

để thy ngưi cha tr sau khi tìm biết rng v bn con đã chết, trong ba ngày ba đêm đã ngi yên nhìn vào khong kng, thnh thong i lên sng sc

xa xăm anh có nghe thy tiếng i y kng?

y đến đây đ thy c g u bc, sau nhng ngày cô đơn tuyt đi trên mnh đt hoang, đã qu xung đ ly nm cơm cu tr trên tay mt em thiếu nhi ngơ ngác

cụ đã qu trưc tình tơng, trong khi em khóc

c ơi, con ch bng cháu ca c mà thôi!”

nhưng sao, tng đip tình thương đã ti nơi ri

i có quyn đt ng tin nơi ngày mai nhân loi.

 

4.

chng ch đã mt ri, con ch đã mt ri,

vườn dâu tan nát

bếp la làm sao nhóm li, mnh đt nghèo ơi?

trời cho, ri tri ly li,

i s ch tôi chiu nay kng còn kiên nhn,

m ming ra, nguyn ra hin sinh mình.

i khóc khi nghe ch nói rng:

tuy mt pt k khăn

khe thay nhng gia đình chết trn.

nhưng hôm nay còn tôi, còn anh, còn bn

ta chung lưng gánh đy hin hu trên hai vai

y nương vào nhau, gng đng bt lên tiếng kc; con đưng còn i, vì thế h ơng lai, hãy cúi đu đi ti.

5.

ngưi ng dân ngng đu lên khi nghe li tôi hi

chua xót tr li, kng e dè, ngn ngi:

tôi ghét c hai bên

i kng theo Quốc gia

i kng theo Gii phóng

tôi ch theo ngưi cho tôi s sng.

cuộc tn sinh! ôi ti nhc kng chng!

 

6.

trên thưng lưu ng Thu Bn

đứng gia ng

i ct đu ngón tay cho git u đào rơi, hòa tan vào ng nưc

u tôi đã đưc hòa vi ng ng

thôi hãy nm im

tất c nhng ai đã vong thân oan c!

còn nhng ngưi sng, còn ng ng đây

nghe tiếng tr t t muôn trùng đng vng

tôi đã tr v gia nhng thành i cao

để đêm nay nhìn đnh i nghiêng đu nghe ng ng k chuyn

cng tôi còn đây, trong cuc đi hng chuyn

sẽ xin đng bên nhau mà dng li quê hương

7.

nhng trì đa tay còn lm mc nhà trưng

xẻng cuc trên tay

đào đt bc cu

i xung va khóc va chôn nhng thây ngưi sình thi

nhng ng hình Quan Thế Âm, vi vng trán t ngây vô ti

áo nâu

chân đt

nón che đu

lng l đt tng c chân non trên vùng đá sn thương đau

chui vào nhng túp lu con mi dng

bất chp him nguy Quc gia, Vit cng

tìm ti

nhng ngưi thoi thóp

đang nga c ch tng.

8.

tôi đã thy ri bàn tay các em

tuy nh, nhưng hin như tri Đâu La Miên thu trưc

vừa đưa ra đ m ly tr t

t đa bng nhiên lng thinh, nín khóc

mt ngưi m khn kh sáng lên như hai viên bích ngc

khi nhìn hp sa đã t nghìn trùng ng nưc đem đến cho con

 

9.

tôi ngi đây, trưc cánh ca thiên đưng

đương khép cht

tôi cúi đu mong đi

i vưn chc hương cau còn nh ta

nhưng các em sao lng l chiu nay

y ct tiếng n, trên mnh đt đau thương này

ct tiếng n, cho chim xanh ngàn nơi bay v quy t

cho nưc non này mãi còn cm

i lên đi em

hiện hu s bng sinh sau ngôn thuyết nhim mu.

Về tới chùa Từ Hiếu ở Thừa Thiên, sau khi đi cứu trợ bão lụt ở Quảng Nam về, Thầy viết bài thơ này. Đó là vào năm Giáp Thìn (1964). Hồi đó tuy đã đi dạy bên trường Đại học Khoa học Sài Gòn nhưng tôi vẫn còn theo học bên phân khoa Phật học tại Đại học Vạn Hạnh. Tôi đã đi theo đoàn cứu trợ với tư cách Phó chủ tịch Ủy ban Cứu trợ của sinh viên Vạn Hạnh.

Trước chuyến đi, Ủy ban Cứu trợ của chúng tôi gồm tăng sinh, ni sinh và sinh viên cư sĩ đã đi lạc quyên tiền bạc và áo quần tại Sài Gòn và Chợ Lớn. Gần hai trăm thanh niên tăng ni và khoảng năm trăm sinh viên cư sĩ chia nhau thành từng nhóm năm người, đã đẩy xe ba gác đi khắp các đường phố Sài Gòn và Chợ Lớn. Mỗi xe có mang theo một thùng “phước sương” có niêm phong bằng ấn của Đại học Vạn Hạnh. Chuyến đó chúng tôi quyên góp được, ngay trong năm ngày đầu, trên ba trăm ngàn đồng tiền mặt và bốn tấn áo quần và chăn mền. Tôi còn nhớ, tuy Ủy ban Cứu trợ chúng tôi đứng ra tổ chức, sắp xếp mọi việc, nhưng nếu không có sự đôn đốc của thầy Nhất Hạnh thì chúng tôi cũng khó mà động viên được tất cả các thành phần sinh viên của Viện lúc ấy. Những tốp sinh viên được phái đi về các khu người Việt gốc Hoa ở Chợ Lớn, thay vì mang theo biểu ngữ viết bằng tiếng Việt, đã mang theo những dòng chữ viết bằng Hán ngữ do chính tay Thầy viết. Mỗi nhóm sinh viên có ít nhất là một tăng sinh hoặc ni sinh đi theo, thể theo lời đề nghị của Thầy, và đó là một trong những nguyên nhân thành công lớn trong cuộc quyên góp. Hồi đó đã mời được thầy Minh Châu từ Ấn Độ về để phụ trách Vạn Hạnh nên Thầy có nhiều thì giờ hơn với sinh hoạt của sinh viên. Và cũng chính vì vậy cho nên Thầy đã đi theo đoàn cứu trợ của chúng tôi lên tận vùng thượng lưu sông Thu Bồn. Chuyến đi khá nguy hiểm, bởi vì những cuộc đụng độ giữa hai bên hồi đó thường xuyên xảy ra ở vùng này. Muốn đi tới tận quận Đức Dục hay những làng Sơn Khương, Sơn Mỹ, chúng tôi chỉ có thể đi bằng ghe, vì đường liên xã đã bị chiến tranh và bão lụt làm đứt nhiều đoạn. Ghe phải đi ngang qua nhiều trạm, khi thì do bên này khi lại do bên kia kiểm soát. Các thầy Như Vạn và Như Huệ lúc ấy phục vụ ở Ban Xã hội Giáo hội Phật giáo Quảng Nam nói rằng nếu đoàn cứu trợ có tăng sĩ đi theo và có mang cờ Phật giáo thì có thể qua lọt. Chúng tôi thuê bốn chiếc ghe chở theo gạo, thuốc men, áo quần và xoong nồi rồi theo sông Thu Bồn đi ngược lên miền núi. Càng lên cao càng khó đi. Núi càng cao gió càng lạnh. Có lúc hai bên bắn nhau, đạn bay vèo vèo qua đầu chúng tôi. Đoàn ghe chúng tôi bị chặn lại kiểm soát bốn lần. Có một lần gặp bên Quốc gia, thầy Nhất Hạnh hỏi vị chỉ huy trưởng: “Trong trường hợp chúng tôi bị bên kia chặn lại và đưa truyền đơn thì chúng tôi phải làm thế nào?” Vị chỉ huy ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói: “Thì quý vị cứ nhận, nhưng ra tới giữa sông quý vị sẽ đem thả xuống nước.” Thầy lại hỏi: “Giả dụ như chưa kịp thả xuống nước mà bị phía Quốc gia chặn lại xét thì có nguy không?” Vị chỉ huy kia chỉ cười, không nói gì.

Cảnh tượng Đức Dục sau khi nước rút thật là thê thảm, nhất là những xã ấp xa quận lỵ. Nghe nói chỉ mới tuần trước đây, xác chết còn vướng trên ngọn tre. Khe núi và bờ sông còn nồng mùi hôi thúi. Dân chúng đói đi mót những nắm bắp và gạo đã sình thối còn lại trong các vựa để ăn. Họ ăn rễ cây, đọt dừa. Gần một nửa dân số bị kiết lỵ. Những hình ảnh trong bài thơ là những hình ảnh có thực, một trăm phần trăm. Chúng tôi có gặp một ông già, đi đâu cũng dắt theo con trâu như một người bạn. Ông nói nhờ trèo lên ngồi trên mình trâu khi nước cuốn phăng phăng cả trâu đi mà ông không chết. Lúc nước rút, trở về, vợ con chết hết, nhà cửa không còn, ông lơ lơ lửng lửng như người mất hồn, cứ dắt trâu đi ra đi vào, ai nói gì ông cũng không nghe thấy.

Khởi hành từ lúc trời lờ mờ sáng chúng tôi phải đi chuyến hàng cứu trợ từ tỉnh lỵ Quảng Nam xuống quận Điện Bàn bằng xe hàng vận tải. Từ bến đò Điện Bàn chúng tôi mới lên bốn chiếc thuyền nặng khẳm gạo muối, đường, đậu, quần áo và xoong nồi, thuốc men, theo sông Thu Bồn đi ngược lên mạn núi. Chuyến đi thật vất vả, phải ngủ luôn  hai đêm trên thuyền vì thuyền phải ghé rất nhiều nơi. Cứ ngồi ghe được vài giờ, chúng tôi lại cặp thuyền, đi thăm từng xóm nhỏ, heo hút trên núi, bên khe. Chúng tôi đem theo gạo, áo quần, sữa và thuốc men, tới từng nhà, tùy theo nhu cầu của từng gia đình mà cấp phát. Chia nhau thành nhiều nhóm, chúng tôi làm việc suốt từ sáng sớm tới khi không còn thấy đường nữa. Chúng tôi hỏi thăm cả tình hình chiến tranh và chính trị từng nơi. Dân chúng ở đây ở vào tình trạng trên đe dưới búa. Cảnh tượng mà tôi không bao giờ quên được là cảnh tượng giờ phút biệt ly ở một ấp heo hút thuộc quận Đức Dục. Lúc đó đã sáu giờ rưỡi chiều, nắng chiều vàng vọt chiếu trên bờ sông. Đồng bào ra đưa tiễn chúng tôi tận bờ sông đứng thành những hàng dài. Bốn chiếc thuyền chúng tôi đã nổ máy; chúng tôi chắp tay chào từ giã. Bỗng nhiên một bà mẹ trẻ ẵm một đứa bé trong tay, lội xuống nước, định trao đứa bé cho tôi. Thiếu phụ nói chị không nuôi nổi con, muốn cho tôi làm con nuôi. Tôi đang còn lúng túng chưa biết trả lời cách nào thì một bà nữa, rồi một bà nữa, rồi mười mấy bà mẹ ẵm con lội xuống bến. Tất cả đều đưa con cho chúng tôi. Hầu hết chúng tôi đều là sinh viên, ni cô hay thầy tu. Chúng tôi làm sao có thể nuôi con được. Hai hàng nước mắt tôi trào xuống. Bọn tôi đứa nào cũng khóc. Thầy Như Vạn lên tiếng: “Chúng tôi sẽ cố gắng trở lại với đồng bào, để giúp đồng bào nuôi con. Chúng tôi không có thể nhận các em bé này được; chúng phải được ở với cha má chúng.” Thầy Như Huệ ra lệnh cho tàu rời bến. Bọn tôi đứa nào cũng một tay đưa lên vẫy, một tay chùi nước mắt. Nắng chiều trên bến sông sao mà buồn thê thảm quá.

Bài Rut đau chín khúc được đăng trên tuần san Thin M số 13 ra ngày 9 tháng 2 năm 1965. Có một buổi sáng tới Vạn Hạnh sớm để nhận chỉ thị về việc cứu trợ, tôi thấy anh bác sĩ Anh Tuấn (Trần Tuấn Phát) với một cái máy ghi âm. Anh nói anh đọc bài Rut đau chín khúc đêm hôm qua và anh cảm động quá. Không biết làm gì, anh đọc bài ấy vào băng nhựa, và đem lên cho Thầy nghe. Tôi hơi tức cười. Nhưng khi được nghe băng, tôi hiểu. Giọng anh chuyên chở được tất cả sự rung cảm của tâm hồn anh khi đọc bài thơ.

Xin lưu ý các bạn đến hai hình ảnh trong Thánh Kinh được dùng trong bài thơ. Hình ảnh đầu:

 

i s ch tôi chiu nay kng còn kiên nhn

m ming ra, nguyn ra hin sinh mình

Nhắc tới Job trong Cu Ước (Après cela, Job ouvrit la bouche et maudit le jour de sa naissance). Hình ảnh thứ hai:

nói lên đi em

hiện hữu sẽ bừng sinh sau ngôn thuyết nhiệm mầu.

Nhắc tới câu đầu của Phúc Âm theo Jean (Au commencement était le Verbe). Thầy nói với chúng tôi: “Mình muốn chấm dứt chiến tranh để có hòa bình thì việc trước hết là mình phải nói rõ ra là mình muốn chấm dứt chiến tranh để có hòa bình.”