Rừng không

rừng

ngàn thân cây

một thân người

lá cành đưa tay vẫy

tai nghe tiếng suối gọi

mắt mở toang trời tâm

nụ cười hàm tiếu kia

nở trên từng chiếc lá

có rừng cây ở đây

vì có thế gian đó

nhưng tâm đã theo rừng

khoác áo mới mầu xanh.

Tại lớp thực tập thiền học ở Centre Quaker International Paris, Thầy đã giảng bài thơ này cho các thiền sinh. Bài thơ được làm trong rừng Othe. Hai câu:

có rừng cây ở đây

vì có thế gian đó

Là hình ảnh trong kinh Trung A Hàm (kinh Cùlasunnata) dạy về phép Không Quán. Khi người hành giả bỏ làng mạc và chợ búa vào ngồi tịnh trong rừng, thì người ấy thấy không có làng mạc và chợ búa mà chỉ còn có rừng. Nhờ xa làng mạc chợ búa mà những phiền não về làng mạc chợ búa không còn, và rừng cây cho người hành giả một ít thanh tịnh. Nhưng hành giả phải biết rằng: tuy hành giả chỉ nhận thức rừng cây, không nhận thức làng mạc và chợ búa, nhưng không phải như vậy mà làng mạc và chợ búa không hiện hữu. “Tôi biết rừng cây có đây, vì làng mạc chợ búa có đó”. Khi hành giả bỏ rừng cây để chỉ còn giữ lại đất. Bỏ đất để chỉ còn giữ lại không gian, bỏ không gian để chỉ còn giữ lại Nhận thức, bỏ Nhận thức để chỉ còn giữ lại Không, bỏ Không để chỉ còn giữ lại Phi tưởng và Phi phi tưởng… Thì hành giả cũng vẫn quán chiếu theo luật “cái này có vì cái kia có”, và do đó hành giả nhận được chân được rằng Không quán không phải là phủ nhận hiện hữu mà chỉ là nhận thức hiện hữu trên nguyên lý duyên sanh mà thôi.

Từ bi quán

tịnh thủy trong bình

từ trên tay Bồ tát

rót trên sa mạc

thành biển xanh

mông mênh.

Bài này văn phòng chúng tôi đã dùng làm thiệp chúc Xuân năm 1977 với hai chữ Đại Bi viết theo lối cổ tự.

Những hàng đậu mới

tôi là tôi của đất

đt là đất của tôi

tôi gửi tôi cho đất

đt gửi đất cho tôi

nhng hạt đậu sáng nay

ny mầm thành những hàng dài

hai chiếc lá non chắp tay trên đầu

chào ánh sáng.

Phương Vân Am là nơi tĩnh cư của Thầy. Am này được tạo dựng từ năm 1970. Hồi đó Phái đoàn Phật giáo còn đặt trụ sở tại số 11 Rue de la Goutte d’Or, Paris, còn Thầy cư trú tại Maisons-Alfort. Một hôm ở tại văn phòng đường Goutte d’Or, tôi kể chuyện chuyến đi hội thảo của tôi tại vùng Massif Central do một nhóm trẻ bất bạo động người Pháp tổ chức, và nói đến cái nông trại của họ mới mua làm trụ sở mà giá tiền chỉ là năm ngàn quan Pháp hồi đó. Thầy nghe nói thì rất ưa, bởi vì lâu nay tại Maisons-Alfort Thầy chỉ trồng được rau thơm trong những chiếc chậu để ở cửa sổ. Một hôm, Thầy, chú Thanh Hương và tôi để trọn cả ngày đi về phương Nam phía rừng Othe để tiếp xúc với các văn phòng chuyển nhượng bất động sản, nhờ họ đi tìm giùm một nông trại nhỏ bỏ hoang mà chủ nhân muốn bán. Chúng tôi đi thăm khoảng mười bốn cái nông trại như thế, nhưng không ưng ý lắm; cái thì đắt, cái thì cuộc đất không được thanh thoát lắm. Cuối cùng, khi trời đã gần tối, chúng tôi tìm được Phương Vân Am trên một triền đồi, phong cảnh có vẻ thanh tú. Phía trước và phía sau đều có đồi núi, và vị trí không xa quốc lộ 60. Đó là một nông trại bỏ hoang từ lâu, mái đã dột, một phía tường của chuồng bò đã bị sập. Có chừng ba ngàn thước vuông đất, mỗi thước tính ra chỉ độ một quan. Cửa sổ và cửa chính hư hết, các bức tường đều phải làm lại. Cái nhà đã được xây dựng cách đó khoảng một trăm năm chục năm. Ông thân sinh của bác chủ garage trong làng, năm ấy bảy mươi mấy tuổi nói rằng ông đã được sinh ra trong nhà ấy. Chúng tôi mua nông trại với cách thức trả góp. Ở đây thường có sương mù, nhất là vào mùa thu và mùa đông. Có vẻ một vân thâm xứ, Thầy hay nói như vậy. Phương Vân cách Paris chưa đầy một trăm sáu mươi cây số về phía đông nam. Mỗi lần về đây, chúng tôi lo xây lại những bức tường, sửa lại cửa và cuốc đất trồng rau. Tham dự vào việc xây dựng lại Phương Vân có chú Thành, chú Hòa, chú Hương, anh Hải, Văn Phát, Laura và tôi. Ai cũng học trộn hồ và cầm bay. Năm 1972, thầy Huyền Quang có về ngủ một đêm tại đây, khi chúng tôi chưa có lò sưởi và giường ngủ. Thầy ngủ trên một tấm ván trải mền cho bớt lạnh. Thầy Nhất Hạnh rất ưa cuốc đất trồng rau; bác Sâm cứ ngỡ là Thầy chỉ làm đất theo lối tài tử, nhưng thật ra Thầy làm vườn giỏi lắm. Thầy đã học làm vườn từ hồi còn làm điệu ở Chùa Từ Hiếu. Thầy chỉ thua có chú Thành (Thiện Thắng) mà thôi, bởi vì chú Thành khỏe nhất trong đám chúng tôi. Ngò và cải của năm đầu lên rất tốt mà không cần bỏ phân gì hết. Tôi còn nhớ vẻ mặt hớn hở của mọi người khi hái hàng giỏ rau to tướng đầy những rau tần (cải cúc) và cải bẹ xanh bụ bẫm rồi hăm hở đi Paris định “bỏ mối” cho các hiệu thực phẩm Việt Nam. Thỉnh thoảng tôi vẫn ghé các hiệu này mua rau tần hay bẹ xanh. Một bó nhỏ xíu cũng phải ba quan. Chúng tôi nghĩ họ trả ít nhất cũng được một quan rưỡi tiền mua vào. Nhưng bà chủ hiệu săm soi bó rau và bảo chỉ có thể trả bảy mươi lăm xu một bó chúng tôi đã quyết định không bán nữa. Các bạn của phái đoàn tuy đông nhưng ở rải rác quá, làm sao mà đem tặng cho kịp trong ngày? Sau cùng chúng tôi quyết định ghé tất cả các nhà Việt Nam, các quán ăn Việt Nam nằm trên con đường về văn phòng, tặng mỗi nơi năm bó rau. Nét mặt của người nào cũng hớn hở khi nhìn những bó rau bụ bẫm, mơn mởn của Phương Vân. Nhà nào, quán nào cũng nài nỉ mời chúng tôi ở lại ăn cơm với họ. Laura cười quá mỗi khi nhắc đến lối “đầu tư” mới này, bởi vì nếu chúng tôi có giờ ngồi lại ăn cơm mỗi nhà, mỗi quán, thì chắc là tiền cơm mấy chị em đã cao hơn tiền bán rau nhiều.

Bài thơ trên đây là một trong những bài Thầy làm về chuyện trồng rau. Sáng hôm ấy, ra thăm vườn Thầy thấy những hàng đậu gieo đã lên và những hạt đậu đưa những chiếc lá non, chắp tay trên đầu sửa soạn chào ánh sáng. Có lần đi hội nghị xa trong mùa hè, uống cốc nước lọc, Thầy nhớ tới những luống rau ở Phương Vân và viết:

cốc nước lọc trên tay

nắng đã mấy hôm

ngoài ngàn dặm

my luống rau thơm

đi tôi về

tưới mát.

Wendy

tuyết ph đi Phương Vân

năm Rng va cht ti

tin mng vưt đi ơng

vưn nhà n hoa mi

thêm trm trong hương

lòng nh như mây khói

mi ngưi chp tay mng

trà thơm bèn rót li

mt tri ri s lên

hng oanh trong liu gi

gi gm nơi ơng lai

biết bao điều mong mỏi.

Năm ấy là năm Thìn, tại Phương Vân Am ăn Tết có Thầy, có anh Bính, hai cháu Hoài An Mai Linh, Mobi, Joe, Linda, Pierre, Neige, Philippe, Martine, Tuk và Krisana.

Cúng giao thừa và uống trà xong thì có điện thoại từ Hòa Lan tới cho biết bé Wendy mới chào đời. Wendy là con của Laura Hassler và Jim Forest, hai người học trò rất thân thiết của Thầy. Laura đã từng làm việc dịch thuật cho văn phòng chúng tôi trong một năm tròn, còn Jim là chủ bút của báo Fellowship ở Nữu Ước. Được tin này Thầy bảo pha thêm một bình trà mới để mừng Wendy.

Tôi thấy em nơi sân nghèo cô nhi viện

hai mắt của em buồn

chứa đầy tủi hận 

khi thấy tôi

em quay mặt nhìn nơi khác

bàn tay em vẽ những vòng tròn

loanh quanh trên mặt đất

tôi nào dám hỏi ba má em đâu

tôi nào dám khơi động nguồn mạch thương đau

tôi chỉ muốn chuyện trò chốc lát

cười nói đôi câu

ngi với em một phút

cho em i chút u su

đt nưc đau cùng s phn

em hãy m ming i

đ cho nhau hy vng

thế h các em

chưa đy năm tui trên đu

đã thy tan tành hoa mng

cuc đi xô v hung hãn cung bo

kh ly vì đâu

thế h chúng tôi kém hèn gây nên ng ni

lát na ri tôi đi

đ em li sân nghèo cô nhi vin

hai mt ca em bun

tôi đi

em tr v góc sân quen thuc

và ngón tay em li v nhng vòng

thương đau trên mt đt.

Mỗi khi đọc bài này tôi lại nhớ đến những năm 1957 – 1958 tôi hay đi thăm các em trong Cô nhi viện Thị Nghè. Tôi rất thương các em cô nhi nhưng không hiểu sao tôi cảm thấy như nghẹt thở mỗi khi đến cô nhi viện. Nếu một bà mẹ không thể nào thương yêu và chăm sóc chu đáo cho hai mươi đứa con của mình thì một nữ tu sĩ cũng khó mà có thể thương yêu chăm sóc bảy chục hay một trăm em cô nhi. Lần nào đi cô nhi viện về tôi cũng bâng khuâng buồn bã. Sau đó tôi bỏ cô nhi viện, đi làm việc tại các xóm ổ chuột tại thành phố, rồi đi làm Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội. Mãi đến năm 1973, sau khi hòa ước được ký kết tại Paris tôi mới có nhiều thì giờ lo cho các em. Càng suy nghĩ nhiều về vấn đề cô nhi, tôi càng hiểu rõ vì sao tôi vẫn có cảm giác khó thở khi vào các cô nhi viện. Cô nhi viện chỉ là sản phẩm của người Tây phương. Ngày xưa Việt Nam không có cô nhi viện và con mồ côi vẫn sống bên ông bà hay cô chú của chúng. Nếu mỗi cô nhi có được một số tiền trợ cấp hằng tháng để không là gánh nặng cho gia đình người bà con nuôi em thì em sẽ hạnh phúc khi ở với ông bà cô chú hơn là sống trong cô nhi viện. Tôi soạn thảo một dự án tìm người bảo trợ cô nhi, chịu cấp dưỡng tiền hằng tháng cho gia đình nuôi các em mà quá nghèo. Sau khi bổ túc và chấp thuận, Phái đoàn Phật giáo tại hải ngoại đã gửi dự án này về trình lên Ủy ban Tái thiết và Phát triển của Giáo hội. Trong dự án này, ngoài việc tạo điều kiện giữ các em lại dưới mái gia đình êm ấm của ông bà hay cô dì các em, chúng tôi còn đề nghị chẻ những cô nhi viện quá đông trẻ em ra thành nhiều tiểu gia đình để các em sống lại không khí ấm cúng của một gia đình nhỏ. Chúng tôi lập tại mỗi nước một tiểu ban để lo cho chương trình này. Nhiều người bạn trẻ người ngoại quốc quen thân với phái đoàn được mời vào các tiểu ban này để kêu gọi sự ủng hộ của người địa phương nước ấy. Bài thơ Tôi thy em nơi sân nghèo cô nhi vin vì vậy đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được các tiểu ban nói trên ấn hành rộng rãi. Cứ nước nào vừa lập xong tiểu ban lo cho cô nhi Việt Nam thì bài thơ này lại được ấn hành hàng ngàn bản bằng tiếng nước đó để gửi đi kêu gọi. Vào tháng 6 năm 1973, chúng tôi chỉ mới tìm ra bốn mươi gia đình bảo trợ cho bốn mươi cô nhi tại gia Việt Nam; vậy mà đến tháng hai năm 1975 chúng tôi đã tìm được 9.670 người để bảo trợ cho 9.670 cô nhi. Các ca sĩ như Joan Baez, Nana Mouskouri đã nhiều lần tặng tiền cho dự án này. Tại Paris và các tỉnh lớn ở Pháp, chúng tôi thường mời các nhạc sĩ danh tiếng như Graeme Allwright, Maxime Le Forestier, Claude Nougaro, Dick Annegan,… đến hát. Lần nào Pierre cũng năn nỉ thầy Nhất Hạnh lên đọc dùm bài thơ này trước khi nhạc hội mở đầu. Tôi và Pierre vẫn thường hay đi dán bích chương cổ động các nhạc hội vào khoảng tám giờ tối đến hai giờ khuya. Đêm nào về, tay chân của hai chị em cũng lạnh cóng vì băng giá. Thầy có nhắc tới chuyện này trong một bài thơ trong đó có những câu:

thương vơ a lon lc

Sen Vàng m gi khp tri Tây

t hoa nhc hi bng chiêng trng

xóm i thôn trên dán cht đy

gng mc đưng dây trăm x l

ân nghĩa bên tri mãi dng xây

Sen Vàng tức là báo Le Lotus của Phái đoàn Phật giáo Việt Nam tại Paris ấn hành trên giấy màu vàng bằng Anh ngữ và Pháp ngữ. T hoa đây là những tờ quảng cáo đại nhạc hội. Bé đây là các cô nhi.

Người trẻ làm việc cho chương trình này cũng khá đông. Pierre, Neige, Mobi, Hương và tôi làm việc toàn thời gian tại văn phòng phái đoàn. Thoa, Lội, Hoàng Anh, Hằng, Hải, Tính, Nga, anh Trương, anh Cao Thái giúp dịch hồ sơ tại nhà mỗi đêm vài giờ. Một số sinh viên khác đến giúp bất định kỳ, tùy theo khả năng. Huệ Châu và anh Hướng cũng lãnh về nhà hàng chồng hồ sơ cô nhi. Anh Hướng tuy là khoa học gia nhưng cũng là thi sĩ. Thơ anh đã được in thành hai tập từ hồi còn là sinh viên, và Lá Bối 1978 có ấn hành tập Ngày m v của anh, ký tên là Hoài Việt. Điều mà tôi ghi mãi trong lòng về hai người bạn này là anh chị luôn đặt mình vào thế đứng tôn trọng sự sống của con người và chống đối những bất công từ bất cứ hướng nào. Trong những ngày mà tiếng nói của lập trường này bị bóp chẹt nhất, Hướng và Huệ Châu lúc nào cũng sẵn sàng nói: “Có chúng tôi đây!”

Thế giới chúng ta

nắng trên ngói reo vui

và nắng trên bức tranh sáng nay đồng vọng

tôi chế nắng bằng mầu

nhờ mầu chuyển sức ấm

tiếng hát của loài chim sứ giả

sáng nay

nói rằng thế giới chúng ta

lại bắt đầu một chu kỳ tạo dựng.

Bài này có lẽ cũng được viết tại Paris năm 1967 trên đồi Montmartre vì chúng tôi cũng nhận được bài này trên bưu thiếp có hình xóm họa sĩ trên đồi Montmartre, Paris.

Dòng sông chiều và hồn đất

cây bờ sông

đường bờ sông

xanh lá

xanh trời

nóc giáo đường cao

hồn tháp ngủ yên chiều Chủ nhật.

nghe phảng phất

bơ vơ hồn đất

hi mùa tinh tú

xôn xao.

Bài này có lẽ được tác giả viết vào mùa hè năm 1967, bên bờ sông Seine, Paris vì từ Việt Nam chúng tôi nhận được bài thơ này trên một bưu thiếp có hình bờ sông Seine, Paris.

Buông thả

bãi vắng

mưa xóa dấu chân người

trên cát mịn.

não phiền từ đâu lại:

chân còn chưa chấm đất,

lắng nghe phảng phất gió mùa xuân.

Bài này chị Teo Savory dịch đăng lần đầu ở tạp chí Paintbrush, Hoa Kỳ (số 6, bộ III, năm 1976). Thầy nói mấy câu cuối cùng dịch không đúng ý Thầy: “não phiền vừa định bay lại nhưng chân chưa chấm đất thì nó đã bị gió mùa xuân thổi bay đi”, có lẽ dịch như vậy mới đúng.

Xin trả về cho non sông cho nhân loại cho đồng bào

bn đa em chết đêm qua

mt đa tên Hy

mt đa tên Tun

mt đa tên T

mt đa tên Lành

tôi xin cáo vi đng o, vi đt nưc,

vi các ch các anh.

bn đa con trai, đu còn rt xanh

hai năm trưc

cng nghe li tôi

ra đi, vào ng đt nưc

mong gieo rc tin yêu

xây dng hòa bình

xương các em xương tôi

tht các em tht tôi

xương tôi tan

tht tôi nát

na đêm chúng bt các em

đu trn chân đt

đi ti b ng

cng bt các em qu xung

cng hi

có phi thanh niên phng s xã hi kng

các em nói có

cng bn các em n qu bên b ng

cng bn tôi n qu bên b ng

có mt đng bào

có mt các ch các anh

máu ca các em, tôi xin tr v cho non ng

xương ca các em, tôi xin tr v cho non ng

máu xương đó trinh nguyên

chưa bao gi làm hoen ging Lc Hng

còn nhng bàn tay các em,

tôi xin tr v cho nhân loi

trái tim các em, tôi xin tr v cho nhân loi

nhng bàn tay kia chưa bao gi gây tàn hi

nhng trái tim kia t t u

chưa bao gi nhn gi u hn căm

 

còn da các em đây, xin gi tr v cho đng bào

các em chưa bao giờ chấp nhận

cảnh nồi da xáo thịt

xin hãy dùng những mảnh da của các em đây

mà vá lại

nhng đường rách, những vết cắt rướm máu

trên thân hình dân tộc thương đau.

Bài này đã được nữ ca sĩ Nadia Cattouse trình bày tại đại nhạc hội ngày 19 tháng 3 năm 1971 tại nhà hát Queen Mary Hall Luân Đôn. Bữa đó tôi được anh David Harrding, trưởng ban tổ chức đại nhạc hội, mời lên mở đầu nhạc hội bằng một bài hát Việt Nam. Tôi lựa bài Người già em bé của Trịnh Công Sơn. Giọng Nadia Cattouse bữa đó thật cảm động và diễn tả khá xuất sắc ý bài thơ. Tôi đã suýt chảy nước mắt khi nghe lại bài này, dù là bằng tiếng Anh. Sau đó trọn chương trình đại nhạc hội này được thu vào một đĩa hát. Tiền bán vé và bán đĩa hát đã được gửi về cho công tác xã hội của Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội ở nhà.

Phong trào Thanh niên Phụng sự Xã hội tuy chính thức được khai sinh năm 1965 nhưng kỳ thực đã được thai nghén từ khoảng 1960 – 1961. Hồi đó bọn sinh viên chúng tôi còn theo một lớp Phật học do thầy Nhất Hạnh hướng dẫn. Chúng tôi thao thức tìm cách thể hiện lý tưởng từ bi bởi vì chúng tôi nhận thấy từ bi là chất liệu căn bản trong nền đạo lý cổ truyền của dân tộc. Chúng tôi chọn những xóm nhà nghèo đói nhất tại thủ đô để làm môi trường hoạt động và hơn ba năm trời hoạt động chúng tôi nhận thấy chỉ có thể làm vơi bớt một ít khổ đau của đồng bào nghèo đói bệnh tật tại các môi trường đó mà không thể chuyển đổi được tình trạng của môi trường này. Chúng tôi thường họp hội thảo với nhau để tìm những phương thức mới. Đầu năm 1964, thầy Nhất Hạnh đề nghị một chương trình đặt trọng tâm vào sự phát triển cộng đồng hương thôn vốn là cơ bản của xã hội Việt Nam. Thực hiện chương trình này từ tháng Giêng 1964, chúng tôi bắt đầu thiết lập một số làng thí nghiệm mà chúng tôi gọi là làng hoa tiêu trong đó có hai làng Cầu Kinh và Thảo Điền không xa cách thủ đô mấy. Một năm sau đó, thấy kết quả của các làng hoa tiêu, chúng tôi thành lập Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội trong khuôn khổ Viện Đại học Vạn Hạnh. Khóa đầu, có tới trên một ngàn thanh niên, thiếu nữ và tăng ni trẻ tuổi ghi tên nhưng trường chỉ có thể thu nhận được ba trăm người. Một ngàn hai trăm gia đình Phật tử trên toàn quốc đã ký giấy ưng thuận đóng góp hằng tháng từ ba chục đồng đến một ngàn hai trăm đồng để chịu phần chi phí cho trường. Có những bà bán thuốc lá trên những vỉa hè thành phố, những cô dì bán rau cải ở chợ Cầu Muối mà cũng hoan hỉ đóng mỗi tháng ba mươi đồng cho các cô các cậu và quý tăng ni đi làm công tác xã hội giúp nước giúp dân. Đây là phong trào xã hội duy nhất tại miền Nam Việt Nam đã được nuôi dưỡng bằng tài chánh của quần chúng Việt Nam. Trường này không hề nhận tài trợ của Bộ Xã hội chính phủ Việt Nam Cộng hòa hoặc những chương trình xã hội được chính phủ Hoa Kỳ tài trợ. Năm nào trường cũng đào tạo thêm trợ tác viên tùy theo nhu yếu công tác địa phương và tài chánh của trường. Mãi đến năm 1968 khi số tác viên và trợ tác viên khá đông, trường mới bắt đầu nhận tài trợ của những hội đoàn nhân bản hòa bình ở hải ngoại. Các hội đoàn này hoàn toàn không dính líu gì đến những chương trình ủng hộ chiến tranh của chính phủ Hoa Kỳ và các nước liên hệ. Tới năm 1974, trường đã trở nên phần chủ lực trong Ủy ban Tái thiết và Phát triển Xã hội của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, hoạt động khắp trên lãnh thổ miền Nam. Các trung tâm định cư, làng hoa tiêu, làng tự nguyện, làng tái thiết được thực hiện khắp nơi. Số tác viên và trợ tác viên thực thụ của trường tuy có hạn nhưng nhân lực của các đoàn thể xã hội và thanh niên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại các tỉnh thị rất dồi dào. Từ 1972 trở đi, trường đã cộng tác với các cấp Giáo hội và do đó số người làm việc trong lĩnh vực tái thiết và phát triển xã hội của Phật giáo đã lên tới gần mười ngàn người. Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội được xây dựng trên lý tưởng cách mạng xã hội bất bạo động và chúng tôi đã thường tự nhắc rằng công tác xã hội của Phật giáo Việt Nam từ 1960 trở đi đã không còn có nghĩa là công tác từ thiện nữa mà đã mang màu sắc cách mạng xã hội bất bạo động và người làm công tác không phải là người ra thi ơn mà chỉ là người cộng tác với đồng bào để chuyển đổi tình trạng. V ì vậy cho nên sự hy sinh của các tác viên có thể được coi như là sự hy sinh của những chiến sĩ tranh đấu cho hòa bình chống lại ngu dốt, bịnh tật, nghèo đói.

Xin đứng bên nhau

Tng Thanh Văn

tôi kng hiu vì sao

tôi kng hiu đng cơ tâm nào

đã khiến nhng ngưi đng bào tôi

mang lu đn

ném vào các em tôi

tôi kng hiu vì sao có s xy ra

như thế đưc.

ti sao li giết các em

nhng ngưi con trai

trán còn ngây t

nhng ngưi con gái

tay còn lm mc hc t

nghe tiếng gi thương yêu

đã v đây

hc giúp xóm ng

gi gìn tr t

chăm sóc nương khoai vưn sn.

đêm qua nhng trái lu đn n

mưi hai ngưi sinh viên n gc

tan tành thân thiếu n

có em qun qui

mang sáu mươi mnh thép trong mt thân hình

có em đã nm yên i đt

ch T quc bình minh

đi hòa bình v mà hóa sinh thành cánh m.

cng tôi cn răng chp nhn

vì sao nhng qu lu đn đã n

tri quê hương đã rách

và đau thương cũng đã xy ra ri

nhưng còn trái lu đn đêm qua chưa n

kt trong ng đi

nghe tôi nói kng

còn trái lu đn đêm qua chưa n

trái lu đn

nm đó

trái lu đn

kt trong ng ngưi

chưa biết bao gi

n tung

nát tan thân T quc

nát tan hn dân tc.

 

cng tôi van xin

các anh hiu cho rng

cng tôi kng hn oán

cng tôi t khưc hn thù

thế gii chúng ta

T quc chúng ta

hôm nay cn tình thương trang tri

đến đây

xin nghe chúng tôi

gi pt cp ch ri

xin cùng nhau tháo g trái lu đn kia

ra khi cuc đi

ra khi ng đt nưc

ra khi tình ngưi

xin đng bên nhau!

 

Tôi không hiu vì sao…” Năm dòng đầu là lời của thầy Thanh Văn, Giám đốc Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội, trong một bài diễn văn đọc tại lễ cầu siêu cho những tác viên phụng sự xã hội bị kẻ lạ mặt tới thảm sát vào ngày 4 tháng 7 năm 1967 tại Bình Phước. Biến cố này đã xảy tới cho bốn tác viên Hy, Tuấn, Thơ, Lành. Họ bị bắn chết tại bờ sông Thủ Thiêm trong khi còn đang xúc tiến công việc phát triển cộng đồng tại xã Bình Phước tỉnh Bình Dương. Thảm trạng này xảy ra chỉ ba tháng sau khi những người lạ mặt đến tận Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội đêm 26 tháng 4 năm 1967 để giết tác viên của trường bằng lựu đạn. Mười hai người sinh viên đã gục ngã, người chết, người thì bị thương. Năm trước, sau khi thầy Nhất Hạnh lên đường xuất ngoại để kêu gọi hòa bình độ vài ngày, những người lạ mặt cũng đến tại khuôn viên trường và quăng lựu đạn làm cho Lê Văn Vinh vỡ óc và trở thành bán thân bất toại. Một trái lựu đạn đã được liệng vào phòng của thầy Nhất Hạnh. Không có mặt Thầy trong lúc đó, nhưng trái lựu đạn đã bị cái màn cửa hắt trở ra và nổ ở ngoài. Có một trái lựu đạn không nổ.

Tất cả ba vụ án mạng này đã được chính quyền điều tra, nhưng chính quyền không bao giờ công bố kết quả của cuộc điều tra cả. Trường cũng đã tiến hành riêng công cuộc điều tra của mình và sau đó không lâu, đã biết được thủ phạm thuộc về nhóm Công giáo quá khích dựa thế quân đội và chính quyền địa phương. Họ nghi ngờ Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội có khuynh hướng thiên tả và làm “công cụ cho Cộng sản”. Thật ra, đó là một thiểu số Công giáo thù ghét Phật giáo về vụ lật đổ chính quyền ông Diệm là nơi nương tựa của họ. Mỗi lần trường bị thảm sát như thế là thầy Thanh Văn lại tuyên bố: “Chúng tôi tin rằng quý vị đã hiểu lầm chúng tôi. Chúng tôi không theo một phe phái chính trị nào, chỉ đứng thuần túy trên lập trường nhân bản mà phụng sự”. Sau nhiều lần như thế, sự thảm sát đã dừng lại. Đó là nhờ thái độ bất bạo động không chịu thù ghét của trường; có thể cũng nhờ sự kiện chính quyền và những kẻ khác (như chúng tôi) đã biết ai là thủ phạm.