Xuân Đất mẹ Trời cha

Sư Bá Giác Viên

Sáng trăng dì sáng cả nhà
Hiểu thương khắp chốn thuận hòa về đây
Nước non muôn thuở sum vầy
Nuôi nhau tỉnh thức đêm ngày lạc an
Bây giờ lai khứ thanh nhàn
Đi vào đất mẹ vén màn sân si
Cao xanh mưa nắng có khi
Thảnh thơi im nói duy trì chẳng lơi
Rừng lộc biếc suối hoa tươi
Khai thêm suối phúc vun bồi gốc may
Ngân hà gởi sáng cho hay
Muôn loài cành nhánh cùng cây thân tình
Tùy duyên hiện chẳng diệt sinh
Thong dong đi đến mọi miền có nhau
Qua rồi ý niệm trước sau
Qua rồi chân vọng bỏ cầu từ nay
Đơn thuần biết cái đang này
Nâng niu trần thế cho tày rong chơi
Bây giờ rõ mặt ca lời
Thở đi đất mẹ cha trời thở đi.

Thái Lan 18/12/2013

Trăng sao là tâm thức – ta là trăng sao

Thiền sư Nhất Hạnh
Tóm lược những ý chính của Khóa tu Mùa Đông 2013 – 2014

Tải bài này về.PDF

Thầy giảng Duy BiểuTừ Thức thân đến Tàng thức

Sự hình thành của nền văn học Abhidharma bắt đầu bằng công trình góp nhặt những danh từ Phật học và giải thích những danh từ ấy theo pháp số với mục đích là làm sáng tỏ nghĩa lý của những danh từ ấy, nghĩa lý đây là nghĩa lý của giáo pháp. Công việc này bắt đầu vào khoảng một trăm năm trước và sau Tây lịch. Tiếp theo đó là công trình hệ thống hóa giáo lý đạo Bụt mà kinh tạng chuyên chở. Giáo lý của Bụt nằm rải rác trong kinh tạng chứ chưa được hệ thống hóa. Những tác phẩm Abhidharma tới sau vài trăm năm đều có chủ đích hệ thống hóa giáo lý. Ta có thể nói Abhidharma là systematic dharma, Phật pháp hệ thống hóa. Khuynh hướng phân tích và giải nghĩa này rất mạnh, và các tác giả cứ nghĩ là càng phân tích thì càng làm cho cái hiểu về giáo lý ấy sâu sắc hơn. Hơn hai mươi bộ phái của Phật giáo, bộ phái nào cũng có những tác phẩm Abhidharma của mình. Còn giữ lại được nguyên vẹn là Abhidharma của hai bộ phái Sarvastivāda và Vibhājivàda (Hữu Bộ và Phân Biệt Thuyết Bộ). Hữu Bộ đóng đô ở Kashmir cả ngàn năm, còn Phân Biệt Thuyết Bộ truyền xuống Tích Lan và lấy tên Thượng Tọa Bộ trở lại, đó là bộ phái Theravada. Văn học Abhidharma của hai bộ phái này giàu có nhất là vào khoảng thế kỷ thứ năm Tây lịch.

Tác phẩm Đại Tỳ Bà Sa Luận (Mahavibhāsasastra) của Hữu Bộ là một tác phẩm vĩ đại phân tích và khai triển tới mức tối đa giáo lý của đạo Bụt, là một tác phẩm tập đại thành của giáo lý ấy. Truyền thuyết cho rằng vào thời đại vua Kanishka, Hiếp tôn giả (Pārsva) đã triệu tập 500 vị A La Hán làm việc chung tới mười hai năm mới hoàn thành được tác phẩm này. Ngoài công việc chú thích Phát Trí Luận và hệ thống hóa chủ trương của Hữu Bộ là “tam thế thật hữu, pháp thể hằng hữu”, Tỳ Bà Sa Luận cũng đã đem những chủ trương của các bộ phái khác ra phê bác, trong đó có những chủ trương của Đại Chúng Bộ, Pháp Tạng Bộ, Hóa Địa Bộ, Ẩm Quang Bộ, Độc Kể Bộ, Phân Biệt Thuyết Bộ… và phê  bác luôn các chủ trương bên ngoài Phật giáo như Số luận, Thắng luận, Thuận Thế luận và Kỳ Na giáo. Công việc này của Hữu Bộ đã ảnh hưởng tới đạo Bụt Đại thừa, và từ đó nền văn học Abhidharma của Đại thừa bắt đầu xuất hiện với các kinh luận có khuynh hướng pháp tướng học. Do đó nền Phật giáo Du Già đã ra đời, với những luận gia cự phách như Vô Trước và Thế Thân… Kinh Đại thừa A Tỳ Đạt Ma (Mahayanābhidharma sūtra) tuy bây giờ không còn nhưng đã được nhiều bộ luận của phái Du Già trích dẫn.

Đại Tỳ Bà Sa Luận phân tích và khai triển quá rộng lớn nên giới học giả cảm thấy choáng ngợp, vì vậy nên sau đó đã có những tác phẩm Abhidharma ngắn gọn ra đời vì nhu yếu của giới học giả trẻ. Câu Xá Luận (Abhidharmakōsasastra) của Thế Thân là một tác phẩm sáng giá nhất trong số những tác phẩm Abhidharma thu gọn đó. Nhưng khi biên tập Kōsa, Thế Thân đã chịu ảnh hưởng nhiều của Kinh Lượng Bộ, vì cũng đã bắt đầu bị ảnh hưởng Phật giáo Đại thừa. Người anh của thầy là Asanga (Vô Trước) đã sáng tác Nhiếp Đại Thừa Luận. Đây là một tác phẩm Abhidharma của Đại thừa, trong đó thức Alaya được nêu ra như căn bản và nguyên ủy của hiện hữu. Ngay trong chủ trương của Hữu bộ đã có thức thân, tương đương với Tàng thức. Từ ngữ thức thân đã có sẵn trong kinh (A Hàm, kinh 298) và đã được thầy Devaśarman (Đề Bà Thiết Ma) của học phái Hữu Bộ khai triển trong tác phẩm A Tỳ Đạt Ma Thức Thân Túc Luận (Abhidharmavijñanakāyapādasastra).

Trăng sao là Tâm Thức

Chức năng của Tàng là nắm giữ, nắm giữ tất cả những công năng (chủng tử, hạt giống) đã, đang và sẽ biểu hiện thành thế giới, vũ trụ, các chủng loại của sự sống (thân căn) và môi trường của những chủng loại ấy (khí thế gian). Biểu hiện để được nhận thức. Tàng là tâm thức, vì vậy đối tượng của Tàng là vũ trụ. Thế giới, mạng sống và môi trường sống cũng đều là tâm thức. Trăng sao là tâm thức. Ta cũng là trăng sao. Những gì mà ta nhận thức được qua giác quan và ý thức đều là Tàng. Nhận thức ấy có chính xác hay không, đó là vấn đề.

Đạo Bụt Đại thừa có nói tới ba loại duyên khởi: chân như duyên khởi, pháp giới duyên khởi và A lại gia duyên khởi.

Chân như duyên khởi là tất cả vạn hữu đều biểu hiện từ tự thân thực tại (chân như, tiếng Phạn là tathatā, suchness), cũng như tất cả các đám mây trên trời đều từ đại dương mà biểu hiện. Nhìn kỹ vào các đám mây ta thấy đại dương. Không có đại dương thì không có mây. Đây là liên hệ hiện tượng với bản thể.

Trăng sao là tâm thức - ta là trăng saoPháp giới duyên khởi là tất cả các hiện tượng nương vào nhau mà biểu hiện. Như mây, tuyết, mưa, băng, hơi nước, v.v.. đều nương vào nhau mà tiếp tục có mặt. Đây là liên hệ hiện tượng với hiện tượng. Có thể nói chân như duyên khởi là liên hệ chiều dọc, còn pháp giới duyên khởi là liên hệ chiều ngang. Pháp giới có nghĩa là lĩnh vực của các hiện hữu, nghĩa là các pháp.

A lại gia duyên khởi là tất cả mọi hiện tượng đều phát xuất từ Tàng thức. A lại gia duyên khởi cũng giống như chân như duyên khởi: đây cũng là liên hệ chiều dọc giữa hiện tượng và bản thể. Nhưng A lại gia duyên khởi có khác với chân như duyên khởi ở chỗ A lại gia được nghĩ tới như tâm thức và đối tượng của tâm thức. Trong ánh sáng của Duy Biểu học thì chân như (thực tại tối hậu) cũng là tâm thức mà không phải là một cái gì có mặt ngoài tâm thức. A lại gia cũng có thể được ví dụ cho đại dương, tổng thể của tất cả các công năng, hạt giống, làm biểu hiện ra tất cả các đám mây trên trời, đại diện cho tất cả năm uẩn, mười hai xứ và mười tám giới. Các pháp nương vào nhau mà biểu hiện, đó là pháp giới duyên khởi: các pháp đều được biểu hiện từ kho chủng tử của A lại gia, đó là A lại gia duyên khởi.

Chủng tử biểu hiện nên hiện hành. Hiện hành nghĩa là các hiện tượng đang lưu hành. Hiện hành chính là các hành (formations, samskāra), những hiện tượng do nhân duyên tập hợp mà biểu hiện, như núi sông, bông hoa, cây bưởi, v.v.. Vì do duyên khởi mà biểu hiện, các hành không có tự tánh (svabhava) riêng biệt, không thực sự là có mà cũng không phải là không, cho nên bản chất các hành là không có cũng không không. Những hiện tượng như ngã pháp vì không có thực thể cho nên được gọi là những giả thiết (upācara), những biểu tượng, những ước lệ (conventional designations). Bản chất của chúng là trống rỗng, là không (sunyāta). Ý này đã được thầy Thế Thân nói ra ngay trong bài tụng đầu của Ba Mươi Bài Tụng Duy Biểu. Tuy không có thực thể, tuy là không, nhưng các hành ấy rất mầu nhiệm, kể từ mây bạc trăng vàng cho đến năm uẩn, tất cả đều là những biểu hiện của pháp thân, không diệt không sinh, không nhiễm không tịnh. Chỉ có Mạt na và Ý thức vì còn là hữu phú cho nên mới thấy chúng là những cái ngã và những cái pháp có tự tính riêng biệt mà thôi.

Đối tượng của Tàng là chân như

Đối tượng của Tàng là Tánh Cảnh, nghĩa là bản thân của thực tại. Như vậy Tánh Cảnh đã là chân như. Duyên được chân như thì Tàng không thể là vọng thức được, vì vậy Tàng được gọi là vô phú (không bị che lấp – bởi tri giác sai lầm). Cũng vì lý do này mà Tàng không cần được chuyển hóa. Nói rằng ai đạt tới quả A la hán thì không còn Tàng nữa là không đúng. “A la hán vị xả” chỉ nên có nghĩa là vị A la hán thấy được Tàng là Tàng thực sự, và không còn thấy Tàng là một cái ngã hay những cái thuộc về ngã. Sự chuyển hóa ở đây không phải là sự chuyển hóa của Tàng mà là sự chuyển hóa của các chuyển thức, là Mạt na, Ý thức và Năm thức cảm giác. Tàng nhờ có chân hiện lượng nên duyên trực tiếp được Tánh Cảnh, và vì vậy Tàng luôn luôn tương ưng với tâm sở Tuệ. Tàng duy trì kinh nghiệm, đối tượng của Tàng cũng là ký ức, là kho nhớ, có khả năng bảo trì và truy cập tư liệu ở kho nhớ, cho nên Tàng luôn luôn tương ưng với tâm sở Niệm. Tàng là mảnh đất nơi đó được chôn vùi các công án thiền và có thể hiến tặng hoa trái của đốn ngộ, cho nên Tàng cũng tương ưng với tâm sở Định. Tàng không rơi vào tình trạng tán loạn như Ý thức cho nên luôn có Định. Theo Thượng Tọa Bộ, trong các tâm hành biến hành có cả Định và Mạng Căn.

Tàng là dị thục, là khả năng duy trì sự sống, bảo đảm sự tiếp nối của dòng sinh mạng, cho nên Tàng cũng luôn luôn tương ưng với tâm sở Mạng Căn, bởi vì Mạng Căn là sức sống, là động cơ của kết sinh tương tục.

Thành Duy Thức (cuốn III) nói rằng Tàng có hai địa vị: hữu lậu và vô lậu. Ở địa vị hữu lậu thì tánh vô ký và chỉ tương ứng với năm tâm sở biến hành, còn chức năng chỉ là nắm giữ chủng tử, căn thân và khí thế gian. Ở địa vị vô lậu, Tàng bỏ tánh vô ký, trở nên Thiện, do đó ngoài 5 tâm sở biến hành thì Tàng còn tương ưng với 11 tâm sở Thiện, và chức năng là lấy tất cả các pháp làm cảnh sở duyên. Nói như thế là không đúng. Tàng trong hiện tại đã duyên được với Tánh Cảnh, với chân như rồi, với tất cả các pháp rồi, vì nó là nơi sở y của tất cả các pháp (nhất thiết pháp đẳng y). Là vô phú, nó đã là tuệ giác viên cảnh có công năng chiếu soi rồi. Nó vô ký là đã vượt thoát những ý niệm thiện ác, nhiễm tịnh, có không, còn mất, hữu lậu và vô lậu rồi. Bây giờ kéo nó xuống, liệt nó vào phạm trù thiện để đối lập với ác, liệt nó vào phạm trù vô lậu để đối lập với hữu lậu, tức là mình đã đánh mất cái tuệ giác vô phú vô ký về Tàng. Đó là một bước thụt lùi chứ không phải là một bước tiến. Trăng sao mầu nhiệm như thế, không thiện cũng không ác, không nhiễm cũng không tịnh, không hữu lậu cũng không vô lậu, bây giờ mình bắt trăng sao đứng vào hàng ngũ của những cái thiện, những cái tịnh, những cái vô lậu, thì há chẳng tội nghiệp cho trăng sao lắm không?

Có lần Tuệ Trung Thượng Sĩ được hỏi “Pháp thân thanh tịnh là gì?”, ông đã nói: “Vào ra vũng nước trâu / nghiền ngẫm đống phân ngựa”. Đã là pháp thân rồi thì không thể nói là tịnh hay là nhiễm được. Tàng là vô ký, Tàng không mang các danh hiệu hữu lậu và vô lậu nữa. Những danh hiệu ấy đều là những tạo tác của Ý thức.

Các pháp đều siêu việt có không

Trong kinh Ca Chiên Diên (Tạp A hàm, 301), Bụt nói với thầy Ca Chiên Diên (Kātyāyana) rằng cái thấy chính xác (chánh kiến) vượt thoát hai ý niệm có và không. Đối tượng của Tàng là Tánh Cảnh. Tánh Cảnh là thực tại tối hậu. Vậy thực tại này không thể được nhận thức qua hai khái niệm có và không, thiện và ác, nhiễm và tịnh. Đây cũng là cái thấy của Tâm Kinh Bát Nhã. Do đó những chủng tử mà Tàng duy trì cũng cùng một bản chất với Tàng, không thiện không ác (vô ký), không nhiễm không tịnh, không một cũng không nhiều, không sinh không diệt, không chung cũng không riêng. Những đặc tính của các chủng tử vì vậy có thể được liệt kê như sau:

1. Sát na vô thường (thay vì sát na diệt)

2. Quả câu hữu (quả đi sát liền với nhân, không thể lấy nhân ra khỏi quả)

3. Hằng tùy chuyển (tuy sát na vô thường và vô ngã nhưng vẫn có sự tương tục)

4. Tánh vô ký (thay vì tánh quyết định)

5. Đãi chúng duyên (dựa vào nhau để biểu hiện)

6. Không có không không

7. Không trong không ngoài

8. Không cũ không mới

9. Không nhiễm không tịnh

10. Không một không khác

11. Không tới không đi

12. Không chung không riêng

Tính cách dẫn tự quả của Duy Biểu cổ điển không được chấp nhận ở đây vì nó chỉ có giá trị ước lệ (conventional). Trong ánh sáng duyên sinh, di truyền học và tánh vô ký (tánh vô ký cũng là tánh hữu cơ) thiện, ác, nhiễm, tịnh đều là hữu cơ.

Quả câu hữu là một trong những đặc tính của các chủng tử. Đám mây tuy là đám mây nhưng vẫn là hơi nước từ đại dương bốc lên. Trong đám mây có đại dương, trong quả có nhân, và trong nhân đã có sẵn quả. Mỗi hiện lượng trong uẩn, xứ và giới đều mang theo chân như, cũng như mọi đám mây đều mang theo đại dương.

Trong số sáu đặc tính của chủng tử mà luận Thành Duy Thức nói tới, có hai đặc tính cần phải xét lại: đó là tính quyết địnhdẫn tự quả, vì những đặc tính này chỉ có được trên bình diện thế tục đế.

Các đặc tính sát na diệt, quả câu hữu, hằng tùy chuyển và đãi chúng duyên là những đặc tính cần giữ lại bởi vì chúng rất phù hợp với giáo lý căn bản của đạo Bụt. Sát na diệt là vô thường. Đã là vô thường thì phải vô ngã. Các pháp tuy là vô thường, sát na diệt, và vô ngã, nhưng chúng không phải là những hiện tượng rời rạc không nối tiếp nhau, cũng như những hạt hạ nguyên tử luôn luôn kết hợp với nhau để tạo thành những dòng hiện tượng. Do đó hằng tùy chuyển là một đặc tính quan trọng. Hằng tùy chuyển có nghĩa là tuy không phải là những cái ngã tách rời nhau, nhưng các hiện tượng có khả năng tiếp tục nhau như một dòng chảy (continue as a series).

Dòng chảy này được gọi là dòng tương tục (samtati). Dòng chảy có thể cho ta cái cảm giác là có một cái gì thường tại, bất biến, một cái ngã, nhưng nếu nhìn sâu thì tất cả đều sát na diệt, vô thường và vô ngã. Quả câu hữu, như ta đã biết, cho ta thấy sự thống nhất giữa nhân và quả, nhân và quả không thể được tách rời nhau mà có mặt, đó cũng là một đặc tính rất căn bản của chủng tử. Đãi chúng duyên cũng là một đặc tính thiết yếu khác của chủng tử. Các chủng tử cần có đủ điều kiện mới có thể biểu hiện để được nhận thức như những hiện hành, trong những điều kiện ấy có tăng thượng duyên và đẳng vô gián duyên.

Chủng tử trong Tàng cũng vô ký như Tàng

Tánh quyết định là một trong hai đặc tính cần phải xét lại. Bản chất của các chủng tử của A lại gia, theo nguyên tắc, cũng vô ký như A lại gia mới được, nghĩa là không thiện cũng không ác. Vậy tự tính của các chủng tử phải vượt ra khỏi vòng thiện ác, nghĩa là phải vô ký. Đối tượng của Tàng đã là chân như, là Tánh Cảnh, thì bản chất của Tàng không thiện cũng không ác, không nhiễm cũng không tịnh.

Thành Duy Thức Luận của thầy Huyền Trang định nghĩa vô ký như sau: Chữ ký (vyākrta) có nghĩa là tính chất được quyết định là thiện hay là ác. Thiện ác được nhận thức trên căn bản nó tạo ra cái khổ hay cái vui, cái dễ chịu hay cái khó chịu: các pháp có thể được phân biệt. Vì Tàng không phải thiện hoặc ác cho nên nó được gọi là vô ký.

Luận Đại Tỳ Bà Sa có nói tới năm loại tương tục: trung hữu tương tục, sinh hữu tương tục, thời phần tương tục, pháp tính tương tục và sát na tương tục. Pháp tính tương tục được định nghĩa là cái thiện có thể do điều kiện chi phối mà trở thành cái ác hay cái vô ký, cái vô ký do điều kiện nên có thể trở thành  cái ác hay cái thiện, cái ác do điều kiện mà có thể trở thành cái vô ký hay cái thiện. Theo định nghĩa này thì tánh, cũng như bất cứ pháp nào khác, là vô thường, là có thể biến dị, cho nên không thể nói tính chất của chủng tử là tánh quyết định được. Còn tàng thì được định nghĩa là vô ký. Do nó vô ký cho nên các chủng tử cũng đều vô ký. Những khái niệm nhiễm tịnh, thiện ác, hữu vô là những ý niệm của Ý thức, trong khi tự tính của Tàng là siêu việt mọi ý niệm nói trên. Ý thức đóng vai người gieo trồng (huân tập). Những hạt giống nào (như lúa gạo) cần thiết cho sự sống thì Ý thức chuyên gieo trồng. Và những hạt giống ấy được gọi là thiện. Còn những hạt giống nào (như cỏ dại) không cần thiết cho sự sống thì Ý thức không gieo trồng, và những hạt giống ấy được gọi là ác. Đây cũng là định nghĩa của thiện và ác trong Thành Duy Thức Luận khi nói về vô ký (quyển 3). Đặc tính thứ ba của chủng tử thay vì là tánh quyết định phải là tánh vô ký.Và vì vô ký cho nên chúng có tính hữu cơ, có thể trở nên, trên bình diện thế tục đế, thiện hay ác.

Đã thế, bản chất của Tàng lại không sinh, không diệt, không có, không không, không thêm không bớt, không tới không đi, không một và không khác. Những ý niệm đối lập này chỉ có nơi các chuyển thức mà không có nơi Tàng. Nói tự tính các chủng tử là sát na diệt chẳng có nghĩa là các chủng tử có sinh và có diệt. Các chủng tử là vô thường, là hằng tùy chuyển nhưng không thực sự có sinh và có diệt. Cũng như nguyên tắc đầu của nhiệt động học là nguyên tắc bảo tồn năng lượng cho ta biết là bản tính của vật chất và năng lượng (matter + energy) là không sinh không diệt, không thêm không bớt. Ba chữ sát na diệt cần được hiểu là các chủng tử có tính cách sát na vô thường và do đó cũng có tính cách nhất kỳ vô thường. Nhất kỳ vô thường chính là hằng tùy chuyển (tương tục) vậy.

Tàng tương ứng với các tâm sở biệt cảnh

Nếu Tàng trực tiếp nhận thức được Tánh Cảnh, nếu đối tượng của Tàng đã là Chân như và Pháp giới tính thì chắc chắn Tàng cũng tương ứng với tâm sở Tuệ của năm tâm sở biệt cảnh. Nếu đã tương ưng với Tuệ thì Tàng cũng tương ứng với Niệm và Định, vì chính Niệm, Định đưa tới Tuệ. Bên Thượng Tọa Bộ, trong các tâm sở biến hành có thêm nhất tâm (định) và Mạng Căn (jivitā). Vậy ta có thể nói rằng ngoài xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư, Tàng còn làm việc với dục, thắng giải, niệm, định, tuệ, và Mạng Căn. Mạng Căn (vitality) không phải là một pháp bất tương ưng với tâm như trong danh sách 100 pháp của Pháp Tướng Tông. Nó là sức sống, là động lực của ý chí muốn sống. Tàng có nhiệm vụ duy trì sự sống trong căn thân, nghĩa là cơ thể, và cả trong khí thế gian, nghĩa là môi trường sinh hoạt của căn thân, tức là hoàn cảnh, là thiên nhiên… Ý thức có khi gián đoạn, không làm việc, ấy vậy mà sự sống vẫn được duy trì nơi cơ thể. Đó là một trong những chức năng của Tàng. Tàng duy trì sự sống và làm nền tảng cho sự phát hiện trở lại của ý thức. Với hệ thần kinh tự trị, giao cảm và phó giao cảm, Tàng làm ổn định được tình trạng thăng bằng trong cơ thể để cơ thể có thể thích ứng luôn luôn được với hoàn cảnh. Đó là chức năng hằng định nội môi (homeostasis) mà sinh học nói đến. Điều hòa hơi thở, điều hòa nhịp tim và sự tuần hoàn của máu, điều hòa bộ máy tiêu hóa, tiết mồ hôi, tăng nhiệt độ v.v.. đều là những hoạt động vô thức, tất cả những hoạt động ấy đều được yểm trợ bởi tâm sở Mạng Căn, tức là ý chí muốn sống. Đói thì muốn ăn, khát thì muốn uống, bản năng sinh tồn và tiếp nối chủng loại, tất cả đều có liên hệ tới tâm sở Mạng Căn. Tất cả những tâm sở ấy, đều vô phú và vô ký như Tàng, không thể nói chúng là thiện hay là ác, nhiễm hay là tịnh. Thiện ác nhiễm tịnh là những phân biệt của các chuyển thức, chứ không phải là mối quan tâm của Tàng.

Dị thục từng phút giây

Bài tụng thứ 19 của Tam Thập Tụng nói rằng khi dị thục trước đã hết thì những dị thục sau được sinh. Điều này có thể gây hiểu lầm và khiến người ta nghĩ rằng Tàng (dị thục) là một cái Ngã, có khả năng duy trì tính đồng nhất của mình trong suốt một kiếp sống. Nếu Tàng hằng chuyển như một dòng sông, nếu các chủng tử là sát na vô thường thì dị thục cũng thế. Có hai thứ vô thường: sát na vô thườngnhất kỳ vô thường. Nhất kỳ đây không nhất thiết phải là một kiếp sống. Khi em bé tới tuổi dậy thì, nó đã là một dị thục mới. So sánh một thiếu niên vị thành niên vào tuổi dậy thì với hình ảnh nó mười năm về trước ta thấy rất khác. Em bé ngày xưa có vẻ như đã chết để cho vị thiếu niên này sinh ra. Vì vậy dị thục có thể xảy ra nhiều lần trong một kiếp sống. Thanh niên khác với thiếu niên, trung niên khác với thanh niên, lão niên khác với trung niên. Nhìn cho kỹ ta có thể thấy dị thục xảy ra trong mỗi phút giây. Có những trái trên cây đã chín, nhưng có những trái còn xanh, và có những trái mới tượng hình. Đám mây có thể chỉ trở thành mưa một phần mười, còn chín phần mười vẫn còn giữ hình thái mây. Dị thục này chưa hết mà đã có dị thục khác sinh ra rồi. Đám mây có thể nhìn xuống và thấy sự tiếp nối của mình dưới hình thức một con suối, một tảng băng hay một trận mưa tuyết. Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương Bụt có nói mạng người không phải là một trăm năm mà là một hơi thở. Đó là sát na vô thường, sát na dị thục. Cho nên ở trong Năm Mươi Bài Tụng Duy Biểu đã có câu “Dị thục tùng phút giây” (bài tụng thứ 35).

Tình Thức

lá thuNếu Tàng là Căn Bản Thức, là Nhất Thiết Chủng Thức, là nền tảng của tất cả vạn pháp, ôm lấy mọi hạt giống, mọi biểu hiện từ căn thân đến vũ trụ, thì Mạt na là Tư Lượng Thức, ngày đêm âm thầm nắm lấy một phần của Tàng cho đó là chính mình, cho đó là một cái ngã. Ta có thể gọi Mạt na là Tình Thức, để phân biệt với Bản Thức tức là Tàng Thức. Đó là những danh từ do thầy Huyền Trang sử dụng trong tác phẩm Bát Thức Quy Củ Tụng. Tình Thức trước hết là ý chí muốn sống, là bản năng tự tồn. Hạt giống này đã có sẵn nơi Tàng: đó là Mạng Căn, là ý chí duy trì sự sống, là ước muốn được tiếp tục như một dòng chảy. Tàng cũng là một dòng chảy. Thân Kiến là cái thấy của Tình Thức. Thân kiến, satkāyadŗsti, nghĩa là cái nhận thức cho rằng hình hài này là tôi, là của tôi. Hình hài này, cùng với bốn uẩn khác là thọ, tưởng, hành và thức là một phần của Tàng, là một phần của tướng phần (sở duyên) của Tàng. Tuy hình thái nhận thức của Tình Thức (từ đây ta có thể gọi tắt là Tình) cũng là hiện lượng, nhưng đây không phải là chân hiện lượng, mà là tợ hiện lượng, nghĩa là một trực giác sai lầm. Nơi tướng phần của Tàng, năm uẩn là những mầu nhiệm của sự sống, là một phần của pháp thân, nhưng dưới nhận thức của Tình nó là một cái ngã, một cái sở hữu của ngã. Mạt na, dịch tiếng Anh là mentation hay cogitation, cũng có nghĩa là tư lương. Cái thấy của Tình bị che lấp, vì Tình không với tới được bản thân thực tại (Tánh Cảnh, hoặc tự tướng Svalakśana) mà chỉ tạo dựng ra một đối tượng cho chính mình, không phải là bản thân thực tại, mà là một hình ảnh sai lầm về thực tại, tuy có dựa vào thực tại. Đối tượng ấy là Đới Chất Cảnh, không phải Tánh Cảnh. Đới Chất nghĩa là có mang theo một ít bản chất của thực tại mà không hẳn chính là bản thân của thực tại. Đó là một tạo tác của tâm ý (mental construction). Năm uẩn mà Tình nắm lấy cho là Ngã không phải là tự thân năm uẩn mà là một hình ảnh năm uẩn được tạo tác ra do nhận thức chủ quan sai lầm (tợ hiện lượng – một thứ phi lượng). Phi lượng là nhận thức sai lầm. Cho nên Tình là hữu phú (bị che lấp) mà không phải là vô phú như Tàng. Tư lương (tư duy, nhận thức) của Tình là: cái này là ta, cái kia không phải là ta, ta phải lo cho ta trước đã, ta phải bảo hộ cho ta trước đã. Trên căn bản nhận thức đó, Tình có thể đi rất xa trên con đường hữu phú: chỉ có khuynh hướng đi tìm lạc thú mà không biết được những hiểm nguy do lạc thú đem lại, chỉ biết trốn chạy khổ đau mà không biết rằng khổ đau có công năng giúp mình nhận diện được hạnh phúc và chế tác được năng lượng hiểu và thương vốn là nền tảng của hạnh phúc đích thực. Tình cũng không thấy được cái nguy hại của sự hưởng thụ không có chừng mực, trong khi Tàng và Ý thức thấy được cái sự thực ấy.

Ham sống sợ chết, đó là tính của Mạt na, và đây cũng là một khuynh hướng bẩm sinh (câu sinh), có cơ sở nơi Tàng, bởi vì Tàng có chức năng duy trì sự sống và hoạt động thường xuyên với tâm sở Mạng Căn. Tham sống sợ chết là Mạt na mà ý muốn đi tự tử cũng là Mạt na, bởi vì Mạt na cũng có khuynh hướng chạy trốn khổ đau. Khi khổ đau tràn ngập thì năng lượng trốn chạy khổ đau sẽ mạnh hơn cả năng lượng ham sống sợ chết. Nhưng ở trong Tàng cũng có cơ sở cho một loại tuệ giác gọi là Vô sinh, có khả năng thấy được tính không sinh không diệt, không tới không đi, không có không không của vạn pháp. Nếu tu tập quán chiếu cho thấu đáo, Ý thức có thể đạt được cái thấy này và lấy bớt đi cái sợ hãi và cái lo lắng của Mạt na. Chính cái lo lắng sợ hãi ấy, cái khuynh hướng ham sống sợ chết ấy là chất bùn có thể được sử dụng để nuôi lớn đóa sen tuệ giác Vô sinh. Mạt na và tuệ giác Vô sinh là một cặp tương đãi đi đôi với nhau, dựa vào nhau mà biểu hiện, như trên và dưới, trái và phải, trong và ngoài. Có Mạt na là đã có Vô sinh trí, dù trí này chưa biểu hiện toàn vẹn.

Tướng phần của Tình Thức

Các vị luận sư Duy Biểu không đồng ý với nhau về đối tượng của Tình. Thầy Nan Đà (Nanda) cho rằng sở duyên của Tình là tự chứng phần của Tàng. Ông nói tự chứng phần hoặc tự thể phần (svabhāvabhāga) của Tàng là đối tượng của Mạt na, là ngã, trong khi các tâm sở tương ưng với Tàng là ngã sở. Thầy Hỏa Biện (Citrabhānu) thì nói Mạt na lấy kiến phần của Tàng làm ngã, và lấy tướng phần của Tàng làm ngã sở. Thầy An Huệ (Sthiramati) thì nói Mạt na lấy Tàng làm ngã và tất cả các chủng tử là ngã sở. Thầy Hộ Pháp (Dharmapāla) thì cho rằng Mạt na nắm lấy kiến phần của Tàng làm đối tượng – làm ngã.

Thực ra, đơn giản và cụ thể mà nói, đối tượng của Mạt na, của Tình, là căn thân này, là hình hài này và tất cả những vốn liếng kinh nghiệm, trí thức, tình cảm, bằng cấp, danh lợi, trình độ, quyền lợi , nhà cửa, ruộng vườn, vợ con v.v.. Tất cả những cái ấy là đối tượng của Tình. Tình chính là Ngã, và tất cả những cái nói trên là Ngã sở. Ngã là chủ thể nhận thức sai lầm về ngã, và ngã sở là những đối tượng của nhận thức ấy.

Ở Tàng, những nhu yếu như ăn khi đói, uống khi khát, ngủ khi mệt, toát mồ hôi, đi tiểu, xuất tinh khi có thặng dư, v.v.. đều là những cái gì tự nhiên, không nhiễm không tịnh, không thiện cũng không ác. Nhưng ở Tình, khuynh hướng tìm cầu dục lạc và chạy trốn khổ đau sẽ làm phát sinh các ý niệm thiện ác và nhiễm tịnh của ý thức sau này. Nguyên do căn bản là Tình bị che lấp bởi cái ngã kiến ấy. Ngoài ngã kiến, Tình còn bị các tâm hành ngã si, ngã mạn và ngã ái chi phối. Ngã mạn gồm có những mặc cảm hơn người, thua người và bằng người, cả ba đều dựa vào ngã kiến, có thể tạo ra nhiều khổ đau và bức xúc.

Tuy bị ngăn che (hữu phú) nhưng Mạt na cũng vô ký như Tàng, bởi vì bản năng tự tồn và tự bảo hộ cũng là một cái gì rất tự nhiên trong sự sống. Cũng vì Mạt na vô ký nên nó cũng có tính hữu cơ: phiền não của Mạt na có thể chuyển thành bồ đề, bùn có thể được sử dụng để nuôi sen. Nếu bản tính của Mạt na là quyết định (determinate), nghĩa là là thiện hay là ác thì Mạt na không đóng được vai trò của nó.

Có bùn mới có sen

senHọc Duy Biểu ta hãy tập tránh sử dụng những danh từ như nội tâm, ngoại cảnh, tâm duyên tâm, tâm duyên sắc, phải làm quen với ý niệm không trong cũng không ngoài, và làm quen với ý niệm chủ thể và đối tượng không thể có mặt ngoài nhau. Cho nên những câu như “chân đới chất, tâm duyên tâm” và “tợ đới chất, tâm duyên sắc” trong Duy Thức Tam Tự Kinh của Đường Đại Viên có thể đưa tới hiểu lầm là có cái trong và cái ngoài độc lập, có cái chủ thể và đối tượng độc lập với nhau. Cảnh của Tình Thức tức là sở duyên của nó, tuy gọi là năm thủ uẩn nhưng cũng là tướng phần của Tàng, nghĩa là của Tâm. Tình Thức chủ yếu là vô thức, âm thầm nắm giữ đối tượng mà mình vướng mắc. Trong phân tâm học của Freud, có ý niệm về “cái đó” (tiếng Đức Es, tiếng Pháp le Ca, tiếng Anh the Id) mà chức năng rất gần với Tình Thức: tìm lạc thú, tránh khổ đau, bất chấp những quy tắc chừng mực, những công ước đạo đức luân lý. Nối tiếp với Cái Đó là cái Ngã (tiếng Đức Ich, tiếng Pháp le Moi, tiếng Anh the Ego) có tác dụng ức chế, ngăn ngừa không cho Cái Đó hành xử trái với những quy tắc và những quy ước kia. Nhưng nếu có cơ hội thì cái Ngã cũng cho phép Cái Đó thỏa mãn sự tìm cầu của nó. Cái Ngã này tương đương với ý thức. Khi ý thức bị một hình ảnh hay một ý nghĩ kích thích, thì ý thức với Cái Đó là một. Nhưng khi ý thức tỉnh ra, biết là không thể làm cái không được làm, thì ý thức lại biết ức chế Cái Đó, không cho làm. Và nếu chỉ biết ức chế mà không biết soi sáng và thăng hoa thì sẽ đưa tới những đè nén vô thức, những gì bị đè nén lâu ngày có thể vùng dậy không kiểm soát được, trong đó có sự thèm khát hoặc niềm uất hận. Cái Ngã, nghĩa là ý thức, biết được những gì đang xảy ra trong hoàn cảnh cho nên có thể kích thích, cho phép hoặc ức chế. Do đó cái Ngã của Phân tâm học có lúc được đồng nhất với Cái Đó, nhất là dưới bình diện vô thức, có lúc trở thành cái chống đối với Cái Đó. Và trên cái Ngã còn có cái Siêu Ngã (tiếng Đức Über Ich, tiếng Pháp le Sur-moi, tiếng Anh the Super-Ego) có khuynh hướng vươn lên sự thăng hoa, tìm lạc thú nơi văn học, nghệ thuật, đạo đức, lý tưởng v.v.. Như vậy Cái Đó ở phần vô thức được tiếp nối bằng cái Ngã và cái Siêu Ngã ở phần ý thức. Trong truyền thống đạo Bụt, ý thức không những ngăn ngừa được Tình Thức mà còn tìm cách soi sáng cho Tình Thức, chứ không phải chỉ làm công việc ức chế. Nếu ý thức biết quán chiếu duyên khởi và tương tức, thấy được tình thế gian với khí thế gian có liên hệ duyên khởi mật thiết thì ý thức đạt được cái thấy vô ngã và chuyển hóa được những năng lượng tình dục và vướng mắc của Tình Thức thành những năng lượng lành như bồ đề tâm, hạnh nguyện, từ bi, tuệ giác tương tức và vô ngã, những đặc tính của Bình Đẳng Tánh Trí và Diệu Quan Sát Trí. Mạt na, Ý thức, Bình Đẳng Tánh Trí và Diệu Quan Sát Trí không phải là những tâm thức rời nhau mà có, trái lại tất cả đều nương vào nhautiếp tục cho nhau, cũng như rễ sen tiếp tục cho bùn, cọng sen tiếp tục cho rễ sen, và hoa sen tiếp tục cho cọng sen, không có cái này thì không có cái kia. Có bùn mới có sen, và có sen tức là đang có bùn. Đó là tuệ giác tương tức, hay tương đãi. Tương đãi (anyam-anya) nghĩa là nương vào nhau mà biểu hiện, như trên và dưới, như trong và ngoài, ngắn và dài, nhiễm và tịnh, hễ cái này có thì cái kia có. Đó là chân lý “thử hữu tắc bỉ hữu” được nhắc lại nhiều lần trong các kinh A-hàm.

Đừng vi phạm luật câu hữu y

Thầy Huyền Trang có trao lại cho thầy Khuy Cơ một bài kệ ngắn nói về bản chất của ba cảnh, nghĩa là ba thứ sở duyên của Thức: Tánh cảnh, Đới chất cảnh và Độc ảnh cảnh. Bài kệ như sau:

Tánh cảnh bất tùy tâm
Độc ảnh duy tùng kiến
Đới chất thông tình bản
Tánh chủng đẳng tùy ưng

(Tánh Cảnh không tùy thuộc vào chủ thể nhận thức, độc ảnh cảnh là sáng tạo của kiến phần (chủ thể nhận thức), đới chất cảnh là sáng tạo phẩm chung của Tình Thức và Bản Thức, những vấn đề còn lại như thiện ác, chủng tử cũng ứng hợp theo đó).

Tánh cảnh bất tùy tâm nghĩa là thực tại trong bản thân của nó là một thứ đối tượng nhận thức không thể bị ảnh hưởng và biến đổi theo chủ thể nhận thức. Điều này nghe như có vẻ đúng nhưng có thể đưa lại những hiểu lầm rất lớn. Trước hết người ta có thể hiểu rằng Tánh Cảnh là một cái gì độc lập ngoài tâm, luôn luôn có mặt đó dù chủ thể nhận thức có mặt hay không. Điều này vi phạm luật tương đãi, bởi vì đối tượng nhận thức dù là Tánh Cảnh cũng phải biểu hiện cùng lúc với chủ thể nhận thức. Đó cũng là nguyên tắc của câu hữu y (sahabhutāsraya). Đã đành Tánh Cảnh có chủng tử y (bijāsraya) của nó, nhưng nó cũng cần câu hữu y mới biểu hiện được. Từ đó xét ra, ta thấy rằng Tánh Cảnh chỉ có thể là Tánh Cảnh khi chủ thể nhận thức (kiến phần) là chân tâm chứ không phải vọng tâm. Chỉ có chân tâm (chân hiện lượng) mới duyên được Tánh Cảnh. Còn nếu đó là vọng tâm (tợ hiện lượng hay tợ tỷ lượng) thì không thể nào Tánh Cảnh (chân như) biểu hiện được. Vì vậy nói Tánh cảnh bất tùy tâm là chưa chính xác.

Câu thứ hai: độc ảnh duy tùng kiến có nghĩa là độc ảnh cảnh không thể tự mình có mặt mà chỉ là một tạo tác của kiến phần tức là chủ thể nhận thức. Điều này cũng vi phạm luật tương đãi. Người ta có thể nghĩ rằng chủ thể nhận thức (kiến phần) có mặt trước, rồi tự tạo tác ra những hình bóng nào đó làm đối tượng (tướng, ở đây là độc ảnh cảnh) cho chính mình. Nhưng ta biết rằng các hình ảnh này, dù là ảnh hữu chất hay độc ảnh vô chất, đều là những gì đã có mặt trong kho nhớ, dưới dạng chủng tử. Có một kích thích nào đó, một xung động thần kinh nào đó có thể truy cập được những bóng hình ấy từ kho nhớ để chúng có thể biểu hiện trở lại. Vậy độc ảnh cảnh cũng có chủng tử y của chúng như bất cứ đối tượng sở duyên nào. Và cố nhiên từ chủng tử biểu hiện (chủng tử y) chúng cũng cần nương vào kiến phần để đóng vai trò tướng phần (sở duyên) của nó. Đó là câu hữu y. Cho nên nói “độc ảnh duy tùng kiến” cũng không đúng. Dù cho đó là những hình ảnh tưởng tượng như lông rùa, sừng thỏ, ông già Noël v.v.., nhưng chúng không phải là những sáng tạo phẩm từ không mà trở thành có: hình ảnh một con voi có cánh đang bay trên trời tuy gọi là sáng tạo phẩm của trí tưởng tượng, nhưng hình ảnh đó cũng có bản chất: hình ảnh con voi là hình ảnh có thật, và hình ảnh hai cánh của con voi cũng đã lấy ra từ hình ảnh có thật của một con chim. Độc ảnh vô chất cũng được làm bằng những mảnh có sẵn của độc ảnh hữu chất. Các hình ảnh lông rùa, sừng thỏ tuy là tạo tác của tâm thức nhưng chúng cũng được chắp nối từ những hình ảnh có thật như những cái sừng nai chắp vào đầu của một con thỏ. Nói tướng phần (đối tượng) cùng có chung một chủng tử với kiến phần (chủ thể) cũng không được, bởi vì như thế cũng lại trái với tính cách chủng tử y của vạn pháp. Các hình ảnh độc ảnh kia cũng có chủng tử của chúng, và chủng tử ấy cũng được Tàng duy trì trong bộ nhớ.

Câu thứ ba của bài kệ (đới chất thông tình bản) có nghĩa là đối tượng của Mạt na là một tướng phần được phối hợp từ Bản Thức và Tình Thức. Bản là Tàng, và Tình là Mạt na. Đới chất cảnh không phải là bản thân thực tại mà là một hình ảnh phóng chiếu (projected) từ thực tại. Quan niệm về chân đới chất và tợ đới chất cũng cần phải xét lại. Theo cái thấy của Duy Biểu Luận Lý Học, khi tâm duyên tâm, nghĩa là khi Mạt na duyên Tàng thức, thì đối tượng của nó là đới chất cảnh, và đới chất cảnh này mới đích thực là đới chất cảnh; còn khi Ý thức và sáu thức giác quan duyên thế giới vật chất bên ngoài, tuy đối tượng cũng là đới chất cảnh nhưng đây không phải là chân đới chất mà là tợ đới chất. Nương vào bài kệ của thầy Huyền Trang, Đường Đại Viên đã viết trong Duy Thức Tam Tự Kinh: “Tợ đới chất, tâm duyên sắc, tướng tùng kiến, nhất đầu đắc” nghĩa là: khi tâm duyên sắc thì đối tượng chỉ là tợ đới chất mà không phải là chân đới chất, bởi vì tướng phần hoàn toàn tùy thuộc vào kiến phần, và cái đối tượng nhận thức có ra là nhờ ở cái chủ thể nhận thức. Nói như vậy cũng là vi phạm lý tương đãi, và không công nhận luật câu sinh y. Lý do là sự phân biệt giữa tâm và sắc: tâm có ngoài sắc và sắc có ngoài tâm. Đây là cái nhận thức sai lầm căn bản mà Duy Biểu gọi là nhị thủ: cho rằng chủ thể và đối tượng nhận thức có thể có mặt ngoài nhau. Nhiều nhà khoa học não bộ thần kinh cũng còn mắc kẹt vào cái nhận thức lưỡng nguyên này: có một cái chủ thể nhận thức độc lập đi tìm một cái đối tượng nhận thức độc lập, có một tâm thức chủ quan đi tìm một thực tại khách quan. Grāhaka là năng thủ, chủ thể nhận thức, và grāhya là sở thủ, đối tượng nhận thức. Bị kẹt vào cái ý niệm năng thủ sở thủ là hai thực tại có thể có mặt độc lập với nhau, đó là nhị thủ. Đó là the double grasping, la double prise. Ta phải thấy được cái mà ta gọi là sắc ấy cũng chính là tâm. Sự thật là những biểu hiện ngã và pháp mà ta nhận thức được đều thuộc về tướng phần của Tàng, nghĩa là đều là Tàng, nghĩa là tâm. Ta không thể nói kiến phần là tâm còn tướng phần là sắc được. Cái mà ta gọi là sắc chỉ là những hiện hành biểu hiện từ chủng tử. Nói “tướng tùng kiến, nhất đầu đắc” là kẹt vào một quan niệm duy tâm, không phù hợp với đạo lý Duy Biểu, bởi vì quan niệm ấy chưa vượt thoát được nhị thủ. Học Duy Biểu ta phải tập xóa đi ranh giới giữa tâm và vật, giữa chủ thể và đối tượng, giữa kiến và tướng. Nói đới chất cảnh là một sáng tạo phẩm của kiến phần là không đúng, bởi vì điều này trái với nguyên tắc chủng tử y và câu hữu y.

Cái khao khát tuyệt đối

bụtKhó khăn căn bản trong quá trình học hỏi Duy Biểu là vượt thoát được cái nhìn nhị nguyên và cái ao ước tuyệt đối. Phần đông chúng ta ai cũng ao ước cái chí thiện, cái chân lý tuyệt đối, cái đẹp tuyệt đối, và cái hạnh phúc tuyệt đối. Nhưng học Duy Biểu, ta thấy được cái tương tức, cái câu sinh, và luật tương đãi. Không có bùn thì không có sen, không có khổ thì không có vui, không có nhiễm thì không có tịnh, không có ác thì không có thiện. Chúng ta nghĩ là khi đạt tới quả vị A la hán, Mạt na không còn nữa, mà chỉ còn lại Bình Đẳng Tánh Trí, khi thành Bụt rồi thì không khổ đau nữa, mà chỉ có hạnh phúc, nghĩa là cái thiện có thể có mặt mà không cần cái ác, cái tịnh có thể có mặt mà không cần cái mê, bông sen có mặt mà không cần bùn. Điều này vi phạm lý tương tức. Cho nên nói A la hán diệt định, xuất thế đạo vô hữu (tới địa vị A la hán, trong định diệt thọ và tưởng, trên con đường xuất thế gian, thì không còn Mạt na nữa) là không đúng. Nếu không còn Mạt na thì làm sao có Bình Đẳng Tánh Trí? Hai cái phải có mặt một lần và nương vào nhau như sen với bùn. Với lại, nếu không còn Mạt na thì làm sao có Ý thức? Nếu không còn Ý thức thì làm sao có Diệu Quan Sát Trí? Bụt không có Ý thức sao, các vị A la hán không có Ý thức sao? Như thế thì lấy gì để thực tập chánh niệm và quán chiếu? Muốn có Ý thức thì phải có Ý căn. Mạt na trước hết là ý chí muốn sống, là bản năng tự tồn và tự bảo hộ. Nó chính là căn cứ làm phát sinh ra Ý thức. Bình Đẳng Tánh Trí cũng là một thứ Ý căn. Nó là sự nối dài của Ý căn, của Mạt na, cũng như cọng sen và đóa sen là sự nối dài của rễ sen và của bùn. Có bùn mới có sen. Nếu không có ý căn thì không có ý thức. Cho nên ta phải học chấp nhận cái sự thực hiển nhiên này: không có bùn thì không có sen, không có diệu đế thứ nhất thì không có diệu đế thứ ba, không có đau khổ thì không có hạnh phúc, không có trái thì không có phải. Tu tập là để biết cách chế tác hỷ lạc và xử lý khổ đau. Xử lý khổ đau cũng là chế tác hỷ lạc. Có tuệ giác, biết cách xử lý khổ đau thì khổ đau rất ít, và ta có thể sử dụng khổ đau để chế tác hỷ lạc như sử dụng bùn để nuôi sen. Không bùn thì không sen, không khổ thì không lạc. Chúng ta thường nghe phiền não tức bồ đề, tìm Niết bàn ngay trong sinh tử, sự thực là như thế. Muốn có sen mà không cần bùn, đó là một ảo tưởng.

Người biết tu tập là người thường xuyên biết gieo trồng và tưới tẩm những hạt giống từ bi và tuệ giác. Từ bi và tuệ giác cũng vô thường như bất cứ hiện tượng nào khác, cho nên cũng cần được nuôi dưỡng và củng cố. Vì thế đã thành Bụt rồi mà Bụt vẫn ngồi thiền, đi thiền và quán chiếu. Dù chúng ta đã biết cách trồng lúa nhưng nếu mỗi năm ta không gieo giống và chăm bón thì ta không có lúa để gặt hái, để ăn. Nghe Pháp, trì giới, quán chiếu và thực tập hàng ngày chính là công trình gieo trồng những hạt giống trí tuệ và từ bi, và để ngăn ngừa các phiền não như tham, sân, si, mạn phát triển, như những thứ cỏ dại và sâu bọ lan tràn và làm cho người nông dân mất mùa. Huân tập là như thế. Ngưng lại sự tu tập nhiều tháng nhiều năm thì cũng như ngưng lại sự gieo trồng chăm bón nhiều tháng nhiều năm. Ta sẽ không có lúa ăn và cỏ dại sẽ lan tràn. Ta sẽ không còn chất liệu của trí, bi và các phiền não tham, sân, si sẽ chiếm phần thượng phong. Cho nên hiện tượng gọi là bất thối chuyển tuy rằng có thật, nhưng bất thối chuyển chỉ có thể được duy trì bằng sự tiếp tục thực tập. Các đức Như Lai và Bồ tát cũng phải duy trì sự thực tập mới duy trì được tình trạng bất thối. Tất cả các pháp đều là hữu vi, đều chịu điều kiện hóa, và phải được củng cố mới tồn tại được lâu dài. Cho nên chữ Bhāvāna (tu tập) dịch bằng từ gieo trồng (culture) là rất đúng.

Tánh cảnh vô tướng và tánh cảnh hữu tướng

Tự thân các chủng tử (bījā) được Tàng duy trì có thể được gọi là Tánh Cảnh vô chất, hoặc Tánh Cảnh vô tướng. Khi biểu hiện thành hiện hành, các pháp này vẫn còn là Tánh Cảnh, nhưng được gọi là Tánh Cảnh hữu chất, hoặc Tánh Cảnh hữu tướng, mang theo tự tướng, cộng tướng, đồng tướng, dị tướng, thành tướng và hoại tướng. Nhưng vì Tàng không bị ngăn che cho nên những tướng ấy vẫn là Tánh Cảnh, nghĩa là bản thân thực tại. Các chuyển thức thì có thể bị kẹt vào những tướng ấy cho nên mới làm phát sinh ra những phiền não như tham, sân, si, ái, mạn,v.v… Vật lý học đương đại cũng đang đi tìm cái thực chất (fabric) của vạn vật. Có người cho thực chất ấy là các hạt hạ nguyên tử (sub atomic particles), có người cho đó là những lực trường (force fields). Danh từ lực trường gần gũi nhất với danh từ chủng tử. Bởi vì chủng tử là một loại năng lượng, một tiềm thế (potential), được gọi là công năng trong Duy Biểu Học. Chủng tử chính là Tánh Cảnh vô tướng và khi biểu hiện thành vạn pháp thì được gọi là Tánh Cảnh hữu tướng. Tàng không bị đánh lừa bởi các tướng của vạn pháp.

Suy đoán và biệt hữu

Mạt na vì kẹt vào những tướng ấy cho nên mới ôm lấy năm uẩn mà cho là tự ngã. Năm uẩn do đó trở thành năm thủ uẩn (upādānaskandha). Ở Tàng, năm uẩn là pháp thân mầu nhiệm. Ở Mạt na, năm uẩn thành ra đối tượng của sự vướng mắc. Chân đới chất cảnh là đối tượng của Mạt na. Mạt na do suy đoán (infer, deduce, project) mà thấy năm uẩn là một cái ta riêng biệt. Vì vậy đối tượng của Mạt na có thể được gọi là đới chất cảnh suy đoán (projected representation). Đó là trường hợp ta thường gọi là tâm duyên tâm. Còn trong trường hợp mà ta gọi là tâm duyên sắc thì đối tượng của Ý thức là đới chất cảnh biệt hữu (objectivized representation). Nghĩa là Ý thức cho rằng đối tượng mà mình đang nhận thức là một thực tại khách quan, có tâm thức hay không thì nó vẫn cứ là nó. Biệt hữu là một danh từ mới, nó có nghĩa là cho rằng đối tượng nhận thức kia là một thực tại khách quan có ngoài tâm thức.

Hữu chất và vô chất

Ta cũng có thể nói tới hai loại độc ảnh cảnh, loại thứ nhất là độc ảnh hữu chất, đó là hạt giống của những hình ảnh đã được gieo vào Tàng và được Tàng cất giữ. Loại thứ hai là độc ảnh vô chất hoặc độc ảnh sáng tạo, là những hình ảnh được ráp nối chắp vá hoặc lẫn lộn của những hình ảnh hữu chất. Sức sáng tạo của một nghệ sĩ là ở chỗ biết sử dụng những hình ảnh hữu chất để tạo nên những hình ảnh vô chất sau này sẽ trở lại thành hữu chất trong Tàng.

Nối tiếp nhau mà không loại trừ nhau

Theo luật tương đãi thì Bình Đẳng Tánh Trí đứng chung với Mạt na làm một cặp, vì cái này có nên cái kia có, vì cái này đang có nên cái kia cũng đang có, không có cái này (Mạt na) thì không có cái kia (Bình Đẳng Tánh Trí), cũng như bùn với sen làm thành một cặp. Nếu nói chỉ khi hết bùn mới có sen là không đúng. Chính nhờ có bùn mới có được sen. Hai cái nương nhau, và cái hay của sự tu tập là sử dụng được bùn để nuôi sen. Cả hai đều hữu cơ, đều vô thường. Mạt na và Bình Đẳng Tánh Trí cũng thế. Cho nên nói “La Hán, Diệt Định, Xuất Thế Đạo vô hữu” là không đúng. Nếu Mạt na “vô hữu”, thì Bình Đẳng Tánh Trí cũng phải “vô hữu.”

Chấp nhận được Mạt na là đã có sự an tâm rồi. Sau đó, người tu mới học cách xử lý Mạt na một cách khôn ngoan để nuôi dưỡng Bình Đẳng Tánh Trí. Phiền não tức Bồ Đề là như thế. Ta bà là Tịnh độ là như thế. Sinh tử là Niết bàn cũng là như thế.

Phá bỏ mọi ranh giới

Học Duy Biểu ta cần tập xóa bỏ từ từ ranh giới giữa những cặp đối lập như thiện ác, mê ngộ, nhiễm tịnh, tâm vật, chủ thể đối tượng,v.v.. Khoa học cũng đang làm công việc ấy. Ban đầu ta tưởng trời và đất là hai thế giới khác nhau, nhưng với sự khám phá ra luật dẫn lực (gravitation universelle) thì ta thấy được rằng cả trời lẫn đất đều được cái luật ấy chi phối, do đó ta cũng thấy đất là một phần của trời và trời là phần khác của đất. Sau đó ta lại tìm ra là âm thanh và không khí là bất nhị: âm thanh do sự giao động của các phân tử không khí mà có. Rồi đến nhiệt lượng: nhiệt cũng do sự tương tác điện từ giữa các nguyên tử và phân tử nơi sự vật tạo ra. Điện và từ cũng không phải là hai cái khác nhau, mà chỉ là hai mặt của cùng một thực tại. Những làn sóng điện từ và những làn sóng ánh sáng cũng bất nhị. Vật chất và năng lượng cũng thế: vật chất có thể trở thành năng lượng và năng lượng có thể trở thành vật chất. Cái hay nhất mà Duy Biểu học khai thị là nếu ta muốn tiếp cận với Tánh Cảnh, ta phải buông bỏ nhị thủ. Nhị thủ là một cặp vướng mắc: tin rằng có một chủ thể nhận thức nằm ngoài đối tượng nhận thức, và một đối tượng nhận thức nằm ngoài một chủ thể nhận thức. Ta biết tướng phần và kiến phần nương vào nhau mà biểu hiện, chúng làm câu hữu nhân cho nhau, và do cái thấy đó ta có thể xóa đi ranh giới tách biệt giữa hai phần kiến và tướng (darsana = kiến, nimitta = tướng). Duy Biểu cần đi xa hơn, để giúp ta buông bỏ cái thấy nhị nguyên về danh và sắc (tâm và vật), nhiễm và tịnh, thiện và ác, khổ và lạc, mê và ngộ, v.v…

Chừng nào Duy Biểu làm được việc ấy thì Duy Biểu trở nên thượng thừa chứ không còn đóng vai quyền thừa như từ thế kỷ thứ năm cho đến nay. Thầy Pháp Tạng đời Đường đã bắt đầu sự nghiệp này, nhưng sự nghiệp ấy chỉ mới thực hiện được nửa chừng.

Hậu Đắc Trí

Tàng có thể được gọi là căn bản trí, và Ý thức là lực lượng chủ yếu để thực hiện Hậu Đắc Trí. Những hạt giống của Hậu Đắc Trí đã sẵn có trong Tàng. Ý thức chỉ cần nhận diện, truy cập và nuôi lớn cái thấy ấy bằng phương pháp quán chiếu và củng cố để tuệ giác này càng ngày càng vững mạnh để soi sáng trong đời sống hàng ngày. Tàng là đất. Ý thức là người làm vườn. Phải gieo trồng mới có ăn. Và phải tiếp tục gieo trồng, chăm bón và củng cố. Hậu Đắc Trí phải được nuôi dưỡng và củng cố mỗi ngày bằng công phu thực tập.

Duy Biểu xác nhận rằng Ý thức và Năm thức cảm giác đều có khả năng tiếp xúc với Tánh Cảnh, vì các thức này cũng có tiềm năng chân hiện lượng. Ý thức khi làm việc riêng một mình (Ý thức độc đầu) hay khi làm việc chung với Năm thức cảm giác (Ý thức ngũ câu) trong sát na đầu của nhận thức hiện lượng có thể tiếp xúc được với Tánh Cảnh, trong cái tự tướng (svalaksana) của nó. Nhưng với thói quen biến kế và phân biệt, cái tự tướng ấy lập tức biến thành cọng tướng (sāmānya-laksana), do đó không còn là Tánh Cảnh nữa mà đã là đới chất cảnh. Hình thái nhận thức (lượng = pramāna) có thể còn là hiện lượng, nhưng đây đã là tợ hiện lượng. Năm thức cảm giác dựa trên Ý thức cũng thế. Nhận thức biến kế (vikalpa) là tạo tác của tâm thức dựa trên một hình ảnh của Tánh Cảnh. Trong nhận thức này, mây chỉ là mây, chứ không phải là tuyết hay là hơi nước, cha chỉ là cha chứ không phải là con, thân căn chỉ là thân căn chứ không phải là khí thế gian (môi trường). Trong khi đó sự thực là tương tức: mây cũng là nước, con cũng là sự tiếp nối của cha, thân căn được làm bằng chất liệu của môi trường. Nhờ quán chiếu duyên khởi, tương tức và tương đãi mà Ý thức làm lộ ra được tính y tha khởi để cuối cùng Ý thức có thể tiếp xúc với viên thành thật. Tư tưởng kiệt xuất của Duy Biểu là Vô Ký và Nhị Thủ, chứ không phải là Tam Tự Tánh và Tam Vô Tánh.

Các lý luận gia như Pháp Xứng (Dharmakirti) hay Trần Na (Dignāga) đã đem vào Duy Biểu các ý niệm tam cảnh và tam lượng giúp soi sáng khá nhiều cho nhận thức luận Duy Biểu nhưng cũng có thể gây ra những cái thấy cực đoan đem lại sự củng cố ý niệm chỉ có tâm mà không có cảnh. Xóa bỏ được ranh giới tâm và vật, thấy được hai bên nương vào nhau mà biểu hiện theo nguyên tắc tương đãi là đã có thể vượt thắng cái chấp nhị thủ rồi.

Không đến cũng không đi

Cũng giống như cách trình bày của Thập nhị nhân duyên, Duy Biểu cũng muốn giải thích cơ chế luân hồi bằng cách nói rằng khi dị thục này hết thì những dị thục khác tiếp nối. Trong Bát Thức Quy Củ Tụng, thầy Huyền Trang có nói về Tàng như một ông chủ, một người lãnh đạo của cả tám thức: “Khứ hậu lai tiên tác chủ ông”, nghĩa là Tàng đóng vai ông giám đốc, tới trước và đi sau. Khi chết, các thức cảm giác và Ý thức ngưng hoạt động trước, rồi Tàng mới ngưng hoạt động sau. Nói như thế có thể gây hiểu lầm là có một linh hồn đang lìa khỏi xác thân, linh hồn này là Thức. Thực ra thì bản chất của Tàng là không tới không đi, không trước cũng không sau. Vấn đề là biểu hiện hay ngưng biểu hiện, chứ không phải là có hay không có, tới hay đi. Mùa đông, ta không thấy bướm và hoa, nhưng điều này không có nghĩa là bướm và hoa không có và đã diệt. Mùa xuân, bướm và hoa biểu hiện, điều này không có nghĩa là bướm và hoa từ không trở nên có. Tàng duy trì chủng tử của bướm và hoa để khi có điều kiện thì bướm và hoa lại biểu hiện. Tàng cũng duy trì những cánh hoa tàn và những cánh bướm tả tơi để mùa Xuân sau chúng trở nên chất liệu nuôi dưỡng những con bướm mới, những bông hoa mới. Luân hồi theo tín ngưỡng quần chúng là phải có một linh hồn. Theo Duy Biểu, Dị thục không phải là một linh hồn mà là một dòng sống liên tục hằng chuyển, là sức sống, là công năng, là chủng tử tiềm ẩn trong mọi hiện tượng hữu tình và vô tình.

Mười tám giới chưa phải là cái tất cả

Trước khi nói tới vai trò của Ý thức trong công trình tu tập và chuyển hóa, chúng ta hãy đề cập tới vấn đề “tất cả” (nhất thiết pháp). Trong kinh Bụt có dạy cái tất cả nằm gọn trong mười tám lĩnh vực (thập bát giới) là sáu căn, sáu trần và sáu thức. Nhưng nhìn sâu vào ý thức, ta thấy còn có Mạt na, và Tàng vốn nằm sâu ở chiều dưới như một tảng băng sơn vĩ đại chìm trong đại dương chỉ có một mỏm nhỏ lộ lên trên mặt biển Bắc Cực. Tàng thức là khối băng sơn ấy, và mỏm nhỏ lộ lên phía trên là Ý thức.

hoaNhờ khoa học chúng ta biết vũ trụ không phải là tất cả những gì ta cảm nhận được bằng năm giác quan. Mỗi giác quan chỉ giúp ta cảm nhận được một loại đối tượng, như mũi chỉ có thể tiếp xúc với hương mà không tiếp xúc được với sắc, thanh, vị và xúc. Và các giác quan của chúng ta có khả năng hữu hạn của chúng. Lỗ tai của con chó có thể giúp nó nghe được những âm thanh mà tai ta không thể nghe. Vì vậy những âm thanh có tần số cao hơn hay thấp hơn tần số mà ta tiếp thu được không nằm trong cái “tất cả” của chúng ta. Ánh sáng cũng vậy. Có những tần số ánh sáng mà ta không tiếp thu được. Nếu ta tiếp thu được thì vũ trụ chắc chắn sẽ rất khác với vũ trụ ta đang thấy. Có những loài động vật mà khứu giác cũng như thính giác bén nhạy hơn khứu giác và thính giác của ta nhiều, vì vậy cho nên với năm giác quan của ta, ta chỉ tạo tác được một vũ trụ nhỏ bé mà không quán chiếu được chân tướng của vũ trụ. Đối tượng của tâm thức ta, qua năm giác quan, phần lớn chỉ là đới chất cảnh mà không phải là Tánh Cảnh. Đối với những con sò sống dưới đáy biển, không có thị giác và thính giác, vũ trụ của chúng nhỏ bé hơn vũ trụ của ta nhiều, và cái “tất cả” của chúng nhỏ bé hơn cái “tất cả” của ta rất nhiều. Có thể có những chủng loại với nhiều cảm quan bén nhạy hơn và đối với họ, vũ trụ sẽ lớn lao và xinh đẹp hơn vũ trụ của ta. Những con sò sống dưới đáy biển không có cơ hội thấy được vũ trụ trăng sao, mặt biển xanh biếc với những đợt sóng hào hùng, và nghe được âm thanh của tiếng hải triều vang dội. Con dơi có một giác quan bén nhạy có thể cho nó biết một chướng ngại vật trước mặt cách xa ba cây số dù đó là ban đêm để nó đừng va chạm trong khi bay, giác quan đó cũng giống như máy ra đa mà cơ thể ta không có. Vậy ta không nên quá tin ở giác quan ta, và do đó Ý thức là một tâm thức có khả năng cảnh giác ta về giới hạn của nhận thức để cho ta đừng trở nên quá khích và giáo điều trong cách tiếp xử với thế giới và mọi loài. Thực ra, chúng ta có nhiều hơn năm giác quan. Những receptor (thụ thể) trên da ta, có loại chỉ tiếp xúc được với sự va chạm (xúc), có loại chỉ tiếp xúc được với cái lạnh, có loại chỉ tiếp xúc được với cái nóng và có loại chỉ tiếp xúc được với cái đau. Loại này không có khả năng làm công việc của loại kia. Phía trong chiều sâu của lỗ tai có một cảm quan gọi là mê lộ (labyrinthe), nhờ cảm quan đó mà ta biết được vị trí của cơ thể trong không gian, đâu là trên, đâu là dưới, đâu là trái, đâu là phải, nhờ giác quan ấy mà ta thiết lập được thế thăng bằng trong khi đứng, đi, nằm, ngồi, chạy và nhảy.

Khoa học giúp ta biết được giới hạn của năm giác quan, và nối dài thêm được khả năng thấy, nghe và di chuyển của chúng ta. Chưa có thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông và thần túc thông, nhưng nhờ khoa học và kỹ thuật mà hiện giờ ta thấy được và nghe được những gì xảy ra cách xa ta hàng vạn dặm, và ta cũng di chuyển được bằng tốc độ của máy bay và hỏa tiễn để có thể viếng thăm những tinh cầu láng giềng của trái đất.

Sinh lý học và vật lý học giúp ta xóa bỏ dễ dàng hơn cái thấy nhị nguyên về tâm và vật, tâm lý và sinh lý, để ta có thể thấy được tính tương đãi và tương tức giữa thân và tâm. Những tâm hành của ta như lo lắng, giận hờn, sợ hãi, buồn đau, tuyệt vọng có liên hệ mật thiết với những xung động thần kinh và những chất dẫn truyền thần kinh. Ta thấy được thân là sự nối tiếp của tâm và tâm là sự nối tiếp của thân, do đó ta buông bỏ được cái phân biệt gọi là biến kế, thấy được tính thống nhất giữa các pháp, giữa chủ thể và đối tượng, giữa tạo hóa và tạo vật, giữa bùn và sen, giữa nhiễm và tịnh. Duy Biểu trong thế kỷ của ta phải đi sát với sinh học và lý học, chứ không phải chỉ đi sát với luận lý học như ở thời kỳ Pháp Xứng và Trần Na. Tâm lý học và sinh lý học phải đi đôi với nhau. Nghiên cứu về quá trình phát sinh tư tưởng và cảm thọ, ta phải có kiến thức về thần kinh và não bộ. Năm thức cảm giác trong sát na đầu chưa có phân biệt biến kế và kẹt vào cọng tướng tuy tiếp xúc được với Tánh Cảnh, nhưng đó chỉ là một phần rất giới hạn của Tánh Cảnh, trong khi Tàng nắm giữ hết mọi hạt giống của Tánh Cảnh. Trong ánh sáng của tương đãi, năng tàng cũng chính là sở tàng, kiến cũng là tướng, ta không thể lấy cái này ra khỏi cái kia được.

Vai trò của Ý thức

Ý thức trong trạng thái tán loạn của nó (tán vị ý thức) rất dễ bị Tình Thức (Mạt na) kéo đi và có khuynh hướng tiếp xúc với những đối tượng của dục, và tác ý của nó là phi như lý tác ý (ayonisomanāskara). Hành xử như thế, Ý thức sẽ tạo ra khổ đau. Ý thức nếu không biết quán chiếu về bốn loại thức ăn (tứ thực) sẽ để cho thân tâm tiêu thụ những gì độc hại đem tới nhiều phiền não và khổ đau. Ý thức nếu không học tập giới luật và giúp Mạt na kiềm chế những xung lực tham ái, ích kỷ và hận thù thì sẽ làm tăng lượng bùn mà không sản xuất được thêm sen. Ý thức nếu không biết quán chiếu mà chỉ biết khỏa lấp và dồn nén khổ đau thì một ngày nào đó sẽ có những triệu chứng bệnh tâm thần và ý thức sẽ là loạn trung ý thức (Mind consciousness in psychosis). Nếu Ý thức thực tập niệm và định trong đời sống hằng ngày thì Ý thức có khả năng chế tác an, hỷ và lạc trong từng bước chân, từng hơi thở, từng động tác, và làm lắng dịu cả thân và tâm. Nếu Ý thức biết sử dụng hơi thở chánh niệm, nhận diện buồn đau mà không trốn chạy và khỏa lấp nó thì Ý thức có thể ôm ấp và làm lắng dịu những cảm thọ và những cảm xúc đau buồn, và cuối cùng với công phu quán chiếu có thể đạt tới cái thấy (tuệ) có khả năng chuyển hóa khổ đau thành hiểu biết và thương yêu, chuyển bùn thành sen ngay trong giây phút hiện tại. Quán vô thường, quán vô dục, quán duyên sinh, quán tương tức, Ý thức làm tan rã biến kế chấp và đạt tới cái thấy y tha khởi, xóa bỏ được mọi ranh giới tạo tác khổ đau. Nếu Ý thức tiếp tục quán chiếu y tha khởi thì cái thấy Viên Thành Thật sẽ biểu hiện từ từ, đó là cái Hậu Đắc Trí giúp cho Ý thức tiếp xúc được cảnh giới của Pháp Thân, của Chân Như, của Tánh Cảnh như Tàng.

Những pháp môn tu tập ấy rất thực tế, thực tế hơn nhiều những phép tu như bốn phép quán tầm tư, các quá trình tư lương, gia hạnh, thông đạt, tu tập, cứu cánh, thập địa, tứ thiền, tứ vô sắc định vốn giàu về lý thuyết mà không thực tế lắm về phương diện hành trì.

Tóm tắt những điểm chính

1. Tàng duy trì các chủng tử và những hiện hành của các chủng tử. Kiến phần của Tàng là Chân Hiện Lượng. Tướng phần của Tàng là Vô Chất Tánh Cảnh và Hữu Chất Tánh Cảnh, nghĩa là Tánh Cảnh vô tướng và Tánh Cảnh hữu tướng. Tàng vốn đã là Đại Viên Cảnh Trí, không cần chuyển hóa. Mình là A la hán hay chưa là A la hán thì Tàng vẫn thế, vì Tàng đã là vô phú (không bị ngăn che) rồi.

2. Các chủng tử và hiện hành của Tàng nắm giữ cũng đều là vô phú và vô ký. Bản chất của chúng cũng như bản chất của Tàng là không có không không, không thiện không ác, không hữu lậu không vô lậu. Chủng tử căn thân và khí thế gian mà Tàng chấp trì đều là pháp nhĩ.

3. Tướng và Kiến nương nhau để biểu hiện theo quy luật tương đãi. Không thể lấy đối tượng ra khỏi chủ thể, chủ thể ra khỏi đối tượng.

4. Tính chất của các chủng tử trong Tàng cũng là tính chất của Tàng:

Sát na vô thường – luôn luôn chuyển biến
Quả và nhân cùng có với nhau, không thể tách rời
Hằng tùy chuyển, tuy biến chuyển từng sát na, nhưng vẫn có sự tương tục
Tính vô ký (không thiện ác – có tính hữu cơ nên có thể được nhận thức như thiện hoặc ác)
Đợi nhân duyên đầy đủ mới biểu hiện hoặc chín muồi
Vượt ra ngoài các ý niệm có không, hữu và vô
Vượt ra ngoài ý niệm trong ngoài, chủ thể và đối tượng
Vượt ra ngoài ý niệm cũ và mới, câu sinh và tân huân
Vượt ra ngoài ý niệm nhiễm và tịnh, hữu lậu và vô lậu
Vượt ra ngoài ý niệm đồng và dị, nhất và dị
Vượt ra ngoài ý niệm tới và đi, khứ và lai
Vượt ra ngoài ý niệm chung và riêng, cọng và biệt

5. Trong Tàng, cả chủng tử và hiện hành đều là Tánh Cảnh, là tự thân thực tại. Chủng tử là Tánh Cảnh vô tướng và hiện hành là Tánh Cảnh hữu tướng. Tàng không bị kẹt bởi các tướng của hiện hành, bởi vì Tàng là Chân Hiện Lượng.

6. Vì là vô thường, tương tức và duyên khởi cho nên các chủng tử không nhất thiết phải có tính cách dẫn tự quả.

7. Tàng tương ưng với năm tâm hành biến hành, nhưng cũng tương ưng với năm tâm sở biệt cảnh, bởi vì Tàng có Tuệ (Chân Hiện Lượng), có Niệm (Tàng là kho nhớ), có Định (không tán loạn), luôn luôn có mặt đó để làm việc duy trì sinh mạng. Tàng cũng tương ứng với tâm sở Mạng Căn (Jivita), đó là sức sống.

8. Năm uẩn nơi Tàng cũng là pháp nhĩ như thị, mầu nhiệm như Pháp thân, đối tượng nắm bắt của Mạt na không đích thực là Tàng mà là một hình ảnh tạo tác của Mạt na về Tàng, hình ảnh ấy là Đới Chất Cảnh mà không phải là Tánh Cảnh.

9. Mạt na có cơ sở nơi Tàng, chủ yếu là Mạng Căn, là ý chí muốn sống, muốn vươn lên, muốn tiếp tục mãi. Mạt na là cơ chế tự tồn, là bản năng tự vệ, là năng lượng ham sống sợ chết, là khuynh hướng tìm cầu khoái lạc và trốn chạy khổ đau. Đó là cơ sở làm phát sinh ra các phiền não như buồn lo, tham đắm, sợ hãi, v.v.. có tác dụng tạo nên khổ đau. Nhưng Ý thức nương trên Tàng biết quán chiếu thì sẽ soi sáng và kiềm chế được Mạt na và làm biểu hiện Trí Vô Phân Biệt, vốn là một bông sen Tuệ giác nở trên bùn Mạt na. Có bùn thì có sen, có sen thì có bùn, cho nên Mạt na, Ý thức, Diệu Quan Sát Trí và Bình Đẳng Tánh Trí là một dòng liên tục nương vào nhau mà phát hiện, chứ không hẳn là những gì chống đối và loại trừ nhau. Không cần hết bùn mới có sen. Nếu hết bùn thì cũng hết sen. Phiền não tức bồ đề là như thế.

10. Theo nguyên tắc chủng tử y và câu sinh y thì kiến phần và tướng phần của thức đều có cơ sở ở chủng tử, và cả hai đều phải nương vào nhau để có mặt một lần. Vì vậy nói “tướng tùng kiến” và “nhất đầu đắc” là vi phạm luật câu sinh, luật tương đãi. Kiến phần không thể xuất hiện trước để tạo ra tướng phần.

11. Hễ còn sự sống là còn Mạt na. Thành A la hán, thành Bồ tát, thành Bụt rồi cũng còn Mạt na. Nhưng đối với các bậc thánh ấy, Mạt na không còn là một vấn đề. Bởi vì các vị biết xử lý Mạt na, thăng hoa Mạt na, biến những chất liệu của Mạt na thành những chất liệu của Niệm, Định và Tuệ. Bụt thành đạo năm ngài 35 tuổi. Ngài vẫn còn rất trẻ, vẫn còn năng lượng tình dục. Nhưng năng lượng ấy không phải là một vấn đề, bởi vì Bụt biết sử dụng chúng để làm nên những năng lượng từ bi trí tuệ để nuôi dưỡng mình và để độ đời. Những năng lượng ấy đã không phải là những chướng ngại mà còn là những nguồn năng lượng cần thiết để chế tác tuệ giác và hạnh phúc, như bùn có thể được sử dụng để nuôi sen.

12. Dị thục xảy ra trong từng giây phút (sát na) và cũng xảy ra sau từng giai đoạn (nhất kỳ). Ta không cần đợi đến khi thân tứ đại này tan rã rồi mới đi luân hồi. Mỗi ý tưởng, mỗi lời nói, mỗi hành động đều có thể đi luân hồi ngay khi mới được chế tác. Thời gian có thể khác, nhưng dị thục xảy ra từng phút giây.

13. Phải luyện tập trong đời sống hằng ngày, phải tập nhìn để xóa bỏ ranh giới giữa chủ thể và đối tượng, giữa trong ngoài, giữa tâm và vật, giữa mình và người thì mới vượt được nhị thủ, mới chứng được Duy Biểu tính.

14. Những thực tập cụ thể để có thể soi sáng, kiềm chế và thăng hoa được Mạt na:

Hành trì giới luật, thấy được giới luật có công năng bảo hộ tự do chứ không phải là những cấm cản và ức chế.

Sống chánh niệm để tiếp xúc được với những gì mầu nhiệm có công năng trị liệu và nuôi dưỡng, không buông bỏ hiện tại để đi tìm hạnh phúc trong tương lai.

Học chế tác hỷ và lạc bằng chánh niệm, biết sử dụng hơi thở và bước chân để làm việc ấy.

Quán chiếu tính duyên sinh, tương tức và tương đãi của vạn pháp để buông bỏ được cái thấy biến kế sở chấp, để chứng nhập y tha khởi, để đạt tới trí hậu đắc, buông bỏ thế giới đới chất và tiếp xúc được với thế giới Tánh Cảnh, Ý phải làm được như Tàng.

Chuyển y (asrayaparavritti) không phải là sự chuyển hóa của Tàng mà là sự buông bỏ của Mạt na và Ý thức đối với những tập khí cũ, và sự hình thành, củng cố của những tập khí mới có công năng chế tác hỷ lạc và xử lý khổ đau ngay trong giây phút hiện tại. Tính cách nhu nhuyến (plasticity) của não bộ và của thần kinh não cho thấy khả năng hình thành và củng cố của những tập khí tốt ấy. Tính cách nhu nhuyến ấy của não bộ cũng chứng tỏ rằng não bộ cũng vô ký và hữu cơ như Tàng.

Phật giáo Duy Biểu ban đầu cũng được gọi là Phật giáo Du Già (Yogacāra). Du già (yoga) có nghĩa là tương ứng, ứng hợp với chân lý, với thực tại tối hậu. Những pháp tu như Hơi thở chánh niệm, tập trung tâm ý, chỉ và quán… là để thiết lập sự tương ứng giữa người hành giả và thực tại tối hậu. Tác phẩm Du Già Sư Địa Luận của thầy Vô Trước sáng tác, chủ trương có mười bảy cảnh giới (địa, bhūmi) mà người hành giả phải đi qua. Cách trình bày rất lý tưởng, rất chi tiết, nhưng vẫn không có được tánh cách thực tiễn như những pháp môn tu học trong kinh tạng. Các kinh căn bản về thiền tập như An Ban Thủ Ý, Niệm Xứ, v.v.. chỉ bày sự thực tập một cách rõ ràng, đơn giản và thực tiễn hơn nhiều.

Phật giáo Duy Biểu chính là văn học Abhidharma của Đại thừa. Với cái thấy bất nhị và tương đãi, Phật giáo Duy Biểu có thể buông bỏ tính cách quyền thừa lâu nay của mình để trở nên một đạo Bụt Đại thừa trọn vẹn.

Làng Mai năm qua

Làng Mai đang vào tuần lễ cuối Khóa An Cư Kết Đông 2013-2014. Đã gần hết tháng Giêng tây song trời còn ấm lắm. Năng lượng tăng thân rất bình an và hùng hậu. Đại chúng đang thực tập soi sáng cho từng vị xuất sĩ để mọi người đều có thư soi sáng trong Lễ tự tứ, sẽ được cử hành tại thiền đường Nước Tĩnh ở Chùa Pháp Vân, xóm Thượng, Làng Mai vào ngày 14 tháng 2 năm 2014.  Sau đây chúng tôi xin thuật lại sơ lược những gì xảy ra trong năm 2013:

 

Khóa tu Xuất Sĩ

Khóa tu An Cư Kết Đông năm rồi kết thúc, như thường lệ là khóa tu xuất sĩ tiếp theo dành riêng cho chúng xuất gia các chùa Làng Mai, Học Viện bên Đức và thiền đường Hơi Thở Nhẹ ở Paris. Quý sư cô từ các chùa Từ Nghiêm và Cam Lộ dọn hết lên xóm Thượng tạo ra được một không khí tu học quy tụ đầm ấm, tươi vui. Tình huynh đệ là một năng lượng rất rõ ràng mà ai cũng cảm nhận được. Ban tổ chức đã tổ chức  một ngày triển lãm thư pháp của Thầy rất đặc sắc.

Ngày 21.02.2013 có Lễ Truyền Đăng cho 28 vị giáo thọ mới. Đây là danh sách các vị được truyền đăng với bài kệ các vị ấy đã tiếp nhận:

Sư cô Chân Uyển Nghiêm (Nguyễn Thị Hạnh)

Diễm lệ đóa hoa thiền uyển
Cho đời hương sắc diệu nghiêm
Tâm tư vọng về đỉnh Thứu
Trong veo như suối ngọc tuyền

Thầy Thích Chân Pháp Tại (Phan Văn Quý)

Pháp thân khắp nơi biểu hiện
Ngay trong hiện tại nhiệm mầu
Trúc tím hoa vàng còn đó
Nuôi nguồn tịnh lạc dài lâu

Sư cô Chân Huệ Tri (Nguyễn Thị Nghĩa)

Đuốc tuệ mới vừa thắp sáng
Tri âm ta đã gặp rồi
Đường đi chính là chốn tới
Sáng rồi vũ trụ tinh khôi

Sư cô Chân Lễ Nghiêm (Trần Thủy Ngọc)

Tuổi trẻ vốn dòng Thi Lễ
Trau dồi đạo học trang nghiêm
Giới định từng đêm soi chiếu
Trăng khuya sáng rực bên thềm

Sư cô Chân Quyết Nghiêm (Trương Thị Hồng Mai)

Xuất trần tâm mới quyết
Tịnh độ đã trang nghiêm
Cùng tăng thân bước tới
Mau trọn vẹn ước nguyền

Sư cô Chân Sắc Nghiêm (Phạm Ngọc Bích Trâm)

Dù quán Bụt qua thanh sắc
Cũng thấy được tướng đoan nghiêm
Cả sắc không đều mầu nhiệm
Khi tiếp nhận cũng trao truyền

Sư cô Chân Tân Nghiêm (Nguyễn Thị Thu Thảo)

Diệu khúc tân thanh vừa khởi xướng
Ba ngàn thế giới đã trang nghiêm
Gấm hoa rực rỡ trời phương ngoại
Bàn chân địa xúc đắc chân truyền

Thầy Chân Pháp Nhĩ (Lê Quốc Bảo)

Pháp nhĩ vốn dòng như thị
Có không phân biệt mà ra
Thiền quán vượt qua ba mạn
Thảnh thơi giữa chốn ta bà

Sư cô Chân Trường Nghiêm (Nguyễn Thị Hương)

Xướng khúc trường ca hợp tấu
Leo đồi thế kỷ trang nghiêm
Bút hoa khung trời mở rộng
Tăng thân có mặt mọi miền

Sư cô Chân Triết Nghiêm (Hà Thị Nam Nhi)

Tâm sáng trong hồn minh triết
Thân tự tại tướng đoan nghiêm
Trí tùy thuận kia sẵn có
Mau chứng đạt đạo chân truyền

Sư cô Chân Doãn Nghiêm (Đặng Ngọc Hương Lăng)

Doãn nạp sáng ngời tuệ uyển
Hóa thành vạn đóa trang nghiêm
Thế giới lung linh hoa tạng
Cùng trao đạo lý chân truyền

Thầy Chân Giới Đạt (Hồ Duy Lâm)

Giới thân tùy niệm lực
Chứng đạt trượng cơ duyên
Quán chiếu ư hiện pháp
Thiền đạo đắc chân truyền

Thầy Chân Khai Li (Chân Khai Luật-Lau Fui Shin)

Niệm trú khai thông chân luật học
Năng linh hiện pháp đắc hoàn gia
Nhất phương chiếu diệu hằng sa giới
Bộ bộ an nhiên lạc thái hòa

念住開通真律學
能令現法得還家
一方照妙姮沙界
步步安然樂太和

Việt dịch:
Chánh niệm khai thông nền luật học
Ngay trong giây phút đã về nhà
Một phương chiếu rạng muôn ngàn cõi
Mỗi bước bình an đất nở hoa

Sư cô Chân Phổ Nghiêm (Trương Thị Ngọc Ngân)

Triều dâng tấu khúc phổ môn
Trang nghiêm đất mẹ, rạng hồn phương Đông
Rong chơi phỉ chí tang bồng
Bản môn mở rộng, thong dong nẻo về

Sư cô Chân Thánh Nghiêm (Võ Thị Hoa)

Chánh kiến mở đầu thánh đạo
Con đường rộng mở trang nghiêm
Thiền quán đường kim mũi chỉ
An vui tới khắp mọi miền

Thầy Chân Pháp Nhật (Trần Việt Nhân)

Pháp quang mười phương chiếu diệu
Từ nguồn Đại Nhật Như Lai
Tốt tươi vạn loài biểu hiện
Khắc ghi ân đức muôn đời

Sư cô Chân Trực Nghiêm (Hoàng Thị Thu Hương)

Lên đường trực chỉ quy nguyên
Hoa vàng trúc tím trang nghiêm đón chào
Xuân sang rực rỡ hoa đào
Quê hương chờ đợi, anh hào ra tay

Sư cô Chân Hạnh Lý (Phan Thị Thúy)

Vững chãi xây nên hạnh nguyện
Sáng ngời lý tưởng độ tha
Vườn tuệ nay bừng hương sắc
Xuân về đào lý nở hoa

Sư cô Chân Tráng Nghiêm (Quách Thị Lệ Quyên)

Tha thiết lời kinh hùng tráng
Đưa người về cõi tịnh nghiêm
Sen nở giữa lòng đất Mẹ
Trăng khuya soi sáng bên thềm

Thầy Chân Pháp Vượng (Nguyễn Minh Tuệ)

Diệu pháp trao truyền đúng lúc
Đem về thịnh vượng mùa xuân
Xây đắp vun bồi đất tổ
Quê hương tỏ mặt anh hùng

Sư cô Chân Trú Nghiêm (Lê Bích Chi)

Nhà Như Lai ở thường trú
Áo như lai mặc đoan nghiêm
Mỗi bước chân là tịnh độ
Mỗi hơi thở là chân thiền

Sư cô Chân Huệ Định (Nguyễn Thị Kim Huệ)

Mặt trời trí tuệ lên cao
Nẻo về đã định, anh hào bước chân
Trong hơi thở nhẹ siêu trần
Vọng lên khúc hát thiên thần tuổi

Sư cô Chân Hiền Hạnh (Bùi Thị Thạch)

Theo gót chư tôn hiền đức
Quyết lòng học hạnh bao dung
Một sáng lên bờ bất thối
Quê hương phỉ chí tang bồng

Thầy Chân Pháp Trung (Nguyễn Ngọc Duy)

Chánh pháp ngôi sao Bắc đẩu
Hướng về trung thực một lòng
Đường rộng thảnh thơi xứng ý
Đường về rạng rỡ tông phong

Sư cô Chân Hạ Nghiêm (Thái Thị Cẩm Tú)

Rực rỡ trời sang hạ
Tùng bách đứng trang nghiêm
Nghe tăng thân hợp tấu
Chứng nhập pháp chân truyền

Sư cô Chân Văn Nghiêm (Nguyễn Thị Diễm Chi)

Văn chương vốn nết đất
Trang nghiêm sẵn tính trời
Trẻ thơ mắt vô tội
Nhìn thấu đạo tinh khôi

Sư cô Chân Huệ Hiền (Nguyễn Xuân Đào)

Đóa tuệ nở trong thiền uyển
Ngát hương đức hạnh hiền nhân
Đường sáng thảnh thơi từng bước
Trên vai đôi cánh thiên thần

Sư cô Chân Tông Nghiêm (Hà Thị Ngâu)

Tông chỉ đạo Thiền thông suốt
Một đời giới hạnh đoan nghiêm
Sẵn có căn cơ mầu nhiệm
Trong veo dòng Pháp ngọc tuyền

Các thầy, sư cô tân giáo thọ chụp ảnh lưu niệm cùng với Sư Ông
Các thầy, sư cô tân giáo thọ chụp ảnh lưu niệm cùng với Sư Ông

 

Khóa tu tiếng Pháp đã tổ chức 15-22.03.2013

Trước đó Thầy đã thông báo năm nay không có khóa tu tiếng Pháp vì lý do lịch du hóa quá dầy. Tuy nhiên nhận thấy các bạn thiền sinh có nhiều niềm vui và chuyển hóa trong các khóa tu tiếng Pháp hàng năm nên Hội đồng giáo thọ đã xin phép tổ chức khóa tu mà không có sự hướng dẫn của Thầy. Cuối cùng, Thầy cũng đồng ý giảng hai buổi pháp thoại và cho một buổi vấn đáp (thay vì bốn buổi pháp thoại và một buổi vấn đáp như các năm trước), những buổi pháp thoại khác quý thầy, quý sư cô giáo thọ ở các xóm tự hướng dẫn. Mùa này vẫn còn lạnh không thể cắm lều ngoài trời, nên số lượng được giới hạn khoảng sáu trăm người.

 

Hoằng hóa của tăng thân ở Á châu

Thái Lan

Ngày 25.03.2013 vừa đặt chân tới Bangkok Thầy và phái đoàn lên xe về ngay Trung Tâm Làng Mai Quốc Tế tại Thái ở núi Klong Yai, tỉnh Nakhonratchasima, cách Bangkok 3 giờ xe hơi.

Ước gì tất cả các nhà lãnh đạo toàn nước Thái của con  nghe được

Trưa 28.03 Thầy cùng 30 vị  giáo thọ xuất sĩ trở lên Bangkok để ngày hôm sau tham dự buổi nói chuyện (phải có thư mời mới được tham dự) dành riêng cho giới chính trị gia Thái. Buổi thuyết pháp này có đủ những vị đại diện quan trọng như chủ tịch Thượng Viện, chủ tịch Hạ Viện, Thủ Tướng, đại diện Chủ Tịch Quốc Hội, đại diện cả 2 Đảng cầm quyền và đối lập cùng 23 vị Thượng nghị sĩ then chốt. Bài giảng được thu hình phát lại trên đài truyền hình Thái vào cuối tháng Tư 2013. Thính chúng khoảng năm trăm người, đông nhất là giới doanh thương.

Thầy chia sẻ một cách ôn tồn và sâu sắc với đầy lòng thương, nói những điều mà sư cô Linh Nghiêm phải chảy nước mắt. Sư cô là người Thái đã tu học với Thầy hơn 14 năm nay, và hôm đó đã dịch ra tiếng Thái bài nói chuyện của Thầy. Sư cô cứ tự nhủ: “Ôi, ước gì tất cả các nhà lãnh đạo toàn nước Thái của con nghe được những điều Bụt dạy qua cách trình bày thật khúc chiết và đầy tình thương như vậy!” Dịch đến đoạn khác, sư cô lại vừa mừng vừa tự tiếc: “Ô, đúng rồi, điều nầy có thể thực hiện được và đã có nhiều nhóm người đã làm được, vài nước đã làm được, nếu thực hiện được ở đây thì phước đức biết chừng nào cho đất nước quê hương con!”

Để dạy về hòa giải, Thầy kể lại về các khóa tu dành cho người Do Thái và Palestine tại Làng. Quý thầy và quý sư cô Làng Mai để thì giờ lắng nghe người Palestine, giúp họ nhận diện cái sợ, chào nó, ôm ấp nó, thực tập lắng nghe và chuyển hóa. Quý thầy và quý sư cô cũng dạy người Do Thái nhận diện cái sợ của mình, chào nó, ôm ấp nó, thực tập lắng nghe và chuyển hóa. Thầy dạy sự thực tập lắng nghe để hiểu vì sao người ta ôm bom cảm tử liều chết, những người mà mình gọi là dân khủng bố, thực tập lắng nghe và thấy được cái tri giác sai lạc về nhau. Thầy kể là Thầy đã đến tận New York để nói chuyện, khuyên giải, đề nghị quần chúng Hoa Kỳ như thế nào sau ngày 11 tháng 9 tại New York City. Thầy trao niềm tin về Thái Lan, một đất nước mà người dân thờ Phật, sống thuần hậu với nhau trong giáo pháp, chắc có thể làm được.

Pháp thoại chấm dứt lúc 12 giờ, thêm 20 phút để đặt câu hỏi trước khi Thầy hướng dẫn đi thiền hành. Công viên đại học Mahidol, nơi buổi pháp thoại xảy ra thật đẹp. Người hướng dẫn chương trình cũng là người hướng dẫn chương trình cho đài truyền hình Thái đã xin dùng buổi pháp thoại này cho thính chúng trí thức trong tuần tới trên truyền hình. Dù bận rộn, nhiều người quyết chí ở lại đi thiền hành với Thầy. Sau đó một nhóm chính trị gia, dân biểu và thượng nghị sĩ được dùng cơm chay với tăng đoàn trong im lặng.

Xóm Trời  Quang – Xóm Trăng Tỏ, Thầy về

Chiều, Thầy về lại Làng Mai Quốc Tế Thái Lan ở PakChong. Tăng xá và ni xá được xây dựng vừa xong tươm tất. Cả năm trời đại chúng đã ra sức làm việc cho kịp có chỗ ở để đón Thầy. Cốc Thầy chưa xây xong nhưng dựa vào vách núi rất đẹp, chưa có thiền đường, nhà ăn và bếp. Khi chúng tôi tới thì thợ đang thi công làm nhà vệ sinh công cộng. Nhà ăn chỉ mới là căn nhà gạch 2 tầng trống trải, nền còn là xi măng thô được trải chiếu làm thiền đường. Căn phòng ở xóm Trời Quang dành cho Thầy ở rất mới. Những ngày Thầy về có đầy bướm trắng bay quanh mảnh vườn nhỏ trước phòng Thầy khiến ai cũng ngạc nhiên chiêm ngưỡng. Cảnh đẹp quá!

Thầy Pháp Hữu, thị giả lo thu xếp để mỗi ngày Thầy có hai phụ tá thị giả mới: một xuất sĩ nam và một xuất sĩ nữ. Các sư em được phụ tá thị giả từ 5 giờ 30 sáng sớm, được Thầy cầm tay đi thiền hành, được ăn trưa với Thầy, được ngồi chơi cho đến chiều tối khi Thầy vào phòng đi ngủ thì mới hết ngày thực tập làm thị giả. Sau thời khóa thiền hành, hai phụ tá thị giả cùng sư anh Pháp Hữu mỗi ngày chuẩn bị cho hai nhóm các đệ tử xuất sĩ của Thầy, mỗi nhóm 15 sư em mới xuất gia, chưa được gặp Thầy bằng xương bằng người thật, mỗi sư em được chụp hai bức hình riêng với Thầy: một là cảnh trò ngồi bên Thầy, hình thứ hai được Thầy ôm. Hai tập sự thị giả ở chơi suốt ngày bên Thầy, ngày hôm sau lại có hai tập sự thị giả mới!

Sáng Chủ nhật, ngày 31/ 2003 có ngày chánh niệm cho dân địa phương.

Triển lãm thư pháp của Thầy

Triển lãm thư pháp tại Thái Lan
Triển lãm thư pháp tại Thái Lan

Từ ngày 3.04 đến ngày 19.04 là hai tuần Triển Lãm Thư Pháp của Thiền Sư tại Trung Tâm Văn Hóa và Nghệ Thuật Bangkok. Các căn phòng triển lãm quá đẹp. Để thuê được chỗ này cũng hơi khó khăn, phải nhờ vào tài ba của Thầy Pháp Nguyện và chị Pi Ón. Từ những căn phòng trống không, họ đặt những tấm vách tường giả quanh co nên gắn lên được rất nhiều bức thư pháp lớn, diện tích rộng bằng ba lần các bức thư pháp thông thường. Thêm vào đó, quý sư cô Trang Nghiêm, Tạng Nghiêm, v.v.. cắm hoa trưng bày thật  thiền vị. Có bàn trà, có chỗ Thầy ngồi viết thư pháp và khách xem được chiêm ngưỡng những giây phút huyền thoại bên Thầy.

Vào lúc 4g30 cùng ngày, quan khách báo chí được hướng dẫn tham quan một vòng trước khi tăng thân Làng Mai lên niệm danh hiệu Avalokiteshvara. Thầy hướng dẫn đại chúng cách lắng nghe: “Đây là một buổi thiền quán dành cho mọi người trong khi chúng tôi niệm tên Bồ tát Avalokita. Niệm lần thứ nhất chúng tôi trở về với thân tâm, nhận diện và làm an bình thân tâm mình. Niệm lần thứ hai, chú tâm gửi năng lượng cho người chung quanh. Lần thứ ba, niệm cho mọi người đang khổ đau trên thế giới. Xin quý vị tập lắng nghe như đang tham dự một thời thiền quán’’. Thầy dứt lời, sư cô Trai Nghiêm cho xướng vĩ cầm dạo nhạc ngân lên âm điệu “Nam mô Avalokiteshvara”, bắt giọng cho toàn thể đại chúng. Những giọt nước mắt chữa trị tuôn trào trong âm vang chánh niệm.

Tiếp đó, Thầy chia sẻ về nghệ thuật viết thư pháp trong thiền quán và cách tham dự một cuộc triển lãm thư pháp như tham dự một thời thiền quán. Lời Thầy giản dị, nhẹ nhàng mà thật sâu lắng. Thầy “bật mí” cách viết thư pháp. Trước nhất phải có một chén trà thơm, có trà, có phút giây an trú, thảnh thơi. Có khi trong mực cũng có một chút trà. Rồi Thầy định tâm vào một đề tài để viết một bức thư pháp như drink your cloud, drink your tea, a cloud never dies, hay be beautiful, be yourself. Câu nào cũng là đề tài thiền quán. Cho nên khi ngắm bức thư pháp xin đại chúng thực tập quán chiếu luôn cùng lúc. Be beautiful, be yourself cũng là lời mời, ta nên thực tập sống cho thật, cho trong sáng, sống đẹp trong uy nghi và giới hạnh thì người mình sẽ thanh thoát, đẹp thêm ra mà không cần sử dụng mỹ phẩm.

Khóa Tu ở Mahachulalongkorn University (MCU)

Lễ tiếp đón Thầy và Tăng thân Làng Mai
Lễ tiếp đón Thầy và Tăng thân Làng Mai

Vào ngày 4 tháng 4 Thầy bắt đầu hướng dẫn khóa tu 5 ngày ở Đại Học Hoàng Gia Thái Lan (Maha Chulalongkorn University) với đề tài Global Ethics (Đạo Đức Toàn Cầu). Gần 900 thiền sinh tham dự trong đó có đến 103 thiền sinh là người Indo. Trong 103 người Indo có khoảng tám mươi là thầy và cô giáo, có ông bà Hiệu trưởng một trường trung học 400 học sinh ở Medan, một hòn đảo lớn của INDO. Ngay trong bài giảng đầu Thầy đã giảng kỹ về cách nghe chuông và đi thiền hành, rồi 16 hơi thở. Ông Hiệu trưởng Indo ấy dự định đem tiếng chuông chánh niệm về thực hiện trong các phòng lớp học của trường để cả thầy giáo và học sinh được cùng thỉnh thoảng nghe chuông, dừng suy nghĩ, thở ba hơi rồi mới tiếp tục dạy và  học.

Sư cô Tuệ Nghiêm và thầy Pháp Dung đã phụ trách hướng dẫn tổng quát cho khóa tu. Anh Chân Đại Tuệ Hà Vĩnh Thọ rất tâm đắc khi thấy sư cô Tuệ Nghiêm, một sư cô trẻ, nhỏ xíu mà ngồi giảng thiền tập cho hai trăm vị thầy Nam Tông! Sư cô Tuệ Nghiêm không những nói hay mà còn nhắc nhở khéo léo rằng trong khóa tu này sẽ có 1000 người không ăn thịt ăn cá trong vòng năm ngày. Đỡ biết bao nhiêu là mạng sống: heo, bò, gà, cá v.v…

Ngày hôm sau, với hơn 150 trẻ em chưa bao giờ có dịp tu học ngồi nghe, Thầy đã giảng thần chú thứ nhất và dạy các em lập lại: “Mẹ ơi, con có mặt cho mẹ đây! Ba ơi, con có mặt cho ba đây!”, cùng với phương pháp thực tập thiền sỏi, một pháp môn dành cho trẻ con. Sau đó Thầy dạy 8 trong 16 hơi thở chánh niệm của Kinh An Ban Thủ Ý (là kinh mà quý thầy Nam Tông phải thuộc lòng) nhưng nội dung rất Đại Thừa. Tiếp theo là Chánh kiến qua kinh Bụt dạy thầy Ca Chiên Diên. Thầy thong dong đưa thiền sinh đi vào  Bát Chánh Đạo mà không ai nghĩ là đang nghe giảng đạo Bụt. Có nhiều giáo chức người Indo, đạo Hồi, mới đi tu lần đầu, thấy thích thú từ chuyện ăn chay sao mà quá ngon, đến việc thực tập sao mà đơn giản, lại sâu sắc dễ áp dụng trong đời sống hằng ngày. Đa số đã thọ Tam Quy và Ngũ Giới.

Thầy giảng cho thiếu nhi xuất gia nữ Thái Lan
Thầy giảng cho thiếu nhi xuất gia nữ Thái Lan

Khóa tu này sư cô Chân Không hướng dẫn hai lần Thiền buông thư. Sau buông thư, sư cô hướng dẫn thiền lạy. Cái lạy thứ tư là vượt thoát sợ hãi về cái chết. Nhiều người thích thú chạy đến cảm ơn sư cô ngay sau khi được thực tập. Sau lần buông thư thứ hai ngày sau, sư cô còn giảng về làm mới. Nhiều cặp vợ chồng, cha mẹ con cái tìm đến để tỏ lộ lòng biết ơn sau khi thực tập làm mới thành công từ lời hướng dẫn thật chu đáo của sư cô. Nhiều thiền sinh thỉnh thư pháp về để duy trì sự thực tập tại nhà. Nhóm Indo hình thành một tăng thân mới sau buổi ăn trưa cuối cùng của khóa tu.

Ngày chót khóa tu có ngài Phó Viện Trưởng đến tham dự. Vượt ra ngoài cách trình bày khá lý thuyết của truyền thống Nam Tông về Tứ Đế, Thầy đã giảng giải thật tỏ tường, với hình vẽ minh họa súc tích cho biết thế nào là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo… Rồi thầy dạy về con đường hết khổ… Thiên hạ nghe chăm chú, chao ôi là hạnh phúc. Thầy Phó Viện Trưởng cao hứng quá, vào giờ tặng quà đã nói một bài diễn văn ca ngợi Thầy bằng tiếng Anh rồi bằng tiếng Thái thật dài và thật hồ hởi!

Ngày 9 tháng 4 năm 2013

Từ khách sạn Aragon, Thầy cùng vài vị thị giả dạo xuống phố thăm đời sống thường nhật của người Thái. Cuộc sống bình dân ở đây không khác gì ở Việt Nam thương yêu. Mấy anh chị em chúng tôi còn mua được 10 loại quà sáng rất đỗi thân quen của thời thơ ấu như: chuối chín hườm, nướng lên và đập dẹp ăn với nước cốt dừa, bánh đúc lá dứa ăn với nước đường thắng, xôi nước dừa lá dứa… Chiều ấy Thầy giao cho sư cô Chân Không một bản nhạc do Thầy mới dịch và thêm lời từ bài In Gratitude (Biết ơn) để đại chúng cùng hát trước mỗi buổi thiền hành:

Giờ đây bên nhau cùng nhau cất tiếng hát thắp sáng ý thức “chúng ta có nhau”

Giờ đây bên nhau cùng nhau bước những bước vững chãi thích thú chính trên đất này.

Biết không? Ta còn bên nhau, sống vui bên nhau tháng ngày.

Khó khăn hay là gian nguy, có nhau bên nhau tức thì !

Với nhau ta còn tương lai, sánh vai ta cùng giúp đời.

Buổi tối, tại Đại sảnh đường Hoàng gia Paragon Siam, Bangkok có hơn 8000 người đến nghe thuyết pháp công cộng. 6000 người tham dự bên trong sảnh đường và 2000 người bên ngoài hành lang với màn hình lớn truyền trực tiếp. Thầy giảng thật khúc chiết. Lời Người đơn giản: “Ở đời thiên hạ tưởng có nhiều tiền, nhiều danh vọng và nhiều tình dục thì sẽ hạnh phúc. Nhưng vị ngọt thì ít mà chất đắng thì nhiều.”

Thầy dạy cách làm chủ cảm xúc mạnh để trị liệu thân tâm, trị liệu cho nhau, rồi cách thực tập năm hơi thở đầu trong 16 bài thực tập trong Kinh Quán Niệm Hơi Thở để đạt đến bình an tự thân mình trước. Sau đó mới giúp đỡ người thương, gia đình, đồng nghiệp và tới giúp cho Đảng Chính Trị của mình. Từ tự thân an bình, đến anh em đảng viên hòa thuận với nhau thì kêu gọi gì thiên hạ cũng tin tưởng. Mình phải là đảng đối lập xây dựng chứ không phải là đối lập để chống phá. Thầy chỉ dạy cách dùng lời ái ngữ. Thầy biết hai đảng hiện tại, đảng nào cũng yêu nước và muốn làm tốt cho đất nước. Nhưng vì hai bên lỡ làm đau đớn tổn thương nhau quá sâu nên bây giờ phải dùng lời ái ngữ và tình thương quê hương chân thật để làm lành những vết thương cũ. Đảng cầm quyền nên làm hòa, bước đầu tiên cho việc kết nối. Từng lời Thầy ngọt ngào làm sao, sâu lắng làm sao. Nhiều người Thái khóc, kính phục quá vị Thầy già thương người dân và đất nước Thái như thương đồng bào mình.

Khóa Tu Gia Đình và thanh thiếu niên

Từ 13.04 đến 17.04 là tuần lễ dành cho 1030 thanh thiếu niên cùng gia đình đến tĩnh tu trong hai khu nghỉ mát (resort) gần nhau của tỉnh Nakhonratchasima. Mỗi buổi sáng, toàn thể bốn chúng được nghe chung pháp thoại của Thầy. Thời khóa buổi trưa, chiều và tối thì dành cho từng nhóm. Bên 580 bậc cha mẹ thì được 20 vị giáo thọ lớn giảng dạy ở resort Wang Ree. Bên 450 sinh viên, học sinh thì được 18 vị giáo thọ trẻ cùng quý thầy, quý sư cô trẻ trong nhóm Wake Up hướng dẫn thực tập ở khu nghỉ mát cách nhau 15 phút lái xe. Trong số 450 người trẻ, có 300 người Thái cùng với 150 sinh viên từ Indo và 7 nước láng giềng. Đại chúng bất ngờ với sự có mặt của 15 em sinh viên đến từ Việt Nam, tuy không ghi tên nhưng đã  ở đến giờ chót. Lúc chia tay khóa tu ai cũng bịn rịn không muốn về. Nhóm Wake Up Thái  đã lớn  thật nhanh trong khóa tu này. Người trẻ thọ giới quá dễ thương. Chắc cha mẹ họ hạnh phúc lắm. Thị giả Thầy báo cáo rằng, Thầy ngồi trên lầu nhìn xuống và bảo là: Người rất hạnh phúc thấy các con xuất sĩ của Thầy tổ chức khéo, dạy giỏi, làm việc tinh chuyên và nhất là có tinh thần huynh đệ thương kính nhau, chăm sóc cho nhau, có tình anh em, có tình chị em rất vui. Các sư em xuất gia tu học giỏi đã nuôi dưỡng Thầy thật nhiều và Thầy đã có sự tiếp nối vững chãi trong hiện tại và trong tương lai.

Khóa tu xuất sĩ đầu tiên ở Làng Mai bên Thái

Ngày 18.04 đến 22.04 là ngày khai mạc khóa tu cho hơn 500 xuất sĩ Việt Nam – chỉ nói tiếng Việt – trong đó có hơn 300 vị xuất sĩ từ Việt Nam sang, chỉ cần xin con dấu thị thực tại biên giới là đủ. Quý Hòa Thượng, Thượng Tọa, quý Sư Bà không cần giấy mời của Làng mà vẫn tự tổ chức đi Thái thăm Thầy một cách dễ dàng nên ai cũng hạnh phúc! Khóa tu ngắn ngày nhưng rất súc tích.

Buổi sáng, Thầy giảng một bài tuyệt vời về chủ đề người tu phải biết chế tác hỷ lạc, chuyển hóa và xử lý khổ đau, tìm dịp để chế tác tình huynh đệ. Nhiều vị tôn đức cũng giật mình.

Buổi chiều là sự chia sẻ của chư tôn Đức: Hòa thượng Minh Nghĩa, ôn Từ Vân và sư bà Tịnh Nguyện.

Ngày thứ ba Thầy cho đặt câu hỏi. Có một vị tôn đức và một thầy tu trẻ nói con nghe thiên hạ trách là Thầy về thả một bè lau…Thầy cười  và trả lời bằng một bài thơ :

Thầy về thả một bè lau – Ơn sâu đã trả, nghĩa sâu đã đền – Tăng đoàn Giáo hội hai bên – Thoát vòng tranh chấp vững yên Tổ Đình.

Ban tổ chức khóa tu xin làm một buổi triển lãm thư pháp của Thầy như buổi triển lãm trong khóa tu xuất sĩ ở Làng. Thế là tầng 2 của nhà ăn chưa xây xong được biến thành phòng triển lãm với tre, tranh, lá. Ai cũng hạnh phúc với sự sáng tạo và hình thức trình bày khéo léo của ban tổ chức khi thời gian tuy ít mà vật liệu cũng không nhiều. Có một bức thư pháp lớn nằm trên một cái nền, rất đơn giản và nghệ thuật, vốn là… cái cửa sổ của căn nhà tranh. Các sư em ở Thái Lan, Việt Nam đều được chọn một bức thư pháp mình thích sau buổi triển lãm.

Buổi tụng kinh tại trung tâm Làng Mai Thái Lan mới
Buổi tụng kinh tại trung tâm Làng Mai Thái Lan mới

Trưa ngày cuối là phần chia sẻ về quá trình xây dựng Làng Mai Thái. Thầy Pháp Lâm nói về những ngày đói, nghe chuông báo giờ ăn mà vào trễ là không còn gì để ăn. Trong kho thì không bao giờ có mì ăn liền! Đói! Ban ngày làm đủ thứ nghề xây cất, chỗ ăn, chỗ ngủ, tối ngủ thiền đường hội ngàn đinh (!) thay vì thiền đường hội ngàn sao như thiền đường Xóm Hạ ở Pháp. Sàn thiền đường làm chỗ ngủ cho quý thầy, có quá nhiều đinh lởm chởm  mà hễ nằm lăn là rách áo, rách quần.

Tưởng chừng như là một giấc mơ, nhưng lại là sự thật về sự có mặt của tu viện Làng Mai Thái Lan bây giờ. Hẳn đó là một phép mầu, dựng nên với tinh thần gan dạ của sư cô Linh Nghiêm và bao nhiêu tấm lòng Bồ tát cư sĩ bất ngờ xuất hiện. Có lẽ chư tổ đã yểm trợ Thầy và động lòng thương xót mấy trăm vị xuất sĩ trẻ ham tu của Thầy. Có ba khu cư xá. Bốn mươi phòng cho quý sư cô, hai mươi phòng cho quý thầy. Mỗi phòng nếu chen chúc thì ở được năm người. Cũng có phòng học và sinh hoạt riêng. Tu viện dựa lưng bên sườn núi, rất thiền và vững yên.

Buổi tối là giờ chia sẻ – Be in. Văn nghệ xuất sĩ có nhiều màn rất hay, thầy Pháp Hữu có dịp hát nhạc rap nữa.

Khóa tu cho người Việt

Ngày 23 đến 29.04.2013 Bắt đầu khóa tu Tiếng Việt cho hơn 1000 người đến từ mọi miền của đất nước Việt Nam. Đặc biệt có cha, mẹ của các thầy và các sư cô sang Thái thăm con và tu học. Tổng cộng bốn chúng là 1450 người. Năm khu nghỉ mát (resorts) gần nhau chứa hơn 1000 thiền sinh. Số khác ngủ lại trong thiền đường nhỏ giữa các cư xá của quý sư cô và quý thầy tại Trung Tâm Làng Mai Quốc Tế ở Thái. Một số các thầy và sư cô, dù nằm trong danh sách người hướng dẫn vẫn phải sáng đi tối về vì không đủ chỗ ở cho tất cả xuất sĩ. Sở dĩ quá đông vì ban đầu giữ phòng cho những người có ghi tên, khoảng 600 người. Ai dè giờ chót lại có ba mẹ những vị xuất sĩ tham dự nên có thêm 350 người nữa và vào giờ chót như khắp nơi, gần 300 người Việt không ghi tên nhưng cứ đến. Không xếp chỗ thì… tủi thân. Quý sư cô, quý thầy rất dễ thương, thương các cô bác đi đường xa như vậy từ Việt Nam lặn lội xe đò, máy bay, taxi đủ thứ mới đặt chân đến được tận nơi này! Đúng là tri kỷ, không tiếp sao đành! Tùy thuận thu xếp rồi cũng cung cấp được chỗ ở  cho hơn 1200 người! Cô ca sĩ trẻ  Lô Thủy từ Hà Nội đến tu học cũng đã Quy Y thọ Năm giới. 1450 người Việt Nam được nghe Thầy thuyết pháp bằng tiếng Việt, được đi thiền hành, thiền tọa với Thầy, được thực tập thiền buông thư, thiền lạy rất hạnh phúc.

Ngày 28/4 người Thái có tục lệ lên đất mới để cúng dường lúc 11 giờ. Từ 5 giờ 30 sáng, Thầy đã làm Lễ Xuất Gia cho 26 Cây Hoa Gạo. Các sư cô sư chú mới có những tên thật đẹp: Trời Hiện Pháp, Trời Long Hoa, Trăng Thủy Chung, Trăng Sông Hằng, Trời Cát Tường, Trời Bình An, Trời Quang Đãng, Trăng Thường Chiếu, Trăng Ngàn Dặm, Trăng Lên Cao (Cao Đăng Nguyệt), Trời Nội Tâm, Trời Quy Ngưỡng, Trời Linh Cảm, Trăng Tháng Tám (Trung Thu Nguyệt), Trăng Thu Thủy, Trăng Thiên Thần (Thiên Sứ Nguyệt), Trăng Cẩm Tú, Trời Nguyện Ước (Thệ Ước Thiên), Trăng Non Cao (Cao Sơn Nguyệt), Trăng Kiều Diễm, Trời Hồn Nhiên (Thiên Chân Thiên), Trời Nắng Mai (Thần Hy Thiên), Trăng Rừng Thơm (Hương Lâm Nguyệt), Trời Kỳ Diệu, Trăng Truyền Kỳ, Trời Trong Sáng (Tinh Minh Thiên).

Ngày 29-04-2013, ngày cuối của khóa tu tiếng Việt là Lễ Truyền Đăng cho 15 vị giáo thọ mới. Đây là danh sách các vị được truyền đăng với bài kệ các vị ấy đã tiếp nhận:

Thầy Chân Pháp Thừa (Trần Nguyên Hiển)

Pháp mầu truyền lại từ xưa
Trước sau chỉ một Phật thừa mà thôi
Đã về đã tới nơi rồi
Độ ta mà cũng độ đời, không hai

Sư cô Chân Bội Nghiêm (Lê Phương Đông)

Giới thân ngọc bội đoan nghiêm
Định thân nuôi dưỡng chân thiền ngày đêm
Tuệ thân đắc pháp chân truyền
Hiện thân một đóa hồng liên rạng ngời

Thầy Chân Pháp Tú (Lê Minh Triều)

Vạn pháp muôn đời cẩm
Lắng nghe tiếng hải triều lên
Mây bạc trăng vàng biểu hiện
An nhiên từng bước chân thiền

Sư cô Chân Điển Nghiêm (Nguyễn Thị Ngọc Lộc)

Kinh điển chất đầy nửa túi
Cõi lòng rộng mở tinh nghiêm
Sông Hằng có bao nhiêu cát
Bao nhiêu thao thức thệ nguyền

Sư cô Chân Khanh Nghiêm (Trương Thị Lương)

Cát tường một đóa khanh vân
Đoan nghiêm diện mục pháp thân gọi mời
Bước thiền vững chãi thảnh thơi
Triều âm vang dội, đất trời thênh thang

Sư cô Chân Thám Nghiêm (Hồ Thị Thùy)

Non cao châu báu thám tầm
Giới thân nghiêm túc pháp thân tài bồi
Xuân về liễu thắm hồng tươi
Mở tung cánh cửa khung trời thênh thang

Thầy Chân Thánh Hiệp (Hồ Bửu Kiếm)

Chí đem thánh đạo vào đời
Phải nhờ hiệp khách một tay mới thành
Xuân về đào thắm liễu xanh
Bước chân vững mạnh, lộ trình thảnh thơi

Sư cô Chân Liên Lưu (Phạm Thị Thu Trang)

Tay nâng một đóa hồng liên
Nhiệm mầu hoa tạng lưu truyền pháp thân
Trí bi rạng ánh trăng rằm
Quê hương là chốn tăng thân xum vầy

Sư cô Chân Thâm Nghiêm (Hoàng Kim Xuân Dung)

Niệm lực hào hùng thâm diệu
Soi vào thế giới hoa nghiêm
Thấy được bản lai diện mục
Đồng cư trong cõi thánh hiền

Sư cô Chân Xướng Nghiêm (Phan Thị Minh Tâm)

Nhạc khúc đại đồng đang khởi xướng
Từng hàng tùng bách đứng trang nghiêm
Chân tâm mở lối trời cao rộng
Quê cũ về đây mãn thệ nguyền

Sư cô Chân Trình Nghiêm (Vũ Thanh Hồng)

Một cuộc hành trình kỳ lạ
Đi về xứ sở tịnh nghiêm
Hiểm nguy muôn trùng chẳng quản
Trong tay sẵn Kiếm Long Tuyền

Sư cô Chân Tri Nghiêm (Nguyễn Thị Thu Hồng)

Liễu tri vạn pháp là vô ngã
Trang nghiêm tịnh độ chính nơi này
Đã có tăng thân trong cuộc sống
Cơ duyên hóa độ ở tầm tay

Sư cô Chân Hướng Nghiêm (Vũ Kim Nhung)

Chảy về phương Đông một hướng
Đoan nghiêm dòng biếc Tào Khê
Tăng thân là quê hương đó
Bước chân địa xúc hãy về

Sư cô Chân Triệu Nghiêm (Dương Thị Hương)

Hóa thân triệu về đất tổ
Cùng nhau chăm cõi tịnh nghiêm
Bát ngát hương sen mùa hạ
Trong veo dòng biếc ngọc tuyền

Sư cô Chân Đồng Nghiêm (Nguyễn Thị Lành)

Hài hòa hai chữ đồng tâm
Nghiêm trì tịnh giới, pháp thân rạng ngời
Con đường tịnh lạc thảnh thơi
Đất lành chim đậu, một trời vô ưu

Các thầy, sư cô tân giáo thọ chụp ảnh lưu niệm cùng với Sư Ông
Các thầy, sư cô tân giáo thọ chụp ảnh lưu niệm cùng với Sư Ông

Ngày 30/04/2013 phái đoàn Làng Mai ra phi trường Bangkok và đã bay suốt đêm sang Hàn Quốc!

Hàn Quốc

Biết rằng sẽ rất mệt vì chuyến bay đêm nên Thầy xin ban tổ chức đừng cho giới truyền thông biết tin để khỏi đón tiếp hùng hậu như lần trước tại phi trường và để Thầy có thể về nghỉ liền. Cả phái đoàn về cư trú tại Trung Tâm Thiền Quốc Tế ở Seoul (International Seon Center). Chuyến đi này do cô Emi của đài Truyền Hình Phật Giáo Hàn Quốc tổ chức với sự cộng tác của các chùa dòng Tào Khê.

Ngày 02/05/2013 Tăng thân đi thăm thượng thủ Giáo Hội Hàn Quốchọp báo tại đây. Có nhiều câu hỏi nghe rất thương, Thầy đã trả lời rất từ bi và cũng có nhờ thầy Pháp Dung trả lời khá xuất sắc cho một số ký giả trẻ. Hôm sau có nhiều bài báo đăng nhưng toàn tiếng Đại Hàn.

Ngày 03/05/2013 có buồi đối thoại trên truyền hình Thầy trả lời thầy Mishan về một số thắc mắc của người Hàn Quốc. Sau đó phái đoàn được khoản đãi cơm trưa ở đài truyền hình và lên đường tới chùa Woljeongsa, nơi khóa tu sẽ xảy ra vào ngày mai.

Khóa tu từ thứ bảy 04/5 đến 08/5 Đây là ngôi chùa mà Thầy, Thiền Sư Baker Roshi, Anh Arnie, chị Joan Halifax, chị Therese và Sư cô Chân Không viếng thăm năm 1995. Năm ấy họ trân quý Thầy, Sư cô Chân Không và thiền sư Baker Roshi nhưng không cho Joan Halifax, Arnie và Therese vào vì cho đó là cư sĩ! Lần này họ tiếp đón tăng thân rất chu đáo. Sáng ngày 4/05 có 5000 vị cư sĩ tới nghe hướng dẫn thiền đi. Họ có tục lệ hằng năm, đúng ngày nầy thì đi bộ năm cây số ở rừng cây sau chùa. Chùa muốn tập cho họ đi cho có chánh niệm hơn. Sau đó khóa tu tiếp tục bằng Pháp thoại của Thầy. Chùa mướn cả những khách sạn chung quanh mà chỉ chứa được có hơn 600 người. Tháng này hoa Đỗ Quyên nở đẹp vô cùng. Cả một mảng đồi màu tím, khung cảnh đơn sơ thanh tịnh trên núi dễ chuyển hóa lòng người. Thiền sinh ủ rủ ngày đầu đã chuyển buồn làm vui khá nhanh. Thầy Pháp Ứng và sư cô Linh Nghiêm trình bày pháp môn LÀM MỚI rất có bài bản! Thiên hạ thích lắm, nhất là mục thiền ôm trong chánh niệm với những người thân trong gia đình. Ngay các ông thầy tu hơi khó tánh cũng được chuyển hóa nhanh chóng. Ngày chót, các vị dân biểu nghị sĩ của vùng đến uống trà với thầy và Thầy cũng trả lời một số câu hỏi của họ.

Khóa tu Xuất Sĩ hai ngày tại Viện Trung Ương Tăng Già Đại Học tại Seoul ngày 08 và 09/05/2013. Hơn 500 tu sĩ đã tu học thật tinh chuyên và có khi hơi cứng. Buổi sáng Thầy hướng dẫn tổng quát xong thì buổi chiều có nhiều workshops nhỏ chia làm nhiều nhóm. Ngày thứ hai Thầy nói vấn đề Phật Giáo Dấn Thân (Applied Buddhism). Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội là điển hình dấn thân của thanh niên tăng trẻ. Có một chuyện mà Thầy nhắc hoài là Làng Mai chúng tôi phải chú tâm tới bốn điểm: Bốn mà là một: TU, HỌC, CHƠI và PHỤNG SỰ. Tu cũng vừa tu vừa chơi, Học cũng vừa học vừa chơi. Phụng sự cũng vừa phụng sự vừa chơi.

Khoá tu xuất sĩ tại Seoul
Khoá tu xuất sĩ tại Seoul

Chiều hôm đó trên nguyên tắc là đến 18 giờ 30 anh chị em tu sĩ sẽ chia ra thành 6 nhóm theo sự tự chọn của mình: nuôi dưỡng Bồ đề tâm, giáo dục thanh thiếu niên, đạo Bụt Áp Dụng trong đời sống hằng ngày, làm mới các giới luật… Nhưng mới 18 giờ đã xong buổi cơm chiều, mọi người tập họp trước sân Viện Đại Học, sư cô Chân Không chia sẻ vài bài hát thiền Làng Mai. Sau đó sư cô lại nghĩ tại sao không mời họ chia sẻ bài hát hay bài kinh gì hay của Hàn Quốc. Cuối cùng, hai bên cứ chia sẻ hết bài hát này đến bài khác, hết đạo ca thì đến dân ca. Đúng 18 giờ 30 thầy Viện Phó ra hỏi ai muốn đi nhóm workshop nào thì sự đáp ứng không nồng nhiệt lắm vì ai cũng đang tận hưởng năng lượng tình huynh đệ thoải mái và thân tình mới chế tác  được. Khi hỏi ai muốn ở lại tiếp tục hát vui thì tất cả đều đưa tay đồng ý 100%! Buổi BE-IN đó kéo dài hơn 2 giờ. Khi buộc phải dừng lại thì đã khuya. Hôm sau lúc từ giã, thầy Viện Trưởng nói : ‘‘Hồi chiều qua tôi đi ra định hỏi sao lại không đi chia thành nhóm pháp đàm, nhưng khi ra đây thấy thiên hạ chia sẻ vui quá đi, nên tôi (Hòa Thượng) cũng muốn hát một bài nhưng … không có ai mời tôi hết nên… thôi! Thiên hạ cười vui quá đỗi. Rốt cuộc thì thầy cũng hát được một bài. Phái đoàn Làng Mai đáp lễ lại bài “Không đến không đi”.

BUSAN và buổi thuyết pháp lớn nhất của chuyến đi

Khi chia tay Viện Đại Học để ra phi trường, Thầy đã bắt đầu mệt và đau ran ngực nhưng phải lên phi cơ liền để đi Busan, thủ đô Miền Nam – Nam Hàn. Thầy thấy trong người không khỏe, giây thần kinh giữa các bẹ sườn ngực sưng nhức, Thầy uống thêm thuốc trị viêm cho sớm khỏe để hôm sau còn làm việc. Ai dè thuốc phản ứng khiến Thầy xót ruột và đau quá. Thầy không dùng được chút cơm cháo gì hết suốt ngày thứ năm. Thầy lên phi cơ đi tiếp đến Busan, từ ba giờ chiều ngày đó đến khuya vẫn không ăn uống gì được. Khi mọi người đi ngủ, Thầy lã người nằm thở nhưng vẫn không ngủ được. Càng về khuya ruột càng xót quặn. Thầy muốn hỏi thăm thuốc tráng dạ dày như Phosphalugel nhưng hai thầy thị giả ngủ hết rồi. Đánh thức họ thì tội quá. Thầy chịu đựng cả đêm. Năm giờ sáng rạng ngày thứ sáu mồng 10/5/2013 Thầy mới đánh thức thầy Pháp Hữu dậy nhờ điện thoại xem quý sư cô có thuốc Phosphalugel không? May quá quý sư cô còn hai gói, đem lên lầu ngay cho Thầy. Uống xong tới 8 giờ rồi 9 giờ sáng Thầy vẫn còn đau và không dám ăn gì dù là vài thìa cháo. Thầy nằm im bất động. Đại chúng được biết ban tổ chức đã chuẩn bị hơn một năm mới quy tụ trên 10 ngàn người cho buổi nói chuyện này nên ban thị giả chưa dám tin cho họ biết. Tuy vậy các thầy thị giả đã báo động cho tăng thân xuất sĩ rồi, có thể các thầy Pháp Ứng, Pháp Dung và sư cô Chân Không phải thuyết pháp thay Thầy thôi. Đến 11 giờ rồi 12 giờ Thầy vẫn không ăn uống, không ngồi dậy nổi trong khi theo nguyên tắc là vào 15 giờ 30 Thầy đã phải thuyết pháp rồi. Lúc 13 giờ ban tổ chức báo tin ba sân lớn trước chùa Bemeosa nằm thành ba tầng với những màn hình to tướng, ở mỗi tầng đã đầy người mà thiên hạ vẫn tiếp tục lũ lượt kéo tới, đông quá, đông quá như ngày hội. Cứ đà này mà đi thì  vào 5 giờ 30 chắc cũng có ít nhất là 13 nghìn người vì mỗi tầng có thể có đến 4500 người.

Nằm thật yên một hồi lâu, Thầy tâm sự với chư Tổ: “Chư Tổ muốn cho người dân Đại Hàn nghe con nói pháp thoại thì chư Tổ hãy làm cho con mạnh lên, còn nếu không thì con đau cũng được, tùy ý chư Tổ!” Thầy nằm yên, không lo lắng. Hạt giống lo ngại trong Thầy đã được chuyển hóa từ mấy chục năm trước, nay Thầy càng thấy rõ ràng hơn. Ngày xưa, mỗi chuyến đi Mỹ, Thầy phải giảng pháp thoại cho hàng ngàn người tại những thính phòng rất lớn hoặc tại các trường đại học. Nếu Thầy bệnh thì sẽ ảnh hưởng nhiều thứ và sẽ làm cho không biết bao nhiêu người thất vọng. Vì vậy Thầy luôn thấy mình ái ngại. Mà tánh Thầy thì không muốn làm cho ai đau khổ và thất vọng hết. Thầy thực tập vài năm mới đi qua được tâm hành ái ngại ấy. Hôm đó, Thầy chấp nhận và bình an với tình trạng sức khỏe của mình. Thầy đã làm tốt nhất những gì Thầy có thể làm được, còn lại Thầy xin giao cho chư Tổ.

Rồi bỗng nhiên Thầy nghĩ: “Mình muốn chư Tổ giúp mình thì mình cũng cần giúp chư Tổ điều gì đó chứ!” Và Thầy gắng dậy, đi rửa mặt và cạo râu. Sau đó, Thầy đồng ý đi tới chùa Bemeosa chỗ thuyết pháp mà 13 ngàn người đang trông đợi dù là  chỉ để  có mặt mà thôi. Lúc đó là 14 giờ 15 phút, xe chạy mất 1 giờ 15 phút, vừa tới nơi, mười lăm vị đại lão Hòa Thượng Hàn quốc đã tới bao quanh Thầy, xin Thầy vui lòng báo tin dùm quần chúng và mời quần chúng đi tham dự ngày 27 tháng 9 tới đây chùa sẽ làm lễ Cầu Nguyện Hòa Bình cho Nam Bắc Hàn vì chưa bao giờ mà thiên hạ đi đông như thế. Thầy nói : ‘‘Cầu nguyện suông làm sao đủ. Quý vị phải tu, phải tổ chức những khóa tu học cho gia đình, trường học, cho giới doanh  thương, chính trị gia, dân biểu v.v…, trước ngày 27- 9-2013 đó!’’ Nói xong Thầy vịn vai hai thị giả Pháp Hữu và Pháp Nguyện đi vào trong. Hai thị giả nỗ lực hết sức chăm sóc cho Thầy bằng tất cả các phương pháp có thể, để cơ thể Thầy phục hồi trở lại. Mười lăm phút sau, Thầy đi ra hướng dẫn Niệm Bồ Tát Quán Thế Âm rồi bắt đầu giảng.

Thông điệp: Vấn đề chính là nỗi sợ hãi

Thầy có cảm tưởng là chư Tổ đã gửi thông điệp và muốn Thầy nói ra: “Rằng vũ khí nguyên tử hay vũ khí hạt nhân mà người Bắc Triều Tiên đang chế tác và thử nghiệm không phải là vấn đề mà vấn đề chính là nỗi sợ hãi. Tại vì người dân Bắc Triều Tiên có nhiều nỗi sợ. Họ sợ nước Mỹ, sợ Nam Hàn và khối tự do chiếm đóng họ nên họ mới phải chế tạo vũ khí hạt nhân”. Vì vậy chủ đề của bài pháp thoại đó là: Vấn đề then chốt không phải là vũ khí hạt nhân’. Nếu tổng thống Obama biết làm cho Iraq, Iran hết sợ thì dầu có vũ khí hạt nhân cũng không có hại gì. Chư Tổ muốn Thầy truyền lại thông điệp đó và Thầy đã nói được như vậy. Thầy nói về sự hòa giải trong gia đình. Lấy ra khỏi gia đình những tri giác sai lạc của mình về mình và về người kia bằng sự lắng nghe phần mà mình chưa thấy rõ và phần người kia chưa thấy rõ về mình, thì tự nhiên hòa giải được và áp dụng.

Vấn đề Nam-Bắc Triều Tiên cũng thế. Phải thăm viếng, lắng nghe, đề nghị và chia sẻ cái thấy của mình. Lắng nghe sâu để hiểu tại sao. Nếu Nam Hàn muốn giúp đỡ, hoặc Bắc Hàn muốn giúp ra sao, mỗi bên nên trình bày ra mong ước của nhau, chứ đừng theo ý mình rồi đặt để lên họ cái thấy của mình. Người dân Hàn Quốc phải biết sử dụng gia tài đạo Bụt để làm an bình thân tâm, xử lý và làm chủ những cảm xúc lớn như giận dữ, sợ hãi. Phải tập lắng nghe nhau, hiểu và thương nhau để từ từ xây dựng tình thâm thành một khối. Thầy dạy tỉ mỉ cách đi đứng, ngồi, nằm, làm việc trong chính niệm, làm sao để không tán loạn tâm ý, để có định tâm, để nhìn rõ, thấy sâu hơn mà hành sử cho đúng pháp. Thầy dạy phải có những khóa tu để những cặp cha con, mẹ con nên liên hệ như thế nào để tái lập truyền thông, mọi người trong trường học, công sở, đảng phái, quốc hội phải tập lắng nghe nhau ra sao. Thầy thuật lại Thầy đã chia sẻ cách tu tập với những người Do Thái và Palestin như thế nào và vì thế Nam Hàn và Bắc Hàn nếu đi từng bước trong chánh niệm như thế thì sẽ thành công.

Thính chúng ngồi lặng yên nghe đầy hứng khởi và cảm động khi thấy được một hướng đi rõ ràng từng bước. Thầy nói xong một mạch 45 phút rất cô đọng rồi đứng dậy xá chào ra về. Trên xe, Thầy nhắm mắt giữ yên để hồi phục năng lượng! Các sư con biết Thầy rất mệt mà cũng thấy rất rõ nghị lực phi thường và tình thương cao quý trong lòng Thầy. Biết chuyện này, bất cứ sư con nào của Thầy cũng rơi lệ. Thầy của chúng ta đã vào tuổi 88 rồi đó.

Ngày hôm sau Thầy và thị giả bay về Seoul nghỉ ngơi trong khi quý thầy quý sư cô trong tăng thân đi thăm thầy Trí Huyền ở chùa Quan Âm rồi về Seoul dự Phật Đản. Buổi lễ thật huy hoàng với buổi diễn hành của hàng trăm xe hoa rất đẹp.

Chủ nhật 12/05/2013 có ngày Quán niệm và sinh hoạt Wake Up ngay tại Trung Tâm Thiền Quốc Tế. Thầy chỉ ra chia sẻ vài lời và sau đó quý vị giáo thọ đi theo đã dạy rất xuất sắc… Cuối ngày có một vị giám đốc của hãng Samsung đã tham dự từ đầu, đã tới và đưa danh thiếp. Ông hỏi nếu tăng thân cần gì và làm gì mà ông có thể giúp gì được thì cứ điện thoại. Sư cô Chân Không mỉm cười thật tươi xin ông thực tập giỏi để vợ con và nhân viên của ông nhờ!

Ngày thứ ba 14/05/2013. Lại có buổi thuyết pháp công cộng cho 10,000 người tại vận động trường Seoul. Thầy lại giảng tiếp những gì chưa chia sẻ hết trong ngày dạy ở Busan. Ban tổ chức hứa sẽ phiên tả hai bài giảng ở Busan và Seoul của Thầy thành một quyển sách và phổ biến  cho toàn quốc Nam và Bắc.

Hồng Kông

Ngày 15/05/2013 Thầy và Tăng thân lên đường đi Hồng Kông. Nghỉ ngơi tại chùa Liên Trì được hai ngày thì đến ngày 18/5/2013, Thầy và Tăng thân hướng dẫn một Ngày Chánh Niệm cho Hồng Kông Ed (Viện Đại Học Quốc Tế về Giáo Dục).

Buổi thuyết giảng công cộng cho 11,000 người tại Conventional Center - Hồng Kông
Buổi thuyết giảng công cộng cho 11,000 người tại Conventional Center – Hồng Kông

Ngày chủ nhật 19/5/2013, Chùa Liên Trì làm Lễ Phật Đản, Thầy thuyết pháp trước rồi mọi người làm Lễ tắm Bụt. Ăn cơm chánh niệm chung ở ngoài ‘‘sảnh đường rừng’’ (một khoảng rừng trong đất chùa được dọn sạch dùng làm pháp đường ngoài trời), xong sư cô Chân Không hướng dẫn thiền buông thư cho người lớn, và sau đó đại chúng đặt câu hỏi với Sư cô và những vị giáo thọ. Người trẻ thì được quý thầy quý sư cô trẻ hướng dẫn sinh hoạt rất vui bên sân trong.

Sáng thứ hai 20/5/2013 Tiến Sĩ Charles Yeung và Ban Quản Trị lo phần vật chất cho Viện Phật Học Áp Dụng tại Á Châu gặp Thầy và quý thầy quý sư cô đặc trách tu tập cho Viện. Thầy có nhờ ông tìm một trung tâm ở dưới phố để tránh ẩm ướt cho những vị xuất sĩ bị bệnh phong thấp. Thầy cũng dạy ông nên chọn một số nhân viên đến tham dự một khóa tu tập để có thể lo sức khỏe tinh thần và vật chất cho hàng ngàn người cộng tác trong công ty của ông.

Thứ ba 21/5/2013 là một ngày Chánh niệm dành cho 300 chuyên viên chăm sóc bệnh viện như bác sĩ, tác viên xã hội, y tá.

Từ ngày 22 đến 26/5/2013 Khóa tu Chánh niệm tại Wu Kai Sang cho 1200 thiền sinh.

Ngày 27/5/2013 có buổi thuyết giảng công cộng cho 11,000 người tại Conventional Center của Hồng Kông, Phật tử cũng như chư tôn đức ở Hồng Kông đều rất thích buổi chiều hôm đó với sự hiện diện của Thầy và Tăng thân Làng Mai. Thính phòng rộng rãi có chỗ cho hơn 10,000 người này thường là để nghe các tài tử thượng thặng. Một tháng trước đây thôi, Phật Tử Phật Quang Sơn có tổ chức văn nghệ Phật Đản tại đây, cũng rất ồn ào. Vậy mà từ 14 giờ trưa ngày 27/5/2013 các thầy và các sư cô Làng Mai đã hướng dẫn thiền ca, thiền tọa, rất là thanh thoát nhẹ nhàng, thính chúng thoải mái… Cho tới khi Thầy ra giảng, thính chúng thật đông mà thật yên. Đại chúng Hồng Kông rất lấy làm ấn tượng. Sau khi Thầy và Tăng thân rời Hồng Kông, Phật tử vẫn đến Chùa Liên Trì tu tập ngày chủ nhật rất đông.

 

Đức- Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu

Từ Hồng Kông Thầy và phái đoàn bay thẳng về Viện Phật Học Ứng Dụng Waldbroel, Đức. Ở Học Viện, Thầy được nghỉ ngơi nhiều hơn nhưng vẫn còn yếu. Học Viện năm nay thay đổi nhiều và đẹp hẳn ra. Các sư cô đã dọn qua chùa Đại Bi ở  nên năng lượng của ni chúng hùng hậu hơn. Công trình xây dựng Tháp Bao Dung cũng đã xong, rất hùng tráng. Tháp được dựng bằng những trụ gạch đúc sẵn từ trăm năm trước cất giữ ở tầng hầm. Những khối đá

Tháp chuông tại học viện EIAB
Tháp chuông tại học viện EIAB

hình trụ này, được đúc từ thời Đức Quốc Xã, thay vì dùng vào việc phục vụ cho chính quyền cũ, nay đã trở thành một biểu tượng tâm linh, đem lại thật nhiều chuyển hóa, trị liệu và bình an. Nghe nói những trụ gạch này cũng có giá trị lịch sử nên phải xin phép chính quyền trước khi sử dụng. Đây là một tháp chuông Đại Hồng rất khác với những tháp chuông ở Làng vì có thêm giá trị lịch sử của Đức mà lại phải hài hòa với truyền thống Phật Giáo Việt Nam. Vị kiến trúc sư vẽ kiểu tháp chuông này có nghiên cứu về truyền thống châu Á, nên kiến trúc tháp chuông cũng nhẹ nhàng hơn một bản vẽ khác thuần châu Âu của vị kiến trúc sư trước. Xung quanh tháp chuông là một khu vườn nhỏ mang tên Vườn Chuyển Hóa có nhiều tượng Bụt, có con đường thiền hành mang tên Con Đường Vui đi quanh và dẫn xuống đường xe chạy nên người đi bộ bên ngoài có thể lên thăm dễ dàng. Đầu con đường là một cái cổng đơn sơ cũng bằng những trụ đá như vậy, có khắc câu “Cái này có vì cái kia có” bằng tiếng Đức và tiếng Anh.

Học Viện đã làm lễ cúng Đại Thí Thực ở tháp chuông Bao Dung và lễ Quy Y cho các vong hồn, uổng tử, rước linh từ tháp chuông vào trong bàn linh ở tiền sảnh học viện EIAB. Sau năm năm có mặt ở thành phố Wadbroel, hôm nay là lần đầu tiên bàn thờ linh của EIAB đã có linh vị. Sau đó Thầy đã thỉnh ba tiếng chuông Đại Hồng. Tiếng chuông rất hùng làm ấm cả Học Viện. Xung quanh Học Viện là nhà thương, nhà dưỡng lão mà xin được phép thỉnh chuông Đại Hồng sáng, tối (7g sáng và 6g tối, mỗi lần 10 phút) là cả một niềm vui lớn. Nghe nói mỗi khi các thầy các sư cô thỉnh chuông đều có người dưới phố lên nghe và rất thích. Ở một thành phố châu Âu mà mình được thỉnh chuông Đại Hồng ngay trung tâm thật là một điều may mắn.

Có hai khóa tu được tổ chức, một cho người nói tiếng Hòa Lan (4/6 – 9/6) và một cho người nói tiếng Đức (11/6 – 16/6).  Khóa nào cũng khoảng từ 500 đến 600 người như thường lệ. Năm nay các thầy và các sư cô Học Viện đã nói được tiếng Đức nhiều hơn nên khi được hướng dẫn tu học, thiền sinh rất hạnh phúc.

 

Khóa tu mùa hè 2013 (6/7 – 3/8) tại Làng

Mùa Hè năm nay trẻ con đến từ nhiều quốc gia đông quá, vượt trội những năm qua. Trẻ con đủ các lứa tuổi, từ 6 tháng được bố mẹ bồng, ẵm, địu đến khóa tu, đến các cháu mới biết đi lẫm đẫm cho tới thiếu nhi đã có thể đi vào chương trình mà các thầy, các sư cô và các bạn tình nguyện viên chăm sóc. Làng có chương trình dành cho thiếu nhi từ 6 đến 12 tuổi song song với chương trình dành cho teens (từ 13 đến 19). Các cháu dưới 6 tuổi không được chính thức tham gia chương trình nhưng vẫn có thể tới chơi với điều kiện là phải có cha hoặc mẹ đi kèm. Chương trình thực tập cho các cháu bao gồm thiền sỏi, thiền buông thư, thiền cam/quít, thiền gieo hạt giống, thiền làm thiệp… Các cháu cũng được dạy về hai lời hứa của thiếu nhi. Đến cuối khóa tu có rất nhiều cháu chính thức lên chánh điện thọ nhận Hai lời hứa. Mỗi tuần một lần, hai nhóm thiếu nhi và teens được thực tập làm mới với cha mẹ. Đây là một thực tập rất cảm động và mới mẻ cho rất nhiều gia đình. Bởi vì khi thực tập làm mới, cả hai phía đều thực tập nói lời ái ngữ và lắng nghe sâu, những điều mà ở nhà ít ai làm. Ở đây, các cháu thấy cha mẹ mình cũng có khả năng im lặng lắng nghe để đón nhận những gì mình muốn bộc bạch mà không phê bình, lên án hay phản ứng giống như ở nhà. Nhiều cặp cha mẹ và con cái đã khóc và nối lại được truyền thông sau những buổi làm mới đó.

Thầy ưu tiên cho các cháu thiếu nhi hỏi
Thầy ưu tiên cho các cháu thiếu nhi hỏi

Mùa Hè này mỗi tuần Thầy cho pháp thoại 4 lần, trong đó có một buổi vấn đáp. Thường thường trong các buổi vấn đáp, Thầy ưu tiên cho các cháu thiếu nhi hỏi trước, xong mới đến thiếu niên, rồi thanh niên. Người lớn hỏi cuối cùng. Có một bé lên nói với Thầy bé không hiểu được tình thương là cái gì,  bởi vì ba mẹ cháu tuy đã ly dị mà vẫn cứ cãi vả la lối nhau hoài. Tại sao họ không thể ở chung với nhau được? Bé vừa hỏi vừa nức nở khóc làm cho nhiều người lớn có mặt trong thiền đường không sao cầm được nước mắt. Có nhiều câu hỏi của các bé cũng rất “người lớn” như: “Làm sao để con có thể bớt lo lắng?”, “Tại sao con khổ?”, “Khi nóng giận con phải làm sao để giải tỏa nó?” “Con làm gì khi con mất ngủ?” Câu hỏi này chắc chắn là cũng là câu hỏi của nhiều bậc phụ huynh.

 

Canada và USA

83 ngày giảng dạy ở Bắc Mỹ Châu (7/8/2013 – 28/10/2013 )

Chuyến đi này không như các chuyến hoằng hóa  trước. Mỗi trung tâm đều có đại diện trong chuyến đi nên gặp nhau hai ngày đầu tại Toronto ai cũng mừng! Ban Tổ Chức Miền Đông Hoa Kỳ có sư cô Lăng Nghiêm và thầy Pháp Chiếu. Ngoài ra Bích Nham còn có các thầy Pháp Khôi, Pháp Không, Pháp Vũ và các sư cô Thệ Nghiêm, Giới Nghiêm, Chỉ Nghiêm. Thái Lan có sư cô Linh Nghiêm. Hồng Kông có sư cô Hành Nghiêm. Tu viện Mộc Lan có sư cô Hỷ Nghiêm và Xứ Nghiêm. Tu viện Lộc Uyển thì có quý sư cô Trung Chính, Hương Nghiêm, Kính Nghiêm, Mật Nghiêm, Mẫn Nghiêm và Tịnh Nghiêm. Từ Viện Phật Học Âu Châu ở Đức đến thì có thầy Pháp Trạch, sư cô Châu Nghiêm và Làng Mai bốn Xóm cũng tự  đề cử những người theo Thầy đi hoằng hóa, còn một số những người ở lại nhà chăm sóc xóm và các sư em và duy trì sự tu tập. Lo cơm cho Thầy trong chuyến là sư cô Hỷ Nghiêm và sư cô Bách Nghiêm đoạn đầu và sư cô Thao Nghiêm đoạn sau. Thị giả Thầy vẫn là các thầy Pháp Hữu và Pháp Nguyện. Tháp tùng với Thầy kỳ này cũng có các vị đệ tử lớn của Người như sư cô Chân Không, các thầy Pháp Đăng, Pháp Niệm, Pháp Dung, các sư cô Thoại  Nghiêm, Định Nghiêm, Tuệ Nghiêm, Bích Nghiêm và Thanh Ý.

Từ ngày 11 đến 16/8/2013: Khóa Tu cho Giáo Chức và những người thao thức về Giáo Dục Khóa tu với chủ đề Thầy cô giáo hạnh phúc sẽ làm thay đổi thế giới tại đại học Brock, Toronto có 1,326 thiền sinh tham dự, trong đó có tới 780 nhà giáo dục và 931 thiền sinh mới dự một khóa tu lần đầu. Ban tổ chức cho biết là còn 800 thiền sinh đang trong danh sách chờ đợi vì Viện Đại Học Brock không thể nào lo ăn nhiều hơn cho 1,300 người. Với số người này, Viện Đại Học phải dùng hai nhà ăn và mỗi nhà ăn chỉ nhận 660 người chia thành hai nhóm. Nhóm A có 330 người ăn trước, Nhóm B cũng 330 người chỉ vào phòng ăn 45 phút sau khi nhóm A đã ăn xong. Trong khóa tu này có tới 55 gia đình pháp đàm, trong đó có những nhóm riêng biệt cho Giáo sư đại học, Giáo sư trung học và sinh viên. Ngoài ra thanh thiếu niên và trẻ em (có khoảng 45 em) cũng có chương trình riêng. Thiền sinh tới từ Mỹ, Mexico, Canada… ai cũng khao khát tu học, hết lòng thực tập và trông cậy vào sự thực tập Chánh Niệm như một hướng đi cho tương lai của ngành giáo dục hiện đại.

Ngày 11/08 sau lời khai thị của Thầy, quý thầy quý sư cô đã niệm danh hiệu Bồ Tát Avalokiteshvara để mở đầu cho khóa tu rất trang nghiêm và cảm động. Thầy bắt đầu buổi hướng dẫn tổng quát với những lời hướng dẫn ngắn gọn về thiền hành trong khoảng 15 phút: ‘‘Thiền hành là một phương pháp thực tập mầu nhiệm để có thể sống một cách sâu sắc trong giây phút hiện tại của đời sống hàng ngày. Mỗi bước chân đều có thể đưa chúng ta trở về với ngôi nhà đích thực của mình ngay bây giờ và ở đây”. Thầy còn kể một câu chuyện về cô phóng viên của tờ Témoignage Chrétien ở Paris về tới Làng với dự định là viết một bài về thực tập Chánh Niệm. Cô ở lại xóm Mới hai tuần, và mặc dù cô đã nghe tất cả những lời hướng dẫn về thiền hành nhưng buổi đầu tiên khi cô thực tập, tâm cô đã “từ chối” không chịu đi theo đôi chân của cô. Nhưng chỉ sau đó 15 phút, cô đã có thể đưa tâm trở về và tận hưởng từng bước chân của mình. Khi trở về cô đã viết một bài báo về Làng Mai với tựa đề: Xứ sở của giây phút hiện tại. Thầy khen bài báo đó rất hay vì nó đã được viết bằng chính kinh nghiệm thực tập của cô phóng viên.

Sau đó, Thầy mời thầy Pháp Hải và sư cô Tùng Nghiêm lên chia sẻ về những thực tập cụ thể trong khóa tu. Trước khi đi nghỉ Thầy mời đại chúng sáng hôm sau đi thiền hành với Thầy vào lúc sáu giờ sáng trước buổi ngồi thiền.

Vì thiền sinh khá đông nên sáng hôm sau, ban tổ chức chia thành hai nhóm để đi thiền hành. Một nhóm do Thầy hướng dẫn và một nhóm do sư cô Trung Chính (tu viện Lộc Uyển) hướng dẫn đi từ hai tòa nhà của đại học Brock. Khi Thầy ngồi xuống nghỉ thì nhóm do sư cô Trung Chính hướng dẫn cũng đã tới nhập vào và sau khi ngồi yên lặng mười lăm phút, Thầy dẫn đại chúng về thiền đường bắt đầu giờ thiền tọa.

Chia sẻ ưu tư cho nền giáo dục Việt Nam

Trước khi đi Bắc Mỹ, thầy Pháp Dung đã gửi một lá thư cho ông Bộ trưởng bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam Phạm Vũ Luận để chia sẻ về ước mơ: Đem chánh niệm vào các lãnh vực giáo dục Việt Nam. Trong lá thư thầy Pháp Dung có chia sẻ: “Có thể Việt Nam đang nhìn về phương Tây để tìm kiếm một mô hình giáo dục cho đất nước mình. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy rằng Việt Nam vốn là một đất nước giàu truyền thống văn hóa, trong đó giáo dục là một khía cạnh thiết yếu và quan trọng của nền văn hóa dân tộc. Lịch sử Việt Nam đã có biết bao vị thầy lỗi lạc đáng để chúng ta kính ngưỡng và học hỏi. Tình nghĩa thầy trò cũng là một di sản văn hóa quý giá và độc đáo của Việt Nam. Thật vậy, nghề giáo luôn được đánh giá cao và rất được quý trọng trong xã hội Việt Nam. Vào dịp lễ Tết, các bậc phụ huynh và học sinh đều đến thăm thầy cô giáo để bày tỏ tấm lòng quý kính và biết ơn của mình. Không những vậy, Việt Nam còn có ngày lễ truyền thống để tôn vinh các nhà giáo, đó là ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11. Tuy nhiên, chúng tôi cũng đồng thời nhận thấy rằng truyền thống giáo dục của Việt Nam hiện đang gặp nhiều khó khăn và thách thức trước tình trạng các trường học hiện chú trọng quá nhiều vào thi cử và bằng cấp, giáo viên và học sinh ngày càng bị áp lực căng thẳng và không có sự thực tập để giúp họ lắng dịu thân tâm và chăm sóc các cảm xúc mạnh. Chính vì vậy mà chúng tôi mong muốn cung cấp một chương trình đào tạo có khả năng đưa sự thực tập chánh niệm vào trong mô hình giáo dục hiện đại, đồng thời giúp duy trì và nuôi dưỡng tình nghĩa thầy trò trong trường học.” Lá thư đã nhận được nhiều phản hồi tích cực của các bạn trẻ trong đó có giảng viên, sinh viên, học sinh tại Việt Nam.

Các bài pháp thoại ngày 13 và 14 tháng 8 đã được đưa trên Pháp đường trực tuyến. Ngày 15/8, thiền sinh được đặt câu hỏi trực tiếp với Thầy. Ước mong các thầy cô và các bạn sinh viên, học sinh Việt Nam có thể thừa hưởng được tuệ giác của Thầy và ứng dụng những thực tập chánh niệm vào trong việc giảng dạy cũng như học tập của mình.

Ngày 16/8/2013 Hơn sáu trăm thiền sinh đã ghi tên tiếp nhận Năm phép Tu Tập Chánh Niệm. Thật là cảm động khi thấy sáu trăm vị “đưa đò” quỳ xuống nhận Năm phép tu tập như là dụng cụ để nhắc nhở mình đi về hướng đẹp đẽ đó cho thế hệ học trò mai sau.

17/08/2013 Có buổi thuyết pháp công cộng ở Sony Centre, Toronto: 4,800 vé bán ra đã hết từ lâu rồi nên ngày hôm đó có một số vé vào cửa, thiên hạ bán chợ đen 400 dollars thay vì 60 dollars. Ai mà ngờ rằng vé đi nghe thuyết pháp cũng có giá chợ đen.

18/08/2013 Ngày Quán Niệm cho thiền sinh Việt Nam. Đồng bào Việt Nam quá hạnh phúc được nghe thuyết pháp bằng tiếng Việt dù ai cũng biết tiếng Anh.

Ngày 19/8/2013 Thầy và tăng thân lên đường về lại Tu Viện Bích Nham tại tiểu bang New York bằng xe buýt.

Ngày 20 đến ngày 24/08/2013 Thầy nghỉ ngơi, ngồi lắng nghe và đi thiền hành với các con xuất sĩ của Thầy. Trong thời gian này có gia đình anh John Hussman tới tu tập. Sư cô Chân Không đã chia sẻ nhiều về các pháp chỉ, quán, pháp môn tưới hoa, lắng nghe, làm mới, cho vợ và con của anh. Anh rất cám ơn.

Từ ngày 25  đến ngày 30/8/2013 Khóa Tu dành cho 1000 người nói tiếng Anh. Lại cũng một danh sách chờ đợi khá dài. Văn phòng tu viện Bích Nham ghi đến người thứ 800 thì quý sư cô quyết định khóa sổ nhưng những thiền sinh “đặc biệt” như nhân viên Parallax hay những vị Tiếp Hiện làm việc thiện nguyện mấy tháng nay, ba mẹ các thầy sư cô cũng khá đông nên số người lên tới 1,015 rồi mà danh sách chờ đợi cũng còn quá đông. Khi con số chờ đợi lên đến 600 người, sư cô Lăng Nghiêm nói đã mướn hết các hotels lân cận rồi, không thể nào nhận thêm được.

Ngày  01/9/2013 Ngày Chánh Niệm gây quỹ cho Tu Viện Bích Nham. Xe hơi đậu nghẹt cả các đường lân cận và thiền đường Đại Đồng của Bích Nham trở nên quá nhỏ. Quý thầy mướn 500 cái ghế để đặt hai bên hiên mà cũng không đủ. Thính chúng ngồi ngay trên sân đá, quanh chiếc hồ xinh xắn mới xây trước thiền đường để nghe pháp.

Triển Lãm Thư Pháp của Thầy tại ABC Homes, New York
Triển Lãm Thư Pháp của Thầy tại ABC Homes, New York

Ngày 05/9/2013 Khai trương 4 tháng Triển Lãm Thư Pháp  của Thầy ở trung tâm ABC New York, số 80 đường Broadway. Cả năm trước thầy Pháp Chiếu và, thầy Pháp Nguyện đã làm việc với công ty ABC Home cho cuộc triển lãm này. Có tiếp tân và họp báo. Có bác sĩ  Deepa Chopra tới tham dự và giới thiệu về Thầy. Đài truyền hình Fox News có 2 phút 30 giây chiếu về buổi triển lãm này vào tháng 12. (Xem Video)

Ngày 6/9/2013 Nghỉ ngơi tại New York

Vào ngày 07/9/2013 Có buổi thuyết pháp Công Cộng tại  Beacon Theatre, NYC, lúc 3 giờ chiều. Lần đầu tiên anh Hoàng Anh Sướng, một ký giả tự do ở Việt Nam qua, rất ngạc nhiên thấy sao người tới nghe thuyết pháp đông đến thế và nghe nói phải mua vé trước ba bốn tháng. Rất đông người xếp hàng vào cửa. Màn hình thật sang, thật to nằm bên trên nên dù phải ngồi chỗ xa cũng thấy mặt Thầy và tăng thân xuất sĩ khá rõ. Sau khi Thầy thuyết pháp, sư cô Chân Không nhắc về triển lãm Thư Pháp của Thầy tại ABC Home ở Broadway. Thiên hạ tới viếng thăm và thỉnh thư pháp rất nhiều khiến tiệm này yêu cầu cho họ trưng bày thư pháp của Thầy trong suốt năm.

Ngày Quán niệm ở World Bank (8/9/2013) Xe buýt chở mọi người từ New York City đi Washington DC sau khi ăn sáng. Quý thầy và quý sư cô trong ban tổ chức giỏi quá nên mọi việc xảy ra thật nhẹ nhàng trôi chảy. Tới Washington DC đã có phòng cho quý sư cô, quý thầy trong một khách sạn riêng mà World Bank dành cho tăng thân.

Ngày 09/9/2013 Thầy mạn đàm với ba nhân vật quan trọng tại World Bank –Ngân Hàng Thế Giới Panel: một là chủ tịch ngân hàng Jim Young Kim, hai là Khoa học gia Richie Davidson vốn đã đạt nhiều thành quả về nghiên cứu bộ não của những người chuyên thiền quán và ba là ông Brian Davey, giám đốc chương trình An Sinh Xã Hội cho toàn thể nhân viên WB. Mỗi ông chỉ nói có mười phút và xin để giờ cho họ được học thêm với Thiền Sư. Tiến Sĩ Richie Davidson cứ nhìn Thầy như uống những điều Thầy nói và cứ cười hoài có vẻ hạnh phúc lắm.

Ký Giả Hiệu Minh, cũng là nhân viên lâu năm của World Bank có viết một bài về sự kiện này đăng trên blog Hiệu Minh.

Ngày Quán Niệm tại World Bank
Ngày Quán niệm tại World Bank

Ngày Quán Niệm tại World Bank (10/9/2013) dành cho nhân viên làm ở đây. Nhân viên Ngân Hàng Thế Giới này lần đầu tiên được hướng dẫn ĐI trong chánh niệm, ĂN trong chánh niệm và LÀM VIỆC trong chánh niệm. Lần đầu tiên cả ngàn nhân viên thực tập ra đi thiền dọc theo lề đường thành hàng dọc dài, im lặng hùng tráng mà thảnh thơi. Hình như ban tổ chức đã quên xin phép Cảnh Sát Công Lộ, họ ngạc nhiên nhưng sau đó vẫn vui vẻ chận đường cho đoàn người đi qua. Khách trong quán nước bên đường rất cảm phục. Chiều hôm đó nhân viên tham dự có dịp đặt những câu hỏi cho quý thầy, quý sư cô giáo thọ. Họ rất tâm đắc vì pháp môn tuy đơn giản mà áp dụng được, bằng cớ là những thầy, sư cô trẻ như họ hay như em hoặc cháu của họ mà thực hành được và có cái thấy sâu sắc được nhờ luyện tập pháp môn này. Họ có cảm tuởng họ cũng sẽ làm được. Một cô nhân viên viết trên tường World Bank rằng chúng tôi tuy là đạo Chúa nhưng cảm thấy thoải mái áp dụng phương pháp thực tập của ông thầy tu này, pháp môn không có vẻ gì là một cult (sect phái cuồng tín) và tôi tin là tôi có thể dùng cách này mà hoàn thành được dự án rất khó mà tôi đang làm.

Ngày 11/9/2013 Tăng thân lên xe buýt đi từ Hotel của Washington DC về Boston. Thầy và ban thị giả cư trú ngay Boston Plaza Park Hotel, nơi có khóa tu hai ngày cho 1.120 người thuộc giới y khoa và tâm lý trị liệu. Tăng thân xuất sĩ khá đông nên ở tại một nhà khách gần đó. Sáng sớm thứ Bảy ban Giáo Thọ gồm có John Kabazin, Dr. Lilian Cheung và 4 vị khác. Ngày thứ hai 12/09/2013 là ngày của Thầy và tăng thân xuất sĩ Làng Mai hướng dẫn cho thiền sinh. Tăng thân chào thiền sinh bằng buổi hô canh và thiền hướng dẫn. Thầy lên thuyết pháp hướng dẫn tu học và để dành 45 phút sau cho đại diện thiền sinh đặt câu hỏi. Tiến sĩ John Kabazin và các giáo sư danh tiếng của Harvard đặt nhiều câu hỏi khá hóc búa nhưng Thầy như trái cây chín muồi, nói gì cũng sâu sắc, cũng gỡ rối được cho mọi người với rất nhiều từ bi cho nên ai cũng hạnh phúc. Có người đã tham dự hằng chục khóa tu với Thầy rồi mà nghe lại những hướng dẫn hôm đó của Thầy vẫn thích như thường vì họ nói mỗi lần Thầy cầm đến cái gì là lại thành mới tinh.

Buổi chiều Sư cô Chân Không hướng dẫn thiền buông thư rồi hướng dẫn làm mới tình thâm. Ngay sau đó là trả lời những câu hỏi của thiền sinh. Sáu ông giáo sư phụ trách trả lời với nhiều chức vụ khá lớn của Trường Đại Học cùng các sư cô Tùng Nghiêm, Chân Không và thầy Pháp Hộ đại diện cho Làng Mai. Ban đầu ông tiến sĩ này hỏi ông kia. Ông kia trả lời lý thuyết tràng giang đại hải. Thấy nói lý thuyết quá, sư cô Chân Không bèn đưa tay lên xin phép các chuyên gia để thiền sinh đặt câu hỏi. Bên dưới quần chúng vỗ tay hoan hô đề nghị của sư cô.

Ngày 13/9/2013 Tăng thân nghỉ ngơi tại Boston, Thầy cho mời anh Chân Đạt, các chị  Chân Quy, Chân Hỷ Ca (Hà Thanh) và chị Thanh Giới đến chơi. Chị ruột của sư em Lân Nghiêm cúng dường bánh cuốn. Ăn xong chị Chân Hỷ Ca còn hát cho Thầy nghe lần nữa  bài “Bên Mé Rừng Đã Nở Rộ Hoa Mai.”do chị phổ nhạc.

Thuyết Pháp Công Cộng tại thánh đường Trinity (Trinity church–14/9/2013) Nhà thờ rộng mênh mông nhưng hôm nay thiên hạ ngồi đầy bốn phía. Ông Linh Mục Trưởng có lẽ đã đọc nhiều sách của Thầy nên đã trích rất nhiều đoạn trong sách Bụt Bản Môn Chúa Vĩnh Hằng (Living Buddha, Living Christ) của Thầy để giới thiệu Thầy.

Ngày hôm sau 15/9/2013 có buổi ngồi thiền và thuyết pháp công cộng tại quãng trường trước thánh đường Trinity Một giờ trưa, trời nắng chang chang mà mình đã hẹn sẽ ra ngồi thiền và thuyết pháp cho dân thành phố Boston nên thầy nào, sư cô nào cũng đội nón lá. Ngồi dưới nắng chang chang mà cả quãng trường đầy nghẹt người. Hơn hai nghìn người tham dự. Thầy cho thiền hướng dẫn và sau nửa giờ, Thầy đã dạy thêm về các câu thần chú của Làng Mai. Người dân Boston rất cảm động và thích thú với pháp môn mới. Đa số là những người đã nghe thuyết pháp trong ngày hôm qua chính thức. Nhưng hôm nay vì khỏi mua vé vào cửa nên có một số khá đông, số người chưa hề đọc sách gì của Thầy vậy mà khi nghe giảng xong vì quá thích thú nên đã đến xin địa chỉ và tìm cách liên lạc để đến học hỏi thêm về chánh niệm.

Ngày 16/05/2013 Tăng thân và Thầy về đến Tu Viện Mộc Lan thì trời đã chiều.

Miền Nam  Hoa Kỳ (tiểu bang Mississippi)

Khóa tu tiếng Việt chủ đề “Sức Mạnh Tình Thương” từ ngày 19 đến 22/9/2013
Magnolia Grove Monastery, Batesville, Mississippi

Người Việt ghi tên chỉ có 380 người thôi, nhưng tới khi bắt đầu khóa tu thì lên con số 487 rồi ngày hôm sau 520 người. Ngày chót lên đến 625 người. Đại chúng quá hạnh phúc với những pháp môn mới. Như đã nói Tu Viện Mộc Lan nằm giữa Hiệp Chủng Quốc nên dân chúng Miền Trung Bắc Hoa Kỳ như Chicago, Mineapolis đến đông, mà cũng có người từ Detroit, Niagara Falls và Totonto nữa. Phần đông đồng bào lái xe 10, 12 đến 18 giờ đồng hồ để được thấy Thầy. Bên Florida đông người về tu học lắm, có nhiều xe chở trái cây Việt trồng ở Florida đem đến tặng Thầy và tăng thân. Thầy giảng rất “ngầu”. Ngày chót “hạnh phúc bên nhau” (be-in) thật cảm động. Mọi người tham dự hết mình. Thầy Pháp Hữu và sư chú Pháp Triển hát nhạc Rap với lời chánh niệm quá tuyệt vời. Người trẻ lên tinh thần lắm. Các sư cô thì có màn hóa trang các loại áo người Việt, nam và nữ, từ thời thật xưa đến ngày nay. Từ những ông đồ nho xưa, từ những chiếc áo tứ thân miền Bắc đến áo mốt Hà Nội, Sài Gòn, đến những cô gái bình dân mặc áo bà ba miền Tây Nam Bộ. Các sư cô toàn là người còn trẻ mà tâm bình an, chỉ tính chuyện giúp vui cho mọi người chứ không tính chuyện thời trang hấp dẫn để câu khách như ở ngoài đời nên khi “các người mẫu” xuất hiện thật là đẹp khi mặc những loại áo ấy vào mà thật ra các trang phục ấy đã được lấy ra từ những bức màn cũ, khăn trải bàn, v.v… Các sư cô đi đứng dịu dàng, thong dong, bình an không có cái õng ẹo của các cô người mẫu. Thiên hạ ngạc nhiên trầm trồ và thán phục, cười vui ơi là vui.

Ngày 23/9/2013 Thầy có thì giờ ngồi chơi với đệ tử xuất sĩ ở Mộc Lan.

Tờ báo tại Memphis viết về khoá tu ở Mộc Lan
Tờ báo tại Memphis viết về khoá tu ở Mộc Lan

Khóa tu nói tiếng Anh ở Mộc Lan từ ngày 24 đến ngày 29/9/2013 – Khóa tu tiếng Anh có đến 1,000 người ghi tên. Một số người ở khách sạn bên ngoài nhưng đa số ở luôn trong tu viện, cắm lều đủ loại. Người Mỹ chịu chơi hơn người Việt vì sẵn sàng ngủ ngoài lều vải dù trời mưa. Rất nhiều chiếc lều vải to được dựng lên vì cả gia đình cùng đi, gồm cha mẹ con cái. Người Việt Nam ở Hoa Kỳ toàn là người đã lập nghiệp lâu năm nhưng không thích ở ngoài lều vải, còn người Hoa Kỳ thì sẵn sàng cắm lều cùng khắp. Khóa tu rất hùng tráng. Có rất nhiều ký giả, văn nhân Hoa Kỳ, xưa là đệ tử của Mục Sư Martin Luther King nên họ viết một bài báo rất lớn tại Memphis chiếm cả trang đầu tờ nhật báo. Điều này rất lợi lạc cho trung tâm Mộc Lan vì họ nhắc đến mối thâm tình giữa Martin Luther King với Thầy và xem sự hiện diện của Tu Viện của Thầy như làm sống dậy tinh thần vị Bồ tát tên King của dân da màu và dân trí thức tiến bộ vùng nầy. Cái nhà nguyện mà Mục Sư King thuyết pháp lần chót trước khi lên xe đi Memphis và bị ám sát ở Memphis chỉ cách tu viện Mộc Lan có ba cây số thôi. Cũng lạ thật, giống như năng lượng Mục Sư King đã khiến Phật tử Việt Nam tới đây, chọn mảnh đất này để làm sống dậy nếp sống tâm linh cho người dân vùng này. Có cả bà Susie Westmoreland, con gái lớn của Tổng Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ Westmoreland ngày xưa tham dự. Bà tới với con trai, con dâu và cháu nội. Bà là đệ tử Năm giới của Thầy từ lâu rồi. Dĩ nhiên lần đầu tiên khi bà tới tu cũng có nhiều nước mắt chuyển hóa. Bà đã lạy xuống cùng với cha của bà (ở bên trong) để cùng bỏ xuống đất những cộng nghiệp mà ba của bà vì phận sự của một công dân Mỹ mà phải tạo ra bao nhiêu là nghiệp. Nay bà theo Thầy để được thay cho cha mà sám hối.

Ngày chót thiền sinh quy y rất đông, đông hơn người Việt nhiều. Chỉ cần theo dõi một nhóm pháp đàm là chúng ta có thể thuật lại không biết bao nhiêu là ví dụ chuyển hóa. Trong một nhóm kia có một cô thiền sinh khoảng 27 tuổi. Ngày đầu ngồi chung trong nhóm pháp đàm cô nói: “Xin lỗi, tôi không có gì để chia sẻ, tôi bị ép đi đến đây”. Suốt mấy buổi pháp đàm cô này giữ im lặng nhưng đến ngày chót cô thuật lại: “ba ngày nay tôi không mở điện thoại cầm tay vì bỏ quên ngoài khách sạn. Nhưng sáng nay trở lại khách sạn mở điện thoại, có nhiều tin buồn mà nhất là một cái tin khiến tôi nổi điên lên suýt quăng luôn cái điện thoại. Bỗng tôi chợt nhớ phải trở về với hơi thở. Tôi hít vào…ô! Cái gì thế? Tôi đang hít thở à? Mấy bữa nay tôi rất ghét những điều mà mọi người cứ lải nhải: thở vào thở ra, tâm mình chuyên chú nơi hơi thở vào, tâm mình chuyên chú nơi hơi thở ra… Trời đất ơi, tôi mà cũng thở nữa à? Và tức cười nhất là lúc đó tâm tôi có dịu xuống và không còn nhu yếu ăn thua đủ với cô nàng kia trong sở của tôi. Tôi lại có khuynh hướng muốn trở về sở nói lời ái ngữ với cô ta và tìm cách làm hòa với cô ấy.” Sau buổi ấy, cô này hỏi thăm rất kỹ về sự có mặt của những tăng thân vùng cô ở và hỏi thăm phong trào Wake Up có đến được gần chỗ cô ở không?

Ngày 29/9/2013 Ngày chót của khóa tu tiếng Anh mà cũng là NGÀY CHÁNH NIỆM của Tu Viện Mộc Lan với chủ đề Healing Yourself is Healing the World (Trị liệu cho ta và cho thế giới). Nhờ tờ nhật báo tên The Panolian quảng cáo mà hơn một ngàn người tới thêm với con số 1000 thiền sinh đang tu.

Ngày 30/9/2013 Tăng thân bay về tu viện Lộc Uyển, vùng nam Cali.

Những ngày không có khóa tu Thầy trò đã leo lên núi cao ngồi thiền trên những tảng đá già mấy nghìn năm tuổi, ngắm mặt trời lên hay mặt trời lặn. Các thầy Pháp Dung, Pháp Khôi, Pháp Lưu đi xa Lộc Uyển lâu nên vừa về là tối tối xách túi ngủ đi lên núi ngủ trên những tảng đá lớn giữa trăng sao cho thỏa chí. Sáng hôm sau quý thầy có than là giữa khuya thì khá lạnh. Đêm đêm mình ít nghe tiếng Coyotees như ngày xưa.

Trong chuyến đi này cả ba trung tâm của Làng Mai tại Hoa Kỳ đều thiếu mưa. Ngày đến Bích Nham, ngồi trên xe thầy đã chú nguyện. May thay Bích Nham có nhiều trận mưa khi thầy về.  Trên đường từ phi trường Memphis về Mộc Lan cũng vậy, Thầy đã cầu nguyện đất Mẹ và cha Trời  cho mưa và đã có mưa, Rồi đến Los Angeles cũng vậy. Thầy đã chú nguyện nhiều ngày và cuối cùng đã có mưa ở tu viện Lộc Uyển. Bao nhiêu loài được sống dậy ở núi rừng. Chỉ  trong ba hôm, các cây sages đã cho ra những nhành lá mới. Hạnh phúc lớn làm sao!

Khóa tu cho người Việt (từ ngày 04 đến 08/10/2013) có 800 người ghi tên. Rất nhiều người Việt không chịu ghi tên đi trọn khóa tu nhưng chỉ muốn lên một ngày thứ Bảy hoặc Chủ nhật để thăm Thầy thôi. Họ nói người già không lái xe được, phải chờ ngày thứ Bảy hoặc Chủ nhật khi con cái nghỉ việc mới năn nỉ họ chở đi, để cho má hay ba được nghe pháp của “ông thầy già” của ba má. Quý thầy quý sư cô trẻ không đồng ý, định khóa cửa cổng Tu Viện suốt năm ngày có khóa tu. Các sư cô thuộc thế hệ trước (như sư cô Chân Không, Trung Chính) phải năn nỉ tìm ra một giải pháp thỏa hiệp để cho vui vẻ cả Làng! Sư cô Chân Không tình nguyện sáng Chủ nhật sẽ lên thiền đường sớm, hướng dẫn cho các vị mới tới không biết luật chung trong những ngày giữa khóa tu của tu viện. Đúng như dự đoán, ngày Chủ nhật 6 tháng 10 2014, có nhiều người tri kỷ như nhà văn Doãn Quốc Sỹ được các con đưa lên thăm Thầy. Anh đã 92 tuổi rồi. Mặt anh hiền như Bồ tát. Nhưng bây giờ bộ nhớ trong óc anh đã khá cũ nên anh hay quên. ‘‘Cô Chín’’ (là sư cô Chân Không) gặp anh thì anh em mừng quá. Nhưng anh đã quên ‘‘Cô Năm’’ (là giả danh thầy Nhất Hạnh hồi anh còn ở tù) rồi! Khóa tu này các cháu Bảo Lang, Bảo Đăng và Bảo Chân quá hạnh phúc vì được gặp lại các bạn cũ và lại có thêm bạn mới nữa. Cho nên khi mẹ Thanh Trang bảo chuẩn bị đi về, cả ba cháu phụng phịu cứ xin mẹ cho ở lại! Có rất nhiều trường hợp sự chuyển hóa quá nhanh chóng thành rất khó tin. Có một cô đó nhất định ly dị chồng. Giấy tờ đã chuẩn bị xong, nhưng có người bạn gái khuyên nên khoan nộp đơn ly dị ra tòa, chờ sau khóa tu thôi. Mãi tới ngày chót của khóa tu cô từ từ thấy được những vụng về khá lớn của mình, những cách cô ‘đổ dầu vào lửa’ đã đẩy ông chồng hành xử như thế, cô xin tham vấn các với sư cô lớn và được chỉ cách làm mới tình thâm. Mắt cô sáng lên như mới khám phá ra điều gì thật mới lạ mà lại đơn giản biết bao nhiêu! Cháu Tony 13 tuổi chỉ ưa  ngồi chơi game 8 giờ mỗi ngày. Vậy mà vào khóa tu năm ngày cháu quên hẳn cái máy tính chơi game mà vẫn sống hạnh phúc được. Thấy được sự chuyển hóa nơi cháu, gia đình cũng chịu chơi, đã vào bàn với cô giáo xin cho cháu nghỉ học 6 tuần lễ để đi sang Làng tu học, để cháu có thể thấy một hướng đi mới hơn là chôn vùi tâm tư vào những trò chơi game.

Ngày 08/10 là ngày chấm dứt khóa tu. Hai anh ký giả từ Việt Nam qua là các anh Hoàng Anh Sướng và Đàm Đức Anh phải trở về Hà Nội và TPHCM.

Ngày 10/10 tăng thân Xóm Dừa làm trước một ngày cái bánh sinh nhật rất lớn cúng dường Thầy vì biết ngày 11/10 thì bắt đầu vào khóa tu tiếng Anh rồi. Nhưng Thầy mắc cỡ không chịu xuống nhà ăn. Sáng sớm 7 giờ sáng ngày 11/10/ 2013 bốn sư cô Lộc Nghiêm, Ân Nghiêm, Đáo Nghiêm và Sư cô Chân Không lên mừng tuổi Thầy và xin hát một bài hát (nhại theo điệu nhạc dân ca rất đặc sệt Miền Bắc: Bà Tôi) do bốn sư cô cùng đặt lời.

Khóa tu bằng tiếng Anh Finding our true Home (từ 11 đến16/10/2013) (Về lại ngôi nhà đích thực) tổ chức ở Lộc Uyển. Khóa tu này đã hết chỗ sau vài tuần đầu ghi danh. Ngay cả danh sách chờ đợi cũng bị khóa sổ luôn. Chỉ có thể nhận 1,000 người là tối đa nhưng thiền sinh vẫn lẳng lặng vào cắm lều nên có thể trên dưới 1,100 thiền sinh. Trời tháng 10 không nóng như mùa hè nên ở lều cũng dễ chịu. Ngày thứ ba của khóa tu, cả ngàn người được đi thiền hành lên núi ngồi thiền và ăn sáng với Thầy. Có xe truck chở các vị lớn tuổi không leo núi lâu được. Ngồi thiền xong tập đại chúng thể dục rồi mới ăn sáng. Có một cô thiền sinh người Anh không thể chấp nhận được việc chồng mới cưới của cô, vốn là một anh chàng tuấn tú, cao ráo mẫn tiệp bỗng bị xe đụng chết tức thì, và nay chỉ còn là một nắm tro. Sư cô Chân Không cũng đồng ý là không thể nào anh chàng tuấn tú đó đã trở  thành đống tro được. Đống tro đó chỉ là chút xác trà của anh. Những năng động, những đức khoan dung độ lượng, mẫn tiệp của anh không thể nào chuyển thành nhúm tro đó. Những năng lượng đó phải tìm đường biểu hiện. Mà nơi mà anh ấy biểu hiện dễ dàng nhất là nơi cô. Một sáng nào đó vừa thức dậy bỗng trào dâng nơi cô hứng khởi muốn làm một cái gì đó. Cô dừng lại nhìn kỹ đi, có thể đó là hứng khởi của anh vừa biểu hiện nơi cô. Khi nào cô có khó khăn, khó xử trong đường đời, cô cứ đi thiền hành và nhắm mắt lại ngồi yên hỏi anh (trong cô): “em nên làm gì đây anh?” Nghe và hiểu được như vậy nhưng cô vẫn chưa chấp nhận được ngay, vào ngày chót cô bỗng nói: “Ôi hạnh phúc, tôi sẽ cùng chồng tôi đi thăm quê hương tuổi thơ của anh bên Ireland mà anh cứ nhắc hoài!”

Thứ Bảy ngày 19/10/2013 Pháp thoại công cộng chủ đề Touching the Heart of Happiness ở thính đường Pasadena Civic Auditorium. Ở đây cũng thế, tới giờ chót lại cũng có nạn mua vé chợ đen để vào cửa nghe Thầy giảng.

Ngày 20/10/2013 là ngày Quán Niệm duy nhất ở Lộc Uyển. Mới 6 giờ sáng, thiền sinh đã kéo lên Lộc Uyển, đông không thể tưởng được. Thiền đường đầy nghẹt người. Phải mướn thêm 1000 chiếc ghế xếp vòng quanh hết bên ngoài thiền đường Thái Bình Dương. Thầy đành phải giảng tiếng Anh vì người Mỹ đông quá. Đại chúng khỏi mang ống nghe vì sư cô Đẳng Nghiêm dịch trực tiếp ra loa bên ngoài. Thiên hạ đậu xe bít cả khu Rừng Sồi, đậu xe dọc theo con đường từ xóm Trong Sáng xuống đến tận cổng vào tu viện là đã 2 miles, nhưng rồi vì hết chỗ họ đậu luôn suốt xóm nhà láng giềng dưới chân núi và cuối cùng ra luôn tới đường Broadway thêm 2 miles nữa. Thật là quá sức tưởng tượng. Người mới đi lần đầu cũng rất đông. Họ không biết đường đi đến nhà ăn. Nhà bếp làm 2000 ổ bánh mì kẹp chả đã phát hết mà cái đuôi chờ phát thức ăn vẫn còn khá dài. Sư cô Trung Chính nấu hai nồi cơm to, phát hết cơm, cùng với nồi tàu hủ kho củ cải, cũng không đủ. Hai chảo to mì xào cũng không đủ. Hai thầy tri bếp đi mua thêm 50 ổ bánh mì dài, cắt làm ba, nhét thêm dưa leo và đồ kho. Buổi trưa có thiền buông thư và sau cùng có buổi đặt câu hỏi với quý thầy quý sư cô. Buổi trưa cũng còn khá đông nhưng không bằng buổi sáng. Được nghe Thầy thuyết pháp nhưng khỏi trả tiền vé 50 đô như tới rạp Civic Auditorium ở Pasedena mà lại được chiêm ngưỡng cảnh núi rừng hùng vĩ, Tu viện đã phải tổ chức những xe hơi tám người mỗi chuyến chở từ chỗ họ đậu xe đưa lên thiền đường.

Bắc Cali 21/10/2013 Tám giờ sáng thầy trò cùng lên hai chiếc xe buýt đi Bắc Cali. Một xe sẽ đi thẳng nhà sư cô Định Nghiêm nằm sát Silicon Valley chỗ các thầy và các sư cô nào phải đi trụ sở Google hướng dẫn một ngày chánh niệm cho nhân viên Google. Còn xe buýt thứ hai thì đi ngay đến chùa Phổ Từ. Ở đây các vị được đi tham quan Bắc Cali trước khi tới tham dự ngày thuyết pháp công cộng của Thầy và một ngày chánh niệm tại Tu Viện Kim Sơn. Ngày đi tham quan Bắc Cali, không dặn trước mà xe nào cũng đến Công Viên Henry J. Kaiser Memorial (Tượng đài kỷ niệm – Rember them: Champions of humanity) để nhìn tận mắt những hình tượng 25 nhà nhân bản của nhân loại mà Thầy mình là một trong những 25 vị đó. Trong 25 nhà nhân bản đó có Tổng thống Abraham Lincoln đã ra đạo luật giải phóng dân da đen ở Hoa Kỳ khỏi ách nô lệ, có Thánh Gandhi đã giải phóng cho dân tộc Ấn Độ khỏi ách đô hộ của Vương Quốc Anh mà không cần quân đội súng ống, có Mẹ Theresa đã hy sinh cả cuộc đời cứu giúp người cùng khổ v.v… Mọi người chụp hình lia lịa bên tượng dưới tượng Thầy, dù Thầy bên ngoài dĩ nhiên là sống động hơn bức tượng nhiều!

Ngày Chánh niệm ở Google
Ngày Chánh niệm ở Google

23/10/2013 Ngày Chánh niệm ở Google Tại trụ sở  Google Thầy bắt đầu bằng hướng dẫn đi thiền hành. Cả đoàn đi thiền hành trên các con đường tráng xi măng của khuôn viên Google. Giữa chừng Thầy ngồi xuống cho mọi người ngồi thiền trong buổi sáng bình an. Không khí thật thảnh thơi mà bình an ít khi xảy ra trong khu Google Plex gồm toàn những văn phòng mà kỹ thuật quá tiến bộ như những tòa nhà ở Silicon Valley này. Sau đó mọi người trở vào thính đường nghe pháp thoại. Thầy nói pháp thoại xong thì thầy Pháp Khôi hướng dẫn ăn trưa trong chánh niệm. Sau đó sư cô Chân Không hướng dẫn thiền buông thư. Sau nửa giờ nghỉ ngơi quý thầy và quý sư cô giáo thọ cho thiền sinh đặt câu hỏi đi vào thực tế. Trong thời gian đó Thầy cùng đi với các thầy Pháp Dung, Pháp Linh, Pháp Lưu và sư cô Hiến Nghiêm vào gặp riêng những bộ óc lớn của Google để đàm luận về đề tài làm sao sử dụng được kỹ thuật mới để giúp con người trở lại được với chính mình, với gia đình và với thiên nhiên để được nuôi dưỡng và trị liệu.

Ngày thứ Năm 24/10/2013 Sáng nay các thầy Pháp Niệm, Pháp Dung, Pháp Linh, Pháp Lưu, các sư cô Hiến Nghiêm và An Nghiêm đi gặp những nhà lãnh đạo của Facebook. Buổi chiều Thầy đi thuyết trình và đàm luận về Neuroscience và Từ Bi với các khoa học gia ở Standford Univisersity.

Thầy và tăng thân đến Standford University sinh hoạt  từ  4 tới 6 giờ chiều. Buổi đối thoại này rất hào hứng và thích thú.

Ngày thứ Sáu 25/10/2013 có nửa ngày sinh hoạt với một số các ông Tổng Giám Đốc các hãng xưởng lớn (CEOs e.g). Vì chỗ sinh hoạt rất giới hạn nên chỉ có khoảng 10 thầy và sư cô đi chung với Thầy. Lúc 3 giờ chiều, Thầy giảng dạy và cho họ đặt câu hỏi. Đến 4 giờ 30 phút, Thầy dẫn mọi người thực tập đi thiền đến một khu rừng nhỏ gần đó. Mọi người thực tập rất nghiêm chỉnh và hết lòng.

Ngày thứ Bảy 26/10/2013 Có buổi thuyết pháp công cộng với gần 4,800 người vào cửa ở Oakland Paramount Theatre. Những người Việt thuộc thế hệ thứ hai, lớn lên ở Hoa Kỳ đến tham dự khá đông ngày thuyết pháp này và rất hãnh diện có được vị Thầy người Việt Nam đang được giới thượng lưu trí thức Hoa Kỳ hâm mộ.

Ngày Chủ nhật 27/10/2013 là ngày làm việc chót của Thầy ở Hoa Kỳ. Thầy trở về Tu Viện Kim Sơn sau hơn mười năm vắng bóng. Thầy và nhóm thị giả đi thật sớm để thăm lại cảnh xưa, thăm những cây tùng già ba bốn người ôm cũng chưa giáp tay! Buổi thuyết pháp đã được tổ chức ngoài trời. Đồng bào quy tụ rất đông đảo. Thầy dạy về cách thỉnh chuông, nghe chuông, rất thực tế và đi tiền hành.

Tăng thân chiều ấy về chùa Phổ Từ ăn tối. Thượng tọa Từ Lực giống như một người anh lớn của tăng thân xuất sĩ Làng Mai, tiếp đón 50 vị xuất sĩ đi theo Thầy lên Bắc Cali với tất cả sự ưu ái.

 

Ngày 29 tháng 10, 2013 tăng đoàn bay về Pháp

Thầy về tới Làng mang bao nhiêu hạnh phúc cho các đệ tử ở nhà dù rằng ở tại Làng năm nay có nhiều sinh hoạt và mang lại rất nhiều năng lượng cho thiền sinh về tu dù vắng mặt Thầy và quý thầy, quý sư cô giáo thọ lớn. Khóa Tu Mùa Thu ở Làng đã đem rất nhiều hạnh phúc cho thiền sinh. Tuần nào cũng có đủ thiền sinh để quý thầy quý sư cô Giáo Thọ trẻ ra giảng dạy và đem lợi lạc cho người ham tu tập. Không khí vẫn tươi vui và tu tập còn tinh chuyên hơn vì ngoài pháp thoại của quý thầy quý sư cô tân giáo thọ, còn có pháp thoại của Thầy nghe qua mạng để cùng nhau pháp đàm sau đó.

Lễ xuất gia Cây Đoàn, Thái Lan
Lễ xuất gia Cây Đoàn, Thái Lan

Ngày 8/12/2013 Ngày xuất gia của 27 cây đoàn (Linden, Tilleul). Bên Pháp có 8 em gồm nhiều quốc tịch khác nhau (Mỹ, Canada, Úc, Pháp, Tây Ban Nha, Thái Lan, Việt Nam) và bên Thái Lan có 19 em quốc tịch Việt Nam. Đó là các sư cô, sư chú mang tên: Trăng Diệu Viên, Trăng Diệu Âm, Trời Nguyện Lực, Trời Hy Mã, Trăng Ưu Bát, Trăng Tịnh Độ, Trời Linh Quang, Trời Đạt Nguyện, Trăng Uyên Nguyên, Trăng Phương Khê, Trời Nhất Tâm, Trăng Tào Khê, Trời Hướng Thượng, Trăng Hoa Lâm, Trời Liễu Ngộ, Trời Định Lực, Trời Niệm Lực, Trăng Thiên Trúc, Trời Kỳ Diệu, Trời Ngộ Đạt, Trời Tuệ Giác, Trời Tuệ Minh, Trăng Mãn Khai, Trời Định Hướng, Trời Bằng Hữu, Trăng Nến Ngọc, và Trăng Hàm Tiếu.

16/12/2014 Lễ truyền giới Thức Xoa Ma Na với năng lượng của ni chúng

Ni chúng truyền giới Thức Xoa Ma Na
Ni chúng truyền giới Thức Xoa Ma Na

Từ nay trở đi, Thầy cho phép các trung tâm tự truyền giới Thức Xoa Ma Na cho các sư em đã đủ ngày, đủ tháng, đủ chín trong sự tu học và được đại chúng xét duyệt chứ không cần đợi đến giới đàn. Tại xóm Mới, sau thời pháp thoại của Thầy dành riêng cho ngày xuất sĩ, sư cô Chân Không, trưởng ni chúng cùng tất cả quý sư cô tỳ kheo hai xóm ni đã trực tiếp truyền giới cho các sư em trong gia đình cây Sen Xanh, Trúc Vàng, Trúc Xanh, Trúc Tím… trong năng lượng chúng ni thật hùng tráng. Ở Thái Lan và Việt Nam, lễ truyền giới Thức Xoa Ma Na cũng được diễn ra dưới năng lượng của tăng thân trú xứ.

Tân Giám Tự của Tổ Đình Từ Hiếu

Ngày 20/12/2013, thể theo lời yêu cầu của đa số các thầy tu học tại Tổ Đình Từ Hiếu từ hai năm gần đây, nhân danh Trụ Trì và niên trưởng của Tổ đình, Thầy đã đề cử thầy Thích Từ Minh lên làm Giám Tự, phụ tá bởi thầy Thích Từ Hải và năm vị Giáo Thọ tại Tổ Đình Từ Hiếu.

Thực Tập Chánh Niệm tại ba Miền Đất Nước Việt NamQUÀ ĐẦU NĂM 2014 cho Dân Việt Nam

Trong tháng 12, một số thiền sinh đã viết thư cho Thủ Tướng và Chủ Tịch Nước xin cho được thành lập một trung tâm Thực Tập Chánh Niệm tại ba Miền Đất Nước Việt Nam. Chánh Niệm là một trong tám cách hành trì chân chính trong Bát Chánh Đạo nhưng Thầy đã xiển dương cách tu tập này như là then chốt để đưa từ Niệm đến ĐịnhTuệ, nên người dù ghét tôn giáo không tin tưởng trời thần quỷ vật gì, hay người có đạo Ky Tô, Hồi Giáo, đạo Ấn Độ Giáo đều tu tập theo được. Và trung tâm thực tập chánh niệm đã có mặt rất nhiều nước trên thế giới như Úc, Pháp, Ấn Độ, Ý, Đức, Hà Lan, Hoa Kỳ, Ba Tây, Thái Lan, Hồng Kông và Indonesia. Chỉ riêng ở Việt Nam thì chưa được phép. Có lẽ vì chưa xin? Công dân các nước đang từ từ viết thư xin rất nhiệt tình. Rất mong nhà nước lắng nghe!

Ngày 01 tháng 01 năm 2014 Chị Trần Lục Hà  tức là Ca sĩ Hà Thanh – Tâm Ca Lăng Tần Già đã đi vào một đóa sen (Khoảng giờ mà chị Hà ngưng thở, cháu ngoại chị đã thấy bà ngoại tới chơi rồi bỗng bà đi vào một đóa hoa và không thấy bà đâu nữa!) Tiếng hát của chị bây giờ đang biểu hiện một lần trong ba cõi, từng phút từng giây – nơi nào có cảm thì có ứng tiếng hát của con chim Ca Lăng Tần Già của Tăng thân Làng Mai. Nhớ lại tháng 11 năm 1988 chị được Thầy Làng Mai cho pháp danh mới Tâm Ca Lăng Tần Già tại Núi Linh Thứu. Năm 1997, Tâm Ca Lăng Tần Già thọ 14 giới Tiếp Hiện Cư sĩ với pháp hiệu Chân Hỷ Ca. Ngày 14 tháng 9 năm 2013 chị Chân Hỷ Ca có đến hát cho Thầy và tăng thân nghe lần cuối cùng tại Boston Plaza Park Hotel bài Bên Mé Rừng Đã Nở Rộ Hoa Mai do chị phổ nhạc.

Quý bạn thương mến, ngay trong lúc những dòng chữ này được viết xuống thì mọi chuyện của năm cũ, năm 2013 tại Làng Mai cũng vừa khép lại. Chúng tôi đã gói xong bánh chưng, bánh tét và thức suốt đêm canh bánh, ca hát và nấu chín. Các bạn thiền sinh ngoại quốc cũng tham dự canh bánh chưng và ca hát với chúng ta. Dưa món, dưa cải chua, kim chi cũng thành phẩm vật rồi và chờ để thiết đãi quý bạn đêm giao thừa trước lúc chúng ta được nghe Thầy bình thơ. Hội chợ hoa năm nay lại đã được diễn ra ở xóm Thượng trong ngày đưa Ông Táo về trời. Trong Phật Đường, ngoài thiền đường lớn, giữa sân chùa, đâu đâu bạn cũng có thể ngắm nhìn những cành hoa mận hồng, mận trắng nở rộ. Cây nêu đã dựng. Chuông trống Bát Nhã cùng sẵn sàng cho phút cuối năm. Ngày 28 âm lịch, sẽ là ngày cuối cùng quý thầy, sư cô lái xe ra nhà ga đón các bạn thiền sinh về ăn Tết. Các xóm chật hết chỗ rồi, mỗi năm quý bạn về mỗi đông. Đêm đêm từ phòng sinh hoạt chung của xóm Mới vang ra tiếng cười khúc khích từ những vở kịch do quý sư cô tập dượt để hiến tặng Thầy và đại chúng cuối năm.

Từ tấm lòng trân quý và biết ơn, bốn chúng Làng Mai xin gởi đến quý bạn lời chúc Năm Mới thật dồi dào sức khỏe, với nhiều niềm vui và an lạc. Chúc quý bạn luôn có thể làm mới mình trong từng hơi thở chánh niệm, từng bước chân ý thức để quý bạn hiến tặng ngay chính quý bạn một cách rất mới cho những người thương xung quanh, để chúng ta cùng nhau xây đắp tình tăng thân, làm lợi lạc cho đời, tiếp nối Thầy, tiếp nối chư Tổ, chư Bụt.

Tiếng địch chiều thu

 

(Một cảnh vườn đẹp đẽ xanh rờn có suối reo chim hót. Một vườn Thượng uyển nào đây, đủ cả muôn hoa muôn sắc. Thanh thanh gió nhẹ, một buổi chiều)

Lời suối reo:

Buồn bã quá, ta reo theo tiếng gió

Niềm thương đau mang lại tự ngàn xưa

Lâu quá rồi người xưa không trở lại

Để soi hình sáng rỡ giữa lòng ta !

Này im đi, hỡi tiếng địch chiều thu

Đừng réo rắt nối thêm lời sầu thảm

Trôi đi thôi hỡi ngàn mây ảm đạm

Vấn vương chi những ngọn núi xa mờ !

Hòa theo ta đi, tiếng dế chiều hôm,

Ta là suối không bao giờ dừng nghỉ

Sao cho quên những ngày xanh minh mị

Những chiều xưa vang tiếng nhạc ru hồn

Còn đâu đây những ngày tươi đẹp nọ,

Mà sinh ca vang đón ánh bình minh ?

Đâu những nàng cung nữ nhẹ nghiêng mình

Soi yểu điệu trên dòng ta sáng tỏ ?

Ôi còn đâu bóng người xưa luyến mộ

Nẻo đường xanh còn in dấu chân ai

Vào những chiều thấp thoáng bóng song hài ?

Thái tử ơi, ngài thấy không: cây cỏ,

Và suối, chim đều mong ngày hội ngộ

Buồn chia ly khiến muôn vật sầu tư

Reo ta reo nguồn ly hận ngàn thu…

 

Tiếng địch (réo rắt, nhưng đôi khi mơ hồ):

 

Reo ta reo nguồn ly hận ngàn thu…

Người xưa ơi có nghe trong sương lạnh

Có nghe không tiếng địch thoáng buồn thương

Thấy không ai ngàn mây sầu ủ rũ

Ngừng không bay, lắng tiếng gọi lên đường ?

Thổi lời thơ tận muôn phương xa lạ

Nhẹ nhàng đưa âm điệu lướt không gian

Gió chiều thu ướp lòng người tơi tả,

Và vi vu theo điệp khúc trường giang…

Ca lên chim ! như những chiều xuân cũ

Cho tan đi những buồn lạnh vấn vương

Ta ước mong một ngày mai đoàn tụ

Cho chân mây cùng mặt nước lên hường !

Nở đi hoa ! như những bình minh thắm !

Khoe tươi đi, cành hồng ướt sương thu

Chồi huệ trắng, nở đi, đừng ủ rũ,

Muốn để dành hương ấy đến ngày mô ?

Ngày xa xôi…hoa ơi ! xa xôi lắm

Hoa chờ mong, giờ đây chưa muốn nở

Nhưng hoa ơi ! ngươi sẽ héo vàng khô

Và một hôm lạnh lẽo khói sương mờ !

Thái tử ơi, giờ đây trong sương lạnh

Ngài nghe không tiếng địch thoáng buồn thương ?

Thấy không ai, ngàn mây sầu ủ rũ

Ngừng không bay, lắng tiếng gọi lên đường ?

(Tiếng địch véo von, nhỏ dần rồi im bặt. Da Du ra, mắt nhìn về phương xa. La Hầu La đi sau, cầm chéo áo mẹ)

 

Tiếng chim ca:

Nàng đã ra viếng chúng ta, ngàn cây hỡi !

Lại đây nàng, ngồi trên phiến đá hoa !

Ríu rít chim, ca ngợi nắng chan hòa

Ta hát lên cho nàng vơi sầu khổ !

Cảm động quá, đôi mắt nàng đẫm lệ,

Thật não nùng ! nhìn chi phía xa xa ?

Năm tháng sầu sao cứ mãi không qua

Buồn trĩu nặng cho đến hồn cây cỏ !

Chiếc áo nhung xưa ! nay nàng đã bỏ !

Mộng ngày xanh ! còn đâu nữa nàng ơi !

Lệ ngọc tuôn từ đôi mắt sáng ngời,

Bi cảm lắm, xin nàng vui đôi chút !

 

Tiếng suối (tha thiết):

Ra thăm luôn, nàng ơi ! vườn năm cũ,

Xem hoa đi, như những buổi chiều xưa

Này nàng trông, muôn cây đang ủ rũ

Chờ ở ai, chỉ một chút hương thừa !

Lại đây ngồi nhìn mây,

Và hát lên như những ngày xưa nữa.

Reo ta reo cho nhẹ bớt ưu phiền

Reo cho quên niềm thổn thức liên miên

Reo cho quên những tiếng lòng mong nhớ.

Nàng ơi,

Ai năm xưa cũng mỗi chiều tương tự,

Cùng nàng đi, đã dạo khắp vườn hoa ?

Ai năm xưa với tâm hồn rộng mở

Cho muôn loài một cảm mến bao la ?
Trôi ta trôi ! Reo ta reo ! dòng suối bạc

Cuốn phăng đi đá sỏi của lòng ta !

Tiếng chim:

Ca ta ca ! Vui lên đi ! tung muôn ngàn sóng nhạc

Ca ta ca ! Vui lên đi ! Để ta ca !

Da Du (rất thong thả):

Nước non ơi ! chiều đến, tiếng ngân nga

Thời tươi đẹp vang từ trong ký ức

Ta mong quên những ngày thu ray rứt

Nỗi niềm ta, hoa có rõ không hoa ?

(ngồi xuống trên phiến đá)

Ngồi xuống đây con hỡi La Hầu La !

Mẹ muốn nhớ lại thời xưa hương ngát

Con có biết bây giờ đây luân lạc

Về phương nao, bóng Hạnh Phúc xa vời ?

Biết không con, ở tận một phương trời

Nào xa thẳm, cha con đà biệt tích

Ước mong Người, một ước mong tuyệt đích:

“Cứu quần sanh tìm đạo lý xinh tươi  “

Mà ngày hẹn huy hoàng bao giờ mới đến, con ơi ?

Con có nhớ những ngày buồn trong cung lạnh

Một hôm kia hỏi mẹ: “Cha con đâu ? “

Đau lòng chưa, con hỡi ! suốt canh thâu

Mẹ đã khóc, một mình riêng thổn thức.

Con ơi, những lúc mà lòng mẹ vui vui

Là những lúc nhìn con nô đùa cùng bao nhiêu vương tử

Nhưng rồi vẫn đăm chiêu niềm tư lự

Chẳng bao giờ phiền muộn được vơi nguôi.

Biết không con, một chiều xuân năm cũ

Một đêm trăng, cha con bỏ vương cung

Ra đi…chàng ra đi không hẹn ngày trở lại

Để niềm THƯƠNG lan rộng đến muôn lòng !

Rồi một sáng tinh sương, Xa Nặc về, nét mặt u sầu vô vọng,

Tin biệt ly như tiếng sét ngang đầu

Cả hoàng cung chìm lắng trong khổ đau

Một vương quốc đang gục đầu thương nhớ.

Còn ai nữa để cảm thông lao khổ ?

Thái tử ơi, Ngài có hiểu cho không ?

Bao người sầu, chung một nỗi nhớ nhung

Ngài đi đâu, để đây niềm hiu quạnh ?

(Tiếng địch lại nổi lên, văng vẳng trong gió lạc)

Người xưa ơi, có nghe trong sương lạnh

Có nghe không tiếng địch thoáng buồn thương ?

Thấy không ai, ngàn mây sầu ủ rũ

Ngừng không bay, lắng tiếng gọi lên đường ?

Thổi lời thơ tận muôn phương xa lạ

Nhẹ nhàng đưa…âm điệu lướt không gian,

Gió chiều thu ướp lòng người tơi tả,

Và vi vu theo điệp khúc trường giang…

Lời gió reo:

Thôi đi thôi, đừng kể lể bi quan,

Nhọc quá rồi ! đừng ôm lòng sầu não !

Để ta đi, tìm ra nguồn chân đạo,

Đem về đây cho tất cả cuộc đời ! Da Du (vẫn chậm rãi):

Phụ vương sầu, di mẫu khóc không thôi,

Hy vọng hết, muôn dân buồn áo não…

Rồi từ đấy vắng tin người hiểm mạo,

Bỏ xa hoa và tôn quý cao sang,

Để ra đi, tìm lấy ánh hào quang,

Nguồn đạo lý soi đường cho nhân thế.

Quên sao được chàng ơi, khi tiếng lòng kể lể,

Một đêm trăng, ngài bảo: Chớ sầu thương…

Nếu một mai, vì chí nguyện, ta lên đường,

Em sẽ đặt tình yêu vào muôn loại !

Tình thương hẹp gây lo âu, sợ hãi,

Chóng tàn phai theo gió lạnh thời gian

Em hãy nuôi một tình thương rộng lớn chẳng phai tàn

Để san sẻ cho muôn loài muôn vật.

Rồi sẽ thấy lòng tràn đầy một nguồn vui chân thật.

Thái tử ơi, còn văng vẳng bên tai,

Lời ngọc vàng đã rung động hồn ai

Thiếp cảm thấy cả nguồn sinh lực ấy…

Ngài biết không ? nhạc lòng không rung dậy

Ngọc vàng xưa, thiếp đã bỏ từ lâu,

Sống làm sao trong muôn sắc muôn mầu

Khi nghĩ đến nơi hang sâu núi thẳm ?

Ôi hình ảnh khuất xa ngàn vạn dặm

Đây cuộc đời: ly biệt là thương đau…

Tìm đâu đây nguồn an ủi nhiệm mầu

Để xóa bỏ những bóng hình sợ hãi…

Hiểu không con ? La Hầu La thơ dại ?

Như ngày xưa mẹ bảo: “Cha đi xa…

Đi xa lắm con ơi

non nước vẫn bao la “

(Nàng lấy khăn lau mắt và vuốt tóc con khi La Hầu La thấy mẹ khóc cũng khóc theo)

 

La Hầu La:

Vào cung đi mẹ…Thôi ! con buồn quá,

Đi chơi, sao mẹ khóc mãi thế kia ?

Mẹ bảo ra thăm vườn hoa cũ

Để đem con đi dạo khắp cơ mà ?

Cha con đi, cha con sẽ về đây, mẹ ạ

Con ít buồn, sao mẹ lại buồn nhiều ?

Đứng lên đi, vui lên đi, mẹ nhé !

Hái hoa cho con, xâu kết lại vòng hoa

Khóc nhiều thế, con buồn, mẹ ạ.

Da Du (cười buồn):

Ừ, vui đi, mẹ không khóc nữa đâu,

Sương xuống rồi, ánh nắng tắt đã lâu,

Chim về tổ, con ơi ! ta về tổ !

Nín đi con, kìa vừng trăng mới lộ,

Ở non cao, mờ tỏa ánh dịu vàng.

Tiếng gió:

Và xa kia chắc Thái tử mơ màng

Nhìn trăng sáng với cánh rừng u tịch

Lâu lắm rồi, người xưa đà biệt tích,

Thành công chăng, hay thất bại ? Ngài ơi ?

Tiếng địch:

Thổi lời thơ tận muôn phương xa lạ

Nhẹ nhàng đưa âm điệu lướt không gian

Gió chiều thu ướp lòng người tơi tả

Và vi vu theo điệp khúc trường gian…

(Lời thơ vừa dứt thì di mẫu Kiều Đàm vừa ra đến sau lưng Da Du. Bà nhẹ nhàng đặt tay lên vai nàng. Quay lại thấy bà, nàng cúi đầu)

Bà Kiều Đàm:

Đêm xuống rồi, sương sa nhiều, lạnh lắm

Đi vào con ! than thở những chi chi

Hễ thấy con, là thấy cả sầu bi

Ta thấy vắng, đi tìm con từ nãy.

Da Du:

Kính lạy Mẹ, nhọc lòng người biết mấy

Ra tìm con tận mãi cuối vườn trăng…

La Hầu La (mách):

Dạ thưa bà mẹ cháu khóc vừa xong !

Da Du (vuốt tóc con mắng yêu):

Này đừng láo, La Hầu La con nhé !

La Hầu La (nhìn mẹ bằng cặp mắt ngây thơ):

Thế không khóc mới rồi sao, hử mẹ ?

(nhìn bà phân trần)

Mới lau xong nước mắt thì bà ra,

Bà ơi, sao mẹ cháu khóc luôn, mà…

(rưng rưng nước mắt)

Bà Kiều Đàm (cầm tay cháu kéo lại):

Thật ư cháu ? Lại gần đây bà bảo !

Cháu của bà chắc không hề nói láo,

Nhưng mà này, cả cháu cũng khóc theo

Có phải không ?

La Hầu La (gật):

Thưa bà phải ! khóc nhiều…

Bà Kiều Đàm (xoa đầu cháu):

Thì thôi chứ ! Bây giờ xem trăng sáng

Cháu vui đi, kìa vầng trăng xán lạn !

(nhìn nàng với cặp mắt đầy thương hại và yêu mến)

Này con ơi, ai không khỏi sầu thương,

Nhưng…thời gian đâu đến lúc cùng đường,

Con khổ thế, để lòng ta thêm khổ !…

Da Du (sụt sùi):

Xá tội con, muôn ngàn ơn đức độ !

Đã vô tình làm mẹ phải buồn lòng

Nhưng mẹ ơi, sao tháng ngày trôi mãi

Chỉ đem về nguồn cảm khái mênh mông !

(im lặng)

Kính lạy mẹ, bây giờ người lạc lõng

Phương trời nào, ở nơi chốn xa xôi…

Bà Kiều Đàm (cũng khóc):

Tất Đạt Đa, con đã đến đâu rồi…

Tìm chánh đạo hay tìm nơi cực khổ ?

Con ra đi mà bao người luyến mộ,

Bao tâm hồn theo rõi bước chân con

Mắt phụ vương lệ xóa đã hao mòn,

Ngài đã khóc nhiều đêm vì nhớ tiếc,

Mà phải chăng đã là ngày vĩnh biệt,

Có nên mong ngày hội ngộ, con ơi ?

Da Du (khóc òa):

Có nên mong ngày hội ngộ, ngài ơi ?

Tiếng địch:

Người xưa ơi, có nghe trong sương lạnh,

Có nghe không tiếng địch thoáng buồn thương

Thấy không ai, ngàn mây sầu ủ rũ,

Ngừng không bay, lắng tiếng gọi lên đường ?

Thổi lời thơ tận muôn phương xa lạ,

Nhẹ nhàng đưa âm điệu lướt không gian

Gió chiều thu ướp lòng người tơi tả,

Và vi vu theo điệp khúc trường giang…

Da Du (tiếp):

Có những đêm trăng sáng tỏ mơ màng

Con nhìn thấy bóng Ngài bên khóm lá

Và mừng quá, kêu lên trong hơi thở

Nhưng hỡi ơi, chỉ là bóng sương trăng…

Có nhiều khi trong ánh nến sáng trưng

Con cảm thấy một cái gì tan vỡ,

Như bóng tối chứa đầy niềm lo sợ…

Tiếng dế (vẳng lên):

Rên lên đi, ta khóc giúp cho người,

Ánh trăng kia là nước mắt không vơi,

Tiếng địch ấy là nỗi lòng thổn thức.

Ta đang khóc cả trần gian u uất,

Muôn ngàn thu còn mãi vết tang thương

Lệ chưa vơi, đau khổ vẫn đương còn

Đẫm ướt mãi bức tranh đời hoen ố.

Gió reo:

Ta làn gió lướt ánh hằng sáng tỏ

Chở đau thương nhân loại đến ngàn nơi

Để đi tìm một chốn tạm nghỉ ngơi

Nhưng thất vọng, chưa bao giờ tìm thấy !

Ta đã ấp bao cõi lòng run rẩy

Đã từng mang bao u uất vấn vương

Ôi nhân sinh ! Ôi thế cuộc vô thường !

Nhân loại mãi đắm chìm trong biển lệ !

Ta ao ước vì ngàn muôn thế hệ

Tìm cho ra ánh đạo sáng nhiệm mầu

Mong một ngày nhân loại hết thương đau

Xây cuộc sống trên thanh bình hạnh phúc

Ta không muốn khổ đau làm ngã gục

Trên cuộc đời cả nhân loại mến thương.

Bà Kiều Đàm:

Người ra đi, theo tiếng gọi lên đường,

Với chí nguyện cao siêu và rộng lớn,

Phải cố gắng cắt những dây tình cảm

Những buộc ràng, để có thể bay cao

Người ra đi mà vẫn nát tâm bào,

Con phải thấy là hy sinh cao cả…

Da Du ( lau nước mắt):

Con biết thế từ lâu rồi mẹ ạ,

Cố quên đi để tâm trí thảnh thơi,

Nhưng hỡi ơi, gan ruột vẫn tơi bời,

Không ngăn nổi tiếng lòng đang thổn thức.

Tiếng gió:

Vui lên đi ! Hãy đem nguồn sinh lực

Tưới lên cho vạn vật hết u sầu.

Ta nghiêng mình trước mọi nỗi khổ đau

Và thông cảm mối sầu thương vạn kỷ.

Da Du:

Con xin hứa dứt muôn dòng sầu luỵ

Để một lòng tin tưởng ở ngày mai

(ôm con vào lòng)

Thái tử đi vì nặng cứu muôn loài,

Ý chí ấy là vô biên lực lượng.

Trần thế kia còn bao nhiêu vất vưởng

Đang đợi ngài một ánh sáng thoát ly

Nguyện từ nay xin bỏ hết sầu bi,

Phương xa lạ, ngài an tâm tìm đạo !

Tiếng gió:

Phải mạnh mẽ vượt qua cơn vũ bão

Của tiếng lòng, hỡi bao kẻ sầu bi !

Ôi cao siêu mầu nhiệm chí nam nhi

Thân gió bụi nguyền xông pha sương tuyết

Thân gió bụi nguyền quên bao thương tiếc,

Cả tình yêu, cả tôn quí ngai vàng !

(Một thị nữ đã quỳ xuống bên gối)

Thị nữ:

Trời khuya rồi, gió lạnh thổi sương ngàn,

Xin lệnh mẫu và nương nương vào nghỉ.

Da Du (nhìn dì):

Thưa Mẹ, khuya rồi, xin Người vào nghỉ.

Bà Kiều Đàm (nhìn con):

Ừ, khuya rồi, con đem La Hầu La vào nghỉ

Kẻo sương trăng lạnh lẽo lắm, không nên.

(Ba người đi trước, thị nữ theo sau. Tiếng gió vi vu)

Tiếng gió:

Trăng khuya ơi, trần giới vẫn liên miên,

Ngàn cây sáng, ánh trăng đùa nhấp nháy

Nhè nhẹ thoảng trong hồn người, sống dậy

Một niềm vui êm đẹp đượm ước nguyền.

(Bốn câu vừa dứt thì bốn người đã khuất sau bóng cây…Tiếng địch văng vẳng trên không trung)

Tiếng địch:

Thổi lời thơ tận muôn phương xa lạ,

Nhịp nhàng đưa âm điệu lướt không gian,

Ánh trăng thu reo mừng trong kẽ lá

Và vi vu theo điệp khúc trường giang…

Mau lên đi, chậm rãi, ánh trăng tan !

Dồn dập sóng, tiếng cõi lòng thúc dục

Mau lên đi, với trọn niềm thao thức

Người, người ơi ! Vũ trụ đang mê man…

(Tiếng địch nhỏ dần, xa dần, rồi cuối cùng im bặt, trong khi ánh trăng dịu dàng đan qua kẻ lá những sợi tơ trăng lấp la lấp lánh)


Thuyền về bến cũ

 

Chiều nay trên bến sông

Một con thuyền nan ghé

Gió mênh mông ru không gian lặng lẽ

Nước mênh mông hòa tiếng vỗ trong thanh…

Bến cũ

Thuyền xưa

Hương ý cũ

Buồm xuôi thuận gió một trời thơ

Tháng năm qua, bến lặng lẽ mong chờ

Vui sóng gió thuyền đi trong quên lãng

Nhìn phương xa: cả cuộc đời tươi sáng

Ước mơ đâu ? Ta chỉ thấy phong sương

Thuyền ta đi trong giông tố, lạc đường

Đón trăng gió, đón ảo hình ảo tượng

Sóng gió nổi cho thuyền thêm vất vưởng

Địa bàn đâu? Ta nhắm hướng trăng sao

Nhưng sao băng và biển dậy ba đào

Mây phủ kín, màn vô minh kế tiếp

Mà thôi ! mặc giông tố, mặc mưa gào, gió rít

Thuyền băng đi, không kể hướng Đông Tây

Trong biển đời tiếng gầm thét cuồng say

Cả một trời buồn thương và sầu khổ

Vừa thế gian vừa niết bàn hiển lộ

Trong âm thanh trong màu sắc trong hoa hương

Biển đời là trăm vị thắm như đường

Và cũng chứa nhiều chua cay đắng chát

Là tất cả những hoa hương ngào ngạt

Lẫn trong hơi gió thoảng khí tanh hôi

Nhìn xem kia : trăng tạnh, gió ngưng rồi

Cảnh sắc ấy huy hoàng và kiều diễm

Nhưng trong bóng mây xa còn ẩn hiện

Cả màu tang và sắc tím phôi pha

Thấy không? nghe không? khúc ca ngợi gần xa

Của tâm linh qua nhịp hồn nghệ sĩ

Hãy lắng nghe tiếng kêu thương rền rĩ

Dậy trời cao những sóng gió bất công

Trở về đi ! chiếc thuyền cũ lạc dòng

Đời là khổ, biển đời đầy đau khổ

Tìm chỉ nam, quay về đây, sinh lộ

Trở về đi, nương bóng mát sông xưa

Trở về đi, ta nằm nghỉ bến Mơ

Ôn lại quãng thời gian đùa mây nước

Chiều nay, trên bến sông,

Một con thuyền nan ghé

Gió mênh mang ru không gian lặng lẽ

Nước mênh mang hòa tiếng vỗ trong thanh

Chiếc thuyền xưa về bến cũ thanh bình

Ngủ dưới gốc đa già muôn vạn tuổi

Nằm im đấy, ngoài kia là sôi nổi

Cảnh trầm luân, thôi nghĩ đến mà chi ?

Nhưng mà không, ta thấy ta phải đi

Gặp sóng gió ba đào đầy lạc thú

Ồ sống lại êm đềm nơi bến cũ

Buồn, ta buồn trông biển rộng sóng mênh mang

Ngay đêm nay ta lại muốn lên đàng

Chiếc thuyền cũ, buồm xưa, không ngợp sóng

Vui chi về cùng bến sông trong lặng

Thôi ta đi đối phó ngọn cuồng phong

Thuyền ta đi muôn dặm nước bềnh bồng

Mặc, ta muốn trôi hoài trong sóng gió

Để rèn luyện tâm hồn trong đau khổ

Để nếm mùi mặn lạt nước muôn sông

Để rồi đây nhen nhúm ngọn lửa hồng

Sưởi ấm cả mọi lòng trong vạn hải

Gió bốn phương, chiếc buồm run, tê tái

Buồm vẫn căng, vẫn sải gió say sưa

Còn gì hơn gương đẹp đẽ ngày xưa

Bao đại sĩ lăn mình trong cứu khổ

Đây ánh hải đăng, huy hoàng, sáng tỏ

Ta không lầm : ánh sáng của uy linh

Ta hò lên, vang khúc hát thanh bình

“Ơi ai ơi, về đi, đừng chậm bước

Buồm căng lên, hướng về phương mây nước

Về đi thôi, về với bến đò xưa !”

Thuyền ta đi, đi mãi trong say sưa

Dồn dập lướt trên vạn trùng sóng cả

Thuyền không nghiêng, ta nhờ bao phép lạ

Một hướng về, tin tưởng, sẽ thành công

Thuyền ta đi, ngang dọc khắp muôn dòng

Mặc cho ai trở về nơi bến cũ

Ngủ im lìm dưới trăng mơ đoàn tụ

Bờ Giác đây, thuyền hẹn bến sông xưa

Từ ra đi không khắc khoải mong chờ

Ta sẽ ghé một chiều trên bến vắng

Đâu bến cũ ? Là bến lòng vô tận

Ngút không gian, dồn dập sóng thời gian

Và đau thương là nhân của huy hoàng

Để ánh sáng của bình minh rạng chiếu

Đâu cũng sẽ có trăng vàng huyền diệu

Đẹp lung linh nước lồng ánh trăng tươi

Gió trần gian quạt tắt lửa luân hồi

Mưa thế tục gội từ tâm thấm nhuận

Bếp chiều lạnh, một ông già cẩn thận

Liếp phên thưa che gió tạt trên mui

Mái chèo kia theo hướng nước mây trôi

Từ hiện tượng, thuyền quay về bản thể.

Và chiều nay, trên bến sông,

Có con thuyền nan ghé

Gió mênh mang ru không gian lặng lẽ

Mơ trăng sao và trời nước mông mênh

Hãy hò lên, vang khúc hát thanh bình :

“Ơi ai ơi, về đi, đừng chậm bước

Buồm căng lên, hướng về phương mây nước

Về đi thôi ! về với bến đò xưa !”


Tiếng còi xe lửa


Tiếng còi thét trong đêm dài mờ mịt

Như xé tan thanh khí của bầu trời

Tiếng còi vang hận trường ly biệt

Non nước ngàn xa bóng nhạn trôi

Ai đem chia sẻ cõi lòng tôi

Một nửa theo dòng nhẹ trôi trôi

Một nửa tan đi dòng hương nhạt

Trong bầu không khí nặng u hoài ?

Tiếng còi gấp rút như tha thiết

Vang giục người đi : “Muộn, muộn rồi !

Đây bến mê mờ và lầm lạc

Ta chở về nơi chốn sáng tươi”

Đây bến mê mờ và lầm lạc

Ngàn năm còn vướng nợ dòng đời

Còn vướng nợ trần đeo thêm nặng,

Hướng về giải thoát, bạn đường ơi !


Con đường thoát khổ


Này bạn hỡi, hãy cùng tôi đi viếng

Những cảnh đời u uất dưới trần gian

Những đau thương rền rĩ cháy tâm can

Trên mặt đất thương tâm còn diễn tả

Ôi cảnh tượng buồn rầu thê thảm quá:

Đây muôn binh nơi chiến địa giao hùng

Thây chất đầy bên vũng máu tựa sông

Bao sinh mệnh lấp vùi trong gió cát

Lòng hung bạo, ôi, gây bao tai ác

Trên cõi đời. Nhục nhã tới vô biên !

Mà con người đâu có dịp sống yên

Ai biết được ngày mai còn sống nữa ?

Hay cái chết sẽ hiện ra trước cửa ?

Quỷ vô thường, ôi biết tránh vào đâu ?

Đây những cảnh đớn đau trong tật bệnh

Bao nhiêu người lo lắng chạy ngược xuôi

Lo cho người trên giường bệnh chẳng lui

Cơn tật bệnh dày vò trong xác thịt

Và rên siết trên chiếc giường thảm thiết

Ôi đời buồn ! thú vị có gì đâu

Mà luôn luôn ta chỉ thấy khổ đau ?

Đây tức tối vì thân già bệnh hoạn

Chân bước đi, còm cõi gậy đi theo

Run rẩy đầu, lưng còm cọm cong queo

Sống tật bệnh và sống trong hiếu tĩnh

Vì sức vóc tuổi xuân còn đâu tính ?

Đây cảnh nghèo dày xéo nát tâm hồn

Cảnh gia đình khốn khổ sống lầm than

Sống chật vật, sống nghèo nàn, đói rách

Sống xâu xé, sống tham lam, cướp bóc

Dạ tham tàn, điên đảo, sống ngu si

Chẳng biết tu biết sửa lại thân chi

Để lăn lộn mãi trong đường ngũ trọc !

Đau thương quá ! cảnh trần gian thảm khốc

Muôn sinh linh chìm đắm cảnh thê lương

Bao sinh linh còn khắc khoải trong trường

Đau khổ đó. Làm sao ta tìm được

Bờ giải thoát để vượt xa triền phược

Hằng níu ta, ràng buộc lấy tâm ta ?

Anh em ơi, bờ giải thoát không xa

Hãy tỉnh dậy, lìa giấc mơ quái ác

Hãy bước tới, nên biết rằng cảnh vật

Ở quanh ta là hư ảo. Thế mà

Đã từ lâu, ta tự buộc lấy ta

Nên bị kẹt trong buồn đau tủi hận.

(mười hai tuổi)