Niềm thương

Chân Tài Nghiêm

Thương mình thương người

Hiện giờ con đang được biểu hiện ở Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu tại Đức (European Institute of Applied Buddhism in Germany), nghe cái tên cũng le thiệt nhưng thành viên thì cũng có vài người “bé tèo teo” như là con. hì.hì…

Con có mặt ở đây được ba năm rồi. Với khoảng thời gian đó con nghĩ thật không đủ dài để hiểu nhiều về nơi này: đất nước, văn hóa, con người và cả ngôn ngữ nữa. Nhưng có một điều mà con luôn biết rõ đó là con rất thương ngôi già lam này. Con thương những thành viên trong gia đình Học viện của con. Con thương mấy con đường mà con hay đi qua đi về, con thương mấy cái cây ở trước phòng con ở… Con thương và trân quý hết những gì mà quý thầy quý sư cô và các anh chị em của con đã đóng góp xây dựng Học viện cũng như xây dựng cho nhau.

Con thương những lúc nhà (Học viện) gặp chuyện, có những khó khăn nhỏ xíu, nhưng cũng có những chuyện to đùn. Vậy đó mà chúng con cũng vượt qua được, con xin ghi nhận rằng tăng thân mầu nhiệm thật.

Cổng vào EIAB
Cổng vào EIAB

Con thương kính sư mẹ Chân Đức và sư cha Pháp Ấn con lắm, những bậc anh chị lớn đang có mặt đó cho chúng con, đang nâng đỡ anh chị em trẻ chúng con mỗi ngày với tất cả tình thương và sự bao dung. Con có một người Thầy quá lý tưởng, con có tăng thân ấm cúng, dễ thương để sống và thực tập cùng. Con có con đường sáng để đi và con đang được bước những bước rất rõ ràng trên con đường đó. Con đi tu như vậy thật không uổng tí nào. Ở đây con có bạn để chơi cùng, học cùng, con có người để tâm sự, chia sẻ cùng khi có chuyện buồn hay những thắc mắc, những thao thức trong lòng. Như vậy là đầy đủ quá rồi.

Năm nay con được 21 tuổi, vậy mà cũng có lúc con còn khóc nhè vì nhớ nhà, nhớ ba mẹ nhiều, nhất là đang sống xa quê nữa. Nhưng tình thương của quý sư cô, sư chị, sư em thì luôn có sẵn đó cho con, nhờ vậy mà con có thể vượt qua được. Con cảm nhận được thật nhiều năng lượng ấm áp của sự bảo bọc, che chở và ôm ấp của các vị. Con thầm biết ơn điều đó.

Đây là nhà của con, là gia đình của con. Chúng con là anh chị em của nhau và đều là con của đất Mẹ thân yêu. Con cảm ơn Đất Mẹ đã cho con được biểu hiện và cũng làm cho anh chị em của con được biểu hiện cùng con để con có bạn cùng tu. Đất Mẹ luôn nuôi dưỡng và ôm ấp anh chị em chúng con, con xin nguyện ghi lòng. Con thấy nhờ đi tu mà con có thêm thật nhiều bạn. Bạn của con thì lớn tuổi, nhỏ tuổi, bằng tuổi đều có cả, và đều là những người bạn tốt, con thật sự yêu quý các bạn của con. Và đây cũng là điều mà con thích nhất khi con được ở trong chùa.

Và cũng nhờ đi tu con có cơ hội được biết thêm nhiều thứ. Con biết thương yêu chính bản thân mình hơn và vì vậy, con biết cách yêu thương mọi người và mọi thứ xung quanh con hơn. Con biết mình phải làm gì khi mình có những cảm xúc mạnh, khi giận hay đang buồn chán, cô đơn, trống trải hoặc có những câu hỏi, những thao thức v.v… nổi lên trong lòng. Con tập trở về tự mình xử lý chúng, nếu cần thì con sẵn sàng nhận sự trợ giúp của những người xung quanh con. Có lúc con làm tốt nhưng có lúc con làm cũng chưa hay, con sẽ học hỏi thêm.

Có một tin tốt nữa, theo con nghĩ, là con siêng năng hơn, gọn gàng hơn trước kia, trước khi con đi tu. Nếu mẹ con biết được chuyện này chắc mẹ con sẽ mừng lắm đây. Nói tóm lại, nhờ đi tu mà con trở thành một người tốt hơn một chút. Những hạt giống tốt trong con được biểu hiện nhiều hơn và những tập khí chưa được hay, chưa được đẹp nó giảm xuống phần nào. Con nghĩ vậy là ổn, đi tu vậy là có kết quả khấm khá rồi.

Học viện đẹp và thú vị lắm

Ở Học viện các khóa tu diễn ra rất thường xuyên và đều đặn. Mỗi cuối tuần đều có các lớp học của quý thầy, quý sư cô giáo thọ và cả giáo thọ cư sĩ hướng dẫn. Con thấy thiền sinh về càng ngày càng đông hơn và họ có rất nhiều lợi lạc trong sự tu học. Có những thiền sinh lâu lắm họ mới có cơ hội trở về lại Học viện, có thể là sau hai, ba hoặc bốn năm. Khi những người này trở lại Học viện họ có nhiều ngạc nhiên lắm vì Học viện hôm nay khác xa với Học viện những năm đầu. Học viện có nhiều thay đổi, họ cảm nhận được sự chuyển hóa và trị liệu nơi toà nhà này.Những nguồn năng lượng lạnh lẽo và nặng nề trước đây của tòa nhà đã được thay thế bằng sự nhẹ nhàng, tươi sáng hơn, bình an và ấm cúng hơn. Điều này đã giúp cho họ có thêm nhiều niềm tin vào sự chuyển hóa và vào tăng thân.

Các lớp học (course) diễn ra mỗi cuối tuần và có những tuần có tới 3 lớp cùng lúc. Những lúc như vậy, chúng con làm việc nhiều hơn một chút. Mỗi lớp có mỗi đề tài tu học khác nhau và thời khóa cũng khác nhau nhưng có những giờ căn bản cố định dành cho toàn thể đại chúng như là giờ ăn cơm, thiền hành, im lặng hùng tráng thì phải giống nhau.

Khi mới gia nhập vào gia đình Học viện, con có nhiều bỡ ngỡ trong cách tổ chức lắm. Vì đây là Học viện nên có rất nhiều lớp học và cách tổ chức thì có hơi khác một chút. Để làm quen, con cần phải có thời gian dài để học hỏi và thích nghi.

Trong năm có một vài khóa tu dành cho gia đình rất vui và thú vị. Có nhiều con nít và thanh thiếu niên (teenager) cùng tham gia tu học với tăng thân. Gần đây nhất có khóa tu gia đình (family retreat) diễn ra trong mùa Tết Tây. Có khoảng 200 người cùng tới với nhau, cùng nhau tu học trong một tuần rất là “xôm tụ”  và có nhiều hạnh phúc để đem về nhà. Ở đây 200 người là đã khá đông cho một khóa tu. Vì thiền đường nhỏ nên chúng con dùng tạm hành lang của tòa nhà để làm thiền đường, dù không lớn hơn bao nhiêu nhưng cũng tạm ổn. Tuy ngồi hơi chật nhưng mà vui và ấm cúng.

Trong khóa tu này, con cùng với hai anh chị, nhận chăm sóc các em tuổi mới lớn. Nhóm này có 16 em, có nhiều em phải đi một quãng đường dài để tới đây: như có em tới từ Holland, England, nhiều tỉnh khác của Germany và đều dùng ngôn ngữ chung là tiếng Anh. Về chương trình thì chúng con đã chuẩn bị kỹ trước đó rồi cho nên khóa tu diễn ra khá suôn sẻ.

Trong nhóm có những em mới đến lần đầu tiên và hơi bỡ ngỡ. Cũng có nhiều em đã tham dự chương trình thanh thiếu niên (teenager program) ở Học viện nhiều lần, từ lúc 12, 13 tuổi cho đến 15 tuổi hay từ 14, 15 tuổi cho đến 18 tuổi .v.v..  và cũng có các em sinh hoạt với chương trình trẻ em (children program) cho đến khi thành 12, 13 tuổi thì được chuyển qua sinh hoạt với thanh thiếu niên.

Trò chơi Olympics Làng Mai
Trò chơi Olympics Làng Mai

Có những em sinh hoạt rất thường xuyên với mình.Mỗi khi có khóa tu gia đình hay những sinh hoạt cuối tuần cho thanh thiếu niên thì các em ấy đều tham gia. Con thấy rất vui vì con biết các em ấy có niềm vui và họ biết cách chế tác niềm vui khi ở đây cùng thực tập chung với tăng thân. Thêm nữa, theo con nghĩ đó là vì ở đây có rất nhiều người tu cũng trẻ như họ, cũng hồn nhiên vui tươi, sống rất lành mạnh và nhất là có tình huynh đệ, biết sống hài hòa với nhau.

Trong lần chơi với các em đợt này, có nhiều sinh hoạt vui ơi là vui, thích nhất là đi rừng. Có hai điều cũng khá ấn tượng đối với con. Điều thứ nhất là buổi Làm Mới của các em với ba mẹ. Con đã rất xúc động. Buổi lễ diễn ra dễ thương và đẹp lắm. Trong buổi Làm Mới ấy, các em có cơ hội để nói ra được những gì trong lòng mình với ba mẹ, những gì sâu kín trong lòng mà bình thường thì không dễ để có thể nói ra. Nhưng khi ngồi trong một vòng tròn có rất nhiều tình thương, sự yểm trợ và sự lắng nghe của tất cả mọi người trong đó có ba mẹ mình (và cả những ba mẹ khác) thì các em đã nói ra được những khó khăn trong lòng và cũng đã nói được những lời yêu thương và lòng biết ơn của mình đối với ba mẹ. Ba mẹ cũng có cơ hội tương tự như vậy. Khi mà hai bên đã mở lòng ra chia sẻ để hiểu và thông cảm cho nhau, thấy được cái đẹp của nhau, trân quý nhau, không đòi hỏi nhau nữa thì sự truyền thông và hạnh phúc có mặt liền trong mỗi người. Có rất nhiều người khóc vì cảm động quá.

Sau buổi Làm Mới, mọi người ai cũng tươi cười vui vẻ, mọi thứ đều được làm mới trở lại. Trước khi rời thiền đường, họ tới cảm ơn chúng con cũng như tăng thân đã cho họ một cơ hội quý báu này. Đối với con thực sự thì con được nuôi dưỡng rất nhiều từ sự thực tập của các em thiền sinh đó. Khi con thấy được sự chuyển hóa, trị liệu trong họ, họ nở được nụ cười, có thể truyền thông được với gia đình họ thì đó là một món quà lớn mà họ đã đem tặng cho con cũng như anh chị em chúng con. Trong khóa tu, dù làm việc có hơi vất vả nhưng rất xứng đáng. Con ước chi có thêm thật nhiều gia đình có cơ hội như vậy, và cũng ước chi các em ai cũng tìm ra được lối thoát cho những khó khăn, bức xúc của mình, có con đường sáng đẹp để đi và tìm được niềm vui lành mạnh trong cuộc sống.

Điều ấn tượng thứ hai của con là vở kịch. Chúng con có tập chung với nhau một vở kịch cho buổi văn nghệ đêm giao thừa. Chúng con chọn chương “Đỉnh Cao Nghệ Thuật” trong sách “Đường Xưa Mây Trắng” để dựng kịch (chương con thích nhất). Chúng con tập kịch với nhau vui không thể tưởng tượng nổi. Các em đóng góp nhiệt tình lắm nên anh chị em chúng con cũng đã chơi hết lòng. Con thấy nhờ tập vở kịch chung với nhau nên tất cả mọi người đều có cơ hội chơi chung nhiều hơn, không còn ngần ngại nhau nữa, gần gũi hơn, thân thiện, cởi mở với nhau hơn và kết quả tốt đẹp cuối cùng là trở thành bạn của nhau.

Nhân dịp này con cũng muốn tỏ lòng biết ơn của con những người gần gũi, chăm sóc, nâng đỡ con nhiều nhất đó là quý sư mẹ, quý sư cô hiện tại nơi con đang tu tập. Đặc biệt hơn nữa, đó là con muốn cảm ơn thật nhiều đến quý sư cô trước đây đã chăm sóc con, dạy cho con đủ thứ từ lúc con xuất gia. Lúc đó con mới 15 tuổi, người ta gọi đó là tuổi dậy thì, con biết tuổi này cũng hơi khó. Có thể tưởng tượng là trong một ngày có rất nhiều mùa, thay đổi liên tục, lên xuống không ngừng. Quý sư cô chắc chắn là đã vất vả với con, vừa tốn hơi tốn sức, còn con thì lại cứng đầu. Con nghĩ có lúc con cũng không dễ ngoan ngoãn nghe lời, lại còn gây ra đủ thứ chuyện nữa… Con thành thật xin lỗi quý sư cô, con cảm ơn quý sư cô đã kiên nhẫn với con.

Mộc Lan “Mọc Liền”

Chân Bi Trú

Chú Chân Bi Trú là một cư sĩ Tiếp Hiện thuộc tăng thân Làng Mai đang thực tập và đóng góp sự có mặt của mình cho Tu Viện Mộc Lan tại Mỹ. Những gì chú ghi lại dưới đây là dấu ấn của những ngày chú cùng có mặt với tăng thân, giúp quý thầy quý sư cô trong công trình xây dựng cơ sở hạ tầng của Tu viện Mộc Lan trong những ngày đầu mới đến. Dù chưa đến Tu viện Mộc Lan nhưng qua bài viết sẽ giúp chúng ta có một cái thấy về tu viện và những con người đang ngày đêm tu tập và hiến tặng sự có mặt của mình cho tu viện và cho những ai cần đến.

Tu viện Mộc Lan cũng như bao nhiêu tu viện khác như Lộc Uyển, Bích Nham hay Làng Mai, mỗi nơi đều có một vài đặc tính riêng. Muốn biết về Mộc Lan chúng ta phải đến tận mỗi nơi trong tu viện mới thưởng thức hết được những gì đang có mặt nơi này: Những hàng cây xanh, những con đường ngoằn ngoèo lên dốc xuống đồi, những bãi cỏ xanh mênh mông tươi mát, những chùm hoa dại đủ màu sắc kỳ diệu đang biểu hiện, từng đàn chim líu lo thánh thót gọi đàn. Không gian bao la với bầu trời xanh, mây trắng, gió mát, trăng trong v.v… không thể nào diễn tả hết bằng chữ nghĩa. Chúng tôi xin dành phần khám phá khá thích thú đó lại cho quý vị nào muốn đến nơi đây để mà “tự mình chiêm nghiệm, tự mình giác tri”. Hôm nay chúng tôi chỉ xin mời quý vị cùng chúng tôi lướt qua một vài sự kiện phát triển “Mọc Liền” của tu viện Mộc Lan.

Mộc Lan còn có biệt danh (nickname) là “Mọc Liền”. Danh từ “Mọc Liền” là do bởi Mộc Lan thay đổi quá nhanh khiến thầy Pháp Dung đến phải ngạc nhiên khi trở lại đây. Lúc thầy đến Mộc Lan (tháng 07 – 2010) thì Ni xá đang thi công, lên tường, lợp ngói… Khi thầy đi thì Ni xá vẫn còn ngổn ngang nhiều việc chưa xong. Vậy mà mấy tháng sau thầy trở lại, mọi công trình đã hoàn tất. Không những Ni xá mà còn thêm cốc của Sư Ông, nhà vệ sinh công cộng và mười mấy cái cốc (hut) mọc lên, sẵn sàng nghênh đón Sư Ông cũng như thiền sinh đến tham dự khóa tu. Trước đó nhà bếp còn nhỏ xíu, bây giờ đã được nới rộng thêm và trở thành một nhà bếp mới rộng rãi. Những dụng cụ cần thiết cho cuộc sống cộng đồng như walking cooler, máy rửa chén (dish washer), kho chứa thực phẩm khô v.v… đã được lắp đặt rất ngăn nắp và tiện cho việc sử dụng. Quả thật Mộc Lan đã có nhiều thay đổi, thầy Pháp Dung nói thầy ngạc nhiên quá đi (supper surprised), cứ tưởng như đang còn trong mơ và thầy thốt lên: “Mộc Lan là Mọc Liền”, kể từ đó Mộc Lan được gọi là “Mọc Liền”. Không những chỉ riêng thầy, mà mỗi lần bất cứ ai tới Mộc Lan cũng đều thấy có sự đổi mới dường như hàng ngày.

thiền đường Hải Triều Lên
thiền đường Hải Triều Lên

Thương kính Sư Ông tuổi đã cao, nếu không có chỗ nghỉ ngơi thì làm sao có đủ sức khỏe để trao truyền pháp lạc, nghĩ đến thiền sinh về tham dự khóa tu mà không đủ phương tiện tắm rửa, nên cứ theo nhu cầu đó mà Mộc Lan phải “Mọc Liền” với những tiện nghi căn bản. Khóa tu cũng sắp gần kề, thiền sinh đã ghi danh gần cả ngàn người vậy mà chánh điện hiện có thì quá nhỏ, không thể nào chứa hết lượng người kể trên. Ban tổ chức đành phải mướn một cái lều khá lớn có thể chứa cả ngàn người, do một công ty cho thuê đến dựng lên. Như thế cũng đáp ứng được nhu cầu cho khóa tu vào cuối tháng 9 năm 2011. Khóa tu đi qua trong không khí yên bình đầy năng lượng chuyển hóa và an lạc. Các anh chị em ai nấy đều hạnh phúc và thở phào nhẹ nhõm. Riêng Sư Ông và tăng đoàn tiếp tục lộ trình hoằng pháp sang Bích Nham và miền Đông Hoa Kỳ. Trước khi rời Mộc Lan, Sư Ông cũng đã chỉ dạy cho sư cô Hỷ Nghiêm địa điểm sẽ xây thiền đường và vị trí xây tháp chuông.

Vậy là yên tâm, Sư Ông đã chỉ chỗ cho mình rồi, còn thực hiện được hay không là tùy vào sự đóng góp tinh thần cũng như tài năng của mỗi thành phần trong tăng thân. Có một thiền đường rộng rãi để cho bao nhiêu người về nương tựa là một ước mơ và thao thức chung của mọi người. Hơn nữa, theo số lượng thiền sinh hơn cả ngàn người tham dự trong khóa tu vừa qua, thì ngôi thiền đường rất cần phải “Mọc Liền” để đủ chỗ che mưa, che nắng cho các khóa tu tới.

Vậy là công trình dự tính được thông báo, quý vị Phật tử xa gần ở vùng Jackson cũng như vài vùng lân cận hết lòng yểm trợ nên đã đồng lòng đứng ra gây quỹ vào mùa xuân 2012. Việc nâng đỡ quý thầy quý sư cô có đủ phương tiện tu học để đem pháp lạc chia sẻ đến mọi nơi là cái thấy chung của rất nhiều Phật tử, vì vậy mọi tổ chức đều được làm trong tinh thần tự nguyện và hiến tặng. Trong lúc chờ đợi bản vẽ và vận động tài chánh cho thiền đường mới, mọi người biết rằng còn phải trải qua nhiều thời gian và thủ tục mới khởi công cho những dự án được bắt đầu. Vì vậy, sư cô Hỷ Nghiêm đề nghị nên xây cốc sư cô Chân Không trước, vì quỹ xây cốc này đã có ân nhân yểm trợ sẵn rồi. Thế là duyên lành đầy đủ, bốn chúng đều đồng ý nên liên lạc ngay Uncle Rick phác họa cho một bản vẽ như ý. Mọi việc cứ thế mà tiến hành, người cưa, kẻ đóng, chỉ nội trong vòng 3 tháng là cốc của sư cô Chân Không “Mọc Liền”. Cốc đơn giản nhưng đầy đủ tiện nghi và ấm cúng. Nghe đâu sư cô Chân Không thích lắm và còn khoe là “đẹp hơn cốc của Sư Ông nữa?”. Sư cô đặt tên là “Cốc Thanh Thoát”. Thanh thoát cũng có nghĩa là trong lúc làm ai cũng chung một bàn tay, một tấm lòng mà không thấy mình cưa ván, đóng gỗ, hay lợp trần. Mọi người đã làm việc trong hơi thở, niềm vui của tình huynh đệ tứ chúng. Chính với những yếu tố đó nên cốc của Sư Cô đã biểu hiện với cái tên Thanh Thoát thật dễ thương. Thật là vui quá chừng, thêm một cái cốc “Mọc Liền” hoàn tất.

Bây giờ là vào đầu mùa Thu 2012. Trong lúc chờ đợi bản vẽ, toàn bộ nhân lực dồn vào giúp cho công trình xây dựng tháp chuông. Tháp chuông so với thiền đường tuy nhỏ, khi hoàn tất nhìn vào có vẻ như đơn giản, nhưng sự thật thì không đơn giản như mình nghĩ. “Nhỏ con, nặng đòn” mà, biết bao là xi măng và sắt thép từ dưới móng lên tận nóc, nhiều lắm. Nếu không có đàn chim “Ca Lăng Tần Già” của quý thầy, quý sư cô Mộc Lan chia nhau uốn từng que sắt, cắt từng miếng thép thì còn vài năm nữa mới xong. Đến lúc bản vẽ của thiền đường gởi đến, thầy Pháp Huy và sư cô Hỷ Nghiêm tiến hành xin giấy phép xây dựng. Trước khi nộp bản vẽ để xin giấy phép, sư cô Hỷ Nghiêm nói với thầy Pháp Huy rằng: “Lên xe, chị em mình nhớ trở về với hơi thở, mình niệm Bồ Tát Quan Âm và Tổ tiên đất đai gia hộ cho mình xin giấy phép được thuận duyên, dễ dàng”. Quả thật, sự linh ứng mầu nhiệm đã xảy ra, bình thường xin một giấy phép (construction permit) họ tính theo diện tích “square feet” trong bản vẽ để đóng lệ phí và đòi hỏi bản vẽ phải đúng code của thành phố mới cấp giấy phép. Nhưng khi coi bản vẽ, họ không cần hỏi han gì cả và chỉ cho đóng $25 đô la tượng trưng và cũng không cần đòi hỏi gì thêm, họ còn nói “Mộc Lan là trung tâm thực tập chánh niệm nên cứ làm, không sao cả”. Thầy Pháp Huy và sư cô Hỷ Nghiêm cầm giấy phép trên tay mà không khỏi ngạc nhiên bỡ ngỡ và vui mừng. Thầy Pháp Huy nói: “Long Thần Hộ Pháp ở đây linh lắm, chỉ có Mộc Lan mới có chuyện này”. Chúng tôi bắt đầu với việc đặt sườn sắt cho thiền đường, mãi cho tới cuối tháng 9 năm 2012 mới tìm được nhà thầu ban đất, đổ móng, công việc kéo dài liên tiếp tới tháng 12 mới dựng sườn. Nhà thầu chỉ có dựng sườn sắt và lợp tôn, còn lại bao nhiêu việc lớn nhỏ đều do tứ chúng của Mộc Lan thầu hết. Bà con thấy có oai không?

Không biết có ai quay phim làm tài liệu trong lúc xây cất không? Giá như có thì chắc quý vị cũng không tin đâu. Vì sao? Nhìn vào quý thầy, quý sư cô thì đoán biết ngay, người nào người nấy với chiều cao khiêm tốn và trọng lượng cũng không quá 45 cân, ấy vậy mà dám gồng mình với sắt đá? Thương thật là thương nhưng không dám thổ lộ, vì khi sườn sắt dựng lên, các cột trụ to cả người ôm, và chính giữa nóc cao hơn 35 feet, nhìn vào chỉ toàn sắt là sắt, còn nhìn lại sức mình thì chỉ xem như “bảy chú lùn” không đáng so sánh vào đâu cả. Tục ngữ có câu “có tật thì có tài”. Lùn thì lùn, nhỏ mặc nhỏ, sức chừng nào làm chừng nấy. “Mạnh cậy tài, yếu liệu sức” mọi người cứ thế mà làm không hề thối lui. Thường thường gỗ người ta vác mỗi người một cây, còn quý sư cô hai người mà vác tới ba cây, thử hỏi như vậy mà Thiền Đường sao không xong sớm cho được? Còn quý thầy, nhìn thì thấy vóc dáng ốm yếu gầy gò, ấy thế mà khi ra làm việc là dùng hết công lực đến nỗi đinh ốc bắt sắt và máy khoan cũng chịu không nổi phải… bứt luôn. Bởi bình thường người chuyên nghiệp có kinh nghiệm thì họ chỉ dùng đủ sức để ốc từ từ bắt vào sắt, còn quý thầy thì rít hết ga và đẩy hết sức thì đinh nào chịu được. Đó là những kinh nghiệm vui thật là vui. Ngoài tài khiêng vác, dọn dẹp, quý sư cô còn có tài đóng giấy đen và bỏ bông cách nhiệt (insulation) lên tường, cũng như sơn quét, xây đá, lát đá. Có lẽ nhờ nhỏ người, nhẹ ký, nên có thể biểu hiện như là những “Thiên Thần” trèo cao, cao cách mấy cũng không nao núng sợ hãi, đúng là “tuổi trẻ tài cao”, thật đáng khâm phục, khâm phục.

Bây giờ đã là tháng 6 năm 2013 rồi. Tính ra thì chỉ còn vỏn vẹn chưa tới ba tháng là Sư Ông và Tăng đoàn cũng như khóa tu cho hơn 1000 người đã ghi danh sẽ diễn ra. Cả gia đình tứ chúng lớn nhỏ đều có vẻ lo âu, đặt câu hỏi liệu thiền đường có kịp cho khóa tu không? Trước tình hình đó sư cô Hỷ Nghiêm dẫn đầu một nhóm mấy chị em xung phong người khiêng, kẻ đục cố giúp xây tường đá để mong cho kịp xong. Lúc đầu sư cô còn đưa mắt nhìn mấy ông thợ và hỏi cách xây, nhưng sau vài phút là sư cô một tay cầm bay, tay kia trộn hồ, vừa làm sư cô vừa gọi: “chị em ơi! chồng đá lên, chồng đá lên!” Chỉ trong chốc lát các chị em đã xây xong một khoảng bự, tài không? Mọi người thấy thích thú quá với công việc mới mẻ này, sư cô hỏi vui: Ai mà xây “pro” quá vậy nè? Nghe sư cô hỏi vậy khiến ai cũng không khỏi tức cười. Riêng quý thầy thì chia ra ba bốn nhóm cùng với Uncle Rick làm suốt. Các chú thì tăng cường thêm nhân lực chia hai nhóm làm thêm ca đêm. May quá, có gia đình ba má của thầy Pháp Duệ từ Canada qua phụ giúp, anh Cường từ Atlanta đến giúp chạy điện. Nhiều người góp nhiều bàn tay, nhờ vào năng lượng vừa thực tập vừa làm việc hăng hái, mệt ít vui nhiều nên ai nấy đều nhẹ nhõm và hạnh phúc vì thấy Thiền Đường đang “mọc liền liền” gần xong. Tuần lễ đầu tháng 08, thầy Pháp Huy, thầy Pháp Uyển, sư cô Hỷ Nghiêm và sư cô Xứ Nghiêm đi Canada 10 ngày để phụ khóa tu với đại chúng lớn từ Làng Mai qua. Công việc còn lại nhờ anh Chân Bi Trú và anh Chân Lạc Định chăm sóc, chỉ còn đợi nhà thầu lót gỗ tre cho sàn nhà nữa thì mọi việc ổn định. Sư cô Hỷ Nghiêm mang về từ Canada thư pháp Sư Ông viết đặt tên cho thiền đường là “Hải Triều Lên”. Sư cô cùng chúng tôi tìm đá, dựng đá để sư cô Hải Nghiêm và anh Ngân khắc thư pháp tên chữ thiền đường lên đá. Phải nói, xin nghiêng mình cảm phục trước tấm lòng hy sinh thầm kín của thầy Pháp Tâm, thầy Pháp Nhã và thầy Pháp Lân. Uncle Rick nói “có quý thầy thì việc gì cũng xong”. Quý vị tới để thấy hệ thống âm thanh được dấu kín, không hề thấy một cọng giây nào dù bất cứ ở đâu trên nền nhà. Tất cả hệ thống giây đều bắt ở trong tường, chỉ cần cho mic và loa vào các ổ cắm là phát ra âm thanh, hay quá, nhờ có thầy Pháp Tâm giúp một tay mà công việc bắt điện được gọn đẹp. Xong công việc thiền đường, quý thầy, quý sư cô cùng một số các anh chị bắt đầu tiếp tục cho cổng tam quan. Mọi người giúp buột sắt, dựng cột để đổ xi măng làm trụ đá, ai cũng giúp tranh thủ làm suốt ngày đêm để trụ đá được hoàn thành, sau đó thì tên của tu viện được khắc vào trụ đá. Nghệ thuật của anh Ngân thật khéo léo, anh chỉ cho quý thầy, quý sư cô làm đá nhân tạo mà ai mới nhìn vào cứ nghĩ là đá thật, có vị hỏi sư cô Hỷ Nghiêm mua tảng đá này từ đâu và bao nhiêu tiền, sư cô dí dỏm trả lời là tảng đá này vô giá, bởi nó được mua bằng hơi thở.

Công việc đang tiến hành tốt đẹp ở thiền đường và tháp chuông thì thêm một tin vui nữa tới, đó là tôn tượng Quán Thế Âm cũng vừa chuyển đến từ Việt Nam đúng theo giao ước. Vài ngày sau, một dàn xe cẩu đồ sộ đến dựng tượng lên, vậy không phải “mọc liền” thì gọi là gì?  Còn nữa, chắc quý vị cũng hình dung được và cũng từng thấy qua sự xấu xí của một công trường đang thi công như thế nào chứ? Ấy vậy mà chỉ sau một đêm, xung quanh thiền đường cây cảnh đã được làm xong, các hòn đá được dựng lên và 60 kiện (pallet) cỏ cũng được lót xuống. Sáng thức dậy, ai cũng ngơ ngác vì cứ nghĩ như có một nhà ảo thuật biến hóa, chứ sức người đâu làm như vậy nổi? Vậy đó mà sự thật là vậy, như thế mới có biệt danh “Mọc Liền” chứ. Qua vài ngày sau thêm 70 kiện (pallet) cỏ nữa được lót luôn từ ngoài cổng vào đến tháp chuông.

Cuối cùng công trình xây dựng tại Tu viện Mộc Lan cũng được hoàn thành tốt đẹp. Màu xanh của cỏ làm cho cảnh trí quanh thiền đường và tháp chuông như nổi bật thêm lên. Tứ chúng sẵn sàng nghênh đón Sư Ông và tăng đoàn cũng như thiền sinh đến tham dự khóa tu. Không biết Sư Ông có cảm nhận gì không khi nhìn thấy thiền đường? Nhưng có lẽ Sư Ông cũng vui lắm, Sư ông có dạy: “mình làm rất cực khổ, nhưng khi bao nhiêu người ngồi trong đó, cùng thở với nhau, chế tác năng lượng hỷ lạc, hạnh phúc, thì cũng làm cho mình hạnh phúc”. Và Sư Ông đã viết tặng cho thiền đường “Hải Triều Lên” hai câu đối: “Nhìn trúc mộc lên xanh nghe hải triều lên mấy độ. Thấy mai lan nở rộ nguyện phát túc về siêu phương”

Đúng vậy, mọi người ai cũng tấm tắc khen Tu viện đẹp và cảm thấy rất hạnh phúc. Riêng thầy Pháp Dung thì “sững hồn” và lại thốt lên: “Thiệt tình! đúng Mộc Lan là Mọc Liền không sai” và thầy nở nụ cười thật sảng khoái. Thật không có niềm vui nào bằng khi thấy ai cũng hân hoan tươi mát và hạnh phúc khi bước vào thiền đường. Đến đây, Mộc Lan “Mọc Liền” xin khép lại, vì còn nhiều chuyện lắm, chắc cần tái sinh lại mới kể hết. Xin hẹn lại dịp khác và kết thúc chuyện Mộc Lan bằng bài thơ sau, như là sự biểu hiện của Mộc Lan. Xin chúc nhau năm mới có nhiều an vui trong sự tu học.

Mộc Lan nở đóa Chơn Thường

Đây Mộc Lan bao quanh xanh màu lá

Hoa đầy cành, trái chín khắp lối đi

Dù gian nan, nguy khó chẳng ngại gì

Quyết đồng lòng, chung sức xây tổ ấm

Hải Triều Lên thênh thang trời lồng lộng

Xóm Mai vui nhộn nhịp đón khách về

Bên xóm Trúc náo nức mừng khách tới

Ôi! Vui quá, vượt ngàn dặm sơn khê

Từ khắp chốn người về vui mở hội

Đón trăng Rằm tháng Tám đẹp miền quê

Sao lấp lánh, gió nhẹ quyện lời thề

Tập buông bỏ, ngăn muộn phiền ập tới

Thở vào ra từng bước nhẹ thảnh thơi

Cho tâm trí nhẹ vơi bao khắc khoải

Cho muôn người kết chặt hiểu và thương

Mộc Lan đang nở rộ đóa Chơn Thường

Mời bạn đến thở cười ngát mùi hương.

Xuân Chơn Thường 2014

Tình thầy trò nghĩa tăng thân

 

“Tăng là đoàn thể đẹp
Cùng đi trên đường vui
Tu tập giải thoát
Làm an lạc cuộc đời”

Thầy kính thương,

Dạo chơi trước buổi triển lãm thư phápSáng nay thức dậy, con đốt trầm, pha trà rồi thực tập lạy Bụt và tổ tiên. Trước mặt con là cửa sổ kính rộng lớn. Con ngồi tĩnh lặng thưởng thức trà trong hương trầm thoảng dịu và nhìn làn khói nhỏ đang bay lên nhè nhẹ. Con ý thức được Thầy đang có mặt trong con, bởi vì con đang thưởng thức một tách trà có chánh niệm và có hạnh phúc.

Bầu trời sáng nay thật đẹp. Con ngồi ngắm những đám mây bạc đang thong dong dạo chơi, nhìn những chú chim bay qua bay lại trên bầu trời. Cuối thu, những cành cây đang khoe mình với những chiếc áo muôn màu rực rỡ. Trong không khí yên tĩnh của một buổi sáng, tâm con rất nhẹ nhàng và trong sáng. Đây là giây phút thiêng liêng mà con dành riêng cho chính con. Con được ngồi yên và cảm thấy vô cùng hạnh phúc.

Sáng nay trong khi uống trà, có lúc tàng thức của con gợi lên những hình ảnh thật tuyệt đẹp. Con chỉ ngồi đó, nhận diện và tận hưởng những hình ảnh muôn màu muôn vẻ mà tàng thức của con đang chiếu lại. Thầy có biết sáng nay tàng thức của con chiếu lại những hình ảnh gì không? Đó là những hình ảnh đẹp của thầy trò mình, hình ảnh của tăng thân mình trong chuyến hoằng pháp vừa qua tại châu Á cũng như châu Mỹ.

Trong chuyến hoằng pháp vừa qua tại Thái Lan, thầy trò mình đã làm được biết bao nhiêu việc và đem lại nhiều sự lợi lạc cho đất nước này. Trong mấy năm qua, việc tranh chấp giữa hai đảng áo Vàng và áo Đỏ đã đem lại cho người dân Thái Lan nhiều bất an. Thầy trò mình đã qua hướng dẫn một ngày quán niệm cho giới lãnh đạo chánh trị và lãnh đạo xã hội, trong đó có hai đảng áo Vàng và áo Đỏ tại trường đại học Mahidol trong tháng 3 năm 2013 vừa qua. Sự kiện này làm con nhớ đến những câu chuyện ngày xưa vào thời của Bụt. Khi có sự tranh chấp giữa hai phe hoặc hai nước thì Bụt cũng đến giúp hòa giải. Bụt không có làm lơ và Thầy bây giờ cũng thế. Thầy đã mở lòng từ bi dùng phương tiện giúp họ ngồi lại, lắng nghe và hòa giải với nhau. Một hành động rất cách mạng có tính cách lịch sử với chất liệu từ bi và tấm lòng bao dung cao cả của Thầy, một việc mà ít ai dám làm.

Cũng trong chuyến đi này, vào một buổi trưa trong một khóa tu, ba thầy trò mình (Thầy, sư anh Pháp Hữu và con) ngồi làm việc bên nhau rất vui. Ba thầy trò cùng dùng chung một cái bàn ăn dài để làm việc. Thầy ngồi đầu bàn viết thư pháp, sư anh Pháp Hữu ngồi cuối bàn làm chứng chỉ truyền đăng, còn con thì ngồi ở khoảng giữa làm sổ sách. Hôm ấy bên ngoài mưa gió rất lớn, vậy mà thầy trò mình vẫn ngồi làm việc bên nhau rất bình thản ở bên trong. Sau khi thầy trò làm việc một hồi, con đứng dậy đi pha trà rồi ba thầy trò ngồi bên nhau uống trà, ngắm mưa và nghe gió hú bên ngoài cửa sổ. Thật hạnh phúc!

Con nhớ có một chuyện vui con xin kể cho Thầy nghe. Trong một buổi thầy trò mình đang dùng cơm chiều tại trung tâm mới ở Thái Lan, có một sư em vào báo là có các thầy ở Thái Lan đến xin đảnh lễ Thầy. Con bảo sư em ấy ra thưa lại với các thầy là Thầy đang dùng cơm chiều và chút nữa thị giả sẽ ra gặp các thầy đó sau. Sau khi thầy trò mình dùng cơm chiều xong, sư anh Pháp Hữu và con đi ra gặp các thầy đó. Chúng con thấy có một thầy Thái Lan, một chú cư sĩ người Đại Hàn và một chú cư sĩ người Tích Lan. Chúng con xá chào và thưa không biết chúng con có giúp được gì cho quý vị không. Họ cho biết họ đi đường sá xa xôi đến đây để xin đảnh lễ và cúng dường Thầy. Chúng con cảm ơn lòng hảo tâm và sự tôn kính của họ đối với Thầy, nhưng chúng con từ chối vì bây giờ khá tối và chúng con cho họ biết hôm nay Thầy đã làm quá nhiều việc, đặc biệt là trong 30 phút nữa Thầy sẽ có một buổi họp với các vị giáo thọ. Họ kèo nài đủ cách để được vào gặp Thầy và chúng con cũng tìm đủ cách để từ chối. Con nói: “Tối nay dù quý vị nói như thế nào thì chúng tôi cũng không thể sắp xếp cho quý vị vào gặp Thầy chúng tôi được và Thầy chúng tôi chỉ còn ở đây thêm 2 ngày nữa là sẽ đi qua Đại Hàn.”

Con nói chưa xong thì chú cư sĩ Đại Hàn ngắt lời và nói: “Nhưng mà chúng tôi không thể trở lại đây vào ngày khác, bởi vì tối nay chúng tôi cũng phải có việc đi xa.”

Con thưa: “Như vậy chúng tôi mời quý vị về Làng Mai chơi. Nếu có cơ hội và sức khỏe của Thầy chúng tôi cho phép chúng tôi sẽ sắp xếp cho quý vị vào gặp Thầy, còn bây giờ thì không thể nào được.”

Chú cư sĩ Đại Hàn lại nói: “Bây giờ hai thầy còn không cho chúng tôi vào gặp Thiền sư thì có thể khi về Làng hai thầy cũng nói như thế.”

Sư anh Pháp Hữu tiếp lời: “Nếu quý vị thật tình tôn kính Thầy của chúng tôi thì quý vị cũng phải tôn trọng sức khỏe của Thầy tôi. Quý vị không nên ép anh em chúng tôi.”

Nghe sư anh Pháp Hữu lên tiếng mạnh, họ chuyển sang đề tài khác. Thầy Thái Lan nói: “Ai cắt móng tay và cạo tóc cho Thiền Sư?”

Con tự hỏi tại sao thầy ấy lại hỏi câu này, việc này có liên quan gì với thầy? Nhưng để cho lịch sự, con trả lời: “Anh em chúng tôi hớt tóc cho Thầy.”

Thầy ấy lại hỏi: “Vậy quý vị làm gì với móng tay và tóc của Thiền sư?”

Con lại nghĩ ông thầy này thật là kỳ lạ. Thật ra thầy muốn gì đây? Con cũng tiếp tục lịch sự trả lời: “Chúng tôi giữ lại để dành lưu trữ.”

Thầy Thái Lan bây giờ mới phát lộ: “Xin lỗi nãy giờ chúng tôi phải hỏi dài dòng. Mục đích của chúng tôi đến đây để xin vài cái móng tay, vài cọng tóc và một bộ đồ của Thiền Sư về trưng bày trong bảo tàng mới thành lập của chúng tôi tại Chiang Mai.”

Thì ra là thế! Họ có một bảo tàng ở Chiang Mai (một thành phố lớn ở miền bắc Thái Lan) chuyên môn sưu tầm và trưng bày những vật sở hữu của các thiền sư nổi tiếng trên thế giới dù đang còn tại thế hay đã qua đời. Con mỉm cười rồi trả lời: “Chuyện này hả? Chắc phải hỏi lại tăng thân. Quý vị cứ viết thư và gửi cho chúng tôi đi. Chúng tôi sẽ trình cho tăng thân và sẽ trả lời cho quý vị sau. Còn bây giờ chúng tôi xin phép về lo cho Thầy chúng tôi để chuẩn bị cho buổi họp.”

Chú cư sĩ Đại Hàn lên tiếng: “Ngày xưa trước khi Bụt nhập Niết bàn, thầy Anan đã được Bụt cho phép để người cư sĩ vào gặp Ngài lần cuối. Còn bây giờ tại sao hai thầy không cho chúng tôi vào gặp Thiền sư?”

Chúng con thì thầm: “Nhưng mà Thầy của chúng tôi không phải là Bụt, chúng tôi cũng không phải là thầy Anan và Thầy chúng tôi cũng chưa dự định nhập Niết bàn sớm như vậy.”

Tới đây chúng con xin tạm biệt và chúc họ ra về thượng lộ bình an.

Khi tới Đại Hàn, sức khỏe của Thầy đi xuống rất nhiều, lý do vì Thầy làm việc quá nhiều ở Thái Lan, một phần do khí hậu thay đổi bất thường từ mùa Hè nóng bức ở Thái Lan cho đến mùa Xuân lành lạnh ở Đại Hàn. Và cũng như ở Thái Lan, chương trình giảng dạy ở Đại Hàn cũng khá đầy. Dù sức khỏe rất yếu nhưng Thầy vẫn ra hướng dẫn khóa tu và những buổi sinh hoạt đều đặn mà không bỏ buổi nào. Có những hôm nhìn Thầy khá yếu, ăn không ngon và ngủ không được khiến anh em chúng con cảm thấy rất xót xa. Chúng con biết làm gì hơn ngoài việc nguyện cầu chư Tổ gia hộ cho sức khỏe Thầy được tốt và chúng con thực tập có mặt đó cho Thầy.

Tại thành phố Busan miền Nam Đại Hàn, trước giờ pháp thoại mà Thầy vẫn còn nằm trên giường, thân thể yếu hẳn, trông Thầy kiệt sức không đứng dậy nổi. Chúng con rất bối rối không biết nên phải làm gì vì buổi giảng hôm nay có hơn 10.000 người tham dự. Chúng con phân vân không biết nên báo cho ban tổ chức biết để hủy bỏ buổi giảng không, hay kiên nhẫn chờ đợi sự mầu nhiệm xuất hiện. Chúng con biết Thầy thấy được sự lo lắng và lòng phân vân trong ánh mắt của chúng con. Và cuối cùng thì sự mầu nhiệm ấy cũng xuất hiện. Thầy tự mình đứng dậy được, mặc áo và thầy trò bước ra xe. Khi đến giảng đường, chúng con biết tất cả đại chúng ai cũng đều lo, vì thính chúng đến nghe quá đông và đang chờ đợi Thầy ban cho một bài pháp nhũ. Hôm ấy Thầy cho một bài pháp thoại thật tuyệt vời. Thầy đã nói đúng tim đen của họ. Thật là một liều thuốc hữu ích cho người dân địa phương nói riêng cũng như người Đại Hàn toàn quốc nói chung. Thật mầu nhiệm! Con có cảm tưởng rằng bài pháp thoại hôm ấy là do chư tổ Đại Hàn nói. Sau buổi giảng, con có nói nhỏ với cô Emi trong ban tổ chức là chư tổ Đại Hàn đã cho bài pháp thoại qua Thầy hôm nay. Cô ta cảm thấy rất ngạc nhiên và hỏi: “Ô, thiệt không?”

Cũng trong một khóa tu ở Đại Hàn, một hôm Thầy dẫn đại chúng đi thiền hành bên bờ suối. Con nhớ hôm ấy trời rất đẹp. Nắng đã lên, tiếng suối chảy mạnh, những cành cây đang khoác lên mình những chiếc áo xanh mới tinh đón chào mùa Xuân, những nụ hoa Đỗ Quyên đủ màu đang vươn mình khoe sắc dưới ánh nắng ban trưa. Thầy dẫn đại chúng đến ngồi bên cạnh mé rừng. Khung cảnh thật thanh tịnh, mọi người ngồi yên ngắm cảnh và đang tận hưởng những giây phút hiện tại tuyệt vời. Sau buổi thiền hành, một cô thiền sinh Đại Hàn đến ngồi nói chuyện với sư cô Chân Không. Cô thiền sinh thưa: “Con chưa bao giờ nếm được giây phút an lạc và hạnh phúc trong cuộc đời con như lúc đi thiền hành ngày hôm nay. Ngồi bên Thầy và đại chúng con thấy con không còn mong cầu gì nữa. Lúc ấy con nhìn vào chiếc nhẫn hột xoàn mà con đang đeo trên ngón tay. Con bỗng thấy nó không còn giá trị nữa và con muốn buông bỏ nó đi. Con muốn tặng chiếc nhẫn này cho Sư cô để gây quỹ cho chương trình trẻ em nghèo mà Sư cô đang làm.”

Sư cô Chân Không rất cảm động trước lời chia sẻ ấy. Sư cô bình thản trả lời: “Nhưng tôi phải làm gì với chiếc nhẫn này?”

Cô thiền sinh tiếp lời: “Sư cô có thể đem đi bán.”

Nói xong cô ta mới nhớ lại Sư cô là người tu thì đâu có thể nào nhận đồ nữ trang quý giá được. Cô liền nói: “Để con đem đi bán rồi đem tiền lại cúng dường cho Sư cô.”

Đúng như thế, vài hôm sau cô đem đến ba phong bì lì xì đỏ: một cái cúng dường Thầy, một cúng dường cho Sư cô và cái to nhất còn lại cho chương trình trẻ em nghèo. Con nhớ hôm ấy Thầy rất hoan hỉ khi nghe câu chuyện này và chia sẻ với chúng con rằng: “Người này đã nếm được thế nào là an lạc. Giây phút buông bỏ ấy là giây phút giác ngộ.” Thầy hoan hỉ vì thấy rằng những hạt giống mà thầy trò mình đã và đang gieo trồng đang được đâm chồi nẩy lộc. Đó là những hạt giống yêu thương, an lạc, hạnh phúc và giác ngộ.

Tại Hồng Kông, mình có khóa tu hơn 1.300 người tham dự và một buổi pháp thoại công cộng có gần đến 12.000 người đến nghe. Công trình hoằng pháp của thầy trò mình thật là rộng lớn. Thiền sinh đến tham dự khóa tu có nhiều chuyển hóa và an lạc. Buổi pháp thoại công cộng Thầy dạy về Tứ Niệm Thực (Bốn loại thức ăn), rất thích hợp với căn cơ thời đại ở Hồng Kông, đặc biệt là khi Thầy dạy về sự ảnh hưởng của đường lối tiêu thụ. Buổi giảng hôm ấy đã để lại nhiều suy tư và ấn tượng cho người đến nghe.

Về Hồng Kông, thầy trò mình được nghỉ ngơi nhiều hơn. Thầy trò lại có cơ hội leo núi rồi đi biển. Có một hôm Thầy trò đi dạo chơi dưới biển. Tất cả đều đi chân không. Thầy đặt bàn chân xuống biển và Thầy dạy con thế nào là quán cảm thọ trong cảm thọ. Ngày hôm ấy thật vui! Nhưng Thầy trò mình phải đi về vì Thầy có hẹn với ông Dương (người cúng dường Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Á). Trong mấy năm qua, mỗi lần Thầy đến Hồng Kông, ông Dương thường đến xin đảnh lễ và cúng dường. Lần này cũng thế, ông đến với bà Dương cùng một số bạn bè. Họ bay từ Lục Địa về Hồng Kông và sau khi xuống máy bay thì đoàn đến thẳng thăm Thầy. Ông Dương và mọi người vào đảnh lễ Thầy và được Thầy mời xuống trà.

Ông Dương chia sẻ: “Trước khi “ngọ” đến đây, “ngọ” có cho những người bạn của “ngọ” biết là “ngọ” sẽ đến thăm Thầy. Bạn của “ngọ” hỏi có phải Thầy Nhất Hạnh là thầy đi rất chậm, nửa tiếng chỉ có vài bước đó phải không?”

Mọi người cười ầm lên và Thầy cũng cười. Sư cô Chân Không tiếp lời: “Bạn của ông nói đúng lắm. Thầy của chúng tôi đi rất chậm, nhưng khi nói tới chuyện chuyển hóa thì rất nhanh.”

Mọi người lại cười lên, cuộc đàm thoại giữa Thầy và ông Dương hôm ấy rất vui và thân thiện, cho thấy sự gần gũi giữa Thầy trò và cũng chứng tỏ rằng ông Dương rất thoải mái với Thầy.

Ngoài chuyến hoằng pháp ở châu Á vào mùa Xuân năm 2013, thầy trò mình còn đi giảng dạy ở châu Mỹ vào mùa Thu. Chuyến hoằng pháp bắt đầu ở Toronto, Canada, xuống New York, qua Washington D.C., sang Boston, rồi qua tu viện Mộc Lan ở Mississippi và kết thúc chuyến hoằng pháp ở California. Chuyến đi kéo dài hơn hai tháng rưỡi. Trong chuyến hoằng pháp ở Bắc Mỹ kỳ này sức khỏe của Thầy khá hơn so với những chuyến hoằng pháp khác. Khóa tu cho giới giáo chức ở Toronto quá thành công. Khóa tu có hơn 1300 người tham dự, trong khi đó có khoảng 700 người trong danh sách chờ đợi. Con rất hạnh phúc khi khóa tu đem lại rất nhiều lợi lạc cho thiền sinh, nhưng con hơi tiếc là mình không có đủ chỗ cho 700 người trên danh sách chờ đợi kia tham dự. Hơn 20 năm rồi Thầy mới trở lại thành phố Toronto. Thiền sinh ở vùng Bắc Mỹ này thương kính Thầy lắm. Hy vọng những người không có cơ hội tham dự khóa tu kỳ này sẽ có cơ hội tham dự những khóa tu khác của Thầy.

Điều làm cho con nhớ nhất là mấy ngày đầu đến thành phố Toronto. Huynh đệ đến từ khắp nơi: có người đến từ Làng, có người tới từ các trung tâm ở Mỹ, có người tới từ Phật Học Viện ở Đức, có người tới từ tu viện ở Thái Lan và có người tới từ Việt Nam. Huynh đệ gặp nhau một nhà, tay bắt mặt mừng, kể cho nhau nghe biết bao nhiêu là chuyện quanh những ly trà và tặng cho nhau những tiếng cười giòn. Không khí thật vui, con thấy tình huynh đệ là một cái gì đó rất thật, sống động đang thật sự xảy ra.

Về tới tu viện Bích Nham ai cũng vui, cũng cảm thấy như được về nhà. Cốc của Thầy đã được thầy Pháp Chiếu, anh Lộc và các huynh đệ chuẩn bị rất khang trang và sạch sẽ. Những con đường nhỏ rẽ vào cốc Thầy, đi qua thiền đường, đi vào tăng xá và đi ra nhà ăn đều được tráng nhựa. Các huynh đệ ở Bích Nham làm việc rất hết lòng để chuẩn bị đón Thầy và đại chúng về cũng như cho khóa tu. Có người nói rằng: “Tu viện Bích Nham nhìn giống như nơi nghỉ mát quá! Cái mà con nhớ nhất là mùa thu ở Bích Nham. Khu rừng của Bích Nham mùa thu thật sống động. Những cây lá vươn mình khoe những chiếc áo đủ màu trước khi ẩn mình vào mùa Đông lạnh lẽo. Thầy thường dẫn chúng con thiền hành trong khu rừng này. Rất tiếc là kỳ này mình về lại Bích Nham quá sớm nên không có dịp thưởng thức hết vẻ đẹp thiên nhiên của rừng. Nhưng cái mà thầy trò mình cũng như thiền sinh thưởng thức được là một bức tranh sống động của tình huynh đệ. Nhìn cách quý thầy và quý sư cô sinh hoạt, chơi và làm việc trong niềm vui, thiền sinh cảm được điều này và họ rất hạnh phúc.

Trên đường đi xe buýt từ New York qua Washington D.C., con nhớ Thầy có hỏi con: “Con nghĩ là Đức Thế Tôn có ngồi trong xe với mình hay không?” Con ngập ngừng nhưng hiểu được ý Thầy. Con trả lời: “Dạ thưa có!” Thầy hỏi: “Có chắc hay không?” Hôm ấy phái đoàn của mình tổng cộng có tới ba chiếc xe buýt. Thầy trò mình ngồi trong một chiếc và còn hai chiếc kia là quý thầy và quý sư cô. Thầy dạy: “Muốn biết là có Bụt ngồi trong xe hay không, chuyện đó cũng dễ thôi. Nếu năm chục người ngồi trong xe mà có một người thôi, đang thở trong chánh niệm thì có nghĩa là Bụt đang ngồi trong xe. Mà nếu có hai người, ba người, năm người cùng thở, cùng ngắm phong cảnh trong chánh niệm thì sự có mặt của Bụt rất là rõ ràng. Và nếu tất cả năm chục người đều đang thở thì chuyện đó là chuyện rất mầu nhiệm. Có Bụt ở trong xe thì tất cả mọi người trong xe đều được bảo hộ bởi năng lượng đó và trong xe có an ninh hơn nhiều.

Đi được nửa đường, xe ghé lại trạm nghỉ giải lao. Sau khi thầy trò mình dùng nhà vệ sinh xong, hai anh em con đi mua đồ ăn. Sư anh Pháp Hữu mua ‘French fries’ và bánh ‘veggie burger’. Hôm ấy Thầy chỉ ăn ‘French fries’ thôi, còn con và sư anh Pháp Hữu ăn bánh ‘veggie burger’. Thầy trò ngồi trong xe thưởng thức thật ngon lành. Tuy nhìn Thầy thưởng thức ‘French fries’ thật ngon miệng, nhưng trong con vẫn cứ lo lo. Con sợ không biết Thầy dùng rồi chút nữa có bị đau bụng không. Nhưng con lại nghĩ: “Thôi kệ đi! Lo cái gì? Để Thầy thưởng thức đi. Chừng nào đau bụng rồi tính sau.” Thật may mắn, hôm ấy Thầy không bị gì cả.

Thầy trò mình tới Washington D.C. và ở lại đó ba ngày. Ngày quán niệm tại World Bank rất thành công và đã để lại những hình ảnh rất đẹp trong mỗi người nhân viên của World Bank. Ông Chủ tịch Jim Young Kim rất hạnh phúc, được Thầy và tăng đoàn đến Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) hướng dẫn ngày quán niệm cho nhân viên và ông càng thỏa mãn hơn khi được tham vấn riêng với Thầy.

Mỗi lần thầy trò mình về tới tu viện Lộc Uyển, con hạnh phúc lắm. Con nghĩ bởi vì thầy trò mình có rất nhiều kỷ niệm ở tu viện Lộc Uyển. Mỗi buổi sáng thầy trò mình thường đi thiền hành lên xóm Vững Chãi uống trà với quý thầy và thường ghé qua phòng trà của Ôn Phước Tịnh. Trà của Ôn pha rất ngon. Có một hôm thầy trò đi thiền hành dưới những hàng sồi. Thầy thấy có rất nhiều lá sồi rụng xuống mặt đất. Thầy nhẹ nhàng đưa tay chỉ con: “Đây là cuộc tình giữa cây và đất.” Câu nói nghe rất thi vị và chứa đầy tuệ giác. Đất có khả năng nuôi dưỡng làm hạnh phúc cho cây và cây cũng có khả năng vun bón cho đất được mầu mỡ. Qua đó, con học được bài học về tình thương chân thật của cây và đất. Thương là hiến tặng cho nhau những cái hay, cái đẹp và cái hạnh phúc của mình cho đối phương.

Hôm ấy trên đường về lại cốc Tùng Bút, thầy trò mình đi qua thiền đường Thái Bình Dương. Hai bên đường có rất nhiều mùi hương của  cây ‘sage’. Thầy hái vài đọt ‘sage’ đem về, mùi ‘sage’ rất dễ chịu. Bầu trời sáng nay thật thanh bình nhưng có nhiều sương mù. Xóm Trong Sáng đang chìm dưới biển mây mù. Xa xa chỉ thấy được mấy ngọn cây Tùng Bút, Thầy đưa ngón tay chỉ về hướng Tùng Bút và đùa rằng: “Bây giờ Thầy trò mình đi xuống kia thăm ông Đạo.” Con như hiểu được ý Thầy, nên thưa rằng: “Bạch Thầy! Ông Đạo vừa đi vắng! Chỉ tại núi này thôi, mây mù không thấy được.” Thầy hoan hỷ mỉm cười.

Kỳ này trở lại Google, thầy Pháp Hải và sư cô Kính Nghiêm tổ chức rất khéo. Mọi thứ đều được sắp xếp rất chu đáo. Con nhớ khi Thầy và đại chúng tới trụ sở Google, cô Olivia và một số người của Google ra đón Thầy. Con rất vui khi gặp lại cô Olivia, người mà con có cơ hội làm việc chung để tổ chức ngày quán niệm tại Google kỳ trước vào năm 2011. Cô Olivia là nhân viên của Google và cũng là người chính giúp tổ chức ngày quán niệm tại Google. Cô đến xá Thầy và chào đón Thầy đến trụ sở Google. Con hỏi thăm cô có khỏe không. Cô cười rồi đáp: “Căng thẳng như thường xuyên!” Câu nói ấy xác nhận vì sao thầy trò mình có mặt ở đây.

Trong buổi thuyết giảng, con ngồi ở dưới nghe mà lòng cảm thấy thương Thầy quá. Con nghĩ những người lãnh đạo tâm linh như Thầy bây giờ trên thế giới, có thể đếm trên đầu mấy ngón tay. Mấy ai với độ tuổi như Thầy mà vẫn còn đi khắp nơi giảng dạy, đặc biệt là đi đến những nơi như World Bank, Google, v.v. Cũng như chú Chade-Meng Tan hôm ấy giới thiệu Thầy trước thính chúng rằng: “Một Thiền Sư như Thầy có thể an trú trong định (một nơi ẩn cư nào đó) mà không cần phải đi vào cuộc đời, nhưng Thầy đã chọn đi vào cuộc đời để độ chúng sanh.” Sự có mặt của Thầy tại Google cũng như World Bank thật là một cuộc cách mạng vô cùng lớn và là cửa ngõ mới để đưa đạo Bụt đi vào cuộc đời. Con cảm thấy vô cùng trân quý và biết ơn Thầy, vì chỉ có Thầy mới có thể giúp mở được những cánh cửa như vậy để thế hệ chúng con dễ dàng tiếp nối.

Cuộc đối thoại giữa Thầy và bác sĩ James Doty tại trường đại học Stanford về đề tài tâm từ bi đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc cho thính chúng trong đêm hôm ấy. Thầy đã dạy làm thế nào để chế tác tâm từ bi qua phương pháp thực tập chánh niệm. Tâm từ bi là những gì có thể chế tác được, chớ không phải là một cái gì đó nói suông hay dùng phương pháp khoa học để đo lường. Ví dụ như dùng máy móc để đo lường tâm từ bi. Thầy cũng dạy tâm từ bi là một loại năng lượng và loại năng lượng ấy cần phải chế tác mới có được. Người có tâm từ bi là người có hạnh phúc. Cuộc đối thoại rất vui và rất hào hứng. Những lời giảng dạy của Thầy đã mở mắt và chinh phục được nhiều người trong đêm hôm ấy, trong đó có bác sĩ Doty. Thầy đã hiến tặng hết mức của mình. Con ngồi đằng sau nghe và thật sung sướng.

Trong các chuyến hoằng pháp vừa qua, con học hỏi được rất nhiều từ nhiều khía cạnh: trước nhất là từ một bậc Thầy đầy khả kính của chúng con, sau là từ các sư anh, sư chị, sư em và cả những người cư sĩ mà con có cơ hội được tiếp xúc và làm việc chung. Ở bên Thầy, con cảm được tình thương vô bờ bến của Thầy. Chúng con là những đứa con còn non dại, tuổi đời cũng như tuổi đạo còn non nớt, nên đôi lúc còn thích ăn mê ngủ nhiều. Có những lúc Thầy dậy sớm, thấy chúng con còn ngủ, Thầy nhẹ nhàng trở lại vào phòng để chúng con có thể ngủ thêm. Cũng có lúc Thầy nhẹ nhàng ra ngoài đi thiền mà không làm động đến giấc ngủ của chúng con. Có khi trong buổi ăn, chúng con không đủ đồ ăn thì Thầy lại chia hết phần ăn của Thầy cho chúng con. Tình Thầy, lòng từ bi của Thầy thật vô lượng, làm cho chúng con vô cùng cảm kích. Thầy mãi mãi là tấm gương sáng để chúng con noi theo.

Bạch Thầy! Tối qua trong giấc chiêm bao, con thấy Thầy không còn nữa. Thầy đã lìa khỏi chúng con đi vào kiếp ngoại. Khi thức dậy con biết rằng đó chỉ là giấc mơ, con vô cùng hạnh phúc, đặc biệt là ý thức rằng Thầy vẫn còn đó cho chúng con. (How wonderful it is to have Thay in the present form and how fortunate we are that Thầy is still here physically with us.)  Chúng con biết lúc nào Thầy cũng có đó cho chúng con, dù bằng hình thức này hay hình thức khác. Nhưng vô thường cho chúng con thấy rõ và biết trân quý sự hiện hữu của Thầy hơn tất cả. Hơn một năm qua con cũng đang thực tập chăm sóc và vun trồng Thầy ở trong con. Con thường xuyên trở về với hơi thở và bước chân, và con cũng biết chăm sóc cho thân tâm mình nhiều hơn. Con biết chăm sóc cho mình là chăm sóc cho Thầy và cho tăng thân. Mỗi ngày con học nuôi lớn tình thương và lý tưởng mà Thầy đã trao truyền. Nhờ cảm được tình thương vô bờ bến của Thầy, nó đã cho con một cái thấy rằng, nơi nào có tình thương, có tình huynh đệ, có tăng thân, có sự thực tập (hơi thở và bước chân) là nơi đó có Thầy. Con biết làm được như thế thì con sẽ mãi mãi có Thầy.

BTC Viet Wake Up đi chơi

Trong chuyến đi này con chơi nhiều lắm! Con chơi với các anh chị em của con nhiều hơn những chuyến đi trước đây. Trong chuyến hoằng pháp tại Bắc Mỹ năm nay, chúng con có kêu gọi tổ chức một chuyến Viet Wake Up tour 2014. Thầy và tăng thân rất từ bi yểm trợ cho chúng con. Đi đến đâu chúng con cũng nhận được rất nhiều tình thương và sự yểm trợ của các vị cư sĩ. Anh chị em chúng con đến với nhau, làm việc với nhau, chơi với nhau và cùng nhau tu học thật vui. Chúng con lo cho nhau và yểm trợ cho nhau rất hết lòng.

Bạch Thầy! Nghĩa đồng môn đang được hiện hữu trong tăng thân mình. Anh chị em chúng con nguyện đi hết con đường này với Thầy và với tăng thân. Xin Thầy an lòng! Con thấy tu học theo tăng thân thật là khỏe và vui. Mọi thứ là của tăng thân dù đó là lý tưởng. Khi mình có lý tưởng thì mình phải học cách làm thế nào để lý tưởng ấy trở thành lý tưởng của tăng thân, và khi nó đã trở thành lý tưởng của tăng thân rồi thì mình rất khỏe và rất nhẹ. Bởi vì bây giờ lý tưởng ấy có rất nhiều người cùng chung sức đóng góp và xây dựng. Có nhiều bàn tay cùng đóng góp, thì công việc sẽ được thuận lợi và vui hơn. Chúng con nói với nhau rằng, “Chuyến Viet Wake Up tour 2014 đã bắt đầu bây giờ rồi đó.” Điều này làm chúng con thấy rất rõ là khi làm việc và tu học bên nhau có tình huynh đệ, có sự hòa hợp và có hạnh phúc thì kết quả sẽ được biểu hiện ra rất lớn. Con có những sư anh, sư chị lẫn sư em tu tập cũng như làm việc và hướng dẫn rất giỏi. Mỗi khi thấy sư anh, sư chị cũng như sư em của con chia sẻ thì con lại thấy Thầy. Và con thấy rất rõ là tất cả đều được đúc ra từ ‘một lò’. Anh chị em của con, ai cũng là con của Thầy, là học trò của Thầy và con thấy ai cũng có khả năng để tiếp nối Thầy. Chúng con tiếp nối Thầy về nhiều phương diện khác nhau.

Cuối chuyến đi, con được về thăm gia đình huyết thống của con.  Con có cơ hội được nghỉ ngơi và nạp thêm năng lượng cho mình sau chuyến đi dài ngày. Con rất hạnh phúc được về nhà, ngồi trong lòng của gia đình với biết bao nhiêu là ánh mắt và tình thương mà người nhà dành cho con. Nhìn các cháu của con lúc này sao lớn quá, thấm thoát mà đứa nào cũng đã vào đại học. Trong thời gian thăm nhà, con có tổ chức một buổi thiền trà cho gia đình. Gia đình, anh chị em và các cháu ngồi bên nhau tận hưởng những tách trà nóng và sự có mặt cho nhau dưới những ngọn nến lấp lánh như đang đưa mọi nguời vào không gian tĩnh lặng. Sau khoảng 15 phút, con tưới hoa cho các cháu và gia đình, sau cùng, mọi người thay phiên nhau chia sẻ. Bạch Thầy! Có đi xa thì mới biết trân quý những giây phút bên nhau như vầy và có được những giây phút bên nhau như vầy thì mới thật sự biết trân quý sự có mặt của nhau nhiều hơn bao giờ hết. Cuộc đời quả thật là quý báu. Về thăm nhà kỳ này con được nuôi dưỡng rất nhiều.

Từ ngày xa nhà đi tu cho tới giờ, con thấy càng ngày con thương gia đình huyết thống của con nhiều hơn. Khi trái tim mình mở rộng thì tự nhiên tình thương của mình cũng lớn theo, nghĩa là mình thương thêm được rất nhiều người. Với tình thương không hạn hẹp ấy, mình lại càng thương những người thương của mình ngày xưa nhiều hơn bao giờ hết. Đó là sự mầu nhiệm của đại bi tâm. Con thấy đi tu có lời nhiều lắm, mà người có nhiều lợi lạc nhất trước tiên là mình, sau là tới gia đình mình rồi tới tất cả những người xung quanh. Khi mình đi tu mình sẽ trở thành một cột trụ tâm linh cho gia đình nương tựa. Mình được tu và mình cũng có cơ hội dìu dắt và hướng dẫn cho người nhà cùng tu. Từ ngày con đi tu đến nay, gia đình của con ít có chuyện xào xáo trong nhà và họ có nhiều bình an và hạnh phúc hơn. Điều đó cho con một cái thấy rất rõ về sự tương tức; nếu con ở chùa tu cho thật vững và ngồi cho thật yên thì gia đình của con ở nhà cũng được yên theo.

Cô cháu ở ABC, NY

Trên đường bay về Làng, con nghĩ đến các anh chị em tâm linh của con ở Làng thật nhiều, đặc biệt là các anh chị em xuất gia cùng một lượt với con. Con rất thương quý các anh chị em cùng gia đình xuất gia của con. Con nhớ lúc mới xuất gia, có vài sư em chỉ có chút xíu, vậy mà bây giờ sư em nào cũng cao lớn hơn con nhiều. Thầy biết không, mỗi ngày quán niệm Chủ Nhật, trong giờ ăn cơm quả đường con thường nhìn hai bên xem các anh chị em con có vào ngồi đầy đủ hay chưa. Bữa nào đầy đủ thì trong lòng con cảm thấy vui lắm. Chắc các huynh đệ của con không biết chuyện này đâu, Thầy giữ bí mật cho con nhé. Bạch Thầy! Các huynh đệ của con tu tập rất giỏi và đóng góp được rất nhiều cho tăng thân. Các huynh đệ rất quan tâm cho nhau, hễ có người này bệnh thì người kia lại chăm sóc. Chúng con thực tập gìn giữ cho nhau. Gia đình tâm linh của mình bây giờ đông quá nên tháng nào chúng con cũng có bánh sinh nhật để ăn. Các huynh đệ rất dễ thương đã để thì giờ làm bánh chúc mừng nhau trong ngày tiếp nối. Thật ra đó chỉ là cái cớ để anh chị em chúng con ngồi lại chơi với nhau thôi. Chúng con hay thường nói với nhau rằng: “Cây Lê này đúng là có biệt danh ‘lê lết’.”

Được tham dự vào sự nghiệp của tăng đoàn là một phước đức lớn và con luôn luôn ý thức và trân quý điều đó. Đi theo tăng thân tới đâu con cũng cảm thấy hạnh phúc, cũng cảm thấy là về nhà. Tăng thân của mình khắp chốn. Ở Làng cũng hạnh phúc, đi qua Thái Lan, Hồng Kông, Đại Hàn, Gia Nã Đại, Bích Nham, Mộc Lan, Lộc Uyển và thậm chí khi về thăm gia đình huyết thống cũng như khi đi sinh hoạt ở nhà của tăng thân cư sĩ cũng hạnh phúc. Khi mình ở đâu thì nơi đó là nhà (home is where we are). Bạch Thầy! Con đang thực tập mỗi nơi tới là mỗi nơi về. Con tới với tăng thân, có mặt cho tăng thân ngay bây giờ và ở đây, cống hiến cho tăng thân và đồng thời con cũng thực tập trở về với chính con trong mỗi lúc tới.

Trong kinh nghiệm, con thấy khi đi ra ngoài, đặc biệt là những môi trường có sức cám dỗ cao, nếu không biết trở về thì rất dễ dàng bị kéo đi. Ví dụ, ABC (chỗ triển lãm thư pháp của Thầy ở thành phố New York) là một cửa hàng buôn bán dành riêng cho giới thượng lưu. Con được Thầy và đại chúng tin cậy gửi đến đây để giúp tổ chức buổi triển lãm thư pháp của Thầy. Ngày đầu tiên khi bước vào cửa hàng này, con mỉm cười và tự hỏi mình: “Một ông thầy tu như mình đang làm gì ở đây? Thế giới này hình như không phải là của mình?” Trước khi bước tiếp, con dừng lại, thở vào và thở ra vài hơi thì câu trả lời trong con đi lên rất rõ: “Mình đến đây để làm công việc mình cần phải làm, đó là độ đời.” Đó là tiếng chuông chánh niệm cảnh tỉnh con đang làm gì và cần phải làm như thế nào cho đúng pháp. Nghĩ như thế nên con ung dung đi vào với sứ mạng của con. Con thấy sự thực tập này bảo hộ cho con rất nhiều trong mỗi khi con có việc đi ra ngoài làm Phật sự.

Bạch Thầy! Biết bao nhiêu là hình ảnh tuyệt vời đã lần lượt lượt đi qua, giúp con nhìn lại và thấy rõ con đường và lý tưởng của tăng thân mình. Trong thời gian qua, thầy trò mình có rất nhiều kỷ niệm bên nhau. Thầy trò mình đã rong chơi rất nhiều và làm được biết bao nhiêu việc: đem lại hạnh phúc cho vô số người và giúp biết bao nhiêu người bớt khổ. Những lúc như vầy cho con thấy rất rõ, quá khứ đang nằm trong hiện tại và ta tiếp tục đem hiện tại đi về tương lai trong giây phút mầu nhiệm này. Tình Thầy, nghĩa tăng thân đã và đang in đậm trong trái tim con. Và con biết nó là hành trang thiết yếu giúp con lớn mạnh trên con đường tâm linh. Nguyện cầu hồng ân Tam Bảo luôn gia hộ cho sức khỏe của Thầy và cầu xin chư Tổ luôn soi sáng và gia hộ cho đàn cháu con tu tập càng ngày càng thêm vững chãi để làm chỗ nương tựa cho mọi loài.

Cung kính ôm Thầy với tất cả tấm lòng và niềm biết ơn của con.

Con của Thầy

Em là hành tinh xanh

Chân Hội Nghiêm


Tôi đang thở cùng em

Không khí bao la của đất trời

Của bình an tĩnh lặng buổi sớm mai.

Hãy hít thật sâu,

thật sâu,

thật sâu thêm nữa

Đến tận cùng niềm cô đơn tuyệt vọng,

Không khí sẽ làm lắng dịu những vết thương xưa

Và hiện hữu sẽ lấp đầy những trống vắng trong em.

Em có thấy con đường mình đi

Rộng mở, thênh thang

Bình an trải dài, không bao giờ dừng lại

Trước mặt em là những cánh đồng hoa dại

Đang hát lên khúc hát yêu thương

Chung quanh em là những con đường

Đưa em đến những đồi cao có gió mát, trăng thanh,

Có không khí trong lành.

Em hãy nở một nụ cười rạng rỡ

Mở lòng ra cho thiên nhiên ùa vào

Để thấy rằng em cũng là một hành tinh xanh

Với bao mầu nhiệm an lành.

Thơ của tôi không đủ đẹp để hái tặng em

Lời của tôi không đủ cao để hát cho em nghe

Nhưng sẽ cùng em đi khắp các nẻo đường

Rộng mở, thênh thang

Em cứ trút hết những giọt nước mắt cô đơn hờn tủi

Của khổ đau, dằn vặt, dày vò

Em hãy đặt xuống những lo lắng, băn khoăn,

Những quan tâm chăm sóc, hỏi han

Để nhẹ nhàng thanh thản, hứng đầy túi gió, túi trăng.

Tôi sẽ hứng lấy những giọt nước mắt của em

Kết tinh thành cam lộ

Rưới xuống những sa mạc khô khan

Tôi sẽ tái chế biển nước mắt lầm than

Thành dòng suối trong xanh

Cho em tự do mặc tình bơi lội.

Tôi trân quý hình hài, tâm thức em

Như trân quý hình hài tâm thức đất Mẹ

Bởi vì em cũng là một hiện hữu nhiệm mầu.

Đất Mẹ cũng có những vực sâu tăm tối

Những sa mạc cháy bỏng khô khan

Nhưng có hề gì đâu

Khi đất Mẹ vẫn bao la với muôn trùng diễm tuyệt.

Đất Mẹ vẫn hiền lành với bình minh đồng nội,

Với ánh nắng ban mai dàn trải khắp núi đồi.

Đất Mẹ vẫn kiên cường với núi rừng hùng vĩ, với biển cả bao la

Vẫn dịu dàng bình an với những con đường hoa

Tinh khôi với những hạt sương mai còn đọng trên đầu ngọn cỏ

Đất Mẹ vẫn rực rỡ uy hùng khi hoàng hôn về trên núi Thứu

Vẫn trinh bạch trắng trong của những ngày Đông tuyết phủ.

Đất Mẹ vẫn nhẹ nhàng thanh cao với lời chim ca buổi sáng

Vẫn hào hùng với âm ba sớm tối triều dâng.

Em có thấy Thánh đường Bạch Dương?

Vẫn hùng dũng uy linh suốt bốn mùa

Xanh mướt khi Xuân về

Mát mẻ khi Hè đến

Rực rỡ khi Thu sang

Vững chãi can trường khi mùa Đông trở lại.

Thánh đường sẽ đón em trở về

Yên lặng chữa lành những vết tích sâu.

Tôi sẽ không băn khoăn cho những cơn bão lũ đến mau

Bởi vì vẫn còn đó, những căn nhà ấm cúng thương yêu

Cho em trở về, đốt lên một lò sưởi nhỏ

Vẫn còn đó những đồi cao ngọn gió

Cho em ngồi nhìn dòng nước lũ đi qua

Chảy vào sông hồ bồi đắp phù sa.

Tôi sẽ không lo lắng cho vực thẳm buồn tênh

Cho sa mạc cháy bỏng khô khan

Bởi vì những nhiệm mầu trong em

Vẫn bạt ngàn thênh thang

Bao la hơn cả triệu, triệu lần sa mạc.

Sáng nay trong bình yên buổi sáng có tiếng chim ca

Tôi trải lòng ra

Ngắm nhìn em cùng đất Mẹ,

Em và đất Mẹ đều là những hành tinh xanh xinh đẹp nhiệm mầu

Tạ ơn cuộc đời,

Tạ ơn em,

Tạ ơn đất Mẹ,

Tôi sẽ mang lòng bình an nhẹ nhàng của buổi sáng

Của đất trời tĩnh lặng thênh thang

Đi cùng em

Hứng lấy cánh hoa trời.

Thông điệp chánh niệm từ Facebook

Chân An Nghiêm
(BBT Chuyển ngữ từ tiếng Anh)

Trong chuyến hoằng pháp tại Bắc Mỹ của Tăng thân Làng Mai năm vừa qua, một nhóm các thầy, các sư cô Làng Mai cùng một số vị cư sĩ có cơ hội đến thăm trụ sở chính của Facebook tại Menlo Park, California.

Vừa nhìn thấy tấm biển có dòng chữ “Hacker Way”, chúng tôi biết là mình đã đến “đại bản doanh” của Facebook. Tính bảo mật là ưu tiên hàng đầu trong kinh doanh của tập đoàn này, vì vậy mà không có gì đáng ngạc nhiên khi vấn đề kiểm tra an ninh tại trụ sở của Facebook được thực hiện nghiêm ngặt đến vậy.

Tại cửa ra vào, chúng tôi phải ký vào bản cam kết không tiết lộ bất kỳ thông tin nào mà chúng tôi vô tình biết được khi vào nơi đây (non-disclosure agreement), sau đó mỗi người được phát bảng tên để đi vào bên trong. Nếu là nhân viên của Facebook thì còn phải đăng ký việc sử dụng iPad khi vào sở làm. Chúng tôi được dặn dò hết sức kỹ lưỡng là phải đi cùng với những nhân viên có trách nhiệm đón tiếp chúng tôi hôm đó, nếu không thì có thể bị yêu cầu rời khỏi trụ sở Facebook bất cứ lúc nào.

Nghiêm ngặt là vậy, nhưng khi bước vào bên trong tôi lại có cảm giác như mình đang ở trong một công viên vui chơi giải trí! Ở đây có rạp chiếu phim, có các máy chơi game cũng như không gian dành cho các hoạt động vui chơi ngoài trời. Một điều thú vị nữa là trong khuôn viên của Facebook còn có những tác phẩm nghệ thuật như ngôi nhà cổ tích của cô bé Dorothy ở xứ sở Oz, với đôi giày bạc và con đường lát gạch vàng.

Facebook đã thu hút những đầu bếp hàng đầu trên khắp nước Mỹ và nhiều quốc gia khác để phục vụ các món ăn đa dạng, phong phú, phù hợp với khẩu vị của đội ngũ nhân viên quốc tế của mình. Các đầu bếp này cũng phục vụ thức ăn chay tại hầu hết các quầy cafeteria và điều tuyệt vời hơn cả là các nhân viên có thể ăn uống miễn phí tại các nơi này.

Bước vào trụ sở Facebook, ta dễ có cảm giác đây là một nơi vui chơi, chứ không thể nào là nơi làm việc được. Độ tuổi trung bình của các nhân viên ở đây là 27, vì vậy mà cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi ai đó lầm tưởng rằng đây là khuôn viên của một trường đại học, chứ không phải là “đại bản doanh” của Mạng Xã hội lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, có một điều mà ở đây giống với trường đại học là thời gian làm việc lâu nhất của nhân viên ở Facebook là 4 năm, còn thời gian làm việc trung bình là khoảng 1 năm do áp lực công việc và tính chất cạnh tranh quá cao của môi trường làm việc.

Khi đi tham quan vòng quanh khuôn viên của trụ sở Facebook (có người hướng dẫn), chúng tôi đi ngang qua văn phòng của Mark Zukerberg – người sáng lập ra Facebook. Qua những bức tường bằng kính, chúng tôi có thể thấy vị giám đốc trẻ tuổi này đang điều hành một cuộc họp với các nhân viên. Điều này làm cho chúng tôi cảm nhận được tính cởi mở, minh bạch ở một nơi đầy áp lực về tính bảo mật của thông tin.

Một trong những “dịch vụ đãi ngộ” thú vị trong trụ sở của Facebook là “các máy bán hàng tự động”, nơi mà bạn có thể quẹt thẻ công ty và nhận các linh kiện điện tử như sạc điện, tai nghe, chuột máy tính, v.v. Điều này thật hay, vì trong khi một nhân viên của Facebook đang thuyết trình với chúng tôi về những hoạt động của Facebook thì máy tính của cô bị hết pin. Một đồng nghiệp của cô đã kịp thời đến máy bán hàng tự động để lấy một cái xạc pin mới, nhờ vậy mà máy tính không bị tắt và làm gián đoạn buổi thuyết trình.

Sau giờ ăn trưa, chúng tôi được nghỉ ngơi trong căn phòng nhỏ được sử dụng làm phòng thiền. Căn phòng này thật yên tĩnh, được dành riêng cho một nhóm nhân viên chuyên về lĩnh vực chánh niệm và đa tôn giáo.

Buổi chiều hôm đó, chúng tôi có một cuộc gặp gỡ và trao đổi với nhân viên của Facebook. Thật là thú vị khi biết Facebook đang tiến hành những công việc rất sáng tạo với mục đích giúp cho mọi người thực tập ngôn ngữ từ ái (ái ngữ). Facebook đã thuê một nhóm chuyên gia nghiên cứu về những cách thức mà con người sử dụng để có thể hiểu nhau, cũng như tìm ra những cách thức truyền thông hiệu quả hơn giúp con người đối xử và liên hệ với nhau theo hướng tích cực hơn.

Những thông điệp chánh niệm

Các chuyên gia của Facebook đã tìm cách giúp những người đang liên hệ với nhau thông qua Facebook có cơ hội dừng lại và ý thức hơn về những cảm xúc của mình, để có thể hành xử một cách chánh niệm và có nhiều thương yêu hơn.

Với mục đích cung cấp những công cụ nhằm diễn đạt một cách chính xác các trạng thái tình cảm, Facebook còn đưa ra một số lựa chọn để giúp bạn nhìn rõ và chia sẻ một cách chính xác những cảm xúc của mình, đặc biệt là khi bạn cảm thấy bị tổn thương vì một điều gì đó. Thí dụ:

Nếu bạn không thích một bức hình mà một ai đó để lên Facebook và bạn muốn lấy bức hình đó xuống, bạn sẽ nhận được câu hỏi vì sao từ Facebook. Nếu bạn bấm vào sự lựa chọn: “Có tôi trong bức ảnh này và tôi không thích chút nào”, bạn sẽ nhận được câu hỏi: “Bạn không thích vì lý do gì?”.

Và bạn có thể chọn một trong các lý do sau:

Trong ảnh nhìn tôi xấu

Bức ảnh không phù hợp

Bức ảnh làm tôi buồn.

Xác định được lý do xong, việc hay nhất mà bạn có thể làm là gởi một tin nhắn trực tiếp tới người đã đăng bức ảnh ấy, trình bày thật rõ ràng và lịch sự cảm nghĩ của bạn, thí dụ như: “Chào bạn, tôi thực sự cảm thấy buồn vì bức ảnh mà bạn để lên facebook, nếu bạn đem nó xuống thì hay quá. Bạn có thể làm điều đó được không?”

Các khảo sát cho thấy hầu hết các trường hợp đều đáp ứng lại một cách tích cực khi nhận được một tin nhắn như thế. Họ đã tự học hỏi qua kinh nghiệm ấy mà không cần đến sự can thiệp của Facebook. Facebook chỉ đơn thuần tạo cơ hội để những người đang có nhiều cảm xúc có thể truyền thông với nhau.

Họ muốn khuyến khích người sử dụng tự mình suy ngẫm, và hy vọng rằng ngay cả những người tạo ra nội dung các tin bài trên Facebook cũng có những phút nhìn lại để thấy rằng: “à, bây giờ thì mình hiểu được phần nào những gì mình đăng lên Facebook có ảnh hưởng đến người khác như thế nào.”

Facebook đã làm một điều hơi đi ngược lại với xu hướng thông thường, vì họ làm cho quá trình xử lý những điều khách hàng không hài lòng trên Facebook diễn ra lâu hơn.  Trong lĩnh vực công nghệ thông tin, các quy trình xử lý càng đơn giản, càng nhanh thì càng được ưa chuộng. Các cuộc thăm dò của Facebook cho thấy khi các công ty sử dụng những “ứng dụng về chánh niệm” cho iPhone và làm cho tốc độ xử lý trở nên chậm hơn thì người sử dụng lại không coi đó là cơ hội để thực tập chánh niệm, mà họ nghĩ rằng máy bị hư hoặc có chất lượng không tốt. Vì vậy thay vì làm cho tốc độ xử lý chậm lại, các kỹ sư của Facebook nghĩ ra cách tạo thêm nhiều bước hơn trong quy trình xử lý. Kết quả thăm dò cho thấy phương án này tỏ ra hiệu quả hơn và giúp cho nhiều người trở về với chính mình, cũng như ý thức hơn về những cảm xúc của mình.

Facebook và câu thần chú thứ nhất của Làng Mai

Khi nhìn thấy một nội dung gì đó trên Facebook khiến cho bạn lo ngại về trạng thái tinh thần của một người mà bạn quen, bạn có thể biểu lộ điều này bằng cách làm theo một loạt hướng dẫn trên “Cập nhật trạng thái” (Status Updates).

Thí dụ như có ai đó bỏ lên một mẩu tin nói rằng họ muốn tự tử hoặc muốn tự gây thương tích cho mình, bạn có thể bấm vào chọn lựa “Tôi không thích đọc tin này”. Khi được hỏi tại sao, bạn có thể bấm chọn lựa “Tôi không nghĩ tin này nên để lên Facebook vì nó có hại.” Bạn sẽ được hỏi tiếp là vì sao bạn nghĩ như vậy, khi đó bạn có thể bấm vào “Tôi nghĩ người này có nguy cơ tự làm hại mình.” Nếu bạn bấm chọn lựa này thì sẽ có những đề nghị giúp đỡ hoặc hỗ trợ hiện lên.

Và nếu bạn chọn hỗ trợ này thì sẽ có một tin nhắn soạn sẵn hiện lên trên màn hình và bạn có thể gởi tin này trực tiếp đến người bạn đó: “Chào bạn, mình hơi lo cho bạn đó, bạn có ổn không vậy? Nếu bạn cần sự yểm trợ thì mình luôn sẵn sàng có mặt cho bạn. Bạn cũng có thể liên lạc với đường dây nóng qua số … để nhận được sự giúp đỡ”.

Mẩu tin này được soạn sẵn bởi vì các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nếu không được soạn sẵn thì thường người ta sẽ không tự viết ra. Tôi nghĩ tính năng này thật tuyệt vời bởi vì Facebook đang giúp những người sử dụng thực tập câu thần chú thứ nhất của Làng Mai: “Bạn ơi, tôi đang có mặt cho bạn đây!” (I am here for you).

Chúng tôi cũng lo ngại về tình trạng các em thiếu niên bị bắt nạt, ức hiếp rất tàn nhẫn trên các trang mạng xã hội (Social media sites) như Facebook, có em sợ hãi đến độ muốn tự tử như những trường hợp gần đây mà báo chí đã đưa tin.

Các nhân viên của Facebook cho chúng tôi biết rằng những thông điệp chánh niệm như đã kể trên chỉ dành cho những người từ 18 tuổi trở lên mà thôi. May mắn là hiện giờ họ đang có một nhóm nghiên cứu để tạo ra một ứng dụng tương tự, phù hợp cho thiếu niên từ 13 tuổi trở lên.

Các biểu tượng cảm xúc (Stickers) thể hiện 51 tâm hành?

Một dự án khác mà Facebook hiện đang tiến hành là tạo nên các “Stickers” (các biểu tượng cảm xúc – một vòng tròn màu vàng với các khuôn mặt đủ trạng thái cười, nhíu mày …). Facebook làm việc chung với nhóm Pixar (những họa sĩ hoạt họa nổi tiếng đã làm các phim như Câu chuyện đồ chơi – Toy Story, Đi tìm Nemo – Finding Nemo, Vương quốc xe hơi – Cars, Thế giới côn trùng – A bug’s life, Người máy biết yêu – WALL-E) để sáng tác hình vẽ các khuôn mặt biểu tượng cho sự đa dạng trong cảm xúc của con người.

Những “Stickers” này là những bức hình nho nhỏ mà bạn có thể thêm vào các tin nhắn để nói chuyện qua lại trên mạng; và mục đích của nó là để làm cho người ta nhận diện được cảm giác thật sự mà họ đang có và truyền đạt cho nhau biết. Dĩ nhiên Sticker số 1 là để thể hiện tình yêu. Rất nhiều cảm xúc khác hiện đã có Stickers tương ứng, thí dụ như cảm xúc bối rối, xấu hổ, chán ghét, cảm thông, biết ơn (biểu tượng là hình ảnh chắp tay xá).

Ý tưởng tạo ra các biểu tượng cảm xúc này bắt nguồn từ những tác phẩm khoa học của Charles Darwin về các cảm xúc căn bản của con người và về tầm quan trọng của việc nhận diện, lắng nghe  các cảm xúc mà không đè nén hoặc xử lý một cách tiêu cực. Những Stickers này hiện đã có sẵn trên Facebook. Tất cả lợi nhuận thu được từ việc phát hành các stickers này sẽ được hiến tặng cho các tổ chức phi lợi nhuận như UNICEF. Với sự tiến bộ vượt bực trong khoa học kỹ thuật như hiện nay, hy vọng trong một ngày không xa, chúng ta sẽ có thể chọn lựa các biểu tượng cảm xúc phản ánh 51 tâm hành! Tại sao không?

Một điều rất hay nữa mà tôi muốn chia sẻ là hiện Facebook đang tạo một chức năng mới trên Facebook Thích Nhất Hạnh, đó là tạo một nút âm thanh (audio button) để khi bấm nút này, ta có thể nghe được một đoạn pháp thoại của Thầy hoặc có thể nghe ba tiếng chuông được thỉnh lên. Hy vọng chúng ta sẽ sớm được sử dụng chức năng mới này.

Cuối buổi gặp gỡ, Facebook bày tỏ ý muốn được hợp tác với chúng tôi trong việc tổ chức một sự kiện trong chuyến hoằng pháp kế tiếp của Thầy tại Mỹ, chẳng hạn như một ngày tu chánh niệm! Chúng tôi cũng chia sẻ rằng chúng tôi luôn sẵn sàng yểm trợ trong việc giúp người sử dụng của Facebook chuyển hóa các cảm xúc hoặc xử lý các khó khăn của mình theo một chiều hướng tích cực hơn.

Nhiều nhân viên của Facebook đã đến dự pháp thoại của Thầy vào buổi tối cùng ngày tại Trung tâm nghiên cứu về Lòng Từ Bi của trường Đại Học Stanford. Họ đã có cơ hội được chào hỏi, cảm ơn và chụp hình với Thầy. Nhìn vẻ mặt hào hứng và hạnh phúc của họ, tôi tin chắc rằng họ sẽ chấp nhận lời mời đến Lộc Uyển để cùng học hỏi và thực tập với Tăng thân Làng Mai.

Ước mơ thăm đảo Philippines

Chân Mai Nghiêm

(BBT Chuyển ngữ từ tiếng Anh)

Đảo phillipines

Ba mẹ tôi đã cho tôi cái tên lót là Philippine để tưởng nhớ cha đỡ đầu của tôi tên Philippe. Từ lúc còn rất nhỏ, tôi đã có ước mơ tới hòn đảo mang cùng tên với mình. Sau khi chờ đợi gần 30 năm, cuối cùng tôi cũng được tới đó. Đây là một niềm vui lớn của tôi.

Chuyến đi kéo dài hai tuần. Chúng tôi tới Manila ngày 26/9 và trở về Hồng Kông ngày 8/10. Manila nóng. Nóng và ẩm, ẩm còn hơn ở Hồng Kông. Đó là ấn tượng đầu tiên của tôi khi bước ra khỏi máy bay. Chúng tôi ở lại Manila vài ngày và chứng nghiệm đời sống thành phố đó: người đông đúc, ồn ào, ô nhiễm… nhưng cùng lúc chúng tôi cũng đón nhận được sự thân thiện, cởi mở và nụ cười từ mọi người. Trong những lúc đi thiền hành dọc bờ biển buổi sáng, người dân ở đó tới gặp chúng tôi, cười nói hỏi han hoặc chỉ đơn giản chào nhau một cách vui vẻ. Chúng tôi truyền thông với nhau rất dễ dàng.

Chúng tôi đã có cơ hội chứng kiến sự cởi mở rất tự nhiên của người Phi khi họ chia sẻ, đặc biệt nhất là kỷ niệm nói chuyện với một chú tài xế taxi. Tự lúc nào không hay, tôi đã bắt đầu kể về gia đình mình (“và cô, cô có bao nhiêu anh chị em vậy?”, chú hỏi) còn chú ta thì nói về việc “làm ăn” đá gà của chú. Cứ như là gặp lại một người bạn cũ vậy. Thật ra, cả chuyến đi đều như vậy. Chúng tôi gặp những người mà mình có cảm giác đã quen biết lâu lắm rồi và đang được gặp lại nhau sau một thời gian xa cách.

Chúng tôi có một buổi giảng cho học sinh y khoa tại trường đại học UP (University of the Philippines) và một buổi giảng khác cho người trong ngành giáo dục ở Học Viện Tâm Linh Á Châu (Institute of Spirituality in Asia). Chúng tôi đã được gặp những nhà giáo dễ thương và các cha, các sơ Thiên chúa giáo. Ở Baguio, chúng tôi có cơ hội ở chùa Baguio Buddha Temple, gặp một sư cô tuyệt vời, sư cô Christina, người đã cống hiến hết cuộc đời mình để giúp dân nghèo trong vùng và giữ cho ngôi chùa hoạt động. Tình chị em giữa chúng tôi và sư cô đến rất đơn giản và thân ái.

Trong một ngày rất đầy ở thành phố xinh đẹp đó (chúng tôi thật sự tận hưởng không khí trong lành và những cây tùng ở đây), chúng tôi đã có giờ để đi dạo trong công viên, du ngoạn trên hồ (xuồng cứ quay vòng quanh bởi vì có nhiều người trong chúng tôi không hề biết chèo), đi chợ và thăm viếng hai nơi rất đặc biệt:

Nơi đầu tiên là ở trường học quốc tế Brent (Brent International School), chúng tôi sinh hoạt với khoảng 30 học sinh và giáo viên. Chúng tôi đã hát với nhau rồi cùng phá lên cười và trả lời những câu hỏi thú vị như: “Quý thầy, quý sư cô có phải là những võ sư không?” (Are you kung fu masters?). Chúng tôi thừa nhận ngay : “Đúng vậy, chúng tôi luyện võ tâm, bạn muốn học không?” (Yes, we do mind-kung phu, you want to learn?)

Nơi thứ hai là nhà tù của thành phố (City Jail). Chúng tôi sinh hoạt khoảng 2 tiếng với các tù nhân. Chúng tôi đi kinh hành, làm thiền buông thư (mọi người ngồi trên băng ghế) và hát thiền ca. Khoảnh khắc ấy rất cảm động và đầy năng lượng chuyển hóa… ít nhất là đối với tôi!

Và một buổi tối rất đẹp ở Bliss Café, dĩ nhiên có buổi nói chuyện ở đó.

Ngày kế đến chúng tôi trở về lại Manila và sinh hoạt ở trường học Sakya (Sakya Academy) với vài trăm trẻ em và thiếu niên. Bài hát “I like the rose” (Tôi yêu hoa hồng) rất được các em ưa thích.

Cuối cùng là chuyến đi lên “Thiên đường”! Chúng tôi có khóa tu bốn ngày ở Laguna, trong một khu nghỉ dưỡng (resort) xinh đẹp nhìn ra cái hồ rộng mênh mông. Mỗi sáng thức dậy sớm, chúng tôi cảm thấy mình rất may mắn được ngắm nhìn cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, những con chim én đuổi nhau và mầu sắc huy hoàng của những đám mây khi mặt trời mọc. Khóa tu ngắn ngày nhưng có nhiều hoa trái. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy mọi người ở đây rất dễ mở lòng ra để chia sẻ trong những buổi pháp đàm. Tình thân hữu, tình huynh đệ giữa chúng tôi có lẽ vì vậy mà lớn lên nhanh chóng. Một bạn trai đã chia sẻ sau buổi pháp đàm đầu tiên: “Trước khi pháp đàm, tôi thấy mọi người ở đây đều xa lạ, nhưng chỉ sau một tiếng rưỡi đồng hồ chia sẻ, chúng ta dường như đã là những người bạn thân của nhau từ thuở nào!”

Mặt hồ tĩnh lặng cùng điệu múa vui tươi của những chú chuồn chuồn nước đã tạo nên phép lạ, làm cho tâm hồn chúng tôi đều rộng mở trước năng lượng Thánh linh (the Divine) đang có mặt trong tự thân và xung quanh chúng tôi.

Khóa tu này thực sự là một khóa tu cho chính bản thân tôi. Đây là thời gian tôi được nghỉ ngơi, trị liệu, được nuôi dưỡng và chuyển hóa bởi vẻ đẹp của thiên nhiên và con người xung quanh, bởi niềm tin yêu, sự trong sáng, cởi mở và gắn bó của các huynh đệ và các bạn thiền sinh. Trái tim tôi chan chứa lòng biết ơn.

Trong buổi thiền trà kết thúc khóa tu, một bạn thiền sinh đến với từng người trong vòng tròn để thiền ôm. Mở rộng vòng tay mình, cô nói: “Tôi xin ôm bạn vào lòng” (I embrace you), đó là giây phút thật sâu lắng và xúc động. Khi cô nói điều đó với tôi, tôi như nghe thấy giọng nói của một vị linh mục trước khi làm lễ ban Thánh thể: “Đây là thân thể của Chúa” (The body of Christ). Mọi người có mặt trong giây phút đó đều cảm thấy như mình đang được tham dự vào một buổi ban Thánh thể thực sự.

Có một tu sĩ dòng Marist cũng tham dự khóa tu và xin thọ Năm giới theo truyền thống đạo Bụt. Tôi rất xúc động trước thái độ cởi mở và chân thành của người bạn đồng tu đó. Tôi càng thấm thía lời Thầy dạy trong cuốn sách “Bụt trong ta, Chúa trong ta” (Living Buddha, Living Christ): “Khi ta tiếp xúc với một người thực sự đại diện cho một truyền thống nào đó, ta không chỉ đang tiếp xúc với truyền thống của người đó mà ta cũng đồng thời tiếp xúc được với gốc rễ truyền thống của chính ta”.

Trong chuyến đi này, tôi đã được gặp gỡ và chia sẻ với các bạn trẻ, các nhà giáo dục và các thầy cô giáo, đồng thời được tiếp xúc sâu sắc với gốc rễ Thiên Chúa giáo trong tôi thông qua sự có mặt của các bạn đồng tu, các tu sĩ dòng Marist. Điều này thật nuôi dưỡng tâm nguyện sâu sắc trong lòng tôi.

Cảm ơn gia đình Philippines yêu quý đã giúp chúng tôi về với quê hương đích thực của mình bằng chính trái tim trong vắt của các bạn. Tôi đang thở cho tất cả các bạn.

Trở về

Chân Pháp Duệ

“Mỗi người trong chúng ta ai cũng có những nỗi khổ niềm đau trong lòng. Phần lớn chúng ta không biết xử lý nỗi khổ niềm đau hay khỏa lấp và chạy trốn. Chúng ta hay dùng những phương tiện kỹ thuật, internet, điện thoại, truyền hình, âm nhạc, sách báo bởi vì chúng ta không có khả năng trở về để xử lý nỗi khổ niềm đau ấy”.

Trước khi bước vào mùa An cư 2013-2014, Sư Ông đã tường thuật về chuyến hoằng pháp tại châu Mỹ trong một vài bài pháp thoại. Trong khi nghe pháp thoại đó của Sư Ông, tôi cảm thấy ấn tượng nhất là lúc Sư Ông nói về những kỹ thuật, những thiết bị điện tử khiến cho chúng ta đánh mất bản thân, đánh mất gia đình và không có khả năng trở về với đất Mẹ. Và chúng ta đã lạm dụng những phương tiện kỹ thuật như điện thoại, mạng lưới internet, truyền hình, âm nhạc, trò chơi điện tử để khỏa lấp khổ đau của chúng ta và có khuynh hướng chạy trốn nó.

Tôi là một người đã được lớn lên trong xã hội Tây phương từ nhỏ và đã gắn liền với những thiết bị ấy. Trong học đường, tôi được khuyến khích dùng máy vi tính để viết văn, học làm những trang nhà hoặc dùng những máy móc để giúp thêm về việc học hành. Tuy nhiên, với sự ham chơi của tuổi trẻ, tôi đâu chỉ dùng máy cho những công việc ấy. Tôi nhớ khi tôi mới được học sử dụng máy vi tính, tôi thường tốn nhiều thì giờ vào việc “chat” hoặc nhắn tin qua lại với bạn bè.

Những mẫu chuyện mà tôi thường trò chuyện với bạn bè không mang lại một ý nghĩa gì cụ thể hoặc có tính cách nuôi dưỡng đối với hạnh phúc của một cá nhân. Mỗi ngày, tôi đã ngồi trước máy tính rất nhiều giờ. Tôi cũng như những người trẻ khác, rất đam mê chơi những trò chơi điện tử, tôi có thể chơi hàng giờ, hàng đêm. Tôi nhớ có những lúc mẹ tôi lên phòng để coi tôi và các em đã ngủ chưa, khi tôi nghe tiếng bước chân của mẹ vọng lên từ những bậc thang thì tôi tắt ti vi và nhắm mắt giả vờ như đã chìm vào giấc ngủ. Sau khi mẹ tôi kiểm tra xong và nghe những bước chân mẹ đi xuống, tôi ngồi dậy bật ti vi lên và chơi thêm vài giờ nữa mới đi ngủ.

Khi vào tu, tuy Sư Ông đã hướng dẫn những pháp môn cụ thể và chia sẻ rất nhiều lần là: “Chúng ta phải có khả năng chế tác được hạnh phúc, có được lý tưởng muốn chuyển hóa bản thân và độ đời.” Thỉnh thoảng tôi vẫn bị lôi cuốn bởi những kỹ thuật hiện đại mà chúng ta đang có của thế kỷ 21 này. Mỗi ngày, tốc độ máy càng mạnh, internet càng phong phú, những thiết bị cầm tay như ipad, iphone, samsung galaxy, microsoft surface.v.v… rất thuận lợi. Tuy nhiên vì sự thuận lợi đó mà chúng ta càng ngày càng bị chìm đắm và phụ thuộc vào những hệ thống mạng lưới ấy.

Có những người mỗi phút mỗi giây phải xem trong những thiết bị ấy có những email nào mới không, có những tin nhắn nào mới không, mặc dù họ biết thừa là những thông tin ấy đôi lúc không có gì đáng quan trọng cả. Tôi nhớ có một thời gian, mỗi lần mở máy lên tôi cũng luôn luôn coi thử có email nào mới không, có ai nhắn tin gì cho tôi không, tôi có vẻ trông đợi một cái gì đó. Bản thân tôi chưa biết dừng lại để công nhận sự mầu nhiệm của đất Mẹ, công nhận những sư anh, sư em mình còn được cùng nhau sống, cùng nhau tu. Tôi tự hỏi tại sao chúng ta phải làm như vậy, có phải bởi vì chúng ta sợ để trở về?

Trong mùa An cư năm nay, Sư Ông dạy đại chúng phải ngồi lại để bàn về cách sử dụng máy điện tử, internet, email, facebook,v.v… Sư Ông dạy tuyệt đối không dùng facebook riêng, còn những việc khác thì đại chúng của mỗi chùa sẽ tự quyết định. Sau những buổi họp của chúng Tỳ kheo, đại chúng xóm Thượng quyết định là ít nhất trong mùa An cư năm nay đại chúng sẽ không dùng facebook riêng, mỗi người trong chúng sẽ sử dụng hộp thư email chung. Mỗi hộp thư, chúng ta sẽ có bốn, năm người cùng dùng chung một địa chỉ và không sử dụng email riêng. Còn về chuyện internet thì chỉ được lên email thôi và những trang khác sẽ được khóa. Trong tuần chỉ có hai ngày được lên xem email.

Ban đầu nghe như vậy, tôi cũng hơi có sự phản ứng trong lòng, nhưng nghĩ lại tôi thấy đây là cơ hội cho tôi thực tập. Gần 30 năm qua, tôi đã luôn luôn hướng ngoại, tôi đã ít trở về chăm sóc nội tâm, có lẽ bây giờ chính là cơ hội tốt cho tôi thực tập trở về chăm sóc cho chính mình. Nhờ vậy, trong mùa An cư này, anh em chúng tôi có dịp cùng chơi bóng chuyền thường xuyên hơn vào những chiều làm biếng. Có những anh em thì rủ nhau chạy bộ hoặc đi bộ một vòng lớn của đại giới trường xóm Thượng. Thời tiết năm nay rất ưu đãi, cộng thêm trước khi vào An cư, quý thầy đã cùng nhau dựng lên cột đèn cho sân bóng chuyền được sáng, thành ra anh em chúng tôi cùng chơi bóng chuyền với nhau rất vui.

Thời gian ngồi trước máy tính trong những tối làm biếng giờ đây đã được anh em chúng tôi thay vào bằng môn bóng chuyền. Nhờ vậy anh em chúng tôi có cơ hội hiểu nhau nhiều hơn. Trong lúc chơi với nhau nếu có đụng độ thì đó cũng là dịp để giúp anh em chúng tôi có cơ hội cùng thực tập với nhau cho vui. Mỗi lần chơi bóng chuyền, chúng tôi thường thắp đèn chơi đến 8 hoặc 9 giờ tối. Mỗi lần chơi như vậy, có những thầy lớn tuổi như là sư cha Pháp Độ và sư cha Pháp Ứng cũng ra chơi với các thầy trẻ tuổi.

Mỗi lần chơi, tôi có cơ hội quan sát tính tình của từng anh em. Có những anh em rất hoạt bát, năng động, luôn luôn sẵn sàng hy sinh vớt banh cho đội, có những người thì đợi khi nào banh tới mới đánh, có người chỉ chuyên một việc là chuyền banh thôi, và tôi cũng có cơ hội nhận xét về bản thân tôi. Tuy mỗi người trong đội có cách chơi khác nhau, nhưng mỗi thành viên đều phối hợp để trở thành một đội bóng rất hòa hợp, ai ai cũng hiểu ý nhau. Mỗi lần chơi, tôi được có cơ hội so sánh với những thành viên trong chúng, mỗi người đều có một cá tính riêng biệt, và nhờ những cá tính riêng biệt đó mà làm đẹp cho một tăng đoàn. Có người có khiếu về hướng dẫn, có người thì giỏi nấu ăn, giỏi làm việc, có người thì chuyên về học, v.v… và vì thế chúng ta bổ sung cho nhau như những lúc được chơi bóng chuyền.

Bóng chuyền kết nối tình huynh đệ

Tôi đã trở về với chúng hơn hai năm và trong hai năm qua, tôi thấy tôi thật sự may mắn, tôi có thể phó thác được tất cả thân mạng của tôi cho Tăng thân. Tôi luôn chấp nhận những quyết định của tăng thân và luôn luôn thấy rằng Sư Ông và Tăng thân luôn luôn thương tôi và tôi cũng thương Sư Ông và Tăng thân. Có những lúc quyết định của Tăng thân về tôi làm tôi hơi đau và bị tổn thương trong lòng như chuyện phục giới của tôi vừa rồi chẳng hạn. Tôi biết bởi vì tôi đã có sẵn những tri giác về cách tôi được hồi phục giới thể như thế nào. Sau hai năm tôi mới biết được tin rõ rệt là tôi được chấp nhận thọ giới Sadi trở lại. Ban đầu tôi rất buồn vì tôi cứ ỷ y là tôi sẽ được thọ giới Tỳ Kheo trở lại. Đó cũng chính là cơ hội cho tôi trở về, siêng năng hơn trong công phu tu tập hàng ngày và cũng là cơ hội cho tôi chấp nhận rằng tôi có những nỗi khổ niềm đau trong lòng mà tôi cần phải thực tập chuyển hóa mà không nên để cho nó trôi dạt một cách lâu dài nữa.

Sư Ông dạy chúng ta là nên giao thân mạng của chúng ta cho Tăng thân. Trong hai năm qua, tôi có cơ hội thực tập cụ thể những điều dạy đó của Sư Ông và tôi cảm thấy rất biết ơn Sư Ông và đại chúng mà không trách bất cứ thành phần nào. Thành phần nào cũng chính là bản thân tôi. Thực tập được như vậy tôi cảm thấy nhẹ hơn trong lòng rất nhiều. Sự thật, tôi không cần lo gì cả, tất cả mọi điều đã được Tăng thân lo rồi. Tôi biết rằng, bản thân tôi còn những yếu kém và đây cũng chính là cơ hội cho tôi nhìn lại.

Tôi đã được học cách trở về, cách nuôi dưỡng hạnh phúc trong mỗi giây phút của cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, tôi không thực tập được một cách trọn vẹn và hoàn hảo. Những lúc tôi có thể dừng lại được, thấy được những gì tôi đang có là phép mầu nhiệm mà không dễ gì ai cũng có. Mỗi ngày mỗi phút, tôi được học để thưởng thức thực tại và nhờ vậy tôi có đủ bình an và có hạnh phúc để chăm sóc cho những nỗi khổ niềm đau trong lòng. Có nhiều lúc tôi để cho những lao xao, những mong muốn làm tâm tôi bị lôi cuốn và trở nên hấp tấp, muốn tới một địa điểm nào đó một cách mau chóng.

Hạnh phúc của chúng ta rất đơn giản mà thỉnh thoảng tôi lại nghĩ hạnh phúc là thứ tôi khó mà với tới được hoặc là nó nằm ở ngoài những gì tôi đang có bây giờ. Tôi được sống trong môi trường có Tăng thân nên tôi luôn luôn được nhắc nhở là mỗi bước chân của mình chính là hạnh phúc đích thực mà tôi không cần đi đâu xa để tìm kiếm. Mỗi lần tôi có thể bước được những bước có chánh niệm, ý thức được những bước chân tôi đặt trên mặt đất, cảm nhận được sự êm dịu của bàn chân trên mặt đất thì tôi có cơ hội để sống thật sự sâu sắc với vẻ đẹp của thiên nhiên. Tôi biết thưởng thức được những cơn gió nhẹ thoang thoảng bên tai với những chiếc lá xào xạc, những tia nắng mới đang hiện dần dần sau những rừng cây. Những thực tập này giúp tôi ý thức được sự may mắn khi tôi còn sống và được tu tập trong Tăng thân.

Hạnh phúc không có gì xa vời, hạnh phúc là cái mà ta có khả năng cảm nhận được bằng cách thực tập dừng lại. Chạy theo những thiết bị điện tử, luôn hồi hộp hàng ngày hàng giờ xem thử chúng ta có một tin tức gì mới không, xã hội hiện giờ đang như thế nào, nước này có hòa bình không v.v… thì ta sẽ không có thì giờ để cho ta có cơ hội trở về với bản thân. Trong mùa An cư này, Sư Ông đã tạo những cơ hội cho đại chúng có mặt bên nhau nhiều hơn, trở về với bản thân mình để thưởng thức với sự sống bằng cách buông bỏ bớt những thiết bị điện tử và mạng lưới không cần thiết.

Thật ra những thiết bị hiện đại tự thân không mang tính cách tốt hay xấu, tốt hay xấu là do cách chúng ta dùng nó như thế nào mà thôi. Ví dụ như trang facebook, nó có khả năng liên kết được với rất đông quần chúng và nhờ như vậy mà sự truyền bá giáo pháp cũng rộng rãi hơn. Mạng lưới internet cũng như vậy, chúng ta có thể thiết lập những trang nhà có tính cách nuôi dưỡng và lành mạnh hơn. Tuy nhiên, đa số chúng ta ít nhiều cũng bị ảnh hưởng, thích tìm tòi những cảm giác mạnh, bồi hồi chờ đợi những người bạn trên thế giới ảo với những tin nhắn không được nuôi dưỡng và để cho nó tàn phá thân tâm, làm mất thì giờ vô ích. Tôi cũng đã từng là nạn nhân bị nó lôi kéo nên bây giờ tôi muốn trở về để thương lấy chính mình, chăm sóc mình và thiết lập lại thân tâm để có bình an nhiều hơn.

Mở cửa vườn hoa

Chân Tánh Nghiêm

Ngày ấy, bây giờ

Tình chị em thắm thiếtXuân mới đang dần bước lại gần, mùa đông cũng đang lặng lẽ đi qua. Vậy là chúng con sắp đón thêm một cái Tết thứ tư tại Tu viện Mộc Lan. Qua bao năm ấp ủ để hình thành tâm nguyện tứ chúng đồng tu, giờ đây Mộc Lan đã dần ổn định và đi vào nề nếp, thực tập với bước chân hiện pháp lạc trú, hơi thở chánh niệm và nụ cười tỉnh thức mà Thầy đã trao. Trong những năm qua trên bước đường xây dựng Tăng thân, xây dựng nếp sống tâm linh, chúng con đã và đang làm với tâm phụng sự. Hy vọng tu viện sẽ là nơi nương náu cho tất cả những ai cần trở về thực tập chuyển hóa, ôm ấp nỗi khổ, niềm đau hay trở về tiếp nhận năng lượng tâm linh, năng lượng bình an cho chính mình.

Nhớ lại những ngày đầu khi chúng con đặt những bước chân thật mới, thở những hơi thở trong lành của thuở ban đầu vừa lạ lẫm, vừa thân quen. Bốn năm đã trôi qua với bao gương mặt, bao tiếng khóc, tiếng cười của mỗi anh chị em đã đến, đã đi, mỗi hình ảnh đến là một sự đặt chân, góp bàn tay và tấm lòng để hình thành nên Mộc Lan như bây giờ. Bây giờ Mộc Lan đã hình thành một trung tâm tu học có đầy đủ thiền đường với tên “Hải Triều Lên”, tháp chuông “An Trú”, có nơi cho quý thầy và quý sư cô cư trú và những khu nhà ở cho thiền sinh. Trong những năm qua ngoài sự tu học cho bản thân thì quý thầy, quý sư cô cũng tập làm những công việc như kiến tạo những rừng cây thoáng mát để có nhiều không gian thực tập, xây dựng những công trình như Thiền đường, Tháp chuông, Cốc Thầy, nhà vệ sinh công cộng. Bên cạnh đó đã mở ra những ngày quán niệm hàng tuần, nhiều khóa tu cho nhiều thành phần người trẻ như: Gia đình Phật tử, học sinh, sinh viên, người da màu về tu học. Phần lớn những khóa tu đều đem lại nhiều chuyển hóa cho những người đến tham dự, đặc biệt là hai chuyến đi hoằng pháp của Thầy ở Mỹ. Khóa tu nào ở Mộc Lan cũng có hàng ngàn người về tham dự và được lợi lạc rất nhiều.

Sống dậy tình lam

“Lam tình lam nói mấy cho vừa
Văn tư tu cố gắng trau dồi
Tay nối trọn vòng tình thân ái
Anh bên em kết chặt tình lam”

Tháng 6/2011 là khóa tu đầu tiên, với số lượng người trẻ đông nhất là 200 em đoàn sinh, huynh trưởng Gia đình Phật tử Miền Tịnh Khiết. Khóa tu này do Ban hướng dẫn miền cùng quý thầy cố vấn giáo hạnh tổ chức với sự yểm trợ của Tu viện Mộc Lan. Khóa tu này là bước đầu của tiếng chuông chánh niệm cho những người trẻ Gia đình Phật tử và những người anh, người chị huynh trưởng đã bao năm khoác trên mình chiếc áo lam và theo đuổi con đường lý tưởng phụng sự. Tuy nhiên với đời sống xã hội bên ngoài, với bao bận rộn bon chen lo cho gia đình nhỏ của mình, song song đó là chăm lo dạy dỗ cho các em đoàn sinh Gia đình Phật tử. Dưới sự nâng đỡ chỉ dạy của quý Hòa thượng, quý thầy cố vấn giáo hạnh, ban tổ chức đã từng mở ra những khóa tu huấn luyện hay khóa trại với chương trình vui chơi sinh hoạt theo truyền thống tổ chức Gia đình Phật tử trong tinh thần nuôi dưỡng người trẻ, tạo cho các em có được nếp sống lành mạnh và xác định hướng đi cho bản thân mình. Các em là những người Mỹ gốc Việt nên phần lớn ngôn ngữ của các em ở đây là tiếng Mỹ. Lúc đầu danh sách ước lượng là 400 em, nhưng nghe nói khóa tu nên các em ngại, nghĩ rằng tu tập trang nghiêm, không được chơi như các trại huấn luyện nên các em đã rút lại chỉ còn gần 200 em. Nhưng khi các em thật sự đến Mộc Lan, được quý thầy, quý sư cô trẻ hướng dẫn tu học một cách nhẹ nhàng và thoải mái. Các em được tham dự pháp thoại, pháp đàm, được buông thư, đi thiền hành, ăn cơm chánh niệm và nhất là được chơi với quý thầy, quý sư cô trẻ khiến các em rất hạnh phúc. Và đặc biệt các em học được cách thực tập làm sao để làm chủ được cảm xúc, làm chủ được năng lượng bạo động, học cách truyền thông với gia đình, với những người xung quanh và nhận ra ý nghĩa cuộc sống cho cuộc đời mình.

Tình chị em thắm thiếtNgày đầu tiên các em còn ngỡ ngàng chưa quen. Đến với khóa tu này mọi chương trình đều khác so với những gì trước đây các em đã từng tham dự. Qua ngày thứ hai, thứ ba các em bắt đầu quen dần và thấm được lợi ích của sự thực tập chánh niệm và niềm vui đó có mặt trong các em khi được tiếp xúc, gần gũi quý thầy, quý sư cô trẻ, được lắng nghe, được chia sẻ ra những gì mình đang nghĩ trong lòng: khó khăn, sợ hãi, căng thẳng về việc học. Khóa tu đầu tiên đã gieo cho các em một ấn tượng thích thú và các em mong muốn được trở lại. Vì thế 2 năm sau (tháng 06/2013) khóa tu được mở ra trở lại. Lần này thấy được lợi ích cần tham dự khóa tu nên các em đã truyền tin cho nhau và khi vừa đến Mộc Lan các em cảm thấy rất phấn khởi. Khác hẳn so với khóa tu trước, số lượng đã lên 300 em. Lần này, quý thầy, quý sư cô đã chuẩn bị chương trình chu đáo hơn, thời khóa rộng rãi, nhẹ nhàng hơn, có thời gian cho các em chuyên tâm vào sự thực tập, thư giãn, vui chơi. Các em được chia ra nhiều độ tuổi thích hợp cho tâm lý và suy nghĩ của các em. Để cho các em có được không gian thời gian trọn vẹn và đặt mình vào trong suốt thời gian có mặt ở khóa tu, các em được khuyến khích là các máy điện thoại, máy nghe nhạc đều gởi lại cho các anh chị huynh trưởng của đơn vị mình giữ dùm cho đến hết khóa tu. Các bậc cha mẹ đưa con đến Mộc Lan cũng được yêu cầu thực tập để yểm trợ cho các em bằng cách không đến chăm sóc các em như lúc các em còn ở nhà và để cho các em có không gian, thời gian tự chăm sóc, tham gia vào mọi nội qui của khóa tu. Các em rất thích thú điều này. Trong những ngày khóa tu, ngày nào các em cũng được thức dậy ngồi thiền, ăn sáng, đi thiền hành, nghe pháp thoại, thiền buông thư, pháp đàm, chơi thể thao, sinh hoạt vòng tròn, lửa trại cũng như làm quen với các đơn vị khác. Các em mở lòng ra chia sẻ rất nhiều. Quý thầy, quý sư cô có cơ hội ngồi lắng nghe các em chia sẻ trong những buổi pháp đàm rất cảm động. Nhìn bên ngoài các em hồn nhiên, vui vẻ, trong sáng vậy nhưng phần lớn các em đều có nỗi lòng, khó khăn, căng thẳng, không có truyền thông được với ba mẹ vì ngôn ngữ và văn hóa. Các em lớn lên ở Mỹ nên khác với văn hóa ba mẹ lớn lên ở Việt Nam, các em chia sẻ ra được và khóc rất nhiều. Có những anh chị huynh trưởng hết sức ngạc nhiên khi thấy các em nói ra được như vậy, các anh chị vừa mừng vừa hạnh phúc. Khi thấy các em đang học được cách để tháo gỡ những khó khăn, và các anh chị không ngờ rằng mình đã mấy mươi năm sinh hoạt Gia đình Phật tử, khoác áo lam làm huynh trưởng, gần gũi chăm sóc các em nhưng chưa bao giờ có cơ hội thật sự được nghe các em chia sẻ về khổ đau, khó khăn của mình. Nhưng đến khóa tu chỉ có bốn ngày, nhờ vào sự thực tập, nhờ năng lượng bình an và động lực lắng nghe mà quý thầy, quý sư cô đã giúp cho các em tháo gỡ được những khó khăn trong lòng, các em tự hứa sau khóa tu về lại gia đình, các em sẽ cố gắng thực tập tốt hơn để không quên những ngày hạnh phúc ở Mộc Lan.

Gởi gắm tin yêu

Quý thầy, quý sư cô ở tu viện Mộc Lan tuy còn trẻ, sức tu cũng chưa nhiều nhưng không ngại đem chút tình thương, tấm lòng mình có ra để nâng đỡ, chăm sóc các em. Bởi vì quý thầy, quý sư cô thấy được trên đất nước Mỹ mà có 300 – 400 các em trẻ Gia đình Phật tử từ nhiều tiểu bang hội tụ về tu học không phải dễ có được. Vì thế quý thầy, quý sư cô không ngại mình còn yếu kém tiếng Anh, nên đã có mặt trọn vẹn ra hướng dẫn chia sẻ cho các em. Trong số quý thầy, quý sư cô phần lớn trước khi đi tu cũng đã xuất thân từ Gia đình Phật tử nên phần nào đó cũng hiểu được tâm lý những gì các em cần, như sự gần gũi, tình thương hay hòa mình vào với các em, tạo không khí vui vẻ, năng động, cho các em thấy được lý tưởng, thấy được mục đích sống của mình.

Qua bốn ngày tu học, các anh chị huynh trưởng và các em đoàn sinh phần lớn ai cũng gặt hái được nhiều thành quả của sự an lạc, hạnh phúc, chuyển hóa được những khúc mắc trong lòng. Riêng các anh chị huynh trưởng qua bao nhiêu khóa trại, đây là lần đầu tiên các anh chị được thảnh thơi thực tập cho mình mà không bị căng thẳng như những lần trước vì phải lo về việc tổ chức. Vì thấy được lợi ích của việc tu tập chuyển hóa tự thân cần thiết để trước khi mình đứng ra hướng dẫn, dìu dắt các em, vì thế các anh chị xin quý thầy, sư cô đứng ra tổ chức cho các anh chị có thời gian được thực tập. Quý thầy, quý sư cô rất hoan hỷ với sự tha thiết tu học của các anh chị. Còn về quý thầy, quý sư cô cũng được nuôi dưỡng và học hỏi rất nhiều từ các anh chị huynh trưởng đã hết lòng thương và chăm sóc các em của mình. Có nhiều anh đi làm cả tuần, vậy mà phải thức suốt đêm để lái xe từ 8 đến 10 tiếng đồng hồ đưa các em đoàn sinh của mình về tham dự khóa tu. Khóa tu đã để lại trong lòng mỗi người nhiều kỷ niệm, nhiều ấn tượng sâu sắc và ai cũng mong muốn sớm có được khóa tu như vậy nữa.

Tình Lam đơm hoa

Nhờ thừa hưởng niềm vui, an lạc từ khóa tu, thỉnh thoảng có ngày lễ được nghỉ học, các em lái xe về tu viện thăm hoặc ở lại thực tập vài ngày, mỗi khi có khóa tu cũng có em trở lại tham dự. Còn số các anh chị huynh trưởng sau đó cũng về tham dự khóa tu tháng 9 tại tu viện dưới sự hướng dẫn của Sư Ông và tăng thân Làng Mai. Theo như các anh chị huynh trưởng cho biết thì có 94% các em xin được có khóa tu hằng năm. Vì thế, tháng 03/2014 sẽ có khóa tu cho Gia đình Phật tử Pháp Quang được tổ chức tại chùa Pháp Quang, Dallass. Tháng 06/ 2014 tại Tu viện Mộc Lan sẽ khóa tu dành cho Gia đình Phật tử Miền Tịnh Khiết như mong muốn. Tháng 07/2014 sẽ có một khóa tu dành cho Phật tử trẻ An Bằng tại tu viện Mộc Lan.

Tết Giáp Ngọ năm nay, Sư Ông Làng Mai có cho hai câu đối: “Năm mới ta cũng mới – Người vui cảnh sẽ vui”.

Kính chúc gia đình áo lam tiếp tục thực tập để tự thân mình thấm nhuận hai câu đối mà Sư Ông đã trao tặng.

Nhìn lại một năm qua

Chân Hoa Nghiêm

Trung Tâm Làng Mai Quốc Tế Thái Lan

Ngày toàn chúng dọn lên trung tâm mới, nhà ăn, nhà bếp, thiền đường vẫn chưa có. Một số các thầy, các sư chú có tay nghề giúp xây nhà bếp và nhà ăn bằng tranh tạm thời cho đại chúng hai bên sử dụng, còn thiền đường thì mỗi xóm tạm thời dùng phòng sinh hoạt tại cư xá mình ở. Bên cạnh đó, phải thành lập các ban tổ chức các khóa tu cho Sư Ông và phái đoàn Làng Mai về để hướng dẫn khóa tu cho thiền sinh Thái cũng như cho thiền sinh các vùng Đông Nam Á trong đó có người Việt. Các thầy, các sư cô, sư chú ngày đêm “làm việc mệt nghỉ”, vậy mà đi tới đâu tôi cũng thấy nụ cười rạng rỡ trên nét mặt của mọi người. Thật sự niềm hạnh phúc lớn nhất mà tôi cảm được lúc đó là ai cũng thấy mình thật sự được sống tự do tại tu viện của mình. Sư Ông cũng đã nói ra điều ấy: “Thái Lan là một quốc gia Phật giáo, dân tộc Thái rất hiền và kính trọng người tu. Ở đây cũng là một vùng đất hiền lành. Các con phải thấy rằng mình có nhiều điều kiện hạnh phúc. Bây giờ mình đã có tu viện và mình có chủ quyền với tu viện của mình. Mình muốn trồng cây, làm vườn hay xây cất theo kiểu nào thì tùy ý. Không có chính quyền hay một đảng phái nào bắt mình phải làm theo ý của họ, cũng không ai có thể đuổi mình ra khỏi tu viện.” Bát Nhã là một bài học kinh nghiệm cho chúng tôi trân quý những gì đang xảy ra trong giờ phút hiện tại.

vẫn còn bên nhau
vẫn còn bên nhau

Tháng Tư, Sư Ông và phái đoàn Làng Mai về Thái Lan, đại chúng hạnh phúc được gặp lại Sư Ông và Tăng đoàn. Mới đến trung tâm, qua ngày sau Sư Ông đã hướng dẫn đại chúng thiền hành quanh các xóm. Dãy núi phía sau cốc Nhìn Xa của Sư Ông là nơi ngồi thiền lý tưởng được Sư Ông đặt tên là thiền đường Vách Núi. Kể từ hôm ấy, mỗi sáng sớm đại chúng theo Sư Ông thiền hành lên núi và ngồi thiền tại đó. Đây là một thiền đường thiên nhiên, không cần xây cất gì cả. Ngồi ở đó mình được thở không khí thật trong lành của buổi sớm mai, nghe chim hót và mọi người có cơ hội tiếp xúc với thiên nhiên, ngắm bình minh lên trên dãy núi Khao-Yai từ xa. Bắt đầu mỗi buổi ngồi thiền, Sư Ông thường đặt cái chuông nhỏ trong lòng bàn tay của một sư chú hoặc một sư cô sa di trẻ, rồi Sư Ông thỉnh lên ba tiếng chuông. Tiếng chuông ngân vang trong không gian mát rượi, núi rừng, cây cỏ, chim chóc như ngưng đọng và cùng thở chung một nhịp thở với loài người. Trở về với hơi thở, không khí thật trong lành, Sư Ông và đại chúng đang ngồi đó, tôi thấy mình vô cùng hạnh phúc. Sư Ông thăm và chơi với đại chúng ở Thái suốt thời gian ở thiền viện trước khi tham dự các khóa tu. Thời gian ấy cứ mỗi lần Sư Ông đi ra ngoài thì không biết từ đâu, từng đàn bướm trắng bay quanh quấn quýt bên Người.

Tháng Tư là tháng của mùa xuân bên Thái Lan, nhưng cũng là tháng nóng nhất trong năm. Vì là một trung tâm mới nên cái gì cũng mới, những cây cao lớn chưa có để che bóng mát cho các Ni xá cũng như Tăng xá, chỉ có những bông hoa màu vàng, màu cam rực rỡ đầy ắp được trồng ở Ni xá của các sư cô. Mỗi lần đi từ Ni xá đến nhà ăn, trời nắng như thiêu như đốt, tôi có cảm tưởng rằng mình đang đi ngang qua một sa mạc. Nhà ăn chưa xây nên phải tạm dùng nhà lợp bằng tranh không tường không vách, cái nóng bên ngoài hắt vào khá nóng khi phải ngồi ăn bên trong. Giữa cái thời tiết khắc nghiệt như thế mà đại chúng ai cũng hạnh phúc, sự hiện diện của Sư Ông như tàng cây cổ thụ đã làm dịu đi cơn nóng khắc nghiệt của vùng nhiệt đới Khao-Yai, Thái Lan.

Cho người niềm vui

Suốt một tháng trời, Sư Ông đã hiến tặng sự có mặt của mình trong tất cả những khóa tu. Những buổi phỏng vấn với các nhà báo, những buổi gặp mặt với các thiền sinh cũng như với cha mẹ của các thầy các sư cô, ngay cả những buổi gặp mặt với các sư con còn tuổi teen của Sư Ông. Tưởng chừng như Sư Ông đã “vắt hết” nước từ bi trong người của mình ra để hiến tặng cho đất nước Thái Lan, cho thiền sinh vùng Đông Nam Á, cho những người dân Việt Nam, và cho các học trò của mình.

Những khóa tu đã rất thành công. Khóa tu Đạo Bụt Ứng Dụng với chủ đề “Happy teachers can change the world” (Thầy cô giáo hạnh phúc sẽ làm thay đổi thế giới) tại trường đại học MahachulaLongkhon với hơn 800 người tham dự, đa số là thầy cô giáo Thái, ngoài ra còn có nhiều thiền sinh từ các quốc gia Đông Nam Á như Indonesia, Singapore, Mã Lai, Hồng Kông, v.v… và hơn nửa số thiền sinh là các thầy từ truyền thống Nam tông đang học tại trường tham dự. Sư Ông đã cho những bài pháp thoại rất sâu sắc cho các thầy cô giáo. Đặc biệt của khóa tu là những buổi workshop được hướng dẫn bởi các thầy các sư cô giáo thọ Làng Mai với các thiền sinh giáo viên. Một cô giáo dạy trường trung học chia sẻ rằng: “Cô rất hạnh phúc vì có thể áp dụng tiếng chuông trong lớp học để giữ sự im lặng. Cô sẽ dạy học trò cách thở chánh niệm, và thay vì trừng phạt và la lối như trong quá khứ cô đã từng làm thì cô sẽ dùng một phương pháp khác nhẹ nhàng và đầy hiểu biết hơn.” Một thầy Giáo thọ chia sẻ lại rằng: “Mình sử dụng tiếng chuông là để nhắc các em trở về với hơi thở chánh niệm, để làm lắng dịu những cảm xúc và tâm hành đang phát khởi trong các em nhiều hơn là bắt các em im lặng. Thói quen này sẽ giúp các em khi ra khỏi ngoài trường học biết cách trở về với hơi thở trong những khi có cảm xúc, giúp các em làm lắng dịu những cảm xúc khi gặp những khó khăn”. Cuối khóa tu, có gần 400 người xin thọ Năm giới.

Khóa tu Gia Đình kết hợp với khóa tu Wake Up dành cho người trẻ, số lượng người ghi danh quá đông, lên đến 1200 người tham dự. Một số các em thanh niên trong nhóm Wake Up phải ra ngoài các nhà trà của khách sạn để cư trú. Tết Songkran của Thái Lan được tổ chức ngay trong khóa tu, nghi lễ diễn ra thật cảm động. Buổi sáng sớm, sau khi ngồi thiền là buổi đi khất thực của Tăng đoàn Làng Mai với sự có mặt của Sư Ông. Tất cả thiền sinh Thái đều đứng hai bên đường chắp tay cung kính. Khi quý thầy quý sư cô đi qua, mỗi thiền sinh liền đặt vào bình bát từ những muỗng gạo cho đến những túi gạo, hộp sữa v.v… phần lớn phẩm vật cúng dường là gạo. Trời bỗng nhiên mưa lất phất, Sư Ông và phái đoàn vẫn tiếp tục đi cho hết đoạn đường dài. Thật cảm động, hầu như tất cả thiền sinh Thái từ em bé cho đến người lớn đều muốn cúng dường Sư Ông, bên phía Sư Ông, hàng người cúng dường cứ kéo dài ra không dứt. Ban tổ chức phải ngăn chặn người cúng dường lại vì sợ Sư Ông sẽ bị gió mưa, họ có thể cúng dường sau đó cũng được. Buổi lễ rưới nước của dân tộc Thái lúc nào cũng là một buổi lễ đầy ý nghĩa. Đối với người Thái, nước mang đến nhiều may mắn cho một năm mới. Thông thường lời chúc tốt nhất của người nhỏ là rưới nước lên tay hoặc lên chân cho bậc trưởng thượng trong gia đình hoặc người mình thương kính. Sau bài pháp thoại, ba vị đại diện trong số những thiền sinh đã lên làm lễ rưới nước: Ông đại sứ nước Bhutan đại diện cho những thiền sinh Đông Nam Á, ông Pi Charoen đại diện cho Tăng thân Thái và cuối cùng là một bé trai đại diện cho thế hệ trẻ ở Thái lan. Buổi lễ diễn ra thật trang nghiêm và cảm động với bài hát chấm dứt của nhóm Wake Up. Buổi chiều tất cả quý thầy quý sư cô lớn cho đến các sa di trẻ đều ngồi dọc hai bên  đường để các thiền sinh làm lễ rưới nước. Buổi lễ chấm dứt thật hào hứng khi các người trẻ tạt nước cho nhau bằng những xô nước lớn, các thầy cô trẻ cũng không thoát khỏi.

Khóa tu Gia Đình là một khóa tu được tham dự với mọi tầng lớp cũng như mọi lứa tuổi trong xã hội Thái. Lần này có thêm nhóm Wake Up tham dự nên khóa tu Gia Đình khá hoành tráng. Tăng đoàn Làng Mai phải chia ra hai nhóm xuất sĩ ở hai nơi để chăm sóc. Đặc biệt trong nhóm Wake Up có một em thanh niên trẻ làm việc cho đài truyền hình TBS Thái Lan tham dự. Em Wanasing đã thu hình tất cả mọi sinh hoạt của khóa tu Wake Up. Em đi tham vấn từng thầy, quý sư cô trẻ đang hướng dẫn và phỏng vấn những thanh thiếu niên Thái đang tham dự khóa tu. Các em trẻ Thái Lan chia sẻ rằng: Tu thiền theo truyền thống Theravada quá nghiêm khắc đối với các em, vì chỉ có ngồi thiền cả ngày. Trong khi đó các em gặp nhiều khó khăn trong đời sống hàng ngày cần được sự hướng dẫn rõ ràng, mà chỉ học có phương pháp thiền nghiêm ngặt (intensive meditation) không đủ để giải tỏa những bức xúc ở trong lòng. Trong khóa tu này, các em thấy mọi người thực tập lắng nghe nhau, học cách nói lời dễ thương, nói ra được những khổ đau và khó khăn trong lòng cho nên các em thích lắm. Trước những buổi pháp thoại, các em được thực tập hát những bài thiền ca có chất lượng nuôi dưỡng và trị liệu chứ không phải là những ca khúc tình sầu đứt ruột. Một điều ấn tượng cho các em thiền sinh là buổi vấn đáp với các thầy các sư cô trẻ Làng Mai, các em đã đặt những câu hỏi như “vì sao các thầy các sư cô còn quá trẻ mà lại chọn con đường xuất gia suốt đời như vậy?”. Nhiều chuyện vui xảy ra trong buổi vấn đáp ấy. Đêm cuối của khóa tu có trình diễn văn nghệ, một số thầy và quý sư cô trẻ rất “chịu chơi” đã gây ấn tượng mạnh trong lòng các em. Một vị thiền sư đã từng nói rằng: “Đạo Bụt tại thế gian, bất ly thế gian giác.” Các em cho rằng: “Đây là một đạo Bụt mới rất thích hợp và đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu của tuổi trẻ hiện đại. Tu thiền không phải chỉ có ở trong chùa, mà tu thiền có thể áp dụng bất cứ ở đâu, trong học đường hay ngoài xã hội.” Sau khóa tu, đài truyền hình Thái TBS đã trình chiếu một loạt phim về những sinh hoạt chi tiết của khóa tu. Chương trình Wake Up bắt đầu phát triển mạnh ở các vùng khác trên đất nước Thái như Chiangmai, Bangkok. Hiện nay tại tu viện, nhóm Wake Up đã tổ chức được những khóa tu định kỳ một năm ba lần.

Khóa tu Gia Đình kết thúc, xe của ban tổ chức chúng tôi được đi về cùng lúc với xe của Sư Ông. Trên đường về lại tu viện, xe của chúng tôi được ưu tiên đi ngang qua vùng núi Khaoyai.  Xe càng đi sâu vào núi thì càng lên cao, bất ngờ xuất hiện một con voi khá to trông vẫn còn trẻ chận đường xe của Sư Ông, thế là xe của chúng tôi cũng phải dừng lại một lúc, lần đầu tiên tôi thấy voi ở Khaoyai. Con voi nhìn chăm chú vào chúng tôi một hồi lâu mới rời đi.

Tuần cuối của tháng Tư, khóa tu cho người Việt với tựa đề “Giờ phút bên nhau” là khóa tu sau cùng của Sư Ông và phái đoàn Làng Mai tại Thái Lan. Có trên 800 người từ Việt Nam tham dự. Đây là một khóa tu không có sự giúp đỡ của những vị tình nguyện viên Thái nên chúng tôi phải lo từ A đến Z. Trung tâm chưa có phòng ốc cho cư sĩ, chưa có thiền đường, v.v… cho nên chúng tôi phải đi tìm những khách sạn nào lớn mà gần Trung tâm để dễ cho việc di chuyển. Tôi nhớ ngày chúng tôi đi đến khách sạn Khiritantip để hỏi thuê chỗ cho khóa tu chứa khoảng bảy tám trăm người tham dự. Chúng tôi đi bằng một chiếc xe van cũ kỹ, không cửa kiếng, không có ghế ngồi. Ban tổ chức phải ngồi dưới sàn xe. Chú quản lý khách sạn Khiritantip là một Phật tử đã từng nghe tiếng Sư Ông. Chú không biết chúng tôi là ai, nhưng chú hết lòng yểm trợ và chấp nhận mọi yêu cầu từ phía chúng tôi. Khi tiễn chúng tôi ra xe, nhìn thấy các thầy các sư cô ngồi trong cái thùng xe cũ mèm, chú cười thật tươi và chắp tay thật cung kính chào chúng tôi. Lúc đầu tôi cũng hơi lo, thấy chúng tôi “nghèo” như vậy thì chắc là chú sẽ từ chối. Nhưng kết quả đã nằm ngoài sự lo âu của tôi, chú và cả khách sạn đã yểm trợ chúng tôi hết lòng, gia đình của chú và chủ khách sạn cùng tham gia dự khóa tu nữa. Cho đến bây giờ, những khóa tu khác vẫn tiếp tục tổ chức tại khách sạn đó, và lúc nào chú quản lý cũng yểm trợ chúng tôi một cách hết lòng. Một phần ba thiền sinh của khóa tu người Việt là gia đình của các thầy các sư cô tham dự. Có một buổi gặp mặt giữa Sư Ông và cha mẹ của các thầy các sư cô. Trong buổi gặp mặt đó, Sư Ông dạy các thầy các sư cô thiền ôm với cha mẹ, có nhiều người cha người mẹ đã khóc vì lần đầu được ôm con với ý thức trân quý sự có mặt cho nhau dù người đó bây giờ đã là một sư cô, một sư chú, hay là một vị thầy rồi.

Cuối khóa tu là những buổi lễ liên tiếp xảy ra. Lễ cúng dường xây thiền đường cho tu viện, lễ truyền Năm giới, lễ xuất gia và lễ Truyền đăng. Trong một khóa tu mà đã có bốn buổi lễ lớn, lễ cúng dường và lễ Truyền đăng được tổ chức ngoài trời và khá hoành tráng. Số lượng người tham dự đã lên đến 1000 người. Những người Thái đến từ Bangkok, từ những tỉnh thành khác của Thái, và cũng có cả những người đến từ địa phương. Trong buổi lễ cúng dường, thầy phó viện trưởng trường đại học Mahachulalongkhon đã phát biểu là trường luôn yểm trợ Làng Mai và rất quý kính Sư Ông.

Tất cả những buổi lễ, những khóa tu, những bài pháp thoại công cộng và những cuộc gặp gỡ quan trọng mà chỉ tổ chức trong vòng có một tháng thì ngoài sức tưởng tượng của mọi người. Nhưng Sư Ông và Tăng thân Làng Mai tại Pháp và Thái Lan đã thực hiện được. Tôi nghĩ điều này chắc là có chư Bụt và chư Tổ gia hộ. Trước thời gian khóa tu tiếng Việt, sư cô Chân Không đã bị bệnh khá nặng, tưởng chừng như không thể hướng dẫn được buổi thiền buông thư và thiền lạy cho thiền sinh người Việt. Tôi lo lắng nghĩ rằng kỳ này chắc là mình và sư cô Định Nghiêm sẽ phải thay thế sư cô ra hướng dẫn, và cảm thấy tiếc cho thiền sinh người Việt không được học trực tiếp từ sư cô. Nhưng hôm đó, bỗng nhiên sư cô xuất hiện mà còn dạy thiền sinh tập những động tác của “Suối nguồn tươi trẻ”, sư cô còn có thể xoay mấy chục vòng luôn. Điều này đã khiến cho nhiều người có niềm tin rất lớn vào pháp môn thực tập mà sư cô đang giảng dạy. Cuối khóa tu hầu hết thiền sinh Việt Nam đều xin thọ Năm giới mới của Làng Mai. Sau khóa tu, những thiền sinh Việt nào đã đăng ký thì được các thầy các sư cô hướng dẫn đi du ngoạn ở Bangkok, một chuyến du ngoạn nhớ đời.

Trước khi rời Thái để tiếp tục cuộc hành trình tại Đông Nam Á, Sư Ông đã có một cuộc gặp gỡ với tất cả chúng thường trú tại Thái Lan. Trong buổi gặp gỡ này, Sư Ông đã dặn dò nhiều điều quan trọng giúp Tăng thân xuất sĩ tại Thái Lan rất nhiều.

Mùa an cư

Mùa An cư cũng là mùa mưa. Cơn mưa của vùng núi có khi là những cơn giông dữ dội làm nghiêng ngả những thân cây già cằn cỗi. Mình chỉ biết ngồi trong phòng lắng nghe tiếng mưa rơi ào ạt trên mái hiên. Trung tâm chúng tôi dùng nước giếng, phải có máy bơm để bơm nước từ giếng lên mới có nước để xài. Thỉnh thoảng máy bơm bị cháy điện hoặc cúp điện, chúng tôi đành chịu trận mà không biết lấy nước từ đâu. Lượng nước mưa này nếu mình có thể chứa trong thùng chứa nước lớn thì chúng tôi có thể tiết kiệm được lượng nước giếng rất nhiều và không tốn năng lượng điện sử dụng. Nhưng hiện nay, Tu Viện còn chưa có tiền để xây nhà bếp, thiền đường v.v… thì lấy tiền đâu mà làm máng xối và mua thùng chứa nước lớn. Chúng tôi phải đợi có những vị Bồ tát nào cúng dường thì mới thực hiện được những điều này. Mưa lâu rồi cũng tạnh, tôi cùng sư em thị giả thiền hành quanh ni xá. Cây cối dường như xanh mát hơn sau cơn mưa. Những cây phượng trước ni xá dường như cao hơn và các tàng cây cũng vươn rộng ra hơn, những cây này chỉ mới trồng có mấy tháng nay thôi. Đi dọc theo con đường ra tận cốc Nhìn Xa, những cây bồ đề trông cũng lớn mạnh thêm, có cây đã cao quá đầu tôi rồi. Mười năm nữa, nơi đây sẽ là một Tu viện đẹp tuyệt vời với những hàng cây che mát chứ không còn nóng bức như trên sa mạc nữa.

Tại Thái Lan, mùa An cư bắt đầu vào tuần thứ hai của tháng Bảy dương lịch và chấm dứt vào cuối tháng mười. Mùa An cư là mùa tu học tinh chuyên của giới xuất gia. Những lớp học được hình thành, thầy cô giáo của các lớp học nội điển là các thầy các sư cô giáo thọ đảm trách. Nhìn hình ảnh của các sư chú sư cô trẻ cắp sách đến lớp học một cách phấn khởi làm tôi cũng vui lây. Có nhiều em còn rất nhỏ, khoảng 14 cho đến 16 tuổi, đa số vào lứa tuổi 25 trở xuống, nên các em còn “ham học” lắm. Ngay cả Ôn Thủ Tọa là vị niên trưởng cao tuổi hạ nhất của Tu viện cũng tham dự lớp học Duy Biểu của chúng tôi. Hồi tôi còn ở Pháp, có lần Sư Ông dạy: “Các thầy, các sư cô ở Pháp thì phải biết tiếng Pháp, nếu không biết thì không được ăn bánh mì baguette của Pháp.” Tôi cũng cắp sách đi học tiếng Thái, ở xứ Thái mà không biết tiếng Thái thì làm sao được ăn món song-tầm, một món gỏi đặc biệt được làm bằng đu đủ xanh với thật nhiều ớt của dân tộc Thái Lan, vừa ăn vừa hít hà thì mới ngon.

Là một trong những vị giáo thọ có trách nhiệm hướng dẫn một số môn học, tôi thấy mình không phải chỉ là người hướng dẫn thôi, mà mình đồng thời cũng là học sinh nữa. Những lớp học được phân chia theo cấp bậc từ lớp Phật Pháp Căn Bản chúng tôi gọi là lớp “Trái Tim Của Bụt” cho các em mới xuất gia đến 2 năm, đến lớp cao hơn là lớp “Duy Biểu học” còn gọi là tâm lý học Phật giáo, dành cho các vị xuất gia từ ba năm trở lên. Những thầy, sư cô giáo thọ đã được phân chia trách nhiệm dạy hay hướng dẫn các lớp học ấy. Mỗi lần nghe xong một hoặc hai bài pháp thoại của Sư Ông hay của một vị giáo thọ thì “học sinh” được ôn bài hoặc làm bài tập. Ngoài những kiến thức mình đã học từ trường, nghiên cứu từ sách vở, dù là bộ môn nào; nội điển hay ngoại điển, chúng tôi đều chia sẻ những kinh nghiệm thực tế trong đời sống hàng ngày của ngay chính bản thân mình đi kèm theo với bài mình đang giảng dạy dù đó là môn khoa học. Điều quan trọng trong khi học là cần các em cần hiểu bài hơn là thuộc bài. Chúng tôi cũng cho các em làm bài tập, nhưng không bắt buộc phải nộp bài liền và cũng không chấm điểm. Vậy mà các em cũng nộp bài đầy đủ và làm rất hay, các em làm bài từ trái tim của mình chứ không phải bằng những kiến thức của người khác. Không khí học rất vui, giữa thầy cô giáo và học trò không có khoảng cách, không cảm thấy bị áp lực bởi cái dạy và cái học như ngoài xã hội. Khi hướng dẫn lớp học, các thầy các sư cô giáo thọ không hướng dẫn theo tinh thần “học gạo”, hay nhét đầy các kiến thức như “dồn ngỗng”, mà với tinh thần vừa học vừa tu mà cũng vừa chơi nữa. Có lẽ do vậy nên ít ai vắng mặt, trừ khi nào bệnh hoặc vì nằm trong đội luân phiên phải nấu cơm cho đại chúng.

Bên cạnh đó, tu học và sống chung với người trẻ mình cũng có nhiều mối lo toan lắm. Đa số là những người còn trẻ cho nên tâm tính cũng bất đồng. Có những người đi tu vì lý tưởng, nhưng cũng có những người đi tu vì hoàn cảnh khó khăn. Trước ngày lễ Bông Hồng cài áo, khi tôi trở về phòng và thấy ai đó đã để trên bàn của mình một xấp giấy viết, cầm lên xem thì tôi mới biết đó là một lá thư tâm sự với cha về nỗi đau khổ của một cô bé 11 tuổi đã bị cưỡng bách vì tình dục. Nỗi đau đớn, xấu hổ đã khiến em nhiều lần muốn tự tử dù đã đi xuất gia rồi. Tôi xin trích một đoạn ngắn: “Ba kính thương! Tuổi thơ của con sống bên ba thật là ngắn ngủi. Khi con lên 11 tuổi, ba từng hỏi con: “Tại sao con như vậy? Tại sao con như thế kia?” Ba ơi! Sự thật ra “con đã bị hại” từ dạo ấy… Từ dạo ấy, ba cũng thắc mắc và đau khổ về sự thay đổi tính tình trong con. Ba rất đau lòng khi lúc nào con cũng hất hủi và chối từ tình thương ba dành cho con… tuổi thơ dữ dội ấy đã từ bỏ con khi con lên 11 tuổi. Nói đi xuất gia, nhưng sự thật là con muốn trốn tránh những người đã làm hại cuộc đời con… Thanh tịnh hay ô nhiễm cũng do con. Nếu không nhờ cái nhìn vi diệu đó, dù con đang ở thiên đường thì cũng là người đầy khổ đau. Xin ba mỗi ngày cùng con nuôi dưỡng tâm từ bi, và gửi năng lượng từ bi ấy đến những con người đáng thương ấy.” Đọc đến đây tôi cảm động và mừng vì em đã thực sự bôi đi vết nhơ của tuổi thơ và tha thứ được những người đã làm hại mình. Năm nay Sư Ông dạy 30 bài tụng Duy Biểu. Sư Ông cũng dạy rằng: “Bản chất của A lại da là không tịnh cũng không ô nhiễm, tịnh hay nhiễm là do mình mà thôi”. Lòng từ bi và những lời pháp của Thầy đã cứu vớt em đi ra được bóng tối của tuổi thơ, cho thấy là em vẫn trong sáng không chút bợn nhơ. “Ba à! con của ba bây giờ đã lấy lại niềm tin, xin ba an tâm và dưỡng bệnh. Bởi vì bây giờ con đã tìm được một môi trường tốt, một Tăng thân tuyệt vời để nuôi dưỡng. Bên con luôn có Thầy, có bạn đồng tu cùng con san sẻ những vui buồn.” Lá thư không ký tên và tôi cũng không cần biết là ai, chỉ thấy rằng em đã biết chọn cho mình một con đường sáng. Mong rằng sự tu học sẽ giúp em chuyển hóa những khổ đau và vững tiến trên con đường đạo học. Hiện nay trên thế giới biết bao nhiêu người trẻ cô đơn vì hoàn cảnh và những khổ đau từ quá khứ của bản thân mình. Trong số đó, có người đã đi tìm lãng quên trong sự hút xách, trụy lạc, tàn hại thân tâm cho đến cuối cuộc đời. Nhưng cũng có người đã biết quay đầu nhìn lại và chọn cho mình một con đường sống. Cửa thiền luôn mở rộng để đón nhận những người con lầm đường lạc lối, và những mảnh đời đang trôi dạt trong bể khổ trầm luân.

Hiện nay một nhóm thầy, sư cô giáo thọ đã ngồi lại để soạn chương trình đào tạo kỹ sư Phật học 7 năm. Chúng tôi hy vọng rằng trong tương lai Trung Tâm Làng Mai Quốc Tế Thái Lan sẽ là một nơi đào tạo những người xuất sĩ phụng sự cho xã hội, cho thế giới bằng tuệ giác của sự tu tập tự thân chứ không phải chỉ do thu thập kiến thức mà thôi. Chung quanh tôi toàn là những thầy, sư cô, sư chú còn rất trẻ, nhưng họ đã chọn cho mình một hướng đi không phải cho cá nhân mình, mà cho gia đình và cho xã hội. Họ đã bỏ lại sau lưng những tiện nghi vật chất, những đam mê tình cảm, những danh vọng tiền tài, thú vui chơi của thế gian. Hàng ngày sáng tối công phu, chiều chấp tác, cơm chay đạm bạc, trau dồi trí tuệ thì hy vọng rằng chúng tôi đã tiếp nối được sứ mạng mà Bụt, Tổ và Thầy đã giao phó.

Con Bụt thích chơi hang Chúa

Mùa Đông đã về, trời trở lạnh như mùa Thu ở trời Tây. Có ngày nhiệt độ xuống đến 14 -15 °C. Nơi đây là vùng núi, tu viện lại xây theo kiểu nhà của dân tộc Thái, mùa Hè thì rất mát nhưng vào mùa đông thì bốn bề gió lộng. Trước khi dọn về tu viện, chúng tôi cứ ngỡ là nơi đây sẽ rất nóng, vào mùa Đông thì có thể trời sẽ mát hơn nhưng không ngờ trời lại lạnh như vậy. Các sư cô người nào cũng co rút người lại khi đi ra ngoài. Các anh chị tình nguyện viên Thái rất từ bi, biết chúng tôi lạnh họ đã hùn tiền lại và mua áo quần ấm cúng dường cho hai xóm. Mặc chiếc áo ấm trong người, tôi thấy lòng biết ơn rất nhiều đến Tăng Thân Thái Lan. Họ thương và lo hết lòng cho chúng tôi mọi chuyện từ nhỏ tới lớn, tôi thường nhắc nhở các sư em phải cố gắng tu học cho đàng hoàng để không phụ lòng những anh chị tình nguyện viên cũng như của dân tộc Thái Lan.

Hàng năm cứ vào dịp Noel thì Làng Mai ở Pháp cũng như ở các nước phương Tây như Mỹ châu hoặc Âu châu đều tổ chức ăn mừng Chúa giáng sinh. Ở Thái Lan chúng tôi không tổ chức Noel vì đây là một quốc gia Phật giáo và cũng không có người Tây tham dự. Khi biết rằng không có tổ chức Noel, thì một sư em đã âm thầm trang trí hang Noel trong phòng của mình. Đi ngang qua phòng em, nhìn vào tôi thấy ánh đèn chớp tắt và lố nhố những cái đầu tròn đầy ắp trong phòng, thì ra các sư cô nhỏ đang thưởng thức cái hang Noel mới vừa “biểu hiện”. Bắt đầu từ đó, những cái hang Noel tiếp tục xuất hiện trong những căn phòng khác, trên bàn học hay dưới gầm bàn, có em làm cái hang nhỏ xíu bằng một bàn tay để trên bàn thờ Bụt nho nhỏ của mình. Các sư cô trẻ rất sáng tạo. Các em tạo dáng hang động bằng bao giấy xi măng sạch, thay vì để đức chúa sơ sinh trên máng cỏ thì các em để những thiên thần nhỏ có cánh, và trang trí những mảnh bông gòn trông giống như là tuyết rơi và treo đèn lấp lánh chung quanh hang động. Không phải là con Chúa nhưng lòng tôi cũng nao nức chào đón Noel sắp tới, cũng là cơ hội để mình được tặng quà cho những người mình thương. Đi ngang qua dãy phòng của các sư cô, tôi chợt nghĩ rằng: “Những người con của Bụt thực tập giỏi quá, không có tâm kỳ thị tôn giáo, chỉ có sự thưởng thức những mầu nhiệm trong giờ phút hiện tại. Trong cái nhìn tương tức, cái này được làm bằng cái khác, cái này đã nằm sẵn trong cái kia rồi.”

Từ phòng ăn tôi rảo bước về lại ni xá 1, sư em thị giả nhẹ nhàng bước theo sau, chúng tôi đi trong im lặng. Mặt trời như quả bóng to hồng thật đẹp nằm giữa hai ngọn núi. Ánh nắng ban mai ngọt dịu chan hòa khắp nơi, trên từng tảng đá, đầu cây, ngọn cỏ, làm hồng gương mặt của sư em. Cơn gió nhẹ thổi qua hiền lành mát rượi, những bông hoa nghiêng mình như chào đón gió xuân. Tiếng chim hót khắp nơi như báo tin rằng nàng xuân sắp đến. Đẹp quá đi thôi vùng đất Khaoyai linh thiêng! Tôi buộc miệng đọc lên một câu thơ của Sư Ông: “Trời hôm nay đẹp lắm, thật mà! Em không về chơi trò bắt tìm nơi quá khứ.” Hiện tại tuyệt vời quá đi, về với quá khứ làm chi nhỉ. Sư em thị giả nhìn tôi cười khúc khích: “Dạ trời hôm nay đẹp lắm, trông sư mẹ vui ghê.” Giọng Hà Nội của sư em nghe dí dỏm làm sao, hai chúng tôi cùng cười vui. Bước lên bậc thềm của ni xá 1, một số các sư cô đang đọc bảng thông tin được dán trên tường trước cửa vào ni xá, sư em “Đu Đủ” quay qua nhìn tôi cười: “Một lát nữa con sẽ mời sư cô uống cà phê Indo nhé”. Tôi ngạc nhiên vì sao mà em có, thì em bảo là do y chỉ sư cho. Một sư em khác nhìn tôi cười: “Sư mẹ ơi, ngày mới người mới, cái áo cũng mới nữa nè.” Em khoe chiếc áo mới đang mặc trên người, tôi cười vì sự bắt chước của em. Các sư cô trẻ vui tươi và dễ thương như thế đó, làm sao mà mình không thương cho được.

Năm nay Sư Ông cho câu đối rất vui: “Năm mới ta cũng mới. Người vui, cảnh sẽ vui”. Năm mới đến, Trung tâm bắt đầu mới, chúng tôi cũng mới theo từng phút giây. Những điều kiện hạnh phúc tràn ngập khắp nơi. Chúng tôi thương chúc đại gia đình Làng Mai ở khắp nơi có một mùa xuân mới tinh từ thân đến tâm.

Tìm Niết bàn trong sinh tử

tìm niết bàn trong sinh tử

Sinh Phật bất nhị

Những người Cơ đốc giáo thường đặt vấn đề: Thượng đế có phải là một con người hay không? Nếu Thượng đế không phải là một con người thì làm sao chúng ta có thể cầu nguyện? Đây là một vấn đề rất lớn trong Cơ đốc giáo. (God is a person or is not a person?)

Vào hạ bán thế kỷ thứ 20, những nhà thần học cho rằng: Tuy Thượng đế không phải là một con người nhưng Ngài cũng không ít hơn một con người. (God is not a person but is not less than a person). Người ta đi tới quan niệm: Thượng đế không phải chỉ là một con người. Đó là một bước tiến rất lớn!

Trong đạo Bụt chúng ta có quan niệm chúng sinh và Bụt. Chúng sinh là những người mê mờ đang đau khổ và Bụt là một người giác ngộ không còn đau khổ. Chúng ta thường phân biệt chúng sinh khác với Bụt. Ta thường có khuynh hướng nghĩ rằng khi đã thành Bụt thì không còn là chúng sinh nữa. Nhưng quan niệm đó không đúng với cái thấy của Phật giáo đại thừa. Theo cái thấy của Phật giáo đại thừa, nếu không có chúng sinh thì không có Bụt. Đó là lý thuyết: Sinh Phật bất nhị 生 佛 不 二, tức Bụt và chúng sinh không phải là hai cái riêng biệt. Cái này không thể có ngoài cái kia. Chúng sinh và Bụt không phải là hai thực thể riêng biệt. Sở dĩ có Bụt là nhờ có chúng sinh, không có chúng sinh thì không bao giờ có Bụt. Bụt và chúng sinh là một cặp, tuy bề ngoài có vẻ như đối lập nhau nhưng phải nương nhau mà thành. Cũng như bùn và sen, không có bùn thì ta không thể có sen.

Theo giáo lý duyên khởi thì tất cả đều là duyên sinh. Nhìn vào con người ta thấy những yếu tố không phải con người như đất đá, cây cỏ, cầm thú. Những yếu tố như đất, nước, lửa, gió lâu ngày có đủ điều kiện thì sinh ra cây cỏ và những loài chúng sinh, rồi từ những loài chúng sinh phát sinh ra con người. Nếu lấy những loài khoáng chất, cây cỏ và cầm thú ra khỏi con người thì con người không còn nữa. Vì vậy con người cũng là đất đá, cây cỏ và cầm thú. Ta không thể cho rằng khi trở thành con người rồi thì ta không còn là đất đá, cây cỏ và cầm thú nữa. Ta vẫn tiếp tục làm đất đá, cây cỏ và cầm thú tại vì những yếu tố không phải con người vẫn còn trong ta. Tuy đã là Bụt rồi nhưng những yếu tố không phải Bụt vẫn còn trong Bụt. Trong Bụt có những yếu tố như: chúng sinh và những khổ đau, những phiền não, những si mê đã được chuyển hóa. Nhìn vào sen ta thấy những yếu tố không phải sen như là bùn. Nếu muốn tiếp tục làm bông sen thì sen phải sử dụng chất bùn để làm ra sen. Ta đã là con người, nhưng nếu không có đất đá, cây cỏ và cầm thú thì ta không thể tiếp tục làm con người. Vì vậy con người và cái gọi là sinh môi không phải là hai cái khác nhau, hai cái phải dựa trên nhau mà có. Chừng nào không còn chúng sinh thì cũng không còn Bụt. Chừng nào không còn đất đá, thảo mộc, cầm thú thì không còn con người. Vì vậy ta đừng nên hy vọng hão huyền là khi thành Bụt rồi thì ta vĩnh biệt chúng sinh. Sinh Phật bất nhị là cái thấy bất nhị (non dualistic) và cái thấy này phải được áp dụng cho tất cả mọi trường hợp như tay trái và tay phải, chừng nào có tay phải thì có tay trái. Tay phải không thể có mặt một mình mà không cần tay trái. Phật và chúng sinh hay con người và đất đá, cỏ cây, cầm thú cũng như vậy: không có cái này thì không có cái kia. Đó gọi là duyên sinh, là tương đãi.

Thành Bụt rồi có còn thực tập nữa không?

Trong Bụt có hạnh phúc, có tuệ giác, có bồ đề. Bồ đề ngược lại với phiền não, tuệ giác ngược lại với si mê và hạnh phúc ngược lại với khổ đau. Nhưng theo tuệ giác mà ta có được do sự quán chiếu thì tất cả đều vô thường. Không phải chỉ có khổ đau là vô thường mà hạnh phúc cũng vô thường. Không phải chỉ có phiền não là vô thường mà bồ đề cũng vô thường. Tuy có bồ đề nhưng nếu ta không tiếp tục tu thì bồ đề của ta cũng hao mòn. Ta đừng tưởng một khi có bồ đề rồi thì ta sẽ có nó mãi mãi, tại vì bồ đề cũng vô thường. Có khi ta có giác ngộ nhưng vì ta không biết nuôi nấng nên giác ngộ đó lu mờ và ta không sử dụng được. Điều này ta thấy rất rõ: Có nhiều cái ta đã biết rồi nhưng ta không đem ra sử dụng, ta hành xử giống như ta không có tuệ giác.

Bụt cũng vô thường, vô ngã. Nếu muốn tiếp tục làm Bụt thì ta phải tiếp tục sử dụng chất liệu khổ đau, phiền não và si mê để chế tác hạnh phúc, bồ đề và tuệ giác. Chúng ta thường đặt câu hỏi: “Thành Bụt rồi có còn thực tập nữa không?” Câu hỏi này rất đơn sơ nhưng cũng rất quan trọng. Phần lớn trong chúng ta, có thể nói là 99% thường nghĩ rằng: Khi đã thành Bụt rồi thì ta khỏi tu nữa, tại vì thành Bụt là có bồ đề, có tuệ giác, có hỷ lạc. Sự thật là Đức Thế Tôn vẫn đi thiền hành, vẫn ngồi thiền, vẫn thực tập An ban thủ ý. Hạnh phúc, bồ đề, tuệ giác đều vô thường. Nếu muốn nuôi dưỡng nó thì Đức Thế Tôn phải tiếp tục thực tập và Ngài cũng sử dụng khổ đau, phiền não, si mê để tạo ra hạnh phúc, bồ đề và tuệ giác. Bông sen, tuy đã thành bông sen nhưng vẫn không thể nhảy ra khỏi bùn. Muốn tiếp tục làm bông sen nó phải ở với bùn và tiếp tục sử dụng bùn.

Có thể nhận diện được Bụt qua những hình thái khác hay không?

Bụt Thích Ca có hình dáng của một con người. Ta biết rằng con người là một sinh vật sinh sau đẻ muộn, xuất hiện rất trễ trên địa cầu này, trễ hơn tất cả những chủng loại khác trên trái đất. Như vậy trước khi có Bụt thì không có tuệ giác, không có bồ đề, không có hạnh phúc hay sao? Trước khi có Bụt vẫn có tuệ giác, vẫn có bồ đề, vẫn có hạnh phúc, nhưng dưới hình thức khác. Bây giờ ta đặt một câu hỏi rất đơn sơ: "Có thể nhận diện được Bụt qua một hình thức khác, nghĩa là qua một hình thức không phải con người hay không?" Kinh Kim Cương nói rất rõ: "Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng." Nếu bị mắc kẹt vào tướng con người thì ta không thể thấy được Bụt. Bụt không phải chỉ là con người. Nếu đi tìm Bụt qua hình tướng, âm thanh thì sẽ không tìm ra được.

Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm thanh cầu ngã
Thị nhân hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai

Ai đi tìm Bụt qua hình sắc, âm thanh thì người đó đang đi trên con đường tà và ít có cơ hội thấy được Như Lai. Vì vậy chúng ta đừng kẹt vào tướng Bụt là một con người. Bụt có thể là một hành tinh như trái đất. Trái đất của chúng ta là một vị Bụt. Trong trái đất có tuệ giác, có bồ đề, có hạnh phúc và nhiều đức tính khác. Vị Bụt này là một bà mẹ, Bụt không phải chỉ là đàn ông. Trong Cơ đốc giáo người ta thường nghĩ Thượng đế là đàn ông, Thượng đế không thể nào là đàn bà. Nhưng trong đạo Bụt thì có Phật bà. Trái đất là Phật bà, là một bà mẹ. Mẹ của ai? Mẹ của những vị Bụt dưới hình thái con người và mẹ của những vị Bụt dưới hình thái khác. Một cây thông hay một bông hoa hồng cũng là Bụt. Không những con người thành Bụt thuyết pháp mà cây thông cũng đang thuyết pháp, bông hoa cũng đang thuyết pháp. Nó thuyết pháp về cái gì? Nó thuyết về vô thường, vô ngã, Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần. Nhìn với con mắt của Phật giáo đại thừa ta thấy Bụt khắp nơi. Ta thấy Bụt nơi một đóa hồng, nơi một cây thông. Thấy được như vậy ta sẽ không có khó khăn để nhận diện trái đất là một vị Đại Bồ tát gọi là Bồ tát Thanh Lương Đại Địa, hay nhận diện mặt trời là một vị Bụt gọi là Bụt Đại Nhật Như Lai. Không bị kẹt vào cái tướng thì ta nhận diện được Bụt dễ dàng hơn.

Chúng ta hay có tính kỳ thị. Nói tới bùn và sen thì ta thích sen, không thích bùn, ta kỳ thị bùn. Nhưng nếu không có bùn thì sẽ không có sen. Vì vậy không những trong sen có Phật tánh mà trong bùn cũng có Phật tánh. Trong kinh Bát Nhã có nói Phật tánh đó không dơ cũng không sạch, không thêm cũng không bớt. Ta phải có con mắt vô tướng, (animitta) thì mới có thể nhận diện được sự có mặt của Bụt. Bụt không chỉ có hình thức của một con người. Bụt có thể là một hành tinh, một bông hoa hay một viên sỏi. Vì vậy trong kinh nói: Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Ta phải lấy đi cái ranh giới giữa Bụt và chúng sinh.

Bụt có trong ta, ta có trong Bụt

Trước khi lạy Bụt, ta được dạy phải quán chiếu tính duyên sinh của Bụt. Ta đọc bài "Năng lễ sở lễ tính không tịch." Đứng trước tượng Bụt ta nói:

Bạch Đức Thế Tôn, Ngài cũng duyên sinh như con vậy. Tự tánh của Ngài cũng là Không. Ngài được làm bằng những yếu tố không phải Ngài. Nhờ có phiền não, khổ đau mà Ngài có thể thành Bụt cũng như bông sen nhờ có bùn mới thành ra sen. Con thấy Ngài như vậy nên con thấy con trong Ngài.

Nhìn vào Bụt ta thấy tính Không (the nature of Emptiness) của Bụt. Ta thấy Bụt chứa đựng tất cả chứ không phải chỉ có trí tuệ, từ bi, bồ đề, hạnh phúc mà thôi. Nhìn lại mình, ta thấy mình không chỉ là chúng sinh, ta cũng có Phật tánh. Trong Bụt có ta và trong ta có Bụt. Thấy được như vậy rồi thì ta mới nên lạy xuống, lạy xuống như vậy mới có sự truyền thông. Nếu Bụt chỉ là Bụt và ta chỉ là ta thì không có sự truyền thông đích thực. Lấy đi ranh giới giữa ta và Bụt thì lạy Bụt mới có hiệu quả. Bụt không phải ở ngoài ta, Bụt ở trong ta, vì vậy khi lạy Bụt ta tiếp xúc được với Phật tánh trong mình. Nếu cho rằng Bụt khác với ta thì vĩnh viễn ta chỉ có thể là ta và Bụt chỉ là Bụt. Bụt không bao giờ trở thành ta và ta không bao giờ trở thành Bụt và không có sự thông cảm giữa Bụt và ta. Cảm ứng đạo giao nan tư nghì có nghĩa là sự cảm thông giữa Bụt và chúng sinh khó có thể diễn tả được, tại vì ta thoát khỏi cái thấy lưỡng nguyên phân biệt.

Trong kinh Kim Cương nói rất rõ: Ta có một ý niệm về ngã 我 , về nhân 人, về chúng sinh 眾 生, đó là ba ý niệm mà ta cần phải vượt thắng. Nhìn vào ngã ta phải thấy vô ngã, nhìn vào con người ta phải thấy những yếu tố không con người, nhìn vào chúng sinh ta phải thấy Bụt. Kinh Kim Cương dạy ta phải lấy đi bốn ý niệm là: ngã, nhân, chúng sinh và thọ mạng. Thọ mạng là đời sống của con người, lấy đi ý niệm về thọ mạng thì ta trở thành bất tử. Ta không chỉ có mặt ở đây trong 100 năm.

Không có ranh giới đích thực giữa hữu tình và vô tình

Ta cần phải thoát khỏi một ranh giới khác nữa, đó là ranh giới giữa hữu tình và vô tình. Hữu tình là chúng sinh, vô tình là những cái không phải chúng sinh như đất, nước, lửa, gió, khoáng vật. Vô tình, tiếng Anh là inanimate things). Một thi sĩ người Pháp đã hỏi: Objets inanimés, avez  vous donc une âme? Hỡi các vật vô tri kia, chúng bây có một linh hồn hay không? Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng có một câu tương tự: Làm sao em biết bia đá không đau? Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau. Những vật vô tri đều có tình trong nó nên không thể gọi chúng là vô tình. Học về lịch sử của trái đất, ta thấy lúc bắt đầu chỉ có các loại vô tình. Trong nước cháo thời nguyên thỉ (primordial soup) từ từ sinh ra các loại hữu tình đơn tế bào. Những sinh vật đơn tế bào sinh ra những sinh vật đa tế bào. Những sinh vật này từ dưới nước bò lên trên đất và trở thành rong rêu, cây cỏ, các loại cầm thú và thành con người. Vì vậy không có ranh giới giữa các vật vô tình và hữu tình.

Hiện nay khoa học khám phá ra những vật mà ta cho là vô tình như những quang tử, những điện tử rất là thông minh. Nó có cái biết ở trong, ví dụ như nhìn vào một hột bắp ta không thể nói hột bắp là vô tình. Trong hột bắp có thức, có tài năng, có cái biết trong đó. Ta chỉ cần gieo hột bắp xuống đất thì nội trong bảy ngày nó biết nẩy mầm thành cây bắp con rồi tiếp tục làm lá, làm hoa và làm trái bắp. Hột bắp không vô tình, nó cũng là hữu tình.

Chúng ta được làm bằng những chất liệu vô tình. Giữa vô tình và hữu tình không có ranh giới đích thực. Vì vậy cho nên đất đá cũng có Phật tánh. Trong Thiền người ta thường hỏi: “Con chó có Phật tánh hay không?”. Không những con chó có Phật tánh mà cục đá kia cũng có Phật tánh.

Chúng ta phải tìm cách vượt thoát ý niệm: Bụt chỉ là một con người. Chúng ta có một bài thiền hướng dẫn: Mời Bụt thở, mời Bụt ngồi. Bài tập rất hay và tôi đã thực tập rất nhiều. Khi ngồi xuống ta nói:

Mời Bụt thở nhẹ,
mời Bụt ngồi yên

Bụt ở đây không phải là một thực tại ở ngoài mình. Ta nói: “Lạy Đức Thế Tôn, xin Ngài hãy dùng lưng của con để ngồi, xin Ngài hãy dùng phổi của con để thở”. Bụt không phải là một cái ngã. Mỗi khi thở có an lạc, hạnh phúc, bình an là có Bụt. Mỗi khi ngồi có vững chãi, thảnh thơi là có Bụt. Bụt không phải chỉ là người, đồng nhất Bụt với con người là sai. Hễ có vững chãi, an lạc, thảnh thơi là có Bụt. Ta biết rằng Bụt không ngồi thì thôi, nếu ngồi thì Ngài ngồi rất thẳng và thoải mái; Bụt không thở thì thôi, nếu thở thì Ngài thở nhẹ và có ý thức. “Mời Bụt thở, mời Bụt ngồi”, ta đưa hai lá phổi cho Bụt thở, ta đưa lưng cho Bụt ngồi. Khi đó ta bắt đầu vượt thoát ý niệm: Bụt là một thực thể ở ngoài mình. Nếu Bụt thở bằng phổi của mình và ngồi bằng lưng của mình thì Bụt và mình rất là gần.

Bụt đang thở nhẹ, Bụt đang ngồi yên
Mình được thở nhẹ, mình được ngồi yên

Bụt đang dùng phổi của mình để thở, đang dùng sống lưng của mình để ngồi. Nếu Ngài đang thở nhẹ và đang ngồi yên thì mình cũng được thở nhẹ và cũng được ngồi yên. Ta không còn thấy Bụt là một cái gì ngoài mình nữa. Nếu ta thấy nhẹ và yên thì cứ như vậy mà thở. Bài tập này đưa tới thoải mái, hạnh phúc rất nhiều. Ta tiến thêm một bước nữa với bài tập thứ ba:

Bụt là thở nhẹ, Bụt là ngồi yên
Mình là thở nhẹ, mình là ngồi yên

Ta không thể tìm một vị Bụt ở ngoài “thở nhẹ và ngồi yên”. Là Bụt thì phải biết thở nhẹ và ngồi yên. Không biết thở nhẹ và ngồi yên thì không phải là Bụt. Bụt không phải là một hình hài, Bụt là sự có mặt của hơi thở nhẹ nhàng và dáng ngồi bình yên. Ta đi tìm Bụt ở đâu nữa? Ta thấy hơi thở đang nhẹ và dáng ngồi bình yên tức là đã có Bụt ngay trong giây phút hiện tại. Đó là cái nhìn vô tướng về Bụt. Mình cũng vậy, mình không có cái ngã riêng biệt. Mình là thở nhẹ, mình là ngồi yên. Vì vậy cái ranh giới giữa mình và Bụt được xóa liền lập tức.

Bụt là hơi thở nhẹ, Bụt là thế ngồi yên. Mình là hơi thở nhẹ, mình là thế ngồi yên. Như vậy ta và Bụt là một, ta vượt thoát cái nhị nguyên. Đi tới một bước nữa ta đốn ngã cái cây ngã chấp với bài tập thứ tư:

Chỉ có thở nhẹ, chỉ có ngồi yên
Không ai thở nhẹ, không ai ngồi yên

Đó là vô ngã. Có Bụt và có ta, nhưng ta và Bụt đều là hơi thở nhẹ, đều là dáng ngồi yên. Không cần phải có một chủ thể, một cái ngã. Với bài tập thứ tư ta vượt thoát ý niệm về một cái ta đang thở nhẹ và đang ngồi yên. Chỉ có sự thở nhẹ và sự ngồi yên đang xảy ra, mà không cần có một cái ta đang thở nhẹ hay đang ngồi yên.

Chúng ta thường nói: "Gió thổi" hay "Mây bay" hay “Mưa rơi”. Gió đã là thổi rồi, là gió thì không cần phải thổi nữa, nếu không thổi thì không phải là gió. Mưa mà không rơi thì không phải là mưa. Nhìn kỹ ta không thấy có một cái ngã chủ trương thổi hay chủ trương rơi. There is no blower, no rainer, there is only the wind and the rain. Không có Bụt và không có ta như những cái ngã, chỉ có thở nhẹ, chỉ có ngồi yên.

Nhìn về địa cầu của chúng ta, ta thấy địa cầu cũng đang thở nhẹ, cũng đang ngồi yên. Ta không cần phải tưởng tượng Bụt dưới hình dáng một con người. Khi có sự yên tĩnh và an lạc thì có Bụt. Bụt không phải là một chủ thể. Đi tới bài tập thứ năm ta thấy rất rõ:

An khi thở nhẹ, lạc khi ngồi yên
An là thở nhẹ, lạc là ngồi yên

Có an và lạc là tại vì có thở nhẹ và ngồi yên. Không cần phải có người an và người lạc mà vẫn có thể có an lạc. Không cần phải có cái ngã rồi mới có an lạc.

Nói tóm lại chỉ có thở nhẹ, ngồi yên và nhờ vậy có an và có lạc. Không cần có Bụt, không cần có ta mà an lạc vẫn có. Muốn tìm Bụt ta không cần phải trở về Ấn Độ của 2600 năm trước. Ta cũng không cần phải đi vô chùa, tại vì vô chùa ta chỉ thấy tượng Bụt bằng cẩm thạch hay bằng đồng. Nếu thấy Bụt bắt buộc phải là một con người có 80 vẻ đẹp và 32 tướng tốt là ta bị kẹt vì ta đi tìm Bụt qua hình tướng và âm thanh. Nếu ta ngồi yên, thở nhẹ, chế tác hỷ lạc và giải thoát thì ta thấy được Bụt thật mà không phải là Bụt bằng đồng hay bằng đá.

Bụt đang ngồi yên

Xử lý phiền não là chế tác hạnh phúc

Chính nhờ những phiền não, bất an, lăng xăng, rối loạn nên ta mới có khuynh hướng đi tìm Bụt. Từ những bức xúc, khổ đau, buồn tủi đó ta chế tác ra chất thảnh thơi, an lạc cũng như nhờ bùn mà ta làm ra được bông sen. Vì vậy ta đừng nên chạy trốn phiền não, khổ đau. Nếu biết cách thì ta có thể sử dụng những phiền não, khổ đau để chế tác ra hạnh phúc, bồ đề và tuệ giác.

Câu hỏi “Thành Bụt rồi có cần tu nữa hay không?” rất là hay. Thành Bụt là có hạnh phúc, bồ đề, tuệ giác. Nhưng dù có rồi mà nếu ta không thực tập thì hạnh phúc, bồ đề, tuệ giác cũng đi mất từ từ. Vì vậy ta phải nuôi dưỡng nó bằng sự thực tập. Ta phải sử dụng khổ đau, phiền não và si mê để chế tác hạnh phúc, bồ đề và tuệ giác.

Trong Phật giáo đại thừa nói rất rõ: Phiền não tức bồ đề, Niết bàn là sinh tử. Niết bàn và sinh tử là một cặp bài trùng, không có cái này thì không có cái kia, cũng như mặt trái và mặt phải là một cặp bài trùng, không có trái thì không có phải. Nghĩ rằng khi có Niết bàn rồi thì không còn sinh tử nữa là ta bị kẹt vào cái thấy lưỡng nguyên. Một người đệ tử hỏi một vị thiền sư:

Con phải đi tìm Niết bàn ở đâu?
Thiền sư trả lời:
Con đi tìm nó ngay trong sinh tử!

Nó là sinh tử, nhưng nhìn cho sâu thì nó cũng chính là Niết bàn. Sự thực tập hàng ngày của chúng ta phải thực tế. Với những bước chân, những hơi thở, những lời nói, ta phải tạo ra bình an, hỷ và lạc từ những chất liệu không bình an, không hỷ và không lạc. Ta phải luôn luôn sử dụng bùn để làm thành sen, sử dụng phiền não để chế tác bồ đề. Đó là công việc của chúng ta. Công việc chế tác hạnh phúc có liên hệ tới công việc xử lý phiền não. Xử lý được phiền não là chế tác được hạnh phúc. Hai công việc đó tuy hai nhưng thật ra là một. Ta đừng nên chạy trốn khổ đau, ta phải nắm lấy khổ đau và tìm cách chuyển nó thành ra hạnh phúc. Ta ngã ở đâu thì chống ở chỗ đó mà đứng dậy.