Mảnh đất tình người

Từ những lời chia sẻ của các sư anh, sư chị và sư em thuộc tăng thân Làng Mai
kính gởi đến Bụt, đến Thầy và đến tất cả…

BBT Chuyển ngữ từ tiếng Anh

 

Gửi đến Mississippi
Chân Pháp Triển

Cảm ơn tất cả những gì bạn đã làm cho tôi. Thông thường thì tôi không làm việc này, viết thư. Nhưng tôi thực sự cảm thấy rằng đã đến lúc tôi nên viết cho bạn một lá thư.

Pháp TriểnTôi muốn cảm ơn bạn đã tận tụy với đất nước chúng ta và với đất Mẹ. Bạn là một mảnh đất tuyệt đẹp trên đất Mẹ. Bạn ôm ấp nhiều rừng cây, sông hồ, muôn thú và dĩ nhiên là có dòng sông dũng mãnh Mississippi. Bạn cũng đã cho gia đình tôi và nhiều gia đình khác nương tựa và sinh sống. Tuy bạn là một trong những tiểu bang nghèo nhất nước Hoa Kỳ, bạn vẫn hiến tặng hết lòng. Có những người xem thường bạn, nhưng cũng có nhiều người tận hưởng tính giản dị và lòng hiếu khách của bạn. Bạn cũng đã cho chúng tôi không gian để thiết lập một nơi tu học, Trung Tâm Thực Tập Chánh Niệm Mộc Lan. Cảm ơn bạn đã mở cửa cho giáo pháp được truyền bá về vùng đồng bằng miền Nam. Bạn không kỳ thị mặc dầu trong quá khứ bạn đã bị đổ lỗi cho việc kỳ thị chủng tộc. Tôi biết trong quá khứ bạn cũng đã bị phê phán rất nhiều vì những sự kiện lịch sử xảy ra. Nhưng tôi tha thứ cho bạn, vì tôi biết rằng nếu không có những sự kiện ấy, những “tranh đấu” ấy, chúng ta sẽ không có ngày hôm nay. Chúng ta đã học được nhiều bài học từ những đấu tranh trong quá khứ để hôm nay nảy nở những bông hoa tuyệt vời. Đặc biệt là đóa hoa Mộc Lan, Magnolia Grove Practice Center. Tôi nhớ có lần đi dự khóa tu ở đây, nhiều người đã chia sẻ rằng họ sợ về đây vì quá khứ không mấy tốt của bạn, nhưng khi họ can đảm đến thăm bạn, họ cho biết họ đã làm một trong những quyết định hay nhất trong cuộc đời họ. Bây giờ họ đã có nơi để tìm về với sự an bình và bạn đã cho họ điều này. Họ đã không khám phá ra được nét đẹp của bạn do vì họ còn kẹt vào quá khứ. Từ đây về sau, bạn sẽ mãi mãi ở trong tim họ.

Tôi đã học được ở bạn rất nhiều. Tôi học làm một con người, một vận động viên, và quan trọng nhất là cách xem mọi người như người thân trong gia đình qua cá tính hiếu khách của bạn. Bạn có biệt danh là “Tiểu bang hiếu khách”, the “Hospitality State”. Dù ở bất cứ nơi nào, chợ Wal-Mart, quán ăn, sân chơi banh, ai cũng được xem là người nhà dù chỉ mới quen lần đầu. Tôi học được nhiều lắm và rất biết ơn những điều dạy bảo của bạn. Bây giờ dù ở đâu, đi đâu, tôi đều có thể thương được và không kỳ thị người khác, vì mọi người, vì tất cả đều là gia đình! Đề cập về gia đình, bạn đã cho gia đình tôi một không gian để an trú. Chúng tôi đã học để hiểu và để thương nhau hơn. Đã có lúc cha mẹ tôi mong muốn bảo tồn văn hóa Việt còn chị em chúng tôi muốn chuyển qua văn hóa Mỹ, bạn cho chúng tôi không gian để khám phá ra rằng chúng tôi có thể có được cả hai nền văn hóa. Bạn dạy cho chúng tôi cách sống giản dị và để đừng bị kẹt quá nhiều vào chuyện xã hội.

Tôi cũng học được một điều quan trọng là bạn nổi tiếng về ngành thể thao. Bạn sản xuất ra nhiều thế hệ vận động viên danh tiếng như Walter Payton, Jerry Rice, Brett Farve và thêm nhiều người nữa. Tôi lớn lên và học hỏi được rất nhiều từ các môn thể thao. Tôi luôn ghi nhớ trong tim về những lời dạy của các thầy huấn luyện thể thao của tôi. Họ dạy chúng tôi chơi như một gia đình, như một cơ thể. Thí dụ như khi chơi bóng rổ, chúng tôi phải học cách chơi ở mọi vị trí để có thể di chuyển có hòa điệu như một cơ thể trên sân chơi. Thầy huấn luyện dạy chúng tôi chơi và hành xử như một bàn tay. Thầy luôn nói: “Một bàn tay nắm chặt lại thì luôn luôn làm đau hơn là một cái tát!” Nên khi năm người chúng tôi chơi trên sân, chúng tôi chơi chặt chẽ và hết lòng để có hiệu quả hơn. Chúng tôi chơi cho sự thành công của đồng đội mà không phải cho sự thành công cá nhân. Mình chơi hết lòng vì mình thương đồng đội và muốn họ thành công. Tôi cũng học được những câu như: “Đừng bỏ gia đình bạn ngoài sân” hoặc “Bạn thắng bởi vì bạn thương mọi người chứ không phải vì bạn ghét bỏ họ”. Các thầy huấn luyện thực sự đã giúp chúng tôi buông bỏ ý niệm thắng cuộc. Khi mình làm được như thế, chỉ chú trọng đến việc chơi vì mình thích chơi thể thao thì cuối cùng mình lại thắng.

Hiện tại, Sư Ông là “Thầy huấn luyện” của tôi trong sự thực tập sống chánh niệm. Những gì bạn dạy tôi áp dụng vào môi trường thể thao thực sự phản chiếu trong sự thực tập hàng ngày của tôi tại Làng Mai. Một thí dụ nữa về bóng rổ là khi mình nhồi banh trên sân, đó là việc theo dõi hơi thở vào và ra. Việc này diễn tiến rất tự nhiên nhưng nếu bị ngăn chận thì sự chuyền bóng giữa người chơi và đồng đội bị đứt đoạn. Các đồng đội là huynh đệ của tôi, họ có mặt để yểm trợ tôi trong mọi trường hợp. Và chơi với nhau như một cơ thể chính là sự thực tập. Khi chúng ta có thể kết hợp tất cả mọi tài năng và chơi với nhau thì chuyện ghi điểm sẽ trở nên dễ dàng. Đối với sự thực tập, khi chúng ta có thể kết hợp và làm lắng dịu thân tâm, nuôi lớn niệm, định và tuệ, chúng ta khám phá ra rằng bình an và hạnh phúc cũng đến rất dễ dàng.

Tất cả những điều tôi chia sẻ trên đây đều hướng đến việc bày tỏ lòng biết ơn bạn đang có mặt trong sự thực tập của tôi tại Pháp. Tôi nhớ lúc còn nhỏ, tôi thường mơ ước được sống ở nhiều nơi khác nhau và nhất là sống ở nước ngoài. Và đó là điều tôi đang làm được ngay bây giờ. Tôi đoán rằng vì tôi sống xa bạn, tôi thực sự thấy được vẻ đẹp của bạn. Bạn đã giúp tôi, không những qua trung tâm Mộc Lan mà còn qua môi trường thể thao, tìm về con đường tâm linh. Giờ đây đang sống tại Làng Mai, tôi thấy rất dễ hòa nhập vào gia đình và bạn bè cùng trên con đường thực tập. Qua môn thể thao, bạn đã cho tôi thấy rằng tôi có thể tìm được sự hiểu biết, tình thương và sống hòa hợp với các sư anh, sư chị và sư em tôi, đồng thời không kỳ thị người khác bằng cách phát triển tính hiếu khách. Không những tôi tiếp nhận được lợi ích từ bạn mà hai gia đình huyết thống và tâm linh của tôi cũng tiếp nhận được nhiều điều lợi ích mà bạn đã cống hiến. Gia đình huyết thống của tôi đã có cơ hội tìm được pháp môn thực tập. Gia đình tâm linh của tôi thì được nuôi dưỡng bởi những gì bạn đã trao truyền cho tôi. Tôi hy vọng sẽ đại diện được cho bạn và tiếp nối bạn một cách thật đẹp đẽ để đi về tương lai. Cảm ơn tình thương và sự yểm trợ của bạn không những trong sự thực tập của tôi mà còn đối với tất cả tổ tiên tâm linh và huyết thống, với Sư Ông và Tăng thân yêu quí bằng tấm lòng biết ơn sâu đậm.

 

Bức thư đầu tiên
Chân Trăng  Nến Ngọc

Con tên là Chân Trăng Nến Ngọc. Con vừa được xuất gia trong gia đình cây Đoàn vừa rồi. Con viết thư này xin gửi lên Sư Ông để bày tỏ niềm biết ơn và hạnh phúc của con khi con chính thức được gia nhập tăng thân, đổi mới cuộc đời mình và còn được Sư Ông hồi âm thư nữa.

Nhiều lúc viết thư, dù biết là gửi cho Sư Ông nhưng con không dám tin nó sẽ tới nơi, hoặc Sư Ông sẽ đọc nên con cứ viết với tinh thần “đây là bức thư đầu tiên Sư Ông nhận”, phải viết cho rõ để Sư Ông biết mình là ai! (nghe thảm quá). Con cứ có cảm giác như mình viết thư cột vào cái bong bóng rồi thả lên trời, vậy mà Sư Ông đã nhận được, đã đọc và còn trả lời thư cho con nữa. Ôi, con hạnh phúc quá! Những lời của Sư Ông như đi vào trong người con, từ từ gỡ những khúc mắc mà thậm chí con còn chưa nhận ra và diễn đạt được. Dù con cố gắng hết sức để trình bày, và con còn bị kẹt vào cách dùng từ ngữ nên chưa bộc lộ hết được. Vậy mà Sư Ông hiểu, sao Sư Ông biết hay vậy? Con hạnh phúc quá! Sư Ông đã đọc thư con rất nghiêm túc dù con chỉ là một người nhỏ. Dù con chỉ mới thấy Sư Ông “bằng thịt” có một lần, và Sư Ông không biết gì về con. Nhưng Sư Ông thương con thật, thương những khó khăn của con, thương một tình thương không phân biệt, của một vị Bồ Tát (con nghĩ vậy). Bây giờ con thấy con có trong Sư Ông rồi (không biết con có nói quá không!)

Cho đến nay con có tiến bộ lắm Sư Ông ạ! Con ngồi thiền không buồn ngủ nhiều như trước nữa, vì con lờ mờ nhận ra cái hay của việc ngồi thiền. Con ngồi lặng như vậy để cơ thể được nghỉ ngơi, và để cho các cơ quan được tập trung làm việc. Con từng suy nghĩ liên miên nhiều quá nên hay bị đau đầu. Rõ ràng sau một khoảng thời gian ngồi yên không suy nghĩ (chỉ ngắn thôi), con thấy người mình nhẹ nhõm hơn hẳn. Nhưng không phải buổi ngồi thiền nào tâm con cũng lặng yên được như vậy. Ở đây con sướng lắm, có thầy Từ Tế thường qua Diệu Trạm dạy võ cho các sư chị sư em. Thầy cũng thường hay chia sẻ, lắng nghe và “tư vấn” cho mọi người về những trạng thái khi ngồi thiền, cách ngồi thiền, ích lợi khi ngồi thiền, nhờ vậy mà quý sư chị sư em con và cả con nữa ngồi thiền thấy hứng thú hơn.

Con thấy quý thầy, quý sư cô ở Thái rất dễ thương, cống hiến hết mình, quan tâm chăm sóc người khác rất kiên nhẫn, hòa nhã mà không ngại phiền. Ở Huế cũng vậy, không thể so sánh được. Nhìn lại, mỗi người một cuộc đời, cũng có những người chưa hề được khơi dậy những hạt giống tốt, hay do năng lượng “muốn làm” chưa đủ mạnh; cũng có những người chưa bao giờ nghĩ sẽ đi tu nhưng tất cả, ngày hôm nay đã quy tụ, cùng nhau tu học theo các trung tâm, gom góp sức mạnh để thực hiện ước mơ chung: cứu mình, cứu đời. Sư Ông thật đáng kính quá.

Lúc trước và sau khi thọ giới con có nhiều niềm vui lắm. Con rất thích phong cảnh bên Thái. Chỉ cần nhớ là mình đang được ở Thái, có Sư Bá, có chị Hai trong cây và mang theo nhiều ký ức cả nhà đoàn tụ là con thấy mình vui như “chim hót”. Con làm gì cũng vui: đi, làm việc, dự thời khóa, ngồi chơi, chơi ngày sadi, v.v… mọi thứ từ nhỏ đến lớn, cái gì con cũng vui, cũng hạnh phúc. Con nghĩ ước mơ của mình không phải là trở thành một sư cô, một người tu có cái gì đó “không thể được, không thể thích ứng” (có thể nhận thức về phân biệt tôn giáo vẫn còn từ nhỏ, và cái thói thích hưởng thụ nhiều hơn cống hiến đã ăn sâu vào tàng thức con). Nhưng con lại tìm thấy hướng đi trong đời sống này. Khi được tiếp xúc, tưới tẩm và sống như một tập sự, con mới nhận ra những sai lầm, mê muội của mình trong quá khứ. Giờ phút này con đã thoát ra khỏi nếp sống đó, được sống thật với chính mình. Học hỏi để biết được con người mình, tâm thức mình và tìm được hướng đi cho cuộc đời mình. Nhìn lại bạn bè, hàng xóm của con ở nhà, dù có điều kiện vật chất, có tình thương của cha mẹ, thầy cô, có rất nhiều điều kiện hạnh phúc nhưng tội nghiệp thay lại thiếu tỉnh thức. Môi trường ở đó rất ôn hòa (từ bản chất con người đến khí hậu) nhưng tuổi trẻ lại ít có cơ hội biết được sự thật về cuộc đời. Con người phần nhiều khi được sống trong êm ấm quá thì sinh hư, không phải, có lẽ là yếu đuối, bị môi trường độc hại lôi kéo mà vì không thấy nên cứ tiếp nhận: hơn thua, bạo động, mê đắm, sex v.v… Từ khi nhỏ cho đến lúc lớn, được cha mẹ vất vả lo cho không thiếu thứ gì, nên thường có thói quen đi tìm những cái hưởng thụ bên ngoài, riết hồi cứ chạy lòng vòng vì những cái bên ngoài đó mà không có cơ hội nhìn lại và tự đặt cho mình những câu hỏi như: mình đang may mắn, mình là một sự mầu nhiệm; mình thiếu định hướng, mình chưa có ước mơ lớn cho cuộc đời; mình đã, đang và sẽ sống như thế nào…? Thời gian cứ trôi đi rồi cũng phải bước vào đời, với những vốn liếng về ý niệm, quan điểm sai lầm, thiếu hụt, tương lai của mọi người sẽ như thế nào? Làm sao theo kịp mọi người đây, bạn bè cùng lứa của con cũng đã 18 tuổi, sắp vào đời rồi.

Con thấy mình quá may mắn. Con được học những điều Bụt dạy mà Sư Ông đã đưa đến cho thế hệ trẻ chúng con. Sư Ông giảng cho chúng con hiểu, Sư Ông viết sách để phát triển đạo Bụt, cái gì cũng mang lại sự tỉnh thức cho người nhận, cái gì cũng rõ ràng, rất rõ ràng.

Vừa rồi qua Thái, con và các chị em được chơi ngày Sa Di vui lắm. Con có viết một bức thư kể cho Sư Ông nghe nhưng dài quá nên con bỏ và viết lại thành bức này (nếu kể lại phải mất hơn hai đôi giấy). Con cũng có nhiều câu hỏi lắm, nhưng nghĩ lại, thôi thì con hỏi Y chỉ sư của con vậy, chắc do con thực tập chưa thuần nên vậy. Sư Ông có quá nhiều việc mà. Con xin phép dừng thư ở đây ạ! Năm mới con chúc Sư Ông tràn đầy sức khỏe, tràn đầy niềm vui và có thêm nhiều sự tiếp nối đẹp, vững chắc.

 

Nương tựa Bụt
Trăng Hoa Lâm

vườn BụtCon đã tìm ra được con đường cho con đi, con đường của tình thương và sự hiểu biết. Con hạnh phúc biết chừng nào khi con được làm con gái của Đức Thế Tôn, nhờ con đã nuôi dưỡng Tâm bồ đề nên mới có ngày hôm nay.

Con nhớ rõ từ khi bắt đầu đến chùa, con nhìn khuôn mặt của Ngài tỏa đầy từ bi, đức độ, vì thế Ngài có mặt trong tâm trí con. Con phát nguyện sẽ tôn thờ và cung thỉnh tượng Ngài về nhà để ngày đêm có cơ hội được lễ lạy và tâm sự với Ngài. Điều đó con đã thực hiện được một cách trọn vẹn và đầy viên mãn như ý mình thầm mong. Từ đó con được tìm hiểu lịch sử, giáo lý và hành trì những thiện phước mà Đức Thế Tôn đã dạy; trì trai, bố thí, cúng dường và giữ giới, những việc mà một vị cư sĩ nên làm. Lại thêm một phát nguyện tiếp theo mà trong tâm khởi lên nữa đó là cúng dường trai Tăng, buổi cúng dường đầy hân hoan, hạnh phúc được diễn ra rất nghiêm trang, thanh tịnh với sự chứng minh và thọ nhận của nhiều vị Tăng, con dâng lên tất cả sự cung kính, lòng thành trong tâm khi lạy xuống, con phát nguyện hồi hướng phước đức và những việc làm này cho khắp mọi loài để được sống trong sự an toàn, không hận thù và căm ghét lẫn nhau. Và điều đặc biệt hơn nữa là con tha thiết được làm người xuất gia, được đi theo con đường của Bụt để đem lại niềm vui và hạnh phúc mà con đã phát khởi.

Con nhớ ngày con ra đi theo chí nguyện, trời đang trong xanh với gió mát, bỗng đổ mưa nhè nhẹ mà thấm ướt cả đôi vai con. Lòng con ngậm ngùi, những giọt nước mắt chảy ngược vào trong, con nhìn má và những người thân đang khóc và luyến tiếc, lòng con càng phải vững bền và kiên quyết nhiều hơn: “Một khi đã đi thì phải đi cho đúng đắn, đàng hoàng và thành tựu mới trở về”, con thầm nghĩ vậy. Lúc này đây con mới thật sự thấy “chân tâm một quyết lên đường”. Sau những tháng ngày tập sự và xuất gia, cho đến hôm nay con nhận thấy mình mát trong như dòng suối, nhẹ nhàng như mây bay, tâm hồn con thảnh thơi và bình an lạ thường. Làm sao con quên được khoảnh khắc con được sinh ra một lần nữa trong gia đình tâm linh, một gia đình quyết định cả tương lai và cuộc đời của con.

Bạch Đức Thế Tôn! Những ngày còn nằm trong bụng của mẹ, có đôi lần con vụng dại, lỡ lầm làm đau mẹ nhưng nhờ tình thương bao dung, thông cảm mẹ đã che chở và ôm ấp con. Mẹ đó là quý sư cô và Tăng thân. Những lúc con nhận diện những tập khí xấu đang biểu hiện và đã biểu hiện, con thấy lòng hổ thẹn, tự ái đã đi lên nhưng nhờ con biết thở, biết mỉm cười với những mặc cảm đó nên con mới buông bỏ nó được.

Cảm nhận ngày con thay hình đổi dạng, ngày mà con thấy đất trời cùng hòa điệu vào nhau, lòng con đầy xúc động và hạnh phúc dâng tràn. Ngày con được tái sinh, được gia nhập vào Tăng đoàn của Bụt, giây phút ấy là giây phút huy hoàng và thanh tịnh, thân và tâm đưa về một mối, con dừng lại tất cả dòng suy nghĩ, lo sợ, hồi hộp để cho thân tâm được tiếp nhận giới pháp tròn đầy. Con không kìm nổi những giọt nước mắt khi được nghe bài xướng tụng “Đầu Cành Dương Liễu”, con nhận được những giọt nước thanh lương, những giọt nước mát mẻ tưới lên dập tắt não phiền, làm tươi mát cả hồn con. Con thấy mình như đang nở trong vườn hoa rực rỡ của nhân loại: “Muôn hoa tỏa ngát giữa đồi, mang hương tỏa sắc cho đời thêm xinh”. Giây phút thiêng liêng cao cả ấy lòng con dâng lên sự biết ơn tôn kính đối với cha mẹ, Bụt, Tổ và Tăng thân đã cho con cơ hội được biểu hiện, con biết ơn muôn loài đã cho con sự sống mầu nhiệm này. Ngày xuất gia, con đã hoàn toàn nhận diện rõ một điều rất quan trọng không thể nào vắng mặt được, đó là “hơi thở”, bởi vì nhờ con theo dõi và duy trì hơi thở chậm rãi nên con mới giữ được sự bình tĩnh, nhẹ nhàng và những bước chân thật vững chãi trên mặt đất. Dù làm bất cứ việc gì đi chăng nữa, nếu không có hơi thở ý thức thì mình sẽ khó hoàn thành trọn vẹn. Chính vì vậy con mới thấy được rằng “Hơi thở là người bạn trung thành nhất của sự nghiệp sống tỉnh thức” là vậy đó.

Bạch Đức Thế Tôn! Đến hôm nay con đã xuất gia hơn một tháng rồi, con thấy trong con năng lượng của hạnh phúc, của niềm vui, của bình an càng nhiều hơn. Con thấy mình nhỏ bé giống như những giọt sương ban mai rơi xuống ngọn lá vào buổi sớm. Con thấy con giống như bông hoa sẽ nở mãi, nở mãi trong khu vườn địa đàng. Thật vậy! Con xin nguyện sẽ tiếp tục nuôi dưỡng và đốt cháy thêm những ngọn lửa đang sáng. Con xin nguyện nương tựa vào Tăng thân, cùng đi chung như một dòng sông, cùng chảy ra biển cả. Con nguyện gìn giữ những lý tưởng cao đẹp, tôn trọng mục tiêu của cuộc đời và cuối cùng con xin nương tựa vào Đức Thế Tôn, bậc Thầy của chúng con với đức từ bi, hạnh nguyện cứu người và mọi loài của Ngài để làm nền tảng vững chắc nhất mỗi khi con gặp khó khăn, hay thử thách trên đường đi.

Con chỉ là giọt nước giữa dòng sông
Con chỉ là đóa hồng trong vườn thắm
Con chỉ là hơi ấm của quê hương
Và chỉ là hạt bụi đường dưới chân Bụt
Xin được sống với tình thương chân thật
Xin được thở bằng ân đức của Như Lai
Cõi trầm luân Người thức giữa đêm dài
Xin nương tựa đức từ bi vô lượng.

 

Lời nói từ trái tim
Chân Pháp Thuyền

Giờ phút này đây con đang rất hạnh phúc bởi vì con vừa vượt qua được tâm trạng sợ hãi trong con. Sáng nay, trong buổi ngồi thiền, con quán chiếu lại những ngày vừa qua và nhận ra rằng thỉnh thoảng con có những bất an sợ hãi trong lòng, con có cảm giác rằng có một số người đang sợ hãi con, gặp mình là muốn tránh xa, không muốn gần gũi với con và con cảm thấy có một bầu không khí nghi kỵ đang nhìn mình. Thậm chí con còn nghĩ rằng có nhiều người đang ghét mình, mong sao cho con đi khuất mắt. Những lúc như vậy, con thấy đời mình bị bao phủ bởi màn đen u ám. Con tự hỏi dường như không có ai hiểu được mình cả, những lúc như vậy con rất cần ở bên cạnh Thầy, ôm chân Thầy mà nói lên nỗi niềm. Con tự hỏi mình tu có đúng phương pháp không mà có những cảm giác như vậy? Mình có làm lầm lỗi điều gì không? Trong buổi ngồi thiền, con thấy rõ thỉnh thoảng mình sống thất niệm, đã có những suy tư, những lời nói, những hành động khiến những người khác sợ hãi xa lánh mình và cảm thấy mình cũng lo sợ cho chính bản thân mình. Có lần, niềm tuyệt vọng dâng trào, con chán ghét một số người và mong đừng có gặp lại những người đó. Nhưng may mắn thay, nhờ phước đức của ông bà tổ tiên, của cha mẹ, của Thầy, của tăng thân mà con đã dừng lại được tâm niệm đó. Trong buổi ngồi thiền, con đã mượn hình ảnh của Thầy để quán chiếu vào tự thân, hình ảnh đầy từ bi trí tuệ của Thầy đã đánh động vào tâm con, Thầy như có một sức mạnh vô biên đã gìn giữ được cái tâm còn hoang dại của con, và một niềm biết ơn mãnh liệt dâng trào trong lòng con, biết ơn Thầy, biết ơn tăng thân đã chỉ lối và dẫn dắt con trên bước đường tu tập. Con cũng biết ơn Thầy Bổn Sư của con, người đã đưa con vào đạo. Và con cũng biết ơn cha mẹ của con, người đã sinh ra con trong cuộc đời này. Con xin gởi lòng biết ơn sâu sắc của con đến với cha mẹ, đến với Thầy Bổn Sư và xin hết lòng tu tập để đền đáp một phần công ơn cao cả của chư liệt vị.

Trong buổi thiền quán, con cũng thấy được hình ảnh của thầy Ahimsaka, một vị Tỳ Kheo tiêu biểu cho đức tính nhẫn nhục, vô úy không sợ hãi, một người trước khi xuất gia nổi danh là Chỉ man, nhưng khi gặp Bụt, cái ác đã đổi thành cái thiện. Con cũng vậy, trong con có những cái ác tính, khi điều kiện đầy đủ thì nó biểu hiện và làm cho con khốn đốn. Nhưng có lẽ kiếp trước mình có trồng nhiều căn lành nên kiếp này được gặp Thầy, được gặp tăng thân nên có cơ hội tu tập và chuyển hóa được những tập khí của mình. Trước kia con thường nghĩ rằng mình là người hoàn hảo, mình đang hướng dẫn người khác tu tập. Bây giờ đụng chuyện mới biết được sức tu của mình như thế nào. Lúc đó con muốn thốt to lên rằng: “Ôi! Hạnh phúc quá! Hạnh phúc quá! Nhưng con sợ đại chúng giật mình nên chỉ nói trong tâm của mình thôi. Con nuôi dưỡng ý thức đó trong suốt buổi ngồi thiền nên những lời sám pháp địa xúc đã đi sâu vào tận trái tim con. Bài sám pháp địa xúc nói về sự vô thường của bản thân, của Thầy, của sư anh, sư chị và sư em đã làm cho con rất xúc động, con thấy rõ là do trước kia mình đã sống thất niệm, đã có những hành xử khiến cho những người khác đau khổ và muốn xa lánh mình. Nay thấy được những nguyên nhân đó, con nguyện tập sống cho có chánh niệm hơn, nguyện an trú vững chãi, thảnh thơi để có thể cống hiến cho đời những hoa trái của sự thực tập. Lúc đó trái tim của con đã mở rộng ra để có thể ôm ấp được tất cả mọi người. Con muốn ôm tất cả mọi người trên thế giới vào trái tim đang rộng mở của mình và nói lên rằng con thương tất cả mọi người, không phân biệt sang hèn già trẻ. “Nguyện đạt tới hiểu biết lớn, nguyện thành tựu thương yêu sâu. Đó là ước mong sâu sắc nhất của con, con không còn ước mong nào nữa cả.”

Ngày hôm nay cũng là ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời của con, con đã sống thật có chánh niệm, an trú vững chãi và thảnh thơi, nhờ con đã sử dụng các bài thi kệ và hơi thở. Con ý thức được sự sống mầu nhiệm đang diễn ra xung quanh mình và đập tan những hối tiếc buồn đau về quá khứ hay những ảo vọng mơ tưởng đến tương lai. Vì con biết sự sống vốn vô thường, các sư anh, sư chị và sư em của mình cũng vậy, cũng vô thường, nếu mình không biết trân quý thì có thể người thân của mình sẽ ra đi. Con cũng vậy, không biết ngày mai mình sẽ ra sao, cho nên hãy sống hết lòng vì hôm nay, để ngày mai nếu có ra đi thì mình cũng thảnh thơi.

Con biết trong đời sống hàng ngày có những lúc vì thất niệm cho nên con có những tư tưởng hay những lời nói khiến người xung quanh đau khổ, đã gây khó khăn cho anh chị em của mình, đã vụng về lầm lỗi, xin đại chúng hãy đến với con, hãy chỉ bảo cho con, hoan hỉ bỏ qua cho con, và con sẽ cố gắng thực tập tốt hơn. Con nhớ đến lời dặn dò của Thầy: “Dù con người đổ chụp trên đầu em cả ngọn núi hận thù, tàn bạo, dù con người đày ải em vào hang sâu tủi nhục”, con cũng luôn luôn nhớ lời Thầy dạy: “Kẻ thù chúng ta không phải con người. Xứng đáng chỉ có tình xót thương”. Kẻ thù chúng ta chính là tham vọng si mê, nhưng con biết tham vọng si mê cũng không phải là kẻ thù của chúng ta mà nó là bạn của chúng ta, nó là một phần của bản thân ta. Con biết Thầy và tăng thân luôn luôn có mặt đó để yểm trợ, nâng đỡ cho con. Con cũng xin nói lại là, trong trái tim con luôn có hình bóng của Thầy, của tăng thân, xin các sư anh, sư chị và sư em hãy đến với con, chỉ bảo cho con những lỗi lầm mà con đã mắc phải; hãy thương tưởng tới con, hãy hoan hỉ và tha thứ cho con; hãy xem con như một phần thân thể và con cũng xem mọi người như thân thể của mình vậy. Tăng thân như là một thân thể lớn và con là một tế bào trong cái thân thể ấy. Vì vậy chúng ta cùng giúp nhau vượt qua khó khăn. Con luôn luôn tin tưởng vào tăng thân, tin tưởng vào sự nghiệp độ đời, tin tưởng vào con thuyền tăng thân, dù con thuyền đó có nghiêng đổ thì niềm tin của con vào tăng thân cũng không hề thay đổi.

Đây là những lời nói xuất phát từ trái tim của con, xin Thầy chứng minh cho con, xin đại chúng hiểu cho tấm lòng thành của con. Cuối cùng, con xin đê đầu đảnh lễ Thầy và tăng thân và xin nguyện vâng lời chỉ dạy để thực tập.

 

Thông điệp đầu năm
Chân Trăng Hàm Tiếu

Nhân ngày đầu năm mới (xuân Giáp Ngọ), con ngồi vào bàn cầm bút viết vài dòng, khai mở một mùa xuân an lành. Ngồi ở đây, nơi gian phòng nhỏ của mình, con nâng ly trà ấm áp, thơm ngon để xua tan cái lạnh buốt của xứ Huế.

Con nhớ từ nhỏ đến lớn, con chưa thưởng thức trọn vẹn ly trà ngon như thế này. Không phải loại trà đặc biệt gì, cũng không quý giá vậy mà con thấy ngon hơn hết. Con tự hỏi tâm mình tại sao như vậy, nhìn sâu vào, con nhận ra con đang có niềm vui, hạnh phúc với bao mầu nhiệm. Con đang thật sự có mặt với ly trà nóng và thưởng thức hết lòng mà không để tâm ý ở nơi khác. Nên dù loại trà bình thường, hay với người rành trà cho là loại bét thì con vẫn thấy ngon.

Hôm nay, bầu trời có vẻ trong lành hơn so với mấy tháng trời mưa tầm tã, úng cả cây cối. Trời không mưa lại có nắng nhẹ, vàng chói đẹp lắm. Những tia nắng len lỏi qua các chiếc lá hứng đầy sương, lung linh sinh động.

Con nhắm đôi mắt nhỏ bé của mình lại, cố hít thở thật sâu để tận hưởng. Con đặt tay lên phần bụng đang cử động của mình. Con thấy vui lắm, cái bụng cứ phồng lên, xẹp xuống đều đều theo hơi thở vào, ra. Khi bụng con phồng lên thì đồng thời con cũng đang hít vào hơi thở sâu. Khi bụng con xẹp xuống thì đồng thời con cũng đang thở ra hơi thở dài. Tự nhiên, tai con nghe rõ tiếng sương đọng trên mái ngói rơi lộp độp xuống hiên chùa. Con hít vào một luồng khí lạnh, tinh khôi của cây vườn và mùi trà đang thơm nhẹ. Con thấy thú vị đến nỗi không muốn mở đôi mắt ra vì sợ sẽ bỏ lỡ giây phút như “tiên” này. Chợt con nhớ đến câu nói của Sư Ông trong bài pháp thoại mà quý sư cô thường nói khi thấy hạnh phúc: “Đây là giây phút hạnh phúc”.

Con cảm thấy tâm đắc câu nói này và hôm nay con đã có thể sử dụng nó một cách nhuần nhuyễn. Bước xuống giường con cũng thấy hạnh phúc vì con vẫn có thể đi những bước thong dong bằng đôi chân của mình. Bước từng bước trong chánh niệm con thấy người mình như nhẹ hẳn ra.

Bước ra hành lang, con ngắm nhìn thiên nhiên để biết rằng con đang còn đôi mắt sáng để thấy được trời xanh bao la, để trân quý  hạnh phúc mà con đang có. Con thấy nào là hoa lan tím, cây mít, cây chay trước mặt, xa xa là hồ Sao Hôm, bụi tre già được ông mặt trời chiếu những tia sáng đầu ngày. Mọi thứ thật xanh tươi, lấp lánh nổi bật hẳn. Con đang tận hưởng thiên nhiên bằng lòng biết ơn vô tận: “Cảm ơn thiên nhiên, cảm ơn cuộc đời”.

Con thấy con cũng đang tràn đầy sức sống như cây kia, tự do biểu hiện, chẳng phải lo nghĩ gì. Hằng ngày, con được ngồi thiền, tụng kinh, học giáo lý, vui chơi, chấp tác. Cùng với tăng thân, con duy trì được sức sống trong mình. Cũng giống như cây kia cũng cần phân, đất tốt, nước…, để được xanh tươi như vậy.

Bỗng một câu chúc xuân tốt lành của một sư chị đến với con làm con giật bắn người, đúng rồi hôm nay là tết Sư Ông ạ! Những lời nói yêu thương, chúc nhau từ mọi người làm không khí ni xá trở nên vui hẳn. Những gói quà xinh xinh được trao tặng mang một thông điệp yêu thương của ngày đầu năm. Con thích nhất là tặng quà và “nhìn lén” cảm xúc trên gương mặt của người nhận. Khi thấy người khác vui con cũng thầm cười hạnh phúc. Hôm nay, con cũng được nhận quà, con nở nụ cười với món quà để mong người tặng biết con đang hạnh phúc, con chúc ai cũng vui vẻ như con bây giờ.

Thế là năm cũ đã qua đi với bao niềm vui, hạnh phúc; bao khó khăn, lo phiền để nhường đường cho năm mới với khởi đầu mới. Con nguyện những gì năm cũ chưa làm được, con sẽ cố gắng thêm. Những gì đã thành công thì con sẽ phát huy tiếp. Còn lo phiền, buồn giận, con sẽ cho chúng đi theo làm “đệ nhị thân” cho năm cũ. Năm mới, con quyết làm mới bản thân, làm mới sự thực tập để con được bình an, có nhiều niềm vui, sức sống để Sư Ông được vui, để ai cũng được hạnh phúc. Con kính chúc Sư Ông luôn khỏe, sống mãi bên chúng con để chúng con được hưởng năng lượng tươi mát, lòng từ bi, bao dung của Người.

 

Khi cần em hãy nắm lấy …
Chân Lĩnh Nghiêm

Thương yêu gửi tới các sư bé tương lai

Hồi ấy tôi cũng giống như em bây giờ, tôi chẳng thiết tha chi với những bon chen trong cuộc đời trần tục. Tôi đã thấy được những giả tạm của cõi hồng trần, những hệ lụy khổ đau của kiếp nhân sinh, nhưng tôi vẫn chưa đủ can đảm để giã từ. Đôi mắt của tôi còn mê mờ, tôi chưa phân biệt được đâu là trong, đâu là đục. Lúc ấy tôi không có một đoàn thể nào để nương tựa. Chẳng có ai cho tôi gọi “chị ơi”, chẳng có ai xuất hiện chìa cánh tay ra và hỏi: “Có tôi đây, tôi giúp được gì nào?”. Tôi cứ thui thủi một mình kiếm tìm, dò dẫm, sờ soạng…

Tôi đắn đo trước tấm áo nâu và áo trắng. Nhìn hai tấm áo ấy tôi chỉ có một câu hỏi duy nhất, câu hỏi làm tôi đau đầu nhức óc: “Chiếc áo nào có khả năng giúp được nhiều người?” Tôi đem hai tấm áo đặt lên cán cân trí óc, trí óc tôi bất lực. Tôi đặt hai tấm áo lên cán cân trái tim, trái tim tôi u mê. Đâu là trong? Đâu là đục? Câu hỏi réo rắt tâm can. May sao tôi còn có Mẹ – Mẹ Quán Âm. Tôi đã gọi Mẹ rất tha thiết và hỏi Mẹ rằng: “Con phải làm gì để giúp được nhiều người? Làm tu sĩ thì giúp được nhiều người hay làm cư sĩ sẽ giúp được nhiều người?” Làm gì cũng được miễn sao giúp được nhiều người thì tôi làm ngay, tôi chẳng quan tâm gì tới hình tướng hết. Một tuần sau tôi nhận được câu trả lời của Mẹ trong một cuốn sách:

Câu trả lời như sau:

“Trước khi giúp người khác con hãy giúp chính mình. Trước khi xứng đáng ngồi trên tòa Như Lai giảng pháp con hãy kết thảm cỏ, ngồi trong động đá để quán chiếu về sự vô thường, lý vô ngã. Và chỉ khi nào chứng được thanh tịnh tuyệt đối con mới được phép nhập thế gian mà không sợ bị sa ngã. Một người mù không thể dẫn đường cho những người mù. Một kẻ đang chết đuối không thể cứu được một người cũng đang chết đuối. Làm sao con biết rằng hành động của con hoàn toàn vô vụ lợi? Làm sao con biết rằng con không tự lừa dối chính mình? Một việc làm cao đẹp chỉ có ý nghĩa khi nó được làm với một tâm vị tha chân thật. Chỉ khi nào con bước vào đời, làm mọi việc mà không thấy có mình làm, không thấy có người được giúp thì khi ấy con sẽ hiểu lời ta nói “nhập thế gian mà không rời Niết bàn.”

Em biết không? Lời dạy ấy khiến tôi chấn động tâm can. Nhát kiếm của Mẹ đã kết liễu cuộc đời cư sĩ của tôi. Tôi được tái sinh trong đại gia đình áo nâu. Giờ đây tôi đang ngụp lặn nơi bến nước trong. Đúng là bến nước trong, vừa trong vừa mát.

Tôi đã đi trước em rồi đấy, con đường ấy lành và đẹp lắm. Đây là bàn tay tôi, khi nào cần xin em hãy nắm lấy.

Món quà Tăng thân

Chân Tịnh Hằng

Đã mười năm tôi không được tham dự Noel ở Làng. Tôi nhớ, mười năm trước mỗi khi đến mùa Noel, dù lạnh cách mấy tôi cũng thức dậy để sửa soạn cho cái ngày này, tuy không phải là tôn giáo của mình, Tôn giáo bạn. Nhưng mình đang ở trong xứ của các bạn, “Xứ trời Tây” (trong chúng xuất gia có rất nhiều thầy và sư cô người Tây phương), mình phải hội nhập và hòa đồng vào văn hóa của họ mới đem đạo Bụt dấn thân vào xã hội Tây phương.

noelTrong ngày này, Thầy trò chúng tôi chơi với nhau rất vui. Tôi có nhiều ấn tượng của ngày này, bao nhiêu trái tim của các sư chị, sư anh, sư em xích lại gần nhau hơn, quý mến nhau hơn. Mỗi người tự làm cho nhau những món quà, tự tay mình gói và thể hiện nhiều tình thương trong những món quà đó. Mình được bốc tên để tặng quà cho người đó, bất kể người đó là sư anh, sư chị hay các sư em của mình. Trong uy nghi có dạy: “Không được tặng quà cho người khác phái” (muốn tặng quà hay viết thư cho sư anh hay sư em của mình thì phải trình lên cho y chỉ sư mới được gởi đi). Nhưng mỗi năm chúng tôi đều tổ chức tặng quà cho nhau và lấy ngày Noel để tặng quà. Khi mình bốc trúng tên ai đó thì mình gói một món quà với tấm lòng trân quý sự có mặt của người đó trong tăng thân. Trong suốt thời gian gói quà, tôi đã thấy sự có mặt của niềm hạnh phúc rồi. Không biết người nhận có hạnh phúc hay không nhưng hạnh phúc trong tôi đang tròn đầy. Món quà đó, gọi là món quà tăng thân. Ngoài món quà được bốc tên, chúng tôi cũng thường hay gói quà thêm tặng cho những người khác trong chúng như Sư Ông, sư cô trụ trì hay một người bạn đồng tu mà có thể là người đã giúp mình đi ra những khó khăn, nhân tiện đó để mình tỏ lòng biết ơn của mình đối với người đó. Thỉnh thoảng dù không phải là ngày này, tôi cũng làm được những món quà với nội dung thực tập muốn truyền thông lại với một thầy hoặc sư cô hay một sư em. Tôi gói một gói quà thật xinh, thật thiền vị để tặng cho người đó. Tôi biết, có khi đương sự không biết món quà đó từ tôi, nhưng tôi thấy một hành động của mình đã hóa giải nội kết, không dễ thương ở trong mình, và khi nhìn người đó tự nhiên mình thấy có thiện cảm, và cái gọi không ưa đó nó dần dần được chuyển hóa, tình thương tự biểu hiện trong tâm thức rồi. Đó, món quà tăng thân là như vậy.

tình chị em ở Diệu TrạmTrở về lại Làng, tôi vẫn thấy không khí đó rất đẹp, biểu hiện trong từng mỗi sư anh, sư chị hay sư em của tôi. Mỗi năm chúng tôi được trở về Phương Khê (Phương Khê là nội viện chỉ dành cho chúng xuất sĩ) và Thầy trò chúng tôi đã có mặt trọn vẹn cho nhau trong ngày này. Ngày hôm trước, Thầy đã nói pháp thoại bằng tiếng Anh cho các thiền sinh Tây phương về dự Noel. Chúng tôi cũng tổ chức cho những vị cư sĩ tặng quà cho nhau. Những người mới đến thì có quà của tăng thân, những người ở lâu với mình cũng được bốc tên và tặng quà cho nhau. Họ hạnh phúc khi được về Làng trong dịp Giáng sinh và tết Tây. Năm nay thiền sinh về khoảng 800 người. Lần này về lại Làng, tôi thấy con của Sư Ông đông hơn. Trước đây, cả chúng sinh hoạt chỉ trong một thiền đường, bây chừ ngồi hai thiền đường mà vẫn không đủ chỗ. Tôi mơ Phương Khê có một thiền đường lớn có thể chứa được một ngàn tu sĩ (thầy Từ Giác hay nói để mượn cái gối mà mơ cái đã…). Nghĩ đến một thiền đường lớn như vậy tôi thấy vui vui vì mọi người được ngồi chung với nhau mà không ai lọt ra ngoài và khỏi nhìn Thầy qua màn hình. Tôi biết không chỉ riêng gì tôi mà tất cả mọi người đều có chung ước mơ này. Điều đầu tiên tôi thấy món quà lớn nhất khiến tôi cảm thấy hạnh phúc đang có trước mặt tôi, đó là chúng xuất sĩ bây chừ đông hơn. Món quà huynh đệ bên nhau. Ngày xưa lạc Long Quân và Âu Cơ chỉ sinh ra một bọc chỉ có 100 người con nhưng nhìn vào tăng thân mình thì… Ui! Thầy giàu có hơn Lạc Long Quân và Âu Cơ nhiều, chứng tỏ mình có sự tiếp nối của con Rồng cháu Tiên. Nhưng ở đây thì khác, rằng bọc trứng của Sư Ông nuôi lớn mỗi ngày bằng niệm, định và tuệ nên sinh con ra ai cũng dễ thương, dễ thương ngay khi còn trong trứng nước. Và khi sinh ra mới chỉ có một vài tuần mà biết nói chuyện rất vững vàng, tạo không khí an vui cho những ai tham dự vào dòng giống này, dòng giống áo nâu sòng.

Các xóm đều dâng quà lên Sư Ông, món quà nào cũng ý nghĩa, cũng ngập tràn tình thương. Tôi nghĩ, Sư Ông là một ông thầy tu hạnh phúc nhất mà tôi chưa thấy ai được như vậy. Tôi thường thấy đối với một số quý Ôn quý Sư bà, càng lớn thì người nhỏ ít lại gần hơn, tôi lớn lên ở Huế nên tôi thấy điều này rất rõ. Thật sự đôi lúc chúng tôi cũng muốn đến gần quý ngài để học hỏi nhưng không hiểu sao trong lòng lại có cảm giác sợ, sợ mình vụng về tạo ra lỗi gì đó rồi sợ bị quở, vậy nên không bao giờ chúng tôi dám tới để chia sẻ hay tự động nói ra một điều gì với các vị lớn. Nhưng với Sư Ông thì các đệ tử “bưng cả trái tim”, dù trái tim hạnh phúc hay trái tim khổ đau chúng tôi đều có thể chia sẻ cùng Thầy, chính vì vậy tôi mới nói Sư Ông là một ông thầy tu hạnh phúc nhất. Hạnh phúc vì được lắng nghe những hạnh phúc, khổ đau của đệ tử, chỉ cần lắng nghe thôi là đệ tử có khả năng được ôm ấp và trị liệu rồi. Có khi chỉ nhìn Thầy mỉm cười là bao nhiêu phiền lụy đã rụng rơi.

Có một bài hát Tịnh Thủy viết:

Nhìn thầy lòng thanh thoát
Nghe thầy hết đắm say
Ngồi bên thầy ấm áp
Buổi chiều qua không hay
Mê nghe kinh trọn kiếp
Ngộ chỉ một sát na
Gần thầy trong chốc lát
Thanh thản nẻo đi về.

Tôi thấy, ở trong tăng thân có nhiều sư anh, sư chị và sư em có khi khó khăn tưởng chừng như không vượt qua được, nhưng khi chia sẻ được cho Thầy, Thầy chỉ dạy một câu đơn giản thì đương sự đã vơi đi bao nhiêu khổ lụy rồi. Thầy tôi thật là tài. Tài ở đây là Thầy có nhiều năng lượng của bậc chân tu, làm cảm hóa được bao nhiêu trái tim bị tổn thương, năng lượng an ổn đó đã bao trùm lên những “vết sẹo” trong trái tim người đệ tử. Thầy tôi luôn có đó trong mỗi phút giây để chúng tôi có cơ hội trưởng thành.

Những món quà được dâng lên, xóm nào cũng nói lên công dụng của món quà, như là công phu tu học của các xóm để tỏ lòng tri ân đến Thầy.

Những món quà các xóm dành tặng cho nhau cũng chứa đựng bao nhiêu là tình thương và sự quan tâm. Các xóm ở gần nhau và sinh hoạt chung nên cũng hiểu được các xóm khác đang cần gì. Vì vậy xóm tặng quà, xóm nhận quà và quà được tặng rất có ý nghĩa và tiện ích để mình tiết kiệm được cho nhau. Người xuất sĩ lúc nào cũng phải biết sống đời sống tri túc mà, vậy đó.

Ngồi chơi với Thầy, tôi thấy Thầy tôi rất dễ thương. Các đệ tử mới xuất gia còn nhỏ nên khi chia sẻ đôi lúc còn vụng về. Nhưng Thầy lắng nghe rất hết lòng, giữ năng lượng hiền hòa khiến người chia sẻ cảm thấy gần gũi và đầy niềm tin. Cuối buổi ngồi chơi, vị nào chia sẻ chưa hay thì Thầy dạy lại để toàn chúng được học hỏi và ý thức hơn về cách trình bày của mình, Thầy luôn để thời gian và không gian cho đệ tử học hỏi và lớn lên.

Nhìn lại khoảng thời gian tôi xa Làng, ấy vậy mà đi vèo qua đã 10 năm. Có hôm đang ngồi tụng giới, tôi giật mình nhớ ra là tôi đã nhận giới Lớn được mười năm rồi. Ngồi nghĩ lại tôi tự hỏi với chính tôi là 10 năm qua mình đã làm gì? Công phu tu học của mình đến đâu? Có khả năng sống hòa hợp trong tăng thân không? Có vững chãi để tiếp nối con đường mà mình đã chọn không? Đã học được và hành trì giới đến đâu? Ui, bao nhiêu câu hỏi tự tôi kiểm lại mình trong suốt mười năm qua. Mười năm là khoảng thời gian nhiều lắm… Mình đã làm gì cho chính bản thân và cho đời mình…?

Được có cơ hội sống với tăng thân, tôi thấy tôi lớn khôn rất nhiều. Tôi học hỏi từ Thầy, từ các sư anh, sư chị, sư em và các bạn thiền sinh nhiều lắm. Con đường này đã giúp tôi nhiều trong công trình chuyển hóa. Tôi biết trong sự thực tập, tôi còn yếu kém vụng về, những vụng về đó tăng thân luôn ôm ấp nên tôi thấy mình có niềm tin hơn để tôi tiếp tục con đường chuyển hóa.

Khi một người trẻ phát tâm đi tu đã là một phước đức rồi. Vào tu có Thầy, có tăng thân để mình học hỏi lại thêm một phước đức nữa. Tăng thân luôn cho tôi những “món quà”, món quà mà khi mở ra khiến tôi ngập tràn hạnh phúc. Có rất nhiều “món quà” mà tôi biết mình cần có thêm thời gian để mở… Nhưng món quà nào tôi cũng tiếp nhận hết lòng bằng niềm thương yêu của tăng thân. Năm nay tôi lại may mắn có được một mùa Noel thật ấm áp bên Thầy và Tăng thân.

Đem chánh niệm vào ngân hàng thế giới

Chân Pháp Lưu
BBTChuyển ngữ từ tiếng Anh

“Chúng tôi rất mong được mời thầy và Sư Ông đến đây bất cứ lúc nào và tôi sẽ sắp xếp lại lịch trình đi xa của tôi để tôi có thể có mặt ở đây. Tôi sẽ liên lạc thêm với thầy sớm. Kính cảm ơn. Jim. Go Big Green!” Đó là mẩu tin tôi đọc thấy trong hộp điện thư vào ngày 11 tháng Giêng năm trước, nhắn từ tiến sĩ Jim Yong Kim, giám đốc của Hiệp Hội Ngân Hàng Thế Giới. Mẩu tin này đã là chất xúc tác cho chuyến viếng thăm đầy ấn tượng của Sư Ông và tăng thân Làng Mai đến trụ sở ngân hàng ở Washington, D.C. vào ngày 9 và 10 tháng 9 vừa qua.

Sự kết nối với ông Jim Kim được khởi đầu trong chuyến hoằng hóa Wake Up tại Mỹ do một nhóm các thầy và các sư cô trẻ cùng với con trở về ngôi trường cũ, đại học Dartmouth, có biệt hiệu là “Big Green” vì màu xanh của các cánh rừng quanh trường đại học. Lúc đó, ông Kim vẫn còn là chủ tịch trường và đã vui vẻ yểm trợ buổi sinh hoạt Wake Up ở đó dù ông đã không thể có mặt.

Vào mùa Xuân năm 2012, con đọc được một bài viết từ báo Đất Lành về sự kiện ông Kim được tổng thống Barack Obama đề cử vào chức vụ chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới. Trong một buổi phỏng vấn, ông ấy đã chia sẻ rằng quyển sách ưa thích nhất của ông là quyển Phép Lạ của Sự Tỉnh Thức do Sư Ông viết.

Bây giờ con đã hiểu vì sao ông Jim Kim yểm trợ buổi sinh hoạt tại đại học Dartmouth. Vài tuần sau ngày Quán niệm, ông ấy đã viết một lá thư rất hay để cảm ơn chúng con và đặc biệt là để cảm ơn món quà thư pháp của Sư Ông. Có lẽ nào chuyến viếng thăm của chúng con đã khiến ông ấy xem lại quyển sách kia, và rồi đã chia sẻ với quần chúng rằng ông thường đọc lại nó trong hơn hai mươi năm qua?

Con có cơ hội đọc một quyển sách với tựa đề Mountains Beyond Mountains tháng 11 năm đó và đã có nhiều cảm hứng khi biết về những công tác mà ông Jim Kim và ông Paul Farmer đã làm. Họ đã tìm cách cung cấp những dịch vụ sức khỏe tốt nhất cho tầng lớp người nghèo trên thế giới. Con cảm nhận rằng mình cũng nên đóng góp bằng một vài cách nào đó. Sau khi sửa chữa một vài lần lá thư con sắp gửi cho ông ấy, con đã nghĩ ra một điều: một ngày quán niệm cho nhân viên Ngân Hàng Thế Giới.

Con liền liên lạc với một người bạn học cũ đã từng làm việc tại ngân hàng này nhiều năm trước để dò ý. Anh ấy kể cho con nghe về những căng thẳng trong môi trường đó và anh ấy nghĩ rằng nhân viên ở đó sẽ được lợi lạc như thế nào với pháp môn thực tập chánh niệm. Đọc được trong sách cách ông Jim Kim xử lý một số những trường hợp khó khăn trong công việc của ông, con có thêm niềm tin rằng một buổi sinh hoạt tại Ngân Hàng Thế Giới dưới sự quản lý của ông sẽ trôi chảy và sẽ đem lại nhiều chuyển hóa cho các nhân viên ở đó. Con khởi sự viết lá thư ấy cho ông để đề nghị ý kiến trên. Cũng như lá thư xin tổ chức buổi sinh hoạt Wake Up tại đại học Dartmouth, chỉ trong vòng ba ngày chúng con nhận được hồi âm của ông mời Tăng thân đến.

Con đã thưa với Sư Ông về thư mời của Ngân Hàng Thế Giới và đồng thời cho Sư Ông tất cả những tài liệu in sẵn mà con tìm được về ông Jim Kim và về Ngân Hàng Thế Giới. Buổi sáng ngày quán niệm tại xóm Thượng, sau khi tụng kinh xong, Sư Ông cho gọi con đến và nói: “Thầy hoan hỷ để có ngày quán niệm tại Ngân Hàng Thế Giới. Con làm việc với các sư anh, sư chị để tổ chức đi.” Thật là một giây phút vui mừng làm sao! Cả hai vị, Sư Ông và ông Jim Kim đều đồng ý để tổ chức buổi sinh hoạt mà trước đây vài ngày chưa chắc chắn sẽ xảy ra.

Liền sau đó một nhóm bốn thầy và quý sư cô từ Mỹ hợp lại để giúp tổ chức: thầy Pháp Dung, sư cô Tùng Nghiêm, sư cô An Nghiêm và con. Chúng con đã điện thoại cho ông phụ tá chủ tịch, Nicolas Peltier (người gốc ở vùng Dordogne gần Làng Mai), và với hai cô Connie Eysenck và Suzanne Vallazza trong ban truyền thông của ngân hàng giúp chúng con chọn một ngày trong tháng 9 khi Sư Ông đang có mặt ở Mỹ, tại tu viện Bích Nham. Sẽ có hai ngày sinh hoạt: buổi hội thảo vào thứ Hai và ngày kế là một ngày quán niệm trọn vẹn. Mọi sinh hoạt đều dành cho nhân viên Ngân Hàng Thế Giới, cho nên mọi việc đều được làm trong sự kín đáo.

Những ngày trước đó, Sư Ông dạy con viết cho ông Kim và hỏi ông ấy về những khó khăn mà cộng đồng Ngân Hàng Thế Giới đang giải quyết. Sau khi nhận được các câu hỏi kể rõ những thử thách mà họ đang gặp phải, Sư Ông đã trả lời và những câu trả lời ấy đã làm nền tảng cho pháp thoại của Sư Ông trong buổi hội thảo ngày đầu tiên. Ngày quán niệm hôm sau được dành riêng cho sự thực tập.

Vào sáng thứ Hai, buổi hội thảo gồm có Sư Ông, tiến sĩ Kim, giáo sư Richard Davidson thuộc ngành Tâm lý học từ đại học tiểu bang Wisconsin ở Madison và bác sĩ Brian Davey, trưởng ban Chương trình chăm sóc sức khỏe nhân viên ngân hàng. Khoảng 400 nhân viên đến tham dự tại hội trường Atrium. Ông Kim, sau khi giải thích lý do của buổi họp mặt, đã giới thiệu các thành phần tham dự.

Giáo sư Richard Davidson đã chia sẻ về quá trình nghiên cứu trong cơ thể học và ảnh hưởng của thiền tập đến não bộ; rằng não bộ có khả năng thay đổi do sự huân tập rèn luyện. Chánh niệm có thể huấn luyện não bộ để tạo ra trạng thái an bình. Ông ta kết thúc với lời nhắn nhủ mọi người rằng sự nghiên cứu trên giúp cho chúng ta ý thức trách nhiệm cho sức khỏe tin thần của mình.

Tiếp theo đó, ông Kim mời Sư Ông bắt đầu. Sư Ông chia sẻ về Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội (TTNPSXH) vào năm 1963 ở Việt Nam, nơi mà Sư Ông, Sư cô Chân Không và các vị khác huấn luyện người trẻ đi về miền quê để giúp thay đổi tình trạng nghèo đói, làm tăng thêm sức khỏe và giúp giải quyết khó khăn trong các mối liên hệ. Vì làm việc trong môi trường chiến tranh, nhiều người đã bị giết chết. Họ không muốn đứng về phía nào cả, thay vì thế họ muốn hòa giải giữa hai phía. Các tác viên xã hội được huấn luyện theo tin thần chánh niệm. Quyển Phép Lạ của Sự Tỉnh Thức do Sư Ông viết đã từng là quyển cẩm nang giúp họ duy trì sức khỏe, tập trung tin thần và nuôi dưỡng ước nguyện của họ, để họ có đủ niềm vui hầu tiếp tục con đường phụng sự.

Sư Ông chia sẻ thêm về công việc của TTNPSXH, về hạnh phúc, tình thương, tình huynh đệ, tất cả đều có thể có mặt trong suốt thời gian phụng sự mặc dầu không có tiền bạc hoặc lương bổng. Các tác viên ấy học cách xử lý những cảm thọ khổ đau, những cảm xúc mạnh khi chúng biểu hiện. Họ cũng học cách chế tác sự hiểu biết, lấy đi tri giác sai lầm bằng cách sử dụng ái ngữ và phương pháp lắng nghe. Sư Ông kể về kinh nghiệm xây dựng tăng thân khi Sư Ông không còn được trở về Việt Nam; sau khi ra ngoại quốc kêu gọi hòa bình và việc chấm dứt chiến tranh. Lúc ấy Sư Ông đau khổ nhiều vì thấy mình như một con ong xa tổ. Sư Ông thực tập chánh niệm để trị liệu cho chính mình và bắt đầu việc xây dựng một tăng thân ngoài Việt Nam bằng những phương pháp thực tập thiền hành, thiền ăn cơm, thiền làm việc với nhau. Nếu không có sự thực tập, không có tăng thân thì Sư Ông đã không có cách để bảo hộ mình. Chúng ta cần một cộng đồng, một tăng thân để có thể thực hiện được ước mơ của mình và chúng ta có thể xây dựng tăng thân bằng cách bắt đầu với chính mình. Khi chúng ta có thể thở và bước đi trong chánh niệm, chúng ta sẽ có nhiều tự do; tự do đối với những hối tiếc, đau buồn của quá khứ; tự do đối với sự suy tư và tiếng nói thì thầm trong hiện tại; tự do đối với những kế hoạch, ngay cả kế hoạch cứu đói giảm nghèo; tự do đối với những nỗi lo toan, những bất an về tương lai. Nhờ vậy chúng ta tiếp xúc được với phút giây hiện tại, với Đất Mẹ, và với tất cả những mầu nhiệm của cuộc sống bên trong và xung quanh ta.

Ông Brian Davey chia sẻ khái niệm về sức khỏe trong Chương trình chăm sóc sức khỏe cho nhân viên. Ông nói rằng chúng ta có thể học phương pháp để tạo hạnh phúc và sự bình an. Một trong những khóa học phổ biến nhất trong chương trình trên là lớp thiền chánh niệm. Nhiều câu hỏi được các nhân viên tham dự nêu ra đều được Sư Ông trả lời thích đáng.

Sau buổi hội thảo, ông Kim đã gặp riêng Sư Ông tại văn phòng và sáng hôm sau ông ấy kể lại cho Sư Ông rằng ông đã áp dụng những điều Sư Ông chia sẻ ngày hôm trước; ông thấy mình đã nói chuyện một cách dễ thương hơn với vợ của ông. Sư Ông sau đó đã nói rằng tiến sĩ Kim là một học trò giỏi, biết áp dụng ngay những gì mình được học.

Ngày kế tiếp là một ngày quán niệm cho nhân viên Ngân Hàng và số người vượt hẳn số người tham dự buổi hội thảo. Họ có mặt từ 8 giờ 30 sáng đến 5 giờ chiều. Ông Kim và một số nhân viên chính cũng đã có mặt. Ngày quán niệm gồm có buổi pháp thoại của Sư Ông và phần câu hỏi trả lời. Sau đó cả nhóm được đi thiền hành bên ngoài vỉa hè thủ đô. Tại một địa điểm đẹp dưới bóng mát cạnh một bờ hồ lớn, Sư Ông mời đại chúng ngồi xuống và nghe chuông. Sau khi trở về lại hội trường, đại chúng dùng cơm trưa trong chánh niệm do sư cô Định Nghiêm hướng dẫn. Sự yên lặng của bữa ăn đã tạo ra một ảnh hưởng lớn cho hội trường này, nơi vốn dĩ luôn náo nhiệt. Vào buổi trưa có một thời thiền buông thư ngay trên ghế và thiền lạy do Sư cô Chân Không hướng dẫn. Sau đó là phần tặng quà lưu niệm cho ông Kim và ông ấy cũng tặng quà cho Sư Ông và Sư cô Chân Không. Chương trình cuối cùng là giờ câu hỏi trả lời với các vị Giáo thọ trong đó có thầy Pháp Đăng, sư cô Tuệ Nghiêm, sư cô Tùng Nghiêm và con.

Chiều hôm đó, các nhân viên đã tổ chức một buổi cơm tối bất ngờ cho các vị xuất sĩ và đã chia sẻ niềm biết ơn của họ. Con rất cảm động khi thấy được chỉ với sự thực tập đơn giản và niềm vui bình dị của Sư Ông và các thầy, các sư cô mà đã tạo được một ảnh hưởng hùng mạnh như thế.

Sáng hôm sau, tăng thân đáp máy bay về Boston, phần kế tiếp của chuyến đi.

Vài tháng sau, nhiều sự kiện đã phát triển tại Ngân Hàng Thế Giới. Ông Kim đã yểm trợ một nhóm nhân viên thực hiện một số đề nghị của Sư Ông và họ đã báo cáo cho chúng con biết dự án của họ. Trong đó có sự sắp xếp cho một địa điểm dùng cơm trong chánh niệm, quyền chọn lựa sử dụng chuông chánh niệm trong văn phòng và việc mời các Giáo thọ cư sĩ tại địa phương như chị Anh Hương và anh Mitchell Ratner đến để yểm trợ sự thực tập của các nhân viên. Cô Marie Shephard, một trong những người đặt câu hỏi trong buổi hội thảo đã tình nguyện giúp xây dựng một tăng thân tại Ngân Hàng.

Hai vị trong ban tổ chức, cô Connie và cô Suzanne, cho biết rằng họ đang sắp xếp để đem bạn bè và người thân về Làng Mai vào mùa Hè này.


Cuộc dạo chơi của ba

 

Chân Trung Hải

Cuộc dạo chơi Cả tuần rồi, trong tất cả những giờ thiền tọa, thiền hành với đại chúng chú đều không thể rời tâm khỏi hình ảnh của ba chú được. Chú không hề có chủ ý mời hình ảnh thân thương kia về trong những giờ quán chiếu ấy, thế nhưng không có buổi nào là hình ảnh ấy không mỉm cười rạng rỡ trong lòng chú. Không mời nghĩa là cũng không xua đuổi. Huống chi hình ảnh ấy là hình ảnh trìu mến và linh thiêng sâu kín trong lòng chú!

Từ khi đủ lớn để nhớ được những gì xảy ra quanh mình, chú chưa từng thấy ba mình bước đi hay là ngồi thẳng. Chú đã từng thấy ba mình ngồi trên xe lăn với hoặc là chú hoặc là em trai của chú trong lòng, nhưng ngồi, dù là trên ghế, thì chưa bao giờ. Vào tuổi của chú, ba chú đã phải nằm trên giường và ngồi trên xe lăn cho tới ngày ba nằm hẳn, 7 năm sau đó.

Những tuần này chú đã nếm được rất sâu duyệt lạc trong những giờ ngồi thiền với đại chúng, và hay thay, trong hầu hết những khoảnh khắc nhớ đến niềm hạnh phúc đang hiện hữu ấy chú đều nhận thấy nụ cười của ba nở tươi trên môi mình. Chú đã khá thuần thục với sự thực tập nương vào hơi thở để chấm dứt tầm từ. Có khi, chỉ cần vài hơi thở là chú đã có thể trở về trạng thái tĩnh lự rồi. Vọng niệm vẫn đến đấy thôi, nhưng ý thức về hơi thở một cách liên tục và vẹn toàn đã giúp chú mở tung vòng tay cho những vọng niệm ấy trôi qua nhẹ nhàng mà chẳng hề để lại bất cứ dấu vết nào. Duy trì tâm trong trạng thái ấy và chỉ nhận diện đơn thuần những gì đang đến, đang đi qua vòng tay tháo tung rộng mở kia đã cho chú những thời khắc nghỉ ngơi tuyệt hảo. Và cũng thế, trong những khoảnh khắc nghỉ ngơi tuyệt hảo ấy chú cũng thường nhận thấy nụ cười của ba nở tự lúc nào, bền bỉ, trên môi mình.

Sau vài lần như thế, chú bỗng nhận ra rằng ba mình đã từng muốn ngồi thẳng như mình lúc ấy một cách mãnh liệt đến chừng nào. 33 tuổi, 7 đứa con, nằm mãi trên giường nhìn mọi gánh nặng của cuộc đời dồn cả lên vai người vợ chỉ mới 32 tuổi, với tâm tư ấy làm sao một người cha, một người chồng có thể nằm yên mà nghỉ ngơi được! Trong những khoảnh khắc an tĩnh của mình, chú ý thức rõ ràng biết mấy sự buông thư của ba! Ngồi đó, ý thức từng nhịp đi vào ra chầm chậm an nhàn của hơi thở, chú lắng nghe những niềm đau và những nỗi hận của ba đang tan chảy ra, tháo tung ra, bốc hơi lên và tiếng cười sảng khoái hiếm hoi của ba vọng lên ngọt ngào từng hồi từ đáy sâu tâm thức đang cởi mở và tĩnh lặng của chú.

Ba không phải thở
Ba không phải ngồi

Để cho con thở
Để cho con ngồi.

Con đang thở nhẹ
Con đang ngồi yên

Ba được thở nhẹ
Ba được ngồi yên.

Bài kệ của Thầy được chú điều chỉnh lại như thế cho phù hợp với những khoảnh khắc phụ tử trùng phùng mầu nhiệm ấy.

Sau giờ thiền tọa nào cũng có một giờ kinh hành trước khi ngồi xuống để tụng kinh. Hai chân của ba chú đã teo lại, tuy là vẫn còn các cơ bắp nhưng nhão, không điều khiển được và hoàn toàn không có cảm giác. Các anh của chú thường thay nhau bóp chân cho Ba. Ngày đó, những bàn tay của chú hãy còn quá bé để có thể làm được điều ấy. Có lần, người ta cố ý lén dùng lửa đốt ngón chân của ba, để xem ba có cảm nhận được gì không. Và đương nhiên là ba vẫn nói cười tỉnh queo như thường. Và từ đó, trong lòng, niềm hy vọng thấy được ba mình đứng lên cũng liền tắt theo ngọn lửa vừa đốt chân ba. Ngón chân cái của ba chú bị cháy đen là do lần bị đốt ấy. Một chân vắt ngang bụng của ba, một tay ôm cổ ba, đầu nằm tựa trên tay ba, mắt chăm chú theo dõi những con chữ lạ lùng ba đang đọc, chú đã “đi” cùng ba qua biết bao giai đoạn lịch sử nước nhà, biết bao câu chuyện kiếm hiệp, biết bao cảnh quan cẩm tú của quê hương và những anh hùng danh nhân của đất nước… với những buổi đọc sách như thế.

Ba chú thích đọc sách, và thường đọc cho con nghe như là một cách ru con ngủ nếu như không hát. Ba chú cũng thường hát, nhạc xưa, buồn có, vui có, và đó là cách mà chú được ru vào những giấc ngủ. Nếu ba hát, chú thường ngủ rất nhanh. Nhưng nếu ba đọc, chú thường không ngủ ngay mà theo dõi từng chi tiết câu chuyện và từ từ chú còn biết ghép những lời ba đang đọc cho khớp với những dòng chữ trong sách. Trước khi đi mẫu giáo chú đã biết đọc và cũng như chuyện biết bơi, chú không thể nhớ ra là mình từng tập đọc như thế nào. Sau này, chú mới nhận ra là mình đã biết đọc nhờ những lần cùng “đi” với ba qua những cuốn sách, qua những câu chuyện như thế.

Mỗi bước đi trong thiền đường Thánh Mẫu Ma Gia là một nụ cười sáng tươi của ba nở im lặng trên môi chú. Rõ ràng là chú đang bước cho ba, nhưng chỉ cần một niệm tác ý, chú liền thấy ngay rằng ba đang bước cho chú. Ba đã không thể tự mình bước đi được nữa từ khi ba bằng tuổi chú lúc này. Ba chú là người mạnh khỏe, cường tráng và năng động. Những bước chạy bộ của chú qua cả chục cây số trong những giờ thể thao là thừa hưởng từ mầm sống khỏe mạnh của ba mình.

Chú thường không ghìm được nụ cười của chính mình mỗi khi ghép hình ảnh của ba vào những bước chân ý thức ấy của mình. Ban đầu, dáng đi của ba còn nghiêng nghiêng, chập chững, nhưng chỉ sau vài hơi thở trọn vẹn trong ý thức sáng tỏ của chú thì ba chú đã có thể bước ngay những bước tiếp theo với đầy đủ vững chãi, quyết liệt và thong dong. Chú cứ để cho ba bước như thế trong cả vòng kinh hành, tới khi tiếng khánh báo sắp dừng lại thì chú mới nhìn thẳng vào mắt ba mà cười rồi cầm tay ba mà hân hoan đi nốt những bước chân còn lại.

Nằm trên chiếc giường rộng, nhìn ra gốc khế chua ngoài sân qua khung cửa sổ có những chiếc song dọc, chắc chắn ba đã hơn một lần muốn vùng dậy khỏi chiếc giường ấy mà chạy ùa ra sân, để công kênh hai đứa nhóc bửu bối nghịch ngợm của mình trên vai mà đi quanh xóm. Hai anh em chú thường chơi đùa ngay dưới cội khế già cạnh cửa sổ phòng ba. Ánh mắt ba cổ vũ những trò vui ngày xưa vẫn còn in đậm trên những bước ngoặt khó khăn chú đã đi qua, và ánh mắt ấy vẫn sẽ còn có mặt trong những bước ngoặt khó khăn khác đang chờ đón chú phía trước. Có ánh mắt ấy đi cùng, chú đâu còn sợ gì cô độc?

Ngày xưa, chú thường có cảm giác tủi thân khi thấy bạn bè tan học được ba đến đón ngay cổng trường, được ba công kênh trên vai, rồi vừa ngồi ngất ngưỡng trên cao ấy vừa vẫy chào bạn bè với đôi tay bận rộn cùng cây kem còn bốc khói mát. Bây giờ, với từng bước chân trên nền đá lạnh của thiền đường Thánh Mẫu Ma Gia, chú đã trả lại niềm hân hoan được tung tăng trên vai ba với cây cà rem mát ngọt trên tay của thằng bé ngày xưa về với đôi mắt của nó, đôi mắt đang nhắm hờ khi dừng lại trước tọa cụ của mình.

Ba không phải thở
Ba không phải đi

Để cho con thở
Để cho con đi.

Con đang thở nhẹ
Con đang dạo chơi

Ba được thở nhẹ
Ba được dạo chơi.

 

Và ước mơ của mạ

Sáng sớm hôm nay, sau giờ công phu với đại chúng chú đã ở lại thiền đường, ngồi thêm một lúc cho đến khi những anh em thực tập thiền lạy cá nhân đã rời thiền đường hết thì chú bắt đầu tụng kinh. Chú đã ở lại để thâu âm những bài kinh, bài tụng mới trong sách Nhật Tụng Thiền Môn 2012. Mạ chú muốn chú tụng thêm kinh cho mạ nghe. Được nghe con mình tụng kinh vẫn thích hơn là nghe một vị tôn đức nào khác tụng, mạ chú thường nói thế.

Từ khi xuất gia, chú vẫn giữ liên lạc thường xuyên với gia đình. Với các anh chị em của mình thì qua điện thư, nhưng mạ đâu có biết dùng điện thư cho nên điện thoại là phương tiện duy nhất chú có thể liên lạc với mạ. Mỗi lần nói chuyện như thế với ,ạ, chú đều ý thức là mình đang nuôi dưỡng một mầm Bồ đề cho tương lai. Từ mấy năm nay, Mạ chú đã chính thức phát nguyện kiếp sau sẽ làm người xuất sĩ, và lại còn ước muốn được xuất gia từ nhỏ. Tuổi của ,ạ đã không cho phép mạ xuất gia lúc này. (Đương nhiên đó chỉ là do mạ tự nghĩ như thế). Mạ chú tin vào kiếp sau, rằng sẽ có một “mạ” như thế được sinh ra trong hình thức một em bé và em bé ấy sẽ thừa hưởng những công quả của nó từ kiếp trước mà được xuất gia.

“Sinh phùng trung quốc
Trưởng ngộ minh sư
Chánh tín xuất gia
Đồng chơn nhập đạo.”

Sư Ông Làng Mai đã dịch như thế này:

“Kiếp sau xin được làm người
Sinh ra gặp Pháp sống đời chân tu
Dắt dìu nhờ bậc minh sư
Nương vào chánh tín hạnh từ xuất gia.”

Mạ chú, đã mấy năm nay, từng ngày đều nuôi dưỡng chí nguyện ấy. Một lần nói điện thoại, mạ đã kể cho chú nghe say sưa về cuốn Sám Pháp Địa Xúc, rằng nó hay như thế nào, và mạ chú thích nó như thế nào. Mạ chú biết đọc rất ít. Làm tính thì mạ rành hơn bởi vì từng phải buôn bán nuôi con. Đọc được là do ba đã dạy từ những năm đầu mạ về làm dâu nhà họ Nguyễn. Ba chú từng được đi học, nhưng đã về làng lấy người vợ được Ôn Nội chọn cho, và vợ là cô gái 18 tuổi ở ngay nhà bên cạnh. Cô gái trẻ ấy chưa từng được đến trường mà chỉ phụ mẹ việc nhà và buôn bán. Mạ kể rằng những năm trước khi được ba cưới về, mỗi ngày mạ phải gánh cá lên tận chợ Xép ở đường Ngô Đức Kế ngày nay để bán, sau đó mua những thứ cần thiết khác rồi gánh chúng về. Và đương nhiên đều là đi bộ. 18 cây số cho mỗi chặng đường!

Về với ba, mạ được học đọc. Nhưng chắc chắn là chỉ học cho biết đọc thôi bởi vì từ khi lớn lên, chú hiếm khi thấy mạ ở gần một cuốn sách, ngoại trừ những lần phải bọc sách cho anh em chú. Mà cũng phải thôi, một tay phải lo cho cả nhà 11 người từ chuyện ăn tới chuyện mặc, rồi còn cả chuyện nhà cửa học hành… làm gì mà mạ còn có thì giờ để đọc sách! Nhưng chú đâu biết rằng cuốn sách mạ đang đọc là cuốn sách sống động, một cuốn sách không ai có thể viết được. Một thiếu phụ 32 tuổi bị suyễn mãn tính, chưa từng tới trường, không có chuyên môn, mất chồng và phải thay chồng trả hiếu cho cha chồng, thay chồng nuôi dạy bảy đứa con của mình cộng thêm hai đứa cháu của chồng với lời hứa nặng như núi đó là cho các con học hành tới nơi tới chốn. Ai là người nghĩ rằng người thiếu phụ ấy có thể thành tựu tâm nguyện của mình một cách dễ dàng?

Những năm tám mấy chín mươi ấy, Việt Nam hãy còn nghèo khủng khiếp, nhất là ở miền quê. Chạy cơm đã khó, đàng này còn thêm áo quần, sách vở và tiền học cho cả 9 đứa cả con cả cháu, không biết bằng cách nào mà người thiếu phụ yếu đuối kia đã “đọc” xong cuốn sách ấy? Chú là người duy nhất không học hết bậc đại học trong 7 anh em, kể ra thì đó cũng là một phần chú có lỗi với Ba, bởi vì chú còn nhớ, ngồi bên ba, trước lúc ba mất, tất cả mọi người đều đã hứa với ba rằng sẽ học cho tới nơi tới chốn. Tới nơi tới chốn, theo cách hiểu lúc ấy là học ra đại học. Nhưng chú tin là ba không hề trách chú chỉ vì chuyện chú chưa từng lấy bằng đại học nào. Ba chắc chắn biết rõ là cho tới tận hôm nay, chú vẫn không ngừng được học mỗi ngày. Ngày em trai của chú xong đại học, mạ chú đã được hội phụ nữ tỉnh mời lên thành phố để tặng bằng khen “Người Phụ Nữ Có Thành Tích Nuôi Dạy Con Giỏi”, và mạ chú đã phải khó khăn lắm mới đọc trôi chảy cái nội dung viết bằng chữ đỏ to tướng trong cái khung hình trang trọng ấy! Người ta đâu có biết người đàn bà đang khiêm tốn rụt rè nhận giải thưởng giành cho bà mẹ giỏi dạy con kia chưa từng được tới trường!

Ở làng chú, chuyện một đứa con trong nhà học hết bậc đại học vào cái thời chưa có chiếc cầu bắt qua phá Tam Giang mênh mông nước ấy là chuyện có khi được cả họ ăn mừng. Thường, cả nhà phải đi làm chỉ để cho một người duy nhất được đi học. Nhà chú thì tất cả đều phải đi học, chỉ có một người được đi làm! Thời gian đó, cả nhà đã phải nhận thêm sự giúp đỡ của bà con họ hàng. Thấy mạ chú gánh vác quá nhiều, Ôn Nội chú tuy đã gần 80 mà vẫn còn theo đám thanh niên ra khơi đánh cá. Nhưng sức của Ôn đâu còn cường tráng như cái tuổi ba mươi? Chỉ sau một thời gian ngắn thôi rồi Ôn cũng đã phải ở nhà. Ở nhà, Ôn đan lưới, đan tre; Ôn trồng rau, trồng bí, trồng mướp… Hình ảnh Ôn quắc thước tươi cười ngồi đan lưới trước hiên nhà với cái bụng to và bộ râu dài trắng như cước nằm gọn trong tay một trong hai thằng Tèo là hình ảnh rất đẹp và linh thiêng trong lòng chú. Hai anh em chú ưa ngồi trong lòng Ôn, trong khi ôn làm việc, và vuốt râu, xoa bụng Ôn. Đó là “việc” mà anh em chú có thể “phụ” gia đình được! Cho tới bây giờ, mỗi lần nghĩ về những năm tháng ấy chú vẫn không tài nào mường tượng được bằng thứ sức mạnh nào mà mạ chú đã có thể đi qua!

Ngày mạ nói với chú rằng mạ đã phát nguyện xuất gia, chú thấy trong lòng vui lạ. Chẳng phải là do chú sẽ có thêm được một sư em mà vui. Vui là bởi chú ý thức được rằng đó chính là lúc mạ chú buông xuống được hết cả mấy mươi năm lo toan xuôi ngược, vui là vì đó chính là lúc Mạ chú buông xuống hết được tất cả những nỗi khổ nhục, buồn đau.

Từ sau ngày ấy, mạ chú bắt đầu thực tập địa xúc. “Địa xúc là pháp môn bao hàm tất cả các pháp môn, là giáo lý ôm hết tất cả các giáo lý, là công hạnh gồm thâu tất cả các công hạnh.” Chú đã hùng hồn nói với mạ như thế ngày chú khuyến khích mạ hành trì pháp môn ấy. Mạ chú đọc rất chậm, mỗi ngày chỉ đọc được một hay hai đoạn mà thôi. Và ngày nào cũng đọc thêm một hay hai đoạn nữa. Mới đây thôi, mạ nói với chú rằng mạ đã thực tập được hơn nửa cuốn rồi và mạ rất thích thú. Chắc bây giờ thì mạ đã trở lại thực tập từ đầu như chú đã khuyên: “Hết rồi thì bắt đầu trở lại”.

Mạ chú, từ lúc phát tâm xuất gia ấy đã luôn luôn mong muốn những gì mình đang làm hằng ngày sẽ bồi đắp cho nếp sống xuất gia sau này, dù là ở kiếp sau. Kiếp mệnh, tuy chẳng phải là giáo lý đệ nhất nghĩa nhưng trong trường hợp này thì nó “Phật pháp” không thua gì đệ nhất nghĩa! Trong cách ăn mặc, trong cách nói năng, trong cách tiếp xử với con cháu họ hàng và trong cả cách sống hằng ngày, mạ chú đang thực tập để có thể sẵn sàng cho đời sống xuất gia vào kiếp sau. Và điều ấy làm cho Mạ có một nguồn vui sống mới sau khi đã hoàn thành ý nguyện của chồng, sau khi đã thấy các con mình rồi các cháu của mình trưởng thành, lớn khôn, học hành tới nơi tới chốn.

Mạ chú không biết nhiều Phật pháp. Trong những câu chuyện với Mạ, nếu không phải là những niềm vui khi đi chùa cúng dường, khi đi làm từ thiện, khi làm việc trong vườn thì cũng chỉ là niềm vui khi thực tập địa xúc hay đi dạo mỗi sáng chiều ra biển mà thôi. Tuy vậy, chú lại không thể nói hết được Phật pháp qua cuộc đời của mạ.

Cái chí nguyện xuất trần thật lạ! Nó chẳng những thay đổi cách nhận thức, cách yêu thương, cách sống và cách phụng sự cuộc đời nơi một người thanh niên trẻ mà nó còn có thể làm cho những điều đẹp đẽ ấy trong lòng một bà cụ hồi sinh.

Sự tái sinh mầu nhiệm

Tâm Hương

“… Hạnh phúc đây rồi tìm đâu nữa
Trở về thôi, bước những bước trở về”

hình vẽ - rõ mặt“Cha mẹ sinh con trời sinh tính”. Tâm Hương đã phải chấp nhận số phận tủi nhục của mình như một sự thật hiển nhiên mà ông trời đã đổ xuống một thân hình nhỏ bé là cô? Ngay từ những ngày cô bé ý thức về cuộc sống, em đã mang trong mình nỗi đau cùng cực mà không biết chia sẻ cùng ai. Cô bé đau khổ nhiều lắm. Có thể ban đầu đó là tình thương người đó dành cho em, Tâm Hương nghĩ vậy nhưng lớn hơn em cảm thấy ghê sợ mỗi lần thấy thủ phạm, cô bé đau khổ và muốn trả thù nhưng cô bé không biết phải làm thế nào: “Giết chết ông ta sao?” Không thể, bởi ông ta cũng là người em thương mà, vậy thì làm gì hơn ngoài im lặng trong tận cùng đau khổ. Tâm Hương nghĩ đến cái chết, chắc hẳn đó là giải pháp tốt nhất cho tự thân nhưng đối diện với cái chết cô bé không làm được, cô bé còn có mẹ, người mà em hết mực thương quý, cô bé không muốn xa mẹ và càng không muốn làm mẹ khổ. Tâm Hương đã không nói cho mẹ nghe nỗi đau trong lòng mình bởi Tâm Hương sợ làm mẹ đau khổ thêm, mẹ khổ vậy đủ rồi. Năm tháng cứ qua đi, Tâm Hương sống trong khổ đau, tủi nhục. Cô bé khiếp sợ nhiều lắm, cô bé sợ mọi người, sợ sự im lặng khi đêm về, sợ một mình trong căn nhà… và nhất là sợ chính bản thân mình, một thân hình dơ bẩn mà mỗi ngày em phải cố gắng che đậy bằng lớp áo quần sặc sỡ sắc màu, một sự che đậy giả tạo mà chắc hẳn chẳng ai biết điều đó ngoại trừ Tâm Hương và thủ phạm. Bên ngoài cô bé cũng giống bất cứ một cô gái cùng tuổi nào, có khác chăng thì em có khuôn mặt dễ thương và trầm lặng hơn với thêm một chút “mít ướt” thôi. Tâm Hương phải sống cuộc sống giả tạo như thế, em đã cố gắng sống vì cái gì vậy? Mẹ, đó là niềm động lực duy nhất, em phải chấp nhận cuộc sống của chính mình như một định mệnh mà Thượng đế đã “ban tặng” cho em. Thương mẹ, Tâm Hương cố tìm cho mình một lối thoát nhưng trước vết thương của tự thân, cô bé thấy tuyệt vọng vô cùng tận, lòng cô bé chứa đầy thù hận, em oán trách và căm giận những ai đã cho em có mặt trên cuộc đời để rồi bao tủi hờn đổ ập xuống thân hình nhỏ bé, mong manh này. Tâm Hương quyết định tự vẫn để hết khổ, đã quá đủ với em sau mười mấy năm phải sống, phải chịu đựng. May mắn cho em, đứng trước lưỡi hái của tử thần ông trời đã không nhắm mắt khi em được gặp một vị Thầy, chắc hẳn vị Thầy đó đã có mặt bên cô bé từ lâu.

“Để có một tương lai” với Tâm Hương thì tương lai có khác gì hiện tại và quá khứ đâu, nó chỉ là một màu đen còn hơn “đêm ba mươi của Chị Dậu trong tác phẩm Tắt Đèn của Ngô Tất Tố” bởi vết thương trong lòng đã bao trùm tất cả, không cho em tiếp xúc được với hiện tại mầu nhiệm. Nhưng trân kính và nghe lời Thầy, Tâm Hương cũng thử đi tìm tương lai trong khóa tu ấy. Một điều kỳ lạ đã đến với cô bé khi em hòa mình vào những thời khóa cùng các bạn trẻ khác, có tới cả ngàn người trẻ tham dự khóa tu này và có nhiều những vị tu sĩ trẻ khiến em tự hỏi: “Ở đây có gì mà hấp dẫn người trẻ đến vậy?” Ngộ chưa, Tâm Hương được hướng dẫn thở, cười, đi, đứng, nằm, ngồi… trong những buổi pháp thoại, pháp đàm, những điều mà với cô bé nó đã hiển nhiên tự bao giờ mà chưa khi nào em tiếp xúc được. Vì thế nên trong suốt khóa tu Tâm Hương chỉ im lặng để có thể tiếp nhận những gì mà những người áo nâu kia chia sẻ.

Trong một buổi pháp thoại, cô bé được nghe vị Thầy dạy về sự trao truyền và tiếp nối. Vị Thầy chia sẻ: “Nhìn vào đôi bàn tay mình chúng ta thấy có cha mẹ, có ông bà tổ tiên…” Tâm Hương đã khóc khi vị Thầy chạm vào nỗi khổ niềm đau trong lòng em, làm sao em có thể chấp nhận được trong em có người đó? Không thể như thế được, không thể có. Cô bé ngồi đó đấu tranh với một sự thật phũ phàng mà Thầy dạy. Nhưng nhờ năng lượng của mọi người trong buổi giảng giúp cô bé dừng lại cảm xúc dâng trào, trở về em nhớ đến hơi thở và lời dạy: “Thở vào, tôi biết em đang có mặt đó. Thở ra, chào em nỗi khổ niềm đau ơi! Tôi đang có mặt cho em đây!” Phép lạ của hơi thở cho em dừng lại cơn bão nơi tự thân, em thôi không khóc nữa, ngồi cho ngay ngắn để tiếp tục nghe pháp. Những ngày sau đó Tâm Hương nương vào đại chúng để thực tập nhận diện em bé tuổi thơ. Ngồi thiền, đi thiền là cơ hội giúp cô bé nhìn sâu để thấy những khổ đau, thấy những nguyên nhân để rồi áp dụng những lời dạy giúp em thoát khỏi ngục tù đau khổ. Em mời mẹ, người em thương nhất cùng có mặt để yểm trợ em, sau đó em mời người đã làm em khổ.

Khóa tu kết thúc sau 4 ngày sinh hoạt nhưng chính từ khóa tu ấy đã mở ra cho Tâm Hương cánh cửa màu hồng, em tìm thấy cho mình một con đường, cô bé quyết định đi tu dù biết đó là điều không dễ. Tâm Hương phải vượt qua sự cản ngăn từ gia đình bởi nhận thức còn phong kiến về người tu trong gia đình em lớn lắm. Ba của em hỏi: “Tại sao con lại đi tu? Ba mẹ có bỏ đói con ngày nào đâu, tại sao con lại trốn tránh trách nhiệm với gia đình, xã hội để an phận, nuôi cho khôn lớn rồi bỏ nhà đi tìm hạnh phúc riêng?” Mẹ của em thì nói: “Con ơi! đi tu khổ lắm, tại sao con lại muốn tu như thế? Bố mẹ đủ sức để nuôi con mà…” Rồi hàng xóm vào ra những lời dị nghị: “Gia đình này sao thế, có con mà không nuôi được, không dạy được, nó bị thất tình hả?” Biết bao câu hỏi áp lực đến với Tâm Hương nhưng cô bé chỉ biết im lặng, làm sao giải thích hết cho mọi người hiểu những gì ở nơi em đã có, làm sao em có thể nói: “Con đau khổ, con đã bị làm ô nhiễm. Con muốn thoát khổ và con đường xuất gia tu học là con đường duy nhất giúp con tìm thấy hạnh phúc… ” Cô bé chỉ có thể im lặng, tự khẳng định với bản thân về con đường tương lai ấy.

Trốn nhà đi tu, cô bé đã tìm mọi cách để được tới với tăng thân, nơi mà em biết chắc sẽ giúp em chuyển hóa được khổ đau, hận thù trong em. Chỉ có con đường thực tập này mới đem lại cho cô bé hạnh phúc thật sự và rồi em sẽ dâng món quà ấy tặng mẹ, tặng những người em mang ơn và tặng cả người kia nữa. Sống trong môi trường tốt, được gần gũi bạn lành, Tâm Hương mỗi ngày trở nên vui vẻ và hạnh phúc hơn. Mỗi sáng thức dậy em đã mỉm cười được thay cho những giọt nước mắt khổ đau trước đây, em mở lòng đến chơi và chia sẻ với những người bạn đồng tu để được cảm thông, thương yêu và nâng đỡ, để dần dần chuyển hóa. Được Thầy cùng đại chúng đồng ý cho Tâm Hương được trở thành sư cô, em hạnh phúc lắm khi biết mình được hòa vào dòng sông tăng thân. Nhờ có Thầy cùng quý sư anh, sư chị, sư em thương yêu chỉ bảo, mỗi ngày sư cô trẻ chuyển hóa dần vết thương trong tự thân. Sư cô đã thấy được người làm mình khổ thì họ cũng khổ, họ cũng chỉ là nạn nhân của sự mê mờ. Sư cô nhớ tới trong một buổi vấn đáp có hai câu hỏi được đặt ra từ trái tim như sau:

Con kính bạch Thầy! Thầy dạy chúng con nhìn sâu để hiểu và thương được người đã gây ra cho mình đau khổ, nhưng trước những nỗi khổ niềm đau nơi tự thân con lại không thể thương được chính con. Xin Thầy dạy cho con biết con phải làm sao để có thể chấp nhận và thương được chính bản thân? Làm sao con lấy niềm vui của người khác làm niềm vui cho con và con phải thực tập như thể nào để giúp người kia thấy và dừng lại những hành động xấu xa ấy?

Xin Thầy từ bi hoan hỷ soi sáng cho con. Con rất muốn tu và nguyện theo tăng thân suốt đời nhưng vì trong quá khứ con có những niềm đau, tâm hận thù, ước muốn trả thù và trừng phạt họ cũng như lối tư duy tiêu cực mà con đang dần đánh mất Bồ đề tâm trong con, không còn gì có thể cho con cảm thấy vui. Xin Thầy giúp cho con?

Và Thầy đã chia sẻ:

“Mình có cảm tưởng là mình đánh mất sự ngây thơ, trong trắng của mình, cho nên mình khổ. Theo nguyên tắc, mình có thể tha thứ và thương yêu người đã gây vết thương cho mình, nhưng nhìn vào bản thân, mình thấy mình không được trinh tuyền, trong trắng như những người khác, mình cảm thấy tủi hổ. Do đó dẫu biết rằng cuộc đời có những mầu nhiệm bên trong và bên ngoài mình cũng không tiếp xúc được, trong đời sống hàng ngày mình không có niềm vui.

Đức Thế Tôn dạy những phương pháp rất cụ thể để mình có thể thoát khỏi tình trạng mặc cảm này. Ở thủ đô Bangkok có những cô gái con nhà lành giàu có, mỗi sáng đi học mặc những chiếc áo rất đẹp. Nhìn bên ngoài bên trong rất trong trắng hồn nhiên, những người đó chưa bao giờ bị những vết thương do sự lạm dụng, ức hiếp. Nhưng ở Bangkok cũng có những cô gái từ nhà quê lên để làm gái giang hồ. Có những mụ Tú Bà đi kiếm những cô gái nghèo dụ dỗ lên thành phố và nói rằng: “Con lên thành phố chỉ nội trong vài tháng là con có thể gởi tiền về cho bố mẹ…”. Những cô gái nghèo đó tin theo các mụ Tú Bà lên thành phố. Mới lên Tú Bà cho liền 100, 200 ngàn bath để gởi về nhà, thành ra cô gái rất hạnh phúc, nhưng từ từ Tú Bà đưa cô gái đi vào thanh lâu để làm nghề rước khách. Cô gái không có cách nào thoát ra khỏi bởi cái lưới mà mụ giăng ra rất nhặt… Tú Bà có mặt ở Bangkok, ở Paris, ở Sài Gòn, Hà Nội, ở khắp mọi nơi và những cô gái quê nghèo bị lọt lưới rất nhiều.

Bữa đó có một em bé 16 tuổi, nạn nhân của Tú Bà đi trên đường đại lộ Bangkok và thấy đoàn nữ sinh tươi như những chú chim ca hót, cô bé cảm thấy tủi thân và có cảm tưởng mình là ô uế, tội lỗi… mình oán trời, trách đất. Tại sao các vị tiểu thư đó trong sáng, trinh tuyền, an ninh như vậy còn mình lại sa vào vũng lầy tội lỗi? Ai có thể giúp được cô gái ấy thoát khỏi mặc cảm lem luốc kia? Cố nhiên có những người tìm cách phá tung những tấm lưới để giải thoát cho những cô gái được hoàn lương. Nhưng dẫu cô gái có may mắn được cứu thoát thì vẫn mặc cảm vì mình đã đi ngang qua giai đoạn khổ đau đó, mặc cảm có thể đi theo suốt đời làm cho cô gái không có niềm vui. Đức Quan Thế Âm có khả năng giúp mình, đức Bồ Tát nói rằng:“Này con! Đoàn nữ sinh kia trong trắng, thơ ngây, sở dĩ được như vậy là nhờ những đứa như con”. Trong xã hội có bùn, có sen, có những thành phần phải đóng vai bùn để làm nên sen. Có những nhà chính trị, nhà giáo dục, kinh tế… họ chưa để ý đến những em bé như con. Họ chỉ lo tranh đấu đâu đâu. Vì vậy cái lỗi này không phải là lỗi ở con. Con đừng tưởng con là người duy nhất phải chịu trách nhiệm về vết thương của con, vì những người đó không có mặt cho con, họ không bảo vệ con, nên bây giờ con lâm vào tình trạng này. Đó là lỗi của tất cả những người trong nước. Sở dĩ bọn kia được trong trắng, thơ ngây là nhờ được nuôi dưỡng bởi lao động cực khổ của những người như con, con tượng trưng cho bùn và những đứa đó tượng trưng cho sen. Trên thực tế những bông sen nếu không được nuôi dưỡng thì nó sẽ trở thành bùn. Còn nếu con biết phương pháp thực tập thì con sẽ trở thành một bông sen, vì trên nguyên tắc: “Không có gì dơ không có gì sạch, bất cấu bất tịnh”. Và chìa khóa của sự giải thoát nằm trong Tâm Kinh Bát Nhã, nếu mình thiền quán thấy được bùn và sen tương tức thì mình vượt thoát mặc cảm về bùn và mình biết chính mình có thể tạo ra sen, chính những người đi qua khổ đau mới có khả năng hiểu và thương.

Thầy cũng vậy! Thầy đi qua nhiều cuộc chiến tranh, nhiều cuộc đàn áp… cho nên thầy có cơ hội chế tác lòng từ bi. Nếu thầy không nhận những bùn đó thì bây giờ thầy không có đóa sen này để cho quý vị. Nên thầy không có mặc cảm mình đã bị lấm bùn. Bây giờ con cũng vậy, con phải coi chuyện lấm bùn của con là cơ hội tốt để con phát ra được tâm hiểu và thương, phát ra được chí nguyện giữ giới và bảo hộ cho những đứa trẻ. Khi mình có năng lượng của giới, của tuệ thì mình bắt đầu có sự trị liệu ở trong lòng về những mặc cảm, về tư duy nhị nguyên bùn và sen là hai cái khác nhau. Mình sẽ biết trong bùn có sen, trong sen có bùn. Mình thấy trong mình có một đóa sen rất đẹp. Khi con thấy đóa sen trong con, con thoát ra được cái mặc cảm đó và con trở thành đệ tử giỏi của Bồ Tát Quán Thế Âm.

Này Xá Lợi Phất: “không có gì sạch không có gì dơ”. Đó là phán quyết của tuệ giác Phật giáo, chỉ có tuệ giác đó mới giúp mình thoát khổ. Ngoài tuệ giác đó không ai có thể giúp mình ra khỏi vũng lầy của mặc cảm ô uế, xấu xa.

Có một khía cạnh nữa của vấn đề: “quá khứ nó ám ảnh”. Trong ta có A lại gia thức, nó chứa chất những kỷ niệm về quá khứ, những cuốn phim đau thương. Quá khứ vẫn còn ở đó và mỗi ngày nó tự động chiếu lên những giây phút mình bị lạm dụng, bị tức tưởi, bị đàn áp. Mình bị kéo trở lại sống trong ngục tù quá khứ và đó là trường hợp của rất nhiều người. Vì vậy trong giáo pháp của đạo Bụt có một pháp môn thực tập để giúp phá tan địa ngục cho chúng ta thoát ra đi về thế giới của hiện tại, tương lai: Đó là chánh niệm. Chánh niệm là năng lượng đưa mình trở về hiện tại. Người đó đang ngồi với mình trong không khí vui quá chừng mà người đó không tận hưởng được mà người đó cứ chìm đắm trong quá khứ. Sự thật thì giây phút khổ đau đã qua rồi, từ hồi mình còn ấu thơ. Quá khứ đã không còn nhưng mình vẫn tiếp tục trở về quá khứ để sống với giây phút đó.

Ví dụ có một bữa mình bị tát một cái, cái tát đó làm cho mình tủi nhục. Hình ảnh ấy ghi vào chiều sâu của tàng thức và mỗi khi mình nghĩ tới là mình lại bị tát lại, mình cứ bị tát hoài hoài trong khi sự thật mình chỉ bị tát một lần. Tu tập chánh niệm để nhắc mình cái đó đã thuộc về quá khứ, trong hiện tại nó không có xảy ra. Đó là giác ngộ. Thành ra trong mình có một cô bé bị thương, bị nhốt trong quá khứ. Khi mình thực tập ngồi thiền, đi thiền… mình đưa tay kéo em bé đó ra, mình nói với em bé: “Này em bé ơi! Tôi biết em rất đau khổ. Ngày nào, đêm nào em cũng sống trong kỷ niệm đau thương ấy. Nhưng em nên nhớ rằng chúng ta đã trở thành những chàng thanh niên, những cô thiếu nữ. Đừng có ngồi ở trong quá khứ, quá khứ đã qua rồi. Em hãy cầm lấy tay tôi, chúng ta cùng rong chơi trong giây phút hiện tại, hiện tại mầu nhiệm vô cùng”. Mình có đủ khả năng tự bảo vệ, không ai ép mình được nữa. Mình không phải là chú bé hay cô bé nữa, đó là sự thật.

Mình phải nói chuyện với em bé, cầm tay đưa em ra khỏi quá khứ để sống với hiện tại. Mời em bé đi thiền hành với mình, vuốt ve bông hoa, ngắm bầu trời xanh… Một thời gian thì em bé sẽ được giải thoát. Sự thực tập hàng ngày là như vậy, với thời gian vết thương sẽ được chữa lành. Trong đạo Bụt có rất nhiều yếu tố để giúp mình và cái tuyệt vời nhất là tuệ giác bất nhị: bùn và sen không tách rời nhau, bùn làm ra sen. Mình có thể trong sáng và còn trong sáng, đẹp đẽ hơn những cô thiếu nữ con nhà lành kia, mình vĩnh viễn thoát ly được đau khổ nếu mình thực tập cho đàng hoàng. An trú trong hiện tại, nương vào tăng thân để thực tập, nội trong vài tháng mình có thể thoát ra tình trạng đau thương đó và mình có được pháp lạc. Tại sao mình lại phải chìm đắm trong quá khứ?

Mình phải ngồi chơi với nhau và phải làm sao để giúp người đó đừng tiếp tục làm khổ cho những người khác. Nếu cần thì mình nhốt họ vào tù nhưng nhốt bằng tình thương. Mình phải làm việc với các nhà văn hóa, chính trị, các vị dân biểu… làm nên những đạo luật, phương tiện để bảo vệ trẻ em. Làm ra những phương thức để ngăn ngừa những người đó không tiếp tục gây tàn phá trong giới trẻ nữa và nếu cần mình để cho họ lấy công chuộc tội. Mình mời họ đi làm vườn, quét nhà… trong hai năm, ba năm để chuộc lỗi. Trong khi làm, mình dạy cho họ cách làm việc sao cho có hạnh phúc. Đặt họ vào môi trường để họ không tiếp tục tàn phá nữa. Điều đó được làm bằng tình thương, với tình thương chứ không phải bằng ý niệm muốn trừng phạt. Để làm được điều đó, một, hai cá nhân không đủ sức, chúng ta phải ngồi lại với nhau, với sự cộng tác của các nhà luật gia, nhà giáo dục. Đó là công việc của con tại vì con tu tập là để mở ra cho được một chân trời như vậy. Phải làm như thế nào để cho các em bé trong tương lai không bị khổ đau như mình…”

Nhớ lại những lời chia sẻ của Thầy, sư cô hiểu ra người đó đã không được trao truyền những cái hay, cái đẹp, người đó không biết thế nào là thương yêu, môi trường người đó sống không mấy tốt đẹp… Sư cô trẻ mỉm cười tha thứ khi thấy được nguyên nhân khổ đau là vì đâu. Sư cô nhận ra mình đang thật sự may mắn, sư cô hạnh phúc khi có được con đường đi sáng tươi này. Thương cho người làm khổ mình bởi họ chưa biết đến con đường mầu nhiệm. Một khoảng lặng trong sư cô khi sư cô nghĩ đến những bạn trẻ đang sống ngoài xã hội kia. Sư cô tự hỏi: Mình phải làm gì để cho các bạn trẻ ấy biết rằng trong cuộc sống này vẫn đang có một con đường thật sự có hạnh phúc, có tự do và có thương yêu. Sư cô trẻ nhớ tới lời dạy của Thầy “nhờ bùn mà có sen”.

Chính những bùn dơ ngày xưa đã giúp hoa sen nở ra nơi sư cô. Sư cô thấy rõ mình đã thực chứng “chuyển rác thành hoa” dưới sự nâng đỡ của Thầy cùng tăng thân và sư cô nhận ra được điều mầu nhiệm trong đời sống tu học khi sư cô mở cánh cửa lòng mình và thật sự trao gởi không chỉ hạnh phúc mà còn khổ đau của sư cô cho Thầy cùng Tăng thân ôm ấp. Đó là điều nhiều người biết nhưng không phải ai cũng cam đảm để thực hiện. Sư cô trẻ thấy mình không cần phải làm gì hơn ngoài tu học sao cho có hạnh phúc, bình an, chuyển hóa được tự thân là giúp người thoát khổ. Chẳng phải chúng ta được dạy “Tâm bình thế giới bình” đó sao? Sau những tháng năm tu học, bây giờ sư cô nhận thấy con đường lý tưởng của mình đang được mở rộng mỗi ngày và giờ đây lý tưởng của sư cô không chỉ ở nơi tự thân mà còn là phụng sự: “chuyển hóa và độ đời”. Sư cô thầm biết ơn Thầy cùng tăng thân thật nhiều, thật nhiều và thật nhiều.

Bạn thương mến!

Ngồi đây viết những dòng chia sẻ từ tận sâu thẳm trong lòng, mình  không hy vọng sẽ nhận được tình thương từ nơi bạn hay bất cứ nơi một người nào bởi với mình, tình thương đã luôn có mặt khi mình được Tái Sinh là một sư cô. Mình viết xuống đây mà lòng hạnh phúc và bình an đến lạ. Mình đã gọi đúng và thật tên nỗi khổ niềm đau trong tự thân. Còn bạn thì sao? Mình hy vọng trên bước đường mà bạn đang đi dù có thật nhiều chông gai, thử thách thì bạn cũng nhìn thấy bên lề đường có những bông hoa đang mỉm cười với bạn. Đừng nản lòng bạn nhé! Thầy và tăng thân cũng như bản thân mình đang có mặt cùng bạn đây, chúng ta cùng nắm tay nhau đi tới trên con đường hiểu biết và thương yêu bạn nhé!

Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Con có thêm ngày nữa để thương yêu.

Thiền sư Nhất Hạnh thăm World Bank

Hiệu Minh

Thien su Thich Nhat Hanh tham World BankCó lẽ Chủ tịch Jim Young Kim thấy nhân viên của World Bank (WB) đang bị sức ép thay đổi đè nặng lên vai nên đã đích thân mời Thiền sư Thích Nhất Hạnh tới thăm và nói chuyện. Anh Nguyễn Anh Tuấn, cựu Tổng Biên Tập của VietnamNet, hiện là Tổng Biên Tập Diễn đàn toàn cầu Boston, đã gọi điện nhắc nhở tôi tham dự vì ngài là một người Việt ở Làng Mai (Pháp) nổi tiếng khắp thế giới, tựa như Dalai Lama của Tây Tạng. Buổi nói chuyện kéo dài gần 2 tiếng, người dự đông nghịt, dù là đầu tuần. Ngày mai, Thiền sư sẽ có buổi giảng trực tiếp về thiền cho những người đăng ký. Theo thông báo của ban tổ chức, người muốn dự khá đông và chỗ thì có hạn. Nhân viên phải xin phép nghỉ trọn một ngày để nghe giảng và thực tập về thiền. Đi theo Thiền sư, tăng đoàn Làng Mai có tới mấy chục thành viên từ khắp thế giới, từ Pháp, Việt Nam, New York, California… Lần đầu mình thấy người phương Tây trong trang phục người xuất gia, chứng tỏ ảnh hưởng của Làng Mai trên thế giới khá lớn.

Trong lúc đợi, thấy một vị ngồi trên hàng ghế đầu, mình tiến tới làm quen. Không biết xưng hô nên cứ gọi là sư thầy và xưng con. Mãi sau mới biết đây là sư cô Chân Không. Tự giới thiệu và bắt chuyện một lúc, mình cũng nói, ngoài làm việc ở WB, còn là Blogger Hiệu Minh. Sư cô mỉm cười thân thiện, anh Nguyễn Anh Tuấn đã giới thiệu từ trước rồi. Mình cực kỳ lúng túng, chẳng biết xưng hô thế nào cho phải đạo, vì lần đầu tiếp xúc với người xuất gia. May quá, sư cô Chân Không giải thích cặn kẽ, người xuất gia có nhiều thứ bậc, khá phức tạp. Để cho tiện, Thiền sư Thích Nhất Hạnh được gọi là Sư Ông. Còn cô là nữ nên gọi là sư cô, chắc là tu khá lâu rồi. Sư cô Chân Không gọi mình là “em” nên thấy thoải mái hơn, bắt chuyện dễ dàng.

Sư cô Chân Không chia sẻ, mỗi người chúng ta đều có một phần tinh hoa của cha mẹ trong từng tế bào. Sự giỏi giang, tài ba không phải do người đó tự có mà do cha mẹ kết hợp mà thành. Có một anh rất giỏi toán, chỉ cần đưa ra ví dụ ngày 22-2-2014 thì anh có thể nói ngay đó là thứ Bảy. Đầu óc điện tử của anh không phải do anh tạo nên mà nhờ vào phần tinh túy của cha và mẹ, anh giỏi thì phải cảm ơn cha mẹ. Cái tên Chân Không, không có cái ta riêng biệt, một kiểu tu đã đắc đạo.

Thien su Thich Nhat Hanh tham World BankCó lẽ đến WB, một nơi chuyên xóa đói, giảm nghèo cho thế giới, nên Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã kể về thời thơ ấu của mình từng sống trong nghèo khó. Những năm 1960, chiến tranh liên miên, sống ở miền Trung, ngay cạnh vĩ tuyến 17 với nhiều bom đạn nhưng Sư Ông đã cùng Phật tử lo giúp người nghèo. Chuyện đơn giản như cái nhà vệ sinh cho nông dân cũng phải làm mẫu, giúp cho họ hiểu “công nghệ” rồi nhân rộng. Đôi khi, lớp học bắt đầu dưới gốc cây đầu làng. Trẻ em đến đông hơn, rồi bị mưa gió nên phải vào nhà tạm. Chờ đợi chính phủ chắc còn lâu nên các vị sư đi vận động đóng góp. Người góp cây tre, người góp vài gánh tranh, người góp công, người giàu hơn thì đóng tiền. Cứ như thế, việc làm từ thiện được nhân rộng. Muốn xóa đói giảm nghèo, ta hãy bắt đầu từ chính bản thân trước. Nội lực sẽ giúp cho người nghèo vượt lên.

Đôi lúc kể về những ngày đã qua, Thiền sư như lặng đi, hội trường im phắc khi nhắc đến chiến tranh, bom đạn và mất mát.

Sư Ông kể cuộc gặp Martin Luther King (MLK) trong một bữa sáng. Martin Luther King từng đề cử Thiền sư vào giải Nobel Hòa Bình. Cả hai trao đổi về cuộc chiến phi nghĩa và đồng ý cần có những bước đi nhằm thay đổi tư duy bom đạn bằng hòa bình. Rất tiếc, sau đó Martin Luther King bị ám sát, giấc mơ của hai người theo đuổi đấu tranh bất bạo động dang dở.

Tháng Tư năm 1965, đoàn sinh viên Vạn Hạnh, trường đại học do Sư Ông sáng lập, đưa ra thông điệp vì hòa bình: “Đã đến lúc hai miền Bắc – Nam của Việt Nam họp lại để tìm một giải pháp chấm dứt chiến tranh và đem lại cho mọi người Việt Nam cuộc sống hòa bình với lòng tôn trọng lẫn nhau.”

Phải 10 năm sau, với bao nhiêu máu đổ của cả hai bên, hòa bình mới có, nhưng di chứng sau gần 40 năm vẫn còn đó. Thiền sư có nhắc đến vụ tự thiêu của nhà sư Thích Quảng Đức tại Sài Gòn năm 1963. Sư Ông cho rằng đây là tín hiệu gửi cho cả thế giới, vì muốn mọi người hãy lắng nghe tâm tư của những người khốn khổ. Việc tự thiêu hoàn toàn không liên quan đến cổ vũ cho bạo lực.

Sau đó Thiền sư có nói về triết lý thiền. Có lẽ người đã đạt đến đỉnh cao về tu nhân tích đức nên có thể gói gọn trong vài câu đơn giản nhưng trở thành nổi tiếng. “Lắng nghe và thấu hiểu những đau khổ trong nội tâm sẽ giúp chúng ta giải quyết được hầu hết các vấn đề ta gặp phải. Muốn chữa lành cho người khác, trước tiên ta cần tự chữa lành cho chính mình. Để làm được điều đó, ta phải biết cách giải quyết những vấn đề của bản thân. Tuy nhiên, hầu hết mọi người không biết lắng nghe và thấu hiểu những nỗi khổ của chính mình.”

Thien su Thich Nhat Hanh tham World BankDo cuộc sống hiện đại với công nghệ thay đổi chóng mặt, thế hệ trẻ có xu hướng không muốn đối mặt với nguồn gốc của những khó khăn, thách thức, kể cả khổ đau mà lại tìm cách giải tỏa bằng vật chất. Sư Ông khuyên: “Suy nghĩ, lời nói và hành động của chúng ta là những điều gây ra sự tức giận, sợ hãi và nghi ngờ cho người khác. Bởi vậy, chúng ta không thể đổ lỗi cho họ mà nên sử dụng ngôn ngữ để hiểu nhau hơn, cũng không nên chỉ trích, buộc tội khi đang lắng nghe họ nói. Người mắc tội với ta thì bản thân họ đã tự chuốc lấy đau khổ vào người.” Có lẽ thế mà đúng thật. Tổng thống Assad từng gây tội ác chống dân tộc mình nên ông đang chuốc lấy hậu họa.

Một người nghe hỏi về công nghệ IT hiện có làm thay đổi cách truyền đạo thiền không? Thiền sư đùa vui, nói rằng dù dùng telephone lần cuối cách đây 30 năm và cho đến thời điểm này, cách truyền thông của người vẫn thấy ổn. Cả hội trường cười ồ.

Thiền sư biết làm cho người nghe không chán về đạo thiền, có vẻ rất mới tại WB. Có người hỏi làm sao tránh được stress, bị công việc thúc đẩy đúng hẹn. Dường như Thiền sư đã nắm chắc triết lý hạnh phúc là tại tâm, đỉnh cao là ước vọng khó mang tính định lượng, người ta chỉ có thể chọn một trong hai, hoặc hạnh phúc hoặc là số 1.

Sư Ông nhắc đến triết lý, hôm qua là quá khứ, không thể kéo lại được, ngày mai là tương lai chưa chắc chắn. Vì thế cuộc sống hiện tại mới quan trọng. Thiền sư nói có sở hữu chiếc đồng hồ không có số 1, số 2 cho đến số 12 như thường lệ, mà chỉ có chữ now, now, now (hiện tại) để nhắc nhở về thời ta đang sống. Người nghe thán phục sự uyên bác của diễn giả.

Sau này đọc thêm, tôi mới biết, Thiền sư hiện 87 tuổi, không thể tin vào mắt mình. Sư Ông rất nhanh nhẹn và uyên bác, nhà hoạt động toàn cầu về giáo phái thiền, được yêu mến và kính trọng trên khắp thế giới. Thiền sư từng đến Quốc hội Mỹ, Anh, Ấn độ, UNESCO và gần đây đã sang Hàn Quốc giảng về thiền, về hòa bình và chống chiến tranh. Theo ngài, các chính trị gia cần biết lắng nghe, hiểu Phật giáo thì sẽ biết hòa giải và yêu thương.

Mấy hôm trước, viết về hai người Hàn Quốc là Jim Young Kim, chủ tịch WB, và Ban Ki Mon, Tổng thư ký UN, tôi mơ người Việt tới WB nói chuyện và được người nghe chăm chú. Hôm nay, một phần của giấc mơ đã thành sự thực.

Tiếng Anh của Thiền sư trôi chảy, từ body language (ngôn ngữ cơ thể), đến nội dung chuyển tải rất rõ ràng, chẳng cần một chút giấy tờ. Mọi thứ cứ như tuôn như suối từ trong tim và khối óc của người nói. Thiền sư chia sẻ gần hai giờ mà người nghe vẫn muốn cuộc nói chuyện tiếp tục, đông người xếp hàng đợi hỏi nhưng thời gian có hạn nên đành thôi.

Nơi đây thường mời chính khách như Bill Clinton, Hillary Clinton, Tony Blair, Al Gore, Ban Ki Mon và nhiều nhà kinh tế, khoa học được giải Nobel… tới đàm đạo. Hôm nay Thiền sư xuất hiện, hẳn nhiều người Việt tại tổ chức quốc tế này cảm thấy tự hào.

Có một câu hỏi của đồng nghiệp đọng mãi trong tôi. Anh nói, sức mạnh mềm của Việt Nam là văn hóa thiền, còn tìm đâu xa. Tại sao ngài Thích Nhất Hạnh và Làng Mai, một cái tên thuần Việt, được cả thế giới ngưỡng mộ về kiến thức và kính trọng về nhân cách, lại ngụ cư ở nước Pháp xa xôi?

Quốc gia nào cũng có người xuất chúng. Vấn đề là sử dụng chất xám, sức mạnh mềm và nền văn hóa như thế nào trong phát triển. Lãnh đạo biết triết lý của đạo thiền, biết sống tại tâm, biết hướng tới Chân Không như vị sư nữ, biết tự hỏi mình như Thiền sư và các đồng môn Làng Mai, thì dân sẽ noi theo và đất nước đó sẽ vượt lên.

Bài và ảnh: HM. 9-9-2013
Nguồn: http://hieuminh.org

Google – Sự dừng lại đang diễn ra


Nằm ở thung lũng Silicon, Googleplex – trụ sở chính của Google là một nơi rất thú vị. Đó là một tổ hợp các tòa nhà với đủ kích cỡ và kiến trúc khác nhau. Nhìn các nhân viên của Google đi lại giữa các tòa nhà, trông họ có vẻ rất trẻ trung, thông minh và nghiêm túc. Thỉnh thoảng ta có thể bắt gặp hình ảnh một vài người đang lái những chiếc xe đạp dành riêng cho nhân viên Google với những sắc màu mang dấu ấn của Google, đó là các màu đỏ, vàng, xanh lục và xanh dương. Đây cũng là những tông màu chủ đạo của các tòa nhà ở Googleplex.

Trong khuôn viên chính của Googleplex có đặt mô hình bộ xương khủng long rất ấn tượng với những con chim hồng hạc (bằng nhựa) đang rỉa bộ xương đó. Ngoài ra, còn có một bể bơi nhỏ, một sân chơi bóng chuyền trên cát, những chiếc ghế võng (deckchair), và xung quanh khuôn viên là những loài cây sa mạc đặc trưng của vùng Thung lũng Silicon.

Khi đến Googleplex, ta nhận ra ngay đây là nơi có những con người đầy năng lượng sáng tạo, vui tươi – những con người hết lòng với công việc và với sự nghiệp của tập đoàn, đó là sự nghiệp “giúp mọi người có thể tiếp cận và sử dụng một cách hữu ích nguồn thông tin của thế giới”. Google nổi tiếng là một trong những tập đoàn sáng tạo hàng đầu thế giới – một môi trường làm việc đầy năng động, thách thức và vui tươi. Tuy vậy, đây cũng là nơi có nhiều nhân viên trẻ, đầy tài năng (độ tuổi trung bình khoảng 29) bị rơi vào tình trạng kiệt sức và phải rời công ty chỉ sau một vài năm làm việc.

Vì vậy mà Google đầu tư rất lớn vào việc chăm sóc “sức khỏe thể chất và tinh thần của nhân viên” (“employee well-being”). Tất cả đồ ăn thức uống (có đến 18 quầy bar mi-ni với thức uống miễn phí), dịch vụ thể dục thể thao, dịch vụ trông giữ trẻ tại nơi làm việc và nhiều dịch vụ khác nữa được phục vụ hoàn toàn miễn phí cho 10.000 nhân viên của Google.

Nếu hoàn thành tốt một dự án được giao, bạn sẽ được thưởng thẻ tín dụng massage (massage credits). Với thẻ này, bạn có thể đổi ra tiền nếu muốn, hoặc có thể buông thư và xạc lại năng lượng với “napping pod” – một chiếc giường được thiết kế đặc biệt, có tác dụng giúp cơ thể buông thư tối đa và phục hồi lại sức khỏe một cách mau chóng.

Tuy nhiên, tất cả chế độ đãi ngộ này vẫn không đủ khả năng cân bằng lại với áp lực làm việc căng thẳng ở Google. Giám đốc điều hành của tập đoàn này đã từng nói rằng thái độ làm việc của họ là “thách thức đối với những điều không thể” (“healthy disregard for the impossible”). Các nhân viên của Google có thể làm việc tới mức 16 giờ một ngày, phần lớn thời gian là gắn với màn hình máy tính. Vì vậy, dù cho đồ ăn thức uống và các dịch vụ đãi ngộ của Google có tốt đến đâu chăng nữa thì các nhân viên của tập đoàn này vẫn khổ đau như thường. Thường xuyên phải làm việc trong tình trạng căng thẳng và áp lực cao, họ bận rộn đến mức khó có thể chăm sóc tốt cho các mối quan hệ với đối tác, đồng nghiệp, cũng như có rất ít thời gian cho gia đình mình.

Chính vì tình trạng này mà các nhân viên của Google rất vui mừng khi biết Thầy đồng ý đến trụ sở của Google để hướng dẫn nửa ngày thực tập chánh niệm cho các nhân viên ở đây, nhân chuyến hoằng pháp của Thầy tại Bắc Mỹ năm 2011. Trên trang web của mình, Google tự hào thông báo rằng họ là tập đoàn đầu tiên ở Mỹ có cơ hội được đón tiếp Thiền sư Thích Nhất Hạnh – một thiền sư nổi tiếng thế giới đến hướng dẫn tu tập tại trụ sở chính của tập đoàn. Bài pháp thoại cũng như buổi vấn đáp với Thầy ngày hôm đó đã được Google để lên YouTube và có đến 230.000 lượt người xem.

Chuyến viếng thăm tháng 10 năm 2013 vừa qua là lần thứ hai Thầy đến trụ sở chính của Google. Lần này, họ xin tổ chức trọn vẹn một ngày chánh niệm, chứ không phải nửa ngày như trước đây. Hơn 700 nhân viên của Google đã đăng ký tham gia, vì vậy họ cần phải mở thêm hai phòng riêng ngoài khán phòng chính, nơi Thầy thuyết pháp. Pháp thoại được truyền trực tuyến và chiếu trên màn hình lớn trong hai phòng này. Ngoài ra, tại mỗi phòng đều có sự hiện diện của một số quý thầy, quý sư cô Làng Mai.

Ngồi trên xe bus đến Googleplex ngày hôm đó, trong lòng chúng tôi ai cũng cảm thấy hào hứng, phấn chấn. Ngày chánh niệm được bắt đầu với thời khóa thiền hành vào sáng sớm. Một vài người trong chúng tôi đã từng đến đây cùng với Thầy vào năm 2011. Nhắc lại lần đó, ai cũng nhớ đến không khí rất thoải mái, vui nhộn và sự cởi mở của các nhân viên Google khi tham dự nửa ngày chánh niệm với Thầy và Tăng đoàn Làng Mai.

google slideNgay tại sảnh chính của trụ sở Google, có thể nhìn thấy những từ khóa tìm kiếm trên Google (do những người sử dụng Google trên khắp thế giới truy cập ngay tại thời điểm đó)  được chiếu lên một bức tường và rơi xuống như một thác nước đang tuôn chảy. Tại một đại sảnh khác lại có một chiếc cầu trược hình xoắn ốc khổng lồ, để cho nhân viên trược từ tầng một xuống tầng trệt nếu không muốn dùng cầu thang bộ.

Tuy vậy, tâm trạng háo hức của chúng tôi khi đến Googleplex không phải chỉ vì muốn thăm trụ sở chính của tập đoàn nổi tiếng này, mà còn muốn tiếp xúc trực tiếp với các nhân viên của Google, những người trẻ thuộc thế hệ chúng tôi và cũng có nhiều thao thức và ước vọng như chúng tôi. Các kỹ sư phần mềm (hay “geeks” – những anh chàng “lập dị”- họ thích tự gọi mình như vậy), là những người rất sáng tạo, có tinh thần hợp tác trong công việc, có tinh thần khoa học và vì vậy thiền tập gợi cho họ sự tò mò giống như trong nghiên cứu khoa học.

Là những người muốn chinh phục khoa học công nghệ, cho nên họ cũng muốn chinh phục lĩnh vực tâm ý của mình. Nhiều kỹ sư ở đây có niềm tin sâu sắc rằng khoa học công nghệ có thể giúp mang lại những thay đổi tích cực cho thế giới này, tạo ra những cơ hội mới cho tất cả mọi người trên hành tinh không phân biệt quốc gia, chủng tộc và văn hóa. Vì vậy, mặc dù không nhuộm tóc xanh dương hay xanh lá cây hoặc mang những đôi giày thể thao với màu sắc sáng lóa như một số nhân viên của Google, chúng tôi – những người tu theo đạo Bụt – vẫn có thể hòa mình một cách nhanh chóng vào “chất thiền” (zen vibe) của Thung lũng Silicon.

Khẩu hiệu không chính thức của Google là “Không làm điều xấu ác!” (Don’t be evil). Mục đích hoạt động của tập đoàn là làm cho nguồn thông tin của thế giới trở nên dễ tiếp cận với mọi người và không làm điều xấu ác. Thế nhưng nguồn thông tin đó có giống với nguồn tuệ giác của đạo Bụt hay không?

Nếu ai đó hỏi chúng tôi – các thầy, các sư cô Làng Mai – về ước nguyện sâu sắc của mình thì chúng tôi sẽ trả lời rằng: ước nguyện của chúng tôi là làm điều thiện (tức là tưới tẩm những hạt giống tốt và giúp người khác bớt khổ), bằng cách làm cho những tuệ giác sâu sắc nhất của nhân loại có thể đến được với tất cả những ai đang khổ đau. Có thể thế giới này có rất nhiều thông tin, nhưng chúng ta dường như thiếu các công cụ, thiếu sự đào tạo và thiếu tuệ giác để giúp chúng ta bớt khổ. Thông tin, nếu quá nhiều, còn có thể là nguyên nhân gây khổ đau cho chúng ta.

Ngày chánh niệm tại Google bắt đầu bằng sự thực tập dừng lại. Với năng lượng nhẹ nhàng và tươi vui, Thầy chia sẻ với hàng trăm nhân viên của Google về pháp môn thiền hành, sau đó hướng dẫn họ đi thiền hành quanh khuôn viên của Googleplex (nhiều người đã đến từ rất sớm để tham gia buổi thiền hành này).

Đó là một buổi sớm mai thật yên lắng, khi những tòa nhà vẫn còn chìm trong màn sương sớm, mọi người hoàn toàn đi trong yên lặng, bước từng bước chân chánh niệm và cuối cùng tất cả đều ngồi yên bên Thầy trên một con đường lát đá. Nếu nhìn bên ngoài thì thấy hoàn toàn không có gì xảy ra, vậy mà nhìn cho kỹ thì mọi thứ đang diễn ra. Một sự dừng lại thực sự đang diễn ra. Một phép mầu đang diễn ra. Ngay tại trung tâm đầu não của Internet, một sự dừng lại đang diễn ra. Ngay tại đây đang có bình an, có sương mù, có nụ cười và những hơi thở yên lắng. Không có gì xảy ra, vậy mà mọi thứ lại đang diễn ra. Ta có thể cảm nhận được những nhân viên của Google đang tham dự 100%, có mặt 100% ngay tại đây, trong giờ phút này. Họ đã quá mệt mỏi vì công việc. Và giờ đây, họ đang tò mò khám phá. Họ biết là Thầy đang có những gì họ mong muốn, vì vậy mà họ háo hức được học và tự mình nếm được điều đó. Đó có phải là tuệ giác? Hay đó là hạnh phúc?

Trong một bài pháp thoại tại xóm Hạ, Làng Mai sau chuyến hoằng pháp Bắc Mỹ, Thầy có kể lại về buổi sáng hôm đó, những nhân viên của Google đã thực tập thiền hành thật hết lòng. “Họ thực tập rất giỏi”, Thầy nói mà không hề biết là trong thính chúng có một nhân viên của Google đang lắng nghe Thầy. Cô quyết định đến đây để tự mình “tìm hiểu” về Làng Mai. Cô cảm thấy tự hào và hạnh phúc khi nghe Thầy khen sự thực tập hết lòng của nhân viên Google. “Nhưng”, Thầy nói tiếp, “lý do khiến họ thực tập hết lòng như vậy là bởi vì họ có rất nhiều khổ đau”. Ngồi phía dưới lắng nghe, cô thầm nghĩ “Đúng, Thầy nói rất đúng. Thầy đã hiểu được điều đó. Thực sự chúng tôi có rất nhiều khổ đau. Và pháp môn thiền hành thực sự giúp chúng tôi rất nhiều.”

Sau giờ thiền hành, Thầy cho một bài pháp thoại và dành thời gian để các nhân viên Google đặt câu hỏi. Câu hỏi nào được đặt ra cũng là câu hỏi từ trái tim, từ những thao thức, trăn trở trong lòng họ. Đó là những câu hỏi của “những người đang đi tìm kiếm”, những tâm hồn trẻ đang muốn tìm kiếm một ý nghĩa sâu sắc cho cuộc sống đầy bận rộn và căng thẳng mà họ đang sống. Ai trong chúng tôi cũng có thể cảm nhận được sự cởi mở, niềm tin yêu và kính ngưỡng sâu sắc của họ đối với Thầy. Chúng tôi cũng nghe thấy những khổ đau trong lòng họ.

Ngồi phía sau Thầy trên sân khấu, chúng tôi dường như đang đại diện cho một thế giới khác. Chúng tôi có thể đi nhiều ngày hoặc nhiều tuần mà không cần phải mở máy tính, hay nghe một bản nhạc nào. Nếu không phải làm công việc ghi danh trong văn phòng trước khóa tu mùa hè thì chắc là chúng tôi không bao giờ biết cảm giác nhận hàng trăm e-mail mỗi ngày là như thế nào.

Chúng tôi có cơ hội để dừng lại, không phải chỉ một vài phút mỗi ngày, mà giờ này qua giờ kia để quán chiếu về hình hài mình, về hơi thở, về thức ăn hay vẻ đẹp của khung cảnh thiên nhiên xung quanh tu viện. Chúng tôi có thể đi tắm một cách thảnh thơi mà không bị đài phát thanh NST (Non-Stop Thinking – Suy nghĩ không dứt) quấy rầy trong đầu.

Trước khi xuất gia, tôi từng có thời gian làm việc trong ngành báo chí và truyền thông. Mỗi ngày tôi phải đọc sáu tờ báo, hết tờ này đến tờ khác, và phải nghe những bản tin kéo dài trung bình hai tiếng đồng hồ, trong khi đó mắt phải dán vào màn hình vi tính để theo dõi các đường dây tin tức trực tiếp (“news wires”) liên tục được gửi đến. Tôi có cảm giác là tôi phải mất rất nhiều năm để có thể làm lắng dịu tâm ý, để có thể tận hưởng được sự tĩnh lặng mà trong đó không có gì xảy ra, ngoại trừ sự sống và những mầu nhiệm của nó.

Ngồi trên sân khấu nhìn xuống, tôi tự hỏi liệu có ai trong số những nhân viên ở đây đã từng nếm được sự bình an sâu lắng và cảm giác nhẹ nhõm khi thoát khỏi mạng lưới thông tin tràn ngập. Chính cảm giác bình an và nhẹ nhõm này đã làm tâm hồn tôi tươi mát trở lại khi được sống trong tu viện. Chúng tôi không thể cho họ sự bình an và tĩnh lặng đó, nhưng chúng tôi có thể chỉ cho họ thấy rằng đó là những điều có thể có được – bằng những nụ cười và bước chân của chúng tôi. Và chúng tôi cũng có thể chỉ cho họ những cách để tạo ra những giây phút, những khoảnh khắc bình an trong ngày, dù chỉ là những khoảnh khắc ngắn ngủi thôi nhưng cũng có thể làm thay đổi cả cuộc đời mình.

Sau giờ pháp thoại và vấn đáp, chúng tôi cùng nhau thưởng thức bữa ăn sáng trong yên lặng với các thức ăn chay rất ngon. Google là tập đoàn đầu tiên áp dụng sự thực tập ăn trong chánh niệm cho cả tập đoàn. Kể từ chuyến viếng thăm đầu tiên của Thầy năm 2011, Google đã tổ chức “bữa ăn chánh niệm” mỗi tháng một lần tại các quầy cafe của mình. Trong những bữa ăn trưa chánh niệm, các nhân viên của Google có cơ hội lắng nghe năm lời quán nguyện trước bữa ăn, sau đó cùng ăn trong yên lặng. Sau giờ yên lặng đó, họ có thể chia sẻ với nhau cảm nhận của mình về sự thực tập này. Sau chuyến thăm lần thứ hai của Thầy, Google dự định thiết lập một “khu vực ăn chánh niệm” (“mindful eating zone”) cố định trong khuôn viên của Googleplex, nơi các nhân viên có thể đến và nuôi dưỡng mình bằng năng lượng bình an trong giờ ăn trưa.

Cùng với việc yểm trợ và nuôi dưỡng sự thực tập chánh niệm của các nhân viên Google, một vài người trong chúng tôi còn có những mơ ước riêng khi bước vào thế giới Google ngày hôm ấy. Một hay hai người trong số chúng tôi cố gắng tìm gặp các nhân viên phụ trách về Bản đồ Google (GoogleMap) với hy vọng là có thể tạo cảm hứng cho họ thiết lập một bản đồ trực tuyến (cho phép chỉnh sửa và dễ dàng truy cập) về các tăng thân tu tập theo pháp môn Làng Mai cũng như các hoạt động tu tập chánh niệm trên khắp thế giới.

Thầy Pháp Lưu và thầy Pháp Khởi mang theo một ổ cứng dung lượng lớn trong ba lô của mình, cũng với hy vọng là có thể tạo cảm hứng cho một nhân viên nào đó của Google để họ đưa các bài pháp thoại của Thầy trong 10 năm qua vào hệ thống dữ liệu của YouTube và phát lên kênh riêng của Làng Mai trên YouTube (ở Làng Mai, nếu làm liên tục trong một năm mới có thể đưa tất cả những bài pháp thoại này lên YouTube).

Cá nhân tôi thì mong muốn tìm được ai đó ở Google có khả năng thiết kế một ứng dụng Chuông Chánh niệm (Mindfulness Bell App.) đơn giản, tiện dụng và miễn phí. Còn Thầy chúng tôi thì lại khác. Vốn là người luôn có những tư tưởng lớn, Thầy muốn tìm kiếm những “tri kỷ” có thể tìm ra các ứng dụng hay thiết bị công nghệ để giúp mọi người bớt khổ và giúp nền văn minh của chúng ta không tiếp tục hướng đi như hiện nay.

Buổi chiều hôm đó, Thầy cùng với thị giả và một số quý thầy, quý sư cô có cuộc gặp gỡ với các kỹ sư cao cấp của Google để bàn về những vấn đề đó. Trong khi hàng trăm nhân viên của Google đang thưởng thức thiền buông thư do sư cô Chân Không hướng dẫn (chắc chắn là có tác dụng thư giãn và trị liệu hơn nhiều so với những chiếc ghế massage được đặt khắp trụ sở của Google), khoảng mười hai người chúng tôi cùng với Thầy ngồi quanh một chiếc bàn lớn để chia sẻ với các kỹ sư Google về tương lai của công nghệ thông tin.

Liệu chúng ta có thể tạo ra một loại công nghệ có thể giúp con người trở về để ôm ấp và xử lý khổ đau trong chính mình? Ngồi với chúng tôi trong buổi thảo luận hôm đó có một nhân viên nữ ăn mặc rất thanh lịch và sành điệu. Cô đeo đôi kính “Google Glass” – một công nghệ tân tiến nhất hiện nay cho phép ta gửi tin nhắn, lướt web, chụp ảnh và quay phim mà không cần phải động chân động tay gì cả, dù chỉ là nhấc một ngón tay. Nhưng liệu thiết bị thông minh này có thể giúp cô có mặt thực sự cho chính mình và cho buổi thảo luận đang diễn ra?

Thời lượng xem các video trên YouTube của Google trong mỗi tháng tương đương với khoảng thời gian 450.000 năm – con số này gấp đôi thời gian con người hiện đại từng tồn tại. Nhưng liệu điều này có giúp con người bớt khổ hay không? Liệu ta có thể tạo ra những thiết bị, phần mềm có khả năng ứng dụng trên toàn cầu với những nội dung giúp con người trở về để chăm sóc chính mình, chăm sóc những người mình thương yêu và chăm sóc cho xã hội này?

Có thể Google cũng biết rằng có những người kiểm tra hộp thư Gmail của mình đến 100 lần trong một đêm. Người đó cũng đồng thời đang tìm kiếm trên Google bằng từ khóa “nguyên nhân của chứng trầm cảm”, và đặt mua những đồ ăn vặt (junk food) với số lượng lớn thông qua công cụ tìm kiếm “Chrome browser”. Liệu các thuật toán “algorithms” của Google có đủ thông minh để tìm ra những phương thức hiệu quả có khả năng giúp cho người kia bớt khổ? Google mong muốn đạt lợi nhuận lớn trong kinh doanh, đó là sự thực. Nhưng Google cũng đồng thời muốn làm điều tốt, không muốn làm điều xấu ác (not be evil). Vậy thì Google có thể làm được điều gì hay hơn không?

Cuộc gặp gỡ và thảo luận hôm đó không giống như một cuộc gặp thông thường, và kéo dài đến hai giờ đồng hồ. Thật là tuyệt vời khi được đóng góp như một Tăng thân – mỗi người trong chúng tôi đều đóng góp năng lượng và cái thấy mới của mình trong cuộc gặp, nhưng tất cả đều là những tiếng nói của cùng một cơ thể, và Thầy là người luôn có mặt và chỉ dẫn cho chúng tôi trong suốt thời gian đó.

Thật khó có thể tin được khi thấy vị Thầy thương kính của chúng tôi, một Thiền sư thuộc một thế hệ khác – khi bước vào thế kỷ XXI thì Thầy đã hơn 70 tuổi rồi, vậy mà Thầy vẫn tham dự hết lòng cùng các kỹ sư công nghệ trẻ tuổi và đóng góp cái thấy rất nhanh nhạy, sắc bén của một Thiền sư với rất nhiều thương yêu và niềm vui. Điều đó đã làm cho các nhân viên Google rất hạnh phúc. Một người trong số đó đã bật khóc khi Thầy giải thích vì sao hành động dừng lại khi nghe tiếng chuông lại có ý nghĩa quan trọng và sâu sắc đến vậy.

Để kết thúc cuộc gặp gỡ thú vị này thật là khó và lại càng khó hơn khi chia tay những người bạn ở Google. Chúng tôi đã coi nhau như những người bạn, thậm chí như những “tri kỷ”. Chắc chắn chúng tôi sẽ còn gặp lại nhau và lần tới không phải là một ngày chánh niệm như hôm nay, mà phải là một khóa tu.

Chúng tôi cùng nhau đi xuống tầng trệt, nhưng không phải bằng cầu trượt mà bằng những bước chân chánh niệm của mình.

Chân Hiến Nghiêm

Vua Ba Tư Nặc viếng thăm Tăng thân Làng Mai Thái Lan

Chân Trời Bắc Sơn

Sư chú Trời Bắc Sơn được sinh ra trong gia đình xuất gia cây Cúc Đại Đóa, 30/1/2012 tại Thái Lan. Dưới đây là bài làm của sư chú trong lớp Trái Tim Của Bụt qua câu hỏi: “Với con mắt là vua Ba Tư Nặc, những cái thấy nào làm bạn có niềm tin nơi đức Thế Tôn qua đời sống tăng thân Pakchong?”

Thầy đến Thái Lan
Thầy đến Thái Lan

Hôm nay trẫm sẽ kể cho các khanh nghe về thời gian ba tháng vừa qua trẫm được An cư tu học cùng tăng thân Làng Mai trên đất nước Thái Lan. Đây là một diễm phúc lớn trong cuộc đời của trẫm có được duyên lành nương tựa một đại chúng lớn như vậy.

Nơi trẫm đến là vùng núi Khaoyai trên cao nguyên Corat thuộc huyện Pakchong, cửa ngỏ đi vào vùng đông bắc của nước Thái. Nơi đây có khoảng hơn 100 tu sĩ đang tu học, chơi và làm việc với nhau rất hòa điệu. Phần lớn họ là những người trẻ với tuổi đời chưa đến 30, cái tuổi rất đẹp với đầy nhiệt huyết, lý tưởng và tình yêu trên con đường phụng sự. Là người nước ngoài mới đến, trẫm còn nhiều bỡ ngỡ kèm theo một chút hồi hộp và lo lắng.

Như hiểu được tâm trạng của trẫm, thầy tri khách đã lập tức có mặt và giải tỏa mọi suy tư trong trẫm bằng một câu thiền ngữ “Chào mừng bệ hạ, bệ hạ đã về và đã tới thật rồi đấy”. Sau đó trẫm được bố trí ngủ tại một căn nhà lá hết sức đơn sơ, ngoài những cái chõng tre và một bình nước nóng, trong nhà không có thứ gì khác có giá trị để lo sợ phải bị trộm cướp, một căn nhà đủ để che nắng che mưa với bốn vách bằng tre, đặc biệt là không có cửa.

Trẫm đã ở lại đây trong ba tháng với những giấc ngủ thật sâu, mọi lo lắng thế sự, nào chăn êm nệm ấm, sự đầy đủ sung túc của một đế vương đều trở thành vô nghĩa trong giờ phút này. Dù các khanh gia cho đến những người bần dân khi đến tu viện đều được quý thầy sắp xếp ở trong một nhà tranh như nhau, không có sự phân biệt cao thấp hay sang hèn. Tăng thân ở đây thiết lập như một mô thức của gia đình, quý thầy quý sư cô giáo thọ thì được gọi là các sư cha sư mẹ rồi đến sư chị, sư anh, sư em. Họ chia nhỏ một đại chúng lớn thành các nhóm nhỏ dưới sự hướng dẫn của một sư cha hoặc sư mẹ để dạy bảo, chia sẻ và học hỏi những kinh nghiệm tu học của nhau.

Vào các tối thứ tư, mỗi khi nhìn thấy những đống lửa được nhóm lên, quý thầy quý sư chú ngồi quây quần nương tựa vào vị y chỉ, làm trẫm rất xúc động nhớ lại hình ảnh của đức Thế Tôn dạy về đàn nghé luôn biết nương vào các con trâu lớn mỗi khi qua sông. Sức mạnh của một tập thể là biết đoàn kết, lắng nghe và nương tựa, nương tựa vào vị y chỉ sư của mình cũng là cách mình cắm được rễ sâu vào lòng tăng thân, đây cũng là một sự thực tập trở về nương tựa vào Tam bảo.

Ở đây không phải đi khất thực mỗi ngày vì quý thầy quý sư cô tự nấu ăn, nhưng mỗi lần được theo quý thầy quý sư cô ôm bát vào các thôn xóm để khất thực, trẫm thật sự rất ấn tượng và được nuôi dưỡng. Từng hàng người áo nâu bước đi rất chậm trong sự ý thức nuôi dưỡng của hơi thở chánh niệm, họ dừng lại ở các căn nhà đã chuẩn bị sẵn sàng thức ăn để dâng cúng, họ khiêm cung biết ơn cúi đầu, tay mở nhẹ nắp bình bát và nhận lấy phẩm vật, gia chủ quỳ xuống lắng lòng thanh tịnh, quý thầy quý sư cô trang nghiêm chú nguyện và hồi hướng. Tất cả những hình ảnh đó thật đẹp, những cử chỉ và hành động hết sức khoan thai làm trẫm nhớ về tăng đoàn của Bụt hồi còn tại thế rất nhiều, nhưng rồi trẫm lại nghĩ “chẳng phải đây cũng là tăng đoàn của đức Thế Tôn hay sao?” Quý thầy quý sư cô đã mang được bước chân của Bụt đi vào đời, chính những thân giáo này sẽ tiếp nối và làm cho đạo Bụt được tiếp tục truyền thừa và rạng rỡ trong tương lai.

Vấn đề xử lý rác và bảo vệ môi trường là một thách thức lớn cho đất nước chúng ta, ấy mà trong thời gian ở tu viện trẫm lại được nghe thuyết trình về cách chuyển hóa rác, quý thầy quý sư cô đã trình bày những phương pháp từ cách phân loại đến cách tái chế sử dụng làm phân hữu cơ hết sức khoa học và hữu ích. Trẫm quyết định kỳ này về nước, trẫm sẽ trực tiếp gặp bộ tài nguyên và môi trường để nói chuyện và trao đổi những kinh nghiệm này.

Trẫm được học từ một vị hòa thượng lớn trong tăng thân dạy: “Không có cái đối tượng để bảo vệ môi trường, môi trường chính là mình, nó không phải là một thực thể bên ngoài tồn tại một cách riêng biệt”. Nếu hiểu theo cách môi trường là cái ở bên ngoài để mình phải hành động bảo vệ thì ta chỉ mới giải quyết phần ngọn mà thôi, mà phần ngọn thì không bao giờ có thể xử lý hết được. Đây là một sự thực tập về một cái nhìn bất nhị-tương tức-duyên sinh. Trẫm hạnh phúc lắm vì vẫn còn thấy được mạch sống của chánh pháp, thấy được Như Lai có mặt thật sự giữa cuộc đời này, vì đó đích thực là lời dạy của đức Bụt hơn 2600 năm về trước.

Tăng thân Pakchong có gốc rễ tâm linh từ Việt Nam, một trong những quốc gia được xem là cái nôi của Phật giáo đại thừa, cái hay mà trẫm muốn chia sẻ là tăng thân đã uyển chuyển và khéo léo kết hợp để có thể thừa hưởng được những tinh ba của giáo pháp nguyên thủy làm giàu thêm cho sự thực tập. Các kinh văn căn bản như Kinh Người Bắt Rắn, Kinh Soi Gương, Kinh Điều Phục Cơn Giận… được luân phiên tụng đọc trong những giờ công phu thiền quán. Tinh thần của Kinh Quán Niệm Hơi Thở, Kinh Tứ Niệm Xứ được linh động đưa vào thực tập trong đời sống sinh hoạt hằng ngày từ cách đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc cho đến thiền ca, thiền buông thư .v.v… Chính những yếu tố đó là một trong những điểm thuận lợi để tăng thân Pakchong hình thành và phát triển rất nhanh trên một đất nước mà khoảng 85% theo truyền thống Phật giáo nguyên thủy.

Ở đây có rất nhiều sư chú nhỏ tuổi, sự có mặt của các sư chú như những luồng sinh khí mới làm tươi mát và tô điểm thêm cho vườn hoa của tăng thân, tuy tuổi còn nhỏ nhưng ai cũng có ý thức tu học và tính tự giác rất cao. Nhìn vào các sư chú trẫm thấy được một tương lai xa hơn về sự kế thừa và tiếp nối của nhựa sống chánh pháp đang lưu nhuận giữa thế gian này. Có một hôm như sợ trẫm buồn, các sư chú nhỏ như Trời Xá Vệ, Trời Trong Sáng, Trời Hồn Nhiên đã ra chơi với trẫm. Ngồi trên giường tre, các chú chí chóe hỏi thăm như những phóng viên thứ thiệt, nào là “Bệ hạ từ đâu tới? Bệ hạ làm vua có vui không? Là một vị vua chắc bệ hạ oai phong và có nhiều quyền lực lắm nhỉ? Bệ hạ ở đây có hạnh phúc không?” Các chú hỏi tới đâu làm trẫm phải bừng tỉnh tới đó, đúng là con nhà tông thứ thiệt, nhỏ mà không nhỏ tí nào.

Rồi có giọng của một sư chú nhỏ tuổi nhất thốt lên: “ Mời bệ hạ sáng nay trong giờ chấp tác đi nhổ cỏ với tụi con ạ”. Như một sự phản xạ rất tự nhiên, trẫm đã nhướng mắt và nhìn vào sư chú, từ tàng thức đã đi lên một câu trả lời rất nhanh “Trẫm đi nhổ cỏ hả?”. “Dạ, mời bệ hạ đi nhổ cỏ với tụi con cho khỏe và vui ạ, nhổ cỏ thú vị lắm. Đây là cơ hội để bệ hạ và tụi con thực tập làm sạch thân tâm.” Với cái giọng trong trẻo, chú đọc tặng trẫm một bài thơ mà chú hay đọc trong khi nhổ cỏ:

Nhổ cỏ nơi tích môn
Nhớ đến Trần Thái Tông
Nhổ cỏ dùm Chiêu Hoàng
Cho sông dài biển rộng.

Rồi chú lại nói tiếp: “Chắc là bệ hạ hơi khó hiểu đúng không? Vì đây là bài thơ viết về một câu chuyện lịch sử của Việt Nam quê con, hồi con còn là một chú điệu nhỏ xíu, sư phụ con đã kể cho con nghe câu chuyện này rồi, nhân vật trong câu chuyện đó cũng là một vị vua như bệ hạ”. Như đón được tâm trạng qua ánh mắt và khuôn mặt sáng lên vì sự tò mò của trẫm, sư chú Trời Xá Vệ, một sư anh lớn nhất trong nhóm lên tiếng: “Thôi bây giờ mình phải đi nhổ cỏ, chiều nay anh em tụi con sẽ ra chơi và kể tiếp cho bệ hạ nghe về câu chuyện lịch sử này nghe.”

Vậy đó, những tháng ngày thật yên bình đã trôi qua, những cơn mưa đầu mùa hạ không lớn nhưng rất thường xuyên, mưa đã từ từ thấm sâu vào lòng đất, nuôi dưỡng và vun bón thêm cho một màu xanh của núi rừng Khaoyai. Cũng vậy, những điều trẫm thấy, trẫm nghe trong những ngày được sống nơi đây nó đã thẩm thấu vào trong từng tế bào của trẫm, nó tự nhiên như vốn dĩ đất, rễ và nước hòa quyện vào nhau để cùng nuôi lớn cho một mầm xanh của cây trí tuệ, tình thương và sự hiểu biết.

Chuyến đi này, nó là một kỷ niệm lớn trong cuộc đời trẫm, đã làm cho niềm tin của trẫm vào đức Thế Tôn mỗi ngày càng được lớn mạnh, trẫm sẽ không bao giờ quên được những cảnh vật và con người nơi đây, rất bình dị giản đơn nhưng không kém sự sâu lắng. Cảm ơn tăng thân Pakchong, cảm ơn các khanh, cảm ơn tất cả mọi người đã lắng nghe trẫm chia sẻ.

Những bông hoa trong “Làng Mộc”

Làng Mộc

Mộc Lan là một trong ba tu viện của Sư Ông Làng Mai tại Mỹ. So với anh chị của nó như Tu viện Lộc Uyển và Tu viện Bích Nham thì Mộc Lan còn rất mới và rất trẻ. Mộc Lan chính thức có mặt của chúng xuất sĩ tính đến nay chỉ gần 4 năm, nhưng Mộc Lan đang vươn mình mỗi ngày, không ngừng đâm chồi nảy lộc hiến dâng hương thơm, vẻ đẹp cho đời. Mời các bạn lắng nghe những hoài bão cùng sự thực tập xây dựng chúng, giúp đời của những bông hoa trong vườn Mộc Lan mà anh chị em chúng tôi thân quen gọi là “Làng Mộc” nhé!


Kính thưa thầy, thầy về Mộc Lan sau gần 2 năm chúng xuất sĩ có mặt, chúng con thấy thầy rất hết lòng trong mọi công việc. Với cương vị một sư anh lớn, không biết thầy có bị áp lực, khó khăn nào trong quá trình xây dựng Mộc Lan không ạ?

Thầy Pháp Huy: Sư anh ở Mỹ mười mấy năm rồi mới đi tu, tuy ở Mỹ nhưng sư anh còn rất nhiều nét văn hóa Việt Nam, nên có gì đó rất thương các sư em ở Bát Nhã, vì thế mới xin Sư Ông về Mộc Lan. Lúc đầu sư anh chỉ nghĩ về đây chơi với các sư em thôi, không nghĩ mình sẽ đóng vai trò của một sư anh lớn. Khi về đây đã có thầy Pháp Hội rồi, nhưng sau đó thầy đi về Lộc Uyển nên sư anh đứng ra gánh vác, chăm sóc chúng. Lúc đầu sư anh cũng có chút  khó khăn vì một chúng mới, các sư em đông mà tuổi cùng ngang nhau, ai cũng có những ý kiến riêng, chưa đi chung tới một cái thấy mà chúng thì cần những vị lớn như ở Thái Lan có Sư Bá vậy. Sự có mặt của một vị lớn trong chúng rất quan trọng. Nhưng may mắn là có những vị đã từng sống trong chúng lâu, hiểu mình và thương chúng nên yểm trợ sư anh nhiều như sư cô Hỷ Nghiêm, sư cô Túc Nghiêm, sau này có các thầy Pháp Uyển, Pháp Nhã về. Vì đây là một trung tâm hoàn toàn mới, tuy đã có vài cái căn bản nhưng mình phải tự túc mọi thứ từ trong ra ngoài. Khi mình xây dựng nội bộ chúng xuất sĩ vững mạnh thì công việc bên ngoài mới chạy được. Sư anh rất thích về sự thực tập vô thường nên cũng không nghĩ mình sẽ ở đây lâu, cứ sống và cống hiến hết những gì mình có thể trong giây phút hiện tại nên đôi khi nói đùa với mọi người là mình chỉ sống tới 40 tuổi thôi rồi chết để sư anh trân quý thời gian mình sống ở đây.

Làm sao thầy dung hòa được kinh nghiệm của mình đi trước để nâng đỡ các sư em đi sau khi làm việc?

Trong tu viện mình có những ban làm việc như ban chăm sóc, sư anh cũng tin vào khả năng làm việc của các sư em. Có những điều mới lạ, sư anh cũng khuyến khích để các sư em làm cho những sinh hoạt của chúng sống động hơn. Với những công việc lớn, sư anh chia sẻ trước cho các sư em, còn những công việc nhỏ sư anh biết dù có chút trục trặc trong đó cũng không sao, sư anh muốn để cho các sư em mình có không gian, niềm tin để làm, khi làm nếu có vấp ngã các sư em sẽ có kinh nghiệm. Và khi đó mình chia sẻ kinh nghiệm của mình thì giúp các sư em thực tế hơn.

Thầy có thể chia sẻ cái nhìn của thầy về tương lai của Mộc Lan?

Mộc Lan mình tuy mới gần bốn tuổi nhưng khá ổn định về cơ sở vật chất như nhà ăn, thiền đường, tháp chuông, ni xá, nhà khách, sau này sẽ có thêm tăng xá. Nhưng về mặt đối ngoại thì hơi thiếu, thiền sinh Mỹ về tu viện ngày càng đông, mình sống ở xã hội Mỹ thì ít nhất phải có quý thầy quý sư cô Tây phương. Theo kinh nghiệm của sư anh đã từng sống ở nhiều trung tâm, tuy anh chị em mình nói tiếng Anh được nhưng cũng chỉ giúp tới một mức độ nào đó thôi, mình cần mời thêm những vị Tây phương về thì sẽ dễ dàng chia sẻ, giúp đỡ thiền sinh hơn vì họ có cùng một nền văn hóa. Còn ở đây phần đông anh chị em mình là người Việt hoặc người Việt quốc tịch Mỹ. Các trung tâm Bích  Nham, Lộc Uyển, Làng Mai có quý thầy quý sư cô Tây phương nên giúp thiền sinh được nhiều hơn.

Thưa sư cô Hỷ Nghiêm, Tu Viện Mộc Lan mới có tứ chúng đồng tu trong khoảng 4 năm nay nhưng sự phát triển thì khá nhanh. Chúng con được biết sư cô là người đầu tiên về Mộc Lan cùng 5 sư cô nữa đến từ Làng, vậy xin sư cô có thể chia sẻ về sự chuyển mình của Tu Viện trong quá trình xây dựng Tăng thân cũng như xây dựng cơ sở vật chất từ ngày khởi đầu cho đến hôm nay?

Anh chị em ngồi chơi với ThầySư cô Hỷ Nghiêm: Nhìn về mặt hình thức thì Mộc Lan có sự chuyển biến khá nhanh so với những môi trường mà chị đã sống trong 18 năm qua. Năm 2012 chị có đi khóa tu ở Nashville và trong buổi vấn đáp có một vị thiền sinh hỏi: “Tại sao quý vị không chọn một thành phố lớn như New York, Chicago là nơi đông đúc dân cư và kinh tế khá phồn thịnh mà lại chọn vùng Mississippi ở Miền Nam Trung Mỹ làm trung tâm thiền tập”. Chị đã trả lời với họ là: “Nguyên nhân ban đầu là do một số thao thức của người Việt sống ở Mỹ mong muốn có một trung tâm thiền tập, phương pháp hành trì rõ ràng, phù hợp với thế hệ trẻ được sinh ra và lớn lên ở đây. Thứ hai là mình về đây không phải tự mình tìm tới mà dường như có sự sắp đặt của Tổ tiên đất đai nơi này”. Liền sau đó thầy Pháp Huy có trả lời thêm: “Ngày xưa Đức Thế Tôn thị hiện ở một nơi rất nghèo thì bây giờ vùng Mississippi này cũng nghèo nên pháp môn của chúng tôi mới tới. Có thể Tổ tiên đất đai ở đây chọn chúng tôi chứ không phải chúng tôi chọn”. Thì hai ý trả lời này dường như giống nhau.

Sự chuyển mình trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất rất cần nhưng chưa phải chính yếu. Chính sự tu học mới là yếu tố quan trọng. Yếu tố đặc thù trong quá trình chuyển mình của tu viện Mộc Lan là đã đem được hạt giống từ hòa, tỉnh thức rải ở vùng Trung Nam Mỹ này. Và nó được biểu hiện từng ngày trong suốt 4 năm qua. Người tu đích thực là người biết chăm sóc cái tâm, nỗi khổ, niềm đau của mình. Phải biết vun bón hạnh phúc, tri ân cuộc đời trong mỗi giây phút hiện tại. Khi làm được điều đó mình mới tỏa ra năng lượng bình an và tạo được niềm tin cho những người đến tu tập với mình. Nhờ có niềm tin họ mới phát tâm về mặt tài chính để nuôi dưỡng và duy trì chúng cũng như những cơ sở vật chất như hiện nay. Nhờ chúng cư sĩ nồng cốt có thực chất tu tập, nếm được pháp lạc, chuyển hóa tự thân và gia đình của họ nên niềm tin nơi các vị ngày càng sâu sắc vững mạnh và họ đã đứng ra kêu gọi đóng góp. Vì vậy những người chung quanh đã hết lòng đóng góp để xây dựng Thiền Đường nên mình mới gọi là Mọc Liền (cười).

Mặt khác, nếu mình để hết thời giờ vào quá trình xây dựng cơ sở vật chất, mình sẽ đánh mất chính mình và mình sẽ là người tu thất bại mà chính mình không biết. Nếu không nhận ra điều đó thì mình rất thiệt thòi và rất nguy hiểm cho một người tu.

Pháp thoại tại Mộc LanBên cạnh đó, một người tu không nên có tâm tự hào khi thấy những cơ sở vật chất biểu hiện, cũng như những tài năng của mình. Mình chỉ nên ghi nhận và biết rằng đây là nhờ vào nhân duyên cùng khắp mà biểu hiện. Ở đời người ta cần tài năng, nhưng người tu thì cần cái đức khiêm cung, khiêm hạ. Nếu tài năng không đi đôi với tâm hiền thiện, trong sáng thì sẽ thiếu đi phước đức. Với tâm hiền thiện, trong sáng sẽ chiêu cảm đến lòng thương yêu và che chở của Tổ tiên đất đai nơi này. Điều chị cảm nhận sâu sắc mọi chuyện chuyển mình ở Mộc Lan là do Bụt Tổ sắp đặt cả, sự tu học của mình chỉ đem tâm thuần khiết để thực tập và góp phần thôi. Dĩ nhiên mình cũng còn tàng trữ những hạt giống không lành không thiện trong tâm thức, nhưng sự thực tập của mình là nhận diện những hạt giống đó mà thực tập tinh tấn để cho những hạt giống đó không phát triển đi về hướng tiêu cực. Qua đó mình thấy rằng cái gì đứng chung với nhau sẽ tạo thành một tổng thể rất đẹp. Còn nếu tách riêng ra từng khía cạnh thì nó không bao giờ hoàn hảo cả. Cái tuệ giác mà Thầy dạy là “Đi như một Tăng thân, đi như một dòng sông” thì việc gì mình cũng có thể làm được, đó là sức mạnh của Tăng thân. Còn nếu mình đi như một cá nhân, một tế bào biệt lập thì dù mình có tài ba như thế nào đi chăng nữa thì nó chỉ thành tựu ở tính cách cá nhân. Khi mình biết nương tựa Tăng thân thì mình sẽ thấy những tài năng, những hoa trái tu tập của mình có được là do cuộc đời nuôi dưỡng mình và gần nhất là Ông bà, Tổ tiên, cha mẹ, Thầy và Tăng thân cũng như Phật tử xa gần nuôi mình. Thấy được như vậy thì mình không có tự hào, ngã mạn và kiêu căng.

Khi làm những công việc ở Thiền đường, chị cũng rất lo ngại vì tính chất nguy hiểm không an toàn có thể xảy đến. Chị luôn nhắc các sư em của mình trong khi làm việc nên nghĩ tới năng lượng lành và không nên khởi tâm không hoan hỷ, buồn phiền, trách móc, nếu các sư em đang có tâm hành bất ổn, không an thì có thể làm những công việc khác. Chúng đã đồng một lòng thực tập như vậy và ngày tháng đi qua cho đến khi mọi việc được thành tựu viên mãn. Trong suốt thời gian xây dựng không có một tai nạn nào xảy ra, chị nghĩ đó là một may mắn và phước đức lớn của tăng thân mình. Bây giờ tu viện Mộc Lan có được thiền đường lớn, rộng rãi, Thầy mình đặt tên cho thiền đường là: Hải Triều Lên. Tứ chúng mình tu học làm sao để ngày càng đi lên, đi xa, đi rộng đúng như cái tên của thiền đường. Nhưng nếu cái tâm của mình “không lên, không rộng” mà cứ mãi còn kẹt, còn gút mắc trong mỗi giây phút hằng ngày thì thật là uổng phải không các sư em?

Chị nhớ những ngày đầu mới về đây, Phật tử chưa thích nghi được cách sinh hoạt của mình vì quá nghiêm túc. Ngày thường họ tới chùa lạy Bụt nhưng khi mình đưa họ vào thời khóa thực tập, họ chưa quen và cảm thấy ngột ngạt vì phần nhiều họ chỉ có tâm cúng dường. Bây giờ họ đã thấm và biết chăm sóc chính mình bằng cách thực tập hơi thở, nghe pháp thoại, pháp đàm, đi thiền và tụng giới. Cụ thể là những sinh viên ở trường Ole miss, học sinh trung học và các em Gia đình Phật tử đã biết đến và tới đây thực tập mỗi năm.

Theo sự nhìn nhận của chị thì phần đông các anh chị em đã và đang ở Mộc Lan ai cũng có tâm để cống hiến và tu tập. Nhờ sự gia lực, gia trì của Tổ tiên đất đai và Tổ tiên tâm linh ở đây nên sự chuyển mình của Mộc Lan với đầy đủ duyên lành, những đóa hoa thiền đang nở cùng khắp, mời các vị đến tiếp xúc với khung cảnh thiên nhiên trong lành và những đóa hoa thiền, những bước chân hiền cùng đại chúng. Xin gởi trọn lòng tri ơn qua bài thơ nhỏ này:

Mộc Lan thầy đến rồi đi
Chúng con vẫn đợi ước gì thầy sang
Tình thầy đượm dấu nơi này
Ơn thầy con nhớ ngày ngày công phu.

Đang thực tập làm một vị Giáo thọ tập sự chỉ mới 25 tuổi (còn khá trẻ), sư chị có cảm giác như thế nào trong buổi họp đầu tiên? Sư chị đang chuẩn bị hành trang gì cho vai trò một vị Giáo thọ trẻ trong tương lai như ra hướng dẫn sự tu tập cho mọi người hay chăm sóc Y chỉ muội?

Sư cô Cẩm Nghiêm: Cám ơn sư em đã hỏi câu hỏi rất thực tế này. Đối với chị, ngày đầu tiên đi họp chị thấy vui lắm, chị không có gì phải lo lắng, hồi hộp về một vấn đề gì cả vì chị luôn ý thức là mình còn nhỏ. Tính ra chị là vị Giáo thọ tập sự nhỏ tuổi nhất ở Mộc Lan bây giờ. Trong tương lai chị nghĩ mình cũng là vị Giáo thọ nhỏ tuổi nhất (25 tuổi), cho nên bổn phận và trách nhiệm của mình cũng chưa có gì là nặng nề, do đó chị chỉ vào họp với một cái tâm học hỏi, nuôi dưỡng để làm hành trang cho mình sau này cũng như khi mình chuyển đến một môi trung tâm nào khác.

Còn về dự án cho tương lai sau này thì tùy theo khả năng sự thực tập của mình để biết khi nào mình cần đi ra, khi nào mình cần học hỏi và nghiên cứu thêm. Nhưng cái chính đối với chị là để mình có tự tin khi ra hướng dẫn thì mình cần có thời gian học hỏi thêm, nghiên cứu những lý thuyết căn bản cũng như sự thực tập và hành trì sâu hơn với những lời chỉ dạy của Thầy, áp dụng một cách thực tế trong đời sống hằng ngày mà chị chưa có cơ hội nhìn sâu và chuyển hóa nó. Với chị, chị chỉ mong ước mình chuyển hóa được những phiền giận, khó khăn trong nội tâm để cống hiến những kinh nghiệm thực tập của mình và để chia sẻ được cho mọi tầng lớp. Mỗi tầng lớp mình chia sẻ một cách khác nhau để họ có thể hiểu được. Nói chung vấn đề chính là sự thực tập của mình. Nếu mình có hạnh phúc, tươi mát thì mọi người có hạnh phúc, tươi mát. Còn khi mình có khó khăn thì mọi người luôn luôn đứng bên cạnh để yểm trợ. Điều quan trọng nhất giúp chị thấy an toàn khi đứng ra hướng dẫn là chị luôn luôn cần học hỏi những vị lớn đi trước. Chị ý thức đây chỉ là sự bắt đầu mà không có kết thúc, mỗi ngày mình học hỏi, huân tập thêm những cái mới mà không dừng lại ở một điểm nào.

Còn về vấn đề chăm sóc cho Y chỉ muội trong tương lai chị cũng chưa có nghĩ gì, chị chỉ trở về chăm sóc chính bản thân chị trước thì chị nghĩ mình sẽ chăm sóc Y chỉ muội tốt trong tương lai.

Thưa thầy Pháp Uyển, là một người luôn có mặt để chơi và chăm sóc các em thanh thiếu niên, chăm sóc người trẻ khi các em đến tu viện, xin thầy chia sẻ những kinh nghiệm của mình với anh chị em xuất sĩ trẻ chúng con, những người cũng có cùng tâm huyết?

Thầy Pháp Uyển: Điều quan trọng đầu tiên là sư anh đến chơi với các em một cách tự nhiên, không có mục đích chỉ dạy gì cho các em cả. Khi sư anh làm bạn được với các em rồi thì các em mới có cảm hứng chia sẻ, lúc đó sư anh mới tìm cách để giúp các em. Sư anh thường chia sẻ cho các em những kinh nghiệm rất thật của mình, làm các em có cảm giác gần gũi, thấy quý thầy quý sư cô cũng là con người, không quá xa với những vấn đề mà các em phải đối diện trong xã hội ngày nay. Khi mình hiểu những vấn đề thực tế của các em, mình mới đi vào lòng và giúp các em được. Có lúc sư anh cũng thực tập thí nghiệm chơi game để hiểu tâm mình thế nào, viết xuống nhật ký và khi các em tới tu viện, sư anh mới có kinh nghiệm chia sẻ với những em bị nghiện game. Đối với các em thích nghe nhạc, sư anh cũng cho các em nghe nhạc hip hop, sau đó tìm nhạc nuôi dưỡng cho các em nghe để các em so sánh, phân tích rồi đề nghị các em chia sẻ tâm hành, cảm xúc khi nghe hai loại nhạc như vậy. Các em sẽ biết chọn lựa cho mình thức ăn lành mạnh hơn.

Tu viện mình ngày càng có nhiều thiền sinh Tây phương đến, làm sao anh chị em trẻ chúng con  vượt qua được sự ngại ngùng khi chưa tự tin lắm về ngôn ngữ trong lúc chia sẻ kinh nghiệm tu học của mình cho thiền sinh Tây phương?

Sư anh thấy vấn đề ngôn ngữ cũng rất quan trọng. Các anh chị em từ Thái Lan hay Việt Nam qua rất cần học tiếng Anh, càng mạnh dạn tập nghe và nói thì mình càng tiến bộ hơn trong việc hiểu cũng như có cơ hội chia sẻ với mọi người. Nếu mình nghe và hiểu được ngôn ngữ của họ thì mình mới lắng nghe được những nỗi khổ của họ khi họ về đây nương tựa mình.

Thưa sư chị Thuần Minh, khi sống ở môi trường Tây phương, ngôn ngữ (Anh văn) còn nhiều hạn chế đối với một số anh chị em Việt Nam mới qua. Làm sao sư chị có thể vượt qua được những mặc cảm và để có thể hòa nhập vào văn hóa cũng như con người nơi xứ Mỹ này. Động lực nào giúp sư chị có thể đến được với họ một cách tự nhiên?

Sư cô Thuần Minh: Chị thấy khi mình làm một công việc gì, những bước đầu thường có nhiều khó khăn và trở ngại. Chị nhớ cái mặc cảm lớn nhất đầu tiên của chị khi mới qua Mỹ là khi thấy họ, chị luôn trốn (chẳng hạn họ ở đằng trước thì chị trốn đằng sau), tình trạng đó đã kéo dài và lập lại tới suốt một năm.

chắp tayMột năm sau, chị được đi khóa tu ở Nashville và động lực học Anh văn trong chị được ươm mầm từ đó. Trong khóa tu, chị có ngồi chơi với một cô thiền sinh và nhìn vào gương mặt của cô chị thấy cô rất khổ. Hồi đó chị chưa biết Anh văn nhiều lắm. Cô đã chia sẻ cho chị nghe rất nhiều những khó khăn đối với ba mẹ và gia đình, sau đó cô khóc. Cô đã nói rất nhiều nhưng chị chỉ biết ngồi nghe và thở thôi vì chị không kiếm ra từ để chia sẻ với cô. Lúc đó hạt giống muốn hiểu người và giúp đỡ người khác trong chị rất lớn. Chị chợt thấy được sự thiếu sót của mình và từ đó chị bắt đầu học tiếng Anh. Ở Việt Nam chị không được học Anh văn nhưng sau 2 năm ở Mỹ, chị thấy mình tiến bộ rất nhiều. Chị có khả năng nghe, nói và chơi với họ nhiều hơn trước.

Bây giờ chị đã hiểu sâu hơn câu nói của Sư Ông đã từng dạy chúng rằng: “Trong một ngôi nhà có rất nhiều cửa sổ và chính những cửa sổ đó sẽ giúp mình thấy được nhiều hướng”. Giờ đây, chị thấy chị rất cởi mở để học hỏi ngôn ngữ cũng như văn hóa của người Tây. Trước đây chị là người tương đối kín đáo nhưng bây giờ chị thấy mình cởi mở, tươi vui, trẻ trung, năng động và chịu chơi hơn. Khi tiếp xúc với họ, chị học được tính cởi mở vì họ có khả năng nói ra hết những gì ở trong lòng. Khi lắng nghe, chị có thể thông cảm được những nỗi khổ của họ vì trong chị cũng đã từng có những cảm giác bị bỏ rơi hay bị cô đơn, tuyệt vọng. Muốn giúp họ thì chị phải có cái hiểu, cái thấy thì chị mới nói được. Và từ đó Anh văn của chị càng ngày càng tiến bộ. Chị nghĩ khi mình đến với một ai đó bằng tấm lòng, bằng trái tim thì ngôn ngữ không còn là một vấn đề quan trọng nữa. Chính lúc đó tiếng Anh đi vô người chị lúc nào chị cũng không biết nữa. Nhiều lúc chị cảm thấy rất ngạc nhiên khi nghe họ nói, chị không cần suy nghĩ con phải nói câu gì nhưng trong tàng thức nó đã có sẵn câu trả lời. Và chị không ngờ chị học được như vậy. Chị phải trải qua mặc cảm một năm mới đến được với mọi người như bây giờ (cười).

Thưa thầy Pháp Thể, con đường của Bụt là con đường thực tập tình thương lớn, vậy thì từ khi vào Tăng thân, thầy có thương riêng một ai đó trong chúng nhiều hơn những người khác không? Thầy có cảm giác gì khi rơi vào trường hợp này? Khi có một sư em mến hoặc quý về sự thực tập của thầy và có thể đi hơn mức giới hạn thì thầy đã thực tập như thế nào để đi về hướng (Xả), để được bình đẳng trong tình thương?

Thầy Pháp Thể: Thực chất khi sư anh qua Mộc Lan, tình thương của sư anh không dành riêng cho một ai hết. Sư anh cũng chưa từng để mình vướng vào một đối tượng nào trong chúng để mình phải hệ lụy, khổ đau và mệt mỏi. Đối với sư anh, mình phải thực tập làm sao để có thể đến và giúp được nhiều người chứ không phải dành riêng cho một ai cả. Còn nếu thương riêng thì sự thực tập của mình đã có sự hạn chế. Vì tình thương đó sẽ không được rộng và không bao trùm hết tất cả mọi người. Với tình thương lớn thì con đường của mình mới được lâu dài, bền và trọn vẹn hơn. Còn nếu không thì sư anh sẽ bị rơi rụng hoặc sẽ bị chướng ngại trên đường tu. Đó cũng là nhờ sư anh rút ra từ những bài học kinh nghiệm của Sư Ông hoặc của các sư anh lớn khác.

Trong trường hợp nếu sư anh biết có một sư em đang thương và quý mình thì trước tiên sư anh sẽ can đảm gặp người đó để nói riêng. Mình có thể giải thích là: “Nếu thật sự thương và quý nhau thì mình phải yểm trợ cho nhau để cùng đi về một hướng. Mình phải biết mình đang đi hướng nào thì mình phải quyết định rõ ràng. Nghĩa là mình đang đi về hướng thực tập, tu học thì mình phải đi về hướng thực tập, tu học. Nếu mình có ý thức quyết định đi con đường này rồi thì mình phải cố gắng giữ gìn cho nhau”. Sư anh sẽ giải thích cho sư em đó biết như vậy. Thực chất sư anh đã một vài lần rơi vào trường hợp đó rồi chứ không phải không có.

Nên khi đến với Tăng thân sư anh luôn lấy bài học đó để nhắc nhở mình chứ không thì rất khó để tu trọn con đường này.

Là một sư em mới xuất gia, vừa mới theo gia đình định cư ở Mỹ, trước khi sư em về Mộc Lan, sư em có cảm thấy lo lắng gì không? Theo sư em một sư út dễ thương thì mình thực tập như thế nào?

Sư cô Trăng Ngàn Dặm: (Cười) Trước khi về Mộc Lan em cảm thấy lo lắng nhiều vì không biết các sư chị ở đây có dễ thương không? Khung cảnh ở đây như thế nào? Em nghe nói sẽ ở trên núi, xa dân cư. Mặc dù em đã thấy hình thiền đường cũng như hình quý thầy, quý sư cô ở trên mạng. Điều lo lắng nữa là em chưa chấp nhận sống xa gia đình xuất gia (Cây Hoa Gạo) và ở đây chỉ có một mình em thôi, em không biết ngày tụng giới sẽ như thế nào, vì lên tụng giới một mình em run và sợ lắm. Ở bên Diệu Trạm mỗi lúc tụng giới thường có hai mươi mấy chị em và em thường đứng sau nên đỡ run hơn.

Nhưng ngày đến tu viện em cảm thấy vui vì được quý thầy, quý sư cô tiếp đón nồng nhiệt. Hạnh phúc nhất là em được làm sư út ở đây (cười).

Em không biết như thế nào là một sư út dễ thương vì sống bên ngoài em chưa khám phá ra tài năng của mình là gì hết nên khi vào chúng em chỉ biết nương tựa đại chúng để học hỏi nhiều hơn. Em thấy các sư chị ai cũng có những cái đẹp riêng. Là một sư út dễ thương thì em sẽ thực tập vâng lời và đến chơi với tất cả các sư chị. Ngoài ra em cũng chăm sóc sức khỏe của mình nhiều hơn để đại chúng khỏi lo. Dạ! cuối cùng em xin cám ơn Thầy và Tăng thân đã che chở và bảo bọc cho em.

 

Xin cám ơn những lời chia sẻ của quý thầy quý sư cô, qua đó chúng con hiểu thêm về quá trình hình thành cùng những gì đang diễn ra ở Mộc Lan trong thời gian qua, cũng như tâm tư, hoài bão của mỗi người. Kính chúc quý thầy quý sư cô tiếp tục nuôi dưỡng thêm những hoài bão đẹp đó trên đôi chân vững mạnh, cùng góp sức làm cho Làng Mộc mỗi ngày thêm xanh tươi, thơm ngát hơn.

Trên đây chỉ là một trong số những bông hoa trong vườn mà chúng con có dịp ghé qua mời các bạn cùng thăm, bên cạnh đó còn nhiều  bông hoa Mộc khác nữa trong vườn đang âm thầm tỏa hương cho đời hay đang vươn xa nơi Vườn Ươm Thái Lan hay ở quê nhà. Hương Mộc đang bay khắp nơi nhưng chắc chắn rằng sẽ không bao giờ quên những ngày tháng được đứng bên nhau, chịu bao mưa nắng để làm nên Vườn Mộc xanh tươi như ngày nay cho các thế hệ “Hoa Mộc em” đang tiếp nối.

Tim Bụt Cốt Tiên

Chân Hội Nghiêm

tim bụt cốt tiên

Tim Bụt Cốt Tiên

“Tim Bụt Cốt Tiên”. Con đang mỉm cười nhìn vào câu thư pháp treo trước mặt mình trên chiếc bàn ngồi yên. Con thích nhìn nó và mỉm cười, thỉnh thoảng lại nhắm mắt cho nó thấm vào từng tế bào cơ thể mình. Con muốn tập cho mình có trái tim từ bi, không biên giới của Bụt và cốt cách phóng khoáng, tự do, không vướng bận của tiên ông. “Tim Bụt Cốt Tiên” là câu thư pháp con chọn trong buổi triển lãm thư pháp năm ngoái. Con chọn nó hay nó chọn con, theo con về nhà?

Năm ngoái trong khóa tu xuất sĩ có một buổi triển lãm thư pháp của Thầy dành cho giới xuất gia. Thầy có nhiều buổi triển lãm thư pháp rất hoành tráng, nhưng đa phần là cho quan khách. Năm ngoái là buổi triển lãm đầu tiên đặc biệt dành riêng cho giới xuất gia, được tổ chức rất dễ thương, thanh nhã, thiền vị mà rất ấm cúng, tươi vui, có cả hòa nhạc. Không khí rất yên ấm, thân mật và đậm tình thầy trò.

triển lãm thư pháp của Thầy Mỗi thầy, sư cô được chọn một câu thư pháp mình thích do Thầy viết. Chung quanh phòng triển lãm là những câu thư pháp của Thầy được treo lên với nhiều cách trang trí khác nhau. Chính giữa là bàn Thầy đang ngồi viết thư pháp với các sư con đang quây quần xung quanh. Có một số quý thầy, quý sư cô xin Thầy viết ngay cho mình câu thư pháp mình thích. Ai cũng hí hửng và thích ý. Thật cảm động! Cái giây phút ấy thật đẹp! Nhiều người đứng bên Thầy xem Thầy viết thư pháp và chụp hình. Con cũng đứng nhìn, nhìn thật lâu vì cảnh tượng quá đẹp và quá xúc động. Một bậc Thầy già gần 90 tuổi mà ngồi viết từng tờ thư pháp cho các sư con. Giây phút này đâu dễ có lại lần thứ hai? Viết được một lúc thì Thầy đứng dậy đi, Thầy cũng đi xem những câu thư pháp của mình do các học trò trưng bày. Có lẽ Thầy cũng thích và vui. Đại chúng tiếp tục đi thưởng thức và chọn cho mình câu thư pháp thích ý. Nhiều người thốt lên: “Nhiều câu hay quá không biết nên chọn câu nào”. Con cũng theo dòng chảy đó, đi ngắm thư pháp và thấy mình được tưới tắm nhiều niềm vui. Đập vào mắt con là câu “Tim Bụt Cốt Tiên”. Thích quá! Có một cái gì chấn động trong lòng con mà không hiểu tại sao. Con đứng đó rất lâu nhưng chưa chọn vội, đi tiếp một vòng nữa, có những câu thư pháp rất hay và rất mới như: Kiên nhẫn là dấu ấn của thương yêu, hay Trong mẹ có Bụt trong mẹ có con, Trong ba có Bụt trong ba có con, hay Con đang thừa hưởng những tài năng và đức độ của ba mẹ, hay Thả cho nó bay, hay Ta phải là ta thì ta mới đẹp v.v… và v.v… Câu nào cũng hay, câu nào cũng thích, nhưng cuối cùng thì “Tim Bụt Cốt Tiên” đã theo con về nhà. Con không dám chắc là mình hiểu hết câu thư pháp này và hiểu được diệu dụng của Thầy nhưng không biết sao cứ thích mà không thể không chọn.

Sau khóa tu xuất sĩ chúng có mười mấy ngày làm biếng. Những ngày làm biếng dài là món quà quý cho con và cho rất nhiều người nếu không muốn nói rằng tất cả. Những ngày này là những ngày cho con quân bình thân tâm, là ngày mà con có thể đáp ứng được những nhu yếu của mình khi những ngày qua không có nhiều thời giờ để làm. Có khi là để ngồi thiền hay đi thiền thêm, có khi là để nghe thêm pháp thoại, có khi chỉ để nghỉ ngơi và đọc sách, có khi để ngồi yên và nhìn lại mình… Sau những ngày làm biếng dài như vậy, mặt người nào người nấy sáng lên như thể… vừa mới chứng đạo.

Những ngày này con ra cốc Tuổi Ngọc ở yên, nghỉ ngơi và chơi với cái tâm của mình. Con mang theo “Tim Bụt Cốt Tiên” vừa như là một tác phẩm nghệ thuật, vừa như là một công án thiền. Trời mùa Đông ngồi ở cốc Tuổi Ngọc nhìn ra ngoài đẹp lắm. Bên trái là hai cây sồi cao lớn vững chãi, can trường, không biết đã có mặt từ bao đời. Chệch về bên phải là đồi Mận chỉ còn lại những cành trơ xương đang dồn hết sinh lực để nuôi mình, chuẩn bị cho mùa xuân tới đơm hoa kết trái. Trước mặt là cánh rừng Bạch Dương mà con thường thích gọi là Thánh đường. Mỗi lần đi vào giữa lòng rừng Bạch Dương, ngước nhìn lên thì chẳng khác nào Thánh đường. Những hàng cây thẳng tắp, cao vút, đẹp và uy nghiêm. Gần hơn nữa là hồ sen mà mùa này chỉ còn nước. Có những buổi sáng trời lạnh, hơi lạnh ngưng tụ lại, rồi khi có hơi ấm mặt trời, hơi lạnh lại bốc lên thành khói, thành mây làm cho đồi núi cứ chập chùng, lúc ẩn lúc hiện, cộng với những ráng hồng ráng đỏ, tạo thành những áng mây hồng, tím quyện vào nhau, nhẹ nhàng và thanh thoát, như bồng lai tiên cảnh, cứ từ từ thấm vào người mình.

Những ngày ở yên trong cốc thật vui. Nhiều khi mở cửa ra thì thấy ai đó đem cho hũ mắm, có khi cho bát cơm, có khi cho hũ muối sả, có khi cho mớ rau, có khi cho vài trái cây. Dễ thương và đầy tình nghĩa. Có ngày, ai đó cho mấy củ khoai mì mà quê con gọi là củ sắn. Con đón nhận tất cả với niềm trân quý và biết ơn. Hôm đó ăn củ mì xong, để chừa lại mấy cái tim trên bàn. Nhìn tim củ mì rồi bất chợt nhìn lên câu thư pháp “Tim Bụt Cốt Tiên” con bảo: “Tim Bụt thì Cốt Tiên, còn đây là tim củ mì nên vẫn là cốt Hội”, rồi ngồi cười một mình.

Thế rồi một buổi sáng tinh sương, trời giá lạnh, như thường ngày, con thức dậy sớm, ngồi yên, uống trà, ngắm nến, ngắm mình. Thật yên lắng, tĩnh mịch và thanh bình. Ánh sáng từ từ xuất hiện đẩy lùi màn đêm tối. Con vẫn ngồi yên để tận hưởng cái giây phút tĩnh lặng và bao la đó. Trời sáng, con mở tung hai cánh cửa sổ cho hơi lạnh tràn vào và cảm nghe cái tỉnh táo, sảng khoái của buổi sáng đang thấm vào mình. Nhìn ra bên ngoài là cả một khu trừng trắng xóa. Đẹp quá! Trong suốt và thanh khiết. Có lẽ hôm qua tuyết đã rơi cả đêm. Con ngồi yên đó để tận hưởng cái yên lành đẹp đẽ của đất trời. Bỗng từ đâu một con nai xuất hiện tung tăng giữa đồi mận, có lẽ nó cũng không chịu nổi trước vẻ đẹp của đất trời nên mặc cho giá lạnh vẫn cứ chạy chơi. Tự nhiên con cũng muốn bước ra dạo chơi giữa khu rừng trắng xóa ấy. Bao la quá! Tinh khiết quá! Nhưng rồi con vẫn ngồi yên đó và có cảm tưởng như mình đang ở trên một ngọn núi tuyết, thanh bạch và trắng trong. Tự nhiên hình ảnh một ông tiên trong bộ đồ trắng xóa xuất hiện, đang quảy một chiếc nón dạo chơi từ ngọn núi này sang ngọn núi khác, nơi nào thích thú thì tiên ông dừng lại, chơi cờ, uống trà và đàm đạo với những tiên ông khác. Chẳng có gì để vướng bận, chẳng có gì để nghĩ suy. Thanh thản, tự do, an nhiên, tự tại. Con ngồi yên thưởng thức khung cảnh đẹp đẽ ấy. Và thấy hồn mình nhập vào cốt cách tiên ông.

 

Bụt và thiên thần

Không biết những con thiên thần từ đâu bay đến đậu trên bàn học con, càng lúc càng đông. Con bắt đầu chơi thiên thần từ đó. Sắp xếp, ngắm nghía và thích thú. Những con thiên thần thật ngây thơ, hồn nhiên, vô tư, trong sáng và đẹp. Nó chơi đủ trò đủ kiểu, chẳng có gì để lo nghĩ. Có con cứ ngồi ôm gối mà nhìn, có con thì co hai chân lên trời. Có con thì cứ trèo lên tuột xuống trên một quả cầu. Có con thì cũng đã trèo lên tới đỉnh. Có con thì cố bay lên cao để với đến những vì sao. Có con thì cứ chống cằm suy tư, từ ngày này sang ngày khác, không biết chuyện gì. Có lẽ nó nhìn Bụt và cứ trầm tư không biết ông này là ai mà cứ ngồi yên hoài như vậy. Nó cũng thích chơi với Bụt lắm, cứ ở bên Bụt hoài. Có một con, con vô ý làm gãy cánh nó, thân hình trần trụi, ấy vậy mà nhìn nó vẫn thấy thiên thần. Đã là thiên thần thì làm gì cũng thiên thần, cũng dễ thương. Con thường nhìn nó để quán chiếu về cái tâm của mình. Dù chuyện gì xảy ra thì cũng giữ cho tâm mình hồn nhiên, vô tư và trong sáng. Đôi cánh không làm nên thiên thần, chính sự hồn nhiên trong sáng ấy mới làm nên thiên thần. Có lúc thiên thần cũng bị tổn thương nhưng thiên thần biết trở về chăm sóc vết thương, im lặng, không nói năng chi, chỉ dùng ý thức để làm lắng dịu niềm đau. Thế rồi vết thương cũng được chữa lành.

Con thích chơi thiên thần nên cũng thích tiếp xúc với những thiên thần trong các sư chị, sư em của mình. Khi thấy người đó là thiên thần rồi thì người đó làm gì cũng thấy dễ thương và thiên thần, kể cả khi người đó giận. Có nhiều sư chị sư em rất hiền lành, thật thà, hồn nhiên, vô tư và trong sáng. Chỉ cần nhìn người đó là mình thấy hạnh phúc. Người đó có làm gì cho mình đâu, thế mà sự hiện diện của người đó là một nguồn hạnh phúc lớn cho mình. Điều đó nhắc nhở con rằng là làm người tu đâu cần phải làm gì nhiều, chỉ cần vun bồi những đức tính ấy cho dầy sâu là đủ, đừng để bất cứ một thứ gì làm vướng bận lòng mình.

Trên bàn học của con cũng có một tượng Bụt nhỏ. Con thích ngắm tượng Bụt lắm, nhưng tất nhiên đó phải là những tượng Bụt đẹp, bình an và thanh thoát. Ngắm nhìn Bụt bên ngoài để nuôi lớn Bụt bên trong. Những lúc buồn giận, lo lắng, bất an, con mời thiên thần và Bụt ngự trị trong con, để giữ được sự hồn nhiên vô tư trong sáng, giữ được sự vững chãi, tỉnh thức trong mình. Con thấy an ổn trở lại.

Thầy thường dạy vững chãi và thảnh thơi là hai đặc tính của Niết bàn, nhưng Niết bàn của thiên thần thì phải có sự hồn nhiên, vui tươi, vô tư và trong sáng.

 

Có những Mùa như thế

Bây giờ đang là mùa Đông, trời lạnh nhiều. Năm nay quý chị em xóm Hạ bị bệnh nhiều, có người bị tái đi tái lại hai, ba lần. Ở đây, một năm có bốn mùa rõ rệt Xuân, Hạ, Thu, Đông. Ở quê con, đặc biệt là Cam Ranh thì một năm chỉ có hai mùa mưa nắng.

Những ngày Hè khi mới đến Làng, con cứ ngạc nhiên: “Sao chín, mười giờ tối rồi mà mặt trời chưa lặn?” Và mùa Hè thì mặt trời to lắm, to hơn một vòng tay, có lẽ to bằng cái sàng gạo ở quê, nhất là lúc mặt trời mới bắt đầu mọc và lặn. Và lúc mới bắt đầu mọc thì mặt trời đỏ ửng. Những cánh đồng hoa Hướng Dương và hoa Cải vàng cũng theo ánh nắng mặt trời làm sáng rực cả một vùng không gian. Mùa Hè cũng là mùa trái chín. Những cây Lê, cây Mận, cây Dâu, cây Cherry… cũng bắt đầu chín, mọi người tha hồ hái trái cây ăn. Bàn chân các chị em cứ liến thoắng từ cây này sang cây khác. Mùa Hè là mùa có ngày dài nhất nên tha hồ rong chơi.

Đến mùa Thu, cây bắt đầu đổi màu. Từng cánh rừng vàng, đỏ nối nhau rồi lại chen nhau, rất đẹp. Đặc biệt là những lúc có ánh nắng xuyên qua, khu rừng trở nên rực rỡ, huy hoàng. Những chiếc lá chín không muốn ở lại đã ngoạn mục lìa cành, trông như những đàn bướm tung tăng trong nắng mới, rồi từ từ trở về với đất Mẹ. Mùa này các bác nông dân cũng bắt đầu gặt hái. Những ruộng nho, những đồng cỏ, những đồng lúa chín được các bác nông dân gặt về.

Đến mùa Đông mọi vật như được nghỉ ngơi, những khu rừng đang ủ lá, cây không nuôi lá nữa, chỉ nghỉ ngơi và dồn hết sinh lực để nuôi thân chuẩn bị cho mùa Xuân tới. Nó rất kiên cường khi phải gánh chịu nhiều sương gió. Người ta không trồng trọt gì vào mùa này cả, đất cũng được cày lên để nghỉ ngơi. Những ngày tuyết rơi, ai cũng thích ra chơi tuyết, có người say sưa đến cả bệnh, nhất là những chị em mới từ Việt Nam qua mới thấy tuyết lần đầu. Những ngày có tuyết rơi, nhiều khi Thầy cũng có cảm hứng mời quý sư cô lên chơi tuyết, cả mấy Thầy trò đi dạo giữa rừng tuyết, rất vui và đẹp. Có khi Thầy lại ngồi xuống cào những lớp tuyết lại rồi rưới sirup lên và múc ăn, Thầy lại đưa cho học trò thưởng thức nữa… Ui cha là vui. Ai cũng mắc cười.

Mùa Xuân đến, cây đâm chồi nảy lộc và lớn lên rất nhanh. Các loài hoa bắt đầu khoe sắc, hoa Daisy, hoa Bồ Công Anh, hoa Thủy Tiên, hoa Tulip… không biết từ đâu chui lên, nở ra đủ sắc màu. Vì vậy người ta gọi mùa xuân là mùa tuôn dậy. Sự sống dâng tràn. Trên những trụ điện dọc đường người ta cũng treo lủng lẳng những chậu hoa đủ màu, đủ loại. Đi đâu cũng thấy hoa, nhà nhà đều có hoa. Có nơi hoa mọc thành rừng. Đặc biệt là những đồi hoa Mận, trên là màu trắng của hoa Mận, dưới là màu vàng của hoa Bồ Công Anh trải dài thành những tấm thảm, trông rất đẹp.

Mỗi mùa đều có một vẻ đẹp, một cái hay riêng của nó. Không mùa nào giống mùa nào mà mùa nào cũng mầu nhiệm, kể cả mùa Đông. Con học được rất nhiều bài học từ các mùa trong năm. Mùa nào đến thì đón nhận hết lòng mùa đó, không mong mùa này là mùa khác, không mong mùa Đông ấm áp có nhiều hoa cỏ, mùa Đông có cái giá trị riêng của mùa Đông.

Trong chúng cũng có những mùa như thế. Mùa Thu là mùa yên ả nhất, thiền sinh cứ về đều đều theo chúng tu học. Mùa Đông cây trở về dồn hết sinh lực để nuôi thân thì quý thầy, quý sư cô cũng tập trung vào sự tu học để nuôi lớn thân tâm mình. Mùa xuân cùng với hoa cỏ và đất trời, lòng người ai cũng hân hoan, mọi người tung tăng đi khắp các nẻo đường, các sư anh sư chị thì đi mở khóa tu đem niềm vui hiến tặng cho mọi người, các sư em ở nhà thì tự chế tác niềm vui cho mình và chế tác niềm vui cho nhau, rủ nhau đi hái lá hái hoa, dạo khắp các con đường làng. Mùa Hè là mùa hiến tặng. Khắp nơi người ta kéo nhau về tu học, họ rủ bạn bè, gia đình về đông vui như hội. Quý thầy quý sư cô phải ra hướng dẫn, giúp họ thực tập để chuyển hóa khổ đau và chế tác hạnh phúc. Niềm vui của họ nuôi lớn niềm vui của mình. Rồi sau những khóa tu rộn rịp là những ngày làm biếng dài, mười ngày hay có khi đến mười lăm ngày. Những ngày này mình không cần phải làm chi cả, chỉ cần có mặt cho mình. Ấy thế mới thấy người tu thật sang. Người đời ai dám bỏ ra mười mấy ngày ngồi không mà không cần làm chi cả? Có khi cả chúng lại đi chơi núi mấy ngày. Con đón nhận những mùa đi qua như bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông, mỗi mùa đều nuôi dưỡng con một cách khác nhau với những nét riêng của nó. Có mùa bận rộn, có mùa thảnh thơi, có mùa nghỉ ngơi, có mùa tận hưởng.

Rồi trong mình cũng có những ngày mùa như thế đi qua. Có khi vui nhộn đầy sức sống như mùa Xuân, có khi lại đằm thắm yên ả như mùa Thu. Có khi lại trầm lặng như mùa Đông. Có khi niềm vui phải rụng xuống để đơm tuệ giác, cũng như hoa phải rụng xuống thì trái mới kết thành. Rồi cũng phải đợi, phải cho thời gian, không gian để trái chín, để hiến tặng. Con nhìn mình, nhìn những tâm hành của mình như những mùa đi qua như thế với nhiều điều thú vị.

Trong các sư chị, sư em cũng có những mùa như thế đi qua, mỗi mùa đều có một nét đẹp, nét hay riêng. Mỗi mùa đều có một giá trị riêng. Con thấy trân quý và biết ơn.

 

Gia đình huyết thống và tâm linh

Ngược dòng thời gian con thấy con nằm trong bào thai của mẹ rồi mở mắt chào đời bằng tiếng khóc tu oa. Con chập chững bước những bước đầu tiên và bập bẹ cất tiếng nói me, ba. Con tung tăng bước vào đời và lớn lên với nhiều niềm vui và hạnh phúc. Cũng như thế, con được tái sinh trở lại, được nằm trong bào thai của Thầy và tăng thân. Thầy và tăng thân đã sinh con ra, nhưng con không chào đời bằng tiếng khóc tu oa mà chào đời bằng những nụ cười hạnh phúc. Con cũng chập chững bước những bước chân đầu tiên ý thức, tập thở những hơi thở lắng sâu và tập nói những lời hòa ái thương yêu. Con cũng lớn lên với nhiều niềm vui và hạnh phúc.

-Ai mua gạo không? Tiêu, hành, mắm, muối, hành ngò, xà lách ai mua không? Chú mua gạo không chú?

-Vào đây bán cho tui vài lon gạo.

Đó là lời rao hàng của một cô chủ nhỏ năm, sáu tuổi, gánh hai đầu nào là cát làm gạo, hoa cỏ làm rau, nước lạnh làm nước mắm, xì dầu… đi bán cho khách hàng là ba mình, là mẹ mình, là chị mình. Và ba cô là một khách hàng thân tín luôn luôn đáp ứng lời mời gọi của cô – “Vào đây bán cho tui vài lon gạo.” Hai cha con chơi với nhau rất vui, giống như là cô chủ quán và khách hàng thứ thiệt vậy, rất hết lòng và tận tình mua bán. Có khi cô chủ nhỏ lại làm một cô giáo mà ba, mẹ, anh, chị là học sinh của mình. Cô lớn lên, từ từ được học hỏi những điều quý giá từ ba mẹ và các anh chị. Tuy nhiên một ngày nọ cô nhận ra rằng những điều xấu thì dễ nhiễm mà những điều đẹp thì khó học. Những tập khí không đẹp của ba mẹ cô đều lãnh đủ mà những đức tính tốt của ba mẹ thì cô ít được thừa hưởng.

May mắn thay, gia đình tâm linh đã cho cô một cơ hội mới. Trở về nhận diện những tập khí của ba mẹ trong mình để chuyển hóa và nhận diện những đức tính đẹp lành mà mình được trao truyền từ ba mẹ tổ tiên để làm lớn mạnh thêm. “À, đây là tập khí của ba này, à đây là tập khí của mẹ này, con sẽ chuyển hóa cho ba, con sẽ chuyển hóa cho mẹ.” Cô thấy nhẹ nhàng. Không cần phải gồng mình, vật vã hay phải dụng công nhiều. Chỉ cần nhận diện tập khí thì tập khí từ từ nhẹ đi và được chuyển hóa. Rồi, “Ba có tính tốt này nè, mẹ có tính tốt này nè, sao mình không có?” Cô bé từ từ tìm cách nuôi lớn nó. Có khi cô mỉm cười sung sướng thấy mình được thừa hưởng những đức tính quý báu từ ba và mẹ.

Mẹ rất sạch sẽ, gọn gàng, tháo vát và đảm đang. Mỗi lần dọn dẹp nhà cửa là con thấy mẹ đang biểu hiện. Những buổi sáng sớm mùa này, thức dậy là mẹ ra vườn thăm mấy cây hoa, tưới tắm làm sao cho kịp Tết. Tết nào cũng có một vườn hoa rực rỡ. Mấy anh chị, ai cũng đến xin mẹ mấy chậu hoa về ăn Tết. Mẹ còn để dành hoa đem lên chùa cúng Bụt. Ba là một người có tinh thần khỏe mạnh, kiên trì, bền bỉ, luôn tìm tòi nghiên cứu. Lúc còn đi học, con học lịch sử qua ba, hình như điều gì ba cũng biết. Điều mà con học nhiều nhất là những đức tính tốt của ba – “Dù người ta có đối xử với mình như thế nào đi chăng nữa thì mình cũng phải đối xử tốt với họ và không bao giờ gây niềm thù hận”. Đức tính ấy giúp con rất nhiều. Có lẽ vì vậy mà anh chị em trong gia đình đều thương yêu nhau, anh rể cũng như chị dâu, em ruột cũng như em rể. Mỗi khi có chuyện gì không hay xảy ra cho một người nào là con tự dặn mình, dù có như thế nào thì mình cũng không đánh mất liên lạc, không đánh mất truyền thông, không đánh mất tình thương với anh chị em của mình.

Con được thừa hưởng rất nhiều từ gia đình huyết thống để giờ đây trong gia đình tâm linh con có cơ hội làm lớn mạnh lên. Con thấy mình thật may mắn có một bậc Thầy đầy nhân từ và bao dung. Luôn luôn có mặt và tận tâm chỉ dạy cho mình một con đường vui, một con đường sáng đẹp. Thầy đã cho con thêm cơ hội để trở về vun bồi và trân quý hơn gia đình huyết thống của mình. Và trên căn bản thương yêu anh chị em ruột thịt, con trở về nuôi lớn tình thương trong mình đối với các anh chị em trong gia đình tâm linh. Các anh chị em ai cũng dễ thương. Ai cũng có những đức tính quý giá cho con học hỏi, mỗi ngày con được tưới tẩm nhiều điều hay, đẹp và lành từ các sư chị, sư em của mình. Trở về vun bồi gốc rễ hai gia đình, huyết thống và tâm linh, con thấy mình thật giàu có. Con thấy trân quý và biết ơn vô cùng. Bây giờ con cũng đang tập bước những bước chân ý thức nhưng bàn chân con đã bước thành những nốt nhạc vui, chạy nhảy trên khắp các cung bậc thương yêu.