Sơn Cốc mùa trăng

(Thưởng thức một tuần làm biếng ở Sơn Cốc)

Chân Minh Hy

Chỗ tôi đang ngồi viết đây là trước cái lò củi ở Sơn Cốc, đêm nay là đêm cuối tôi ở Sơn Cốc, sáng mai tôi về lại Xóm Thượng rồi. Một tuần ở đây thật thú vị. Tôi chẳng làm gì hết. Chỉ có mặt và để cho năng lượng bình an ở đây thấm vào lòng.

Có bốn huynh đệ cùng đi chung. Thầy Pháp Đường đã về chiều hôm qua, thầy Pháp Siêu, thầy Pháp Linh đã về hai hôm trước, chỉ còn tôi ở lại. Chỉ có tôi là ăn cơm mỗi ngày ba bữa, còn ba Thầy kia thì nhịn đói theo phương pháp thanh lọc cơ thể. Ban đầu tôi không biết, cho nên đem đồ ăn trong một tuần cho cả tôi và thầy Pháp Đường, ai dè thầy cũng nhịn đói luôn, làm tôi tự nấu tự ăn một mình. Cũng vui. Nhưng sau đó thì lại vui hơn, vì ngày nào cũng được qua ăn cơm với Sư Ông. Thế là đồ ăn dư lại càng dư nữa. Tôi thì có tính hay mắc cỡ, ngại đi ăn cơm nhà người khác lắm! Sư Ông là Thầy mà, tại sao mình mắc cỡ nhỉ? Biết vậy mà vẫn mắc cỡ như thường, hồi nhỏ đã vậy rồi mà, tôi chưa đi ăn cơm của một nhà hàng xóm nào.

Tôi nhớ có một bữa đó, đang đi thiền hành thì bụng đói, lại nhớ các anh em ở Sơn Hạ nữa. Nghĩ rằng, lâu quá chưa được ngồi ăn cơm với các anh em ở Sơn Hạ, hôm nay mình xuống ăn cơm một bữa đi! Vậy là tôi rẽ lối đi xuống Sơn Hạ. Đến nơi rồi thì mới biết là mắc cỡ quá, biết là huynh đệ của mình đó mà không dám vào. Nghĩ bụng, chắc là chuông chưa thỉnh… nhưng chuông đã thỉnh rồi kìa, sao không có ai gọi mình một tiếng nhỉ! Thế là tôi đi một vòng quanh Sơn Hạ, rồi vác cái bụng đói đi về. Biết rứa đừng xuống cho rồi. Mắc cỡ đúng là khổ thiệt!

Tôi nghe sư em Chiêu Nghiêm kể, lúc đầu sư em làm thị giả cho Sư Ông thì căng thẳng lắm, thấy mệt quá chừng, sau một ngày làm thị giả thì về nằm thừ người ra (bây giờ sư em Chiêu Nghiêm làm thị giả quen rồi). May mà tôi chưa làm thị giả, chỉ nội một việc ngồi ăn cơm với Thầy thôi mà chẳng tự nhiên chút nào. Cơm cũng để Thầy xới cho, đồ ăn cũng để Thầy gắp cho. Nghĩ bụng, chắc bữa sau phải trốn thôi. Ngại quá đi. Nhưng ngày nào Thầy cũng cho thị giả qua gọi, trân quý cái tình của Thầy cho nên tôi lại đi. Có một bữa chiều, Thầy qua phòng và gọi: “Minh Hy qua đây chơi con!” Nghe Thầy gọi mà nhẹ cả người, qua chơi thôi chứ không phải qua ăn cơm. Ai ngờ, Thầy nói qua chơi, tức là qua ăn cơm đó. Thầy dễ thương thiệt!

Bây giờ thì tôi tự nhiên hơn chút xíu rồi. Có thể tự xới cơm cho mình và cho Thầy được rồi. Biết gắp đồ ăn cho các sư em nữa. Thầy thật là khéo, ở với Thầy một tuần thì thấy mình tự nhiên hẳn ra, thấy gần gũi nữa là khác. Chỉ có điều lúc đầu hơi bị ngố chút xíu. Thầy xới cơm thì ăn cơm, Thầy gắp thức ăn cho thì cũng cứ rứa mà ăn thôi. Cho đến một bữa, đang lúc ăn cơm Thầy nói: “Con gắp thức ăn cho sư em con”. Đó là cái tình anh em đó, là không khí của một gia đình đó mà. Trong câu nói đó tôi chợt hiểu ý của Thầy, “cái tình Thầy đã trao cho con rồi đó, con nhớ trao lại cho các sư em con”. Thưa Thầy, con đã hiểu, con sẽ trao lại cho các sư em của con.

Tôi chưa bao giờ thấy ở đâu mà có cái tình Thầy – trò đẹp như ở đây. Nó mộc mạc, nó chân tình nhưng sao mà sâu lắng khó quên. Trong một tuần này tôi cũng được đọc hồi ký của Thầy, đó là một niềm hạnh phúc nữa. Người học trò nào cũng muốn biết thêm về Thầy mình, nhưng hiếm khi có những người học trò có được may mắn đó. Ngoài việc đọc hồi ký, tôi dành thời gian đi dạo quanh vườn, đi để nghe suối chảy, nghe chim hót và nghe tiếng gió reo qua rừng tre. Bước chân tôi nhờ vậy mà thanh thản, nhẹ nhàng hơn. Tôi cũng có thời gian ngồi nhìn lại mình hàng giờ bên bếp lửa. Ở đây, lò sưởi điện bị hỏng cho nên anh em tôi đốt củi cả ban ngày lẫn đêm về, để chơi với ánh lửa và để sưởi ấm. Ngồi yên như vậy, tôi nhìn lại mình, nhìn lại sự tu học của mình ở Làng trong ba năm qua, nhìn lại con đường mà mình đang đi, nhìn lại tâm tư tình cảm của mình, cách mình xây dựng tình huynh đệ… Như người học trò kia, sau một năm học tập thì ôn lại bài để chuẩn bị cho một kỳ thi; còn tôi thì ngồi ôn lại những cái ấy, điều chỉnh một chút xíu trước lúc đi xa.

Vậy, đây cũng là quê hương của mình nữa rồi. Đáng lẽ ra phải nói là về quê hương chứ, mà về quê hương thì đâu có nói “đi xa” được. Tôi cũng chẳng biết nữa. Tôi thuộc về nó và nó ở trong tôi lúc nào chẳng hay.

Tôi chép lại bài thơ này như là một kỷ niệm của tôi với Sơn Cốc.

Ta về Sơn Cốc

Mùa trăng dạo ấy

Tình đẹp như mây

Nhẹ tợ khói lam chiều

Mái tranh quê

Gọi về bao con trẻ

Bữa cơm chiều

Nhẹ gửi mối tình riêng

Tình thật đẹp

Như trăng kia ngời sáng

Dạ một lòng

Xin giữ mãi về sau.

Sơn Cốc ơi! Ta sắp đi. Đi là để trở về, nhớ là để thương nhau nhiều hơn.

Sơn Cốc 11.03.2012

Nơi gửi gắm niềm tin

Người nghệ sĩ ngoài đời sáng tác ra những bài thơ bản nhạc vì họ có những niềm đau nỗi nhớ trong lòng. Khi một bài thơ đẹp hay một bản nhạc hay của người nghệ sĩ được sáng tác ra thì sẽ có nhiều tâm hồn đồng cảm mượn nó để ru những niềm đau nỗi nhớ của mình. Ai mà không có những nỗi nhớ niềm đau? Cho nên người ta tiêu thụ thơ và nhạc nhiều lắm.

Trịnh Công Sơn từng viết nhiều bản tình ca rất hay, khiến cho bao người sử dụng để vỗ về niềm đau của họ. Nếu mình không thích nhạc Trịnh Công Sơn nghĩa là mình không có những nỗi nhớ niềm đau ấy trong lòng. Trịnh Công Sơn đã trải qua nhiều nỗi đau. Những mối tình của ông thường rất ngắn ngủi. Đối với Trịnh Công Sơn thì tình yêu vốn mong manh sương khói và dễ chết yểu, trong khi đó thì tình bạn lại bền vững, đem đến cho mình niềm vui và sức khỏe. Niềm vui của Trịnh Công Sơn là được ngồi hát cùng bạn bè. Cái mà ông được thừa hưởng trong cuộc đời chính là tình bạn. Trịnh Công Sơn cũng từng có cơ hội được gần gũi với các vị xuất gia, từng được nghe kinh nên thỉnh thoảng trong nhạc Trịnh có phảng phất âm hưởng của tiếng kinh.

Thời bấy giờ, người thanh niên Việt Nam có những thao thức mà không nói lên được. Đó là ước muốn chấm dứt cuộc chiến tranh vô nghĩa mà trong đó người Việt phải buộc lòng giết nhau bằng ý thức hệ và vũ khí nước ngoài. Trong số những người thanh niên ấy có Trịnh Công Sơn. Thỉnh thoảng Trịnh Công Sơn cũng nói ra được một vài điều, do đó có khi nhạc của ông được gọi là “nhạc phản chiến”.

Những bài nhạc nổi tiếng thời tiền chiến như bài “Bến xuân” của Văn Cao, cũng là để ru những nỗi nhớ niềm đau của mình. Trong bài “Bến xuân”, Văn Cao tưởng tượng mình có một ngôi nhà bên bờ suối và có người yêu đến thăm mình. Chuyện này chưa từng xảy ra. Ao ước trong đời thực không được thỏa mãn nên nhạc sĩ phải đưa nó vào thi ca. Khi bài hát này ra đời, có rất nhiều người sử dụng để ru những ước vọng của mình. Người thanh niên nào lớn lên mà không khao khát yêu thương và được yêu thương? Nhưng người có hạnh phúc trong tình yêu thì ít mà người gặp khổ đau trong tình yêu thì lại rất nhiều, tại vì cả mình và người kia đều chưa biết cách yêu thương.

Hãy nghe bài thơ sau đây của nhà thơ Đàm Thị Lam Luyến:

Nếu ta gửi tình yêu vào một nơi chân thật

Thì tình yêu của ta sẽ thành hương thành mật

Gửi tình yêu vào đất được hoa trái đầy cành

Gửi lên trời cao rộng sẽ được ngọn gió xanh

Ta trao cả cho anh một tình yêu cháy bỏng

Như một cánh buồm xinh hiến mình cho biển rộng

Ta đã gửi cho anh cả con tim dào dạt

Và anh trả cho ta nỗi buồn đau tan nát

Ta muốn ôm cả đất, ta muốn ôm cả trời

Mà sao không ôm trọn trái tim một con người?

“Nếu ta gửi tình yêu vào một nơi chân thật”: Yêu nghĩa là đầu tư trái tim của mình vào một nơi, nếu mình đầu tư lầm thì mình mất hết vì mình chỉ có một trái tim. Bài thơ này đã được nhà thơ Thuận Yến phổ nhạc.

Đây là một bài thơ khác của nhà thơ Trần Quang Quý. Anh chàng này may mắn hơn, không bị người yêu phụ bạc nhưng vẫn thấy tình yêu đó không đủ cho mình. Là một chàng trai trẻ anh cần có không gian lớn hơn để vẫy vùng và anh thấy tình yêu của mình giống như cái mạng nhện và con nhện chỉ đi quanh quẩn trong mạng nhện đó mà không ra khỏi được, dù cái mạng nhện có trung kiên với mình. Anh là người may mắn trong tình yêu nhưng anh vẫn chưa thỏa mãn với tình yêu ấy:

Lối về nhỏ căn nhà ta bé nhỏ

Một tiếng guốc khua cũng đủ chật rồi

Em nấu bếp nhìn anh trong mắt ướt

Thế là chiều Hà Nội bớt lang thang

Có lẽ là cô nàng đang nấu bếp và khói làm cho mắt ướt chứ không phải là cô khóc. Mình là một trong số những người may mắn vì mình đang có một tổ ấm, có một nơi để về, có một trái tim chờ đợi mình ở nhà. Nhưng điều ấy đã đủ chưa?

Đâu những tòa nhà cao ánh đèn cao áp

Mái nhà con vừa khép đủ chúng mình

Ta bỗng thấy thương hơn từng con nhện

Đi suốt đời một mảnh tơ riêng

Em vất vả, gầy hơn, đêm ít ngủ

Lo cho anh chi chút lúc lên đường

Một viên thuốc năm ba lần căn dặn

ốm đau tan từ một lời thương
(Người vợ này rất chăm lo cho chồng, cô dặn đi dặn lại anh nhớ phải uống viên thuốc này nhé, dặn tới năm lần. Có lẽ hết bệnh không phải nhờ viên thuốc mà là nhờ cái ân cần của người kia.)

Anh nghèo lắm có gì đâu ngoài sách

Có gì đâu gia tài chẳng ngoài em

Ô cửa hẹp mặt trời thăm thẳm quá.

Một ngôi sao thả lỏng giữa xa mờ

Và đây, hai câu thơ cuối giống như một sự quyết định, không biết cái gì sẽ xảy ra:

Anh bất chợt nhìn em bất chợt

Ô cửa này rộng mở anh đi.

Trong bài thơ của Đàm Thị Lam Luyến, mình cần ghi nhớ rằng mình chỉ có một trái tim, làm sao để mình gửi trái tim ấy vào đúng nơi đúng chỗ, tại vì thương yêu là một sự đầu tư lớn, đầu tư nhầm chỗ là mình sạt nghiệp, thế nên phải cẩn thận lắm. “Nếu ta gửi tình yêu vào một nơi chân thật”, nhưng biết đâu là nơi chân thật? Đôi khi lời nói kia rất đường mật nhưng có sự giả dối. Anh chàng có thể đã nói điều đó với nhiều cô rồi, nhưng mình không biết, lại cứ tưởng mình là người duy nhất được nghe câu nói đó.

Người đi xuất gia cũng muốn tìm nơi gửi gắm trái tim của mình. Bài thơ “Tìm Nhau” cũng nói về tình yêu. Đi tìm ở đây là sự đi tìm chính mình. “Con đã đi tìm Thế Tôn”, nhưng kỳ thực là con đã đi tìm chính con. Mình chưa biết mình là ai. Đây là một quá trình đi tìm kiếm. Khi mình biết được mình là ai thì mình có bình an, hạnh phúc. Trong bài thơ có câu “Con đã tìm ra Thế Tôn. Con đã tìm ra con” có nghĩa là vậy. Khi mình tìm ra được mình là mình tìm ra được Bụt và khi mình tìm ra được Bụt thì mình tìm ra được mình “Thế tôn với con đã từng là một”, đây không phải là sự tìm kiếm bên ngoài mà là sự tìm kiếm bên trong.

Đất Mẹ nhiệm mầu

Vào năm 1969, lần đầu tiên mọi người thấy được hình ảnh của địa cầu nhìn từ mặt trăng tuyệt đẹp. Phi thuyền Apollo đưa ba phi hành gia lên trên mặt trăng, giữa đường các phi hành gia đã nhìn về địa cầu và chụp ảnh trái đất. Phi hành gia người Mỹ đầu tiên đặt chân lên mặt trăng là Neil Armstrong. Khi ông đặt bước đầu tiên xuống mặt trăng thì ông rất ý thức. Ông đã nói: “Đây là một bước nhỏ của con người nhưng là một bước rất lớn của nhân loại.” Sau khi được nhìn thấy bức ảnh về trái đất này, tôi đã làm một bài thơ:

An tịnh tâm hành

Trên đường lên nguyệt cầu

Quay nhìn lại

Tôi thấy em

Và tôi không ngừng kinh ngạc :

Em xinh đẹp quá chừng

Em là một chiếc bong bóng nước

Nổi trên biển không gian mông mênh

Em là đại địa

Em là hành tinh xanh

Hiển nhiên và mầu nhiệm

Nhưng rất đỗi mong manh.

Tôi thấy tôi trong em

Đang bước đi những bước chân ý thức

Trên con đường đất

Hai bờ cỏ xanh

Chân nói lời nguyện ước với đất

Mắt ôm lấy bình minh

An trú trong giờ phút

Lá thu rơi, ngập cả nẻo thiền hành.

Có con sóc thập thò

Sau gốc cây

Nhìn tôi

Với một chút ngỡ ngàng trong ánh mắt

Rồi leo lên thoăn thoắt

Và ẩn mình sau một cụm lá xanh.

Tôi thấy dòng nước trong

Đang len chảy giữa khe đá trắng

Suối cười reo

Thông vi vút

Cùng ngợi ca một buổi sáng thanh bình.

Tôi cũng thấy những vùng đau nhức

Nơi con người đang kẹt thế giao tranh

Chúng ta đang làm khổ nhau

Và vung vãi tang thương trên đất

Kỳ thị

Hận thù

Tham lam

Tạo thành bao thảm khốc

Gà một nhà đã rủ nhau bôi mặt

Tiếng kêu gào thảm thiết nạn đao binh

Đại địa quê hương ta chính là ta

Này các anh các chị

Quê hương ta xinh đẹp quá chừng

Tôi muốn ôm cả vì sao xanh

Áp vào lồng ngực nhỏ

Chúng ta hãy cùng nhau hòa nhịp thở

An tịnh tâm hành

Loài người chúng ta hãy chung lưng góp sức

Chấp nhận nhau

Thương yêu nhau

Vì ta cùng thương yêu trái đất

Bởi ta biết rằng

Tình ta là tất cả

Tình ta không phải chỉ là một mảnh nhỏ

Ta là những kẻ chịu chung trách nhiệm về hành tinh xanh.

Anh chị em ơi

Sáng nay hãy truyền được cho nhau

Cái Thấy

Làm sao cho

Tình yêu lớn tượng hình.

Chủ nghĩa dân tộc đã trở thành rào cản, sự đấu tranh của các dân tộc với nhau không cho phép chúng ta có thời gian và năng lượng để thay đổi sự sống và bảo vệ hành tinh này. Thế nên bài thơ này có câu: “Tình ta không phải chỉ là một mảnh nhỏ. Ta là những kẻ chịu chung số phận của hành tinh xanh”. Mỗi nước đều coi đất nước của mình là một bà mẹ. Ở Việt Nam ta nói là Mẹ Việt Nam. Ở bên Pháp nói là La Mère Patrie. Nhưng những bà mẹ đó chỉ là một mảnh nhỏ trong khi bà mẹ lớn của chúng ta là trái đất. Hiện bây giờ các bậc thiện tri thức trên thế giới đã thấy rõ rằng sự tranh chấp giữa các nước với nhau là một rào cản lớn khiến cho chúng ta không có cơ hội bảo vệ cho hành tinh của chúng ta. Vì muốn bảo vệ nước mình nên mình cũng muốn nước mình có bom nguyên tử. Vì muốn bảo vệ nước mình nên mình cũng muốn khai thác cho đất nước mình giàu mạnh để chống lại những nước khác, vì vậy cho nên mình đang đi trên một con đường không thuận lợi cho việc cứu hộ hành tinh.

Học hạnh của đất

Có một lần Đức Thế Tôn dạy chú tiểu La Hầu La: “Con hãy học theo những đức tính của đất thì con sẽ có hạnh phúc.” Đất có tính kiên trì, bền vững, luôn trung kiên mà không phản bội. Đất không kỳ thị, đất thương yêu và ôm lấy tất cả mọi loài dù những đứa con mà trái đất sinh ra có thế nào đi nữa thì đất mẹ vẫn luôn luôn đưa hai tay đón lấy khi nó trở về. Đất có năng lực sáng tạo. Đất đã sáng tạo ra sự sống với sự hợp tác của mặt trời. Ta tự hào có biết bao vị anh hùng, nhưng đất là vị anh hùng lớn nhất đã phải chịu đựng hàng tỉ năm để tạo nên sự sống. Ta tự hào là có những nhạc sĩ tài ba, nhưng đất là nhạc sĩ tài ba nhất, những tiếng hải triều là âm nhạc, tiếng gió, tiếng mưa, tiếng lá xào xạc, tiếng chim líu lo đều là âm nhạc tuyệt vời. Chúng ta tự hào rằng có những họa sĩ tài ba, nhưng chính đất đã tạo ra những bức họa đẹp nhất. Đông sang tuyết phủ, xuân tới trăm hoa đua nở, có liễu lục đào hồng; hạ đến cây cối xanh tươi; thu về lá rực rỡ muôn màu. Rõ ràng Bồ Tát Thanh Lương Đại Địa là một họa sĩ lớn.

Vật chất và tinh thần

Trước đây khoa học cho rằng sự sống, trí tuệ và ý thức là do vật chất sinh ra. Vật chất làm ra sự sống và sự sống làm ra trí tuệ nhưng bây giờ khoa học lượng tử (quantum science) không còn thấy đất là vật chất nữa. Có những nhà khoa học nói rằng: “Ý niệm trước đây của chúng ta về vật chất là một sai lầm.” Người ta đã khám phá ra rằng vật chất là năng lượng, nó là những đợt sóng và chính tâm thức của mình cũng là năng lượng, là những đợt sóng. Tâm thức có sức mạnh rất to lớn.

Nhà bác học Albert Einstein không tin vào một đấng thượng đế đứng trên trời điều khiển và kiểm soát những gì xảy ra dưới mặt đất. Ông nói rằng: “Là một nhà khoa học tôi không tin rằng có một Thượng Đế đứng ở trên kia điều khiển nhân sự dưới này. Nói như vậy không có nghĩa là tôi không cảm động khi nhìn vào vũ trụ.” Ông nói rằng mỗi khi nhìn vào vũ trụ thì ông thấy một sự hòa điệu, một vẻ đẹp tuyệt vời khiến cho ông rung động. Ông nói: “Nếu trong tôi có một cái gì có tính cách tôn giáo thì chính là sự kính ngưỡng và rung động đó. Nếu trong tương lai có một tôn giáo mà mọi người có thể theo được thì đó không phải một tôn giáo thờ phụng một vị thần linh, sáng tạo ra vũ trụ mà đó là một tôn giáo có tính cách vũ trụ, trong đó những gì mình tin phải được chứng thực bởi những xét nghiệm của khoa học.”

Tịnh Độ hiện tiền

Tại Làng Mai chúng ta có thực tập pháp môn Tịnh Độ nhưng đối với chúng ta thì Tịnh Độ là Tịnh Độ bây giờ và ở đây. Tịnh Độ là trái đất vì khi ta lấy kính viễn vọng để soi chiếu thì chúng ta chưa tìm thấy được ở đâu một tinh cầu đẹp đẽ như trái đất, thế nên chúng ta không dại gì bỏ trái đất để đi tìm một Tịnh Độ vu vơ nào đó ở nơi khác mà chúng ta không biết có thật hay không. Tịnh Độ của Làng Mai là bây giờ và ở đây. Nếu mình biết thở, biết đi thiền hành, thì mỗi hơi thở và bước chân như vậy đem mình về với giây phút hiện tại để khám phá ra bao điều kỳ diệu. Chánh niệm là ý thức mình đang có mặt để biết những gì đang xảy ra trong ta và xung quanh ta, đó là Tịnh Độ Hiện Tiền. Nói rằng Tịnh Độ Hiện Tiền nằm ngay trên trái đất thì khoa học có thể chấp nhận được. Không ai có thể phủ nhận điều đó.

Chúng ta là một mầu nhiệm và tất cả những gì bao quanh chúng ta đều là mầu nhiệm. Những mầu nhiệm đó là do đất Mẹ sinh ra. Chúng ta đều là con của Mẹ. Các vị Bụt, các vị Bồ Tát cũng là con của trái đất. Chúng ta ai cũng có một bà mẹ đã sinh ra ta thì người mẹ ấy cũng là con của trái đất, chúng ta có một người cha sinh ra ta thì người cha ấy cũng là con của trái đất. Chúng ta có một vị thầy thì vị thầy ấy cũng là con của trái đất. Chúng ta có một vị Bụt thì vị Bụt ấy cũng là con của trái đất. Vì vậy chúng ta phải công nhận trái đất là người mẹ chung của chúng ta. Đó là Bồ Tát Thanh Lương Địa, một vị Bồ Tát rất xinh đẹp và mầu nhiệm.

Mỗi khi lao đao, hốt hoảng, buồn khổ chúng ta có thể trở về tiếp xúc với đất Mẹ, đất Mẹ sẽ ôm lấy và truyền lại năng lượng cho chúng ta. Nếu chúng ta quán chiếu cho giỏi thì chúng ta sẽ vượt thoát được sinh tử, chúng ta sẽ không bao giờ chết. Khi quán chiếu thì chúng ta sẽ thấy đất Mẹ ở trong ta và có ta trong Mẹ. Nếu Mẹ là vô sinh bất diệt thì ta cũng là vô sinh bất diệt. Chúng ta từ Mẹ mà được biểu hiện ra, rồi chúng ta sẽ trở về với Mẹ, sau đó Mẹ lại đưa chúng ta ra đời trở lại nên không có gì phải lo sợ. Quay về nương tựa trái đất là một pháp môn rất thích hợp với Phật giáo. Albert Einstein cũng nói rằng nếu có một tôn giáo có thể đóng vai trò một tôn giáo vũ trụ căn cứ trên những bằng chứng xác thực có thể đi đôi với khoa học thì đó là đạo Bụt.

Ở Làng Mai có một bài kinh mới: “Kinh ca tụng Đất Mẹ”. Bài này không những Phật tử mà cả những người không phải Phật tử cũng có thể tiếp nhận được và thấy đây là một sự thật. Khi quán chiếu ta thấy đất Mẹ có trong ta và ta có trong đất Mẹ. Ta phải thay đổi cách sống thì mới cứu được bà mẹ của chúng ta.

Có một vị vua như thế

Ở Việt Nam có phái thiền Trúc Lâm, nguồn gốc từ núi Yên Tử. Vị Tổ đầu tiên là Trúc Lâm Đại Sĩ, tức là Vua Trần Nhân Tông. Sau khi đánh tan quân xâm lăng phương Bắc, vua Trần Nhân Tông lên núi Yên Tử xuất gia, Ngài từng du hành qua rất nhiều nơi trên đất nước để gặp gỡ dân chúng. Nhà vua đi chân đất viếng thăm các miền quê để khuyên dân bỏ những tục lệ mê tín dị đoan quay về thực tập theo chánh pháp. Dân chúng biết vị xuất gia này trước đây là vua của mình nên rất cung kính và hết lòng nghe lời. Trong lúc vua con làm chính trị thì vua cha làm đạo đức. Hai cha con phụng sự đất nước bằng hai cách khác nhau. Đó là thời kỳ huy hoàng nhất trong lịch sử Việt Nam, nhân dân sống có đạo đức nên đất nước được thái bình hạnh phúc.

Nếu vị nào đã đọc sử Việt Nam hoặc đọc cuốn “Am Mây Ngủ” thì đã biết rằng vua Trần Nhân Tông có một cô công chúa tên là Huyền Trân. Để giải quyết tranh chấp biên giới với nước Chàm, vua đã đi bộ sang làm thượng khách của vua Chàm và đã hứa gả con gái cho vua Chàm. Khi ấy công chúa mới có 14 tuổi.

Hồi đó trong triều có một vị quan rất giỏi về văn học tên là Lý Đạo Tái có tài ngoại giao và ứng đối rất giỏi nhờ văn chương lỗi lạc của mình. Lý Đạo Tái làm quan được hai ba năm thì đi xuất gia làm đệ tử của thầy Bảo Phác với pháp hiệu là Huyền Quang. Thầy Bảo Phác cũng là đệ tử của vua Trần Nhân Tông. Thầy rất yêu quý Huyền Quang, đi đâu cũng cho đi. Một hôm thầy Bảo Phác cho thầy Huyền Quang cùng đi theo mình nghe vua Trần Nhân Tông giảng pháp. Nhà vua nhận ra thầy Huyền Quang trước đây là Lý Đạo Tái nên đã đề nghị thầy Bảo Phác cho Huyền Quang ở lại để vua nhờ biên tập những kinh điển và tác phẩm mà vua muốn để lại cho hậu thế, nhờ vậy thiền sư Huyền Quang được ở lại với vua Trần Nhân Tông, sau này trở thành tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm.

Thiền sư mê hoa cúc

Về già thầy Huyền Quang lên an dưỡng ở Côn Sơn. Lúc ấy thầy đã 77 tuổi. Thầy không thích đi giảng dạy trong dân chúng mà chỉ thích giảng dạy cho người xuất gia. Có lúc hàng ngàn tu sĩ tới theo học với thầy. Thầy Huyền Quang rất yêu hoa cúc. Ngày xưa thầy Huyền Quang trồng nhiều hoa cúc tại Côn Sơn. Trong lịch sử văn chương có những người thích hoa lan, có người thích hoa mai, có người thích trúc, v.v… nhưng thầy Huyền Quang thì lại thích hoa cúc hơn cả. Thiền sư Huyền Quang có làm một bài thơ về hoa cúc. Ông nói tuổi lớn rồi không thấy có gì hấp dẫn hết. Ngoài thì giờ ngồi thiền, tụng kinh, thổi sáo, đi chơi thì thầy trồng cúc, trồng khắp nơi, sân trước, sân sau, trên lầu, dưới lầu. Sau mỗi buổi ngồi thiền, việc đầu tiên là ra thăm vườn cúc. Mỗi khi nghĩ tới cúc là trong lòng ông rộn ràng như khi nghĩ tới người yêu vậy.

Đường nhà Tưởng Hũ tre reo gió

Vườn cảnh Tây Hồ đẹp nét mai

Nghĩa khí chẳng đồng tình chẳng hợp

Cúc hoa nở sáng khắp vườn ai

Ngàn sông không đủ thấm lòng già

Bách vịnh mai hoa vẫn kém xa

Đầu bạc ngâm hoài vần chưa ổn

Thấy hoa cúc nở rộn lòng ta.

Quên thân, quên thế, thảy đều quên

Thiền tọa giờ lâu, lạnh thấm giường

Trong núi năm tàn, không có lịch

Thấy hoa cúc nở biết Trùng dương.

Năm năm nở đúng tiết thu qua

Gió dịu trăng thanh ý mặn mà

Cười kẻ không hay hoa huyền diệu

Khi về mái tóc giắt đầy hoa.

Người ở trên lầu, hoa dưới sân

Vô ưu ngồi ngắm khói trầm xông

Hồn nhiên người với hoa thành một

Một đóa hoa vàng chợt nở tung.

Phương phi xuân sắc, trắng hay vàng

Thời tiết tùy loại, hợp sắc hương

Khi mọi loài hoa rơi chật đất

Dậu Đông, hoa Cúc vẫn chưa tàn.

I am in love

Tôi cũng hơi giống thầy Huyền Quang ở điểm là rất yêu hoa cúc. Tuổi của tôi bây giờ lớn hơn tuổi của thầy Huyền Quang, nhưng đọc bài thơ này tôi thấy rất hợp ý. Có những lúc trên Xóm Thượng, hay khi ở Phương Khê, làm việc một hồi chợt nhớ tới ở ngoài kia có trăng, có trúc, có con đường thiền hành thì trong lòng rộn lên, tôi đặt bút xuống, choàng áo và đi ra ngoài. Giây phút ấy đem lại cho tôi rất nhiều hạnh phúc. Mỗi buổi sáng thức dậy, sau khi rửa mặt, mặc áo khoác lên rồi đi bộ từ thất Ngồi Yên lên thiền đường, mỗi bước chân như vậy giúp mình tiếp xúc với thiên nhiên, trăng sao, cây cối, hạnh phúc vô cùng. Tôi có viết một bức thư pháp: “I am in love with  Mother Earth”. Giống như một chàng trai trẻ khi nghĩ tới người yêu thì lòng rộn ràng lên, tôi cũng vậy, tôi đầu tư vào trái đất. Bồ Tát Thanh Lương Đại Địa đã đem đến cho tôi biết bao hạnh phúc. Đầu tư vào vị đại Bồ Tát này là chắc ăn nhất.

Chúc các vị trong tăng thân một năm mới đầy bình an và hạnh phúc.

Thả bước đi về

Năm nay, sinh nhật cây Hồ Đào tròn mười tuổi thì tôi, cũng đã theo Thầy và tăng thân tu tập được mười năm (tôi qua Làng trước một ngày xuất gia của các sư em cây Hồ Đào). Mười năm. Nhanh quá!

Tôi vẫn còn nhớ những ngày sắp rời chùa để sang Làng tu học, một số rất ít người biết tôi nghỉ học đã thắc mắc rằng tại sao tôi lại bỏ học ngang mà đi như vậy và khuyên tôi nên tiếp tục học cho xong khóa Phật học viện. Nhưng khi biết tôi đã quyết định đi thì mọi người chỉ biết lắc đầu, thở dài buông một câu “thiệt không thể hiểu nỗi…” Thật sự thì tôi đâu có bỏ học nửa chừng, tôi chỉ thay đổi cách học thôi mà. Nhưng tại sao tôi phải thay đổi cách học. Mỗi người có một cách nhận xét về tôi.

Tâm Ban Đầu

Mọi cái bắt đầu thật đẹp!

Bước vào một cuộc sống mới, cuộc sống của một người xuất sĩ với những ngày đầu, mọi cái đối với tôi thật đơn giản. Thời gian đầu ấy, hầu như tôi không biết đến nhu cầu cá nhân là gì ngoài việc học kinh, tụng kinh, làm những gì sư phụ chỉ bảo và đến trường. Tôi rời nhà vì mục đích muốn trở thành người tu và khi được chấp nhận ở chùa, chỉ cần được tu thôi, tôi thấy mình may mắn lắm rồi. Thức khuya dậy sớm tụng kinh, chấp lao phục dịch, bị quở phạt, v.v.. tôi không thấy có gì phiền hà cả. Tâm phán xét, buộc tội, so sánh hơn thua, thị phi nhân ngã… đã bị sức mạnh của Bồ đề tâm quy phục. Cho đến khi tôi được đi học và tiếp xúc với bên ngoài.

Ước mơ của người trẻ

Thả bước đi về.1Mười năm về trước, tôi là một tu sĩ trẻ và bây giờ tôi vẫn thấy mình còn trẻ như thường mặc dù các sư em tôi thường ưa đùa nghịch đã liệt tôi vào “Hội người cao tuổi” (so với các sư em nhỏ thôi). Những người trẻ thường có nhiều ước mơ và hoài bão lắm. Cũng như những người trẻ, thuở còn là ni sinh của trường Phật học (cách gọi các sư cô còn đi học), tôi cũng có những ước mơ như hầu hết các bạn đồng tu: Làm một điều gì đó có ích cho mình, cho đạo và cho xã hội. Và lúc ước mơ trong mình đã đủ lớn thì ước muốn thực hiện ước mơ trong mình cũng lớn lên theo.

Những lúc thay giờ đổi tiết học, chúng tôi thường có những buổi “đàm đạo hành lang”, nói lên ước mơ của từng người và đưa ra những mục đích của mình cũng như dự tính đến những điều sẽ làm sau khi tốt nghiệp các khóa học. Người thì muốn đăng ký học thêm lớp dịch thuật kinh điển, người thì muốn ra trường nếu được đề cử thì đi dạy ở trường Cơ bản hay Trung cấp Phật học, người thì muốn tiếp tục du học, lấy bằng thạc sĩ hay tiến sĩ Phật học hoặc đăng ký tiếp một khóa học nào đó, ngôn ngữ chẳng hạn; nhưng cũng có người thì không muốn chi cả, sau khi tốt nghiệp thì về chùa tu tập thôi. Còn riêng tôi, khi được hỏi như vậy thì tôi đã hỏi lại các bạn tôi rằng: “Nếu chỉ còn hai năm để sống thì nên chọn học tiếp hay trở về tu thôi?” (vì chúng tôi còn hai năm học nữa mới tốt nghiệp) Bạn tôi chọn phương pháp hai: “Trở về tu thôi!” Và cuộc đời của tôi chuyển hướng bắt đầu từ câu trả lời ấy. Đó là thời gian chúng tôi đang học lớp Học viện Phật giáo tại Huế (Cử nhân Phật học).

Học

Tôi đi tu lúc còn nhỏ nên khi vào chùa phải đi học một lần hai chương trình vừa Nội điển vừa Ngoại điển. Huế cái thời tôi, nếu muốn được trình Điệu (tập sự) thì phải có bằng cấp Hai (lớp 9) và muốn thọ giới Lớn phải tốt nghiệp phổ thông Trung học (lớp 12). Sau này còn có một điều lệ mới là muốn thọ giới Lớn thì phải có bằng Trung cấp Phật học, điều này tôi mới được biết cách đây ba năm khi tôi trở về sống ở Huế. Chùa tôi làm ruộng và làm rẫy. Đi học về, tôi tranh thủ cùng các chị em ra vườn hay làm vườn xong thì tôi tranh thủ vào học bài. Thường thì tôi học bài trong khi làm việc hoặc trên đường tới trường. Tôi thường viết bài ra giấy, có khi còn viết ở tay. Ngồi se nhang, quét sân, tưới cây, cuốc đất hay đạp xe tới trường tôi đều tranh thủ học bài. Mọi thời gian hầu như tôi chỉ dành cho việc học và gần như quên hết những gì xung quanh.

Tôi cũng biết yêu thích thiên nhiên, vẫn thấy trăng đẹp, gió mát, vẫn rung động trước cái đẹp của một bông hoa đang nở, v.v.. nhưng tôi gần như không có đủ thời gian để thưởng thức, để nhìn sâu vào mọi sự mọi vật. Ngay cả những khó khăn của tôi, tôi cũng phớt lờ nó vì lý do không có đủ thời gian học bài, đó là do tôi thấy vậy thôi. Việc học đã kéo tôi ra khỏi đời sống hiện tại. Tôi, một người tu sĩ trẻ thời đó, một ngày hai thời kinh sáng tối, đi học và làm việc chùa.

Tuổi trẻ của tôi đi qua với các chương trình học: Chưa xong chương trình phổ thông Trung học lại thi vào các khóa Cơ bản Phật học, Trung cấp Phật học, Học viện Phật giáo. Chưa đủ, trong lúc học các chương trình ở trường, một vài chị em chúng tôi còn rủ nhau đăng ký một chương trình Phật học hàm thụ bốn năm trên Nguyệt san Giác Ngộ hay những môn học thêm vào buổi tối. Thời gian cứ thế đi qua, tôi không có mặt cho Thầy, huynh đệ và những gì xung quanh tôi đã đành, ngay cả chính tôi, tôi cũng không có mặt cho chính mình. Tôi bỏ bê việc tự chăm sóc mình cho đàng hoàng, có những lúc tôi chỉ ăn qua loa tô mì gói hoặc nhịn đói để kịp giờ đi học.

Ở đời, người ta vì danh lợi, vì công ăn việc làm, vì chưa có cơ hội học hỏi và thực tập những lời Bụt dạy nên họ chạy theo cái học, cái bằng cấp đã đành. Còn tôi, một người xuất sĩ, trên danh nghĩa là “thường niệm tri túc, an bần thủ đạo, duy tuệ thị nghiệp” (luôn luôn nhớ nghĩ đến phép tri túc, an vui với đời đạm bạc để hành đạo và xem sự nghiệp duy nhất của mình là sự thực hiện trí tuệ và giác ngộ), ấy vậy mà tôi đã để cho cái học lôi kéo.

Tôi cứ tưởng cần có trí tuệ thì phải học nhiều thứ. Tôi đã hiểu sai lời Bụt dạy. Cái tuệ mà Bụt dạy là cái tuệ giác, tuệ giác tức là sự giác ngộ do công phu tu học, do sự quán chiếu về bản chất của những gì xảy ra xung quanh và bên trong mình mà đưa đến cái “Thấy”. Cái thấy ấy là tuệ giác của đạo Bụt, là sự nghiệp của người tu, sự nghiệp giác ngộ. Những gì tôi đã học ở trường chỉ là kiến thức, kiến thức và tuệ giác không giống nhau chút nào, bởi kiến thức thật sự không giúp tôi xử lý được những cảm thọ và khó khăn trong tôi, dù là kiến thức Phật giáo.

Con người cần có kiến thức để giúp cho sự hiểu biết thêm rộng rãi. Kiến thức không có hại, không xấu xa, nhưng nếu không áp dụng cái hiểu của mình để quán chiếu vào những đối tượng nhận thức, để giúp mình xử lý những cảm thọ, tri giác, những khó khăn đến với mình thì kiến thức ấy cũng không giúp gì cho sự nghiệp giác ngộ mà ngược lại, nó trở thành một chướng ngại rất lớn trong sự tu học của mình. Chữ giác ngộ mà tôi muốn nói ở đây là khả năng nhận ra các nguyên nhân đưa đến những khó khăn và trở về thực tập chuyển hóa chúng để lòng mình được thư thái nhẹ nhàng.

Có những lúc tôi cảm thấy mệt mỏi bởi suốt ngày đêm vừa học vừa làm. Đầu óc tôi có lúc căng lên và muốn nổ tung ra, nhất là trong những kỳ thi cử xảy ra với thời điểm vụ mùa, Tết đến. Có lúc tôi tự hỏi ai đã bắt tôi phải trở thành một người bận rộn như vậy, và rồi câu hỏi vẫn bị bỏ qua một bên và tôi, tôi vẫn đi tiếp về phía học. Tôi chưa bao giờ chán học, kể cả bây giờ. Mọi chuyện học hành của tôi khá thuận. Thầy và huynh đệ luôn yểm trợ cho việc học của tôi, nhất là khi tôi đã thọ giới Lớn và vào Phật học viện thì ít phải làm việc tay chân. Nhưng không vì vậy mà áp lực của việc học trong tôi giảm bớt, tôi vẫn thấy con đường tu học của mình quá mơ hồ và thấy thiếu thiếu một cái gì đó chưa rõ ràng lắm.

Một buổi tối, đến phiên tôi lên chánh điện (ngủ để giữ chùa), tôi ra trước chánh điện ngồi học bài dưới ánh sáng của cây đèn Dược Sư. Ngước nhìn lên tượng đức Bổn Sư, tôi thấy vòng hào quang cứ chớp liên tục với những đường tia đủ màu sắc. Tôi không thấy đẹp chút nào, có lẽ do thức khuya nên khi nhìn một hồi tôi bỗng thấy hoa mắt. Tôi đứng dậy và đi đến cái công tắc điện, tắt đèn hào quang và trở lại vị trí cũ. Bức tường phía sau tượng Ngài được làm bằng gỗ mun đã trở lại nguyên màu. Ngài ngồi đó bình an với nụ cười hàm tiếu, nhìn lên tượng Bụt, tôi bỗng thấy lòng mình nhẹ nhõm vô cùng. Tôi nhìn lại việc học của tôi và tự hỏi có phải nó cũng là một vòng hào quang giả đang xoay chuyển ngày đêm không ngừng và làm cho tôi chóng mặt, mệt mỏi? Tại sao tôi chưa chịu tìm đến cái công tắc của tôi? Tại sao tôi chưa chịu bấm nút “dừng lại” mà cứ để cho nó xoay vần hoài vậy?

Ngồi nhìn lại những năm tháng đi qua trong cuộc đời tu của mình, tôi bỗng thấy mình quá bận rộn. Tôi chưa bao giờ có mặt thật sự mỗi khi các sư em tôi đến với tôi. Và tôi, tôi cũng chưa bao giờ tìm tới với các sư chị tôi để chia sẻ những gì trong lòng mình. Mọi khó khăn gặp phải trong cuộc sống tôi đều chôn vùi nó xuống dưới chiều sâu tâm thức, nói rõ hơn là tôi chưa mở lòng ra được với các huynh đệ của tôi. Nhìn lại kết quả của những năm tháng tu học, tôi thấy lòng mình trống rỗng.

Tôi thấy mình trống rỗng là bởi những khó khăn đến với tôi, tôi không có cơ hội nhìn lại để tìm ra nguyên nhân của chúng, để chuyển hóa cho lòng mình được nhẹ nhàng hơn mà thường thì tôi đổ lỗi cho người này người kia. Không chia sẻ ra được nhưng cũng không tự mình chuyển hóa những khó khăn nên mọi chuyện tồn đọng lâu ngày đã khiến tôi trở nên bệnh hoạn. Và, Bụt ơi! Cái tôi cảm thấy thiếu thiếu ấy là sự thảnh thơi và cuộc sống nhẹ nhàng của một người xuất sĩ.


Những người chưa hiểu Bụt đã tự gắn cho Ngài vòng hào quang đã đành. Còn tôi, tôi cũng chưa hiểu tôi và tự đi gắn cho mình một vòng hào quang giả mới tội nghiệp chứ. Ai bắt tôi phải học cái kiểu này? Ước mơ được sống một cuộc sống nhẹ nhàng, thảnh thơi vẫn còn đây, tại sao tôi không bắt đầu, tôi còn đợi đến bao giờ? (Thời gian này tôi đã tự thực tập theo pháp môn của Làng do quý thầy quý sư cô giáo thọ về hướng dẫn ở chùa Từ Hiếu).

Tự hỏi mình nhưng mọi cái không đơn giản, để thực hiện những ước mơ mà mình ấp ủ đôi lúc không dễ dàng chút nào, có khi phải đánh đổi rất nhiều thứ. Và tôi đã phải đánh đổi thật.

Thời gian này sức khỏe của Sư Bà tôi khá yếu. Hôm trước ngày đi, tôi ra liêu ở chơi và ngủ lại đêm với Sư Bà và đó cũng là những giờ phút cuối cùng Thầy trò tôi được ở bên nhau (tôi qua Làng được một năm rưỡi thì Thầy tôi viên tịch). Tình Thầy trò mười mấy năm sống bên nhau, nay tôi lại rời Thầy ra đi theo sự lựa chọn của riêng mình trong lúc sức khỏe Thầy đang xuống, nước mắt tôi như chực trào ra. Linh cảm như báo trước cho tôi biết lần ra đi này rất có thể tôi sẽ không còn cơ hội được ngồi bên Thầy trong ngày trở lại. Nhưng tôi không thể muốn một lần được cả hai cái, hoặc tôi sẽ ra đi theo sự lựa chọn con đường tôi đã quyết và phải xa Thầy, hoặc tôi ở lại bên Thầy và vẫn tiếp tục đi học và buông thả mọi thứ như lâu nay. Ở lại bên Thầy, tôi có giúp được gì cho Thầy và cho tôi? Cuối cùng thì tôi cũng ra đi, vậy đó mà bây giờ đã mười năm trôi qua kể từ khi tôi đến Làng.

Khi biết tôi đang tu học theo pháp môn Làng Mai, nhiều người đến nói với tôi, rằng tu theo Làng Mai khỏe thiệt, khỏi phải học hành chi hết, chỉ thở và cười thôi. Nghe vậy tôi chỉ “thở và cười thôi” mà không nói. Cái “thở và cười thôi” ấy, có ai biết là tôi đã thực tập nhiều lắm mới áp dụng được trong những trường hợp như vậy. “Đến để mà thấy, tự mình thông đạt…” Bụt đã dạy như vậy và tôi cũng đang làm chuyện đó.

Mùa Đông, mùa Thầy trò chúng tôi được ở yên với nhau suốt ba tháng An cư mà không có ai ra ngoài để hướng dẫn những khóa tu. Trong ba tháng đó, Thầy trò chúng tôi trở về, cùng nghiên cứu và học hỏi, thực tập những lời Bụt dạy. Thầy là người nghiên cứu và thực tập trước, sau đó đem ra hướng dẫn lại cho chúng tôi. Sau khi được Thầy hướng dẫn, giảng giải xong, chúng tôi về phòng tiếp tục “nghiên cứu” và quán chiếu lại lời Bụt, lời Thầy dạy rồi đem áp dụng vào đời sống của mình.

Tôi không biết là mình đã được học bao nhiêu kinh luận từ Thầy, phải nói là học nhiều hơn ở trường tôi trước đây nhiều lắm nhưng cách học ở đây rất khác. Trong các trường Phật học mà tôi đã từng học trước đây, theo chương trình của từng niên khóa, chúng tôi được học các kinh luận và nhiều môn học khác mà ban Giám hiệu trường đưa ra, ban Giảng huấn và tăng ni sinh chỉ việc làm theo. Một học kỳ có khi có đến mười mấy môn học. Phần nhiều chúng tôi không học hết các kinh hay các môn học khác trọn vẹn trong một học kỳ, nhưng vẫn làm bài kiểm tra, thi cử và khép lại bài kinh đang học nửa chừng để qua học kỳ kế tiếp với một bài kinh hay một môn học khác. Có những môn học, ban Giám hiệu phải mời các giáo sư ở tận Sài Gòn như giáo sư Trần Tuấn Mẫn, hay ở nước ngoài về như cô Thái Kim Lan ở Đức. Trong thời gian đó, những môn học khác được dừng lại để nhường giờ, ưu tiên cho các giáo sư ở xa về dạy. Có khi chúng tôi học một môn suốt hơn cả tuần mỗi ngày, sau đó thì làm bài thi hay tiểu luận và vị giáo sư, sau khi đã nhận bài của tăng ni xong thì lên đường bay về trú xứ của mình, chấm dứt một môn học.

Tôi rất thích cách học này và tôi thầm cảm ơn ban Giám hiệu đã có những môn học như vậy. Học cái gì ra cái đó và khi học như vậy, tôi thấy mình đi sâu hơn vào nội dung của môn học ấy mà không bị phân tán bởi phải học một lúc quá nhiều thứ. Nhưng nếu không biết cách học, không nhìn sâu vào môn học để hiểu và áp dụng môn học ấy vào sự thực tập trong đời sống của mình, để giúp thay đổi tình trạng mà chỉ học cho có học, học để thi cử thì sau khi các giáo sư rời lớp rồi thì môn học ấy cũng sẽ rời mình đi luôn. Tôi rất thích học các kinh đại thừa và ở trường đã có dạy, ví dụ như Kinh Kim Cương mang tư tưởng của giáo lý về vô tướng, vô trụ.

Khi hướng dẫn kinh này, các vị giáo thọ đã trình bày về tư tưởng của kinh, cắt nghĩa về câu, về ý rất hay và tôi rất thích (vì học kinh bằng chữ Hán), nhưng nếu có thì giờ để hướng dẫn thêm cho tăng ni biết cách áp dụng những lời Bụt dạy vào đời sống hàng ngày của người xuất gia một cách thực tế thì rất quý cho chúng tôi. Tôi nghĩ nếu sau khi được nghe giảng, tăng ni sinh viên có giờ để thảo luận, để chia sẻ và đi sâu về những gì đã học để áp dụng vào đời sống của mình thì rất hay, điều này tôi mới thấy sau này. Mười năm rồi, không biết bây giờ ban Giám hiệu đã thay đổi cách dạy mới hay chưa?

Ở Làng Thầy chúng tôi cũng dạy nhiều môn lắm. Tôi không phải học một lần nhiều môn mà học từ từ, học nhẹ nhàng hết môn này đến môn khác. Học hết tháng này đến năm nọ và không phải thi cử để lấy điểm hay xếp thứ hạng và cũng không phải tốt nghiệp chi cả. Làng Mai là một trường đại học bách khoa không bao giờ tốt nghiệp, chúng tôi thường đùa với nhau như vậy. Cứ sau khi Thầy dạy, chúng tôi “cả lớp học” gồm cả cư sĩ và xuất sĩ đều có thì giờ ngồi chung với nhau, chia sẻ cái hiểu và sự áp dụng lời dạy của Thầy vào đời sống của mình, gọi là giờ pháp đàm.

Chúng tôi ai cũng có quyền chia sẻ, được mời chia sẻ về sự thực tập của mình, cách áp dụng những lời dạy của Bụt, của Thầy vào đời sống hằng ngày của mình mà không phô bày kiến thức. Tất cả mọi người cùng ngồi đó, có mặt để lắng nghe nhau trong tinh thần cởi mở và đón nhận mà không có sự so sánh hay – dở, không phán xét. Sau khi lắng nghe nhau, chúng tôi có cơ hội hiểu nhau hơn, biết được người kia đang thực tập ra sao để học hỏi kinh nghiệm tự thân cũng như yểm trợ nhau trong sự tu học.

Ngoài những Kinh Luận dạy chung cho hai giới xuất sĩ và cư sĩ, trong ngày xuất sĩ ở Nội viện Phương Khê, Thầy còn dạy cho chúng tôi những kinh mà Bụt từng dạy riêng cho người xuất sĩ. Những lúc đó tôi có cảm giác như Thầy đang đóng vai trò của một nhà phẫu thuật đang giải phẫu cho chúng tôi. Thầy chỉ cho chúng tôi thấy những khối u trong thân tâm, nguyên nhân đưa tới khối u và phương pháp cắt bỏ những khối u ấy để không làm ảnh hưởng tới những tế bào khác. Nếu có làm bài thì chúng tôi làm bằng cách viết thư cho Thầy, chia sẻ sự thực tập của mình. Chỗ nào chúng tôi chưa hiểu để thực tập thì thỉnh Thầy dạy thêm.

Khi đọc thư của đệ tử, Thầy biết được người này đang kẹt ở điểm nào và kịp thời tháo gỡ cho chúng tôi bằng cách cho pháp thoại, nhờ vậy nên chúng tôi được Thầy tháo gỡ những gút mắc trong tâm rất nhiều. Ngày xưa Bụt cũng đã từng làm như vậy với đệ tử của Ngài, và những bài kinh đó được gọi là thể loại Nhân duyên. Có khi thì Thầy cho chúng tôi làm bài tập, tùy theo sự thực tập của từng người mà Thầy cho đề tài để quán chiếu. Khi làm bài ở lớp, tôi chỉ cần nắm được nội dung của bài, chỉ cần học thuộc lòng là làm bài thôi. Nhưng bài tập của Thầy tôi thì không đơn giản như vậy, nếu không thực tập, không quán chiếu, nhìn sâu vào những gì bên trong và bên ngoài mình, không áp dụng sự thực tập vào đời sống của mình để chuyển hóa thì không thể làm bài được.

Đọc bài của đệ tử, Thầy biết liền người này có thực tập thiệt hay là chỉ nói lý thuyết. Trước đây tôi làm bài nghiêng về kiến thức, bây chừ tôi làm bài theo hướng kiến giải, tôi thấy thực tế hơn cho tôi nhiều. Thầy cũng là một nhà văn, nhà thơ nên chúng tôi cũng được Thầy dạy cho cách làm câu đối, thi kệ hay cách viết văn trong tinh thần thực tập. Ngày trước tôi viết bài để chấm điểm, để chứng minh, bình luận và so sánh giữa cái này và cái kia, kinh này và kinh khác, bây giờ tôi cũng viết nhưng cách viết khác hơn nhiều.

Thầy đã dạy cho chúng tôi rằng: “Khi viết là giúp mình quán chiếu về chính mình trong quá trình tu học và để hiến tặng cho mọi người những cái thấy của mình. Cái thấy thì không bao giờ giống nhau, tùy theo mức độ của sự thực tập và quán chiếu, bây giờ viết chưa hay nhưng thực tập lâu ngày thì có thể mình sẽ viết hay hơn. Vì vậy mình không cần mặc cảm là mình viết văn dở, câu cú chưa hay mà chỉ cần viết thật, chia sẻ thật là hay lắm rồi.” Tôi thấy đúng như vậy, nếu sau này tôi viết về chuyện tu học của tôi, chắc chắn tôi sẽ viết khác hơn bây giờ. Với những môn học ngoài, tăng thân cũng có mời những nhà khoa học như ông Trịnh Xuân Thuận về Làng, chia sẻ về vấn đề khoa học, vũ trụ và con người cũng như trao đổi với nhau giữa những cái thấy của nhà khoa học và nhà Đạo học để giúp nhau chăm sóc đất Mẹ.

Làng là trung tâm tu học quốc tế nên chúng tôi cũng có cơ hội học hỏi, thừa hưởng được rất nhiều về các truyền thống tôn giáo khác hay văn hóa của các nước, những môn nghệ thuật từ các thiền sinh về Làng tu tập. Ngoài học với Thầy ra, tôi còn học từ các sư anh, sư chị và sư em của tôi nữa. Tôi học cách sống, cách hành xử, cách nói năng, cách đi, cách đứng, cách đóng góp ý kiến của mỗi người trong chúng. Mỗi người là một bài pháp thoại sống không lời, một kinh nghiệm sống không mang tính chất lý thuyết, một viên ngọc quý không cần quảng cáo chất lượng bởi tất cả đều đang là mình, chính mình.

Học là một nghệ thuật, một sự thưởng thức, là đón nhận nguồn tuệ giác của Bụt và của những người đi trước để biết cái nào nên hay không nên áp dụng vào đời sống tu tập của mình. Học cũng là cách giúp tôi tiếp xúc với Bụt, với Tổ, với Thầy, với huynh đệ và với chính mình. Bụt vì muốn mình biết cách để thực tập nên mới dạy cho mình những phương pháp trở về quán chiếu, nhìn sâu vào chính mình để chuyển hóa những khổ đau và sống nhẹ nhàng. Vậy đó mà tôi đã đem cái tâm chất chứa lời Bụt dạy để làm vốn liếng cho mình. Việc học đâu phải là xấu xa tội lỗi, chỉ vì tôi chưa biết cách học cho có nghệ thuật nên mới thấy mình đầy ắp và mệt mỏi đấy thôi. Tội và oan cho Bụt, cho quý Ngài quá! Cầu cho mọi người đừng ai học kiểu như tôi trước đây nữa.

Tu

Học, tu, làm việc và chơi là bốn điểm cần có trong sinh hoạt của con người. Thầy không chỉ dạy kinh luật cho chúng tôi mà còn dạy cho chúng tôi về nghệ thuật sống, đó là phải biết cân bằng bốn điểm trên vào cuộc sống của mình. Tu là một nghệ thuật, học là một nghệ thuật, làm việc là một nghệ thuật và chơi cũng là một nghệ thuật. Những gì tôi đã chia sẻ trên cho biết rằng trước đây tôi là người chưa biết nghệ thuật sống. Đúng thôi, học không có nghệ thuật thì tu, chơi và làm việc cũng không có nghệ thuật là điều đương nhiên.

Nghe nói tôi sang Pháp tu học, nhiều người nghĩ rằng chắc tôi đi học một chương trình gì đặc biệt lắm, mới lạ lắm và cao siêu lắm, ít nhất thì cũng biết nói tiếng Pháp. Làm như ở Việt Nam không có các trung tâm dạy tiếng Pháp nên tôi phải sang tận Pháp để học ngôn ngữ. Và khi nghe tôi nói sang đây để học cách làm mới lại chính tôi thì mọi người nghe có vẻ như tôi đang đùa với họ vậy.

Tôi có cảm giác như mình là một “trung tâm sản xuất tri giác sai lầm.” Đi tu, tôi cứ nghĩ tu là phải tụng kinh cho nhiều, lạy sám hối cho nhiều, cầu nguyện cho nhiều, làm việc cho nhiều và học cho nhiều thì mới gọi là tu. Tu là không được chơi, chơi là có tội. Vì vậy tôi đã cố gắng để làm những điều như mình nghĩ. Tôi đã làm với hình thức nhiều hơn là nội dung và có khi là sợ hơn là muốn làm, sợ người khác nói mình tu mà giải đãi. Có những lúc tụng xong một thời kinh, tôi về phòng nằm dài và cảm thấy như mình không thể thở tiếp được vì “muốn đứt hơi”. Tôi đã coi trọng số lượng mà không biết rằng tu tập thì cần phẩm chất hơn. Có khi vừa tụng kinh xuống, thấy mấy điệu làm cái gì không vừa ý, tôi trợn cặp “mắt cua” của mình lên. Tôi cũng là bà Tư mà Thầy thường hay kể, đang ngồi niệm Bụt mà nghe người khác gọi tên mình hoài nên thả mõ, ngưng tụng và ra la cho họ một trận.

Khi đã trở thành người xuất sĩ, tôi cũng đã từng gặp những khó khăn chung và riêng. Tứ Diệu Đế là đề thi khi tôi vào lớp Phật học viện mà tôi đã thuộc nằm lòng, vậy đó mà tôi chẳng biết cách áp dụng vào đời sống hàng ngày của mình. Học về con đường đưa tới diệt khổ mà chẳng biết diệt bằng cách nào. Tôi chưa biết cách tìm ra nguyên nhân của mọi khổ đau, chưa biết mọi thứ đều do bên trong mình mà ra cả, chỉ nhìn những yếu tố bên ngoài và kết tội chúng. Tội nghiệp cho quý Ngài đã đầu tư lầm vào một đứa như tôi. Bây chừ tôi cần phải tu thiệt để chuyển hóa những tri giác sai lầm trong tôi và để đền đáp ân đức của quý Ngài thôi.

Tôi thương Thầy tôi, các sư chị và sư em tôi nhưng tôi chưa biết cách đem lại hạnh phúc cho Thầy và huynh đệ tôi, có lúc vô ý tôi còn làm cho Thầy và huynh đệ tôi buồn nữa là khác. Giai đoạn khó khăn nhất của tôi là thời kỳ Phật giáo ở Huế thiếu sự truyền thông. Ngày khai giảng Trường cơ bản Phật học là ngày mà sau khi về chùa, đêm đó tôi đã khóc rất nhiều. Tôi cảm thấy niềm tin của mình bị lung lay và có lúc tôi cảm thấy chới với, không biết nên tin vào ai vì ai tôi cũng kính, cũng thương như nhau. Tiếp tục làm người xuất gia hay trở về cuộc sống trước đây là một câu hỏi đã dằn vặt tôi trong thời gian ấy, bởi đi đâu tôi cũng nghe nhiều người bàn tán về chuyện phân chia giữa Giáo hội, Tăng đoàn. Nhưng phước đức của tôi vẫn còn nên tôi đã không bỏ cuộc.

Hồi đó dù thương kính quý Ngài nhưng trong tôi vẫn có sự trách móc và đổ lỗi. Tôi đổ lỗi cho những vị lớn đã không chăm sóc cho chúng tôi, những người xuất gia trẻ có được cuộc sống an ổn về mặt tinh thần. Tôi thầm trách quý Ngài đã gieo vào đầu chúng tôi những hạt giống phân biệt, chia rẽ và trách móc.v.v.. Tâm mình đâu phải là cái hố rác, vậy đó mà tự tôi đã đào cho mình một cái hố rác và để cho người khác tha hồ đổ rác xuống rồi tự trở lại trách móc đủ điều. Tôi đã chưa hiểu những khó khăn của các vị lớn, chưa có sự cảm thông và chưa biết cách thực tập nhìn sâu để thấy rõ nguyên nhân của những gì đã xảy ra cho tăng chúng ở Huế.

Trong tôi, hạt giống tội lỗi và mặc cảm đi lên rất nhiều, nhất là mỗi khi thấy một người cư sĩ chắp tay chào mình một cách cung kính, tôi cảm thấy mắc cỡ bởi mình là người tu mà sống thiếu sự hòa hợp. Đôi lúc đạp xe đi học mà tôi không dám ngẩng mặt nhìn lên. Tôi hổ thẹn với tất cả. Tất cả đều do sự thực tập của tôi còn yếu kém. Tôi không trở về nhìn sâu vào tôi để biết được những cảm thọ, những tâm hành đang diễn biến trong mình để ôm ấp và chuyển hóa. Không hiểu mình để cảm thông cho chính mình, chuyển hóa khó khăn của mình thì làm sao tôi hiểu và cảm thông cho người khác được.

Bây giờ, sau những năm thực tập với Thầy và tăng thân, tôi đã có cái nhìn khác hơn. Tôi biết cách trở về nắm lấy hơi thở, có mặt cho những cảm xúc đang đi lên và mỉm cười được với chúng. Khi biết được nguyên nhân có mặt của những cảm thọ, tôi dễ dàng để chuyển hóa chúng hơn. Đến với tăng thân, tôi cũng gặp những khó khăn như chuyện xảy ra ở Bát Nhã. Nhưng tôi không còn trách móc hay đổ lỗi mặc dù có lúc trong tôi cũng phát sinh những tâm niệm không dễ thương và tôi đã kịp thời trở về để chăm sóc những tâm niệm ấy.

Hơi thở là nơi giúp tôi trở về để nhận diện chính mình nhiều nhất và thành công nhất. Tôi thấy được những người đã làm cho tăng thân tôi gặp nhiều khó khăn thì chính họ cũng khổ. Thay vì trách móc và lên án thì chúng tôi nhắc nhau trở về thực tập phát khởi tình thương để gởi đến cho những người đã gây ra khó khăn cho chúng tôi. Nhưng trước khi làm được với người ngoài thì tôi đã thực tập với chính tôi trước. Tôi biết cách ngồi yên để lắng nghe tôi, lắng nghe những tập khí tiêu cực và tích cực với trái tim không phân biệt, không kỳ thị, không chối bỏ mà nghe với trái tim biết thương và chấp nhận những tập khí còn yếu kém vụng về nơi mình.

Ngồi yên là sự thực tập căn bản và rất cần thiết của người tu. Tôi nói người tu vì trong đó có cả hai giới xuất sĩ và cư sĩ, ai có thực tập chuyển hóa thì đó là người tu mà không chỉ cạo đầu và mặc áo tu mới gọi là người tu. Những ai muốn tu thì đều cần ngồi yên. Ngồi yên là một nghệ thuật trong khi tu. Ngày trước khi mới tập ngồi yên, tôi thấy rất khó vì tôi không thấy tâm mình yên gì cả. Tôi vật lộn với những cảm thọ đi lên trong mình nhiều lắm. Thân thì yên mà tâm còn nhiều bão tố.

Thường khi làm việc thì tôi thấy mình không suy nghĩ gì, nhưng khi ngồi yên lại thì bao nhiêu chuyện cứ đi lên trong đầu và tôi có mặc cảm là mình ngồi thiền mà không định tâm. Sự thật thì không phải như vậy. Khi làm việc, tôi tu chưa giỏi nên bị công việc lôi kéo, tôi ham làm việc mà quên theo dõi sự vận hành của tâm mình nên không thấy đó thôi. Nhờ ngồi yên nên mới giúp tôi thấy rõ những gì đang xảy ra trong mình; những cảm thọ, tri giác và tôi cười với những gì đang có mặt mà không cần xua đuổi, mặc cảm tội lỗi hay chạy trốn chúng. Thực tập ngồi yên đã giúp tôi trở về chăm sóc cho tâm tôi được lắng dịu, giúp tôi nhận ra những nguyên nhân của bệnh tật để trị liệu bằng phương pháp buông thư và gởi tình thương đến cho cơ thể, giúp tôi nhận ra được nguyên nhân của những khó khăn để chuyển hóa cho thân tâm được nhẹ nhàng.

Tôi rất thích ví dụ về ly nước táo ở thể bị khuấy động và để lắng yên. Ly nước bị khuấy động thì không phân biệt và thấy được những cặn bã rõ ràng, không thấy được phần nước trong. Chỉ khi nào ly nước được để yên thì những cặn bã mới lắng xuống phía dưới đáy ly và giúp ta nhận ra được những thành phần nằm trong ly nước. Ở Phật học viện tôi học trước đây cũng có giờ thực hành về thiền. Tôi rất thích giờ thiền tập này, mỗi tuần có một giờ thiền học. So với các môn thế học khác thì môn Thiền học có số giờ khiêm tốn nhất, 45 phút trong một tuần vừa học lý thuyết vừa thực hành, trong lúc đó thì các môn học khác đều học tới 90 phút. Có lúc vào ngồi thiền, tôi cảm thấy mình chưa thật sự đi sâu vào hơi thở, chưa làm lắng dịu những lao xao của giờ học trước đó thì đã hết giờ rồi. Tôi không biết có phải các Ngài tâm lý, lo tăng ni sinh trẻ chúng tôi không quen ngồi lâu nên đã bớt giờ thiền thực hành, tôi nghĩ vậy (90% tri giác sai lầm).

Tu là để giúp mình chuyển hóa những tập khí chưa dễ thương của mình và hóa giải những nội kết giữa mình và người khác để đưa tới sự hòa hợp, hòa hợp với chính mình và hòa hợp với mọi người cho cuộc sống nhẹ nhàng hơn, tự do hơn. Vậy đó mà tôi trước đây, không những không hóa giải được nội kết trong chính mình mà còn làm mất hòa hợp giữa mình và người khác nữa chứ. Tội nghiệp Thầy Tổ và huynh đệ tôi, tội nghiệp những người đã gieo hạt giống không đúng chỗ vào thửa ruộng của tôi. Cầu cho mọi người đừng ai tu tập như tôi trước đây nữa.

Làm việc

Quý thầy ở chùa Tổ (Từ Hiếu) và chùa Từ Phong Lan Nhã thường khen chị em chùa tôi làm việc giỏi và nhanh nhẹn (vì chúng tôi hay qua chấp tác giỗ Tổ, đi làm ruộng, đi đốn củi thông với nhau). Ngày trước tôi cũng thấy vui khi được khen như vậy. Tôi làm việc nhanh lắm, sau này thực tập quán chiếu tôi đã nhận ra đó là hạt giống do ba tôi trao truyền, ba tôi làm việc phải nói là “tốc hành”. Tôi làm việc với mục đích là làm cho xong và vì muốn làm cho xong nên tôi đã làm một cách vội vã. Chưa làm xong công việc này tôi đã nghĩ tới công việc khác. Tôi có cảm giác mình như một con lật đật, đi đứng làm việc như bị ma đuổi. Có khi cơ thể tôi mệt nhoài mà tôi vẫn không chịu ngưng công việc, tôi làm gắng cho xong mà công việc thì có bao giờ xong đâu. Việc gì tôi cũng “tranh thủ” và vì tôi muốn làm việc cho nhanh, cho mau xong nên khi người khác làm việc từ từ thì tôi thấy khó chịu và khởi tâm bực bội. Có những lúc vì muốn công việc mau xong nên tôi làm lật đật, kết quả là mọi việc bị đổ vỡ và nó trở thành chậm hơn.

Thời gian đầu mới đến Làng, những tập khí cũ cứ thúc đẩy tôi phải làm việc cho nhanh, đôi lần tôi đã đánh mất sự có mặt của mình trong công việc và để tâm suy nghĩ về chuyện khác. Nhưng tôi biết, tôi đang được sống trong một môi trường mà ai cũng thực tập làm việc thảnh thơi nhẹ nhàng nên thế nào tôi cũng được chuyển hóa. Và tôi đã chuyển hóa thiệt mặc dầu chưa được hoàn toàn 100%.

Tôi thích làm việc trong tinh thần hiến tặng. Ở Làng ai cũng làm việc, dù làm việc bằng tay chân hay làm việc bằng trí óc chúng tôi cũng thực tập với tâm bình đẳng và hiến tặng. Bình đẳng nghĩa là không có sự phân biệt giữa công việc, không có công việc nào quan trọng hơn công việc nào và không có ai quan trọng hơn ai cả. Anh chị em tôi làm việc với nhau rất vui. Vừa rồi tại khóa tu tại Phật học Viện châu Âu ở Đức, tôi làm trong đội rửa nồi.

Hôm ấy là ngày cuối cùng của khóa tu, sau giờ cơm trưa thiền sinh rời học viện. Vì thiền sinh đông nên có đến mười hai dãy bàn ăn, xoong nồi và khay đựng thức ăn nhiều lắm. Trưa đó thiền sinh trong đội rửa nồi đã về hết nên đội tôi chỉ còn lại mấy người. Thấy vậy, các “sư cha” Pháp Ứng, Pháp Niệm, Trung Hải, Pháp Trạch (trú trì viện Phật học) và cả Venerable Kaili (thượng tọa Khai Luật, “sư anh” lớn nhất ở Xóm Thượng) đều đến “xăn tay áo” rửa nồi giúp, có cả “sư cha” Từ Hải và “sư mẹ” Phước Tâm cũng chung đội với tôi.

Rửa nồi là một nghệ thuật, rửa nồi cũng là rửa tâm, là sự hiến tặng niềm vui cho mọi người. Thấy các sư cha sư mẹ đứng xếp hàng rửa nồi, các sư em hạnh phúc lắm, cứ đứng nhìn và cười tủm tỉm. Không có công việc nào là tầm thường cả, chỉ có sự phân biệt khiến cho tâm mình trở nên tầm thường và hạn hẹp mà thôi. Tôi thấy cái quan trọng là phẩm chất làm việc của từng người qua sự thực tập. Khi tôi lau chùi nhà vệ sinh có chánh niệm, có niềm vui thì tôi ghi vào sổ công phu của mình một dấu cộng. Nhưng khi tôi ngồi thiền mà không có phẩm chất, tôi ghi vào sổ công phu một dấu trừ. Tôi hạnh phúc bởi tôi còn có sức khỏe đủ để đóng góp khả năng của mình cho tăng thân, biết thực tập dừng lại mỗi khi cơ thể tôi lên tiếng “chị ơi, em cần nghỉ!”

Làm việc cũng là tu. Tôi luôn nhớ lời Thầy dặn, rằng làm việc không phải để cho xong mới có hạnh phúc mà phải hạnh phúc ngay trong khi làm việc. Từ khi biết thưởng thức công việc mình làm, tôi thấy mọi cái trở nên nhẹ nhàng và đơn giản hơn. Nhờ có mặt và nhìn sâu vào những gì mình làm, tôi đã khám phá ra những vụng về cũng như tài năng của tổ tiên tâm linh và gia đình huyết thống trong tôi. Ngày trước tôi để cho công việc làm chủ tôi, bây giờ tôi trở lại làm chủ công việc, chúng tôi đổi ngôi cho nhau trong tinh thần hòa hợp.

Tu học là để làm chủ chính mình. Vậy đó mà tôi đã để cho công việc làm chủ tôi, sai khiến tôi một cách ngon ơ. Tôi cứ nghĩ làm việc nhiều thì có phước nhiều để tu. Phước huệ song tu mà. Tôi quên rằng phước đức được xây dựng bằng những chất liệu của sự tươi mát, nhẹ nhàng, thương yêu và hiến tặng trong khi làm. Còn công việc thì dù có tái sinh lại ngàn đời vẫn không thể nào làm hết được, chỉ có mình biết cách dừng lại mà thôi. Tội nghiệp ba mạ và tổ tiên của tôi đã cho tôi thân thể này, vậy mà tôi đã không biết chăm sóc, giữ gìn, sử dụng cho đúng pháp để nuôi dưỡng tổ tiên, để phụng sự cho cuộc đời mà đã phí phạm sức khỏe một cách thiếu ý thức. Cầu cho mọi người đừng ai làm việc kiểu như tôi trước đây nữa.

Chơi

Tôi lớn lên ở miền núi. Nhà tôi ở một mình giữa đồi hoang suối vắng, xung quanh chẳng có nhà nào. Chỉ khi đi học tôi mới gặp bạn bè, hoặc muốn có bạn chơi thì tôi phải đi lên xóm trên hay xuống xóm dưới mà nhà thì ở cách xa nhau, thành thử tôi cũng làm biếng đi chơi. Suốt ngày tôi lang thang một mình trên đồi dưới suối. Vào chùa, ngoài Sư phụ và Bà (mẹ của sư phụ tôi) chùa chỉ có một mình tôi. Sau một thời gian sư phụ tôi mới nhận thêm một điệu nữa nhưng chúng tôi nói chuyện rất ít. Khi về Huế và đi học, tôi mới có thêm bạn để chơi. Nhưng thật ra thì chúng tôi cũng chẳng có nhiều thì giờ để chơi với nhau. Học xong thì ai về chùa đó. Về chùa thì lo làm việc, tụng kinh và học bài, giờ đâu để ngồi chơi, mà nếu có ngồi chơi là được nhắc liền.

Con người luôn cần sự quân bình giữa cái học, tu, làm việc và chơi mà tôi thì bị mất thăng bằng nhiều quá. Nếu đặt bốn điểm đó lên bàn cân thì ba điểm kia sẽ hất bổng điểm chơi của tôi ra khỏi bàn cân bởi không có trọng lượng. Tôi chưa có một ý niệm về chơi và cũng không giỏi để đến chơi với người khác. Do không biết chơi nên tôi không mở lòng ra với mọi người. Mỗi khi có chuyện buồn, tôi thường nghỉ học đạp xe đi vòng vòng quanh mấy cửa thành trong Thành Nội, hay vào tháp Tổ Liễu Quán ngồi khóc (chùa tôi ở gần tháp Tổ), hoặc rủ hai người bạn thân về biển hóng gió cho đến hết giờ học mới đạp xe về chùa. Vì vậy trước khi tới Làng tôi chưa bao giờ xếp giờ chơi vào thời khóa của mình. Thời khóa của tôi chỉ có ba môn: Tu (tụng kinh), học và làm việc.

Đến Làng, tôi học được cách chơi của các anh chị em. Có nhiều cách để anh chị em tôi tới chơi với nhau. Ngồi uống trà và kể chuyện cho nhau nghe trong tinh thần hiểu biết và xây dựng, chơi thể thao, đi bộ hay ngồi lại đàn hát cho nhau nghe hoặc chia sẻ pháp đàm cũng là một hình thức ngồi chơi với nhau. Trong những lúc ngồi chơi, tôi luôn ý thức đây là cơ hội để tôi và mọi người hiểu nhau, chúng tôi đang xây dựng tình huynh đệ. Tôi không để cho những cái vui lôi cuốn và đánh mất mình, không để cho những câu chuyện không nuôi dưỡng kéo mình đi như trước đây nữa.

Tôi quan sát và thấy rằng ở đây anh chị em làm gì cũng hết lòng. Làm việc hết lòng, tu hết lòng, học hết lòng mà chơi cũng hết lòng lắm. Tôi cũng thực tập chơi như các anh chị em. Cứ tưởng chơi là dễ, ai ngờ khó thiệt bởi em bé trong tôi đã quen lang thang một mình nên khó để hòa vào với mọi người. Các anh chị em thực tập dễ thương nên đã chủ động đến chơi với tôi. Dần dần tôi cũng quen và bớt mặc cảm là mình vụng về trong khi chơi. Em bé trong tôi ngày trước không có bạn để chơi, chú Điệu trong tôi cũng không có bạn để chơi và sư em thuở “ni sinh” trong tôi cũng không có thì giờ để chơi, vì vậy tôi chơi cho những “người thương” trước đây của tôi.

Chơi với anh chị em và tôi cũng tập chơi với chính tôi. Có những lúc tôi ngồi yên và chơi với những cảm thọ đang diễn trò trong tôi, gọi tên và cười với chúng. Có khi tôi mời những người “bạn cũ” đến chơi, những người bạn (khó khăn) mà trước đây khi họ đến, tôi đã làm lơ vì không có đủ thời gian để tiếp. Tôi ngồi yên và lắng nghe những người bạn mình chia sẻ, tìm hiểu để biết rõ lý do khi bạn tìm đến tôi. Khi biết được lý do rồi, tôi cảm thấy thoải mái để tiếp bạn mình, chơi với bạn mình và tiễn bạn mình “ra về” trong niềm vui thân thiện. Khi tôi chơi được với tôi, hiểu được tôi và chấp nhận được tôi thì tôi cũng chơi và chấp nhận được người khác.

Tôi đã nhận ra rằng tu cũng là chơi, làm việc cũng là chơi và học cũng là chơi. Chơi có nội dung của sự thực tập giúp tôi trở về sống sâu sắc hơn với chính mình. Thật ra tôi có nhiều người bạn để chơi lắm, chẳng qua là do tôi không chịu khám phá, làm quen nên không nhận ra đó thôi. Một đồi hoa sim tím nhạt hay một rẫy hoa cà phê trắng toát là bạn; những bông lau trên đồi, những dòng suối mát với tiếng nước róc rách cũng là bạn; những hòn sỏi nhỏ hay những chiếc lá thu rơi là bạn; những chú chim sâu hay những cánh bướm là bạn; những trang kinh sơ tâm hay những bộ chữ Hán cho người sơ học cũng là bạn; những hờn tủi, niềm đau trong tôi hay những niềm vui, nụ cười tươi, v.v.. tất cả đều là những người bạn của tôi.

Sở dĩ trước đây tôi đạp xe lang thang hay ngồi khóc một mình khi có khó khăn buồn tủi là vì tôi chưa biết cách chơi với chính mình, chưa nhận ra những người bạn dễ thương của mình nên đã mượn những cái bên ngoài để quên đi mọi thứ. Tôi tìm trong các kinh Bụt dạy, chưa có kinh nào Bụt dạy mọi người khi buồn thì nên đi lang thang, ngồi khóc hay đến những nơi ồn ào để tiêu túng thời gian và quên đi buồn đau của mình cả. Vậy đó mà đã một thời, tôi đóng vai người ngoài cuộc, không biết mình có một Câu lạc bộ sang đẹp, ấm áp để tham dự vào những trò chơi lành mạnh đầy nuôi dưỡng. Câu lạc bộ của tình huynh đệ, của thiên nhiên đất trời, của sự quay về với hải đảo tự thân nơi chính mình. Tội nghiệp cho những huynh đệ của tôi, những người bạn đồng môn của tôi đã có một người bạn chẳng trung thành, chẳng hiểu bạn bè chi cả. Cầu cho mọi người đừng ai rong ruổi, lang thang như tôi trước đây nữa.


Ngày nớ cũng là bây chừ

Trước khi trở thành một con ếch thật sự thì con ếch phải trải qua thời kỳ trứng nước và làm thân của con nòng nọc với cái đuôi lòng thòng ngộ nghĩnh. Nếu không trải qua thời kỳ trứng nước và làm nòng nọc thì nó không thể trở thành ếch được và chúng ta cũng không thể gọi nó là ếch. Sở dĩ nó được gọi là ếch vì nó đã trải qua quá trình tiến hóa để “rụng” cái đuôi lòng thòng ấy. Nòng nọc biết thay đổi (rụng) cái đuôi để trở thành ếch.

Tại sao mọi người gọi tôi là sư cô. Họ gọi tôi sư cô vì bây giờ tôi đã “rụng” tóc và khoác trên mình chiếc áo của người xuất gia. Nhưng trước khi trở thành người xuất gia thì tôi là một em bé, một chú Điệu tập tành để trở thành một người xuất gia thật sự. Tôi cũng từng mang trong mình “cái đuôi” của những yếu kém vụng về, những tập khí chưa dễ thương, những tri giác sai lầm và những khó khăn buồn tủi. Mặt khác tôi cũng thấy được trong tôi niềm thao thức, những ước muốn hoàn thiện chính mình. Và tôi đã trở về.Trở về nương tựa tăng thân để cùng nhau tu tập.

Thời gian đầu thực tập tôi phải trải qua rất nhiều khó khăn. Khó khăn về môi trường mới, ngôn ngữ bất đồng, văn hóa khác biệt hay vấn đề thức ăn, v.v.. là những cái bên ngoài, tuy có khó thiệt, nhưng không khó bằng sự thực tập làm chủ chính mình. Tôi có quá nhiều tập khí tiêu cực đã được huân tập từ nhiều phía, nhiều năm. Trước đây tôi khỏa lấp, chôn vùi và chạy trốn chúng, đã đến lúc tôi phải đối diện với chính tôi, đối diện với những hạt giống đang có trong tôi để ôm ấp và chuyển hóa. Không phải tự nhiên mà tôi cười tươi, tôi lắng nghe sâu, tôi chủ động đến với người khác, tôi nói một lời nhẹ nhàng dễ nghe, tôi biết ngồi yên… được.

Có lúc tôi đã phải vật lộn nhiều lắm với những cảm xúc, những tập khí, mặc cảm đi lên trong mình. Nhiều khi chúng trồi lên nhiều quá khiến cho tôi không thể xử lý tình huống được và dù không muốn, tôi cũng đã cho ra những cử chỉ, lời nói hay suy nghĩ không dễ thương chút nào và sau đó, tôi tự ăn ăn hối hận. Những gì mà trước đây người khác đã làm cho tôi buồn và không nuôi dưỡng tôi, tôi hoàn toàn không muốn lặp lại với người khác. Nhưng đâu phải tôi muốn là làm được liền, tôi cần có thời gian và trở về thực tập nhiều lắm. Trong những sinh hoạt tiếp xúc với nhau, đôi lúc tôi phải cẩn thận lắm mới không để cho những năng lượng tiêu cực “xì” ra. “Làm sao biết từng nỗi đời riêng, để yêu thêm…” Ngày trước tôi hay ngâm nga câu hát này của Trịnh Công Sơn. Bây giờ thì tôi thấy “làm sao để nhận diện được những tập khí trong mình, dù tích cực hay tiêu cực để trở về chăm sóc cho chính mình…” hơn.

Với những gì cùng tôi đi qua trong những năm trước đây đã cho tôi khá nhiều kinh nghiệm thực tế tự thân. Tôi biết hướng dẫn và đào tạo cho người xuất gia, nhất là những người xuất gia trẻ như chúng tôi không đơn giản chút nào, trước hết phải hiểu được họ. Riêng tôi, tôi thích được hướng dẫn tu học một cách rõ ràng và cụ thể, không chung chung, không khái quát, cần thực tế mọi chuyện, nhất là chuyện tu học. Bởi tôi biết rằng nếu không học rõ ràng, không thực tập cụ thể thì tôi không thể hiểu được, không thể làm được những gì Bụt đã trao truyền.

Bụt đã trao truyền thì tôi là sự tiếp nối của Bụt. Tôi không muốn tiếp nối Bụt một cách sai lầm, tôi không muốn đem Thầy Tổ tôi, đem quý Ngài đã từng dạy dỗ cho tôi, đem huynh đệ và gia đình tôi đi về hướng tối tăm. Con nòng nọc muốn rụng đuôi để trở thành ếch. Tôi cũng muốn thực tập để làm “rụng” đi những tập khí tiêu cực và trở thành một sư cô, một người tu thiệt. Có con nòng nọc mới có con ếch. Cũng vậy, nếu không có những năm đi học ở các trường Phật học, được quý Ngài giảng dạy, trao truyền cho tôi những kiến thức về Phật pháp thì làm sao tôi có thể tiếp nhận những lời Thầy dạy hôm nay một cách dễ dàng được.

Mỗi khi Thầy dạy các kinh bằng chữ Hán hay những môn luận, tôi thấy niềm biết ơn trong tôi đối với quý Ngài nhiều lắm, bởi quý Ngài đã trao truyền cho tôi vốn liếng về kiến thức Phật học. Quý Ngài đã cho tôi những thực phẩm rất lành mạnh, Thầy là người bày cho tôi công thức, cách nấu và nếu tôi là người khéo tay thì tôi sẽ tự nấu được cho mình những món ăn ngon, lành mạnh và biết cách chế biến ra thêm nhiều món ăn mới. Thử nghĩ nếu có người biết công thức nấu ăn, biết cách nấu ăn và muốn nấu ăn mà không có thực phẩm để nấu; hay có thực phẩm mà không biết cách nấu; hoặc vừa có thực phẩm và vừa biết cách nấu nhưng không chịu nấu thì có giúp ta vượt qua cơn đói?

Nhưng sự thật thì tôi cũng đã khám phá ra rằng từ nơi Thầy, tôi đã thấy được không chỉ có một kho thực phẩm tâm linh, một cửa hàng, một đại lý, một công ty mà có quá nhiều thực phẩm tâm linh lành mạnh, tươi ngon đầy quý giá. Từ gia tài thực phẩm tâm linh quý giá mà Bụt để lại, Thầy tôi đã tiếp nhận một cách sâu sắc và giờ đây, Thầy tôi đã sản xuất được thực phẩm, chế biến thực phẩm và cung cấp thực phẩm cho tất cả những ai cần đến những món ăn, món ăn tinh thần có khả năng nuôi dưỡng cả thân lẫn tâm. Tuy biết rằng cái gì cũng có giá trị của nó, nhưng tôi vẫn thấy mừng cho các sư anh, sư chị và sư em của tôi cũng như các thiền sinh đã may mắn tìm ra được kho thực phẩm tâm linh quý giá này từ Thầy tôi mà không quá mất nhiều thời gian như tôi. Đã đến nơi có đầy đủ thực phẩm tâm linh cho sự sống mà mình cần rồi, không lẽ mình lại quay lưng bỏ đi. Đi đâu? Tìm chi?

Tương tức là vậy, nếu không có cái này thì cũng không có cái kia. Rác cũng chính là hoa, tôi đang thực tập để nhìn sâu hơn vào đề tài này. Nếu không có em bé thiếu bạn chơi ở miền núi, không có những ngày làm Điệu, không có một thời làm ni sinh của trường Phật học, không có những năm tháng thực tập vụng về, hay những tháng ngày khó khăn trước đây xảy ra cho tôi, và nếu không trở về nương tựa tăng thân thì sẽ không có tôi bây giờ. Tôi là một với tất cả và tất cả cũng chính là tôi. Cầu mong cho tất cả mọi người đều có được một cuộc sống nhẹ nhàng và tự do. Tự do trong khi tu, trong khi học, trong khi làm việc và trong khi chơi.

Sự sống đẹp lạ thường

Thiên nhiên trị liệu

Mình vẫn khỏe và mập hơn lúc còn ở Việt Nam. Có lẽ mình lành hẳn cơn bệnh rồi, bạn ạ! Trước đây mình luôn luôn suy nghĩ và có niềm tin rằng mình sẽ lành mạnh, bởi thế mình sống vui trong suốt thời gian ba tháng điều trị ở Thủ Đức.

Mùa xuân năm nay mình trở về Làng Mai sau khi đi ngang qua một cơn đại giải phẫu với nhiều đau nhức và điều trị một thời gian tại Việt Nam. Mình bị ung thư ruột già. Bác sĩ Tôn Thất Cầu, Trưởng khoa Ung Bướu ở bệnh viện Trung Ương Huế bảo mình phải điều trị bằng hoá chất, nhưng mình muốn trị bằng thiền định và các loại thuốc cỏ cây thiên nhiên. Sau hơn hai mươi năm tu học, mình tin tưởng nơi Bụt và pháp môn của Bụt do Thầy trao truyền. Mình dùng năng lượng chánh niệm để sống vui trong lúc điều trị. Mình cũng tin các bác sĩ nhưng mình tin ở giáo lý của Bụt nhiều hơn, nghĩa là sống chết đều do nghiệp, xin thêm một ngày cũng không được thì hơi đâu mà lo lắng.

Hơn nữa mình đã quán chiếu về cái chết nhiều năm và sống chết chỉ là việc thay áo cũ thành áo mới, đổi xác trà cũ thành trà mới. Chỉ thế thôi! Sống được ngày nào vui ngày đó, vì thế mình vui tươi và trở nên yêu đời hơn trước nhiều.

Bây giờ ở Pháp, mình đi bộ mỗi ngày, vừa nhìn cảnh đẹp núi đồi thiên nhiên, vừa thở không khí trong lành và đợi mặt trời xuống để thưởng thức cảnh hoàng hôn hồng tím. Vào ngày đẹp trời, mình đi bộ dài hơn tám cây số theo con đường đến ngã ba Xóm Hạ, quẹo qua lâu đài, đi đến đường qua Xóm Mới, quay trở lên đường về lâu đài Thénac. Ngày nào có nhiều mây, mình đi bộ qua Xóm Đoài, con đường dài khoảng hai cây rưỡi số, đi về cũng được hơn bốn cây số.

Đi bộ giúp cơ thể của mình tiếp nhận được nhiều sinh tố D từ tia nắng mặt trời để điều trị ung thư. Mình đang thực tập theo đề nghị của bác sĩ Lương Vinh Quốc Khanh. Ở Pháp mặt trời thật quý! Pháp thuộc về vùng Bắc Âu cho nên mặt trời có nhiều tia hồng ngoại gửi theo trong nắng nhiều sinh tố D. Mặt trời ở đây không nóng thiêu đốt như mặt trời ở các nước nhiệt đới và nắng ấm áp chứ không gay gắt như nắng ở quê nhà. Mình vừa đi vừa mở tung hết cánh cửa tâm hồn và cơ thể cho thiên nhiên đi vào nuôi dưỡng và trị liệu.

Mình thấy rõ nắng có công năng trị liệu. Gió chiều, không khí, trời xanh, lá rừng, bông hoa đều có công năng trị liệu… Tóm lại, tất cả năng lượng trong thiên nhiên đều có công năng trị liệu. Thiên nhiên là thuốc quý nhất trong các loại thuốc.

Chánh niệm là năng lượng tỉnh táo, ý thức, bén nhạy nên sự cảm nhận của thân tâm với các loại năng lượng như nắng, gió, không khí, bình an, tươi mát, tĩnh lặng trở nên rõ rệt. Khi tâm ý không còn hoạt động lao xao trở về với trạng thái yên tĩnh thì nó có thể tiếp xúc được với mọi hiện tượng hình sắc, kể cả năng lượng trong sự sống. Khi tâm thức xao động thì nó mờ ám bởi sự rung động (vibration), do đó nó không thể bắt được làn sóng trị liệu của thiên nhiên và sự sống. Mình tập sống với tâm không suy nghĩ, không lo âu, không tính toán. Luôn luôn nhớ rằng mình chỉ còn một ngày để sống, vì vậy mình thực tập trân quý sự sống thật sự.

Không biết thiên đàng của Chúa Trời có đẹp hay không? Nhưng cảnh tượng ở nơi đây sao đẹp đến lạ lùng! Nó đẹp đến huy hoàng, mây trời màu sắc rực rỡ, thiên nhiên xanh mướt mát mẻ, đồi núi chập chùng yên tĩnh! Xóm Thượng là thiên đường tuổi thơ của mình. Về đây, mình tiếp xúc lại nhiều kỷ niệm của thời còn là một sư chú. Sư Ông đặt tên cho mình là sư chú Pháp Đăng, và mình tự đặt cho mình nhiều tên khác nữa trong ấy có sư chú Thạch Lang, sư chú Châu Linh, Suối, Lang, Tình Lang, Chàng Đá, Tuyết Sơn… Ngồi đâu, mình cũng bắt gặp bóng hình của sư chú Thạch Lang. Sư chú đã từng ngồi ngắm mặt trời lặn, đã từng đi chơi khắp nơi, đã từng ngồi thiền nơi đồng cỏ, bên hồ sen, dưới cây tùng… Sư chú đã từng ngồi hàng giờ vẽ cái hồ số tám dưới thung lũng của nhà thờ Thénac bằng sơn màu…

Tuy nhiên, mình không đánh mất mình trong quá khứ đâu mà an trú thật bền trong hiện pháp cho nên mình cảm thấy vui và thấy rõ thân tâm càng ngày càng khỏe mạnh.

Sự sống đẹp lạ thường

Suy nghĩ lành mạnh

Mình đang dùng phương pháp tư duy tích cực, lành mạnh, trong sáng để điều trị ung thư. Suy tư là một loại hoạt động của tâm, có thể gọi là năng lượng. Suy tư là tiếng nói âm thầm trong tâm ý, có ảnh hưởng tới đời sống nội tâm, thân thể và tác động lên mọi người, mọi loài chung quanh.

Sau nhiều năm tu luyện, mình thấy mỗi tư duy đều có ảnh hưởng rõ rệt tới hoạt động của thân thể. Suy nghĩ dễ thương thì cơ thể nhẹ nhàng, bình an. Suy nghĩ dữ dằn, lo sợ, thù ghét thì cơ thể bứt rứt, tạo năng lượng sôi sục trong máu huyết, tim đập nhanh và thường đưa tới mệt mỏi, đau nhức. Suy nghĩ xót thương thì cái nhìn dịu hiền làm cho cơ thể buông thư, ấm áp. Suy nghĩ bậy bạ, trần lụy, dâm dục thì cơ thể lên cơn sốt dục vọng, bất an, căng thẳng. Suy nghĩ trong sáng thì cơ thể thảnh thơi, nhẹ nhàng. Vậy, lấy cái tư duy trong sáng, dễ thương, lành mạnh, mình giúp cho cơ thể mạnh khỏe, bình an, tạo ra năng lượng đề kháng để trị bệnh. Mình rất tin vào phương pháp suy tư lành mạnh này.

Giáo sư Emoto Masaru là người Nhật Bản để ra mấy mươi năm nghiên cứu về nước. Giáo sư nói: “Nước là nền tảng, bản chất của sự sống.” Đời sống con người có liên hệ mật thiết tới phẩm chất của nước. Con người mạnh khỏe hay bệnh tật đều do nước trong hay nước đục. Điều công bố này ai cũng tin, bởi vì con người tiêu thụ nước nhiều nhất trong đời sống hàng ngày và giáo sư đã đưa ra các hình ảnh chụp từ các nguyên tử nước càng làm cho mọi người tin tưởng và kinh ngạc hơn.

Nước bị ô nhiễm có nguyên tử không lành lặn, nó bị méo mó, bị bể ra từng mảnh nhỏ; nước sạch sẽ, trong lành có nguyên tử nguyên vẹn, hình đẹp như một bông hoa, một hạt tuyết, một ngôi sao.

Hiện giờ có nhiều dòng sông trên thế giới đang bị ô nhiễm trầm trọng do con người thải vào sông quá nhiều chất độc hóa học, dầu mỡ, rác rến, nhất là các nước chậm tiến với đa số người dân không có ý thức trách nhiệm và kiến thức về môi trường. Nước bị ô nhiễm thì các loài thủy tộc sống trong đó cũng bị bệnh, vì thế khi con người ăn các loài ấy thì con người cũng bệnh. Lấy nước trong dòng sông ô nhiễm ấy để tưới vườn rau cải thì rau cải mang theo các chất độc hóa học, vì thế bệnh của con người một phần là do nguồn nước bị ô nhiễm mang lại.

Giáo sư làm cuộc thí nghiệm về nước với việc cầu nguyện. Lấy một ly nước ở dòng sông ô nhiễm, giáo sư cho các học sinh cầu nguyện khoảng 20 phút bằng bất cứ tín ngưỡng nào. Giáo sư bỏ ly nước ấy ở phòng đông lạnh, rồi lấy vài hạt băng trong ly nước ấy chụp hình thì nguyên tử nước trở lại nguyên hình, đẹp như một bông hoa, nghĩa là nước cũng cảm nhận năng lượng an lành của sự cầu nguyện.

Giáo sư thử nghiệm nước với các loại âm nhạc. Lấy một ly nước “nguyên chất” gọi là “distilled water” cho nước nghe “nhạc dân ca” thì nguyên tử nước biến thành hình bông hoa, cho nước nghe “nhạc Rock’n Roll” thì nguyên tử nước run rẩy bể từng miếng nhỏ…

Giáo sư lại thí nghiệm nước bằng cách dán lên ly nước các chữ khác nhau như “cám ơn nước” thì nguyên tử nước hạnh phúc đẹp hẳn ra, “tao giết mày” thì nước sợ hãi nên nguyên tử nước méo mó….

Do thế, nước thật sự nhạy cảm! Nước có tâm thức vì vậy nước biết được ngôn ngữ, nghe được lời nói, âm thanh, cảm được năng lượng, ba động của suy tư, lời nói của con người. Bạn có thể nói rằng: Sự sống con người ảnh hưởng sâu đậm trên bản chất của nước và ngược lại. Nếu tâm con người lành mạnh thì nước trong trẻo hơn. Nếu con người biết cầu nguyện, khen ngợi, hát dân ca thì nước trong lắng trở lại. Và nếu con người biết cám ơn, biết bảo vệ, không xả rác, không thải các chất độc hại vào nước thì các dòng sông sẽ tự nhiên trong lành trở lại.

Thân thể con người chứa gần 70 phần trăm nước. Nếu nước ở ngoài nhạy cảm với ngôn ngữ, âm thanh, lời nói, suy tư, tình cảm thì nước trong thân thể con người cũng như thế. Điều này chứng minh rõ là môi trường, cách sinh hoạt, suy tư, nói năng của con người có nhiều nguồn năng lượng không lành mạnh tạo ra bệnh tật, bởi vì thời nay con người mang bệnh quá nhiều. Càng ngày bệnh tai biến càng tăng do căng thẳng. Càng ngày bệnh ung thư càng nhiều do các chất độc hại. Càng ngày bệnh tâm thần càng nhiều do trầm cảm, bất an…

Tóm lại, ngoài bảo vệ môi trường sinh sống, bạn nên thực tập tư duy lành mạnh. Bạn gửi càng nhiều tình thương cho mọi người càng tốt. Bạn hãy nhớ tới hình ảnh cầu nguyện, lời “cảm ơn” của giáo sư Masaru mà nguyên tử nước trong lại đẹp hẳn ra, huống hồ gửi năng lượng an lành, tình thương, biết ơn tới con người thì chắc chắn con người sẽ mạnh khỏe. Bạn hãy suy tư lành mạnh như thế cho người thân, bạn bè, mọi người, mọi loài và thiên nhiên nữa nhé. Năng lượng lành mạnh sẽ làm cho cỏ xanh hơn, nước trong hơn, hoa thắm hơn, chim hót hay hơn, mẹ vui hơn, em khỏe hơn…

Quan trọng hơn hết là mỗi ngày bạn hãy nhớ suy tư lành mạnh, dễ thương, tha thứ, vui tươi đối với chính bạn, bởi vì năng lượng tình thương, lành mạnh, sự tha thứ, niềm vui tươi sẽ tuôn chảy khắp châu thân, giúp cho thân thể mạnh khỏe, sức đề kháng gia tăng, máu huyết lưu thông thì thế nào bạn cũng sẽ khỏe mạnh. Bạn hãy thử nghiệm vài suy tư lành mạnh xem thế nào!

Trị bệnh bằng thiền định

Thiền định là phương pháp trị liệu tuyệt vời nhất. Thiền định là sức mạnh tâm linh giúp gạn lọc tâm ý tiêu cực như phiền não, sợ hãi, lo lắng, đam mê, sầu muộn… Thiền định thắp sáng ý thức, tập trung tâm ý, dự trữ năng lượng giúp cơ thể phục hồi sức khỏe. Thiền định là nếp sống chánh niệm trong đời sống hàng ngày, tức là đi biết đi, ngồi biết ngồi, đau biết đau, buồn biết buồn… Thiền định có thể thực hiện trong mọi sinh hoạt của đời sống nhưng quan trọng nhất vẫn là ngồi thiền.

Ngồi thiền là cuộc trở về với bạn, sự sống và hiện tại. Ngồi thiền là đưa tâm rong ruổi trở về hợp nhất với thân ở trong trạng thái tĩnh lặng, do thế bạn trở thành sự sống, thâm nhập sự sống, cảm được chất liệu nuôi dưỡng từ sự sống. Cả con người bạn tỏa ra một sức sống tràn đầy từ đôi mắt, nụ cười, dáng ngồi.

Tuy nhiên, một số đông các bạn đang gặp nhiều khó khăn về phép ngồi thiền. Có lẽ, các bạn này chưa nắm rõ tư thế và nghệ thuật của phép ngồi thiền. Ngồi thiền là ngồi chơi. Ngồi chơi là ngồi thở. Nếu ngồi mà bạn không theo dõi hơi thở thì tâm ý bạn sẽ lén lút ra đi. Vì vậy “hơi thở là dây neo” giữ chiếc thuyền tâm ý ở lại với thân. Ngồi chơi cho vui, tức là ngồi không gồng gượng, không cố gắng, không gò bó, không căng thẳng, không mong cầu, do thế bạn sẽ ngồi được lâu, không bị nghẹt thở, không đau nhức, không mỏi mệt, không buồn ngủ. Phong cách ngồi chơi làm cho buổi ngồi thiền trở nên thoải mái, nhẹ nhàng và an lạc.

Thế ngồi vững nhất là ngồi kiết già, hai bàn chân chéo vào nhau, chân phải đặt trên bắp vế trái và chân trái trên bắp vế phải, gọi là liên hoa tọa (thế ngồi hoa sen). Bạn ngồi xếp bằng hai chân trên một cái gối dày vừa đủ để giữ vững toàn thân. Nếu ngồi kiết già quá khó thì bạn có thể ngồi bán già, chỉ chân này chéo vào chân kia hay ngược lại. Nếu ngồi bán già vẫn còn khó thì bạn có thể ngồi khép hai chân đặt về phía trước hoặc muốn ngồi như thế nào cũng được, miễn là cảm thấy thoải mái. Bạn cũng có thể ngồi trên ghế, hai bàn chân đặt trên sàn nhà và hai tay chạm vào nhau bắt ấn thiền định.

Quan trọng là giữ lưng cho thẳng, buông thư mà không gồng cứng ngắt. Ngồi sao mà phần trên từ bụng trở lên của cơ thể hoàn toàn thư giãn, thả lỏng, thoải mái. Bạn có cảm giác cơ thể nhẹ như một sợi tơ. Nếu ngồi mà tư thế nặng nề, mệt nhọc, khó thở thì bạn phải điều chỉnh lại tư thế. Có thể sống lưng cong quá, bụng bị ép, cơ thể gồng gượng cho nên máu huyết, tim mạch, hệ hô hấp không lưu thông. Hai bên sống lưng là hai luồng năng lượng, có những dây thần kinh và nhiều huyệt mạch điều khiển tất cả hoạt động trong cơ thể. Bạn phải trả xương sống trở về trạng thái cong tự nhiên của nó. Hãy để xương sống thả lỏng như lúc bạn đi hay đứng thì thần kinh, máu huyết, mạch huyệt mới đả thông. Lúc ấy năng lượng trong cơ thể mới lưu chuyển giúp cho tâm thức thông suốt và an lạc.

Tại một vài thiền viện, thiền sinh không được động đậy trong khi ngồi thiền, dù chân bị tê nhức thế nào họ cũng phải cố gắng chịu đựng, điều này không cần thiết. Ngồi thiền là để có an lạc và hạnh phúc. Nếu một phần nào của thân thể bị đau nhức, tức là thân thể bạn muốn báo động điều gì đó. Bạn phải biết lắng nghe nó, không nên bắt cơ thể chịu đựng quá sức, vì làm thế có thể bộ phận ấy sẽ bị tổn thương.

Nếu chân bạn bị tê đau trong khi ngồi, bạn có thể tự động sửa lại thế ngồi cho thoải mái hoặc đổi chân dưới lên trên. Bạn vừa làm một cách nhẹ nhàng chậm rãi, vừa theo dõi hơi thở và từng cử động của thân thể thì tâm bạn vẫn an trú trong định. Nếu chân vẫn không hết đau, làm bạn chịu hết nổi thì bạn có thể đứng dậy, đi thiền hành từng bước chậm rãi, đến lúc bạn thấy có thể ngồi lại được thì bạn ngồi xuống, miễn sao bạn đừng làm động niệm đến các bạn khác. Điều này không đến nỗi gây trở ngại gì cho thiền tập mà ngược lại giúp bạn thực hành ngồi thiền có hiệu quả hơn. Tuy nhiên, bạn được khích lệ ngồi yên cho đến lúc hết giờ thiền tập.

Đôi khi bạn ngồi thiền là để chạy trốn cuộc đời, chạy trốn chính mình, giống như con thỏ chui vào hang của nó. Làm như vậy, bạn có thể tạm yên ổn trong một thời gian ngắn, nhưng khi ló đầu ra khỏi hang, bạn vẫn phải đối diện với những vấn đề thường nhật của bạn. Giống như khi bạn tu hành ép xác, bạn mệt nhoài và có ảo tưởng là bạn chẳng còn vấn đề gì nữa. Nhưng khi cơ thể bạn phục hồi sinh khí thì những vấn đề kia cũng kéo về theo. Bạn không cần tu gấp, chỉ cần tu cho thảnh thơi, đều đặn và hạnh phúc. Tu là một chuyến đi. Chuyến đi vô cùng tận. Chuyến đi không có đích. Bạn hãy biết đi chậm rãi trong thanh thản. Mỗi ngày bạn nhớ quán chiếu nhìn sâu vào lòng mọi sự mọi việc đang xảy ra. Thực tập như thế bạn mới có thể tiếp xúc được sâu sắc với cuộc sống muôn hình vạn trạng và biến đổi vô thường.

Hãy nhớ bí mật của ngồi thiền là ngồi chơi, ngồi thở, vì vậy bạn tập ngồi thiền khắp mọi nơi. Khi ngồi tại văn phòng hay trong xe hơi, bạn hãy nhớ ngồi thở. Ngay cả khi đi mua sắm tại một siêu thị đông người hay đứng chờ hàng dài trước nhà băng, ga tàu lửa, trạm xe buýt, nếu bạn cảm thấy mệt mỏi, bực dọc, bất an thì bạn có thể tập thở và mỉm cười để đừng bị chìm trong hoàn cảnh đó. Bạn hãy giữ sự thăng bằng cho thân tâm. Muốn có khả năng đối diện với bao phiền toái của cuộc đời, bạn cần trở về với bạn bằng hơi thở ý thức. Ở đâu, trong tư thế nào, đi, đứng, nằm, ngồi, bạn cũng nhớ tập thở. Tu là thở. Tu là chơi, tu như chơi.

Ngồi thiền, bạn không suy nghĩ, không tính toán, không tạo tác gì hết mà chỉ thở, mở cửa tâm thức cho các hạt giống lưu chuyển. Bao nhiêu tâm ý đều được bạn nhận diện, bao nhiêu tình cảm đều cho tuôn chảy thông thương. Tâm thức bạn có nhiều dòng sông. Ngồi thiền như ngồi chơi bên bờ sông, bạn thấy rõ những gì đang trôi trên dòng sông ấy như cái thùng, cành cây, con thiên nga, cánh bèo… Ngồi thiền cũng thế! Bạn ngồi bên bờ sông tâm linh để nhìn dòng sông tâm ý cho rõ. Bờ sông tâm linh ấy là ánh sáng chánh niệm, thiền định được dựng lên từ hơi thở ý thức, bước chân tĩnh lặng, câu niệm Bụt, câu trì chú.

Ngồi thiền đúng cách giúp tâm sáng suốt nên bạn thấy biết rõ mọi hoạt động trong tâm ý. Bạn không xua đuổi mà cũng không bám víu vào tâm ý nào dù đó là an lạc hay hạnh phúc, buồn tủi hay khổ đau. Bạn giữ tâm ý thoáng như hư không, sáng như buổi bình minh, yên như hồ nước tĩnh lặng. Bạn giữ lấy tâm hồn nhiên, tâm bản nhiên sáng lạng để nhận diện suy tư, tâm ý, cảm thọ và chuyển hóa đi những bế tắt, buồn đau, muộn phiền. Càng yên càng nhẹ, càng sáng càng thông, càng vô tư càng thoải mái.

Có người nói thiền định đâu phải chỉ là ngồi, vì vậy bạn tập làm việc gì cũng là cơ hội sống thiền. Dù sao thế ngồi vẫn là tư thế vững chãi dễ đi sâu vào thiền định khai mở suối nguồn an lạc, thanh tịnh, thảnh thơi làm “thuốc an dưỡng” trị liệu cho thân thể và tâm hồn.

Niềm tin là thần dược

New biology có thể dịch ra tiếng Việt là ngành sinh học mới. Các nhà sinh học mới vừa khám phá ra một điều bí mật là di thể không phải quyết định về tất cả phẩm chất của con người, mà chính là niềm tin (belief). Đây là cái thấy trái ngược với các nhà sinh học trong quá khứ, bởi ai ai cũng tin rằng di thể là nền tảng, bản thể làm ra thực chất của đời sống con người. Vui buồn, thương ghét, mạnh khỏe, bệnh tật, hạnh phúc, khổ đau, thông minh, chậm hiểu, cao thấp… đều do di truyền.

Các nhà sinh học mới đại diện là Bruce Lipton, làm các cuộc thí nghiệm và thấy rằng di thể hay DNA không thể tự nó hoạt hóa (activate) để tạo ra các sinh hoạt trong đời sống con người mà chính là niềm tin. Họ nói: “Nếu lấy một cậu bé có di thể thông minh bỏ vào một môi trường thiếu học thì cậu bé ấy sẽ lớn lên không có sự thông minh nào. Như vậy, rõ ràng là sự thông minh của một con người không hoàn toàn do di thể quyết định mà còn tùy thuộc vào môi trường, đặc biệt là sức mạnh của niềm tin.” Họ nói tiếp: “Niềm tin phát xuất từ đâu? Niềm tin phát xuất từ nhận thức (perception) mà nhận thức nghĩa là sự giao cảm, sự tiếp xúc của tế bào và môi trường. Bruce nói mỗi tế bào đều có cái ăn – ten (antena) rà được tín hiệu của môi trường chung quanh.”

Các nhà sinh học mới nói rằng tế bào rất thông minh. Tới gần chất độc thì nó tự rút lui để tránh bị nhiễm độc, gần thức ăn thì nó tìm tới để được bồi dưỡng.

Nếu bạn căng thẳng thì tế bào co rúm trở lại nên cơ thể bạn không lưu thông, máu không đến được các bộ phận của cơ thể, vì thế căng thẳng tạo ra nhiều đau nhức, tật bệnh. Nếu bạn thư giãn thì tế bào thoải mái, vui chơi nên cơ thể lưu thông, máu huyết đi khắp mọi nơi giúp nuôi dưỡng, trị liệu làm cho cơ thể được mạnh khỏe. Sống thư giãn, bình an giúp cho các tế bào hạnh phúc, vui cười thì tự nhiên bạn được mạnh khỏe. Giống như thư giãn hay bình an, nếu tin rằng bạn sẽ mạnh khỏe thì cơ thể mạnh khỏe. Các tế bào, các hệ miễn dịch thông minh, nhạy cảm có thể tiếp nhận bất cứ tín hiệu gì của bạn gửi đến. Các nhà sinh học mới nói: “Nếu bạn suy nghĩ là bạn còn trẻ thì tự động tế bào khỏe mạnh nên bạn trẻ mãi. Ngược lại, nếu bạn suy nghĩ là bạn già rồi thì tự nhiên tế bào già yếu, teo đi cho nên bạn mất sức, già đi rất nhanh.”

Theo Duy Biểu Học, nhận thức là sự xúc chạm giữa sáu căn và sáu trần tạo ra cái thấy, cái nghe, cái ngửi, vị nếm, xúc chạm, ý thức. Con mắt thấy ngọn lá, đó là cái thấy. Lỗ tai nghe cơn mưa, đó là cái nghe. Lỗ mũi ngửi hương sen, đó là cái ngửi… Tuy nhiên, công năng của các căn được cấu tạo trong sự giới hạn nhỏ bé của cơ thể cho nên chúng chỉ tiếp xúc với thế giới hạn hẹp, chứ sự sống linh động, sâu sắc, bao la có nhiều hiện tượng như âm thanh, hình sắc, làn sóng, năng lượng ngoài khả năng cảm nhận của các căn. Cộng với cái nhận thức luôn đi ngang qua trung gian suy luận, so đo, phỏng đoán và bị ảnh hưởng sâu đậm về các loại tình cảm, ký ức, thành kiến trong tâm thức, bởi vậy cho nên nhận thức cũng bị nhiều hạn chế và thường sai lầm. Thấy sợi dây mà tưởng con rắn nên sợ quýnh lên. Nghe tiếng gió rì rào nơi lá rừng mà tưởng âm thanh của loài ma quỷ nào đó nên sợ đến nổi da gà… Vậy, nhận thức cần tu tập, xét nghiệm bằng sự quán chiếu của ánh sáng chánh niệm, thiền định mới có thể gạn lọc được sự hạn hẹp và sai lầm của nó. Vì thế, phần căn bản của vui buồn, thương ghét, khổ lạc, sức khỏe, tật bệnh đều phát sinh từ nhận thức. Tu tập để thay đổi nhận thức làm cho nó lành mạnh, sáng sủa, nhẹ nhàng là thang thuốc thần diệu nhất trong việc trị liệu.

Trong Duy Biểu Học, nhận thức là nền tảng đưa tới trí tuệ, tình thương, và cố nhiên là đưa tới niềm tin. Niềm tin sâu sắc hay cạn cợt đều tùy thuộc vào phẩm chất của nhận thức. Khi nhận thức có trí tuệ hoặc gần với trí tuệ thì niềm tin ấy là sự thật, là sức mạnh, tạo ra sự cảm thông, tin yêu, bao dung, hạnh phúc, lành mạnh. Ngược lại, khi nhận thức có nhiều sai lầm, u mê, kỳ thị thì niềm tin ấy tạo ra chia rẽ, hận thù, đố kỵ, bệnh hoạn, khổ đau. Vậy, khổ đau hay hạnh phúc, khỏe mạnh hay tật bệnh đều phát xuất từ nhận thức, nền tảng cho niềm tin.

Bạn có niềm tin nơi Bụt, bởi bạn thấy được tượng Bụt, nghe nói về Bụt, học về giáo lý của Bụt và thực hành theo lời Bụt dạy. Bạn đã nếm được phần nào pháp lạc của thiền tập. Bạn có kinh nghiệm về sự thật khổ đau, thấy được nguyên nhân khổ đau và có con đường vượt thắng khổ đau nên bạn không sợ khổ đau. Gặp khổ đau, bạn biết cách thực tập chấp nhận để chuyển hóa mà không la mắng, không đánh trả, không giận hờn… Trái lại, bạn có thể phát khởi lòng xót thương đối với người làm khổ bạn, vì thế bạn khôi phục lại niềm vui, sức khỏe và hạnh phúc. Đó là sức mạnh tâm linh do niềm tin đem lại. Niềm tin của bạn không ai có thể lung lạc được. Đó là chánh tín.

Một người khác cũng có niềm tin nơi Bụt nhưng người này chưa nghe nói về Bụt, có ít cơ hội học hỏi giáo lý của Bụt và chưa từng thực tập theo giáo pháp ngày nào cả. Vì không tu tập nên người này không nếm một chút gì an lạc của giáo pháp. Người này chưa biết gì về Tứ Diệu Đế, không biết sự thật khổ đau, không thấy nguyên nhân khổ đau, không biết con đường chuyển hóa khổ đau. Gặp khổ đau, người này chỉ biết la mắng, giận hờn, đánh trả, than trời, trách đất. Gặp bất bình, người này dễ nổi giận… Nên người này mang trong tâm nhiều nỗi bất an, giận hờn, phiền não, vì thế đời sống của người này ít có hạnh phúc, thiếu mất tình thương.

Niềm tin của người này có thể do thấy qua tượng Bụt hoặc tin theo cha mẹ… Thấy Bụt như là một hình tượng bằng xi măng, đá hoa, vàng, ngọc thì cái thấy ấy còn cạn, và nếu tin Bụt qua hình tượng có thể gọi là tà tín. Nó không dính líu gì về giáo lý và bản chất của Bụt. Niềm tin này dễ bị lung lạc và có thể đưa tới mê tín, dị đoan.

Cũng đều là niềm tin nhưng hai niềm tin trên hoàn toàn khác nhau. Một bên biết chấp nhận khổ đau để quán chiếu mà chuyển hóa để đưa tới hạnh phúc, tha thứ, xót thương. Một bên không biết gì về Tứ Diệu Đế, không chấp nhận khổ đau, chỉ biết đánh trả, trách móc, hơn thua, đưa tới thêm nhiều cay đắng. Vậy, niềm tin có nhiều cấp bậc. Niềm tin làm bằng trí tuệ có thể đưa tới hạnh phúc, khỏe mạnh, giải thoát. Niềm tin làm bằng mù quáng, mê tín, cố chấp chắc chắn đem lại đau khổ, não phiền, buộc ràng.

Gặp lúc khó khăn, bạn suy nghĩ và tin tưởng rằng mình sẽ vượt qua khó khăn này thì cơ thể bạn sẽ tạo ra kích thích tố, đẩy mạnh hệ miễn dịch, biến thành năng lượng giúp bạn tiếp tục chiến đấu để vượt qua khó khăn ấy. Học hành cũng thế! Nếu bạn quyết tâm thành công ngành y khoa thì bạn có sức mạnh chú tâm học hết tất cả các môn chuyên ngành dù khó cách mấy để trở thành một bác sĩ. Ngược lại không có niềm tin, bạn chẳng học hành hay làm được việc gì cả. Vậy, niềm tin cực kỳ quan trọng. Niềm tin là sức mạnh. Có niềm tin, bạn có năng lượng có thể làm tất cả mọi việc khó làm.

Niềm tin là một thần dược giúp mình đang điều trị được ung thư. Lúc ấy, mình không nghĩ là mình đang mang bệnh nặng, chỉ biết sống vui, mỉm cười, thảnh thơi, vô tư từng giây từng phút. Mình thường nghĩ thế nào mình cũng mạnh khỏe. Niềm tin tích cực ấy là do cái cảm nhận về sự phục hồi trong cơ thể và sự thiền tập hàng ngày đưa tới. Mình không tin mù quáng đâu, bởi có một nguồn năng lượng, một sức sống đang tràn dâng trong cơ thể.

Hơn nữa, bao nhiêu năm quán chiếu về sự mong manh của kiếp người nên mình có khả năng buông bỏ mọi vương vấn, nhất là bỏ được hạt giống sợ chết. Mình không suy nghĩ, không lo sợ gì cả và sẵn sàng chấp nhận tình trạng sức khỏe đang có với trái tim nhẹ nhàng và tâm hồn bình thản. Bụt đã dạy rõ về sinh tử, và mình đã quán chiếu về giáo lý “một là tất cả”. Mình là nắng mai, là cây, là lá, là cơn mưa, là đại địa, là dòng sông, là cha mẹ, ông bà, tổ tiên… bằng hình ảnh thai nhi nối liền với nhiều bà mẹ qua những cuống nhau vô hình thì có gì phải sợ.

Có lẽ các tế bào trong cơ thể của mình tiếp nhận năng lượng niềm tin mạnh khỏe và niềm vui sống nên nó hồi phục thật nhanh. Chỉ trong vòng ba tháng, mình cảm thấy cơ thể trở lại mạnh khỏe hẳn như trước. Cố nhiên sự hồi phục này cũng nhờ thuốc men, thức ăn, sự quan tâm, sự cầu nguyện và tình thương của nhiều người.

Mình xin hết lòng cám ơn Thầy, các tăng thân, gia đình, bạn bè, các bác sĩ và bà con làng xóm giúp mình vượt qua cơn bệnh hiểm nghèo. Có thể, mình sẽ sống lâu lắm. Phải nói “không có lẽ” gì hết mà chắc chắn là như thế. Mình phải dùng tâm lực và suy tư lành mạnh để sống mạnh khỏe như sự khám phá về “niềm tin” của các nhà sinh học mới. Bạn và mình hãy cứ vui tươi, yêu đời, tha thứ, bình an, thanh thản. Tại sao không? Bởi vì, bạn và mình đang còn sống mạnh khỏe, còn niềm vui nào bằng.

Sự sống đẹp lạ thường

Xin trả về thiên nhiên

Những dòng suối yêu thương

Đổi trao từ vô thỉ

Sự sống đẹp lạ thường

Xin trả về quê hương

Tấm thân cát bụi này

Chết như thay chiếc áo

Sống thương yêu mỗi ngày.

Bài thơ này diễn tả về cái mong manh của kiếp người. Đây là một phép quán quan trọng cho các thầy, các sư cô lúc Bụt còn tại thế.

Bạn không thể nào giữ được tâm bình thản trước cái đau nhức khủng khiếp lúc xác thân này tan rã, chỉ có những người có chuẩn bị tinh thần bằng phép thực tập làm quen và nhìn sâu vào cái chết. Bạn phải tập chết mỗi ngày. Bạn không nên tin rằng “chết” là điềm chẳng lành, đừng bị người ta lừa rằng nó là một việc cấm kỵ. Không! Chết là một nghệ thuật tuyệt vời, cao nhất của một kiếp người. Bạn phải tập chết cho thật đẹp, an, lành. Người Tây Tạng để hết cả cuộc đời quán chiếu, tu luyện, học hỏi về bản chất của cái chết, do vậy họ có một nếp sống rất bình thản.

Sự thật, biết bao nhiêu tế bào trong cơ thể đang chết trong từng giây từng phút và đồng thời biết bao nhiêu tế bào trong cơ thể đang sinh sôi nẩy nở mỗi ngày. Từ đó, bạn thấy rõ sống chết là chuyện bình thường đang xảy ra ngay trong cơ thể bạn. Sống chết lưu chuyển, trao đổi với nhau làm cho sự sống thêm linh động như ngày qua đêm, mưa rồi nắng, xuân tới hạ…

Bạn nhớ đừng sống hững hờ với những gì mầu nhiệm đang có mặt trong sự sống và đừng tự che mắt trước sự thật mong manh của mọi sự, mọi vật. Có cái thấy này, bao nhiêu việc khác trở nên không còn quan trọng nữa. Biết đói, bạn mới nếm được cái hạnh phúc khi được ăn no. Biết đau nhức, bạn mới cảm được cái hạnh phúc khi không còn đau nhức. Biết chết, bạn mới thấy được cái hạnh phúc khi được sống thật sự. Hãy sống vui tươi, hạnh phúc và yêu thương ngay đi bạn! Đừng đợi niềm vui, hạnh phúc ở ngày mai hoặc nơi nào khác vì nó có thể muộn màng.

Bạn thử tập nhìn sự sống của bạn có ở trong thân tứ đại, đồng thời nó cũng có mặt ngoài thân tứ đại. Hãy tập làm quen rằng: Thân này là mảnh vườn, máu này là dòng sông, hơi thở này là không khí, nhiệt lượng này là ánh nắng buổi sớm, trái tim này là mặt trời… Mỗi giây mỗi phút, sự sống bạn liên tục gắn liền, đổi trao mật thiết với nhiều yếu tố khác trong sự sống. Uống nước, bạn là mạch nước từ lòng đất sâu, bạn là con suối nhỏ, bạn là đám mây bay… Ăn cơm, bạn là cánh đồng lúa vàng đang hát vi vu trong cơn gió. Thở không khí, bạn trở thành không gian bao la… Nghe dòng sông vỗ vào bờ, bạn nghe được tiếng gọi từ bản thể uyên nguyên của chính mình. Thấy ruộng vườn, núi sông, bạn thấy được tấm thân mênh mông của bạn… Bạn là tất cả vũ trụ bao la. Nhìn đâu, bạn cũng thấy được mặt mũi chân hình.

Bạn hãy tập chết để biết trân quý sự sống và sống sâu sắc từng giây phút hàng ngày. Chết như thay chiếc áo nên bạn tập sống yêu thương mỗi ngày. Sự sống tuyệt vời như vậy đó! Sao bạn cứ mãi nhốt tâm hồn trong ngục tù cô đơn, buồn tủi, giận hờn. Hãy trả về thiên nhiên những dòng suối yêu thương. Hãy trả về quê hương tấm thân cát bụi này. Quê hương sẽ ôm ấp, chở che cho bạn. Bạn sẽ ngủ yên trong lòng đất. Tâm hồn bạn sẽ đi về nơi quê xưa chốn cũ.

Sự sống là một bài thơ

Sự sống là một bài thơ

 

Chiếc bóng tôi in lên hình đất Mẹ một buổi sáng bình an

Ánh nắng xuyên qua từng khe lá, trải dài trên những cánh đồng mênh mông

Bầu trời cao xanh lồng lộng

Những đàn chim xoải cánh thanh bình.

Đồi núi bao la, chập chùng, im, nắng

Tai lắng nghe dòng tâm thức chuyển thành thơ.

Có buổi sáng nào đẹp lành như buổi sáng hôm nay?

 

Ánh nắng ban mai khoác lên đất Mẹ những tấm lụa mượt mà

Tôi muốn họa lên những bức tranh trong lành, thanh khiết

Những tuổi thơ đi qua còn đọng lại liên hồi

Để mỗi mỗi tế bào, Mẹ hít thở không khí an vui.

Tôi muốn viết lên đất Mẹ những lời ngọt lành của buổi sớm

Bằng nét bút thương yêu

Cho tuổi thơ trở về

Hồn nhiên, tung tăng trong nhịp sống thanh bình.

Chất liệu ngọt lành đưa tôi về niềm hân hoan trìu mến

Chân tung tăng, tôi băng qua đồng cỏ đến tìm em.

Lòng khấp khởi như đã từng hẹn hò nhau thuở trước

Và an vui như mới gặp lần đầu.

Tôi biết em không bao giờ chờ đợi nên lòng cứ mãi hân hoan.

Gặp em

Ngồi yên

Lặng ngắm

Nghe từng nhịp thở của muôn loài

Sự sống thật an lành!

 

Những đau thương hờn tủi, không biết tự bao giờ

Đã hồi sinh thành tiếng hát yêu thương

Theo gió, theo mây, bay đi khắp muôn phương.

Không có ngăn cách nào giữa tôi, em và hiện hữu

Đất mẹ bao la

Bầu trời bao la

Sông núi bao la

Em bao la

Và tôi cũng bao la.

Không gian và thời gian quy về trong sự sống của mỗi một tế bào.

 

Chiếc bóng cựa mình,

lần lượt,

đánh thức những tế bào

còn vùi sâu trong giấc ngủ mùa Đông.

Hơi thở bình an

làm hồi sinh những tế bào khô héo,

Hân hoan mời nắng sưởi ấm cho mình.

 

Đẹp, lành, bình an,

Nắng mở ra một cõi thênh thang

An nhiên và độ lượng

Cho tôi, em và hiện hữu.

Cám ơn sự sống muôn đời vẫn trôi chảy

Đã dệt nên bài thơ đẹp cho tôi và cho em.

Chiếc bóng hân hoan mỉm cười trong dáng núi vững an.

Quê hương trị liệu mẹ

Mẹ tôi năm nay 93 tuổi. Mới năm ngoái mẹ tôi còn ở nước ngoài, mùa đông dài đăng đẳng, rét và tuyết vây quanh, mẹ chỉ đi quanh quẩn trong nhà. Sức lực người già không thể nào chịu nổi cái rét -15 độ C, đôi khi -30 độ C bên ngoài, rồi còn phải sợ đi lại không vững. Đường xá phủ đầy tuyết trơn rất dễ trợt chân té ngã. Xương cốt người già giòn rụm, té ngã rất dễ gẫy tay, gẫy chân cho nên suốt cả mùa đông Mẹ đành phải riu ríu ở trong nhà, trừ một hai lần bị bắt buộc đi bác sĩ xin toa thuốc mới. Vì mẹ có nhiều bệnh già như thiếu máu, hay bị choáng váng, mất ngủ, xuống tinh thần, lãng tai và từ từ trở nên lú lẫn, quên ngày quên tháng, quên mất mình vừa ăn cơm xong, lại đòi ăn cơm thêm lần nữa… Bác sĩ lắc đầu cho thêm thuốc bổ não, thuốc ngủ, thêm thuốc trợ tim, thuốc giảm đau nhức, trị phong thấp, thuốc bổ máu, sinh tố và khoáng chất đủ loại… Rồi khi cảm, khi ho, khi nhiễm trùng đường tiểu, khi ăn không tiêu, khi bị tiêu chảy, mẹ lại phải dùng thêm trụ sinh, thêm thuốc đường tiêu hóa.v.v… Tổng cộng cả chục viên thuốc mỗi ngày. Các em thì hết lòng lo lắng cho mẹ. Mẹ đi đâu cũng có người dẫn người dìu. Phòng ngủ sưởi ấm lúc nào cũng 22 độ, chăn ấm, mền dầy cộm vì mẹ rất sợ lạnh. Ăn uống thì mẹ thèm thức gì được thức ấy. Mẹ thèm ngọt nên trong phòng bánh kẹo đủ cả, tẩm bổ bằng sữa Ensure hằng tuần. Sáng thì bánh mì, trưa chiều thì “cao lươn chả phượng”, toàn những món ngon, các món tẩm bổ Tây, Tàu đủ cả, không thiếu một thứ gì. Vậy mà sức khỏe của mẹ ngày càng yếu hơn, đi lại khó khăn, đứng còn không vững dù tay không rời cây gậy.

Cho đến một hôm, cần đứng lên để đi tiểu, mẹ té sóng soài trên nền gạch và đầu bị cắt đứt một đường sâu và dài, máu chảy lênh láng, mẹ như mê man bất tỉnh một lúc lâu. Người già được chăm sóc cực kỳ chu đáo trong các nước tiên tiến, giàu có nên mẹ được đưa vào nằm bệnh viện, được truyền thêm máu vì mẹ vốn thiếu máu, lại bị mất nhiều máu vì vết thương trên đầu.Sau cấp cứu ở phòng hồi sức, mẹ nằm một tuần ở khu giải phẫu, chờ vết thương đã được khâu lại khô mặt và chờ bác sĩ nội khoa khám tổng thể để tìm cách chữa chứng thiếu máu cũng như tình trạng hay quên của mẹ. Tình trạng lú lẫn đáng lo ngại vì người già Tây phương rất dễ bị hội chứng Alzheimer, não bị hư hại, suy thoái đe dọa dẫn đến mất trí càng ngày càng nặng, cho đến lúc có thể hoàn toàn điên loạn mà Y khoa hiện nay chưa tìm ra thuốc chữa.

Và trong suốt trên một tháng nằm bệnh viện, mẹ được tận tâm săn sóc chạy chữa, có lúc phải nằm phòng riêng vì sợ nhiễm trùng… Thật đáng biết ơn chế độ an sinh xã hội xứ người không ngại tốn kém, đã chịu gần hết mọi chi phí.Thật phải hết sức biết ơn đội ngũ y tá, bác sĩ, nhân viên bệnh viện vô cùng nhân hậu, đầy tình người và lòng thương mến, lo lắng cho mẹ, cho mỗi bệnh nhân khác mà không hề có sự phân biệt đối xử dù mẹ là người da vàng tóc đen. Mọi người luôn luôn khuyến khích, giúp đỡ luyện tập cho mẹ để mẹ từ từ ngồi dậy rồi đứng lên đi đứng trở lại dù phải nương vào một dụng cụ tập đi. Cả tháng sau khi bị té, mẹ mới chỉ có thể đi hết sức chậm chạp chừng mười, mười lăm phút mỗi ngày.

Thế rồi cả anh chị em quyết định theo nguyện vọng của mẹ, đưa mẹ về Việt Nam để mẹ có thể chết yên ổn nơi quê nhà, được chôn cất cạnh mồ của Ba vì mẹ rất sợ phải bị thiêu đốt sau khi chết. Vì là anh cả lại là người xuất sĩ, không vướng bận nghề nghiệp, gia đình, tôi được lãnh nhiệm vụ chăm sóc mẹ tại quê nhà. Trước đó tôi lại được tăng thân hỗ trợ về lại nhà ít nhất là trong một năm. Khó khăn đầu tiên là chuyến đi dài trở lại Việt Nam bởi không biết mẹ có đủ sức ngồi máy bay, xe tàu suốt mấy ngày đêm để về lại  quê hương? Trong quá khứ, sau một chuyến đi nhọc nhằn, người già dễ bị kiệt sức, mẹ thường đau ốm cả tháng mà phương tiện y tế của ta thì làm sao so bì được với nước ngoài. Thật không dễ dàng thay đổi môi trường, lối sống. Nhưng, cũng già yếu, cũng bệnh tật mà cả triệu người nước ta vẫn cứ sống được thì nay, cứ ai sao ta vậy, dù gì thì cũng phải cố gắng làm vui lòng mẹ trước đã. Trong hoàn cảnh khó, phải tự lực mà thôi vì không thể mãi mãi trông cậy ở sự giúp đỡ của người khác. Bụt đã dạy phải tự mình làm hải đảo cho mình, phải tìm nơi nương tựa nơi chính mình là gì? Và nếu chưa đủ tin tưởng nơi khả năng của mình là vì mình còn quá nhiều sợ hãi, lòng tin của mình chưa đủ sâu, thì mình cũng có thể cầu xin sự giúp đỡ của Bồ tát Quán Thế Âm vì Ngài thường cứu khổ và cho mình sự không sợ hãi. Sức mạnh tiềm tàng trong mình vừa là tâm linh mà cũng là trí tuệ để ứng phó thích ứng với mọi hoàn cảnh theo trình tự Tín, Tấn, Niệm, Định và Tuệ. Vậy thì chuẩn bị cho một chuyến đi nhọc mệt, ta cần gom sức lực và sự tỉnh táo để nắm bắt và tận hưởng những cảnh lạ, những niềm vui của chuyến đi, nghĩa là “Quẳng gánh lo đi” mà vui sống.

Trong chuyến đi ta cần nhiều sức mạnh tinh thần, chánh niệm để biết thư giãn, để biết ăn thật nhẹ dù các món ăn trên phi cơ vừa hấp dẫn vừa miễn phí, không ăn không đành! Nhưng ăn vào bao nhiêu thức béo bổ thì làm sao còn sức lực cho các cơ quan khác của ta, vì bao nhiêu năng lượng phải dùng vào việc tiêu hóa rồi. Mà tim cũng cần có đủ sức để bơm máu nuôi não. Não cần tỉnh táo để giúp ta có những bước chân vững chải. Vậy thì các thức ngon hãy để dành khi đã về, đã tới và khi cơ thể đã có thời gian nghỉ ngơi lấy lại sức. Nhờ sự tỉnh táo, tôi và mẹ tôi không ăn các thức có đường, có bột như bánh kẹo, nước ngọt. Cũng từ chối các thứ béo bổ như bơ, dầu trộn xà lách, các món chiên xào và các món có sữa, có thịt vì chúng đều có rất nhiều chất béo của loài động vật, hết sức khó tiêu. Chất béo từ thực vật qua chế biến cũng rất khó tiêu nên cũng cần tránh các loại đậu, đậu phộng và đậu nành, dầu thực vật và nước cốt dừa. Đó là chế độ ăn uống của chúng tôi trong chuyến đi và suốt tháng đầu ở Việt nam. Chúng tôi chỉ ăn rau và một ít trái cây không quá ngọt như chanh, chanh dây, bưởi, mận, cóc, ổi, thanh long, đu đủ xanh hay vừa hườm hườm màu mỏ vịt để làm gỏi. Tuyệt đối không dùng đường, sữa, dầu mỡ chiên xào và khó chấp nhận nhất là không ăn cơm trắng, chỉ ăn thật ít cơm lức, chừng vài muỗng mỗi bữa ăn. Mẹ không nhai được nhiều rau nên phải phương tiện mà giúp mẹ uống nước rau xay mịn. Chính vì không ăn cơm nên bữa ăn nào cũng nhẹ, ăn luôn luôn bị đói nên mới có thể ăn thêm rau. Vì vậy tục ngữ ta mới có câu “Đói ăn rau” và lẽ dĩ nhiên “đau nhịn đói” hay “đau uống nước – nước rau ” chứ không phải lúc nào cũng phải “đau uống thuốc”.

Sau ba tháng nơi quê nhà, mẹ không còn uống bất cứ viên thuốc nào. Vì bao nhiêu bệnh tật đều lùi bước khi người ta có nhiều niềm vui. Mà mẹ thì vui lắm vì sáng chiều được tụng kinh, được nói thỏa thích tiếng Việt, được dạo bộ cả hai ba tiếng đồng hồ trong vườn nhà hoặc trong khuôn viên chùa làng. Tối ngủ không cần uống thuốc ngủ vì đã có con cháu quanh mình, còn có chi lo lắng mà mất ngủ. Phòng hơi lạnh vì mùa rét, cao nguyên đôi lúc cũng 12 đến 20 độ nhưng phòng thông với gió trăng, mền dù mỏng cũng đủ ấm. Nhờ ăn rau đã cho mình nhiều sức lực, đi bộ giúp cho bắp thịt khỏe mạnh nên tuy không ăn đồ bổ mà mẹ lên cân, lên cả 5 kg trong ba tháng.

Mẹ đang từ từ trở lại cuộc sống thời thơ ấu khi mẹ sống ở vườn quê. Mẹ không còn nói: “Thôi chết mau cho khỏe” mà tìm xem chỗ nào mình trồng cây ổi, chỗ nào cắm dây khoai lang và tận hưởng mùi thơm “điếc mũi” của cây hoa lài lúc về đêm. Bây giờ mẹ cũng có khi ăn bún riêu, có khi đậu hũ cuốn bánh tráng mè, có khi ăn xoài, ăn chuối cau, chuối sáp… Và, lần đầu tiên được ăn gỏi trái vả trộn như người Huế, chút ít thôi nhưng mẹ vui vì mình còn đủ mạnh để ăn còn biết ngon, để tiêu hóa rau và trái cây… Sao mà ngon và lạ, mình ăn cơm thiệt ít mà cũng đủ hả?

Nguyện cầu Mẹ mãi còn nhiều niềm vui giản dị mà ở lâu với con cháu.

Ngồi yên dưới mái nhà

…nhiều đêm muốn đi về con phố xa

nhiều đêm muốn quay về ngồi yên dưới mái nhà…(*)

Ngồi yên dưới mái nhà.1Tôi nhớ, ngày trước tôi thường hay lẩm nhẩm hát những lời này khi các bước chân một mình đã bắt đầu thấm mỏi và tâm tư bắt đầu hoang mang trên một đường phố xa hun hút nào đó. Hát một cách vô thức như những lời hát đã nằm sẵn ở đầu môi mà không cần phải nhớ lại lời bài hát và không cần ý thức rõ thêm về cái thân thế nhỏ bé, mông lung của mình đang như một hạt cát giữa bao la. Có lẽ, từ đâu đó trong sâu thẳm, một bản năng “đi” cùng một nỗi cô liêu và trống trải của thân phận con người vẫn luôn hiện diện, cho nên một ước muốn “quay về” cũng luôn hiện diện.

Bây giờ, ngồi đây nghĩ về “mái nhà”, tự nhiên tôi thấy cái khái niệm này ngày càng lớn rộng ra, vô định không chừng mà cũng nhẹ nhàng và tự do hơn nhiều lắm.

Tôi nhớ, hồi xưa khi đi học xa nhà, có nhiều khi mỏi mệt và buồn tủi, tôi hay ước ao được về nhà, nằm ở cái góc nhà của mình, nơi mà dường như mình đã sống từ lâu lắm, nơi có ba má, anh chị và mọi thứ tiện nghi mà mình đã quá quen thuộc… Lúc đó, tôi có cảm tưởng mình chỉ cần về nằm im ở đó, thở, và ngủ một giấc, không cần ai hỏi han, chăm sóc hay làm gì cho thì tôi cũng đã thấy đủ, thấy khỏe lắm rồi. Nhưng khi đó tôi đi học xa lắm, cái ước mơ đơn giản đó dường như là một điều không thể. Cho nên tôi chỉ có thể nằm yên ở cái góc phòng cô liêu xa nhà của mình. Và “về nhà” đôi lúc cháy lên như một niềm ước ao sâu sắc trong tâm thức.

Và rồi, có những ngày, tôi ném những ngày trống trải của mình vào những chuyến đi. Tôi đi chơi nơi này, nơi khác xen với những ngày đi học và làm việc bận rộn. Thời gian của tôi đầy kín và đầu óc của tôi cũng đầy kín những dự định, kế hoạch cùng những tâm tư tình cảm… Tôi cứ đi như vậy, như thể tuổi trẻ là để dành cho tôi đi và làm những điều đó. Cái ước muốn về nằm trong góc phòng của căn nhà tuổi nhỏ phai lạt dần. Nhưng… trời cao, đất rộng… bất chợt đôi khi, trên một con đường nào đó, tôi thấy thương đôi chân và đôi giày của mình nhiều lắm. Dần dần, sau những chuyến đi hay những ngày dài bên ngoài, tra chìa khóa vào ổ và mở cửa căn phòng quen thuộc của mình, tôi có một cảm thức quen thuộc là để hết những ưu tư, buồn phiền lại ngoài cánh cửa đó. Đóng cửa lại, căn phòng trở thành một cõi yên ổn và bình dị của riêng tôi. Và từ một lúc nào đó, căn phòng trở thành “mái nhà” của tôi. Dù tôi không còn cần phải “về nhà đúng giờ” như khi còn là một đứa con ngoan ngoãn nữa, nhưng đi đâu lâu xa là tôi lại nhớ đến và thấy cần trở về đó, để tìm lại sự bình an kín đáo cho mình.

Vậy nên, “mái nhà” hay “quê hương” dần trở thành những khái niệm. Đó không hẳn là một nơi chốn địa lý nữa. Khi ta gọi một nơi là “nhà” không phải dựa trên thời gian đủ dài hay sự yên ấm mà mình đã trải qua ở đó mà là sự gắn bó, chở che và là một nơi tựa như suối nguồn bình an để mình có thể quay về trú ẩn trong những tháng ngày gió mưa, đông giá của trời đất hay của tâm hồn. Có lần tôi nghe Sư Ông nói về quê hương là hành tinh này, là trái đất này mà tôi thấy mông lung và mơ hồ quá. Tôi rất kính thương đất nước mà mình sinh ra và lớn lên với bao nhiêu kỷ niệm êm đềm, cho dù trong đó vẫn còn biết bao nhiêu ngổn ngang, nhọc nhằn, bức xúc. Nhưng rồi dần dần tôi cũng hiểu ra là không phải tôi nhận nơi này là quê hương thì nơi kia không còn là quê hương nữa. Từ những nẻo đi về của tâm thức, những biên giới ngày càng nới rộng ra hơn, để tôi biết yêu thêm và biết ơn thêm những nơi chốn địa lý hay những cõi tâm linh mà tôi đã thấy ra để lần lối trở về.

Bây giờ tôi ngồi đây, dưới “mái nhà” này. Tôi thương quý nơi này nhiều lắm. Tôi không còn nghĩ đến chuyện phải đi đâu để lấp đầy những khoảng trống thời gian hay những khoảng trống trong lòng mình nữa. Nơi này đang dung dưỡng tôi với đầy đủ mọi ý nghĩa của một mái nhà, từ vật chất đến tinh thần, từ nơi ăn, chỗ ngủ đến những không gian để chạy nhảy, vui chơi hay đến cả những góc yên vắng để tôi ngồi với tôi. Đôi khi tôi nghĩ, nếu có đi xa, hay nhắm mắt lại, tôi sẽ vẫn nghe thấy hoài cái khung cảnh thấm đượm bình an và ấm áp đó… “Thoang thoảng hương trầm dưới mái nhà thầm lặng. Tình chị tình em tròn vẹn tấm lòng…” Có những ngày nắng đẹp, tôi thấy mình như con nai, con thỏ chạy nhảy trên những cánh đồng, trong những vạt rừng, hoặc những đêm sáng trăng nhẩn nha dạo bước, tắm gội trong cái tịch mịch, trong trẻo không cùng của trời đất.

Ở đây, có những buổi chiều hoàng hôn rất tím. Mây giăng xa xa, từ xóm nhỏ nhìn ra vạt rừng xung quanh, tôi thấy như có những dãy núi chập chùng đâu đó. Cho nên đôi khi nỗi nhớ núi trong tôi chợt dâng đầy. Không hiểu vì sao, những ngọn núi vẫn luôn là một nỗi nhớ nhung và ám ảnh trong tôi. Tôi thèm cái bao la ngút ngàn, chênh vênh và tự tại ở núi vô cùng. Có lẽ, núi cũng đã từng là một quê hương xa xưa nào đó của tôi. Mà bây giờ đây, tôi đang ở phía “đồng bằng”, ngày ngày rảo bước ngang qua những cánh đồng, và một chút dốc đồi. Tôi không biết tôi có sẽ đi về phía núi không nữa? Chỉ biết bây giờ bàn chân tôi đang chấm trên mặt đất này và tôi vẫn ngồi trong một góc nhỏ ở miền quê hiền lành, yên ắng này. Tôi nhớ hình ảnh Thầy dấn từng bước chân trong một lần thiền hành qua đồi Xóm Thượng. Những lần khác, Thầy đi rất nhẹ nhàng, thong thả, như mây trôi, gió thoảng vậy. Mà lần đó, mỗi bước đi là Thầy lại nhấn nhấn thêm cho hằn dấu. Tôi chợt nhận ra, nhớ ra, là tôi đang đi cùng Thầy và có Thầy trong mỗi bước chân, trên mỗi lối đi. Tôi biết ra rằng tôi có đi đâu cũng không đi ra khỏi Thầy. Tôi non dại quá. Mà tôi lại đang hạnh phúc thêm. Tôi đang có Thầy là quê hương và mỗi mỗi thứ mà Thầy tạo ra là một dấu ấn đang truyền trao, là một nơi chốn đi về của tôi.

Hôm nay đại chúng đã ngồi yên bên cạnh Thầy và tám vị Bụt tại đồi Xóm Thượng giữa buổi đi thiền hành. Tôi nghe tiếng chuông vang lên, len qua những cành lá, ngọn cây và mỏng dần, mỏng dần để tỏa ra mọi hướng và thấm vào không gian, cho đến khi tôi chỉ còn “thấy” tiếng chuông ở tận ngọn đồi bên kia. Sự sống đẹp quá. Sự sống đang dàn trải không cùng. Mỗi phút giây ta có mặt cho sự sống thì sự sống cũng có mặt đó cho ta. Vậy mà sao ta vẫn hoài là đứa con lưu lạc và nghèo xơ nghèo xác của cuộc đời? Lạ quá!

Thế nên, quê hương là mỗi lần quay về như vậy đó. Quê hương là sự trở về mà quê hương cũng là từng bước chân, từng hơi thở, từng tiếng chuông, từng chiếc lá… Đôi khi không thể và không muốn đi đâu nữa, cũng không thể làm gì, tôi trở về với mình qua từng hơi thở. Những lúc đó, tôi hay cố gắng thở vào thật sâu, thở ra thật dài, vài ba lần thôi. Tôi có cảm tưởng như là thở càng sâu thì tôi về với mình càng gần thêm, cứ như là tôi đã bỏ tôi mà đi đâu lâu lắm rồi vậy. Và tôi buông bỏ hết mọi thứ xung quanh, buông bỏ cả chính mình. Giống như tôi không còn gì quan trọng trên đời hơn là cái hơi thở đó vậy. Lồng ngực tôi căng đầy, cơ thể tôi được nhận một luồng không khí mới, sạch và lọc bỏ đi những thứ cặn bã, bụi bặm. Và rồi sau đó, tôi thở bình thường trở lại, thiết lập mối quan hệ với mọi thứ như bình thường. Nhiều lần như vậy, tôi thấy rằng tôi có một nơi nương náu rất gần và rất thật của riêng tôi. Bất cứ ở đâu, khi nào tôi cũng có thể tìm về đó được.

Ấy vậy mà có nhiều lần tôi cũng quên. Tôi quên cả những hơi thở của mình. Có lẽ vì sự thực tập đôi khi cần phải tinh nhạy, khéo léo mà tôi thì không đủ kiên tâm và miên mật. Hoặc có nhiều khi không thể thở nổi nữa. Lại có khi tôi quên mất mình vì những tập khí dày sâu và vụng dại. Tôi đã có nhiều may mắn để đến với cuộc sống xuất gia và tôi rất trân quý đời sống tu tập này, nhưng tôi cũng thấy những yếu đuối và bất toàn trong con người mình. Có những ngày, tôi chỉ còn biết đi lên thiền đường để ngồi yên, tụng kinh, lạy Bụt và một lòng hướng tâm về Tam Bảo. Tôi biết Tam Bảo mới là quê hương đích thực của tôi, của mỗi người xuất gia. Có một vị Bụt và muôn ngàn vị Bụt đang có đó cho tôi, tĩnh lặng, mơ hồ mà cũng rất thật, uy hùng và vững chãi. Đôi khi, tôi nghĩ về Bụt của 2600 năm về trước, một con người bình thường như bao con người khác mà ý chí dũng mãnh xuất chúng và trí tuệ, từ bi thấm đẫm cả không gian và thời gian. Nhiều khi, tôi lạy xuống trước một vị Bụt cao cả, thiêng liêng và ngập tràn hồn phách trên bệ thờ của thiền đường khói nhang ấm áp. Hoặc có khi, tôi thấy có rất nhiều muôn vị Bụt đang ở quanh tôi mà tôi đang khẩn cầu quý Ngài từ bi nâng đỡ, bảo hộ và chỉ lối cho tôi. Những khi đó, tôi cũng trở về với Bụt trong tôi, trong trái tim, khối óc, trong từng dòng tâm thức và trong từng tế bào cơ thể tôi. Bụt trong tôi là những hạt giống trong sạch, an lành, độ lượng, thương yêu. Bụt trong tôi đang thực tập trì giới, đang học khiêm cung, buông xả… Trước Bụt, tôi buông bỏ hết tất cả những buồn phiền, khó khăn, bất nhẫn… Tôi như một đứa con bé nhỏ trở về, mang đâu đó trong người những thương tích và không biết bao nhiêu dòng sinh mạng đã từng nhiều kiếp nổi chìm, bấp bênh. Đứa con đó đang thành tâm một niềm khát khao chuyển hóa và giải thoát. Ngày ngày, tôi đang rũ dần bụi bặm đã bám lên người mình, đã chảy trong huyết quản mình từ đời này sang kiếp khác.

Tôi cũng đang nhận diện những vị Bụt quanh tôi, rất gần và thật mỗi ngày trong cuộc sống của tôi. Có những vị Bụt còn nhỏ, có những vị Bụt lớn hơn. Mỗi vị Bụt đó đang mang trong mình một trái tim, một đôi mắt thương yêu và cảm thông, một tấm lòng phụng sự, một đôi tai lắng nghe, một bàn tay để dắt người qua cơn khốn khó… Tôi đang học cúi xuống trước những vị Bụt đó để Bụt trong tôi được lớn hơn thêm. Những khi đắp y, cúi đầu đọc thầm bài kệ: “Đẹp thay áo giải thoát. Áo ruộng phước nhiệm mầu. Con cúi đầu tiếp nhận. Đời đời nguyện mang theo” là tôi lại liên tưởng đến những bóng dáng áo vàng của tăng đoàn Bụt đang đi trên con đường lịch sử suốt gần 2600 năm. Thật đẹp! Tôi ưa mấy câu thơ này lắm: “Sa môn giữa rộn ràng phố chợ. Áo vàng trầm khuất nẻo phồn hoa. Tinh châu mấy giọt ngời cam lộ. Trong mắt người ánh mắt thiết tha…”(**) Tôi thấy Bụt đang dẫn đầu những con người lặng lẽ, kham nhẫn mà rất nhiều bình an và từ bi đó. Tôi cũng thấy mình trong đoàn người này, cũng đã lặng yên và đi dọc dài qua suốt bao nhiêu năm tháng. Những bước chân đi xuyên qua thời gian, qua không gian, không cần ai xôn xao biết đến, duy có một điều rõ ràng là mỗi người và đoàn người đó đang đi về lại phía cội nguồn nguyên sơ sâu thẳm, chân thật, hiền lành và đẹp đẽ nhất của chính mình…

Tôi cũng đang tìm về nơi cội nguồn đó. Ngày ngày, nơi đây, tôi vẫn đang học trở về. Trở về với tôi, trở về với Bụt, trở về với đời sống thênh thang và độ lượng. Tôi vẫn còn đang ở lớp vỡ lòng về bài học thương yêu và hiểu biết, con đường của tôi vẫn còn đang lần hồi, khúc khuỷu, chông chênh. Nhưng tôi vẫn hằng nguyện…  tôi sẽ luôn có đó cho tôi, cho tròn thêm từng bước chân, từng hơi thở. Tôi cũng nguyện nhớ quay về với Bụt, có Bụt trong mỗi giây phút, trong từng hơi thở, lời nói, cái nhìn… Tôi biết cái hạt giống “đi” hay ruổi rong của mình còn nhiều lắm. Nhưng có lẽ, ‘đi’ cũng có thể là ‘trở về’. Tôi nghĩ một khi tôi còn những hơi thở này và một khi mà Bụt còn đó trong mỗi hơi thở của tôi thì tôi sẽ không lầm đường, lạc lối.

Cơn mưa tuyết đầu tiên của mùa đông đã rơi. Tôi muốn đốt lên một bếp lửa, lùi vào đó mấy củ khoai và pha một bình trà. Mọi người sẽ về ngồi quây quần bên bếp lửa hồng ấm áp, hơ tay, uống trà và ngắm tuyết. May mắn lắm thay, còn có một mái nhà như vậy để tôi ngồi yên.

—————-

(*) “Lời thiên thu gọi” – nhạc TCS

(**) “Sa môn” – Thơ Phan Thịnh

Tâm lửa

 

 

Trong lòng tôi có một ngọn lửa đang cháy đỏ

Trong lòng đời có một ngọn lửa đang cháy đỏ

Trong âm thầm có một ngọn lửa đang cháy đỏ

Ngọn lửa sẽ cháy đỏ bền bỉ khôn nguôi!

 

Trong lòng núi có một ngọn lửa đang cháy đỏ

Người ngồi trơ như đá, vững như đồng

Dù bao nhiêu mưa nguồn thác hồ sông suối

Cũng không bao giờ dập tắt ngọn lửa cháy đỏ sục sôi!

 

Ngọn lửa đang cháy đỏ tự đáy lòng biển khơi

Ngọn lửa cũng đi lên như nước trăm sông đổ về mênh mông đại hải

Lửa nuôi sự sống lửa đốt đau thương

Xin đừng hãi sợ sầu lo dìm chết ngọn lửa can trường.

 

Ngọn lửa vẫn còn cháy đỏ trong tiếng cười đùa trong trẻo

Vẫn rực ngời tâm lửa giữa tuyệt vọng đớn đau

Soi rõ mắt trong còn hơi hướm rưng rưng giọt ngọc

Đêm ngày vẫn vẹn tình chung thủy trước sau.

 

Xin nhớ thắp lên ngọn lửa cho ánh sáng truyền đi mau

Nuôi tâm hồn trong những tháng ngày băng giá

Xin nhớ đừng bao giờ để bếp tro tàn nguội lạnh

Mái nghèo nào cũng phải nhớ để dành củi đượm rơm khô.

 

Một đốm lửa nhỏ và một ngọn lửa đỏ hồng

Sẽ rực cháy như ước mơ của tháng ngày muôn xưa cũ

Sẽ không chết bếp tranh nghèo dột nát

Kiên nhẫn bi hùng rực đỏ với thời gian…

 

 

 

Nơi bình yên

 

Có một nơi cho bình yên ngự trị

Cho khổ đau kết thành hoa trái yêu thương

Dù khôn lớn em vẫn là thơ dại

Ngây ngô nhìn giọt nắng ướt buổi mai

 

Có một nơi cho bình yên ngự trị

Cho em về yên lại những lao xao

Cho em về nuôi đẹp chí thanh cao

Để yêu thương lắng sâu thành kiên nhẫn

 

Trên đồi cao một mình em thơ thẩn

Vẫn an lành với gió với mưa

Vẫn thanh bình với nắng dọi ban trưa

Không ngần ngại không nhọc lòng chống chỏi

 

Có một nơi không bao giờ thấy mỏi

Không ai cần bảo vệ hoặc rút lui

Ở nơi đó tâm bặt hết buồn vui

Thân ngơi nghỉ lắng sâu dòng nhựa sống

 

Có một nơi bình yên luôn ngự trị

Mọi ngôn từ ý niệm tự dung thông.

 

‘…ngọn lửa hồng trong tim…’

Bát Nhã, 1/1/2006.

Đời mình là những trang sách mở ra

Đạo đức học ứng dụng

Mỗi ngày chúng tôi đến trường học bằng xe buýt. Lòng hân hoan như lúc còn đi học. Ở đây chúng tôi tổ chức những giờ thực hành cho 1000 học sinh từ 6 đến 18 tuổi. Mỗi sáng chúng tôi tiếp xúc với 360 em bằng cách chia sẻ pháp thoại, ăn sáng chung với nhau trong yên lặng. Với lứa tuổi này mà ngồi chung với nhau trong một nhóm đông như thế thì không dễ chút nào để giữ cho các em yên lặng. Sau đó chia ra thành ba nhóm, mỗi nhóm 90 em do một thầy, một sư cô và một cư sĩ hướng dẫn. Chúng tôi dạy cho các em ngồi thiền, đi thiền hành, ăn cơm im lặng, thiền buông thư, tập hát, chơi trò chơi, vấn đáp, thiền sỏi… Mỗi lần chúng tôi tiếp xúc với các em hai tiếng đồng hồ. Sau hai tiếng thì đổi một nhóm khác, như vậy các em có cơ hội tiếp xúc với tất cả các thầy, các sư cô và các bạn thiền sinh đi theo đoàn. Tuy có một chút xíu kinh nghiệm đứng lớp trước khi đi tu, nhưng với một số lượng học sinh đông đảo như thế có khi tôi cũng thấy lúng túng. Tuy nhiên nhờ tăng thân nên mọi chuyện diễn ra tốt đẹp. Chơi với các em vui nhưng nhiều khi cũng căng lắm. Có khi cũng không biết phải nên chia sẻ những gì cho các em. Sư chị Đẳng Nghiêm, một người có nhiều kinh nghiệm trong việc cho pháp thoại, mà chị cũng thỏ thẻ: “Lần đầu tiên trong đời chị thấy run và sợ khi cho pháp thoại.” Không sợ sao được, một nhóm ba trăm mấy em ở độ tuổi 13,14 ngồi không yên, nhúc nha nhúc nhích, thích phản ứng, thích làm điều ngược lại… thì thật là không biết phải nói gì. Hơn nữa, đây là thời khóa của trường nên tất cả mọi người đều phải tham dự dù muốn hay không. Có những em nhìn thấy như không muốn nghe, ấy vậy mà tất cả đều lọt vào tai. Các em rất thông mình, hỏi gì cũng biết. Đủ mọi lãnh vực, kể cả lãnh vực y học. Trường này là một trong những trường nổi tiếng của Ấn nên quy tụ toàn những giáo viên và học sinh giỏi.

Đây cũng là một kinh nghiệm mới đối với các anh chị em chúng tôi, lần đầu tiên hướng dẫn cho một số đông người trẻ như thế. Chúng tôi hướng dẫn trong vòng bốn ngày. Trước đó, cũng tại trường này, chúng tôi tổ chức hai ngày quán niệm cho khoảng 200 thầy cô giáo đến từ nhiều trường khác nhau. Các thầy cô cũng ngồi thiền, đi thiền, nghe pháp thoại, ăn cơm chánh niệm, thiền buông thư, pháp đàm… Sau đó chúng tôi tổ chức một ngày quán niệm như thế cho phụ huynh học sinh. Nhiều phụ huynh rất háo hức muốn được nghe quý thầy quý sư cô chia sẻ, vì họ đã nghe con em mình về kể lại. Có em học sinh mới mười tuổi, sau bốn ngày thực tập, thấy ba nổi giận, em bảo ba hãy vững chãi như núi và tươi mát như hoa. Ba em không hiểu gì thì em lại bảo ba đi dự ngày quán niệm đi rồi biết. Có hai chị em kia cùng học chung trường, khi về nhà, lúc đứa em bị lên cơn suyễn, người chị bảo đứa em thở, rồi đứa em theo dõi hơi thở, cơn suyễn từ từ hạ xuống mà không cần phải dùng thuốc. Những trường hợp như vậy gây ấn tượng rất mạnh trong lòng phụ huynh. Vì thế mà họ rất háo hức để đến nghe quý thầy, quý sư cô chia sẻ, họ cũng muốn biết con em mình đã được học những gì. Có em lại khuyên ba nên đến tham dự. Tác động một lần đến ba đối tượng: thầy cô giáo, phụ huynh và học sinh đã tạo nên một năng lượng rất mạnh, yểm trở nhau rất nhiều. Họ rất cảm động. Cô Hiệu trưởng trường này chịu chơi lắm. Tuy bận rộn, nhưng cũng tham dự ngày quán niệm chung với mọi người. Cô rất nâng đỡ mọi người, tặng cho tất cả các thầy cô giáo đến tham dự khóa tu mỗi người một quyển sách Planting seeds (Quyển sách này nói về những pháp môn thực tập căn bản và cách hướng dẫn các em thực tập như một loại sách giáo khoa).

Hình: Các em học sinh trường Step by Step đang nở hoa

Sau mỗi ngày từ trường về, chúng tôi ngồi lại với nhau, chia sẻ hạnh phúc của mình, những gì đã xảy ra trong ngày để học hỏi và rút kinh nghiệm, cùng nhau nhìn xem những gì có thể tiếp tục duy trì, những gì có thể làm hay hơn cho ngày mai. May mắn trong chuyến đi là các anh em chơi được với nhau, sống với nhau rất hài hòa, quý trọng nhau nên mọi chuyện xảy ra một cách nhẹ nhàng. Các em học sinh rất dễ thương, thực tập rất hết lòng làm mọi người ai cũng ngạc nhiên, lấy làm hạnh phúc và có thêm năng lượng.

Họ thật may mắn biết đầu tư cho tuổi trẻ, cho tương lai. Họ chấp nhận đem đạo Bụt vào trường học một cách cởi mở, tôi cũng thấy hạnh phúc lây. Tuy nhiên sâu thẳm trong niềm hạnh phúc ấy là một nỗi ngậm ngùi, xót xa. Xót xa cho quê hương, đất nước mình. Không biết bao giờ nước mình mới được như thế? Tôi cầu mong cho đất nước có thể cởi mở hơn, có nhiều phước đức hơn để tuổi trẻ học được nhiều điều quý báu. Con người thực ra do không hiểu về đạo Bụt nên mới sợ đạo Bụt. Thực chất thì đạo Bụt chỉ giúp con người bớt khổ và đem niềm, vui hạnh phúc đến cho mọi người bằng những phương pháp cụ thể và rất khoa học. Tuy nhiên đạo Bụt vượt lên trên khoa học vì đạo Bụt chú trọng về mặt thực hành để tự mình chứng nghiệm mà không phải chỉ là lý thuyết. Đạo Bụt giúp con người sống đạo đức hơn, nhân bản hơn, lành mạnh hơn và hạnh phúc hơn.

Bảy ngày liên tiếp tiếp xúc với các em học sinh và thầy cô giáo, ai cũng thấy hạnh phúc. Đó chỉ mới là giai đoạn đầu của chuyến đi. Chúng tôi còn tổ chức một chương trình sinh hoạt như vậy nữa cho một trường học khác. Trường này cũng là một trong mười trường nổi tiếng nhất Ấn Độ, họ quy tụ toàn là những thầy giáo cô giáo giỏi, có nhiều khả năng. Họ lấy hai trường này làm thí điểm. Nếu thành công họ sẽ tiếp tục tổ chức cho những trường khác.

Ở trường này cũng vui lắm. Chung quy, nội dung thì giống nhau, nhưng hình thức thì hơi khác. Mỗi trường mình làm một thời khóa khác nhau, tùy vào sức khỏe của mình. Ở trường này sức khỏe của mọi người có phần giảm xuống nên bắt đầu các buổi sinh hoạt bằng thời khóa buông thư. Như vậy mình cũng có cơ hội được nghỉ ngơi. Các em rất dễ thương, quen rồi, nên cứ vào lớp là nằm xuống, dù có khi thời khóa bắt đầu bằng pháp thoại. Các em thích thiền buông thư lắm. Mới đầu các em cứ nhúc nhích, không em nào chịu nằm yên, nhưng sau một hồi buông thư thì ngủ luôn, thức không chịu dậy. Nhìn các em tôi thấy tình thương trong mình lớn lên. Mình mới tiếp xúc với các em có mấy ngày mà thấy thương như vậy, huống gì mẹ mình thương mình thì tình thương lớn cỡ nào? Nghĩ mà cảm động.
Xong những ngày quán niệm ở trường học này là khóa tu giáo dục cho thầy cô giáo và sinh viên đại học, đa số là sinh viên sư phạm và tâm lý học. Ngoài ra còn có chương trình Wake up cho hai trường đại học khác nữa. Các em cư sĩ cũng giúp đỡ mình rất nhiều trong chương trình này. Các em đã tạo thêm sinh khí năng động cho giới sinh viên.

Khóa tu giáo dục diễn ra rất nhẹ nhàng. Sau những ngày tiếp xúc với các em học sinh nhỏ, khóa tu giáo dục cho người lớn bỗng trở nên đơn giản, nhẹ nhàng, yên ắng hẳn ra. Ai cũng thấy khỏe ru như không có khóa tu vậy, mình chỉ thực tập với họ thôi, không cần phải hướng dẫn nhiều. Ngồi ăn cơm với hai trăm mấy người mà thấy yên lặng và khỏe nhẹ như ngồi với một mình mình. Thật bình an. Có những ngày khó mới thấy được giá trị của những ngày nhàn. Người lớn thật khỏe, không hiếu động như các em nên không mất năng lượng khi hướng dẫn. Những ngày chơi với các em học sinh vui thiệt đó, song cũng làm mình hao tổn ít nhiều năng lượng vì các em quá năng động.

Thầy thuốc

Chuyến đi này tôi thấy mình được nuôi dưỡng và học hỏi nhiều. Mục đích của tôi là để học hỏi chứ không phải để hướng dẫn. Thầy Pháp Dung, sư chị Đẳng Nghiêm và các sư em Pháp Siêu, Mai Nghiêm, Đàn Nghiêm, Bảo Tích ai cũng có nhiều kinh nghiệm chơi với người trẻ, mọi người thay nhau hướng dẫn những pháp môn thực tập khác nhau như ngồi thiền, thiền hành, thiền ăn, thiền buông thư… Mỗi người có một cách hướng dẫn khác, và mỗi lần hướng dẫn lại mỗi lần khác nữa nên chính mình cũng háo hức muốn được nghe huống gì là thiền sinh. Tôi thấy hiểu và trân quý các anh chị em của mình hơn.

Các anh chị em giỏi nên tôi có nhiều không gian và thời gian để tận hưởng. Tôi thường đi bộ sau mỗi cuối ngày sinh hoạt. Nhận ra những loại rau dại có thể ăn được, tôi hái về luộc hay nấu canh. Sáng và trưa, chúng tôi ăn tại trường, buổi tối tự túc. Thực ra không phải là không ai nấu cho mình, thức ăn Ấn tuy ngon nhưng có cảm giác ăn hai bữa trong ngày là đủ, buổi tối chúng tôi thích ăn nhẹ.

Trong chuyến đi ai cũng mang theo thật nhiều thức ăn, cho đến cuối chuyến đi thức ăn mang theo vẫn còn, sư chị Đẳng Nghiêm mang theo những hai thùng mì gói Kim Chi từ Mỹ, Sư em Pháp Siêu mang theo xì dầu maggi, sư em Đàn Nghiêm và thầy Pháp Dung mang theo thức ăn từ Pháp, tôi mang theo muối xả do các sư em làm. Ở Ấn thức ăn ít chese, bơ, không như ở Bhutan nhưng lại nhiều đậu, nên chúng tôi nhớ rau tươi. Khi nào có rau thì mọi người hạnh phúc. Chúng tôi chuẩn bị buổi ăn tối và ăn chung với nhau rất vui, mà dụng cụ nấu bếp chỉ là một ấm nấu nước sôi ½ lít. Thau rửa rau là những cái túi ni lông. Trong trường hợp nào chúng tôi cũng xoay xở được. Chương trình của chuyến đi cũng khá dày, nhưng nhờ anh chị em sống vui với nhau và hòa hợp, nên mọi thứ trở nên nhẹ nhàng. Anh Shantum phát hiện ra tôi biết các loại rau dại thì vô cùng ngưỡng mộ, những loại rau mọc trên đất nước ông, ông không biết mà tôi lại rất rành. Thực ra thì chỉ là những thứ rau sam, rau dền thôi. Những ngày sau đó, đến đâu, ngay cả những nơi công cộng, ông cũng giới thiệu tôi là một chef cook (đầu bếp trưởng) và một herbalist (thầy thuốc, người hay nghiên cứu về dược thảo). Tôi thì mắc cỡ cho những lời giới thiệu này, còn anh Shantum thì lấy làm đắc ý. Ông thích như thế hơn là giới thiệu tôi trước đây là cô giáo. Mọi người có vẻ ngưỡng mộ. Sau đó có mấy người tới hỏi tôi và xin chỉ cho họ những loại rau ấy. Thấy mắc cười trong bụng tôi nhưng cũng dẫn họ ra bờ rào chỉ. Thậm chí có người lại đến hỏi tôi: “Sư cô ơi, tôi bị nổi mấy cái hạt đỏ đầy người, ngứa và rát lắm, đã mấy ngày rồi. Cô có cách gì giúp tôi không? Có loại lá nào để xức không?” Cứ như thể tôi là một thầy thuốc thứ thiệt vậy. Tôi ôm bụng cười thầm. Về kể lại cho mấy anh chị em, ai cũng “cười lăn”.

 

Mình là môi trường, môi trường là mình

Ấn Độ, môi trường ô nhiễm nhiều quá. Đi ra đường một chút là hai lỗ mũi đen thui. Ở đây người ta bị suyễn nhiều, chắc phần lớn là do khí hậu. Ấn Độ là một đất nước đang phát triển, chênh lệch giữa người giàu và nghèo cũng lớn. Hình như ở đây họ không ý thức nhiều về môi trường. Chúng tôi đến đây hơn cả tháng mà chỉ có một ngày là thấy được trời xanh, mà cũng không xanh lắm, xanh lơ thôi. Còn lại là một màn dày xám xịt. Nhìn không khí nơi đây tôi có một ước mơ phác họa đồng phục cho các em học sinh. Ở đây mỗi trường đều có một kiểu và sắc màu đồng phục riêng chứ không phải tất cả đều quần xanh áo trắng như ở Việt Nam. Đồng phục mà tôi mơ ước là áo màu xanh da trời, quần (hay váy) màu xanh lá cây đậm, giày màu nâu đất. Tất cả trời đất phối hợp với nhau thật hài hòa. Sở dĩ tôi có ý tưởng này là vì tôi thấy, nếu không có yếu tố hòa hợp thì sẽ không làm gì được. Đồng thời cho các em thấy được mình là thiên nhiên, thiên nhiên là mình và yêu thiên nhiên ngay từ nhỏ, để các em ý thức hơn về môi trường, tạo ra một ý thức và năng lượng cộng đồng tốt, tạo cho môi trường trong lành, khí hậu ôn hòa và đất mẹ được xanh tươi.

Đời mình là những trang sách mở ra

Cuối chuyến đi, chúng tôi có cơ hội viếng thăm viện bảo tàng Gandhi. Thật cảm động! Lúc nhỏ ba tôi thường kể về Thánh Gandhi cho tôi nghe, nhất là mỗi lần tôi có những vụng về, yếu kém, không chịu nghe lời. Tôi thương Thánh Gandhi từ đó. Một người có nhiều tình thương và bản lãnh. Đặt những bước chân trên con đường Ngài đã bước những bước cuối cùng từ phòng ra nhà cầu nguyện và nơi Ngài bị ám sát mà lòng rung động, nước mắt tôi như cứ muốn rơi xuống. Tôi ý thức rất rõ là mình đang thăm viện bảo tàng cho ba. Tôi thấy ba cũng có nhiều nét giống Ngài. Tôi chụp rất nhiều hình để gởi về cho ba xem. Điều đặc biệt ở viện bảo tàng này là người ta không cấm chụp hình như hầu hết những viện bảo tàng khác, thật đáng ngạc nhiên. Đúng như Ngài đã nói: “My life has been an open book. I have no secrets and I encourage no secrets” (Cuộc đời tôi là những trang sách mở ra. Tôi không có gì bí mật và tôi khuyến khích mọi người đừng giữ bí mật). Tôi thấy cảm động trước tấm lòng rộng lượng từ bi của Ngài. Sau khi vào trong thăm những cổ vật và những di ảnh lịch sử của Ngài, chúng tôi ra ngoài, cũng trong khuôn viên bảo tàng viện, ngồi yên trên bãi cỏ xanh, để cho năng lượng từ bi bất bạo động và ý chí kiên cường của Ngài thấm đẫm vào mình. Và tôi cũng muốn gởi nguồn năng lượng thánh thiện này đi khắp muôn phương, đến với tất cả mọi người, đặc biệt là những người trong ban tổ chức, đã hết lòng đứng đằng sau để sắp xếp, yểm trợ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi hoàn thành sứ mạng của mình một cách tốt đẹp.

Còn bao nhiêu điều lý thú nữa muốn mở ra cho tất cả, nhưng bài viết đã khá dài nên xin tạm đóng lại, hẹn sẽ mở ra lại vào dịp tới.