Cắt đứt con đường ngôn ngữ

Kinh có ghi lại một cuộc đối thoại giữa du sĩ khổ hạnh Vacchagotta với đức Thế Tôn, và cuộc đối thoại này rất thiền.

Vacchagotta tới thăm Bụt. Ông hỏi:
– Này sa môn Gautama, có một linh hồn hay không?

Bụt im lặng không trả lời.

Lát sau Vacchagotta hỏi:
– Như vậy là không có linh hồn phải không?

Bụt cũng ngồi im lặng.

Sau đó Vacchagotta đứng dậy chào và đi ra.

Sau khi Vacchagotta đi rồi, Thầy A Nan hỏi Bụt:
– Tại sao Thầy không trả lời cho Vacchagotta?

Và Bụt bắt đầu cắt nghĩa…

*

*    *

Trong truyền thống thiền cũng có những cuộc đối thoại tương tự.

Có một thiền sinh tới tham vấn vị Thiền sư.

Theo truyền thống, vị thiền sinh nào được vào tham vấn đều được vị thị giả mời một chén trà.

Vị thiền sinh chắp tay hỏi:

– Con chó có Phật tánh không?

Vị Thiền sư nói:

– Uống trà đi

Sau đó có một vị thiền sinh khác đến tham vấn.
Vị này chắp tay hỏi:

– Bạch Thầy, như vậy là con chó không có Phật tánh, phải không?

Vị Thiền sư nói:

– Uống trà đi.

Sau khi vị thiền sinh thứ hai này đi rồi, vị thị giả của thiền sư chắp tay hỏi:

– Bạch Thầy, tại sao vậy? Tại sao hỏi con chó có Phật tánh hay không thì Thầy nói uống trà đi. Và khi hỏi con chó không có Phật tánh phải không thì Thầy cũng nói uống trà đi. Như vậy nghĩa là sao? Xin Thầy cắt nghĩa cho con.

Vị Thiền sư nhìn vị thị giả và nói:
– Uống trà đi.
*

*     *

Phương pháp của Thiền là cắt đứt con đường nói năng và dập tắt khung trời khái niệm trong đó ý thức cứ tiếp tục tư duy và đi tìm kiếm những ý niệm để cố gắng tìm hiểu thực tại (ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt).

Ngôn ngữ đạo đoạn là cắt đứt con đường ngôn ngữ.

Tâm hành xứ diệt nghĩa là dập tắt vùng trời của sự suy tư bằng khái niệm, đừng để tâm ý đi tìm những ý niệm: có-không, sanh-diệt,… đi tìm những ý niệm đó để mong cắt nghĩa sự thật.

Cho nên những câu: “Uống trà đi, uống trà đi, uống trà đi” lặp lại ba lần cho ba người, có nghĩa là:”Hãy chấm dứt con đường suy tư đi, hãy dập tắt vùng trời khái niệm đi thì mới có cơ hội tiếp xúc với sự thật”.

Trong câu chuyện của vị Thiền sư này, câu nói “uống trà đi” không những giúp cho hai vị thiền sinh cắt đứt được con đường suy tư và dập tắt được khung trời khái niệm, mà cũng giúp được cho cả vị thị giả làm được chuyện đó.

*

*      *

Tôi nghĩ câu chuyện gặp gỡ trong kinh Vacchagotta cũng như vậy, và câu chuyện ấy đã có thể đã bị cắt đứt mất một đoạn.

Khi thầy A Nan hỏi: “Đức Thế Tôn, tại sao đức Thế Tôn không trả lời ông ta?”, thì có lẽ lúc đó đức Thế Tôn cũng đã im lặng, không trả lời thầy A Nan. Cái đó mới đúng, cái đó mới thiệt là Thiền.

Có thể người ghi chép kinh đã sơ sót không ghi vào chi tiết này và bắt đức Thế Tôn phải bắt đầu cắt nghĩa. Cho nên mình có thể phục hồi lại được câu chuyện giữa Bụt và Vacchagotta, một câu chuyện rất Thiền như sau.

Sau khi giữ im lặng hai lần đối với Vacchagotta thì Bụt cũng giữ im lặng với thầy Ananda.

Bụt có ý nói: “Này em Ananda, em cũng nên tìm cách chấm dứt con đường của sự nói năng và dập tắt khung trời khái niệm thì mới có cơ hội tiếp cận với sự thật”. Lần này thì trong kinh đã nói rõ là Bụt phải cắt nghĩa cho A Nan, tại sao Ngài đã giữ hai lần im lặng?

*

*      *

Mấy câu đầu của sự cắt nghĩa nghe cũng được, không đến nỗi nào, cũng có khả năng nói đúng với ý của Bụt. Đó là câu: “Này Ananda, khi Vacchagotta hỏi là có ngã hay không, nếu  tôi nói có ngã như vậy thì tôi đâu khác gì những vị Sa môn và Bà la môn đang chủ trương thuyết thường tại? Khi Vacchagotta hỏi: “Vậy thì không có ngã phải không?” Nếu tôi trả lời là không có cái ta thì tôi lại đồng ý với những vị Sa môn và Bà la môn đang chủ trương thuyết đoạn diệt. Một bên là cái thấy Thường tại, một bên là cái thấy Đoạn diệt. Cả hai đều là tà kiến.”

Cắt nghĩa như vậy có thể là đúng với ý của Bụt.

Nhưng đoạn kinh này thì chẳng hay chút nào:

“Lại nữa A Nan, khi Vacchagotta hỏi: Có Ngã hay không? Nếu tôi trả lời là có Ngã thì điều đó đi ngược lại với những giáo lý tôi đã dạy lâu nay về Vô ngã. A Nan, khi Vacchagotta nói: Như vậy là không có ngã phải không? Mà nếu tôi trả lời là không có Ngã thì điều đó càng làm cho tâm trí Vacchagotta càng lộn xộn thêm lên. Tại vì ông ta sẽ nói: khổ chưa, lâu nay mình tin là có một cái Ngã mà bây giờ lại không có cái Ngã đó.”

*

*     *

đồi BụtBây giờ ta hãy thử thiết lập lại sự thật để thấy rằng cuộc đối thoại giữa Bụt và Vacchagotta đã thực sự là một cuộc đối thoại rất Thiền, theo tinh thần: ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt.

Giả sử ta ghi chép như thế này:
– Sa môn Gautama, có Ngã hay không?

Bụt im lặng.

– Sa môn Gautama, vậy thì không có Ngã hả?

Bụt im lặng.

Sau đó thì Vacchagotta đứng dậy chào Bụt và từ giã.

Sau khi du sĩ khổ hạnh Vacchagotta đi khỏi rồi, Ananda hỏi Bụt:
– Tại sao Thầy không trả lời Vacchagotta?

Đức Thế Tôn cũng giữ im lặng.

 

*

*     *

Điều này có nghĩa là đức Thế Tôn cũng đã muốn dạy thầy A Nan nên chấm dứt con đường của sự nói năng và dập tắt vùng trời của khái niệm. Kể chuyện như thế là hay nhất và đúng nhất.

Còn muốn giải thích cho đúng ý của Bụt thì có thể dùng câu Bụt nói trong kinh Ca Chiên Diên (Kātyāyana) là chắc ăn nhất:

– “Này A Nan, phần lớn người đời đều bị kẹt vào ý niệm có và ý niệm không. Nếu tôi nói có Ngã thì đó là một tà kiến và nếu tôi nói không có Ngã thì đó cũng là một tà kiến khác. Cho nên sự im lặng của tôi là một cơ hội cho Vacchagotta cắt đứt được con đường ngôn ngữ và dập tắt được vùng trời khái niệm, cho nên tôi đã im lặng như vậy. Em cũng thế, em cũng không nên hỏi. Cho nên tôi đã im lặng sau khi em hỏi.”

Trả lời như vậy chắc chắn đúng ý của Bụt. Vì đó chính là lời Bụt nói trong kinh Kātyāyana. Không ai có thể nói rằng mình đã đặt vào miệng Bụt những câu mà Ngài chưa từng nói.

Viết tại Nội viện Phương Khê ngày 28 tháng 9 năm 2014.

Nhất Hạnh

Hạt dưa đỏ

 

Những dòng chữ này có lẽ sẽ đến tay Nguyên Hưng vào những ngày cuối năm, trong khi ở các chợ Saigon thiên hạ đang tấp nập mua bán. Tôi có thể tưởng tượng được những núi dưa hấu cao ngất, những trái dưa hình thật tròn, da thật xanh và ruột đỏ thắm. Mùa này, ở đây, không sao tìm ra được một trái dưa hấu. Nếu có thì chắc chắn thế nào tôi cũng mua một vài trái rồi gọt thành những cái đèn dưa thật đẹp rồi.

Hôm qua tôi có nhận được từ bên nhà gởi qua một gói quà tết, trong đó có mấy miếng trầm, mấy cây đèn bạch lạp, một hộp trà, một ít mức gừng, một ít mức trái tắc, và hạt dưa… Tôi mừng lắm. Tối qua, như một người rất nhàn rỗi, tôi đun nước pha trà, thắp bạch lạp và ngồi cắn hạt dưa một mình. Steve không chịu cắn hạt dưa, nói cho đúng là không biết cắn hạt dưa. Steve cũng không thể ăn mứt gừng; chú ta có nếm một tí và nhăn mặt kêu cay quá. Cậu chỉ uống được trà và nhắm nháp ít trái tắc.

Steve hỏi tôi ăn cái thứ hạt dưa ấy thì có ích lợi gì. Tôi nói: có nhiều cái lợi lắm chứ. Ở đây tuy người ta ăn rất nhiều trong các cuộc lễ, lễ giáng sinh, lễ tạ ơn vân vân… nhưng người ta không nói đến tiếng ăn. Còn bên xứ chúng tôi người ta nói thẳng thắn là ăn. Ăn Tết, ăn lễ sinh nhật, ăn cưới, ăn hỏi, ăn khảm tháng, ăn ngũ tuần, ăn lục tuần, ăn thượng thọ, ăn giỗ, vân vân… Mà Tết thì kéo dài những ba ngày; trong ba ngày liền phải ăn luôn miệng. Đi đâu, gặp ai mời, cũng ăn, cũng phải ăn. Mà thức ăn cũng mau no, chỉ có hạt dưa là ăn mãi không no. Như vậy cái lợi thứ nhất là ăn mãi mà không sợ phải no.

Cái lợi thứ hai là ăn hoài mà không sợ hại cho sức khỏe. Ăn cái gì nhiều cũng có thể đau bụng, đau gan, trúng thực nhưng mà ăn hột dưa thì không sao; vì tuy cái miệng ăn hoài mà cái dạ dày không bao giờ đầy. Cái lợi thứ ba là đỡ phải nói chuyện nhất là khi ta không biết chuyện gì mà nói. Dù sao thì cái miệng của tôi cũng đang làm việc mà: Tôi ít nói vì cái miệng tôi đang ăn hạt dưa, chứ không phải làtôi không biết nói chuyện. Cái lợi thứ tư là tránh được cái hại đa ngôn đa quá. Hạt dưa dạy người ta ít nói, dạy người ta im lặng để suy nghĩ về những điều mình muốn nói, dạy người ta biết nghe những người khác. Từ đứa trẻ năm tuổi cho đến ông già tám mươi ai cũng có thể dạy cho ta được nhiều điều bằng các câu chuyện của họ – người ta thường là thế.

Hạt dưa khiến cho ta chín chắn hơn, và giúp ta tránh được những câu nói vô ích, lầm lỡ, nhất là câu tuyên bố bừa bãi không dựa trên căn bản suy tư và nhận xét nào cả. Trong trường hợp này, biết thì thưa thốt, không biết thì “cắn hạt dưa” mà nghe. Khỏi phải dựa cột. Steve cười ngất khi nghe tôi nói như vậy và bảo rằng tôi có thể viết những ý đó thành bài nói về cái triết học của hạt dưa đỏ.

Ở nơi Nguyên Hưng ở, bây giờ đã bớt rét chưa? Bên này cố nhiên là trời còn rét lắm. Còn độ hai tháng nữa mùa đông mới qua. Tôi chắc ở chùa Từ Hiếu, các đồi thông đã bắt đầu xanh mướt rồi. Các đọt thông ở đấy vào mùa Xuân sao mà thẳng mà đẹp đến thế. Tôi biết thế nào Nguyên Hưng cũng để rất nhìêu thì giờ đi giữa những cây thông xanh mướt. Tôi chưa bao giờ nỡ bẻ một cành thông, thế nhưng tôi biết những đồi thông mang nhiều thương tích vào những ngày đầu Xuân khi thiên hạ đi hái lộc. Một cái vườn chùa đẹp đến mấy mà sau bữa hái lộc cũng trở thành xác xơ. Tôi nhớ có một năm nọ, chùa Xá Lợi phải trồng một ít cành thông để cho tín đồ hái lộc, như vậy đỡ hại cho những cây cảnh mà chùa phải săn sóc hết hơi mới có lên được.

Tôi không biết cái gì đã xảy ra vào tối giao thừa. Không lý chùa phải yết thị rằng hái lộc thì chỉ được hái những cây thông còn các cây khác thì chừa ra. Nếu thế thì sẽ không ai hiểu tại sao. Mà nếu hiểu tại sao thì người ta sẽ không hái lộc nữa, bởi vì người ta nghĩ những cành thông kia không phải thực sự hút nhựa từ đất Phật, không thật sự mọc lên từ đất Phật.

Cái tục hái lộc thì thật đẹp nhưng mà đông người hái lộc quá thì không còn đẹp nữa. Tôi nghĩ đến những buổi cầu nguyện đông đảo những buổi thuyết pháp đông đảo và tôi ao ước chúng ta còn có thể duy trì được những cảnh chùa thật thanh tịnh, những buổi gặp mặt truyền tâm giữa một thầy và một trò. Tôi ưa đi vào một chánh điện thanh tịnh và nhỏ bé, một chính điện dành cho sự đối thoại cá nhân giữa con người và đức Phật. Sự đối thoại ấy mới dễ trở thành một sự đối thoại tâm linh của chính mình.

Chùa chiền và giáo đường bây giờ có khuynh hướng xây cất cho sự cầu nguyện tập thể. Đó là nhu yếu. Tôi cũng khát khao sự truyền tâm giữa một thầy một trò trong đó trò biết là tất cả con người của thầy đang hướng về mình, kêu gọi sự thức tỉnh và đáp ứng nơi mình, và thầy cũng biết là trước mặt mình cũng chỉ có một trò với tất cả con người trọn vẹn và đặc thù của nó.

Trong đại hội Linh Sơn, khi Phật đưa cành hoa lên thì chỉ có Ca Diếp mỉm cười. Đột nhiên đại hội Linh Sơn biến mất, sự có mặt của mọi người trở nên không có. Chỉ có hai người: Phật và Ca Diếp là những người thật sư có mặt. Đám đông Nguyên Hưng ơi, trong những trường hợp như thế, chỉ là một con số không.

Có một buổi chiều đi bộ từ Nam Giao lên chùa tôi gặp một đoàn thiếu niên thiếu nữ Phật tử đi cắm trại từ các đồi thông Từ Hiếu về. Họ đi rải rác, người đi bộ, kẻ đi xe đạp. Người đầu tôi gặp cầm trên tay một cành thông. Người thứ hai cũng vậy. Rồi người thứ ba cũng vậy. Rồi đến cả đoàn.

Tôi thấy xót ruột và đau xót cho những đồi thông. Có lẽ ngày Tết cơ sự cũng xẩy ra tương tợ như thế. Tết nầy Nguyên Hưng nhớ “bảo vệ” giúp các đồi thông nhé.

(Trích: Nẻo về của ý – Thầy Làng Mai)

Chân dung

“Đất quê hương, tôi đang đếm bằng những bước chân… Lời cầu nguyện cho những khu vườn xanh, có trúc đào, có xương rồng trước ngõ. Chắp tay tôi nhận chịu lửa đỏ như một lời cầu nguyện. Cho tôi thấy phố thấy nhà lần chót. Cho tôi thấy trăng thấy sao. Cho tôi thấy người, thấy đồng bào cười nói. Cho tôi ôm tất cả vào hai vòng tay nhỏ. Tôi đã tìm thấy. Anh chị em ơi, tôi đi nhưng tôi còn ở lại. Sáng mai mặt trời mọc, thơ tôi sẽ tới với người.” Thạch Đức”

 

Buổi sáng có mặt trời, ơi vũ trụ, ta muốn ôm người vào hai tay. Buổi sáng có chim hót và chị bán xôi đi ngang ngõ trúc, ơi quê hương, ta muốn ôm ngươi vào hai tay. Buổi sáng có chợ họp, ôi thế gian, ta muốn ôm ngươi vào hai tay. Chỉ còn hai mươi giờ nữa thôi, tôi đã không còn có mặt ở đây. Tôi sẽ giao tôi cho lửa.

Buổi sáng có mặt trời, ôi quê hương, ôi thế gian, ôi vũ trụ. Hiện hữu đẹp vô ngần. Tôi luyến tiếc ngươi, tôi yêu dấu ngươi. Tôi nhớ thương ngươi. Tôi sẽ không mang theo được một lá cây nào, một hạt sõi nào. Mỗi lá cây đều quý hoá vô ngần. Mỗi hạt sỏi đều quý hoá vô ngần.

Buổi sáng thức dậy, ô hay, mình đã ngủ, mình đã ngủ an lành. Buồn cười chưa, tôi như một trẻ thơ, ngủ ngon như người vô sự. Bàn tay ơi, có phải trách vụ ngươi là đúng sáng ngày hôm ấy sẽ gọi lửa về? Bàn tay áp lên má tôi. Bàn tay ơi, ngươi là người cọng sự trung thành. Bàn tay kẹo bánh. Bàn tay bút phấn. Bàn tay tơ lụa. Bàn tay mái tóc cô nhi.

Buổi sáng thức dậy, ôi tôi muốn sống. Tôi muốn sống mãi, sống hoài. Mỗi buổi mai hồng, mỗi buổi mai sáng trong, mỗi buổi mai mở đầu cho một ngày đầy như
một trang giấy trắng tinh đợi chờ chữ nghĩa. Tại sao vũ trụ đẹp lên kỳ diệu vô cùng? Tại vì tôi sắp chết? Tại vì tôi mở mắt? Ôi những vì sao xa ơi, những vì sao xa.

Buổi mai thức dậy, da mặt tôi, bàn tay tôi và thau nước trong. Tôi muốn bơi trong dòng nước pha lê. Tôi muốn là con cá nhỏ. Buổi mai thức dậy, cửa sổ mở ra
trên không gian thơm mát khi trời trinh nguyên. Tôi muốn tung bay nói hư không. Tôi muốn là con chim nhỏ.

Buổi mai thức dậy, trời ơi, có lũ học trò qua ngõ, tíu tít như đàn chim. Các em hãy đi tới, hãy đi tới, hãy hướng về chân trời an lành nơi đó không có đau thương, không giết chóc. Phía sau này tôi lao mình và ngăn, lửa máu. Đi mau về phía trước, các em ơi. Phía sau này, núi đá, trưởng thành, rừng cây tuôn ra ngăn lửa máu.

Có một chị, có một anh, phía trước kia đang chờ. Lớp học sẽ thỉnh thoảng có chim bướm lạc vào, sẽ có hoa hồng treo cửa sổ đem hương theo quyến rũ. Kẹo bánh chuyền nhau dưới gậm bàn, anh biết vẫn mỉm cười, chị biết vẫn làm lơ. Bài chính tả đọc bằng giọng miền Nam, hỏi ngã mỗi khi viết sai thì chỉ tính bằng nửa lỗi. Tôi thương những mái tóc, tôi thương những cặp mắt, tôi thương cả những vét mực trên áo, trên mặt, cả những dòng mũi chảy thò lò.

Đường phố thiên hạ đầy người. Cô nghĩ chi, bác nghĩ chi? Anh lo gì chị buồn gì? Mỗi người một nỗi lo, mỗi người một tâm sự. Mọi người đi theo công việc mình buổi sáng. Tôi cũng đi lủi thủi một mình. Tôi đi dưới đất mà là đi trên cao. Tôi còn ở đây nhưng tôi đã đi rồi. Hai mươi giờ đồng hồ còn lại. Tôi không hé môi tâm sự với một người nào. Tôi không cô đơn, tôi không cô đơn. Bạn bè ơi, loài người ơi, anh chị ơi, tôi thương. Tôi thương trái đất chúng ta, và nước mắt tôi tuôn trào. Tôi cúi đầu dùng tay áo lau nước mắt. Tôi mỉm cười chữa thẹn. Tôi còn biết thẹn bởi vì tôi còn thương yêu, luyến tiếc. Một mình tôi, tôi đi.

Bạn bè ơi, thôi cho tôi xin đi, đừng giận dỗi. Xin đừng tiến lại gần. Xin hãy tránh xa đi để tôi sống như điều tôi tâm nguyện. Tôi muốn ôm từng anh, từng chị, từng em mà khóc. Nhưng mà như thế thì hỏng hết, hỏng hết. Nước mắt sẽ làm tiêu tan hết chút ý chí cần thiết. Tha lỗi cho tôi, các bạn. Tha lỗi cho con, ba má nghe; tha lỗi cho em nghe, các anh chị; tha lỗi cho chị nhé, các em, các em mến yêu.

Dòng sông ơi tôi còn nhớ câu chuyện dòng sông. Cho tôi làm người lái thuyền để mỗi sáng mỗi chiều nghe sông xanh nói chuyện. Cầu Ông Lãnh. Những chiếc thuyền chở khẵm nồi niêu đỏ chói. Những chiếc thuyền chở đầy những tỉn nước mắm. Những bà hàng bán cau môi đỏ như trầu, khăn rằng che tóc. Quê hương đẹp biết bao nhiêu. Ôi còn nào chùa, nào lũy tre, nào vườn cau, nào giàn trầu, nào bến sông quen thuộc. Tôi muốn quay trở lui. Nhưng quay trở lui cũng không tìm thấy quê hương.

Đất quê hương, tôi đang đếm bằng những bước chân. Đất quê hương, bom đạn cày nát. Lời cầu nguyện cho những khu vườn xanh, có trúc đào, có xương rồng trước ngõ. Chắp tay tôi nhận chịu lửa đỏ như một lời cầu nguyện. Cho tôi thấy phố thấy nhà lần chót. Cho tôi thấy trăng thấy sao. Cho tôi thấy người, thấy đồng bào cười nói. Cho tôi ôm tất cả vào hai vòng tay nhỏ. Tôi đã tìm thấy. Anh chị em ơi, tôi đi nhưng tôi còn ở lại. Sáng mai mặt trời mọc, thơ tôi sẽ tới với người.

Hạnh nguyện

                         Lễ xuất gia của Cây Đan Mộc

Phương Khê nội viện, mùa xuân, ngày 31 tháng 05 năm 2009,

Thân gửi các con của Thầy, gần và xa!

Công phu sáng trong sách “Thiền môn nhật tụng” có một bài văn sám mà ngày xưa khi còn làm sa di Thầy rất thích tụng. Văn của bài sám rất hay, và nội dung của bài sám rất có công năng nuôi dưỡng chí nguyện của người tu. Mỗi lần tụng đọc bài sám, chú Phùng Xuân thường để cho lời kinh ôm ấp thấm sâu vào từng huyết quản, từng tế bào của cơ thể.

Bài sám văn này là một giấc mơ thật đẹp của người tu, và Thầy rất biết ơn Thiền sư Di Sơn đã viết ra bài sám văn ấy. Các con cũng đã biết bài ấy rồi, đó là bài Sám Quy Mạng. Tên của nó là Phát Nguyện Văn. Tác giả bài Sám Quy Mạng (Phát Nguyện Văn) này là Thiền sư Kiểu Nhiên đời Đường, văn chương rất lỗi lạc. Những văn bia về các Thiền sư sơ kỳ Thiền Tông đều do một tay Ngài viết.

Di Sơn là tên núi; vì kính quý Ngài nên dân chúng gọi Thiền sư là Di Sơn thay vì Kiểu Nhiên. Thiền sư họ Tạ, tự là Thanh Trú. Tác phẩm để lại cho đời là “Trữ sơn tập”, mười cuốn. Trong sách “Nhị khóa hợp giải”, Thiền sư Quán Nguyệt có nói: “Nếu bạn không thích bài Sám Quy Mạng này thì có thể thay vào bằng một bài khác như bài Khế Thủ, bài Thập Phương Tam Thế Phật, hay bài Nhất Tâm Quy Mạng”.

Nhưng ai lại không thích bài Sám Quy Mạng này! Thầy nghĩ là đã có biết bao nhiêu thế hệ người trẻ xuất gia đã được bài Sám này nuôi dưỡng, vỗ về và an ủi. Hồi chưa tới tuổi hai mươi, Thầy đã có ước mơ dịch bài này ra quốc văn. Và giấc mơ ấy đã được thành tựu khi Thầy còn là một vị giáo thọ trẻ tuổi giảng dạy tại Phật Học Đường Nam Việt. Thầy đã dịch bài Sám Quy Mạng ra tiếng Việt trong thể thơ lục bát.

Nhiều vị học tăng và học ni thời ấy của Phật Học Đường Nam Việt (Chùa Ấn Quang) đã học thuộc lòng. Và bài Sám ấy hiện đang có mặt trong sách “Nhật tụng thiền môn 2010” của chúng ta. Phần lớn những câu văn trong bài Sám đều là những câu bốn chữ hay sáu chữ, xen lẫn với nhau rất khéo léo, thành ra âm điệu bài tụng có lúc thì êm dịu, có lúc thật trầm hùng.

“Kiếp sau, nhờ hạt giống trí tuệ linh thiêng gieo trồng trong kiếp này, con xin được sinh trở lại trong một môi trường có văn hóa, lớn lên được gặp một vị Thầy sáng và được xuất gia từ hồi còn là thiếu nhi. Sáu căn của con đều sẽ được thông lợi và ba nghiệp của con cũng sẽ được thuần hòa.Con sẽ không bị thói đời làm ô nhiễm và con sẽ sống một cuộc đời phạm hạnh thanh cao.

Con sẽ hành trì các giới luật một cách nghiêm minh. Không vướng vào duyên nghiệp thế gian, con sẽ thực tập các uy nghi một cách nghiêm túc và con sẽ biết bảo hộ cho tất cả mọi loài chúng sanh, bắt đầu từ những sinh vật rất nhỏ bé”. “Con sẽ tu tập theo chánh pháp và liễu ngộ được giáo pháp Đại thừa, nhờ vậy mà con sẽ khai mở được cánh cửa hành động của lục độ và thành tựu được những gì mà các vị hành giả khác phải trải qua ba A tăng kỳ kiếp mới thành tựu được”.

Đọc những đoạn vừa qua các con có thấy đó là một giấc mơ vĩ đại không? Nếu không có hạt giống của bồ đề tâm, nếu không có hạt giống của hạnh nguyện Bồ tát thì làm sao làm phát khởi được một ước muốn vĩ đại như thế? Các con hãy cùng Thầy đọc tiếp:

“Con sẽ thiết lập được đạo tràng tu học khắp nơi khắp chốn, con sẽ phá tan được muôn trùng mạng lưới của sự nghi ngờ. Con sẽ hàng phục được mọi ma chướng và sẽ truyền lại ngọn đèn chánh pháp để cho ba ngôi Tam Bảo sẽ mãi mãi tiếp tục ngời sáng trong tương lai.

Con sẽ phụ tá cho chư Bụt mười phương mà không bao giờ cảm thấy mệt mỏi; con sẽ tu tập thành tựu được tất cả các pháp môn. Con sẽ thực tập trên cả hai bình diện xã hội và trí tuệ để làm lợi ích cho chúng sanh khắp nơi. Con sẽ đạt tới sáu phép thần thông và sẽ thành tựu được quả vị Phật đà ngay trong một kiếp”.

“Sau đó con sẽ không xa lìa pháp giới; trái lại con sẽ đi vào và có mặt trong vạn nẻo trần gian. Năng lượng từ bi của con sẽ không thua gì năng lượng từ bi của Bồ tát Quan Âm, đại dương hạnh nguyện của con cũng sẽ bao la như đại dương hạnh nguyện của Bồ tát Phổ Hiền”.

“Ngay trong cõi này và ở các cõi khác, con sẽ ứng hiện thành những sắc thân khác nhau để tuyên dương diệu pháp”. “Nơi những nẻo đường địa ngục và quỷ đói, con sẽ hoặc phóng ra những đạo hào quang lớn, hoặc tự mình hiện thần biến tướng: bất cứ ai thấy được dung mạo con hoặc nghe đến danh hiệu con đều có khả năng phát tâm bồ đề và lập tức vượt thắng mọi khổ đau của kiếp luân hồi”.

“Những vùng đất cháy khô cằn như vạc lửa, hay những con sông băng tuyết lạnh giá, con sẽ làm cho chúng biến thành những khu rừng thơm”. “Vào những thời mà tật dịch bệnh khổ lan tràn, con sẽ hóa hiện ra vô số dược thảo thuốc men, chữa lành được cả những chứng bệnh trầm kha, gặp khi nạn đói hoành hành, con sẽ hóa hiện ra gạo lúa dồi dào để giảm nghèo cứu đói”. “Không có công tác nào làm lợi ích cho nhân gian mà con sẽ từ nan”.

“Sau đó, con sẽ giúp cho tất cả mọi người, trong đó có kẻ thân và người thù trong nhiều kiếp, cùng với bà con quyến thuộc đời này, để ai cũng có thể buông bỏ được những sợi dây ái nhiễm ràng buộc, để cùng với tất cả chúng sinh thực hiện được đạo giác ngộ”. “Hư không kia còn có thể có giới hạn, nhưng nguyện ước con thì không có chỗ cùng.

Con nguyện cho tất cả các loài, hữu tình và vô tình, đều đạt tới quả vị nhất thiết chủng trí”. Những lời kinh trong Sám văn ngày xưa đã tưới tẩm hạt giống Bồ đề của chú sa di nhỏ vào mỗi buổi sáng công phu. Không biết vì lý do gì mà chú cứ tin là giấc mơ kia sẽ có thể thành tựu, dù chung quanh chú chưa có dấu hiệu nào chứng tỏ được điều đó, và chưa thấy ai đang làm được điều đó.

Lời kinh quá đẹp khiến sau này Thầy đã lấy chữ trong ấy để đặt pháp hiệu cho các vị thọ giới tại Làng Mai. Ví dụ pháp tự Chân Hương Lâm của Sư thầy Đàm Nguyện ở Hà Nội. Hương lâm là những khu rừng thơm. “Những vùng đất cháy khô cằn như vạc lửa hay những con sông băng tuyết lạnh giá, con sẽ làm cho chúng biến thành những khu rừng thơm – hỏa hoạch băng hà chi địa biến tác hương lâm.” Thật là vừa nên thơ vừa hợp với ý hướng bảo hộ sinh môi. Lời kinh quá hùng tráng thành thử mình có cảm tưởng mình không còn là một tín đồ đang cầu xin ơn phước, mà là một vị đại sĩ có thần lực độ đời rất vĩ đại:

“Năng lượng từ bi của con sẽ không thua gì năng lượng từ bi của Bồ tát Quan Âm, đại dương hạnh nguyện của con cũng sẽ bao la như đại dương hạnh nguyện của Bồ tát Phổ Hiền – đẳng Quan Âm chi từ tâm, hành Phổ Hiền chi nguyện hải”. Người trì tụng Sám văn không còn mặc cảm thua kém nữa, và thấy mình cũng có thể làm được những gì mà các vị Bồ tát lớn đang làm. Những lời kinh như thế làm chấn động cả tâm can của người hành giả. “Bất cứ ai thấy được dung mạo con hoặc nghe đến danh hiệu con đều sẽ có khả năng phát tâm Bồ đề và vĩnh viễn vượt thắng mọi khổ đau của kiếp luân hồi – phàm hữu kiến ngã tướng, nãi chí văn ngã danh, giai phát Bồ đề tâm, vĩnh xuất luân giao hồi khổ.”

Và như thế thì con cũng sẽ không thua bất cứ một vị Phật nào hay một vị Bồ tát lớn nào trong quá trình hành đạo. Giấc mơ của bài Sám Quy Mạng chỉ là giấc mơ suông hay một giấc mơ có thể biến thành hiện thực? Nhiều thế hệ hành giả, trong đó có các con, đã từng tụng đọc Sám văn này, và đã có thể từng đặt câu hỏi ấy. Ngày xưa, Thầy không đặt câu hỏi ấy. Tuy là chung quanh mình chưa thấy dấu hiệu nào chứng tỏ giấc mơ kia có thể trở thành sự thực, nhưng Thầy vẫn ôm ấp giấc mơ đó và tin rằng nó sẽ trở thành hiện thực. Những thập niên bốn mươi và năm mươi là những thập niên của đói kém của chiến tranh.

Giới xuất gia tìm đủ mọi cách để duy trì sự thực tập trong phạm vi chùa viện của mình nhưng cũng đã gặp phải không biết bao nhiêu khó khăn. Ngay những người trẻ trong giới xuất gia cũng bị tù đày, thủ tiêu và áp bức. Là một thầy tu trẻ Thầy đã từng đọc lịch sử Lý Trần và đã thấy rằng nếu đạo Bụt đã có khả năng giúp cho đất nước hùng mạnh và thái bình trong những triều đại ấy thì đạo Bụt cũng có thể làm được như thế trong thời đại hiện tại. Tại sao không?

Đó là câu hỏi của Thầy, dù đạo Bụt vào những thập niên ấy vẫn chưa thoát ra được trạng thái suy đồi cần phải vượt thoát. Có lẽ cái thấy ấy về đạo Bụt Lý Trần đã cho Thầy một niềm tin rằng giấc mơ của Sám Quy Mạng không phải chỉ là một giấc mơ suông mà là một giấc mơ có thể trở thành hiện thực.

Hồi còn là vị giáo thọ trẻ ở Ấn Quang, Thầy đã dịch Sám Quy Mạng với một ngôn ngữ khiêm cung. Nguyên văn: “Năng lượng từ bi của con sẽ không thua gì năng lượng từ bi của Bồ tát Quán Âm, đại dương hạnh nguyện của con cũng sẽ bao la như đại dương hạnh nguyện của Bồ tát Phổ Hiền” đã được Thầy dịch là “Mưa từ rưới khắp nhân thiên, mênh mông biển hạnh lời nguyền độ tha.”

Nguyên văn: “Bất cứ ai thấy được dung mạo của con hoặc nghe đến danh hiệu con đều sẽ có khả năng phát tâm bồ đề và vĩnh viễn vượt thắng mọi khổ đau của kiếp luân hồi” đã được Thầy dịch là: Chỉ cần thấy dạng nghe danh, muôn loài thoát khỏi ngục hình đớn đau.” Mấy mươi năm ở hải ngoại không có cơ hội ôn lại bản dịch ấy, Thầy chỉ còn nhớ được một vài đoạn.

May quá, Hòa thượng Như Huệ, Viện chủ chùa Pháp Hoa (ở Úc Đại Lợi) trong dịp về chứng minh đại giới đàn Nến Ngọc tổ chức ở Làng Mai mùa hè 1996 đã đọc lại cho Thầy chép xuống toàn bài. Hòa thượng Như Huệ đã từng là học tăng trong Phật học đường Nam Việt, và đã học thuộc lòng bản dịch của Sám văn Quy Mạng. Nhờ đó mà bản dịch ngày nay còn được giữ lại trong sách Nhật Tụng Thiền Môn.

Thầy nghĩ là Thầy trò chúng ta cần đọc tụng Sám văn Quy Mạng ít nhất mỗi tuần một lần, để tâm bồ đề được tiếp tục nuôi dưỡng. Tâm bồ đề là nguyện ước, là giấc mơ của người hành giả chân chính. Tâm bồ đề bị soi mòn thì chúng ta không còn năng lượng để đi tới mà thực hiện giấc mơ.

Khuya nay, trong giờ thiền tọa, chúng ta hãy cùng nhau quán chiếu để thấy rằng giấc mơ kia đang từ từ biến thành hiện thực. “Kiếp sau xin được làm người, sinh ra gặp pháp sống đời chân tu, dắt dìu nhờ bậc minh sư”, điều này ta đã thực hiện được. “Sáu căn ba nghiệp thuần hòa, không vương tục lụy theo đà thế nhân, một lòng tấn đạo nghiêm thân, giữ gìn phạm hạnh nghiệp trần lánh xa”, đó là sự thực tập hành trì giới luật và uy nghi hàng ngày của chúng ta.

“Đạo tràng dựng khắp nơi nơi, lưới nghi phá hết trong ngoài sạch không”, đó là những gì mà Thầy trò chúng ta đang nỗ lực thực hiện. Tăng thân hiện giờ đang có mặt khắp nơi, mỗi quốc gia trên thế giới đều có hàng chục hoặc hàng trăm đoàn thể tu học theo pháp môn chánh niệm, gọi là Tăng thân chánh niệm (Communities of mindful living).

Những thành phố lớn như: Nữu Ước, Luân Đôn, Los Angeles, Paris, Amsterdam, Berlin, đều đã có nhiều Tăng thân. Những khóa tu tổ chức khắp nơi, những tác phẩm viết về đạo Bụt đi vào cuộc đời đã trở thành một mạng lưới chánh pháp có mặt khắp nơi, đang nỗ lực phá tan được những ngộ nhận và nghi ngờ đối với đạo Bụt, cho thế giới thấy rằng đạo Bụt là một nền nhân bản có tính khoa học, không phải là tôn giáo thần quyền, mê tín dị đoan, tiêu cực yếu đuối. “Lưới nghi phá hết trong ngoài sạch không” là như thế.

“Truyền đăng Phật pháp nối dòng vô chung”. Chúng ta đã đào tạo được khá nhiều các vị giáo thọ và giáo thọ tập sự, xuất gia và tại gia, số người tiếp nhận truyền đăng cho đến nay đã lên tới trên 300 vị. “Thuốc thang cứu giúp cho đời, áo cơm cứu giúp cho người bần dân, bao nhiêu lợi ích hưng sùng, an vui thực hiện trong vòng trầm luân”. Đây là công tác xã hội, đây là một phần của đạo Phật ứng dụng, của đạo Phật đi vào cuộc đời.

Chúng ta đã lập được Trường Thanh niên Phụng sự xã hội đào tạo trên 600 tác viên và hàng ngàn trợ tác viên và cảm tình viên (làm việc công quả mà không nhận phụ phí), thành lập các làng Hoa Tiêu và làng Tự Nguyện để nâng cao phẩm chất sự sống ở nông thôn về cả bốn mặt giáo dục, y tế, kinh tế và tổ chức.

Các tác viên xã hội đã làm việc cứu trợ nạn nhân chiến tranh, chăm sóc các trại tị nạn, có trại lên đến 11.000 người, thành lập các trung tâm định cư trên những vùng đất mới, tái thiết lại những làng bị bom đạn tàn phá. Chúng ta có Ủy ban Tái thiết và Phát triển xã hội, làm việc với Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất (1972 – 1975). Chúng ta đã có chương trình bảo trợ trên 10.000 trẻ em mồ côi vì chiến tranh.

Chúng ta đã có chương trình Máu Chảy Ruột Mềm cứu trợ thuyền nhân trên biển. Chúng ta đã thành lập tổ chức Pour les Enfants du Vietnam, rồi Partage avec les Enfants du Monde, cứu giúp cho trẻ em 17 nước trong đó có Việt Nam. Chúng ta đã có chương trình Hiểu và Thương, để cứu trợ lũ lụt, giúp trẻ em nghèo thiếu ăn và thất học, mở lớp dạy nghề, xây cầu, đào giếng nước ngọt, mở những lớp học bán trú ở các vùng sâu vùng xa, trả lương một ngàn cô giáo và bảo mẫu. (*) Cái hay là ở chỗ trong khi làm công tác xã hội, các thành phần trong Tăng thân vẫn giữ được sự thực tập giới luật, thiền ngồi, thiền đi, xây dựng tình huynh đệ và học đi như một dòng sông… “Không có công việc nào lợi ích cho nhân gian mà con sẽ từ nan – đản hữu lợi ích vô bất hưng sùng”, đó là hạnh nguyện của chúng ta.

Các vị giáo thọ của chúng ta, trong đó có rất nhiều vị còn ở tuổi thanh xuân, đang thực sự mang đạo Bụt đi vào cuộc đời, một đạo Bụt nhập thế. Chúng ta đã mở những khóa tu đặc biệt để giúp cho mọi giới, những khóa tu dành cho giới làm công tác xã hội, giới văn nghệ sĩ, tài tử điện ảnh… có khóa tu đông đến 2.000 người như khóa tại Washington DC cho các nhà tâm lý học và tâm lý trị liệu, những khóa tu dành cho giới giáo chức, dành cho giới thương gia, dành cho giới y sĩ và y tá, dành cho các nhà chính trị và dân biểu quốc hội, dành cho giới cảnh sát và nhân viên công lực, giới tranh đấu cho hòa bình và nhân quyền, giới bảo hộ sinh môi… Chúng ta đã đi vào các bệnh viện và các nhà tù để giúp tổ chức tu tập và chuyển hóa…

Từ đạo Bụt nhập thế chúng ta đi vào đạo Bụt ứng dụng. Chúng ta mở phong trào Wake Up cho các bạn trẻ khắp nơi trên thế giới, những đoàn thể tu tập theo chánh pháp để phục vụ cho một xã hội lành mạnh và có từ bi. Chúng ta lập Viện Phật học Ứng dụng, cung cấp các khóa tu cho giới phụ huynh có khó khăn với con cái, cho giới thanh niên thiếu nữ đang có khó khăn với bố mẹ, cho những ai vừa khám phá ra là mình bị bệnh nan y, cho những ai có người thân mới mất.

Ai cũng có thể đến để ghi tên học hỏi và thực tập mà không cần phải quy y. Chúng ta cống hiến đạo Bụt cho thế giới không phải một tôn giáo mà một nghệ thuật sống với những phương pháp chuyển hóa và trị liệu… Chúng ta đang nỗ lực thực tập để bảo hộ sinh môi, tự mình thực tập và kêu gọi mọi người thực tập sống như thế nào để có thể có được một tương lai cho trái đất, để chuyển ngược được quá trình hâm nóng địa cầu.

Tu viện Lộc Uyển của chúng ta hiện giờ đã hoàn toàn chỉ sử dụng năng lượng ánh sáng mặt trời. Tất cả các đạo tràng và các Tăng thân của chúng ta trên thế giới đang thực tập tiêu thụ trong chánh niệm, mỗi tuần có một ngày không sử dụng xe hơi, xe gắn máy… Tất cả những điều này chứng tỏ là chúng ta đang quyết tâm thực hiện giấc mơ mà không phải chỉ ngồi đó để quán tưởng và để cho bài Sám ru chúng ta trong một giấc mơ thật đẹp.

Trong những năm gần đây, đạo Bụt với sự thực tập chánh niệm đã dần dần đi vào các lĩnh vực y học, khoa học, luật học và xã hội học. Tinh thần bất nhị và bao dung, không kẹt vào giáo điều của đạo Bụt bắt đầu được thế giới nhận biết, và trên bước đường toàn cầu hóa đạo Bụt có thể góp phần quan trọng trong việc chế tác một nền tâm linh đạo đức toàn cầu. Chúng ta biết giấc mơ có thể và đang trở thành hiện thực.

Nếu chúng ta không bị vướng vào địa vị, tiền bạc, tiếng khen, chức vụ, v.v.., nếu chúng ta biết đi với Tăng thân như một dòng sông mà không phải như một giọt nước riêng lẻ thì chúng ta sẽ có cơ hội nhiều hơn để thực hiện được giấc mơ. Có phải thế không các con? Thầy mong các con đọc xong thư này thì góp ý với Thầy.

Thầy của các con,

Nhất Hạnh

Ông già Noel

Ngày lễ Giáng Sinh, trẻ con rất thích ông già Noel. Vấn đề đặt ra là ‘ông già Noel có thật hay không?’ Nhu yếu của cuộc sống bắt buộc phải có ông già Noel. Nếu không có ông già Noel, chắc chắn cũng sẽ có một ông già khác. Đây không phải là vấn đề tôn giáo mà là văn hóa. Trong văn hóa Tây phương, nếu không có ông già Noel thì sẽ thiếu vắng rất nhiều. Vì vậy cho nên có ông già Noel hay không có ông già Noel như một nhân vật lịch sử không phải là vấn đề then chốt.

Khái niệm của trẻ em về ông già Noel rất dễ thương, rất ngây thơ: ‘Ông già Noel thường mặc áo đỏ, đội nón đỏ có cái chuôi dài, đi đôi hia cao cổ (tại vì đi trên tuyết), và một bộ râu dài bạc phơ. Phương tiện chuyển vận của ông không phải là xe taxi, mà là một chiếc xe trượt tuyết có những con nai kéo. Khi tới nhà mình, ông không vào bằng cánh cửa chính (tại vì cửa đã được đóng vào giờ ấy), mà chui từ trên ống khói xuống, và ông chui rất hay, thành thử ra áo quần của ông không bị dính lọ nghẹ. Ông không bị đốt nóng, dù lúc đó củi vẫn còn cháy. Ở chỗ bếp lửa đêm hôm ấy, bọn trẻ con đã treo những chiếc vớ của chúng trước khi đi ngủ. Chúng tin rằng vào nửa đêm ông già Noel sẽ tới và sẽ bỏ vào vớ những món quà chúng thích.’ Chúng thật sự tin như vậy. Nếu chúng ta lấy mất niềm tin đó của bọn trẻ con, thì tội nghiệp chúng quá. Nếu một đứa bé bốn tuổi, năm tuổi nghe nói ông già Noel không có thật thì nó sẽ buồn biết mấy.

 

 

Vì vậy, chắc chắn phải có ông già Noel cho bọn trẻ con. Ông già Noel nghe được ước vọng của bọn trẻ con. Bọn trẻ con muốn cái gì ông cũng biết và ông cho ngay cái đó. Ước vọng của bọn trẻ con là một cái gì có thật. Những người nghe và hiểu được cái ước vọng đó cũng là những người có thật. Đó là những ông già Noel đích thực. Ông già Noel đích thực không cần phải có râu dài màu trắng, không cần phải mặc áo đỏ, không cần phải đi hia đỏ. Nếu chúng ta kẹt vào tướng của ông già Noel, thì chúng ta không thấy được ông già Noel. Vậy thì có ông già Noel, hay không có ông già Noel? Đó không phải là vấn đề. Chúng ta phải nhìn ông già Noel bằng con mắt vô tướng. Nếu trong quá khứ ta đã từng có một quan niệm về ông già Noel, thì quan niệm đó có thể là quan niệm ngây thơ của một em bé. Một mai ta bừng tỉnh, ta mỉm cười, biết rằng mình đã vượt thoát ý niệm ngây thơ về ông già Noel. Vượt thoát rồi, nhưng ta vẫn duy trì hình ảnh ông già Noel cho thế hệ tương lai.

Bụt cũng vậy, Chúa cũng vậy, đều là những ông già Noel cả. Nhưng nếu ta cho rằng những hình ảnh đó là những sản phẩm hoàn toàn của tưởng tượng thì cũng không đúng. Tại vì ông già Noel cần thiết cho cuộc đời. Bụt, Chúa, các vị Bồ-tát cần thiết cho cuộc đời. Tuy vậy, nếu ta muốn lớn lên, không phải về mặt tuổi tác mà về đời sống tâm linh, ta muốn tiếp xúc được với sự thật thì ta phải có khả năng buông bỏ những ý niệm, những hình ảnh trẻ thơ của ta. Ta từng có quan niệm về Bụt, về Chúa, và ta đã sống với quan niệm đó từ thời ấu thơ. Khi được học hỏi, thực tập, từ từ ta có khả năng buông bỏ những quan niệm trẻ thơ ấy về Bụt và về Chúa.

Thầy Thanh Văn hồi còn năm, sáu tuổi, có ý nghĩ rằng Bụt rất ưa ăn chuối, tại vì ai tới chùa cũng cúng chuối. Bụt đợi cho đến khi chùa vắng lặng hoàn toàn, mới đưa cánh tay ra bẻ một trái chuối mà ăn. Đến khi thầy lớn lên thì cái thấy đó về Bụt không còn nữa, nó được thay thế bằng những cái thấy khác. Vì vậy, ta phải buông bỏ những cái tướng để sự thật có thể hiển bày ra được. Nếu chúng ta không buông bỏ cái tướng ông già Noel, thì làm sao ta thấy được ước mơ của bọn trẻ con và lòng thương yêu của những bậc cha mẹ? Ông già Noel có mặt trong những em bé, và có mặt trong những người cha, những người mẹ. Ông già Noel là một phẩm vật sáng tạo của tâm thức. Là sáng tạo phẩm thì nó phải có thật chứ sao không có thật được? Sáng tạo phẩm đó được nhận thức qua một hình thái trong văn hóa do con người vẽ ra. Người ta vẽ ra hình Bụt, người ta vẽ ra hình Chúa, người ta vẽ ra hình Bồ-tát, người ta vẽ ra hình ông già Noel.

 

 

Nhưng rốt cuộc ta cũng phải lớn lên trong đời sống tâm linh của ta. Ta phải phá tan những hình ảnh mà con người đã vẽ ra để có thể tiếp xúc với sự thật. Không phải Bụt không có, Chúa không có, tình yêu không có, bác ái không có. Đó là những thực tại, nhưng không phải là những đối tượng mong cầu đang có mặt ở ngoài ta. Nó không phải là cái gì khác (the other, l’autre), nó không phải là một thực thể độc lập có ngoài tâm thức ta, ngoài con người ta, ngoài sự sống của ta. Khi thấy được như vậy, thì ta không còn tìm cầu, không còn theo đuổi nữa. Ta không đánh mất bản thân của ta, không lâm vào cái mặc cảm ta là con số không. Lưỡi gươm trí tuệ là lưỡi gươm có thể chặt đứt được tất cả những khái niệm đó, những ảo ảnh đó, những tướng trạng đó, những hình thức đó.

 

(Trích tác phẩm Người Vô Sự)

Thủ bút của NS. Lê Thương

HOÀN CẢNH SÁNG TÁC TRƯỜNG CA HÒN VỌNG PHU

(Lá thư cuối cùng của nhạc sĩ Lê Thương viết cho sư cô Chân Không)

Lê Thương.1

Lê Thương.2

Lê Thương.4

Lê Thương.3

Lê Thương.5

Lê Thương.6

Lê Thương.7

Lê Thương.8

Lê Thương.9

Lê Thương.10

Trường ca Hòn vọng phu của nhạc sĩ Lê Thương

HOÀN CẢNH SÁNG TÁC TRƯỜNG CA HÒN VỌNG PHU
(Lá thư cuối cùng của nhạc sĩ Lê Thương viết cho sư cô Chân Không)

Lời giới thiệu:

Trước khi Làng Mai được thành lập, đã có Phương Vân Am (Tiếng Pháp là Les Patates Douce) – một trung tâm thực tập chánh niệm do Thầy Làng Mai tạo dựng từ năm 1970, tọa lạc ở rừng Othes thuộc làng F.10190. Fontvannes-Aube gần thành phố Troyes, cách Paris về phía đông nam 150 cây số. Phương Vân Am được thành lập năm 1970, là nơi mỗi cuối tuần các nhân  viên trong phái đoàn Phật Giáo Việt Nam tại hội nghị Paris về tu ngày quán niệm. Văn phòng của phái đoàn Phật giáo Việt Nam trước đặt ở 8 Rue de la Goutle d’Or, Paris 16 e, sau dời về Sceaux.

Lê ThươngNgày chế độ miền nam sụp đổ, tất cả tăng thân làm việc tại Sceaux đã dời về Phương Vân Am để tu tập và tìm cách tiếp tục yểm trợ Phật sự bên nhà. Trong các hoạt động của Phương Vân Am, có nhà xuất bản Lá Bối, nhà in, chương trình cứu trợ thuyền nhân và chương trình giúp văn nghệ sĩ đang ở vào tình trạng khó khăn. Chương trình giúp văn nghệ sĩ được sư cô Chân Không phụ trách với sự giúp sức của nhiều thành phần khác của tăng thân. Phương thức là gởi những gói quà về cho các văn nghệ sĩ, trong đó chỉ có thuốc tây, rất hiếm ở Việt Nam hồi đó. Những thuốc ấy có thể được sử dụng hoặc được bán đổi. Tên người gửi quà thường thường cùng một họ với tên người được nhận, như đối với học giả Đào Duy Anh thì người gởi là Đào Thị Mây, tự xưng là cháu của học giả.

Người gởi quà cho Lê Thương là bác sĩ Phương Hương. Những lá thư của Lê Thương gửi cho Phương Hương còn được giữ lại nguyên vẹn. Một số những lá thư này sẽ được công bố trong tập ba của tác phẩm 52 năm theo Thầy Học Đạo của sư cô Chân Không.

Trang nhà Làng Mai xin đăng nguyên văn lá thư này để các bạn thân hữu biết Lê Thương sáng tác trường ca Hòn Vọng Phu trong hoàn cảnh nào và những tâm tư của nhạc sĩ trong hoàn cảnh khó khăn của giới văn nghệ sĩ Việt Nam thời ấy.

 

Bưu Thiếp – post card
Dấu bưu điện TP HCM 11.4.87

Mến gửi B/S Phương Hương
1 Route de Troyes
Fontvannes 10190 Estissac France

PH thân mến,

Trước tết năm Mẹo đã lãnh được quà của PH. Nay, mặc dầu sự nín lặng “vô lý” của tôi quà vẫn tới nơi rồi (sẽ lãnh ngày 13/4) Thật là diễm phúc cho một kẻ sống sót của bộ lạc Mohicans. Sức khỏe và tinh thần của tôi vẫn vững. Đời có sôi nổi đôi khi nhưng cứ ở hiền gặp lành, tin tưởng vào Th.Đế và giữ sức khỏe tối đa là có hi vọng màu xanh của bưu thiếp này sẽ chiếu lên đồng ruộng và non sông đất nước đang sôi sục về đổi mới tư duy và bầu cử QH, chống tiêu cực đủ các loại.

Tôi nín lặng vì được “ưu ái” của công an hỏi han trên 10  lần. Nay tôi cảm thấy như yên tĩnh mới biên thư ngắn rồi dài để cám ơn PH không quên an ủi giúp đỡ tôi và gia đình tôi mặc dầu gió mưa. Hình ảnh một PH áo tím tóc xõa, mắt nhìn quả quyết mà từ bi, đã thành một biểu hiện nhạc cảm tin đời, có ngày tôi sẽ tặng cho các trẻ thơ.

LT

 

T.p Ho Chi Minh 1-8-1987 đến 21- 10-87

PH thân mến!

Một chuyện “Sóng nổi đất bằng” từ tháng 10-86 đến giữa tháng 1-87 đã đặt tôi vào cuộc “kiểm tra tư tưởng” kéo dài đến 16 lần lên C.A thành phố.

Thẩm vấn có lễ phép và nể nang tuổi tác nhưng cũng soi mói khá nhiều làm tôi cụt hứng viết thư đến nay. Vì đến khoảng 5 lần có sự hỏi han về PH và quà tặng đều đều từ trước đến nay. Các bạn lãnh quà hầu hết đã chết hay ra đi nên không còn ai mà hỏi. Họ cho tôi coi qua 1 cái hình vợ chồng Nguyễn trước một hàng cờ bên đó nhưng lấy lại ngay khi tôi tính lật mặt sau để xem hình gởi cho ai. Họ cũng đưa tôi một hình đen trắng phóng đại và bảo tôi ký đằng sau là “giống PH”. Tôi không ký vì không biết rõ. Anh cũng có hỏi tôi đưa hình PH nhưng tôi nói là con cháu trong nhà tôi làm lạc mất rồi.

Họ nói là HH Thủy khai là PH chính là CN Phượng đã thường dùng nhiều tên khác nhau để liên lạc với văn thi sĩ – và cho coi xa xa một số đáy thùng có chữ viết gì đó.

Tôi nói không đúng và cho họ coi một lá thư có en-tête  Dr P.H mà tôi đã lãnh được từ lâu và chung qui họ muốn dồn tôi vào một thế bí thuộc loại “cấu kết với bên ngoài để hoạt động gì đó”, nhưng không đủ bằng chứng, và cũng không hề có như PH biết, nên cuối cùng đã để tôi yên. Tôi có hỏi như vậy họ không muốn tôi lãnh quà nữa sao? Thì sau vài phút họ nói là không có ý đó, nhưng tôi tự kết luận là nhiều thơ của tôi đã bị đọc và có lẽ có thư mất đi – Như thơ gởi cho tôi cũng có cái lạc mất. Hình vợ chồng Nguyễn chắc cũng số phận đó.

Gần một năm nay tại VN có cuộc báo chí hưởng ứng tinh thần đổi mới của Goocbachấp (Gorbachev) và nêu ra công khai nhiều chuyện bê bối của cán bộ, gọi là những “tiêu cực” của các cán bộ nhiều cơ quan.

Đọc nhiều mục như “nói thẳng nói thật” cũng thấy giới lãnh đạo, nhất là ở miền Nam cố gắng làm sạch sẽ chính quyền địa phương – từ bấy lâu nay quen hoành hành một mình một chợ và đã làm mất lòng dân.

Cuộc phấn đấu để “đổi mới tư duy”, thúc đẩy tiềm năng kinh tế, chọn người mới thích ứng được với tình thế khó khăn ngày một trầm trọng chắc sẽ lâu dài và có phần gay go. Dân chúng có hưởng ứng nhưng vẫn chờ xem.

Xã hội Sài Gòn không ngớt sôi động về mọi mặt, tìm tiền để sống, tìm hàng mua đi bán lại, ăn xài khi kiếm ra tiền, chờ tin tức giật gân để đọc, cho xe chạy đôn đáo, tìm các phương tiện kiếm ra tiền mong theo kịp với thời giá cứ lên cao bất thường mà không biết có thể kịp thời giá đó không?

Kinh tế vẫn điều động chính trị. Các giáo điều được theo bấy lâu nay về quản lý nhân dân đang được cởi mở dần dần: từ cách thả lỏng cho hàng hóa di chuyển tự do, đến các việc trì trệ hành chánh các kiểm soát quá kỹ trong đời sống người dân…đều được ông tổng bí thư Đảng N V Linh ra chỉ thị nới rộng, thả lỏng, giảm thiểu. Mọi sự đều theo gương Liên Xô cho tháo gỡ các chướng ngại, thường hạn chế lợi tức để người dân dễ sống hơn phần nào.

Kể ra thì đó là một gắng công, nhưng chắc lâu dài và khó khăn diệu vợi. Dân Sài Gòn thì vẫn có vẻ suy tư nhiều về thời thế và lo nghĩ trọn vẹn cho sự sống còn của gia đình, con cái. Người mắc bệnh lo âu thì lên tension mà chết, người thờ ơ với mưa gió dễ bị cảm cúm mà nằm ụ. Tang chay vẫn âm ỉ đó đây với tiếng kèn sáo bát âm và khói tại các lò thiêu tỏa mùi khét lẹt của các dịp hỏa táng. Bụi tro lại trở về với bụi tro.

Năm tháng chạy vùn vụt nhanh hơn bao giờ hết. Không khí cuối đời của tuổi già trà trộn với tin tức sôi sục của trần gian chạy nhanh vào cuối thế kỷ. Nhiều ý nghĩ bế tắc chặn ngang cái cuống họng không cho nói ra được gì hơn là băng khoăn rối nùi không cách gì tránh được định mệnh.

Cứ nghĩ yên bằng giấc ngủ mỗi đêm dài là lối giải thoát các lo nghĩ chằng chịt trong tâm não của các tuổi đời. Thanh niên lo hoạt động để tìm sống, người làm cha mẹ nhìn con cái với các thương mến và tội nghiệp chúng và tự hỏi: Đường hướng nào sẽ chiếm mất đám con tôi? Những lý tưởng xác xơ đang rách nát hay những ý niệm cũ càng của lòng ỷ lại vào an thân phì gia mặc thây cho thiên hạ quay cuồng?

Quả thật là tâm tư vẫn chằng chịt những ý nghĩ dọc ngang bủa vây từng ngày, từng tuần lễ – làm cho thơ tín viết mãi không xong và cảm hứng cũng vừa chớm nở đã bị tắt ngòi để yên lặng.

PH thân mến, tôi vừa bầy ra một can tràng rối rắm kéo dài gần một năm nay – nó làm cho tôi bặt tin đối với các bạn bè nơi xa.

Nay may ra tôi tìm lại được sự an lòng và tin tưởng để viết cho “tạm xong” lá thơ lê thê gởi qua đứa cháu đến PH, mong PH lãnh được nó và cho tôi hay tin bằng một carte postale để tôi yên dạ nhé.

Chào PH thân mến – L.T.

Ở thành phố lúc này rất là đông đảo, cương máu, bứu cổ, cancer tử cung, vú đau, gan mật, xuyển v.v.. Tan chế cũng phổ biến trên báo hằng ngày nhưng đọc kỹ thì kỳ khôi là tuổi thọ có vẻ cao. Các cụ bà vượt bức tường 80 cũng không ít, còn tường 70, 60 thì khá đông cho cả nam lẫn nữ. Có lẽ thọ để chờ xem…

Kinh tế có nhiều cải tiến. Hàng hóa bán ra theo tiêu chuẩn quy định trông đẹp và có chất lượng hơn xưa nhưng giá cả ôi là lên cao, vì mua bán qua quá nhiều trung gian – Nhà nước phải phấn đấu gay go với các thế lực “tiêu cực” không biết có thắng được hay không. Đó là hình ảnh bên ngoài xã hội. Còn phần nội tâm của dân TP về thời thế chung cuộc có lẽ là chờ sự thay đổi về cởi mở, về đời sống thoải mái hơn nữa.

Bấy lâu nay báo chí vẫn bàn tán rất nhiều xong không hiểu tương lai thực sự sẽ ra sao, thôi mặc cho thời thế xoay vần. Trong tờ riêng kèm đây, theo ý muốn của PH, tôi lại kể lại diễn trình biên soạn 3 bài HVP (Hòn Vọng Phu).

Văn kể có hổn độn, lối viết có vẻ không được minh bạch như trước đây một đôi năm – mà viết 2 mặt giấy cho đỡ nặng thơ – mong PH thân mến ráng đọc và bỏ qua cho cảnh luống tuổi trong tôi.

Sự việc hơi chán chường là hoàng hôn của tuổi đời đang xâm lấn vài giác quan. May thay tinh thần vẫn còn minh bạch và lạc quan còn là thói không chừa được –  mặc dầu mây u ám vẫn lẫn quất chưa tan hẳn ở chân trời.

 

HÒN VỌNG PHU

Tháng Thu 87

Lời kể của Lê Thương mến gửi Phương Hương thân mến.

Cách đây 43 năm (1944-45), tại xứ Dừa tỉnh Kiến Hòa, lúc đó còn là cù lao An Hóa, tỉnh Mỹ Tho, tình trạng giao động của một tâm hồn ưu tư về thời cuộc (Nhật chiếm Lạng Sơn 1940 rồi tràn vào Hải Phòng Hà Nội, tôi vào nam 1941) hòa nhiễm nỗi lòng chinh phu trong văn thơ đưa tôi đến việc sáng tác lần hồi 3 bài Hòn Vọng Phu thành một truyền kỳ cảm động.

Năm đó tôi tự cho là một kẻ phiêu lạc, đã từng ghé bến Quảng Châu Trung Hoa 4 tháng- ghi xong hơn 384 trang nhật ký, tiếc rằng nay đã mất hết ở Trà Vinh năm 1945 – mang nặng mối tình nước non đang xao xuyến, phân vân trước bao nhiêu nghi vấn của đời người, nên tôi gởi thác tâm tình vào để tài dân tộc là Tích Người Đàn Bà Hóa Đá.

Tất cả luân lý đông phương hầu như căn cứ trên lẽ tiết trung của  Con Người các thế hệ, các giai cấp trong một nhân sinh quan sâu đậm Tình và Nghĩa.

Người Mẹ ôm con đợi chồng rồi hóa đá quả là một truyện ly kỳ tuyệt đẹp. Thành đá đây là thành “chứng quả tình thâm, tình vợ chồng chưa toại lòng nhau đã cách biệt. Tình cha con chưa từng ôm ấp đã chia ly, tình đồng loại chưa sum vầy đã tan rã.”

Nước ta có 3 đá Vọng Phu: một ở Lạng Sơn có nàng Tô Thị như trong câu “ Đồng đăng có phố Kỳ Lừa, có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”, hai là ở Phú Yên (nam trung việt ) có núi Vọng Phu, vùng Đèo Cả (tỉnh Phú Khánh), ba là ở Hà Tiên, có Vọng phu Thạch.

Núi Vọng phu ở Phú Yên tại một vùng địa lý hơi man rợ, thâm u là đá đẹp nhất, xem từ biển nhìn vào làm cho tôi cảm mến.

… Nhớ lại năm 1470 đầu niên hiệu Hồng Đức tại vùng này có “thạch bi sơn” làm biên giới Việt Nam và Chiêm Thành còn sót lại… Cảnh trí đường đèo quanh co, cây cỏ um tùm man rợ làm cho dân gian ghi tạc mấy câu vè siêu thực đầy tính bí hiểm: “Mưa Đồng Cộ, Gió Tu Hoa, Cọp ổ Gà, Ma Hòn Lớn”

Lời sơ giải của dân gian kể là: Trên một cao nguyên nhỏ vùng đèo, thường có mây dày đặc chỉ cần gọi nhau trên đó là có mưa rớt xuống (còn nhiều di tích dân cổ Chiêm Thành trên đó)

Đường lên ngọn cao nơi đó, sườn núi bị soi mòn, gió biển thổi qua các khúc quanh co, nghe như tiếng hú âm u. Đó là Mưa Đồng Cộ, gió Tu Hoa.

Cọp thời xưa dạn dĩ đến nỗi sau những trận mưa chúng ra đường lộ phơi nắng cho khô, bộ áo rằn ri, xe hơi thời đó bóp kèn năn nỉ chúng cũng không thèm nhúc nhích (xe thời đầu Pháp thuộc có mui dựng lên để hai bên hông trống rỗng) nên xe phải dừng lại cho mấy “ông ba mươi” đi hết mới chạy qua, vừa lên tốc độ chối chết vừa la như giặc.

Còn Hòn Lớn thì nghe như một cái đảo âm u ngang vùng Phan Rang gì đó, có rất nhiều “ma hồi” đêm cứ lập lòe nhát các ngư phủ ghé thuyền tránh gió đến đó qua đêm!

Quang cảnh hú vía của thiên nhiên, trộn vào ảnh cảm địa lịch qua từng bước đường nam tiến vẫn ám ảnh tâm hồn tôi, một cậu trai giàu tưởng tượng để lúc sống bên bờ kinh Chẹc Xậy (tỉnh Bến Tre thân mến) phải thể hiện thành bài Hòn Vọng Phu 1.

Lệnh vua hành quân trống kêu dồn…..(Hòn Vọng Phu 1)

(Bài này đã xong và đưa anh Lưu Hữu Phước trước ngày 23/9/45 để anh đem ra Bắc)

Ca sĩ Thái Thanh với Trường ca Hòn vọng phu – bản ghi âm trước 1975

Bài Ai xuôi vạn lý ( Hòn Vọng Phu 2) là cuối năm 1945 sang 46, tôi theo kháng chiến tỉnh Mỹ Tho đi từ Cai Lậy, thuộc Nhiêu, Vĩnh Kim qua sông, đi với các em phần đông là học sinh Petrus Ký mà tôi là trưởng đoàn Ca Nhạc với những bài thanh niên lịch sử và riêng Hòn Vọng Phu  1 nghêu ngao qua các làng dừa từ Thành Triệu, An Khánh, Phú An Hòa, Quới Sơn, Giao Long, Giao Hòa, cho đến Dòng Sầm, gần Bình Đại…

Bỗng Tây đem tàu tấn công 3 Cù Lao, Minh, Bảo, An Hóa. Tiếng Canon 75 bắn tủa vào các bờ sông có dừa, máy bay phun lửa “spitfire” từ trời bắn xuống. Đoàn phải tan rã các em trong đoàn chạy hầu hết về gia đình, chỉ còn tôi và người bạn Ánh (nay đã chết) trốn được vào vùng lá Dòng Sầm cách Bình Đại 4 cây số.

Chúng tôi được vài gia đình người Cao Đài làm đầu tộc đạo nơi đó thương xót giấu trong bìa lá và giúp lương thực sống trong sự khủng khiếp hằng ngày vì tên Pháp lai Leroy và bọn lính Partisans đầu đỏ xục xạo làng xóm gieo khủng khiếp. Lúc đầu chúng tôi còn trốn vào sâu trong ruộng, đem gạo cơm đi ăn tối về nằm trong kho lúa. Sau vì còn thấy nguy hiểm nên anh tư- bà con với ông đầu tộc đạo dẫn chúng tôi vào bìa lá dòng Sầm dày 4,5 trăm thước sát cửa biển Bình Đại.

Tại nơi yên tĩnh này chúng tôi được sống bên bờ rạch dày đặt lá dừa nước! May mà còn chiếc mùng “Tuin”(tulle) để tránh muỗi, đêm đêm nghe dế than, cá thòi lòi đập đuôi lạch bạch dưới sình và tâm hồn lo âu vô vọng. Tôi hay nghĩ đến sự chết thê thảm cô đơn và lẩn vẩn trong trí óc sự tiếc nuối mênh man như lòng người chinh phụ trong giang san Đèo Cả.

“Thôi đứng đợi làm chi. Thời gian có hứa mấy khi sẽ đem đến trả đúng kỳ. Những người mang mệnh biệt ly.”

Nhờ cây viết máy Kao lo khô mực và nước rạch nhỏ vào cho ướt lại, tôi viết mấy ô nhịp trên.

Tâm hồn rạo rực trong mỗi buổi chiều tà làm bốc lên những tiếng mới của bài Hòn Vọng Phu 2, tức Ai xuôi vạn lý, được ghi vội vã lộn xộn nhưng cuồng nhiệt như tâm hồn tôi ghì lấy sự sống.

Ngày chót ở Dòng Sầm là ngày đại bố của tên Leroy. Hắn nghe tin có người lạ mặt trốn trong lá (vì có tên lính kín của hắn trà trộn trong đám người đi chặt lá bất ngờ gặp 2 chúng tôi).

Tên này giả đò thương hai chúng tôi, hỏi vu vơ vài câu rồi ra lộ làng. Anh Tư người che chở chúng tôi thấy nó chạy vội xuống Bình Đại, anh hốt hoảng vào kêu chúng tôi thu xếp túi áo quần, xóa vết củi than rồi tìm chổ trốn càng sâu càng tốt- như ráng chui dưới đống lá mới chặt kẻo vào bụi rậm thì dễ bị chúng bắn bừa vào cho chết.

Cả một ngày khủng khiếp tột độ kéo dài cho đến gần tối đêm, chúng tôi mới dám lần về nhà anh Tư, hỏi thăm nơi nào còn trốn được nữa. Anh dẫn đến nhà người bề trên trong dòng họ và cả trong đạo, năn nỉ xin giúp. Ông này chỉ lối cho chúng tôi ra một tha ma nhỏ có một mộ đào sẳn nhưng chưa chôn – Lấy rơm nơi gần đó trải đầy xuống đáy mộ, chúng tôi đành xuống đó nằm nghĩ qua đêm, yên lặng trong ngôi mộ như chờ lấp đất.

Vòm trời sao hình chữ nhật tỏa xuống hai thằng người nửa sống nửa chết, tuy chưa chôn nhưng đang phó thác tâm hồn cho thượng đế với hai cái xác còn đầy sức sống cầu mong được thoát nạn. Sáng hôm sau lời nguyện đã được nghe từ thiên cao: Một em trong đoàn hát tìm được chúng tôi và dẫn qua đường làng đến Vang Quới, xuống đó may về được Mỹ Tho để ngồi tù…Rồi thoát nạn.

SaiGon cuối 1947. Hòn Vọng Phu 2 với nổi lòng “người Vọng Phu” (qua) lúc gió mưa thành hình và trong nội năm 1948 nỗi lòng ấy vang dội trên các sân khấu Sài Thành với giọng ca điêu luyện của nhiều nam nữ ca sĩ trong đó có Ánh Mai, sau này thành vợ cũ của Huỳnh Văn Tiểng và vài người đẹp đã quên tên.

Sống lại với nền tân nhạc giữa thời “khai sơn phá thạch” tôi không ngớt theo đuổi ý chí kể lại khúc chót của chuyện tích mặc dù mắc kẹt với bao sáng tác của năm 1948 một năm khởi sắc với 6 bài nhạc thời sự (Hòa Bình 48, Báo Thương, Liều Thuốc Độc Lập…Dao ca, tạp khúc ca, kịch ngắn v.v.) thâu âm đĩa hát, tìm nhà ở, tìm chổ dạy học lại.v.v.

Người Chinh Phu về (HVP3) với tình nghĩa vợ chồng đổi sang tình nghĩa non sông, nhìn đứa con để trao cho nó thanh kiếm sơn hà. “Trao nó đi gây lại cơ đồ”. Linh tính làm người Việt Nam giữa thời khói lửa vẫn đinh ninh là Hạnh Phúc vẫn là mục tiêu không kỳ hạn mà dân tộc phải tìm lâu dài cho đến khi quân bình được những cảm tình trái ngược mà lẽ đời sôi động của cuối thế kỷ đã lôi cuốn bao lớp người vào lãng phí sinh mạng như vào hận tủi bi thiết của nhân sử nòi Việt.

Đến đây nhân lúc mới khỏe lại về thân thể và tin đời, tôi gửi thác P Hương một điệp khúc tự sự của bài HVP 2.

Có thơ xuôi vạn lý nhắn Phương Hương mấy lời
Đá non sông tình ý vẫn trơ gan dưới đời
Ghi nghĩa nặng tình sâu
Và lòng thân tín với nhau
Vững như đá tảng non đầu
Vẫn chan chứa Tình Bể Dâu

Lê Thương


Tái bút :

Nhớ lại những giọng Hoàng Oanh, nõn nà thùy mị, rồi mới đây giọng Mai Hương, đơn chuyên thẳng tắp sau những thổn thức của Thái Thanh trong các kỳ diễn lại Ai Xuôi Vạn Lý. Phải kể nhiều về giọng Long Xuyên Tinh Nghệ của Phạm Bá Phước ( đã khuất) của Thanh Hùng và nhất là giọng Duy Khánh thiết tha chải chuốt và mới đây giọng Hoài Trung diễn kể Người Chinh Phu về còn cảm tình gió Khơi Dĩ Vãng. Nhớ PH qua sự nín lặng lâu dài chỉ vì bất tiện chứ không mảy may gì khác.

Mong Trời Phật giúp con người khả ái ấy giữ mãi được sức khỏe và tin tưởng về Mai Hậu. NB sẵn Noel, Nouvel An và tết mậu Thìn sắp tới xin chúc Phương Hương và gia đình toàn vẹn ở biệt thự Khoai Lang được tràn trề vui mừng sức khỏe và các cụ bà được sống lâu trăm tuổi để chờ ngày về thăm Bến Tre thân mến trong niềm vui an hòa của những năm xưa.

Cả gia đình tôi cầu chúc- LT.

 

Thủ bút của nhạc sĩ Lê Thương:

Lê Thương.1

Lê Thương.2

 

Xem thêm các trang thư còn lại

Hòn Vọng Phu – NS Lê Thương

Trường ca Hòn vọng phu của nhạc sĩ Lê Thương
“Cách đây 43 năm (1944 – 1945), tại xứ Dừa tỉnh Kiến Hòa, lúc đó còn là cù lao An Hóa, tỉnh Mỹ Tho, tình trạng giao động của một tâm hồn ưu tư về thời cuộc (Nhật chiếm Lạng Sơn 1940 rồi tràn vào Hải Phòng Hà Nội, tôi vào nam 1941) hòa nhiễm nỗi lòng chinh phu trong văn thơ đưa tôi đến việc sáng tác lần hồi 3 bài Hòn Vọng Phu thành một truyền kỳ cảm động…Mang nặng mối tình nước non đang xao xuyến, phân vân trước bao nhiêu nghi vấn của đời người nên tôi gởi thác tâm tình vào để tài dân tộc là Tích Người Đà Bà Hóa Đá…” – Nhạc sĩ Lê Thương.
Thủ bút của NS. Lê Thương

Phật giáo trong biến đổi xã hội ở Trung Quốc

Bài viết này giới thiệu những ghi nhận có liên quan đến Phật giáo Trung Quốc trong công trình nghiên cứu có nhan đề: “Đối sách của các quốc gia và vùng lãnh thổ ở Đông Bắc Á về những biến đổi xã hội”, một công trình do Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, chủ biên TS. Trần Thị Nhung (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2013) (1).


Biến đổi xã hội, đối tượng nghiên cứu của công trình nói trên, gồm biến đổi tôn giáo. Với khu vực địa lý nghiên cứu là các nước và vùng lãnh thổ ở Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan), biến đổi tôn giáo đương nhiên bao gồm Phật giáo, tôn giáo chính yếu của khu vực này.

Công trình nghiên cứu này xác định biến đổi xã hội là một vấn đề quan trọng trong phát triển đất nước.

Các nước Đông Bắc Á, trong quá trình phát triển, đã có những biến đổi xã hội quan trọng. Do việc gần gũi về văn hóa, địa lý, cũng như có các mối liên hệ sâu đậm, nghiên cứu về biến đổi xã hội và những đối sách cho vấn đề này ở các nước nói trên đã được xác định là cần thiết, có giá trị tham khảo đối với Việt Nam.

Khi nghiên cứu về những biến đổi xã hội ở Trung Quốc, đi sâu vào biến đổi trong đời sống tôn giáo, công trình “Đối sách của các quốc gia và vùng lãnh thổ ở Đông Bắc Á về những biến đổi xã hội” đã có những ghi nhận rất đáng lưu tâm:

Biến đổi trong đời sống tôn giáo

Quá trình đô thị hóa nhanh chóng, sự thăng trầm của các nền kinh tế trong điều kiện hội nhập quốc tế tăng nhanh với cường độ cao cùng với những cải cách về cơ chế quản lý của nhà nước… đã tạo ra những biến đổi nhất định trong đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của các quốc gia trong khu vực Đông Bắc Á.

Tại Trung Quốc, trong điều kiện kinh tế thị trường, tôn giáo có xu hướng thế tục hóa và đạo Tin Lành có chiều hướng phát triển mạnh hơn. Theo quan niệm đối lập tôn giáo với chủ nghĩa vô thần, tôn giáo hầu như bị cấm tại Trung Quốc trong giai đoạn 1966-1979. Trong hơn 3 thập kỷ vừa qua, nhờ thành công của công cuộc cải cách và mở cửa, nền kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh chóng chưa từng thấy, kéo theo sự phát triển của quá trình đô thị hóa và dịch chuyển dân số từ nông thôn ra thành thị. Tôn giáo truyền thống có nhiều biến động. Nếu trước đây, các tổ chức tôn giáo truyền thống như Phật giáo và các giáo hội Ki tô giáo hoạt động trầm lắng thì hiện nay có xu hướng khởi sắc trở lại. Nhiều chùa chiền, nhà thờ cũng như các cơ sở thờ tự nói chung được tu sửa, xây mới ở nhiều nơi trên cả nước. Các tổ chức tôn giáo mới bao gồm cả một số tôn giáo đã từng xuất hiện trong thời gian trước đây nay bùng phát trở lại. Điểm nổi bật trong diện mạo đời sống tôn giáo Trung Quốc hiện nay là xu hướng thế tục hóa ngày một mạnh mẽ và sự phát triển của đạo Tin Lành có xu hướng tăng nhanh.

Sau khi Trung Quốc thực hiện công cuộc cải cách mở cửa, dưới sự tác động của kinh tế thị trường, tiến trình thế tục hóa của tôn giáo Trung Quốc có những biểu hiện như sau:

Thứ nhất, chú trọng đến đời sống hiện thực nhưng không từ bỏ tín ngưỡng. Do tác động của đời sống kinh tế hàng hóa và trình độ văn hóa được nâng cao nhất định mà đa số các tín đồ đều không chỉ theo đuổi quan điểm kiếp sau hư ảo mà còn chú trọng hơn tới việc đứng chân trong thế giới hiện thực. Người ta cho rằng, trong kiếp sống hiện thực, con người đã có thể cải thiện đời sống của mình khi sống, cần phải đi tìm hạnh phúc tốt đẹp hiện thực, để khi lên được thiên đàng, đến Niết bàn hưởng thụ những gì không có trong cuộc sống trần gian. Đó là triết lí: “là tín đồ tôi mong đi vào thiên quốc, là người tôi mong đất nước giàu mạnh”. Có thể thấy, đó là một triết lý sống lành mạnh.

Thứ hai, hướng tới đời sống thế tục, nhiệt tình với đời sống thế tục. Tín đồ Ki tô giáo sống đời sống thế tục là điều dễ thấy và dễ hiểu. Ngay cả tín đồ Phật giáo cũng thay đổi lối sống rất nhiều. Không ít nhà sư có cuộc sống không khác các quan chức thế tục. Ngoài việc cắt tóc, ăn chay, niệm Phật ra, họ cũng đủ xe hơi, điện thoại di động, thảm trải, điều hòa nhiệt độ… Nhiều Phật tử có lương cố định từ công việc nhà chùa, những người chuyên cần với công việc nhà Phật còn có tiền thù lao. Các tôn giáo đều nhiệt tình với công tác xã hội thế tục, đua nhau mua tín phiếu kho bạc, tích cực quyên tiền cho các công ty hy vọng, bỏ tiền tài trợ xây dựng sân bay, mở đường sắt.

Trong làn sóng kinh tế thị trường, Phật giáo và Ki tô giáo tỏ ra rất linh hoạt. Dưới danh nghĩa “tự nuôi mình”, Ki tô giáo tìm cách lập ra các thực thể kinh tế. Có nơi, tín đồ lập “xí nghiệp tam tự”, “Cửa hiệu tam tự”, “Bệnh viện Tam tự”. Có giáo hội mở các ngành dịch vụ công thương nghiệp, mốc nối với ngân hàng, thành lập các đại lí tích tiền…

Phần lớn chùa chiền đều được xây dựng trong rừng rậm, núi cao, phong cảnh tuyệt đẹp. Phật điện, bảo tháp, kiến trúc, thơ và câu đối… đều có giá trị văn hóa thu hút khách du lịch… Những điều đó đã khiến đền chùa ở Trung Quốc trở thành những điểm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Có chùa còn mở cả phòng trà, khách sạn, quán ăn… như một xã hội thu nhỏ tổng hợp. Vé vào cửa chùa cùng với các dịch vụ dành cho khách du lịch là những khoản thu nhập khá lớn. Chốn cửa thiền xưa kia thâm nghiêm, các nhà sư vốn lấy cuộc sống thanh bần làm cao cả, nay trở thành nơi huyên náo, những kẻ tu hành trở thành những người làm ăn chạy theo lợi nhuận…

Tôn giáo Trung Quốc vẫn tiếp tục duy trì được chức năng xã hội vốn có của nó là coi trọng tình cảm con người và giáo dưỡng đạo đức xã hội, song xu hướng thế tục hóa nói trên, tuy là xu hướng có tính thế giới, nhưng không khỏi ảnh hưởng phần nào đến các giá trị truyền thống của tôn giáo Trung Quốc.

Công cuộc cải cách mở cửa đã đem lại một diện mạo mới cho xã hội Trung Quốc. Trong hoàn cảnh đó, tôn giáo Trung Quốc cũng bắt đầu phục hưng. Theo đánh giá của các học giả nghiên cứu về tôn giáo Trung Quốc thì đạo Tin Lành là một thành tố nổi trội trong quá trình phục hưng tôn giáo nói chung sau cải cách mở cửa tại đất nước này.

Việc thống kê lượng tín đồ Tin Lành ở Trung Quốc hiện nay là một công việc khó khăn và kết quả thu được thường khó sát với thực tế. Các công trình nghiên cứu về tôn giáo Trung Quốc cho thấy, con số tín đồ hàng năm do tổ chức Tam tự công bố rất khác biệt so với số liệu của các tổ chức hải ngoại. Nguyên do là tổ chức Tam tự chỉ thống kê dựa trên những số liệu chính thức của các tổ chức Tin Lành hoạt động có đăng ký với chính phủ. Trong khi đó, trên thực tế lại tồn tại một lượng rất lớn những tín đồ Tin Lành hoạt động không đăng ký thường gọi là tín đồ “tại gia”. Theo công trình Tông giáo ở Trung Quốc của tác giả Lữ Vân thì Tin Lành ở Trung Quốc tăng nhanh từ những năm 1980, từ 3 triệu người năm 1982 lên 4 triệu người năm 1989. Vào năm 1993, theo một nghiên cứu của Hunter và Chan, con số 5 triệu tín đồ chính thức là không khớp với khoảng 20 triệu hoặc hơn thế trong thực tế. Theo công bố gần đây của Tam tự thì tính đến năm 2000, trên lãnh thổ Trung Quốc có 13.000 giáo hội, 35.000 điểm hội họp và 15 triệu tín đồ. Như vậy, nếu gộp cả số tín đồ “tại gia” thì con số sẽ lớn hơn rất nhiều. Trong vài năm gần đây, Chính phủ Trung Quốc cũng tiến hành thống kê số lượng tín đồ và ước tính con số này dao động từ 25 đến 30 triệu người. Có ý kiến cho rằng con số có thể lên đến 50 triệu người.

Từ thực trạng này, các nhà nghiên cứu đánh giá:

Thứ nhất, sự phát triển của đạo Tin Lành tại Trung Quốc từ thập niên 90 của thế kỷ trước đến nay diễn ra khá đột biến. Điều này đã dẫn đến sự đảo nghịch về tỷ lệ tín đồ giữa Tin Lành và công giáo so với thời kỳ trước đó và sau này. Hiện nay, số lượng tín đồ Công giáo ở Trung Quốc có khoảng 10 triệu người. Vào khoảng những năm 50 của thế kỷ trước, con số này là khoảng 3 triệu người, trong khi số lượng tín đồ Tin Lành mới có khoảng 700.000 đến 1 triệu.

Thứ hai, sự phân chia thành bộ phận: các giáo hội có quan hệ với Tam tự và các cộng đồng tự quản chỉ có ý nghĩa tương đối vì trong thực tế, các tín đồ của hai bộ phận này vẫn có liên hệ với nhau và ranh giới rất không rõ ràng.

Hiện nay, toàn Trung Quốc có 13 chủng viện thần học ở các vùng khác nhau với lượng học viên khoảng 700 người. Tại Nam Kinh tỉnh Giang Tô, Trường Cao đẳng Thần học Hiệp hội Nam Kinh là trường Thần học quốc gia được Ủy Ban Phong trào Yêu nước Tam tự của Giáo hội Tin Lành Trung Quốc thành lập năm 1952 khi có 12 chủng viện và trường Thánh kinh Tin Lành hợp nhất với nhau. Năm 1961, Chủng viện Thần học Hiệp hội Diên Khánh được nhập vào đó. Trường có nhiệm vụ đào tạo các giáo sĩ phù hợp với nguyên tắc Tam tự, các giáo sĩ yêu nước, các giáo viên thần học, các nhà nghiên cứu thần học và tôn giáo, các nhà hoạt động chuyên nghiệp có khả năng giảng dạy thần học, âm nhạc và nghệ Ki tô giáo, những người trung thành với lý tưởng Tin Lành và ủng hộ chủ nghĩa xã hội. Chủng viện có thái độ tôn trọng các giáo phái Tin Lành khác nhau, kết hợp văn hóa truyền thống Trung Quốc với tất cả những mặt đó, giúp xây dựng một nền thần học Tin Lành Trung Quốc. Từ năm 1980 đến năm 1991 đã có hơn 300 chủng sinh tốt nghiệp được cử đến làm việc tại các nhà thờ trong toàn quốc. Ngoài ra còn có 12 trường thánh kinh địa phương ở các thành phố Bắc Kinh, Thẩm Dương, Thượng Hải, Hàng Châu, Phúc Châu, Tế Nam, Hợp Phì, Vũ Hán, Quảng Châu, Tây An, Thành Đô và Côn Minh.

Thứ ba, vấn đề giáo hội và Nhà nước trong cộng đồng Tin Lành ở Trung Quốc khá phức tạp. Có một thực tế là nhiều tín đồ Tin Lành tại Trung Quốc chọn cách sinh hoạt tự quản, khép kín mà không đăng ký công khai. Các học giả phương Tây cho rằng do sự kiểm soát gắt gao của nhà nước khiến nhiều tín đồ Tin Lành rời bỏ các giáo hội công khai (có đăng ký) để đến với các giáo hội tại gia. Điều này cũng có nghĩa là khi xuất hiện tình thế đối đầu với chính phủ thì các tổ chức Tin Lành có một lực lượng hậu bị thực tế lớn hơn nhiều so với danh nghĩa” (trang 61-67, sách đã dẫn).

Tình hình được ghi nhận như trên có rất nhiều điểm để chúng ta đáng lưu ý.

Trước hết, Phật giáo Trung Quốc được ghi nhận là có sự phục hưng, nhưng cùng theo đó là những biểu hiện không lành mạnh, và mức độ phát triển của Phật giáo Trung Quốc cũng không được như các tôn giáo khác. Phật giáo Trung Quốc, như thế, là có bước tiến so với chính mình. Tuy nhiên, nếu so sánh trong bức tranh tổng thể tôn giáo ở Trung Quốc, thì lại thấy bước lùi ở Phật giáo.

Phật giáo Trung Quốc biến đổi theo hướng hủ bại, tha hóa, thế tục hóa, đánh mất những giá trị tinh thần thiêng liêng, chạy theo những giá trị vật chất trước mắt, kinh doanh hóa, thương mại hóa…

Những điều đó đang diễn ra trong bối cảnh đạo Tin Lành phát triển mạnh ở Trung Quốc. Sự bùng phát đạo Tin Lành đã tạo nên nét chính trong bức tranh tôn giáo ở Trung Quốc. Tình hình này đương nhiên tạo nên áp lực cho tất cả các tôn giáo khác ở Trung Quốc, trong đó có Phật giáo.

Phật giáo Trung Quốc phải đối mặt với thách thức đến từ bên trong, là sự hủ hóa tự thân, và thách thức đến từ bên ngoài, áp lực cải đạo do Tin Lành mang đến.

Điều bi đát là Phật giáo Trung Quốc lại không nhận thức về hiểm họa này, mà có vẻ vẫn tăng tốc trên con đường thế tục hóa. Tình hình được ghi nhận như trên là hết sức bi quan đối với Phật giáo Trung Quốc. Thế tục hóa đồng nghĩa với diễn biến suy thoái, thiểu số hóa, khủng hoảng lòng tin…

Công trình nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, qua ghi nhận tình hình như trên, đã nói đến một khả năng rất đáng lưu tâm, là khả năng “xuất hiện tình thế đối đầu với chính phủ” và nhất là khi xuất hiện tình thế này “thì các tổ chức Tin Lành có một lực lượng hậu bị thực tế lớn hơn nhiều so với danh nghĩa”.

Tin Lành Trung Quốc rõ ràng là lớn mạnh, Phật giáo Trung Quốc đang bị thế tục hóa. Tình thế đó dẫn đến tình thế đối đầu giữa Tin Lành với chính phủ Trung Quốc. Và nghiêm trọng hơn cho chính phủ Trung Quốc, lực lượng Tin Lành, trong thế mạnh lên, vẫn duy trì ẩn số bí hiểm về thực lực, tức là không thể biết mạnh đến mức nào!

Công trình nghiên cứu “Đối sách của các quốc gia và vùng lãnh thổ ở Đông Bắc Á về những biến đổi xã hội”  ngay trong phần đầu, đã lưu ý về sự gần gũi và tương đồng giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ Đông Bắc Á đối với Việt Nam: “Do sự gần gũi về địa lý, sự tương đồng về văn hóa và sự phát triển các mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước Đông Bắc Á nên đối sách của các quốc gia này trong bối cảnh mới sẽ có những tác động đến Việt Nam. Vì vậy, việc tìm hiểu những đối sách mà chính phủ các nước Đông Bắc Á thực thi trước những biến đổi xã hội để gợi mở những vấn đề về kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo, vận dụng trong quá trình xây dựng và phát triển xã hội là một việc làm cần thiết”.

Vì vậy, tình hình tôn giáo ở Trung Quốc, trong đó có Phật giáo, với những biểu hiện như đã ghi nhận, là rất đáng lưu tâm, đối với từ tăng ni Phật tử, hàng giáo phẩm Phật giáo, cho đến giới nghiên cứu tôn giáo, khoa học xã hội, và cả đối với quan chức chính quyền.

Minh Thạnh


(1)    Sách có bản in rất hạn chế, 300 bản phát hành toàn quốc, tuy nhiên rất hữu ích vì có nhiều tư liệu quý

 


nguồn: http://www.phattuvietnam.net

Cơ Hội Lớn Cho Tất Cả Chúng Ta

Thiền Sư Nhất Hạnh


Liên hệ thầy trò

Tôi còn nhớ khoảng năm 1959 tại chùa Xá Lợi đường Bà Huyện Thanh Quan, Sài Gòn, có một buổi lễ trao truyền Tam Quy và Ngũ Giới cho một người Pháp. Khoảng hai mươi thầy ở chùa Ấn Quang, lúc ấy là Phật Học Đường Nam Việt, trong đó có tôi, được mời tới tham dự với tư cách chứng minh. Ông Mai Thọ Truyền, pháp danh Chánh Trí, hội trưởng Hội Phật Học Nam Việt, người có công đầu trong công trình xây dựng chùa Xá Lợi, đã đứng ra thay mặt chư Tăng để làm lễ truyền Quy Giới. Đã từng là công chức thời Pháp thuộc, ông Chánh Trí nói tiếng Pháp rất thành thạo, và ông đóng vai trò chủ lễ từ đầu đến cuối, nghi thức hoàn toàn bằng tiếng Pháp. Cố nhiên nghi thức này chỉ được cử hành theo kiểu tuyên đọc, từ dâng hương cho tới hồi hướng, mà không có âm điệu tán tụng và xướng lễ đi theo như trong nghi thức truyền thống bằng tiếng Hán Việt.

Hồi ấy có một người Âu châu quy y theo đạo Bụt là cả một hiện tượng hiếm có. Vì vậy ông Chánh Trí Mai Thọ Truyền đã xem lễ quy y của người Pháp này như là một biến cố quan trọng xảy ra cho Phật Giáo Việt Nam và đã tổ chức lễ quy y một cách rất long trọng. Tôi là ông thầy tu duy nhất trong số các thầy tham dự lễ quy y nói được tiếng Pháp, nhưng ông Chánh Trí lại không mời tôi làm chủ lễ truyền giới, có lẽ vì tôi đang còn trẻ quá, chỉ mới trên ba mươi tuổi. Ông muốn các thầy ngồi đó với tư cách chứng minh thôi. Dù sao Tam Bảo phải có đủ Bụt, Pháp và Tăng; nếu không có mặt chư Tăng thì lễ quy y sẽ không có ý nghĩa. Ông Chánh Trí, cũng như rất nhiều Phật tử Việt Nam, rất hãnh diện khi có một người Tây phương quy y theo đạo Bụt, nghĩa là theo đạo của mình; vì lý do ấy tổ chức lễ quy y long trọng cũng là để cho niềm tự ái tôn giáo của mình có dịp được vuốt ve.

Hồi còn là ông thầy tu trẻ, tôi rất ghét truyền giới và thu nhận đệ tử. Tôi tự nói: mình dạy cho người ta học và tu là đủ rồi. Đệ tử xuất gia hay tại gia cũng thế, tôi không muốn thu nhận. Việc này nên để các thầy khác làm. Nhưng từ tuổi năm mươi trở đi, nhận thức của tôi đã thay đổi. Tôi bắt đầu thấy rằng nếu không có liên hệ thầy trò vững mạnh, nếu người tu học không chấp trì giới luật nghiêm chỉnh thì sự học hỏi và tu tập của họ không dễ thành công. Điều này tôi thấy rất rõ từ khi tôi đi giảng dạy tại các thiền viện và trung tâm tu học của người Tây phương. Tôi thấy sự hành trì giới luật tại các trung tâm ấy có tính cách lỏng lẻo. Họ có vẻ nghĩ rằng thiền tập không cần phải đi đôi với sự nghiêm trì giới luật, trong khi đó họ lại chấp hành rất nghiêm chỉnh những hình thức nghi lễ. Vì không nhấn mạnh tới sự hành trì giới luật và uy nghi cho nên trong những trung tâm tu học kia thường xảy ra chuyện phạm giới đưa tới nhiều vụ tranh chấp, tan rã và tai tiếng.

Từ ngày có nhận thức ấy, tôi nhất quyết đưa ra điều kiện là muốn tu tập với tôi, người thiền sinh phải phát nguyện tiếp nhận và hành trì giới luật và uy nghi. Tôi bắt đầu truyền năm giới và giới Tiếp Hiện tại gia. Sau đó tôi cũng bắt đầu thu nhận đệ tử xuất gia, truyền giới Sa di, Sa di ni, Tỳ khưu, Tỳ khưu ni và giới Tiếp Hiện xuất gia. Chỉ trong vòng mười lăm năm tôi đã truyền giới xuất gia cho 120 vị, giới Tiếp Hiện cho 500 vị, giới Tiếp Hiện Xuất Gia cho trên 100 vị, và năm giới cho trên 50.000 vị, đa số tuyệt đối là người Âu Mỹ. Có những lễ truyền giới tại Hoa Kỳ trong đó có tới 700 người Mỹ quỳ xuống để tiếp nhận Ba Quy và Năm Giới. Tất cả đều nhận pháp danh bằng tiếng Mỹ, và pháp danh nào cũng có chữ Tâm (of the Heart) dấu hiệu cho biết họ thuộc về thế hệ thứ chín phái Liễu Quán và thế hệ thứ 43 tông Lâm Tế.

Lễ quy y truyền giới cho thiền sinh thường được tổ chức vào ngày chót của các khóa tu . Những khóa tu đầu tiên được tổ chức thường chỉ có khoảng từ 50 đến 70 thiền sinh tham dự, cùng cư trú và tu tập với nhau 24 giờ một ngày suốt trong sáu ngày, tại một địa điểm chọn lọc thuận tiện, có nơi ngồi thiền, có đường đi thiền hành, có phòng pháp đàm, có bếp nấu cơm chay. Từ từ số thiền sinh tham dự các khóa tu càng ngày càng đông. Tu tập có chuyển hóa, có hạnh phúc, tháo gỡ được khó khăn và phiền não, người ta đồn với nhau, cho nên các khóa tu từ 50 người tăng dần lên 70, 120, 250, 400, 500 người, … Hiện giờ mỗi khi tôi đi hướng dẫn các khóa tu ở Bắc Mỹ thì mỗi khóa có ít nhất là 1000 thiền sinh tham dự. Nếu có những trung tâm cung cấp được điều kiện ăn ở cho thiền sinh thì số thiền sinh tham dự các khóa tu có thể lên tới 1500 người hoặc 2000 người mỗi khóa. Nhưng những trung tâm như thế hiếm lắm. Hiện giờ tại các trung tâm như Omega, Ascutney hay trường đại học California ở Santa Barbara có thể quy tụ được chừng 1200 thiền sinh trong mỗi khóa. Và các trung tâm ấy phải dựng thêm những chiếc lều vải lớn để đủ chỗ sinh hoạt cho thiền sinh. Vào những khóa tu có tầm vóc lớn như thế thì vào ngày cuối có thể có tới 700 người tiếp nhận ba quy và năm giới. Trong số những thiền sinh còn lại, có nhiều người đã được quy y và thọ giới trong những khóa tu trước rồi. Đặt pháp danh cho người quy y là cả một vấn đề. Cung cấp 700 pháp danh trong vòng vài ngày là chuyện không đơn giản. Thường thường các thầy và các sư cô phụ tá phải dùng tới máy vi tính để chọn và đặt pháp danh. Pháp danh thay vì có hai chữ thì có tới ba chữ để tránh sự trùng lặp. Ví dụ pháp danh Tâm Từ (Loving kindness of the Heart) hai chữ, có thể sử dụng để làm thành rất nhiều pháp danh ba chữ như Tâm Đại Từ (Great loving kindness of the Heart), Tâm Diệu Từ (Wonderful loving kindness of the Heart) và Tâm Minh Từ (Shining loving kindness of the Heart) v.v.. Nếu khóa tu được tổ chức ở Đức thì pháp danh được đặt bằng tiếng Đức, ở Nga thì pháp danh được đặt bằng tiếng Nga, ở Ý thì bằng tiếng Ý, v.v .. Luôn luôn trong các khóa tu có những vị xuất gia và tại gia thông hiểu tiếng bản xứ, do đó đặt pháp danh bằng tiếng địa phương không phải là một vấn đề khó khăn. Tỷ số thiền sinh thọ quy giới tại Nga là cao hơn hết. Vào cuối mỗi khóa tu ở Mạc Tư Khoa hay ở St. Petersburg , tỷ số thiền sinh thọ giới thường lên tới 95%. Tỷ số thiền sinh thọ quy giới tại Ý cũng rất cao.

Con Đường Sáng

Người xin quy y không cần phải đóng một phụ phí nào hết, nhưng cần cam kết là sau khi quy y phải thường xuyên đọc tụng ba quy và năm giới và tham dự các buổi pháp đàm tổ chức bởi tăng thân địa phương. Nếu trong vòng ba tháng mà không tụng giới ít nhất là một lần thì lễ quy y tự động mất hết hiệu lực và liên hệ thầy trò sẽ được xem như là không còn. Nếu muốn thiết lập lại liên hệ ấy để tu học cho nghiêm chỉnh thì phải xin quy y và thọ giới trở lại. Mỗi người sau khi quy y được tiếp nhận một Điệp Hộ Giới (Precepts Supporting Certificate) bằng tiếng mẹ đẻ của mình, trong đó ba quy và giới tướng năm giới được trình bày đầy đủ. Có trên 600 tăng thân đã được thiết lập ở các nước để làm nơi nương tựa cho người thiền sinh đã quy y. Các tăng thân này thường tập họp mỗi tuần để ngồi thiền, thiền hành, tụng giới và pháp đàm. Thỉnh thoảng họ tổ chức một ngày quán niệm, một khóa tu cuối tuần, hoặc một khóa tu năm ngày do họ tự hướng dẫn, hoặc mời một vị xuất gia hoặc một vị Tiếp Hiện tại gia tu học lâu năm tới hướng dẫn. Thiền sinh đã quy y thường được khuyến khích đến tham dự vào sinh hoạt tăng thân của địa phương mình để tụng giới và nuôi dưỡng sự hành trì của mình.

Đa số những người Tây phương quy y thọ giới là những người gốc đạo Ki Tô hoặc Do Thái. Quy y theo đạo Bụt đối với họ là một hành động can đảm có tính giác ngộ. Người Á Đông quy y chỉ là làm theo truyền thống tổ tiên, nhưng đối với người Tây phương hành động quy y thực sự có tính chất của một cuộc cách mạng tâm linh. Mỗi khi có một lễ quy y mà thấy hàng trăm người quỳ xuống đọc lên câu: Con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời, cảnh tượng luôn luôn rất trang nghiêm và cảm động, thấy mà muốn rơi nước mắt. Người Tây phương tu học theo đạo Bụt đa số thuộc về giới trí thức và còn trẻ. Những người thủ cựu và ít học là những người chống đối đạo Bụt, cho đạo Bụt là tà ma ngoại đạo, so với đạo Ky Tôu:

Xin quý vị đọc bản văn Năm Giới sau đây trước khi tôi kể tiếp câu chuyện:

Giới Thứ Nhất: Ý thức được những khổ đau do sự sát hại gây ra, con xin học theo hạnh đại bi để bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài. Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán thành sự giết chóc và không để kẻ khác giết hại, dù là trong tâm tưởng hay trong cách sống hàng ngày của con.

Giới Thứ Hai: Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cướp và bất công xã hội gây ra, con xin học theo hạnh đại từ để đem niềm vui sống và an lạc cho mọi người và mọi loài, để chia sẻ thì giờ, năng lực và tài vật của con với những kẻ đang thật sự thiếu thốn. Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra. Con nguyện tôn trọng quyền tư hữu của kẻ khác, nhưng cũng nguyện ngăn ngừa kẻ khác không cho họ tích trữ và làm giàu một cách bất lương trên sự đau khổ của con người và của muôn loại.

Giới Thứ Ba: Ý thức được những khổ đau do thói tà dâm gây ra, con xin học theo tinh thần trách nhiệm để giúp bảo vệ tiết hạnh và sự an toàn của mọi người và mọi gia đình trong xã hội. Con nguyện không ăn nằm với những người không phải là vợ hay chồng của con. Con ý thức được rằng những hành động bất chánh sẽ gây ra những đau khổ cho kẻ khác và cho chính con. Con biết muốn bảo vệ hạnh phúc của mình và của kẻ khác thì phải biết tôn trọng những cam kết của mình và của kẻ khác. Con sẽ làm mọi cách có thể để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa.

Giới Thứ Tư: Ý thức được những khổ đau do lời nói thiếu chánh niệm gây ra, con xin học theo hạnh ái ngữ và lắng nghe để dâng tặng niềm vui cho người và làm vơi bớt khổ đau của người. Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hoặc khổ đau cho người, con nguyện chỉ nói những lời có thể gây thêm niềm tự tin, an vui và hy vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng sự hiểu biết và hòa giải. Con nguyện không nói những điều sai với sự thật, không nói những lời gây chia rẽ và căm thù. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án những điều con không biết chắc. Con nguyện không nói những điều có thể tạo nên sự bất hòa trong gia đình và đoàn thể, những điều có thể làm tan vỡ gia đình và đoàn thể.

Giới Thứ Năm: Ý thức được những khổ đau do sự sử dụng ma túy và độc tố gây ra, con xin học cách chuyển hóa thân tâm, xây dựng sức khỏe thân thể và tâm hồn bằng cách thực tập chánh niệm trong việc ăn uống và tiêu thụ. Con nguyện chỉ tiêu thụ những gì có thể đem lại an lạc cho thân tâm con, và cho thân tâm gia đình và xã hội con. Con nguyện không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy, không ăn uống hoặc tiêu thụ những sản phẩm có độc tố trong đó có một số sản phẩm truyền thanh, truyền hình, sách báo, phim ảnh và chuyện trò. Con biết rằng tàn hoại thân tâm bằng rượu và các độc tố ấy là phản bội tổ tiên, cha mẹ và cũng là phản bội các thế hệ tương lai. Con nguyện chuyển hóa bạo động, căm thù, sợ hãi và buồn giận bằng cách thực tập phép kiêng cữ cho con, cho gia đình con và cho xã hội. Con biết phép kiêng khem này rất thiết yếu để chuyển hóa tự thân, tâm thức cộng đồng và xã hội.

Con Đường Tự Do

Văn bản Ngũ giới mà quý vị vừa đọc là kết quả của sự hành trì và giảng dạy trong suốt 25 năm qua. Giới bản xưa bao giờ cũng bắt đầu bằng câu: Không được sát sinh hay Cấm sát sinh. Giới trẻ Tây phương rất ghét cái công thức ra lệnh và cấm cản đó, cho nên mới nhìn thấy giới tướng năm giới họ đã bị dội, và thường lắc đầu từ chối. Họ đã từng bị ép buộc, ra lệnh và cấm cản quá nhiều trong truyền thống cũ của họ. Họ muốn đi tìm một khung cảnh nhẹ nhàng, dễ thương và có nhiều thoải mái hơn. Vì vậy giới tướng năm giới phải được trình bày lại để một mặt bản chất của giới pháp còn nguyên vẹn và hình thức của giới pháp được chấp nhận dễ dàng hơn. Giới tướng năm giới mà quý vị vừa đọc ở trên đã trải qua ba lần tu chỉnh. Trong văn bản năm giới hiện thời không có danh từ Phật học chuyên môn, người không theo đạo Bụt khi đọc hoặc nghe cũng có thể chấp nhận được như những nguyên tắc hướng dẫn nếp sống tâm linh, gia đình và xã hội của mình. Có nhiều vị linh mục công giáo và mục sư tin lành đã tiếp nhận năm giới dưới hình thức ấy và cảm thấy rất thoải mái, không thấy có gì mâu thuẫn với truyền thống tâu: ‘‘ Không được sát

Người Tây phương đã không thọ giới thì thôi, thọ rồi là họ đem ra hành trì ngay. Không nhưngười Á Đông, quy y và thọ giới xong có khi cả mấy năm sau cũng không có cơ hội nhìn lại điệp hộ giới, và có thể là không bao giờ đi tụng giới. Thậm chí có một số các thầy lại quá dễ dãi, nói với đệ tử mình rằng có thể trì giới một cách linh động: thỉnh thoảng có thể uống một ly rượu, miễn không say thì thôi, không sao. Ở đây chúng tôi nhất định không chấp nhận thái độ đó: không thọ giới thì thôi, mà hễ thọ giới thì phải tụng giới và hành trì một cách nghiêm chỉnh. Về giới uống rượu: một giọt rượu cũng không được uống. Ly đầu tuy không làm cho ta say nhưng có tác dụng đưa ta tới ly thứ hai và thứ ba, vì vậy ta phải từ khước ngay ly đầu. Tại đại hội The State of the World Forum do ông Gorbachev triệu tập năm 1995 ở San Francisco, tôi đã được mời lên thuyết trình về tương lai thế giới trước mặt nhiều nhà lãnh đạo văn hóa, khoa học và chính trị, trong đó có rất nhiều vị nguyên thủ quốc gia tham dự. Tôi chỉ đã thuyết trình về năm giới, xem năm giới là con đường thoát của nhân loại trong thế kỷ thứ hăm mốt, và khuyến khích mọi người trở về truyền thống tâm linh mình để khám phá ra những yếu tố tương đương với năm giới trong đạo Bụt mà hành trì.

Năm giới không phải là những điều cấm cản có mục đích giới hạn tự do của con người, trái lại là những hành trì có công dụng bảo vệ tự do, không để ta rơi vào trạng huống hệ lụy, chìm đắm, vướng mắc và khổ đau. Bản chất của năm giới là chánh niệm, là ý thức sáng tỏ biết ta đang nghĩ gì, làm gì, nói gì, là ánh sáng soi đường dẫn lối cho chúng ta. Học hỏi cho sâu sắc ta thấy năm giới chứa đựng đầy đủ tuệ giác của Bụt, Pháp và Tăng; hành trì theo năm giới ta sẽ được Bụt, Pháp và Tăng soi sáng, che chở và yểm trợ. Có những người hỏi: ‘‘ Tôi chỉ thọ năm giới mà không thọ ba quy, được không ? ’’ Tôi trả lời: ‘‘ Được lắm chứ. ’’ Theo họ thì thọ trì ba quy có thể là không còn trung thành với đạo gốc, nhưng thọ năm giới họ vẫn còn có thể trung thành với đạo gốc của họ như thường. Thật ra thọ năm giới cũng đã là thọ ba quy rồi, bởi vì nội dung của năm giới cũng là ba quy. Và quy giới chỉ có thể giúp cho họ hiểu thêm, bồi đắp và làm giàu cho truyền thống tâm linh gốc của họ thôi chứ không làm cho họ mất đi gốc rễ. Năm giới không phải là những huấn thị (commandments) của một vị thần linh ban xuống bắt ta phải làm theo mà là tuệ giác và kinh nghiệm đạt được do sự thực tập chánh niệm của nhiều thế hệ. Ta có thể sử dụng kinh nghiệm và trí tuệ ta để học hỏi về năm giới và để thấy được rằng sự hành trì năm giới đem tới an ninh, vững chãi và hạnh phúc của ta, của gia đình và đoàn thể ta. Cuốn sách tôi viết về năm giới xuất bản bằng Anh ngữ là cuốn For A Future To Be Possible (Để Có Một Tương Lai) đã bán rất chạy và đã soi sáng và cứu chữa được biết bao nhiêu cá nhân và gia đình. Khi sách này được xuất bản bằng tiếng Pháp với tựa đề là Changer le Future (Đổi Mới Tương Lai), nó được tổ chức Club Du Livre mua bản quyền và xuất bản ngay lập tức trong loại Sách Hay Trong Tháng (Le Livre Du Mois). Sách này đã được ấn hành trên mười thứ tiếng. Bản tiếng Việt có tên là Kinh Người Áo Trắng .

Đi Vào Cuộc Đời

Mỗi lần thấy một người quỳ xuống nhận lãnh ba quy và năm giới là tôi thấy trong lòng ấm áp và hạnh phúc. Không phải ấm áp và hạnh phúc là vì tôi có thêm một người đệ tử mà vì tôi có ý thức rằng nhờ sự thực tập quy giới theo thể thức của Làng Mai mà người ấy sẽ được bảo hộ, chuyển hóa và có cơ hội xây dựng được gia đình của mình để cùng sống trong an lạc. Cảnh tượng sáu hoặc bảy trăm người Tây phương quỳ xuống tiếp nhận quy giới luôn luôn là một cảnh tượng có thể làm rơi nước mắt. Các vị từ Việt Nam qua có cơ duyên đi dự những khóa tu cho người Âu Mỹ đã có cơ hội chứng kiến các cảnh tượng ấy, như hòa thượng Minh Thành, ni sư Đàm Nguyện, v.v.. Ở Việt Nam tại các tổ đình vào những ngày lễ lớn, mỗi lần có lễ quy y cũng chỉ có năm bảy chục người quy y, thành ra nghe chuyện sáu hoặc bảy trăm người Mỹ hoặc người Đức quỳ xuống nhận ba quy và năm giới, người ta khó tin là chuyện có thực, dù cảnh tượng đã được quay vào băng hình. Ngồi trên bục truyền giới với các vị xuất gia khác, tôi quán chiếu và thấy đây là công trình hoằng pháp của Bụt và chư tổ. Chúng tôi chỉ là cánh tay của các ngài. Tôi thường nhắc nhở các vị đệ tử xuất gia là khi người cư sĩ hướng về người xuất gia để đảnh lễ, ta phải quán chiếu là họ đang tỏ bày lòng tôn kính của họ đối với Tam Bảo, và ta phải ngồi thật yên và thở cho có chánh niệm để họ có dịp thực tập, thấy rằng họ đang kính lạy Tam Bảo chứ không phải đang sùng kính cái ngã của một ông thầy tu. Quán chiếu như vậy thì sự cung kính kia sẽ không bao giờ đụng được tới mình và mình luôn luôn còn duy trì được đức khiêm cung và tuệ giác vô ngã. Nếu không thực tập thì mình sẽ chết vì sự cung kính của người ta. Tôi luôn luôn nhớ câu chuyện của quốc sư Ngộ Đạt và vì vậy mỗi khi có người đảnh lễ, dù là hàng ngàn người đảnh lễ, tôi vẫn an nhiên bất động, vì tôi thấy rất rõ đối tượng của sự hành lễ của người ta là Bụt, Pháp và Tổ sư, do đó sự tự hào không bao giờ nẩy sinh trong tôi. Các vị mới xuất gia lần đầu được mặc áo nhật bình và mang pháp phục luôn luôn được tôi dạy dỗ như vậy, bởi vì tôi thấy đã có biết bao nhiêu người xuất gia bị sự cung kính và lợi dưỡng làm cho hư hỏng và tôi không muốn quý vị ấy bị cuốn theo con đường kia.

Tôi có người đệ tử theo học với tôi từ hồi còn mười bảy tuổi, tên là Pierre Marchand, người Pháp. Hồi đó Pierre đã có tài tổ chức những đại nhạc hội để kiếm tiền giúp Phái Đoàn Phật Giáo tại Paris bảo trợ cô nhi chiến tranh Việt Nam . Sau đó, lớn lên, Pierre đã thành lập một tổ chức yểm trợ trẻ em thiếu ăn và thiếu học trong các nước chậm tiến. Tổ chức này là tên là Partage Avec Le Monde. Tổ chức này đã hoạt động trên hai mươi năm, đã trở thành một trong những tổ chức thiện nguyện lớn nhất ở nước Pháp. Pierre rất thương chị Nhất Chi Mai của dòng Tiếp Hiện và cũng đã thọ giới Tiếp Hiện tại gia với pháp tự là Chân Đại Hội. Từ 1998, Pierre cùng các bạn bắt đầu vận động để tổ chức Liên Hiệp Quốc đi theo đường hướng Từ Bi và Bất Bạo Động của năm giới trong ý hướng bảo vệ và nuôi dưỡng cho trẻ em trên thế giới. Trong số những người yểm trợ chương trình vận động này có tới gần 20 vị từng được nhận giải Nobel Hòa Bình. Cuối cùng đại hội đồng Liên Hiệp Quốc trong một buổi họp vào mùa Đông năm 1998 đã ký nghị quyết số A / RES / 53 / 25 lấy năm 2000 làm ‘‘ Năm Quốc Tế của sự Tu Tập Hòa Bình (International Year For The Culture of Peace) và lấy thập niên 2001-2010 lành ’’ ‘‘ Thập Niên quốc tế xiển dương việc tu tập bất bạo động và hòa bình để làm lợi lạc cho tất cả trẻ em trên thế giới ’’ (International Decade For A Culture of Peace and Non Violence For the Children in the World.) Tổ chức UNESCO, tức là tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc (United Nations Educational, Scientific and Cultural Organisation) lãnh trách nhiệm bảo trợ, điều hợp và xúc tiến việc vận động tu tập và xiển dương này. Tổ chức UNESCO đã ấn hành một bản Tuyên Cáo (Manifesto) gồm có sáu điểm mà nội dung tương tợ như năm giới mà ta đang học hỏi và hành trì, nhưng được trình bày vắn tắt hơn để đại đa số dân chúng trên thế giới thuộc nhiều truyền thống tâm linh khác nhau có thể đọc, hiểu và tiếp nhận một cách dễ dàng. Mọi công dân của thế giới được khuyến khích đọc bản Manifesto này, gắng đem áp dụng trong đời sống hàng ngày trong phạm vi cá nhân, gia đình và xã hội, rồi quảng bá, giáo dục và yểm trợ cho nếp sống tỉnh thức theo tinh thần bản Manifesto. Tổ chức UNESCO cũng muốn mỗi người trong chúng ta sau khi đọc và chấp nhận đường hướng tu tập này, ký tên vào bản Manifesto và gửi về cho họ. Chúng ta cần ký tên và gửi về cho UNESCO trước ngày 30.6.2000. Tổ chức này cần một trăm triệu chữ ký trước ngày đó để trình lên Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc họp về Thiên Niên Kỷ Mới trong tháng chín năm 2000. Tôi rất muốn các bạn tôi, quen hay chưa quen biết, khởi sự hành động ngay lập tức và vận động được một triệu người ký từ Việt Nam. Không những người Phật tử cần ký mà người Nho Giáo, Công Giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, Nhân Bản, Không Tôn Giáo, Mác Xít cũng cần ký. Mỗi người trong chúng ta nên vận động ít nhất là 100 người ký, gửi và thực tập bản Manifesto này. Sau khi ký tên, ta bỏ vào phong bì, dán tem và đề:

Cuộc Vận Động Manisfesto 2000 – Bưu Chính / UNESCO
BP 3 – 91167 Longjumeau Cedex 9, France