30 Bài tụng duy thức

The Thirty Verses of Vasubandhu (Triṁśikāvijñaptikārikāḥ)
 

Bản Việt dịch Duy thức tam thập tụng của thầy Nhất Hạnh

1.
Những biểu tượng ngã, pháp
Tuy hiện hành nhiều cách
Đều do thức chuyển hiện
Chuyển hiện nầy có ba:

2.
Là dị thục, tư lương
Rồi đến biểu biệt cảnh
Trước là A lại da
Dị thục, nhất thiết chủng

3.
Không biết được biểu biệt
Của chấp thọ và xứ
Thường tương ưng với xúc
Tác ý, thọ, tưởng, tư

4.
Và thọ là xả thọ
Lại vô phú vô ký
Xúc, vân vân cũng vậy
Lưu chuyển như dòng nước

5.
Tới La hán thì ngưng.
Nương nó khởi duyên nó
Là thức tên Mạt na
Tính chất là tư lượng

6.
Cùng với bốn phiền não
Đều hữu phú, vô ký:
Là ngã kiến, ngã si
Ngã mạn và ngã ái

7.
Sinh ở đâu theo đó
Xúc, vân vân cũng vậy
La hán, diệt tận định
Xuất thế đạo không còn

8.
Đó là thức thứ hai.
Thứ ba gồm sáu loại
Tức là biểu biệt cảnh
Đủ thiện, ác, vô ký

9.
Tương ưng các tâm sở
Biến hành, biệt cảnh, thiện,
Phiền não, tùy phiền não
Và ba loại cảm thọ.

10.
Đầu là xúc, vân vân
Rồi biệt cảnh là dục,
Thắng giải, niệm, định, tuệ
Thiện là tín, tàm, quý,

11.
Vô tham, hai thứ nữa,
Cần, an, bất phóng dật,
Hành xả cùng bất hại.
Phiền não: tham, sân, si,

12.
Lại có mạn, kiến, nghi
Rồi đến tùy phiền não
Là phẫn, hận và phú,
Não, tật, xan, rồi siểm

13.
Cuống, kiêu, hại, vô tàm
Vô quý rồi hôn trầm
Trạo cử và bất tín,
Giải đãi, dật, thất niệm,

14.
Tán loạn, bất chánh tri
Hối, miên và tầm, từ
Hai thứ, mỗi thứ hai
Đó là tùy phiền não.

15.
Nương vào thức căn bản
Năm thức tùy duyên hiện
Hoặc cùng hoặc không cùng
Như sóng nương vào nước

16.
Ý thức thường hiện khởi
Trừ ở cõi vô tưởng
Trong hai định vô tâm
Ngủ say và bất tỉnh

17.
Thức chuyển hiện làm nên
Phân biệt, bị phân biệt
Do đó đều là không
Tất cả chỉ là thức

18.
Vì thức đủ hạt giống
Nên chuyển hiện mọi cách
Nhờ sức triển chuyển ấy
Mọi thứ phân biệt sinh

19.
Vì tập khí của nghiệp
Và tập khí nhị thủ
Khi dị thục trước hết
Các dị thục sau sinh.

20.
Do chủ thể biến kế
Có đối tượng biến kế
Tự tính biến kế chấp
Vốn là không thật có.

21.
Tự tính y tha khởi
Do phân biệt duyên sinh
Tự tính viên thành thật
Là lìa hẳn tính trước

22.
Nên nó cùng y tha
Không khác, không không khác
Như các tính vô thường
Không này cũng không kia.

23.
Từ ba tự tính này
Lập nên ba vô tính
Vì thế mật ý nói
Mọi pháp đều vô tính

24.
Cái đầu là vô tính
Vì tự thân là không
Cái nhì là vô tính
Vì không tự có được

25.
Cái ba là vô tính
Vì thắng nghĩa các pháp
Vẫn là tính chân như
Và thật tính duy biểu

26.
Khi còn chưa an trú
Trong thể tính duy biểu
Thì tùy miên nhị thủ
Vẫn chưa thể phục diệt.

27.
Dù bảo trú thức tính
Nhưng nếu còn đối tượng
Thì vẫn chưa thật trú
Vì còn có sở đắc.

28.
Nhưng khi nơi đối tượng
Trí không thấy sở đắc
Thì thật trú thức tính
Vì nhị thủ đã lìa.

29.
Là vô tâm, vô đắc
Nên là trí xuất thế
Chuyển đổi được sở y
Nhờ lìa hai thô trọng.

30.
Là cảnh giới vô lậu
Bất tư nghì, thiện, thường
An lạc, giải thoát thân
Ấy pháp Mâu Ni lớn.

 

 唯識三十頌Duy thức tam thập tụng

1

由假說我法,  
有種種相轉。
彼依識所變,  
此能變唯三:

Do giả thuyết ngã pháp
Hữu chủng chủng tướng chuyển
Bỉ y thức sở biến
Thử năng biến duy tam

2

謂異熟、思量,
及了別境識。
初阿賴耶識,
異熟一切種

Vị Dị thục, Tư lương
Cập Liễu biệt cảnh thức
Sơ A lại da thức
Dị thục, Nhất thiết chủng

3

不可知執受,  
處了常與觸、
作、受、想、思,  
相應唯捨受。

Bất khả tri chấp, thọ
Xứ, liễu. Thường dữ xúc
Tác ý, thọ, tưởng, tư
Tương ưng duy xả thọ

4

是無覆無記,  
觸等亦如是,
恒轉如瀑流, 
阿羅漢位捨。

Thị vô phú vô ký
Xúc đẳng diệc như thị
Hằng chuyển như bộc lưu
A la hán vị xả

5

次第二能變,  
是識名末那,
依彼轉緣彼, 
思量為性相。

Thứ đệ nhị năng biến
Thị thức danh Mạt na
Y bỉ chuyển duyên bỉ
Tư lương vi tính tướng

6

四煩惱常俱,  
謂我癡、我見、
并我慢、我愛,  
及餘觸等俱。

Tứ phiền não thường câu
Vị: ngã si, ngã kiến
Tịnh ngã mạn, ngã ái
Cập dư xúc đẳng câu

7

有覆無記攝,  
隨所生所繫,
阿羅漢滅定, 
出世道無有。

Hữu phú vô ký nhiếp
Tùy sở sinh sở hệ
A la hán, Diệt định
Xuất thế đạo vô hữu

8

次第三能變,  
差別有六種,
了境為性相, 
善不善俱非。

Thứ đệ tam năng biến
Sai biệt hữu lục chủng
Liễu cảnh vi tính tướng
Thiện, bất thiện câu phi

9

此心所遍行、  
別境、善、煩惱、
隨煩惱、不定,  
皆三受相應。

Thử tâm sở biến hành
Biệt cảnh, thiện, phiền não
Tùy phiền não, bất định
Giai tam thọ tương ưng

10

初遍行觸等,  
次別境謂欲、
勝解、念、定、慧,  
所緣事不同。

Sơ biến hành xúc đẳng
Thứ biệt cảnh vị: dục
Thắng giải, niệm, định, tuệ
Sở duyên sự bất đồng

11

善謂信、慚、愧、  
無貪等三根,
勤、安、不放逸、  
行捨及不害。

Thiện vị: tín, tàm, quý
Vô tham đẳng tam căn
Cần, an, bất phóng dật
Hành xả cập bất hại

12

煩惱謂貪、瞋、  
癡、慢、疑、惡見。
隨煩惱謂忿、  
恨、覆、惱、嫉、慳、

Phiền não vị: tham, sân
Si, mạn, nghi, ác kiến
Tùy phiền não vị: phẫn
Hận, phú, não, tật, xan

13

誑、諂與害、憍、  
無慚及無愧、
掉舉與惛沈、  
不信并懈怠、

Cuống, siểm dữ hại, kiêu
Vô tàm cập vô quý
Trạo cử dữ hôn trầm
Bất tín tịnh giải đãi

14

放逸及失念、  
散亂、不正知。
不定謂悔、眠,  
尋、伺二各二。

Phóng dật cập thất niệm
Tán loạn, bất chánh tri
Bất định vị: hối, miên
Tầm, từ, nhị các nhị

15

依止根本識,  
五識隨緣現,
或俱或不俱,  
如濤波依水。

Y chỉ căn bản thức
Ngũ thức tùy duyên hiện
Hoặc câu hoặc bất câu
Như đào ba y thủy

16

意識常現起,  
除生無想天,
及無心二定,  
睡眠與悶絕。

Ý thức thường hiện khởi
Trừ sinh vô tưởng thiên
Cập vô tâm nhị định
Thùy miên dữ muộn tuyệt

17

是諸識轉變,  
分別、所分別,
由此彼皆無,  
故一切唯識。

Thị chư thức chuyển biến
Phân biệt, sở phân biệt
Do thử bỉ giai vô
Cố nhất thiết duy thức

18

由一切種識,  
如是如是變,
以展轉力故,  
彼彼分別生。

Do nhất thiết chủng thức
Như thị như thị biến
Dĩ triển chuyển lực cố
Bỉ bỉ phân biệt sinh

19

由諸業習氣、  
二取習氣俱,
前異熟既盡,  
復生餘異熟。

Do chư nghiệp tập khí
Nhị thủ tập khí câu
Tiền dị thục ký tận
Phục sinh dư dị thục

20

由彼彼遍計,  
遍計種種物,
此遍計所執,  
自性無所有。

Do bỉ bỉ biến kế
Biến kế chủng chủng vật
Thử biến kế sở chấp
Tự tính vô sở hữu

21

依他起自性,  
分別緣所生。
圓成實於彼,  
常遠離前性。

Y tha khởi tự tính
Phân biệt duyên sở sinh
Viên thành thật ư bỉ
Thường viễn ly tiền tính

22

故此與依他,  
非異非不異,
如無常等性,  
非不見此彼。

Cố thử dữ y tha
Phi dị phi bất dị
Như vô thường đẳng tính
Phi bất kiến thử bỉ

23

即依此三性,  
立彼三無性,
故佛密意說,  
一切法無性。

Tức y thử tam tính
Lập bỉ tam vô tính
Cố Phật mật ý thuyết
Nhất thiết pháp vô tính

24

初即相無性,  
次無自然性,
後由遠離前,  
所執我、法性。

Sơ tức tướng vô tính
Thứ vô tự nhiên tính
Hậu do viễn ly tiền
Sở chấp ngã pháp tính

25

此諸法勝義,  
亦即是真如,
常如其性故,  
即唯識實性。

Thử chư pháp thắng nghĩa
Diệc tức thị Chân như
Thường như kỳ tính cố
Tức Duy thức thật tánh

26

乃至未起識,  
求住唯識性,
於二取隨眠,  
猶未能伏滅。

Nãi chí vị khởi thức
Cầu trụ duy thức tính
Ư nhị thủ tùy miên
Do vị năng phục diệt

27

現前立少物,  
謂是唯識性,
以有所得故,  
非實住唯識。

Hiện tiền lập thiểu vật
Vị thị duy thức tánh
Dĩ hữu sở đắc cố
Phi thật trụ duy thức

28

若時於所緣,  
智都無所得,
爾時住唯識,  
離二取相故。

Nhược thời ư sở duyên
Trí đô vô sở đắc
Nhĩ thời trụ duy thức
Ly nhị thủ tương cố

29

無得不思議,  
是出世間智,
捨二麁重故,  
便證得轉依。

Vô đắc bất tư nghì
Thị xuất thế gian trí
Xả nhị thô trọng cố
Tiện chứng đắc chuyển y

30

此即無漏界,  
不思議善常,
安樂解脫身,  
大牟尼名法。

Thử tức vô lậu giới
Bất tư nghì, thiện, thường
An lạc giải thoát thân
Đại Mâu Ni danh pháp.

 

51 tâm sở hữu pháp

Tiếng ViệtSanskritEnglishFrançais
 
徧行五5 tâm sở biến hànhSarvatraga5 Universals5 Universelles
xúcsparśacontactle contact
作意tác ýmanaskāraattentionl’attention
thọvedanāfeelingla sensation
tưởngsaṃjñāperceptionla perception
cetanāvolitionla volition
別境五5 tâm sở biệt cảnh
Viniyata5 Particulars5 Particulières
dụcchandaintentionl’intention
勝解thắng giảiadhimokadeterminationla détermination
niệmsmtimindfulnessla pleine conscience
địnhsamādhiconcentrationla concentration
tuệprajñā (mati)insightla compréhension
善十一11 tâm sở thiệnKuśala11 Wholesome11 Bénéfiques
tínśrāddhafaithla foi
tàmhrīinner shamela honte envers soi-même
quýapatrāpyashame before othersla honte vis-à-vis des autres
無貪vô thamalobhaabsence of cravingl’absence d’avidité
無瞋vô sânadveaabsence of hatredl’absence de colère
無癡vô siamohaabsence of ignorancel’absence d’ignorance
精進cầnvīryadiligence, energyle zèle, l’énergie
輕安khinh anpraśrabdhitranquility, easel’aisance
不放逸bất phóng dậtapramādavigilance, energyla vigilance
行捨hành xảupekṣāequanimityl’équanimité
不害bất hạiahiṃsānon harmingla non violence

一行
禪師添加

Thầy Nhất Hạnh
thêm
Wholesome M.F.
added by Thầy
Autres bénéfiques
ajoutées par Thầy
無畏vô úyabhayanon fearl’absence de peur
無憂vô ưuaśokaabsence of anxietyl’absence d’anxiété
kiênsthirastability, solidityla stabilité
từmaitrīloving kindnessla bonté aimante
bikaruṇācompassionla compassion
hỷmuditājoyla joie
khiêmsagauravatāhumilityl’humilité
lạcsukhahappinessle bonheur
清涼thanh lươngnirjvarafeverlessnessl’absence de fièvre
自在tự tạivāśikafreedom/sovereigntyla liberté
根本煩惱六6 căn bản
phiền não
Kleśa6 Primary
Unwholesome
6 Principales
Non Bénéfiques
thamrāgacraving, covetousnessl’avidité
sânpratighahatredla haine
simūḍhiignorance, confusionl’ignorance,la confusion
mạnmānaarrogancel’arrogance
nghivicikitsādoubt, suspicionle doute
惡見kiếndṛṣṭiwrong viewla vue fausse
隨煩惱二十20 tùy phiền não
được chia làm 3 phần
Upakleśa20 Secondary
Unwholesome
20 Secondaires
Non Bénéfiques
小隨煩惱十tiểu tùy: 1010 Minor Secondary
Unwholesome
10 Secondaires Mineures
Non Bénéfiques
忿phẫnkrodhaangerla colère
hậnupanāharesentment, enmityle ressentiment
phúmrakṣaconcealmentla dissimulation
nãopradāśamaliciousnessla malveillance
tậtīrṣyājealousyla jalousie
xanmātsaryaselfishness, parsimonyl’égoïsme
cuốngmāyādeceitfulness, fraudla tromperie
siểmśāṭhyaguilela duplicité
hạivihiṃsādesire to harmle désir de nuire
kiêumadapridela fierté
中隨煩惱二trung tùy: 22 Middle Secondary
Unwholesome
2 Secondaires Moyennes
Non Bénéfiques
無慚vô tàmāhrīkyalack of inner shamel’absence de honte envers soi-même
無愧vô quýanapatrāpyalack of shame before othersl’absence de honte vis-à-vis des autres
大隨煩惱八đại tùy: 88 Greater Secondary
Unwholesome
8 Secondaires Majeures
Non Bénéfiques
掉擧trạo cửauddhatyarestlessnessl’agitation
惛沉hôn trầmstyānadrowsinessla somnolence
不信bất tínāśraddhyālack of faith, unbeliefle manque de foi
懈怠giải đãipramādalazinessla paresse
放逸phóng dậtkausidyanegligencela négligence
失念thất niệmmuṣitasmṛtitāforgetfulnessl’oubli
散亂tán loạnvikṣepadistractionla distraction
不正知bất chánh triasaṃprajanyalack of discernmentle manque de discernement
一行禪師添加Thầy Nhất Hạnh
thêm
Unwholesome M.F.
added by Thầy
Autres non bénéfiques
ajoutées par Thầy
恐懼sợ hãibhayafearla peur
lo lắng (hồi hộp)śokaanxietyl’anxiété
絕望tuyệt vọngviṣādadespairle désespoir
不定四4 tâm sở bất địnhAniyata4 IndeterminateIndéterminées
hốikaukṛtyaregret, repentancele regret
miênmiddhasleepinessla torpeur
tầmvitarkainitial thoughtpensée initiale
từvicārasustained thoughtpensée d’investigation

Tài liệu

Trời Phương Ngoại

(Trích từ chương 3, tác phẩm “Thả một bè lau” – Truyện Kiều dưới cái nhìn thiền quán; tác giả: Thiền sư Thích Nhất Hạnh)

Bối cảnh: Khi nghe Kiều kể những chuyện oan ức mình đã trải qua, Từ Hải nổi giận cho hai đạo binh đi bắt hết cả những kẻ đã làm khổ Kiều, và cũng để mời luôn những người ơn của Kiều như bà quản gia, ni sư Giác Duyên và chàng Thúc Sinh về để Kiều được tạ ơn. Cuộc hành quân này thành công. Kiều đã báo ơn và trả thù bằng những phương tiện quyền lực của Từ Hải. Kiều muốn mời ni sư Giác Duyên ở lại chơi lâu hơn, nhưng ni sư không muốn. Và khi ni sư nói lời từ giã, ni sư bảo là theo lời tiên đoán của đạo cô Tam Hợp, năm năm nữa thì hai chị em sẽ lại được gặp nhau.

Việc nàng báo phục vừa rồi,
Giác Duyên vội đã gởi lời từ quy.

Sư chị ngán quá! Muốn về liền lập tức, không muốn ở thêm một giờ nào nữa trong chốn quân sự hãi hùng này. Chúng ta phải đi vào trong da thịt của sư chị để thấy. Sư chị bây giờ e ngại lắm, tuy rất thương sư em; không biết sư em sẽ đi về đâu nếu sư chị cứ tiếp tục như vậy. Nó đã rất đau khổ trong quá khứ, bây giờ báo thù được thì nó thấy nhẹ trong lòng. Đó là cái thấy của người đời. Nhưng người tu thì phải khác. Bây giờ sư chị đi, phải khiêng theo một ngàn lạng vàng và tất cả những tâm tư nặng nề tạo ra vì khung cảnh vừa rồi. Sư chị là người tu, dùng vàng để làm gì? Tu chỉnh Chiêu Ẩn Am? Một ngàn lạng vàng nặng lắm! Rồi thì ăn cướp, ăn trộm, làm sao? Khiêng một ngàn lạng vàng đi cũng khổ lắm! Không biết mình sẽ làm chuyện gì với số vàng này, và sư chị cảm thấy mất hết tất cả những an ninh của mình. Và nhất là lại mang theo niềm hoảng sợ và xót thương cho đứa em đồng đạo ngày xưa. Hãy để cho trí tưởng tượng của chúng ta đi theo để thấy sư chị rời khỏi trung tâm quân sự đó với tâm trạng nào.

Nàng rằng: ‘Thiên tải nhất thì,
‘Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn.
“Rồi đây bèo hợp mây tan,
‘Biết đâu hạc nội mây ngàn là đâu!

Đây là những câu thơ rất hay. Bèo hợp mây tan là lý vô thường. Ngày hôm nay mình sống chung với nhạu là ‘bèo hợp’, biết đâu mai này mỗi người đi một ngã là ‘mây tan’. Vì vậy phải biết trân trọng những giờ phút của ngày hôm nay, phải có hạnh phúc trong giờ phút này. Hai chị em gặp được nhau là điều hiếm có, xa nhau rồi thì không biết bao giờ mới được gặp lại, ngồi chung, uống trà đàm đạo với nhau. Thúy Kiều thấy được điều đó.

Sư rằng: ‘Cũng chẳng mấy lâu,
‘Trong năm năm lại gặp nhau đó mà.

– ‘Không lâu đâu! Trong năm năm nữa chị em mình sẽ được gặp nhau lại.’ Giống như là sư chị đã biết trước. Biết trước, không phải là do sư chị có tài bấm quẻ mà vì sư chị có quen với một đạo cô tu theo đạo Lão tiên đoán sự hội ngộ của hai chị em trong năm nay và trong năm năm nữa. Và vì đã gặp Thúy Kiều lần này đúng theo tiên đoán của đạo cô Tam Hợp nên sư chị tin rằng tiên đoán về lần hội ngộ thứ hai cũng sẽ đúng.

‘Nhớ ngày hành cước phương xa,
‘Gặp sư Tam Hợp vốn là tiên tri.
‘Bảo cho hội ngộ chi kỳ,
‘Năm nay là một nữa thì năm năm.
‘Mới hay tiền định chẳng lầm.
‘Đã tin điều trước ắt nhằm việc sau.
‘Còn nhìều ân ái với nhau,
‘Cơ duyên nào đã hết đâu vội gì?’

‘Hành cước’ (đi bộ) là sự thực tập của nhà tu. Nếu cái học của mình chưa tới, thì mình phải tìm thầy học đạo. Hành cước có khi gọi là đi vân thủy. Vân là mây, thủy là nước. Mây, nước luôn luôn đi. Người tu hành nếu chưa tìm được thầy, được pháp môn thì phải làm phận sự của mây và nước. Phải đi và đi bằng hai chân (hành cước) của mình chứ không đi ngựa, đi xe.

Những câu thơ này chứng tỏ sư chị Giác Duyên thương sư em Trạc Tuyền rất sâu sắc. Không biết có hiểu nhiều không nhưng có thương và muốn thương. Tình thương cao nhất là tình thương làm bằng cái hiểu. Biết sư em cần gì thì dạy sư em cái đó. Sư chị không biết sư em cần học kinh An Ban Thủ Ý, ru và chuyển hóa nội kết, nên đã không dạy. Sư chị chưa hiểu sư em bao nhiêu.

Nàng rằng: ‘Tiền định tiên tri,
‘Lời sư đã dạy ắt thì chẳng sai.
‘Họa bao giờ có gặp người,
‘Vì tôi cậy hỏi một lời chung thân.’

– ‘Nếu sư chị có gặp lại đạo cô thì xin hỏi dùm về tương lai của em. Em không biết mình sẽ đi về đâu.’ “Tiền lộ mang mang bất tri hà vãng” là một câu trong Cảnh Sách. Bốn cuốn Luật Tiểu (luật nhỏ) của người tập sự đi tu gồm có: Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu, Mười Giới Sa Di và Sa Di Ni, Uy Nghi và Cảnh Sách. Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu là năm sáu chục bài thi kệ thực tập chánh niệm trong mọi động tác hàng ngày. Bất cứ đi, đứng, nằm, ngồi, rửa tay, đi cầu, giặt áo… làm gì cũng có một bài kệ để thực tập thở ra, thở vào trong khi làm việc đó. Tỳ Ni Nhật Dụng thiết Yếu bản in mới có tên là Từng Bước Nở Hoa Sen. Mười Giới của Sa Di và Sa Di Ni bắt đầu bằng giới không sát sanh. Uy Nghi là phong thái của một nhà tu trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, hành xử. Ví dụ sử dụng phòng tắm, lên chánh điện, vào nhà bếp, đến nhà cư sĩ… phải làm như thế nào cho đúng phong thái một nhà tu. Sách xưa có 24 thiên uy nghi. Sách mới (Bước Tới Thảnh Thơi) có tới 39 chương, vì điều kiện sống và tiếp xúc có khác (ví dụ nghe điện thoại, vào siêu thị…) Cảnh Sách là những lời nhắc nhở của thiền sư Quy Sơn. Bài văn rất hay. Tất cả các sư cô, sư chú ngày xưa đều học thuộc lòng bằng chữ Nho.

“Tiền lộ mang mang bất tri hà vãng” là một câu trong Cảnh Sách, có nghĩa là: đường trước mờ mờ, không biết sẽ đi về đâu. Thúy Kiều cảm biết rằng cuộc đời mình còn nhiều sóng gió lắm, sau này không biết sẽ đi về đâu, vì vậy muốn nhờ sư chị Giác Duyên hỏi đạo cô Tam Hợp giúp mình. Muốn có một cái nhìn tổng quát về tương lai. Đó là nhu yếu của Thúy Kiều và cũng là nhu yếu của tất cả chúng ta. Ai cũng muốn biết tương lai cả cho nên mấy ông thầy chấm số tử vi túi mới có tiền. Nhưng mấy ông liệu có giỏi bằng đạo cô Tam Hợp không? Hay là tiền mất mà mình vẫn không có được cái nhìn rõ ràng nào về tương lai!

Trong đạo Bụt, có những điều mình biết nhờ tu học có chánh niệm. Nếu nắm được thân tâm mình thì đi về đâu mình cũng làm chủ được thân tâm, không đánh mất mình và mình không cần đến đạo cô Tam Hợp hay mấy ông thầy chấm số tử vi nữa. Vừa đỡ tốn tiền, vừa khỏi bị mang tiếng mê tín. Chỉ những người yếu bóng vía mới cần tới đạo cô và mấy ông thầy tướng số mà thôi.

Giác Duyên vâng dặn ân cần,
Tạ từ thoát đã dời chân cõi ngoài.

Sư chị Giác Duyên nhận lời Kiều và đi. Càng đi càng mau ra khỏi cõi này càng tốt. Cõi ngoài không phải cõi này. Có lẽ cụ Nguyễn Du đã dịch từ chữ phương ngoại: một không gian ở ngoài. Đọc thơ Nguyễn Du mà không biết về Phật học thì đôi khi cũng thiếu. Phương ngoại phương (space outside of space), trời phương ngoại. Đó là không gian nhưng cũng là loại không gian nằm ngoài không gian, vượt ra khỏi không gian thường của người đời. Chúng ta tìm tới cái không gian nằm ngoài không gian, thực tập tiếp xúc được với Tích Môn (historical dimension.) Người tu phải tiếp xúc với Bản Môn (utimate dimension.) ‘Cõi ngoài’ ở đây có nghĩa là phương ngoại phương, một phương trời không có những chuyện lên-xuống, ra-vào, ân-oán, tử-sinh, trong-ngoài, nhiều-một,… Sư chị biết chỉ ở trong cái khung trời phương ngoại đó, sư chị mới thật sự thoải mái mà thôi.

‘Chống gậy rong chơi chừ phương ngoại phương’ là một câu thơ của Tuệ Trung Thượng Sĩ; có nghĩa là: ta chống gậy đi chơi ở trong khung trời phương ngoại chứ không đi chơi trong khung trời của thế gian. Tuệ Trung Thượng Sĩ, anh ruột của đại tướng Trần Hưng Đạo, là một thiền sư rất nổi tiếng của đời Trần. Trong khi Trần Hưng Đạo thành công về quân sự thì Tuệ Trung Thượng Sĩ thành công về thiền tập. Ngài có một thiền phong rất hùng vĩ. Khí văn, khí thơ và đạo lực của Tuệ Trung tương đương với thiền sư Lâm Tế bên Tàu. ‘Chống gậy rong chơi chừ phương ngoại phương.’ Khung trời phương ngoại là cái chúng ta có thể bước vào bất cứ lúc nào chúng ta muốn. Đó là khung trời thoải mái của giải thoát, của niết bàn. Phải đi trong không gian của phương ngoại thì mới thật sự có hạnh phúc. Còn nếu tu mà vẫn đi ở phương nội thì chưa có hạnh phúc.

Giác Duyên vâng dặn ân cần,
Tạ từ thoắt đã dời chân cõi ngoài.

Rất hay! Mà đâu có cần chữ nghĩa nhiều! ‘Tạ từ thoắt đã dời chân cõi ngoài.’ Chỉ cần đưa tay nói ‘goodbye’ một cái là tự nhiên từ cõi của sầu đau và tranh chấp ta đi ngay được vào cõi của thênh thang, nhẹ nhàng, giải thoát. Câu này là một câu chúng ta có thể viết treo ở thiền viện. Tạ từ: thôi, không ăn thua nữa trong cuộc đời! Thoắt đã dời chân cõi ngoài: giải thoát có thể thực hiện được trong một cái búng tay. Giã biệt tất cả những phiền não, tranh chấp trong cuộc đời để được có tự do. Và chỉ khi nào mình giải thoát tự do mình mới giúp được người mà thôi.

Tháng 1974, trong khi làm việc cho hòa bình và gây quỹ giúp các cô nhi ở Việt Nam, tôi có bài thơ Trời Phương Ngoại:

Người đi trên đất mắt nhìn trời
Chim liệng từng không mây trắng bay
Một bàn tay đưa cho nắng ngọt
Một bàn tay giữ con đường mây
Lá xanh tháng tư mặt trời lọc
Đi qua rừng cây mà không hay
Búp tay hoa sen vừa hé mở
Vũ trụ sáng nay đã ngất ngây
Trà khuya bay khói thơ không chữ
Thơ chở trà lên tận đỉnh mây
Núi cao mưa lạnh vùng biên ải
Vi vút sau đèo gió gọi cây
Đỉnh tuyết trời quang bừng cảnh mộng
Giác ngộ tung về đóa mãn khai,
Đất xa mầu nhiệm thơm tình mẹ
Hoa nở tràn gian ước kịp ngày.
Thương bé bơ vơ mùa loạn lạc
Sen vàng bướm gửi khắp trời Tây
Tờ hoa nhạc hội bừng chiêng trống
Xóm dưới thôn trên dán chặt đầy
Mắc nối đường dây trăm xứ lạ
Ân nghĩa bên trời mãi dựng xây
Ngục thất ba trăm còn tuyệt thực
Mòn chân du thuyết hết đêm ngày.
Tháng Tư đồng nội trăm hoa nở
Mong ước ôm đầy hai cánh tay
Sắc xuân rực rỡ trời phương ngoại
Thơ hát yêu thương rộng tháng ngày
Gối mộng mây xa về lối cũ
Ngược dòng sông lạ đến tìm ai.

Đọc thêm sách “Thả một bè lau”

Trả về cho non sông

Ngày 18 tháng 07 năm 1974,
Các em tác viên Thanh niên Phụng sự xã hội,

Hồi sáng tôi có đọc một lá thư từ nhà gửi qua, tỏ vẻ lo lắng về “cuộc đất” của trường. Mỗi lần có tai nạn xảy ra cho trường là những lo lắng về địa lý lại có dịp sống lại. Không phải là tôi không tin nơi địa lý, nhưng tôi thấy “tâm lý” quan trọng hơn “địa lý” nhiều. Chùa Pháp Vân ngảnh mặt về hướng nào mới đúng? Cố nhiên là ngảnh mặt về phía quần chúng. Ngảnh lưng về phía quần chúng thì buồn cười quá đi, phải không các em?

Đất nước mình bị tai họa liên miên trong mấy chục năm nay có phải vì địa lý xấu không? Điện Thái Hòa, phủ Chủ Tịch và phủ Tổng Thống đã đặt hướng sai phải không? Theo mấy ông thầy địa lý, có lẽ ta phải thay hướng tất cả mọi tòa nhà hành chánh từ cấp trung ương đến cấp xã ấp. Nhưng chúng ta biết rằng tâm lý quan trọng hơn địa lý: chiến tranh và tai nạn phát xuất từ lòng người. Tâm bình thì thế giới bình, ai cũng biết điều đó, nhưng không mấy ai chịu bình tâm trước khi bình thiên hạ. Câu “nồi da xáo thịt” và câu “gà một nhà bôi mặt đá nhau” đứa bé nào cũng học thuộc nhưng không mấy ai khôn lớn mà lại biết thực hành nguyên tắc khôn ngoan kia để tránh cái cảnh tương tàn, tương sát. Trường TNPSXH từ ngày thành lập, đã gánh chịu nhiều tổn thất. Bao nhiêu người chết, bao nhiêu người bị thương tích. Mỗi lần có tai nạn xảy đến như thế, mỗi người trong chúng ta đều thấy chết trong lòng một phần, và bị thương tích trong trái tim một ít. Hiện Hương và Vinh đang ở bên cạnh tôi, cả hai người đều mang thương tích nhưng thương tích mà tôi mang trong lòng không phải là không đớn đau bằng. Liên, Vui, Hy, Tuấn, Thơ, Lành, chú Trí và bảy người đồng tán toán công tác, chị Nhất Chi Mai, thầy Thanh Văn, thầy Châu Toàn… và Diệu, Xuân, Kê, Út, Lành, ngọc, Nguyện, Triều, Kỷ. Chúng ta là ai mà có thể tránh được thiệt hại, trong lúc toàn dân đang gánh chịu khổ đau? Chúng ta chia xẻ đau xót với dân tộc, chúng ta nhận phần đau thương của chúng ta. Bao nhiêu người đã chết vì bom đạn và hận thù. Những người đang mang thương tích và những người ra đã ra đi, trong chúng ta, là những người chưa hề đem hận thù gieo rắc. Hồi tháng bảy năm 1967 khi nghe tin Hy, Tuấn, Thơ và Lành bị giết, tôi viết:

Có mặt đồng bào
Có mặt các chị, các anh
Máu của các em, tôi xin trả về cho non sông
Xương của các em, tôi xin trả về cho non sông
Máu xương đó trinh nguyên
Chưa bao giờ làm hoen ố giống Lạc Hồng
Còn những bàn tay các em
Tôi xin trả về cho nhân loại
Những bàn tay kia
Chưa bao giờ gây tàn hại
Những trái tim kia
Từ thời thơ ấu
Chưa bao giờ nhận gửi máu hờn căm

Và còn da các em đây, xin gửi trả về cho đồng bào
Các em chưa bao giờ chấp nhận cảnh nồi da xáo thịt
Xin hãy dùng những mảnh da các em đây
Mà vá lại
Những đường rạch
Những vết cắt rướm máu
Trên thân hình dân tộc thương đau”.

Tất cả chúng ta, những người đã bị thương tích hay đã ra đi đều đã chấp nhận sự hy sinh và những đớn đau với tâm niệm không oán thù. Tay chúng ta, may mắn thay, chưa từng dính máu đồng bào. Công lao chúng ta không có bao lắm, không đáng kể gì, nhưng chúng ta đã biết từ chối bạo lực. Tôi biết thế nên khuyên các em đừng nên đau xót lắm. Tôi khuyên các em, nhưng cũng là để khuyên tôi. Thương những người đã ra đi, ta biết thương những người còn ở lại. Ta phải sống với nhau cho xứng đáng. Đừng để khi mất đi người đồng sự ta mới biết tiếc nuối. Sống thì bắt nhịn đói nhịn khát. Chết đi mới làm cỗ bàn linh đình để hiến cho những con ruồi. Chúng ta hay lãng quên. Vì những tị hiềm phân bì nho nhỏ, chúng ta không cho nhau những ngọt ngào thương mến. Ta làm việc để thỏa mãn ước vọng thương yêu, đâu phải để kể công hay tích tụ phước đức. Người đồng sự của ta không làm được như ta, điều đó đâu có thể là nguyên nhân khiến ta ngưng bớt công việc của ta. Tôi nghe người ta nói các em làm việc giỏi. Điều đó chưa đủ cho chúng ta mừng. Điều quan trọng nhất chưa phải là làm việc giỏi. Điều quan trọng nhất là thương yêu nhau, và biết sống hạnh phúc bên nhau. Chúng ta làm việc cho hòa bình, thì chúng ta xây dựng hòa bình trong lòng ta và trong gia đình ta, có phải không?

Tại vì tôi nghĩ TNPSXH là một gia đình, nên tôi mới gọi các em là em. Nếu không tôi đã viết: các anh, các chị tác viên. Không phải tôi thân cận với các em khóa một hơn các em khóa hai và khóa ba. Có em tôi chưa được gặp, nhưng không phải vì thế mà tôi có cảm tưởng xa lạ khi nghĩ đến các em. Tôi nghĩ có thể rằng các em khóa ba mà ít chấp chặt và ít thành kiến hơn một vài em khóa một. Khóa nào thì cũng là TNPSXH. Khóa nào cũng chấp nhận đường lối xây dựng bất bạo động, từ bỏ bạo lực, phá trừ hận thù, xây dựng hòa giải. TNPSXH là một cái bè đưa ta tới bờ phụng sự, không phải là một gia tài để nâng niu, không phải một tượng thần để thờ cúng, không phải một cái Ngã để tô điểm. Các em đừng sợ mất TNPSXH, mà chỉ nên sợ mất tình thương và ý chí phụng sự. Khi nào thấy không khí TNPSXH khó thở quá thì bỏ mà đi quách; ra ngoài mà thực hiện lý tưởng thương yêu. Có biết bao người không còn trong TNPSXH nhưng đời sống của họ vẫn là một sự tiếp nối của lý tưởng phụng sự bất bạo động.

Em, tôi buồn lắm. Thầy Châu Toàn có hứa với tôi là sẽ tìm đất làm một làng TNPSXH, trong đó mỗi chúng ta có một lô đất để làm nhà và làm vườn. Đi đâu thì chúng ta cũng có một cái nhà và một cái vườn để tìm về, để nhớ, để thương. Tôi định gặp thầy Châu Toàn để nói: cho tôi một lô đất không xa lô đất của em để làm nhà và làm vườn (hồi sinh tiền thầy, tôi luôn gọi thầy là em). Và tôi xin thầy duy trì tất cả những cây lớn nhỏ mà có giá trị nghệ thuật trong khu đất làng. Tôi còn mơ ước có nhiều tảng đá lớn, và một con suối chảy qua làng. Em cũng có một lô đất, tôi cũng có một lô đất, Vinh cũng có một lô đất, Hương cũng có một lô đất, thầy Châu Toàn cũng có một lô đất… Chúng ta sẽ làm nhiều công viên nho nhỏ. Làng chúng ta sẽ mát dịu sáng trong như tình thương. Tôi tin thầy Châu Toàn có thể cộng tác với các em để tạo ra một khu làng đẹp đẽ như thể, bởi tôi biết thầy Châu Toàn là một chân nghệ sĩ. Thầy là vị tăng sĩ cắm hoa đẹp nhất mà tôi quen biết. Tôi biết nếu giao thầy việc làm làng cho chúng ta thì ta sẽ có làng rất đẹp, bởi vì tôi tin ở khả năng thẩm mỹ của thầy.

Ngày xưa chúng ta có Phương Bối, cũng là một nơi nương tựa của trường. Khi Phương Bối mất an ninh, ta có Trúc Lâm. Chắc chắn các em đã được hưởng những giờ phút an lạc ở trong lòng chiếc nôi tâm linh đó. Nhưng nay thầy Châu Toàn không còn nữa, một cây cổ thụ đã bị đổ ngã rồi. Làng TNPSXH, mà tôi muốn đặt tên là làng Hồng nếu ở đó ta trồng nhiều cây hồng ăn trái hoặc là làng Mai nếu ở đó ta trồng nhiều hoa mai, chưa thành hình thì thầy đã ra đi. Tôi mắc kẹt bên này chưa về được, vừa xót xa vừa trống lạnh. Tôi chẳng giúp gì cho các em được cả, nội một chuyện viết thư cho các em mà cũng chẳng viết được thường xuyên.

Thế nào các em cũng làm cho được làng Hồng, các em nhé. Tôi sẽ viết thư cho anh Thiều, cho thầy giám đốc mới. Chúng ta sẽ để dành nơi làm một công viên kỷ niệm chị Nhất Chi Mai, thầy Thanh Văn, thầy Châu Toàn và những anh em khác. Các em tìm cho ra một nơi có đất tốt, cây xanh, có đá, có nước. Tôi mê những thứ đó. Cây đá và nước là những thứ đẹp nhất: những thứ đó chữa lành thương tích của chúng ta. Và các em hãy cho tôi một lô đất trong làng ấy nhé. Tôi sẽ làm nhà, và xung quanh tôi sẽ trồng rau và rất nhiều rau thơm như ngò, tía tô, kinh giới, bạc hà, tần ô, lá lốt, thì là, vân vân. Khi em đến chơi thế nào tôi cũng đãi em một bát canh có rau thơm rắc lên trên mặt bát.

Mỗi năm, ta có ít nhất một tháng tĩnh tu tại làng, không hoạt động gì hết. Cả ngày ta đối diện với đá, với nước, với cây; cả ngày ta đối diện với chính ta. Trồng rau, tỉa đậu, chơi với các cháu nhà bên, ta tìm lại ta, chữa lành thương tích, trang bị thương yêu để sẵn sàng trở lại môi trường phụng sự. Tôi về thì tôi sẽ ở giữ làng cho các em. Tôi sẽ ra cổng làng đón từng em, tôi sẽ ngồi lắng nghe các em than thở, phân trần. Rồi tôi sẽ đưa các em về nhà em. Và chiều hôm đó tôi sẽ mở hội mừng em, mời trẻ em trong xóm đến ca hát. Tôi sẽ đọc cho em những bài thơ mà tôi viết để ca tụng tình thương và những bàn tay cần mẫn của các em, cùng những hoa lá các em làm xanh tốt trên mọi nẻo đường. Tôi thấy một làng và đem về làng cho các em những người anh những người chị những người mẹ để săn sóc cho em khi em cần đến sự săn sóc.

Thầy Châu Toàn tôi quen từ hồi thầy còn tám tuổi. Thầy đến tu viện của tôi trên núi Dương Xuân để hái hoa về trang trí cho ngày giỗ tổ tại chùa Trà Am. Thầy lúc ấy là chú điệu Hòa. Hòa leo lên cây hoa đại (tức là hoa sứ) hái từng giỏ hoa trắng muốt. Nhưng một cành hoa đại gảy, Hòa té xuống đất, gảy xương ống chân. Thầy Mật Thể (tác giả sách Việt Nam Phật Giáo Sử Lược) bổn sư của Hòa phải đưa Hòa vào bệnh viện, thầy ngồi hàng giờ trong bệnh viện với Hòa.

Rồi Hòa được gửi vào học Phật học đường Báo Quốc Huế, sau này mới có tên Hoàng Minh và pháp danh Châu Toàn. Năm 1952, tôi mời thầy Châu Toàn vào Nam, vừa để học thêm sinh ngữ, vừa để sống chung với nhau. Thầy Châu Toàn có viết vài truyện ngắn. Có một lần tôi nghe thầy kể về cốt chuyện của truyện “lỡ hẹn” mà thầy định viết (hoặc đã viết mà bản thảo không còn). Cốt chuyện ấy như sau. Một em bé nhà nghèo phải xa mẹ đi làm ăn chốn xa. Một hôm được biết trong tháng tới em sẽ phải đi tới một làng xa để nhận việc, và sẽ đi xe lửa ngang qua làng mình, em mới viết thư cho mẹ: “Mẹ ơi, ngày thứ hai tuần tới con sẽ đi xe lửa ghé qua làng mình năm phút. Xin mẹ ra ga cho con thăm, kẻo con nhớ mẹ quá. Và mẹ đem cho con vài cái bánh ít của mẹ làm, kẻo lâu nay con không được ăn bánh ít ngon của mẹ. Xe lửa sẽ đổ lại chừng năm phút”. Cậu bé trông mãi đến ngày khởi hành. Còn mười lăm phút nữa xe lửa sẽ ghé làng. Cậu nóng ruột. Cậu nhìn ra ngoài. Rồi cậu ra đứng sát cửa toa xe. Xe lửa hét lên một tiếng. Rồi từ từ ngừng lại. Cậu bé nhìn xớn xác. Không thấy hình bóng mẹ. Một phút, hai phút. Rồi ba phút, bốn phút. Cậu nhìn ra con đường đất từ xóm ra ga: không có một bóng người. Năm phút. Xe lửa lại mở còi, bánh xe từ từ lăn trên đường sắt. Mắt cậu bé vẫn dán vào con đường làng. Không có bóng người. Xe bắt đầu lăn tốc độ rằm rập. Cậu bé khóc nước mặt nhòe cả lũy tre và con đường làng. Bỗng cậu gạt nước mắt, trố mắt nhìn. Trên con đường làng đất đỏ, bóng một thiếu phụ, đầu đội một chiếc rổ con. Đúng là bà mẹ của cậu bé. Thấy xe đã chạy rồi, bà đứng dừng lại. Bà nhìn theo con tàu. Cậu bé đưa tay vẫy mẹ, nhưng tàu đã chạy khuất. Cậu trông thấy mẹ, nhưng mẹ không thấy cậu, cậu đứng trên xe, khóc như mưa. Một người hành khách nắm cánh tay cậu đưa vào trong toa.

Trong một khóa tu cách đây chừng hai tháng, thầy Châu Toàn viết cho tôi: “Em mong có hòa bình để ra Quảng Bình tìm lại mẹ, mong rằng bà còn sống”. Không biết mẹ thầy còn sống hay không nhưng thầy không còn có dịp gặp mẹ nữa. Lời ước hẹn đã không được thành tựu. Ngày thầy mất 24.6.74, là ngày tôi ước hẹn gặp thầy ở Vạn Tường để bàn chuyện làm làng Hồng. Nhưng tôi đã không được gặp thầy. Nhận được tin dữ, tôi đóng cửa phòng một ngày. Tôi như một gốc cây bị đốn ngã. Tôi đánh điện về an ủi các em  nhưng tôi thì không an ủi được, sao trên đời có những chuyện “lỡ hẹn” đớn đau đến thế, hả em?

Tôi đọc kinh cầu nguyện cho thầy, cho tôi, và cho các em. Tôi viết những dòng này cho các em trong khi bên ngoài gió thổi rất mạnh. Tôi xin các em tạm nghỉ công việc một vài ngày. Chúng ta hãy nhìn lại nhau, để biết thương nhau hơn. Tôi gửi em tất cả niềm tin cậy của tôi.

Lời chúc đầu năm của Sư Ông Làng Mai

Tôi xin chúc đại chúng một Năm Mới có nhiều tiến bộ trong sự tu tập và đạt được nhiều năng lượng an lạc, hạnh phúc cho bản thân, cho gia đình và đoàn thể của mình.

Tôi thấy rằng chúng ta là những người rất may mắn, tại vì chúng ta có một gia đình tâm linh, chúng ta có một tăng thân. Ngày xưa Đức Thế Tôn cũng có một tăng thân, và tăng thân của Đức Thế Tôn là sự nghiệp của Ngài. Ngài đã để hết tâm lực để xây dựng một tăng thân có thể đại diện cho Ngài và tiếp nối sự nghiệp của Ngài.

Chúng ta biết rằng tăng thân là đoàn thể của những người cùng một lý tưởng; trong tăng thân có tình huynh đệ và có hạnh phúc. Nếu mình đích thực là một tế bào trong cơ thể của tăng thân thì mỗi ngày mình đều có thể chế tác được năng lượng của niệm, định, tuệ, của bình an và hạnh phúc. Và chế tác ra như vậy là để mình tự nuôi mình, và để nuôi tất cả những thành phần khác của tăng thân.

Là một tế bào trong tăng thân là một vinh dự lớn. Nếu tế bào đó bị đẩy ra khỏi tăng thân thì đó là một sự mất mát rất lớn, cho nên nếu mình còn là một tế bào trong tăng thân thì mình có rất nhiều hạnh phúc. Có những người trong chúng ta không đủ phước cho nên đã bị cắt ly tăng thân. Không có tăng thân là một niềm đau rất lớn.

Những người trong chúng ta đang còn là những tế bào trong tăng thân, chúng ta phải thấy rằng chúng ta còn hạnh phúc, tại vì trong Tăng thân có Phật thân. Nếu mình là một tế bào trong tăng thân thì đồng thời mình cũng là một tế bào trong Phật thân. Vinh dự biết bao nhiêu khi được là một tế bào trong hình hài của Bụt, để nối tiếp sự nghiệp của Đức Thế Tôn.

Ngày xưa sau khi thành đạo, Đức Thế Tôn biết rõ là nếu không có tăng thân thì Ngài không làm được sự nghiệp của Ngài, cho nên ngay sau khi thành đạo, Ngài đã đi tìm những người cùng chí hướng để thành lập tăng thân. Và tăng thân của Ngài rất hùng hậu. Chúng ta biết rằng mỗi người trong chúng ta đều có một ước mơ. Và ước mơ đó không thể nào thực hiện được nếu không có tăng thân.

Tăng thân là một hình hài trong đó có nhiều tế bào, và tất cả tế bào đó đều cùng chung một lý tưởng, một ước mơ. Ước mơ đó là làm thế nào để cho cuộc đời này bớt khổ và có hạnh phúc thêm. Ước mơ đơn giản nhưng rất sâu sắc. Và chúng ta biết rằng dù có tài ba cách mấy mà không có tăng thân thì chúng ta cũng không thể nào thực hiện được ước mơ đó. Còn ở trong tăng thân như một tế bào của tăng thân, chúng ta đồng thời là một tế bào trong Phật thân và chúng ta đang tiếp nối sự nghiệp của Đức Thế Tôn. Chỉ cần nhắc nhở mình chuyện đó thôi, chúng ta đã tràn đầy hạnh phúc rồi. Chúng ta không cần đi kiếm một hạnh phúc nào khác nữa.

Trong tăng thân chúng ta đã có những người chứng được quả gọi là “đã về đã tới”, nghĩa là cảm thấy hạnh phúc khi sống trong tăng thân, không muốn đi tìm điều gì nữa, thấy mình mỗi ngày đang cùng với Tăng thân thực hiện được chí nguyện độ đời giúp người. Chúng ta tổ chức những ngày tu, những khóa tu, giúp cho người lớn, trẻ em, những người thuộc các tôn giáo khác có thể chuyển hóa để có thể hòa giải được với nhau. Đó là chuyện chúng ta được làm mỗi ngày.

Chúng ta thấy kết quả của sự tu học cũng như công trình phụng sự của chúng ta đang xảy ra mỗi ngày và cái đó nuôi dưỡng chúng ta. Vì thấy được điều đó cho nên chúng ta cảm thấy thoải mái trong Tăng thân, cảm thấy mình rất bình an ở trong Tăng thân và không muốn đi đâu nữa. Chúng ta chứng được quả mà Làng Mai gọi là “đã về đã tới”, không cần đi đâu nữa hết, không cần mong ước gì nữa vì những mong ước của mình đang từ từ được thực hiện mỗi ngày.

Thành ra hôm nay là ngày Tết, điều quan trọng nhất mà mình cần nhắc nhau là: chúng ta đang có rất nhiều may mắn; mỗi ngày chúng ta đang chế tác thêm bình an, hạnh phúc, tình huynh đệ, niệm, định và tuệ; và nhờ sự có mặt của Tăng thân mà chúng ta tiếp nối được sự nghiệp của Đức Thế Tôn. Thầy xin kính chúc tất cả đại chúng, xuất gia cũng như tại gia, suốt năm nay nên nhớ tới điều đó và chứng được quả “đã về đã tới” – điều này không khó mấy, nếu chứng được quả đó thì có hạnh phúc liền lập tức và mình có thể duy trì được hạnh phúc đó trong suốt cả năm. Nên nhớ cuộc đời vô thường.

Chúng ta biết rằng nhu yếu tu học trên thế giới rất lớn, mà Tăng đoàn của chúng ta – những người xuất gia và tại gia làm công việc tổ chức tu học – vẫn còn thiếu người. Chúng ta cần hàng ngàn vị giáo thọ nữa, cả xuất gia và tại gia, để có thể thỏa mãn nhu yếu tu học rất lớn trên thế giới. Do đó Thầy xin chúc quý vị một năm mới có thêm nhiều sư em, nhiều giáo thọ cư sĩ để chúng ta có thể thỏa mãn nhiều hơn nhu yếu tu học trên thế giới.

Chúng ta nên nhớ rằng: nếu chúng ta có tình huynh đệ, nếu chúng ta có hạnh phúc trong đời sống hàng ngày thì thế nào lý tưởng của chúng ta cũng sẽ được thành tựu viên mãn.

Lá cũng là mẹ của cây

Một ngày mùa thu, khi đi dạo chơi trong một công viên, tôi bắt gặp một chiếc lá đỏ rất đẹp hình trái tim đang đong đưa trên cành. Tôi đứng nhìn và nói chuyện với chiếc lá rất lâu. Tôi chợt khám phá ra rằng chiếc lá là mẹ của cây.

Bình thường ta nghĩ rằng cây là mẹ của lá, nhưng sau một hồi ngắm nhìn chiếc lá, tôi thấy rằng lá cũng là mẹ của cây. Rễ cây hút nhựa từ nước và khoáng chất nhưng thứ nhựa nguyên nầy không đủ để nuôi sống cây nên cây phải phân phát nhựa nầy cho các lá, và với sự hợp tác của ánh sáng mặt trời và không khí, lá biến chế nhựa nguyên thành một thứ nhựa gọi là nhựa luyện có khả năng nuôi sống cây. Vì vậy mà tôi thấy lá cũng là mẹ của cây. Chiếc lá được gắn vào cây bởi một cái cuống, cho nên mình thấy được dễ dàng sự liên lạc của hai bên.

Còn ta thì đã có cái cuống nhau ở bụng mẹ khi ta còn là một bào thai. Chính nhờ cái cuống nhau đó mà thức ăn và dưỡng khí được đưa vào bào thai. Khi ta sinh ra, người ta cắt mất cái cuống đó, và điều này cho ta cái ảo tưởng là ta được độc lập tự do, không còn bị lệ thuộc vào mẹ nữa. Thật ra ta vẫn là con của mẹ, và không những ta chỉ có một người mẹ, mà ta có rất nhiều mẹ. Trái đất cũng là mẹ của ta. Ta được gắn liền vào trái đất bởi rất nhiều cái cuống. Ta cũng có một cái cuống gắn ta vào với mây. Bởi nếu không có mây, làm sao có nước cho ta uống. Ta được tạo thành bởi bảy mươi phần trăm nước, vì vậy ta và mây cũng được gắn vào nhau. Ta còn được gắn vào với rất nhiều thứ khác, với dòng sông, với rừng xanh, với bác tiều phu, với bác nông dân, đủ cả không thiếu gì hết. Cả vũ trụ dang tay nuôi nấng ta, bảo bọc ta. Bạn có thấy tôi là bạn và bạn là tôi không? Nếu bạn không có mặt thì tôi cũng không có mặt. Điều đó quá hiển nhiên. Nếu bạn chưa thấy được như vậy, bạn cứ nhìn sâu thêm, bạn sẽ thấy.

Tôi hỏi chiếc lá: "Em có sợ mùa thu không, vì tới mùa thu, em sẽ phải rời cây?" Chiếc lá đáp: "Dạ không. Suốt mùa xuân và mùa hạ em đã sống rất đầy đủ. Em đã giúp cây hết lòng để cây được sống. Em thấy mình trong cây. Em thấy mình là cây, em không phải chỉ là một chiếc lá. Khi em trở về đất, em sẽ tiếp tục nuôi dưỡng cây. Em chẳng có gì phải lo sợ cả. Khi em rời cành bay bổng trên không, em sẽ vẫy tay chào cây: Ta sẽ gặp lại nhau một ngày rất gần."  Chiếc lá vừa nói xong thì một ngọn gió thoáng qua. Chiếc lá bay lượn nhẹ nhàng trước khi rơi xuống đất. Lá rất sung sướng khi thấy được lá là cây. Tôi cúi đầu chào lá, cảm ơn lá đã cho tôi một bài học quý giá.

Bồ tát vô úy

Có lần trong tù, đói quá, Thầy Quảng Độ nằm mơ thấy được nhà bếp cho một cái bánh bao.  Ăn xong thấy bụng căng thẳng, no nê, rất hạnh phúc. Sự thật là đêm ấy, trước khi đi ngủ, vì đói quá nên thấy uống nước cho đầy bụng dễ ngủ. Và Thầy đã đái dầm ra quần. Sáng hôm đó Thầy có làm một bài thơ.  Bài thơ như sau:

Cái bánh bao

Không có cái gì quý hơn cái bánh bao
Ăn ngon miệng, trông đẹp mắt làm sao!
Đang cơn đói ruột như cào
Bếp cho một cái, xực vào sướng ghê.
Bây giờ cái bụng căng thẳng  no nê
Lim dim cặp mắt đi vào cõi mê

Nhưng lạ thay
Tỉnh dậy nghe mùi khê khê
Và băng-ta-lông thấy dầm dề
Đúng rồi!
Thì ra tôi đã tê rê ra quần
Táo quân ơi hỡi táo quân
Tự do hạnh phút có ngần ấy thôi!

Thầy Quảng Độ trong khi ở tù và chịu đói vẫn còn đầy đủ tinh thần hài hước và trong cái hài hước đó còn có cái gan dạ tầy trời.  �Tự do hạnh phút có ngần ấy thôi!�. Thầy đã dám động đến chế độ. Thầy đã dám động đến chế độ. Tự do và hạnh phúc hứa hẹn chỉ là một cái bánh bao trong giấc mơ. Thầy chẳng biết sợ là gì. Cả với thần chết Thầy cũng không sợ. Có một lần nằm trong xà lim quán chiếu về cái chết của chính mình, thầy đã cười lớn. Thấy Thầy ngồi nói chuyện với tử thần một cách thanh thản, và còn nhận xét rằng thần chết cũng không dữ dằn gì mấy, trái lại còn có vẻ hiền hiền, so với những người trần gian mà tâm trạng đầy dẫy tham sân si. Tử thần trước khi rời Thầy đã hôn Thầy âu yếm trước khi từ biệt. Ta đã đọc bài thơ Nói chuyện với tử thần sau đây:

Nói chuyện với tử thần

Xà lim trong hệt cái nhà mồ
Mỗi lần mở cửa tôi ra vô
Thấy như chôn rồi mà vẫn sống
Tử thần, tôi sợ con cóc khô

Tử thần nghe vậy bèn sửng cồ
Nửa đêm đập cửa tôi mời “dô”
Sẵn có thuốc lào phèo mấy khói
Tử thần khoái trá cười hô hô

Trong khi vui vẻ tôi trò chuyện
Tử thần đắc ý nói huyên thuyên
Trần gian địa ngục ham chi nữa
Thôi hãy bay mau vào cõi tiên

Tớ xem tướng cậu cũng hiền hiền
Mà sao thiên hạ sợ như điên
Mỗi lần thấy cậu lò dò tới
Chúng nó hè nhau bỏ tổ tiên

Ấy cũng bởi vì chúng nó điên
Chớ anh coi tướng ta rất hiền
Đứa nào hết số ta mới rớ
Bảo chúng làm ăn đừng có phiền.

Tớ đây tuy có chút lo phiền
Nhưng mà cũng chẳng ham cõi tiên
Trần gian địa ngục tớ cứ ở
Mê loạn cuồng say với lũ điên

Trần gian ta thấy bết hơn tiên
Thân bị gông cùm tâm chẳng yên
Sống trong hồi hộp trong lo sợ
Dẫu phải thánh hiền cũng phải điên

Trần gian tớ thấy béo hơn tiên
Ấy cũng bỡi chúng có giấy tiền
Kim cỗ ngàn đời người vẫn thế
Có tiền đầy túi nó mua tiên

Mọi người còn đắm mộng triền miên

Hạ tuần trăng đã dọi vào hiên
Tử thần âu yếm hôn tôi biệt
Phóng ngựa ma trơi về hoàng tuyền

Còn một mình tôi vào cõi thiền
Lâng lâng tự tại cảnh vô biên
Bồ Đề phiền não đều không tịch
Niết Bàn sinh tử vốn vô biên

Thầy Quảng Độ không sợ thần chết, không phải vì thấy mình mạnh hơn thần chết. Các vô úy của Thầy do thiền quán mà có. Thầy đã nhiều lần thực tập quán chiếu bản chất của cái sống và cái chết. Thầy đã thấy sống và chết tương tức, nương nhau mà biểu hiện, không có cái này thì không có cái kia. Trong một giây phút quán chiếu, Thầy thấy đang sống cũng là đang chết và trong tự thân Thầy cái chết và cái sống đang đồng thời có mặt. Ta hãy đọc bài hát nói Sống Chết sau đây để có một ý niệm về cái chết và cái thấy của Thầy.

Sống chết

Mưỡu: Đời người như một giấc mơ
Tỉnh ra mái tóc bạc phơ trên đầu
Tuyệt mù xanh thẵm ngàn dâu
Gió tung các bụi tìm đâu lối về

Nói: Sống là thực hay là ảo mộng
Chết đau buồn nhưng chính thực yên vui
Cứ hàng đêm tôi nghĩ mãi không thôi
Chẵng biết nữa mình đang sống hay là chết

Hoàng lương nhất mộng phù du kiếp
Sinh tử bi hoan thục giác tri

Sống với chết là cái chi chi
Lý huyền nhiệm ngàn xưa mấy ai từng biết
Có lẽ sống cũng là đang chết
Bởi sống cũng trong tôi mà chết cũng trong tôi
Chết đeo mang từ lúc thai phôi
Nào đâu phải đến nấm mồ mới chết
Vì lẽ ấy sống: tôi không sợ chết
Vẫn thung dung sống chết từng giây
Nhìn cuộc sương, tuyết, khói mây

Lòng thanh thản như chim hoa người gỗ
Giữa biển trầm luân gió đồi sóng vỗ
Thân tùng kia xanh ngắt từng cao
Sống với chết nào khác chiêm bao
Lý nhất dị là hào quang bất diệt
Cũng có lẽ chết hẵn rồi mới biết
Sống đau buồn mà chết thật yên vui
Xin đừng sợ chết ai ơi!

Đã không sợ chết, đã thấy được tính tương duyên của sanh tử, thầy Quảng Độ có lý nào còn sợ và sợ ai, kể cả tù đầy, gông cùm và sự dọa nạt. Có một số vị xuất gia không có được đức vô úy của thầy lại cho thầy là dại, tại sao cứ lớn tiếng đòi nhân quyền, tại sao cứ lên tiếng chống độc tài áp bức, tại sao cứ phải đấu tranh cho sự tồn tại của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất để rồi chuốc họa vào thân? Phải chăng thầy lên tiếng bởi thầy sân si? Họ nói: tu hành thì phải nhẫn nhục, lấy trứng mà chọi đá ít gì? Tại sao không thấy mũ ni che tai cho khỏe? Thầy Quảng Độ trả lời họ trong bài thơ Sân Si như sau:

Sân Si

Có một số tăng ni
Bảo là tôi sân si
Tu hành chẳng nhẫn nhục
Không hỉ xả từ bi
Luật vô thường là thế
Có thịnh thì có suy
Nay gặp thời mạt pháp
Đạo tất phải suy vi
Đó chính là chân lý
Buồn phiền mà làm chi
Chùa tượng thuộc hình tướng
Phật Pháp vốn vô vi
Ai phá mặt họ phá
Phật Pháp có hề gì
Tu hành nên nhẫn nhục
Trứng chọi đá ích chi?
Không gì hơn sự sống
Hãy sống với mũ ni
Xin cúi đầu phục mệnh
Lạy Đức Phật từ bi
Sự sống quý như thế
Mà sao con vô tri
Từ nay con vui sống
Dù sống chẳng ra gì
Miễn như mọi người khác
Khỏi mang tiếng sân si

Một số lớn trong chúng ta là người hèn nhát. Chúng ta không có được cái tuệ giác và cái vô úy của thầy Quảng Độ.  Lịch sử sẽ phê phán chúng ta như thế nào? Bằng đức vô úy lớn lao của thầy, thầy Quảng Độ đã cứu chuộc được cho tất cả chúng ta. Có thầy Quảng Độ ta mới dám ngửa mặt lên nhìn người  và mới dám nhìn thẳng vào con mắt của con cháu chúng ta.  Thầy Quảng Độ là vị Bồ Tát có khả năng cứu chuộc  được cho tất cả chúng ta, là redempteur, gột sạch được cho thế hệ ta cái tội hèn nhát không dám lên tiếng trước bạo lực, áp bức và độc tài. Tôi không bao giờ dám nghĩ là thầy Quảng Độ sân si.  Tôi nghiêng mình trước tuệ giác và đức vô úy của thầy. Cũng may là lịch sử hiện đại còn có thầy Quảng Độ và một số các thầy và các đạo hữu khác, hữu danh hay vô danh, có tầm vóc của những vị Bồ Tát. Tôi rất hãnh diện vì sự có mặt của họ. Tôi không nghĩ rằng thầy Quảng Độ là trứng chọi với đá. Tôi thấy thầy là kim cương. Đá không thể nào làm tổn hại được kim cương. Thầy là kim cương bất hoại dù hình hài thầy còn hay không còn hiển hiện. Tôi rất đồng ý với thầy là không có một chế độ độc tài cảnh sát nào có thể tồn tại lâu dài. Sự sụp đổ của một chế độ như thế chỉ là vấn đề thời gian.

Trong thời gian thầy Quảng Độ ở tù, tôi và các bạn bên này chỉ có thể một năm một lần vận động các giới nhân bản, tôn giáo và nhân quyền gửi một vài chục ngàn cho nhà nước Việt Nam để nhắc nhở rằng dư luận quốc tế rất ý thức rằng thầy và nhiều vị khác bị giam giữ, và nhà nước chịu hoàn toàn trách nhiệm về sự sống chết của thầy trong tù. Đó là phương tiện bảo vệ duy nhất để bảo vệ cho thầy và những vị Bồ Tát khác.

Thầy Quảng Độ là một trong những vị cao tăng của thời đại chúng ta. Năm nay thầy đã 72 tuổi, và thầy đang đứng ở một địa vị một bậc tôn túc. Thầy là một vị chân tu, thẳng thắn, chân thật không màng danh lợi, học và hạnh kiêm toàn. Tôi nghĩ các vị có trách vụ trong tổ chức Phật Giáo Việt Nam phải tới tham vấn thầy về đường lối Phật Giáo hiện đại. Tôi nghĩ các ông chủ tịch nhà nước, thủ tướng chánh phủ và chủ tịch quốc hội nên tới xin yết kiến thầy để tiếp nhận những lời chỉ dạy của thầy về sự phục hưng của nền đạo đức dân tộc và về hướng xây dựng tương lai của đất nước.

Hiện thời những giá trị tinh thần của chúng ta đã đổ nát, người dân không có chỗ nương dựa tâm linh. Niềm tin ở xã hội chủ nghĩa đã thật sự mất trong lòng người và cả trong lòng những vị trong ban lãnh đạo trung ương đảng. Có một khoảng trống lớn trong đời sống tâm linh.  Quốc dân không thể  một ngày không có niềm tin.  Mà niềm tin phải là chánh tín chứ không phải là mê tín dị đoan, dù là mê tính thần quyền hay ở tính vạn năng của một chủ thuyết.  Một số đông chỉ biết bám víu lấy sự lễ bái thờ phụng và tình trạng xã hội hiện thời đã trở nên thật hỗn tạp với bao nhiêu thối nát, hư hỏng mê tín.

Nhà nước chỉ cho cúng kiến lễ bái mà không cho phép hồi phục và xây dựng một nếp sống tâm linh có thể làm nền tản cho sự trị liệu và đi tới của dân tộc. Cựu thủ tướng Phạm Văn Đồng sau bao nhiêu ngày thao thức và dằn vặt cũng đã phải tìm đến chùa quy y với hòa thượng Đức Nhuận. Các vị lãnh đạo trong chánh quyền hiện tại cũng là con cháu của gia đình tin Phật.  Tôi nghĩ quý vị đó không nên đợi tới lúc về già mới nghĩ tới chuyện quy y Tam Bảo và hành trì Phật Pháp. Đạo Bụt rất có tinh thần khoa học. Nếu được phép làm mới đạo Bụt có thể trở nên một nguồn năng lượng vĩ đại đưa quốc gia dân tộc đi vào con đường thông cảm, thương yêu, lớn mạnh và hạnh phúc. Chúng ta phải thực tập đạo Bụt ngay từ bây giờ.

Tôi biết quý vị ấy cũng có những hạt giống tốt của Phật Pháp trong tự tâm. Nếu những hạt giống này được tưới tẩm và chăm sóc chúng sẽ trở nên một nguồn năng lượng của niềm tin và của tuệ giác có thể giúp quý vị lèo lái con thuyền quốc gia dân tộc đến bến bờ của an vui và hạnh phúc. Tuy bề ngoài các vị ấy đã lên án và xét xử thầy Quảng Độ như một tội phạm đã làm những điều có hại cho an ninh quốc gia, nhưng trong thâm tâm của các vị, tôi biết quý vị vẫn tôn kính thầy Quảng Độ như một bậc cao nhân có đạo hạnh và khí phách có thể làm gương mẫu cho người đồng thời và quý vị cũng ước ao có được tầm vóc đạo hạnh và khí phách như thầy. Vậy thì sao quý vị không làm như vua Quang Trung đã khẩn thiết đến cầu hiền với La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp? Tâm trạng sợ hãi, nghi kị không cho phép đi tới một chánh sách thông minh và hữu hiệu.

Theo cái thấy của tôi, tới với thầy Quảng Độ với đầy đủ lễ nghi của những bậc cầu hiền, quý vị không làm mất thể diện của chánh quyền mà trái lại khiến cho cả quốc dân thấy được khả năng giác ngộ và cầu hiền của nhà nước và bắt đầu có niềm tin nơi sự lãnh đạo của các cơ quan lập pháp và hành pháp quốc gia.

Tôi không dám lên mặt dạy dỗ ai. Tôi chỉ muốn thỉnh lên một tiếng chuông chánh niệm.  Thức tỉnh kịp thời và đi vào con đường vương đạo thì các vị ấy sẽ đạt được sự thành công của bản thân, quốc gia và dân tộc. Nếu không thì lịch sử chỉ ghi lại được những lầm lỡ, gian trá, tham nhũng, tranh chấp và hận thù của một giai đoạn mà thôi.

Thầy Quảng Độ ơi, có thầy cho nên chúng tôi và con cháu của thầy sẽ không còn để cho sự hèn nhát kéo lôi và làm tê liệt.  Con cháu của thầy sẽ tiếp nối được tinh thần đạo đức và vô úy của thầy. Xin thầy cứ yên tâm.

Kẻ thù ta

Tôi còn nhớ là trong thời gian vận động hòa bình (khoảng 1963-1973), tôi cứ bị buộc tội là kêu gọi hòa bình chung chung, không biết phân biệt bạn thù. Hồi đó tôi và các bạn tranh đấu cho hòa bình trên căn bản nhận thức kẻ thù ta không phải là người mà là cuồng tín, hận thù, tham vọng và bạo động (1). Lập trường hòa bình ấy bị cả hai phía lâm chiến lên án. Cái tội lớn nhất của chúng tôi là đã xem con người của cả hai bên là anh em, dù họ thuộc phía cộng sản hay thuộc phía chống cộng. Tập thơ Chắp Tay Nguyện Cầu Cho Bồ Câu Trắng Hiện in chui ở Saigon năm 1964 bị cả hai phía lâm chiến chống đối, một bên tịch thu và một bên lên án trên đài phát thanh .

Mặt trời xanh

Lập trường ngày xưa, bây giờ tôi vẫn còn giữ nhưng nay tôi lại đã đi xa hơn. Ngày xưa tôi nói Kẻ thù ta là tham vọng, hận thù, kỳ thị và bạo độngnhưng trong mấy chục năm sau nầy, tôi cũng không muốn gọi những tâm hành tiêu cực kia là kẻ thù cần phải tiêu diệt nữa mà lại thấy rằng chúng có thể được chuyển hóa thành những tâm hành tích cực như thương yêu và hiểu biết, cũng nhưngười làm vườn có thể biến rác thành phân xanh, và dùng phân xanh nầy làm ra trở lại hoa lá và rau trái. Gần ba mươi năm nay tôi thực tập và giảng dạy đạo Bụt tại Tây Phương trên cơ sở nhận thức ấy, gọi là tuệ giác tương tức , được diễn bày trong kinh Hoa Nghiêm . Danh từ tương tức được dịch ra tiếng Anh là Interbeing , tiếng Pháp là Interêtre , và tiếng Đức là Intersein . Các bạn Tây Phương học hỏi và hành trì theo tuệ giác này đã được chuyển hóa rất nhiều và đã đạt được rất nhiều hạnh phúc.

Muốn có được tuệ giác tương tức chỉ cần nhìn vào rổ rau tươi xanh rờn mà ta vừa hái vào. Nhìn cho sâu, ta sẽ thấy trong rau có mặt trời, có đám mây, có phân rác, có người làm vườn và hàng vạn yếu tố khác. Rau không thể một mình có mặt, rau phải cùng có mặt với mặt trời, đám mây, đại địa, v ..v … Lấy mặt trời ra khỏi rổ rau thì rổ rau biến mất. Lấy đám mây ra thì cũng vậy. Ta lấy một ví dụ khác. Hãy thử nhìn vào tổ chức Phật Giáo hợp pháp duy nhất tại quê hương mà người ta thường gọi bông đùa là Giáo Hội Nhà Nước. Nhìn vào nó thì ta thấy những yếu tố đã tạo ra nó, tích cực và tiêu cực. Trong số những yếu tố ấy, ta thấy sự có mặt của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất mà đại diện phía chiều nổi là các vị như Huyền Quang, Quảng Độ, Đức Nhuận, Tuệ Sỹ, Không Tánh, v.v… Vì các vị này đã tranh đấu ráo riết cho nên các thầy khác trong Giáo Hội Nhà Nước như Thiện Siêu, Minh Châu, Trí Tịnh, Trí Quảng… mới được phép nhà nước cho dịch sách, in kinh, tổ chức trường Cơ Bản Phật Học v.v… Các thầy bên phía Giáo Hội Thống Nhất càng tranh đấu, càng vào tù ra khám chừng nào thì các thầy bên phía Giáo Hội Nhà Nước càng có thêm không gian để làm việc chừng ấy. Vậy là các thầy bên Giáo Hội Thống Nhất là những vị đã và đang yểm trợ Giáo Hội Nhà Nước một cách tích cực nhất. Nói họ chống Giáo Hội Nhà Nước là chưa thấy được sự thực sâu sắc về bên trong và chưa có được tuệ giác tương tức . Các thầy Huyền Quang, Quảng Độ, Đức Nhuận nhìn vào các Học Viện Phật Giáo, Viện Nghiên Cứu Phật Học, công trình dịch thuật Đại Tạng Kinh Việt Nam v.v… có thể mỉm cười và nói: Quý vị đừng tưởng đó là công trình riêng của quý vị. Chúng tôi đã góp sức với quý vị làm ra những thứ ấy. Chúng ta đã làm chung với nhau. Các thầy như Thiện Siêu, Minh Châu nhìn vào các hoạt động tranh đấu của các thầy Giáo Hội Thống Nhất cũng có thể mỉm cười biết ơn và nói: Nhờ quý vị tranh đấu như thế cho nên Nhà Nước mới nới tay cho phép chúng tôi làm được một ít Phật sự. Chúng tôi sẽ không còn ngây thơ mà nói: Quý vị chống đối mà có làm được gì đâu trong mấy chục năm nay? Chính chúng tôi, những người không chống đối mới làm được từng ấy việc đấy chứ! Với tuệ giác tương tức , các thầy của hai Giáo Hội có thể nhìn nhau bằng con mắt hiểu biết và thương yêu, không ai còn buộc tội trách móc ai, vì ai cũng có thể thấy rằng người của cả hai phía đều là những vị bồ tát thị hiện, ai cũng làm việc cho lý tưởng và dân tộc cả, và cả hai bên đều có hạnh phúc, vì trong lòng của cả hai bên không còn có sự hiềm khích và kỳ thị. Nếu còn trách nhau và giận nhau thì mình còn là nạn nhân của những kẻ bên ngoài muốn chia để trị. Mình có tuệ giác tương tức thì kẻ kia sẽ không chia rẽ được mình, tạo ra tình trạng gà một nhà bôi mặt đá nhau, một bên bôi màu Thống Nhất, một bên bôi màu Nhà Nước. Bôi mặt đá nhau là không thông minh, là không có tuệ giác tương tức. Từ ba chục năm nay, tôi không bao giờ không nhìn tất cả các thầy là anh em của tôi, dù họ ở trong Giáo Hội Nhà Nước hay trong Giáo Hội Thống Nhất.

Giáo Hội chẳng qua chỉ là một hình thái tổ chức. Chúng ta là tăng đoàn của Bụt, có từ gần 2600 năm nay, chúng ta không nhất thiết cần phải có một hình thái tổ chức Giáo Hội, hợp pháp hay không hợp pháp, mới có thể tồn tại. Tôi không muốn giam tôi vào hình thức của một Giáo Hội, của bất cứ Giáo Hội nào. Tôi có thể ôm được vừa thầy Quảng Độ vừa thầy Thiện Siêu mà không thấy cấn cái chút nào. Và vì ôm được cả hai cho nên tôi có thể có cơ hội chia sẻ tuệ giác và kinh nghiệm của tôi cho cả hai vị, để chúng tôi biết nên làm gì và không nên làm gì để cho thế hệ con em chúng tôi có thêm niềm tin và hạnh phúc.

Vua nước Sở mất cung

Ba chục năm nay, có một số người trong nước cũng như ngoài nước cứ trách cứ tôi là quá thân với người Cơ Đốc và người Cộng Sản. Họ chỉ muốn tôi thân với người Phật Tử và người Chống Cộng mà thôi. Tôi đã cố gắng nhắc cho họ nhớ là tôi chỉ có thể hành động trên cơ bản nhận thức. Kẻ thù ta không phải là con người- tôi muốn tất cả đều có cơ hội được sống và có quyền sống hạnh phúc – nhưng không phải ai cũng đã chấp nhận được dễ dàng điều đó cho tôi.

Phép thực tập của tôi là ôm lấy được cả những người Cộng Sản và những người Công Giáo, vì tôi không thể chỉ ôm người Phật tử và người Chống Cộng. Không phải chỉ trong giới Công giáo và giới Cộng Sản mới có những người có thái độ hẹp hòi, cuồng tín và cố chấp. Trong giới Phật tử, tôi cũng thấy nhiều người hẹp hòi, cuồng tín và cố chấp, gây khổ đau cho bản thân, cho gia đình và cho kẻ khác không ít. Có những người xưng là Phật tử, kể cả giới xuất gia, mà tham nhũng, tàn ác và cố chấp đến mức con cái hoặc đệ tử họ cũng không chịu đựng được họ nữa là kẻ khác. Họ phá giới, phạm trai, vọng ngữ, tà dâm, sát sinh v .. v …gây tổn thương cho bản thân và cho xã hội không ít. Có những người Tin Lành, có những người Công giáo, có những người Cộng Sản tốt hơn họ nhiều, lành hơn họ nhiều và gần với đạo Bụt hơn họ nhiều. Vậy cho nên thực tập theo tinh thần đạo Bụt, tôi muốn ôm lấy và thương yêu tất cả mọi người, không chừa ai, kể cả những người đã làm cho tôi đau khổ và dân tộc tôi đau khổ. Ôm lấy người ta không có nghĩa là chấp nhận luôn cả cái thái độ hẹp hòi, cố chấp và cuồng tín của người ta. Thiếu bao dung, thiếu từ bi, thiếu sự quán chiếu, con người dễ trở thành hẹp hòi, cố chấp và cuồng tín. Bổn phận của người hành đạo là giúp con người tháo bỏ thái độ hẹp hòi, cố chấp và cuồng tín đó, giúp họ trở thành hiểu biết, bao dung và từ bi, chứ không phải là lấy súng bắn vào họ, tiêu diệt họ. Trong đạo Bụt tôi được dạy phải thương theo nguyên tắc Từ, Bi, Hỷ và Xả. Xả có nghĩa là không kỳ thị (non-discrimination). Tình thương chân thật là tình thương bao dung, ôm lấy được tất cả mọi người và mọi loài đang đau khổ. Hễ thấy người ta khổ thì mình thương, mình không kỳ thị rằng đó không phải là người Phật tử, đó là người chống Phật giáo, đó là người Cộng Sản, đó là người Công giáo. Thực tập theo tinh thần đó, tôi đã từng viết những lời đối thoại với người Công Giáo và người Cộng Sản bằng ngôn từ của Hỷ, Xả và Từ Bi. Tôi không bao giờ sử dụng ngôn ngữ trách phạt, lên án và chửi mắng. Những cuốn sách có mục đích đối thoại với những người Cơ Đốc Giáo như Living Buddha, Living Christ hay Going Home, Buddha and Jesus as brothers , mà tôi viết, đã sử dụng ngôn ngữ ấy mà đạo Bụt gọi là ái ngữ và đã giúp cho hằng trăm ngàn người Cơ Đốc hiểu được Đạo Bụt, thấy được chân tinh thần của Giáo lý Ky Tô và buông bỏ được thái độ hẹp hòi và cố chấp. Người Công Giáo, trong đó kể cả các linh mục và nữ tu Công giáo, viết thư và cám ơn tôi nhiều lắm. Với giới Công Giáo Việt Nam tôi cũng đã dùng ngôn ngữ ấy. Trong sách Hoa Sen Trong Biển Lửa (1966) tôi nói rất rõ ràng là nếu các bạn Công Giáo Việt Nam đi theo đường hướng Công Giáo dân tộc và nguyện sống hài hòa với các thành phần khác của dân tộc thì không có lý do gì mà đất nước lại không dang rộng hai tay ra để đón quý vị vào lòng dân tộc. Với những người Cộng Sản Việt Nam tôi cũng đã dùng ngôn ngữ ấy, nhất là trong sách Đối Thoại Cánh Cửa Hòa Bình (1967). Hồi đó ít người Cộng Sản chịu lắng nghe tôi, nhưng bây giờ tôi nghĩ là đã có rất nhiều người Cộng Sản đọc sách tôi và lắng nghe tôi. Tôi biết có rất nhiều vị cán bộ và công an đã có cơ duyên đọc sách và nghe băng giảng của tôi và đã chuyển hóa được nhiều nỗi khổ niềm đau trong lòng. Có khi tôi thấy được tâm tư của người cán bộ và công an, nhất là những công an văn hóa và công an tôn giáo. Chính sách từ trên đưa xuống là không cho phổ biến sách và băng giảng của thầy Nhất Hạnh, và vì vậy cho nên hễ sách và băng giảng của tôi về đến Sài Gòn hay Hà Nội là bị tịch thu. Gửi về qua ngã bưu điện cũng bị tịch thu . Tôi bảo các bạn bên này: Đừng buồn, vì người tịch thu sách và băng giảng cũng sẽ có cơ hội đọc sách và nghe băng. Đó là suy nghĩ theo tinh thần vua nước Sở mất cung thì người nước Sở được cung, không mất đi đâu hết. Lâu lâu, công an đi ruồng và tịch thu sách và băng giảng của tôi, được in chui và sang chui ở khắp nơi trong nước. Sự thực là đã có những vị công an sau khi tịch thu băng sách hay kiểm duyệt băng sách (mà không trả lại cho người đáng lý là có quyền nhận) đã ngồi đọc và nghe suốt đêm, thấy những bài giảng này rất có lợi lạc, có thể chuyển hóa rất nhiều những nỗi khổ niềm đau trong họ. Tuy nhiên, sau khi kiểm duyệt sách và băng giảng, các vị vẫn không đem trả lại cho người có quyền nhận. Có khi họ cũng đem trả băng, nhưng trước khi trả, họ đã xóa hết hình ảnh và âm thanh trong băng. Họ đã có sang lại những băng nầy rồi, một bản gởi cho bộ Nội Vụ, một bản giữ lại để thỉnh thoảng được nghe. Tôi hiểu và thương họ. Vì họ sợ cấp trên khiển trách, và sợ mất việc. Có những vị công an sau khi đọc sách và nghe băng, được hỏi: Tại sao những sách và băng này không được lưu hành? Quý vị thấy trong sách và trong băng có tư tưởng nào hại nước hại dân hay chống chính quyền không?Họ đã trả lời:Tất cả những gì thầy Nhất Hạnh giảng trong sách trong băng đều rất hay, mầu nhiệm, hợp với đạo lý, rất có lợi cho thế đạo và nhân tâm. Sở dĩ chúng tôi không cho sách và băng này lưu hành là tại chúng tôi không biết đằng sau sự giảng dạy và hành đạo này của Thầy có còn được che dấu một âm mưu chánh trị gì khác hay không mà thôi. Quý vị ấy đã nói lên được sự thật trong tâm: sự có mặt của sợ hãi và nghi kỵ . Sự sợ hãi và nghi kỵ này không phải chỉ là của họ, mà là của cấp trên họ. Những vị cán bộ và công an này, tuy nhiên thỉnh thoảng cũng biểu lộ được tuệ giác và từ bi của mình: họ làm lơ cho sự phát hành chui của một số sách và một số băng giảng. Họ làm như thế vì họ biết những sách và băng đó có tác dụng tốt cho người dân vào thời điểm này của sự sống đất nước và dân tộc. Họ dư biết rằng tệ nạn xã hội hiện thời đang đầy dẫy: tham nhũng, ma túy, đĩ điếm, hận thù, con từ cha, lứa đôi tan vỡ, ly dị, gia đình nứt rạn, phim ảnh và sách báo khiêu dâm tràn ngập. Trong lúc các nhà chánh trị và giáo dục gần như bó tay không làm được gì để quét dọn những núi rác khổng lồ đó, thì những băng giảng, những cuốn sách của thầy Nhất Hạnh khuyên người tu tỉnh, hòa giải, trở về nếp sống thuần lương lại bị cấm cản và tịch thu. Quý vị bắt buộc phải cấm cản và tịch thu, nhưng trong thâm tâm quý vị có sự dằng co. Quý vị không thấy an ổn chút nào với chánh sách đó, cũng vì vậy cho nên có khi quý vị đã làm lơ cho việc in chui và sang chui những sản phẩm văn hóa và đạo đức nọ. Các thầy, các sư cô và các Phật tử mỗi khi đi cứu trợ nạn nhân bão lụt hay nghèo đói thường xếp vào các gói quà một bài tụng hay một cuốn kinh mỏng, nghĩ rằng quà tặng có thể làm vơi bớt sự nghèo khó một vài tuần, nhưng bài kinh có thể làm cho nhẹ bớt sự buồn đau lâu dài hơn. Có những vị công an hẹp hòi, kỳ thị, nhất định không cho phép, nói đó là truyền đơn. Nhưng có những vị công an thì lại hoan hỷ, làm ngơ và cũng có người còn thích thú. Thiện căn ở tại lòng ta, nếu ta được chấp nhận và đối xử một cách thân thiện thì hạt giống từ bi và bao dung trong ta được tưới tẩm. Còn nếu ta cứ bị khinh ghét và chống báng thì ta không có được cơ hội ấy. Cho nên dù các vị công an văn hóa và tôn giáo có khắt khe khó chịu đến mức nào thì các thầy, các sư cô và các đạo hữu biết đạo cũng vẫn ngọt ngào và kiên nhẫn với họ. Một ngày kia , với cách đối xử ấy, họ cũng sẽ có cơ hội chuyển hóa. Có một vị công an ở Huế nói: Thầy Nhất Hạnh ở xa, tôi không làm gì được ông ấy. Nhưng anh ở đây, nghĩa là ở trong tay tôi. Tôi có thể bóp nát anh bất cứ lúc nào. Tôi nghe như vậy mà thương người công an quá. Người ta chỉ muốn đi làm công việc xã hội để giúp đồng bào người ta thôi, tại sao mình phải bóp nát người ta?

Đổi mới thật sự

Con em của ta, dù là con cháu của người Phật tử, con cháu của người Ky Tô, con cháu của người Cộng Sản hay con cháu của người chống Cộng cũng thế, đều là những người con của đất nước, đều là con em của ta cả. Hễ người nào đau khổ và cần tới sự giúp đỡ là ta phải giúp. Có như vậy ta mới thực sự biết thương theo tinh thần Bụt dạy.

Trong chúng ta ai cũng từng có khi lầm lỡ – người Phật tử, người Công giáo, người Cộng Sản, Đảng và Nhà Nước cũng thế. Vì quá tin ở nhận thức mình, vì cuồng tín và cố chấp, ta đã có thể gây ra những vết thương đau nhức trên thân hình dân tộc, nhưng nếu ta biết thức tỉnh, biết thật sự đổi mới (2) thì ta có thể học được bài học thương đau của quá khứ. Có những người công an và cán bộ đã từng làm ta điêu đứng, nhưng với tình thương của Bụt, ta vẫn muốn cho họ có một cơ hội để đổi mới, để chuyển rác thành hoa, để chế tác hiểu biết và thương yêu cho đời họ bớt khổ và cho ta có nhiều không gian hơn mà sống. Quá tin vào chủ nghĩa và nhân danh, ta có thể đã gây ra thảm trạng cho dân tộc và đất nước: đã có hàng triệu người chết oan. Ngày xưa (1964, khi xuất bản tập thơ Chắp Tay Nguyện Cầu Cho Bồ Câu Trắng Hiện) tôi đã từng nói: Chủ nghĩa và nhân danh, những sợi dây nghiệp báo ai đem về ràng buộc lấy thân hình dân tộc (3) Trần Mạnh Hảo nói hay hơn tôi: Những con đường như những lằn roi lịch sử quất lên mình đất nước( 4). Giác ngộ, thấy được những lầm lỡ, quyết tâm đi theo con đường Từ Bi bao giờ cũng là điều đáng mừng.

Trong thời gian xa nước, tôi có cái hạnh phúc là vẫn được tiếp tục viết sách cho đồng bào tôi đọc. Từ 1966, sách tôi tuy còn được xuất bản tại Miền Nam , nhưng sách phải được ký bằng bút hiệu khác vì tôi có tội đã dám lên tiếng kêu gọi hòa bình. Từ 1975 trở đi, sách tôi chỉ được chép tay , và sau đó in ấn và phát hành chui. Chính tôi cũng không biết là ai đã tổ chức in và phát hành như thế. Vì nhu yếu cần học, cần tu của đồng bào, nên có những người, hoặc những nhóm người, liều lĩnh cho in và cho phát hành những sách kia . Thêm vào đó lại có băng giảng audio (băng nghe) và sau đó lại có băng giảng video (băng hình). Chính cựu Thủ Tướng Phạm Văn Đồng cũng đã đọc mấy cuốn Phật Giáo Sử Luận của tôi và đã tỏ ý hâm mộ. Trong Bộ Nội Vụ và Bộ Ngoại Giao cũng có nhiều người đọc sách của tôi, nhất là trong bộ Nội Vụ. Các Tòa Đại Sứ Việt Nam tại Tây Phương cũng có đọc sách tôi. Tôi biết chắc có rất nhiều người Cộng Sản đọc sách của tôi và rất thích. Có những ông tướng và những đảng viên lớn tuổi đọc những sách như Đường Xưa Mây Trắng, Về Việt Nam , Từng Bước Chân Thảnh Thơi… thấy ưa thích quá chừng, giống như tìm lại được lý tưởng trong sáng thời còn trai trẻ. Tôi có cảm tưởng là hầu hết những người ngày xưa say mê chủ nghĩa Mác Xít mà bây giờ không còn niềm tin nơi chủ nghĩa ấy nữa là những người có hạnh phúc nhiều nhất trong khi đọc sách tôi. Biết bao nhiêu người đã theo Đạo hay theo Đảng với một trái tim trinh nguyên và tất cả bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ mình. Nhưng sau mấy mươi năm trời theo Đạo hoặc theo Đảng, họ đã thấy mình mất mát quá nhiều, bởi vì họ đã quá đau khổ vì Đạo hay vì Đảng. Những người ấy là những người dễ đến với pháp môn Từ , Bi, Hỷ và Xả của đạo Bụt nhiều nhất. Họ cũng là những người tìm được hạnh phúc nhiều nhất khi đọc sách và nghe băng. Họ rất im lặng, họ rất sung sướng mỗi khi gặp được những vị chân tu, nhưng họ cũng rất buồn khi thấy những người xuất gia hư hỏng, đang đi trên con đường danh lợi và hưởng thụ, không biết là mình đang phản bội lại lý tưởng xuất gia của mình. Trong số những người trẻ con cháu của giới chánh quyền và cán bộ, sống trong nước, hay đã ra nước ngoài, có rất nhiều người cũng ham đọc sách tôi. Cũng như ở tòa thánh Vatican , có nhiều vị Giám Mục đã đọc sách tôi. Đồng ý hay không đồng ý với những điều tôi viết, điều đó tôi không quan tâm mấy; tôi chỉ quan tâm đến chỗ các vị ấy có chịu đọc hay không mà thôi . Có những vị bắt đầu đọc để khám xét và kiểm duyệt, nhưng sau đó lại thích, vì trong khi đọc thấy có lợi lạc, thấy khoẻ và nhẹ trong người ra.

Con đường thương yêu

Học và thực tập theo giáo nghĩa tương tức , tôi không còn thấy ai là kẻ thù của tôi nữa, và tâm tôi nhẹ thênh thang. Kể cả những người đã làm cho tôi điêu đứng, và làm cho dân tộc tôi điêu đứng, tôi cũng không còn thấy thù ghét họ bởi vì tôi đã biết nhìn họ bằng con mắt hiểu và thương. Bạn sẽ hỏi: Như vậy là thầy sẽ để cho bọn cuồng bạo, cuồng tín, cướp bóc và sát nhân ấy tự do tiếp tục gây đổ vỡ và tang thương mà không làm gì để ngăn cản họ hay sao ? Không ! Chúng ta phải làm đủ mọi cách để ngăn chận họ chứ, không thể để cho họ tiếp tục tàn sát, bóc lột, đè nén và phá hoại, nhưng hành động của ta sẽ không bao giờ được thúc đẩy bằng hận thù. Ta phải chận đứng họ lại, không thể để cho họ làm mưa làm gió. Nếu cần ta có thể trói họ lại, nhốt họ vào tù , nhưng hành động ấy phải được hướng dẫn bằng trái tim bồ tát và trong khi hành động như thế ta vẫn duy trì được niềm thương, mong muốn cho họ có được cơ hội tự tỉnh và cải hóa. Hành động trên căn bản Từ, Bi, Hỷ và Xả, ta tự nhiên chọn con đường bất bạo động, cố gắng bảo vệ sinh mạng của mọi loài tới mức tối đa. Cố nhiên là không thể có hành động bất bạo động tuyệt đối. Cũng như đĩa rau luộc của tôi không thể là 100% chay tịnh, vì trong khi luộc rau, có rất nhiều vi khuẩn đã chết trong rau. Nhưng hành động theo hướng bất bạo động, ta vẫn có thể tiết kiệm xương máu, bảo vệ sinh mạng mọi loài tới mức tối đa. Trong một cuộc tranh đấu chống ngoại xâm, các hoạt động trong những lãnh vực thông tin, văn hóa, giáo dục để cố kết niềm tin, đoàn kết toàn dân, thực thi chính sách bất hợp tác với kẻ xâm lược, v.v… tất cả những hoạt động ấy có thể được hoàn toàn lãnh đạo trên tinh thần cởi mở, khoan dung và bất bạo động. Nếu thành công ở các lãnh vực ấy thì yếu tố quân sự chỉ cần đóng một vai trò nhỏ thôi. Dù phải dùng tới quân lực, ta vẫn có thể đi theo tinh thần bất bạo động, tiết kiệm xương máu tới mức tối đa, xương máu của ta cũng như xương máu của những người đi xâm lược. Nhà quân sự cũng có thể tu tập theo hướng từ bi như nhà đạo đức, nhà chính trị và nhà nhân bản. Chiến thắng lớn lao của nhà Trần đối với cuộc xâm lược nhà Nguyên một phần lớn là do công trình của đạo đức, chính trị và văn hóa đời Trần. Yếu tố quân sự không phải là yếu tố duy nhất đưa tới sự thành công. Cuộc vận động của Phật tử cho nhân quyền dưới thời Ông Ngô Đình Diệm cũng thế, quân đội chỉ đóng vai trò kết thúc, một vai trò tuy cần thiết nhưng rất nhỏ. Đất nước và dân tộc ta có vượt thoát được giai đoạn khó khăn nầy để đi lên hay không, điều này là do chúng ta có biết tu tập để phá bỏ kỳ thị và hận thù hay không. Kêu gọi đoàn kết mà vẫn tiếp tục kỳ thị nhau, hận thù nhau và loại trừ nhau thì bao giờ có được đoàn kết thực sự ? Nhìn cho kỹ để thấy được kẻ kia cũng là người anh em của mình, đừng tìm cách loại bỏ người ấy ra khỏi sự sống hằng ngày, đó là sự thực tập tu học của tất cả chúng ta, Phật tử hay không phải Phật tử. Có những người dễ thương, có những người khó thương và có những người rất rất khó thương. Nhưng đã là Phật tử, chúng ta phải cố gắng để có thể thương được tất cả mọi người theo nguyên tắc kẻ thù ta không phải là người. Kẻ thù ta không phải là kẻ thù của ta (5). Ta không có kẻ thù. Nếu thấy được như thế, làm được như thế thì khi nằm xuống, nhắm mắt, ta sẽ có thể mỉm cười được.


(1) Chiến tranh, Chắp tay Nguyện Cầu Cho Bồ Câu Trắng Hiện, nhà xuất bản Lá Bối, 1964, Sài Gòn

(2) Ngày xưa gọi là Sửa Sai, từ ngữ đạo Bụt là Sám Hối, là Làm Mới

(3) Sài Gòn ơi, đập tan đi ảo ảnh – sách vừa dẫn

(4) Ly Thân – nhà xuất bản Đồng Nai, 1989

(5) Nói khác hơn: “Người thù ghét ta, không phải là người ta thù ghét.”

Nguồn: Lá Thư Làng Mai số 23, ra ngày 25.1.2000

Tinh thần cứu thế của thanh niên tăng

Bài giảng của Pháp Sư Diễn Bồi – người Trung Quốc
Tại chùa Ấn Quang, ngày 13 tháng Chạp năm Canh Tý, tức ngày 29/1/1961
Nhất Hạnh dịch


Thưa quý vị Thượng Tọa, Pháp Sư, các Pháp hữu,

Chúng tôi đã hai lần đến quý quốc để hoằng pháp. Từ trước đến nay, hoặc thuyết pháp với các giáo hữu quý quốc, hoặc khai thị cho kiều bào chúng tôi tại đây, nhưng lần nào thính chúng cũng chỉ là cư sĩ. Hôm nay lần đầu tiên tôi lại được đối diện với toàn các vị xuất gia đồng đạo, nhất là với một số đông đảo các vị thanh niên xuất gia như thế này, cùng hội họp lại đây để cùng luận thuyết giáo pháp thâm yếu của Đức Phật. Thật là một điều làm cho chúng tôi sung sướng và cảm động.

chùa Án Quang Tuy rằng chúng tôi đã ở trong biển Pháp đã trên hai chục năm, nhưng đối với Phật Pháp, thực ra chưa có được một kiến thức sâu rộng. Hôm nay, nhận sự thỉnh cầu của ban Liên Lạc Văn Hóa Học Tăng toàn quốc, chúng tôi đến đây để đàm luận Phật Pháp với các thanh niên học tăng đáng yêu đáng kính, nghĩ rằng chẳng có giáo lý gì thâm uyên để làm tác Pháp cúng dường chư vị, nên rất lấy làm hổ thẹn! May mắn hôm nay vì được gặp chư vị ở đây đều là các thanh niên ưu tú của Phật Giáo, nên chúng tôi xin trình bày đề tài: “Phật Giáo thanh niên ưng hữu vị thế, vị nhân đích bi nguyện”. Trong đề mục này, chúng tôi mong có thể cùng với các pháp hữu kính ái của chúng tôi đàm luận về bi nguyện và đại hạnh thực tiễn đối với công cuộc vị thế vị nhân để cứu khổ cứu nạn cho nhân loại và thế giới, xương minh bản hoài xuất thế của Đức Thế Tôn.

Hai quốc gia Việt Nam và Trung Hoa đều phụng hành đại thừa Phật Giáo, cho nên đối với cá nhân chúng tôi, chúng tôi rất cảm xúc sâu xa: trong thế giới gần gũi với sự hủy diệt hôm nay, Đại Thừa Phật Giáo cần thiết như thế nào! Các vị ở đây ai cũng là các bậc đại tâm đại sĩ. Đối với bi nguyện của Bồ tát, cố nhiên các vị đã thể nhận được ý nghĩa, tôi lẽ ra không cần nhắc lại làm chi, bất quá nghĩ rằng một lần đề khởi lại là một lần phát kiến thêm một cái gì mới. Có bi nguyện rồi, chúng ta lại làm cho bi nguyện được bồi đắp tăng tiến, chưa có bi nguyện thì chúng ta nhân đó mà làm phát sinh, cho nên thiết tưởng chúng ta cũng cần phải lập lại ý nghĩa của bi nguyện độ sinh kia.

Nhưng trước khi đề cập vấn đề, chúng tôi thiết tưởng nên đề cập đến những mỹ đức đặc biệt của người thanh niên và phong trào tân vận động thanh niên Phật Giáo đối với nền Phật Giáo hiện hữu.

Những mỹ đức đặc biệt đầy đủ của thanh niên

Trong một năm, thời gian tươi đẹp nhất vốn là mùa xuân, bởi vì một khi mùa xuân đến, tất cả thiên nhiên đều tươi sáng, gió xuân phơ phất, trăm hoa đua nở, muôn chim ca hát, đâu đâu cũng tràn đầy nhựa xuân. Xưa nay đã có biết bao nhiêu thi văn của các văn gia, thi sĩ dụng tâm ca ngợi mùa xuân. Trong một đời người, giai đoạn quý báu nhất là giai đoạn tuổi xanh. Bởi vì khi con người bước đến ngưỡng của thanh xuân thì cả thân lẫn tâm đều tràn đầy nhiệt huyết, khí sắc tươi nhuận và hùng tráng, do đó phát xuất một ý chí hùng mạnh làm cho người thanh niên mạnh dạn hướng về tương lai mà tiến bước.

Thanh niên bất chấp rằng trên bước đường mình đi qua sẽ có bao nhiêu gian lao hiểm trở, cũng không nghĩ rằng giữa đường có thể bị đình đốn và quay đầu bước lui, cho nên xưa nay các bậc thánh hiền hào kiệt đều ngợi khen người tuổi trẻ. Đức Christ ở Tây Phương, cũng như Đức Lão ở Đông Phương cũng đã từng ca ngợi tuổi trẻ. Mạnh Tử của Nho gia cũng đã từng nói: “Đừng làm mất lòng con đỏ”. Đến như Phật Giáo, đặc biệt nhất là Đại thừa Phật Giáo lại càng tán dương tuổi trẻ. Điều đó, ta có thể tìm thấy trong kinh điển Đại Thừa. Do đây có người đã nói: “Thanh niên là mùa xuân của đời người”.

Được ca ngợi dường ấy, vì người thanh niên đã có những mỹ đức nào? Chúng ta nên tìm hiểu. Nói đến mỹ đức của thanh niên thì nhiều lắm, ở đây chúng ta chỉ lược đàm một vài điểm:

1. Chính nghĩa cao độ: Bất luận thời nào, ở đâu có phát sinh những sự tình trái chống với chính nghĩa nhân loại thì bao giờ thanh niên cũng đứng lên trước để phấn đấu cho chính nghĩa. Tinh thần thanh niên hiện hữu ở đâu thì ở đó chính nghĩa phải hiện hữu. Người thanh niên chỉ biết vì nhân loại mà bảo vệ chính nghĩa, mà ít nghĩ đến sự lợi hại của cá nhân mình. Điểm đáng quý nhất của thanh niên là ở tại đó.

2. Tình cảm phong phú: Con người là một loài động vật có nhiều tình cảm, nhưng cảm tình của người thanh niên lại càng nhiệt liệt một cách đặc biệt. Danh từ “hữu tình” của Phật Giáo, theo Phạn ngữ là tát-đỏa. Tát-đỏa là tượng trưng tình cảm, quang minh, hoạt động. Người là loài có tinh thần và hoạt động, và đó chính là nguyên động lực của sinh mạng. Trong Kinh Bát Nhã, có những danh từ “Đại tâm”, “Khoái tâm”, “Dũng tâm”, “Kim cương tâm” để giải thích chữ “hữu tình”, để biểu thị rằng loài hữu tình có một thứ nhiệt tình nồng hậu vô hạn, thứ nhiệt tình ấy được biểu lộ một cách hết sức rõ rệt nơi người thanh niên. Chính vì người thanh niên có được bầu nhiệt huyết đó cho nên mới có thể nỗ lực bênh vực cho chính nghĩa.

3. Lý tưởng cao đẹp: Ai cũng phải có lý tưởng, nếu không có lý tưởng thì cuộc sống trở thành vô nghĩa, và đời sống không còn giá trị. Nhưng lý tưởng ở người thanh niên lại có một sức dụ cảm hết sức vĩ đại. Cho nên, thanh niên phần nhiều thường hoài bão những lý tưởng quang minh vô hạn. Để thực hiện lý tưởng ấy, họ không kể chi gian lao nguy khổ.
4. Thiện chân rõ ràng: Thanh niên rất thành thực, cần cười thì cười, cần khóc thì khóc, vì thế cái cười cái khóc rất là chân thật, không lẫn một tí gì giả dối. Ý nghĩa của con người chính là ở chỗ ấy. Nếu con người mà sống giả dối, cười giả dối, khóc giả dối thì thật là thương tâm không biết mấy mà nói.

    Vì thanh niên có đủ những mỹ đức như vậy, cho nên có rất nhiều người lớn tiếng bảo rằng “Tuổi thanh niên là đáng quý nhất”. Thậm chí có người nói rằng “Ở đâu có thanh niên thì ở đấy có sức sống”. Hiện tại ở các nước trên thế giới, không nước nào là không có phong trào trọng thị thanh niên và tranh thủ cho thanh niên. Thanh niên là cốt cán của quốc gia, là sức sống của dân tộc. Nếu không có mặt thanh niên, dân tộc sẽ thiếu sinh khí, và quốc gia sẽ không có thể hùng cường trên thế giới!

    Ở quốc gia đã vậy, thì ở tôn giáo cũng thế. Một tôn giáo được phát triển liên tục là một tôn giáo nhiếp thủ được giới thanh niên. Thanh niên tham gia vào một tôn giáo nào thì tôn giáo ấy tự nhiên phát khởi sinh lực, và được quảng đại nhân dân tín phục. Nếu không, tôn giáo ấy sẽ bị nhân quần bỏ rơi, bị bỏ rơi tức phải tiêu diệt.

    Phật Giáo là một tôn giáo, một tôn giáo hợp nhất Đức tin và Lý trí, một tôn giáo Tri Hành Hợp Nhất, thì rất xứng hợp cho giới thanh niên trí thức tiến phụng. Chúng ta cần nhiếp thủ giới thanh niên đầy bầu nhiệt huyết làm tín đồ trung thật của Phật Giáo, làm cho Phật Giáo trở thành Phật Giáo của thanh niên, làm cho Phật Giáo thành thanh niên và thanh niên thành Phật Giáo.

    Tóm lại, thanh niên đầy đủ những mỹ đức là sức sống của quốc gia, của xã hội, của tập đoàn, của tôn giáo. Chúng ta thường nghe nói rằng “thanh niên là chủ nhân tương lai của quốc gia”, câu nói đó chứng tỏ sự quan trọng của thanh niên như thế nào. Phật Giáo đã thể nhận sự thực ấy, và đã đặt thanh niên vào địa vị quan trọng. Như thế Phật Giáo có thể nêu lên khẩu hiệu “Thanh niên là chủ nhân tương lai của Phật Giáo”. Cho nên những bậc hữu tâm với giáo lý Phật Đà không thể không lưu tâm và trọng thị thanh niên. Về phía thanh niên, chúng ta lại càng phải nhận thức sứ mạng trọng đại của chúng ta, những mỹ đức sẵn có của chúng ta để tích cực xây dựng hưng khởi Phật Giáo!

    Thanh niên Phật Giáo và cuộc vận động Tân Phật Giáo

    Ý niệm hai danh từ “Phật Giáo thanh niên” có vẻ như là mới, nhưng kỳ thực rất cũ. Sau khi Phật thành đạo, trong giới xuất gia rất nhiều vị thuộc vào hàng thanh niên đứng vào hàng ngũ vận động tùng sự đạo Phật. Như năm vị Tì kheo, như năm chục vị thanh niên (con các vị trưởng giả Gia Xá) đều thuộc về giới thanh niên tráng kiện. Đạo Phật chính là tôn giáo tượng trưng cho thanh niên, không còn nghi ngờ gì cả. Nói tới đây, tôi thấy cần phải phác họa lại bối cảnh phát sinh của thanh niên Phật Giáo.

    Trước kia, nhân dân Ấn Độ sùng phụng Bà La Môn Giáo nhất, tôn giáo này trọng thị tế tự, cho đó là vạn năng, và bị ràng buộc trong hình thức truyền thừa, phân biệt ra bốn giai cấp, cho nên dần dần không thể thích ứng với xu hướng tiến bộ của xã hội thời đại. Một số tín đồ Bà La Môn vô tri lợi dụng đặc quyền công giáo, không biết dẫn đạo nhân quần, chỉ biết lo vinh thân phì da, nên dần dần Bà La Môn giáo trở thành hủ bại. Thêm vào đó, giáo lý thần bí bất khả trắc nghiệm của chú thực đã đưa Bà La Môn Giáo đến chỗ không thể phóng xả được. Sự xuất hiện của Đức Thế Tôn là do ở chỗ phủ nhận Phệ Đà (hay Vệ Đà)  để mà hưng khởi, Ngài đã sáng lập Phật Pháp một cách rực rỡ trên lưu vực sông Hằng. Sự xuất hiện của Phật trong xã hội Bà La Môn Giáo rạng rỡ không khác nào khi trăng lên thì sao lặn. Nền Phật Giáo trẻ trung do Đức Phật sáng lập nhất định là chứa đầy sinh khí hoạt lực, một tôn giáo chứa đầy sức sống tươi mạnh.

    Trong lúc đầu, ngoài các bậc lớn tuổi gia nhập Tăng đoàn ở Balenai còn có các vị như Anan, Nan Đà, La Hầu La, v.v. là những thanh niên Phật tử kiện tráng. Nhưng đến khi ba vị Ca Diếp và Đầu Đà Ca Diếp gia nhập tăng đoàn thì phái khổ hạnh theo họ, vốn là những người đứng tuổi, gia nhập rất đông. Thời ấy Phật là nguồn sống chính, cho nên vấn đề già trẻ chưa quan trọng. Già trẻ đều ngang nhau. Đến lúc Phật nhập Niết Bàn, quyền hành nằm trong tay Thượng Tọa Bộ. Bộ này giữ mãi tính cách bảo thủ, hình thức giáo điều, theo đường lối của độc thiện chủ nghĩa. Do đó, các vị đã đánh mất dần dần sức sống cần thiết cho sự nhiếp hóa nhân quần thời đại.

    Một trăm năm sau khi Phật nhập diệt, Phật Giáo bắt đầu phân hóa. Nguyên nhân phân hóa tuy nhiều, nhưng nguyên nhân chính vốn là khuynh hướng bột phát của Đại Thừa nhập thế. Phương thức phân hóa tuy không giống nhau, nhưng căn bản vẫn là sự chống nhau giữa khuynh hướng bảo thủ và cấp tiến.

    Ở Thượng Tọa Bộ, đại đa số là các vị Trưởng Lão, chỉ nhắm đến một hướng giải thoát sinh tử cho cá nhân, còn đối với những khổ đau hiện thực của nhân gian thì bỏ qua. Vì thái độ lãnh đạo như thế nên xa dần nhân quần, lạc hậu sau thời đại, và đã biến thành đạo lý xuất thế Tiểu thừa. Trong Đại chúng Bộ, phần nhiều là các vị Tì Kheo thanh niên, nhận thấy Phật Giáo càng ngày càng chìm mãi xuống, và sự thật Phật Giáo tiêu thất trong nhân gian, cho nên mới tập họp đại chúng thanh niên, nỗ lực xiểng dương giáo lý tự hành và hóa tha, có xu hướng trọng thị về thời đại và nhân tâm, tích cực đưa Phật Giáo Đồ từ độc thiện chủ nghĩa đến hiện thực chủ nghĩa. Hiện tượng đó khởi mở như một nguồn sinh lực vĩ đại mới mẻ, Đại Thừa giáo từ đó phát triển đến một con đường mới, và Phật Pháp được lưu hành rộng rãi trong nhân gian.

    Như vậy, trên cột cao chót vót của sinh lực thanh niên, lá cờ Phật Giáo phất phới tỏa rạng, và Phật Pháp mới được phát triển, cống hiến cho nhân loại những kho tàng văn hóa vĩ đại. Có thể nói rằng đưa Phật Giáo đến con đường tích cực tiến thủ thích ứng với thời đại, đó là công trạng của thanh niên. Giả thử nếu không có lớp thanh niên đầy nhiệt huyết và sức lực kia thì làm sao mà Đại Thừa Phật Giáo có thể xuất hiện? Đại Thừa Phật Giáo xuất hiện ở nhân gian là do lực lượng của thanh niên Phật Giáo vậy!

    Không những chỉ một trăm năm sau Phật nhập diệt mới có hiện tượng thanh niên phát huy Phật Giáo mà suốt trong 2500 năm lịch sử, luôn luôn ta thấy mỗi lần Phật Giáo hưng thịnh là mỗi lần có những cuộc vận động Phật Giáo trong hàng tăng thanh niên. Nay ta hãy lấy ví dụ về Phật Giáo Ấn Độ: sự phân phái của Phật Giáo ban đầu chia làm hai Đại Bộ tuy là động cơ cho nền Phật Giáo Đại Thừa mới phát sinh, tuy nhiên trong vòng 500 năm, Tiểu Thừa Phật Giáo vẫn còn thịnh hành. Trong thời đại đó, sở dĩ Đại Thừa chưa hưng thịnh là vì trong tăng giới chưa xuất hiện các bậc xuất gia Bồ Tát, mà mới chỉ có các bậc xuất gia Thinh Văn. Đến 600 năm sau khi Phật nhập diệt, Thánh Long Thọ xuất hiện trong giới Phật Giáo Ấn Độ, mới đường đường chính chính nêu cao lá cờ Đại Thừa Phật Giáo. Kinh sách trong thời đó, dưới sự hoằng dương của Ngài đã phát sinh không biết bao nhiêu biến chuyển quan trọng. Lý do là các học giả Đại thừa trước Ngài tuy đã có phát huy giáo lý Pháp Tính Không Tịch, nhưng vẫn không dám có những nhận thức và lý luận cách mệnh. Đến khi Long Thọ ra đời, Ngài sáng lập Quán Pháp Tinh Nghiêm và Miên Mật, phê bình tất cả các học giả Thanh Văn Nhị Thừa, xác lập giáo nghĩa tam thừa cộng học, tách rời một cách phân biệt với học giả Thinh Văn. Vì vậy học giả đại thừa ở Ấn Độ đều tôn Ngài làm Đại Thừa Tỵ Tổ. Ở Trung Quốc, người ta cũng xem Ngài như là Tổ chung của Tám Tôn Phái Đại Thừa.

    Truyện ký chép: Thánh Long Thọ có ý chí cách tân Phật Giáo, từ Tăng đoàn Thanh Văn truyền thống mà biệt lập thành một Tăng đoàn Bồ Tát của Đại Thừa. Xướng xuất cổ súy vận động Đại Thừa với một bầu nhiệt huyết như thế, đương nhiên không phải là việc mà một ông già có thể làm được. Cho nên chúng ta có thể nhận định rằng Long Thọ Bồ Tát làm đại diện gương mẫu cho một tầng lớp thanh niên Phật Giáo có ý chí dũng nhuệ. Nếu không có tinh thần và ý chí ấy, làm sao Ngài có thể hoằng dương được đạo lý Duyên Khởi Tính Không của Đại Thừa Giáo? Ta còn nghi ngờ gì nữa, mà không đồng ý với nhau rằng trang thanh niên anh tuấn là Long Thọ ấy chính là nguồn gốc phát triển của cả nền Đại Thừa Giáo huy hoàng của chúng ta ngày nay?

    Trở về với lịch sử Phật Giáo Trung Hoa, ta thấy từ lúc du nhập đến nay Phật Giáo Trung Hoa đã có những thời đại hưng thịnh huy hoàng. Hưng thịnh nhất là ở cuối đời Thanh, và đặc biệt lại là lúc khởi đầu của chính thể dân chủ. Trong thời đại đó, vị lãnh tụ của cuộc Tân Vận Động Phật Giáo Trung Quốc là Thái Hư Pháp Sư, chủ trương lấy tư thái anh dũng của thanh niên Phật Giáo làm động lực phát khởi cuộc vận động. Giới xuất gia thanh niên Phật Giáo Trung Hoa hưởng ứng lời hiệu triệu của Người, chịu ảnh hưởng giáo huấn của Ngài rất là sâu đậm, và đã thành lập được các tổ chức “Tân Phật Giáo thanh niên hội” và “Phật Giáo Tân Thanh Niên Hội”, v.v. ủng hộ Thái Hư Pháp Sư để thực hành phong trào: “Công trình của con người – cuộc vận động tân tăng hóa của nền Phật Giáo”.

    Trong 8 điều khoản do thanh niên Phật Giáo đề xướng, điều thứ nhất là “bài trừ những tập khí hủ bại tích lũy từ ngàn năm của nền Phật Giáo già nua đã mất hết sinh lực, và phát huy tinh thần chân chính của Phật Giáo, của thế giới mới”. Do điều khoản ấy, ta có thể thấy được tinh thần vận động của nền Tân Phật Giáo Trung Quốc mãnh liệt biết chừng nào. Kế đó, vỏ xương Phật Học Viện và học hội chính thức triển khai phong trào vận động thế hệ tăng già mới.

    Từ cuộc vận động tân tăng trở đi, khí lực của nền Phật Giáo mới phát triển tận hang cùng ngõ hẻm, làm cho cả nền Phật Giáo trầm trệ của Trung Quốc tỉnh dậy vươn lên với sắc thái mới. Cho nên khi nói đến công cuộc vận động của nền Tân Phật Giáo Trung Hoa từ hồi thành lập chế độ dân chủ đến nay, ta phải nhớ đến Thái Hư Đại Sư, vị lãnh tụ mà công đức vô biên, vô lượng đã cổ võ nên một tinh thần đại vô úy biểu hiện nơi một thế hệ thanh niên đầy sinh khí hùng lực. Công đức ấy, rất đáng cho chúng ta ca tụng! Cận đại, Phật Giáo trong tình trạng chính trị cách mạng của Trung Quốc, đã không được tiến triển theo đà mong muốn, nhưng hiện vẫn còn nhiều tăng tài đang nỗ lực hoằng dương Phật Pháp. Các tăng tài ấy là kết quả đẹp đẽ của cuộc vận động mới của Phật Giáo thanh niên!

    Đạo Phật trẻ trung cần phải có mặt của người Phật tử trẻ tuổi, thanh niên Phật Giáo phải nhận thức sứ mạng mình trong công cuộc vận động nền Phật Giáo mới. Điều này đã được chứng minh bằng những sự kiện trong lịch sử Phật Giáo Ấn Độ.

    Hiện nay, Phật Giáo không còn ở trong giai đoạn quốc gia mà đã đi đến giai đoạn trở thành Phật Giáo quốc tế, thanh niên Phật Giáo toàn thế giới phải cổ võ tinh thần cố hữu của thanh niên, tiến hành công cuộc vận động liên hợp, để xúc tiến sự thực hiện nền Phật Giáo nhân gian, cứu vãn tình trạng khẩn trương của nhân loại.

    Tới đây tôi xin phác họa lại hình bóng người thanh niên Tăng kiểu mẫu trong giới Phật Giáo Thanh niên Tăng già. Người thanh niên kiểu mẫu trong giới thanh niên Phật Giáo, theo ý chúng tôi, phải được nhận định qua gương mẫu người thanh niên hồi Phật tại thế. Hồi Phật còn tại thế, thanh niên Phật Giáo rất đông, ta hãy chỉ lấy Ngài Anan (Ananda) làm ví dụ. Anan là em Phật, sinh sau ngày Phật thành đạo ít lâu. Lúc lên 20 tuổi, nghĩa là lúc niên phú lực cường, đã đi xuất gia cùng với một nhóm thanh niên khác trong đó có A-Na-Luật (Aniruddha). Sự xuất gia của ông Anan, đối với Giáo đoàn đương thời, đối với Phật Giáo ngày nay, nhất định là có những ảnh hưởng rất thâm thiết.

    Trong Tăng đoàn, Anan tuổi nhỏ hơn hết, nhưng trí nhớ lại bền bỉ hơn hết, tướng mạo cũng rất khôi ngô tuấn tú. Đức Văn Thù tán thán Anan như sau: “Tướng như trăng tròn mùa thu, mắt như bông sen thanh sạch, Phật Pháp rộng như biển cả đều lưu nhập trong con người Anan”, như thế ta biết Anan là nhân vật thế nào! Sau Phật thành đạo chừng 22 năm, nghĩa là vào lúc Ngài trên 50 tuổi, Anan được làm thị giả thường trực của Đức Phật, và không có lúc nào không làm vừa ý Ngài, vì chí cầu đạo của Anan rất thâm thiết và tinh tấn, nhưng vì phải hầu Phật cho nên chậm trễ trong công việc đoạn hoặc chứng chân.

    Cho đến khi Phật nhập diệt, Ngài Đầu Đà Ca Diếp được giao quyền mới khai hội kết tập Kinh tạng. Ban đầu không muốn đưa Anan vào trong Hội đồng kết tập, nhưng sau vì đại chúng ủng hộ Ngài Anan quá, nên phải gắng gượng mời vào tham dự, nhưng sau đó lại trách Anan “lục đột kiết la”, nói rằng Anan “không thấy tội tướng, kính tiến Đại đức, nay phải hối hóa mới được”. Vì đại sự, vì công việc kết tập diệu pháp mà Anan làm thinh nhẫn thọ sự trách nạn đó của Thượng Tọa Bộ để mà tụng đọc hết Kinh tạng. Đức nhu hòa từ nhẫn của Anan thật ít người có thể sánh kịp.

    Theo Đại thừa kinh, Anan bị nạn Ma Đăng Già dâm nữ, Phật sai Văn Thù đến cứu về, liền đứng trước Phật phát đại nguyện “như nhất chúng sinh chưa thành Phật thì con sẽ không chứng Niết Bàn ở đây”. Tinh thần vị pháp vị nhân ấy, những kẻ có chí lợi hành mấy ai bì kịp? Tóm lại, công trình làm thị giả, công trình cống hiến cho nền văn hóa Phật Giáo chứng tỏ Anan có đầy đủ cái mỹ đức “nhu hòa từ nhẫn”. Đó chính là con người mô phạm cho giới thanh niên Phật Giáo.

    Người thứ hai mà tôi thấy cần nêu lên là Thiện Tài Đồng Tử. Theo như lời giới thiệu ở phẩm Nhập Pháp Giới trong kinh Hoa Nghiêm, thì Thiện Tài Đồng Tử là người Phước Thành, bên bờ biển Mạnh Gia Lạp Loan. Cha tên là Phước Đức, trưởng giả, nhà cửa giàu có, nhưng đã muộn mới sinh Thiện Tài Đồng Tử. Thiện Tài lớn rất mau, tráng kiện, thông tuệ hoạt bát, chân thành. Trưởng giả rất sung sướng, quý như vàng ngọc. Có một điều khác thường là Thiện Tài không muốn làm một thương gia mua bán như thế gian mà lại chỉ muốn làm người sưu tầm chân lý, tìm tòi sưu tập các thiện tài Pháp Bửu, để cung cấp cho kẻ ưa thích chân lý. Một hôm, Văn Thù Bồ Tát du hóa Nam Phương, đến Phước Thành, diễn thuyết Pháp Âm ở Đại Tháp Tự cho quần chúng nghe. Thiện Tài nghe xong, tiếp nhận lời sắc lệ của Đức Văn Thù, lập tức phát Đại Bồ Đề Tâm, hành đại hạnh thực tiễn của Đức Phổ Hiền. Đức Văn Thù biết đây không phải là một Pháp khí tầm thường, liền khen Thiện Tài rằng: “Thiện Tài! Phát được Bồ Đề Tâm thật là một điều khó! Theo học tập Đại hạnh của Bồ Tát để hoàn thành chí nguyện tối cao thật là cái khó trên tất cả các cái khó”.

    Nhờ sự tưởng lệ của Đức Văn Thù, Thiện Tài liền sung sướng yêu cầu Ngài khai thị tất cả hạnh nguyện Phổ Hiền. Văn Thù liền chỉ cho Thiện Tài theo đòi tham khảo các thiện tri thức. Thiện Tài tham phỏng đến 53 vị Đại thiện tri thức, “Ngũ Thập Tam tham”. Tham phỏng không có nghĩa là đi du sơn du thủy như chúng ta đi hành hương hỏi đạo ngày nay mà là trải qua muôn vạn gian khổ hiểm nguy. Nhất là khi Thiện Tài đến tham phỏng Thắng Nhiệt Bà La Môn, thấy ông và những bạn đồng hành qua lại trong lưới lửa mãnh liệt, đi trên đỉnh núi đao nhọn, v.v.

    Kẻ khác thấy thế hẳn tiêu ma ý chí. Nhưng Thiện Tài đã không phải là một thanh niên mới phát tâm, con nhà giàu sang quen sống yếu đuối trong nhung lụa. Thiện Tài đã hăng say nhảy vào cải hóa kẻ ác tri thức, xông vào núi lửa, núi đao. Đó thật là dũng khí tinh tiến của Đại Bồ Tát. Thực ra núi đao và núi lửa đâu có, chính chỉ là hóa hiện của Bồ Tát để thử thách người thanh niên đó. Sự phát tâm của Thiện Tài là một sự phát tâm chân thành, nên khi xâm nhập vào lưới lửa liền thấy mình bước vào lâu các của Đức Di Lặc, thấy được cảnh giới của Ngài Phổ Hiền. Một trong thanh niên như Ngài Thiện Tài há chẳng phải là một gương mẫu cho giới thanh niên Phật Giáo sao?

    Một lần nữa trở lại Phật Giáo sử Trung Hoa, chúng tôi xin giới thiệu với Quý Ngài một vị có công nhất của Phật Giáo Trung Hoa: Ngài Tam Tạng Pháp Sư, người rất đáng làm gương cho thanh niên Phật Giáo chúng ta. Ngài Huyền Trang xuất gia năm 13 tuổi. Tuy còn nhỏ mà chí nguyện rất lớn. Khi chưa du học ngoại quốc, Ngài đã lão thông tất cả kinh sách Phật Giáo đang lưu hành tại Trung Hoa. Tuy vậy, Ngài vẫn chưa thỏa mãn và thấy cần phải tìm học cho đầy đủ hơn. Ngài liền lập đại nguyện sang Ấn Độ cầu pháp.

    Năm 26 tuổi, Ngài du học Ấn Độ với một tinh thần hăng hái, đến nỗi Ngài coi thường mọi sự gian lao nguy hiểm. Đối với việc hoằng dương chánh pháp ở Đông Phương, Ngài có những câu nguyện súc tích vĩ đại như: “Xả ngã kỳ thùy”. Vì vậy, Ngài coi thường tất cả luật lệ mà chính phủ nghiêm cấm. Ngài không kể gì đến muôn ngàn nguy hiểm khi vượt biên thùy, miễn làm sao ra khỏi địa vức Trung Hoa là được. Ngài tập trung tất cả tinh lực trong việc phiên dịch tam tạng kinh điển. Sự nghiệp của Ngài không ngoài Phật Pháp. Ngài không để ý đến việc gì khác hơn là muốn cho Phật Giáo Trung Quốc được mở mang sáng tỏ, có một cơ đồ vĩ đại, vững chắc. Vì vậy Phật Giáo Trung Quốc mỗi ngày mỗi phong phú hơn lên. Trong công việc phiên dịch, Ngài tỏ ra rất chuyên cần, thường nhân chắc chắn không bao giờ làm được những chuyện vĩ đại như thế.

    Sách truyện ký còn cho chúng ta biết: mỗi đêm vào canh ba, Ngài đi ngủ và đến canh năm thì đã lo thức dậy dịch kinh. Khí hậu nóng lạnh có thay đổi nhưng sự tinh tấn của Ngài không bao giờ đổi thay. Ròng rã trong mười năm như một, Ngài không bao giờ bị mỏi mệt, chán nản, một lòng trung thành với nguyện lực của mình. Trong lịch sử Đông Tây xưa nay, thật chưa có người thứ hai nào như thế.

    Chẳng những như thế, đối với tất cả công danh phú quý ở thế gian không bao giờ làm cho Ngài bận tâm. Khi sang Ấn Độ, đi qua nước Cao Xương, Ngài bị vua nước ấy lưu lại tôn làm Quốc sư nhưng Ngài không mảy may ước muốn, Ngài lại cự tuyệt để tiếp tục cuộc hành trình. Trong thời gian ở Ấn Độ, có một vị vua danh tiếng là Vua Giới Nhựt khẩn thỉnh Ngài làm Quốc sư và tha thiết cầu Ngài ở lại truyền bá Phật Pháp cho dân Ấn lâu dài hơn. Nhưng Ngài chỉ thọ nạp sự cúng dường và lễ bái của Vua Giới Nhựt chứ không chịu ở lại. Ngài gấp rút trở về Trung Quốc để thực hiện công việc dịch kinh mà Ngài đã phát nguyện.

    Về đến Trung Quốc, vua Đường Thái Tôn, quần thần và dân chúng nghênh tiếp Ngài trùng điệp thành hàng 10 cây số và khuyên Ngài hoàn tục, làm tể tướng cho nhà Đường. Tưởng rằng Ngài sẽ nhận với tất cả sự vinh hạnh, nhưng Ngài cam chịu ở trong thất hẹp với ngọn đèn dầu trong cuộc sống đạm bạc. Lúc ở Ấn Độ, trong khi dân chúng có thiết lập những cuộc biện luận đại hội, Ngài đã đem thắng lợi về một cách vẻ vang. Vua 18 nước cúng dường cho Ngài vô lượng trân châu bảo vật nhưng Ngài không thọ nạp. Hành động của Ngài không vì cao vị và hậu lộc mà chịu nghèo khổ để giữ trọn chí đạo. Đông Tây sử xưa nay có ai sánh bằng?

    Các bạn! Chúng ta là thanh niên Phật Giáo và Phật Giáo ngày nay rất cần những bàn tay rắn chắc, những chí nguyện kiên hùng của tuổi thanh niên, của những người như Ngài Huyền Trang thuở trước. Do đó, chúng ta hãy theo gương tinh thần cầu pháp của Ngài Huyền Trang để răn nhắc khích lệ lấy mình luôn luôn hướng thượng. Phải theo gương nguyện lực hằng thường tinh tiến của Ngài Huyền Trang để bồi dưỡng đức tính kiên khổ của mình. Hãy theo gương sự không luyến nhiễm lợi lộc thế tục của Ngài Huyền Trang để trang nghiêm phẩm đức cao thượng của mình. Tóm lại, mỗi hành động, chúng ta hãy lấy Ngài Huyền Trang làm khuôn mẫu. Nghĩa là Ngài như thế nào chúng ta phải như thế ấy. Chỉ có tinh tiến không ngừng mới có thể nối gót Ngài Huyền Trang, mới có thể tự thực hiện nơi bản thân người thanh niên Phật Giáo của thời đại được.

    Theo gương các vị ấy, thanh niên Phật Giáo chúng ta cần phải có Đại Bi  Nguyện Lực

    Tôi từng nói: “Phàm là thanh niên Phật Giáo chân chánh, ai cũng phải để hết tâm ý vào việc hoằng truyền Phật Giáo mà rất hy vọng Phật Giáo được phổ biến khắp hang cùng ngõ hẻm trên thế giới, bằng cách mỗi người đều phải nhận lãnh nhiệm vụ của mình.

    Chúng ta phải thực hiện lý tưởng như thế nào? Phật Giáo ngày nay có thể có nơi không được phổ biến và phát triển vì các địa phương ấy ta thường gặp những trở ngại của ngoại đạo gây nên. Nếu không chống đỡ, chúng ta sẽ vô tình làm cho Phật Giáo suy đồi. Đối với tiền đồ Phật Giáo, là thanh niên chúng ta không nên thối chí nản lòng vì thanh niên Phật Giáo còn thì Phật Giáo sẽ có hy vọng phục hưng. Nghĩa là thanh niên Phật Giáo phải đảm đương gia nghiệp của Đức Như Lai, mà không bao giờ nhượng bộ trước ma lực. Nhưng làm thế nào để vượt khỏi những áp lực đang cố vươn lên để đè bẹp chúng ta? Đó là một vấn đề quan trọng. Tôi thiết tưởng vấn đề này rất trọng yếu.

    Thanh niên Tăng cần phải phát “Đại Bi Nguyện”. Muốn thế không gì hơn là phải thực hành những hạnh nguyện của các vị Bồ Tát. Là thanh niên Phật Giáo, nếu chẳng có hạnh nguyện thì những việc làm khó mà thành tựu. Bi là cứu khổ. Nguyện là mong cầu những gì cao đẹp. Cả hai chẳng khác hai bánh xe, nếu thiếu một thì không được. Trong kinh, Phật thường nhắc đến hai vị Bồ Tát. Đức Quan Âm và Đại Nguyện Địa Tạng tiêu biểu cho Bi và Nguyện. Mặc dù danh từ có hai nhưng trong tâm niệm mỗi Ngài đều có đủ hai đức ấy. Muốn rõ ràng hơn, chúng ta hãy tiếp tục phân tích và tìm hiểu. Bi nói cho đủ là “Từ Bi”, là căn bản của Phật pháp, là pháp môn trọng yếu nhất của đạo Phật. Nếu không có Bi Nguyện tất không có Phật và Bồ Tát. Và nếu chẳng có Phật và Bồ Tát thì không có Giáo Pháp. Trong kinh Phật có câu: “Đại Bi là trên hết” hoặc “Chư Phật đều dùng tâm niệm Đại Bi làm thể”

    Qua những chứng giải ấy ta thấy, từ bi được coi là yếu tố nòng cốt trong Đạo Phật. Hãy lấy Đức Giáo Chủ để làm tiêu chuẩn cho vấn đề. Khi còn làm Thái Tử, Ngài đã đi du hành và nhìn thấy tận mắt cái cảnh người vật xâu xé lẫn nhau, cảnh những nông phu đang lao mình vào công việc, phải tốn bao giọt mồ hôi để đổi lấy bát cơm. Ngài đã phát “Đại Bi Nguyện”, xuất gia tìm chân lý với một chí hướng cao đẹp là đưa mọi chúng sinh đến chỗ an lạc.

    Đức Quán Thế Âm Bồ Tát là một vị đã thực hành triệt để Đức Đại Bi. Chẳng những Ngài đã tinh tấn thực hiện chí nguyện Đại Bi mà Ngài còn thực hiện công việc tự lợi, lợi tha một cách viên mãn. Đấy là khai thị chúng sinh thấu rõ chân lý. Đức tính Đại Bi cũng là hạnh nguyện duy nhất của Ngài. Tâm Đại Bi vốn sẵn có trong mọi người. Nhà Nho có câu: “Trắc cáp chi tâm nhân giai hữu chi”, câu nói này đã minh chứng được điều ấy. Tâm Đại Bi không phải do một ngoại duyên kích phát mà lại phát sinh tự lòng. Mục đích duy nhất của Đại Bi Tâm là giải tỏa mọi thống khổ của chúng sinh và đưa chúng sinh đến chỗ an lạc. Đấy là dùng Đại Bi Tâm để tu hạnh Bồ Tát.

    Khởi đầu của sự tu Đại Bi Hạnh thật ra không khó gì cho lắm, chẳng qua vì chúng ta chưa quen mà thôi. Khi chúng ta đã thấy một người bị tai nạn, không luận kẻ đó thân hay sơ, tâm thương xót của chúng ta tự nhiên sẽ bùng dậy trong cõi lòng một cách mãnh liệt. Chính trong phút tâm niệm chúng ta đã hoài mong người ấy thoát khỏi được cảnh khổ. Thường học hạnh đại bi như thế, tu tập trải qua một thời gian dài, tự nhiên ta thâm nhập pháp môn đại bi. Đến khi ấy, tâm đại bi đã ăn sâu vào cốt tủy thì chúng ta tự nhiên thấy cần phải vì sự khổ đau của nhân loại và nhất thiết chúng sinh mà sinh hoạt động. Kinh nói: “Đại Từ Bi Bồ Tát” tuy đối với tất cả được tự tại nhưng đối với Tâm Đại Bi không thể tự tại. Tâm Đại Bi khiến các người đến đâu thì quý vị phải đi đến nơi ấy, không thể để quý vị được tự do tự tại! Vì vậy chúng ta muốn vì người, vì đời, thì không thể không có lòng từ bi.

    Hiện tại, chúng ta đang ở trong thời kỳ khổ nạn; toàn thể nhân loại đang bị uy hiếp, tiêu diệt bởi bom nguyên tử. Đây chính là lúc những kẻ có bi tâm cần phải lo lắng, chính là lúc này thanh niên Phật Giáo chúng ta cần phải phát Đại Bi Tâm; nên chi tôi hy vọng toàn thể thanh niên Phật Giáo đều phát tâm Đại Bi, tu hành Đại Bi.

    Có Bi tâm chưa đủ, chúng ta lại cần phải có nguyện lực. Vì có bi mà không có nguyện thì không thể cứu khổ cho loài người được. Loài hữu tình trong địa ngục đang khổ, nhưng mà không nguyện xuống địa ngục để cứu rỗi họ thì “Bi” có ý nghĩa gì? Nên chi những thanh niên Phật Giáo phải phát Đại Bi Tâm, tiến lên một từng nữa, phải phát đại nguyện rộng như bể cả. Chúng tôi nghĩ rằng, nếu thanh niên Phật Giáo xem thường Đại Nguyện, cái gì cũng nghe theo tự nhiên, thì sẽ không làm nên việc gì cả! Người thanh niên không có chí nguyện cao cả thì không thể thành công, ngay trong những công việc trong thế gian này người ấy cũng không thể thực hiện được. Vì vậy một thanh niên Phật Giáo cần phải lập chí thệ nguyện.

    Ngài Ngẫu Ích nói rằng: “Xuất thế trượng phu, dĩ Phật Tổ vi kỳ, dĩ tử hoằng vi uyển, dĩ lục độ vạn hạnh, vi gia trà phạn (cơm nước) dĩ tự lợi, lợi tha vi mục đích”. Như vậy không có hoằng nguyện thì không thể thành! Đặc biệt nhất là ở trong thời đại này, những sự nghiệp vì người vì đời, rất cần đến tuổi thanh niên của quý vị đảm đương. Để cứu bạt nỗi khổ đau của nhân quần, ta phải củng cố nền Phật Giáo hiện tại, đem lại hòa bình cho thế giới ngày mai. Những công việc vĩ đại ấy đều rất cần đến tuổi thanh niên của quý vị.

    Là thanh niên Phật Giáo phải có các nguyện lực cứng rắn: phải nỗ lực, không e dè, không trốn tránh trước sự nguy hiểm. Là người thanh niên Phật Giáo, ta mang bầu nhiệt huyết đem lại vinh quang cho Phật Giáo nước nhà mai sau! Ngày mai, chỉ có hạng thanh niên phát thệ sâu rộng như bể cả ấy mới có thể đưa Phật Giáo đến một giai đoạn quang huy thiết thực! Như vậy, người thanh niên Phật Giáo tuyệt đối không thể thiếu những nguyện lực kiên cố này!

    Đại thừa Phật Giáo nói đến các vị Đại Bồ Tát: các vị đều đã có đủ nguyện lực rộng lớn ấy. Sở dĩ các Ngài vào trong ác thú, không phải bị nghiệp lực dắt dẫn mà là do nguyện lực của các Ngài nguyện vào đó mà thôi. Đức Quan Âm Bồ Tát phát đại nguyện: “Phát Đại thanh tịnh nguyện, hoằng thệ thâm như hải…” Đức Địa Tạng Bồ Tát: “Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật, chúng sinh độ tận, phương chứng bồ đề”. Những đại nguyện trên đều là gương cho Phật Giáo thanh niên chúng ta! Thanh niên Phật Giáo muốn học Phật một cách đứng đắn, trước tiên phải học Bi Nguyện của các vị Bồ Tát, do tâm Đại Bi Nguyện này, mới ủng hộ Phật Giáo, mới cứu độ nổi khổ ải của chúng sinh! Đến đây xin kết luận:

    KẾT LUẬN:

    Lực lượng thanh niên thật vĩ đại. Lực lượng của thanh niên tăng già Phật Giáo lại càng vĩ đại hơn. Thanh niên Phật Giáo ôm một hoài bão, một Bi Nguyện lớn lao, đoàn kết, đại hùng vô úy, dũng mạnh tiến tới, nhẫn nại lao khổ, vì Phật Giáo, vì thế giới, vì nhân loại mà làm nên sự nghiệp sáng rỡ cho nền đạo lý. Nhất là đối với những ác ma phản lại tôn giáo, chúng ta lại càng phải kiên cường phấn đấu đến cùng. Phật và Ma không thể cùng đứng chung, tà chính không thể cộng tồn, chúng ta phải kế thừa sự nghiệp Long Thọ và hoằng dương Đại Thừa Tánh Không, theo tinh thần Vị Pháp vong thân của Đề Bà Bồ Tát. Như vậy, ta không nên sợ đầu sợ đuôi, không nên tổn hợp với thế lực tà ác. Chúng ta nhất định theo chính kiến Phật Pháp, biến phá nhất thiết tà kiến, nêu cao ngọn cờ chánh pháp. Phật Giáo ngày nay là Phật Giáo của thanh niên. Thanh niên Phật Giáo phải vì nền đạo đức trẻ trung của mình mà nỗ lực phấn đấu! Xin cám ơn các Thượng Tọa, các Pháp Sư và các bạn thanh niên nam nữ học tăng kính ái.