Tưởng niệm Sư Tổ Thanh Quý – Chân Thật

Xuất gia tuổi nhỏ
Đến đi thong dong
Thể chất hoan hỷ
Hình dáng kiêm cung
Tâm bi hiển lộ
Lượng từ bao dung
Cao siêu mật hạnh
Vô úy đại hùng
Gậy trúc chống xuống
Đạo tổ hưng sùng
Cháu con bảo hộ
Sáng chói tông phong

Kính bạch Sư Cố! Với tất cả lòng biết ơn, chúng con xin hướng về Người.

Thở vào, con biết là Sư Cố đang có mặt đó trong dòng sinh mạng tâm linh của chúng con.
Thở ra, con cảm thấy rất ấm áp và hạnh phúc.

Chúng con đã vân tập về đây, để có mặt cho nhau và tập nhận diện sự có mặt của Người trong mỗi chúng con, trong từng hơi thở bình an, trong thế ngồi vững chãi và nụ cười tha thứ bao dung.

Kính thưa Sư Cố! Cả cuộc đời của Người là một mùa xuân rất ấm áp và bình an. Luôn hiến tặng đến cho mọi người cái tình thương vô úy. Những đức hạnh ấy đã thấm vào lòng người, trong mỗi học trò của Người. Những hạt giống tốt lành đó đã đi vào đất, bay theo gió khắp mọi nơi. Để rồi khi mùa xuân về chúng con lại có dịp trở về nguồn cội, thăm lại mảnh vườn xưa.

Chúng con đang có mặt đây và đang tập tiếp xúc với Người. Sư Cố luôn dành một tình thương to lớn; chia sẻ sự có mặt của mình đến với những người học trò yêu quý. Cứ mỗi khi đại chúng làm việc, thì Sư Cố cũng mang nón, chống gậy đi thăm hết nhóm này, nhóm kia. Có khi Người cũng dừng lại và làm việc chung với các chú, các điệu. Có một lần đó, đang cuốc đất với các chú sau vườn, trời nắng làm cho ai cũng mệt, Sư Cố dừng lại một chút, đưa tay quẹt mồ hôi trên trán, rồi nhìn các sư chú mà nói:

– Chắc chết rồi thì mới hết mệt, phải không con?

Các sư chú mỉm cười, rồi mấy thầy trò tiếp tục cuốc đất. Một lúc nữa, Người dừng lại, đưa mắt về một sư chú trẻ và hỏi:

Nhưng chết rồi thì ai hết mệt?

Câu nói tuy đơn sơ, nhưng vô hình đã thẩm thấu và đào xới mảnh vườn tâm, khơi nguồn cho dòng suối tuệ giác nơi những người học trò.

Có lần khác, một sư chú làm thị giả cho Người vì sơ ý cho nên đóng cửa không được nhẹ nhàng cho lắm, Sư Cố liền nói:

Con hãy đi đến đó, rồi mở cửa và đóng lại thêm một lần nữa. Lần này thì nhớ đóng cho đàng hoàng hơn.

Sư chú đi đến, đặt bàn tay cẩn trọng lên liếp cửa và nhẹ nhàng đóng lại. Sư chú đâu có biết rằng đó là chánh niệm. Nhưng một điều mà sư chú biết chắc rằng, đây là sự sống của sư chú, là công phu tu tập hằng ngày. Bàn tay mà Sư Cố đã trao truyền ngày xưa ấy, hôm nay chúng con vẫn đang được tiếp nối. Chúng con thấy mình cũng là một với sư chú kia, hàng ngày vẫn thường luôn thất niệm, nhưng nhờ bàn tay của Bụt, của Sư Cố mà chúng con đang mở dần cánh cửa của thực tại, để được sống thảnh thơi trong từng giây phút của sự sống hàng ngày. Người không có một bài pháp thoại nào để lại cho chúng con, nhưng những lời dạy ấy lại là những bài thuyết pháp bất diệt, nhẹ nhàng mà sâu lắng.

Kính bạch Sư Cố! Tuy Người đã lớn tuổi, nhưng Người vẫn cảm thấy thích thú tự tay làm lấy những công việc hàng ngày. Hồi đó chưa có máy giặt, cũng chẳng có nước máy. Những bộ đồ được thay ra, Người đã xếp lại rất đẹp và gọn gàng, làm cho các sư chú thị giả không biết đó là đồ dơ. Đợi đến trưa, khi mọi người đã đi ngủ hết, Sư Cố lặng lẽ một mình đi xuống suối và tự tay giặt lấy. Người làm việc ấy trong niềm vui và tự do của mình. Công việc tuy đơn giản mà khó làm biết bao.

Còn một câu chuyện khác mà Sư Thúc – một người học trò yêu quý của Người, đã kể cho chúng con nghe, khi chúng con được ở bên cạnh Người. Có lần đó, Sư Cố được mời dùng cơm trong một đại giới đàn, Người từ chối vì không phải trong hàng Tam sư nhưng vì mâm cơm đã dọn sẵn bốn cái chén, cho nên cuối cùng Người bị mời dùng cơm chung với ba vị Hòa thượng khác. Có lẽ đây là đại giới đàn ở Huế, vì trên mâm cơm có một vài đĩa bánh lọc và bánh nậm. Sư Cố dáng người nhỏ con, Người lặng lẽ bóc từng chiếc bánh ra ăn và sau đó gấp lại những chiếc lá chuối, đặt chúng trên một cái đĩa đã hết thức ăn. Trong khi đó thì các vị khác không làm như vậy, như muốn để cho các điệu được ăn mày công đức dọn dẹp. Nhưng cái hình ảnh nhẹ nhàng ấy của Sư Cố đã đi vào trong lòng các vị và các chú thị giả trưa hôm ấy làm cho ai cũng mến phục đức tính khiêm cung nơi Sư Cố. Cả một đời, Người chẳng muốn làm phiền lòng ai, dù là việc rất nhỏ mà vốn dĩ Người không cần phải làm.

Kính bạch Sư Cố! Lại một mùa xuân nữa lại về và chúng con lại có dịp quây quần bên nhau, ôn lại những kỷ niệm đẹp về Người. Để rồi từ đây, trên bước đường tu học hình bóng người luôn mãi trong trái tim của chúng con.

Xin cho chúng con đem hết lòng hướng về Sư Cố với tất cả niềm biết ơn của chúng con.

Xin Sư Tổ chứng minh cho tấm lòng thành của chúng con.

Những bài có liên quan:

Tưởng nhớ Sư Tổ Thanh Quý Chân Thật (trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai): https://langmai.org/cong-tam-quan/thong-tin-sinh-hoat/sinh-hoat-nam-2014/tuong-nho-su-to-thanh-quy-chan-that

Sư Cố Thanh Quý Chân Thật (Sư Thúc Chí Mậu chia sẻ) : https://langmai.org/tang-kinh-cac/la-thu-lang-mai/la-thu-lang-mai-28-2005-1/su-co-thanh-quy-chan-that

Một lòng hướng về Sư Tổ Nhất Định

(Khai sơn Tổ Đình Từ Hiếu – Huế)

Kính bạch Sư Tổ! Chúng con đang tập tiếp xúc với Người qua hình ảnh một bậc thầy già chốn núi rừng Dương Xuân. Một túp liều tranh, một bà mẹ già và với ba người đệ tử. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhất của Sư Tổ. Người có thời gian chăm sóc mẹ già và trao truyền những hoa trái tu học cho những người học trò yêu quý.

Xuất thân từ làng Trung Kiên – một vùng đất Phật giáo ở Quảng Trị, Sư Tổ  đã đến chùa Thiên Thọ (Báo Quốc) núi Hàm Long – Huế, để xuất gia học đạo với Thiền sư Phổ Tịnh, lúc đó Người chỉ mới lên bảy tuổi. Đến năm 30 tuổi, nhận thấy nơi Sư Tổ có chí khí của một bậc Xuất trần nên Sư Tổ được Bổn sư phú pháp truyền đăng với bài kệ:

Nhất Định chiếu quang minh
Hư không nguyệt mãn viên
Tổ tổ truyền phú chúc
Đạo Minh kế Tánh Thiên.

Từ đây, bước chân của Sư Tổ đã in dấu ấn trên khắp vùng đất Cố Đô. Đi đến đâu Người cũng  gieo xuống những hạt giống hiểu biết, thương yêu, vững chãi và thảnh thơi trên mảnh đất nhân tâm. Từ những ngôi làng quê cho đến chốn kinh thành, các vua quan lúc ấy nhờ thấm nhuần ân đức của Sư Tổ mà muôn dân được an bình. Cũng do đó mà vua Minh Mạng đã mời Sư Tổ giữ chức Tăng Cang  Giác Hoàng Quốc Tự. Tăng Cang là người có khả năng làm khuôn thước đạo đức cho đạo cũng như đời. Với đạo đức và uy phong của Sư Tổ, Người thực sự là một vị Thầy tâm linh, làm chổ nương tựa cho vua dân chốn Thần Kinh lúc bấy giờ. Giáo lý mà Người trao truyền, vì vậy đã mang đậm dấu ấn nhập thế, không chỉ dừng lại ở chốn Thiền môn mà đã đi vào các lĩnh vực khác của cuộc sống.

Năm 1843, sau khi thôi làm Tăng Cang Giác Hoàng Quốc Tự và trao quyền điều hành chùa Báo Quốc cho pháp đệ là Hòa Thượng Nhất Niệm, Người một mình, một bát vân du đến núi Dương Xuân, dựng am tranh bên một con suối nhỏ, lấy tên  là An Dưỡng Am. Sư Tổ đã đưa mẹ mình cùng với ba người đệ tử về đây cùng tu tập, hằng ngày cuốc đất trồng rau, vui nếp sống thanh bần. Lúc ấy, Sư Tổ đã đến tuổi lục tuần, nhưng Người vẫn làm bổn phận của một người con hiếu đối với người mẹ già tám mươi tuổi. Một hôm, mẹ của Người ốm nặng và thầy thuốc nói rằng, cụ bà cần phải tẩm bổ thì mới mong qua khỏi. Sư Tổ đã chẳng ngần ngại, chống gậy xuống núi, đến chợ Bến Ngự mua một con cá thật to, mặc những lời thị phi hai bên đường, Người ung dung xách trên tay đem về nấu cháo dâng mẹ. Tiếng đồn vang đến Vua Thiệu Trị, vua không chịu được, liền tức tốc lên Thảo Am của Người để tìm hiểu thật hư, khi vừa đến Thảo Am thì đúng lúc Sư Tổ đang dâng bát cháo cá cho mẹ. Vua hiểu ra được mọi điều và niềm cảm phục nơi vua lại tăng lên bội phần. Công việc đó Người có thể nhờ một học trò cư sĩ của mình làm được, nhưng không, Người đã tự mình làm chuyện đó, để rồi câu chuyện cứ lan truyền trong nhân gian làm cảm hóa không biết bao nhiêu người.

Tuy người ở chốn thâm sơn nhưng đạo phong của Người vẫn còn đó, cho nên các vua quan và học trò của Người vẫn thường lên thăm. Đường đi thật khó khăn, từ Kinh thành Huế lên thảo am của Người chỉ có năm cây số, vậy mà phải mất nữa ngày đường mới tới nơi. Có lúc các vua quan ngỏ ý muốn xây một ngôi chùa cúng dường Sư Tổ nhưng Người đã nói: “Nếu muốn ở chùa thì tôi đã ở Giác Hoàng Quốc Tự, ở Chùa Báo Quốc rồi, đâu cần phải lên đây dựng thảo am làm chi”. Có những lúc khác, thấy Người túng thiếu, các quan lại có ý muốn cúng dường thì Người nói rằng, Người đã có ba người học trò cuốc đất trồng rau, đủ sống qua ngày rồi, chẳng cần chi thêm nữa. Dạ! Đúng rồi thưa Sư Tổ, một người vô sự thì đâu cần tìm cầu chi nữa. Niềm vui của Người là được chơi với mẹ già và trao truyền trái tim của mình cho những người đệ tử. Chúng con cảm thấy thật may mắn, khi các thế hệ Tổ sư đi qua đã tiếp nối được Người một cách xứng đáng và để cho hôm nay chúng con được nương tựa.

Kính bạch Sư Tổ! Chúng con thấy là chúng con cũng đã có mặt một lần cùng với Người, khi Người đặt bước chân đầu tiên đến núi Dương Xuân. Chúng con cũng đã có mặt trong những người học trò của Người và hằng ngày cùng cuốc đất trồng rau với Người. Chúng con cũng đã có mặt với Người khi Người xuống núi làm một người vô sự, và bây giờ đây, Người cũng có mặt với chúng con trong giờ phút hiện tại, trong mỗi hơi thở, mỗi nụ cười và mỗi bước chân vững chãi của chúng con. Thảo am ngày xưa ấy, đã khơi nguồn cho dòng suối cam lộ chảy mãi cho đến hôm nay. Chúng con thật hạnh phúc khi biết rằng, giờ đây con cháu của Sư Tổ đã có mặt khắp mọi nơi. Đi đến đâu chúng con cũng đang tiếp nối công việc của Sư Tổ, là gieo xuống mảnh đất tâm của mọi người những hạt giống hiểu biết, thương yêu, vững chãi, thảnh thơi mà chúng con đã được tiếp nhận từ thầy tổ, và chúng con cũng ý thức là Người cũng đang làm công việc đó với chúng con trong giờ phút hiện tại.

Kính bạch Sư Tổ! Chúng con cảm thấy lòng mình thật ấm áp, khi được ngồi đây và nói lên được lòng biết ơn của chúng con đến với Người. Xin Sư Tổ luôn có mặt đó và bảo hộ, che chở cho chúng con.

Nam mô Khai sơn chùa Từ Hiếu Sư Tổ Nhất Định chứng minh.

————————

Sư Ông Làng Mai chia sẻ về công hạnh của Tổ Nhất Định

(Trích từ Pháp Thoại của Sư ông Làng Mai, ngày 14.12.2006 tại Xóm Thượng, chùa Pháp Vân, Làng Mai, khóa an cư kết đông)

Khi đọc lại tiểu sử của Tổ Nhất Định, người khai sinh ra chùa Từ Hiếu, mình thấy có một điểm son. Điểm son của Tổ Nhất Định không phải là Ngài được làm Tăng Cang nhiều chùa Vua. Điểm son của Ngài không Phải là Giới Đao Độ Điệp, được Vua và các quan sùng kính, rồi được làm trụ trì hết chùa này đến chùa kia. Điểm son của Tổ Nhất Định là đến độ tuổi suýt soát sáu mươi thì Ngài cương quyết thoát ra. Ngài đã tìm cách xin với Vua trả hết tất cả những ngôi chùa kia để về núi Dương Xuân, dựng một am tranh ở một mình, với người mẹ. Một người được trọng vọng, được cung kính, có nhiều lợi lộc, quyền danh như vậy, mà chỉ trong vòng một niệm là buông bỏ được, thoát ra được. Đó là điểm son của Tổ Nhất Định.

Cố nhiên là lên đồi Dương Xuân, Ngài chỉ cất một cái am tranh thôi. Ngài đi với hai người đệ tử, hai thầy trẻ mới thọ đại giới. Ba thầy trò cuốc đất trồng khoai. Hồi đó, ở xung quanh chùa Từ Hiếu hoang vu lắm, không phải như bây giờ. Có nhiều vị quan trong triều đình nhớ Ngài và tìm lên. Thấy Ngài sống cực khổ quá, họ thấy tội nghiệp. Trong khi đó, Ngài hạnh phúc quá chừng. Chưa bao giờ Ngài hạnh phúc như vậy. Tại vì Ngài đã buông bỏ tất cả. Ngài được sống một mình với hai người đệ tử, cuốc đất trồng khoai và được sống với người mẹ “chuối ba hương, xôi nếp một, đường mía lau”. Các quan xin với Ngài để lập chùa cho “có tiện nghi”. Ngài nói: “Thôi thôi, tiện nghi thì tôi có quá nhiều rồi. Chính tôi đi kiếm cái này”. Và Ngài cương quyết không cho các quan lên lập chùa. Cúng dường cái gì Ngài cũng trả lại hết. Điểm son của Tổ Nhất Định là chuyện đó. Và mình, con cháu Từ Hiếu, phải hãnh diện là mình có một vị thầy như vậy: Buông bỏ công danh, phú quý, địa vị dễ dàng như buông bỏ một đôi dép cùn. Cái đó là điểm son của Ngài, chứ không phải là làu thông tam tạng Kinh điển, hay những chức vị và sự sùng kính của Vua và các quan. Đến ngày giỗ Tổ, để xưng tán công hạnh của Tổ thì phải nói điểm đó.

Các bài có liên quan:

– Thông bạch kỉ niệm 150 năm khai sơn tổ đình Từ Hiếu >>

Cảm niệm Sơ Tổ Thiền Tông Việt Nam

 

Cảm niệm Sơ Tổ Thiền Tông Việt Nam
Thiền sư Khương Tăng Hội

Lặng lẽ một mình
Đó là khí chất
Tâm không bận bịu
Tình không vướng mắc
Đêm đen soi đường
Lay người thức giấc
Vượt cao, đi xa
Thoát ngoài cõi tục.(1)

 

 

Kính bạch Sư tổ! Chúng con đang có mặt cho Sư tổ đây. Chúng con cảm thấy rất hạnh phúc và ấm áp khi được ngồi đây và nhớ nghĩ đến công hạnh của Sư tổ. Người đã sống cách xa chúng con gần hai nghìn năm, vậy mà mỗi khi lạy xuống chúng con vẫn thấy Sư tổ có mặt trong dòng sinh mạng tâm linh của chúng con.

Trong bài tựa kinh An Ban Thủ Ý, Sư tổ đã dạy rằng: “An Ban là đại thừa của các vị Bụt dùng để cứu độ chúng sanh.” Kính bạch Sư tổ, chúng con cảm thấy là chúng con đang thở được hơi thở của Người. Khi đem sự thực tập về Quán Niệm Hơi Thở chia sẻ cho mọi người, chúng con đã giúp được cho rất nhiều người tìm lại được cuộc sống đích thực, mà bấy lâu họ đã đánh mất. Chúng con thấy Sư tổ là một người lái thuyền rất vững chãi, đang cùng ngồi chơi với chúng con và cùng chèo một mái chèo với chúng con.

Kính bạch Sư tổ! Người là một bông hoa rất đẹp, mang trong mình hai dòng văn hóa. Cha là người nước Khương Cư (Bắc Ấn) và mẹ là người Việt. Nhưng tiếc thay, mới hơn mười tuổi Người đã mất cả song thân. Mang nặng nỗi đau khi phải sống thân phận mồ côi. Nhưng nhờ có duyên lành, Người đã tìm đến cửa Bụt để nương tựa, và có ai biết được rằng, chú tiểu đó sau này đã trở thành một bậc thầy lỗi lạc, không những là một niềm kính ngưỡng cho dân Việt mà còn cho cả vua dân Đông Ngô lúc bấy giờ.

Khi còn là một Thầy tu trẻ, Sư tổ là một mẫu người xuất gia lý tưởng ở Luy Lâu. Ngoài Phật học, Người còn rất giỏi về ngoại giáo, như Nho học, Lão học, đồ vĩ, thiên văn, địa lý..v.v. Với tài năng, nhiệt huyết và công phu tu tập, Người đã làm cho trung tâm Luy lâu trở nên phồn thịnh, một nơi đã khơi nguồn mạch sống tâm linh cho nước Việt. Sư tổ còn là người đem thiền tập nguyên thỉ về tắm mát trong dòng chảy đại thừa, làm giàu thêm gia tài tâm linh đạo Bụt. Cũng nhờ đó, mà ngày hôm nay, chúng con gặt hái được nhiều hoa trái trong công phu tu tập. Những hoa trái đó, chúng con kính dâng lên Sư tổ như một lời biết ơn của chúng con.

Kính bạch Sư tổ! Mang trong mình một hoài bão lớn, của một bậc Xuất trần Thượng sĩ có chí hướng đại thừa, Người đã một mình, một bát đi lên miền Bắc, không ngại khó khăn, gian khổ, Người quyết đem ánh sáng đến những nơi còn tối tăm. Người như đang nắm vững mái chèo trong tay và không còn lo sợ bất kỳ một cơn dông bão nào. Khi đến được Kiến Nghiệp – kinh đô nước Ngô, thì đây là lần đầu tiên người ta thấy được hình ảnh của người xuất sĩ. Trải qua những khó khăn của văn hóa, tôn giáo, chính trị, nhưng cuối cùng người đã gây được sự cảm mến và kính phục cho vua con nước Ngô, là Tôn Quyền và Tôn Hạo. Dưới sự hoằng pháp của Sư tổ, người Ngô đã được phép xuất gia, từ đây đạo Bụt đã bắt đầu cắm rễ ở Đông Ngô, làm nền tảng cho Phật giáo phát triển ở Trung Hoa sau này.

Kính bạch Sư tổ! Nhớ nghĩ đến công hạnh của Sư tổ, chúng con không biết làm sao để nói hết lòng cảm phục của chúng con đối với Người. Từ một chú bé mồ côi, Sư tổ đã trở thành một bậc thầy tâm linh lỗi lạc cho cả hai nước Việt, Hoa. Chúng con ngày hôm nay đang tiếp tục đi trên con đường mà Sư tổ đã dày công khai sáng. Cúi xin Sư tổ luôn bảo hộ và che chở cho chúng con.

Nam mô Sơ tổ Thiền tông Việt Nam Thiền sư Khương Tăng Hội chứng minh.

Một vài nét về Tiểu sử và công hạnh của Tổ Tăng Hội

Thiền sư Tăng Hội là Tổ sư của Thiền tông Việt Nam. Thân phụ của thầy là người Khương Cư (Sogdiane, Bắc Ấn), mẹ thầy là người Việt. Khi thầy mới hơn mười tuổi thì cả cha và mẹ đều qua đời. Sau tang lễ, thầy xuất gia và tu học rất tinh tiến.

Thầy Tăng Hội là một mẫu người lý tưởng cho giới xuất gia thời đó, bởi vì ngoài Phật học, thầy còn tinh thông Nho học, Lão học và những khoa học khác như đồ vỹ, thiên văn, địa lý, v.v.

Thầy đã thiết lập đạo tràng, huấn luyện đồ chúng và phiên dịch kinh điển tại Giao Chỉ. Tại đây, thầy Tăng Hội đã viết bài tựa cho Kinh An Ban Thủ Ý, cũng như biên tập Lục Độ Tập Kinh. Trung tâm hành đạo của thầy có thể đã được thiết lập ở chùa Diên Ứng, còn gọi là chùa Dâu hay chùa Pháp Vân, ở thủ phủ Luy Lâu, tức phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh ngày nay.

Thầy Tăng Hội đã sử dụng những kinh căn bản về thiền tập như kinh Quán Niệm Hơi Thở và đã dạy cho mọi người thực tập những kinh điển nguyên thỉ về thiền theo phương thức thực tập của đại thừa. Nội dung thực tập mà thầy Tăng Hội dạy là phép an ban thủ ý. An ban thủ ý là phép quán niệm hơi thở, và hơi thở được thực tập chung với bốn lĩnh vực quán niệm là tứ niệm xứ.

Không những là Sơ Tổ của Thiền tông Việt Nam, thiền sư Tăng Hội còn là người đầu tiên đem thiền học phát huy ở Trung Hoa, vì vậy thầy cũng là Thiền tổ của Trung Hoa. Khoảng giữa thế kỉ thứ 3, thầy đã sang nước Ngô để dạy thiền. Trong Cao Tăng Truyện có ghi rõ là khi thầy Tăng Hội sang nước Ngô thì bên đó chưa có tăng sĩ Phật giáo. Chính thầy Tăng Hội đã tổ chức đàn truyền giới đầu tiên cho những người Ngô trở thành những vị xuất gia đầu tiên. Ngôi chùa mà thầy Tăng Hội thành lập có tên chùa Kiến Sơ – ngôi chùa đầu tiên, tại Kiến Nghiệp, kinh đô nước Ngô.

Sự nghiệp của thiền sư Tăng Hội rất lớn lao. Nhờ vào những trước tác của thầy, ta biết được hành tướng của sự thực tập thiền tại trung tâm Luy Lâu (Việt Nam) và tại trung tâm Kiến Nghiệp (Trung Quốc) ngày xưa. Tư tưởng Thiền của thầy Tăng Hội là tư tưởng thiền Đại Thừa, đi tiên phong cho cả tư tưởng Hoa Nghiêm và Duy Thức. Tuy nhiên, thiền pháp của thiền sư Tăng Hội rất thực tiễn, không hề để thiền giả bay bỗng trong vòm trời lý thuyết. Căn bản của thiền pháp này vẫn là sự thực tập hơi thở ý thức và pháp quán chiếu về bốn lĩnh vực hiện hữu gọi là tứ niệm xứ và các pháp quán tưởng căn bản đã được nêu ra trong các thiền kinh nguyên thỉ.

_____________________
(1) Đây là bài kệ của Tôn Xước-một trí thức trong hoàng gia Đông Ngô ca ngợi Sư tổ.

Các bài liên quan khác:

– Nhạc Thiền sư Khương Tăng Hội >>
– Thông bạch của Thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh về thiền sư Khương Tăng Hội >>
– Sách Thiền sư Tăng Hội >>
– Sách Việt Nam Phật giáo sử luận >>
– Dịch và chú giải Kinh Quán Niệm Hơi Thở >>

Khấn nguyện chúc tán tổ sư

Chúng con, tăng thân xuất gia, hôm nay vào ngày giỗ sư tổ ………..đã tập họp tại chùa……. (thôn……., xã…….., quận….., tỉnh….., nước Việt Nam), kính cẩn trình diện trước tổ đường với tất cả lòng dạ chí thành của chúng con, cúi xin các thế hệ tổ sư của chúng con từ bi chứng giám:

Chúng con ý thức được cây có cội, nước có nguồn; chúng con biết Bụt và các thế hệ tổ sư là cội nguồn của chúng con và chúng con là sự tiếp nối của liệt vị. Chúng con nguyện tiếp nhận tuệ giác, từ bi và an lạc mà Bụt và chư tổ đã trao truyền; nguyện nắm giữ và bồi đắp không ngừng gia tài tâm linh quý giá ấy. Chúng con nguyện tiếp tục thực hiện chí nguyện độ sanh của liệt vị, nguyện chuyển hóa những khổ đau trong chúng con, giúp đượcngười đương thời chuyển hóa những khổ đau của họ và mở ra cho các thế hệ tương lai những pháp môn thích hợp có khả năng giúp họ đem đạo Bụt áp dụng được vào trong mọi lãnh vực của sự sống. Chúng con nguyện thực tập để sống an lạc ngay trong giờ phút hiện tại, để nuôi dưỡng chất liệu vững chãi và thảnh thơi trong chúng con và để giúp được những người chung quanh.

Chúng con nguyện nhìn nhận nhau là anh chị em trong một gia đình tâm linh, bởi vì chúng con biết rằng tất cả chúng con đều là con cháu của liệt vị. Chúng con nguyện sẽ chăm sóc cho nhau, thấy được những khó khăn và khổ đau của nhau để hiểu, để thương và để giúp nhau trong công trình chuyển hóa. Chúng con xin hứa sẽ tập sử dụng các hạnh ái ngữ và lắng nghe để nuôi dưỡng tình huynh đệ trong tăng thân, nguyện chấp nhận sự soi sáng của tăng thân để nhận diện những khả năng cũng như những yếu kém của mình mà vun trồng hoặc chuyển hóa, nguyện xóa bỏ mọi hiềm hận để có thể nương vào nhau mà đi trên con đường thành tựu đạo nghiệp.

Chúng con biết chỉ khi nào chúng con làm được như thế thì chúng con mới xứng đáng là con cháu của Bụt và của liệt vị tổ sư.
Chúng con cúi xin Sư Tổ cùng tất cả liệt vị tổ sư từ bi chứng minh cho tâm thành kính và hiếu thảo của chúng con như phẩm vật quý giá nhất của sự cúng dường trong ngày giỗ tổ. (lạy ba lạy) (C)

Lạy nhau đầu năm

Lời quán nguyện lễ lạy nhau đầu năm
(Thực tập của chúng xuất sĩ tại Làng Mai vào buổi sáng ngày mồng một tết nguyên đán)


Đảnh lễ Đức Quan Âm

Chúng tôi là những người nam xuất gia, là những vị Tỳ Khưu, là những Sa di, có người còn đáng tuổi để làm con quý vị, có người còn đáng tuổi làm em trai quý vị, có người đã đáng tuổi làm anh của quý vị, lại có người đã đáng tuổi làm cha của quý vị. Tuy nhiên trong mỗi người của chúng tôi đều có bóng dáng của Bồ Tát Phổ Hiền đại sĩ, bởi vì chúng tôi là đệ tử của Bồ Tát Phổ Hiền đại sĩ và là sự tiếp nối của Phổ Hiền đại sĩ. Chúng tôi muốn lạy xuống trước quý vị, những người nữ xuất gia, những vị Tỳ Khưu ni, những vị Thức Xoa Ma Na, những vị Sa di ni, trong quý vị có những người đáng tuổi làm mẹ chúng tôi, có những người đáng tuổi làm chị chúng tôi, lại có những người đáng tuổi làm em gái chúng tôi hoặc làm con gái chúng tôi. Tuy nhiên chúng tôi biết trong mỗi quý vị đều có bóng dáng của Bồ Tát Quan Âm đại sĩ, bởi vì quý vị đều là đệ tử của Bồ Tát Quan Âm đại sĩ và là sự tiếp nối của Quan Âm đại sĩ. Chúng tôi là con của Bụt và đệ tử của Thầy; quý vị cũng đều là con của Bụt và đệ tử của Thầy. Vì vậy chúng tôi và quý vị đều là con một nhà, và ba cái lạy cung kính này là để chúng tôi tự nhắc nhở chúng tôi và cũng để nhắc nhở quý vị về sự thật ấy. Chúng ta phải nhớ xem nhau như anh chị em ruột thịt một nhà và phải bảo vệ cho nhau để tất cả mọi người trong chúng ta đều có thể sống trọn vẹn được suốt đời cuộc sống đẹp đẽ và có ý nghĩa của một người xuất gia. Chúng tôi nguyện ngày đêm tự bảo hộ cho chúng tôi và cũng là để bảo hộ cho quý vị, bằng giới luật và bằng uy nghi mà chúng tôi đã tiếp nhận được từ Bụt và từ Thầy.Và chúng tôi cũng cầu mong là quý vị cũng phát nguyện ngày đêm tự bảo hộ cho quý vị và bảo hộ cho chúng tôi bằng sự hành trì những giới luật và những uy nghi mà quý vị đã tiếp nhận. Lạy Bụt, lạy Tổ, lạy Thầy chứng minh cho ước nguyện cao cả của chúng tôi trong giờ phút chúng tôi chí thành lạy xuống ba lần trước quý vị, và trước Đức Quan Âm đại sĩ có mặt trong mỗi quý vị. (Chuông)


Đảnh lễ Đức Phổ Hiền

Chúng tôi là những người nữ xuất gia, là những vị Tỳ Khưu ni, là những Thức Xoa Ma Na, là những Sa di ni, có người còn đáng tuổi làm con gái của quý vị, có người còn đáng tuổi làm em gái quý vị, nhưng cũng có người đã đáng tuổi làm chị của quý vị, lại có người đã đáng tuổi làm mẹ của quý vị. Tuy nhiên trong mỗi người chúng tôi đều có bóng dáng của Bồ Tát Quan Âm đại sĩ, bởi vì chúng tôi là đệ tử của Bồ Tát Quan Âm đại sĩ và là sự tiếp nối của Quan Âm đại sĩ. Chúng tôi muốn lạy xuống trước quý vị, những người nam xuất gia, những vị Tỳ Khưu, những vị Sa di, trong quý vị có những người đã đáng tuổi làm cha chúng tôi, có những người đáng tuổi làm anh chúng tôi, lại có những người đáng tuổi làm em trai chúng tôi và những người mới đáng tuổi làm con trai chúng tôi. Tuy nhiên chúng tôi biết trong mỗi quý vị đều có bóng dáng của Bồ Tát Phổ Hiền đại sĩ, bởi vì quý vị đều là đệ tử của Bồ Tát Phổ Hiền đại sĩ và là sự tiếp nối của Phổ Hiền đại sĩ. Chúng tôi là con của Bụt và đệ tử của Thầy; quý vị cũng đều là con của Bụt và đệ tử của Thầy. Vì vậy chúng tôi và quý vị đều là con một nhà, và ba cái lạy cung kính này là để chúng tôi tự nhắc nhở chúng tôi và cũng để nhắc nhở quý vị về sự thật ấy. Chúng ta phải nhớ xem nhau như anh chị em ruột thịt một nhà và phải bảo vệ cho nhau để tất cả mọi người trong chúng ta đều có thể sống trọn vẹn được suốt đời cuộc sống đẹp đẽ và có ý nghĩa của một người xuất gia. Chúng tôi nguyện ngày đêm tự bảo hộ cho chúng tôi và cũng là để bảo hộ cho quý vị, bằng giới luật và bằng uy nghi mà chúng tôi đã tiếp nhận được từ Bụt và từ Thầy.Và chúng tôi cũng cầu mong là quý vị cũng phát nguyện ngày đêm tự bảo hộ cho quý vị và bảo hộ cho chúng tôi bằng sự hành trì những giới luật và những uy nghi mà quý vị đã tiếp nhận. Lạy Bụt, lạy Tổ, lạy Thầy chứng minh cho ước nguyện cao cả của chúng tôi trong giờ phút chúng tôi chí thành lạy xuống ba lần trước quý vị, và trước Đức Phổ Hiền đại sĩ có mặt trong mỗi quý vị. (Chuông)


Lời khấn nguyện đầu năm

(Mỗi năm vào giờ đón Giao Thừa mừng năm mới, đại chúng ba xóm bốn chùa Làng Mai lại vân tập về thiền đường (năm nay kính mời quý vị thân hữu về thiền đường Xóm Mới). Khi thời khắc giao thừa vừa điểm, ba hồi chuông trống bát nhã sẽ vang lên. Tiếng chuông trống kết thúc, các thầy, các sư cô đại diện của bốn chùa cung kính lên trước bàn thờ Bụt, bàn thờ Tổ và đọc Lời Khấn Nguyện Đầu Năm bằng ba thứ tiếng: Tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Việt.)


LỜI KHẤN NGUYỆN ĐẦU NĂM

Kính lạy chư vị Tổ tiên tâm linh và huyết thống của chúng con.

Thở vào, chúng con ý thức là chư vị đang có mặt trong chúng con. Chư vị chưa bao giờ bỏ chúng con, và chúng con luôn luôn mang chư vị mà đi về tương lai. Chúng con biết rằng trong quá khứ, chúng con đã dại dột gây ra bao nhiêu lầm lỗi. Chúng con đã tạo ra chia rẽ, hận thù, khổ đau, cô đơn và tuyệt vọng. Chúng con đã để cho tập khí chủ nghĩa cá nhân lộng hành và tàn phá. Chúng con đã thấy được rằng danh vọng, tiền tài, quyền lực và tư dục đã không đem lại hạnh phúc chân thực cho chúng con. Chúng con đã thấy được rằng chỉ có lòng thương yêu và sự hiểu biết mới đem lại một ý nghĩa cho sự sống và chúng con phải tập sống với nhau như một dòng sông trong tăng thân thì con cháu chúng con mới có được một tương lai sáng đẹp trên trái đất này.

Giờ phút mà chúng con tập họp lại đây trước bàn thờ chư vị, chúng con kính cẩn phát nguyện là bắt đầu từ năm Tân Mão, 2011, chúng con sẽ tập sống thật hài hòa và an vui trong phạm vi gia đình và tăng thân của chúng con, như những con ong cùng sống chung trong một tổ ong hay những tế bào của cùng một cơ thể. Chúng con hứa là chúng con sẽ học hỏi thái độ cởi mở để có thể truyền thông được dễ dàng với những thành phần khác trong gia đình và trong tăng thân chúng con, luôn luôn tập hạnh lắng nghe và ái ngữ. Chúng con nguyện tập lắng nghe chư vị, cũng như chúng con sẽ tập lắng nghe anh chị em, bằng hữu và con cháu của chúng con, để chúng con có thể sống hài hòa và hạnh phúc với nhau. Chúng con nguyện sẽ tập thấy hạnh phúc của tăng thân là hạnh phúc của chính mình. Chúng con biết đây là cách thức duy nhất để bảo đảm cho con cháu của chúng con một tương lai trên trái đất. Trong giờ phút linh thiêng khởi sự cho năm mới, chúng con trân trọng và thành kính hứa với chư vị là chúng con sẽ tập thở có chánh niệm, tập đi có chánh niệm, tập nói năng có chánh niệm, tập nhìn bằng con mắt của tăng thân và nghe bằng tai của tăng thân, tập sống đơn giản trở lại, tiêu thụ ít trở lại và tập thương theo tinh thần từ bi và không kỳ thị. Chúng con đã tha thứ được cho nhau, đã hòa giải được với nhau trước khi đến đây trình diện với chư vị trên bàn thờ Tổ tiên của chúng con. Xin chư vị chứng giám lòng thành của chúng con và luôn luôn phù hộ cho chúng con và cho các cháu. Chúng con nguyện thực tập cho chư vị và cho cả con cháu của chúng con để hòa bình, an lạc và thương yêu có mặt trở lại trên thế gian này. Chúng con kính dâng hương hoa, quả phẩm, lòng hiếu thảo của chúng con, và xin lạy xuống trước chư vị bốn lạy.

Lời khấn nguyện đầu năm

Năm Mới 2016.Lời khấn nguyện

Kính lạy Thầy,
Kính lạy chư vị Tổ tiên tâm linh và huyết thống của chúng con,
Kính lạy Đất Mẹ – Bồ Tát Thanh Lương Đại Địa,

Trong giờ phút linh thiêng khởi sự cho Năm Mới, chúng con tập hợp lại đây như một gia đình tâm linh để cùng dâng lên Thầy, dâng lên Đất Mẹ và chư vị tổ tiên lòng biết ơn và nguyện ước sâu sắc của chúng con. Chúng con cũng xin thành tâm sám hối những lầm lỗi mà chúng con đã gây ra trong năm qua.

Chúng con ý thức chư vị tổ tiên đang có mặt trong chúng con và là nơi nương tựa vững chãi cho tất cả chúng con. Chúng con cũng ý thức rằng Thầy đang có mặt với chúng con trong giờ phút này.

Chúng con xin lạy xuống để tiếp xúc với Đất Mẹ. Chúng con và tổ tiên của chúng con đều là con của Mẹ. Mẹ là Bồ Tát Thanh Lương Đại Địa, là hành tinh xanh xinh đẹp và mát lành của chúng con. Chúng con biết rằng dù chúng con và tổ tiên của chúng con đã gây ra bao lầm lỗi, chúng con vẫn được Mẹ tha thứ. Và mỗi lần chúng con trở về với Mẹ là Mẹ lại đưa vòng tay từ mẫu ôm lấy chúng con vào lòng.

Kính lạy Thầy, chúng con xin được sám hối với Thầy: Trong năm qua, chúng con đã để cho sự hoang mang tưới tẩm hạt giống bất an và sợ hãi nơi chúng con. Nhiều khi chúng con đã để cho cảm xúc mạnh và những tri giác sai lầm trấn ngự, khiến chúng con cảm thấy cô đơn, xa cách và tuyệt vọng. Ý thức được điều đó, chúng con xin nguyện trở về nương tựa nơi Thầy, nơi pháp môn tu học và tăng thân yêu quý của chúng con. Chúng con biết rằng chỉ cần trở về với hơi thở và bước chân chánh niệm là chúng con có thể trở về với ngôi nhà đích thực – nơi chúng con có thể tìm thấy sự sáng tỏ và bình an cho chính mình. Chúng con cũng ý thức rằng bằng cách an trú trong tăng thân, chúng con có thể tiếp xúc được với năng lượng vững chãi của tăng thân. Năng lượng đó có thể giúp chúng con nhận diện và ôm ấp những cảm thọ và tri giác sai lầm của mình.

Kính lạy Đất Mẹ, chúng con xin sám hối với Mẹ là loài người chúng con đã để cho tham dục và chủ nghĩa tiêu thụ nhấn chìm. Chúng con đã chạy theo danh vọng, tiền tài, quyền lực và tư dục mà quên rằng những thứ ấy không bao giờ có thể đem lại cho chúng con tự do và hạnh phúc chân thực. Chúng con đã quá bận rộn để tìm cách khỏa lấp cảm giác cô đơn, trống trải trong lòng mà không có thì giờ để nhìn lại và tự hỏi: mình đang làm gì? mình đang đi đâu, về đâu?  Trong quá trình rong ruổi, tìm cầu đó, chúng con đã gây cho Mẹ nhiều khổ đau, đã tàn hoại vẻ đẹp tự nhiên và sự cân bằng của Mẹ.

Ý thức được điều đó, chúng con xin tập sống đơn giản, dừng lại những rong ruổi, tìm cầu và luôn nhớ rằng chúng con đã có đủ những điều kiện để sống hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Với năng lượng chánh niệm và từ bi, chúng con có thể thực sự hạnh phúc và mãn nguyện với những gì mình đang có. Trong năm mới này, chúng con xin nguyện giảm tiêu thụ và nguyện sống như thế nào để có thể nuôi dưỡng sự lành mạnh và bền vững cho chính chúng con và cho Đất Mẹ.

Kính lạy tổ tiên, chúng con xin sám hối vì đã tạo ra sự chia rẽ giữa những người anh em trong gia đình nhân loại do sự sự hãi và thiếu bao dung gây ra. Chúng con đã gây khổ đau cho nhau vì sự phân biệt, kỳ thị dựa trên tôn giáo, sắc tộc và quốc gia. Vì vô minh và sợ hãi, chúng con đã đóng cửa trái tim mình và đóng cửa biên giới đối với những người anh em đến từ các quốc gia khác. Chúng con quên rằng giữa chúng con có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau. Hạnh phúc và khổ đau của chúng con cũng là hạnh phúc và khổ đau của những người anh em và ngược lại.

Chúng con tin rằng trong tự thân chúng con có hạt giống từ bi và trí tuệ vô phân biệt mà tổ tiên và Đất Mẹ đã trao truyền cho chúng con. Chúng con xin nguyện tiếp tục đi trên con đường tu tập, mở rộng trái tim mình và buông bỏ sự tự hào để cho hiểu biết và thương yêu có cơ hội lớn lên trong chúng con.

Chúng con xin lạy xuống để thể hiện lòng biết ơn của chúng con đối với Thầy, với chư vị tổ tiên và với Đất Mẹ. Chúng con vô cùng biết ơn vì chúng con đã tìm được con đường tu tập và tìm được một gia đình tâm linh để nương tựa. Chúng con đã nếm được niềm vui, sự bình an và chuyển hóa trên con đường tu tập, cũng như nếm được sự tự do khi buông bỏ những ý niệm của mình. Chúng con cũng cảm nhận được sức mạnh và sự ấm áp của tình huynh đệ. Vì vậy, chúng con ý thức rằng cùng với nhau, chúng con có thể đối diện được mọi khó khăn, thử thách và thực hiện được ước nguyện của mình. Trong giờ phút này, chúng con kính cẩn phát nguyện là chúng con sẽ tiếp tục xây dựng tăng thân, mở rộng con đường cho chúng con và cho các thế hệ mai sau.

Chúng con kính dâng lên chư vị hương hoa, quả phẩm cùng lòng hiếu thảo của chúng con. Xin Thầy, xin Đất Mẹ và chư vị tổ tiên tin tưởng ở chúng con.

New Year Prayer to Mother Earth and All Our Ancestors

Dear Beloved Thay,
Dear Beloved Ancestors,
Dear Beloved Mother Earth,

We have gathered as a fourfold sangha in this solemn moment of the New Year to express our gratitude and aspiration as a spiritual family, and to begin anew. We know that you, our ancestors, are present in every cell of our body, and that you are always there for us to take refuge in. We know that you, Thay, are also present with us in this very moment. As we touch the Earth tonight we feel deeply connected to you, Mother Earth. We, and all our ancestors, are your children. You are our beautiful blue planet, the Great Refreshing Bodhisattva – fragrant and cool, abundant and kind. Despite our many mistakes and shortcomings, every time we come home to you, you are ready to open your arms and embrace us.

Dear Beloved Thay, many times in the past year we have allowed uncertainty to water the seeds of insecurity and fear in our hearts. Our strong emotions and wrong perceptions have overwhelmed us,  giving rise to feelings of helplessness, separation and despair.

Aware of this suffering, we are determined to take refuge in you, Thay, in our practice, and in our Beloved Community. Returning to our mindful breathing and mindful steps, we return to our true home, where we can find peace, clarity and calm. Dwelling in the heart of our community, we can be in touch with the collective energy of stability, helping us recognize and embrace our strong emotions and wrong perceptions.

Dear Mother Earth, as a human family, we have allowed greed and consumerism to prevail. We have been running after status, wealth, power and sensual comforts, forgetting that these things can never bring us true happiness and freedom. We have been so busy trying to cover up the feeling of emptiness inside, that we have not taken  the time or space to stop and ask ourselves what we are doing, or  where we are going. In the process, we have caused great harm to you, dear Mother Earth, destroying your natural richness, beauty and balance.

Aware of this, we are determined to simplify our life, to stop running, and to remember that in the present moment we already have enough conditions to be happy. With the energy of mindfulness and compassion we feel truly fulfilled and content. In the coming year, we are determined to consume less and to live in such a way that is sustainable for ourselves and for you, Mother Earth.

Dear Ancestors, we have allowed our fear and intolerance to divide us as a human family. We have caused suffering to one another, discriminating on the basis of religion, ethnic groups and nations. We have closed our hearts and our borders, out of fear and ignorance. We have forgotten that we are inter-dependent, and that our own happiness and suffering is deeply connected to and dependent on the happiness and suffering of others.

We trust that within us, there is the wisdom of non-discrimination and great compassion, transmitted to us by you, all our spiritual teachers, our ancestors, and by Mother Earth. We are determined to stay on the Path, to keep our hearts open, and to let go of our pride, so that understanding and love can prevail.

As we touch the Earth, we express our gratitude to you, our beloved teacher Thay, to our ancestors, and to Mother Earth. We have found the path of practice and a spiritual family to take refuge in. We have experienced joy, peace and transformation. We have tasted the freedom of letting go of our ideas and notions. We have felt the strength and warmth of brotherhood and sisterhood, and we know that together, we can face our challenges and realise our aspiration. We vow, in this moment, to continue to build our community and to open up the path for ourselves and our descendants.

Dear Thay, Dear Ancestors, Dear Mother Earth, please accept our offerings of incense, flowers, fruit and tea, as a sign of our deep aspiration, respect, gratitude and love.

Lời quán nguyện

1972 – Menton Statement

 

Đại Đồng – một tổ chức vận động bảo hộ môi trường ra đời rất sớm, vào năm 1969, do Thầy Làng Mai và một số thân hữu thành lập với sự bảo trợ của tổ chức FOR (Fellowship of Reconciliation – tiếng Việt là Hội Thân hữu Hòa giải), trụ sở đặt tại Nyack, New York, Hoa Kỳ. Tổ chức bắt đầu bằng một buổi họp tại thành phố Menton, miền Nam nước Pháp, vào tháng 5 năm 1970 của sáu nhà khoa học, trong đó có Conrad A. Istock (Hoa Kỳ), Donald J. Kuenen (Hòa Lan), Pierre Lepine (Pháp), Klaus Meyer-Abich (Đức), Cao Ngọc Phượng (tức Sư cô Chân Không – Việt Nam) và Lawrence Slobodkin (Hoa Kỳ). Thành quả của buổi họp (kéo dài trong bốn ngày) là một bản tuyên cáo về tình trạng môi trường của trái đất, gọi là The Menton Statement, do sáu nhà khoa học kể trên ký tên. Tổ chức FOR do Alfred Hassler lãnh đạo đã gửi bản tuyên cáo này cho các nhà khoa học trên thế giới và sau đó tiếp thu được chữ ký của gần 4000 nhà khoa học từ 29 quốc gia. Một phái đoàn đại diện các nhà khoa học ấy cùng với đại diện tổ chức Đại Đồng đã có một buổi gặp gỡ với Tổng thư ký Liên Hợp Quốc khi ấy là ngài U Thant để đệ trình bản tuyên cáo này. Năm 1972, Liên Hợp Quốc tổ chức một đại hội về môi trường tại thành phố Stockholm. Cùng thời gian đó, Đại Đồng (tiếng Anh là The Community of Men) cũng tổ chức một đại hội về môi trường song song với đại hội của Liên Hợp Quốc để cung cấp một diễn dàn tự do hơn. Đại hội Đại Đồng ở Stockholm khai mạc hôm 1.6.1972 và chấm dứt hôm 6.6.1972, có 31 đại biểu của 24 quốc gia tham dự, trong đó có những nhà khoa học nổi tiếng. Chủ tịch Đại hội là giáo sư Hannes de Graaf của Hòa Lan. Thầy Làng Mai đã có tên trong ban tổ chức Đại hội và đã tham dự với tư cách đại biểu cho Việt Nam. Đại hội này đã ra một Tuyên cáo Độc lập về Môi trường (An Independent Declaration on the Environment) nhằm ảnh hưởng tới đại hội của Liên Hợp Quốc được tổ chức từ ngày 5.6.1972 đến 17.6.1972. Sau đây là nguyên văn của bản tuyên cáo Menton và bản Tuyên cáo Độc lập về Môi trường của Đại Hội Đại Đồng tại Stockholm. Tuy Đại Đồng có tên tiếng Anh là The Community of Men nhưng các bạn trong ban tổ chức chỉ sử dụng danh từ Đại Đồng bằng tiếng Việt bởi vì tư tưởng Đại đồng Thế giới bắt nguồn từ tuệ giác châu Á.

Tuyên bố Menton – nguyên văn bài đăng trên tạp chí Unesco Courier số tháng 7 năm 1971.

Một thông điệp cho 3,5 tỷ người hàng xóm của chúng ta trên hành tinh trái đất từ 2.200 nhà khoa học môi trường

Một thông điệp có chữ ký của 2.200 nhà khoa học từ 23 quốc gia, gửi đến “ba tỷ rưỡi người láng giềng trên hành tinh trái đất”, cảnh báo về “mối nguy hiểm chung chưa từng có” mà nhân loại phải đối mặt, đã được trao cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc U Thant tại một buổi lễ đơn giản ở New York vào ngày 11 tháng 5 năm 1971.

Đối với sáu nhà khoa học nổi tiếng đã trình bày thông điệp (được sao chép đầy đủ trên các trang này), Tổng thư ký tuyên bố:

Tôi tin rằng nhân loại cuối cùng cũng nhận thức được thực tế rằng có một sự cân bằng mong manh của các hiện tượng vật lý và sinh học trên và xung quanh trái đất mà không thể bị xáo trộn một cách thiếu suy nghĩ khi chúng ta chạy đua trên con đường phát triển công nghệ. Mối quan tâm toàn cầu này khi đối mặt với một mối nguy hiểm chung nghiêm trọng, vốn mang mầm mống tuyệt chủng cho loài người, cũng có thể chứng tỏ là lực lượng khó nắm bắt có thể ràng buộc con người lại với nhau. Cuộc chiến sinh tồn của con người chỉ có thể giành chiến thắng bởi tất cả các quốc gia tham gia cùng nhau trong một nỗ lực phối hợp để bảo tồn sự sống trên hành tinh này.

Kể từ khi nó được soạn thảo ban đầu, tại một cuộc họp tại Menton, Pháp, “Thông điệp Menton”, như nó đã được biết đến, đã được lưu hành giữa các nhà sinh vật học và các nhà khoa học môi trường ở Châu Âu, Bắc Mỹ, Châu Phi, Châu Á và Nam Mỹ.

Cuộc họp được triệu tập bởi một phong trào hòa bình xuyên quốc gia mới, tự nguyện, phi chính phủ, được gọi là “Đại Đồng”. Theo nghĩa đen, cái tên này có nghĩa là “một thế giới của sự đoàn kết vĩ đại”, một khái niệm bắt nguồn từ Trung Quốc thời tiền Nho giáo hơn 2.500 năm trước.

Trong số 2.200 người ký Thông điệp Menton có bốn người đoạt giải Nobel (Salvador Luria, Jacques Monod, Albert Szent-Gyorgyi và George Wald), và những cái tên nổi tiếng từ thế giới khoa học như Jean Rostand, Sir Julian Huxley, Thor Heyerdahl, Paul Ehrlich, Margaret Mead, Rene Dumont, Lord Ritchie-Calder, Shutaro Yamamoto, Gerardo Budowski, Enrique Beltran và Mohamed Zaki Barakat.

Mặc dù chúng ta bị chia cắt rộng rãi về mặt địa lý, với các nền văn hóa, ngôn ngữ, thái độ, lòng trung thành chính trị và tôn giáo rất khác nhau, chúng ta được hợp nhất trong thời đại của chúng ta bởi một mối nguy hiểm chung chưa từng có. Mối nguy hiểm này, với bản chất và mức độ mà con người chưa bao giờ phải đối mặt, được sinh ra từ sự hợp lưu của một số hiện tượng. Mỗi người trong số họ sẽ đưa ra cho chúng ta những vấn đề gần như không thể kiểm soát được: cùng nhau chúng không chỉ trình bày xác suất gia tăng lớn về sự đau khổ của con người trong tương lai gần, mà còn là khả năng tuyệt chủng, hoặc tuyệt chủng ảo, của sự sống con người trên trái đất.

Là các nhà khoa học sinh học và môi trường khác, chúng tôi không nói về tính khả thi của các giải pháp cụ thể cho những vấn đề này, nhưng vì niềm tin của chúng tôi rằng các vấn đề tồn tại, mang tính toàn cầu và liên quan đến nhau, và các giải pháp chỉ có thể được tìm thấy nếu chúng ta từ bỏ những lợi ích ích kỷ hạn hẹp để thực hiện một nhu cầu chung.

CÁC VẤN ĐỀ

. Suy thoái môi trường. Chất lượng môi trường của chúng ta đang xấu đi với tốc độ chưa từng có. Nó rõ ràng hơn ở một số nơi trên thế giới so với những nơi khác, và ở những khu vực đó, báo động công cộng đã bắt đầu thể hiện, trong khi ở các khu vực khác, suy thoái môi trường dường như là một hiện tượng xa xôi và không liên quan.

Nhưng chỉ có một môi trường; Điều gì xảy ra với một phần ảnh hưởng đến toàn bộ. Ví dụ được công nhận rộng rãi nhất của quá trình này là sự xâm nhập vào chuỗi thức ăn trên toàn thế giới của các chất độc hại như thủy ngân, chì, cadmium, DDT và các hợp chất hữu cơ clo hóa khác, được tìm thấy trong các mô của chim và các động vật khác cách xa nguồn gốc của chất độc.

Sự cố tràn dầu, rác thải công nghiệp và nước thải các loại đã ảnh hưởng xấu đến gần như tất cả các vùng nước ngọt và ven bờ trên khắp thế giới, cũng như nước thải và chất thải hữu cơ được thải ra với số lượng quá lớn để được chăm sóc bởi các quy trình tái chế thông thường của tự nhiên. Các thành phố bị bao phủ bởi những đám mây khói nặng, và các chất ô nhiễm trong không khí đã giết chết cây cách nguồn của chúng hàng trăm dặm.

Thậm chí đáng báo động hơn nữa là chúng ta tiếp tục mạo hiểm liều lĩnh vào các quy trình và dự án công nghệ mới (ví dụ như vận chuyển siêu thanh và kế hoạch phổ biến các nhà máy điện hạt nhân) mà không tạm dừng để xem xét các tác động lâu dài có thể có của chúng đối với môi trường.

Cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Mặc dù Trái đất và các nguồn tài nguyên của nó là hữu hạn và một phần cạn kiệt, xã hội công nghiệp đang sử dụng hết nhiều tài nguyên không thể tái tạo và quản lý sai các tài nguyên có khả năng tái tạo, và nó khai thác tài nguyên của các quốc gia khác mà không quan tâm đến sự thiếu thốn của dân số hiện tại hoặc nhu cầu của các thế hệ tương lai.

Trái đất đã bắt đầu thiếu một số vật liệu có tầm quan trọng đối với một xã hội công nghệ và các kế hoạch đang được thực hiện để khai thác khoáng sản từ bên dưới các đại dương. Nhưng những nỗ lực như vậy không chỉ đòi hỏi chi phí lớn về tiền bạc và năng lượng (và nhiên liệu sản xuất năng lượng của chúng ta bị hạn chế), mà còn không nên được thực hiện trước khi các nghiên cứu cẩn thận được thực hiện về tác động có thể xảy ra của chúng đối với động vật và thực vật biển, cũng là một phần tài nguyên thiên nhiên của chúng ta và là nguồn thực phẩm giàu protein.

Hầu như tất cả đất nông nghiệp màu mỡ, được tưới nước tốt trên thế giới đã được sử dụng. Tuy nhiên, mỗi năm, đặc biệt là ở các quốc gia công nghiệp hóa, hàng triệu mẫu đất này được lấy ra khỏi canh tác để sử dụng làm khu công nghiệp, đường xá, bãi đậu xe, v.v. Phá rừng, xây đập trên sông, canh tác một vụ, sử dụng thuốc trừ sâu và chất làm rụng lá không kiểm soát, khai thác dải và các hoạt động thiển cận hoặc không hiệu quả khác đã góp phần vào sự mất cân bằng sinh thái đã có tác động thảm khốc ở một số khu vực và trong một thời gian dài có thể ảnh hưởng xấu đến năng suất của các khu vực rộng lớn trên thế giới.

Ngay cả trong hoàn cảnh tốt nhất, Trái đất không thể cung cấp tài nguyên với số lượng đủ để cho phép tất cả mọi người sống ở mức tiêu dùng mà đa số trong các xã hội công nghiệp được hưởng, và sự tương phản giữa lối sống được quyết định bởi nghèo đói cùng cực và những lối sống được cho phép bởi sự giàu có sẽ tiếp tục là nguồn gốc của xung đột và cách mạng.

. Dân số, quá đông đúc và đói. Dân số hiện tại của Trái đất ước tính khoảng 3.500 triệu người, và các tính toán, dựa trên thành công của các chương trình kiểm soát dân số hiện tại, đưa ra con số 6.500 triệu vào năm 2000. Đã có một số dự đoán lạc quan rằng tài nguyên thiên nhiên và công nghệ có thể được phát triển để nuôi, mặc quần áo và chứa dân số lớn hơn nhiều so với điều này.

Tuy nhiên, thực tế trước mắt là có tới hai phần ba dân số thế giới hiện nay đang bị suy dinh dưỡng và mối đe dọa của nạn đói quy mô lớn vẫn còn với chúng ta mặc dù có một số tiến bộ về dinh dưỡng. Ô nhiễm và gián đoạn sinh thái đã ảnh hưởng đến một số nguồn thực phẩm, và thường xuyên những nỗ lực nâng cao tiêu chuẩn dinh dưỡng tự gây ô nhiễm.

Hơn nữa, số liệu dân số là sai lệch, vì họ không tính đến yếu tố tiêu dùng. Người ta ước tính rằng một đứa trẻ sinh ra ở Hoa Kỳ ngày nay sẽ tiêu thụ trong suốt cuộc đời của mình ít nhất hai mươi lần so với một đứa trẻ sinh ra ở Ấn Độ, và đóng góp khoảng năm mươi lần ô nhiễm môi trường. Do đó, về tác động môi trường, các nước công nghiệp hóa nhất cũng là nơi đông dân nhất.

Nhu cầu của con người về không gian và mức độ cô độc, mặc dù khó nói một cách chính xác, là có thật và có thể quan sát được. Chúng ta không chỉ sống bằng bánh mì. Ngay cả khi công nghệ có thể sản xuất đủ thực phẩm tổng hợp cho tất cả mọi người, tình trạng quá tải do dân số ngày càng tăng có thể gây ra thảm họa xã hội và sinh thái.

. Chiến tranh. Trong suốt lịch sử, không có hoạt động nào của con người bị lên án phổ biến và được thực hiện phổ biến như chiến tranh, và nghiên cứu về vũ khí và phương pháp chiến tranh hủy diệt hơn bao giờ hết là không ngừng.

Bây giờ chúng ta đã đạt được vũ khí tối thượng và nhìn thấy tiềm năng của nó, chúng ta đã rút lui khỏi việc sử dụng thêm, nhưng nỗi sợ hãi của chúng ta đã không ngăn cản chúng ta lấp đầy kho vũ khí của mình với đủ đầu đạn hạt nhân để quét sạch tất cả sự sống trên trái đất nhiều lần, hoặc từ các thí nghiệm mù quáng và không chú ý, cả trong phòng thí nghiệm và trên chiến trường, với vũ khí sinh học và hóa học. Nó cũng không ngăn cản chúng ta tham gia vào các cuộc chiến tranh “nhỏ” hoặc các hành động gây hấn có thể dẫn đến chiến tranh hạt nhân.

Ngay cả khi tránh được một cuộc chiến tranh lớn cuối cùng, việc chuẩn bị cho nó sử dụng hết các nguồn lực vật chất và con người đáng lẽ phải được chi tiêu trong nỗ lực tìm cách nuôi sống và cung cấp nhà ở cho những người thiếu thốn trên thế giới và cứu và cải thiện môi trường.

Rõ ràng là không đủ để gán chiến tranh cho sự hiếu chiến tự nhiên của nhân loại khi con người trên thực tế đã thành công trong việc thiết lập tại một số điểm xã hội ổn định và tương đối hòa bình trong các khu vực địa lý hạn chế. Trong thời đại của chúng ta, rõ ràng là sự nguy hiểm của chiến tranh toàn cầu tập trung vào hai điểm:

– Sự bất bình đẳng tồn tại giữa các khu vực công nghiệp hóa và phi công nghiệp hóa trên thế giới, và quyết tâm của hàng triệu người nghèo khó để cải thiện số phận của họ;

Sự cạnh tranh quyền lực và lợi thế kinh tế giữa các quốc gia vô chính phủ không sẵn sàng từ bỏ lợi ích ích kỷ để tạo ra một xã hội bình đẳng hơn.

Nói như vậy, vấn đề dường như gần như không thể giải quyết. Tuy nhiên, nhân loại đã chứng minh các nguồn lực không thể tưởng tượng được về khả năng thích ứng và khả năng phục hồi trong quá khứ và có lẽ phải đối mặt với những gì có thể là thách thức cuối cùng đối với sự sống còn của nó, nó sẽ làm bối rối nỗi sợ hãi của chúng ta một lần nữa.

CÓ THỂ LÀM GÌ?

Phần trên chỉ là một phần liệt kê các vấn đề mà chúng ta phải đối mặt và hầu như không có bất kỳ nỗ lực nào để mô tả nguyên nhân của chúng. Chúng ta thực sự không biết các khía cạnh đầy đủ của các vấn đề của chúng ta hoặc các giải pháp của chúng. Chúng ta biết rằng Trái đất và tất cả cư dân của nó đang gặp rắc rối và các vấn đề của chúng ta sẽ nhân lên nếu chúng ta không quan tâm đến chúng.

Vào những năm 1940, khi quyết định phát triển bom nguyên tử, Hoa Kỳ đã chiếm đoạt 2.000 triệu đô la và đưa các chuyên gia từ khắp nơi trên thế giới đến thực hiện công việc này trong hai năm. Vào những năm 1960, bận tâm với cuộc đua lên mặt trăng, Hoa Kỳ đã chi từ 20.000 đến 40.000 triệu đô la để giành chiến thắng trong cuộc đua, và cả Liên Xô và Hoa Kỳ tiếp tục chi hàng ngàn triệu đô la cho việc thám hiểm không gian.

Chắc chắn nghiên cứu khổng lồ về các vấn đề đe dọa sự tồn tại của nhân loại xứng đáng được ưu tiên cao hơn nghiên cứu nguyên tử hoặc không gian. Nó nên được bắt đầu ngay lập tức trên một quy mô tương tự và với một cảm giác cấp bách thậm chí còn lớn hơn. Nghiên cứu như vậy nên được trả tiền bởi các quốc gia công nghiệp, những quốc gia không chỉ có khả năng tài chính tốt nhất để mang gánh nặng đó, mà chính họ còn là những người sử dụng chính các nguồn tài nguyên và những người gây ô nhiễm chính, mà nó phải được thực hiện bởi những người có trình độ từ tất cả các quốc gia và các ngành nghề khác nhau, không bị trói buộc bởi các chính sách dân tộc chủ nghĩa hạn chế.

Tuy nhiên, vì cuộc khủng hoảng rất cấp bách, chúng tôi kêu gọi thực hiện các hành động sau đây ngay cả khi nghiên cứu đang diễn ra. Chúng tôi không cung cấp những thứ này như thuốc chữa bách bệnh, mà là giữ các hành động để giữ cho tình hình của chúng tôi không xấu đi qua điểm không thể quay trở lại:

Một lệnh cấm đổi mới công nghệ, những tác động mà chúng ta không thể nói trước và không cần thiết cho sự sống còn của con người. Điều này sẽ bao gồm các hệ thống vũ khí mới, vận chuyển sang trọng, thuốc trừ sâu mới và chưa được thử nghiệm, sản xuất nhựa mới, thành lập các dự án điện hạt nhân mới rộng lớn, v.v. Nó cũng sẽ bao gồm các dự án kỹ thuật chưa được nghiên cứu về mặt sinh thái – xây đập trên các con sông lớn, ‘cải tạo’ đất rừng, các dự án khai thác dưới biển, v.v.

Việc áp dụng công nghệ kiểm soát ô nhiễm hiện có để sản xuất năng lượng và cho ngành công nghiệp nói chung, tái chế vật liệu quy mô lớn để làm chậm sự cạn kiệt tài nguyên và thiết lập nhanh chóng các thỏa thuận quốc tế về chất lượng môi trường, có thể được xem xét khi nhu cầu môi trường được biết đến đầy đủ hơn.

Các chương trình tăng cường ở tất cả các khu vực trên thế giới để kiềm chế sự gia tăng dân số, với sự quan tâm đầy đủ đến sự cần thiết phải thực hiện điều này mà không bãi bỏ các quyền dân sự. Điều quan trọng là các chương trình này phải đi kèm với việc giảm mức tiêu thụ của các tầng lớp đặc quyền, và sự phân phối công bằng hơn về thực phẩm và các hàng hóa khác giữa tất cả mọi người phải được phát triển.

Bất kể khó khăn trong việc đạt được thỏa thuận, các quốc gia phải tìm cách xóa bỏ chiến tranh, tháo ngòi nổ vũ khí hạt nhân và phá hủy vũ khí hóa học và sinh học của họ. Hậu quả của một cuộc chiến tranh toàn cầu sẽ là ngay lập tức và không thể đảo ngược, và do đó cũng có trách nhiệm của các cá nhân và nhóm từ chối tham gia vào nghiên cứu hoặc các quá trình có thể, nếu được sử dụng, dẫn đến sự hủy diệt loài người.

Trái đất, dường như rất lớn, bây giờ phải được nhìn thấy trong sự nhỏ bé của nó. Chúng ta sống trong một hệ thống khép kín, hoàn toàn phụ thuộc vào Trái đất và vào nhau cho cuộc sống của chúng ta và của các thế hệ tiếp theo. Do đó, nhiều điều chia rẽ chúng ta ít quan trọng hơn sự phụ thuộc lẫn nhau và nguy hiểm liên kết chúng ta.

Chúng tôi tin rằng đúng theo nghĩa đen là chỉ bằng cách vượt qua sự chia rẽ của chúng tôi, con người mới có thể giữ Trái đất là nhà của họ. Các giải pháp cho các vấn đề thực tế về ô nhiễm, đói khát, quá tải dân số và chiến tranh có thể đơn giản hơn để tìm ra công thức cho nỗ lực chung mà qua đó việc tìm kiếm các giải pháp phải xảy ra, nhưng chúng ta phải bắt đầu.

Các nhà khoa học Menton

CONRAD A. ISTOCK, Hoa K
Giáo sư Sinh học – Đại học Rochester
DONALD J. KUENEN, Hà Lan
Giáo sư Động vật học và Cựu Hiệu trưởng Đại học Leiden
PIERRE LEPINE, Pháp
Chef de Service a L’Institut Pasteur Membre de l’Académie des Sciences
KLAUS MEYER-ABICH, Đức
Nhà vật lý, Max-Planck-Institut zur Erforschung der Lebensbedingungen der Wissenschaftlich-technischen Welt
CAO NGỌC PHƯỢNG, Việt Nam (lưu vong)
Giáo sư Sinh học – Đại học Sài Gòn và Huế
LAWRENCE SLOBODKIN,
Giáo sư Sinh học – Đại học Bang New York tại Stoney Brook

Tuyên cáo Độc lập về Môi trường

TUYÊN BỐ ĐỘC LẬP VỀ MÔI TRƯỜNG

Trong khi các đại biểu từ 114 quốc gia tranh luận về việc liệu họ có nên thảo luận về dự thảo Tuyên bố về Môi trường Con người được chuẩn bị cho hội nghị Liên Hợp Quốc của họ tại Stockholm (5-17 tháng 6 năm 1972), Hội nghị Độc lập về Môi trường của Đại Đồng, cũng tại Stockholm (1-6 tháng 6 năm 1972) đã đưa ra tuyên bố của riêng mình. Ba mươi mốt người tham gia từ 24 quốc gia, hầu hết trong số họ là các nhà khoa học nổi tiếng, đã đưa ra tuyên bố độc lập, trong đó Stockholm Eco đã viết: “Tuyên bố quan trọng này được đưa ra trong khi các đại biểu Liên Hợp Quốc đang tẻ nhạt trong chương trình nghị sự vô tận của họ …” Nó đã được lưu hành rất rộng rãi trên báo chí, đài phát thanh và truyền hình, và đã được đọc bởi giám đốc của Đại Đồng, Alfred Hassler, tại một phiên họp toàn thể của Hội nghị Liên Hợp Quốc vào ngày <> tháng Sáu.

Con người sống như một phần của một hệ thống tự nhiên phức tạp với các khía cạnh của sự phụ thuộc lẫn nhau mà chỉ mới trở nên rõ ràng gần đây. Chúng cũng là một phần của các hệ thống xã hội, kinh tế và chính trị phức tạp mà chính chúng đã tạo ra, thường không đánh giá cao những tác động không thể đoán trước và đôi khi tai hại của các hệ thống như vậy đối với khả năng mang lại sự sống của tự nhiên. Hơn nữa, các hệ thống này chứa đựng những lỗi lầm và mất cân bằng ngăn cản chúng đáp ứng bình đẳng với nhu cầu của tất cả mọi người, nhưng cung cấp cho một thiểu số hàng hóa dồi dào, trong khi khiến phần lớn người dân thế giới rơi vào cảnh nghèo đói và tuyệt vọng.

Sự tương tác giữa các hệ thống xã hội và tự nhiên trên hành tinh này trong thời đại chúng ta đã dẫn đến một cuộc khủng hoảng môi trường, mặc dù nó có thể bắt nguồn phần lớn từ các hoạt động kinh tế của các quốc gia công nghiệp, ảnh hưởng đến mọi người trên trái đất. Nhận thức về cuộc khủng hoảng môi trường đã đến vào thời điểm khi các quốc gia bị tước đoạt và người nghèo và thiếu thốn ở tất cả các quốc gia đang đấu tranh giành quyền lực để kiểm soát vận mệnh của chính họ và khẳng định quyền tham gia đầy đủ vào các vấn đề quốc gia và thế giới. Sự tồn tại của nhân loại đòi hỏi rằng điều kiện của môi trường tự nhiên và nhu cầu của con người phải được coi là những phần liên quan đến nhau của cùng một vấn đề. Điều này sẽ đòi hỏi những thay đổi sâu sắc trong cấu trúc chính trị, kinh tế và xã hội của chúng ta một mặt và mặt khác là lối sống cá nhân của chúng ta, với mục đích không chỉ là sinh tồn, mà còn là sự sống còn với khả năng hoàn thành tối đa của con người. Nó cũng sẽ đòi hỏi các chương trình giáo dục lớn để cho phép mọi người hiểu được sự liên quan lẫn nhau của các vấn đề của thế giới và các loại thay đổi cần được thực hiện. Trong những nỗ lực như vậy, một số nguyên tắc hướng dẫn nhất định phải được tuân theo.

1. Sự sống còn của con người phụ thuộc vào các hoạt động sống của hàng ngàn loài thực vật, động vật và vi sinh vật, và vào các phản ứng vật lý và hóa học phức tạp trong khí quyển, đại dương, nước ngọt và trên đất liền.

Sự bao la và phức tạp của sự phụ thuộc lẫn nhau này gần đây đã trở nên rõ ràng với sự can thiệp ngày càng tăng của con người vào các quá trình mang lại sự sống của hành tinh chúng ta. Tất cả sự sống phụ thuộc vào sự tương tác của vật chất và năng lượng được thực hiện trong hệ sinh thái của trái đất. Đó là những tương tác mà chúng ta đang thay đổi, ngay cả trước khi chúng ta hiểu đầy đủ chúng. Con người trên thế giới phải hiểu chúng, bảo tồn chúng và, khi thay đổi chúng, để làm điều đó với sự cẩn thận và khôn ngoan.

2. Có một xung đột cơ bản giữa các khái niệm truyền thống về tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường.

Trong thế kỷ qua, sự tăng trưởng liên tục không kiểm soát được trong sản xuất công nghiệp các chất và sản phẩm có hại cho môi trường ở một số khu vực trên thế giới đã tạo ra lượng ô nhiễm nguy hiểm và chịu trách nhiệm cho sự lãng phí tài nguyên quá mức. Đồng thời, và sự tập trung ngày càng tăng của quyền lực kinh tế và hoạt động công nghiệp đã dẫn đến sự tập trung hóa trong một số quốc gia về lợi ích từ việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên của trái đất và ảnh hưởng chính trị quốc tế bắt nguồn từ việc kiểm soát các tài nguyên này. Rõ ràng là một sự phân phối năng lượng công nghiệp hợp lý hơn là cần thiết nếu các vấn đề toàn cầu về môi trường và xã hội được giải quyết. Sự tái phân phối như vậy sẽ đồng thời đạt được sự phân bổ công bằng hơn về lợi ích kinh tế và chính trị giữa các quốc gia và cá nhân.

3. Việc khai thác tài nguyên quốc gia và khu vực của Thế giới thứ ba bởi các tập đoàn nước ngoài, với hậu quả là dòng lợi nhuận từ các khu vực bị khai thác, đã dẫn đến sự chênh lệch kinh tế lớn và ngày càng tăng giữa các quốc gia và độc quyền của các nước công nghiệp phát triển về sản xuất, năng lượng, công nghệ, thông tin và quyền lực chính trị.

Bổ sung cho điều này là lũ lụt của các nước đang phát triển với hàng hóa và vốn dư thừa, với kết quả là sự bóp méo nền kinh tế của họ, và sự biến dạng của môi trường của họ thành độc canh vì lợi ích làm giàu hơn nữa cho các quốc gia công nghiệp. Đầu tư nước ngoài, phát triển kinh tế và thực tiễn công nghệ của các quốc gia công nghiệp đó phải được kiềm chế và thay đổi bởi yêu sách cơ bản của người dân trong khu vực để kiểm soát các nguồn tài nguyên của nó. Tuy nhiên, việc sử dụng các nguồn tài nguyên này không nên bị quyết định bởi các tai nạn về địa lý, nhưng phải được phân bổ theo những cách thức để phục vụ nhu cầu của người dân thế giới trong thế hệ này và các thế hệ tương lai. Thẩm quyền của người dân bất kỳ khu vực nào đối với tài nguyên và môi trường phải bao gồm nghĩa vụ thừa nhận rằng môi trường là một tổng thể không thể chia cắt, không chịu các rào cản chính trị. Môi trường phải được bảo vệ khỏi ô nhiễm, phá hủy và khai thác có thể tránh được từ mọi nguồn.

4. Rõ ràng là sự gia tăng dân số của con người không thể tiếp tục vô thời hạn trong một môi trường hữu hạn với tài nguyên hữu hạn. Đồng thời, dân số là một trong một số yếu tố, không ai trong số đó về lâu dài là quan trọng nhất hoặc quyết định nhất trong việc ảnh hưởng đến môi trường của con người.

Trên thực tế, câu hỏi về dân số về bản chất không thể tách rời khỏi câu hỏi tiếp cận tài nguyên. Một sự cải thiện thực sự trong điều kiện sống của người dân các nước đang phát triển sẽ đi xa hơn trong việc ổn định tăng trưởng dân số so với các chương trình kiểm soát dân số. Dân số không phải là một vấn đề đơn lẻ, mà là một vấn đề có mối tương quan phức tạp với môi trường xã hội, kinh tế và tự nhiên của con người. Quy mô dân số có thể quá nhỏ hoặc quá lớn tại bất kỳ thời điểm cụ thể nào tùy thuộc vào sự sẵn có của tài nguyên thiên nhiên và những căng thẳng đối với môi trường. Nguyên tắc sinh thái liên quan đến vai trò của dân số được áp dụng như nhau cho quần thể người và động vật. Tuy nhiên, trong dân số loài người, tổ chức xã hội là như vậy để thay đổi hoặc sửa đổi nguyên tắc này.

Trên phạm vi toàn cầu, các vấn đề dân số của các nước đang phát triển trùng hợp với sự bành trướng thuộc địa trong hai thế kỷ qua và loại trừ dân số Thế giới thứ ba khỏi quyền truy cập đầy đủ vào tài nguyên của chính họ. Quá trình khai thác kinh tế này vẫn tiếp tục bất chấp sự độc lập danh nghĩa của nhiều thuộc địa và phụ thuộc cũ khác nhau. Trong khi đó, liên minh giữa giới tinh hoa kinh tế ở các nước đang phát triển và lợi ích công nghiệp ở các nước đô thị khiến người dân Thế giới thứ ba không thể sử dụng tài nguyên của họ để đáp ứng nhu cầu của chính họ. Việc phân phối lại tài nguyên của chúng ta ở cấp độ toàn cầu là điều kiện tiên quyết vô điều kiện để sửa chữa quá trình lịch sử này.

Chừng nào các nguồn tài nguyên còn bị lãng phí, như chúng rõ ràng là, thật là lừa dối khi mô tả sự gia tăng dân số như thể đây là nguồn gốc của mọi tệ nạn. Rõ ràng có một sự nhầm lẫn trong tâm trí của nhiều người giữa quá đông đúc và dân số, nhưng thực tế là một số khu vực đô thị phát triển như ung thư không nên là cái cớ để chuyển hướng sự chú ý khỏi nhiệm vụ thực sự của thế hệ chúng ta, đó là đạt được sự quản lý hợp lý tài nguyên và không gian. Những quốc gia chịu trách nhiệm chính về tình trạng này chắc chắn không có quyền đề xuất các chính sách ổn định dân số cho những người đói trên thế giới.

Cần lưu ý rằng, đối với các nước phát triển kinh tế, sự kết hợp giữa sự gia tăng tiêu dùng công nghiệp bình quân đầu người với dân số ổn định, hoặc tiêu dùng ổn định trên đầu người với dân số ngày càng tăng, sẽ dẫn đến cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm hơn nữa. Điều này không cần phải đúng nếu những thay đổi kinh tế xã hội thích hợp sẽ dẫn đến một mô hình sản xuất và tiêu dùng hợp lý về mặt sinh thái được thực hiện.

5. Phát triển kinh tế dưới bất kỳ hình thức nào sẽ đòi hỏi công nghệ.

Nhiều công nghệ thông thường và nhiều sản phẩm sinh sôi nảy nở của nó đã được chứng minh là có hại về mặt sinh thái. Chúng ta không thể từ chối công nghệ nhưng chúng ta phải tái cấu trúc và định hướng lại nó. Các công nghệ âm thanh sinh thái sẽ giảm thiểu căng thẳng cho môi trường. Một sự phát triển nhanh chóng của cách tiếp cận mới nên được bổ sung bởi một hệ thống giám sát và đánh giá công nghệ để đảm bảo rằng bất kỳ công nghệ mới nào cũng tương thích về mặt sinh thái và sẽ được sử dụng cho sự sống còn và hoàn thành của con người. Việc thêm các thiết bị chống ô nhiễm vào các công nghệ hiện có là không đủ, mặc dù đây có thể là giai đoạn ban đầu của việc loại bỏ các công nghệ gây ô nhiễm hiện tại.

6. Văn hóa của các quốc gia công nghiệp phản ánh hệ tư tưởng chính trị và kinh tế của họ, và dựa trên sự tích lũy ngày càng tăng của hàng hóa vật chất và sự phụ thuộc không phê phán vào công nghệ để giải quyết các vấn đề của nhân loại.

Hệ tư tưởng này, trong đó yếu tố đạo đức là một chiều kích bị lãng quên, đang lan rộng khắp thế giới; Sự chấp nhận của nó sẽ không chỉ gây ra sự thất vọng và thất vọng của cá nhân và quốc gia, mà còn làm cho các chính sách kinh tế và môi trường hợp lý không thể thực hiện được. Sự gia tăng phúc lợi kinh tế sẽ giúp các quốc gia thiếu thốn bảo tồn các di sản văn hóa và tinh thần của chính họ, nhưng nhiều người ở các nước công nghiệp, phải đối mặt với việc giảm tài sản vật chất, sẽ cần tìm ra những định nghĩa mới về tiến bộ trong các giá trị tương thích với phúc lợi môi trường và xã hội.

7. Trong số những vấn đề quan trọng nhất cấu thành và hiện hữu và mối đe dọa gia tăng đối với sự sống còn của con người là chiến tranh.

Ngay cả ngoài chi phí khổng lồ về sự đau khổ của con người mà tất cả các hình thức chiến tranh đòi hỏi, chi tiêu vũ khí đặt một gánh nặng kinh tế quá lớn lên các quốc gia giàu và nghèo, và một gánh nặng lớn như nhau đối với môi trường. Công nghệ quân sự, là một phần lớn của hoạt động công nghiệp, đặc biệt là ở các nước phát triển kinh tế, là nguyên nhân chính gây ô nhiễm toàn cầu và cạn kiệt tài nguyên. Do đó, chiến tranh và chuẩn bị cho chiến tranh đều liên quan trực tiếp đến các vấn đề môi trường. Với sự phổ biến vũ khí hạt nhân, cả dân sự và quân sự, mối nguy hiểm môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng, kiểm soát vũ khí khó khăn hơn và chiến tranh hạt nhân có nhiều khả năng xảy ra hơn. Các khoản tiền khổng lồ được tiêu thụ trong chi tiêu quân sự phải được áp dụng trực tiếp cho nhiệm vụ tái phân phối toàn cầu và cải thiện môi trường. Chừng nào chúng ta còn chịu đựng sự lãng phí và sự tàn phá của chính chiến tranh, chúng ta không thể đạt được môi trường ổn định mà sự sống còn của tất cả chúng ta phụ thuộc vào.

Tuy nhiên, quyết tâm xóa bỏ chiến tranh phải đi kèm với sự thừa nhận quyền đấu tranh của các dân tộc, và sự chắc chắn rằng họ sẽ đấu tranh, để giải phóng mình khỏi các hệ thống quốc gia và quốc tế đàn áp họ. Những người tha thiết nhất tìm cách chấm dứt chiến tranh phải khẳng định tình liên đới của họ với đồng loại của họ tham gia vào một cuộc đấu tranh như vậy, đồng thời nhấn mạnh vào sự cần thiết phải phát triển các phương pháp bất bạo động hiệu quả để giải quyết các xung đột xã hội và quốc tế của một thế giới có nguy cơ chiến tranh hủy diệt.

* *

NHỮNG NGƯỜI THAM GIA HỘI NGHỊ VÀ NHỮNG NGƯỜI KÝ TUYÊN BỐ
SAMIR AMIN, Giám đốc SenegalViện Châu Phi de Développement Economique et de Planification, Dakar
MOHAMED ZAKI BARAKAT, U.A.R.
Khoa Y, Đại học AzharCairo
HEINRICH CARSTENSĐức
Chủ tịch, Ủy ban Tư vấn Thế giới Bạn 
* DONALD ALFRED CHANT, Canada
Chủ tịch, Khoa Động vật học, Đại học Toronto
MOHAMMED AHSEN CHAUDHRI, Pakistan
Trưởng khoa, Khoa Quan hệ Quốc tế, Đại học Karachi
DORA OBI CHIZBA, Nigeria
Chủ tịch, Hiệp hội Môi trường Châu Phi 
JERZY CHODAN, Ba Lan
Trưởng phòng, Cao đẳng Nông nghiệp, Olsztyn
* PURUSHOTTAM JAIKRISHNA DEORAS, Ấn Độ
Giáo sư, Viện Haffkine, Bombay
PETER DOHRN, Ý
Thư ký, Hiệp hội Địa Trung Hải Sinh học-Hải dương học biển
YUSUF ALI BRAJ, Kenya
Cựu Chủ tịchHiệp hội Kế hoạch hóa Gia đình
* M. TAGHI FARVAR, Trung tâm Sinh học Hệ thống Tự nhiên Iran, Đại học Washington, St. Louis
ANDRE FAUSSURIER, Pháp
Giám đốc, Centre de Reflexion et D’Etudes Scientifiques sure l’Environnement, Lyon
GONZALO FERNOS, Puerto Rico
Chủ tịchỦy ban Chất lượng Môi trường, Đại học Kiến trúc sư và Khảo sát 
*NICHOLA GEORGECU-ROEGEN, HOA KỲ
Giáo sư Kinh tế, Đại học Vanderbilt
THIỀN SƯ THÍCH NHẤT HẠNH, Việt Nam (lưu vong)
Nhà sư, nhà thơ, nhà giáo dục Phật giáo
*BENGT HUBENDICK, Thụy Điển
Giám đốc, Naturhistoriska Museet, Goteberg
*JAIME HURTUBIA, Chile
Giáo sư, Viện de Ecologia, Đại học Austral de Chile 
CONRAD ALAN ISTOCK, Hoa Kỳ
Giáo sư, Khoa Sinh học, Đại học Rochester
* FRED HAROLD KNEIMAN, Giáo sư Canada, Khoa Khoa học Nhân văn, Đại học Sir George Williams, Montreal
SATISH KUMAR, Nhà văn Ấn Độ
. Người sáng lập Trường Bất bạo động Luân Đôn
*JURGEN SCHUTT MOGRO, Bolivia (lưu vong)
Cựu giáo sư, Đại học La Paz
JEAN MUSSARD, Thụy Sĩ
Nguyên Giám đốc, Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường Con người

* Một số đại biểu đã bao gồm với sự ủng hộ của họ đối với Tuyên bố nói chung một số tiêu chuẩn cụ thể mà họ có tại một số điểm nhất định:

ĐIỂM IV. M.Taghi Farvar, Jurgen Schutt Mogro, Jurgenne Primavera, và Jaime Hurtubia đã ký Tuyên bố theo cách diễn đạt lại câu đầu tiên của Điểm IV như sau:

Dân số không phải là yếu tố quan trọng nhất hoặc quyết định nhất ảnh hưởng đến môi trường của con người, mặc dù rõ ràng là sự gia tăng dân số của con người không thể tiếp tục vô thời hạn trong một môi trường hữu hạn với tài nguyên hữu hạn.

ĐIỂM IV. Nicholas Georgescu-Roegen, P.J. Deoras, Bengt Hubendick, Donald A. Chant, Henry Regier và Fred Knelman đã ký Tuyên bố theo chú thích sau:

Trong một số phần của tài liệu này, các vấn đề môi trường đã trở nên phần lớn chìm trong các tuyên bố có liên quan hơn ở một trong một số hoặc cực ý thức hệ. Một cuộc tranh cãi hiện nay, liên quan đến thước đo định lượng có ý nghĩa được gắn vào thời điểm này với các khía cạnh khác nhau của ‘yếu tố dân số’ so với các yếu tố quan trọng khác, đã gây nhầm lẫn cho vấn đề. Những khác biệt gây ra cuộc tranh cãi khoa học tự chúng không liên quan trực tiếp đến điểm chúng ta đưa ra ở đây: Ở nhiều nơi và vào những thời điểm khác nhau, “vấn đề dân số” đã trở nên hoặc sẽ trở nên nghiêm trọng, đi trước hoặc theo sau kịp thời bởi các yếu tố quan trọng khác không liên quan chặt chẽ đến yếu tố dân số.

ĐIỂM VII. Nicholas Georgescu-Roegen, Donald A. Chant, và Henry Regier đã ký tên theo cách diễn đạt lại sau đây của đoạn cuối cùng của Điểm VII:

Những người tha thiết nhất tìm cách chấm dứt chiến tranh kêu gọi các quốc gia đang đàn áp hoặc trong tương lai có thể đàn áp các quốc gia hoặc khu vực khác về quân sự, kinh tế hoặc chính trị của họ từ bỏ các hành động như vậy. Họ cũng kêu gọi những người hiện tại hoặc trong tương lai sẽ là đối tượng áp bức kiềm chế bạo lực và hành động để vạch trần kẻ xâm lược và từ chối anh ta khả năng viện dẫn cái cớ tự vệ và, do đó, tiếp tục hoặc gây ra các cuộc chiến tranh mới.

Draft Call for Ecology Responsibilities – New York Times

STOCKHOLM, June 6—The concept that countries have new international responsibilities toward each other for actions affecting the environment received strong support today as the United Nations environmental conference got down to its first full day of business.

The concept, embodied in draft declaration that the 112‐nation conference is considering, was endorsed in turn by spokesmen for Canada, the United. States and Sweden and tacitly approved by a number of other speakers.

But in presenting the Swedish position, Premier Olof Palme, who has long been critic of United States policy in Vietnam, also raised the Vietnam issue by charging that “ecological warfare” was being waged in Southeast Asia.

Without mentioning the United.States by name, Mr. Palme said:

“The immense destruction brought about by indisoriminate bombing, by large‐scale use of bulldozers and herbicides is an ‘outrage sometimes described as ecocide, which requires urgent international attention. It is shocking that only preliminary discussions of this matter have been possible so far in the United Nations.”

Mr. Palme asked that the United Nations Conference on the Human Environment “unequivocally proclaim” that the large‐scale channelling of resources into armaments should be stopped.

Russell E. Train, chairman of the United States delegation and of the Federal Council of Environmental Quality, said of the draft declaration on the environment:

“In particular we support its important provisions concerning the responsibility of states for environmental damage and the obligation of states to supply information on planned activities that might injure the environment of others.”

Rival Declaration Issued

Meanwhile, a rival declaration on the environment, this one signed by 29 natural and social scientists from 24 countries, was issued today by one of the unofficial environmental forums being held here simultaneously with the United Nations conference.

The declaration, presented by the Dai Dong Interdependent Conference on the Environment, attributes the environmental crisis to an “interaction between the social and natural systems on this planet.” Dai Dong, a peace movement organized by the Fellowship of Reconciliation, is to present its statement before the United Nations conference on Thursday.

Unlike the United Nations draft, the Dai Dong declaration insists that “there is a fundamental conflict between traditional concepts of economic growth and the preservation of the environment.”

It calls for “a technology review and surveillance system to assure that any new technology is ecologically compatible and will be used for human survival and fulfillment.”

At the United Nations conference, the richer countries were criticized at committee sessions, a Tanzanian delegate, for example, complaining that the preparatory material did not “strike a proper balance” between concerns of developed and developing nations.

An Iranian suggested that the affluence of the advanced nations was at the bottom of global environmental troubles. An Algerian said the poor nations were entitled to ‘reparations” for the inroads the industrialized countries have made on world resources.

However, a more dominant theme, voiced most Strongly by the advanced nations but also by others, was that sound economic development and environmental quality were not only compatible but inextricable.

“We are learning that it is far less costly and more effective to build the necessary environmental quality into new plants and new communities from the outset than it is to rebuild or modify old facilities,”

Mr. Train told the conference. “The time to do the job of environmental protection is at the outset, not later. This holds true for every country at every state of development.”

India’s Minister for Planning, Shri C. Subramaniam, referring to his country as “povertystricken,” said that nevertheless the world situation “calls for collaborative research on technologies to avoid industrial pollution in the first instance.”