Quán niệm trước buổi họp

(Một phép thực tập ở Làng Mai, được vị chủ tọa đọc lên trước các buổi họp chúng hay các buổi họp giáo thọ để đại chúng cùng thực tập trong suốt buổi họp)

Lạy Bụt, lạy Tổ, chúng con xin nguyện họp buổi họp hôm nay trong tinh thần Ý Hòa Đồng Duyệt và Kiến Hòa Đồng Giải. Nguyện sử dụng ái ngữ và đế thính để buổi họp đưa lại kết quả tốt đẹp nhất làm phẩm vật cúng dường Tam Bảo. Chúng con nguyện không ngần ngại chia sẻ cái thấy và tuệ giác của chúng con, nhưng chúng con cũng nguyện sẽ không mở lời nếu chúng con nhận thấy trong tâm còn có tâm hành bực bội. Chúng con quyết tâm không để cho sự căng thẳng xảy ra trong buổi họp, và lỡ nếu trong số chúng con có người nhận thấy có sự căng thẳng, chúng con xin lập tức ngừng lại để sám hối tại chỗ và trả lại cho đại chúng không khí Ý Hòa Đồng Duyệt.

Là một dòng chảy

Lời quán niệm trước các buổi họp và soi sáng

Khi nhìn anh (chi, em) tôi thấy anh là một dòng chảy mà không thấy một cái ngã riêng biệt để trách móc hay để khen ngợi. Nhìn vào anh tôi thấy tổ tiên, dòng họ, cha mẹ, đất nước và văn hóa của anh, những cái hay cái đẹp và những cái còn chưa được hay, chưa được đẹp. Anh là một biểu hiện nhiệm màu, một bông hoa trong vườn hoa nhân loại. Tôi thấy, tôi trân quý sự có mặt của anh. Và tôi cũng mong anh thấy tôi là một dòng chảy, không phải một cái ngã riêng biệt để trách móc, chê bai hay tán dương khen ngợi. Chúng ta được làm anh chị em của nhau trong tăng thân này, vì vậy tôi có anh trong tôi và anh có tôi trong anh. Chúng ta phải nâng đỡ nhau, khuyến khích nhau làm lớn những cái hay cái đẹp và chuyển hóa những cái chưa hay chưa đẹp. Nếu tôi có nói điều gì để giúp anh chuyển hóa đó không phải là một sự trách móc mà là một ước mong. Nhìn vào tôi, anh cũng thấy những cái vụng về, không toàn hảo nơi tôi và nếu anh có nói điều gì với tôi thì đó cũng không phải là sự chê bai hay trách móc mà chỉ là một ước mong cho tôi chuyển hóa. Anh chuyển hóa thì tôi có hạnh phúc thêm và tôi có chuyển hóa thì anh có hạnh phúc thêm. Chúng ta nâng nỡ nhau trên con đường thực tập. Chúng ta cần nhau. Tôi rất trân quý sự có mặt của anh trong tăng thân này.

 

Contemplations before a Meeting or a Shining Light Session

When I look at you, I see you as a flowing stream and not a separate self to reproach or to praise. Looking into you, I see your ancestors, your lineage, your parents, your homeland, your culture, the things that are great and beautiful, and the things that are not yet great and beautiful. You are a wonderful manifestation, a flower in the garden of humanity. I am aware of your presence and I cherish your presence. I also hope that you see me as a flowing stream, and not a separate self to reproach, to criticize or to praise. We are brothers and sisters of each other in this Sangha. Therefore, I have you in me and you have me in you. We must support and encourage each other to cultivate further the things that are great and beautiful in us, and to transform those that are not yet so great and beautiful. If I said something to help you transform, it is not a reproach but it is my hope for you. Looking into me, you also see the things that are unskillful and imperfect, and if you said something to me, it is not a criticism or a reproach, but it is only a hope for me to transform. When you transform, I can be happier, and when I transform, you can be happier. We support one another on the path of practice. We need each other. I deeply cherish your presence in our community.

Quán niệm trước khi ăn

Bụt dạy ta khi ăn nên duy trì chánh niệm, tắt đài phát thanh NST (*) trong đầu để tiếp xúc sâu sắc với thức ăn và Tăng thân bao quanh mà đừng suy nghĩ vẩn vơ về chuyện quá khứ hoặc tương lai, bên này hay bên kia. Ăn như thế nào để có an lạc, thảnh thơi và tình huynh đệ trong khi ăn.

 

Đại chúng nghe tiếng chuông xin nhiếp tâm thực tập năm quán:

1. Thức ăn này là tặng phẩm của đất, trời, của muôn loài và công phu lao tác.

2. Xin nguyện ăn trong chánh niệm và với lòng biết ơn để xứng đáng thọ nhận thức ăn này.

3. Khi ăn, xin nhớ nhận diện và chuyển hóa những tâm hành xấu, nhất là tật ăn uống không có chừng mực.

4. Xin nguyện ăn như thế nào để giảm thiểu khổ đau của muôn loài, bảo hộ được trái đất và chấm dứt những nguyên nhân gây biến đổi khí hậu bất thường.

5. Vì muốn xây dựng tăng thân, nuôi dưỡng tình huynh đệ và chí nguyện độ đời nên chúng con xin thọ nhận thức ăn này.

(*) NST là chữ viết tắt của "Non-StopThinking": suy nghĩ liên miên không ngừng

Thi kệ dùng trong các bữa cơm

Nhìn bát không
Tay nâng chiếc bát không
Tôi biết rằng trưa nay
Tôi có đủ may mắn
Để có bát cơm đầy.

(Chữ bát có thể được thay bằng chữ đĩa, hoặc chén, hoặc tô tùy theo trường hợp. Chữ trưa có thể được thay bằng chữ chiều.
Bài thi kệ này giúp ta quán chiếu về thực trạng thiếu ăn trên thế giới và trên quê hương.)

Nâng bát đầy
Tay nâng bát cơm đầy
Tôi thấy rõ vạn vật
Đang dang tay góp mặt
Để cùng nuôi dưỡng tôi.

(Bài thi kệ này giúp ta quán chiếu về nguyên lý duyên sinh qua hình ảnh thực phẩm và giúp ta thấy được sự sống của ta tùy thuộc vào sự sống của mọi loài.)

Ngồi xuống
Ngồi đây ngồi cội Bồ Đề
Vững thân chánh niệm
Không hề lãng xao.

(Bài thi kệ này cũng như một lời tự hứa là sẽ giữ được chánh niệm trong suốt bữa ăn.)

Quán tưởng
Vạn vật tranh sống
Trên trái đất này
Nguyện cho tất cả
Có bát cơm đầy.

(Bài thi kệ này giúp ta nuôi dưỡng lòng từ bi đối với những kẻ thiếu may mắn.)

Nâng bát cơm lên
Ai ơi nâng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.

(Bài thi kệ này giúp ta thấy được công trình của người nông dân và hàng chục ngàn trẻ em vì thiếu ăn mà chết mỗi ngày.)

Ăn bốn muỗng đầu
Muỗng thứ nhất, nguyện hiến tặng niềm vui.
Muỗng thứ hai, nguyện làm vơi nỗi khổ.
Muỗng thứ ba, nguyện giữ lòng hoan hỷ.
Muỗng thứ tư, nguyện học hạnh đối xử bình đẳng, không kỳ thị và loại trừ.

(Bài thi kệ này, được kéo dài trong thời gian bốn miếng ăn đầu của bữa ăn, giúp ta ôn lại tứ vô lượng tâm (từ, bi, hỷ, xả) tức là bốn hạnh lớn của Bụt và Bồ Tát, hoặc bốn cảnh an trú đẹp đẽ nhất. Chữ muỗng có thể thay thế bằng chữ  đũa hoặc thìa hoặc miếng.)

Ăn cơm
Ăn cơm nơi tích môn
Nuôi sống cả tổ tiên
Mở đường cho con cháu
Cùng tìm hướng đi lên.

Ăn cơm
Ăn cơm nơi tích môn
Nhai đều như nhịp thở
Nhiệm mầu ta nuôi nhau
Từ bi nguyền cứu độ.

Nhìn bát cơm đã sạch thức ăn
Bát cơm đã vơi
Bụng đã no rồi
Bốn ơn xin nhớ
Nguyện sẽ đền bồi.

(Chữ bát có thể đổi thành chữ đĩa. Bài thi kệ này nhắc ta bốn ơn lớn: ơn cha mẹ, ơn sư trưởng, ơn bằng hữu và ơn mọi loài động vật, thực vật và khoáng chất.)

Tưởng niệm Sư Tổ Thanh Quý – Chân Thật

Xuất gia tuổi nhỏ
Đến đi thong dong
Thể chất hoan hỷ
Hình dáng kiêm cung
Tâm bi hiển lộ
Lượng từ bao dung
Cao siêu mật hạnh
Vô úy đại hùng
Gậy trúc chống xuống
Đạo tổ hưng sùng
Cháu con bảo hộ
Sáng chói tông phong

Kính bạch Sư Cố! Với tất cả lòng biết ơn, chúng con xin hướng về Người.

Thở vào, con biết là Sư Cố đang có mặt đó trong dòng sinh mạng tâm linh của chúng con.
Thở ra, con cảm thấy rất ấm áp và hạnh phúc.

Chúng con đã vân tập về đây, để có mặt cho nhau và tập nhận diện sự có mặt của Người trong mỗi chúng con, trong từng hơi thở bình an, trong thế ngồi vững chãi và nụ cười tha thứ bao dung.

Kính thưa Sư Cố! Cả cuộc đời của Người là một mùa xuân rất ấm áp và bình an. Luôn hiến tặng đến cho mọi người cái tình thương vô úy. Những đức hạnh ấy đã thấm vào lòng người, trong mỗi học trò của Người. Những hạt giống tốt lành đó đã đi vào đất, bay theo gió khắp mọi nơi. Để rồi khi mùa xuân về chúng con lại có dịp trở về nguồn cội, thăm lại mảnh vườn xưa.

Chúng con đang có mặt đây và đang tập tiếp xúc với Người. Sư Cố luôn dành một tình thương to lớn; chia sẻ sự có mặt của mình đến với những người học trò yêu quý. Cứ mỗi khi đại chúng làm việc, thì Sư Cố cũng mang nón, chống gậy đi thăm hết nhóm này, nhóm kia. Có khi Người cũng dừng lại và làm việc chung với các chú, các điệu. Có một lần đó, đang cuốc đất với các chú sau vườn, trời nắng làm cho ai cũng mệt, Sư Cố dừng lại một chút, đưa tay quẹt mồ hôi trên trán, rồi nhìn các sư chú mà nói:

– Chắc chết rồi thì mới hết mệt, phải không con?

Các sư chú mỉm cười, rồi mấy thầy trò tiếp tục cuốc đất. Một lúc nữa, Người dừng lại, đưa mắt về một sư chú trẻ và hỏi:

Nhưng chết rồi thì ai hết mệt?

Câu nói tuy đơn sơ, nhưng vô hình đã thẩm thấu và đào xới mảnh vườn tâm, khơi nguồn cho dòng suối tuệ giác nơi những người học trò.

Có lần khác, một sư chú làm thị giả cho Người vì sơ ý cho nên đóng cửa không được nhẹ nhàng cho lắm, Sư Cố liền nói:

Con hãy đi đến đó, rồi mở cửa và đóng lại thêm một lần nữa. Lần này thì nhớ đóng cho đàng hoàng hơn.

Sư chú đi đến, đặt bàn tay cẩn trọng lên liếp cửa và nhẹ nhàng đóng lại. Sư chú đâu có biết rằng đó là chánh niệm. Nhưng một điều mà sư chú biết chắc rằng, đây là sự sống của sư chú, là công phu tu tập hằng ngày. Bàn tay mà Sư Cố đã trao truyền ngày xưa ấy, hôm nay chúng con vẫn đang được tiếp nối. Chúng con thấy mình cũng là một với sư chú kia, hàng ngày vẫn thường luôn thất niệm, nhưng nhờ bàn tay của Bụt, của Sư Cố mà chúng con đang mở dần cánh cửa của thực tại, để được sống thảnh thơi trong từng giây phút của sự sống hàng ngày. Người không có một bài pháp thoại nào để lại cho chúng con, nhưng những lời dạy ấy lại là những bài thuyết pháp bất diệt, nhẹ nhàng mà sâu lắng.

Kính bạch Sư Cố! Tuy Người đã lớn tuổi, nhưng Người vẫn cảm thấy thích thú tự tay làm lấy những công việc hàng ngày. Hồi đó chưa có máy giặt, cũng chẳng có nước máy. Những bộ đồ được thay ra, Người đã xếp lại rất đẹp và gọn gàng, làm cho các sư chú thị giả không biết đó là đồ dơ. Đợi đến trưa, khi mọi người đã đi ngủ hết, Sư Cố lặng lẽ một mình đi xuống suối và tự tay giặt lấy. Người làm việc ấy trong niềm vui và tự do của mình. Công việc tuy đơn giản mà khó làm biết bao.

Còn một câu chuyện khác mà Sư Thúc – một người học trò yêu quý của Người, đã kể cho chúng con nghe, khi chúng con được ở bên cạnh Người. Có lần đó, Sư Cố được mời dùng cơm trong một đại giới đàn, Người từ chối vì không phải trong hàng Tam sư nhưng vì mâm cơm đã dọn sẵn bốn cái chén, cho nên cuối cùng Người bị mời dùng cơm chung với ba vị Hòa thượng khác. Có lẽ đây là đại giới đàn ở Huế, vì trên mâm cơm có một vài đĩa bánh lọc và bánh nậm. Sư Cố dáng người nhỏ con, Người lặng lẽ bóc từng chiếc bánh ra ăn và sau đó gấp lại những chiếc lá chuối, đặt chúng trên một cái đĩa đã hết thức ăn. Trong khi đó thì các vị khác không làm như vậy, như muốn để cho các điệu được ăn mày công đức dọn dẹp. Nhưng cái hình ảnh nhẹ nhàng ấy của Sư Cố đã đi vào trong lòng các vị và các chú thị giả trưa hôm ấy làm cho ai cũng mến phục đức tính khiêm cung nơi Sư Cố. Cả một đời, Người chẳng muốn làm phiền lòng ai, dù là việc rất nhỏ mà vốn dĩ Người không cần phải làm.

Kính bạch Sư Cố! Lại một mùa xuân nữa lại về và chúng con lại có dịp quây quần bên nhau, ôn lại những kỷ niệm đẹp về Người. Để rồi từ đây, trên bước đường tu học hình bóng người luôn mãi trong trái tim của chúng con.

Xin cho chúng con đem hết lòng hướng về Sư Cố với tất cả niềm biết ơn của chúng con.

Xin Sư Tổ chứng minh cho tấm lòng thành của chúng con.

Những bài có liên quan:

Tưởng nhớ Sư Tổ Thanh Quý Chân Thật (trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai): https://langmai.org/cong-tam-quan/thong-tin-sinh-hoat/sinh-hoat-nam-2014/tuong-nho-su-to-thanh-quy-chan-that

Sư Cố Thanh Quý Chân Thật (Sư Thúc Chí Mậu chia sẻ) : https://langmai.org/tang-kinh-cac/la-thu-lang-mai/la-thu-lang-mai-28-2005-1/su-co-thanh-quy-chan-that

Một lòng hướng về Sư Tổ Nhất Định

(Khai sơn Tổ Đình Từ Hiếu – Huế)

Kính bạch Sư Tổ! Chúng con đang tập tiếp xúc với Người qua hình ảnh một bậc thầy già chốn núi rừng Dương Xuân. Một túp liều tranh, một bà mẹ già và với ba người đệ tử. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhất của Sư Tổ. Người có thời gian chăm sóc mẹ già và trao truyền những hoa trái tu học cho những người học trò yêu quý.

Xuất thân từ làng Trung Kiên – một vùng đất Phật giáo ở Quảng Trị, Sư Tổ  đã đến chùa Thiên Thọ (Báo Quốc) núi Hàm Long – Huế, để xuất gia học đạo với Thiền sư Phổ Tịnh, lúc đó Người chỉ mới lên bảy tuổi. Đến năm 30 tuổi, nhận thấy nơi Sư Tổ có chí khí của một bậc Xuất trần nên Sư Tổ được Bổn sư phú pháp truyền đăng với bài kệ:

Nhất Định chiếu quang minh
Hư không nguyệt mãn viên
Tổ tổ truyền phú chúc
Đạo Minh kế Tánh Thiên.

Từ đây, bước chân của Sư Tổ đã in dấu ấn trên khắp vùng đất Cố Đô. Đi đến đâu Người cũng  gieo xuống những hạt giống hiểu biết, thương yêu, vững chãi và thảnh thơi trên mảnh đất nhân tâm. Từ những ngôi làng quê cho đến chốn kinh thành, các vua quan lúc ấy nhờ thấm nhuần ân đức của Sư Tổ mà muôn dân được an bình. Cũng do đó mà vua Minh Mạng đã mời Sư Tổ giữ chức Tăng Cang  Giác Hoàng Quốc Tự. Tăng Cang là người có khả năng làm khuôn thước đạo đức cho đạo cũng như đời. Với đạo đức và uy phong của Sư Tổ, Người thực sự là một vị Thầy tâm linh, làm chổ nương tựa cho vua dân chốn Thần Kinh lúc bấy giờ. Giáo lý mà Người trao truyền, vì vậy đã mang đậm dấu ấn nhập thế, không chỉ dừng lại ở chốn Thiền môn mà đã đi vào các lĩnh vực khác của cuộc sống.

Năm 1843, sau khi thôi làm Tăng Cang Giác Hoàng Quốc Tự và trao quyền điều hành chùa Báo Quốc cho pháp đệ là Hòa Thượng Nhất Niệm, Người một mình, một bát vân du đến núi Dương Xuân, dựng am tranh bên một con suối nhỏ, lấy tên  là An Dưỡng Am. Sư Tổ đã đưa mẹ mình cùng với ba người đệ tử về đây cùng tu tập, hằng ngày cuốc đất trồng rau, vui nếp sống thanh bần. Lúc ấy, Sư Tổ đã đến tuổi lục tuần, nhưng Người vẫn làm bổn phận của một người con hiếu đối với người mẹ già tám mươi tuổi. Một hôm, mẹ của Người ốm nặng và thầy thuốc nói rằng, cụ bà cần phải tẩm bổ thì mới mong qua khỏi. Sư Tổ đã chẳng ngần ngại, chống gậy xuống núi, đến chợ Bến Ngự mua một con cá thật to, mặc những lời thị phi hai bên đường, Người ung dung xách trên tay đem về nấu cháo dâng mẹ. Tiếng đồn vang đến Vua Thiệu Trị, vua không chịu được, liền tức tốc lên Thảo Am của Người để tìm hiểu thật hư, khi vừa đến Thảo Am thì đúng lúc Sư Tổ đang dâng bát cháo cá cho mẹ. Vua hiểu ra được mọi điều và niềm cảm phục nơi vua lại tăng lên bội phần. Công việc đó Người có thể nhờ một học trò cư sĩ của mình làm được, nhưng không, Người đã tự mình làm chuyện đó, để rồi câu chuyện cứ lan truyền trong nhân gian làm cảm hóa không biết bao nhiêu người.

Tuy người ở chốn thâm sơn nhưng đạo phong của Người vẫn còn đó, cho nên các vua quan và học trò của Người vẫn thường lên thăm. Đường đi thật khó khăn, từ Kinh thành Huế lên thảo am của Người chỉ có năm cây số, vậy mà phải mất nữa ngày đường mới tới nơi. Có lúc các vua quan ngỏ ý muốn xây một ngôi chùa cúng dường Sư Tổ nhưng Người đã nói: “Nếu muốn ở chùa thì tôi đã ở Giác Hoàng Quốc Tự, ở Chùa Báo Quốc rồi, đâu cần phải lên đây dựng thảo am làm chi”. Có những lúc khác, thấy Người túng thiếu, các quan lại có ý muốn cúng dường thì Người nói rằng, Người đã có ba người học trò cuốc đất trồng rau, đủ sống qua ngày rồi, chẳng cần chi thêm nữa. Dạ! Đúng rồi thưa Sư Tổ, một người vô sự thì đâu cần tìm cầu chi nữa. Niềm vui của Người là được chơi với mẹ già và trao truyền trái tim của mình cho những người đệ tử. Chúng con cảm thấy thật may mắn, khi các thế hệ Tổ sư đi qua đã tiếp nối được Người một cách xứng đáng và để cho hôm nay chúng con được nương tựa.

Kính bạch Sư Tổ! Chúng con thấy là chúng con cũng đã có mặt một lần cùng với Người, khi Người đặt bước chân đầu tiên đến núi Dương Xuân. Chúng con cũng đã có mặt trong những người học trò của Người và hằng ngày cùng cuốc đất trồng rau với Người. Chúng con cũng đã có mặt với Người khi Người xuống núi làm một người vô sự, và bây giờ đây, Người cũng có mặt với chúng con trong giờ phút hiện tại, trong mỗi hơi thở, mỗi nụ cười và mỗi bước chân vững chãi của chúng con. Thảo am ngày xưa ấy, đã khơi nguồn cho dòng suối cam lộ chảy mãi cho đến hôm nay. Chúng con thật hạnh phúc khi biết rằng, giờ đây con cháu của Sư Tổ đã có mặt khắp mọi nơi. Đi đến đâu chúng con cũng đang tiếp nối công việc của Sư Tổ, là gieo xuống mảnh đất tâm của mọi người những hạt giống hiểu biết, thương yêu, vững chãi, thảnh thơi mà chúng con đã được tiếp nhận từ thầy tổ, và chúng con cũng ý thức là Người cũng đang làm công việc đó với chúng con trong giờ phút hiện tại.

Kính bạch Sư Tổ! Chúng con cảm thấy lòng mình thật ấm áp, khi được ngồi đây và nói lên được lòng biết ơn của chúng con đến với Người. Xin Sư Tổ luôn có mặt đó và bảo hộ, che chở cho chúng con.

Nam mô Khai sơn chùa Từ Hiếu Sư Tổ Nhất Định chứng minh.

————————

Sư Ông Làng Mai chia sẻ về công hạnh của Tổ Nhất Định

(Trích từ Pháp Thoại của Sư ông Làng Mai, ngày 14.12.2006 tại Xóm Thượng, chùa Pháp Vân, Làng Mai, khóa an cư kết đông)

Khi đọc lại tiểu sử của Tổ Nhất Định, người khai sinh ra chùa Từ Hiếu, mình thấy có một điểm son. Điểm son của Tổ Nhất Định không phải là Ngài được làm Tăng Cang nhiều chùa Vua. Điểm son của Ngài không Phải là Giới Đao Độ Điệp, được Vua và các quan sùng kính, rồi được làm trụ trì hết chùa này đến chùa kia. Điểm son của Tổ Nhất Định là đến độ tuổi suýt soát sáu mươi thì Ngài cương quyết thoát ra. Ngài đã tìm cách xin với Vua trả hết tất cả những ngôi chùa kia để về núi Dương Xuân, dựng một am tranh ở một mình, với người mẹ. Một người được trọng vọng, được cung kính, có nhiều lợi lộc, quyền danh như vậy, mà chỉ trong vòng một niệm là buông bỏ được, thoát ra được. Đó là điểm son của Tổ Nhất Định.

Cố nhiên là lên đồi Dương Xuân, Ngài chỉ cất một cái am tranh thôi. Ngài đi với hai người đệ tử, hai thầy trẻ mới thọ đại giới. Ba thầy trò cuốc đất trồng khoai. Hồi đó, ở xung quanh chùa Từ Hiếu hoang vu lắm, không phải như bây giờ. Có nhiều vị quan trong triều đình nhớ Ngài và tìm lên. Thấy Ngài sống cực khổ quá, họ thấy tội nghiệp. Trong khi đó, Ngài hạnh phúc quá chừng. Chưa bao giờ Ngài hạnh phúc như vậy. Tại vì Ngài đã buông bỏ tất cả. Ngài được sống một mình với hai người đệ tử, cuốc đất trồng khoai và được sống với người mẹ “chuối ba hương, xôi nếp một, đường mía lau”. Các quan xin với Ngài để lập chùa cho “có tiện nghi”. Ngài nói: “Thôi thôi, tiện nghi thì tôi có quá nhiều rồi. Chính tôi đi kiếm cái này”. Và Ngài cương quyết không cho các quan lên lập chùa. Cúng dường cái gì Ngài cũng trả lại hết. Điểm son của Tổ Nhất Định là chuyện đó. Và mình, con cháu Từ Hiếu, phải hãnh diện là mình có một vị thầy như vậy: Buông bỏ công danh, phú quý, địa vị dễ dàng như buông bỏ một đôi dép cùn. Cái đó là điểm son của Ngài, chứ không phải là làu thông tam tạng Kinh điển, hay những chức vị và sự sùng kính của Vua và các quan. Đến ngày giỗ Tổ, để xưng tán công hạnh của Tổ thì phải nói điểm đó.

Các bài có liên quan:

– Thông bạch kỉ niệm 150 năm khai sơn tổ đình Từ Hiếu >>

Cảm niệm Sơ Tổ Thiền Tông Việt Nam

 

Cảm niệm Sơ Tổ Thiền Tông Việt Nam
Thiền sư Khương Tăng Hội

Lặng lẽ một mình
Đó là khí chất
Tâm không bận bịu
Tình không vướng mắc
Đêm đen soi đường
Lay người thức giấc
Vượt cao, đi xa
Thoát ngoài cõi tục.(1)

 

 

Kính bạch Sư tổ! Chúng con đang có mặt cho Sư tổ đây. Chúng con cảm thấy rất hạnh phúc và ấm áp khi được ngồi đây và nhớ nghĩ đến công hạnh của Sư tổ. Người đã sống cách xa chúng con gần hai nghìn năm, vậy mà mỗi khi lạy xuống chúng con vẫn thấy Sư tổ có mặt trong dòng sinh mạng tâm linh của chúng con.

Trong bài tựa kinh An Ban Thủ Ý, Sư tổ đã dạy rằng: “An Ban là đại thừa của các vị Bụt dùng để cứu độ chúng sanh.” Kính bạch Sư tổ, chúng con cảm thấy là chúng con đang thở được hơi thở của Người. Khi đem sự thực tập về Quán Niệm Hơi Thở chia sẻ cho mọi người, chúng con đã giúp được cho rất nhiều người tìm lại được cuộc sống đích thực, mà bấy lâu họ đã đánh mất. Chúng con thấy Sư tổ là một người lái thuyền rất vững chãi, đang cùng ngồi chơi với chúng con và cùng chèo một mái chèo với chúng con.

Kính bạch Sư tổ! Người là một bông hoa rất đẹp, mang trong mình hai dòng văn hóa. Cha là người nước Khương Cư (Bắc Ấn) và mẹ là người Việt. Nhưng tiếc thay, mới hơn mười tuổi Người đã mất cả song thân. Mang nặng nỗi đau khi phải sống thân phận mồ côi. Nhưng nhờ có duyên lành, Người đã tìm đến cửa Bụt để nương tựa, và có ai biết được rằng, chú tiểu đó sau này đã trở thành một bậc thầy lỗi lạc, không những là một niềm kính ngưỡng cho dân Việt mà còn cho cả vua dân Đông Ngô lúc bấy giờ.

Khi còn là một Thầy tu trẻ, Sư tổ là một mẫu người xuất gia lý tưởng ở Luy Lâu. Ngoài Phật học, Người còn rất giỏi về ngoại giáo, như Nho học, Lão học, đồ vĩ, thiên văn, địa lý..v.v. Với tài năng, nhiệt huyết và công phu tu tập, Người đã làm cho trung tâm Luy lâu trở nên phồn thịnh, một nơi đã khơi nguồn mạch sống tâm linh cho nước Việt. Sư tổ còn là người đem thiền tập nguyên thỉ về tắm mát trong dòng chảy đại thừa, làm giàu thêm gia tài tâm linh đạo Bụt. Cũng nhờ đó, mà ngày hôm nay, chúng con gặt hái được nhiều hoa trái trong công phu tu tập. Những hoa trái đó, chúng con kính dâng lên Sư tổ như một lời biết ơn của chúng con.

Kính bạch Sư tổ! Mang trong mình một hoài bão lớn, của một bậc Xuất trần Thượng sĩ có chí hướng đại thừa, Người đã một mình, một bát đi lên miền Bắc, không ngại khó khăn, gian khổ, Người quyết đem ánh sáng đến những nơi còn tối tăm. Người như đang nắm vững mái chèo trong tay và không còn lo sợ bất kỳ một cơn dông bão nào. Khi đến được Kiến Nghiệp – kinh đô nước Ngô, thì đây là lần đầu tiên người ta thấy được hình ảnh của người xuất sĩ. Trải qua những khó khăn của văn hóa, tôn giáo, chính trị, nhưng cuối cùng người đã gây được sự cảm mến và kính phục cho vua con nước Ngô, là Tôn Quyền và Tôn Hạo. Dưới sự hoằng pháp của Sư tổ, người Ngô đã được phép xuất gia, từ đây đạo Bụt đã bắt đầu cắm rễ ở Đông Ngô, làm nền tảng cho Phật giáo phát triển ở Trung Hoa sau này.

Kính bạch Sư tổ! Nhớ nghĩ đến công hạnh của Sư tổ, chúng con không biết làm sao để nói hết lòng cảm phục của chúng con đối với Người. Từ một chú bé mồ côi, Sư tổ đã trở thành một bậc thầy tâm linh lỗi lạc cho cả hai nước Việt, Hoa. Chúng con ngày hôm nay đang tiếp tục đi trên con đường mà Sư tổ đã dày công khai sáng. Cúi xin Sư tổ luôn bảo hộ và che chở cho chúng con.

Nam mô Sơ tổ Thiền tông Việt Nam Thiền sư Khương Tăng Hội chứng minh.

Một vài nét về Tiểu sử và công hạnh của Tổ Tăng Hội

Thiền sư Tăng Hội là Tổ sư của Thiền tông Việt Nam. Thân phụ của thầy là người Khương Cư (Sogdiane, Bắc Ấn), mẹ thầy là người Việt. Khi thầy mới hơn mười tuổi thì cả cha và mẹ đều qua đời. Sau tang lễ, thầy xuất gia và tu học rất tinh tiến.

Thầy Tăng Hội là một mẫu người lý tưởng cho giới xuất gia thời đó, bởi vì ngoài Phật học, thầy còn tinh thông Nho học, Lão học và những khoa học khác như đồ vỹ, thiên văn, địa lý, v.v.

Thầy đã thiết lập đạo tràng, huấn luyện đồ chúng và phiên dịch kinh điển tại Giao Chỉ. Tại đây, thầy Tăng Hội đã viết bài tựa cho Kinh An Ban Thủ Ý, cũng như biên tập Lục Độ Tập Kinh. Trung tâm hành đạo của thầy có thể đã được thiết lập ở chùa Diên Ứng, còn gọi là chùa Dâu hay chùa Pháp Vân, ở thủ phủ Luy Lâu, tức phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh ngày nay.

Thầy Tăng Hội đã sử dụng những kinh căn bản về thiền tập như kinh Quán Niệm Hơi Thở và đã dạy cho mọi người thực tập những kinh điển nguyên thỉ về thiền theo phương thức thực tập của đại thừa. Nội dung thực tập mà thầy Tăng Hội dạy là phép an ban thủ ý. An ban thủ ý là phép quán niệm hơi thở, và hơi thở được thực tập chung với bốn lĩnh vực quán niệm là tứ niệm xứ.

Không những là Sơ Tổ của Thiền tông Việt Nam, thiền sư Tăng Hội còn là người đầu tiên đem thiền học phát huy ở Trung Hoa, vì vậy thầy cũng là Thiền tổ của Trung Hoa. Khoảng giữa thế kỉ thứ 3, thầy đã sang nước Ngô để dạy thiền. Trong Cao Tăng Truyện có ghi rõ là khi thầy Tăng Hội sang nước Ngô thì bên đó chưa có tăng sĩ Phật giáo. Chính thầy Tăng Hội đã tổ chức đàn truyền giới đầu tiên cho những người Ngô trở thành những vị xuất gia đầu tiên. Ngôi chùa mà thầy Tăng Hội thành lập có tên chùa Kiến Sơ – ngôi chùa đầu tiên, tại Kiến Nghiệp, kinh đô nước Ngô.

Sự nghiệp của thiền sư Tăng Hội rất lớn lao. Nhờ vào những trước tác của thầy, ta biết được hành tướng của sự thực tập thiền tại trung tâm Luy Lâu (Việt Nam) và tại trung tâm Kiến Nghiệp (Trung Quốc) ngày xưa. Tư tưởng Thiền của thầy Tăng Hội là tư tưởng thiền Đại Thừa, đi tiên phong cho cả tư tưởng Hoa Nghiêm và Duy Thức. Tuy nhiên, thiền pháp của thiền sư Tăng Hội rất thực tiễn, không hề để thiền giả bay bỗng trong vòm trời lý thuyết. Căn bản của thiền pháp này vẫn là sự thực tập hơi thở ý thức và pháp quán chiếu về bốn lĩnh vực hiện hữu gọi là tứ niệm xứ và các pháp quán tưởng căn bản đã được nêu ra trong các thiền kinh nguyên thỉ.

_____________________
(1) Đây là bài kệ của Tôn Xước-một trí thức trong hoàng gia Đông Ngô ca ngợi Sư tổ.

Các bài liên quan khác:

– Nhạc Thiền sư Khương Tăng Hội >>
– Thông bạch của Thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh về thiền sư Khương Tăng Hội >>
– Sách Thiền sư Tăng Hội >>
– Sách Việt Nam Phật giáo sử luận >>
– Dịch và chú giải Kinh Quán Niệm Hơi Thở >>

Khấn nguyện chúc tán tổ sư

Chúng con, tăng thân xuất gia, hôm nay vào ngày giỗ sư tổ ………..đã tập họp tại chùa……. (thôn……., xã…….., quận….., tỉnh….., nước Việt Nam), kính cẩn trình diện trước tổ đường với tất cả lòng dạ chí thành của chúng con, cúi xin các thế hệ tổ sư của chúng con từ bi chứng giám:

Chúng con ý thức được cây có cội, nước có nguồn; chúng con biết Bụt và các thế hệ tổ sư là cội nguồn của chúng con và chúng con là sự tiếp nối của liệt vị. Chúng con nguyện tiếp nhận tuệ giác, từ bi và an lạc mà Bụt và chư tổ đã trao truyền; nguyện nắm giữ và bồi đắp không ngừng gia tài tâm linh quý giá ấy. Chúng con nguyện tiếp tục thực hiện chí nguyện độ sanh của liệt vị, nguyện chuyển hóa những khổ đau trong chúng con, giúp đượcngười đương thời chuyển hóa những khổ đau của họ và mở ra cho các thế hệ tương lai những pháp môn thích hợp có khả năng giúp họ đem đạo Bụt áp dụng được vào trong mọi lãnh vực của sự sống. Chúng con nguyện thực tập để sống an lạc ngay trong giờ phút hiện tại, để nuôi dưỡng chất liệu vững chãi và thảnh thơi trong chúng con và để giúp được những người chung quanh.

Chúng con nguyện nhìn nhận nhau là anh chị em trong một gia đình tâm linh, bởi vì chúng con biết rằng tất cả chúng con đều là con cháu của liệt vị. Chúng con nguyện sẽ chăm sóc cho nhau, thấy được những khó khăn và khổ đau của nhau để hiểu, để thương và để giúp nhau trong công trình chuyển hóa. Chúng con xin hứa sẽ tập sử dụng các hạnh ái ngữ và lắng nghe để nuôi dưỡng tình huynh đệ trong tăng thân, nguyện chấp nhận sự soi sáng của tăng thân để nhận diện những khả năng cũng như những yếu kém của mình mà vun trồng hoặc chuyển hóa, nguyện xóa bỏ mọi hiềm hận để có thể nương vào nhau mà đi trên con đường thành tựu đạo nghiệp.

Chúng con biết chỉ khi nào chúng con làm được như thế thì chúng con mới xứng đáng là con cháu của Bụt và của liệt vị tổ sư.
Chúng con cúi xin Sư Tổ cùng tất cả liệt vị tổ sư từ bi chứng minh cho tâm thành kính và hiếu thảo của chúng con như phẩm vật quý giá nhất của sự cúng dường trong ngày giỗ tổ. (lạy ba lạy) (C)

Lạy nhau đầu năm

Lời quán nguyện lễ lạy nhau đầu năm
(Thực tập của chúng xuất sĩ tại Làng Mai vào buổi sáng ngày mồng một tết nguyên đán)


Đảnh lễ Đức Quan Âm

Chúng tôi là những người nam xuất gia, là những vị Tỳ Khưu, là những Sa di, có người còn đáng tuổi để làm con quý vị, có người còn đáng tuổi làm em trai quý vị, có người đã đáng tuổi làm anh của quý vị, lại có người đã đáng tuổi làm cha của quý vị. Tuy nhiên trong mỗi người của chúng tôi đều có bóng dáng của Bồ Tát Phổ Hiền đại sĩ, bởi vì chúng tôi là đệ tử của Bồ Tát Phổ Hiền đại sĩ và là sự tiếp nối của Phổ Hiền đại sĩ. Chúng tôi muốn lạy xuống trước quý vị, những người nữ xuất gia, những vị Tỳ Khưu ni, những vị Thức Xoa Ma Na, những vị Sa di ni, trong quý vị có những người đáng tuổi làm mẹ chúng tôi, có những người đáng tuổi làm chị chúng tôi, lại có những người đáng tuổi làm em gái chúng tôi hoặc làm con gái chúng tôi. Tuy nhiên chúng tôi biết trong mỗi quý vị đều có bóng dáng của Bồ Tát Quan Âm đại sĩ, bởi vì quý vị đều là đệ tử của Bồ Tát Quan Âm đại sĩ và là sự tiếp nối của Quan Âm đại sĩ. Chúng tôi là con của Bụt và đệ tử của Thầy; quý vị cũng đều là con của Bụt và đệ tử của Thầy. Vì vậy chúng tôi và quý vị đều là con một nhà, và ba cái lạy cung kính này là để chúng tôi tự nhắc nhở chúng tôi và cũng để nhắc nhở quý vị về sự thật ấy. Chúng ta phải nhớ xem nhau như anh chị em ruột thịt một nhà và phải bảo vệ cho nhau để tất cả mọi người trong chúng ta đều có thể sống trọn vẹn được suốt đời cuộc sống đẹp đẽ và có ý nghĩa của một người xuất gia. Chúng tôi nguyện ngày đêm tự bảo hộ cho chúng tôi và cũng là để bảo hộ cho quý vị, bằng giới luật và bằng uy nghi mà chúng tôi đã tiếp nhận được từ Bụt và từ Thầy.Và chúng tôi cũng cầu mong là quý vị cũng phát nguyện ngày đêm tự bảo hộ cho quý vị và bảo hộ cho chúng tôi bằng sự hành trì những giới luật và những uy nghi mà quý vị đã tiếp nhận. Lạy Bụt, lạy Tổ, lạy Thầy chứng minh cho ước nguyện cao cả của chúng tôi trong giờ phút chúng tôi chí thành lạy xuống ba lần trước quý vị, và trước Đức Quan Âm đại sĩ có mặt trong mỗi quý vị. (Chuông)


Đảnh lễ Đức Phổ Hiền

Chúng tôi là những người nữ xuất gia, là những vị Tỳ Khưu ni, là những Thức Xoa Ma Na, là những Sa di ni, có người còn đáng tuổi làm con gái của quý vị, có người còn đáng tuổi làm em gái quý vị, nhưng cũng có người đã đáng tuổi làm chị của quý vị, lại có người đã đáng tuổi làm mẹ của quý vị. Tuy nhiên trong mỗi người chúng tôi đều có bóng dáng của Bồ Tát Quan Âm đại sĩ, bởi vì chúng tôi là đệ tử của Bồ Tát Quan Âm đại sĩ và là sự tiếp nối của Quan Âm đại sĩ. Chúng tôi muốn lạy xuống trước quý vị, những người nam xuất gia, những vị Tỳ Khưu, những vị Sa di, trong quý vị có những người đã đáng tuổi làm cha chúng tôi, có những người đáng tuổi làm anh chúng tôi, lại có những người đáng tuổi làm em trai chúng tôi và những người mới đáng tuổi làm con trai chúng tôi. Tuy nhiên chúng tôi biết trong mỗi quý vị đều có bóng dáng của Bồ Tát Phổ Hiền đại sĩ, bởi vì quý vị đều là đệ tử của Bồ Tát Phổ Hiền đại sĩ và là sự tiếp nối của Phổ Hiền đại sĩ. Chúng tôi là con của Bụt và đệ tử của Thầy; quý vị cũng đều là con của Bụt và đệ tử của Thầy. Vì vậy chúng tôi và quý vị đều là con một nhà, và ba cái lạy cung kính này là để chúng tôi tự nhắc nhở chúng tôi và cũng để nhắc nhở quý vị về sự thật ấy. Chúng ta phải nhớ xem nhau như anh chị em ruột thịt một nhà và phải bảo vệ cho nhau để tất cả mọi người trong chúng ta đều có thể sống trọn vẹn được suốt đời cuộc sống đẹp đẽ và có ý nghĩa của một người xuất gia. Chúng tôi nguyện ngày đêm tự bảo hộ cho chúng tôi và cũng là để bảo hộ cho quý vị, bằng giới luật và bằng uy nghi mà chúng tôi đã tiếp nhận được từ Bụt và từ Thầy.Và chúng tôi cũng cầu mong là quý vị cũng phát nguyện ngày đêm tự bảo hộ cho quý vị và bảo hộ cho chúng tôi bằng sự hành trì những giới luật và những uy nghi mà quý vị đã tiếp nhận. Lạy Bụt, lạy Tổ, lạy Thầy chứng minh cho ước nguyện cao cả của chúng tôi trong giờ phút chúng tôi chí thành lạy xuống ba lần trước quý vị, và trước Đức Phổ Hiền đại sĩ có mặt trong mỗi quý vị. (Chuông)


Lời khấn nguyện đầu năm

(Mỗi năm vào giờ đón Giao Thừa mừng năm mới, đại chúng ba xóm bốn chùa Làng Mai lại vân tập về thiền đường (năm nay kính mời quý vị thân hữu về thiền đường Xóm Mới). Khi thời khắc giao thừa vừa điểm, ba hồi chuông trống bát nhã sẽ vang lên. Tiếng chuông trống kết thúc, các thầy, các sư cô đại diện của bốn chùa cung kính lên trước bàn thờ Bụt, bàn thờ Tổ và đọc Lời Khấn Nguyện Đầu Năm bằng ba thứ tiếng: Tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Việt.)


LỜI KHẤN NGUYỆN ĐẦU NĂM

Kính lạy chư vị Tổ tiên tâm linh và huyết thống của chúng con.

Thở vào, chúng con ý thức là chư vị đang có mặt trong chúng con. Chư vị chưa bao giờ bỏ chúng con, và chúng con luôn luôn mang chư vị mà đi về tương lai. Chúng con biết rằng trong quá khứ, chúng con đã dại dột gây ra bao nhiêu lầm lỗi. Chúng con đã tạo ra chia rẽ, hận thù, khổ đau, cô đơn và tuyệt vọng. Chúng con đã để cho tập khí chủ nghĩa cá nhân lộng hành và tàn phá. Chúng con đã thấy được rằng danh vọng, tiền tài, quyền lực và tư dục đã không đem lại hạnh phúc chân thực cho chúng con. Chúng con đã thấy được rằng chỉ có lòng thương yêu và sự hiểu biết mới đem lại một ý nghĩa cho sự sống và chúng con phải tập sống với nhau như một dòng sông trong tăng thân thì con cháu chúng con mới có được một tương lai sáng đẹp trên trái đất này.

Giờ phút mà chúng con tập họp lại đây trước bàn thờ chư vị, chúng con kính cẩn phát nguyện là bắt đầu từ năm Tân Mão, 2011, chúng con sẽ tập sống thật hài hòa và an vui trong phạm vi gia đình và tăng thân của chúng con, như những con ong cùng sống chung trong một tổ ong hay những tế bào của cùng một cơ thể. Chúng con hứa là chúng con sẽ học hỏi thái độ cởi mở để có thể truyền thông được dễ dàng với những thành phần khác trong gia đình và trong tăng thân chúng con, luôn luôn tập hạnh lắng nghe và ái ngữ. Chúng con nguyện tập lắng nghe chư vị, cũng như chúng con sẽ tập lắng nghe anh chị em, bằng hữu và con cháu của chúng con, để chúng con có thể sống hài hòa và hạnh phúc với nhau. Chúng con nguyện sẽ tập thấy hạnh phúc của tăng thân là hạnh phúc của chính mình. Chúng con biết đây là cách thức duy nhất để bảo đảm cho con cháu của chúng con một tương lai trên trái đất. Trong giờ phút linh thiêng khởi sự cho năm mới, chúng con trân trọng và thành kính hứa với chư vị là chúng con sẽ tập thở có chánh niệm, tập đi có chánh niệm, tập nói năng có chánh niệm, tập nhìn bằng con mắt của tăng thân và nghe bằng tai của tăng thân, tập sống đơn giản trở lại, tiêu thụ ít trở lại và tập thương theo tinh thần từ bi và không kỳ thị. Chúng con đã tha thứ được cho nhau, đã hòa giải được với nhau trước khi đến đây trình diện với chư vị trên bàn thờ Tổ tiên của chúng con. Xin chư vị chứng giám lòng thành của chúng con và luôn luôn phù hộ cho chúng con và cho các cháu. Chúng con nguyện thực tập cho chư vị và cho cả con cháu của chúng con để hòa bình, an lạc và thương yêu có mặt trở lại trên thế gian này. Chúng con kính dâng hương hoa, quả phẩm, lòng hiếu thảo của chúng con, và xin lạy xuống trước chư vị bốn lạy.

Lời khấn nguyện đầu năm

Năm Mới 2016.Lời khấn nguyện

Kính lạy Thầy,
Kính lạy chư vị Tổ tiên tâm linh và huyết thống của chúng con,
Kính lạy Đất Mẹ – Bồ Tát Thanh Lương Đại Địa,

Trong giờ phút linh thiêng khởi sự cho Năm Mới, chúng con tập hợp lại đây như một gia đình tâm linh để cùng dâng lên Thầy, dâng lên Đất Mẹ và chư vị tổ tiên lòng biết ơn và nguyện ước sâu sắc của chúng con. Chúng con cũng xin thành tâm sám hối những lầm lỗi mà chúng con đã gây ra trong năm qua.

Chúng con ý thức chư vị tổ tiên đang có mặt trong chúng con và là nơi nương tựa vững chãi cho tất cả chúng con. Chúng con cũng ý thức rằng Thầy đang có mặt với chúng con trong giờ phút này.

Chúng con xin lạy xuống để tiếp xúc với Đất Mẹ. Chúng con và tổ tiên của chúng con đều là con của Mẹ. Mẹ là Bồ Tát Thanh Lương Đại Địa, là hành tinh xanh xinh đẹp và mát lành của chúng con. Chúng con biết rằng dù chúng con và tổ tiên của chúng con đã gây ra bao lầm lỗi, chúng con vẫn được Mẹ tha thứ. Và mỗi lần chúng con trở về với Mẹ là Mẹ lại đưa vòng tay từ mẫu ôm lấy chúng con vào lòng.

Kính lạy Thầy, chúng con xin được sám hối với Thầy: Trong năm qua, chúng con đã để cho sự hoang mang tưới tẩm hạt giống bất an và sợ hãi nơi chúng con. Nhiều khi chúng con đã để cho cảm xúc mạnh và những tri giác sai lầm trấn ngự, khiến chúng con cảm thấy cô đơn, xa cách và tuyệt vọng. Ý thức được điều đó, chúng con xin nguyện trở về nương tựa nơi Thầy, nơi pháp môn tu học và tăng thân yêu quý của chúng con. Chúng con biết rằng chỉ cần trở về với hơi thở và bước chân chánh niệm là chúng con có thể trở về với ngôi nhà đích thực – nơi chúng con có thể tìm thấy sự sáng tỏ và bình an cho chính mình. Chúng con cũng ý thức rằng bằng cách an trú trong tăng thân, chúng con có thể tiếp xúc được với năng lượng vững chãi của tăng thân. Năng lượng đó có thể giúp chúng con nhận diện và ôm ấp những cảm thọ và tri giác sai lầm của mình.

Kính lạy Đất Mẹ, chúng con xin sám hối với Mẹ là loài người chúng con đã để cho tham dục và chủ nghĩa tiêu thụ nhấn chìm. Chúng con đã chạy theo danh vọng, tiền tài, quyền lực và tư dục mà quên rằng những thứ ấy không bao giờ có thể đem lại cho chúng con tự do và hạnh phúc chân thực. Chúng con đã quá bận rộn để tìm cách khỏa lấp cảm giác cô đơn, trống trải trong lòng mà không có thì giờ để nhìn lại và tự hỏi: mình đang làm gì? mình đang đi đâu, về đâu?  Trong quá trình rong ruổi, tìm cầu đó, chúng con đã gây cho Mẹ nhiều khổ đau, đã tàn hoại vẻ đẹp tự nhiên và sự cân bằng của Mẹ.

Ý thức được điều đó, chúng con xin tập sống đơn giản, dừng lại những rong ruổi, tìm cầu và luôn nhớ rằng chúng con đã có đủ những điều kiện để sống hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Với năng lượng chánh niệm và từ bi, chúng con có thể thực sự hạnh phúc và mãn nguyện với những gì mình đang có. Trong năm mới này, chúng con xin nguyện giảm tiêu thụ và nguyện sống như thế nào để có thể nuôi dưỡng sự lành mạnh và bền vững cho chính chúng con và cho Đất Mẹ.

Kính lạy tổ tiên, chúng con xin sám hối vì đã tạo ra sự chia rẽ giữa những người anh em trong gia đình nhân loại do sự sự hãi và thiếu bao dung gây ra. Chúng con đã gây khổ đau cho nhau vì sự phân biệt, kỳ thị dựa trên tôn giáo, sắc tộc và quốc gia. Vì vô minh và sợ hãi, chúng con đã đóng cửa trái tim mình và đóng cửa biên giới đối với những người anh em đến từ các quốc gia khác. Chúng con quên rằng giữa chúng con có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau. Hạnh phúc và khổ đau của chúng con cũng là hạnh phúc và khổ đau của những người anh em và ngược lại.

Chúng con tin rằng trong tự thân chúng con có hạt giống từ bi và trí tuệ vô phân biệt mà tổ tiên và Đất Mẹ đã trao truyền cho chúng con. Chúng con xin nguyện tiếp tục đi trên con đường tu tập, mở rộng trái tim mình và buông bỏ sự tự hào để cho hiểu biết và thương yêu có cơ hội lớn lên trong chúng con.

Chúng con xin lạy xuống để thể hiện lòng biết ơn của chúng con đối với Thầy, với chư vị tổ tiên và với Đất Mẹ. Chúng con vô cùng biết ơn vì chúng con đã tìm được con đường tu tập và tìm được một gia đình tâm linh để nương tựa. Chúng con đã nếm được niềm vui, sự bình an và chuyển hóa trên con đường tu tập, cũng như nếm được sự tự do khi buông bỏ những ý niệm của mình. Chúng con cũng cảm nhận được sức mạnh và sự ấm áp của tình huynh đệ. Vì vậy, chúng con ý thức rằng cùng với nhau, chúng con có thể đối diện được mọi khó khăn, thử thách và thực hiện được ước nguyện của mình. Trong giờ phút này, chúng con kính cẩn phát nguyện là chúng con sẽ tiếp tục xây dựng tăng thân, mở rộng con đường cho chúng con và cho các thế hệ mai sau.

Chúng con kính dâng lên chư vị hương hoa, quả phẩm cùng lòng hiếu thảo của chúng con. Xin Thầy, xin Đất Mẹ và chư vị tổ tiên tin tưởng ở chúng con.

New Year Prayer to Mother Earth and All Our Ancestors

Dear Beloved Thay,
Dear Beloved Ancestors,
Dear Beloved Mother Earth,

We have gathered as a fourfold sangha in this solemn moment of the New Year to express our gratitude and aspiration as a spiritual family, and to begin anew. We know that you, our ancestors, are present in every cell of our body, and that you are always there for us to take refuge in. We know that you, Thay, are also present with us in this very moment. As we touch the Earth tonight we feel deeply connected to you, Mother Earth. We, and all our ancestors, are your children. You are our beautiful blue planet, the Great Refreshing Bodhisattva – fragrant and cool, abundant and kind. Despite our many mistakes and shortcomings, every time we come home to you, you are ready to open your arms and embrace us.

Dear Beloved Thay, many times in the past year we have allowed uncertainty to water the seeds of insecurity and fear in our hearts. Our strong emotions and wrong perceptions have overwhelmed us,  giving rise to feelings of helplessness, separation and despair.

Aware of this suffering, we are determined to take refuge in you, Thay, in our practice, and in our Beloved Community. Returning to our mindful breathing and mindful steps, we return to our true home, where we can find peace, clarity and calm. Dwelling in the heart of our community, we can be in touch with the collective energy of stability, helping us recognize and embrace our strong emotions and wrong perceptions.

Dear Mother Earth, as a human family, we have allowed greed and consumerism to prevail. We have been running after status, wealth, power and sensual comforts, forgetting that these things can never bring us true happiness and freedom. We have been so busy trying to cover up the feeling of emptiness inside, that we have not taken  the time or space to stop and ask ourselves what we are doing, or  where we are going. In the process, we have caused great harm to you, dear Mother Earth, destroying your natural richness, beauty and balance.

Aware of this, we are determined to simplify our life, to stop running, and to remember that in the present moment we already have enough conditions to be happy. With the energy of mindfulness and compassion we feel truly fulfilled and content. In the coming year, we are determined to consume less and to live in such a way that is sustainable for ourselves and for you, Mother Earth.

Dear Ancestors, we have allowed our fear and intolerance to divide us as a human family. We have caused suffering to one another, discriminating on the basis of religion, ethnic groups and nations. We have closed our hearts and our borders, out of fear and ignorance. We have forgotten that we are inter-dependent, and that our own happiness and suffering is deeply connected to and dependent on the happiness and suffering of others.

We trust that within us, there is the wisdom of non-discrimination and great compassion, transmitted to us by you, all our spiritual teachers, our ancestors, and by Mother Earth. We are determined to stay on the Path, to keep our hearts open, and to let go of our pride, so that understanding and love can prevail.

As we touch the Earth, we express our gratitude to you, our beloved teacher Thay, to our ancestors, and to Mother Earth. We have found the path of practice and a spiritual family to take refuge in. We have experienced joy, peace and transformation. We have tasted the freedom of letting go of our ideas and notions. We have felt the strength and warmth of brotherhood and sisterhood, and we know that together, we can face our challenges and realise our aspiration. We vow, in this moment, to continue to build our community and to open up the path for ourselves and our descendants.

Dear Thay, Dear Ancestors, Dear Mother Earth, please accept our offerings of incense, flowers, fruit and tea, as a sign of our deep aspiration, respect, gratitude and love.