Những nấc thang chuyển hóa

“Ai cho tôi tình yêu để làm đẹp cuộc đời”

image_preview.jpg

Tôi ngồi đây, Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu, tại Đức để viết những dòng này gửi về Thảo, cùng những người bạn, người chị, người em khác…

Thảo thương, mình vẫn luôn mang theo hình ảnh một cô gái miền Tây Nam Bộ có nụ cười tươi và chất phác trong chiếc áo bà ba trắng đơn sơ và mái tóc dài thùy mị. Đó là những ngày chúng ta gặp nhau ở ký túc xá, cùng đạp xe đến giảng đường mỗi sáng, mỗi chiều… Rồi một ngày nọ, mình gặp Thảo bên một tòa nhà cao tầng với mái tóc nửa màu hung cháy và trang phục đời mới ôm lấy thân hình thon thả của Thảo. Mình đã dụi mắt để không cho hạt bụt che mắt mình. Sự đổi thay dáng hình của Thảo không ngăn được lời tâm sự năm  xưa vọng về: “Thảo sợ một ngày nào đó, Thảo phải đổi thay, Thảo không còn là Thảo nữa…” Giọt nước mắt lấp ló chực trào qua mi, Thảo khẽ chớp mắt để giữ nó lại. Rồi giọng Thảo nghẹn ngào: “Chắc má Thảo sẽ buồn lắm!” (Má Thảo là một giáo viên miền quê hiền hậu mà Thảo đã từng kể cho mình nghe qua lời tâm sự đầy tin yêu và cách sống giản dị của Thảo trong những ngày Thảo mới rời quê lên thành phố).

Lúng túng, tôi buột miệng hỏi: “Thế còn Tùng?” (bạn trai của Thảo đang ở thành phố). Thảo oà khóc. Tôi bối rối vì mình điểm trúng huyệt của bạn. Tôi ngồi yên, đặt nhẹ bàn tay lên vai Thảo và cảm nhận nỗi nợ hãi trước quyết định mình phải thay đổi chính mình của Thảo. Một cảm giác hoang mang cơ hồ chặn ngang lối về của chúng tôi. Đưa cho Thảo mẩu khăn giấy, tôi thấy lòng mình chùng xuống khi nhìn thấy sức mạnh quyến rũ của nhu cầu muốn sống sót ở thành phố trong cái tuổi mới lớn nhiều ham muốn của chúng tôi. Tôi chạnh nhớ lời ba tôi cùng cái nhíu mày, nhăn trán khi tôi xin Ba cho phép tôi sống xa gia đình. Ba tôi lạnh lùng buông tiếng: “đi đâu cũng được, làm gì cũng được, nhưng đừng đem cái không hay về nhà này…”  Lời cảnh báo của ba tôi càng làm cho tôi muốn rời gia đình để học nhiều điều khác, để mở mang kiến thức và sự hiểu biết của một đứa trẻ có óc tò mò như tôi. Nhưng đồng thời tôi cũng muốn tìm học cách phòng thủ, ngăn chặn những thói hư tật xấu. Để khi xa nhà tôi không bị kéo theo phong cách của thời đại mới mà ba tôi thường nhắc: “Nó không thích hợp với cái nhà này”. Đầu óc trẻ con khôn ngoan của tôi lúc đó vừa muốn khám phá, học hỏi cái thế giới quyến rũ trước mắt cùng các bạn nhưng vẫn là một đứa trẻ cần tổ ấm gia đình trong tình thương của ba mẹ. Vẫn luôn muốn là một đứa con ngoan, trò giỏi và biết nghe lời…

suchisuem.JPGGiờ đây những ngày đi học xa, tôi mới biết thương sự bảo bọc trong lời răn nghiêm khắc và cái nhìn nghiêm nghị của ba tôi. Bây giờ ngồi đây tôi thấy thương cho vầng trán của Ba. Tự nhiên tình thương của tôi ứa ra vị ngọt của hiểu, nó có mặt và xóa dần những nếp nhăn đầy lo lắng của ba tôi, và làm lắng dịu dòng cảm xúc mỗi lần tôi bắt gặp hình ảnh Thảo đi xe đời mới với Tùng, mái tóc Thảo tung bay cùng với nụ cười vang trên phố. Những lúc đó tôi không biết Thảo có hạnh phúc không? Nhưng tôi thấy Thảo không còn thời gian để đến lớp, đến thư viện hay quanh quẩn bên hiên chùa học bài, không còn thời gian hát những bài dân ca cho chúng tôi nghe nữa… Giọng ca mượt mà đồng quê của Thảo đã kéo Thảo đến với vũ trường, nhạc hội, khách sạn cho đến khuya mới trả Thảo về như một cái xác không hồn. Rồi Thảo ra nhà trọ ở, và tôi không còn gặp Thảo nữa. Nhưng có rất nhiều Thảo chị, Thảo em cũng đã rơi vào hoàn cảnh như Thảo. Để rồi mỗi khi đi ngang qua cầu thang ký túc xá, tôi bắt gặp hình ảnh từng đôi bạn quấn chặt lấy nhau là tôi lại nhớ về Thảo, những bước chân của tôi trở nên nặng chịch như đang mang một cái gông. Tôi leo lên mấy tầng lầu xong là hết sức…

Hôm nay, sống trong lòng Học viện, những nấc thang bỗng nhiên đưa tôi về gặp Thảo, một chút gì chợt len lỏi trong lòng tôi. Tôi mỉm cười xác nhận sự hiện diện của Thảo trong bước chân và hơi thở của mình. Trước mặt tôi, sau lưng tôi vang vọng từng nhịp bước vững vàng cùng tà áo nâu thân thương. Tôi đã nhìn thấy Thảo trong bước chân, tà áo của sư chị, sư em mình. Thảo sống lại, lành lặn, hồn nhiên, đầy nhiệt huyết… Tôi cười vì được gặp lại Thảo nguyên vẹn như chưa hề thay đổi. Những bước chân lên cầu thang của tôi thật nhẹ và vui mà không còn đeo gông như lúc trước nữa. Thảo hiển hiện trong tôi và các sư chị sư em tôi như những ngày chúng tôi mới gặp nhau. Thảo ơi, tôi muốn nói với Thảo một điều: “Thảo có thể sống tốt mà không cần phải đánh mất mình, Thảo có thể làm mới lại cuộc đời mình khi Thảo còn hơi thở và bước chân.”

Cửa Tùng Đôi Cánh Gài

 

cuatungcanhgaiKhi chàng dũng sĩ về đến chân núi thì trăng cũng vừa lên. Trăng mười chín soi sáng cảnh núi rừng cô tịch. Ánh trăng nhấp nháy đùa giỡn trên lá câỵ Đêm thu mát lạnh. Cảnh vật hình như không có gì đổi thay sau bảy năm xa cách. Cảnh vật tuy không xa lạ, nhưng cũng không thân mật chào đón người cũ từ phương lạ trở về. Chàng dũng sĩ dừng lại ở chân núi, nhìn lên.
Trước mặt chàng, con đường mòn lên núi đã bị đôi cánh cửa tùng khép chặt. Chàng đưa tay cố đẩy nhưng hai cánh cửa kiên cố vẫn im lìm không lay chuyển dưới sức mạnh của đôi cánh tay chàng. Chàng lấy làm lạ. Ngày xưa chẳng bao giờ sư phụ chàng lại cho đóng chặt cửa lên núi như thế nàỵ Chỉ có một con đường đưa tới am sư phụ mà thôi, nhưng bây giờ lại bị đóng chặt. Hớn hở chàng vỗ tay vào đốc kiếm, phi thân nhảy qua. Nhưng chàng không nhảy qua khỏi. Một mãnh lực gì níu thân chàng trở lại, khiến chàng không cất mình lên khỏi hai cánh cửa tùng. Chàng rút gươm định chém rời cánh cửa. Nhưng khi chạm tới cánh cửa, lưỡi gươm văng trở lại như vừa chạm vào thép cứng. Chàng chùn tay, đưa lưỡi gươm lên nhìn. Lưỡi thép sáng loáng dưới ánh trăng. Cánh cửa tùng rắn quá, và hình như đã thu nhận thần lực của sư phụ chàng, nên đã đóng kín đường mòn lại một cách hết sức vững chãi. Chàng thở dài cho gươm vào vỏ rồi ngồi phịch xuống tấm đá lớn gần bên, ôm đầu nghĩ ngợi. Bảy năm về trước, chàng còn nhớ rõ khi chàng xuống núi, sư phụ chàng đã lặng lẽ nhìn chàng một hồi lâu, không nói năng gì. Cái nhìn của Người tuy dịu dàng nhưng có lẫn đôi chút xót thương. Chàng đã cúi đầu im lặng trước đôi mắt dịu hiền và cái nhìn bao dung của sư phụ. Hồi lâu Người mới thong thả bảo chàng:
-“Ta không thể giữ con ở mãi bên ta. Thế nào con cũng phải xuống núi để hành đạo, để cứu người và giúp đời. Ta cho rằng con có thể ở lại cùng ta trong một thời gian nữa trước khi con rời ta xuống núi. Nay con đã muốn xuống thì con cứ xuống. Nhưng con ạ, ta mong con nhớ những điều ta dặn khi con đã đi vào cuộc sống đồng sự và lợi hành.” Rồi Người cặn kẽ dặn chàng về những điều chàng nên tránh, và về những điều chàng nên làm. Sau hết, Người từ tốn và dịu dàng để tay trên vai chàng:

– “Con phải nhớ những tiêu chuẩn hành động mà ta đã truyền thọ cho con trong năm sáu năm trời học tập. Chớ bao giờ làm một việc gì có thể gây khổ đau cho mình và cho kẻ khác, trong hiện tại cũng như trong tương lai. Hãy tiến bước mạnh dạn trên con đường mà con chắc có thể đưa con và mọi người về nơi giác ngộ. Nên nhớ muôn đời những tiêu chuẩn khổ vui và mê ngộ mà hành Đạo, độ đời. Thanh bảo kiếm mà ta đã trao cho con, con hãy sử dụng nó để diệt trừ ma chướng. Hãy xem đó như lưỡi gươm trí tuệ nơi tâm con sẽ dùng để hàng phục mê chướng và si vọng. Nhưng để giúp con, ta cho con thêm một bảo bối này để con có thể thành tựu công quả một cách dễ dàng.”

Người thong thả lấy trong tay áo ra một chiếc kính nhỏ và đưa cho chàng: “Đây là Mê Ngộ Cảnh. Tấm kính này sẽ giúp con biết rõ thiện ác, chính, tà. Có người gọi nó là kính chiếu yêu, bởi vì qua tấm kính này, con có thể thấy được nguyên hình của loài yêu quái.”

Chàng nhận bảo kính và cảm động đến nói không nên lời. Tờ mờ sáng hôm sau, chàng lên bái biệt sư phụ xuống núp. Người tiễn chàng xuống tận dòng Hổ Khê và thầy trò từ biệt nhau trong tiếng suối róc rách chảy. Sư phụ đặt bàn tay hiền dịu trên vai chàng nhìn thẳng vào cặp mắt chàng. Và nhìn theo chàng dũng sĩ ra đi. Người còn dặn theo: “Nhớ không con, nghèo khổ không thay đổi, vũ lực không khuất phục, giàu sang không mờ ám nhé. Ta ở đây đợi ngày con mang đạt nguyện trở về”

Chàng nhớ lại những ngày đầu tiên xuống núi tiếp xúc với cuộc đời. Chàng đã gặp trên con đường hành đạo bao bộ mặt khác nhau của con người, đã dùng bảo kiếm và mê ngộ cảnh của sư phụ chàng một cách có hiệu quả. Chàng còn nhớ có một lần kia, trên con đường hành đạo, chàng gặp một vị đạo sĩ tay cầm phất trần, đi lại gần chàng và mời chàng về động để bàn tính công việc giúp đời. Đạo sĩ tỏ ra rất hăng hái với việc cứu nhân độ thế và giúp ích mọi loài. Ban đầu, chàng say sưa nghe theo lời đạo sĩ. Nhưng trong lúc tiếp xúc với vị đạo sĩ, chàng nhận thấy người này có vẻ khả nghi. Chàng đưa tay rút mê ngộ cảnh ra chiếu. Trước mắt chàng, không phải là một đạo sĩ mà là một con yêu lớn có hai nanh dài, một cặp sừng trên trán và hai con mắt xanh lè đổ lửa. Chàng vội nhảy lui lại và rút bảo kiếm chém. Yêu quái cố sức kháng cự, nhưng cuối cùng, chàng thắng, và yêu quái hiện nguyên hình quỳ dưới chân chàng xin dung toàn tánh mạng. Chàng bằng lòng tha tội nhưng buộc yêu quái phải trân trọng hứa lui về tu luyện để thoát xác thành người mà không được trá hình đạo sĩ để lừa bịp và tìm cách nuốt sống những kẻ khờ dại dễ tin.

Một lần khác, chàng gặp một vị đường quan, rất có dáng dấp một bậc cha mẹ dân. Vị đường quan râu dài bạc phơ, hứa sẽ trọng dụng chàng và đã chịu khó thức suốt một đêm để bàn với chàng về những điều chánh trị ích quốc lợi dân. Vị đường quan đã tỏ ra mình là một người thiết tha đến hạnh phúc muôn dân, nhưng khi đưa mê ngộ cảnh lên, chàng hoảng hốt nhận đó là một con heo khổng lồ với cặp mắt háu đói, thèm khát, vô cùng khủng khiếp. Chàng đứng dậy rút gươm chém. Yêu quái bỏ chạy nhưng chàng đã nhảy ra đứng chận giữa cửa công đường và hét bảo nó hiện nguyên hình. Con heo kinh khiếp hiện hình quỳ dưới chân chàng cầu xin tha tội và hứa sẽ về tu luyện tinh tấn, thoát xác biếng lười, không còn dám trá hình để rúc rỉa xương thịt người dân vô tội.

Có một hôm, đi ngang qua chợ, chàng thấy thiên hạ già trẻ trai gái xúm quanh ngôi hàng sách. Người đang bày bán sách và tranh cho mọi người là một cô gái mặt hoa da phấn, trên miệng luôn luôn sẵn có một nụ cười. Thiên hạ trầm trồ khen ngợi tranh vẽ và thi nhau mua sách. Bên cạnh cô ta lại có một cô gái khác, cũng mặt hoa da phấn, tay ôm đàn, miệng cất tiếng hát khiến mọi người đã mua sách phải mê mẩn tâm thần không muốn ra khỏi cửa hàng. Thật là một cảnh thái bình nên thơ. Chàng cũng ngây ngất đứng nghe, và cuối cùng chàng lại gần cầm lên một bức họa. Màu sắc làm chàng choáng ngợp, nhưng qua nội dung chàng thấy thoáng gợn trong tâm linh một ít nghi ngờ. Đưa mê ngộ cảnh lên nhìn, chàng hốt hoảng thấy nguyên hình hai con rắn độc, phun nọc phè phè. Chàng vội gạt mọi người ra, rút bảo kiếm, quát lên: – Nghiệt súc! đừng phun nọc độc hại người. Mọi người chạy tán loạn. Hai con rắn độc văng mình tới. Nhưng trước thần lực của lưỡi bảo kiếm, cuối cùng đành phải khoanh tròn dưới gối chàng van xin thứ tội. Chàng dùng bảo kiếm cắt đứt nọc độc, đốt cháy cửa hàng và tha cho yêu súc, buộc cả hai phải hứa trở về núi tu luyện cho thoát kiếp ngậm nọc phun người. Cứ thế, chàng đã sử dụng bảo kiếm và mê ngộ cảnh theo đúng lời sư phụ dặn để cứu người và giúp đờị .

Chàng đã sống miệt mài với nhiệm vụ. Đã từ lâu chàng vẫn tự cho rằng chàng là người dũng sĩ cần thiết cho cuộc đời. Cuộc đời không thể vắng bóng chàng. Chàng đã trà trộn trong cuộc sống, có khi thành công, nhưng cũng nhiều khi thất bại. Đối diện với cuộc sống đầy mưu mô gian trá, nhiều lúc chàng phải uốn mình, linh động theo hoàn cảnh để chinh phục và chiến thắng. Có lúc chàng say sưa miệt mài trong công việc. Chàng cảm thấy thích thú khi hành động. Có khi chàng say mê quên cả ăn cả nghỉ, vì một sự theo đuổi mà chàng cảm thấy vì vui thích mà thực hiện hơn là ý thức rằng mình cần hoạt động để mà phụng sự. Thời gian trôi cứ như thế cho đến bảy năm. Một hôm trong lúc ngồi nghỉ bên một dòng sông, nhìn dòng nước lặng lẽ trôi, chàng giật mình thấy đã từ lâu, gần hai năm nay, chàng không dùng đến mê ngộ cảnh. Chàng không dùng, không phải là chàng quên rằng mình có ngộ cảnh, mà chỉ vì chàng thấy không thích dùng. Chàng nhớ lại trước đây đã có một thời chàng dùng mê ngộ cảnh một cách miễn cưỡng. Chàng nhớ lại những ngày mới xuống núi ấy, chàng đã chiến đấu rất hăng hái khi thấy nguyên hình những yêu quái xuất hiện trên mê ngộ cảnh. Chàng cũng cảm thấy hân hoan vô hạn khi soi thấy trên mê ngộ cảnh hình dáng các bậc hiền nhân. Nhưng trong thời gian trước đây, một cái gì khác lạ đã đến trong tâm hồn chàng, đến lúc nào chàng không nhận rõ. Chàng đã không thiết tha lắm khi nhìn thấy hình bóng một bậc hiền nhân, mà cũng không giận dữ lắm khi thấy một bóng hình yêu quái. Trong bóng hình yêu quái đó, đôi khi chàng lại nhận ra một vài nét hơi quen thuộc,và lưỡi bảo kiếm đã có thờ ơ khi có những bóng hình yêu quái xuất hiện trước kính thần.

Cho đến những ngày gần đây, chàng không dùng mê ngộ cảnh nữa. Chiếc kính vẫn nằm trong túi áo chàng, nhưng đã từ lâu không còn được sử dụng. Chàng lấy làm lạ và đã nói nhiều lần định quay về hỏi sư phụ. Nhưng đã ba tháng qua, bận bịu những gì không đâu, chàng chưa thể trở về. Mãi cho đến hôm mười hai tháng tám trước đây, đi qua một rừng mai hoa nở, thấy sắc hoa trắng như tuyết lấp lánh dưới ánh trăng thu, nhớ đến những ngày thơ ấu bên rừng mai già học tập dưới chân thầy, chàng mới quyết định trở về. Đường về sao chàng thấy xa quá. Bảy ngày trèo non lội suối mới về tới được chỗ cũ.

Nhưng đến chân núi thì trời đã tối. Trăng cũng vừa lên và hai cánh cửa tùng cũng đã khép chặt lối mòn. Chàng đành phải đợi. Buổi sáng, người sư đệ của chàng thế nào cũng phải xuống suối múc nước, và như vậy sẽ mở cửa cho chàng. Trăng đã lên tới quá đỉnh đầu, ánh trăng vằng vặc chiếu xuống rừng núi âm u. Trời càng về khuya càng lạnh. Chàng lại rút kiếm ra nhìn. Ánh trăng lại lấp lánh trên lưỡi kiếm. Chàng lại tra kiếm vào vỏ. Trên mặt chàng thoáng nét ưu tư sầu muộn. Chàng đứng dậỵ Trăng sáng quá. Núi rừng vẫn u tịch và lạnh lùng. Chàng ngồi xuống phiến đá chờ đợi. Quãng đời bảy năm qua lại trở về trong trí óc chàng. Trăng dần dần về phía núi xa. Ngàn sao lấp lánh linh động hơn, và cuối cùng bắt đầu mờ nhạt. Phương đông đã nhuộm dần ánh sáng mờ mờ.
Đường viền ngọn núi đã nổi dần trên vầng sáng nhạt. Bình minh sắp về. Chàng nghe tiếng lá khô xào xạc trên núi. Ngửng lên chàng thấy một bóng người mờ nhạt từ trên đi xuống. Chắc hẳn là người sư đệ của chàng. Trời đang tối quá chàng nhìn không rõ, chỉ thấy hình bóng.

Nhưng chắc chắn đó là người sư đệ, bởi vì tay có cầm tịnh bình. Chàng đứng dậỵ Bóng người tiến xuống và khi đến gần cánh cửa thì cũng vừa nhận ra được chàng dũng sĩ.

– “Đại huynh”

– Sư đệ!

– Đại huynh về bao giờ thế ?

– Ta về lúc trăng mới lên và phải đợi cả đêm dưới này. Tại sao sư phụ lại cho đóng bít lối lên như thế ? Người sư đệ mỉm cười đưa nhẹ tay mở cửa. Hai cánh cửa tùng bật ra một cách dễ dàng. Bước ra nắm lấy tay chàng và nhìn chàng tận mặt.

-“Đại huynh ở một đêm giữa trời chắc lạnh lắm. Sương phủ ướt áo thế này mà, thôi để tiểu đệ phủi bớt cho. Trước kia đệ thường ở dưới núi hái rau nhặt củi và luôn tiện canh chừng người lên núi. Lâu lâu mới có một người lên núi. Nếu tiểu đệ thấy ai đáng lên hầu sư phụ thì tiểu đệ cho lên, nếu họ không đáng lên thì em lẩn tránh để cho họ lạc đường. Sư huynh biết rằng sư phụ không bao giờ muốn tiếp những người lên núi với tâm niệm không lành. Độ này tiểu đệ bận tập luyện luôn mà sư phụ cũng bận ngồi tĩnh tọa trong thạch động nên người dặn đệ khép cửa chắng ngang lối lên dưới này. Sư phụ có trao phép lạ khiến cho cửa tự động mở ra khi các bậc hiền nhân đến. Nhưng khi những kẻ phàm tục lên thì cửa cứ đóng chặt không thể nào vượt qua được. Nhất là khi kẻ ấy có yêu khí thì đừng mong lên núi.”

Chàng dũng sĩ cau mày:

– “Nhưng không lẽ ta mà lại là yêu quái? Sao cửa lại đóng chặt?” Người sư đệ cười lớn:

– “Vâng đại huynh sao lại là yêu quái được! Đệ cũng quên đi mất là tại sao cửa lại đóng. Nhưng bây giờ dù sao thì đại huynh cũng lên núi được rồi cơ mà, vì cửa đã mở. Nhưng đại huynh đợi em chút nhé. Để tiểu đệ xuống suối múc nước rồi cùng lên một thể. Hay đại huynh xuống suối với đệ cho vui. Cười lên chứ, đại huynh giận ai mà nét mặt trông khó đăm đăm như vậy”

Hai anh em cười vang. Chàng dũng sĩ đi theo người sư đệ xuống suối. Mặt trời vẫn chưa lên, nhưng phương đông đã rạng. Hai người đã có thể nhìn rõ mặt nhau. Mặt suối lặng trong, in màu hồng của rạng đông. Bóng hai người đứng song song in hình trên mặt suối. Chàng dũng sĩ trong bộ võ phục hiên ngang, lưng đeo trường kiếm. Người sư đệ trong y phục tiểu đồng hòa nhã, tay cầm tịnh bình. Hai người cùng nhìn bóng mình in trên mặt nước mỉm cười. Một con bọ nước nhảy, làm mặt nước hồng gợn nhẹ và bóng hai người rung rung theo làn sóng nước gợn. “Bóng chúng ta trên mặt nước đẹp quá nhỉ! Nếu bây giờ tiểu đệ múc nước thì sóng dậy và bóng tan mất. À này đại huynh “mê ngộ cảnh” sư phụ cho đại huynh còn giữ đó không?” Chàng dũng sĩ cho tay vào túi trả lời:

– Còn đây

– Tại sao chúng ta không đem ra chiếu hình chúng ta xem nào.

Chàng sực nhớ là từ lâu chàng chưa chiếu mê thử trước hình bóng mình. Chàng lấy kính thần ra, lau bụi vào vạt áo, chiếu trên mặt nước. Hai anh em châu đầu vào mặt kính.

Nhưng bỗng cả hai người cùng hét lên một tiếng kinh hoàng, khủng khiếp, và tiếp theo đó chàng dũng sĩ ngã quỵ trên bờ suối bất tỉnh. Tiếng thét kinh khủng làm chấn động cả núi rừng hoang dại. Một con nai đang uống nước phía trên dòng hoảng hốt đưa đầu lên nhìn, ngơ ngác kinh sợ. Người sư đệ vừa trông thấy trong kính thần, hình bóng của mình đứng bên cạnh hình bóng một con yêu to lớn với đôi mắt tối sâu như hai miệng giếng không đáy, hai chiếc răng dài quập sâu vào chiếc càm vuông, trên một khuôn mặt xám ngoẹt như gà cắt tiết.

Người sư đệ rùng mình dụi mắt nhìn lại, trên bờ suối đá xanh, chàng dũng sĩ vẫn nằm ngã lăn bất tỉnh, trên mặt vẫn còn in rõ nét kinh hoàng, đau khổ hiện hình một cách thảm hại trên con người đã từng xông pha lăn lộn bảy năm trong cuộc đời đầy cát bụi.

Người sư đệ đến ôm lấy chàng dũng sĩ và lấy nước suối vã vào mặt chàng. Vài phút sau, chàng tỉnh dậy, nét mặt vô cùng bi thảm. Hình bóng trên mê ngộ cảnh hiện ra bất ngờ quá và ý thức tự giác trong nháy mắt đã làm cho chàng ngã quỵ. Chàng đã mất hết nghị lực, mất hết sự sống. Tứ chi chàng rời rã, chàng không thể đứng dậy được nữa. Một chân quỵ xuống cát, người sư đệ dịu dàng nâng chàng ngồi dậỵ Nét thiểu não và khổ đau còn in rõ trên khuôn mặt chàng.

– “Thôi, đại huynh vui lên. Chúng ta sẽ lại lên núi”

Giọng nói của người sư đệ êm như một hơi gió thoảng, nhẹ như một tiếng thì thầm. Nhưng chàng lắc đầu một cách thất vọng. Chàng không còn muốn sống. Đau khổ đã làm chàng thảm não và tâm hồn chàng vừa bị tàn phá tang thương như mặt đất sau cơn phong vũ điên cuồng. Chàng không còn dám có ý tưởng lên núi để nhìn mặt sư phụ. Người sư đệ vuốt tóc chàng, an ủi: “Thầy thương anh lắm. Không sao đâu, đại huynh sẽ ở mãi bên thầy (vỗ về). Đại huynh sẽ sống bên em như những ngày xưa êm đẹp cũ (khóc). Em không ngờ bao nhiêu năm dưới núi đã tàn hại anh đến thế.”

Và người ta thấy trên con đường mòn cheo leo lên núi, bóng người sư đệ lần từng bước dìu chàng dũng sĩ trở lên động. Trời vẫn còn chưa sáng hẳn, bóng hai người in trên màn sương mỏng nhẹ của núi rừng buổi sáng. Tia nắng đầu tiên soi rõ dáng điệu thiểu não rời rã của chàng dũng sĩ bên cạnh dáng điệu dịu dàng từ hòa của người sư đệ. Mặt trời đã nhô khỏi đỉnh núi xa.

 

Phép lạ Tăng thân

Xóm Rừng Phương Bối, 24.07.2009 | Sư chú Pháp Xa

Tôi lại trở về góc thư viện quen thuộc trong không gian thật yên tĩnh của buổi chiều mùa Hè. Nắng vàng ấm áp phủ khắp những núi đồi xanh thẳm bao quanh tu viện. Những ngày vừa rồi bão tố đã qua nơi này thật khốc liệt nhưng chiều nay trời đã êm ả trở lại. Không biết đêm nay, sáng mai hay những ngày tới bão giông còn xảy ra hay không nhưng chiều nay một buổi chiều hiền lành đủ không gian và thời gian cho tôi nhìn lại chính mình và ngắm nhìn cảnh vật quanh mình.

Bão giông ở đây là cả bão giông của hiện tượng vật lý và là bão giông của lòng người (của sinh lý và tâm lý). Mới hôm qua, hôm kia báo chí đã đưa tin về cơn lốc xoáy tại vùng Bảo Lộc gây thiệt mạng 3 hay 4 người gì đó (tôi chỉ nghe phong thanh). Và cũng mới những ngày qua đài báo cũng đưa tin về những bạo loạn xảy ra tại Tu Viện Bát Nhã như một trận bão giông khủng khiếp nhưng may mắn là không có ai thiệt mạng. Đã có nhiều thông tin, nhiều tài liệu đây đó tường thuật, đánh giá và nhận xét về sự vụ vừa qua, nhưng những dòng chữ của tôi đây hoàn toàn không muốn tham gia vào những cuộc bình phẩm sôi nổi ấy của dư luận mà chỉ đơn thuần là sự chia sẻ của một tu sinh Tu Viện Bát Nhã và là người trong cuộc trực tiếp trải qua cơn giông tố.

Thực ra nói như vậy cũng chưa đúng. Quả thực nếu có một cái “tôi” hay “một người” nào đó nói rằng mình đã trải qua cơn giông bão thì đó quả là chuyện hoang đường. Không có một cái “tôi” nào, không có “một người” nào có thể vượt qua được những khó khăn vừa qua. Nếu cần có một lời nào để nói với cả thế giới thì chúng tôi sẽ cùng nhau nói rằng: “Tất cả chúng tôi đã đứng bên nhau, đã ngồi yên bên nhau để cùng kinh qua trận giông bão của hận thù và hiểu lầm vừa qua. Sức mạnh đã được làm nên bằng cả một cộng đồng cùng thực tập chứ không phải là bởi một cá nhân xuất sắc.” Vâng, chúng tôi đã đứng bên nhau như thế đấy. Với những hơi thở mà đối với nhiều người là loại sơ cơ như “thở vào tôi biết tôi đang thở vào, thở ra tôi biết tôi đang thở ra” vậy mà chúng tôi đã ngồi yên được trong lúc những đạo hữu ấy quăng phân vào quý Ôn, đập phá tăng xá và diễn hành chửi rủa.

Chúng tôi nhắc lại những điều này (điều mà quá nhiều người đã nói tới) không phải để tự hào về mình mà để nói về một sự thật mà chính chúng tôi còn chưa hết ngỡ ngàng trước phép lạ của tăng thân. Tăng thân Bát Nhã là một tăng thân quá trẻ mà lại không được sự dìu dắt trực tiếp của Thầy. Bản thân tôi tính đến nay mới xuất gia và tu học với đại chúng được 4 năm, một con số quá ít ỏi về thời gian vậy mà đã được xếp vào hạng những “người đi trước” những “sư anh” của chúng. Bởi vì sau lưng còn có hàng trăm sư em và các em tập sư mới thực tập với tăng thân từ 1-2 năm (khoảng 2/3 của tăng thân). Nếu nói về năng lực tâm linh, khả năng tu chứng của từng người thì quả là còn non nớt. Về phần giáo lý và các tư tưởng Phật giáo chúng tôi còn đang là những kẻ mới nhập môn. Ấy vậy mà khi ngồi lại với nhau từ những cái tôi yếu ớt ấy bỗng cộng hưởng với nhau trên cùng một tần số – tần số Chánh Niệm  và Từ Bi để cùng xướng tụng danh hiệu của Đức Bồ Tát Đại Bi Quan Thế Âm. Tiếng niệm Bồ Tát và năng lượng tĩnh lặng tập thể đã khiến cho biết bao người đang hung hăng và nóng nảy phải chùn tay trong việc đập phá.

Trong suốt một tuần xảy ra sự việc chúng tôi chỉ ngồi yên với nhau để quán tưởng đến đức Bồ Tát – đức Bồ Tát của tình thương bằng cách niệm danh hiệu và tụng bài Khơi Suối Yêu Thương. Thế rồi cơn bão tố cũng đi qua. Tuy nó cũng phá đổ nhiều thứ nhưng bù lại được năng lượng thương yêu và trong sáng của các thầy, các sư cô, các sư chú trẻ trung nên cảnh vật hôm nay đã tươi nhuận trở lại. Mỗi chiều các thầy, các sư chú và các em tập sự nam vẫn cười đùa và chơi thể thao trước sân Tăng Xá bên cạnh đống hoang phế từ những cuộc tấn công. Những đống nát ấy quả thực chẳng đáng giá gì với chúng tôi khi ngày hôm nay tất cả anh chị em còn đủ mặt bên nhau. Trong hồi ký Nẻo Về Của Ý chẳng phải Thầy đã dạy rằng “chúng ta mất tất cả chỉ còn có nhau”, rằng “Phương Bối đã trở thành thánh địa trong lòng tất cả những ai đã thuộc về nó dù bây giờ Đại Lão Sơn, Phương Bối Am đã chìm vào vào sương khói” hay sao? Anh chị em chúng tôi chưa ai từng được sống những ngày êm đềm như Thầy ở Phương Bối nhưng chúng tôi cũng một phần nào mường tượng được không gian êm ấm qua những ngày ở Bát Nhã. Và chúng tôi ai cũng ngầm hiểu và công nhận với nhau rằng Bát Nhã là quê hương tâm linh đầy ấm áp và đẹp đẽ của tất cả chúng tôi – của tất cả những ai thuộc về Bát Nhã.

Những ngày gần đây tôi thường dành thời gian để ngồi một mình và nghĩ về quá khứ tươi đẹp của Bát Nhã. Nghĩ về không phải để tiếc nuối hay trách móc hoàn cảnh hiện tại. Nghĩ về để thực tập từ bi quán và tri ân quán. Có lẽ đài báo công luận đã đưa nhiều tin nhưng có một tin mà tôi nghĩ chắc chưa có báo nào đăng đó là tình cảm của 400 tu sinh trẻ với thượng tọa Đức Nghi. Đến giờ phút này trong các buổi pháp đàm chia xẻ trong chúng chưa hề có một ai lên tiếng trách móc Sư Phụ (đó là cách gọi thân mật của anh chị em chúng tôi đối với Thượng tọa). Tất cả đều giữ một lòng biết ơn sâu sắc với những gì Sư Phụ đã kiến thiết cho đại chúng trong quá khứ cũng như trong hiện tại. Khi những khó khăn này xảy đến tôi vẫn biết ơn Sư Phụ. Vì người đã đem tới cho đại chúng một cơ hội quá lớn để thực tập. Nếu không có những khó khăn vừa qua, chúng tôi đâu có cơ hội để thấy được công dụng lớn lao của lòng từ bi và của phép thực tập ngồi yên. Tất cả sẽ chỉ là sách vở nếu không có những trải nghiệm thực tế vừa qua. Có người đã nói rằng biết đâu đây lại là một bài tập thử thách của người cha dành cho những đứa con yếu ớt để chúng mau trưởng thành. Tất nhiên bên cạnh lòng biết ơn là lòng xót xa lớn lao. Đêm ngày anh em chúng tôi vẫn thầm cầu nguyện cho Sư Phụ và các đại hữu của chúng tôi sớm tai qua nạn khỏi để có thể trở về chung sống êm ấm với nhau như ngày xưa.  Nhưng chúng tôi không bao giờ chỉ ngồi đó bỏ thi giờ để mơ mộng về ngày xưa. Với sự thực tập Chánh Niệm và đời sống tăng thân, chúng tôi ý thức với nhau rằng tăng thân vẫn tiếp tục duy trì và tiếp nối những cái “ngày xưa” trong giây phút hiện tại và tương lai. Đó cũng là một phép lạ của Tăng thân. Thầy đã dạy chúng ta là phải thực tập làm sao để xây dựng nên một quá khứ thật đẹp. Nếu có một quá khứ đẹp ta mới có thể sống đẹp trong hiện tại và trong tương lai. Nhưng ta chỉ có thể xây dựng quá khứ trong giây phút hiện tại chứ không có các nào khác. Đó là cách của hành giả Chánh Niệm. Tôi ý thức rằng giờ phút này ngồi đây trong góc thư viện này tôi đang là quá khứ cho biết bao thế hệ sư em tương lai của tôi. Và tôi nguyện sẽ sống làm sao để tương lai các sư em nghĩ về sẽ thấy thật ấm áp như Thầy nghĩ về Phương Bối.

Những ngày vừa qua tăng thân chúng tôi với sự thực tập Chánh Niệm cộng đồng đã xây dựng nên một quá khứ thật đẹp. Quá khứ của những con người đã ngồi thật yên và quán Từ Bi trước những sự tấn công thô bạo của những người có tri giác sai lầm. Chúng tôi cũng hiểu rằng trong trong giờ phút hiện tại chúng tôi cũng đang xây dựng cho tương lai. Tôi đang mường tượng tới nụ cười bằng lòng và đầy tin tưởng của Thầy, của Sư Cố, của Tổ Liễu Quán, của Tổ Lâm Tế và của Bụt. Chúng tôi là sự tiếp nối của liệt vị chính vì vậy chúng tôi là tương lai của quý vị. Chúng tôi thực tập hết lòng trong hiện tại tức là đã và đang xây dựng một tương lai cho quý vị; tức là đang thực hiện những mong mỏi của quý vị. Còn ngày mai không chắc trời đất sẽ bình yên như chiều nay nhưng chúng tôi cũng thực tập để không lo lắng, bồn chồn hay sợ hãi. Tại vì tất cả những gì chúng tôi – những người tu trẻ mong ước và kiếm tìm đã được thỏa mãn trong giờ phút này rồi. Chúng tôi đến với tăng thân không phải để tìm một cơ sở đồ sộ, nhiều tiện nghi và chắc chắn không phải để an thân. Chúng tôi là những người trẻ đang đi tìm một con đường thoát cho những khổ đau của tự thân và của thời đại. Chúng tôi đi tìm một đoàn thể những người cùng tu học với nhau có một hướng đi sáng đẹp và có tình huynh đệ thực sự. Tất cả những điều đó chúng tôi đã được tăng thân này đáp ứng. Chúng tôi không còn đòi hỏi gì thêm. Ngày mai sẽ ra sao? Sẽ có ai tấn công mình hay không? Mình sẽ có một cơ sở tu học mới hay không? Đó không phải là những câu hỏi của chúng tôi (nó sẽ dành cho những người khác). Chúng tôi chỉ hỏi nhau rằng trong giây phút hiện tại chúng tôi có hạnh phúc hay không; những giận hờn, buồn bực đã chuyển hóa đến đâu rồi. Tăng thân là tương lai, là sự lựa chọn của tất cả chúng tôi.

Xin gửi những dòng chữ này tới tất cả những ai đang ngày đêm thao thức lo lắng cho chúng tôi. Mong quý vị hãy yên tâm rằng chúng tôi sẽ thực tập như vậy dù bất cứ chuyện gì xảy tới. Xin gửi đến liệt vị Tổ Sư niềm kính ngưỡng, biết ơn sâu xa nhất vì có liệt vị phù hộ độ trì mà chúng con mới tai qua nạn khỏi. Xin gửi đến các thế hệ sư em tương lai một lời hứa chân tình rằng chúng tôi sẽ mãi mãi đứng bên nhau, ngồi yên bên nhau để xây dựng một quá khứ đẹp cho các sư em.

Khóc trong vòng tay của chính mình

Bạn đã bao giờ khóc trong vòng tay của chính mình chưa? Nếu chưa thì tôi mời bạn hãy thử làm điều đó một lần!

Tôi cũng mới thử làm điều này vào sáng nay thôi. Tôi đã khóc thật lâu trong vòng tay của sư chú Pháp Xa. Hay nói đúng hơn một sư chú Pháp Xa yếu đuối, cô đơn và đầy khổ đau đã tựa vào bờ vai của một Pháp Xa vững chãi, hạnh phúc và đầy tươi mát để khóc và sẻ chia tất cả những khổ đau chất chứa lâu nay.

Những giờ phút khổ đau và cô độc ta thường khao khát có một người bạn bên ta để nghe ta nói và để ta tựa vào bờ vai người ấy mà khóc. Điều này là cần thiết lắm nhưng sẽ có những lúc trong đời mình mà nhìn quanh bạn chẳng thấy ai có thể nghe bạn nói và làm nơi nương tựa cho bạn. Lúc đó bạn sẽ đồng cảm với Trịnh Công Sơn: “…nghe ra quanh tôi đêm dài, có còn ai trong yên vui còn yêu dấu ngồi rơi lệ ru người từ đây…”

Binh minhNày bạn ơi, có phải lúc đó bạn muốn hét toáng lên rằng: “Thế giới này đã quên tôi rồi, chẳng có ai hiểu tôi cả!!!” Tôi đã từng muốn làm như thế nhưng sáng nay tôi làm cách khác. Tôi ngồi xuống chầm chậm và bắt đầu ngắm nghía cái mà mình gọi là khổ đau, ngắm nghía cái anh chàng đang tự nhận mình là người mang đau khổ. Tôi mặc nhiên để cho cảm xúc dâng ngập hồn, chỉ im lặng lắng nghe và ngắm nhìn chúng. Thật là hỗn độn! Tôi rất muốn khóc nhưng có một năng lực khác ngăn tôi làm điều ấy, nó nói với tôi rằng: “Ngươi là kẻ yếu đuối, người ta sẽ cười vào mặt ngươi nếu thấy ngươi đang khóc”. Và cứ như thế tâm hồn tôi trở thành một bãi chiến trường. Tang tóc. Nhưng bỗng một giọng nói ấm áp thân quen vang lên trong toàn bộ bản thể tôi. Giọng nói thân thuộc ấy len lỏi vào tâm tư tôi như một tia nắng mỏng và nhẹ nhưng đủ để rẽ lối mây mờ. Giọng nói ấy đã dẫn lối tôi vượt qua bức tường lạnh căm để tôi có thể thấy một chân trời mới. Tôi bất giác bật khóc, khóc như một thằng bé trong vòng tay của mẹ nó. Khóc xong rồi thì thấy lòng nhẹ nhõm đi rất nhiều.

Bạn ơi, tôi chẳng thể nói cho bạn biết giọng nói ấy đã nói với tôi điều gì. Bởi vì điều ấy chỉ thực sự có ý nghĩa với cuộc đời tôi, với hoàn cảnh của tôi thôi, có thể nó sẽ không phù hợp với bạn. Nhưng điều tôi muốn chia sẻ với bạn là bạn không thực sự nhỏ bé và yếu đuối như bạn nghĩ đâu. Có thể bạn đang lâm vào một tình cảnh rất bi đát và cô độc, xung quanh không có lấy một ai làm đồng đội nhưng tin tôi đi, trong bạn có tất cả những gì bạn cần. Chỉ cần trở về và thành thật với chính mình một chút, bạn sẽ tìm thấy con đường thoát. Nói rằng “tìm thấy” cũng chưa chính xác lắm, theo tôi thấy con đường vẫn nằm yên đó và chờ ta. Nhưng phải nhớ lấy bí quyết là PHẢI THÀNH THẬT VỚI CHÍNH MÌNH.

Có những lúc ta cảm thấy ta đang đi một mình giữa con đường dài hun hút. Chỉ là một mình thôi. Nhưng theo kinh nghiệm của tôi thì nếu bạn nghĩ như thế bạn sẽ gục ngã ngay từ những bước đầu tiên. Chúng ta, mỗi con người là hợp thể của Vô Biên. Trong ta dung chứa tất cả những ước vọng, khát khao của muôn ngàn thế hệ tổ tiên, tất cả những ưu, khuyết của cha ông đều được truyền thừa lại cho ta trong hiện tại. Ta cũng là sự kết tinh của tất cả những yếu tố của môi trường ta sống. Và xét cho cùng cảm giác ta đang đi một mình sẽ chỉ là một ảo giác. Ấy thế mà lắm khi cái ảo giác này hành hạ mình đến khốn khổ. Ảo giác ấy sẽ làm cho mình cảm thấy cô đơn và tủi nhục. Vượt qua ảo giác là sự thực tập căn bản của Đạo Bụt. Vượt qua được ảo giác đơn độc, bạn sẽ tiếp nhận được những nguồn năng lượng từ vô biên. Tôi xin nhắc lại bí quyết là trở về và thành thật với chính mình. Đừng tìm cách chống cự với khổ đau, nếu làm vậy bạn sẽ mất đi một cơ hội để học hỏi từ khổ đau – bậc thầy khả kính nhất đời bạn.

Sáng nay, tôi đã học được một bài học thật quý giá. Tại sao ta phải từ chối và xua đuổi phần yếu đuối trong con người của ta. Làm như vậy đồng nghĩa với việc ta xua đuổi đi phần còn lại – phần thương yêu, bao dung và tha thứ vốn có sẵn trong bản thể của ta, đó là sức mạnh của Vô Biên. Hãy làm thử theo cách của tôi nhé! Đừng hét toáng lên mà hãy ngồi xuống chầm chậm, ngắm nhìn mọi thứ đang diễn biến trong mình rồi gọi thầm tên một người mà bạn tin tưởng nhất. Người ấy có đầy đủ sự vững chãi và thảnh thơi, có thể làm nơi nương tựa cho bạn. Bạn có thể gọi tên của Bụt hoặc bạn cũng có thể làm giống như tôi, gọi tên của chính mình bởi vì trong mình cũng có đầy đủ hạt giống tốt lành của Bụt. Cứ gọi đi và cứ khóc đi, đừng xấu hổ để rồi lại che giấu những yếu đuối của mình, hãy thành thật với chính mình. Rồi bạn sẽ nghe thấy một giọng nói ấm áp. Giọng nói ấy sẽ chỉ cho bạn nẻo thoát. Cũng như sáng nay sư chú Pháp Xa vững chãi đã ôm lấy sư chú Pháp Xa yếu đuối và dìu dắt về hướng bình minh. Nhớ nhé đừng hét toáng lên mà hãy ngồi xuống thật yên!

Con dấu hạnh phúc

Về Sơn Cốc, ngôi nhà nhỏ bình yên với rừng tre Ca Lan Đà râm mát, bên suối Tào Khê róc rách, thầy tôi nằm đưa võng và chúng tôi ngồi quây quần bên Thầy. Tiếng chim líu lo trong một ngày nắng đẹp, tôi thấy tuổi thơ mình trở về gần gũi và thân quen như những ngày về quê ngoại. Tịnh Độ hay ta bà, mơ hay thật? Khi Thầy tôi ngồi đó vẽ những vòng tròn thư pháp như đang chơi một trò chơi trẻ con.

Thầy nói: “Thầy đang trồng những quả bí, quả cam”. Hai chị em tôi đỡ lấy những “quả bí”, “quả cam” ấy đem phơi cho ráo mực. Phút chốc tôi thấy mình nhỏ bé như chưa từng là một người lớn. Dù lớn bao nhiêu tuổi, về bên Thầy chúng tôi vẫn có cảm nhận mình vẫn là những đứa bé con. Tôi ngồi đó và thoáng nhìn một con người nổi tiếng như Thầy sao lại bình dị đến lạ trong cách sống mộc mạc mà bền bỉ sắc son một lòng cho quê hương đến thế. Hình ảnh này đẹp lắm bạn ơi!

Tôi nhìn Thầy và thở, hình ảnh Thầy như tiếng chuông đại hồng gióng lên hồi chuông tỉnh thức mà vui sống. Tôi nhận ra mình đang được sống trong tăng thân, được thực tập khi nghe chuông, khi tiếp xúc với một bông hoa, một cái đẹp nên tự nhiên tôi đã có được những hơi thở mới bình an. Tôi cười khi nhận ra đứa bé bất an ngày xưa trong tôi cũng biết thở, biết cười, biết buông thư. Ngước nhìn lại, bé bắt gặp khuôn mặt ba bé ngày xưa cũng đã giãn đi những nếp nhăn và bắt đầu bình an trở lại, mọi người chung quanh cũng trở nên yên lắng và bình an trong cùng một nhịp thở của bé. Bé thở đều: “vào”… “ra”…, “vào”… “ra”…,“vào”… “ra”… theo từng nhịp như để lưu giữ cái phút giây mầu nhiệm ấy. Và càng nhìn Thầy bé lại thấy ba của bé bình an và thanh thản đến lạ! Bởi ngay giờ phút này, đứa bé ngày xưa là tôi ngày nay như nhận thấy hai đời sống tâm linh và huyết thống đang âm thầm lưu nhuận trong nhau, tôi đang được trao truyền và tiếp nối.

Rồi Thầy đã ôn tồn chỉ cho tôi cách xếp một tờ giấy, đóng một con dấu sao cho ngay. Bạn biết không, tôi đã từng nhập môn công việc đóng dấu cho văn thư và tôi đã từng đóng dấu cho cả ngàn cuốn sách. Vậy thì tôi đã cho ra đời biết bao con dấu? Nhưng hôm qua, tôi được học cách đóng một con dấu hạnh phúc. Con dấu đó ra đời sau những bước chân thiền hành bình an, hơi thở bình an, lời thăm hỏi bình an giữa tình Thầy trò. Thầy từ từ bước vào Nội viện (nơi dành cho gia đình xuất gia) và ngồi vào bàn vẽ trong ngôi nhà kính thân thương mà Thầy thường gọi đùa là xưởng vẽ của Thầy. Thầy ghi lên những “quả bí”, “quả cam” một câu thư pháp như trao truyền một bí kíp của khu vườn bí mật rồi nói: “Chữ Thầy đơn giản quá con hỉ!” Tôi chắp tay “Dạ”, khẽ thầm công nhận. Thầy cầm con dấu ấn xuống và đưa cho tôi. Đang mải mê chiêm ngưỡng những tác phẩm của Thầy, Thầy nhìn tôi và bảo: “Bây giờ con đóng dấu cho Thầy.” Tôi “Dạ” và hành nghề như trước đây tôi đã từng làm. Mỗi khi đóng một con dấu tôi lại nghe tiếng kêu lách cách quen thuộc, dù tôi đã nhẹ nhàng hơn trước đây nhiều lắm rồi đó.

Thầy tôi nhìn tôi cười, chầm chậm bỏ cây bút xuống, rồi ôn tồn chỉ cho tôi cách đóng một con dấu, canh con dấu như thế nào cho thẳng với mép giấy vuông góc đi vào, rồi ấn bốn góc cho ngay ngắn. Một con dấu đỏ tròn đầy và đẹp lạ lùng hiện ra như vừa được khai nguồn sự sống. Tôi nhìn lại những con dấu vụng về của mình và cẩn trọng đón nhận kinh nghiệm và niềm vui mà Thầy vừa chỉ dạy. Một con dấu bình an trong cách trao truyền và tiếp nhận. Tôi nhận ra những con dấu ngày xưa của tôi vô hồn và tội nghiệp với những hơi thở dồn dập, những suy nghĩ miên man và nỗi buồn giận đã tạo nên những tiếng kêu chát chúa và đanh lại nơi góc phòng làm việc. Tôi nhận ra tôi đang được học một bài học không có trong sách vở. Bài học tạo ra không gian bình an để vui sống và làm việc. Bây giờ tôi cảm nhận rõ hơn nguồn năng lượng bình an mà Thầy đang hiến tặng cho cuộc đời, Thầy gìn giữ cẩn thận trong từng hơi thở, trong từng bước chân đi và từng lời giảng mộc mạc chân tình.

Triển lãm thư pháp ABC New York 2013 (2).jpgGiờ đây tôi có cơ hội đóng lại những con dấu, mỗi con dấu hôm nay ở Nội viện mang theo bao niềm vui, bao hạnh phúc. Và tôi biết trong mỗi tấm thư pháp ấy Thầy đã gói lại rất nhiều ân tình cuộc sống để gửi tặng cho đời. Nếu nhìn kỹ bạn sẽ thấy những tán lá xanh ve vẫy, những tiếng chim, tiếng gió, tiếng suối róc rách và nắng hạ. Bởi Thầy đã khai sinh ra những đứa con này trong cái thanh bình của một nơi bình yên như thế, với nhiều tình thương như thế.

Đĩa mực đã hết, Thầy lại ung dung nhỏ vào mấy giọt nước và khẽ nói: “Nếu có mấy giọt trà thì thơm hơn”. Tôi tủm tỉm cười và mang lại cho Thầy một cốc trà rồi thưa: “Dạ liệu mọi người có biết trong này có hương thơm của trà không, thưa Thầy?” Thầy cười và nói: “Họ không biết nhưng mà mình biết và chưa chắc họ đã biết trong này còn có hơi thở nữa…” Tôi đỡ tấm thư pháp từ tay Thầy, bàn tay tiếp nối bàn tay sẽ đưa những tấm thư pháp này về muôn hướng. Mầu nhiệm thay một mảnh giấy nhỏ có thể chứa biết bao ân tình cuộc sống của Thầy và Tăng thân.

Cầm một tấm thư pháp “Uống trà đi”, tôi lại thấy hình ảnh Thầy ung dung hớp từng ngụm trà nhỏ và nói “Uống trà đi các sư con” mà tôi vẫn thường nghe. Tin rằng khi bạn thấy dòng chữ này, bạn cũng sẽ nghe giọng nói thân quen của Thầy vọng về nơi từng con chữ. Xếp lại chồng thư pháp, con dấu nhỏ mỉm miệng cười tươi như hoa ban sớm để chào tạm biệt tôi. Tôi cười đáp lại. Ngày mai những con dấu sẽ cười tươi với bạn và bạn nhớ cười lại cho tươi bạn nhé! Bởi mỗi nẻo về của niềm vui sẽ tiếp nối đường đi cho những niềm vui mới. Một ngày mới đang bắt đầu bạn có nhận ra không?

Hẹn nhau mùa hoa đào sang năm

Thư pháp (calligraphy) của tôi không xuất sắc gì mấy. Vậy mà tập viết hoài ngó cũng được. Càng viết, chữ càng ngó được hơn. Năm ngoái (1999) trong chuyến đi Trung Quốc, anh Mộc có đem theo nhiều giấy, bút và mực. Anh xin tôi viết mấy chục tấm để bán lấy tiền cúng dường chùa tổ Lâm Tế ở quận Chánh Định thuộc thành phố Thạch Gia Trang tỉnh Hà Bắc. Anh nói đa số những người trong phái đoàn đi Trung Quốc là người Tây phương, tôi có thể viết chữ Anh. Tôi chiều lòng anh. Trong chuyến đi, số tiền bán chữ đã lên tới tám ngàn Mỹ kim. Phái đoàn đã cúng dường cho chùa tổ Lâm Tế, qua hòa thượng trú trì Hữu Minh, một ngân khoản là mười ngàn Mỹ kim để giúp vào quỹ mua thêm đất và xây cất thêm tăng viện. Hòa thượng rất cảm động. Đó là vào khoảng tháng năm. Vào tháng chín năm ấy, tại tu viện Kim Sơn do thượng tọa Tịnh Từ làm viện trưởng, sẵn có giấy bản các thầy và các sư cô mua được ở trong khóa tu ở trường Đại học Santa Barbara, tôi đã ngồi xuống viết nhiều bức, bức thì chữ Anh, bức chữ Việt, bức chữ Hán. Các thầy và các sư cô trong phái đoàn Làng Mai đã bán được gần hết các bức này, có bức bán tới một ngàn Mỹ kim. Tất cả đều được đem cúng dường vào quỹ xây cất Nhà Đa Dụng của tu viện. Trong chuyến đi hoằng pháp tới tại Bắc Mỹ, khi đến Kim Sơn, thế nào tăng đoàn Làng Mai cũng được ở nhà hẳn hoi, chứ không phải ở lều như trên mười năm qua, quá lạnh!

Vào lễ giáng sinh 1999, nhiều minh tinh màn bạc nổi tiếng tại Hollywood như Marlon Brando, Jack Nicholson, Sean Penn … cũng nhận được những bức chữ viết của tôi do bạn hữu của họ hiến tặng. Cả bên Trung Quốc và Đại Hàn, mỗi khi trao đổi thư pháp với các vị tọa chủ các chùa lớn, tôi cũng viết chữ Tây cho lạ. Chắc các bạn tò mò muốn biết tôi viết những chữ gì. Tôi chỉ viết những chữ mà khi treo lên người ta có thể thực tập theo được mà thôi. Ví dụ: “breathe, you are alive” (thở đi, bạn đang là sự sống mầu nhiệm), “drink your tea” (uống trà cho thảnh thơi và hạnh phúc đi bạn, chữ Hán là “nghiết trà khứ” ), “the tears I shed yesteday have become rain” (nước mắt ngày xưa nay đã thành mưa), “breathe and smile” (thở đi, mỉm cười đi), “you are not a creation, you are only a manifestation” (em không phải tạo sinh mà chỉ là biểu hiện) “present moment, wonderful moment” (an trú trong hiện tại, giờ phút đẹp tuyệt vời), “there is no way to happiness, happiness is the way” (không có con đường đưa tới hạnh phúc, hạnh phúc chính là con đường), v.v…

Bức mà Phật tử gốc Việt ưa thích nhất là bức có ba chữ “thở đi con”. Ai cũng muốn thỉnh một bức về treo trong phòng khách để khi có chuyện bất an thì nhớ mà thực tập, còn khi bình thường mà thực tập thì nuôi dưỡng thêm hạnh phúc đang có. Có những bức viết trọn một, hai, bốn câu thơ hay cả bài thơ. Những câu thơ trong truyện Kiều có thể hiểu theo nghĩa thiền quán cũng rất được hâm mộ, như câu “bây giờ rõ mặt đôi ta, biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao” hay câu “trời còn để có hôm nay, tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời”, hoặc câu “một nhà xum họp sớm trưa, gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng, bốn bề bát ngát mênh mông, triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau”. Có một cặp tân hôn xin chữ, tôi đã cho câu “trước sau cho vẹn một lời, duyên ta mà cũng phúc người phải không?”, đổi một hai chữ cho thích hợp.

Chữ Hán tôi viết rất ít, bởi vì hiện giờ ít người đọc được chữ Hán và thích treo chữ Hán. Tôi thấy những bức chữ Anh, chữ Việt hoặc chữ Pháp lồng kính treo lên cũng đẹp vô cùng, và khi đọc thì người ta hiểu liền. Tôi cũng có viết nhiều câu đối, câu đối chữ Việt, và cả chữ Âu Mỹ nữa! Có một bữa, tôi thấy ông đồ xưa của Vũ Đình Liên đã sống dậy! Ông đồ xưa chỉ viết chữ Nho, ông đồ xưa nếu bây giờ sống dậy thì viết được cả chữ Việt và chữ Tây, và vẫn sử dụng được bút lông mực tàu như thường. Và ông không phải chỉ dùng giấy đỏ. Ông dùng giấy đủ màu, nhất là màu trắng ngà. Bút lông của ông được chế tạo rất nhiều kiểu, sản xuất ngay cả ở các nước Âu châu. Tôi thấy nhiều nhà thơ Việt Nam hiện đại đã viết thơ của mình thành bức, bằng chữ Việt, có khi viết bằng bút lông, có khi viết cả bằng bút sắt. Tôi đã thấy nét chữ của nhiều vị, trong đó có Vũ Hoàng Chương và Cao Tiêu. Tại sao lại chỉ viết chữ Hán? Càng viết, chữ càng đẹp. Đồng bào và người ngoại quốc rất thích treo những bức chữ đẹp và có ý nghĩa, bằng chữ Việt hoặc bằng chữ nào mà họ hiểu. Cố chấp thì ông đồ sẽ chết vĩnh viễn, còn nếu ông đồ biết thích nghi thì ông đồ sẽ sống mãi mãi. Chúng ta không cần phải khóc ông đồ như thi sĩ Vũ Đình Liên:

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua

Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay

Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu             
Ông đồ vẫn ngồi đó
Qua đường không ai hay
Gió buồn mơn mặt giấy
Ngoài trời mưa bụi bay        

Năm nay hoa đào nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?

 

 

Tôi muốn nói chuyện đạo Bụt, đạo Bụt tại châu Á nói chung, và đạo Bụt tại Việt Nam nói riêng. Đạo Bụt nếu không được làm mới để có thể đáp ứng với nhu cầu đích thực của người thời nay thì đạo Bụt sẽ từ từ vắng mặt, nghĩa là sẽ chết, như ông đồ xưa. Đại sư Thái Hư thấy được điều đó nên đã hô hào cách mạng giáo lý, cách mạng giáo chế và cách mạng giáo sản. Nếu chúng ta chỉ biết thủ cựu, nếu chúng ta có quá nhiều sợ hãi, nếu chúng ta chỉ biết củng cố địa vị thì chúng ta không thể nào làm mới được đạo Bụt. Phải giảng dạy đạo Bụt như thế nào để tuổi trẻ bây giờ có thể áp dụng được vào trong đời sống hằng ngày của họ, chuyển hóa được khổ đau, khai thông được bế tắc, xây dựng lại được tình thâm. Lễ bái, cầu phước và tín mộ không đủ. Tuổi trẻ không muốn đến chùa để chỉ đốt nhang, đốt vàng mã, vái lạy và tụng những kinh mà họ hoàn toàn không hiểu. Buổi công phu sáng gần hết là bằng tiếng Phạn, có tính chất của Mật Tông, mà lại là tiếng Phạn phiên âm Hán Việt xa lắc với nguyên âm. Buổi công phu chiều thì chủ yếu là để cầu sinh Tịnh Độ. Không mấy ai đọc được và hiểu được kinh chữ Hán. Vậy mà ta không có can đảm đem hai buổi công phu dịch ra quốc văn để hành trì. Ta sợ người ta đàm tiếu, chê bai là bỏ gốc rễ. Ta có bỏ gốc rễ đâu. Ta chỉ chăm sóc và làm mới cho gốc rễ thôi, để cho cội cây xưa có được sức sống mới đâm lên những chồi mới, nếu không cây sẽ chết.

Cách đây chừng vài trăm năm, người ta đã từng bĩu môi chê chữ Nôm là quê mùa, là mách qué (nôm na là cha mách qué). Người ta bảo người đứng đắn và người trí thức chỉ dùng chữ Hán thôi. Vậy mà thi hào Nguyễn Du đã sáng tác truyện Kiều bằng chữ Nôm và đã tạo nên được một niềm tin lớn cho quốc dân nơi khả năng tiếng Việt. Không dùng súng đạn và gươm giáo mà thi sĩ đã xây được thành lũy vững chãi cho nền độc lập dân tộc. Độc lập chính trị chỉ có thể bền vững khi có độc lập văn hóa. Cụ Nguyễn Du là một ông đồ không bao giờ già, không bao giờ chết. Hồn của cụ sống mãi trong hồn của người trẻ bây giờ. Bài học đó há không đủ soi sáng cho chúng ta sao? Con cháu chúng ta bỏ chùa, bỏ đạo gốc tổ tiên chạy theo những trào lưu từ ngoài tới, lỗi đó là của ai?

Làm mới đạo Bụt, áp dụng ngay những pháp môn của đạo Bụt nhập thế (Phật tử Trung Quốc bây giờ gọi là Nhân Gian Phật Giáo, Tây phương gọi là Engaged Buddhism), sử dụng ngay tiếng Việt để tụng niệm trong hai buổi công phu, điều này rất cần thiết. Chúng ta đừng làm như ông đồ xưa, từ từ vắng mặt trong cuộc đời. Chúng ta phải tái sinh lại ngay lập tức để trở thành ông đồ nay. Chỉ có ông đồ nay mới làm thỏa mãn được những nhu yếu của người ngày nay. Từ thế kỷ 14, vua Trần Nhân Tông và thiền sư Huyền Quang đã thấy được sự thực này. Các vị đã bắt đầu sáng tác bằng tiếng Việt, sử dụng chữ Nôm. Ở Triều Tiên, ngày xưa cả nước đi theo đạo Bụt. Vào đầu thế kỷ này, chỉ còn dưới 50% dân chúng là Phật tử. Giới trẻ đi theo ngoại lưu nhiều như thác lũ. Lý do là đạo Bụt bên đó quá bảo thủ và rất còn kỳ thị phụ nữ. Ta cầu xin các vị tôn đức trong sơn môn ta nghĩ lại cho con cháu được nhờ. Đạo Bụt không thể không được hiện đại hóa. Tại Tây phương, nhiều người đang muốn cho đạo Ky Tô được hiện đại hóa, nhưng họ chưa thành công vì thái độ thủ cựu và giáo điều của giới chức sắc bề trên. Nhiều nhà thờ vắng bóng tín đồ. Người xuất gia rất hiếm. Chỉ vì tại người ta bảo thủ quá, không chịu làm mới; không chịu cách mạng giáo lý và giáo chế. Đạo Bụt có tinh thần cởi mở tự do, dễ làm mới hơn nhiều. Ta có thể thành công trong vài thập niên nếu chúng ta tỉnh thức. Ông đồ xưa ơi, xin ông mau mau sống dậy. Cơ hội đã đến. Xin ông hãy chuẩn bị tái sinh. Hẹn ông cùng có mặt ở mùa hoa đào năm tới:


Sang năm hoa đào nở
Sẽ thấy ông đồ xưa
Với hình hài rất mới
Sống động hơn bao giờ.

Chúng ta không có lý do gì để không thành công.

Mười năm bên hàng dậu

 

“…Mười năm xưa đứng bên bờ dậu,

Đường xanh hoa muối bay rì rào,

Có người,

Lòng như khăn mới thêu….” -T.C.S-

Những ngày cuối cùng của mùa Thu thật lạnh. Không biết là ở phương Tây người ta có ngày lập đông hay không nhưng chỉ cần tinh ý một chút là đã có thể cảm nhận phảng phất sự có mặt của mùa Đông trong những cơn gió và cơn nắng cuối Thu này. Mà không phải là ai cũng có cái tinh ý ấy. Như tôi chẳng hạn, mười năm trước tôi đâu có cái ý niệm lập đông ở xứ này. Với tôi lúc ấy, lập đông là khi những cơn lụt đã đi xa, thay vào đó là sương mù mỗi sáng. Lập đông ở xứ tôi còn có những cơn mưa lạnh buốt, không lớn mà dai dẳng, có khi dài tới mấy ngày. Ngày tôi đến xứ này chỉ là một ngày cuối Thu bình thường, nhưng với tôi nó đã như là một ngày trọng đông!

Ngày ấy rất lạnh. Tôi và chị tôi được xe hơi của quý thầy đón về Làng sau mấy mươi giờ lênh đênh trên … trời. Thật vậy, đó là lần đầu tiên chị em tôi làm một chuyến đi xa như vậy. Và thật sự, chuyến đi ấy thật xa, chuyến đi ấy đã đưa chị em tôi đi thật xa. Nhưng đó là chuyện sau này, chuyện bây giờ là mùa Đông, mùa Đông đầu tiên của tôi. Ngày ấy rất yên. Xóm Hạ đón chị em chúng tôi chỉ có một sư cô, một sư cô bình dị, rất tu, rất chùa. Đó là ấn tượng đầu tiên của tôi về một sư cô Làng Mai. Tôi đã đi tu khá lâu trước đó, và trong ấn tượng của tôi, những sư cô tôi biết ít người có được những cái “rất” nơi sư cô đầu tiên tôi gặp ở Làng. Có người thì rất chùa, rất bình dị nhưng nhìn kỹ thì chẳng có vẻ gì là rất tu cả; có người thì rất tu nhưng không có chút gì là rất bình dị và cũng chẳng có chút chùa nào; và cũng có người chẳng có chút chùa, chút tu hay chút bình dị nào hết. Cố nhiên trong số những người nữ tu tôi từng gặp trước đó thi thoảng cũng có người biểu hiện những cái “rất” ấy, nhưng phần lớn là thoáng qua và một phần là do tôi gượng ép mà ban cho. Những cái “rất” kia lại thể hiện một cách rất thiệt thà nơi người nữ tu tôi gặp đầu tiên ở Làng ấy.

Xe đỗ trước cửa một căn nhà đá thấp với một cửa vào ra bằng kính mà sau này tôi sẽ gọi là nhà ăn. Một bụi trúc xanh rất thấp quét những cái ngọn non choẹt vào vách đá xào xào theo từng cơn gió lạnh, đến nỗi làm cho đầu những ngọn trúc toe ra như một đám chổi. Loài trúc này thật lạ, thấp, thân nhỏ, nhưng lá lại rất xanh. Xe đỗ một hồi mà chẳng thấy người nào ra, tôi không biết là xe đã tới nơi. Tôi nghĩ rằng thầy tài xế dừng xe lại ở đây để hỏi thăm người dân chuyện gì đó, trên đường, thầy cũng dừng lại vài lần như vậy rồi. Vì vậy mà chị em tôi cũng ngồi im trong xe, không lên tiếng hay tỏ vẻ gì là muốn xuống xe cả. Đối diện với cái nhà đá thấp có đám trúc rất xanh ấy là một căn nhà đá nhỏ hơn, thấp hơn và lại được phủ kín bởi một đám dây leo trần trụi không một chiếc lá. Đám dây leo màu xám đen như một bầy rắn đói tìm ăn trên cái mái ngói ẩm ướt đầy rêu. Nhìn xuống cái sân nện đá trắng, tôi ngỡ ngàng tròn to mắt với những chiếc lá hình trái tim có cái đuôi dài màu vàng tươi đang theo gió rượt nhau trên sân rồi nằm yên bất động khi gió ngừng. Tôi dõi mắt theo những đám lá ấy thì nhìn thấy một hàng gốc cây trắng, thân chỉ to bằng bắp tay nằm dọc theo con đường trải sỏi trắng này. Trên cây, hàng vạn chiếc lá vàng hình trái tim đang vẫy, phản chiếu cái nắng buổi chiều mùa Thu rất trong, rất tươi. Cuối hàng cây ấy là một sườn đồi thoai thoải phủ cỏ xanh, dưới ấy là một cái hồ thì phải và trên sườn dốc đối diện là một vườn cây trụi lá. Sau này tôi mới biết hàng cây đó là bạch dương và bên kia hồ sen còn có một rừng bạch dương nữa. Và cái vườn cây trần trụi ấy chính là vườn mận, chính là Làng Mai. Tôi chưa kịp nhìn thấy những cây sồi cổ thụ phía sau đám tre đối diện với cái nhà đá nhỏ thì đã nghe tiếng cửa xe mở và tiếng chào nhau nghe rất lạ của một giọng nam và một giọng nữ.

–                     “Xin lỗi sư em, sư chị đang nấu ăn”.

–                     “Chào sư chị. Đây, sư em mới của sư chị đây”. Giọng thầy tài xế.

Tôi nhìn lại, đó là một sư cô chừng 40 ngoài, nhỏ nhắn, rất tươi và mặc toàn đồ nâu, kể cả cái tạp dề nấu ăn. Có bao giờ tôi nghe người tu xưng hô với nhau như vậy trước đây? Tuy lạ, nhưng tôi lại có cái cảm nhận rằng cái cách xưng hô ấy rất người và cũng đầy cung kính. Chị tôi xuống xe trước tôi, chào sư cô rất lễ phép. Tôi cũng xuống xe, miễn cưỡng chào sư cô. Sư cô thì ngược lại, không tỏ vẻ gì là xa lạ với chị em tôi và hơn nữa, trong cung cách chào lại chị em tôi còn tỏ ra rất mực chân thành và lễ độ. Tôi thật sự đã hơi lúng túng vì thái độ chân thành và lễ độ đó. Tôi đứng nhìn thầy tài xế và sư cô ấy mang hành lý của chị tôi vào cái cửa kính của căn nhà đá thấp có bụi trúc ấy mà lòng vẫn còn lúng túng: “Đây là Làng Mai sao?”. Nếu không có cái sư cô rất bình dị, rất tu và rất chùa ấy thì tôi không tin rằng mình có thể thuyết phục được mình dù với bất kỳ lý do nào rằng đây là một ngôi chùa. Và nếu không có cái sư cô rất bình dị, rất tu và rất chùa ấy thì tôi không tin rằng tôi có thể yên lòng mà cười rồi vẫy tay chào chị tôi khi chị tôi đi vào trong cái cửa kính nhỏ bé của căn nhà đá thấp ấy. Chị tôi theo sư cô kia đi khuất sau cánh cửa, nhìn xuống mặt đất, tôi bỗng thấy rất nhiều trái tim vàng có cái đuôi bé tí không biết đã nằm quanh chân tôi tự lúc nào.

Rừng bạch dương mùa đông – Xóm Hạ

bachduongmuadong.jpg

Mùa Đông này tôi đứng đây, dưới hàng bạch dương và cũng với hàng vạn chiếc lá hình trái tim này. Những cây bạch dương ngày xưa vẫn còn đấy, nhưng không phải là bằng bắp tay tôi nữa, mà có cây đã đủ một vòng tay ôm rồi. Những cây bạch dương tuy đã già đi thật nhưng vạn trái tim kia vẫn tươi vàng óng ả trong nắng như buổi chiều Thu đầu tiên. Những đám trúc không còn là những đám chổi xơ xác nữa mà đã vươn cao, và cũng vẫn như xưa, tươi xanh sáng lạn. Nhìn ra rừng bạch dương dưới chân đồi, hàng vạn chiếc lá vàng đang hợp tấu bài ca mùa Thu. Và trên đồi mận, những thân cây kia tuy vẫn trần trụi, khắc khổ nhưng tôi đã nhận ra được hình dáng và hương sắc của loài hoa trắng tinh khôi ấy. Nhìn vào ngôi nhà đá, không có dáng đi của chị tôi sau khung cửa kính, và tôi biết, chị tôi đã đi rất xa vào trong khung cửa ấy. Sau khung cửa ấy, cũng như quanh tôi, chị tôi cũng có những trái tim vàng với cái đuôi bé tí, cũng có những vườn trúc xanh tươi sáng lạn và cũng có những đồi mận ngút ngàn bát ngát không gian.

“Mười năm chân bước trên đường dài,

Gặp nhau không nói không nụ cười,

Chút tình,

Thảnh thơi như áng mây.*(1)

Mười năm khi phố khi vùng đồi,

Nhìn nhau ôi chứa chan tình người*(2)

Có một,

Dòng sông đã ra đời*(3) .” -T.C.S-

Dòng sông ấy vẫn sống động, mang trong nó những con người có những tấm lòng như như khăn mới thêu, mang trong nó hàng vạn con tim vàng óng có cái đuôi bé tí tung tăng trong gió cuối Thu, mang trong nó những ánh mắt rạng người như những chiếc lá trúc tươi xanh sáng lạn.

-Viết cho chị tôi và các bạn của chị tôi-

Làng Mai, lập đông 2010.

 

 

Ghi chú: * Những chữ in thẳng là những chữ không đúng với ca từ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. (1) Dường như hiu hắt bay. (2) cũng như mọi người. (3) qua đời.

 

Thầy Trung Hải


mùa xuân, em bé sơ sinh

 

emvaxuan.JPGTừ lâu, tôi không còn lo lắng về em nữa. Tôi tin em, như tôi tin tưởng mùa xuân đang có mặt trên Trái Đất. Lần nào gặp mùa xuân, tôi cũng phải kinh ngạc đôi chút. Chúng ta cứ tưởng rằng mình đã biết về mùa xuân. Cũng như chúng ta thường nghĩ rằng mình đã biết về nhau. Chỉ quen nhau một thời gian, thì chúng ta đã nghĩ: “Tôi biết về người đó rồi.” Thật ra, chúng ta chưa biết nhau, cũng như chưa biết về chính mình. Mùa xuân là những giọt thời gian thật vi diệu. Tôi đón nhận mùa xuân với tất cả tấm lòng trân trọng.

Địa lan đã bắt đầu ra hoa rồi. Hôm qua, đi chơi giữa rừng thông, bên cánh đồng cải hoa vàng, tôi bắt gặp những giò địa lan thật xinh đẹp. Em tôi nói: “Cẩn thận, coi chừng dẫm lên địa lan đó nha”. Tôi mỉm cười hạnh phúc. Mỗi giò địa lan là một nụ cười của mùa xuân. Không có nụ cười nào là dư thừa. Mỗi lần cười là một lần hạnh phúc. Lúc nào, khi trở về Trái Đất, mùa xuân cũng hiến tặng chúng ta những nụ cười. Có người, đón nhận nụ cười của mùa xuân bằng tấm lòng biết ơn. Nhưng cũng có những người nghĩ rằng mình đã biết về mùa xuân và không nhận ra những tín hiệu của niềm vui.

Em cũng là một mùa xuân. Trên gương mặt của em, tôi đã bắt gặp không biết bao nhiêu mùa xuân thật đẹp. Nụ cười của em là một đóa hoa xuân. Tôi hiểu rằng em có thật nhiều hạnh phúc trong trái tim của mình. Đôi khi, em có một chút hoang mang trong cuộc sống. Nhưng lần nào, thì mùa xuân cũng quay trở lại trên gương mặt thiên thần của em. Có một em bé, ngây thơ và trong sáng như mùa xuân, đang có mặt trong em. Thời gian không bao giờ có khả năng làm cho em bé trong em già đi một tuổi nào cả. Em bé đó, mỗi lần tiếp xúc với sự sống, là mỗi lần kinh ngạc.

Tôi luôn ngắm mặt trời mọc với một chờ đợi háo hức. Tôi háo hức bởi vì biết rằng mình sẽ chứng kiến một cảnh tượng thật đẹp mà mình chưa từng thấy qua. Tôi đã ngắm mặt trời lên hàng trăm lần rồi. Lần nào, tôi cũng thấy một vẻ đẹp khác của buổi sáng tinh mơ. Em biết tại sao không? Tại vì trong tôi cũng có một em bé. Tôi biết nhìn sự sống bằng đôi mắt của em bé ở trong tôi.

Tôi không nhìn sự sống bằng những ý niệm có sẵn ở trong đầu. Con người thường hãnh diện về sự khôn ngoan, về kho tàng kiến thức của họ, là vì họ sống nhiều với những ý niệm của mình. Em có thể đau khổ nhiều vì những ý niệm sai lầm. Ví dụ như em cho rằng người kia ghét em, và muốn làm cho em đau khổ. Ý niệm đó mang đến cho em niềm sợ hãi. Em muốn trưng bày bằng chứng cho cả thế giới biết rằng em đang bị ghét bỏ và khổ đau. Những giây phút đó, em sống trong sự hoang mang, lo lắng.

Mùa xuân trong em và xung quanh em bỗng nhiên vắng mặt. Em tin rằng người kia có quyền làm cho em đau khổ. Và em ôm ấp trong tâm một ý niệm trừng phạt, trả thù. Với ý niệm đó, em trở nên mong manh, đáng thương biết mấy. Không ai có quyền, hoặc có khả năng làm cho em đau khổ cả. Cả mùa xuân này là của em. Hạnh phúc đang có mặt là của em. Chỉ khi nào, em xem thường hạnh phúc của mình, thì người khác mới làm khổ em được mà thôi. Vì vậy mà em đừng bao giờ cho phép mình mang ý niệm trả thù, mong muốn cho người kia đau khổ. Nỗi hiềm hận sẽ giết chết hạnh phúc, giết chết khả năng vui sống ở trong em. Với hiềm hận, đau khổ, em không thể nào hoá giải được những hiểu lầm đang có mặt. Khổ đau mà chúng ta thường phải gánh chịu, đôi khi, chỉ là sản phẩm của một vài tri giác sai lầm. Đã bao lần, tôi thấy em thật kiên nhẫn. Em đã biết lắng nghe bằng một trái tim thương yêu. Em không lắng nghe với một ý niệm rằng em đã biết rồi. Cho rằng mình biết rồi, thì ta không còn lắng nghe được nữa. Và truyền thông sẽ vắng mặt. Em thử nghĩ xem, nếu ta cho rằng mình đã biết mùa xuân, thì những giò địa lan tuyệt đẹp kia nở cho ai? Sự sống không hề biết tuyệt vọng. Trong những hoàn cảnh khó khăn nhất, sự sống vẫn có mặt, vươn lên. Thời gian không làm cho em già nua, nhưng luôn cho em thật nhiều không gian để chiêm nghiệm, tìm một con đường cho tình thương đi tới. Khi nào ngôn ngữ của em còn hằn học, buộc tội, thì tình thương vẫn chưa có mặt. Em hãy lắng nghe, xem thử mình đang dùng ngôn ngữ nào. Chúng ta rất cần nói cho nhau nghe bằng ngôn ngữ của tình thương. Khi thương yêu, lời nói của ta dịu dàng trở lại. Tình thương làm ra thật nhiều hạnh phúc. Tôi chưa từng nghe một người có hạnh phúc lại sử dụng thứ ngôn từ thô bạo, hằn học bao giờ. Em lắng nghe mình và sẽ hiểu ra người kia nhiều hơn. Nếu biết dùng ngôn ngữ của tình thương, thì em sẽ đón nhận được tình thương.

Em đừng nói rằng mình không cần tình thương. Không ai trong chúng ta đã đủ khôn lớn để không cần đến tình thương. Cho đến khi tám, chín mươi tuổi thì em vẫn là một em bé. Những người già thường có cử chỉ ngây ngô, dễ thương lạ lùng. Mà không phải đợi đến tám, chín mươi tuổi thì em mới biết làm một em bé. Mỗi mùa xuân là một em bé sơ sinh của sự sống. Như một em bé, em sẽ biết nhận và biết cho tình thương. Cuộc sống không phải là một nơi để cho chúng ta phải chịu đựng khổ đau. Sự sống là nơi để cho mùa xuân có mặt. Đó là nơi chốn để chúng ta có thể trao cho nhau những lời nói dịu dàng; và biết lắng nghe nhau. Ở đó, chúng ta có quyền có hạnh phúc.

Thạch Lam, Bính và …em… (thư gửi chị – Phần 4)

Tác giả: Áo Trắng

 

Buổi sớm mát trong

Chị của em, em đã kể cho chị về Bưởi – người con gái của lòng em. Nay em muốn tiếp tục với một người trẻ nữa. Một người thanh niên, một chàng trai Hà Thành. Tên anh là Bính. Nhưng trước hết, em xin được bày tỏ đôi chút về Thạch Lam.

Chị biết không, em nghĩ là mình còn rất lâu nữa mới có thể tiếp xúc được với thực tại của Hà Nội. Nhưng em đoan chắc rằng những áng văn tuyệt bích của nhà văn Tự Lực Văn Đoàn đã là nguồn cơn khởi đầu cho tình yêu thủ đô trào dâng trong em. Chút hiểu biết ít ỏi mà em có được về Tràng An cũng phần nhiều đến từ sự khai sáng của tác giả mang họ Nguyễn Tường này. Các câu chuyện của ông thường không có một kết cấu, chủ đề rõ ràng. Truyện mà không có chuyện. Hình thức có vẻ rỗng không nhưng lại chứa đựng bao nhiêu là tình sâu nghĩa nặng. Em bắt được nhịp điệu của một trái tim tinh tế. Em nghe thấy vũ khúc của một tấm lòng cao thượng. Giọng kể nhẹ tênh, miên man và thi vị của Nguyễn Tường Vinh đã khiến cho con người và cảnh vật Hà Nội đi vào em tự lúc nào… Những Hà Nội băm mươi sáu phố phường, Bà mẹ Lê, Hai đứa trẻ, Dưới bóng hoàng lan và vô số những thanh âm vang động từ tâm hồn nhạy cảm đó đã tưới tẩm nhựa sống nơi em, nuôi lớn em qua bao tháng ngày thơ dại.

Em rất ưa thích một truyện ngắn trong tuyển tập Nắng Trong Vườn. Em vẫn thường xuyên đọc lại tác phẩm này. Tựa đề của nó là “Buổi sớm”. Đối với em, đây không khác gì một quyển tâm kinh, chị à. Có thể là em đã quá hấp tấp và vội vàng để có một nhận định như vậy. Nhưng chị có biết không, từng câu từng chữ của câu chuyện đã làm em rúng động, rụng rời. Mỗi dòng, mỗi trang như một phần đời mà em đã nếm trải. Có thể chị đã biết về câu chuyện này rồi. Nhưng hôm nay em mong chị sẽ cùng ngồi xuống với em. Thật thảnh thơi, em cùng chị sẽ tuyên đọc lại “Buổi Sớm”.

Trước khi ta bắt đầu, chị có thể thỉnh một tiếng chuông và duy trì hơi thở ý thức. (C)

Nhân vật chính tên là Bính. Chị cũng có thể thấy Thạch Lam trong đó. Và chị cũng có thể nhận ra có em nơi đây. Bính không thể nào là kết quả của một trí tưởng tượng. Ta phải thấy được Bính vẫn đang còn có mặt trong hiện tại…

Bính sinh ra trong một gia đình hạnh phúc. Anh thừa hưởng một nền giáo dục toàn bị. Một người con trai yêu sự sống như bao trái tim hai mươi khác. Nhưng rồi dòng đời đã vùi dập tâm hồn tươi trong đó. Chàng có những chí nguyện dở dang, những mộng tưởng không thành. Mất việc, hết tiền. Người con trai ấy chạy trốn kỷ niệm, tìm kiếm lãng quên trong rượu chè, ma túy và sắc dục. Tài sản của chàng lần hồi ra đi. Chàng nhiều lần vùng khỏi cánh tay mẹ già ngày đêm khóc thương con. Có lúc Bính cũng muốn mọi thứ phải khác đi. Chàng muốn có một sự khởi đầu mới. Nhưng câu trả lời chưa kịp đến thì cơn say thuốc, khoái cảm trụy lạc lại đánh gục chàng. Bính tiếp tục kéo lê đời mình, hành xác thân tâm trong những đêm dài tối tăm vô tận…

Và rồi một ngày kia, một buổi sáng thật mát trong và tĩnh lặng, Bính thức dậy sớm. Tự hỏi:

Mình đã sống như thế bao lâu nay rồi?

Chàng nhớ lại ngày xưa. Bính biết rằng trước đây mình hay dậy và rửa mặt thật sớm. Nước mưa mát lạnh đọng lại từ hôm qua khiến chàng tỉnh táo. Bính nhớ lại bao nhiêu những ước mơ đẹp đẽ, những nguyện vọng tinh khôi thuở nào. Lần đầu tiên trong nhiều năm, Bính mới nhìn lại bầu trời. Anh đặt những bước chân thầm lặng trong vườn nhà. Anh thấy lòng trong sạch và thanh cao. Anh thấy mình vẫn còn trẻ. Tình thương mẹ bắt đầu hé nụ nơi đáy tim. Bính cẩn trọng hái một đóa hồng nhung tươi thắm. Chàng thay nước, khe khẽ dâng hoa lên bàn thờ. Mẹ chàng vừa tụng xong mấy câu kinh Phật. Thanh âm vẫn trong nhẹ như xưa. Tay đặt tràng hạt xuống và khẽ gọi:

Sao dậy sớm thế, con?

Chị thương mến! Câu hỏi kết thúc tác phẩm không chỉ dành cho Bính. Nó có thể dành cho tất cả. Đó có thể là đối tượng để ta nhìn sâu, quán chiếu. Mình hỏi lại nhau: Vì sao Bình thức dậy sớm? Nếu đọc lại toàn bộ “Buổi Sớm” thì ta có thể phát hiện rất nhiều lời giải. Có thể là những tiếng kinh câu kệ mà mẹ chàng vẫn trì tụng hằng ngày. Có thể là làn nước mát lạnh buổi sớm mai. Tiếng chim bồ câu. Đoá hồng thơm. Tiếng người cười nói trong con hẻm nhỏ. Những gánh rau tươi xanh… Nhiều lắm, chị à. Đã có bao nhiêu nhân duyên, tăng thượng duyên, sở duyên duyên, đẳng vô gián duyên đã về tụ hội để làm cho Bính bừng tỉnh. Anh thức dậy, ý thức biết bao gốc rễ khổ đau trong đời sống mình và đặt một câu hỏi quyết định. Một câu hỏi rung chuyển đất trời:

Mình đã sống như thế bao lâu nay rồi?

Chị biết không, câu hỏi ấy với em quan trọng lắm. Nó có thể còn quan trọng hơn cả câu hỏi: Thế nào là tứ duyên? Vì chỉ một câu nghi vấn đó thôi mà đời Bình đã đổi thay, biến chuyển. Ai mà không ước mong mình sẽ có nhiều những “Buổi Sớm” xanh trong, tươi mát?  Có ai lại muốn mơ ngủ giữa ban ngày, mộng du giữa đời thực? Dù thời gian có qua đi, không gian trở nên khác lạ, nhưng những khổ đau não phiền thì muôn đời vẫn luôn còn đó.  Xã hội bây giờ có rất nhiều Bính như vậy lắm, chị à. Có biết bao nhiêu người con trai con gái tên là Bính trong cuộc đời. Họ có thể có dư năng lượng của tuổi trẻ. Lòng họ có thể đầy thừa những nhiệt huyết và thiện nguyện. Đôi mắt hướng về trăng sao. Bàn tay, đôi chân tìm đến vườn hoa nội cỏ. Nhưng trên những chuyến xe cuộc đời còn đó biết bao hầm hố của danh lợi, tài sắc, những bẫy sập của sự hưởng thụ, buông thả trá hình trong ly rượu thơm chiếc áo đẹp. Vị ngọt ngon và vẻ hào nhoáng của chúng có thể làm ung nhọt muôn khối óc nguyên khôi, bóp nghẹt bao trái tim thanh khiết. Và đâu chỉ có vậy, còn có những loài lang sói hổ beo rình rập, đợi chờ. Và ta thấy đã có biết bao người đã gục ngã. Một số may mắn hơn vẫn tiếp tục hành trình. Nhưng trong thân tâm là những cơn đau âm ỉ, những vết thương sâu kín. Những người thanh niên đó có thể ý thức được tình trạng của mình và muốn một sự chuyển hoá, đổi thay. Nhưng anh ấy hay cô ấy đâu biết phải làm sao. Họ không biết cách tự nuôi dưỡng cái hạnh nguyện thuở ban đầu. Họ chưa được học phương pháp chữa lành vết thương nơi tâm thức. Và rồi họ sống mòn, chết dần qua bốn mùa cỏ cây thay lá ra hoa .

Ý thức thôi thì vẫn chưa đủ. Chúng ta cần phải có một khung cảnh cho tâm thức. Chúng ta cần phải biết tìm kiếm những thức ăn cho tâm hồn. Ta cần phải tự nuôi dưỡng cho ý muốn hướng thượng trong ta. Chúng ta cần lắm những “Buổi sớm” cho Bính tỉnh cơn mê. Mình phải tạo dựng những bình minh, hừng đông để người con trai, con gái như Bính tan giấc mộng.

Bính sẽ làm gì tiếp theo? Đó sẽ là đề tài mà em theo đuổi. Chúng ta phải tiếp tục công trình của Thạch Lam. Em và chị phải viết những chương tiếp theo. Ta phải tiếp nối con đường của chú Sáu Nguyễn Tường Vinh, phải không chị! Em nghĩ là mình có thể làm được, chị à. Mình có cả một kho tàng kinh nghiệm và tuệ giác đang ẩn giấu trong nếp sống tâm linh dân tộc. Đâu chỉ có một viên ngọc lặng lẽ của Thạch Lam. Còn rất nhiều những châu báu khác đang đợi chờ đôi mắt ta nhận diện, bàn tay ta khai phá. Tất cả vẫn đang có mặt trong ngôi nhà văn hoá dân gian. Chỉ cần xoay tay là cánh cửa thần kỳ sẽ đưa ta tới với những tầng trời phương ngoại. Chỉ cần kéo nhẹ chiếc hộc bàn thì cỗ máy thời gian sẽ đưa ta về với những tháng ngày hoàng kim. Mình phải về thôi. Ta phải về….

 

Chiều về trên sông

duongxuan.jpgChị của em! Chiều nay, em ra ngồi ở bãi sông Hồng. Mỗi khi lòng phiền muộn, em lại về bên sông. Em không biết thói quen này hình thành từ khi nào? Phải chăng là một cách vô thức ai cũng có trong lòng mình hình ảnh một con sông? Ngồi giữa hoàng hôn thơm mát, trong không gian thanh vắng, tâm tư em trở nên lắng đọng, nhẹ nhõm. Cả một con nước lấp lánh đang êm nhẹ chảy, lững lờ trôi. Con sông bên ngoài cũng chỉ là một tạo tác của dòng tâm thức bên trong em, phải không chị? Vì em có mặt nên sông cũng có mặt. Sông chưa bao giờ rời bỏ em, luôn còn đó cho em. Chỉ cần em trở về với hơi thở, với hai nhịp vào ra thì cả thiên hà đại địa lại hiện hữu. Nhẹ nhàng và sâu lắng. Phù! Em vừa hít căng lồng ngực và thở ra một hơi thật chậm đó, chị à. Khí trời thoáng đãng. Bốn bề chỉ còn là màu nước sắc mây. Sông đã khác. Và em cũng đã khác đi chỉ trong một ánh chớp loè của thời gian. Em ngồi nghe tiếng chiều rơi. Chiếc thuyền nhỏ đã mang em sang bờ bên kia. Ngón sen em rộng mở, chắt chiu dòng mật ngọt loãng tan vào dạ. Bóng chiều cũng giang đôi tay rực rỡ ôm ấp ý thức em vào lòng. Chiều và em đi vào nhau, có trong nhau. Em đi trong ánh sáng. Em bơi giữa mặt trời. Con sông của quê hương yêu dấu. Con sông của tuổi thơ êm dịu. Em đã trở về sông Nhà Bè, sông Vàm Cỏ, sông Hương, sông Hàn. Và nay bao nhiêu bụi bám cát vương trên tấm thân hao gầy đang được tẩy xóa, gột rửa bởi sắc đỏ hồng huyền thoại, thần thánh. Màu sông đã đỏ vì mỏi đợi mòn trông người lữ khách xa quê trở về. Em đã về, đã đến. Bỏ lại sau lưng bao lo toan, tính toán, em lại là  đứa bé hồn nhiên, nhỏ dại ngày nào. Đến bên sông là em đến với lòng chân thật, tính sáng soi. Không một lớp ngăn chia che dấu nào nữa. Em lại là chính em – con nai vàng ngơ ngác bên suối ngàn hiểu thấu thương sâu…

Mình thật may mắn, phải không chị! Giữa lòng thủ đô ồn ào và náo nhiệt vẫn còn đó một con sông, một bờ đê để ta có thể trở về, dừng lại và hít thở. Chỉ 5000 VND tiền đò ngang thôi là em có thể xa lìa thành thị để sống đời thôn dã. Trong vòng 30 phút thôi là em có thể rong chơi giữa hai bến tỉnh mê, đôi bờ mộng thực. Bãi đất phù sa nổi lên giữa sông Hồng này làm cho em nghĩ suy nhiều lắm. Nhiều lúc em cảm thấy đời sống mình đã quá xao động, có những bế tắc và khủng hoảng. Mình nghĩ mình phải ra đi, kiếm tìm một thung lũng hoang vắng, một vùng trời biển cô tịch nào đó. Nhưng khi lòng ta vẫn chưa thật an định thì liệu ta có thể tìm được bình yên hay không? Hay phải chăng ta chỉ có thể khám phá chốn tịnh lạc ở chính nơi mà ta đang quay cuồng, điên đảo? Mình đâu cần đi đâu xa. Ta đâu cần phải mang vác gì nhiều, phải không chị. Chỉ cần vài bước chân là em đã có thể giũ bỏ chiếc áo gấm hoa nơi phố phường để sống cuộc đời khoai sắn. Chỉ cần khoác lên người tấm áo nâu sồng dung dị là em có thể biệt ly bao thương tiếc, quên hết mọi u sầu. Em bắt đầu trồng vào lòng đất xốp những cây ngót rừng. Em đi gieo những hạt cải. Và em có thể nấu nước để luộc bí. Bông và ngọn bí em sẽ xào với tương và ăn chung với lạc vừng. Không hàng quán sang trọng, bề thế nào cho em thú vui này. Ăn giữa đất trời mây nước. Hương đồng gió nội sực nức tâm can.

Thật là lạ thường, phải không chị mến thương!  Kề bên trung tâm thành phố, phù sa lại bồi đắp để cho ta có một mảnh đất màu mỡ, tươi tốt. Ở Bãi Giữa sông Hồng này, người nông dân ở các vùng lân cận đã tập trung về để canh tác hay làm thuê. Điện được tích trữ trong những bình ắc quy. Nước được truyền dẫn trong những ống nhựa dài ráp nối nhau một cách thủ công, tạm bợ. Ánh sáng của văn minh chưa có mặt ở nơi này. Nhưng em cũng đâu cần nhu yếu gì nhiều. Em chỉ mong cầu một điểm tựa để có buông xả thân tâm. Em chỉ cần một gốc cây, một bãi cỏ để có thể tiếp xúc với đất Mẹ. Chiều nay, em ngồi nhìn về Hà Nội. Bây giờ đang là giờ cao điểm, bao nhiêu người đang lấn chen giữa làn hơi bụi khói. Những người thương của em có thể trong phút giây này vẫn đang tranh đấu vật lộn để có thêm bát cơm manh áo. Em nghĩ về họ nhiều lắm, chị à. Em ra đến đây đâu phải để tìm quên hay tháo chạy. Em chỉ mong được vài giờ phút tĩnh lặng để nhìn lại mình. Em còn thiết tha với bờ bên kia lắm, chị ơi! Bên này, đâu phải là hang sâu hay động tối để em trốn tránh, ẩn náu thực tại. Em nào cần một động hoa vàng để thêu mơ dệt mộng. Em ra đi để một tìm kiếm một con đường, một lối thoát. Em ra đi để một ngày kia có thể quay trở về. Về với chị, về với những người dấu yêu…

Chị biết không, hơn một năm nay em đã dừng lại tất cả mọi công việc cá nhân. Em từ bỏ mọi quan hệ, các đối tác để đi vào đời. Em không mong sẽ ngước xem thế sự trong lăng kính của một chiếc Lexus nào đó. Chân em vẫn còn khỏe để có thể quẫy đạp giữa dòng đời. Em khước từ việc nhìn ngắm sự sống qua màn hình Ipad hay Kindle. Mắt em vẫn chưa đục để có thể thâu nhuận muôn vàn âm thanh, hình ảnh. Em không chống lại những tiện nghi hay công nghệ. Em vẫn còn mơ thấy chúng nhưng em biết rằng đuổi theo những đối tượng đó sẽ hao tổn bao thời gian, sức lực và tâm trí em. Ba bông hoa tươi thắm đó chỉ bừng nở một lần rồi sẽ mãi héo khô tàn lụi. Mình chỉ có một thời tuổi trẻ, phải không chị? Cho nên em phải lên đường. Em phải đi tới. Em vứt chiếc dép. Em bỏ đôi găng. Chân trần. Em tìm tới những làng mạc thiếu thốn, những thôn bản xa xôi. Tay trơn. Em đến với những người cùng khổ, những mảnh đời bất hạnh. Và em thấy lòng thanh thản, nhẹ nhõm. Em tìm thấy an lạc khi sáng cho người niềm vui, chiều giúp người bớt khổ. Em khám phá ra một sự thật rằng khổ đau đang có mặt, tràn đầy cả mười phương. Và nỗi niềm riêng mang của em có là gì khi đứng trước bể sầu rộng khắp. Và những chuyến đi của em vẫn còn tiếp diễn, chị à. Em đã đi quá xa rồi chăng? Em cũng không biết nữa. Em chỉ biết điểm khởi đầu của cuộc lữ hành ấy. Cách đây chỉ mới ba năm…

Đó là một ngày nắng đẹp, một buổi sáng mát trong. Em được giảng giải về năm phương pháp thực tập chánh niệm, ba sự quay về và tám hướng đi sáng đẹp trong cuộc đời. Trong em khi ấy chỉ còn là những tiếng vâng dạ vang vọng, những lời đồng ý ngân rung. Và em đã hết lòng hết dạ thực hiện. Rất nhanh chóng, em thấy đời sống mình thăng hoa và đẹp đẽ. Nếp sống theo tinh thần ngũ giới làm cho em cảm nhận mình có chủ quyền và tự do. Tuy vậy, những chướng ngại và lực cản dần dần xuất hiện.

Xã hội được tổ chức và hoạt động theo một hướng khác với lối đi mà em đã chọn. Và có đôi khi, em cảm thấy một phản lực rất lớn trĩu nặng trên đôi vai gầy guộc của mình. Giống như ta đang bơi ngược dòng nước vậy. Em trăn trở, thao thức để tìm kiếm một nghề nghiệp chân chính. Em tự hỏi mình thế nào là chánh mạng? Em không bằng lòng với những câu trả lời cạn cợt, qua loa. Em muốn một giải pháp hoàn chỉnh, một lời giải thoả đáng. Muốn được như vậy thì em biết rằng mình cần rất nhiều thời gian nữa, chị à. Và em cũng cần sự khôn khéo mới có thể sắp đặt và tổ chức đời sống mình theo con đường bát chánh. Chị ơi, phải chăng em đã đi quá xa rồi? Em cũng không biết nữa. Em đã từng nhìn lại. Có khi em muốn quay đầu. Nhưng em không thể nào đi lại đường xưa lối cũ được nữa, chị à. Trái táo hồn em đã chín. Táo chín cây thì táo phải lìa cành. Làm sao, làm sao em có thể quay lại được nữa? Việc thực tập hành trì năm giới của em như thế nào? Những khó khăn trong việc tìm kiếm một nghề nghiệp đúng tinh thần của Bụt dạy ra sao? Tất cả những vấn nghi, khắc khoải đó em sẽ kể cho chị trong một dịp khác, chị nhé. Đó sẽ là một lá thư dài nữa, chị à. Và chắc chắn sẽ không có những lời kể lể, khóc than. Vì chị biết không, trong những lúc khó khăn, cái đói, cái lạnh ập đến, nụ cười vẫn điệp khúc trên môi em. Lục bát vẫn tình tang trong cõi lòng.  Em đã cất cao tiếng hát rồi đó. Chị có nghe không? Tiếng hát em là bằng chứng cho thấy em vẫn còn đó niềm tin và hy vọng. Con đường sáng rực em đã chọn dẫu rằng em chưa biết bước như thế nào? Có thể hơi khúc khuỷu, gập ghềnh. Nhưng em đâu cần phải lo sợ. Vì em vẫn còn đó những người thương. Em vẫn còn có chị, phải không chị thương mến của em! Trong giây phút này, trên đôi tay thon gầy của chị là trái tim, là tâm hồn em đó. Em mời chị lắng lòng nghe. Lắng lòng nghe. Chị có cảm nhận được không? Lời ca em đã bay lên rồi:

Bởi vì đời còn nhiều khi là thơ
Bởi vì tình còn nhiều khi là mơ
Hãy cất tiếng ca cho đời thôi buồn
Hãy cất tiếng ca cho lòng thôi khô héo.

Bưởi – Mối tình đầu của em (Thư gởi chị phần 3)

Tác giả: Áo Trắng

 

trangdem.jpgMối tình đầu tiên

Sáng nay em đi tìm lại quyển sổ tay bé nhỏ của mình. Em nghĩ là nó đã rơi rớt ở một khúc quanh nào đó trên đường Láng. À không, em nghĩ chính xác hơn là đoạn từ ngã tư Cầu Giấy đến ngã ba Cống Vị. Ngày nào em cũng đi đi lại lại trên con đường thênh thang và đầy bóng mát cây xanh này. Em được nhắc nhở đó là khu vực không an ninh cho lắm. Nhưng em cứ lui tới hoài. Chị có biết vì sao không? Vì em đã bắt đầu hiểu thế nào là thương nhớ, buồn vui. Chỉ cần nghe đến cái tên dung dị, chân quê ấy thôi thì tâm hồn em đã rung rinh, xao xuyến. Phải chăng là em đã có nội kết với “cô ấy”? Hình như em đã bắt đầu biết tương tư rồi, chị ạ.

Em không có nhiều thông tin về Bưởi, chỉ biết rằng người ấy còn trẻ lắm, mới chỉ 24 tuổi thôi. Mỗi khi từ Nội Bài về trung tâm thành phố hay khi ra Bờ Hồ là em lại có cơ hội được kề cận nàng. Em nhận thấy ở người con gái này một sự thanh thoát, đằm thắm và nhạy cảm.

Nhà nàng nằm ở một vị thế rất cao. Nghe nói rằng năm xưa nơi đây vốn là vòng tường thành được đắp bằng đất để bảo vệ kinh đô. Bưởi có ý thức rất rõ về truyền thống hào hùng của quê cha đất mẹ. Từ khi lọt lòng, cô đã sống với người bà thân thương Tô Lịch. Bà đã dạy cô thế nào là hai tiếng thiêng liêng, hai tiếng Việt Nam. Tình thương như suối trong sông mát của bà đã dưỡng nuôi cô khôn lớn. Bưởi ước mong được ở mãi với nơi chôn nhau cắt rốn của mình… Mỗi một mùa xuân qua đi là người bà dấu yêu lại thêm già yếu đau bệnh và cạn kiệt sức sống. Nhưng suốt từng ấy năm trời cô chưa từng bỏ bà mà đi, vẫn luôn ngày đêm chăm sóc chạy chữa với niềm tin bà sẽ sống. Sống mãi …

Chị biết không, em đã quen biết và bắt đầu tìm hiểu về Bưởi trong khoá tu ở Đình Quán. Thì ra tiếng lành về người thiếu nữ ấy đã vang xa khắp một vùng sông biển núi đồi. Khi nhắc tới địa danh Phú Diễn, Từ Liêm là người ta lại nghĩ ngay đến hình ảnh của nàng. Một vẻ đẹp giản dị mà nồng nàn, không chói chẳng sắc màu mà lại ngào ngạt thơm hương khi đông tàn xuân tới. Em có được cơ hội ngồi rất lâu bên người bạn dễ mến này. Em thấy lòng bình an, thanh thản bởi sự mát tươi và tĩnh lặng của Bưởi. Em vẫn luôn ý thức được sự có mặt của cô ấy trong mỗi bước chân thiền hành, giữa những giờ ăn cơm im lặng. Và em thấy cuộc đời này thật đẹp khi vẫn còn đó sự hiện hữu của Bưởi. Mà đâu chỉ có vậy, những ngày sống trong tỉnh thức ở nơi cổ tự này đã giúp em khám phá thêm biết bao những đoá xuân ngời, những bóng hình thuần khiết tinh khôi không lụa là son phấn. Em nhận ra Sen. Em nhìn thấy Nhót. Em chào đón Giun. Chính nhờ họ mà em đã quên mất đi bản ngã bé nhỏ của mình. Em vươn khỏi những ao tù chật hẹp để đến với bầu trời cao rộng. Tình yêu với Bưởi đã phát khởi, tràn lấp như ánh dương soi rọi vào trái tim em, làm nẩy nở bao hạt Tâm Xả, Tâm Từ.

Em bắt đầu lo nghĩ cho Bưởi. Cơn lốc đô thị hoá, công nghiệp hoá ngày càng mạnh mẽ đã đưa tới những đổ vỡ chưa từng có. Những trung tâm thương mại, chung cư, nhà hàng, khách sạn đang xuất hiện ngày một nhiều hơn. Môi trường mà Bưởi sinh sống từ thuở ấu thơ đang bị thu hẹp và ô nhiễm trầm trọng. Em có nguy cơ sẽ mất Bưởi. Mất Bưởi có thể sẽ là một tin buồn nhất trong cuộc đời em. Bưởi không muốn mất đi bà của mình. Và em cũng vậy. Em cũng không muốn mất đi những người mà mình trân quý. Em không muốn mất Tô Lịch. Không muốn mất Bưởi…

Làm mới lại tình yêu

Hà Nội nếu không còn Bưởi Diễn thì sẽ như thế nào? Em không hình dung được viễn cảnh ấy. Nếu không còn Sen hay Nhót thì chắc chắn tâm hồn em sẽ đóng băng, cuộc đời em sẽ là tù ngục. Câu chuyện của em và Bưởi không phải là một câu chuyện ẩn dụ cho một cá nhân hay đôi lứa. Đó là bản tin thời sự ta có thể nghe thấy hằng ngày. Mình phải làm sao để cho Bưởi vẫn còn có mặt. Ta phải tìm ra một hướng đi mới, một lề thói tiêu thụ khác đi. Ta phải mở rộng Hà Nội như thế nào? Ta phải xây dựng những đường đi nẻo về như thế nào để cho Bưởi, Sen, Giun, Nhót hay Tô Lịch vẫn còn một cơ hội?  Ta nên làm gì để cho những ánh đỏ vàng hồng cam đó vẫn còn có hy vọng được xếp hàng giăng lối trên mỗi vòng xoay phố phường thành đô?

Có một thi sĩ đã nói rằng: Phải làm mới lại tình yêu. Để con cái sau này không khổ đau. Em thấy câu nói ấy đúng lắm. Chúng ta đâu cần những khẩu hiệu hay ngôn từ đao to búa lớn. Chị em mình đã nghe không biết bao danh từ rồi. Mình chỉ cần một thông điệp giản dị như vậy thôi, phải không chị của em! Ừ, mình phải làm mới lại cách hiểu, cách thương. Mình phải làm mới lại tình yêu, đúng không chị? Để con cháu chúng ta không còn phải khổ đau nữa. Để cho thế hệ sau vẫn còn một dòng sông, vẫn còn biết về một loài hoa thơm quả ngọt. Để chúng ta vẫn còn một con nước mát rượi trong những tháng hè nóng bức. Để chúng ta vẫn còn đó sắc vàng óng ánh, hương thơm thoang thoảng giữa chiều đông giá lạnh phai tàn…

Đi trong không khí mùa lễ hội, em thấy có nhiều chàng trai cô gái mặc những chiếc áo trắng thật đẹp có in câu: Tôi yêu Hà Nội. Chữ “yêu” được vẽ bằng một trái tim đỏ chói. Không biết là Hà Nội trong lòng các bạn ấy ra sao? Không biết định nghĩa về tình yêu của các bạn như thế nào? Hình như bây giờ người ta yêu thì rất thích biểu lộ tình yêu ấy ra cho mọi người biết thì phải. Đây là một nét văn hoá của Tây Phương, phải không chị? Giới trẻ Tây Phương thì như vậy đó. Thích gì thì nói nấy. Điều đó rất lạ lẫm với người Á Đông. Chúng ta thường có xu hướng khác. Yêu thì mình phải để trong lòng hoặc nếu thể hiện thì cũng phải tìm một cách ý nhị và kín đáo. Em không trách móc gì những người bạn trẻ ấy. Trong thời đại ngày nay, giữa làn sóng văn hoá ngập tràn lẫn lộn những vàng thau gạch đá, nếu không có một đời sống tâm linh vững chãi, thì bất cứ một cá nhân nào, bất kể già trẻ lớn bé, chúng ta đều có thể trở thành nạn nhân. Nạn nhân của những cách nghĩ suy, của một chiến lược hay kế hoạch của cá nhân hay một nhóm người nào đó đề xướng. Nhìn vào những tin vắn, tin dài, mẫu quảng cáo, những đoạn phim thương mại là chị và em có thể nhận diện được sự thật ấy mỗi ngày. Những thành kiến, những cái thấy sai lầm, những thèm khát, bạo động phủ kín tràn ngập không gian xung quanh ta. Nếu không giữ gìn tâm ý, thì bao nhiêu chất độc kia sẽ dễ dàng tan thấm, khiến cho tâm hồn ta tàn lụi trong sự ấm êm giả tạo. Trí óc ta trở nên mê muội trong cơn hưng phấn ngục tù.

Chị và em có thể thấy rất rõ rằng đang có những biểu hiện mà mình gọi là mất gốc, lai căng. Những gãy đổ, băng hoại trong thân tâm xã hội được cập nhật hằng giờ mỗi ngày trên mạng lưới truyền thanh truyền hình. Nhưng ta đâu thể chỉ ngồi đó để khóc than, lên án hay miệt  thị. Em đã từng nghĩ suy, thao thức và em cũng biết rằng có nhiều thanh niên khác cũng như em đã băn khoăn, nhức nhối trước thực trạng của đời sống. Tâm tư đã bừng nở những câu hỏi, những vấn nghi. Trái tim đã hé lộ những khát khao, ước vọng về một con đường, một lối thoát…

Chúng ta có thể nhìn lại mình và hỏi nhau: Ta đã hiểu ta, hiểu người như thế nào? Ta đã thương ta, thương người như thế nào? Cách hiểu và cách thương của chúng ta như thế nào mà đã để lại thực trạng như hiện nay? Mình phải làm mới lại tình yêu, phải không chị của em. Chị em mình đã đồng ý với nhau như thế. Nhưng ta sẽ làm mới như thế nào?

 

Xuân, Hạ, Thu, Đông … rồi lại … Xuân …

Moitinhdau_Aotrang.jpgEm đã nhận ra sự thật là một đời sống phủ phê vật chất sẽ khó có thể đem đến cho em câu trả lời, chị ạ. Những dòng thu nhập, chiếc ghế êm và tấm chăn ấm chỉ làm em quên lãng, đóng khép đời mình với thế giới ngoài kia. Những đêm liên hoan, những vòng ân ái chỉ làm em ngủ vùi trong mộng mị. Và khi đêm tàn ngày tới, em giật mình nhận thấy hơi thở em khó khăn, bước chân em chới với. Ta có những thao thức, những vấn nghi. Nhưng như thế thì vẫn chưa đủ. Ta phải cần một khung cảnh, một không gian để có thể nuôi lớn, tiếp sức cho những thiện nguyện, cho ý muốn hướng thượng nơi tự tâm. Và phước đức thay, lành thay, em vẫn có được những khóa tu. Dù cho có nhiều gian khó, nhưng em vẫn có những ngày trở về.

Các khóa tu bốn mùa qua đi. Xuân, Hạ, Thu, Đông rồi lại Xuân. Chúng ta có thể nói với nhau:  Đâu có gì mới mẻ đâu. Cũng chỉ bao nhiêu đó thời khóa. Cũng chỉ những câu nhắc nhở. Thở và cười. Lắng nghe để hiểu. Nhìn lại để thương.

Nhưng “Em có chán chưa?” Chưa đâu, chị à. Em chưa bao giờ chán những ngày quán niệm. Em chưa bao giờ tiếc những bước chân chậm rãi, những miếng nhai cẩn trọng. Sự thực tập nếp sống tỉnh thức nuôi dưỡng thân tâm em nhiều lắm. Từng động tác, từng hơi thở, cách đi, đứng, nằm ngồi trong ý thức là những trãi nghiệm mà em biết rằng sẽ không thể nào tìm được, có được trong cõi đời bụi bặm gió sương… Em đã có nhiều chuyến đi. Có khi em nhận lãnh những vòng tay bao la, những nụ cười cảm thông, những cái nhìn nâng đỡ. Nhưng cũng không ít lần em hứng trọn những cái tát ê ẩm, những tiếng cười nói quỷ ma… Và em thấy rằng mỗi khóa tu sẽ là trạm dừng bến đỗ để em nhìn lại, là mái ấm để em an trú, rút tỉa những bài học. Chốn bình yên đó sẽ chữa lành những vết thương trong em để rồi khi hừng đông đến, em sẽ lại thảnh thơi bước tới, hoàn thành nốt vai diễn mà mình mơ ước. Cánh cổng tam quan như một tấm màn sân khấu khép lại không gian của bóng đêm cát bụi để mở ra cho em một chu kỳ mới. Ôi! Làm sao em có thể nói hết cho chị đây. Những tháng ngày sao vỡ trăng rơi …

Chị biết không, sau từng ngày sống trong lòng tăng thân, em như chết đi sống lại. Em hay nghe anh chị Về Nguồn hát: “Trong lòng Tăng thân có khi nào mà không Xuân.” Thật đúng quá, chị à! Mùa Xuân đó không thể tìm thấy trong thế giới có không hữu hạn. Mùa Xuân vĩnh viễn, Xuân chín mãi ấy chỉ biểu hiện khi ta thực sống, sống trong Tăng thân. Ánh Xuân không sinh không diệt đó luôn tỏa chiếu để cho hạnh phúc trong em nở thêm một đóa. Và khổ đau hôm qua đã tan dần từng mảnh tự bao giờ. Vì thế, nên em trân quý những thời khắc của khóa tu lắm chị à. Em đâu thể phụ bỏ mùa Xuân. Em đâu thể buông lơi hơi thở mầu nhiệm. Đó là chiếc vé, món quá vô giá mà em đã được trao tặng. Em giữ chặt tấm vé trên tay để được ngồi xuống xem lại những thước phim đời mình. Cứ ba tháng như vậy, em có cơ hội thiết lập sự cân bằng giữa con tim và khối óc. Thân tâm em được dịp đoàn tụ gặp gỡ nhau như chưa hề xa cách chia lìa. Em có được một bối cảnh thanh tĩnh, một góc trời bình lặng để cho Tư Niệm Thực – búp sen lòng em – bung cánh tỏa hương.

Chị thương mến! Những ngày tại Đình Quán em sung sướng khám phá ra một một điều. Một điều em nghĩ là không có gì mới với chị. Chị đã nói với em nhiều lần rồi. Nhưng đến nay em mới thật sự thấu hiểu: Tu học không phải là một công trình của một cá nhân.

Trước đây, em đã nghe chị nhắc nhở như vậy nhiều lắm. Nhưng cái hiểu của em bây giờ nhìn lại mới thật ngượng ngùng, bẽ bàng làm sao! Em chỉ nắm bắt được từ ngữ, chỉ chạy theo con chữ, chị ạ. Chị từng dạy em tu học giống như làm vườn. Và em đã nghe theo một cách máy móc. Em đã phụ lòng chị. Em cho rằng mình sẽ an ổn lao tác trong khu vườn bé nhỏ của mình. Nhưng em đâu có ngờ vẫn còn đó những ngày nắng mưa, những mùa bão lũ, những loài côn trùng gây hại. Em lẻ loi và đuối sức. Nay thì em đã hiểu rồi chị ơi! Em đã tới với một không gian thênh thang, bát ngát hơn. Em đến với cánh đồng Tăng thân. Em không còn đóng khép tâm hồn mình trên mảnh ruộng bờ ao chật hẹp. Mùa gặt hái sang năm vẫn chưa đến. Vẫn còn đó nhiều công tác khai khẩn đất hoang. Vẫn còn những cơn giông tố và những loài rắn độc. Nhưng em đã yên lòng. Em không còn một thân một mình nữa. Em đang có mặt trong một đoàn thể đẹp. Em đang bước đi trên những con đường vui. Niềm thao thức, nỗi trăn trở của em vẫn còn đó lúc nắng mai về hay khi chiều tới. Nhưng chúng cũng như những hạt giống đang được tung rãi giữa trời xanh mây trắng. Và chị của em, chị có biết không! Cánh tay vung lên đó không còn là của em nữa rồi. Đôi chân đạp xuống bùn đen của thực tại đâu còn thuộc về em nữa. Em đã giao phó tất cả sắc thân mình cho bốn chúng. Có còn gì là của em nữa đâu. Tất cả chỉ là những hạt giống, phải không chị? Chị của em, mình sẽ đợi đến ngày đó nhé. Ngày lúa đơm bông. Ngày cỏ hoa thay áo cánh đồng…