Một tâm mà động mười phương

(thương kính dâng tặng Sư Cô Chân Không)

Sư Cô Chân Không kính thương,

Con viết những dòng này khi vừa gấp lại trang cuối cùng bộ hồi ký 52-54 năm theo Thầy học đạo và phụng sự của Sư Cô. Dù đã biết Sư Cô qua những thông tin về Làng Mai, qua những bài viết, những trang sách của Sư Ông nhưng con vẫn không khỏi ngạc nhiên và ngưỡng mộ sự dấn thân đến tận cùng của Sư Cô. Mỗi lần nói tới Sư Cô, con luôn nhắc đi nhắc lại một câu hỏi: “Sư Cô làm sao có thời gian để vừa kêu gọi hoà bình, vừa cứu trợ người đói khổ, vừa phụ tá Thầy trong các chuyến hoằng pháp và tổ chức khóa tu khắp nơi trên thế giới như thế?”. Con đã tìm ra câu trả lời khi đọc xong toàn bộ hồi ký này.

Tuần tự từ tập một tới tập bốn, con như thấy mình là sự tiếp nối nhỏ bé của Sư Cô. Trong cách sống và cách phụng sự của Sư Cô, con tìm thấy rất nhiều tương cảm mà con không làm sao lý giải nổi. Mở đầu cuốn hồi ký, trong tập 1 “Con đường mở rộng”, Sư Cô nói về “gốc rễ”, những “hạt giống nhìn sâu” lúc còn nhỏ. Những câu hỏi của Sư Cô hồi bé thật dễ thương: “Má ơi, con dài bằng cái gối dài này rồi, sao con chưa được đi học?”. Đến lứa tuổi học trò, lứa tuổi đẹp nhất của đời người, Sư Cô đã tìm ra đường đi cho riêng mình: “khi có đường đi rồi, con trai con gái đều đẹp ra”. Con đường của Sư Cô là con đường của “khoa học và lý tưởng phụng sự người khổ”. Sư Cô vừa đi học, vừa đi dạy kèm thêm các em bé nghèo, lại phụ giúp những người nghèo khổ tìm kế sinh nhai.

Sư Cô Chân Không (Cao Ngọc Phượng) trong chiếc áo Tiếp Hiện

Tiếp đó Sư Cô góp phần thành lập Đoàn sinh viên Phật tử vào năm 1962 trong “cuộc đấu tranh bất bạo động chống độc tài”. Đỉnh điểm của cuộc đấu tranh là hình ảnh Bồ Tát Thích Quảng Đức và cô Nhất Chi Mai tự thiêu vì hoà bình. Rồi tới các hoạt động của Làng Tình Thương, Sư Cô đã cảm thấy “ruột đau chín khúc” khi chứng kiến những khổ đau của người dân Việt Nam dưới làn bom đạn. Bao nhiêu tâm huyết tuổi trẻ của Sư Cô đã cống hiến cho Chùa Lá Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội cùng những hoạt động dấn thân của Dòng tu Tiếp Hiện. Trong sự kiện Tết Mậu Thân, Sư Cô suýt thiệt mạng khi lọt vào vòng bom đạn trong lúc đi tiếp trợ đồng bào. Sau đó Sư Cô quyết định rời Việt Nam để tiếp tục kêu gọi hòa bình ở nước ngoài.

Tập 2 – “Bước chân hộ niệm, hơi thở từ bi” mở đầu bằng việc thành lập Phái đoàn Hòa Bình tại Paris nhằm cung cấp cho truyền thông những thông tin độc lập và khách quan nhất bên lề Hội nghị Paris về chiến tranh Việt Nam. Sau những chuyến “hành hương cho hòa bình” không mệt mỏi của Sư Ông, Sư Cô và các vị cộng sự, những cuộc thương thảo giữa phái đoàn với các bên tham gia đàm phán, hội nghị Paris cũng đã dần dần tìm được tiếng nói chung và đi tới ký kết. Song song với việc này, Sư Cô vẫn đại diện cho Sư Ông trong việc giúp đỡ các nạn nhân chiến tranh từ cả hai phía ở Việt Nam, vì “trẻ em và nạn nhân súng đạn của bên nào thì cũng khổ đau như nhau”. Sau ngày Việt Nam thống nhất, tất cả những hoạt động cứu trợ này bị ngưng lại, Sư Cô đã tìm cách “làm lại từ đầu” bằng hình thức khác, bắt đầu từ hoạt động cứu trợ thuyền nhân Việt Nam.

Hai tập cuối của bộ hồi ký nói về những việc làm rất nhân văn nhưng cũng rất thiết thực trong giai đoạn Việt Nam còn nhiều khó khăn. Đó chính là việc tìm cách hỗ trợ các văn nghệ sĩ cả hai miền, đặc biệt là các văn nghệ sĩ có tài nhưng bị “thất sủng” ở miền Nam và các văn nghệ sĩ Nhân Văn – Giai Phẩm ở miền Bắc. Sư Ông là người khởi xướng với lời dạy có đại ý rằng: “Những văn nghệ sĩ là những người tài và mỗi người là một tài năng duy nhất. Thế giới cũng chỉ có một Shakespeare, một Victor Hugo…Việt Nam cũng chỉ có một Trần Nhân Tông, một Nguyễn Du, một Nguyễn Trãi…nên chúng ta phải biết trân trọng những viên ngọc quý này”. Tình cảnh lúc này ở Việt Nam như có một màn mây u ám, chán nản bao trùm lên tâm lý các văn nghệ sĩ. Sư Cô đã nhẹ nhàng, tỉ mỉ viết từng dòng thư tưới tẩm những hạt giống yêu thương, hạt giống hạnh phúc, khuyến khích, động viên các văn nghệ sĩ với mong muốn khơi dậy lại nguồn cảm hứng sáng tác của họ.

Tập 3 – “Phương Hương xuôi vạn lý” ghi chép lại những bức thư trao đổi, những suy tư của người nhạc sĩ tài hoa Lê Thương và người em gái – “bác sĩ” Phương Hương (giả danh của Sư Cô). Con đã từng nghe nói tới nhạc sĩ qua trường ca “Hòn vọng phu” nổi tiếng nhưng không ngờ ông lại có gia tài đồ sộ như thế. Nhờ Sư Ông dạy mà Sư Cô đã “khám phá một bậc nghệ sĩ lớn, một bậc cha chú xuất sắc” là nhạc sĩ Lê Thương. Những đồng cảm của nhạc sĩ đối với nỗi đau của đồng bào thuyền nhân cũng được thể hiện qua bài hát “Biển sau giông tố”. Không chỉ có âm nhạc mà ông còn thể hiện quan điểm rất nhân văn và tiến bộ trong nhiều lĩnh vực, ví dụ như quan điểm coi việc đốt vàng mã như một nét đẹp truyền thống, một sợi dây liên kết giữa người âm với người dương. Sư Cô đã “chia sẻ về nếp sống hiện tại” ở “Nông trại Khoai lang” (Phương Vân Am) của Sư Ông và cộng sự với ông. Trong nhiều thư trao đổi, Sư Cô khuyến khích Nhạc sĩ Lê Thương kể lại hoàn cảnh ra đời kiệt tác “Hòn vọng phu” của ông. Nhạc sĩ Lê Thương sau đó cũng viết tặng cho Sư Cô một khổ riêng bổ sung cho phần “Hòn vọng phu 2: Ai xuôi vạn lý”:

Có thơ xuôi vạn lý
Nhắn
Phương Hương mấy lời
Đá non sông tình ý
Vẫn trơ gan dưới đời
Ghi nghĩa nặng tình sâu
Và lòng thân tín với nhau
Vững như đá tảng non đầu
Vẫn chan chứa Tình Bể Dâu

Đất bằng nổi sóng” – cuộc sống những năm cuối đời của nhạc sĩ không được bình an. Ông bị mất trí nhớ do căng thẳng và mất vài năm sau đó.

Tập 4 – “Cần Thơ về Kinh Bắc” ghi lại những trao đổi giữa người “bác sĩ” yêu thơ Hoàng Cầm là Cần Thơ (giả danh của Sư Cô) với nhà thơ Hoàng Cầm. Sư Cô đã chia sẻ rằng biết đến Hoàng Cầm lần đầu là do Sư Ông giảng về tập thơ “Tiếng Hát Quan Họ”, rồi sau đó đã xúc động sâu sắc khi đọc bài thơ “Em bé lên sáu” của nhà thơ. “Tiếng gọi của thơ” Hoàng Cầm đã gây thiện cảm đặc biệt tới Sư Cô. Từ đây, Sư Cô đã tìm mọi cách để “bắc một chiếc cầu” liên lạc với nhà thơ. Sau hơn một năm tìm kiếm, Sư Cô đã có địa chỉ của Hoàng Cầm và bắt đầu công việc “khôi phục niềm hứng khởi sáng tác” bằng “bức thư đầu”. Ngay từ bức thư trả lời đầu tiên, thi sĩ đã gửi tặng em gái Cần Thơ bài “Hương Xa” thể hiện sự bỡ ngỡ, ngạc nhiên:

Một áng hương Em gói lẵng xuân
Từ đâu? Bỡ ngỡ cảnh thiên thần?
Hương xa…lạ thế…mà thân thế
Quấn nửa tinh cầu nửa bước chân…

Và rồi là một loạt câu hỏi như “bài thơ nào đã tác động tới Em Thơ”, “hoàn cảnh gia đình thế nào”:

Bài thơ nào vỗ cánh trong Em?
Để mỗi mười năm một trắng đêm
Là đêm thao thức mơ về Nước
Thon dáng người
Thơ, gió động rèm.

Sau những trao đổi về “vài nét chính trong tác phẩm thơ của Hoàng Cầm”, nhà thơ đã dần dần gửi sang cho Sư Cô những bài thơ đã xuất bản cũng như rất nhiều bài chưa từng được công bố. Thi sĩ đã rất cẩn thận, căn dặn bài nào trong tập thơ nào, từ nào bị tam sao thất bản, quy cách lưu trữ, đánh máy ra sao…và đặc biệt là căn dặn không được in lời phê bình vào tập thơ nào. Cho dù đã tiên liệu được trước những rủi ro có thể xảy ra, nhưng “Hoàng Cầm bị bắt” vẫn là sự thật. “Nguyên do vì sao Hoàng Cầm bị bắt” khó có câu trả lời chính xác, nhưng có thể một phần là do nhạc sĩ Phạm Duy đã cho ra đời album (Hoàng) Cầm Ca trong đó có bài “Lá Diêu Bông” cùng với một album khác bao gồm các bài hát bị cấm khi đó. Bài “Lá Diêu Bông” theo như chính lời tác giả viết: “Lá Diêu Bông không thể ai tìm thấy tên trong bất cứ một sách vở tài liệu nào về khoa học tự nhiên…mà chỉ là một biểu tượng. Biểu tượng cho những mối tình cao đẹp, của những lý tưởng trong sáng, của những gì là Thật, là Lành, là Đẹp vốn có trong mỗi con người” nhưng nhạc sĩ Phạm Duy đã hiểu theo một ý nghĩa khác. Sau ngày đất nước đổi mới, giới văn nghệ sĩ cũng được cởi mở hơn, thi sĩ được ra tù và “từ từ phục hồi”. Cũng trong thời gian ấy, Sư Cô chính thức xuất gia (1988) và bận nhiều công việc Phật sự khác nên hạn chế dần những việc này. Cuối đời, “thi sĩ (đã) gặp em Thơ của Hoàng Cầm: sư cô Chân Không, Thầy và tăng thân Làng Mai tại Hà Nội tháng 1 năm 2005” và một lần nữa vào năm 2008 trước khi mất năm 2010.

Bên cạnh việc ủng hộ về mặt tinh thần, Sư Cô cũng tìm nhiều cách để hỗ trợ về mặt vật chất cho các văn nghệ sĩ trong giai đoạn đất nước cực kỳ khó khăn này. Những lá thư, những gói thuốc tây vẫn đều đặn được gửi về tận tay cho các văn nghệ sĩ mà người nhận không biết ân nhân của mình thực sự là ai. Những sáng tác mới, bản nhạc mới, bài thơ mới lại được ra đời và gửi tới Sư Cô như lời tri ân từ người nhận quà. Sư Cô thật sự xứng đáng với bài kệ truyền đăng của Sư Ông:

“Chân thân vượt thoát sắc cùng hình
Không tánh từ xưa vẫn tịnh minh
Ứng hiện trần gian trăm vạn lối
Từ bi phương tiện độ quần sinh.”

 

Sư Cô kính thương,

Qua bộ hồi ký, con thấy được rõ hơn những việc làm không biết mệt mỏi của Sư Cô để “mở thêm rộng lớn con đường” mà Sư Ông đã dày công xây dựng, như trong bài thơ cùng tên mà Sư Ông đã viết tặng khi Sư Cô xuất gia năm 1988:

Mái tóc vốn màu gỗ quý
Nay dâng thành khói trầm hương
Nét đẹp đi về vĩnh cửu
Vi diệu thay ý vô thường.

Sáng nay cạo sạch mái tóc
Mở thêm rộng lớn con đường
Phiền não vô biên nguyện đoạn
Một tâm mà động mười phương.

Những việc làm thầm lặng của Sư Cô dưới nhiều hình thức khác nhau giúp cho không biết bao nhiêu người, thuộc đủ mọi tầng lớp xã hội vượt khó. Tấm lòng của Sư Cô đối với con nói riêng, đối với mọi người nói chung thật từ bi và rộng lớn.

Sư Cô đích thực là một vị Bồ tát!

Con – Hoàng Thanh Bình

Hà Nội, ngày 01/11/2017

Chú thích:

Tất cả các cụm từ “in nghiêng trong ngoặc kép” là tên riêng hoặc tên các chương trong bộ hồi ký.

Cái nhìn của Thầy

Con cứ ngỡ sẽ không được gặp Thầy khi Thầy ngã bệnh. Con cứ ngỡ sẽ không được gặp Thầy khi Thầy đang dần bình phục bên Pháp. Thế rồi, không thể ngờ là Thầy quyết định về Thái Lan. Sự có mặt của Thầy trên đất Thái đã làm cho chúng con không dám tin đó là sự thật. Nhiều người mừng quá, trông chờ ngày qua Thái mà không ngủ được.

Mỗi khi thiền hành hay đi dạo qua lối thất Nhìn Xa, đại chúng đều dừng lại ngắm Thầy và thở ba hơi thở thật sâu rồi mới đi tiếp. Nhiều lần đi qua đó, con thấy nhiều vị thiền sinh cũng bày tỏ niềm cung kính Thầy với sự thực tập ấy, những hình ảnh đó đã nuôi dưỡng con rất nhiều.

Ngày đầu đến Tu viện Vườn Ươm, con được thầy thị giả cho lên hầu thăm Thầy, lòng vừa mừng, vừa bối rối. Mình sẽ nói câu gì, kể chuyện gì cho Thầy nghe, rồi … làm sao nhỉ! Nhưng được lên thăm Thầy là một niềm hạnh phúc mà trong cuộc đời con chưa có niềm hạnh phúc nào lớn hơn.

Khi đến thất Nhìn Xa, còn một giờ nữa mới đến phiên trực của thầy H.N nên chúng con chờ ở ngoài. Con đứng bên cửa ngắm nhìn Thầy. Lúc ấy sư cô Đ.N đưa khay thức ăn của Thầy tới, sư cô nhường cho con bưng khay nên con được vào thăm Thầy sớm trước một giờ. Tối hôm đó, con được quỳ một bên nhìn Thầy, được nắm tay Thầy, được hầu Thầy dùng bữa. Vẫn như ngày nào, Thầy chỉ muốn tự mình lấy thức ăn. Thầy không thích thị giả đứng hầu cơm cho mình mà muốn các thị giả cùng ăn cơm với mình. Con đã ăn trước đó nên được ngoại lệ, cầm đôi đũa và thỉnh thoảng giúp Thầy tí xíu.

Con còn nhớ năm năm trước, khi sáu anh em con được lên chơi với Thầy ở Nội viện Phương Khê trước khi về Việt Nam, đó là một buổi chiều bình yên và đẹp lạ. Thầy nấu cơm, kho măng đãi anh em con, bữa cơm không có gì nhiều mà sao ngon đến thế. Ăn xong thầy trò uống trà và Thầy đọc một bài thơ rất cũ của một cố thi sĩ (mà con không nhớ rõ tên) cho chúng con nghe. Thầy đọc thuộc lòng, thích quá nên con xin Thầy đọc lại từng câu để ghi xuống:

“Hôm nay đưa tiễn các anh đi
Không biết tôi nên nói những gì
Với cả những lời thơ quyến luyến
Cũng là thêm bận phút phân ly
Lạnh quá, gió chiều nay lạnh quá
Đường dài phong cả một trời sương
Các anh lát nữa hay mai mốt
Hay có khi nào nhớ đến tôi
Nhớ đến một nhà thơ lận đận
Đọc thơ này lại một lần thôi
Sẽ thấy hồn tôi quyện ở thơ
Và theo dõi mãi đến bao giờ
Các anh trở lại và mang lại
Đạt nguyện cho bao kẻ đợi chờ.”

Bây giờ lên thăm Thầy, không có cơm trắng, măng kho hay thơ gì cả nhưng tất cả như còn ở đó. Cái nhìn của Thầy, cái đưa tay ra cho người học trò nắm như đang gửi gắm hết tình thương và sự tin cậy của Thầy nơi những người học trò. Con nghèo từ, lại dốt thơ văn nên không có từ nào để diễn tả hết được cái nhìn ấy của Thầy. Con chỉ cảm nhận được một điều, trong cái nhìn tràn đầy chánh niệm ấy, Thầy trân quý sự có mặt của người học trò, và người học trò trong khoảnh khắc ấy cũng nhìn Thầy với đôi mắt đó. Thầy trò nhìn nhau, vậy mà hiểu, không cần nói năng gì.

Tối hôm đó, con được ở lại trong thất Nhìn Xa đến quá nửa đêm, đó là khoảng thời gian dài nhất con được ở bên Thầy, được ngồi đó cầu nguyện cho giấc ngủ của Thầy, vì con không biết làm gì khác. Mọi công việc chăm Thầy đã có các thầy thị giả đảm trách. Ngồi đó nhìn Thầy ngủ con mới biết giấc ngủ quý biết dường nào. Con niệm đức Bồ tát Quán Thế Âm gia hộ cho Thầy được ngủ ngon, không bị đau nhức. Con cũng thầm cảm ơn các huynh đệ thị giả, các anh em của con không phải làm thị giả với trách nhiệm mà với cả một tấm lòng, thương quý sự có mặt của Thầy. Dù Thầy ngủ được hay không ngủ được, hai anh em thị giả vẫn túc trực bên Thầy.

Bấy nhiêu năm được duyên lành nương tựa Thầy tu học, con học được cách đối xử của Thầy với những người đệ tử, chắc chắn còn ở đó nhiều cái đẹp khác của Thầy mà con chưa học được. Ở nơi đó, Thầy là một nguồn suối của chánh niệm, gần Thầy, tự khắc thân tâm của chúng con được an trú trong hiện tại, không còn rong ruổi nữa. Thầy là một tấm gương sáng, gần Thầy, tự khắc chúng con nhìn lại những vụng về, thiếu sót của mình để thực tập sao cho xứng đáng là con của Thầy. Thầy là biển Từ mênh mông, gần Thầy, những khổ đau, những lỡ lầm của chúng con được ôm ấp và tha thứ. Thầy là sức sống, gần Thầy, ngọn lửa Bồ đề tâm trong chúng con được thắp sáng và vững bền.

Khi ở xa Thầy, con thực tập để thấy Thầy trong con, con là sự tiếp nối của Thầy; còn được ngồi bên Thầy, con trân quý từng giây, từng phút sự có mặt của Thầy. Con xin chắp tay cảm tạ những hạt bụi nào, những giọt sương nào, những ngọn lá nào đã đến với nhau làm nên pháp thân mầu nhiệm ấy.

Chân Minh Hy

Vào dòng rong chơi

Sau buổi ăn sáng, tôi nhẹ nhàng bước vào văn phòng. Vừa mở cửa, tôi đã nghe tiếng điện thoại reo vang trong nắng sớm. Tin vui đem lại từ cô Hạnh Lưu: “Vài ngày nữa thôi Sư Ông sẽ đến Làng Mai Thái Lan”. Sau khi biết chắc chắn đó là sự thật, chúng tôi ai cũng tấm tắc: “Ôi! thật mầu nhiệm! Ôi! thật mầu nhiệm!”. Không riêng tôi mà tất cả bảy chị em đều tràn ngập hạnh phúc, cảm nhận rõ tình thương của Người bao phủ mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Nếu gọi tên Thầy con sẽ tự khắc thấy Thầy ngay”. Chưa gọi tên Thầy, chỉ mới nghe tin Thầy về thôi mà các sư em tôi đã hân hoan trong niềm vui sướng: “Sư cô ơi! Mình đi hết cả chúng qua Thái Lan thăm Sư Ông nhé sư cô”. “Nhưng,…tài khoản mình trong ngân hàng gần hết rồi đó”, sư cô Trí Duyên nhỏ nhẹ, e ngại pha lẫn chút lo lắng (vì sư cô làm thủ quỹ đó mà). Tôi trả lời không cần đắn đo, suy tính: “Không sao… không sao! Bụt sẽ cho mình lại thôi, chúng ta ao ước muốn được thăm Sư Ông từ lâu rồi phải không?” Chị em chúng tôi đã bắt đầu xây ước mơ về Làng Mai ở Pháp thăm Người từ ngày hay tin Người bị bịnh. Chúng tôi đã chờ đợi… chờ đợi… và bây giờ cơ hội đã đến thật rồi! Tôi quay qua sư cô: “Thỉnh sư cô Trí Duyên cùng đi cho vui nữa nhé!” (Bởi vì thường thường sư cô ít khi đi đâu, rất tiết kiệm và giữ gìn cho đại chúng). Tất cả đều quay qua nhìn sư cô chờ đợi, sau vài phút sư cô chỉ mỉm cười. Chúng tôi cùng hiểu đó là dấu hiệu của sự đồng ý…

Sư em Phát Nghiêm chắp tay lên tiếng ngay: “Con xin phép quý sư cô, mình có nhiều dầu olive lắm, cho con mang qua cúng dường đại chúng Thái Lan nha. Mình gởi biếu quý sư cô Diệu Trạm, Long Thành, quý thầy Từ Hiếu nữa sư cô nhé”. Sư em quay qua nhìn tôi với nụ cười rạng rỡ… (tình thương của tri khố là rứa đó).

Sư em Trăng Sông Hồng tiếp theo: “Sư cô ơi! Luôn tiện con nhờ quý thầy ở Hong Kong giúp mình mua thêm mấy cái đồng hồ treo tường, nhờ quý thầy đem qua Thái rồi mình mang về Úc cho thiền sinh ở đây thỉnh về nhà thực tập, sư cô nhé.” Tôi thầm cám ơn các sư em tôi đã luôn nghĩ đến mọi người ở khắp nơi.

Chiều hôm ấy, sư em Trăng Thường Trú cười tủm tỉm cho tôi biết đã mua được bảy vé máy bay qua Thái Lan. Niềm vui lan tỏa khắp cả xóm Bạch Vân. Còn bảy ngày nữa chúng tôi mới lên máy bay, thời gian như chậm lại, như đùa với lòng háo hức mong được gặp Sư Ông, mong được hòa vào dòng chảy lớn của tăng thân. Tuy vậy, năng lượng hạnh phúc, bình an của Người đã tràn về trong mỗi chúng tôi, trên mỗi chiếc lá, nụ hoa và len lỏi qua rừng cây, trong từng hơi thở ngay bây giờ và ở đây rồi.

Cuối cùng, chúng tôi đã đến Làng Mai Thái Lan. Sáng nay, 14 tháng 12 năm 2016, tất cả mọi người cùng nhìn về hướng Sư Ông đang ngồi chứng minh buổi lễ truyền giới Sadi và Sadi nữ. Chắc chắn mỗi người có những cảm xúc khác nhau. Riêng tôi, cảm giác thật bình lặng, tưởng như mới gặp Người hôm qua. Đôi mắt ấy vẫn sáng tinh anh như ngày nào, dáng ngồi vẫn kiên định; và tình thương yêu, che chở cho tất cả chúng tôi, những người con còn non dại vẫn dũng mãnh biết bao.

Ý thức gọi tôi về, nghe rõ tiếng Thầy đang nói trong tôi: “Con ơi! Thầy luôn ở trong con và con đang tiếp tục đưa Thầy đi tới tương lai”, khi bàn tay tôi đặt lên mái đầu xanh của em. Với đôi bàn tay búp sen chắp lại, em xin được làm con Thầy, để hôm nay em được tiếp nhận giới Sadi nữ. Niềm tin vào Thầy, vào con đường này đang rúng động trong tôi, cùng hòa với hơi thở ý thức của em, đang quỳ gối chờ đợi cắt mái tóc xanh…

Nhìn các sư em hồn nhiên tung tăng, tíu tít cười đùa như “cá được trở về với nước” trong đại chúng lớn, hạnh phúc trong tôi cũng dâng đầy không kém như khi tôi gặp lại “những người xưa”, từ thuở tôi mới về Làng. Khi ấy, Làng vỏn vẹn chỉ có hơn mười chị em, lại đang có nhiều khó khăn với hàng xóm vì họ chưa hiểu được pháp môn của Làng. Thêm vào đó là những thiếu thốn về cả vật chất lẫn nhân sự, thời khóa và công việc thì dày đặc trong các khóa tu và lễ hội, nhưng niềm vui và hạnh phúc thì quá dư thừa. Đến nỗi các thiền sinh đến Làng tu học thắc mắc hỏi: “Ô! Năng lượng các sư cô làm sao mà nhiều thế, nơi nào, chương trình nào cũng thấy các sư cô xuất hiện và luôn cười được như vậy?” Những kỷ niệm vui trong tôi ùa về khi nhìn thấy “những người xưa ấy vẫn còn đây”. Trong tôi dâng lên niềm biết ơn các sư chị, sư em đã chấp nhận, thương yêu và nâng đỡ, để tôi cùng được đi chung một lối. Nụ cười vừa hé mở, hơi thở buông thả nhẹ nhàng cho đôi bàn chân tôi thêm sức sống trong những bước thiền hành vững chãi trên con đường còn thơm mùi đất mới, khi mặt trời vẫn còn đang say ngủ sáng nay.

Về lại Nhập Lưu, thấy các chú thợ đang loay hoay lắp ráp, lên khung cho dãy nhà mới. Sau hai năm chờ đợi thủ tục xin giấy phép, công trình xây dựng nhà khách đã được bắt đầu giữa tháng 12 năm 2016 và hy vọng đến tháng 7 năm 2017 sẽ hoàn tất theo như hợp đồng đã ký. Đó là niềm vui chung cho Nhập Lưu cũng như các tăng thân cư sĩ trong nước Úc. Bên cạnh đó, chú Vinh và Khoa – là con trai mà cũng là đệ nhị thân của chú, đã đến Nhập Lưu từ giữa tháng Chín tới giữa tháng Mười một. Tuy mùa đông đã qua nhưng chú vẫn còn sợ lạnh. May thay, tình thương con quá lớn đã giúp chú vượt qua bức tường sợ lạnh ấy. Chú đã giúp xây dựng một nơi đậu xe có ba chỗ, cộng thêm một kho chứa dụng cụ máy móc vừa đẹp, vừa rất khang trang rộng rãi, ai đến cũng khen. Chú có nhiều tài năng và khéo tay nên không cần có bằng cấp gì vẫn làm ra được những công trình hoàn hảo. Khoa có nhiều ý tưởng mới và rất thương cha nên hết lòng giúp sức. Qua đó, các sư cô thấy rõ sự tiếp nối của chú trong Khoa thật rõ ràng, như Sư Ông từng dạy “cha có trong con và con có trong cha”, không thể bỏ ai ra khỏi ai được. Có lẽ hai cha con có nhiều chuyển hóa và hạnh phúc trong thời gian ở Nhập Lưu nên con đã dẫn cha về dự An cư kiết đông 2016- 2017 trọn ba tháng với quý thầy xóm Thượng – Làng Mai, Pháp.

Tuy thiền viện Nhập Lưu có số lượng các vị xuất sĩ ít nhất so với những trung tâm khác, nhưng Nhập Lưu vẫn đang nhẹ nhàng, vững chãi vươn mình theo tinh thần tùy duyên và tùy hoàn cảnh cho phép. Dù chỉ có bảy chị em nhưng chúng tôi vẫn cố gắng duy trì, tổ chức những ngày chánh niệm vào thứ Năm và Chủ nhật hằng tuần tại thiền viện và ở những nơi nào cần đến chúng tôi. Những chuyến hoằng pháp vào tháng Tư và khóa tu gia đình ở Cave Hill Creek (một khu nghĩ dưỡng gần Nhập Lưu) vào tháng Chín hàng năm đã mang lại thật nhiều an lạc, hạnh phúc và niềm tin cho những người mới tiếp xúc lần đầu với pháp môn và với tăng đoàn. Đây cũng là cơ hội cho những người đã thực tập lâu năm được trở về cùng tăng thân tắm mát trong dòng sông hiện pháp lạc trú. Hạnh phúc của chúng tôi là sau mỗi khóa tu lại có thêm người tiếp nối đường đi khi nhận “Năm phép thực tập chánh niệm” để mang về thực tập với gia đình.

Lễ Bông hồng cài áo năm nay, số người về tham dự lên đến 300, ngoài dự tính của chúng tôi. Lễ Tắm Bụt cũng vậy, số người tham dự đông hơn năm ngoái, thiền đường hết chỗ phải ngồi ra tận hành lang. May quá, chúng tôi vừa đổ xi-măng làm hành lang mới, chỉ hai tháng trước ngày lễ Bông hồng cài áo theo yêu cầu của Hội đồng thành phố.

Bên cạnh đó, còn có những chuyến hành hương 50 hoặc 100 người đi bằng xe bus lên thăm thiền viện. Thời gian từ phố lên đây (rừng) mất hơn sáu tiếng vừa đi vừa về. Vì vậy, chúng tôi cố gắng hướng dẫn ngày “chánh niệm cấp tốc” cho họ. Nhìn ai cũng hết lòng lắng nghe, ham thực tập và thích thú khi ra về, chúng tôi cũng vui lây, quên hết mọi mệt nhọc trong ngày. Các sư cô rất ngạc nhiên khi thấy những người vừa mới tới, tuy chưa được hướng dẫn tổng quát mà ai cũng đều biết thực tập nghe chuông và ăn cơm im lặng trong chánh niệm. Chúng tôi lên tiếng khen ngợi thì nhiều vị nở nụ cười sung sướng, khoe rằng: “Chúng con bước lên xe bus là được trưởng đoàn dặn dò liền là chùa này khác chùa ở phố đó nhe, nghe chuông là phải đứng lại lắng nghe hơi thở và ăn cơm thì không được nói chuyện ồn ào. Các sư cô ăn chung với mình đấy nên phải nhớ nhé”. À thì ra là thế!  Thiền sinh dưới phố, khi có thân nhân, bạn bè từ xa về thăm đều đưa lên tu học với Nhập Lưu. Khi ai đó có khó khăn, khổ đau, thì Nhập Lưu là nơi cho họ trở về tiếp nhận hạnh phúc và chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau ấy. Nhập Lưu cũng là nơi để những ai nghe nói đến Làng Mai về thực tập cho biết pháp môn Làng Mai ra sao.

Nhập Lưu đang giữa mùa hạ, mùa mà những ai ở Úc đều lo lắng và sợ hãi khi lửa dễ bắt cháy trên những cánh đồng cỏ khô bát ngát, và những cánh rừng rộng thêng thang. Những cơn gió mạnh cuốn hút bụi đường tạo thành những cơn lốc xoáy đưa vào không gian mênh mông, làm cho những thân cây cũng phải nghiêng ngã uốn mình chìu theo từng cơn bão gió trong nắng hạ, những hạt nắng óng ánh rơi trên những nhánh lá xanh cùng nhau nhảy múa khúc hát vô sinh. Tuy thiền viện tọa lạc trong cánh rừng rộng bao la hơn 45 mẫu nhưng chúng tôi không lo lắng. Những thứ cần thiết đã sẵn sàng trong túi đãy, chỉ cần nhận được tin “khẩn” của phòng chữa cháy là chúng tôi lên đường “tỵ nạn” ngay thôi. May mắn thay, trước khi vào hạ, những cơn mưa đã đổ về làm tràn đầy các hồ nước trong đất Nhập Lưu sau vài năm khô cạn vì hạn hán. Màu xanh của nước là màu trời xanh biếc, những bông hoa li li khoe sắc thắm dưới ánh nắng chan hòa của mùa hạ đã thu hút những loài chim trời quay về đoàn tụ dưới bầu trời tĩnh lặng, bình yên.

Sư Ông vẫn thường nhắc chúng tôi: “Hạnh phúc không phải là hạnh phúc riêng”. Chúng ta có trong nhau, chúng ta đều cần nhau. Nhờ nương vào pháp môn “đi như một dòng sông” với mái chèo chánh niệm Thầy đã trao ấy, chị em chúng tôi có thêm năng lượng và sức mạnh để vượt qua những khúc sông đầy cám dỗ, khó khăn và thử thách của cuộc đời.

Cúi đầu với lòng kính ngưỡng chân thành, kính cám ơn Thầy đã trao truyền cho chúng con những kinh nghiệm, những tuệ giác của Người, để hôm nay và ngày mai, chúng con có thể mang những bông hoa hiểu biết và trái ngọt thương yêu hiến tặng cho mọi người và mọi nơi.

Chân Thuần Tiến

Phần V

Tình yêu dành cho đất mẹ không còn là ý niệm về môi trường

(Dưới đây là bài phỏng vấn của Jo Confino cho Guardian Professional Network.
Theo guardian.co.uk thứ Hai, ngày 20 tháng 2 năm 2012.)

Thiền sư Nhất Hạnh nói để đối phó với những thách thức của môi trường, chúng ta cần có một cuộc cách mạng tâm linh.

Thiền sư Nhất Hạnh có 70 năm kinh nghiệm thực tập thiền và chánh niệm. Từ Thầy tỏa ra một sự bình an và tĩnh lặng lạ thường. Đây là con người đang sống những gì mình nói, con người được giới Phật tử coi như một vị Bồ Tát, không ngừng tìm kiếm những cách thức tốt nhất để giúp người.

Ngay từ những ngày tháng trực tiếp sống và đối mặt với cuộc chiến thảm khốc tại Việt Nam, vị Thầy hiện đã 86 tuổi này đã phát nguyện cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp hòa bình và hóa giải xung đột. Năm 1967, mục sư Martin Luther King đã đề cử Thầy cho giải Nobel Hòa Bình vì theo Mục sư “Những phát kiến cho hòa bình của Thích Nhất Hạnh, nếu được áp dụng, sẽ dựng nên một tượng đài của tinh thần đại đồng, tình huynh đệ và nhân bản.

Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi những năm gần đây, Thầy không chỉ chú trọng tới việc hòa giải xung đột trong mối quan hệ giữa người với người, mà còn hướng sự quan tâm tới hành tinh xanh của chúng ta – nơi nương náu của mọi loài.

Thầy, như hàng ngàn thiền sinh và đệ tử vẫn gọi, thấy rằng vì đời sống thiếu ý nghĩa, thiếu sự liên hệ mật thiết với nhau mà chúng ta trở thành con nghiện của chủ nghĩa tiêu thụ. Chúng ta cần phải nhận ra và ứng phó với những áp lực mà chúng ta đang gây cho Trái đất nếu nhân loại muốn sống sót.

Điều mà đạo Bụt có thể đóng góp cho nhân loại là nhận diện những khổ đau ta đang gánh chịu và một con đường thoát khổ là trực tiếp đối diện, mà không phải tìm cách trốn tránh hay khỏa lấp bằng những  công việc, mua sắm, giải trí hay chăm chút làm đẹp. Những ham muốn về danh vọng, giàu sang, quyền lực và tình dục chỉ có tác dụng tạo nên ảo giác về hạnh phúc mà không phải là hạnh phúc đích thực, kết cục chỉ làm trầm trọng thêm những cảm giác trống trải, xa cách.

Thầy lấy ví dụ câu chuyện của một tỷ phú, điều hành một trong những tập đoàn lớn nhất Hoa Kỳ. Ông này tới tham dự một khóa tu với Thầy, kể về những khổ đau, lo lắng và nghi ngờ của ông. Ông nghĩ rằng mọi người đến với ông chỉ vì muốn lợi dụng, nên ông chẳng có ai để làm bạn.

Trong một cuộc phỏng vấn tại Làng Mai –  một trung tâm thiền tập của Thầy gần Bordeaux, Thầy đã chỉ rõ tại sao chúng ta lại cần một cuộc cách mạng tâm linh khi phải đối mặt với vô số thách thức về tình trạng môi trường hiện nay.

Trong khi các chuyên gia khác chỉ tập trung nói về sự phức tạp và khó khăn của vấn đề, như sự hủy diệt của hệ sinh thái, nạn tuyệt chủng của hàng triệu loài sinh vật, thì Thầy nhìn xuyên suốt được vấn đề hóc búa này, và chỉ cần một “lát dao bén’ của Thầy là có thể tháo gỡ được.

Vượt thoát ý niệm “môi trường”

Thầy nói rằng chúng ta phải vượt thoát ý niệm về môi trường, vì điều này khiến mọi người có cảm tưởng bản thân mình và Trái Đất là hai thực thể riêng biệt và trái đất phải phục vụ cho con người.

Chỉ khi ta công nhận con người và hành tinh này hoàn toàn là một và đồng nhất thì mới thay đổi được được tình trạng.

Thầy nói: “Bạn đang mang Mẹ Đất trong bạn. Mẹ Đất không ở bên ngoài. Mẹ Đất không chỉ là môi trường. Mẹ Đất là bạn. Nhìn bằng tuệ giác tương tức đó, chúng ta mới có thể thực sự truyền thông với Mẹ Đất, đó là hình thức cầu nguyện tối ưu nhất. Trong mối tương quan này, bạn có đủ tình thương, sức mạnh và sự thức tỉnh để thay đổi cuộc sống của bạn. Thay đổi, không chỉ là thay đổi những yếu tố bên ngoài ta.

Trước hết, chúng ta cần có chánh kiến – cái thấy đúng – để vượt thoát mọi ý niệm, kể cả ý niệm về có và không, về tạo hóa và tạo vật, về tâm và vật. Tuệ giác này rất cần cho sự chuyển hóa và chữa lành. Chúng ta sợ hãi, xa cách, hận thù, sân giận là do cái thấy sai lầm cho rằng chúng ta và Trái Đất là hai thực thể riêng biệt, Trái Đất chỉ là môi trường. Chúng ta coi mình là tâm điểm và muốn làm điều gì đó cho Trái Đất để chúng ta có thể sống sót. Đó là cái thấy nhị nguyên.

Vì vậy để cứu lấy Đất Mẹ, bạn hãy thở vào, ý thức về cơ thể bạn và nhìn sâu vào cơ thể để thấy rằng bạn là Trái Đất, và tâm thức bạn cũng là tâm thức của Trái Đất. Không chặt phá rừng, không làm ô nhiễm nguồn nước – chừng ấy chưa đủ.”

Đặt cho thiên nhiên một giá trị kinh tế là chưa đủ

Mùa xuân này Thầy sẽ tới nước Anh để hướng dẫn một khóa tu 5 ngày và một ngày hội thảo về chánh niệm trong lĩnh vực giáo dục. Thầy nói hiện nay trong giới kinh tế và kinh doanh xuất hiện trào lưu cho rằng cách tốt nhất để bảo vệ hành tinh là đặt cho môi trường thiên nhiên một giá trị kinh tế, như vậy thì chẳng khác nào băng bột lên một vết thương.

“Tôi không nghĩ là biện pháp đó đem lại hiệu quả. Chúng ta cần một sự thức tỉnh và giác ngộ thực sự để thay đổi cách suy nghĩ và nhìn nhận sự việc của chúng ta.

Muốn thay đổi tận gốc thì thay vì đặt lên cho những khu rừng và thảm san hô những trị giá nào đó, ta phải thương yêu Đất Mẹ trở lại. “Trái Đất không thể được miêu tả bằng vật chất hay tinh thần. Vật chất và tinh thần chỉ là khái niệm. Thực chất chúng là hai mặt của cùng một thực tại. Cây tùng kia không chỉ là vật chất, bởi vì trong nó có chứa cái thấy biết của nó. Một hạt bụi không chỉ là vật chất bởi từng nguyên tử trong hạt bụi đều là một thực thể sống và có trí thông minh. Khi ta nhận ra những đức hạnh, tài năng và vẻ đẹp của Mẹ Đất, thì trong ta sẽ nảy sinh một cái gì đó. Cái đó là sự tương quan mật thiết giữa ta với Đất Mẹ, là tình thương của ta dành cho Đất Mẹ. Chúng ta muốn được kết nối, muốn tương quan, muốn được là một, đó là ý nghĩa của tình thương. Khi thương một người nào đó, ta muốn nói ta cần người đó, ta muốn nương tựa vào người đó. Ta làm tất cả vì lợi ích của Đất Mẹ và Đất Mẹ sẽ làm tất cả cho sự an vui của chúng ta”

Trong giới kinh doanh, Thầy lấy ví dụ  của Yvon Chouinard, người sáng lập và sở hữu của công ty may mặc Patagonia. Ông đã kết hợp giữa việc phát triển kinh doanh thành công với sự thực tập chánh niệm và từ bi. Thầy khẳng định: “Làm giàu theo cách không tàn phá, đề cao công bằng xã hội, làm tăng sự hiểu biết, giảm thiểu khổ đau đang tồn tại quanh ta là điều ta có thể thực hiện được. Nhìn cho sâu, ta thấy ngay trong thế giới kinh doanh ta có thể mang lại nhiều hạnh phúc cho ta và cho người khác. Và như vậy thì công việc của ta có ý nghĩa.”

Thầy, người đã viết hơn 100 cuốn sách, chỉ ra rằng sở dĩ ta đánh mất sự tương quan mật thiết với nhịp điệu tự nhiên của Đất Mẹ là do rất nhiều căn bệnh thời đại gây ra và thậm chí là do ta đổ lỗi cho Đất Mẹ một cách vô thức mà ta không hề hay biết, cũng giống như ta hay đổ lỗi cho những khổ đau bất hạnh của ta là do cha mẹ gây ra.

Trong bài viết Lời Khấn Nguyện Đất Mẹ mới đây, Thầy viết “Trong chúng con, có những người oán hận Mẹ vì mẹ đã sinh ra họ và làm họ khổ, đó là bởi vì họ chưa có khả năng hiểu được Mẹ và chưa biết trân quí Mẹ.”

Chánh niệm giúp ta thiết lập lại mối tương quan mật thiết giữa ta và Đất Mẹ

Thầy đưa ra rất nhiều bằng chứng để chứng tỏ chánh niệm có thể giúp loài người tiếp lập lại mối tương quan mật thiết giữa mình với Đất Mẹ bằng cách sống chậm lại và trân quí tất cả những món quà mà Đất Mẹ hiến tặng cho ta.

“Rất nhiều người đau khổ cùng cực mà không biết là mình đang đau khổ. Họ cố gắng che đậy nỗi khổ đau bằng cách bận rộn. Nhiều người ốm đau bệnh tật chỉ vì họ xa lánh Đất Mẹ. Thực tập chánh niệm giúp chúng ta tiếp xúc được với Đất Mẹ trong ta và sự thực tập này có thể giúp chữa lành bệnh tật. Quá trình trị liệu, chữa lành cho con người phải được tiến hành đồng thời với việc chữa lành cho Đất Mẹ. Đây là tuệ giác và ai cũng có thể thực tập được. Sự giác ngộ này đưa tới sự thức tỉnh cộng đồng. Trong Đạo Phật, thiền là một sự thức tỉnh, thức tỉnh một sự kiện là trái đất đang lâm nguy, mọi loài sinh vật đang trong tình trạng nguy kịch.”

Thầy lấy một ví dụ rất đơn giản và bình dị, là việc uống một ly trà cũng có thể giúp chuyển hóa cuộc đời một con người nếu người đó thực sự để hết tâm ý vào việc uống trà.

“Khi có chánh niệm, tôi thưởng thức ly trà sâu sắc hơn.” Thầy nói và rót cho mình một ly trà rồi chậm rãi nhấp ngụm đầu tiên. “Tôi có mặt hoàn toàn trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây, không bị cuốn đi bởi sợ hãi, buồn đau, dự án, quá khứ và tương lai. Tôi có mặt cho sự sống. Khi ta uống trà, giây phút uống trà là giây phút mầu nhiệm. Ta không cần nhiều quyền lực, danh vọng hay tiền bạc để có thể hạnh phúc. Chánh niệm có thể giúp ta hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Mỗi giây phút đều là giây phút hạnh phúc. Chúng ta hãy thực tập để những người khác theo đó cùng thực tập theo. Chúng ta hãy dành ra vài phút để thực chứng sự thực này.”

Cần phải xử lý cơn giận trong tự thân trước khi muốn trở thành một nhà hoạt động xã hội hiệu quả

Trong hàng thập kỷ qua, Thầy đã dày công phát triển dòng Đạo Bụt Dấn Thân mà nền tảng là sự thực tập 5 nguyên tắc đạo đức – 5 phép thực tập chánh niệm hay còn gọi là 5 Giới – rất rõ ràng và quan trọng đối với việc giải quyết công bằng xã hội.

Tuy nhiên, Thầy nhấn mạnh, nếu các nhà hoạt động xã hội và môi trường muốn làm việc có hiệu quả, trước tiên họ phải xử lý cơn giận trong họ. Chỉ khi nào phát khởi được tình thương và lòng từ bi đối với chính bản thân mình, ta mới có khả năng đối phó với những lực lượng mà ta qui trách nhiệm đang làm ô nhiễm biển và chặt phá rừng.

“Trong Đạo Bụt có nói về hành động cộng đồng. Khi có một điều gì đó sai lầm đang diễn ra trên thế giới, chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng đó là chuyện của người khác, người khác làm mà không phải là ta. Nhưng qua cách sống hàng ngày của ta, ta cũng đang góp một phần vào sai lầm ấy. Nếu ta có khả năng hiểu ra sự thật này, rằng không chỉ ta đang khổ mà người khác cũng đang khổ thì đó đã là một tuệ giác.

Khi thấy ai đó đang khổ, ta không muốn trừng phạt hay lên án người đó, mà ta muốn giúp người đó bớt khổ. Nhưng nếu chính ta đang đầy sợ hãi, giận hờn, vô minh và đau khổ thì ta làm sao giúp được người khác? Khi có hạnh phúc, ta nhẹ nhàng hơn, tươi cười hơn, ai cũng dễ chịu khi ở gần ta và ta có khả năng giúp đỡ người khác. Những nhà hoạt động và tranh đấu cần phải thực tập tâm linh để có khả năng nuôi dưỡng hạnh phúc, xử lý khổ đau và giúp người bớt khổ, như vậy công việc phụng sự thế giới của họ mới có hiệu quả. Nếu trong ta còn đầy giận dữ và bất mãn thì ta không thể làm được gì cả.”

Tiếp xúc Bản môn

Điểm chính trong bài giảng của Thầy là, trong khi sống và sinh hoạt trong thế giới tích môn (thế giới phân biệt, lưỡng nguyên), ta cần hiểu rằng hạnh phúc, an lạc của ta tùy thuộc vào việc nhận diện và tiếp xúc với “bản môn”. Điều này rất quan trọng. “Nếu ta có khả năng tiếp xúc sâu sắc với tích môn – một chiếc lá, một bông hoa, một viên sỏi, một tia nắng, một con chim, ngọn núi, dòng sông và chính thân thể ta – thì khi đó ta cũng đang tiếp xúc được với bản môn. Bản môn không thể được diễn tả là con người hay phi con người, là vật chất hay tinh thần, chủ thể nhận thức hay đối tượng nhận thức. Ta chỉ có thể nói rằng nó luôn luôn tỏa sáng và tự tỏa sáng. Tiếp xúc với bản môn, ta cảm thấy hạnh phúc, thoải mái như con chim tự do trên bầu trời, như con nai được tự do trên đồng cỏ. Ta biết rằng ta không cần phải tìm kiếm bản môn ở ngoài ta, bản môn luôn có trong ta và trong mỗi phút giây.

Trong khi tin rằng có một phương cách tạo ra mối tương quan mật thiết hơn giữa loài người và trái đất, Thầy cũng thấy được một hiểm họa thực sự đang xảy ra là con người vẫn tiếp tục lối sống tàn hoại và nền văn minh này sẽ tới ngày sụp đổ.

Thầy nói tất cả những gì chúng ta cần làm là thấy được rằng chúng ta không làm chủ được trước những phản ứng của thiên nhiên đối với những loài sinh vật khác. “Khi nhu yếu sinh tồn bị thay thế bởi lòng tham lam và ngạo mạn thì bạo động sẽ phát sinh và luôn đưa tới những hủy diệt không đáng có. Chúng ta đã học bài học rằng gây bạo lực cho con người và cho những loài sinh vật khác chính là ta đang gây bạo lực với chính ta, còn khi ta biết bảo hộ mọi loài thì ta cũng đang bảo hộ chính ta.”

Lạc quan trước nguy cơ thảm hỏa

Trong thần thoại Hy Lạp, khi Pandora mở hộp quà, tất cả tai họa được thoát ra ngoài và tràn xuống trái đất. Chỉ có một thứ còn sót lại, đó là “hy vọng”.

Thầy rất rõ ràng khi khẳng định duy trì niềm lạc quan là điều rất cần thiết nếu chúng ta muốn tìm một con đường thoát khỏi nguy cơ hủy diệt do khí hậu thay đổi thất thường, mà điều này sẽ dẫn đến những biến động tiêu cực lớn lao của xã hội.

Tuy nhiên, Thầy không ngây thơ để không nhận ra rằng những lực lượng hùng mạnh vẫn đang tiếp tục không ngừng trừng phạt chúng ta và đẩy loài người tới bờ vực thẳm.

Trong cuốn sách nổi tiếng viết về môi trường, cuốn Hướng Đi Của Đạo Bụt Cho Hòa Bình và Môi Sinh (The World We Have), Thầy viết: “Chúng ta đã tạo nên một hệ thống xã hội mà ta không làm chủ được. Ta để cho tiện nghi vật chất làm chủ đời mình. Để áp lực đè nặng và biến mình thành nạn nhân, nô lệ”.

Chúng ta tạo nên một xã hội mà người giàu càng giàu thêm và người nghèo càng thêm túng quẫn. Ta chỉ biết chăm chút lo cho riêng mình, và chỉ thấy những cái lợi trước mắt mà quên đi những hậu quả về sau, chúng ta ít khi để tâm đến số phận của người khác, đến tương lai của hành tinh mẹ của chúng ta. Chúng ta có khác gì những con gà đang bị nhốt trong chuồng và đang giành xé nhau một vài hạt bắp mà không biết rằng lát nữa mình sẽ bị giết làm thịt.

______________________________________________

dịch từ: Beyond environment: falling back in love with Mother Earth

Tôn trọng sinh môi

Khải Bạch
Bạch đức Thế Tôn, trong nửa sau thế kỷ trước và trong những năm đầu của đầu thế kỷ này con đã thấy ý thức về sinh môi trở thành sáng tỏ. Nhiều người trong chúng con đang vận động để trong khi chăn nuôi và gieo trồng chúng con không gây tàn hại cho sinh môi như trong thế kỷ trước. Bao nhiêu rừng cây đã được đốn xuống để làm đồng cỏ nuôi súc vật. Phân rác do công nghiệp chăn nuôi tạo ra đã làm ô nhiễm đất đai và các nguồn nước rất trầm trọng. Sự sử dụng chất độc hóa học trong ngành canh nông cũng đã gây tàn hại trầm trọng cho các loài chúng sanh, cho đất, nước và khí trời. Cũng chỉ vì loài người chúng con tham ăn mà trái đất này phải gánh chịu bao nhiêu thảm hại. Chúng con xin nguyện sẽ ăn uống cho có chánh niệm, không ăn thịt, không uống rượu, và nỗ lực khuyến khích và yểm trợ cho một nền nông nghiệp lành mạnh, biết tôn trọng mạng sống chúng sinh và sinh môi. Trong vườn nhà, vườn chùa, chúng con sẽ tập trồng rau trái theo phương thức hữu cơ, ra chợ chúng con cố gắng mua các thứ rau trái trồng theo lối hữu cơ, để yểm trợ cho những nông dân sản xuất thực phẩm theo đường hướng này. Chúng con sẽ tập ăn ít lại để có đủ tiền mua các thức rau đậu và cây trái trồng theo lối hữu cơ.

Địa Xúc
Con xin lạy xuống ba lạy để sám hối với đất Mẹ, đất Mẹ đã chở che nuôi dưỡng và ôm ấp chúng con bao nhiêu đời mà chúng con đã không ý thức được điều đó và đã gây tàn hại quá nhiều cho đất Mẹ. Xin đức Thế Tôn và các vị tổ sư chứng minh cho con khi con lạy xuống (C)

Con duy trì địa xúc

Khải Bạch
Bạch đức Thế Tôn, con nhớ trước ngày Ngài thành đạo dưới cội bồ đề, Ma Vương có xuất hiện và hỏi Ngài những câu hỏi với mục đích là để làm cho Ngài nản chí. Ma vương hỏi: Ngươi là ai mà dám nghĩ rằng mình sẽ đạt đến quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác? Ngươi tu hành đã bao nhiêu kiếp mà bây giờ dám nghĩ là trong vòng hăm bốn tiếng đồng hồ nữa là có thể đạt thành đạo quả? Ai có thể chứng minh được rằng những điều ngươi nói đúng với sự thực? Bạch đức Thế Tôn, khi Ma vương hỏi Ngài những câu ấy thì Ngài đã đưa bàn tay phải của Ngài để xúc chạm vào mặt đất, và Ngài nói với Ma vương: Có Đất này chứng minh rằng những điều ta nói là có thực. Đất đã rung động. Và Ma vương đã rút lui. Bạch đức Thế Tôn, con rất muốn chiêm ngưỡng hình ảnh của Ngài khi Ngài ngồi vững chãi trên mặt đất và tay phải của Ngài đang bắt ấn địa xúc. Mỗi lần thấy hình ảnh ấy là con cảm động. Đất đã chứng minh rằng Ngài đã từng được hiện thân trong vô lượng kiếp và Ngài đã liên tiếp  thành công trong mỗi kiếp. Ngài có chỗ nương tựa rất vững chãi để có thể biểu hiện hàng trăm triệu lần trong những hóa thân mầu nhiệm để tu tập và độ đời. Bụt Tỳ Bà Thi trong quá khứ cũng đã là Ngài mà Bụt Từ Thị trong tương lai cũng sẽ là Ngài. Và còn trăm triệu hóa thân khác nữa. Chỗ nương tựa vững chãi của Ngài là Đất. Ngài biểu hiện từ Đất và luôn luôn trở về với Đất để rồi Ngài biểu hiện trở lại. Con biết là con cũng có thể nương tựa vào Đất như Ngài và nương tựa vào Đất con cũng sẽ có được năng lượng vững chãi như Ngài.

Phật bảo sáng vô cùng
Đã từng vô lượng kiếp thành công
Đoan nghiêm thiền tọa giữa non sông
Sáng rực đỉnh Linh Phong
Trên trán phóng hào quang rực rỡ
Chiếu soi sáu nẻo hôn mông
Long Hoa hội lớn nguyện tương phùng
Tiếp nối Pháp chánh tông
Xin quy y thường trú Phật đà gia!

Con biết thực tập địa xúc trong tư thế ngồi, trong tư thế đi hay trong tư thế nằm, con có thể đạt tới năng lượng ấy và con có thể nối tiếp được sự nghiệp của Ngài.

Địa Xúc
Con xin đức Thế Tôn cho con lạy xuống ba lạy để tiếp xúc với Đất một cách sâu sắc và để cảm thấy năng lượng vững chãi vô cùng của Đất (C)

Ấn địa xúc

Khải Bạch
Bạch đức Thế Tôn, con nhớ trước ngày Ngài thành đạo dưới cội bồ đề, Ma Vương có xuất hiện và hỏi Ngài những câu hỏi với mục đích là để làm cho Ngài nản chí. Ma vương hỏi: Ngươi là ai mà dám nghĩ rằng mình sẽ đạt đến quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác? Ngươi tu hành đã bao nhiêu kiếp mà bây giờ dám nghĩ là trong vòng hăm bốn tiếng đồng hồ nữa là có thể đạt thành đạo quả? Ai có thể chứng minh được rằng những điều ngươi nói đúng với sự thực? Bạch đức Thế Tôn, khi Ma vương hỏi Ngài những câu ấy thì Ngài đã đưa bàn tay phải của Ngài để xúc chạm vào mặt đất, và Ngài nói với Ma vương: Có Đất này chứng minh rằng những điều ta nói là có thực. Đất đã rung động. Và Ma vương đã rút lui. Bạch đức Thế Tôn, con rất muốn chiêm ngưỡng hình ảnh của Ngài khi Ngài ngồi vững chãi trên mặt đất và tay phải của Ngài đang bắt ấn địa xúc. Mỗi lần thấy hình ảnh ấy là con cảm động. Đất đã chứng minh rằng Ngài đã từng được hiện thân trong vô lượng kiếp và Ngài đã liên tiếp  thành công trong mỗi kiếp. Ngài có chỗ nương tựa rất vững chãi để có thể biểu hiện hàng trăm triệu lần trong những hóa thân mầu nhiệm để tu tập và độ đời. Bụt Tỳ Bà Thi trong quá khứ cũng đã là Ngài mà Bụt Từ Thị trong tương lai cũng sẽ là Ngài. Và còn trăm triệu hóa thân khác nữa. Chỗ nương tựa vững chãi của Ngài là Đất. Ngài biểu hiện từ Đất và luôn luôn trở về với Đất để rồi Ngài biểu hiện trở lại. Con biết là con cũng có thể nương tựa vào Đất như Ngài và nương tựa vào Đất con cũng sẽ có được năng lượng vững chãi như Ngài.

Phật bảo sáng vô cùng
Đã từng vô lượng kiếp thành công
Đoan nghiêm thiền tọa giữa non sông
Sáng rực đỉnh Linh Phong
Trên trán phóng hào quang rực rỡ
Chiếu soi sáu nẻo hôn mông
Long Hoa hội lớn nguyện tương phùng
Tiếp nối Pháp chánh tông
Xin quy y thường trú Phật đà gia!

Con biết thực tập địa xúc trong tư thế ngồi, trong tư thế đi hay trong tư thế nằm, con có thể đạt tới năng lượng ấy và con có thể nối tiếp được sự nghiệp của Ngài.

Địa Xúc
Con xin đức Thế Tôn cho con lạy xuống ba lạy để tiếp xúc với Đất một cách sâu sắc và để cảm thấy năng lượng vững chãi vô cùng của Đất (C)

Học hạnh của Đất

Khải Bạch
Bạch đức Thế Tôn, con biết rằng một trong những người anh lớn trong giáo pháp của chúng con là Bồ Tát Địa Tạng, một vị bồ tát lớn có hạnh nguyện rất cao thâm: chừng nào địa ngục chưa trống không thì Ngài vẫn chưa dừng nghỉ công việc hóa độ. Bạch đức Thế Tôn, con thấy danh hiệu Địa Tạng rất hay. Danh hiệu ấy có nghĩa là trái đất với tính cách vững chãi và dày dặn của nó có khả năng chứa đựng và ôm ấp được tất cả (Địa ngôn kiên, hậu, quảng hàm tàng). Tuy biết rằng khổ đau và phiền não không có giới hạn, nhưng hạnh nguyện cứu đời của một vị bồ tát cũng không có giới hạn. Chừng nào còn có khổ đau, còn có phiền não, thì vị bồ tát còn chưa dừng tay cứu độ. Trái đất của chúng con cần những con người như Bồ Tát Địa Tạng, và con cũng rất muốn giúp Ngài một tay. Con thấy địa ngục của hiểu lầm, của hận thù và bạo động được dựng lên khắp nơi, nhưng nơi nào cũng có mặt của những vị bồ tát đang hành động để nỗ lực giải tỏa những địa ngục ấy. Có một lần đức Thế Tôn giáo giới cho thầy La Hầu La và Ngài đã dạy thầy La Hầu La nên học hạnh của đất. Đức Thế Tôn dạy: Này La Hầu La, con hãy học theo hạnh của đất. Khi người ta đổ và rải lên đất những thứ thơm tho và tinh sạch như hoa hương và sữa thơm, đất không thấy tự hào, mà khi người ta đổ lên đất những thứ dơ dáy và hôi hám như phân, nước tiểu và máu mủ, hoặc khạc nhổ xuống đất, thì đất cũng không cảm thấy giận hờn, chán ghét hoặc tủi nhục. Đất có khả năng tiếp nhận ôm ấp và chuyển hóa tất cả. Con biết là Bồ Tát Địa Tạng cũng có năng lượng vững chãi và bao dung của đất, vì thế nên Ngài có thể ôm ấp và chuyển hóa tất cả. Con cũng muốn được học hạnh của đất như Bồ Tát Địa Tạng và như thầy La Hầu La. Con có những tủi đau buồn chán và khổ nhục trong con, con xin lạy xuống để đất ôm lấy con, ôm lấy tất cả những tủi đau buồn chán và khổ nhục trong con, để đất và con có thể từ từ chuyển hóa được những tủi đau, buồn chán và tủi nhục ấy, và để mai sau hoa trái của tình thương và niềm vui được xuất hiện trên mặt đất cũng như trong trái tim con.

Địa Xúc
Nam mô đức Bồ Tát Đại Kiên Đại Hậu Đại Lực Địa Tạng Vương và Tôn Giả Mật Hạnh La Hầu La (C)

Nương tựa nơi đất Mẹ

Khải Bạch
Bạch đức Thế Tôn, nhìn sâu vào lòng Đất con thấy có sự có mặt của vầng thái dương, của hơi ấm, có khả năng làm cho vạn vật được sinh sôi nẩy nở. Hành tinh này sở dĩ xinh đẹp vì có hơi ấm của vầng thái dương. Con cũng thấy được những dòng nước mát lưu nhuận và cất giữ trong lòng đất. Nếu không có nước, làm sao hành tinh này có được sự sống? Con cũng thấy được sự có mặt của gió nghĩa là của các chất khí trong không gian như dưỡng khí, thán khí, khinh khí… nếu không có những chất khí ấy thì cũng không có sự sống của mọi loài và cũng không có những nét diễm lệ trên mặt đất như liễu xanh, trúc tím, hoa vàng. Con thấy khắp nơi bốn đại: địa, thủy, hỏa và phong đang tương giao và tương tức, và con cũng nhận thấy bốn đại mầu nhiệm ấy đang tương giao và tương tức nơi con. Con xin lạy xuống, năm vóc sát đất để thấy con là một với đất mẹ, là một với vầng thái dương, là một với sông hồ biển cả và mây trời bao la… Bốn đại trong cơ thể con và bốn đại trong cơ thể của hành tinh không phải là hai thực thể cách biệt. Con xin trở về nương tựa nơi đất mẹ để thấy được tính vững chãi và bất hoại của con.

Địa Xúc
Con xin cúi đầu lạy xuống ba lạy trước đức Bồ Tát Trì Địa và đức Bồ Tát Địa Tạng (C)

Cùng Tăng thân ở lại

Khải Bạch
Bạch đức Thế Tôn, Ngài là một đứa con của trái đất và Ngài đã chọn trái đất để làm đạo tràng hành đạo của Ngài. Trong quá trình tu tập và giáo hóa, đức Thế Tôn đã đào tạo nên biết bao nhiêu vị bồ tát có khả năng bảo hộ hành tinh xinh đẹp này. Con nhớ trong hội Pháp Hoa, vào lúc Tùng Địa Dũng Xuất, đức Thế Tôn đã gọi các vị bồ tát ấy ra trình diện, và hàng trăm ngàn vị đã xuất hiện từ dưới mặt đất. Các vị ấy đã hứa với đức Thế Tôn là sẽ ở lại chăm sóc mãi mãi cho hành tinh này và cũng để nối tiếp sự nghiệp của đức Như Lai.

Bạch đức Thế Tôn, con cũng là một đứa con của trái đất, và con cũng muốn góp phần vào việc bảo hộ hành tinh xinh đẹp của chúng ta. Con cũng muốn làm một vị bồ tát nhỏ trong số vô lượng những vị bồ tát tùng địa dũng xuất. Con xin nguyện cùng ở lại với tăng thân của đức Thế Tôn để tiếp tục sự nghiệp độ sinh của Ngài

Cùng tăng thân xin nguyện ở lại trong cõi đời làm việc độ sinh,
giờ phút này sông núi chứng minh, cúi xin đức Từ Bi nhiếp thọ.

Con đã được biểu hiện từ đất mẹ, con sẽ trở về đất mẹ để tiếp tục được biểu hiện hàng triệu lần nữa, để cùng với tăng thân con làm công việc chuyển rác thành hoa, bảo hộ sự sống và xây dựng một tịnh độ ngay trên mặt đất này. Chúng con biết chất liệu hiểu biết và thương yêu là chất liệu căn bản để xây dựng nên tịnh độ, cho nên chúng con nguyện là trong mỗi giây phút của cuộc sống hàng ngày chúng con sẽ nỗ lực chế tác chất liệu hiểu biết và thương yêu.

Địa Xúc
Xin đức Thế Tôn cho con lạy xuống ba lạy làm bền vững thêm lòng cam kết của con đối với đất Mẹ, đối với hành tinh xanh (C)