Giới thứ nhất: Tôn trọng sự sống

 

Ý thức được những kh đau do sự sát hi gây ra, con xin hc theo hạnh đi bi để bảo vệ sự sống của mọi người mọi loài. Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán thành sự giết chóc không để kẻ khác giết hại, trong tâm tưởng hay trong cách sống hàng ngày của con.

Sự sống thật quý giá. Sự sống có mặt khắp mọi nơi, trong ta và quanh ta; nó đa hình đa dạng.

Giới thứ nhất đến từ chỗ ý thức rằng sự sống khắp nơi đang bị hủy diệt. Chúng ta thấy được những khổ đau do sự sát hại gây ra, và chúng ta nguyện phát triển lòng từ bi, lấy đó làm nguồn năng lượng để bảo vệ con người, cỏ cây, cầm thú, và đất đá. Giới thứ nhất là một phép tu luyện tâm Bi, karuna – khả năng làm vơi nhẹ và chuyển hoá khổ đau. Khi thấy được nỗi khổ thì tâm Bi phát sinh trong ta.

Tiếp xúc với khổ đau của cuộc đời là điều rất cần thiết. Ta cần nuôi dưỡng ý thức ấy thông qua nhiều phương tiện – hình ảnh, âm thanh, tiếp xúc trực tiếp, thăm viếng, v.v… – để giữ tâm Bi sống trong ta. Nhưng ta phải cẩn thận, chớ đưa vào nhiều quá. Bất cứ phương thuốc nào cũng phải có liều lượng. Ta nên tiếp xúc với khổ đau trong chừng mực giúp ta không quên lãng, để tình thương tuôn chảy trong ta, và biến thành năng lượng hành động. Nếu lấy sự phẫn nộ làm động cơ hành động, ta sẽ có thể làm những điều tai hại, những điều mà ta sẽ hối tiếc sau này. Theo đạo Bụt, tình thương là nguồn năng lượng duy nhất có ích, và an toàn. Với tình thương, năng lượng của chúng ta được sinh ra từ tuệ giác; đó không phải là năng lượng mù quáng.

Con người chúng ta được làm bằng những yếu tố không-phải-con-người, như cỏ cây, khoáng chất, đất, mây, và ánh nắng. Để cho sự thực tập của chúng ta được sâu và được thật, chúng ta phải bảo vệ luôn cả hệ sinh thái. Nếu sinh môi bị tàn phá, con người cũng sẽ bị hủy diệt. Không thể bảo vệ sự sống của con người mà không đồng thời bảo vệ sự sống của cỏ cây, cầm thú, và đất đá.

Kinh Kim Cương dạy chúng ta rằng không thể phân chia ranh giới giữa các loài hữu tình và vô tình. Đây là một trong những kinh điển cổ của đạo Bụt dạy về sinh thái học ở mức độ sâu. Mỗi hành giả trong đạo Bụt phải là một người bảo vệ môi trường. Đất đá cũng có đời sống của chúng. Trong Chùa, chúng ta tụng: ‘Tình dữ vô tình đồng viên chủng trí.’ Giới thứ nhất là sự thực tập bảo vệ mọi sự sống, kể cả sự sống của khoáng vật.

”Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán thành sự giết chóc và không để kẻ khác giết hại, dù là trong tâm tưởng hay trong cách sống hằng ngày của con.” Chúng ta không thể tán thành bất cứ một hành động giết chóc nào; không một sự giết hại nào có thể được biện hộ cả. Nhưng không giết thôi không đủ. Chúng ta còn phải tìm cách ngăn không cho kẻ khác giết hại. Chúng ta không thể nói: ‘Tôi không chịu trách nhiệm. Họ làm chuyện đó, còn tay tôi sạch.’ Nếu chúng ta sống ở Đức trong thời Nazis, ta không thể nói: ‘Họ làm chuyện đó. Tôi không làm.’ Nếu trong cuộc chiến tranh vịnh Gulf, chúng ta không nói hay làm gì cả để ngăn cản việc giết chóc thì chúng ta đã không thực tập giới này. Cho dù những gì chúng ta nói hoặc làm không cản được cuộc chiến, điều quan trọng là ở chỗ chúng ta đã cố làm, vận dụng tuệ giác và tình thương của mình.

Không phải chỉ không dùng thân giết hại mới là giữ Giới thứ nhất. Nếu chúng ta để cho sự giết hại diễn ra trong tư tưởng, chúng ta cũng đã phạm Giới. Chúng ta phải nhất quyết không chấp nhập sự giết hại, kể cả trong tâm tưởng. Theo Bụt, tâm là nền tảng của mọi hành động. Giết trong tâm là nguy hiểm nhất. Khi chúng ta tin tưởng, chẳng hạn như đường lối của chúng ta là đường lối duy nhất cho nhân loại và kẻ nào đi theo đường lối khác là kẻ thù của chúng ta, thì hàng triệu người có thể bị giết vì ý niệm đó.

Tư duy nằm đằng sau mọi việc. Ta cần phải để con mắt ý thức nằm đằng sau mỗi ý nghĩ của mình. Không có sự hiểu biết đúng đắn về một hoàn cảnh hay một con người, suy nghĩ của ta có thể lầm lạc và gây ra hoang mang, tuyệt vọng, giận hờn, hay thù hận. Công việc quan trọng nhất của chúng ta là phát triển sự hiểu biết đúng đắn. Nếu chúng ta thấy được một cách sâu sắc bản chất tương tức, nghĩa là tất cả nương nhau mà có mặt, chúng ta sẽ thôi không còn trách móc, cãi vã, và giết hại, chúng ta sẽ trở nên bè bạn với tất cả mọi người. Muốn thực tập bất bạo động, trước hết chúng ta phải học cư xử một cách hoà bình với chính mình. Nếu ta tạo được một sự hoà hợp đích thực trong chính con người mình, chúng ta sẽ biết cách cư xử với gia đình, bạn bè, và những người cộng tác với ta.

Khi phản đối chiến tranh chẳng hạn, ta có thể cho rằng ta là một con người hiền hoà, đại diện cho hoà bình, thế nhưng điều này lại có thể không đúng. Nếu nhìn sâu, ta sẽ thấy rằng gốc rễ của chiến tranh nằm ngay trong cách sống thiếu chánh niệm bao lâu nay của chúng ta. Chúng ta chưa gieo trồng đủ những hạt giống bình an và hiểu biết nơi ta và nơi những người khác, vì vậy chúng ta liên đới chịu trách nhiệm: ‘Vì tôi như thế này, cho nên họ như thế đó.’ Lối đặt vấn đề có tính toàn triệt hơn cả là lối nhìn ‘tương tức’: ‘Cái này như thế này vì cái kia như thế kia.’ Đây là con đường của Hiểu và Thương. Với cái thấy này, ta có thể nhìn một cách sáng suốt và giúp cho chính phủ ta nhìn một cách sáng suốt. Khi ấy ta có thể đi biểu tình và nói: ‘Cuộc chiến tranh này bất công, hủy diệt và không xứng đáng với đất nước cao quý của chúng ta.’ Điều này hữu hiệu hơn là giận dữ buộc tội cho nhau. Sự tức giận bao giờ cũng gây thêm đổ vỡ.

Tất cả chúng ta, kể cả những người theo chủ nghĩa hoà bình, đều có những nỗi khổ niềm đau trong lòng. Chúng ta cảm thấy bực tức, thất vọng, và chúng ta cần tìm một người nào đó sẵn sàng lắng nghe và có khả năng hiểu được những nỗi khổ niềm đau của chúng ta. Trong nghệ thuật mô tả bằng hình tượng của đạo Bụt có một vị Bồ Tát nghìn tay nghìn mắt tên là Quan Thế Âm. Nghìn tay tượng trưng cho hành động, và con mắt trong mỗi bàn tay tượng trưng cho sự hiểu biết. Khi chúng ta hiểu một hoàn cảnh hay một con người thì những gì chúng ta làm sẽ giúp được cho tình trạng và sẽ không gây thêm đau khổ. Khi có con mắt ở trong bàn tay, chúng ta sẽ biết cách thực tập bất bạo động đích thực.

Muốn thực tập bất bạo động, trước hết ta phải thực tập với chính mình. Trong mỗi chúng ta đều có một mức độ bao động và bất bạo động nào đó. Tùy thuộc vào tình trạng của chúng ta lúc ấy, cách chúng ta phản ứng đối với sự việc sẽ mang ít hay nhiều tính chất bạo động. Cho dù ta có hãnh diện rằng mình là người ăn chay đi nữa thì ta cũng phải công nhận rằng trong nước chúng ta luộc rau có biết bao nhiêu là vi sinh vật. Chúng ta không thể hoàn toàn bất bao động, nhưng với việc ăn chay, chúng ta đang đi về hướng bất bạo động. Nếu muốn đi về hướng Bắc, ta có thể dùng sao Bắc Đẩu để nhắm hướng, nhưng không thể nào đến được sao Bắc Đẩu. Nỗ lực của chúng ta chỉ nhằm đi về hướng đó.

Ai cũng có thể thực tập bất bạo động ở một mức nào đó, kể cả các tướng lĩnh quân đội. Chẳng hạn họ có thể chỉ huy cuộc hành quân của mình như thế nào để tránh không giết hại những người vô tội. Để giúp những người lính đi về hướng bất bạo động, chúng ta phải tiếp xúc với họ. Nếu chúng ta chia thực tại ra làm hai phe – bạo động và bất bạo động – rồi đứng về một phe chống lại phe kia, thế giới sẽ không bao giờ có hoà bình. Chúng ta sẽ luôn trách cứ và buộc tội những người chúng ta cho là chịu tránh nhiệm cho tình trạng chiến tranh và bất công xã hội mà không hề nhận ra mức độ bạo động trong chính con người mình. Chúng ta phải cải hoá chính mình, đồng thời làm việc với những người chúng ta buộc tội nếu muốn có một ảnh hưởng đích thực.

Vạch một ranh giới và gạt một số người sang hàng ngũ kẻ thù – dù là người hành xử bạo động – chẳng bao giờ giúp được gì cả. Ta phải đến với họ với tình thương trong trái tim ta và làm mọi cách có thể để giúp họ đi về hướng bất bạo động. Nếu chúng ta hoạt động cho hoà bình bằng sự phẫn nộ, chúng ta sẽ chẳng bao giờ thành công. Hoà bình không phải là điểm kết thúc. Hoà bình không bao giờ có thể đến được bằng những phương tiện không hoà bình.

Quan trọng nhất là trở thành bất bạo động, để khi một tình huống xảy đến, chúng ta sẽ không tạo thêm đau khổ. Để thực tập bất bạo động, chúng ta cần có sự nhẹ nhàng, từ, bi, hỷ, xả đối với thân tâm mình, và đối với kẻ khác. Bằng chánh niệm – sự thực tập bình an – ta có thể bắt đầu bằng việc chuyển hoá những cuộc chiến trong ta. Có những kỹ thuật để làm chuyện này. Hơi thở có ý thức là một. Mỗi khi ta cảm thấy bất mãn, ta có thể ngưng những gì mình đang làm, tránh không nói bất cứ điều gì, và thở vào thở ra vài lần, ý thức từng hơi thở vào, ra. Nếu vẫn còn không vui, ta có thể đi thiền hành, chánh niệm với từng bước chân chậm rãi và từng hơi thở của mình. Nuôi dưỡng hoà bình bên trong, chúng ta mang lại hoà bình cho xã hội. Tùy thuộc vào ta cả. Tu tập hoà bình trong ta có nghĩa là giảm thiểu đến mức tối đa những cuộc chiến tranh giữa cảm thọ này với cảm thọ khác, ý niệm này với ý niệm khác, rồi ta cũng có thể có hoà bình với những người khác, kể cả những thành viên trong gia đình mình.

Tôi thường được hỏi: ‘Nếu anh thực tập bất bạo động mà có người xông vào nhà, bắt cóc con hay giết vợ mình thì sao? Anh phải làm gì? Anh có còn hành xử theo cách bất bạo động không?’ Câu trả lời tùy thuộc vào trạng thái của anh. Nếu đã có sự chuẩn bị, anh có thể phản ứng một cách trầm tĩnh và thông minh, theo cách bất bạo động nhất mà anh có thể làm. Nhưng muốn sẵn sàng để có thể phản ứng với sự thông minh và bất bạo động, anh phải có sự rèn luyện từ trước. Có thể phải mười năm, hay lâu hơn. Nếu chờ cho đến khi có chuyện mới hỏi câu hỏi ấy thì sẽ quá muộn. Câu trả lời theo kiểu nên-thế-này-hay-thế-khác sẽ là hời hợt vô ích. Ở giây phút quyết định ấy, cho dù anh có biết rằng bất bạo động thì tốt hơn là bạo động, nếu cái hiểu của anh chỉ ở trên trí óc mà không nằm trong toàn bộ con người anh, anh sẽ không hành xử bất bạo động. Sự sợ hãi và tức giận trong anh sẽ ngăn không cho anh hành động theo cách bất bạo động nhất.

Chúng ta cần phải nhìn sâu mỗi ngày để thực tập tốt Giới này. Mỗi lần mua sắm hay tiêu thụ một thứ gì, ta có thể đang thao túng cho một dạng giết chóc nào đó.

Trong khi thực tập bảo vệ con người, cỏ cây, cầm thú, và đất đá, ta biết ta đang bảo vệ cho chính mình. Ta cảm được mối dây liên hệ bền vững, thân thương với tất cả mọi loài trên trái đất. Chúng ta được bảo hộ bởi chánh niệm và lòng từ bi của Bụt và của bao thế hệ Phật tử đã hành trì Giới pháp. Năng lượng từ bi này mang đến cho ta cảm giác an ninh, lành mạnh và hoan hỷ, và như vậy mới xứng đáng với giây phút mà chúng ta quyết định thọ trì giới thứ nhất.

Xót thương chưa đủ. Ta phải học cách biểu lộ tình thương ấy. Đó là vì sao ta phải có hiểu biết đi kèm. Sự hiểu biết và tuệ giác chỉ cho ta nên hành động như thế nào.

Kẻ thù đích thực của chúng ta chính là sự lãng quên. Nếu chúng ta nuôi dưỡng chánh niệm mỗi ngày và tưới tẩm những hạt giống bình an trong ta và trong những người xung quanh ta, ta sẽ trở nên sống động, và ta có thể giúp cho chính mình cũng như những người khác đạt đến an ổn và từ bi.

Sự sống thật quý giá, vậy mà trong đời sống hằng ngày ta lại thường bị cuốn theo những quên lãng, giận hờn, và lo lắng, ta đắm chìm trong quá khứ, và không có khả năng tiếp xúc với sự sống trong giờ phút hiện tại. Khi chúng ta thật sự sống động, những gì ta làm hay tiếp xúc đều là phép lạ. Thực tập chánh niệm tức là quay trở về với sự sống trong giờ phút hiện tại. Phép thực tập của Giới thứ nhất chính là một lễ hội tôn vinh sự sống. Khi chúng ta biết trân quý cái đẹp của sự sống, chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì trong khả năng mình để bảo vệ cả cuộc đời.

Lời bạt

Tôi sống ở phương Tây đã gần ba mươi năm, mười năm gần đây tôi thường hay hướng dẫn các khoá tu chánh niệm ở châu Âu, châu Úc, và Bắc Mỹ. Trong những khoá tu này, chúng tôi đã được nghe nhiều câu chuyện thương tâm, và chán ngán hay rằng bao nhiêu đau khổ ấy đều là kết quả của sự nghiện rượu, lạm dụng ma túy, lạm dụng tình dục, và các lề thói tương tự, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Trong xã hội có một sự băng hoại lớn. Nếu chúng ta đặt một người trẻ vào xã hội mà không tìm cách bảo vệ họ, họ sẽ tiếp nhận những bạo động, căm thù, sợ hãi, và bất an mỗi ngày, và rốt cuộc sẽ bị bệnh. Những câu chuyện của chúng ta, những chương trình tivi, quảng cáo, sách báo đều tưới tẩm các hạt giống khổ đau nơi những người trẻ, và nơi cả những người lớn. Chúng ta thấy có một sự trống vắng trong lòng, và chúng ta tìm cách khoả lấp bằng cách ăn uống, đọc, nói, hút thuốc, uống rượu, xem tivi, đi coi phim, hay thậm chí làm việc quá độ. Nương tựa vào những thứ này chỉ làm chúng ta càng cảm thấy đói khát, không thoả mãn hơn, và chúng ta muốn hấp thụ nhiều hơn nữa. Chúng ta cần một vài nguyên tắc chỉ đạo, một vài phương thuốc ngăn ngừa để phòng hộ cho mình, để rồi chúng ta có thể lành mạnh trở lại. Chúng ta cần tìm cho ra phương thuốc cho căn bệnh của mình. Chúng ta cần tìm cho ra những gì lành, đẹp và thật để có thể nương tựa vào.

Khi lái xe, chúng ta buộc phải tuân theo một số quy luật nhất định để không gây tai nạn. Hai ngàn năm trăm năm trước, Bụt đã đưa ra các nguyên tắc chỉ đạo nhất định cho những người đệ tử tại gia của Ngài để giúp họ sống một đời sống bình an, lành mạnh và hạnh phúc. Đó là Năm Giới, và nền tảng của mỗi Giới này là chánh niệm. Với chánh niệm, chúng ta ý thức được những gì đang xảy ra nơi thân thể, cảm thọ, tâm hồn và thế giới quanh ta, và ta tránh không gây tổn hại cho mình và cho người. Chánh niệm bảo hộ cho ta, cho gia đình và xã hội ta, chắc chắn sẽ mang lại an lạc, hạnh phúc trong hiện tại và tương lai.

Trong đạo Bụt, Giới, Định, và Tuệ luôn đi chung với nhau. Ta không thể chỉ nói đến một yếu tố mà không nói đến hai yếu tố kia. Ba phép này được gọi là Tam Học – sila, tu Giới; samadhi, tu Định; và prajna, tu Tuệ. Giới, Định, Tuệ ‘tương tức’ với nhau. Thực tập Giới mang đến Định, Định thì cần thiết cho Tuệ. Chánh Niệm là nền tảng của Định, Định cho phép ta nhìn sâu, và Tuệ chính là hoa trái của sự nhìn sâu. Khi có chánh niệm, ta có thể thấy rằng nếu tránh không làm ‘điều này’, ta có thể ngăn ngừa được ‘điều kia.’ Tuệ giác này không đến từ sự áp đặt của quyền lực bên ngoài. Nó là hoa trái của sự quán sát của chính chúng ta. Hành trì Giới, vì vậy, giúp ta trở nên điềm tĩnh hơn, tập trung hơn, mang lại nhiều tuệ giác và sự sáng suốt hơn, và do đó việc hành trì Giới của chúng ta lại càng thêm vững chãi. Ba yếu tố này đan quyện với nhau; yếu tố này hỗ trợ cho hai yếu tố kia, và cả ba mang chúng ta đến gần hơn với sự giải thoát – chấm dứt sự ‘rò rỉ.’ Chúng ngăn không để ta rơi trở lại vào vô minh, phiền não. Khi đã bước được ra ngoài dòng khổ đau hệ lụy, ta gọi đó là anasvara, ‘vô lậu.’ Chừng nào còn tiếp tục rò rỉ thì chừng ấy chúng ta cũng giống như một chiếc bình rạn nứt, và không sao tránh khỏi sa vào đau buồn, khổ não và vô minh.

Năm Giới chính là tình thương. Thương có nghĩa là hiểu, bảo vệ, và mang lại an vui cho đối tượng thương yêu của chúng ta. Hành trì Giới là thực hiện điều này. Chúng ta bảo vệ cho mình và bảo vệ cho nhau.

Năm Giới trong sách này được diễn dịch theo hình thức mới. Đây là kết quả của những tuệ giác gặt hái được từ việc thực tập chung như một tăng thân. Một truyền thống tâm linh cũng giống như một cái cây, cần được chăm tưới để cho ra những cành, lá mới để có thể tiếp tục là một thực thể sinh động. Chúng ta giúp cái cây Phật giáo phát triển bằng cách sống sâu sắc chân tinh thần của nó, sự hành trì Giới, Định, Tuệ. Nếu chúng ta tiếp tục thực tập Giới một cách sâu sắc, trong tương quan với xã hội và văn hoá chúng ta, tôi tin rằng con cháu chúng ta sẽ có một sự hiểu biết về Năm Giới còn sâu hơn chúng ta bây giờ và sẽ có nhiều an lạc hơn.

Cho đến gần đây, tôi vẫn hay dùng chữ ‘cấm giới’ thay vì ‘phương pháp rèn luyện chánh niệm.’ Nhưng nhiều người bạn Tây phương nói với tôi rằng chữ ‘cấm giới’ gợi cho họ cảm giác tốt xấu, nghĩa là nếu họ ‘phạm’ giới thì họ thấy mình hoàn toàn thất bại. Giới khác với những ‘điều răn’ (trong đạo Chúa) hay ‘luật lệ.’ Giới là những tuệ giác phát sinh từ sự quán sát chánh niệm và từ kinh nghiệm trực tiếp về khổ đau. Giới là những nguyên tắc hướng dẫn giúp ta tập sống như thế nào để có thể bảo hộ cho mình và cho những người xung quanh. Trong khi thực tập Giới, chỗ hiểu biết và hành trì của ta sẽ càng thêm sâu sắc. Khi mới bắt đầu, và cả trong thời gian luyện tập, không ai có thể hoàn toàn cả. Giới là biểu hiện cụ thể nhất của sự tu tập chánh niệm. Đó là lý do tại sao trình bày Giới như ‘những phương pháp rèn luyện chánh niệm’ trong tiếng Anh là khế cơ, khế lý.

Trong đạo Phật, một trong những cách biểu lộ ước muốn tu tập theo con đường Hiểu và Thương lúc ban đầu là quy y và tiếp nhận Năm Giới từ một vị thầy. Trong buổi lễ truyền giới, vị thầy đọc từng giới một, người học trò lập lại và phát nguyện học hỏi, hành trì theo giới được tuyên đọc. Trước khi quyết định thọ Giới, hành giả có thể còn cảm thấy hoang mang, nhưng với quyết định hành trì Giới, nhiều sợi giây hoang mang, ràng buộc được cắt đứt. Khi buổi lễ hoàn tất, ta có thể thấy ngay trên gương mặt người ấy một sự giải phóng lớn.

Khi phát nguyện thọ trì dù chỉ một giới, quyết định mạnh mẽ nảy sinh từ tuệ giác ấy sẽ đưa ta đến tự do và hạnh phúc đích thực. Tăng thân có mặt đó để yểm trợ và chứng minh cho sự ra đời của tuệ giác và quyết tâm của mình. Buổi lễ thọ giới có sức mạnh xuyên thủng, giải phóng và xây dựng. Sau buổi lễ, nếu chúng ta tiếp tục thực tập Giới, nhìn sâu để có tuệ giác sâu hơn về thực tại, sự bình an và giải thoát của chúng ta sẽ tăng trưởng. Cách ta hành trì Giới biểu lộ mức độ bình an và chiều sâu của tuệ giác chúng ta.

Khi một người chính thức phát nguyện học hỏi và hành trì Năm Giới, người ấy cũng quy y nơi Tam Bảo – Bụt, Pháp, và Tăng. Hành trì Năm Giới là một biểu hiện cụ thể của lòng biết ơn và tin tưởng nơi Ba Viên Ngọc Quý này. Bụt chính là chánh niệm; Pháp là con đường của tình thương và sự hiểu biết; Tăng là đoàn thể nâng đỡ cho sự tu học của chúng ta.

Năm Giới và Tam Bảo là những đối tượng xứng đáng của niềm tin chúng ta. Đó không phải là những cái gì trừu tượng – ta có thể học hỏi, tu tập, khám phá, nới rộng, và kiểm lại với kinh nghiệm của chính mình. Học hỏi và thực tập theo Năm Giới và Tam Bảo chắc chắn sẽ mang lại an lạc cho bản thân, cộng đồng, và xã hội ta. Là con người, chúng ta cần có một cái gì để tin tưởng, một cái gì lành, đẹp, và thật, một cái gì ta có thể tiếp xúc được. Niềm tin vào sự thực tập chánh niệm – vào Năm Giới và Tam Bảo – là điều mà bất cứ ai cũng có thể khám phá, công nhận, và đưa vào đời sống hằng ngày.

Năm Giới và Tam Bảo có những giá trị tương đương ở trong mọi truyền thống tâm linh. Đây là những gì đến tự chiều sâu thẳm của mỗi chúng ta, hành trì theo đó sẽ giúp ta cắm rễ sâu hơn trong truyền thống của mình. Sau khi đã học về Năm Giới và Tam Bảo, tôi mong rằng các bạn sẽ quay về truyền thống của mình và chiếu ánh sáng lên những viên ngọc vốn đã có đó. Năm Giới là phương thuốc cho thời đại chúng ta. Tôi khẩn thiết mong các bạn thực tập Giới theo cách chúng được trình bày ở đây, hay theo cách chúng được giảng dạy trong truyền thống của bạn.

Cách tốt nhất để hành trì Giới là cách nào? Tôi không biết. Tôi vẫn còn đang học hỏi, cùng với các bạn. Tôi thấm thía cụm từ dùng trong Năm Giới: ‘tìm cách.’ Chúng ta không biết hết mọi việc. Nhưng chúng ta có thể giảm thiểu tối đa sự ngu dốt của mình. Khổng Tử từng nói rằng: ‘Biết rằng mình không biết tức là chỗ khởi đầu của cái biết.’ Tôi nghĩ đây là cách để thực tập. Chúng ta cần có sự khiêm tốn và cởi mở để có thể học hỏi cùng nhau. Chúng ta cần một Tăng thân, một cộng đồng, để yểm trợ cho ta, và chúng ta cũng cần phải tiếp cận với xã hội để hành trì giới. Nhiều vấn đề hôm nay không tồn tại trong thời của Bụt. Vì vậy, chúng ta cần phải quán chiếu chung để mở ra những tuệ giác có thể giúp chúng ta và con cái chúng ta tìm ra được cách để sống một đời sống lành mạnh, hạnh phúc và khương kiện.

Khi có người hỏi: ‘Anh có quan tâm không? Anh có quan tâm đến tôi? Em có quan tâm đến cuộc đời? Chị có quan tâm đến trái đất?’, cách hay nhất để trả lời là hành trì Năm Giới. Đây là dạy bằng thân giáo chứ không phải chỉ bằng lời. Nếu bạn thật sự quan tâm, xin hãy hành trì các Giới này để bảo hộ cho mình và cho mọi người, mọi loài khác nữa. Nếu chúng ta thực tập hết lòng thì tương lai sẽ còn có mặt cho chúng ta, và con cháu chúng ta.

Thích Nhất Hạnh, 1993

CHƯƠNG 1: Năm giới mầu nhiệm

Năm Giới

Giới th nhất

Ý thức được những khổ đau do sự sát hại gây ra, con xin học theo hạnh đại bi để bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài. Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán thành sự giết chóc và không để kẻ khác giết hại, dù là trong tâm tưởng hay trong cách sống hàng ngày của con.

Giới th hai

Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cướp và bất công xã hội gây ra, con xin học theo hạnh đại từ để đem lại niềm vui sống và an lạc cho mọi người và mọi loài, để chia xẻ thì giờ, năng lực và tài vật của con với những kẻ đang thật sự thiếu thốn. Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra. Con nguyện tôn trọng quyền tư hữu của kẻ khác, nhưng cũng nguyện ngăn ngừa kẻ khác không cho họ tích trữ và làm giàu một cách bất lương tên sự đau khổ của con người và của muôn loại.

Giới th ba

Ý thức được những khổ đau do thói tà dâm gây ra, con xin học theo tinh thần trách nhiệm để giúp bảo vệ tiết hạnh và sự an toàn của mọi người và mọi gia đình trong xã hội. Con nguyện không ăn nằm với những người không phải là vợ hay chồng của con. Con ý thức được rằng những hành động bất chính sẽ gây ra những đau khổ cho kẻ khác và cho chính con. Con biết muốn bảo vệ hạnh phúc của mình và của kẻ khác thì phải biết tôn trọng những cam kết của mình và của kẻ khác. Con sẽ làm mọi cách có thể để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa.

Giới th

Ý thức được những khổ đau đo lời nói thiếu chánh niệm gây ra, con xin học theo hạnh ái ngữ và lắng nghe để dâng tặng niềm vui cho người và làm vơi bớt khổ đau của người. Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hoặc khổ đau cho người, con nguyện chỉ nói những lời có thể gây thêm niềm tự tin, an vui và hy vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng sự hiểu biết và hòa giải. Con nguyện không nói những điều sai với sự thật, không nói những lời gây chia rẽ và căm thù. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án những điều con không biết chắc. Con nguyện không nói những điều có thể tạo nên sự bất hòa trong gia đình và đoàn thể, những điều có thể làm tan vỡ gia đình và đoàn thể.

Giới th năm

Ý thức được những khổ đau do sự sử dụng ma túy và độc tố gây ra, con xin học cách chuyển hóa thân tâm, xây dựng sức khỏe thân thể và tâm hồn bằng cách thực tập chánh niệm trong việc ăn uống và tiêu thụ. Con nguyện chỉ tiêu thụ những gì có thể đem lại an lạc cho thân tâm con, và cho thân tâm gia đình và xã hội con. Con nguyện không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy, không ăn uống hoặc tiêu thụ những sản phẩm có độc tố trong đó có một số sản phẩm truyền thanh, truyền hình, sách báo, phim ảnh và chuyện trò. Con biết rằng tàn hoại thân tâm bằng rượu và các độc tố ấy là phản bội tổ tiên, cha mẹ và cũng là phản bội các thế hệ tương lai. Con nguyện chuyển hóa bạo động, căm thù, sợ hãi và buồn giận bằng cách thực tập phép kiêng cữ cho con, cho gia đình con và cho xã hội. Con biết phép kiêng khem này rất thiết yếu để chuyển hóa tự thân, tâm thức cộng đồng và xã hội.

Rong chơi cõi ngoài

 

Tiếng gọi

Ngồi trên chuyến bay về Huế để có mặt cho đám tang ông nội, tôi thấy Thầy cùng có mặt bên tôi rất rõ ràng. Gần mười hai giờ khuya hôm trước, lúc tôi và sư chú Trời Trong Sáng đang làm thị giả cho Thầy, Thầy thức dậy và thiền hành quanh trong thất Nhìn Xa. Tôi đến quỳ và xin phép Thầy được về Việt Nam sáng sớm hôm sau. Thầy lắng nghe rất chăm chú, ánh mắt đầy tình xót thương. Thầy gật đầu cho phép và đưa tay lên xoa đầu tôi, chạm vào má của tôi. Lòng tôi tràn đầy niềm biết ơn khi ý thức rằng trong cuộc đời mình đã may mắn được gặp Thầy. 

Trên chuyến bay hôm đó, có một khoảng thời gian tôi ngồi yên nhìn ra bên ngoài khung cửa sổ và bắt gặp hình ảnh của Thầy đang ngồi lặng yên nhìn từng dòng sông, từng ngọn đồi, từng thửa ruộng trong chuyến về Việt Nam gần đây nhất. Chín năm rồi Thầy mới trở về thăm đất nước. Chín ngày Thầy có mặt với quê hương. Một chuyến đi đầy tuệ giác và huyền thoại của Thầy. Mọi chuyện vẫn còn đó, như chưa bao giờ trở thành quá khứ.

Cánh diều đất Việt

Có những buổi trưa, sau giờ cơm của đại chúng tu viện Vườn Ươm, nếu ai để ý nhìn ra cổng thất Nhìn Xa thì sẽ thấy một bóng áo nâu chậm rãi đi tới, dừng lại, chắp tay và lạy xuống ba lạy thật cẩn trọng, thành kính hướng về Thầy. Sau ba cái lạy, bóng áo nâu đó lại nhẹ nhàng thiền hành trở về phòng dành cho khách tăng. Đó là một sư chú, từ Việt Nam qua xin ở lại tu viện một tháng để theo đại chúng học hỏi nếp sống mà Thầy đã hướng dẫn.

Anh em thị giả chúng tôi quán sát, cảm được lòng thành của sư chú nên xin phép Thầy để sư chú được lên hầu thăm Thầy. Một buổi trưa, chúng tôi mời sư chú lên thất. Sư chú đảnh lễ Thầy và xin được cúng dường Thầy một con diều giấy tự tay sư chú làm trong những ngày ở tu viện. Trên thân diều, sư chú vẽ chân dung của sư chú Phùng Xuân và đề bốn chữ thư pháp “Cánh diều đất Việt”. Thầy gật đầu nhận món quà dễ thương đó. Con diều đã được anh em chúng tôi treo lên bức tường gỗ trong thất.

Một hôm Thầy chỉ vào con diều nhiều lần, đó là lần rõ ràng nhất chúng tôi biết rằng Thầy quyết định đi Việt Nam.

Chúng tôi rất cảm động về món quà mà người xuất sĩ trẻ dâng lên cúng dường Thầy. Trước đó, sư chú chỉ gặp Thầy qua những trang sách, qua những bài pháp thoại, và chính những trang sách, những bài pháp thoại đó đã nuôi dưỡng và giữ gìn sự thực tập cho sư chú ngay cả trong những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Sư chú quyết định đi tìm Thầy. Cuối cùng, sư chú đã gặp Thầy bằng xương bằng thịt. Trong lòng tăng thân, sư chú nói sư chú đã tìm thấy con đường, tìm thấy quê hương.

Nhìn sư chú, tôi cũng đồng thời nhìn thấy tôi lúc còn là một sư chú trẻ. Tôi, một người trẻ lớn lên trong chùa, ăn cơm chùa, đi học trường Phật học suốt mấy năm, thu gom được một số kiến thức, hấp thụ được một số kỹ năng sống, nhưng tôi cảm thấy rất trống vắng và nghèo nàn trong sự thực tập. Có khi tôi đã rơi vào tình trạng tuyệt vọng và có nguy cơ ngã gục. Lúc đó, tôi được gặp nhiều tập sách của Thầy. Càng đọc, con đường càng mở ra. Càng đọc, tâm thức tôi càng sáng và có thể đưa những sự thực tập căn bản của Thầy dạy vào đời sống hàng ngày. Những ngôn ngữ đơn giản ấy và sự thực tập bước chân, hơi thở chánh niệm đã cứu tôi thoát ra khỏi tình trạng bế tắc. Tôi thường đi thiền ra ngọn đồi Kim Sơn, có khi nằm dài trong lòng hương hoa chổi hay hoa chiều để cho thân tâm được lắng dịu, để đất Mẹ đón nhận, ôm ấp và chuyển hóa những khó khăn trong tôi. Tôi hay gọi ngọn đồi với nhiều cây thông rất đẹp, với những cụm hoa chổi trắng nhỏ hay những cành hoa chiều như tuyết là đồi Trị Liệu. Lúc đó, trong lòng tôi đã chuẩn bị cho một chuyến trở về bên Thầy. Lúc đó, tôi biết, tôi cần phải trở về bên Thầy.

Chúng ta mất cả chỉ còn nhau

Ngày 29 tháng 8 năm 2017, chuyến bay từ Bangkok đưa Thầy về Đà Nẵng. Thầy nằm nghỉ ngơi trên máy bay cho đến khi thị giả thông báo là máy bay đã vào không phận Việt Nam và hạ độ cao. Thầy ra hiệu ngồi dậy, qua ngồi ghế và Thầy trò chúng tôi cùng nhìn ra bên ngoài cửa sổ. Những dãy núi bạt ngàn trùng điệp, những dòng sông uốn quanh hai bên những ngọn đồi xanh, hoặc là những cánh đồng lúa được phân thành từng ô nhỏ. Lòng chúng tôi ai cũng bình lặng. Quê hương chúng tôi đây rồi. Quê hương chúng tôi là núi đồi tươi tốt, là biển rộng sông dài, là ruộng đồng trù phú trải dài như tấm y chở che dân tộc. Bao nhiêu thời đại đi qua, bao nhiêu nhiễu nhương phải đối diện, bao nhiêu chông gai thử thách giữa lòng đất Mẹ, chúng tôi vẫn cứ nguyện nhận nơi này làm quê hương.

Quê hương tôi là đây

Chỉ có dòng sông, hàng cau, bụi tre, vườn chuối

Mặt trái đất dù mang đầy cát bụi

Nhưng trăng sao vẫn đẹp những đêm Rằm.

(Chỗ đứng – thơ Thầy)

 

 

Thầy đã ngồi yên như vậy ngắm nhìn quê hương, thỉnh thoảng nhìn quanh các thị giả một vòng và ra hiệu cùng thưởng thức vẻ đẹp của đất trời với Thầy. Thầy trò tôi đã ngồi bên nhau như vậy, trong niềm hạnh phúc và những xúc động thâm sâu. Thầy về Việt Nam hẳn là một phép mầu. Máy bay đáp xuống đường băng, chúng tôi vẫn cứ ngồi quan sát Thầy. Đây không phải là một giấc mơ. Chuyện Thầy về thăm quê hương là một sự thật. Thầy là một món quà lớn mà hồn thiêng sông núi Đại Việt đã mang đến cho cuộc đời. Hôm nay, chúng tôi cảm nghe một cách thiết tha tiếng của hồn thiêng sông núi gọi Thầy trở về với quê cha đất tổ. Hơn năm mươi năm trước, Thầy đã mang thông điệp yêu thương lên đường đi khắp năm châu bốn biển để kêu gọi hòa bình, để kêu gọi chấm dứt cuộc chiến đệ huynh đã gây bao nhiêu thảm khốc trên mảnh đất hình chữ S. Hôm nay Thầy trở về, xứng đáng với hồn thiêng dân tộc. Thông điệp thương yêu, thông điệp tình huynh đệ và nghĩa đồng bào ấy, mười năm trước Thầy đã có lần đọc ngay giữa lòng đất Việt:

“… Chúng tôi hôm nay mới có cơ hội đến với nhau một cách chính thức, chắp tay nguyện cầu Tam Bảo, nhờ pháp lực gia trì thỉnh cầu tất cả liệt vị trở về đoàn tụ, cùng nhau cầu nguyện để giải trừ nghiệp cũ, mở ra một vận hội mới, nhìn nhận nhau, ôm lấy nhau, thương lấy nhau như đồng bào ruột thịt, không còn phân biệt Nam Bắc, gái trai, già trẻ, chủng tộc, tôn giáo, đảng phái và ý thức hệ. Tất cả chúng ta đều là đồng bào của nhau, gặp vận nước rủi ro, trên đường đấu tranh cho độc lập, cho tự do, bị dồn vào thế đối lập nhau, vì tự vệ mà phải chống đối nhau. Nhưng phước đức tổ tiên để lại vẫn còn, cho nên hôm nay tất cả chúng ta mới được về lại với nhau để nhìn nhận nhau như con một nhà, để cùng hứa với nhau là sẽ học cho thật thuộc bài học của đau thương trong quá khứ.

… Chúng tôi và các con cháu nguyện sẽ lên đường tiếp tục chí hướng của liệt vị hương linh, chúng tôi nguyện mang quý vị trong trái tim để đi về hướng tình huynh đệ và nghĩa đồng bào và luôn luôn nhớ rằng bầu và bí đều có thể leo chung một giàn, gà cùng một mẹ không bao giờ đá nhau, và tuệ giác ấy của tổ tiên sẽ soi đường chỉ lối cho con cháu chúng ta bây giờ và mãi mãi.”

(Lời khấn nguyện trong Đại trai đàn chẩn tế Bình đẳng giải oan)

Mỗi bước chân là huyền thoại, mỗi bước chân là trị liệu

Máy bay chạm đất, Thầy đưa tay nắm lấy tay chúng tôi, trên khuôn mặt Thầy vẫn giữ một nụ cười bình thản. Thầy Đồng Trí ở lại trên máy bay với Thầy; tôi và những thị giả khác xuống trước để lắp chiếc xe lăn. Tôi bước lên lại máy bay, Thầy vẫn đang ngồi ở ghế nhìn ra khung cửa nhỏ. Đến bên Thầy, tôi thưa: “Thưa Thầy, Thầy trò mình cùng đi bộ xuống máy bay được không Thầy?” Thầy nhìn tôi bằng ánh mắt rất sáng, và gật đầu. Thầy đi rất thẳng, rất đẹp. Đứng ở cửa máy bay, Thầy đưa mắt nhìn xung quanh và đưa tay lên chào mọi người. Chúng tôi giúp Thầy xuống cầu thang máy bay. Đặt chân trên mặt đất, Thầy tiếp tục bước những bước chân đầu tiên giữa lòng quê hương. Thầy đi thật thản nhiên, vững chãi và an tịnh. Hình ảnh đó sẽ nuôi dưỡng tất cả mọi người dù người đó thuộc tầng lớp nào trong xã hội. Mỗi bước chân ấy đã đi vào huyền thoại. Mỗi bước chân ấy, với tôi, đã trị liệu rất nhiều thương tích trên quê hương Việt Nam. Và bước chân chánh niệm ấy, bây giờ đây đã in dấu trên khắp quê hương, trên khắp thế giới nơi biểu hiện của hàng trăm ngàn học trò xuất gia và tại gia của Thầy.

Tại sao Thầy cần phải về Việt Nam trong tình trạng sức khỏe như vậy? Câu hỏi đó đã xuất hiện ở nhiều nơi. Tôi càng thấy thương kính Thầy hơn khi nhớ lại những ngày chuẩn bị cho chuyến về Việt Nam. Thầy rất thích ngồi yên và nghe học trò của mình đọc lại bài thơ Xin cúi đầu đưa về, bài thơ Thầy đã làm trước lúc về lại Việt Nam của gần năm mươi lăm năm trước. Bài thơ của một người con trai khờ dại, tuy biết rằng những thương tích phải gánh chịu nơi chốn cũ vẫn chưa lành lặn nhưng vì tình thương, vì chí nguyện hàn gắn tình nghĩa huynh đệ đồng môn mà người con trai ấy vẫn trở về như một kẻ đầu hàng ngoan ngoãn. Dù có bị đối xử thế nào, người con trai ấy vẫn xác quyết một điều rằng: Không có gì quý hơn Tình Huynh Đệ.

… Đây hai bàn tay tôi

Xin trả về cho em

Kẻ thương yêu, mẹ dạy, không bao giờ tính toán

Cỏ mộ úa vàng, cũng như hoa hồng đương lứa

Thương yêu muôn đời vẫn hạt sương trong

Đây hai bàn tay tôi

Xin cúi đầu đưa về

Em nhìn xem: những vết thương ngày xưa vẫn chưa lành dấu máu

Mười ngón đơn sơ hồn em xin đậu

Như những giọt sương ngời đầu ngọn cỏ rung rinh

Đây hai bàn tay tôi

Một kiếp luân hồi không xóa nhòa thương tích

Nụ cười còn đây, tôi không bao giờ oán trách

Còn đây tâm hồn thơ dại ngày xưa…”

(Xin cúi đầu đưa về – thơ Thầy)

Thầy đã từ chối không ngồi xe cứu thương để về chỗ nghỉ ngơi. Thầy chỉ chiếc xe bên cạnh của một người cư sĩ đến đón Thầy tại sân bay. Chúng tôi đưa Thầy lên xe. Vừa ngồi vào ghế, thắt dây an toàn, Thầy đưa ngón trỏ lên miệng làm dấu, hình ảnh của sự im lặng hùng tráng, nhìn một lượt các anh em thị giả chúng tôi, và ra hiệu cho xe chạy về chỗ nghỉ. Sáng sớm hôm sau, ngồi uống trà nơi hành lang của một căn phòng nhìn ra bờ biển với vườn dừa yên ả, anh em thị giả chúng tôi phát hiện trên bầu trời có một đám mây ngũ sắc rất đẹp, rất sáng. Thầy cũng đã dậy từ sáng sớm, thiền hành quanh hành lang và thưởng thức trà cùng các học trò.

Những ngày ở Đà Nẵng, chúng tôi đã mời Hòa thượng Chí Mãn đến thăm Thầy. Hòa thượng là sư em của Thầy, đang bệnh và phải ngồi xe lăn. Hòa thượng Chí Mãn gặp Thầy như một người sư em gặp sư anh, đồng thời cũng như một người học trò gặp thầy, có rất nhiều hạnh phúc. Huynh đệ nắm tay nhau, có khi Thầy lắng nghe Hòa thượng nói vài câu chuyện vui, có khi tay trong tay với sự im lặng tuyệt đối, hình ảnh ấy thật đẹp trong lòng mỗi chúng tôi. Vài hôm sau, tôi nghe tin Hòa thượng viên tịch. Hòa thượng đã gặp được vị sư anh đáng kính của mình trước lúc mất, hẳn nụ cười an ổn sẽ chẳng bao giờ tắt trong tâm hồn Hòa thượng.

Rong chơi thật địa

Một buổi chiều Chủ nhật, ngày 03 tháng 9 năm 2017, Thầy quyết định về Huế ghé thăm chùa Tổ Từ Hiếu. Thầy là người tự sắp xếp tất cả lịch trình của chuyến đi. Chúng tôi, những thị giả của Thầy, hoàn toàn nương tựa vào tuệ giác của Thầy và làm theo tất cả những gì Thầy chỉ dạy. Thầy không mặc áo tràng dù anh chị em thị giả chúng tôi đã thưa nhiều lần, kể cả lúc xe sắp đến chùa Tổ. Thầy chỉ mặc áo vạt hò. Thầy là con của chùa Tổ. Thầy không phải là khách vãng lai. Tôi hình dung ra hình ảnh Sư cố Chân Thật chống chiếc gậy tre dạo chơi vườn chùa trong chiếc áo vạt hò giản dị.

Gần hai mươi bốn giờ ở Tổ đình, Thầy đã dành gần như toàn bộ thời gian để thăm lại tất cả những nơi chốn kỷ niệm một thời hành điệu của sư chú Phùng Xuân. Thầy nghỉ ngơi rất ít. Thầy dạo quanh thất Lắng Nghe với cây vả sai trái, tiếng muôn trùng càng khiến cho không gian thêm khảng khoát và thanh vắng. Khuya hôm đó, Thầy cùng thị giả ra thăm thiền đường Trăng Rằm, nơi có chân dung của thiền sư Tánh Thiên Nhất Định, bậc cao tăng khai sơn Tổ đình.

 

 

Hơn tám giờ sáng ngày hôm sau, thứ Hai, ngày 04 tháng 9 năm 2017, ánh mặt trời thắp trong vắt trên các ngọn cây và thả từng vạt mỏng trên nền vườn chùa Tổ, Thầy đã có gần hai giờ đồng hồ dạo chơi quanh khuôn viên Tổ đình Từ Hiếu nơi đã gắn bó sâu sắc với những năm đầu tiên Thầy xuất gia học đạo. 

Đây, ngôi tháp cổ phủ rêu phong theo năm tháng, nơi bóng hình của Tổ khai sơn Tánh Thiên Nhất Định vẫn còn đó bài học hiếu đạo và công trình dựng tăng đã lưu xuất nhiều thế hệ xuất sĩ, nhiều bậc cao tăng tài đức.

Đây, con đường đất sỏi đi ngang Tàng Tháp, nơi những bức tường sạm màu ấy, sư chú Phùng Xuân ngày xưa đã cùng với các huynh đệ khác gom lá thông nướng nấm nướng măng.

Đây, trên con đường từ Tổ đình qua ni xá Diệu Trạm, hồ Sao Hôm cuối Hạ vẫn còn cho những đóa sen hồng tươi thắm. Nơi thư quán, Thầy đã dừng lại ngắm nhìn từng tác phẩm của mình trên kệ sách, thăm coi phòng ở của các sư cô và nơi sinh hoạt có được thoải mái không.

Đây, khu Lăng Viện nơi sư chú Phùng Xuân nhiều buổi trưa đã từng ra nằm đọc sách trên nền lá mát rượi. Hôm nay, Thầy đến thăm và dừng lại đọc rất nhiều tấm bia bằng chữ Hán trong Lăng Viện.

Đây, cổng tam quan cổ kính, gần hồ bán nguyệt, nơi đã không biết bao nhiêu buổi chiều sư chú Phùng Xuân ngồi nhổ cỏ và nghe tiếng tụng kinh công phu của chú Tâm Mãn từ Đại Hùng Bảo Điện vọng xuống. Trong khung cảnh mầu nhiệm ấy, sư chú Phùng Xuân lắng tai nghe cho đến khi bóng tối phủ đầy mà vẫn chưa chịu bước xuống hồ rửa tay. Được nuôi mình trong không khí thanh bình ấy, sư chú Phùng Xuân không thể nào không trở thành thi sĩ.

Đây, hồ bán nguyệt, nơi sư chú Phùng Xuân đã từng mang những trái mít non tươi xuống gọt vỏ để cho dì Tư hay chính sư chú sẽ nấu một nồi canh mít thơm ngon với lá lốt hoặc lá sân. Hôm nay, Thầy đã ngồi chơi rất lâu nơi những bậc cấp dẫn xuống hồ. Thầy thưởng thức trà, ngắm nhìn hồ nước, ngắm nhìn cổng tam quan, nghe quý thầy quý sư cô và những Phật tử cư sĩ hát thiền ca. Có lúc, Thầy dạy tất cả mọi người ngưng hát, cùng im lặng để có mặt nơi thực tại mầu nhiệm trong phút giây huyền thoại này, phút giây thầy trò hiện hữu nơi chốn Tổ linh thiêng.

Buổi chiều, Thầy cũng ra ngoài dạo chơi, thăm giếng nước xưa, thăm đồi thông cổ, thăm lại những cây bùi già đã cho rất nhiều trái ngon, ngon nhất xứ Huế. Từ nơi khoảng sân đất quen thuộc bên hông chánh điện, Thầy ra thăm tháp Bổn sư là Sư cố Thanh Quý Chân Thật. Thầy đã đi thiền quanh tháp một vòng, dừng lại đọc bài kệ bằng chữ Hán in nơi bức tường thành, thật chậm rãi và kính cẩn trước khi qua thăm tháp của Sư thúc Chí Mậu và về lại thất nghỉ ngơi. Nơi bốn trụ lớn trước tháp Sư thúc, lúc Thầy dừng lại thăm, có những con chim bồ câu bay đến đậu rất yên bình.

Mỗi nơi Thầy đi qua, chúng tôi cảm thấy Thầy đã tiếp xúc rất sâu sắc với năng lượng thương yêu, bình an và có mặt. Nghĩa tình, hiếu đạo, tha thứ và bao dung trọn vẹn nơi sự có mặt của Thầy. Mỗi nơi Thầy đi qua, Thầy để lại đó ánh mắt của sự tự do. Một người con xứng đáng về thăm chốn Tổ. Chỉ có vậy thôi.

Cũng ngay trong buổi chiều cùng ngày, sau khi dạo chơi một vòng quanh hồ bán nguyệt, Thầy quyết định rời Huế, lúc 15 giờ 40 phút. Hình ảnh Thầy ra hiệu thị giả dừng lại, Thầy hướng về cổng tam quan, xa xa là những nơi chốn ghi dấu bao nhiêu kỷ niệm êm đềm trong cuộc đời sư chú Phùng Xuân, Thầy chắp tay, cúi đầu xá chào trước khi lên xe, đã in đậm trong lòng mỗi chúng tôi. Lúc ngồi trên xe, chúng tôi nghe tin nhiều vị xuất sĩ chuẩn bị lên thăm Thầy. Chúng tôi mỉm cười. Thầy đã dời chân cõi ngoài khi ánh tà dương vẫn thắp sáng núi rừng…

Mây trắng thong dong

Hiện hữu không kêu gọi tình thương

Hiện hữu không cần ai phải thương ai

Nhưng em phải là em

Là đóa hoa, là bình minh hát ca không đắn đo suy tính…

(Bướm bay vườn cải hoa vàng – thơ Thầy)

 

Trong lễ tang ông Nội tôi, có một đêm, tôi đã mời tất cả những người thân tập trung trước di ảnh Nội để tổ chức lễ tưởng niệm. Đó là cơ hội hiếm hoi giúp tất cả mọi người buông bỏ hết những công việc, những lo lắng để thật sự trở về, thật sự có mặt cho nhau. Sau lúc ngồi yên theo những lời thiền hướng dẫn, tôi đã mời Thầy có mặt và đọc cho cả gia đình nghe Bướm bay vườn cải hoa vàng, nhiều người đã khóc khi nghe bài thơ trong không khí im lặng được tuyệt đối tôn trọng đó, tôi nhận thấy đã có sự trị liệu và kết nối trong gia đình huyết thống của chúng tôi trải qua nhiều thế hệ. Chúng tôi có dịp chia sẻ cho nhau nghe những kỷ niệm vui về Nội. 

Tôi rất biết ơn Thầy đã cho tôi con đường. Con đường ấy đã giúp tôi trở về nhà, ngôi nhà tâm linh mà tận sâu thẳm tâm thức tôi luôn luôn khát khao được gặp dù có trải qua vạn nẻo luân hồi. Con đường ấy đã giúp tôi có truyền thông với gia đình huyết thống và nuôi dưỡng nhau trong sự thiện lành. Về với Thầy, tôi biết rằng tôi cũng đã về lại được với ngôi nhà thân thiết đó, ngôi nhà đích thực ngàn xưa. Những bước chân, những hơi thở của Thầy giúp cho tôi tiếp xúc và trân quý được hiện hữu.  Hôm nay đây, tôi muốn thưa với Thầy rằng: Con đã tìm thấy đường về nhà. Con đã về nhà.

Hội ngộ Long Vương

HỘI NGỘ LONG VƯƠNG
Thầy Nhất Hạnh

Đó là ngày 11.05.2001, tôi đang ở tịnh thất Tùng Bút tại tu viện Lộc Uyển, miền Nam tiểu bang California Mỹ Quốc. Buổi sáng, các thầy, các sư chú trên xóm Vững Chãi và các sư cô dưới xóm Trong Sáng đều được mời đến tịnh thất Tùng Bút để ngồi thiền với tôi, thay vì ngồi ở các thiền đường trong xóm. Các vị đến vào lúc năm giờ. Trước đó tôi đã đi đốt lò củi và đun nước sôi pha trà. Thầy Giác Thanh đã có cất chứa những khối củi ép có nhựa thông, thành ra đốt lò sưởi rất dễ và rất mau. Thất Tùng Bút nằm giữa hai xóm. Buổi ngồi thiền này chỉ là một trong những buổi thầy trò ngồi chung để có thêm năng lượng, để cảm thấy sự có mặt của nhau, bên nhau. Sau buổi thiền ngồi, chúng tôi còn ngồi với nhau thêm nửa giờ nữa để cùng góp ý kiến làm sao cho trong tăng thân có thêm hoà điệu và hạnh phúc.

Sáng hôm ấy vị thị giả của tôi là sư cô Kristin (Thường Nghiêm), hồi đó còn là một vị sadi ni. Sư cô là người Hoa Kỳ. (Sư cô mới được thọ giới lớn tại Đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới tổ chức từ ngày 16 đến ngày 22 tháng chạp năm 2001). Sư cô cho biết ngày hôm nay sẽ là một ngày mà tôi phải tiếp nhiều khách. Những vị khách đầu tiên là một đội quay phim từ NewYork tới. Mình đã hứa với họ năm ngoái là sẽ để cho họ đến phỏng vấn khi mình đến Hoa Kỳ. Chủ ý của họ là làm một cuốn phim lấy tên là The Living Buddha, nói về lịch sử đức Bụt và lịch sử đạo Bụt. Và họ muốn Thầy đại diện nói lên được tiếng nói của đạo Bụt dấn thân, đạo Bụt hiện đại hoá. Tôi vừa đi thiền hành từ đồi Yên Tử về thì đã thấy họ đến tự bao giờ, đang sắp đặt máy móc, ánh sáng và các trần thiết căn bản. Tôi bảo thị giả mời họ đi thiền hành một vòng trước khi ngồi xuống bắt đầu cuộc phỏng vấn. Ban đầu vị thị giả và tôi nhận thấy rằng họ đã miễn cưỡng mà nhận lời đi thiền hành. Họ sợ mất thì giờ; đường xá xa xôi, họ lại từ vùng Đông Bắc tới. Nhưng sau khi được hướng dẫn và đi thiền hành được một vòng thì họ có được sự bình an. Họ được lây cái bình an của chúng tôi. Họ có được cái bình an trong hơi thở và bước chân họ. Tôi nghĩ cái sẽ làm cho họ nhớ nhất trong chuyến đi này của họ là buổi đi thiền hành chứ không phải là buổi phỏng vấn. Buổi phỏng vấn kéo dài tới hai giờ đồng hồ, đưa lại cho họ nhiều thoả mãn, nhiều hơn là họ từng mong ước.

Tôi được nghỉ ngơi chừng nửa giờ trước khi đi thọ trai. Hôm ấy hai xóm ăn cơm chung trên trai đường của xóm Vững Chãi. Vào khoảng ba giờ chiều, tôi lại phải tiếp đài NBC địa phương. Sau đó, tôi lấy nón lá và bảo thị giả cùng đi thiền hành với tôi lên đồi Yên Tử. Đồi Yên Tử là ngọn đồi đã được tăng thân chọn để xây một tháp chuông, theo mẫu của tháp chuông chùa Thiên Trù trên núi Hương Tích. Thầy Pháp Dung đã vẽ đồ án của ngôi tháp, nhưng đến bây giờ vẫn chưa xin được giấy phép làm tháp chuông. Chúng tôi dự tính trồng cỏ và làm vườn sỏi trên đồi, chung quanh tháp chuông, để sau này mỗi khi đi thiền hành lên trên ấy thì có thể ngồi xuống tĩnh toạ nửa giờ trước khi đi về. Các thầy và các sư cô ở Lộc Uyển đã trồng hàng trăm cây tiêu California (Californian pepper trees) để có bóng mát từ dưới đỉnh đồi đi lên. Các cây tiêu này đang lớn rất nhanh, và cành lá rất xanh tươi dù trong những tháng hè khô và nóng bức.

Lên tới Yên Tử, tôi đi đến chiếc võng giăng giữa hai cây tùng sát vào vách núi đá, ngồi lên võng, bỏ guốc ra và đưa hai chân trọn lên võng. Sư cô Thường Nghiêm ngồi dưới một gốc tùng phía đầu võng. Bỗng sư cô nói, giọng rất trầm tĩnh: “Thưa thầy, có một con rắn nằm ngay dưới võng thầy”. Tôi quay đầu lại phía trái nhìn xuống, và thấy liền con rắn. Con rắn này dài khoảng 1m20, có màu vàng nhạt và đen nhạt. Hai màu này tiệp với màu lá cây và màu đất thành thử tôi đã không trông thấy khi ngồi xuống võng. Sư cô Thường Nghiêm nhặt một cành cây khô đẩy về phía đuôi con rắn, tạo ra tiếng xào xạc để con rắn bò đi. Nhưng con rắn không đi. Sư cô lấy cành cây khô chạm vào đuôi rắn và ẩy nó đi, nó cũng không đi. Rồi sư cô nói bằng tiếng Anh: “Bạch thầy, con rắn này rất thích nằm bên Thầy nên nó không chịu đi” (Thầy, the snack likes your presence, it does not want to go.) Tôi nói: “Vậy thì con cứ để yên cho nó”. Lúc ấy là vào khoảng bốn giờ chiều, trời còn nắng. Chiếc nón lá rộng vành của tôi được đặt gần đôi guốc của tôi chỉ cách con rắn có mươi phân tây. Võng của tôi cũng cách mặt đất, phía trên con rắn chừng hai mươi phân tây. Tôi nằm rất yên, sư cô Thường Nghiêm cũng ngồi rất yên. Gió chiều bắt đầu mát. Bỗng sư cô Thường Nghiêm nói: “Hồi lễ Giáng Sinh năm ngoái, con có làm được một bài hát. Thầy có muốn con hát bài hát đó cho thầy nghe không?. Tôi nói: “Con hát đi, và hát cho con rắn nghe nữa”.

Sư cô Thường Nghiêm hát: Rives flow through me, sunshine is my morning tea. Body – harmony, feelings – clouds in the sky, perceptions – stones on the road, mental formations – birds are singing, singing songs of freedom, freedom, consciousness – deep blue sea wash over me…

Sư cô Thường Nghiêm hát xong bài hát, tôi hỏi: “Con rắn còn nằm dưới lưng thầy không con?” Sư cô trả lời: “Nó còn nằm nguyên trong vị trí cũ, thưa thầy. Nhưng con thấy cái đuôi nó có vẫy lên vẫy xuống, giống như nó đang thích bài hát và đánh nhịp theo bài hát vậy”. Tôi nói: “Vậy thì con hát lại một lần nữa cho nó nghe đi”. Tôi nằm thật yên. Sư cô Thường Nghiêm cũng ngồi thật yên, về phía đầu võng. Con rắn cũng nằm yên. Trời rất dễ chịu. Buổi sáng chúng tôi đã thức dậy cùng đại chúng lúc bốn giờ rưỡi sáng, đã ngồi thiền, pháp đàm, đi ăn sáng, đi thiền hành, trả lời cuộc phỏng vấn dài hơn hai tiếng đồng hồ, đi ăn cơm chánh niệm với đại chúng trên xóm Vững Chãi, và chưa được nghỉ ngơi gì thì đã phải trả lời cuộc phỏng vấn của đài NBC. Đây thật sự là giờ nghỉ ngơi của chúng tôi. Và có một chú rắn khá lớn cũng đang nghỉ ngơi với chúng tôi. Chú rắn này không phải là rắn rung chuông nhưng theo sư cô Thường Nghiêm cũng không phải là rắn hiền. Cô cho biết ngày xưa cô thường sợ rắn, nhưng bây giờ thì cô không còn sợ nữa, và có thể xem rắn như tất cả các loài động vật khác, cũng biết đói và biết sợ như những loài vật khác. Chỉ cần có ý tứ để khi đi đừng đạp lên nó thì không sao.

Khoảng nửa giờ sau, sư cô Thường Nghiêm cho biết là con rắn bắt đầu di động. Nó bò đi rất chậm, mỗi phút nó chỉ di chuyển được một phân tây. Tôi tiếp tục nằm thở và tiếp xúc với cây, với đá, với nắng trên đồi Yên Tử. Tôi tự nhủ: để cho chú rắn leo vào trong núi đá rồi thì thòng chân xuống quơ guốc đi về. Nhưng chỉ độ chừng mười lăm phút sau đã có tiếng chuông báo chúng từ xóm Vững Chãi vọng lên. Các thầy các sư chú dưới ấy đã đến giờ dùng cơm chiều. Tôi nhìn xuống thì thấy chú rắn đã bắt đầu băng ra phía núi. Thân sau của chú còn nằm dưới võng nhưng thân trước của chú đã hướng về tảng đá. Tôi nói: “Mình phải về ăn cơm. Tối nay còn phải gặp tăng thân San Diego nữa”. Hai thầy trò tạm biệt chú rắn, tạm biệt đồi Yên Tử với cái yên lặng nhẹ nhàng và sinh động của đá, của mây, của trời nơi này. Nắng đã hết. Tôi cầm chiếc nón lá trong tay. Hai thầy trò đi xuống núi.

Sau buổi tiểu thực cùng đại chúng hai xóm tại nhà ăn của xóm Vững Chãi, về tới nhà Tùng Bút, chúng tôi đã thấy tăng thân San Diego có mặt đông đủ trong phòng khách. Có khoảng ba mươi vị, hai phần ba là người Hoa Kỳ. Tất cả những vị chủ chốt trong ban nhiếp chúng đều có mặt. Tăng thân này đã được thành lập trong quá trình tổ chức buổi thuyết giảng tại San Diego ngày mai, tức là ngày 12.5.2001. Đề tài buổi giảng là Cultivatin Peace in Ourselves and our Communities. Tôi được báo tin là ngày mai thính giả sẽ đông lắm. Ban điều hành tăng thân làm việc rất siêng năng, luôn luôn tổ chức những buổi họp để kiểm điểm và để lấy thêm sáng kiến mới. Trong quá trình làm việc, các bạn đã mời được nhiều bạn mới, và tất cả đều đồng ý là việc tổ chức buổi giảng có thể được sử dụng như một cơ hội để đến với nhau, làm thân với nhau và tu tập cùng nhau.

Tối nay nói chuyện với tăng thân San Diego, tôi có dịp kể lại chuyện chúng tôi gặp chú rắn trên đồi Yên Tử. Thầy Pháp Dung mấy hôm trước đây có kể cho chúng tôi nghe là một hôm lật một tảng đá lớn ở lưng đồi xóm Vững Chãi, mấy người thợ gốc Mễ Tây Cơ thấy một con rắn khá lớn nằm úp dưới tảng đá. Họ định giết con rắn, nhưng thầy Pháp Dung ngăn lại. Cuối cùng họ giúp con rắn trở về núi rừng. Tôi nói có lẽ con rắn mà tôi đã gặp chiều hôm nay dưới võng chính là con rắn mà thầy Pháp Dung đã cứu. Nó đã tìm tới tôi để tỏ lòng biết ơn tăng thân Lộc Uyển. Từ ngày về tới núi rừng Escondido, chúng tôi đã hết lòng bảo vệ cho các loài sinh vật cư trú tại đây. Trước đó, khi Vườn Nai còn để hoang, người ta thường hay lên đây để săn bắn, giết chóc. Tuy vùng núi này gọi là Deer Park mà chẳng thấy còn bóng dáng của một chú nai nào. Cảnh sát trong quận thường hay lên đây tập bắn. Họ bắn nát hết, kể cả những tấm bảng bằng sắt chỉ đường, kể cả tường vách của những căn nhà trống không còn bỏ lại. Trong những tháng đầu khi tu viện mới thành lập, đêm đêm chó rừng (coyotes) thường hay kéo về từng lũ hàng trăm con, bao quanh cư xá các vị xuất gia và tru lên. Đã lâu quá rồi loài người chỉ lên đây để phá phách và tàn sát. Bây giờ lại có người lên đây để ở. Các loài sinh vật trên núi chưa biết cái gì sẽ xảy ra cho họ và cho sinh môi của họ với sự có mặt của những con người mới này.

Nhưng từ từ, chúng sinh vật ở Lộc Uyển nhận thấy các thầy và các sư cô rất hiền. Họ không đón phá cây cối mà còn trồng thêm rất nhiều cây cối. Họ không tàn sát mà còn tìm cách bảo hộ sinh mạng. Họ rất im lặng. Họ tôn trọng khung cảnh thanh tịnh của núi rừng. Cũng có thể chú rắn mà chúng tôi gặp trên đồi Yên Tử là một Long Vương, đại diện cho tất cả các loài rắn có mặt trong hàng ngàn mẫu núi rừng trùng điệp ở Escondido, đã đến với tôi để mang tới thông điệp sống chung hoà bình. Chú biết tôi ngày nào cũng đi bộ trên đồi Yên Tử, và mỗi khi lên tới đỉnh đồi thì tôi lại tới ngồi trên chiếc võng mắc sẵn để nghỉ ngơi, cho nên chú đã tới nằm đó sẵn để chờ đợi. Chú đã được sư cô Thường Nghiêm hát cho nghe. Chú đã không chịu đi khi sư cô đuổi. Chú đã được tôi mời ở lại. Và cuộc hội ngộ tuy im lặng nhưng đã rất thân tình. Theo sư cô Thường Nghiêm thì chú rắn này không phải là một chú rắn thuộc về loại hiền. Nhưng hiền hay không hiền, điều đó tuỳ thuộc vào cách xử sự. Nếu mình có chánh niệm và có lòng từ bi thì mình sẽ được tiếp đãi một cách hiền hậu. Chúng tôi có chánh niệm, chúng tôi có lòng từ bi. Sau thời gian gần hai năm cư trú, tăng thân ở đây, xuất gia cũng như tại gia, đã chứng tỏ là chúng tôi muốn sống chung an lạc hoà bình với đất đai và dân chúng vùng Lộc Uyển. Các loài chúng sinh ở đây đã cảm nhận được điều đó. Cách đây một tuần lễ, thầy Pháp Dung cho biết chú nai đầu tiên đã xuất hiện trong vùng đất tu viện Lộc Uyển. Chúng tôi rất mừng. Mai mốt nai về đông đảo, sẽ cùng nghe pháp với người.

Tôi viết những dòng này ở xóm Thượng, Làng Mai. Xóm Thượng Làng Mai ở Thenec, ngày xưa, trong thế chiến thứ hai đã là nơi tranh chấp bạo động và đẫm máu. Lính Đức đã cột tay người kháng chiến Pháp và những người bị tình nghi trong vùng là yểm trợ cho kháng chiến và bắn họ bên bức tường đá tọa lạc bên cạnh Ngũ Quán Đường bây giờ. Hồi chúng tôi mới về đây, 1983, oan khí còn đằng đằng. Hai mươi năm đã đi qua từ độ ấy. Ngày nào tăng thân ở đây cũng tập ngồi, tập thở, tập đi thiền hành, lấy năng lượng chánh niệm và từ bi để chuyển hoá tâm thức và môi trường. Thiền sinh đã đến đây tu tập từ ba mươi quốc gia khác nhau. Số người Đức tới tu học rất đông, có khi còn đông hơn người Ý, người Anh và người Thuỵ Sĩ. Họ đã đến đây không với súng đạn và tâm niệm hận thù mà với ý chí tu tập. Họ đã đi những bước chân vững chãi, thảnh thơi, đã thực tập nhìn kỹ và phát khởi lòng từ bi. Dân chúng các thôn làng quanh đây đã cảm thấy sự chuyển đổi lớn lao đó. Họ cảm thấy năng lượng hoà bình bao trùm cả một vùng này. Mỗi năm có hàng bốn, năm ngàn người tới đây tu học. Và ai cũng tới bằng một tâm niệm lành. Cỏ xanh hơn, trời trong hơn, người và vật có thêm rất nhiều từ ái. Đất ở đây đã trở thành đất Bụt. Chúng tôi định đặt tên vùng này là Nam Phương Phật Quốc, dịch tiếng Pháp là Terre Pure du Sud. Các bạn muốn về đất Bụt để rong chơi, ngắm nhìn trăng sao hay mời các vị Bồ Tát đi thiền hành thì cứ về. Lộc Uyển cũng vậy. Lộc Uyển cũng đã trở thành đất Bụt miền tây nam nước Mỹ. Mời quý vị đến Lộc Uyển để làm quen với tăng thân ở đây. Tăng thân ở đây không phải chỉ là người xuất gia và người tại gia. Tăng thân ở đây còn là tất cả các loài cây cỏ, đất đá và chúng sinh. Quý vị sẽ được đón tiếp với lòng ưu ái và kính cẩn. Long Vương vẫn còn ở trên núi. Chúng tôi đã ký một hiệp ước chung sống hoà bình và an lạc trên đồi Yên Tử ngày 11.5.2001.

Cúi xuống

Cúi xuống!
để thấy lòng đất rộng,
nở hoa thơm, cỏ lạ hiến dâng đời.

Cúi xuống
để thấy mình nhỏ bé,
tợ giọt sương rung nhẹ ngọn đầu cành.

Cúi xuống
để tâm ta tĩnh lặng,
thả nhịp trầm an định bến tâm trong.

Cúi xuống
cho ta thêm cẩn trọng,
nhẹ gót chân quán chú kiến bên lề.

Cúi xuống
ta hoá thành giọt nước,
tan vào lòng đất mẹ, ngọt thanh lương.

Cúi xuống
ta thấu rõ ta – người,
ta trong người, người trong ta không khác,
học mỉm cười – nhẫn nhịn,
người lại hoá ra ta.

Ừ nhỉ!
chỉ cần ta cúi xuống,
thì đất tâm hiển hiện hé hoa lòng.

Chân Hiệp Nghiêm

Khoá tu mùa hè 2018

 

Diễn ra gần trọn vẹn trong một tháng, khóa tu mùa hè tại Làng Mai Pháp đặc biệt hơn vì còn dành cho các gia đình có trẻ em (từ 6 – 12 tuổi) thanh thiếu niên (từ 13 – 17 tuổi). Ba mẹ và các em có cơ hội cùng sống trong một cộng động, một gia đình tâm linh lớn, được hưởng năng lượng tập thể cũng như học hỏi và thực tập những phương pháp tái thiết lập truyền thông, hiểu biết và thương yêu …

Quý thầy, quý sư cô dành thời gian chơi với các em trong các chương trình riêng. Cùng vui chơi và chia sẻ, các em được tiếp nhận hạt giống chánh niệm và tình thương. Trong khoá tu mùa hè, mỗi tuần đều có một hoạt động kỷ niệm đặc biệt của tuần như Tết Trung Thu, Lễ Bông Hồng Cài Áo…

Thời gian: từ ngày 06.7 đến ngày 3.8.2018

Địa điểm: tại Làng Mai, nước Pháp

Ngôn ngữ chính: Anh /Pháp/Việt

(Các bài pháp thoại sẽ được phiên dịch trực tiếp sang 6 ngôn ngữ: Đức, Hà Lan, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, tiếng Hoa và tiếng Việt)

Nếu quý vị muốn đến Làng tham dự khóa tu mùa hè năm nay, xin vui lòng đọc kỹ các hướng dẫn dưới đây và điền vào đơn đăng ký. Quý vị có thể đăng ký tham dự từ 1 tuần đến 4 tuần:

Tuần 1: Thứ sáu, ngày 6 tháng 7  –  Thứ sáu, ngày 13 tháng 7
Tuần 2: Thứ sáu, ngày 13 tháng 7 – Thứ sáu, ngày 20 tháng 7
Tuần 3: Thứ sáu, ngày 20 tháng 7 – Thứ sáu, ngày 27 tháng 7
Tuần 4: Thứ sáu, ngày 27 tháng 7 – Thứ sáu, ngày 03 tháng 8

 

Ngôn ngữThời gian Địa điểm
Pháp, Tây Ban Nha, Ý06.07 – 03.08xóm Thượng
Anh06.07 – 03.08xóm Mới
Đức, Hà Lan20.07 – 03.08xóm Hạ

 

Như thường lệ, mỗi tuần Làng Mai sẽ có khoảng hơn 500 thiền sinh thực tập tại 5 xóm. Vì vậy xin quý vị đăng ký trước ngày 01.06 để giữ chỗ. Ngày đón và đưa thiền sinh là ngày thứ sáu mỗi tuần.

Thời gian mở ghi danh: Thứ bảy, ngày 14.4.2018

Xin đọc thêm thông tin tổng quát khi đến tham dự khóa tu tại Làng Mai ở đây: https://langmai.org/cong-tam-quan/toi-tham-lang-mai/thong-tin-chung-ve-khoa-tu-tai-lang-mai

 

Xin quý vị vui lòng đọc thật kỹ thông tin dưới đây về các xóm để xác định xóm nào là thích hợp cho mình và chỉ nộp đơn đăng ký tại một xóm mà thôi.

 

Xóm Hạ: dành cho
  • Nữ độc thân (ngôn ngữ Anh, Pháp, Hoà Lan, Đức và Tây Ban Nha)
  • Các cặp vợ chồng (ngôn ngữ Anh, Pháp, Hòa Lan, Đức và Tây Ban Nha)
  • Các bậc phụ huynh đến cùng con nhỏ từ 6 đến 12 tuổi (nói tiếng Đức và Hoà Lan, nhưng nhận trẻ em từ ngày 20 tháng 7 tới 03 tháng 8)

Đăng ký trên mạng bằng tiếng Anh tại Xóm Hạ, xin bấm vào đây:

 

Xóm Trung: dành cho

 

* Lưu ý: xin điền vào ngày đến (arrival day) và ngày đi (departure day), và bấm tiếp vào dòng chữ “Search for Availability”

Xóm Thượng: dành cho
  • Nam độc thân (từ 18 tuổi trở lên; không giới hạn ngôn ngữ)
  • Các cặp vợ chồng (không giới hạn ngôn ngữ)
  • Các bậc phụ huynh đến cùng con nhỏ từ 12 tuổi trở xuống, nói tiếng Pháp, Ý, hoặc Tây Ban Nha.
  • Các em nam thiếu niên từ 13 đến 17 tuổi đủ mọi quốc tịch, ngôn ngữ (cần có cha mẹ hoặc người giám hộ đi cùng).
  • Lưu ý: Các em nữ từ 13 – 17 tuổi xin không đăng ký tại xóm Thượng.
  • Đăng ký trên mạng bằng tiếng Anh cho Xóm Thượng, xin bấm vào đây:

 

Xóm Mới: dành cho

 

  • Nữ độc thân từ 18 tuổi trở lên (dành cho các ngôn ngữ đã nêu, trừ tiếng Tây Ban Nha). Nếu bạn chỉ nói tiếng Ý, vui lòng đặt trước vào tuần 3 hoặc tuần lễ thứ 4 (ngày 20 tháng 7 – ngày 3 tháng 8).
  • Các cặp vợ chồng (dành cho các ngôn ngữ đã nêu, trừ tiếng Tây Ban Nha và tiếng Ý)
  • Các em nữ từ 13 – 17 tuổi (phải có cha mẹ hoặc người bảo hộ đi cùng; và người bảo hộ phải từ 21 tuổi trở lên)
  • Các bậc phụ huynh đến cùng con nhỏ từ 6 – 12 tuổi nói tiếng Anh 

Làng Mai không có chương trình cho trẻ em dưới 6 tuổi. Xin các bậc phụ huynh tự chăm sóc các bé trong suốt khoá tu.

  • Đăng ký trên mạng bằng tiếng Anh cho Xóm Mới, xin bấm vào đây:

 

Khóa tu 21 ngày năm 2018

 

Đã trở thành truyền thống, mỗi hai năm một lần tại Làng Mai Pháp thường diễn ra khóa tu 21 ngày vào tháng 6. Khóa tu được đại chúng Làng Mai trông chờ và chào đón với rất nhiều niềm vui, vì tăng thân tứ chúng được ở chung với nhau trong 21 ngày, có cơ hội đi sâu vào sự học hỏi và thực tập, rất khác với những khóa tu 7 ngày.

Khóa tu 21 ngày là một biểu hiện của tình thương mà Thầy dành cho các đệ tử của mình. Thầy biết rằng nhiều người rất khó tham dự được cả ba tháng của khóa An cư kiết đông, vậy nên Thầy đã tạo ra khóa tu 21 ngày để cho những ai tham dự khóa tu này cũng được lợi lạc khi thực tập miên mật cùng tăng thân trong một khoảng thời gian dài không gián đoạn. Chúng ta còn nhớ Thầy đã kể lại câu chuyện trong kinh Quán niệm hơi thở (Anapanasati sutta), khi Bụt quyết định kéo dài mùa an cư năm ấy thêm một tháng, bởi Bụt thấy được những thành quả tu học của quý thầy khi được tu tập miên mật chung với nhau.

Đối tượng của khóa tu:

Khóa tu được dành cho những thành viên Tiếp Hiện và những người đã có kinh nghiệm tu tập, nhưng đồng thời cũng được mở rộng cho tất cả những ai mong muốn tìm cho mình một con đường thực tập, một gia đình tâm linh. Đây là cơ hội cho những hành giả muốn đi sâu thêm trong sự thực tập cùng tăng thân.

Thời gian của khóa tu:

Năm nay khóa tu 21 ngày diễn ra trong 3 tuần, từ ngày mùng 1 tới 22 tháng 6. Khác với khóa tu 21 ngày hai năm về trước, khóa tu năm nay không chia làm 2 chặng, mà kéo dài xuyên suốt 21 ngày. Vì vậy những ai muốn đăng ký cho khóa tu 21 ngày năm nay cần tham dự trọn vẹn 21 ngày của khóa tu.

Chủ đề của khóa tu:

Chủ đề của khóa tu năm nay là “Tri kỷ của Bụt”. Đây từng là chủ đề của khoá An cư kiết đông năm 2012-2013 trong đó Thầy đã giảng dạy và soi sáng cho chúng ta rất nhiều những giáo lý cơ bản của Bụt về nghiệp báo, luân hồi, nhân quả, Mười hai nhân duyên, Ba cánh cửa giải thoát, Niết Bàn và rất nhiều giáo lý thâm sâu khác của đạo Bụt. Trong khóa tu 21 ngày lần này chúng ta sẽ được ôn lại những lời dạy đó của Thầy, đồng thời khám phá xem liệu sự hiểu biết và ứng dụng những giáo lý đạo Bụt của chúng ta có đúng hay không, có thể giúp chúng ta chạm được sự thật tuyệt đối và tìm được tự do đích thực hay không.

Ngôn ngữ:

Những bài pháp thoại trong khóa tu  sẽ bằng tiếng Anh và được phiên dịch qua các ngôn ngữ khác: Pháp, Việt,…

 

  • Trong khoá tu sẽ có lễ truyền đăng cho các vị giáo thọ cư sĩ và lễ truyền 14 giới Tiếp Hiện cho những vị đã qua quá trình tập sự từ nhiều nước trên thế giới.

 

Đăng ký cho khóa tu:

Xóm Hạ: dành cho phụ nữ độc thân và các cặp vợ chồng

Xóm Mới: dành cho phụ nữ độc thân và các cặp vợ chồng

Xóm Thượng: dành cho nam độc thân và các cặp vợ chồng

Lễ truyền đăng trong khoá tu xuất sĩ 2018 “Còn nhau ta còn tương lai”

Bộ phim “Bước chân an lạc” (Walk With Me) – 2017

Bộ phim Bước chân an lạc (Walk with me) đang tiếp tục được công chiếu tại thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hà Nội. Trang nhà Làng Mai xin được giới thiệu một vài hình ảnh về các buổi ra mắt của bộ phim với sự có mặt của tăng thân Làng Mai.