Bộ phim “Bước chân an lạc” (Walk With Me) – 2017
Bộ phim Bước chân an lạc (Walk with me) đang tiếp tục được công chiếu tại thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hà Nội. Trang nhà Làng Mai xin được giới thiệu một vài hình ảnh về các buổi ra mắt của bộ phim với sự có mặt của tăng thân Làng Mai.
Khuôn mặt
Trên nguyên hai trang 66 – 67 của tạp chí, ta thấy hình Thiền Sư Nhất Hạnh đang dẫn đoàn người đi thiền hành với những dòng như sau:
Định cư từ ba mươi năm trên nước Pháp, một người Việt tên Thích Nhất Hạnh đã biến cái ngôi làng Loubès Bernac này thành ra một trong những trung tâm Phật Giáo lớn nhất hoàn cầu. Những lời dạy về hòa bình của người đã âm vang tận nước Mỹ sau ngày 11 tháng 9.
Vị Thiền sư vùng Bordeaux
Rạng ngày 22 tháng 11 năm 2001, trời vẫn còn chưa sáng. Ban đầu ta chỉ thấy những luồng ánh sáng rọi từ các xe hơi đến từ khắp hướng, và đều đặn từng loạt người cả nam lẫn nữ đổ ra khỏi xe giữa cảnh đồng quê làng Loubès. Từng nhóm, từng nhóm, họ im lặng đi, hướng về một ngôi nhà trệt bằng đá, xinh xắn và thanh bạch. Một số người mặc áo dài nâu, đầu không tóc; một số khác thì y phục bình thường của khách đến từ xa, y phục của thời đại: giày baskets, quần Jean và áo mùa đông Anorak dày. Trong những ngày đầu này của mùa đông, thính chúng gồm khoảng 250 thiền sinh khách. Họ ngồi thành vòng cung, hướng về một bục gỗ cao, vuông vức, trên đó có một chiếc bình cắm những đóa hoa thanh tú. Bình hoa làm dịu xuống khung cảnh trang nghiêm của thiền đường. Mỗi người ngồi xuống trên gối ngồi thiền của mình và đeo vào tai ống nghe để nghe thứ tiếng mà mình muốn nghe. Đối với “những người đi hành hương’’ đến từ bốn góc của Âu Châu và Mỹ Châu, làng Loubès – Bernac, nằm vùng biên giới ba tỉnh Dordogne, Lot & Garonne và Gironde đã trở thành vùng cao điểm của đạo Bụt. Những vị đi hành hương này, cả nam lẫn nữ, đã từ nhiều phương xa đến tận đây để nghe lời dạy của thiền sư Thích Nhất Hạnh.
Cánh cửa bên hông thiền đường mở ra, Thiền sư bước vào, theo sau là một thị giả giúp thầy cởi bỏ áo khoác ngoài. Một ông thầy tu nhỏ bé, đầu không tóc, bước vào thiền đường bằng những bước chân nhẹ nhàng của một chú mèo. Ông mặc một chiếc áo màu nâu khiêm tốn, đi về hướng chiếc bục gỗ và ngồi xuống trong tư thế kiết già. Người bắt đầu giảng dạy bằng giong nói thật nhẹ khiến mọi người phải cố gắng lắng nghe. Thỉnh thoảng Người nâng chén trà lên bằng hai tay và uống từng ngụm nhỏ: “Lúc này đây – thiền sư chợt nói – bản năng của chúng ta đang đẩy chúng ta đi về hướng muốn tiêu diệt quân khủng bố. Nhưng chúng ta làm sao tiêu diệt được khủng bố bằng phi cơ? Bóng tối không thể bị phá tan bằng bóng tối, nó chỉ làm cho bóng tối dày đặc hơn. Chỉ có sự hiểu biết và lòng từ bi mới có thể phá tan bạo động và hận thù. Sự khủng bố nằm trong trái tim của con người. Chúng ta phải loài trừ chất liệu khủng bố ra khỏi những trái tim thù hận kia. Nếu không, chúng ta sẽ càng ngày càng tạo thêm nhiều quân khủng bố nữa.
Định cư ở Pháp từ ba mươi năm nay, vị thiền sư Việt Nam mà mọi người đang lắng nghe lời dạy dỗ với một niềm chiêm ngưỡng là một trong những ngọn đèn pha tâm linh của thiền ở Tây Phương. “Đây đúng là một vị đạo sư thực thụ, với những pháp môn tu tập tâm linh rất thâm sâu”. Ông Mathieu Ricard, đồng tác giả với thân phụ của ông là một nhân vật của Hàn Lâm Viện Pháp Jean Francois Revel trong cuốn sách: “ Thầy tu và triết gia” (Nhà xuất bản Pocket) đã xác định như thế. Ở bên Mỹ, Thiền sư Thích Nhất Hạnh được xem là một minh tinh (star) thực sự. Bên ấy, thầy có hơn một trăm nghìn đệ tử. “Đây là người phật tử quan trọng nhất ở Phương tây, cùng với đức Đạt Lai Lạt Ma’’, giáo sư về tôn giáo học Cương T.Nguyễn của trường đại học George Mason ở tiểu bang Virginia đã nói thế. Ông này có biết đến Thầy trong những thập niên 1960 khi Thầy còn ở Sài Gòn.
Ngày 10 tháng 9, chưa đầy 24 giờ trước khi cuộc khủng bố xảy ra ở trung tâm thương mại thế giới tại Nữu Ước, cuốn sách mới nhất của thiền sư Thích Nhất Hạnh vừa xuất bản, với cái tựa như tiên đoán trước thời cuộc: “Lửa Giận” (Anger). Nhà xuất bản như đã thấy trước rằng cuốn sách này sẽ bán rất chạy. Đây là một tổng hợp giữa tâm lý học và tâm linh học. Cuốn Living Buddha, Living Christ (Bụt ngàn đời, Ky Tô ngàn đời) ra đời năm 1995 của thiền sư đã bán được hơn 200.000 bản và quyển An Lạc Từng Bước Chân (ra đời từ năm 1991) đã có hơn một triệu độc giả. Nhưng nhà xuất bản tiếng Anh không ngờ quyển Anger (Lửa Giận) cũng bán chạy không thua gì sách của Stephen King. Ngay sau ngày có cuộc khủng bố, quyển sách này đã trở thành một hiện tượng thời đại. Đợt in đầu 37.000 cuốn đã hết sạch trong vòng 8 ngày. Và sách này cứ tiếp tục được bán với tốc độ 50.000 cuốn mỗi tuần. “Chúng tôi không ngờ sự việc xảy ra nhanh chóng như thế! – bà Amy Hertz, người của nhà xuất bản đã in sách của thiền sư Thích Nhất Hạnh, bày tỏ sự ngạc nhiên. Thường thì ta phải chờ khoảng hai hay ba tuần lễ thì mới biết được quyển sách có được quần chúng ham chuộng hay không”. Đằng này, cuốn sách Anger (sẽ xuất bản bằng tiếng Pháp vào tháng 2 năm 2002, nhà xuất bản Hachette Lattès), vừa mới xuất hiện tuần đầu mà đã nằm trong danh sách những cuốn sách bán chạy nhất in trên Nữu Ước Thời Báo (New York Times), chỉ tiêu của sự thành công trên nước Mỹ.
Sào huyệt của khủng bố nằm trong trái tim con người.
Ngày 13.9.2001, do những lời truyền miệng, hơn 3.000 người đã chen lấn nhau để vào nghe thiền sư nói chuyện ở rạp hát thành phố Berkeley. Sau thời thuyết pháp, quần chúng đã đứng dậy và nói vọng lên: “We love you! We love you!”. Ngày 25 tháng chín, lại cũng gần 3.000 người tại nhà thờ Riverside Church, Nữu Ước vào nghe thầy giảng và 1.500 người phải đứng chờ ngoài cửa, không được vào vì hết chỗ. Rõ ràng là trong khi số đông quần chúng Hoa Kỳ ngồi dán mắt vào màn ảnh truyền hình để nghe lời hăm dọa trả thù quân khủng bố của Tổng Thống họ thì thông điệp của vị Thiền sư Việt Nam khiến một số không ít người nghe bỗng sững sờ chợt hiểu.
Thầy nói với thính chúng Hoa Kỳ: “Trong chiến tranh Việt Nam, hàng ngàn người bị chết trong đó có bạn bè tôi và các đệ tử tôi. Tôi phẫn nộ, nhưng tôi đã biết chế trị cơn giận. Tôi đã quán chiếu và thấy rằng hành động hay nói năng trong khi căm giận chỉ có thể tạo thêm tan vỡ. Tôi đã hiểu rằng không phải chỉ những người Việt Nam mới đau khổ mà cả những người lính Hoa Kỳ được gửi sang Việt Nam để giết và để bị giết cũng rất khổ đau. Vì thế tôi đã không còn căm giận người Mỹ nữa. Ngày hôm nay tôi cảm thấy tôi cũng là người dân Nữu Ước. Chúng ta phải phục hồi cho được sự bình tĩnh và sáng suốt của chúng ta”.
Sau đó Thiền sư đã nói thêm: “Sào huyệt của khủng bố nằm trong trái tim con người. Càng giết, ta càng tạo thêm nhiều cảm tử quân khủng bố. Cơn bệnh khủng bố đã do những con vi khuẩn có tên là căm thù và cái thấy sai lệch gây ra. Chúng ta cần giết con vi khuẩn và trị bệnh chứ không nên giết người bệnh”. Nhà văn Daniel Odier, tác giả quyển tiểu thuyết Diva, với bút hiệu là Delacorta, được biết Thầy từ năm 1967, đã nói: “Thầy (thiền sư) đã nói rằng chúng ta phải tập nhìn thế giới như là một tấm gương phản chiếu sự bạo động nằm sâu trong tâm thức chúng ta”.
Trong thời gian xảy ra nhiều cuộc khủng bố, giáo sư Jack Weller của viện đại học California đã giảng dạy một khóa về đề tài: “Thiền sư Thích Nhất Hạnh và óc sáng tạo”. Giảng khóa này có quá nhiều sinh viên đăng ký cho đến nỗi Giáo Sư Weller phải giảng dạy lại trong lục cá nguyệt thứ hai cùng một đề tài này. Giáo sư giải thích: “Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã dạy chúng ta chăm sóc cơn giận một cách rất cá nhân đối diện với những biến cố trọng đại của thời cuộc chứ không như một khối tâm vô phân biệt (pas une masse indistincte)”.
Đối với số đông người Hoa Kỳ, những biến cố ngày 11 tháng 9 đánh động đến một giai đoạn đau thương khác của lịch sử nước họ: chiến tranh Việt Nam. Thật là một cuộc chấn động khủng khiếp, thêm một khám phá phũ phàng nữa, sau ba mươi năm, rằng là Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ không phải là nước không thể bị đánh bại. Khi thiền sư nói với người Hoa Kỳ rằng sự tức giận của họ là hợp lý và họ cần phải sử dụng năng lượng giận dữ ấy để mỗi người tự chuyển hóa và tự biến mình thành một sứ giả của hòa bình, thành người có khả năng đi gỡ mìn trong trái tim của những kẻ khủng bố. Khi thiền sư nói như thế thì lời của ông lại đáng tin gấp hai lần. Bởi vì Thầy khuyến khích họ cố tìm bình an trong tâm hồn mình – cho dù trong thực tế, họ có cách gì làm khác hơn đâu – bởi vì Thầy cho rằng cơn giận của họ là hợp lý. Thầy Thích Nhất Hạnh – tên Hạnh có nghĩa là hạnh động – đã dạy một loại đạo Bụt dấn thân vừa làm thỏa mãn đầu óc thực dụng của người Hoa Kỳ, vừa nuôi dưỡng được nhu yếu khát khao tâm linh của họ. Đạo Bụt dấn thân này, đó là hình ảnh rất đặc thù (I’originalité), khuôn mặt không thể nhầm lẫn (I’image de marque) và ‘tính ăn khách’ (atout commercial) của thiền sư Thích Nhất Hạnh.
Ngay trong những thập niên 1960, trên sân trường Đại Học Columbia ở Manhattan Nữu Ước, ông thầy tu trẻ Thích Nhất Hạnh, lúc đó đang nghiên cứu về môn tôn giáo tỷ giáo, đã bắt đầu tổ chức những cuộc diễn hành cho hòa bình rồi. “Hồi đó rất ít người nghe nói đến ông thầy tu trẻ này, nhưng đây là một ông thầy khá đặc biệt đã khiến chúng tôi chú ý vì ông chủ trương và kêu gọi miền Nam và miền Bắc Việt Nam hòa giải với nhau và với Hoa Kỳ. Ông không theo miền Bắc cũng như không theo miền Nam vì ông rất ngán chiến tranh”. Nhà văn và nhà nhân chủng học Joan Halifax đã nhớ rõ như thế. Hiện giờ Halifax cũng đang ủng hộ những người bị kết án tử hình trong các nhà tù ở Hoa Kỳ. Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã gây được sự cảm phục của người thắng giải Nobel hòa bình năm 1964 là mục sư Martin Luther King. Ông này đã viết thư cho Ủy ban Nobel Hòa Bình ở Stockholm đã đề cử Thầy cho giải Hòa Bình sau đó. Nhưng thái độ độc lập phóng khoáng của thiền sư đã gây cho ông khá nhiều kẻ thù. Nhất là trong chính đất nước của ông mà đã có một thời ông đã bị đài phát thanh của ông Nguyễn Cao Kỳ cũng như của Hà Nội tố cáo ông. Một phần cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ cũng có một cái nhìn không rõ rệt về ông. Có hơn một người Việt Nam ở hải ngoại đã xem ông như là người thân cộng vì những hoạt động hòa bình của ông.
“Đạo Bụt là đạo giúp người quay về nội tâm thiền quán. Trường hợp của thiền sư Thích Nhất Hạnh là ngoại lệ. Trong khi các tín hữu Phật Giáo, nhất là tín hữu của những thập niên 60 đã xem tôn giáo này như là nơi trú ẩn những xáo trộn của xã hội, thì thầy Thích Nhất Hạnh đã chứng minh bằng cuộc đời của Thầy, sự cần thiết dấn thân của đạo Bụt vào đời sống hằng ngày, ví dụ như là dấn thân cho hòa bình”. Giáo sư xã hội học Frédéric Lenoir, tác giả quyển sách La Rencontre du Bouddhisme et de l’Occident (Sự gặp gỡ giữa Phật Giáo và Tây Phương) đã giải thích như thế.
Ở Hoa Kỳ, thiền sư Thích Nhất Hạnh đã hướng dẫn thực tập kỹ càng cho những cựu chiến binh Hoa Kỳ. Trong thời chiến, anh Lee Thorn làm công tác tải bom lên các phi cơ đi oanh tạc các thôn Việt Nam và Lào. Bây giờ thì anh làm việc trong Hội Jhai chuyên bảo trợ những dự án hòa giải giữa những cựu chiến binh trong cuộc chiến tranh thảm khốc với người dân nạn nhân của những cuộc oanh tạc đó, như xây cất trường học, bệnh xá v.v.. “Tôi bắt đầu được nghe nói về thiền sư Thích Nhất Hạnh khi tôi trở về Hoa Kỳ và tôi cũng bắt đầu chống chiến tranh Việt Nam’’, anh Lee Thorn thuật như thế này. “Thầy thì yêu tất cả mọi người, còn chúng tôi thì không yêu ai hết. Tôi bắt đầu đọc sách của Thầy mỗi ngày và bắt đầu tu tập theo lời Thầy dạy. Điều mà tôi hiểu được nơi lời dạy của Thầy là tình thương quả là cần thiết cho thế giới chúng ta. Đấy, vì thế mà tôi bắt đầu làm dự án này để giúp đỡ nước Lào”.
Giáo sư Joan Halifax giải thích: “Thầy đã quán sát tâm lý người Tây Phương và đã làm cho đạo Bụt trở nên rất dễ hiểu cho họ. Đạo Bụt của Thầy thật đẹp, đơn giản và đi thẳng vào lòng người”. Sử dụng những phương tiện quảng bá cổ điển, thiền sư Thích Nhất Hạnh đã sử dụng sách của Thầy như những ống loa để chuyền đi những thông điệp của Thầy. Một trong những đệ tử của Thầy, Arnold Kotler, đã lập một nhà xuất bản chỉ để in sách của Thầy. “Sách của tôi cũng giúp tôi nhiều lắm – Thầy cũng công nhận như thế”. Sách đó giúp độc giả nhận diện những khổ đau của họ qua những khổ đau mà tôi chia sẻ với họ và từ đó biết cách tu tập chuyển hóa như tôi đã đề nghị”.
“Tuy nhiên, nước Pháp đã chần chừ khá lâu mới chịu chấp nhận ảnh hưởng của ông thầy này, chần chừ trong suốt ba mươi năm qua, học giả Fréderic Lenoir nhận xét như thế”.
Nước ta (Pháp), ngay từ lúc đầu đã có sự say mê đạo Bụt Tây Tạng. Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một người có phong thái thanh bạch và giản dị; ông đã không đến với nước Pháp như Phật Giáo Tây Tạng với nhiều hào quang bùa phép. Không có những nghi lễ kèn trống ầm ĩ, không y áo vàng nghệ, không cờ xí màu mè sặc sỡ, không chuông khánh, không bồ tát mặt xanh chuyên trừ ngạ quỷ. Đất nước Việt Nam cũng không gieo được trên tâm trí người Pháp, giữa Hergé và Alexandra David Noel, những ảnh hưởng kỳ bí như đất nước Tây Tạng.
Tuy nhiên, sách của Thầy giờ đây đang bán rất chạy trên nước Pháp. Trung bình là 30.000 cuốn mỗi lần xuất bản – có thể xem như là loại sách bán chạy nhất (best sellers) trong loại sách chuyên về tâm linh. Thiền sư nhờ vào sự mến mộ đạo Bụt hiện tại của người Pháp. Theo thống kê của bộ nội vụ là có khoảng 600.000 người tu tập đạo Bụt với ít nhiều tinh chuyên. Năm 1994, một cuộc thăm dò của hãng Sofres – Le Figaro cho biết hiện giờ đạo Bụt là đạo ưa thích nhất của hai triệu người Pháp. Ngày nay, theo sự điều tra của Psychologies – BVA, số người yêu thích đạo Bụt đã lên đến con số năm triệu.
Theo một số người, đạo Bụt là con đường có thể tạo lại được hứng khởi về sự diệu kỳ của thế giới mà rất đông người Âu Châu thao thức. “Tôn giáo này có cách đưa ta đi vào bằng con đường tuy duy lý mà không hề khô cứng, học giả Fréderic Lenoir giải thích như thế. Nó thu hút những người mệt mỏi vì tâm tư ưa phân tích, họ được lôi kéo bởi một hệ thống tâm linh vi tế hơn, không nhị nguyên và có đủ không gian cho trực giác”. Đạo Bụt đã dạo đúng cung đàn thời đại: chủ trương mỗi cá nhân phải tự lo lấy cho mình, mỗi người phải tự thắp đuốc lên mà đi, tự quán chiếu và tự chuyển hóa cho chính mình. Tôi phải lo giải thích cho tôi trước nhất.
“Tôi như một miếng sắt được rèn luyện trong ngọn lửa chiến tranh”.
Thiền sư Thích Nhất Hạnh, sinh trưởng tại Trung phần Việt Nam năm 1926, đã đi tu từ khi 16 tuổi. Thân phụ của Thầy làm việc trong chính phủ Nam Triều của vua Bảo Đại tương lai. “Tôi đã nghĩ rằng đạo Bụt có thể là một giải pháp giúp Việt Nam vượt thoát thể chế đô hộ của người Pháp, như là thánh Gandhi đã thành công bên Ấn độ”. Thầy nói như vậy. Sau khi tốt nghiệp cử nhân văn chương, ông viết sách dưới nhiều bút hiệu khác nhau và tu học với một thiền sư của thời đại của Thầy, thuộc dòng thiền Lâm Tế (một thiền sư vào thế kỷ thứ 9). Năm 1954, vào năm 24 tuổi, Thầy thành lập Phật Học Viện Ấn Quang mà sau đó đã trở thành chiếc nôi của những cuộc đấu tranh bất bạo động của người Phật tử chống chiến tranh Việt Nam từ 1963 đến 1975. Những vị xuất gia đã tự thiêu để chống chiến tranh đều là những người quen biết của Thầy.
Năm 1961, ông thầy tu trẻ này đi Hoa Kỳ để học hỏi thêm, ban đầu tại đại học Princeton, New Jersey và sau đó tại Đại học Columbia, New York. Trở về Sài Gòn, Thầy thành lập Viện Đại Học Vạn Hạnh, viện Đại Học Phật Giáo đầu tiên tại Việt Nam, rất khác với những Phật Học Viện dành cho các thầy tu theo truyền thống xưa. “Theo mẫu mực những trường đại học ở Hoa Kỳ – Giáo Sư Cường T Nguyễn đã giải thích như thế – ngoài những chứng chỉ về tôn giáo còn có những chứng chỉ về khoa học, chính trị hay kinh tế”. “Thầy Thích Nhất Hạnh muốn thành lập một trường dạy loại đạo Bụt rất thực tiễn hơn là lý thuyết – sư cô Chân Không đã giải thích như vậy. Đạo Bụt không dạy ta chỉ ngồi thiền dưới gốc cây mà thôi. Khi bom đạn rơi xuống tơi bời thì không thể nào ta ngồi yên dưới gốc cây để thiền quán mà phải đi băng bó người bị thương và cho các cháu đói ăn cơm”.
Thầy Thích Nhất Hạnh đã bắt đầu nổi tiếng vào thời đó. “Thầy rất được hâm mộ bởi hàng trí thức Phật Giáo. Giáo sư Cương T Nguyễn nhớ rõ như thế. Thầy cuốn hút tuổi trẻ vì Thầy là hiện thân của những giấc mơ của họ: Thầy có đi học bên Tây. Hơn nữa, những điều Thầy dạy rất tâm đắc với người trẻ”. Trong một đất nước chiến tranh, những thập niên đã làm nền tảng cho sự dấn thân của Thầy Thích Nhất Hạnh. “Tôi như một miếng sắt được rèn luyện trong ngọn lửa chiến tranh” – Thầy bảo. Thầy đã thành lập trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội một cách nhanh chóng, một tổ chức mà sau mười năm hoạt động đã có đến hàng ngàn người tự nguyện làm việc không lương trước khi bị cấm đoán bởi chính quyền cộng sản năm 1975, sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ. Hoạt động cứu khổ này vẫn còn được tiếp tục cho đến ngày nay. Sư cô Chân Không báo cáo là Thầy và học trò của Thầy đã gửi khoảng 50.000 Mỹ Kim mỗi tháng để giúp gần 1.100 lớp học mẫu giáo ở những làng nghèo khổ xa trong các miền kinh tế mới hay các miền núi chưa có trường học. “Đó là sứ mạng của một vị Bồ Tát đã khước từ Niết Bàn để ở lại độ người”. Ông Nguyễn Hữu Khoa, chủ tịch Portail Internet Buddha Line (Cửa vào đường dây của Bụt) đã phát biểu như vậy.
Năm 1966 thầy Nhất Hạnh bắt đầu lên tiếng kêu gọi chấm dứt chiến tranh Việt Nam và đi một vòng rất nhiều nước Âu Châu và Mỹ Châu. Thầy không ngờ là từ đó Thầy không còn được thấy lại quê hương Việt Nam của Thầy nữa. Vào năm 40 tuổi Thầy bị lưu đày. Thầy bị cấm đoán về nước. Chính quyền Sài Gòn cấm mà chính quyền Hà Nội cũng cấm. Những lời kêu gọi hòa bình của Thầy đã khiến cho cả hai bên bực bội và những công tác xã hội của Thầy cũng chỉ làm cho họ bực thêm. “Tôi là ông thầy tu đầu tiên dám đi xe đạp và cũng là người dám tổ chức thiền tọa trên bãi biển. Đó là cuộc cách mạng lớn của tôi”. Thầy vừa nói diễu vừa mỉm cười hóm hỉnh.
Năm 1968, thầy Thích Nhất Hạnh bước chân đến nước Pháp và đã không thành công lắm trong sự tham gia và ảnh hưởng vào những cuộc đàm phán của hội nghị Paris về Việt Nam. Thầy mở một trung tâm tu học ở Troyes cho một số người tị nạn đến tu tập từng đợt. Năm 1982, vì con số người đến tu học tăng vọt quá nhanh, thầy Nhất Hạnh mở một nơi tu học mới, đặt tên là Làng Mai (Village des Pruniers). Nông trại đầu tiên mua ở Loubès Bernac (tỉnh Lot & Garonne). Với 200.000 Mỹ kim tiền bản quyền của một cuốn sách của Thầy, Thầy đã mua trung tâm thứ ba ở Dieulivol (tỉnh Gionrde). Ngày nay Làng Mai có bảy cơ sở gọi là bảy “Xóm” hay là bảy nhóm nhà, nằm rải rác trên ba ngôi làng thuộc ba tỉnh miền tây nam nước Pháp.
Khi vừa tới Loubès Bernac, Thầy ra lệnh cho nhổ bỏ gần 2 mẫu nho làm rượu và cho trồng 1.250 cây mai (mận) ăn quả – 250 cây mỗi mẫu tây. Chuyện ngẫu nhiên nhưng Thầy cũng hay nhắc nhở là 1.250 cây mai này như là một nháy mắt ra hiệu của Bụt. Con số 1.250 là con số khá linh thiêng thường được nhắc đến trong các kinh: “Bụt thuyết pháp trước 1.250 vị đệ tử”. Sư cô Chân Không lại giải thích rất thực tế là: “Chúng tôi cũng muốn trồng những cây gì có thể đem lại ít tiền cho trung tâm tu học”. Mỗi năm trái mai (mận) sấy khô mang đến khoảng 20.000 quan để nuôi 130 người xuất gia tu học tại Làng Mai. Nhưng phần lớn nhờ vào tiền bản quyền sách của Thầy. Thầy Nhất Hạnh viết hơn 50 quyển sách, ngoài những cuốn đã in trong nhà xuất bản còn có những cuốn truyện dài, những tập thơ và nhất là những cuốn sách dạy nuôi dưỡng đời sống tâm linh. Sách của Thầy bán rất chạy: nhà xuất bản ở Hoa Kỳ vừa trả 600.000 Mỹ kim cho cuốn sách sắp tới của Thầy. Những khách thập phương đến tu học cũng là một nguồn tài chánh đáng kể. Mỗi năm hơn 4.000 người đã từ xa tới nơi này tu học, một nơi được xem như là vùng đất cao điểm của đạo Bụt khiến cho dân địa phương cũng rất ngạc nhiên. “Mùa hè chúng tôi có gần 700 người tu tập mỗi tuần. Không đủ chỗ trong nhà, các bạn cắm lều cùng khắp. Trong mùa hè, chúng tôi phải đi mướn nhiều gites (nhà của dân địa phương cho mướn) quanh vùng cho những thiền sinh khách cần tiện nghi”.
Cuộc sống ở Làng Mai không nhàn hạ lắm đâu. Tiếng chuông thanh thoát vẫn không làm cho ta quên được rằng ta phải thức dậy lúc 5 giờ sáng. Trước khi ăn sáng, mọi người có hai giờ thiền tập. Khi không đi dạy xa, Thầy thường cho hai pháp thoại khá dài mỗi tuần: ngày thứ năm và ngày chủ nhật. Tất cả sự tu tập đều dựa trên hơi thở để giúp ta đạt tới trạng thái “chánh niệm” (Pleine Conscience). Trước khi ăn trưa, có một giờ tập đi trong chánh niệm gọi là đi thiền hành. Khi đi ta để cho bước chân với hơi thở quyện một cách hài hòa vào nhau, đi như thế về chắc ăn cơm ngon lắm. Sau giờ làm việc nhà trong chánh niệm (chấp tác) các thiền sinh còn theo học những môn khác (Phật giáo căn bản, thiền lạy, thiền buông thư, làm mới, uy nghi, giới luật …) và ngồi thiền một tiếng rưỡi trước khi đi ngủ. Sự “Im Lặng Hùng Tráng” về đêm rất cần thiết. Một ngày làm biếng mỗi tuần đã được ghi trong đời sống tu tập nghiêm mật của Làng Mai. Đôi khi thiền sư cũng biết đùa giỡn. Ngày 22 tháng 11 vừa qua, trong lúc đi thiền hành ngang một cây đầy lá vàng, Thầy bỗng dừng lại và rung cây để cho lá vàng rơi lả tả trên đầu các đệ tử. Cả đoàn người đều phá ra cười.
“Tôi hơi lo là người ta sẽ lý tưởng hóa Thầy thái quá, nhà nhân chủng học Joan Halifax cũng đã từng là học trò của Thầy. Một số đệ tử của Thầy than phiền là họ ít được dịp gần gũi Thầy”. “Có lẽ vì Thầy quá nổi tiếng, người thán phục thì nhiều mà sức khỏe Thầy thì mong manh nên Thầy ít có thì giờ trực tiếp với đệ tử. Đó là một vấn đề, bởi vì nếu mình muốn tu tập, sự liên hệ trực tiếp với Thầy mình quả thật là cần thiết. Chỉ có cách ấy Thầy mới trao truyền được nhiều cho mình”. Thầy Nhất Hạnh đi dạy các khóa tu ở khắp nơi mỗi năm nhiều tháng. Thầy đã mở hai tu viện ở Hoa Kỳ, một ở tiểu bang ở Vermont, miền Đông và một ở gần San Diego California, miền Tây. Từ sau ngày 11 tháng 9, Thầy khuyến khích chánh quyền Hoa Kỳ nên thành lập một hội đồng Nhân Sĩ mà vai trò chỉ là “ngồi lắng nghe nỗi khổ của người dân Hoa Kỳ trước tiên để có thể hiểu thêm nỗi khổ của kẻ mà ta thù hận. “Cũng như những hội đồng hòa giải ở Nam Phi, những buổi lắng nghe này có thể cho truyền thanh, truyền hình rộng rãi cho dân chúng theo dõi”. Thầy xác nhận như thế.
Năm 1995, Thầy bắt đầu đi Trung Quốc như một du khách, nhưng dần dà người ta đồn là có một vị đại sư đang du hành trong đất nước này – sư cô Chân Không nhắc lại – và khóa tu đã chấm dứt bằng một khóa tu ba ngày liên tục cho 600 ông thầy tu Trung Quốc. “Đi du lịch mà cũng dạy đạo được, thấy không?”, thầy Nhất Hạnh nhắc lại một cách hóm hỉnh. Sau chuyến đó Thầy đã được Hội Phật Giáo Trung Quốc mời trở lại trong Trung Hoa Lục Địa hai lần với sự đồng ý của nhà nước. Nhiều vị xuất gia tại Trung Hoa ngày nay đang hướng về và mong mỏi được tu tập với Thầy, học hỏi cái giáo pháp mà họ không được học dưới thời Mao Trạch Đông, – ông Nguyễn Hữu Khoa đã giải thích như thế – ảnh hưởng của Thầy về đạo Bụt trong một nước lớn nhất thế giới sẽ vô cùng lớn lao: rồi đây trong thế hệ tới, Thầy sẽ có nhiều đứa con tinh thần người Trung Quốc”. Trong khi đó thì, bản thân Thầy cũng như sách của Thầy, băng giảng của Thầy – băng hình cũng như băng nghe – vẫn còn bị cấm đoán trong nước của chính Thầy, nước Việt Nam. “Tôi không hiểu tại sao người ta đi sợ hãi một ông thầy tu tầm thường như tôi”. Thầy Nhất Hạnh đã than thở như thế. Một ông thầy tu tầm thường. Nhưng ông thầy này, với tất cả sự thong thả, và với cách làm việc rất có phương pháp của ông, ông đã quyết định giúp đạo Bụt chinh phục Tây phương về cho đạo Bụt.
Ngay trong phút giây hiện tại, thiền tập có thể chuyển hóa khổ đau và đem tới an lạc
Bài của ký giả Teresa Wattanabe. Ban biên tập của Nhật báo Los Angeles Times, tờ nhật báo lớn hạng ba của Hoa Kỳ. Sư cô Chân Hội Nghiêm dịch
Escondido, California ngày 01 tháng 6 năm 2004.
Dưới rừng sồi của chen lẫn từng mảng cây đinh hương, California đầy hoa tím, trang nghiêm và ngập nắng, những vị tu sĩ áo nâu đã im lặng nhẹ nhàng cải biến vùng đất mà trước đây cơ quan luật pháp vùng San Diego làm nơi luyện tập quân sĩ sử dụng vũ khí.
Những người học trò của thiền sư Thích Nhất Hạnh đã thay thế những loạt súng đạn của binh sĩ bằng những hồi chuông linh thiêng. Họ đã sơn sửa lại những ngôi nhà tả tơi đầy vết đạn. Trong khu rừng Lộc Uyển với diện tích 400 mẫu Anh của họ, giờ đây đã xuất hiện một thiền đường đầy ánh sáng, một thác nước nhỏ, một hồ cá và những câu thiền ngữ treo khắp nơi: Thở đi, bạn đang còn sống. Trong vòng bốn năm nay, từ khi họ tậu được vùng đất này, những tu sĩ áo nâu kia đã mang lại những chuyển hóa đầy thử thách: giúp đỡ giới điện ảnh Hollywood, giúp những người trẻ trốn nhà sống trên đường phố, giúp những trẻ lêu lổng trong các xóm nghèo nội thành, giới trẻ trong các băng đảng và những thành phần khác, giúp những người kia làm chủ được những tập khí dữ dằn của họ và để họ tìm thấy an lạc cho tự thân.
Trong một khóa tu gần đây cho ngành vô tuyến truyền hình và phim ảnh, thiền sư Thích Nhất Hạnh đã giảng về tầm quan trọng của ái ngữ cho một hội chúng thuộc giới văn nghệ sĩ, trong đó có diễn viên hài Garry Shandling và nhà làm phim Larry Kasanoff, người đã kêu gọi buổi họp mặt này. “Quý vị không cần phải trở thành một người khác, quý vị không cần phải đến giải phẫu thẩm mỹ”, thầy Nhất Hạnh nói điều đó với một giọng nhỏ nhẹ, đã khiến cho cả thính chúng phá lên cười.
Với những lời dạy như thế, các tu sĩ thuộc Đạo tràng Mai Thôn của thầy Nhất Hạnh nhằm trang bị cho các người đến từ truyền thống tín ngưỡng khác và từ các nền văn hóa khác. Họ học được cách thực tập chánh niệm để nhận diện niềm bình an cho tự thân trong cuộc sống hàng ngày, bằng cách thở sâu hơn, đi đứng thảnh thơi hơn và tập sống được sâu sắc hơn trong giây phút hiện tại. Nhiều khóa tu đã diễn ra từ đầu năm nay, kể từ khi thiền sư Nhất Hạnh từ Pháp (nơi cư trú thường xuyên của Người) sang đây và ở lại an cư trong ba tháng mùa Đông tại Lộc Uyển. Thầy 78 tuổi, đã thành lập được 800 nhóm tăng thân thiền tập trên hai mươi mấy nước. Thầy đã được mục sư Martin Luther King Jr. đề cử giải thưởng Nobel hòa bình qua những cố gắng xây dựng hòa bình của Thầy trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam.
Một tăng thân gồm bốn mươi mấy tu sĩ từ nhiều quốc gia đến, đang sinh hoạt tu tập và làm việc quanh năm ở tu viện Lộc Uyển thuộc vùng Escondido. Quý vị tu sĩ nam và nữ đều mặc trang phục giống nhau, cùng mặc những chiếc áo dài nâu, đều cạo tóc như nhau. Trong đó có thầy trụ trì Pháp Dung, một người Việt Nam tị nạn và lớn lên vào thời San Fernando ‘Valley Boy’, thời mà người ta thích nhảy nhót và chơi trượt ván. Thầy nói thầy đã từng tranh đấu trong trường học để xóa bỏ kỳ thị chủng tộc. Cuối cùng thầy tốt nghiệp đại học USC và trở thành một kiến trúc sư làm việc ở Santa Monica. Nhưng sau đó vài năm, thấy rằng nghề nghiệp của thầy chỉ quanh quẩn về tiền bạc và củng cố cái ngã, hiếm có cơ hội để phác họa lên những dự án có ý nghĩa cho xã hội. Thầy đã tham dự vài khóa tu của thiền sư Thích Nhất Hạnh và bị thu hút bởi sự nhẹ nhàng, thanh thoát ở đó. Cuối cùng thầy quyết định đi tu để trở thành một tu sĩ. Thầy thường gần gũi và làm việc với nhiều thanh thiếu niên có nhiều khó khăn trong cuộc sống. Thầy nói: “Tôi đã tìm thấy một cách sống có nhiều ý nghĩa hơn và những cách giúp người trực tiếp hơn”.
Ngoại trừ vào lời phàn nàn từ hàng xóm vì hiện tượng xe cộ quá nhiều; hơn 800 người thường xuyên kéo đến tu viện Lộc Uyển vào những ngày cuối tuần – các viên chức quận San Diego nói rằng đa số không ai chống đối sự có mặt của tu viện. Theo lời ông Bill Ring – chuyên viên về bản đồ địa chính trước đây thì lịch sử vùng đất này rất đa dạng, rằng hơn ba thập kỷ trước, nó là một trại khỏa thân. Vào giữa thập niên 70, sau khi quận San Diego mua vùng đất này, cơ quan bảo vệ Cali (California Conservation Crops) và Phân Viện Cảnh Sát (Sheriff’s Department) đã dùng nó để huấn luyện đội SWAT và thủy quân từ trại Pendleton gần đó. Vào năm 2000, tăng đoàn đã tậu vùng đất này với giá 4 triệu đô la trong cuộc bán đấu giá.
Thầy Pháp Dung nói rằng các vị tu sĩ đã phải làm việc trong suốt nhiều tháng để tu sửa những cơ sở vật chất bị tổn hại bởi bom đạn và chuyển hóa nguồn năng lượng bạo động kéo dài âm ỉ trong quá khứ. Họ đã tụng kinh và hộ niệm nhiều lần để xin phép thần linh người da đỏ bản xứ cho phép họ dùng mảnh đất này; và đã dẫn các em đi thu lượm những vỏ đạn và làm nên những bảng hiệu hòa bình trên đó. Ngày nay, dân chúng từ nhiều thành phần khác nhau trong xã hội đã đến viếng thăm tu viện. Trong đó có Kasanoff, một nhà sản xuất phim giàu có mà những bộ phim của ông ta bao gồm “Terminator 2” và “Mortal Kombat”. Ông đã từng mở những tiệc tùng xa hoa trên những chiếc thuyền sang trọng ở Cannes của ông và là chủ của ba hãng phim ở Santa Monica chuyên về phim ảnh, phim hoạt hình, và phim võ hiệp trên vô tuyến truyền hình.
Trong số những người đến tu tại tu viện Lộc Uyển cũng có những người rất khiêm nhường như cô Estrellita Rojas, 18 tuổi, một học sinh trường trung học ở Boston, sống không mẹ cha và làm nghề bán hàng với mức lương rất ít ỏi. Cô đã hết sức vất vả mới vật lộn mà sinh sống được trong môi trường khá bạo động và dẫy đầy tội ác. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Kasanoff đã phải lặp đi lặp lại rằng ông ta là một người Do Thái, không có một ước muốn bỏ đạo để trở thành một phật tử, hoặc đi xuất gia thành một ông thầy tu hay một đạo sĩ, để phải từ bỏ rượu chè và gái đẹp. Ông ta xác nhận rằng ông ta không chủ ý muốn áp đặt ai làm một cái gì cả. Ông ta chỉ kêu gọi hàng trăm người thuộc giới điện ảnh tới tu viện dự một khóa tu dành cho giới Hollywood, và đã mời thiền sư Nhất Hạnh đến nói chuyện tại một buổi họp mặt rất thân mật tại nhà ông. Ông ta đã tặng hơn 100 quyển sách của Thầy cho những người thân quen. Ông ta nói rằng ông ta cũng đưa một vài thông điệp của thầy Nhất Hạnh vào hai bộ phim sắp ra đời – “Mortal Kombat” và làm lại hàng loạt phim hoạt hình gốc Nhật “Ninja Scroll”.
Kasanoff nói rằng ông ta bắt đầu tìm về đời sống tâm linh cách đây khoảng năm năm. Và ông ta nhận ra rằng nhiều người bạn giàu có và nổi tiếng trong giới điện ảnh Hollywood đã từng rất khổ đau và thường xuyên bị sợ hãi chiếm ngự. Trên đường đi tìm nếp sống tâm linh, tình cờ ông ta bắt gặp những quyển sách của thầy Nhất Hạnh và bị lôi cuốn bởi những thông điệp chánh niệm trong ấy. Từ đó ông ta bắt đầu thiền quán, thiền hành và khí công.
“Phép lạ hoàn toàn của những thực tập này là bạn có thể được thư giãn hơn, bình an hơn, làm được nhiều công việc hơn và có nhiều năng lượng hơn”. Ông ta nói: “Tôi bớt quýnh quáng. Tôi không còn la hét nhiều như trước đây. Điều đó không có nghĩa là bạn tiếp nhận những thứ này và rút lui khỏi thế giới; cái hay là bạn có thể kết hợp những phương pháp thực tập ấy vào đời sống hàng ngày của bạn”.
Ở một góc độ khác của cuộc sống, cô Rojas kể một câu chuyện giác ngộ tương tự. Một cô gái mười tám tuổi, da màu gốc Nam Mỹ thuộc dòng tộc Nicaraquan (từ một xứ của Châu Phi) đã đến thăm Lộc Uyển vào hồi tháng ba với những thanh niên khác ở Boson. Những em này đã tham gia vào chương trình ngăn ngừa xì ke ma túy và phòng chống HIV. Đây là lần đầu tiên cô ta được đi máy bay, lần đầu tiên gặp những vị tu sĩ, lần đầu tiên ăn chay và đây là thời gian nghỉ ngơi đầu tiên của cô bé từ một môi trường có nhiều băng đảng, đánh nhau và thường xuyên bạo động. Rojas nói: “Thật khác hẳn hoàn toàn. Bỗng dưng một thiên quốc xinh đẹp được mọc lên giữa không trung, ở đó không có bạo lực, không có kỳ thị, không có sự nhiếc mắng, không có gì hết. Mọi người ở đó đều kính cẩn, tôn quý nhau và cùng hạnh phúc”. Phương pháp lắng nghe bằng tâm từ bi mà cô ta học tại đây đã dập tắt được những cuộc cãi vã và la hét mà cô từng hành xử với chị mình trước đó. Cô ta nói sự chấp nhận mà cô ta cảm được ở Lộc Uyển đã làm giảm đi khuynh hướng tìm cầu vật chất trước đây của cô ta, trong cách ăn mặc sang trọng qua những đôi giày, những quần jeans có nhãn mà cô ta đã nghĩ trong quá khứ là có công năng khẳng định giá trị mình. Cô ta ít la lối om sòm hơn và có được nhiều bình an hơn khi cô ta bắt đầu thiền tập hằng tuần. Cô ta có ý định thành lập một tăng thân ở Boston cho các bạn thiếu niên.
Những câu chuyện như thế xảy ra thông thường ở đây. “Người ta yêu cầu chúng tôi sửa sai họ và sửa sai giùm con cái của họ, nhưng ở đây chúng tôi không làm điều đó”. Thầy Pháp Dung nói: “Chúng tôi chỉ trở thành bạn với các em, leo núi chung và cùng đếm sao rơi với các em mà thôi. Chúng tôi thưởng thức sự sống đang hiển hiện. Vì vậy mà các em chuyển hóa. Chúng tôi ý thức được là mình đang còn sống và vui mừng vì ý thức ấy”.
Đây là tựa đề bằng tiếng Anh:
It’s Now, It’s Zen and It’s Life – Changing
Buddhists who turned a gun training site into a monastery
Tackle even harder transformations
By Teresa Watanabe
Los Angeles Times Staff Writer, June 01, 2004
Chồi non khẽ cựa mình
Ngày tôi sắp lên đường để qua Làng, anh trai tôi cười đọc tặng tôi bốn câu thơ:
Và dặn dò tôi sâu sắc cũng có mà chọc ghẹo cũng có, rồi cười ha ha tiễn tôi, chúc tôi chân cứng đá mềm.
Tôi đến Làng vào một chiều đông xám xịt, tuyết đang tan thành những vũng nước nhỏ. Ba giờ sáng hôm sau tuyết lại rơi, quý sư cô gọi tôi dậy, bật đèn cho tôi ngắm tuyết, rồi vào ngủ tiếp. Sáng mai ra, tuyết rơi ngập cả rừng mai xóm Hạ, tôi được gặp Thầy lần đầu tiên và lạ lẫm đi thiền hành cùng với đại chúng dưới trời tuyết rơi. Tuyết phủ gần tới đầu gối mà tôi lại mang giày vải, thế là từ hôm đó tôi ngã bệnh. Từ từ tôi ám ảnh mùa đông, tôi sợ tuyết!
Năm ấy xui làm sao mùa đông lại kéo dài tới sáu tháng, lạnh thấu xương. Tôi tìm mọi cách để trốn chạy cái lạnh. Cái áo nào tôi cũng thấy không đủ ấm, vớ tôi mang đến ba đôi mà bàn chân vẫn lạnh ngắt. Chao ôi, chân cứng không phải để cho đá mềm mà vì tuyết lạnh. Có lần tôi cảm thấy tường đá trong phòng ngủ sao mà lạnh quá, tôi nghĩ: “Hay là tối nay mình chui vào đơn ngủ cho đỡ lạnh nhỉ? Ít ra thì có ván che chắn bốn bề, mình chỉ chừa tấm ván phía trên để thở thôi.” Nghĩ là làm, tôi bắt tay dọn mền vô đơn để ngủ. Quý sư cô cùng phòng về đến, ngạc nhiên tròn xoe mắt hỏi: “Em làm gì vậy?” Tôi cười cười: “Dạ, để ngủ cho đỡ lạnh.”
Cứ tưởng không ai biết vì chuyện đó chỉ xảy ra vài hôm thôi, sau khi thấy chẳng đỡ lạnh chút nào, tôi lại khệ nệ chuyển đồ về vị trí cũ. Vậy mà tới ngày quán niệm ở xóm Thượng, đang đứng lơ ngơ trước thất Ngồi Yên, tôi thấy Sư cô Chân Không dừng xe, mở cửa hỏi: “Con là Trăng Hương Tích hả? Nghe nói con lạnh quá nên chui vào đơn ngủ luôn phải không? Sư cô có đem áo cho con nè!” Tôi ‘tá hoả’! (bây giờ tôi vẫn còn giữ một cái áo Sư cô cho để làm kỷ niệm). Ngày hôm sau, hôm sau nữa vẫn còn quý sư cô hỏi thăm về chuyện ngủ trong đơn, quý thầy thì cười cười hỏi: “Sao, nghe nói lạnh lắm hả?” Ôi, sao làng trên xóm dưới ai cũng biết!
Tôi đâu có biết tôi bị sốc nhiệt, bị thấm lạnh quá sớm, cái lạnh đi vào trong xương tủy, nên có lúc tôi cảm thấy cái lạnh từ trong đi ra nhiều hơn, cộng thêm những khổ đau từ xưa trong tâm nay thừa lúc cùng nhau trỗi dậy. Tôi bệnh cả thân lẫn tâm.
Làng với tôi lúc đó là gió, là mưa, là lạnh, nhìn ai cũng thấy lạ (vì tôi mới xuất gia có một năm). Nhìn Thầy – người mà tôi thương kính ngay buổi đầu đọc bài Nói với người xuất gia trẻ, cảm động tình thầy trò, tôi đã “chọn” Thầy làm thầy cho tôi, vậy mà lúc đó nhìn Thầy sao xa lạ quá chừng. Tôi tự hỏi: “Tại sao lúc ở Diệu Trạm mình thấy Thầy gần gũi vậy mà? Bước chân nào mình cũng thấy Thầy. Sao bây giờ thầy mình đang ở gần, rất gần mà mình không tiếp xúc được?” Tôi đau khổ vô cùng. Tối nào vào lúc ba giờ sáng tôi cũng trở dậy và khóc, vì không ngủ được và vì khổ, vì lạnh. Tôi khóc, nhưng không để ai biết, trời mưa mà khóc thì không ai nghe cả. Đó là tập khí, không muốn người khác biết mình yếu đuối.
Tôi phải học lại tất cả, cứ như công phu tu tập một năm của tôi ở Diệu Trạm bay đâu mất hết. Tôi tập mỉm cười trở lại vì khi dễ buồn, dễ tủi thân mỗi lúc bệnh, tôi đánh mất nụ cười lúc nào không hay. Chén trà thơm và nóng mỗi buổi sáng giúp cho cơ thể tôi ấm lên và đỡ đau đầu. Ngồi yên, tôi thực tập mỉm cười bất cứ lúc nào tôi có ý thức để giúp cho sự có mặt của mình với thực tại dễ dàng hơn. Lúc đầu tôi có cảm giác mình hơi khùng khùng nhưng tôi tin tưởng Thầy và pháp môn nên cứ tiếp tục làm.
Những ngày đi bộ đường dài, lúc đầu tôi chỉ đi cho cơ thể được khoẻ mạnh, nhưng tôi phát hiện ra mình bị trôi theo những suy nghĩ trong lúc đi khá nhiều. Cùng lúc cơ thể tôi không khoẻ nên khi đi dọc đường, mỗi khi nghe tiếng động cơ xe hơi ù ù sắp tới sau lưng và vượt qua là tôi giật mình hoảng hốt, tim đập thình thịch. Sư cô đệ nhị thân đi cùng đã bày tôi cách trở về với hơi thở mỗi khi bị giật mình và tôi làm theo. Ngày này qua ngày khác, với sự thực tập trở về ấy tôi đã mỉm cười được và bình tĩnh mỗi khi có chiếc xe phía sau chạy vụt qua. Tôi cũng đã tập bước đi cùng với các cảm thọ trôi qua trong tôi mỗi khi đi bộ. Cơ thể tôi mỗi ngày một khá lên thì sự có mặt với các cảm thọ trong tôi cũng khá dần lên.
Có lần, đi bộ về tới cổng xóm Hạ, một câu nói đi lên trong tâm thức tôi: “Cố lên, mình sẽ làm được mà!” Cảm động và mừng vui, tôi đứng lặng một hồi để cảm nhận niềm hạnh phúc đang có mặt. Đã từ lâu lắm, từ hồi còn nhỏ, tôi đã không có sự tự tin, tôi luôn sợ mình làm hỏng mọi thứ. Tham gia vào nhóm làm việc nào tôi cũng sợ, sợ mình không có khả năng. Sợ hãi mọi thứ, cứ mỗi lần bối rối, mất tự tin, tôi hay tìm tới hỏi một sư cô: “Sư cô ơi, con phải làm sao?” Sư cô chỉ cười và nói: “Em làm được mà, làm đi.” Sư cô phải lặp lại vài lần như vậy tôi mới yên tâm chào sư cô để về. Lúc nào tôi cũng cần sư cô động viên, nếu không tôi luôn thấy những việc trước mắt tôi là mây mù xám xịt. Vậy mà tới một ngày tôi lại có thể tự động viên chính mình, lời nói từ tận trong sâu thẳm tâm thức phát ra mà không phải tôi tác ý. Giây phút ấy tôi thấy mình mạnh mẽ xiết bao. Mọi người sẽ không thấy tôi thay đổi gì mấy nhưng tôi biết, trong mảnh đất tâm mình có một hạt giống tốt vừa nứt mầm.
Điều chật vật nhất với tôi là theo kịp với nhịp độ thời khoá, nào là khoá tu mùa Xuân, khoá tu tiếng Pháp, tiếng Ý, khóa tu 21 ngày, khóa tu mùa Hè… Khi bệnh nặng thì không kể làm gì nữa, nhưng bệnh sơ sơ thì tôi phải quyết tâm, phải đấu tranh với các cảm thọ khó chịu trong tôi và thường thì tôi quyết định đi thời khóa bởi vì tôi biết, đến đó với đại chúng và ngồi đó, tôi sẽ có thay đổi. Tôi đã trải nghiệm qua chuyện này. Có những lúc tưởng không bắt chéo chân nổi để ngồi, nhưng có những điều mầu nhiệm đã xảy ra. Ngồi xuống được rồi, ngồi đúng tư thế thì tự nhiên mọi thứ trong thân và tâm lắng xuống… lắng xuống… và tôi có thể đi vào sự buông thư và tĩnh lặng đến không ngờ. Tôi theo thời khóa vì tin vào những phút giây mầu nhiệm xảy ra trong sự thực tập, tôi tin Thầy, tin năng lượng hùng hậu của đại chúng, đó là tập khí tốt giúp tôi đi qua từng giai đoạn.
Và cũng đã có nhiều duyên lành nâng đỡ tôi. Những bài pháp thoại trực tiếp của Thầy đã thực sự ghi sâu vào tâm thức tôi. Có một câu nói của Thầy đã giúp tôi nhiều nhất: “Mình là một vũ trụ nhỏ, mình có tất cả quyền năng của vũ trụ.” Điều đó làm tôi phấn chấn và tự tin để sống và công phu. Có đôi khi tôi cứ nghĩ khả năng của mình đến đó thôi, đó là giới hạn của mình, nhưng cũng có lúc tôi cảm thấy rằng có những sức mạnh vô hạn mà mình chưa chạm vào hết.
Lúc Thầy chưa bệnh, vào mùa An cư, thỉnh thoảng anh chị em chúng tôi được dùng bữa tối chung với Thầy. Thời gian đó Thầy đang giảng về Duy biểu. Lần đó tôi và các sư cô được dùng cơm chung với Thầy ở thất Ngồi Yên. Ăn xong, Thầy nhìn kỹ từng người học trò và mỉm cười, rồi Thầy hỏi: “Thầy giảng Duy biểu các con có hiểu được không?” Quý sư cô trả lời: “Dạ hơi khó, thưa Thầy”. Thầy quay sang tôi: “Còn con thấy sao?” Tôi trả lời nhanh như cái máy: “Dạ, con cũng tiếp nhận được thưa Thầy”. Thầy nói: “Ừ, dễ mà phải không, dễ hiểu mà, đâu có gì khó đâu”. “Ôi, ý con không phải như vậy”, tôi định đính chính, nhưng không hiểu sao tôi chỉ ngồi im và dán hai mắt xuống đất vì xấu hổ với mọi người ở đó. Tôi đâu có ý xem Duy biểu là dễ, nhưng có lần Thầy giảng về cách tạo một lối mòn tư duy mới làm tôi tâm đắc quá nên tôi mới bật ra câu trả lời đó. Tôi nhớ Thầy nói: “Khổ đau là một tập khí, nó như một con đường mòn. Nếu có chuyện gì xảy ra làm mình khổ là mình suy nghĩ về cái hướng tiêu cực đó liền. Nhưng hạnh phúc cũng là một tập khí, bây giờ nó chưa có lối mòn thì mình bắt đầu đi cho có lối mòn. Mình đi nhiều lần trên con đường đó thế nào cũng sẽ trở thành lối mòn…” Tôi đã rất hân hoan để thực tập và tôi được hưởng những niềm hạnh phúc nhỏ nhỏ trong nếp sống thường ngày. Lời dạy đó nằm lòng trong tôi nên khi Thầy hỏi, tôi đã vụt trả lời mà không kịp suy nghĩ. Ôi, tôi xấu hổ quá chừng chừng, làm sao mà tôi dám nghĩ Duy biểu là dễ chứ!
Tôi đã cùng tăng thân đi qua những giai đoạn chuyển tiếp. Những buổi tăng thân ngồi im lặng để lắng nghe từng nỗi lòng mà không hề phản hồi lại, chỉ có lắng nghe để hiểu mà thôi. Những lúc được chơi trò chơi như hồi còn nhỏ xíu, những buổi ngồi với nhau để cùng lên một thời khoá thích hợp, rồi những lớp thuyết trình, pháp đàm… Những ngày được lên thăm Sơn Cốc, được chơi bóng chuyền, đá cầu, cắt cỏ, đốt lửa… cùng với nhau. Tất cả đi vào đời sống của tôi một cách tự nhiên và thân thương lúc nào không hay. Tôi đã không còn đòi đi bộ về Diệu Trạm nữa (tôi chỉ nghĩ thầm vậy thôi).
Những ngày đầu tới xóm Hạ, tôi thường than thở với một sư cô: “Xóm Hạ lạnh quá, gió độc quá, trúng gió hoài luôn. Chắc là con không hợp với nơi đây rồi”. Sư cô nói với tôi: “Sư em phải thực tập lạy xuống với tổ tiên đất đai ở đây để được chấp nhận, được ôm ấp”. Lúc đầu tôi không hiểu được câu nói của sư cô nên tôi đâu có lạy. Tôi không muốn cầu xin những điều mà mình không chắc chắn có được, mà tôi không biết đấng mà tôi phải cầu xin là ai. Nhưng qua từng năm tháng, những khoảng lặng, những không gian, cỏ cây, đất đá, rồi mùa xuân, hạ, thu, đông, những khoảnh khắc giao mùa đáng nhớ, những làn nắng ấm và những trận giông bão, những con người nơi tôi đang sống… đi vào tôi. Bây giờ thì tôi biết mình thuộc về mảnh đất này, hay mảnh đất này thuộc về tôi, trở thành tôi.
Rồi một chiều nắng vàng lấp lánh, cả một cánh đồng lúa non xanh mướt chạy dài tít tắp đến tận chân đồi, tôi đã phủ phục xuống đất Mẹ và khóc, lòng biết ơn dâng trào. Tôi đã học được cách tiếp xúc với sự sống, với thực tại nơi đây. Có một buổi sớm cách đây hai năm, bất chợt tuyết rơi, chị em tôi mừng reo lên chạy nhảy giữa trời tuyết. Tôi xòe tay hứng từng bông tuyết rơi trắng xóa, cảm nhận mình đang có một cơ thể khỏe mạnh, đôi tay mình ấm áp và bông tuyết mát lạnh giữa bàn tay. Nước mắt tôi lặng lẽ rơi. Hạnh phúc này làm sao tôi có thể quên. Tôi đã biết thế nào là hạnh phúc khi đi qua khổ đau. Kỳ lạ là mảnh đất này đã khiến tôi khổ đau tới nhường nào, nhưng giờ cũng chính nơi này đã cho tôi những mầm xanh quý giá. Bài thơ đầu tiên tôi viết trở lại, hôm ấy có lẽ là vừa chớm xuân:
Đó là kinh nghiệm đầu tiên tôi thấy mình “sống lại”. Tôi chạm vào sự sống mầu nhiệm kia với tất cả bốn mùa. Thiên nhiên ở đây đã dạy tôi cách sống. Nó thực quá đến nỗi tôi cảm giác mình ngửi thấy được, nghe thấy được. Nơi đây đã làm hồi sinh sự sống trong tôi, để tôi trở về làm lại tuổi thơ mà ngày xưa tôi chưa làm được hoặc chưa ý thức đầy đủ. Tôi vừa là một em bé nhưng cũng là một người chị có ý thức để dìu dắt em bé trong tôi biết ôm ấp khổ đau và nuôi dưỡng hạnh phúc.
Chiều nay, khi đứng bên khung cửa kính nhà Bạch Dương nhìn lên ngọn đồi phía xa xa, ráng chiều nhuộm vàng cả khung trời trước mắt, tôi ngắm hoàng hôn qua cánh rừng thưa. Rừng đã rụng hết lá, còn trơ những cành gầy khúc khuỷu, nhưng sao mạnh mẽ và hùng vĩ quá chừng. Mùa đông cũng dạy tôi trở về giữ lửa và rụng bớt những chiếc lá không cần thiết để đứng vững giữa trời đông. Đã bao lần tôi đứng ngắm cảnh tượng huy hoàng này, nhưng lần nào tôi cũng cảm tưởng rằng đây là lần đầu tiên. Thiên nhiên ở đây rất dễ làm lòng người xúc động, hoàng hôn giữa chiều đông sao mà ấm áp và dịu dàng quá, tự dưng tôi thấy tôi cũng là một phần của bức tranh mầu nhiệm chiều nay. Tôi thực sự thấy mình đang sống với sự sống ngoài kia. Tôi cảm được từng hơi thở đang lưu nhuận giữa tôi và đất trời, tôi thấy năm uẩn của tôi đang sống động hơn bao giờ hết mà cũng tĩnh lặng đến lạ kỳ.
Tôi rất muốn gởi lời cảm ơn ngôi nhà Bạch Dương xinh đẹp và những “vị tiên” dễ thương đang sống trong ngôi nhà này, đã cho tôi một cảm hứng để viết những dòng tâm sự nho nhỏ này. Tôi nghe tiếng thì thầm của những chồi hoa thủy tiên đang gọi mùa xuân. Tôi thích nghĩ rằng: “Những con người nơi đây – ở cung Mây Tím, chốn rừng Mai (Đồi Mận), vườn Anh Đào (Cherry house) – dễ thương như những thiên thần hay những vị tiên trong truyện cổ tích. Ai muốn tiếp xúc với họ phải có những bước chân thảnh thơi và những hơi thở nhẹ nhàng”. Khi tiếng chuông khuya khua người tỉnh mộng bạn sẽ thấy họ để lộ những nét tài hoa, với những công phu âm thầm từ văn phòng, tri may, tri vườn, tri rác, tri thiền đường,… Họ có mặt ở nhà bếp thì bạn sẽ có những bàn tiệc vừa đẹp vừa ngon lành, họ bước ra vườn hoa thì vườn hoa rực rỡ sắc hương, họ bước vào nơi góc nhỏ học tập thì bạn sẽ thấy cả thiên nhiên sống động ngoài kia như được gom vào đó một cách tự nhiên, đầy sức sống, bàn tay của họ đang làm ra những phép mầu…
Được có một nếp sống thật đẹp cùng với các vị tiên ở đây, con xin tri ân tất cả sức sống này, tuổi trẻ này. Con xin được cúng dường lên Thầy với vô vàn niềm thương kính, cầu mong Bụt, Tổ gia hộ để Thầy sớm phục hồi sức khoẻ, và dìu dắt anh chị em chúng con bước tiếp trên con đường sáng đẹp này.
Chân Trăng Hương Tích
Tưởng nhớ Sư Tổ Thanh Quý Chân Thật
Bây giờ, thầy muốn kể vài kỷ niệm về Sư Ông của các con để các con biết rõ thêm về nguồn gốc của mình. Sư Ông pháp danh là Thanh Quý, là người học trò chót của thế hệ Thanh trong giới xuất gia, thuộc dòng Lâm Tế chánh tông.
Sư Ông của các con đi xuất gia từ hồi còn rất nhỏ. Tuy nhiên, ở chùa đã lâu nhưng chú bé ngày xưa chưa được chính thức thọ giới sa di vì còn quá nhỏ! Đến khi hòa thượng Hải Thiệu viên tịch, thì sư anh của Sư Ông là hòa thượng Thanh Thái, hiệu Tuệ Minh, đã làm lễ thế độ cho Sư Ông trước Linh Cữu của Bổn Sư, và đặt pháp danh cho Sư Ông là Thanh Quý. Thanh Quý có nghĩa là người đệ tử út mang pháp danh có chữ Thanh đứng đầu. Sư Ông được sư anh nuôi lớn, dạy dỗ, rồi sau đó được sư anh (hòa thượng Tuệ Minh) truyền đăng cho và đặt pháp tự là Cứu Cánh, pháp hiệu là Chân Thật.
Bài kệ phó pháp mà sư anh Thanh Thái Tuệ Minh trao cho sư em Thanh Quý Chân Thật là:
Chân Thật duy tùng thể tánh trung
Thâm cùng vọng thức bổn lai không
Thỉ tri thị vật nguyên vô vật
Diệu dụng vô khuy chỉ tự công
Thầy dịch ra tiếng Việt:
Chân lý nằm trong thể tính không
Trước sau vọng thức vẫn là không
Vật kia như thật mà không thật
Diệu dụng công phu hãy một lòng.
Đây là một bài kệ mà ý nghĩa rất thâm sâu để chúng ta học hỏi và hành trì theo. Thầy được làm thị giả cho Sư Ông chỉ một mùa thôi, vào khoảng ba tháng, và không được làm lần thứ hai vì sau đó còn có nhiều sư em. Có một lần dọn cơm cho Sư Ông, không biết vì thiếu chánh niệm thế nào thầy đã quên không để một đôi đũa vào trong mâm cơm. Mâm cơm Việt Nam mà thiếu đũa thì nguy lắm! Sau khi đặt mâm cơm trên bàn của Sư Ông, thầy lui ra đứng khoanh tay sau lưng Sư Ông để chờ xem Sư Ông có cần sai bảo gì không.
Hồi đó, thầy dại lắm! Thầy nghĩ rằng: “Đứng mà không làm gì hết thì rất uổng thì giờ”. Vì vậy thầy đã lấy cuốn kinh đứng sau lưng Sư Ông mà học; hành động mà bây giờ ta gọi là “tranh thủ thời gian”. Thầy mải đọc kinh nên không thấy rằng mâm cơm của Sư Ông không có đũa. Ấy thế mà Sư Ông không nói gì hết. Sư Ông lấy thìa để ăn cơm, từ đầu đến cuối. Ăn cơm xong, Sư Ông gọi: “Này chú”, thầy bỏ cuốn kinh xuống, đứng chắp tay. Sư Ông hỏi: “Ngoài vườn của mình còn nhiều tre không?” Ngây thơ thầy trả lời: Dạ, bạch Sư Ông, ngoài vườn mình còn nhiều tre lắm. Nhất là tre cán giáo (tre cán giáo có nhiều măng, ăn ngon lắm!). Sư Ông nói: vậy thì ăn cơm xong, chú ra vườn đốn một cây tre đem vào đây! Thầy lại: “Dạ.” rất ngây thơ. Đột nhiên thầy nghĩ: “Đốn tre làm chi vậy ?” Thầy chắp tay: Bạch Sư Ông! Đốn tre để làm gì ạ? Sư Ông cười nói: để vót vài đôi đũa. Chú nhìn xem: trong mâm cơm này không có đôi đũa nào hết. Lúc đó, thầy mới giật mình sợ hãi. Bài học đó thầy không bao giờ quên. Bài học thiếu chánh niệm.
Ở Làng Mai, chuyện này cũng đã thường xảy ra. Có một lần sư chú Pháp Tạng làm thị giả cho thầy. Sư chú dọn cơm cho thầy với một thiền sư khách. Không biết loay hoay làm sao đó sư chú quên đem cơm mà chỉ đem thức ăn thôi! Hôm đó, vị thiền sư khách và thầy chỉ ăn thức ăn suông.
Tiếp Nhận Và Trao Truyền
Hồi còn thơ ấu, thầy được ra ngoài Bắc học, nên bị ảnh hưởng của người Bắc. Thay vì nói theo kiểu Huế: “Mời Sư Ông thời cơm” thì thầy lại nói: “Mời Sư Ông dùng cơm!” Nghe từ “dùng cơm”, Sư Ông hơi lấy làm lạ nhưng Sư Ông đã chấp nhận dễ dàng. Có một hôm, Sư Ông dẫn thầy đi và chỉ cho thầy những cây me đất mọc ở chỗ ẩm thấp và chung quanh mái tam quan. Những cây me đất cao chừng hai tấc, có bốn cánh, năm cánh, vị chua chua. Sư Ông nói: “Có một món này con có thể học được, đó là món canh khoai me đất”. Sư Ông dạy: “Mình chỉ cần đổ một ít nước vào xoong rồi cắt khoai lang ra từng miếng nhỏ bỏ vào nấu cho sôi, khi mềm thì nêm muối rồi cắt vào đó một mớ me đất”. Sư Ông rất ưa món canh này. Lâu lâu, thầy nấu món canh khoai đó để cúng dường Sư Ông. Trước khi nấu món canh khoai đó, thầy thường đến chắp tay thưa: “Bạch Sư Ông, hôm nay con muốn cúng dường món canh khoai me đất, Sư Ông có dùng không?” Sư Ông mỉm cười trả lời: “Dùng!”. Thế là Sư Ông đã dùng cái động từ mà thầy đã dùng.
Không bao giờ Sư Ông nói ra bằng lời rằng Sư Ông thương thầy, nhưng thầy biết là trong trái tim của Sư Ông luôn có đầy ắp yêu thương… một tình thương ấm áp và cao cả của thầy đối với trò. Người Á đông vốn là kín đáo. Khi thương, người ta để trong lòng không chịu nói ra. Vì vậy có những đứa con và những đứa học trò cứ tưởng rằng cha mình không thương, thầy mình không thương. Ở Tây phương, thương thì nói ra. Đôi khi thương ít mà nói thương nhiều, làm cho người ta tưởng là thương nhiều thật. Đó là sự khác biệt giữa hai nền văn hóa. Sư Ông có viết di chúc để lại mà không cho thầy và ai biết cả. Trong di chúc ghi là sau khi Sư Ông tịch thì thầy phải kế thế để làm trụ trì tổ đình Từ Hiếu. Nhưng hình như thầy đã được sinh ra không phải để làm trụ trì, cho nên khi Sư Ông tịch, sư anh của thầy là thượng tọa Chí Niệm đứng ra đảm trách chức vụ trụ trì của tổ đình Từ Hiếu.
Năm 1966 là năm mà thầy phải rời quê hương để đi vận động hòa bình, bởi vì chiến tranh Việt Nam vào lúc đó đã đến giai đoạn khốc liệt. Khốc liệt đến nỗi ban đêm mình không ngủ được vì sự chết chóc diễn ra hằng ngày, hằng đêm. Ngay tại xung quanh thành phố Sài Gòn, sự chết chóc cũng diễn ra từng ngày, từng đêm. Vì vậy, thầy nói với các vị cộng sự xuất gia và tại gia: hãy lo lắng mọi công việc ở quê nhà để thầy có thể xuất ngoại đi vận động chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.
Thầy lên đường vào ngày 11 tháng 5 năm 1966. Năm đó có Nhuần hai tháng Ba. Sau khi bà bác sĩ Hiệu, chị Uyên và chị Phượng, chị Phượng là sư cô Chân Không bây giờ, vận động xin được cho thầy giấy xuất ngoại. Thầy liền bay về Huế để từ biệt Sư Ông: Bạch Sư Ông! Con phải đi xuất ngoại, ít nhất là ba tháng. Con sẽ cố gắng vận động dư luận thế giới, tìm cách chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Thầy không biết lần đó là lần cuối cùng được gặp Sư Ông. Nhưng hình như có linh tính báo cho Sư Ông biết trước nên Sư Ông nói: Con hãy ở lại thêm một ngày nữa để thầy làm lễ truyền đăng cho con trước khi con đi. Khuya hôm sau, một lễ truyền đăng được tổ chức trong chánh điện. Sư Ông đã ban cho thầy bài kệ truyền đăng mà các con đã thấy treo ở trên tường:
Nhất hướng Phùng Xuân đắc kiện hành
Hành đương vô niệm diệc vô tranh
Tâm đăng nhược chiếu kỳ nguyên thể
Diệu pháp Đông Tây khả tự thành
Thầy dịch ra tiếng Việt:
Đi gặp mùa xuân, bước kiện hành
Đi trong vô niệm với vô tranh
Đèn tâm soi chiếu vào nguyên thể
Diệu pháp Đông Tây ắt tự thành.
Ngày xuất gia và được thọ giới sa di, thầy được trao pháp danh là Trừng Quang, pháp tự là Phùng Xuân. Phùng Xuân nghĩa là gặp mùa xuân. Thầy không thích cái pháp tự này mấy, vì thầy cho rằng pháp tự này giống tên con gái. Hồi đó, thầy chưa biết rằng Phùng Xuân là một từ để đối lại với từ Khô Mộc. Khô Mộc tức là cây khô. Giọt nước cam lồ của bồ tát Quan Thế Âm một khi rưới lên cây khô, cây khô đó biến thành một mùa xuân mới.
Trong thiền môn, có những đoàn thể không hiểu tu tập như thế nào mà người ta trở thành những cây khô. Vì vậy ngày nay chúng ta có những danh từ Khô Mộc Đường, Khô Mộc Chúng, v.v… Họ ngồi thiền ngày đêm, mục đích là làm sao để những ước muốn, những mơ tưởng của mình khô cạn hết, như một cây khô vậy thôi; làm sao để giải thoát ra khỏi những khổ đau, những bứt rứt ở trong lòng để đừng đau khổ. Truyền thống thiền đó gọi là “Khô Mộc Thiền”.

Đi Về Hướng Mùa Xuân
Thiền của chúng ta là thiền của tình thương. Chúng ta thực tập thương yêu hai mươi bốn giờ trong một ngày. Chúng ta đi, cốt yếu vì thương mà đi, chúng ta ngồi cũng vì thương mà ngồi, chúng ta ăn cơm cũng vì thương mà ăn cơm, chứ không phải là để làm khô kiệt dòng suối thương yêu trong lòng của chúng ta. Bụt là một con người của tình thương. Chúng ta phải tiếp nối tình thương của Bụt mới được. Ngày xưa, có một vị thiền sư tên là Đại Hải. Ngài có một bài thơ như sau:
Suy tàn khô mộc ỷ hàn lâm
Kỷ độ phùng xuân bất biến tâm
Tiều khách ngộ chi giao bất cố
Dĩnh nhân ná đắc khổ truy tầm
Suy tàn khô mộc ỷ hàn lâm: Nghĩa là một cây khô đang suy tàn, dựa vào một khu rừng lạnh.
Kỷ độ phùng xuân bất biến tâm: Bao nhiêu lần gặp mùa Xuân nhưng cây khô vẫn giữ nguyên thái độ khô khan của nó.Tiều khách ngộ chi giao bất cố: Người tiều phu đi ngang qua, gặp cây khô đó nhưng không thèm nhìn vì nó khô khan, nó lạnh lùng, trông chán lắm! Dĩnh nhân ná đắc khổ truy tầm: Dĩnh tức là kinh đô của nước Sở (bây giờ là Hồ Bắc). Người nước Sở cực nhọc đi tìm mà không thấy được đối tượng của mình, vì cây khô đó chỉ muốn là một cây khô mà thôi.
Trong giới tu học chúng ta, có những người đã quá đau khổ. Mục đích của họ là muốn biến thành cây khô. Tu như vậy không có lợi ích gì mấy cho cuộc đời xung quanh. Vì vậy, ta không thể hiểu được ý nghĩa của Phùng Xuân nếu ta không thấy được bối cảnh của Khô Mộc Thiền.
Trong sách Ngũ Đăng Hội Nguyên, có câu chuyện của một bà cụ. Bà cúng dường cho một vị tu sĩ ở trong một am cốc suốt 20 năm. Ngày nào Bà cũng đem cơm đến để cúng dường cho vị tu sĩ đó. Khi không đi được thì bà nhờ cô con gái đem cơm đến cho thầy. Suốt 20 năm như vậy. Một hôm, bà cụ nói với con gái: Này con, con lên ngồi chơi với thầy, con xin thầy ôm con, thử xem thầy phản ứng như thế nào? Cô thiếu nữ lên am cốc và làm y như vậy. Thầy kia xích ra một bên và đọc hai câu kệ:
Khô mộc ỷ hàn nham
Tam đông vô noãn khí
Nghĩa là:
Cây khô dựa vào hòn núi lạnh. Suốt trong ba mùa đông nó không hề có một chút hơi ấm nào cả! Khi cô gái về báo cáo với mẹ, bà cụ ngửa mặt than rằng: Hai mươi năm cúng dường rất là uổng. Ông thầy tu này không được tích sự gì hết! Chiều hôm đó, bà đến châm lửa đốt cháy túp lều của vị tu sĩ.
Chúng ta tu như thế nào để tình thương trong ta luôn đầy tràn, để niềm tin trong ta không cạn mất. Nếu tu chỉ để làm dịu bớt một vài khổ đau ở trong lòng, hay để chạy trốn khổ đau ở cuộc đời thì chưa phải là tu đúng phương pháp. Tu mà không thấy được những khổ đau ở xung quanh, không đem lại sự chuyển hóa, sự tươi mát và hạnh phúc cho người xung quanh ta thì cách tu đó không phải là bản hoài của Đức Thế Tôn. Vì vậy phải vượt qua giai đoạn “Khô mộc”, phải đi để gặp mùa xuân!! Đó là pháp tự mà Sư Ông đã đặt cho thầy: Phùng Xuân. Nó có một ý nghĩa rất sâu sắc mà hồi đó vì chưa hiểu, vì dại dột, thầy đã cho rằng cái tên này giống tên con gái.
Nhất hướng Phùng Xuân đắc kiện hành
Hành đương vô niệm diệc vô tranh
Câu đầu có chữ Nhất. Câu hai có chữ Hành. Nhất hướng là đi chuyên về một hướng. Hướng đó là hướng Phùng Xuân. Do đó, các học trò của thầy hãy cứ an tâm nhắm vào hướng mùa Xuân mà đi tới. Đắc là được. Kiện hành là một thế đi rất hùng dũng và vững chãi. Đó là Lăng Nghiêm. Tiếng Pháp gọi là “La marche héroique”. Danh từ “la marche héroique” là để dịch chữ surangama. Dịch tiếng hán việt là kiện hành, tức là thế đi hùng dũng. Thế đi của người xuất gia phải là một thế đi dũng cảm. Cho nên, các sư cô và sư chú nên biết mình phải đi như thế nào. Nhất hướng Phùng Xuân đắc kiện hành: Đi về một hướng thôi: gặp được mùa xuân và đạt tới một thế đi vững chãi. Hành tức là hành động. Nếu là động từ thì ta đọc là hành. Nếu là danh từ thì ta đọc là hạnh. Hành tức là active, còn hạnh là action. Hành đương vô niệm diệc vô tranh: Trong hành động, ta phải theo các nguyên tắc vô niệm và vô tranh.
Vô Niệm và Vô Tranh
Vô niệm tức là không để bị kẹt vào ý niệm. Vô tranh nghĩa là không có óc hơn thua, ganh tỵ với người. Trong bao nhiêu năm hành đạo, Thầy thấy vô tranh dễ làm hơn vô niệm. Trong công cuộc hành đạo, khi có người đến tranh chấp và hơn thua với mình thì thầy buông bỏ rất dễ, còn vô niệm thì phải thực tập nhiều mới có thể buông bỏ được. Vô niệm là không bị kẹt vào bất cứ một khái niệm hay một ý niệm nào cả.
Trong kinh Pháp Bảo Đàn, tổ Huệ Năng định nghĩa vô niệm như sau: nhược kiến nhất thiết pháp bất nhiễm trước thị vi vô niệm. Nghĩa là khi mình đối diện với các pháp mà tâm không bị dính kẹt vào đó thì gọi là vô niệm. Như khi thấy một cái hoa thì ta liền khởi lên ý niệm về nó, cho nó là đẹp và muốn nó thuộc về mình. Đó không phải là vô niệm mà là đang kẹt vào một cái niệm. Có một ý niệm về thầy, về bạn, về người hàng xóm của mình, chúng ta có thể bị kẹt vào ý niệm đó và chúng ta vướng mắc, giận hờn hoặc tham đắm là do ý niệm đó.
Một khi chúng ta đã bị kẹt vào bởi ý niệm đó rồi thì hành động của ta không còn tự do nữa. Chẳng hạn như chúng ta có một ý niệm về hạnh phúc. Chúng ta cho rằng phải như thế này, phải như thế kia mình mới có hạnh phúc, và vì chúng ta bị kẹt vào ý niệm hạnh phúc ấy nên chúng ta không có hạnh phúc. Trong khi đó, hạnh phúc có thể đến với ta một cách rất dễ dàng nếu ta có tự do, nếu ta không bị kẹt vào một ý niệm nào. Ví dụ có một sinh viên nghĩ rằng: “mình phải có bằng Tiến sĩ thì mới có hạnh phúc.” Vậy là chết anh ta rồi. Anh ta bị kẹt vào một ý niệm: phải có bằng Tiến sĩ mới có hạnh phúc. Trong khi đó, rất nhiều người hạnh phúc quá chừng mà không cần có bằng Tiến sĩ gì cả! Tại sao anh lại giam anh vào trong một ý niệm để rồi anh khổ? Cho nên những ý niệm của mình rất nguy hiểm, dù là ý niệm về hạnh phúc, ý niệm về lý tưởng, về Bụt. Mình phải có tự do hoàn toàn. Trong hành động, chúng ta phải có tự do, phải vô niệm, phải vô tranh thì hành động đó mới là hành động đích thực.
Trong ba mươi năm ở quốc ngoại, thầy đã cố gắng đi theo lời chỉ dẫn của Sư Ông. Trong những năm hành đạo ở quê nhà, thầy đã sáng lập Viện Đại Học Vạn Hạnh, trường Cao Đẳng Phật Học, trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, nhà xuất bản Lá Bối, tuần san Hải Triều Âm, tuần san Thiện Mỹ, v.v… Trong lĩnh vực văn hóa và xã hội, thầy đích thực thấy câu thứ hai này là kim chỉ nam hướng dẫn cho đời mình. Thầy luôn sống và hành động với tất cả con tim mình để phụng sự mà cố gắng không bị dính kẹt vào một ý niệm, một phe phái hay một sự tranh chấp nào cả.
Tâm Đăng Nhược Chiếu Kỳ Nguyên Thể
Tâm đăng là cây đèn trong tâm. Mỗi chúng ta đều có một cây đèn bên trong. Chính cây đèn này chúng ta phải thắp lên. Đó là ánh sáng chánh niệm. Ánh sáng duy nhất để chiếu soi vào những ngõ ngách của tâm hồn. Tâm đăng nhược chiếu kỳ nguyên thể: lấy ngọn đèn tâm mà soi rọi trở lại cái bản chất, cái thể tính của mình. Làm được như vậy thì: Diệu pháp Đông Tây khả tự thành. Cái chánh pháp mầu nhiệm tự động được thành tựu thôi, dù ở phương Đông hay phương Tây.
Những năm gần đây, có khi thầy bất giác giật mình. Dường như Sư Ông đã biết trước rằng thầy có thể đóng góp được ít nhiều cho công trình hoằng pháp ở cả Tây phương và ở Đông phương. Ngày xưa, khi leo lên máy bay để qua Tây phương, thầy không hề có ý niệm ở lại Tây phương để hoằng pháp. Nhưng sau khi thầy đã lên tiếng kêu gọi hòa bình rồi, thì các chánh phủ ở Việt Nam không cho phép thầy trở về nước nữa.
Bây giờ chúng ta đi sang danh từ Nhất hành. Nhất là một và hành là hành động. Có một tam muội gọi là nhất hạnh tam muội, có khi gọi là chân như tam muội, có khi gọi là nhất tướng trang nghiêm tam muội. Kinh luận giải thích: trong tam muội này ta quán chiếu được cái tướng nhất như bình đẳng của tất cả các pháp. Đưa mắt nhìn ra, ta thấy vạn sự vạn vật muôn hình vạn trạng, khác biệt nhau và tách rời nhau ra. Nhưng nếu quán chiếu thì ta sẽ thấy tất cả những cái khác nhau đó đều cùng chung một bản thể. Tuy là đa dạng, nhưng nằm dưới cái đa dạng đó có cái một, cái nhất như và cái bình đẳng, vì vậy không cái nào hơn cái nào.
Đứng về phương diện hình tướng thì một trái núi lớn hơn một hạt sỏi và chúng ta thấy có sự chênh lệch giữa một trái núi và một hạt sỏi. Nhưng đứng về phương diện nội dung thì trái núi và hạt sỏi là một, chứ không có sự khác biệt. Trái núi mầu nhiệm bao nhiêu thì hạt sỏi cũng mầu nhiệm bấy nhiêu. Nếu không có trái núi thì không có hạt sỏi. Nếu không có hạt sỏi thì không có trái núi. Đứng về phương diện Bụt và chúng sanh cũng vậy. Nếu nhìn về phía hình thức, chúng ta sẽ thấy Bụt khác, chúng sanh khác. Bụt có đại từ, đại bi và đại trí, có thọ mạng vô lượng, còn chúng sanh có tham, sân, si, có sanh tử luân hồi. Nhưng sự phân biệt đó sẽ tan biến đi khi ta an trú vào trong “nhất hạnh tam muội”. Khi quán chiếu ta sẽ thấy được tính cách bình đẳng và nhất tướng của mọi sự và mọi vật trong pháp giới. Tướng đó gọi là tướng “vô sai biệt”.
Tâm Đăng
Theo phương pháp quán chiếu của nhất hạnh tam muội, trong những tư thế hằng ngày của ta như đi, đứng, nằm, ngồi, tâm ta luôn hướng về cái “định” đó để ta có thể thấy được không có cái gì lớn hơn cái gì, không có cái gì nhỏ hơn cái gì, không có cái gì cao hơn, không có cái gì thấp hơn và chúng ta thấy được tính cách nhất như bình đẳng của vạn sự vạn vật. Ta không cần bước ra khỏi đạo tràng mà vẫn có thể đi vào cõi Hoa nghiêm, cõi Tịnh độ. Đó là định nghĩa của Thầy Long Thọ trong tác phẩm Đại Trí Độ Luận.
Thực tập theo khuynh hướng tịnh độ, ban đầu tâm của chúng ta duyên tưởng tới một vị Bụt như Bụt Thích Ca, Bụt Từ Thị hay Bụt Di Đà. Chúng ta để tâm của ta quán chiếu thường trực từ giây phút này tới giây phút khác. Qua vị Bụt đó, chúng ta liên hệ được với tất cả các vị Bụt trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Chúng ta thấy rằng dù cho tất cả các vị Bụt đông đảo bằng số cát sông Hằng, chúng ta vẫn có thể tiếp xúc được qua một vị Bụt và chính bản thân ta cũng là một vị Bụt. Qua bản thân ta, ta có thể tiếp xúc được với tất cả các vị Bụt ở quá khứ, hiện tại và tương lai. Đó là định nghĩa trong kinh Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa.
Tại đạo tràng Làng Mai, chúng ta thường thực tập theo tinh thần này. Ban đầu, chúng ta dùng chánh niệm, để thắp lên ngọn đèn tâm. Trong bài kệ này Sư Ông gọi ngọn đèn ấy là “tâm đăng”. Khi ăn cơm, ta biết là ta ăn cơm. Ngồi với tăng thân, ta biết ta đang ngồi với tăng thân. Ngọn đèn của ta đang cháy. Nếu ngồi với tăng thân mà mơ tưởng đến chuyện khác, đến quá khứ, đến tương lai, hoặc lo âu buồn rầu là ngọn đèn của ta đang tắt. Dù thầy đã có truyền cho ta cây đèn rồi thì cây đèn ấy cũng đang bị tắt như thường. Tâm đăng là cây đèn của lòng mình, phải thắp sáng không những mỗi ngày một lần mà phải thắp sáng suốt ngày trong mỗi giây mỗi phút, tại vì ngọn đèn đó là để chiếu sáng hiện hữu của chúng ta.
Trong bài kệ của Sư Ông, ta thấy: “Tâm đăng nhược chiếu kỳ nguyên thể”, nếu cây đèn tâm chiếu được vào nguồn gốc của nó thì ngọn đèn đó là một năng lượng ánh sáng rất thật, chứ không phải là một cái gì trừu tượng. Tất cả chúng ta đều biết ngọn đèn đó là ngọn đèn gì. Trong chúng ta đây ai cũng đều đã học được cách thắp nó lên và giữ cho nó cháy sáng từ niệm này sang niệm khác, từ giờ phút này sang giờ phút khác. Nhờ ánh sáng đó mà chúng ta thấy biết chuyện gì xảy ra trong giây phút hiện tại. Trong thế giới của cảm thọ, khổ thì ta biết là khổ, vui thì ta biết là vui, không khổ không vui thì ta biết là không khổ không vui. Trong thế giới của tri giác, có một ý niệm thì biết là mình có một ý niệm, có một tri giác thì biết là mình có một tri giác. Đó là cái nguyên thể, tức là tâm của mình. Đèn tâm thắp lên từ tâm, trở lại chiếu rọi vào tâm. Phải thắp lên mới thấy được tâm của mình.
Nhiều khi tâm của mình đi những nước cờ rất lạ lùng, mình không thể biết. Mình tưởng là mình không như vậy, kỳ thực là mình đang như vậy. Mình có những ganh tỵ, giận hờn, đam mê, v.v… mà mình không biết là mình có. Rồi mình dùng những lý luận rất hay, tự biện hộ rằng: “cái đó không phải đam mê, cái đó không phải là giận hờn, v.v…” Trong tất cả chúng ta luôn luôn có mặt một ông trạng sư. Ông này tìm cách bào chữa cho ta để cho ta có những cảm giác dễ chịu. Nếu không cẩn thận, không có chánh niệm ta sẽ bị đánh lừa, dễ gây đổ vỡ và khổ đau cho chính ta và những người xung quanh, những người mà ta đã nguyện thương yêu và che chở.
Thực tập của chúng ta là thắp ngọn đèn tâm lên và giữ cho nó sáng cả ngày đêm. Khi nó tỏa ra ánh sáng thì ta phải theo ánh sáng đó mà nhìn, mà quan sát. Chính nhờ sự quan sát này mà chúng ta thấy được sâu sắc trong lòng của sự vật, trong lòng của những tri giác và những cảm thọ của chính mình và nhờ đó mà mình hiểu được mình. Chính từ cái thấy của mình mà mình được chuyển hóa, được giải thoát. Sự cứu độ, sự cứu chuộc (tiếng Pháp gọi là le salut) và sự giải thoát (la liberation) hoàn toàn căn cứ vào cái yếu tố gọi là “cái hiểu”.
Trong Cơ Đốc giáo, chúng ta nghe nói đến sự cứu chuộc bằng ân sủng của Thượng đế. Trong đạo Bụt, sự cứu độ chính là bằng sự hiểu biết, bằng tuệ giác (la compréhension). Tuệ giác của ta giải phóng cho ta. Có thể gọi Tuệ giác là Thượng đế cũng được. Nhưng Tuệ giác làm sao có được nếu đèn tâm không được thắp lên? Chúng ta, những thiền giả đang thực tập, mỗi người đều có một ngọn đèn trong tâm. Sự thực tập của chúng ta là thắp ngọn đèn đó lên để quán chiếu ngày đêm, từ giây phút này sang giây phút khác, không ngừng nghỉ. Cái đó gọi là “nhất hạnh tam muội”. Khi đã quán chiếu sâu sắc, ta sẽ thấy ta và thầy là một, ta với muôn loài chúng sanh là một. Có được cái thấy bình đẳng và nhất như đó, ta đạt đến cái trí gọi là “vô phân biệt trí”. Nhất hạnh tam muội là như thế đó! Vậy là quý vị có thể hiểu được ý nghĩa của hai chữ “nhất hạnh” rồi.
Công Án
Năm 1946, nước ta đang có chiến tranh với Pháp. Việt Nam tuyên bố độc lập năm 1945, nhưng với sự che chở và nâng đỡ của phái bộ Anh, quân đội Pháp trở lại. Quân đội nhân dân tổ chức kháng chiến để chống lại quân Pháp. Và khi thành phố Huế bị phong tỏa, tất cả thầy trò đang ở chùa Từ Hiếu được lệnh phải tản cư. Mọi người khăn gói đem theo một ít lương thực cùng vài chai tương. Tưởng rằng chỉ đi vài tuần rồi trở về chứ không ngờ phải đi hàng tháng. Cuối cùng, thức ăn hết. Chỉ còn một phần ba chai tương, thầy trò mới lấy muối và nước sôi đổ thêm vô cho đầy. Ăn xuống còn nửa chai, lại thêm muối và nước sôi nữa. Rốt cuộc tương không còn mùi tương nữa, chỉ là nước muối. Nhiều khi phải đi hái rau tàu bay, rau dền, rau sam ở dưới lòng suối mà ăn.
Trước khi tản cư, thầy trò đã đào những cái hố rất lớn ở ngoài vườn, đặt xuống những cái chum, cái lu rồi trút lúa vào, lấp đất lại. Phải chôn đi để khi về có lúa mà ăn. Sau khi hồi cư, thầy nhớ, một hôm Sư Ông gọi hai sư chú Phùng Xuân và Thiên Chân ra đào một chum lúa về xay để ăn. Hôm đó, Sư Ông cũng ra làm việc với hai chú. Trời nắng gắt, làm được một lúc, Sư Ông đứng dậy. Hai chú ngừng lại nhìn thấy Sư Ông mồ hôi ra nhễ nhãi. Sư Ông nói: “Mệt quá! Chắc khi nào chết thì mới hết mệt”. Thầy còn đang ngơ ngẩn nhìn Sư Ông thì Sư Ông nhìn thẳng vào mắt thầy và nói tiếp: “Nhưng nếu chết rồi thì ai hết mệt?”. Câu nói rất đơn sơ mà thầy nhớ mãi. Nó trở thành một công án của thầy. Làm thị giả cho thầy, đôi khi một câu nói của thầy cũng đủ để cho mình tu suốt đời, đủ để quán chiếu suốt đời.
Có chánh niệm thì ta học rất mau và tiến rất mau trên đường tu tập. Ta sẽ không lặp lại những lầm lỗi mà ta đã vấp phải trong quá khứ. Có một lần được Sư Ông sai bảo, thầy đã hăng hái đi làm, do đó đã mở cửa ra và đóng cửa lại thiếu chánh niệm. Sư Ông kêu vào, không la mắng gì cả. Ngài bảo: Bây giờ con hãy đi ra lại, rồi mở cửa và đóng cửa thế nào cho hay hơn hồi nãy. Thầy xá rồi đi ra. Lần này, Thầy mở cửa và đóng cửa rất có chánh niệm. Sư Ông chỉ cần dạy một lần đó thôi! Sư Ông không cần phải dạy lần thứ hai. Nếu tâm ta không có chánh niệm thì những câu nói đó sẽ qua đi như làn gió thoảng. “Nhưng nếu chết rồi thì ai hết mệt ?” Đó là một công án rất sâu sắc.
Chúng ta ai cũng có thể gây lầm lỗi, không ai tránh thoát, vì chúng ta không phải là thánh. Tu tập chánh niệm giúp ta thấy được điều đó. Đôi khi một vài năm sau, chúng ta mới biết là chúng ta có lỗi. Có thể chúng ta đã lỡ lời, có thể chúng ta đã xúc phạm. Điều quan trọng là khi đèn tâm của chúng ta thắp lên thì ta biết rằng: ta đã làm một điều vụng dại. Nếu thấy được như vậy và dặn lòng là sẽ không lặp lại điều lầm lỗi đó nữa thì chỉ một lần lầm lỗi kia thôi cũng đủ để ta học suốt đời.
Trong cuộc tấn công tết Mậu Thân 1968, tức là hai năm sau khi thầy rời bỏ quê hương, có một trái bom rơi vào chùa Từ Hiếu nhưng chỉ làm sập đổ một góc mái nhà mà không gây thiệt hại nào khác. Sau đó, chừng một vài tháng Sư Ông qua đời. Thầy nhận được tin từ Pháp. Sư Ông qua đời mà thầy không về được, vì thầy không được phép về quê hương. Thầy buồn lắm! Trong những người thầy viết thơ để than thở có một ông thầy tu người Cơ Đốc giáo. Đó là cha Thomas Merton, ở tu viện Trappist tiểu bang Kentucky. Cha Merton là một người tri kỷ của thầy, đã cùng Thầy trao đổi rất nhiều kinh nghiệm tu học. Thầy viết cho Thomas về cái tin buồn đó. Cha Thomas viết lại an ủi thầy một câu rất hay: “Thầy của thầy bây giờ hoàn toàn tự do, chúng ta nên vui về sự ra đi tự do của ngài”. Thầy cảm thấy được an ủi rất nhiều nhờ câu nói đó.
Nhiều khi thầy nằm mơ về chùa, thấy mình bước lên tam cấp vào Ái Nhật Đường. Liêu của Sư Ông nằm về phía tay trái, mỗi khi đi đến đó thầy luôn cúi đầu xuống dù Sư Ông có ngồi đó hay không. Đó là một tập quán. Mỗi lần nằm mơ được đi về chùa, thầy thấy Sư Ông vẫn còn đó, Sư Ông ra đón thầy. Tình thầy trò vẫn luôn đậm đà, ấm áp như cũ. Sự cung kính, sự thương yêu vẫn còn nguyên vẹn, dầu Sư Ông đã tịch hay chưa tịch, bởi trong trái tim của thầy luôn có Sư Ông.
Hôm nay, chúng ta ngồi đây có Sư Ông đang ngồi với chúng ta -Sư Ông Thanh Quý hiệu Chân Thật – một con người bản tính rất chân thật, rất hiền từ. Thầy còn nhớ rõ là mỗi buổi sáng, khi tăng thân ra làm các công việc thì Sư Ông cũng ra làm việc với mọi người. Ngài đội chiếc nón vành rất lớn, tay cầm chiếc gậy, tới làm việc với nhóm này một chút, nhóm kia một chút. Đó là niềm vui buổi sáng của Sư Ông.
Thầy có bổn phận phải trao truyền Sư Ông lại cho các con. Hiện bây giờ, Sư Ông đang nằm trong trái tim của mỗi người chúng ta. Thầy cũng như các con là sự tiếp nối của Sư Ông, của Bụt, của Tổ. Chúng ta có chung một dòng sinh mạng. Mỗi ngày chúng ta càng có thêm tuệ giác: tuệ giác của Bụt, của Tổ, của cha ông và của tổ tiên để lại. Chúng ta phải tiếp tục chế tác tuệ giác đó để có thể sống an lạc và tỉnh thức trong từng phút, từng giây, và mang sự an lạc và hạnh phúc đó trao truyền cho con cháu thế hệ mai sau.
Chúng ta không thể chỉ trao truyền một mớ kiến thức khái niệm mà phải trao truyền sự sống an lạc, giải thoát của chúng ta. Chúng ta phải làm sao để cho tình thương và tuệ giác mãi mãi tuôn chảy trong cuộc đời này. Đó là cách hay nhất, cao quý nhất mà chúng ta báo ơn Thầy Tổ, báo ơn Bụt.
Những bài có liên quan:
– Sư Cố Thanh Quý Chân Thật (Sư Thúc Chí Mậu chia sẻ) : https://langmai.org/tang-kinh-cac/la-thu-lang-mai/la-thu-lang-mai-28-2005-1/su-co-thanh-quy-chan-that
– Tưởng niệm Sư Tổ Thanh Quý: https://langmai.org/tang-kinh-cac/loi-quan-nguyen/tuong-niem-su-to-thanh-quy
Đường về nhà
(Phiên tả pháp thoại của Sư Ông Làng Mai vào đêm Giao thừa Tết Mậu Tý – ngày 06.02.2008)
Hôm nay là ngày 30 Tết. Bây giờ tại thiền đường Nước Tĩnh, xóm Thượng là 3 giờ 8 phút chiều. Ngày Tết Việt Nam có giá trị tương đương với ngày Giáng sinh ở Tây phương. Ở Tây phương trong ngày Giáng sinh, người nào cũng tìm cách về với gia đình. Tuần trước bên Trung Quốc có bão tuyết rất nhiều. Hàng trăm ngàn người bị giữ lại phi trường vì máy bay không cất cánh. Xe lửa ở nhà ga cũng không chạy được. Rất nhiều người lo lắng mình sẽ không về nhà kịp để ăn Tết. Hôm nay không biết đã có bao nhiêu người về được tới nhà?
Trong chúng ta ai cũng có niềm thao thức muốn về nhà. Nhà là một nơi mà ở đó chúng ta cảm thấy đầm ấm, hạnh phúc và được ôm ấp bởi tình thương. Có những người chưa bao giờ từng có nhà, tại vì tuổi thơ của họ có nhiều sóng gió. Bố mẹ chưa bao giờ thương nhau, làm khổ nhau và gia đình tan vỡ. Có những người trong chúng ta may mắn tìm được tới tăng thân và tìm thấy nhà của mình nơi tăng thân. Cũng có nhiều người trong chúng ta vừa có gia đình huyết thống vừa có gia đình tâm linh. Hai gia đình đó nâng đỡ nhau, nương tựa nhau. Gia đình huyết thống nâng đỡ, giúp xây dựng gia đình tâm linh và gia đình tâm linh nâng đỡ, giúp xây dựng lại gia đình huyết thống.
Việt Nam có câu ca dao:
“Chim bay về núi tối rồi
Sao không lo liệu còn ngồi chi đây?”
Trời đã tối, những con chim bay về núi vì ở đó có nhà của chúng. Còn anh, tại sao lại ngồi thơ thẩn mà chưa lo về nhà đi thôi?
Vua Trần Thái Tông là một người thực tập Thiền rất sâu sắc. Ngài là một nhà Phật học đã sáng tác những tác phẩm về Thiền được truyền lại cho đến nay. Vua đã nói tới sự tu tập như là để về được nhà của mình. Vua đã chú giải Kinh Kim Cương Tam Muội và trong bài tựa Vua đã viết như thế này:
“Chỉ vì sự tập hợp huân nhiễm lâu đời của chúng sanh mà phát ra sóng gió tri kiến của thần thức (tức là hành duyên thức). Vì chúng sanh buông mình theo con đường ô trược che lấp nên không biết đem ánh sáng tuệ giác để chiếu soi, khiến cho bốn phương thành ra xứ lạ, mơ hồ cho nên không biết rõ lối về nhà”.
Nếu chúng ta cảm thấy chung quanh ta xa lạ, cảm thấy bơ vơ không nơi nương tựa, ta cảm thấy mình không có quê hương là tại vì ta không biết dùng ánh sáng của tuệ giác để chiếu soi. Khi chiếu soi được thì ta biết ngay con đường về nhà. Con đường về nhà không xa, ta không cần lâu ngày để đi về. Trong bốn mươi ba công án của vua Trần Thái Tông, có công án liên hệ tới vấn đề “về nhà’’.
Cử (chủ đề của công án): Một vị xuất gia hỏi Đức Văn Thù: “Nếu tất cả vạn pháp quay về một pháp thì pháp đó quay về đâu?” (Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ?) Đó là câu hỏi, là một công án. Tất cả đi về một, vậy một đi về đâu? Đức Văn Thù trả lời: “Chín khúc sông Hoàng Hà”.
Sông Hoàng Hà (Yellow River) là một con sông rất dài, có những đoạn có thác có ghềnh, mà chín khúc thì con đường về cũng khá xa.
Vua Trần Thái Tông đưa ra lời Niêm (lời nhận xét ý nghĩa của công án):
“Hữu thời nhân hảo nguyệt
Bất giác quá Thương Châu.”
Có nghĩa là: Gặp lúc vui trăng sáng, không ngờ vượt Thương Châu. May mắn mình tiếp xúc được và vui với ánh trăng thì mình vượt qua được chín khúc sông Hoàng Hà trong giây lát.
Bài Kệ (kệ tụng hướng dẫn để nhìn sâu vào công án) là:
“Hoàng hà cửu khúc vị quân cử
Một thiệp đồ trình tự đáo gia
Bạch trú kỷ đa khai nhãn vọng
Bất tri Diêu tử quá Tân La.”
Trong Sử Luận dịch:
“Chín khúc sông Hoàng khai tuệ nhãn
Đường xa không bước vẫn về nhà
Mở mắt bao lần quan sát lưới
Không dè chim hạc đã bay qua.”
Nếu có tuệ nhãn thì con đường không phải là chín khúc sông Hoàng Hà nữa mà ta về nhà ngay trong một khoảnh khắc. Đâu cũng là nhà. Vì vậy tuệ giác rất quan trọng!
Trong bài kệ mà vua Trần Thái Tông viết về bốn ngọn núi cũng có một bài nói đến chuyện ‘‘về nhà”. Đối với vua thì mỗi người trong chúng ta đều có sự thao thức muốn về nhà. Có thể vì những nguyên do nào đó mà ta bị lưu lạc, ta cảm thấy không có gốc rễ, không có quê hương. “Tứ sơn” tức là bốn ngọn núi. Đây là hình ảnh Đức Thế Tôn đưa ra khi thuyết pháp cho vua Ba Tư Nặc (Pasenadi). Một hôm, Đức Thế Tôn nói với vua Ba Tư Nặc:
– Giả dụ trong lúc Bệ hạ đang ngồi chơi thì quân tình báo tới nói với Bệ hạ là ở phương Bắc có một ngọn núi lớn đang từ từ di chuyển lại gần. Một đoàn thám tử khác lại đến báo cáo rằng ở phương Nam có một ngọn núi rất lớn đang di chuyển tới gần, và phương Tây, phương Đông cũng vậy. Mỗi phương có một ngọn núi đang di chuyển tới gần, áp lại và mình không còn không gian để sống nữa. Nếu vua nghe tin đó thì sẽ phản ứng như thế nào? Bốn ngọn núi đó tượng trưng cho sinh, lão, bệnh, tử, tức bốn tai nạn của con người.
Sinh, lão, bệnh, tử là bốn tai họa, bốn sự thật. Chúng đang vây quanh, đang xáp lại từ từ. Trong khi đó thì ta không thấy mà cứ nhởn nhơ. Như vậy thì làm sao mà một ngày nào đó ta có thể thoát được?
Vua Ba Tư Nặc nói:
– Nếu biết bốn tai nạn (sinh, lão, bệnh, tử) đang vây quanh và đang siết chặt thì con đường duy nhất là phải tu tập trong giây phút hiện tại để có thể thoát ra.
Bụt nói:
– Hay lắm!
Vua Trần Thái Tông khi đọc tới đoạn kinh về bốn ngọn núi đó thì có cảm hứng. Vua đã ngồi thiền về bốn núi và đã chứng ngộ. Vua ngồi xuống viết một bài về bốn núi sinh-lão-bệnh-tử, và đây là bài kệ thứ nhất trong bốn bài kệ đó (Nhất Sơn Kệ). Trong bài kệ này, vua Trần Thái Tông muốn nói: Hãy tỉnh dậy và tìm đường về nhà lập tức.
“Chân tể huân đào vạn tượng thành
Bản lai phi triệu hựu phi manh
Chỉ sai hữu niệm vong vô niệm
Khước bội vô sinh thụ hữu sinh
Tị trước chư hương thiệt tham vị
Nhãn manh chúng sắc nhĩ văn thanh
Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách
Nhật viễn gia hương vạn lý trình.”
Bản dịch của Thầy Làng Mai:
“Chân như huân đúc vạn muôn hình
Vốn không tướng trạng diệt và sinh
Cũng do hữu niệm quên vô niệm
Nên bỏ vô sinh chuốc hữu sinh
Mũi vướng hương thơm lưỡi vướng vị
Mắt mờ sắc tướng tai âm thanh
Lênh đênh làm khách phong trần mãi
Ngày hết quê xa vạn dặm trình.”
Hai câu cuối có nghĩa là cứ đi lang thang suốt đời (Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách), trong khi đó thì ngày tháng đã hết và quê hương thì còn rất xa (Nhật viễn gia hương vạn lý trình). “Gia hương” là quê nhà, còn “vạn lý trình” là xa ngàn vạn dặm.
Bài kệ nói: Vì không có tuệ giác, vì vọng tưởng nên đánh mất vô sinh mà vướng vào hữu sinh, đánh mất vô niệm mà vướng vào hữu niệm. Triết lý của bài kệ rất sâu sắc, chứng tỏ kiến thức về Phật học của vua Trần Thái Tông rất thâm uyên.
Hai câu “Lênh đênh làm khách phong trần mãi, ngày hết quê xa vạn dặm trình” một lần nữa cho ta thấy: Đối với vua Trần Thái Tông, sự tu tập hàng ngày là để có thể trở về quê hương đích thực của mình.
Xây dựng quê hương mới để trị liệu và chuyển hóa
Trong mấy tuần qua, khi học Hoa Nghiêm kim sư tử chương, chúng ta có nói về tinh cầu nhỏ của Hoàng tử bé. Hoàng tử bé đã tới từ tinh cầu của mình. Mỗi chúng ta đều có một tinh cầu riêng. Đó là thế giới của tuổi thơ, của kỷ niệm, của cái gì rất riêng biệt của mình. Ta đến với tăng thân từ tinh cầu của riêng ta. Trong tinh cầu riêng của ta có thể có sóng gió, có nỗi buồn đau, có những kỷ niệm, những thương yêu và hạnh phúc. Nơi đó có thể là nhà, là quê hương của ta, quê hương tuổi thơ. Nơi đó cũng có thể có những vết thương sâu đậm chưa lành mà ta còn đang mang trong lòng. Khi tới với nhau như một tăng thân chúng ta thành lập một tinh cầu mới, một tinh cầu tập thể. Từ những tinh cầu cá nhân, chúng ta tới với nhau để lập ra một quê hương mới có tính cách tập thể. Đó là gia đình tâm linh của chúng ta. Chúng ta đã xây dựng tinh cầu đó. Tăng thân là một nơi nương tựa. Nếu tạo được tình huynh đệ, tạo được kỷ niệm đẹp và tình thương thì tinh cầu đó sẽ là quê hương mới của chúng ta và cũng là nơi nương tựa cho những người khác.
Ta hãy tưởng tượng có một số tinh cầu nhỏ sắp thành vòng tròn và ở giữa là tinh cầu mới, tinh cầu chung của tất cả mọi người. Chúng ta đang cùng xây dựng tinh cầu mới đó. Ta đang học cách xây dựng. Có thể trong quá khứ vì lỡ lầm nên ta đã gây ra khổ đau và tan vỡ. Những kỷ niệm đó còn trong ta. Khi tới với nhau như một tăng thân, chúng ta tạo ra một thế giới mới. Vì được thừa hưởng tuệ giác của cha ông nên ta biết cách xây dựng trở lại. Những cái ta xây dựng trong tinh cầu mới có tác dụng chữa trị những đổ vỡ, những vết thương trong tinh cầu bé nhỏ của ta. Chúng ta có một quá khứ. Quá khứ đó có thể có những kỷ niệm êm đẹp, có tình thương và sự ấm áp. Quá khứ đó cũng có thể có những vết thương rất nặng, những tan vỡ, những buồn đau. Nhưng ta không thể từ chối quá khứ đó, tại vì đó là gia tài, là tinh cầu của ta. Ta đem quá khứ đó tới trong hiện tại. Và nhờ tiếp xúc được với tăng thân, với pháp Bụt mà ta biết cách để trở về dọn dẹp, tái thiết và xây dựng lại tinh cầu riêng của mình.
Có những sư cô, sư chú hay những Phật tử cư sĩ đã đạt tới sự chuyển hóa sau khi tu học một thời gian. Họ đã đem hạnh phúc đó về nhà để giúp cho bố mẹ và anh chị em chuyển hóa. Như vậy quá khứ vẫn còn trong hiện tại. Sự tu tập của chúng ta có khả năng thay đổi cả quá khứ. Pháp Bụt rất cao siêu, rất mầu nhiệm. Ta có thể sử dụng mỗi giây phút để làm mới lại, trị liệu và chuyển hóa. Trong khi xây dựng tăng thân trong giây phút hiện tại thì ta cũng đồng thời xây dựng lại quá khứ của mình. Tại vì ta có hiện tại và có quá khứ cho nên ta cũng có một tương lai, như ý trong một bài hát của Tịnh Thủy: “Ta vẫn có ngày mai, ta vẫn còn quá khứ”. Biết rằng mình vẫn còn quá khứ, mình vẫn có ngày mai nên hôm nay mình có thể sống an lạc, nhịp nhàng trong tình huynh đệ.
Nét đặc biệt trong văn hóa Việt Nam
Trong văn hóa Việt Nam có những yếu tố rất lạ kỳ. Ta sẽ không tìm ra được chữ trong ngôn ngữ Việt Nam để dịch từ “I” và “You”. Người ngoại quốc rất ngạc nhiên, họ hỏi làm sao mà ta có thể nói chuyện được nếu không dùng từ “I” và “You”? Vậy mà người Việt vẫn nói chuyện được. Chữ “tôi” mà ta dùng để dịch chữ “I” có nghĩa là mình chỉ đáng làm tôi tớ của người kia thôi. “Tôi” là chữ dùng để xưng đối với vua, với chủ của mình như “vua-tôi”, “quân-thần”. Vua tức là “quân”, “thần” tức là tôi. Chữ “tôi” từ đó mà ra. “Tôi” là tôi tớ, dịch cho đúng nghĩa là: your servant (À votre service, je suis votre servant). Chữ “ông” có nghĩa là my grandfather.
Lúc gặp nhau, trước khi nói chuyện thì người Việt phải thiết lập một sự liên hệ gia đình. Nếu người kia trẻ hơn thì mình gọi người đó là “em”, nếu người kia trẻ lắm thì mình gọi là “cháu” hay là “con”. Nếu người kia lớn hơn thì ta gọi là “chị”, là “anh”. Nếu người kia lớn lắm thì ta có thể gọi là “cô” hay “dì”. Nhưng bất kỳ chữ nào được sử dụng để gọi người kia cũng phải định rõ được chức vị trong gia đình. Gặp người lớn thì mình thưa “chú” hay thưa “bác”, thưa “ông” hay thưa “cụ”. Tất cả đều không phải là “you”. Trước khi nói chuyện với một người thì ta phải thiết lập sự liên hệ thân tộc với người đó. Gặp một em bé chưa quen ta gọi nó là “em” (younger brother, younger sister) hay “cháu” (nephew, niece). Trong tiếng Việt không có chữ “I” hay chữ “you”. Đó là một nét rất đặc biệt, khi ra đường mình chỉ gặp toàn là người thân trong gia đình.
Ngày xưa, người trong gia đình ra ngoài lập làng, cho nên lên xóm trên, xuống xóm dưới gì ta cũng gặp người trong gia đình, không có người xa lạ. Xã hội cũng được tổ chức như vậy, người nào cũng là em hoặc cháu, chị hoặc anh, ông hoặc bà mà không thể là một cái “you” lạnh ngắt và không có vị trí. Đó là một nét rất đặc biệt của văn hóa Việt Nam.
Có một điều lạ là khi hai vợ chồng gọi nhau thì cũng xưng là “anh” (big brother) và “em” (younger sister). Người chồng hay người vợ nói về vợ hay chồng mình thì gọi đó là “nhà tôi” (my home). Muốn giới thiệu vợ (chồng) với bạn thì nói: “Đây là nhà tôi” (This is my home). Người kia là nhà của mình, là quê hương, là chỗ mình nương náu. Khi cưới nhau thì người kia chính là ngôi nhà rất êm ấm của mình. Các bà, tuy có rất nhiều quyền, nhưng cũng nói rất khiêm nhượng: “Bác ơi, ở đây cái gì nhà tôi cũng lo hết! Tôi đâu có biết làm gì đâu.” Ông chồng cũng trả lời như vậy. Khi người ta hỏi:
- Chị có ở nhà không anh?
Thì anh trả lời:
- Nhà tôi có ở nhà.
Câu trên dịch ra tiếng Anh là “My home is at home”, rất là buồn cười! Người vợ hay người chồng, người bạn lứa đôi của mình chính là nhà của mình. Nếu cơm không ngon, canh không ngọt thì rất khó ở nhà. Vì vậy sự thực tập của một cặp vợ chồng là phải làm thế nào để mình mãi mãi còn là nhà của người kia và người kia vĩnh viễn là nhà của mình. Trong văn hóa có những dấu hiệu, những hướng đi như vậy.
Tăng thân cũng là nhà của mình. Mỗi khi rời xa tăng thân thì mình thương, mình nhớ. Ngày xưa trong Phật học đường, tôi đã từng ở với các sư chú và tôi chăm sóc, thương yêu họ rất nhiều. Khi ra ngoại quốc có những đêm tôi nằm mơ thấy toàn là các sư chú. Họ ở trong cư xá, một phòng có năm bảy người, mỗi người có một cái rương nhỏ dưới gầm giường để đựng sách vở, áo quần. Đời sống trong Phật học đường là như vậy, mình sống với nhau và làm phát hiện ra tình huynh đệ. Chính tình huynh đệ đã nuôi dưỡng mình trong thời gian đó. Sau này lỡ có phải rời xa thì mình thương nhớ tăng thân, đó là nhà của mình.
Làng Mai có xóm Thượng, xóm Hạ, xóm Mới và Sơn Hạ. Nếu được đề nghị sang Hoa Kỳ hay về Việt Nam thì mình hơi buồn tại vì mình phải xa tăng thân. Nhưng mình sang Bích Nham hay Lộc Uyển cũng là để xây dựng tăng thân. Sang đó ở được ba bốn tháng, có sự lưu luyến thì nơi đó sẽ trở thành nhà của mình. Bên này là nhà mà bên kia cũng là nhà!
Thân thể cũng là nhà
Nhà, hay quê hương là kết quả của sự tạo dựng, sự tu tập. Nếu trong quá khứ, trong thời thơ ấu mình không có phước được có nhà, được có quê hương đầm ấm của tuổi thơ thì bây giờ bằng sự tu tập, mình xây dựng cho mình một quê hương, một tổ ấm ngay trong giây phút hiện tại. Thân thể cũng là nhà của mình, mình trở về thân thể của mình. Ta đã được học là thân ta có những căng thẳng, đau nhức, bất an. Trở về với thân thể để lấy đi những căng thẳng, đau nhức, bất an cũng là một cách xây dựng nhà của mình.
Đức Thế Tôn dạy ta kinh Niệm Thân, dùng hơi thở để trở về với thân thể của mình, buông thư những căng thẳng, làm dịu đi những đau nhức nơi cơ thể. Đem tâm trở về với thân để cho thân tâm nhất như (thân hợp nhất với tâm), để thân có cơ hội nghỉ ngơi, đó cũng là một hành động “về nhà”. Điều này rất cần thiết, rất cơ bản! Nhà trước hết là cơ thể của mình. Nếu ta oán hận, thù ghét thân thể mình thì làm sao ta có được nhà? Nhà trước hết là cơ thể bằng xương bằng thịt. Trong giáo lý của Đức Thế Tôn, ta thấy rất rõ những phương pháp đem tâm trở về với thân để làm cho thân êm dịu. Chúng ta có bài thực tập “Quay về nương tựa hải đảo tự thân”. Thân mình là một phần của hải đảo đó. Đó là nhà của mình!
Lúc 3 giờ chiều nay chúng ta đã ngồi với nhau, đã ý thức được rằng trong thân thể mình có bố mẹ, có tổ tiên, có quê hương. Trong từng tế bào cơ thể mình có sự có mặt của bố mẹ, của tổ tiên. Về với cơ thể cũng là về với tổ tiên, với đất nước và văn hóa của mình. Đi đâu ta cũng mang tổ tiên, mang đất nước và văn hóa đi theo. Về với hình hài là về nhà rồi, mình có thể thoải mái được. Vì vậy kinh Niệm Thân rất quan trọng (Contemplation on the body in the body). Ta phải làm cho tâm được thoải mái trong thân, tâm hòa giải với thân và thân tâm nhất như.
Có những chủ thuyết hay những tôn giáo phân biệt thân và tâm, cho thân và tâm là hai cái hoàn toàn khác biệt. Nhưng đạo Bụt không có cái thấy lưỡng nguyên về thân và tâm. Thân và tâm nhất như. Hành động về nhà trước hết là về với thân của mình trong tư thế đi, đứng, nằm hay ngồi. Làng Mai có pháp môn thiền hành rất mầu nhiệm, mỗi bước chân đều đưa mình về nhà. Mỗi bước chân phải là một bước về nhà. Chỉ cần một bước thôi là ta có thể về nhà.
“Gió vẫn còn bay con biết không
Khi mưa xa tiếp áng mây gần
Hạt nắng từ cao rơi xuống thấp
Cho lòng đất thấy bầu trời trong
Ta vẫn còn đến đi thong dong
Có không còn mất chẳng băn khoăn
Bước chân con hãy về thanh thản
Không tròn không khuyết một vầng trăng.”
(Đến đi thong dong – Sư Ông Làng Mai)
Mỗi bước chân của ta đều là để trở về nhà. Ta không cần nhiều bước, một bước thôi là có thể trở về. Vì mỗi ngày phải bước đi nhiều bước nên ta có nhiều cơ hội để về nhà. Nếu thực tập giỏi thì mỗi bước chân là một cơ hội để ta trở về quê hương của mình, về với thân tâm để tìm thấy sự an bình. Có được sự an bình thì ta có thể xây dựng tăng thân thành một ngôi nhà lớn làm niềm vui và nơi nương tựa cho rất nhiều người.
“Bước chân con hãy về thanh thản”, trong câu thơ đó thầy đã nhắn nhủ, gởi gắm không biết bao nhiêu là tình thương, bao nhiêu là kỳ vọng nơi đệ tử: Mỗi bước chân là một cơ hội cho con trở về được với quê hương, với tổ tiên.
Sự trở về trong từng giây từng phút để chăm sóc nhà của chúng ta là công trình để xây dựng quê hương. Khi trở về với cơ thể, không những ta làm lắng dịu những đau nhức, buông bỏ những căng thẳng và làm cho thân tâm hợp nhất mà ta còn nhận diện được những tâm hành, nhất là những cảm thọ như cảm thọ buồn đau, lo lắng của mình. Người không tu thường tìm cách trốn tránh những cảm thọ không dễ chịu đó và tìm những vui nhộn bên ngoài để khỏa lấp và che giấu nỗi khổ niềm đau. Là người tu, ta không làm như vậy. Ta biết là ta phải trở về để chăm sóc và chuyển hóa. Sự thực tập hàng ngày là để cho ta có đủ năng lượng niệm và định để trở về nhận diện và ôm ấp nỗi khổ niềm đau hay những cảm giác lẻ loi, lạc loài trong con người mình.
Trong năm mới chúng ta phải tập ngồi cho giỏi, tập ngồi cho cha mẹ, tổ tiên. Ta tập ngồi cho yên. Ta ngồi yên được thì thế giới sẽ yên, tổ tiên và con cháu sẽ yên. Sang năm mới chúng ta hãy tập đi thiền hành cho giỏi, mỗi bước chân đưa ta trở về được quê hương. “Bước chân con hãy về thanh thản”, đó là thông điệp của thầy gởi cho tất cả các đệ tử. Mỗi bước chân trở về như vậy thì mình sẽ gặp thầy, gặp Bụt, gặp cha mẹ, gặp tổ tiên, gặp quê hương trong đó. Rất là mầu nhiệm! Niệm lực càng hùng tráng thì sự trở về của mình càng sâu sắc.
Xin chúc đại chúng năm mới có nhiều thành công trong sự tu tập và xây dựng tăng thân.
Chánh niệm là con đường
Chánh niệm và tà niệm
Bất cứ ai cũng cần sự giúp đỡ, trong đó có cả Bụt. Bụt cũng cần chúng ta giúp Ngài. Bụt chỉ có hai tai thì làm sao nghe được hết những khổ đau trên thế giới? Bụt chỉ có hai tay thì làm sao có thể giúp hết được cho thế giới này bớt khổ? Thành ra, chúng ta phải giúp Bụt, chúng ta phải trở thành mắt của Bụt, thành lỗ tai của Bụt, thành cánh tay của Bụt…
Không những người nghèo đau khổ mà người giàu cũng đau khổ. Những nhà lãnh đạo doanh nghiệp rất giàu có nhưng họ cũng đau khổ rất nhiều. Họ mời chúng ta đến giảng dạy chánh niệm để giúp họ bớt khổ và đồng thời giúp họ thành công hơn nữa trong việc kinh doanh.
Vấn đề đặt ra là: Chúng ta có nên giảng dạy chánh niệm cho những nhà lãnh đạo doanh nghiệp để giúp họ làm giàu nhiều hơn nữa hay không? Có người trả lời: “Tại sao không? Làm giàu thì có gì sai? Họ làm giàu thì họ tạo được công ăn việc làm cho những người khác và cung cấp vật dụng cần thiết cho chúng ta”. Thành ra có rất nhiều ý kiến tranh luận về việc ta có nên giúp cho những nhà lãnh đạo doanh nghiệp hay không.
Chúng ta cũng biết rằng hiện nay trong quân đội có rất nhiều khổ đau, nhiều căng thẳng và nghi ngờ, nhiều người đã tự tử. Người ta muốn mời các vị giáo thọ đến hướng dẫn thực tập chánh niệm cho những người lính trong quân đội trước khi họ được gửi ra trận. Nhiều vị giáo thọ đã từ chối với lý do: “Tôi không thể làm như thế được! Tôi không thể hướng dẫn cho những người lính thực tập chánh niệm để họ có khả năng tập trung cao hơn và giết người giỏi hơn!” Nhưng cũng có ý kiến cho rằng: “Nếu những người lính có chánh niệm thì họ sẽ không giết hại thường dân mà chỉ giết kẻ địch thôi, điều đó cũng đủ có ích lợi rồi”.
Như vậy, một cuộc tranh luận đã mở ra và đang tiếp diễn xoay quanh vấn đề: chúng ta có nên loại trừ các nhà lãnh đạo doanh nghiệp và những người trong quân đội ra khỏi sự thực tập chánh niệm hay không? Những người làm nghề đánh cá cũng bắt nhiều cá và tàn hại rất nhiều sinh mạng. Và còn những người trong ngành công nghiệp sản xuất thịt hay chế tạo vũ khí nữa, ta có nên loại trừ hết những người đó ra khỏi sự thực tập chánh niệm hay không?
Cho nên, một câu hỏi rất quan trọng được đặt ra là: Chánh niệm có thể làm lợi lạc cho tất cả mọi người hay chỉ làm lợi lạc cho một số thành phần nào đó mà thôi?
Hôm nay chúng ta phải để thì giờ đi sâu vào chủ đề này. Câu hỏi đặt ra là: Chúng ta có thực sự hiểu chánh niệm là gì hay không? Trong giáo lý đạo Bụt có danh từ chánh niệm (right mindfulness), mà đã có chánh niệm thì cũng có tà niệm (wrong mindfulness). Thành ra, trước tiên chúng ta phải phân biệt được chánh niệm và tà niệm.
Sự khác biệt giữa chánh niệm và tà niệm, chánh kiến và tà kiến
Chánh niệm, tiếng Phạn là samyak smṛti, ngược lại với tà niệm là mithya smṛti. Có sự khác biệt gì giữa chánh niệm và tà niệm? Câu trả lời là:
1. Chánh niệm không phải là một công cụ, một phương tiện mà là một con đường
Ta có thể sử dụng một dụng cụ để làm nhiều việc, ví dụ ta dùng dao để chặt cây, cắt gọt rau quả v.v. nhưng cũng có người dùng dao để đi ăn cướp, để giết người. Chánh niệm không phải là con dao mà ta có thể dùng để làm cả những chuyện tốt lẫn những chuyện xấu. Chánh niệm không phải là một công cụ. Nhưng rất nhiều người trong chúng ta cho chánh niệm là một công cụ, chúng ta nghĩ rằng có thể dùng chánh niệm để trị liệu, để hòa giải hoặc làm ra nhiều tiền, hoặc để giết kẻ thù cho hay hơn.
Chánh niệm không phải là một phương tiện hay một công cụ mà là một con đường. Bởi vì chánh niệm là một trong tám chi phần của Bát chánh đạo. Chánh niệm thuộc về chánh đạo (samyak marga). Nếu ta lấy chánh niệm ra khỏi bối cảnh của chánh đạo thì nó không còn là chánh niệm nữa. Đây là điều rất quan trọng!
Chánh đạo (right path) là con đường đúng đắn, bắt đầu bằng chánh kiến (right view). Chánh kiến là cái thấy vượt thoát mọi sự kỳ thị, giận hờn và sợ hãi. Vì vậy, nếu chánh niệm không chuyên chở chánh kiến trong đó thì không phải là chánh niệm thật sự.
Chánh đạo là sự thật thứ tư của Tứ đế, mà chánh niệm là một thành phần trong đó. Chánh đạo là con đường đúng đắn đưa tới hạnh phúc, tức là đưa tới sự thật thứ ba của Tứ đế.
Tà đạo (wrong path) ngược lại với chánh đạo, đó là con đường đưa tới sự thật thứ nhất tức là khổ. Ta có thể nhìn sự thật thứ hai của Tứ Đế như là một con đường, con đường sai lầm (tà đạo). Con đường sai lầm bắt đầu bằng cái thấy sai lầm, tức tà kiến (wrong view). Cái gì đưa tới cái thấy sai lầm? Tà niệm, tà định đưa tới tà kiến. Và tà kiến đưa tới tà tư duy, tà ngữ và tà nghiệp.
Cho nên, chánh niệm nằm trong chánh đạo, và tà niệm thuộc về tà đạo. Rất rõ ràng. Ta phải phân biệt được chánh niệm với tà niệm. Danh từ chánh niệm và tà niệm đã có từ thời của Bụt. Nếu có chánh niệm thì luôn luôn có tà niệm. Tà niệm luôn đi đôi với tà kiến và tà tư duy. Vì vậy, những loại niệm nào đưa tới tà kiến, tà tư duy, tà nghiệp thì không phải là chánh niệm.
Có những người không hề học hỏi và thực tập chánh niệm, chánh kiến nhưng họ cũng có một ít chánh niệm và chánh kiến. Họ không phải là Phật tử, không cần phải là Phật tử mới có được chánh niệm và chánh kiến.
Trong cuộc chiến tranh Đông Dương người ta báo cáo rằng hai phe, phe cộng sản và phe chống cộng sản đã tàn sát lẫn nhau. Họ đã làm theo lệnh của cấp trên nhưng thật ra những người lính của hai bên không hề muốn giết nhau. Người ta kể lại rằng phe cộng sản đã đến đóng ở bờ bên kia sông còn phe chống cộng thì đóng ở bờ bên này sông, hai bên đã nhìn thấy nhau nhưng họ không tấn công nhau. Họ đứng im như vậy trong một hay hai giờ đồng hồ. Cuối cùng để làm tròn phận sự của mình, họ đã chỉa súng bắn lên trời rồi lấy khẩu phần thức ăn của mình ra ăn và rút lui. Chuyện này đã xảy ra rất nhiều lần ở Lào.
Điều này có nghĩa là những người chiến sĩ đó có được chánh kiến. Họ không hiểu tại sao mình lại phải chém giết lẫn nhau, tại sao mình phải giết người và bị người giết. Họ thấy bên kia không phải là kẻ thù của mình, bên kia cũng giống như mình, bị đưa ra trận tuyến để giết người và bị người giết.
Từ đâu mà ta có được cái thấy đó? Đó là nhờ chánh niệm, chánh niệm có chứa tuệ giác trong đó. Ở đâu có chánh niệm thì ở đó có tuệ giác. Ta thấy được rằng những người kia là nạn nhân bị bắt đến để giết người và để bị người giết, và ta cũng bị bắt đến để giết người và để bị người giết. Đó là chánh kiến! Ta không thể lấy chánh kiến ra khỏi chánh niệm vì chánh niệm đã chứa sẵn chánh kiến trong đó. Ở Làng Mai chúng ta thường nói rằng chánh niệm chứa đựng năng lượng của định và tuệ trong đó.
Ví dụ như ta thực tập:Thở vào tôi biết là tôi còn sống. Chánh niệm về hơi thở đưa tới cái thấy là ta đang còn sống. Có những người sống mà không biết là mình đang sống nên họ không thấy vui sướng khi được sống. Có chánh niệm thì tuệ tới ngay lập tức. Chánh niệm mà không có tuệ thì không thật sự là chánh niệm.
Những người lính từ chối đánh nhau vì họ có được chánh niệm và tuệ giác. Điều này làm cho các cấp chỉ huy rất tức giận. Trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, những trường hợp tương tự cũng đã từng xảy ra. Người ta báo cáo rằng có từ 75-80% chiến sĩ đã hành xử như vậy. Cấp chỉ huy đã rất tức giận nên bây giờ họ tìm cách hướng quân đội về một loại niệm và một cái thấy khác, một loại tà niệm và tà kiến. Họ biến niệm và định trở thành một phương tiện, một công cụ để giúp cho quân đội mạnh hơn, phục vụ tốt hơn trong việc tàn sát kẻ thù. Đó là chủ ý của các cấp lãnh đạo quân sự. Như vậy nếu chúng ta đến để giúp cho họ thực hiện được mục đích đó thì chúng ta không giảng dạy chánh niệm thật sự.
Ví dụ một người lính ra trận, ở ngay trận địa anh ta thực tập thở vào, thở ra và ý thức được rằng kẻ thù của mình đang ở trước mặt mình, và nếu anh không giết kẻ thù đó thì kẻ thù sẽ giết anh.
Thở vào tôi biết là kẻ thù đang có mặt
Thở ra tôi phải giết hắn vì nếu không thì hắn sẽ giết tôi.
Sự thực tập này được thúc đẩy bởi sự sợ hãi, bởi ý chí muốn sống còn và bởi tà kiến. Nếu không coi người kia là kẻ thù thì ta không thể nào giết họ được. Ta bị nhồi vào đầu tư tưởng “Những kẻ đó là kẻ thù của ta, là người ác, là mối hiểm họa cho sự an nguy của đất nước mình. Những kẻ đó đi ngược lại lợi ích của dân tộc mình, không có họ thì mọi chuyện sẽ tốt hơn”. Người ta đã đào tạo những người lính như vậy và làm cho họ có ý muốn giết người.
Trong chiến tranh Việt Nam, những người lính Mỹ bị nhồi vào đầu là cộng sản rất nguy hiểm, nếu để Việt Nam rơi vào tay cộng sản thì cộng sản sẽ chiếm hết Đông Nam Á và có thể bành trướng sang Tân Tây Lan (New Zealand), Úc (Australia) và sớm muộn gì cũng sang tận Hoa Kỳ. Tư tưởng đó được thúc đẩy bởi sự sợ hãi.
Hiện nay, Hoa Kỳ đang hợp tác kinh tế với Việt Nam. Nhìn lại quá khứ, ta thấy việc đổ vào Việt Nam không biết bao nhiêu là tiền bạc, súng ống, chất độc hóa học và hy sinh biết bao nhiêu mạng người không phải là một hành động thông minh, đó không phải là chánh kiến. Hàng triệu người đã trở thành nạn nhân của tà kiến đó. Cái thấy sai lầm của những nhà lãnh đạo chính trị đã đưa tới sự tàn phá, hủy diệt môi trường và cái chết của hàng triệu dân thường.
Hoa Kỳ có thể làm hay hơn, như hỗ trợ cho hai miền Nam-Bắc xây dựng lại đất nước và phát triển kinh tế, giáo dục, v.v. Như thế Hoa Kỳ sẽ chi phí ít hơn, và còn giúp được cho hai miền Nam – Bắc cùng nhau xây dựng một đất nước hạnh phúc hơn. Thông qua đó, nước Mỹ cũng thu phục được nhiều bạn bè hơn. Đó là cái thấy tốt đẹp, là chánh kiến.
Để có thể huấn luyện một người lính thành một sát thủ giỏi, người ta phải nhồi vào đầu họ tư tưởng là nếu không có kẻ thù đó thì sẽ tốt đẹp hơn cho mình và cho đất nước. Tôi nhớ Tổng thống Bush đã từng tuyên bố như vậy về Bin Laden: “Nếu không có ông thì thế giới sẽ tốt đẹp hơn!” (the world will be a better place without you!). Đó là chính sách loại trừ mà hiện nay chúng ta vẫn đang tiếp tục sử dụng. Nếu thấy người nào đó có thể là mối nguy hiểm cho an ninh của mình và cho đất nước mình thì chúng ta tìm cách loại trừ người đó, loại trừ bằng cách này hay bằng cách khác, bằng phương tiện hợp pháp hay không hợp pháp.
Là một vị giáo thọ, nếu ta được mời đến hướng dẫn cho những người lính thực tập chánh niệm thì ta không thể nói với họ rằng: “Công việc của các anh là đi giết kẻ thù. Các anh phải có niệm và định để làm việc đó cho tốt!” Ta không thể nói như vậy. Nếu nói như vậy thì chánh niệm trở thành một phương tiện mà không phải là con đường.
![]()
2. Chánh niệm không phải là một phương tiện để đạt tới mục tiêu
Khi ta thở vào có chánh niệm thì hơi thở vào không phải là một phương tiện. Nếu biết cách thở thì ta có được niềm vui, bình an và sự trị liệu ngay trong khi thở vào. Không có sự phân biệt giữa phương tiện và cứu cánh. Nếu ta không cảm thấy thoải mái trong khi thở nhưng ta vẫn cố gắng chịu đựng để đạt được một mục đích nào đó thì đó không phải là chánh niệm thật sự.
Không có sự khác biệt giữa phương tiện và cứu cánh, vì chánh niệm chính là con đường. Con đường được làm bằng những bước chân và mỗi bước chân chính là con đường. Mỗi bước chân đều chứa đựng chánh niệm, chánh định, chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn. Mỗi hơi thở vào là một bước chân, trong mỗi bước chân đó ta phải có sự thư giãn, có an, có định và có tuệ.
Chánh niệm không phải là một công cụ, một phương tiện. Ở Làng Mai chúng ta luôn được nhắc nhở phải thực tập như thế nào để có bình an, niềm vui và tình huynh đệ ngay trong khi ngồi, trong khi đi, trong khi thở, trong khi nấu ăn hay chùi nhà. Có chánh niệm thì làm việc gì ta cũng thấy vui. Chánh niệm cho ta niềm vui, tuệ giác và sự bình an.
3. Chánh niệm tương tức với các chi phần khác của Bát Chánh Đạo
Điều này rất quan trọng! Chánh niệm mà không có tuệ giác thì không phải là chánh niệm thật sự. Những người lính ở Lào mặc dù không được giảng dạy về chánh niệm và tuệ giác nhưng họ cũng thấy được rằng những người phía bên kia cũng giống như mình, họ cũng bị ép buộc tới đây để giết và để bị giết, đó là tuệ giác. Những người kia là nạn nhân của chiến tranh và chúng ta không muốn trở thành nạn nhân của chiến tranh. Cho nên thay vì chĩa súng vào nhau, họ đã chĩa súng và bắn lên không trung. Họ có chánh niệm và có tuệ giác.
Chúng ta đã được học rằng chánh niệm cũng là tuệ giác, chánh niệm cũng là sự giác ngộ.
Thở vào, tôi ý thức là tôi đang sống.
Thở vào có chánh niệm đưa tới cái thấy là ta đang sống. Đang sống là một sự mầu nhiệm! Chúng ta không cần phải thực tập 10 năm hay 10 ngày để có được tuệ giác. Chánh niệm trong tự thân nó đã chứa đựng chánh kiến rồi. Và nếu có chánh kiến thì ta không thể nào làm sai. Chánh kiến đưa tới chánh nghiệp, tức là hành động đúng đắn. Ta chỉ hành động sai lầm (tà nghiệp) khi ta có tà kiến.
Chánh kiến là tuệ giác. Có chánh kiến thì cái ta tư duy là chánh tư duy, cái ta nói là chánh ngữ và cái ta làm là chánh nghiệp. Chánh kiến phát sinh từ chánh niệm. Vì vậy, nếu ta hướng dẫn cho những người lính đó thực tập được chánh niệm thì họ sẽ có chánh kiến. Thành ra, không có gì nguy hiểm khi giảng dạy chánh niệm cho những người lính trong quân đội. Người ta tưởng nếu giảng dạy chánh niệm cho quân đội thì họ sẽ sử dụng chánh niệm khi ra trận để có đủ sự bình tĩnh và sự tập trung mà giết được nhiều người hơn. Điều này không đúng! Chúng ta giảng dạy chánh niệm để họ biết thở như thế nào, đi như thế nào, biết nhận diện cảm thọ và cảm xúc của họ, ý thức được sự sợ hãi, giận hờn trong mình, v.v. Ý thức được thì họ có cái thấy đúng (chánh kiến), và chánh kiến giúp cho ta tránh được tà tư duy, tà ngữ và tà nghiệp.
Chánh niệm tương tức với các chi phần khác của Bát Chánh Đạo (chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ…) trong đó có chánh mạng, tức nghề nghiệp đúng đắn. Có chánh niệm thì ta có chánh kiến và với cái thấy đúng đắn thì ta không thể nào tiếp tục lối sống sai lầm nữa (tà mạng). Để có được hạnh phúc, ta phải từ bỏ tà mạng và tìm một việc làm khác có thể giúp ta phát khởi tâm từ bi và trân quí đối với sự sống. Đó là chánh đạo! Tất cả các yếu tố của chánh đạo đều là cứu cánh mà không phải là phương tiện.

Giả sử vòng tròn này tượng trưng cho chánh niệm, mà đã là chánh niệm thì phải chứa đựng trong nó năng lượng của định và tuệ.
Khi có chánh niệm về một cái gì đó thì cũng có nghĩa là ta đang đưa sự chú tâm (định) vào đối tượng đó. Ví dụ như khi ta có chánh niệm về hơi thở vào thì cũng có nghĩa là ta đang định tâm vào hơi thở vào. Năng lượng của niệm và định chuyên chở trong nó năng lượng của tuệ giác. Và nếu niệm, định và tuệ có mặt thì 5 yếu tố còn lại của Bát Chánh Đạo (chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn) cũng có mặt.
Có niệm, định và tuệ thì lời nói của ta là chánh ngữ. Trên nền tảng của chánh kiến thì không thể nào có tà tư duy. Chánh kiến là một cái thấy không có sự phân biệt, kỳ thị. Chánh kiến là cái thấy tương tức (interbeing), duyên khởi (interdependant origination) và vô ngã (no self). Có chánh kiến thì ta không thể chế tác tà tư duy, tà ngữ và không thể tạo ra tà nghiệp. Chúng ta phải nhớ rằng chánh niệm tương tức với tất cả những yếu tố khác của Bát chánh đạo. Vì vậy chúng ta không cần phải lo lắng là chánh niệm có thể bị lạm dụng. Chánh niệm không thể nào gây hại cho bất kỳ ai hay cho bất kỳ cái gì, vì trong chánh niệm đã có chánh kiến, và khi đã có chánh kiến rồi thì ta không bao giờ có thể làm những điều sai lầm.
Sự thực tập chánh niệm dành cho tất cả mọi người, không loại trừ một ai
Những người trong quân đội có rất nhiều đau khổ, họ cũng cần sự giúp đỡ. Vì vậy giúp cho họ bớt khổ không có gì là sai cả. Ta có thể hiến tặng sự thực tập chánh niệm để giúp họ:
1. Chế tác niềm vui và hạnh phúc
Chánh niệm giúp cho ta trở về với giây phút hiện tại và nhận ra rằng chúng ta đang có quá nhiều những điều kiện hạnh phúc. Những người lính cũng như chúng ta, họ có khả năng nhận diện những mầu nhiệm của sự sống, của thiên nhiên, những điều kiện hạnh phúc đang có mặt và nhờ đó, họ có thể chế tác được niềm vui, niềm hạnh phúc để nuôi dưỡng và trị liệu cho chính mình.
2. Chăm sóc khổ đau
Khi ta hướng dẫn cho những người lính thực tập chánh niệm, họ có thể nhận diện được sự sợ hãi, giận dữ và tuyệt vọng trong mình. Họ học được cách chăm sóc khổ đau của chính mình và giúp mình bớt khổ.
3. Thấy được hạnh phúc chân thật
Khi đi sâu vào sự thực tập chế tác niềm vui, niềm hạnh phúc và chăm sóc khổ đau của chính mình, họ sẽ đạt tới chánh kiến. Họ có thể thấy rõ được thế nào là hạnh phúc chân thật.
Khi gia nhập quân đội, họ nghĩ đời sống trong quân đội sẽ dễ dàng hơn, họ có thể hạnh phúc hơn khi làm một người lính. Đó là một ý niệm, một cái nhìn về hạnh phúc. Nhưng khi được hướng dẫn thực tập cách thở, cách đi, cách ngồi, cách ôm ấp cơn giận và sự sợ hãi thì họ bắt đầu nếm được hạnh phúc thật sự. Họ so sánh và bỗng nhiên thay đổi quan niệm của mình về hạnh phúc.
Lúc đầu ta cho rằng làm một người lính thì có nhiều quyền lợi và đem tới cho ta hạnh phúc. Nhưng bây giờ thì ta đau khổ quá và ta bắt đầu nghi ngờ. Khi có người đến chỉ dẫn cho ta phương pháp thở, phương pháp đi, phương pháp nhận diện những mầu nhiệm của sự sống, phương pháp thưởng thức từng hơi thở và từng bước chân thì ta thức tỉnh, ta nhận ra được thế nào là hạnh phúc thật sự. Ta thay đổi cái nhìn của ta về hạnh phúc, từ cái nhìn sai lạc ta chuyển sang cái nhìn đúng đắn, và động lực thúc đẩy cuộc đời ta cũng thay đổi.
Vì vậy nếu quý vị là những vị giáo thọ giỏi được mời hướng dẫn chánh niệm cho những người lính trong quân đội thì quý vị cũng đừng nên lo ngại. Chánh niệm luôn luôn đem lại lợi lạc và chuyển hóa tốt đẹp cho mọi người, dù rằng sự chuyển hóa đó có thể diễn ra chậm.
Một điều mà tôi rất quan tâm là chúng ta cũng nên đồng thời giúp cho những vị chỉ huy, cấp trên, bộ tham mưu và những nhà hoạch định chính sách… Bởi vì nếu những người lãnh đạo chính trị còn có cái nhìn sai lạc về hạnh phúc, về an ninh và quyền lợi của quốc gia thì nhiều người trẻ như chúng ta vẫn sẽ tiếp tục là nạn nhân của bạo lực, chúng ta vẫn bị buộc phải chém giết và bị chém giết. Sử dụng phương tiện bạo động không phải là cách duy nhất để bảo đảm an ninh và quyền lợi quốc gia, còn có nhiều cách hay hơn như vậy.
Là những người thực tập chánh niệm và hiểu rõ bản chất của chánh niệm, chúng ta phải giúp cho quân đội, nếu không thì họ sẽ tự đào tạo đội ngũ những người giảng dạy chánh niệm riêng của mình. Những người đó có thể giảng dạy chánh niệm theo kiểu:
Thở vào, tôi biết là kẻ thù đang có mặt và tôi phải giết hắn.
Thở ra, tôi kéo cò súng…
Đó là niệm và định căn cứ trên tà kiến.
Chúng ta là những giáo thọ giảng dạy chánh niệm, ta không thể dạy như vậy. Chúng ta không bảo những người lính phải từ bỏ nghề nghiệp của mình, ta chỉ đến để giúp họ bớt khổ mà thôi. Và khi đã bớt khổ thì họ sẽ có cái thấy đúng đắn về hạnh phúc chân thật và mọi việc sẽ tự dần dần thay đổi.
Vì vậy kết luận của tôi là: Thực tập chánh niệm là pháp môn tu học dành cho tất cả mọi người, không loại trừ một ai.

Tuần trước có hai vị thuộc Bộ Ngoại giao Pháp từ Paris tới thăm Làng Mai. Tôi hỏi hai vị ấy: “Sự thực tập chánh niệm có thể giúp được cho rất nhiều người trẻ và các thầy cô giáo bớt khổ. Chúng tôi đang tìm cách đem sự thực tập chánh niệm vào trường học. Chúng tôi đã và đang huấn luyện cho các thầy cô giáo ở nhiều quốc gia trên thế giới để họ có thể đem sự thực tập chánh niệm vào lớp học và giúp cho học sinh bớt khổ hơn. Khi học sinh bớt khổ thì thầy cô giáo cũng bớt khổ, sự truyền thông sẽ tốt hơn, việc dạy và học cũng trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên, nước Pháp có chính sách biệt lập tôn giáo (laïcité), người ta cấm những sinh hoạt có tính chất tôn giáo ở những nơi cộng cộng. Vậy quý vị có thể giúp chúng tôi tìm ra cách thức nào để đem sự thực tập này vào những nơi công cộng, đặc biệt là ở các bệnh viện, trường học… hay không?”
Trong những năm qua, chúng ta đã tổ chức khóa tu cho cảnh sát, cho nhân viên của các trại tù, v.v… Những đối tượng này đều nhận ra rằng sự thực tập chánh niệm giúp họ rất nhiều vì họ có quá nhiều đau khổ. Hôm qua chúng ta được báo cáo là một thiếu niên trẻ 16 tuổi đã bị cảnh sát bắn chết. Qua đó, ta thấy rằng không những người trẻ cần sự giúp đỡ của chúng ta, mà lực lượng cảnh sát cũng cần sự giúp đỡ. Vì vậy sự thực tập chánh niệm cần thiết cho tất cả mọi người, không loại trừ bất kỳ một ai.
Vấn đề là chúng ta không có đủ giáo thọ. Chúng ta phải đào sâu sự thực tập, phải cải tiến phương pháp giảng dạy để sự giảng dạy và tu tập của chúng ta là sự giảng dạy và thực tập chánh niệm thật sự (true mindfulness). Chúng ta phải đào tạo hàng trăm, hàng ngàn người có khả năng hướng dẫn thực tập chánh niệm ở khắp nơi trên thế giới.
Chúng ta biết rằng không cần phải là một Phật tử mới có thể tu tập chánh niệm. Điều quan trọng nhất là: chánh niệm phải là chánh niệm thật sự và điều này tùy thuộc vào sự học hỏi và tu tập của chúng ta. Như vậy chúng ta sẽ không còn lo là chánh niệm bị biến chất và không còn có khả năng giúp được cho mọi người.
Giáo lý về chánh niệm, nếu không được hiểu một cách thấu đáo, thì không thể nào giúp ích được cho mọi người. Có rất nhiều người đã coi chánh niệm như là một công cụ.
Nhiều truyền thống tâm linh từ phương Đông khi được du nhập vào xã hội Tây phương đã bị biến chất. Người Tây phương vốn quen với lối tư duy lưỡng nguyên (dualistic thinking) như: tạo hóa không phải là tạo vật, chủ thể không phải là đối tượng, vì vậy đã làm biến chất, làm thế tục hóa (secularise) những yếu tố tâm linh đến từ châu Á, kể cả Thiên chúa giáo. Thiên chúa giáo tới từ phương Đông, nhưng sự giảng dạy và sự thực tập Thiên chúa giáo ở Tây phương hiện nay hoàn toàn theo lối tư duy lưỡng nguyên. Người cầu nguyện và người được cầu nguyện là hai thực thể riêng biệt nằm ngoài nhau. Thượng đế ở ngoài ta và ta ở ngoài Thượng đế. Trong khi đó theo giáo lý nguyên thỉ thì Thượng đế ở trong ta và ta ở trong Thượng đế. Ta và Thượng đế tương tức. Điều này đang xảy ra cho sự thực tập chánh niệm trong xã hội Tây phương. Chánh niệm không còn là con đường hạnh phúc hay con đường chuyển hóa mà trở thành một công cụ phục vụ cho một mục đích nào đó, ví dụ như làm ra nhiều tiền hơn, đào tạo nhiều sát thủ hơn, v.v. Vì vậy, là một người giảng dạy về chánh niệm, chúng ta phải ý thức được điều này.
Tôi xin nhắc lại là: chánh niệm là một con đường mà không phải là công cụ để phục vụ cho mục tiêu của mình, chánh niệm không thể tách rời khỏi những yếu tố khác của Bát chánh đạo. Ta không thể tách chánh niệm ra khỏi chánh kiến. Có chánh niệm là có chánh kiến. Chánh kiến giúp chúng ta thay đổi những quan niệm lỗi thời của mình mà trước tiên là quan niệm về hạnh phúc.
Mùa đông vừa rồi có một phóng viên đến từ London đã phỏng vấn tôi về vấn đề giảng dạy chánh niệm cho các tập đoàn kinh tế trên thế giới. Câu hỏi mà người phóng viên đó đặt ra là:
– Có nên đưa sự thực tập chánh niệm vào các tập đoàn quốc tế hay không? Người lãnh đạo kinh doanh nào cũng muốn trở thành số 1 trong lĩnh vực của mình, vì vậy nếu đưa chánh niệm vào các tập đoàn, có phải là chúng ta đang giúp cho họ thỏa mãn được tham vọng của họ và làm cho chánh niệm bị biến chất hay không?
Tôi đã trả lời ngắn gọn:
– Nếu là chánh niệm thật sự thì sẽ giúp cho những người đó có được chánh kiến và thấy được cái gì là hạnh phúc chân thật và cái gì không phải là hạnh phúc chân thật. Khi có cái thấy đúng đắn thì họ sẽ thay đổi động cơ ban đầu của mình, thay vì muốn trở thành số 1 họ sẽ muốn có được hạnh phúc thật sự.
Trong một buổi giảng tại Ngân hàng Thế giới (World Bank), tôi cũng đã nói rằng: “Quí vị phải lựa chọn một trong hai cái, trở thành số 1 hay là có được hạnh phúc”.
Khi ta giảng dạy và giúp cho các nhà lãnh đạo doanh nghiệp thực tập chánh niệm, họ sẽ có cơ hội nếm được hạnh phúc, tình thương và tự do chân thật. Từ đó họ sẽ thay đổi cách nhìn và động cơ ban đầu thúc đẩy họ thực tập chánh niệm cũng sẽ thay đổi theo.
Ở Rwanda năm 1994, hai sắc tộc Hutu và Tutsi đã tàn sát lẫn nhau và khoảng một triệu người đã chết trong cuộc xung đột ấy. Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc cũng có mặt ở Rwanda vào thời điểm đó. Vị chỉ huy của lực lượng gìn giữ hòa bình đã xin phép sử dụng một tiểu đoàn để can thiệp và ngăn cản các vụ tàn sát có thể xảy ra giữa người Hutu và người Tutsi. Nhưng yêu cầu của ông đã bị từ chối. Vị tướng này nghĩ rằng nếu khi đó ông được phép dùng một tiểu đoàn của lực lượng gìn giữ hòa bình để can thiệp thì ông đã có thể ngăn chặn được vụ thảm sát xảy ra và cứu được tính mạng của hơn một triệu người Rwanda.
Sau sự kiện này, vị tướng đó bị rơi vào tình trạng trầm cảm. Ông hối hận là đã không chủ động can thiệp dù không được sự cho phép của cấp trên. Nếu lúc đó ông cứ quyết tâm hành động thì ông đã có thể ngăn chặn được cuộc tàn sát, và nếu sau đó ông có bị bãi chức thì cũng không sao. Nhưng ông đã không hành động như vậy, nên bây giờ ông cảm thấy rất hối hận.
Điều gì sẽ xảy ra nếu vị chỉ huy đó sử dụng quân đội của mình để can thiệp vào cuộc tàn sát ở Rwanda? Có thể là một số người của lực lượng gìn giữ hòa bình sẽ hy sinh nhưng họ có thể cứu được mạng sống của một triệu người. Vì vậy chúng ta không thể nói rằng sự có mặt của quân đội là không cần thiết. Điều quan trọng là quân đội cần có khả năng thực tập chánh nghiệp, tức là hành động chân chính.
Hôm qua có một câu hỏi rất hay về vấn đề phạm pháp, về án tử hình, v.v. Chúng ta đã nói: Tất cả mọi người đều cần sự giúp đỡ, kể cả Bụt. Những người phạm pháp cũng cần sự giúp đỡ. Trước khi phạm tội, họ đã không được sự giúp đỡ từ gia đình, thầy cô giáo và bạn bè. Nếu được giúp đỡ thì họ đã không phạm tội như vậy. Bây giờ họ đã phạm tội và họ cần sự giúp đỡ mà không cần sự trừng phạt.
Sở dĩ người thanh niên đó trở thành tội phạm là vì chúng ta đã không chăm sóc tốt cho anh ta. Bây giờ anh ta bị bắt giam trong tù, anh ta cũng cần sự giúp đỡ của chúng ta. Nếu người đó phá hoại và giết người thì việc cần làm là bắt người đó giam vào tù, đó là phận sự của cảnh sát. Điều quan trọng là ta làm việc với tình thương, ta phải bắt giam người đó để ngăn không cho người đó ngày càng lún sâu vào tội ác. Và thời gian ở trong tù là một cơ hội để người đó làm mới lại chính mình và trở thành một người tốt. Xã hội cần phải dành nguồn nhân lực và ngân sách cần thiết để đào tạo, giúp cho các phạm nhân học cách làm thế nào để xử lý khổ đau, giận hờn, sợ hãi, thèm khát, để có được những niềm vui lành mạnh và có cái thấy đúng đắn về hạnh phúc chân thật.
Vấn đề là hiện nay chúng ta không có những người làm công việc giảng dạy chánh niệm cho các tù nhân. Ban quản lý trại giam không biết những phương pháp thực tập và chính họ cũng có nhiều đau khổ. Họ không thể quản lý, chăm sóc những người tù với sự nhẹ nhàng và lòng từ bi. Cả tù nhân và người cai tù đều đau khổ.
Sự thực tập chánh niệm có khả năng giúp cho cả hai bên. Nhưng vấn đề là chúng ta không có đủ người để làm công việc giảng dạy chánh niệm cho tù nhân. Có những nơi, chúng ta cũng không được phép làm công việc này.
Tôi cho rằng thời gian giam giữ tù nhân nên được xác định dựa trên thời gian cần thiết để người đó được trị liệu và chuyển hóa, vì bắt giam một người không phải là một sự trừng phạt mà là một hành động thương yêu. Vì vậy, chúng ta phải cung cấp cho người đó những phương tiện, những phương pháp tu tập để họ có thể thức tỉnh và trở thành một người tốt, một người có hạnh phúc. Nếu người đó chuyển hóa nhanh, thể hiện được niềm vui, hạnh phúc và lòng từ bi thì ta có thể cho họ ra khỏi tù và tạo điều kiện để họ tái hòa nhập cộng đồng.
Ngày xưa ở Việt Nam, các chùa được phép tiếp nhận những người tù và chăm sóc cho họ. Người tù giúp những công việc đồng áng cho chùa. Họ thực tập Năm giới và sống dưới sự giám sát của các thầy. Các thầy có trách nhiệm chăm sóc cho họ. Nếu người đó có chuyển hóa tốt thì các thầy giúp cho họ xây dựng gia đình, có một mảnh đất để canh tác và xây dựng cuộc sống mới. Khi được các thầy công nhận là đã chuyển hóa tốt thì người tù đó sẽ được nhà cầm quyền cấp cho giấy phóng thích xác nhận là họ đã mãn hạn tù và trở thành một người tự do. Đó là việc ngày xưa chúng ta đã làm. Bây giờ chúng ta cũng có thể làm như vậy nhưng có hệ thống hơn.
Ta phải huấn luyện, đào tạo những người có khả năng hướng dẫn thực tập cho tù nhân để họ có thể thay đổi, chuyển hóa, sống hạnh phúc và trở thành một thành phần tốt của xã hội. Thời gian họ ở trong tù tùy thuộc vào sự tiến bộ trong thực tập của họ. Tôi nghĩ đây là vấn đề mà chúng ta cần nên quán chiếu.
Đối diện với năng lượng bất an
Hỏi: Kính thưa Thầy, con thấy sự thực tập dừng lại và an trú trong giây phút hiện tại đối với con khó quá. Xin Thầy hướng dẫn thêm cho con để con có thể thực tập thành công.
Thầy: Trong ta có một nguồn năng lượng luôn thúc đẩy ta đi về phía trước, đó là năng lượng của tập khí. Năng lượng này rất mạnh, nó đã được huân tập từ nhiều đời nhiều kiếp của thế hệ tổ tiên. Ta đã thừa kế năng lượng ấy từ ông bà tổ tiên, cha mẹ ta. Bất cứ ở đâu, làm việc gì ta cũng bị năng lực tập khí này khống chế, nó thúc đẩy ta làm những điều ta không muốn làm, nói những điều ta không muốn nói; nó làm cho ta bất an và luôn chạy như bị ma đuổi. Vì vậy ta tới khóa tu là để tập thở, tập đi, tập ngồi và tập ăn cơm trong chánh niệm để có cơ hội dừng lại cái tập khí chạy như bị ma đuổi ấy.
Trong khi ăn, ta hãy tập ăn như thế nào để có thể thưởng thức trọn vẹn từng miếng cơm hoặc miếng bánh mì mà ta đang nhai. Nếu thực tập thành công trong miếng cơm đầu thì ta có thể thực tập thành công trong miếng cơm thứ hai, thứ ba và trong suốt bữa ăn. Thực tập ăn trong chánh niệm, đi trong chánh niệm có thể giúp ta dừng lại tập khí rong ruổi lâu đời của ta. Nếu khi nào quý vị cảm thấy trong người bất an, lăng xăng, quý vị có thể trở về với hơi thở, thực tập đi từng bước khoan thai, vững chãi và thảnh thơi. Nếu bước đầu đem lại cho quý vị sự vững chãi và an lạc, thì những bước kế tiếp cũng sẽ được như vậy.
Năng lượng của sự bất an trong ta có thể rất mạnh. Như tôi đã trình bày, nếu ta bị bối rối hoặc cảm thấy bất an, không biết cách đối phó với năng lượng tập khí mỗi khi nó phát khởi và hoành hành ta, thì ta nên thực tập nhận diện và gọi đúng tên của nó. Thở vào, quý vị có thể thầm nói: ”Chào anh bạn bất an. Tôi biết anh rồi.” Dùng hơi thở vào và hơi thở ra có ý thức để nhận diện sự có mặt của nó và mỉm cười với nó.
Có vài người đã rời bỏ khóa tu vì họ thực tập chưa thành công trong các phép tu căn bản của chánh niệm. Trong những ngày đầu của sự thực tập, ta thường cảm thấy khó chịu; điều này rất tự nhiên. Song, nếu ta biết nương vào đại chúng, thì ta sẽ thừa hưởng được năng lượng chánh niệm hùng hậu của đại chúng, được đại chúng nâng đỡ, dìu dắt và sự thực tập của ta trở nên dễ dàng hơn. Chắc chắn tới cuối khóa tu, tất cả chúng ta sẽ gặt hái được nhiều kết quả tốt, đạt được nhiều chuyển hóa, an lạc và hạnh phúc.
Điều quan trọng là ta phải có niềm tin nơi sự thực tập. Ta thực tập ăn cơm như thế nào để có an lạc, hạnh phúc trong mỗi miếng ăn, ta thở và đi như thế nào để có an lạc và thảnh thơi trong từng hơi thở và bước chân của ta. Qua bước chân, hơi thở và miếng cơm ta nhai trong chánh niệm, ta đã có thể tái lập lại được niềm tự do mà ta đã đánh mất. Bất cứ ta đang ở trong tư thế sinh hoạt nào dù đó là công việc chùi nhà, rửa bát hay bước một bước, ta đều thực hành trong chánh niệm, thân tâm hoàn toàn tự do. Làm được như thế, ta sẽ không còn là nạn nhân của năng lượng tập khí bất an nữa.

(Trích từ tác phẩm “Hơi thở nuôi dưỡng, Hơi thở trị liệu” – Sư Ông Làng Mai)
Thực tập như thế nào khi không có Thầy và Tăng thân yểm trợ?
Hỏi: Kính thưa Thầy, Thầy thường dạy rằng quay về nương tựa Tăng thân, tu tập với Tăng thân là điều hết sức quan trọng và thiết yếu. Con công nhận điều đó đúng. Con đã được nuôi dưỡng rất nhiều bởi năng lượng tu tập của Tăng thân. Hoàn cảnh của con bây giờ là con sẽ đi làm việc ở miền Tây nước Phi Châu trong thời gian khoảng một hoặc hai năm và là một đất nước có thể nói rất khó để con có thể tạo dựng một Tăng thân. Xứ Phi Châu là xứ Công Giáo. Con thật sự không muốn sự thực tập của con sẽ bị mai một, vậy thì làm thế nào con có thể tổ chức sự thực tập để tiếp tục tự nuôi dưỡng mình? Con biết tu tập một mình rất khó. Xin thầy chỉ dạy cho con làm thế nào để sự thực tập của con vẫn giữ được mức bền vững và sâu sắc khi mình thực tập một mình, không có thầy và Tăng thân bên cạnh yểm trợ?
Thầy: Tôi nghĩ chúng ta có thể tạo dựng một Tăng thân tu học bất cứ nơi nào ta đang sinh sống. Thế giới đang cần sự vững chãi, bình an và chánh niệm của ta. Cái khó có lẽ là vì ta chưa biết làm cách nào để chia sẻ sự tu tập chánh niệm của ta với môi trường và con người ở bản xứ nơi mà ta sẽ cư trú, nhất là những vùng ấy chưa có khái niệm gì nhiều về truyền thống tu tập đạo Bụt.
Theo tôi, quý vị nên tránh sử dụng những danh từ đạo Bụt thì sự áp dụng đạo Bụt ở các vùng ấy sẽ dễ dàng. Lúc khoảng bốn mươi tuổi, tôi đã viết được thành công cuốn sách về cách thực tập những lời dạy của Bụt mà không cần sử dụng đến một danh từ giáo lý đạo Bụt nào cả. Khi tổng thống Nam Phi Nelson Mandela viếng thăm nước Pháp, các phóng viên nhà báo đến tiếp kiến ông. Họ hỏi tổng thống một câu rằng: ‘‘Thưa tổng thống, tổng thống muốn làm gì nhất bây giờ?’’ Tổng thống trả lời: ”Điều tôi mong muốn nhất là được ngồi yên mà không cần phải làm gì hết. Từ khi tôi được trả lại tự do sau nhiều năm tù, tôi nhận thấy mình vô cùng bận rộn. Tôi làm việc không hở tay. Được có cơ hội ngồi yên mà không cần phải làm gì hết, là điều tôi ao ước nhất.” Thỉnh thoảng trong các buổi pháp thoại tôi đem câu chuyện này kể cho các thầy, các sư chú các sư cô và các đệ tử cư sĩ nghe. Trong số các sư chú, có một sư chú trẻ pháp tự là Chân Pháp Châu người Nam Phi và tôi thường nói với sư chú rằng: ”Sư chú hãy ngồi yên giùm cho tổng thống của sư chú đi.” Không phải chỉ có tổng thống Nelson Mandela mới có ước mong đó, mà có rất nhiều người trên thế giới đều có ước mong đó. Có rất nhiều người chỉ muốn được ngồi xuống thật yên mà không cần phải làm gì hết. Họ chỉ muốn được ngồi yên tĩnh và thảnh thơi trong từng giây từng phút của đời sống hàng ngày của họ.
Lời khuyên của tôi là cô nên tránh sử dụng những danh từ có tính cách Phật giáo; chỉ thể hiện chánh pháp qua cách sống chánh niệm của mình, nghĩa là sống làm sao cho tươi mát, sâu sắc và ôn hòa trong cách tiếp xử, hành xử của mình với người bản xứ. Tập lắng nghe mọi người với tâm từ bi và sử dụng ngôn từ hòa ái. Như thế cô có thể làm bạn với họ một cách dễ dàng. Ngoài ra cây cỏ, sông hồ, khe suối, sỏi đá và chim chóc cũng là những thành phần thuộc Tăng thân của cô. Không khí trong lành cô hít vào mỗi ngày cũng là một thành phần thuộc Tăng thân. Con đường cô sử dụng để thực tập thiền đi cũng là một phần thuộc tăng thân. Những em bé mà cô trò chuyện cùng cũng là một thành phần thuộc Tăng thân.
Cả danh từ Tăng thân – sangha cũng nên tránh sử dụng. Nếu cô mời những người bạn đã quen biết tới nhà chơi, uống trà, thì thay vì cô nói: ‘‘Mời các bạn uống trà trong chánh niệm;’’ cô có thể nói: ‘‘Mời các bạn uống trà trong bình an và ý thức rằng chúng ta đang hạnh phúc được ngồi thưởng thức từng tách trà bên nhau trong giây phút này.’’ Tôi nghĩ nếu cô sử dụng loại ngôn ngữ bình thường như thế, cô sẽ dễ dàng và mau chóng tạo dựng được một Tăng thân tại địa phương của cô. Nếu cô sử dụng ngôn ngữ của đạo Bụt ngay từ lúc đầu khi người ta chưa biết gì về đạo Bụt thì cô sẽ làm cho họ bị dội và việc dựng Tăng sẽ không thành công. Có lẽ sau này khi họ đã nếm được mùi vị của an lạc và hạnh phúc trong sự thực tập rồi, thì cô có thể nhẹ nhàng và khéo léo sử dụng ngôn từ của đạo Bụt. Chúc cô thành công. Tôi biết cô có thể làm được. Tất cả chúng ta đều có thể tạo dựng được một Tăng thân để tu tập ngay tại trú xứ của mình.
(Trích từ tác phẩm “Hơi thở nuôi dưỡng, Hơi thở trị liệu” – Sư Ông Làng Mai)





































































































