Thầy đã về

 

Huế năm nay ít mưa. Dù vậy, vẫn có những ngày bầu trời giăng đầy mây, không một chút nắng và những cơn mưa kéo dài từ sáng đến tối.

Từ hôm Thầy trở về Từ Hiếu vào ngày 28.10.2018, có ba hay bốn ngày trời mưa và gió se lạnh. Đó là những ngày Thầy không thể đi dạo quanh khuôn viên Tổ đình. Những ngày còn lại, hầu như ngày nào Thầy cũng dạo thăm nhiều không gian khác nhau trong chùa.

 

 

Hôm qua, ngày 12.11, là ngày giỗ Sư Tổ Tánh Thiên Nhất Định, khai sơn Tổ đình Từ Hiếu. Khi âm thanh tán tụng trầm hùng theo nghi lễ truyền thống Phật giáo Huế trên ngôi bảo điện còn đang vang vọng thì Thầy ra tham dự buổi giỗ Tổ. Thị giả chúng con đưa Thầy đi từ thất Lắng Nghe, dọc theo thiền đường Trăng Rằm và xuống tịnh thất nhỏ bên hông chánh điện, nơi Sư cố Thanh Quý Chân Thật ngày xưa từng ở. Thầy chăm chú nhìn từng góc nhỏ trong liêu với ánh mắt tinh tường và cảm động. Thầy đến bên cạnh chiếc giường cũ kỹ và đơn sơn mà Sư Cố thường nghỉ ngơi. Mỗi ánh mắt và mỗi cử chỉ nơi bàn tay Thầy khiến cho chúng con có cảm giác Thầy đang có mặt và tiếp xúc được với nguồn năng lượng tâm linh mà Sư Cố đã trao truyền. Mỗi cái gật đầu của Thầy giúp chúng con an trú trong dấu ấn Đã về đã tới.

Thầy chỉ cho chúng con tấm hình của Sư Cố được thờ giữa thiền thất. Bức chân dung này, mấy mươi năm trước, lúc Thầy còn là một xuất sĩ trẻ, Thầy đã cúng dường Sư Cố trong một lần từ Sài Gòn về lại chùa Tổ. Sư Cố rất thích. Ngày Sư Cố viên tịch, Thầy đang ở nước ngoài không về được. Sư thúc Chí Viên, đệ tử Sư Cố và là sư em của Thầy, trong những lúc chúng con ngồi hầu chuyện, vẫn thường kể cho chúng con nghe về tình thương Sư Cố dành cho Thầy:

“Trước đây, lúc Thầy rời chùa Từ Hiếu, Thầy thưa với Sư Cố rằng: “Con đi rồi con sẽ trở về“. Nhưng kể từ khi thầy Nhất Hạnh đi cho đến lúc được về lại Từ Hiếu, Sư Cố đã đi trước rồi. Năm 2005, khi thầy Nhất Hạnh về Việt Nam, tôi hy vọng Thầy sẽ về Tổ đình. Đến bây giờ, Thầy thật sự đã về rồi, đã thật sự trở về. Lúc thầy Nhất Hạnh đi xa, Sư Cố thường hỏi thị giả: “Thầy (Nhất Hạnh) về chưa?” Có khi Sư Cố chống gậy đứng nhìn về khung cảnh trước mắt, và hỏi thị giả đang đứng hầu sau lưng mình: “Thầy (Nhất Hạnh) về chưa?”  Sư Cố luôn luôn nhớ đến người học trò mà Sư Cố rất thương. Bây giờ Thầy trở về, đó là một hạnh phúc cho Tổ đình, cho con cháu trong Tổ đình. Đó là một hạnh phúc cho đất nước Việt Nam. Thầy đã thưa với Sư Cố khi ra đi: “Con đi rồi con sẽ trở về“. Đi vì trách nhiệm phụng sự Tam Bảo thì không hẹn ngày về được. Thầy về Việt Nam, Thầy về cội nguồn Tổ đình Từ Hiếu, nhưng hình bóng của Thầy vẫn còn khắp năm châu.

Trước đây, tôi không biết trả lời thế nào mỗi lần Sư Cố hỏi: “Thầy về chưa?” Bây giờ thì Thầy đã trở về. Hôm nay chúng ta lạy Tổ, chúng ta có thể thưa với liệt vị Tổ sư tiền bối rằng: “Thầy Nhất Hạnh đã về.”

Sư thúc Chí Thắng, đệ tử Sư Cố và là sư em của Thầy, trong lúc đứng chiêm ngưỡng bức chân dung đã thưa với Thầy rằng: “Đây là bức ảnh ngày xưa Thầy mang từ Sài Gòn ra cúng dường Sư Cố. Mấy năm trước bức chân dung có vài chỗ hư nên đã thỉnh xuống để chỉnh sửa lại những chỗ hư đó.” Nghe vậy, Thầy mỉm cười, gật đầu nhiều lần rất hoan hỷ.

 

Thầy niệm hương trước bàn thờ trong thất Sư Cố. Chúng con nhớ Thầy thường dạy bài kệ “Năng lễ, sở lễ tánh không tịch” (Người lạy và  đối tượng được lễ lạy vốn vắng lặng, vốn không ngoài nhau.) Bên cạnh Thầy có sư thúc Chí Viên và sư thúc Chí Thắng, sư bà Lưu Phong, và nhiều vị Tôn túc khác. Nhìn Thầy, trong lòng chúng con như nghe lời dạy mà Thầy đã dạy không biết bao nhiêu lần: “Không có gì quý hơn tình huynh đệ”.

 

Sau đó, Thầy đã đến trước ba án thờ Tổ, niệm hương nơi mỗi án thờ. Thầy đến trước chánh điện, niệm hương trước bàn thờ Bụt. Thầy niệm hương nơi đây lâu nhất. Thầy nhìn đức Bụt, nhìn không gian ngôi chánh điện, nhìn bức chữ Hán “Từ Hiếu tự”. Đây là nơi Thầy đã có mặt với rất nhiều những thời khoá tụng kinh của chùa lúc còn là một chú điệu nhỏ. Chư tôn đức Tăng Ni và các vị cư sĩ có mặt rất đông và rất cảm động trước hình ảnh Thầy đã thật sự trở về. Nhiều vị đã bật khóc. Những kỷ niệm sâu sắc trong khoảng thời gian Thầy tu học tại Từ Hiếu hồi đó đã được Thầy ghi lại trong tác phẩm “Tình người”. Đó là khoảng thời gian Sư cố Thanh Quý còn đó với những lời dạy qua thân giáo của Sư Cố mà Thầy đã tiếp nhận được và mang theo trong suốt sự nghiệp xuất sĩ của mình.

Thầy ra khoảng sân trước chánh điện, để vài phút thưởng thức không gian trước mắt với nhiều cây xanh, có nắng ấm, có hồ bán nguyệt và cổng tam quan thấp thoáng sau rừng cây. Thầy còn ra dấu cho thị giả quay xe lăn lại để Thầy nhìn ngắm toàn bộ ngôi chánh điện từ bên ngoài trước khi Thầy trở về thất Lắng Nghe nghỉ ngơi. Chư  vị Tôn túc Tăng Ni và cư sĩ rất hạnh phúc được gặp, đảnh lễ và thăm Thầy trực tiếp như vậy. Chúng con rất biết ơn sự có mặt của đại chúng. Có những ngày mưa Thầy không ra ngoài được, đại chúng vẫn chờ đợi trong tình thương và niềm trân quý. Từng nhóm nhỏ ngồi bên nhau nơi khu vực cạnh tháp chuông, bên ngoài khu vực nội viện, trên những con đường trải sỏi nhỏ, bên tháp Tổ, hoặc bên hồ bán nguyệt, hoặc bên bờ hồ Sao Hôm…, mong rằng Thầy có thể đi dạo để đại chúng có dịp đảnh lễ hầu thăm và thực tập thiền hành cùng Thầy. Chúng con rất cảm động trước tấm lòng của đại chúng.

 

Trước và sau ngày giỗ Tổ, thời tiết rất đẹp, Thầy đã dạo quanh chùa Từ Hiếu nhiều lần trong những khoảng thời gian khác nhau. Thầy vào thăm liêu Sư Cố nhiều lần, lần nào cũng chăm chú cảm động. Nơi này, Thầy từng kể: “Vào giờ trưa, Sư Ông ưa có một bình trà như thế trên án thư. Người thường rót và ban cho sư chú một chén nhỏ, sau khi đã nhắp một lần vào chén của người. Chú kính cẩn đứng bên để hầu trà, và cũng được uống trà với Sư Ông. Đây là những giờ phút hạnh phúc lớn của cuộc đời một người đệ tử.” (Trích từ tác phẩm “Con nghé nhỏ đuổi chạy mặt trời” – Sư Ông Làng Mai).

Thầy thăm căn phòng nơi ngày xưa Thầy đã ở, thăm cây khế già trăm tuổi, thăm hồ bán nguyệt, thăm tháp chuông, thăm cổng tam quan, hoặc ghé thăm ni xá Diệu Trạm, thăm Lạc nghĩa đường, thăm Lăng viện, thăm từng gốc cây, từng bảo tháp, chiếc giếng cổ hay gốc bùi già… bằng tất cả sự chú tâm và tinh tường. Nơi đâu cũng ghi dấu thâm sâu cho lần trở về này.

 

GHI CHÉP CỦA BAN THỊ GIẢ

 

Tình thương và giải thoát – Phần 2

(Ông Melvin McLeod, chủ bút báo Shambala Sun – nay đổi tên thành Lion’s Roar, phỏng vấn Thiền sư Thích Nhất Hạnh; bài được chuyển ngữ từ tiếng Anh)

Trong cuộc phỏng vấn vào năm 2010 này, Thiền sư Thích Nhất Hạnh nói về tình thương đích thực, những lợi ích của khổ đau và tuệ giác giúp cho chúng ta được giải thoát, tự do. Thiền sư nói rằng Người giảng dạy về Phật giáo nguyên thủy theo tinh thần đại thừa. Tôi thì cho rằng: cho đến hôm nay, tôi chưa gặp được một ai có thể truyền đạt những giáo lý cốt tủy của Bụt một cách rõ ràng và sâu sắc như cách Thiền sư vẫn giảng dạy. (Melvin McLeod)

 

 

Melvin McLeod: Thiền sư là một bậc thầy trong truyền thống Thiền, với sự hiểu biết uyên thâm về các truyền thống Phật giáo khác, vậy mà suốt quá trình dạy cho thiền sinh trong năm ngày liên tiếp, Thầy chỉ nói phớt qua về khái niệm Thiền. Thay vào đó, Thầy chỉ dạy về những giáo lý căn bản của đạo Bụt như pháp môn chánh niệm, bốn sự thật mầu nhiệm (tứ diệu đế). Vì sao thầy lại chọn hướng đi này?   

Thiền sư: Khi nói về đạo Bụt, chúng ta biết rằng có đạo Bụt nguyên thỉ từ hồi Bụt còn tại thế và nhiều trường phái của đạo Bụt được phát sinh bởi những thế hệ sau. Nhưng cho dù là đạo Bụt nguyên thỉ, Thiền, Thiên Thai tông hay Kim Cương Thừa thì đó cũng là những điều Bụt dạy. Sự nghiệp của Bụt đã được tiếp nối bởi các vị đệ tử của Ngài – tuệ giác và giáo pháp của Ngài vẫn được trao truyền qua nhiều thế hệ dù Ngài đã nhập niết bàn từ lâu. Ta thấy được Bụt qua nhiều thế hệ các đại sư và đệ tử của họ.

Điều mà tôi đang làm là trình bày những phương pháp thực tập thuần tuý của Phật giáo nguyên thỉ trong tinh thần Phật giáo Đại thừa. Phật giáo Đại Thừa có cái nhìn rất cởi mở, không gò bó và thật là tuyệt vời khi học hỏi Phật giáo nguyên thỉ bằng tinh thần khoáng đạt này. Khi ta sử dụng con mắt của Phật giáo Đại thừa để tìm hiểu, nhìn sâu vào Phật giáo nguyên thỉ, ta có thể khám phá ra biết bao nhiêu điều kỳ diệu và sâu sắc. Ta nhận ra rằng những lời dạy sâu sắc nhất của Phật giáo đại thừa có thể tìm thấy trong các kinh điển nguyên thỉ. Những tư tưởng phóng khoáng của đại thừa đã có rành mạch trong các kinh nguyên thỉ.

Những hạt giống của Phật giáo đại thừa đã có đầy đủ từ trong Phật giáo nguyên thỉ. Thành ra khi ta dùng từ Phật giáo nguyên thỉ điều đó không có nghĩa là ta loại ra ngoài những bộ phái khác, những truyền thống mới khai triển sau này. Tôi chỉ muốn đem tất cả các truyền thống về với gốc rễ nguyên thỉ của mình. Như vậy, Phật giáo nguyên thỉ được xem như mẫu số chung của tất cả các truyền thống Phật giáo. Do đó điều mà tôi muốn cống hiến là truyền đạt những điều Bụt dạy khi Ngài còn tại thế trong tinh thần Đại thừa.

Những giáo lý Bụt dạy khi Ngài còn tại thế rất đơn giản, nhưng cũng rất thâm sâu. Nhiều học giả đã làm cho đạo Bụt trở nên rắc rối, biến đạo Bụt thành một loại siêu hình học hay một loại triết học. Một số sinh viên Phật học đã bỏ quá nhiều thì giờ cho những hệ thống tư duy này và không có thì giờ tu tập. Cũng như thiền sư Lâm Tế (Trung quốc gọi là Linji, Nhật gọi là Rinzai), Ngài học rất nhiều về Phật pháp nhưng sau đó cảm thấy không đủ. Vì thế Ngài bỏ hết những học thuyết và bắt đầu thực  hành.

Melvin McLeod: Phật giáo ở phương Tây còn đang trong giai đoạn sơ khai, Thiền sư có cho rằng Phật giáo nguyên thỉ có thể sẽ hợp với người Tây Phương hơn là những giáo lý được khai triển sau này không?

Thiền sư: Không phải một giáo lý riêng biệt nào mới thích hợp với thời đại chúng ta mà quan trọng là cách ta hiểu giáo lý như thế nào – điều này phụ thuộc vào cách tiếp cận giáo lý của chúng ta. Nếu ta là một học giả và chỉ sử dụng trí năng mà thôi thì ta có thể giải thích giáo lý theo cách này, trong khi nếu ta là một hành giả thực tập thật sự thì có thể ta sẽ khám phá được chiều sâu của giáo lý và tiếp xúc được với tuệ giác phát sinh từ sự thực tập của ta. Và nhờ thế, ta có thể trình bày giáo lý kia một cách hoàn toàn khác hẳn với người chỉ dùng trí năng. Thành ra vấn đề không phải giáo lý này hay hơn, hay giáo lý kia thích hợp hơn, vấn đề là cách ta thực tập, trải nghiệm và áp dụng giáo lý vào sự tu tập của mình có phù hợp hay không.

Tuy vậy, phải nói rằng thật kỳ diệu là bài pháp thoại đầu tiên do Bụt thuyết vẫn còn thích hợp với thời đại chúng ta. Sau 2500 năm, bài thuyết pháp đầu tiên vẫn có giá trị vững chãi. Trong bài thuyết pháp đầu tiên ấy, ta có thể tìm được đầy đủ những điều Bụt dạy mà ta có thể thực tập suốt đời. Điều đó thật đáng kinh ngạc.

Melvin McLeod: Trong những lời dạy của mình, Thiền sư nhấn mạnh đến yếu tố tăng thân – một nhóm người cùng tu tập chung. Thiền sư dạy về điều này nhiều hơn các vị thầy khác. Tại sao yếu tố tăng thân lại quan trọng như thế đối với Thiền sư ?

Thiền sư: Xây dựng tình huynh đệ là nền tảng thiết yếu của một tăng thân. Nếu tăng thân hạnh phúc thì đó sẽ là nơi nương tựa cho nhiều người. Chúng tôi bắt đầu xây dựng tăng thân từ nhiều thập niên trước và giờ đây tăng thân chúng tôi đang trở nên lớn mạnh và vững chãi. Trong những khóa tu, chúng ta có thể cảm nhận được rất rõ năng lượng vững chãi của tăng thân, đặc biệt là với sự tham dự của nhiều người đã từng tu tập lâu năm. Trong kinh có nhắc đến câu chuyện về vua Ba Tư Nặc (Presenajit) của nước Kosala. Ngài gặp Đức Thế Tôn lần cuối, khi ấy cả hai đều đã 80 tuổi, nhà vua nói:  “Bạch đức Thế Tôn, mỗi lần con thấy tăng thân của đức Thế Tôn là con lại có niềm tin nhiều hơn ở nơi đức Thế Tôn”. Tôi thấy thật ý nghĩa khi mọi người có thể thấy được Bụt qua tăng thân của Người. Tăng thân là công trình, là tác phẩm lớn nhất của Bụt. Bụt là một nghệ sĩ và tăng thân là công trình nghệ thuật của người nghệ sĩ kia.Thành ra, Bụt vẫn đang sống cho đến ngày hôm nay trong tăng thân. Khi mà bạn thấy các thầy, các sư cô cùng các bạn cư sĩ tu tập nghiêm túc, thảnh thơi và an lạc là các bạn có thể thấy được sự hiện diện của Bụt.

Melvin McLeod: Thầy đã cho một bài pháp thoại tại New York với đề tài: Xây dựng một xã hội lành mạnh và từ bi. Thế nào là con đường đưa tới một xã hội lành mạnh và từ bi? Năm phép tu tập chánh niệm mà Thầy đã làm mới lại trên nền tảng Năm giới của đạo Bụt truyền thống để thích hợp với tình trạng của xã hội hiện đại, đó có phải là cẩm nang để đưa tới một xã hội lành mạnh và từ bi không?

Thiền sư: Tuệ giác tương tức có khả năng giúp đẩy lùi sự kỳ thị, sợ hãi và cách tư duy lưỡng nguyên. Chúng ta tương tức với nhau, ngay cả hạnh phúc và khổ đau cũng tương tức với nhau, vì vậy tuệ giác tương tức phải được xem là nền tảng cho bất cứ hành động nào. Tuệ giác ấy có thể đem tới hòa bình, tình huynh đệ cũng như giúp chuyển hóa bạo động và tuyệt vọng. Tuệ giác này có mặt trong tất cả các truyền thống tâm linh. Ta chỉ cần trở về với chính truyền thống tâm linh của ta và gắng làm sống lại những hạt giống tuệ giác ấy.

Năm phép tu tập chánh niệm (hay còn gọi là Năm Giới) là biểu hiện cụ thể của sự thực tập từ bi. Trong truyền thống Phật giáo, chúng tôi luôn học hỏi cách thức để áp dụng Năm Giới một cách hữu hiệu trong đời sống hằng ngày. Năm Giới quý báu ấy là để thực tập, chứ không phải để suy luận và nghiên cứu. Ghi tên để xin thọ nhận Năm phép tu tập chánh niệm ấy không phải là ký tên ủng hộ một kiến nghị mà là làm cho nó trở thành sự sống của chính mình, nó là con đuờng tu tập của mình. Bạn sẽ rất hạnh phúc vì biết rằng mình đã có đường đi – con đường của hiểu biết và thương yêu. Và khi đã có đường đi rồi thì bạn không còn lý do gì để lo sợ về tương lai của mình nữa cả.

Bạn có thể chia sẻ con đường lý tưởng của mình, chia sẻ cách mình tu tập để nuôi dưỡng, phát triển hiểu biết và tình thương với các bạn thuộc truyền thống khác. Họ không cần trở thành Phật tử để có thể thực tập theo Năm giới, họ chỉ cần trở về truyền thống tâm linh của họ, sống cho sâu sắc và tìm cho ra những phương thức tương đương với năm phép tu chánh niệm của Phật tử nơi chính truyền thống tâm linh của mình.

Mục đích của chúng tôi không phải là để thay đổi niềm tin của các bạn từ truyền thống khác và biến họ thành Phật tử, mà chỉ là chia sẻ con đường của hiểu biết và thương yêu. Các bạn vẫn tiếp tục là tín hữu Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo hay Hồi giáo, mà vẫn có thể thực tập như chúng tôi đang làm. Chúng tôi dùng ngôn từ Phật giáo, còn các bạn thì có thể dùng ngôn từ Thiên chúa giáo, Hồi giáo, v.v. mà tu tập và chúng ta sẽ cùng đi đến một kết quả như nhau. Thế nên ta mới có thể gọi là một đường hướng tâm linh toàn cầu hay là một nền đạo đức toàn cầu.

Melvin McLeod: Sẽ rất tuyệt vời nếu tất cả các vị lãnh đạo tâm linh từ nhiều truyền thống khác nhau có thể đến cùng nhau và bàn bạc làm thế nào để có một nền đạo đức toàn cầu để mọi người đều có thể cùng nhau tu tập.

Thiền Sư Làng Mai: Có thể họ không cần đến với nhau tại một chỗ. Họ chỉ cần ngồi yên nơi chốn của họ và tu tập, làm khơi dậy cái hiểu cho thâm sâu và mở rộng tình thương đến với mọi người, mọi loài. Đó là cách gặp nhau sâu sắc nhất.

Melvin McLeod: Cám ơn Thiền sư vô cùng. Thiền sư thật là từ bi, đã dành cho chúng tôi từng ấy thì giờ. Đây là một vinh dự lớn cho tôi và tôi cũng biết đọc giả chúng tôi sẽ vô cùng lợi lạc.

 

Bài liên quan: Tình thương và giải thoát – Phần 1

Tình thương và giải thoát – Phần 1

(Ông Melvin McLeod, chủ bút báo Shambala Sun – nay đổi tên thành Lion’s Roar, phỏng vấn Thiền sư Thích Nhất Hạnh; bài được chuyển ngữ từ tiếng Anh)

Trong cuộc phỏng vấn vào năm 2010 này, Thiền sư Thích Nhất Hạnh nói về tình thương đích thực, những lợi ích của khổ đau và tuệ giác giúp cho chúng ta được giải thoát, tự do. Thiền sư nói rằng Người giảng dạy về Phật giáo nguyên thủy theo tinh thần đại thừa. Tôi thì cho rằng: cho đến hôm nay, tôi chưa gặp được một ai có thể truyền đạt những giáo lý cốt tủy của Bụt một cách rõ ràng và sâu sắc như cách Thiền sư vẫn giảng dạy. (Melvin McLeod)

 

 

Melvin McLeod: Kính thưa Thiền sư, vì sao chánh niệm là chìa khóa của hạnh phúc? 

Thiền sư: Chánh niệm đưa đến định. Định đưa đến cái thấy thâm sâu là tuệ giác. Tuệ giác giúp ta thoát khỏi cái thấy mê mờ của mình, thoát khỏi cái giận và tham đắm. Khi mà ta thoát khỏi được phiền não thì hạnh phúc có thể có mặt. Làm sao ta có thể hạnh phúc được khi ta đã đầy ắp nào là giận hờn, nào là si mê và tham lam? Thế nên cái thấy sâu sắc – tuệ giác – có công năng cởi trói cho ta khỏi những ràng buộc khổ lụy ấy chính là chìa khóa của hạnh phúc. Thường thì có rất nhiều điều kiện hạnh phúc đang có mặt, nhưng ta thường ít để ý nhận diện nó, bởi vì chúng ta không đủ chánh niệm.

Khi thân và tâm nhất như thì ta thật sự có mặt, ta thật sự đang sống. Ta có thể tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống đang có mặt bây giờ và ở đây. Thành ra, ta không chỉ thực tập với tâm, mà còn thực tập với thân của mình nữa. Thân và tâm phải hợp nhất, không phải là hai thực thể tách rời. Trên căn bản ấy, ta sẽ thấy những gì ta đang tìm cầu đã có mặt từ lâu rồi, cho dù đó là giác ngộ, niết bàn, giải thoát, Phật, Pháp, Tăng hay là hạnh phúc, tất thảy đều đang có mặt. Thực ra, địa điểm duy nhất và thời điểm duy nhất mà ta có thể tìm được những cái trên là bây giờ và ở đây.

Có thể trên bề mặt trí năng, ai cũng đều biết rằng ta phải sống trong phút giây hiện tại, nhưng thói quen để cho tâm bị trôi lăn, phân tán đã hiện diện trong ta lâu lắm rồi. Nó cứ đẩy ta đi vòng vòng cho nên ta đánh mất khả năng có mặt để sống sâu sắc trong phút giây hiện tại. Vì thế sự thực tập rất quan trọng. Nếu chỉ hiểu và nói về nó thôi thì chưa đủ. Ta phải thực tập đủ lâu để có thể thực sự dừng lại thói quen rong ruổi và thiết lập thân tâm trong phút giây hiện tại. Đó là sự thực tập rất cơ bản: dừng lại. Dừng lại, nhìn sâu và tìm ra hạnh phúc, tự do. Đó là con đường của Bụt.

Melvin McLeod: Thiền sư thường nhấn mạnh đến niềm vui trong sự thực tập – niềm vui khi đặt những bước chân trên mặt đất, niềm vui khi thở vào một hơi thở chánh niệm. Có thể vì cái quá khứ học Phật quá cứng ngắc và nghiêm khắc của chúng tôi mà chúng tôi thấy dễ chấp nhận hơn khi nghe rằng mình tu theo Bụt thì tu làm sao cho cứng cỏi, không để bị kéo đi bởi niềm vui. Chúng tôi gần như cảm thấy tôn giáo mà gắn liền với niềm vui và ăn mừng sự sống thì hình như có gì không đúng lắm.

Thiền sư: Tôi nghĩ rằng phần đông khi lắng nghe Bụt dạy về bốn sự thật mầu nhiệm (Tứ Diệu Đế), nhất là sự thật đầu tiên, họ nghe những chữ như khổ đau, như phiền não và vì thế nên họ nghĩ rằng đạo Bụt là đạo chỉ nói đến khổ đau thôi. Nhưng họ không nhớ rằng sự thật thứ ba là để nói về hạnh phúc, cái ngược lại của sự thật thứ nhất là phiền não, khổ đau. Bốn sự thật mầu nhiệm mà Bụt dạy là: 1. Có khổ đau, có phiền não; 2. Nhận diện con đường đưa ta đến chỗ khổ đau; 3. Có thể làm khổ đau vắng mặt, nghĩa là có hạnh phúc; và 4. Có con đường dẫn tới hạnh phúc. Có lẽ chúng ta nên trình bày đạo Bụt bắt đầu bằng hai sự thật thứ 3 và thứ 4 trước: 1. Sự có mặt của hạnh phúc; 2. Có con đường đưa tới hạnh phúc; 3. Sự có mặt của khổ đau; 4. Có con đường đưa tới khổ đau.

Melvin McLeod: Khi có chánh niệm, ta khám phá ra ta có nhiều niềm vui nhưng đồng thời cũng khám phá ra nhiều niềm đau và thương tích trong ta, đó là những kinh nghiệm khó xử khi thực tập chánh niệm. Vậy khi khổ đau trỗi dậy, chúng ta cần  thực tập như thế nào thưa Thiền sư?

Thiền sư: Khổ đau và hạnh phúc tương tức với nhau. Chúng ta có thể nhận diện được hạnh phúc dễ dàng hơn nhờ vào nền tảng khổ đau trong quá khứ. Ví dụ như ta thấy rõ hơn những chữ trắng nếu nó nằm trên nền đen. Nếu ta đã từng đói ta mới thấm thía được niềm hạnh phúc khi có ăn. Nếu ta đã từng khổ đau vì chiến tranh ta mới cảm nhận được giá trị lớn lao của hòa bình. Nếu không, ta sẽ không trân quý hòa bình, ta chỉ muốn đánh giặc thôi. Thành ra, kinh nghiệm của ta về khổ đau trong chiến tranh sẽ giúp ta tìm nhiều cách để gìn giữ hòa bình. Vì thế nếu có một chút khổ đau cũng là điều hữu ích, nhờ vào nền tảng khổ đau ấy mà ta nhận diện được hạnh phúc.

Phần đông chúng ta ai cũng có khuynh hướng thâm sâu là tìm kiếm khoái lạc và trốn tránh khổ đau. Điều này có gốc rễ sâu xa từ một phần trong tàng thức của ta, gọi là mạt-na thức (tiếng Phạn là manas). Mạt-na chỉ muốn tìm kiếm sự hưởng thụ và lẩn tránh khổ đau. Vì bị vô minh che lấp nên mạt-na không thấy được những hiểm nguy của sự tìm kiếm dục lạc ấy. Như con cá đã được báo trước là hãy coi chừng những miếng mồi ngon vì bên trong có thể có lưỡi câu móc họng, nhưng nó vẫn không cưỡng được sự cuốn hút của miếng mồi. Mạt-na không nhận thấy được hiểm nguy của sự tìm kiếm dục lạc, và cũng không nhận thấy rằng khổ đau cũng có ý nghĩa của nó. Khổ đau một chút cũng tốt, bởi vì khổ đau giúp cho ta chế tác hiểu biết và thương yêu.

Bởi vì mạt-na không thấy được những hiểm nguy của dục lạc, cũng như không biết đến cái lợi lạc của bài học khổ đau nên chúng ta phải chuyển tải vào tàng thức cái thấy (hay tuệ giác) mà ta có được trong khi thiền tập. Bởi vì suy tư trên bề mặt ý thức thôi thì chưa đủ để đem lại một sự chuyển hóa tận gốc. Cái mà ý thức có thể làm là quán chiếu để đạt tới cái thấy sâu sắc và chuyển tải cái thấy đó xuống tàng thức.

Cái thấy đầu tiên cần được nhấn mạnh là thấy rằng sự tìm kiếm dục lạc rất nguy hiểm và trốn tránh khổ đau không phải là điều hay, bởi vì khổ đau cũng có cái lợi lạc của nó. Nếu ta chánh niệm, nếu ta đủ can đảm để trở về với chính ta và ôm ấp nỗi khổ trong lòng thì ta sẽ học được nhiều lắm và ta có thể chuyển hóa khổ đau. Nếu ta luôn tìm cách trốn chạy khổ đau thì ta sẽ không có cơ hội chuyển hóa. Bởi vậy cho nên Bụt dạy ta, trước hết là chấp nhận sự thật thứ nhất, sự thật là mình đang có khổ đau. Sau đó là nhìn sâu vào khổ đau để có thể tìm ra sự thật thứ hai là nguyên nhân đưa ta đến cái khổ đó. Đó là cách duy nhất để cho sự thật thứ tư, con đường hành trì để chuyển hóa khổ đau, đưa tới hạnh phúc có thể hiển lộ được. Vì thế ta nên nhấn mạnh đến vai trò của khổ đau. Nếu ta quá sợ khổ đau thì chúng ta không có cơ hội có được những khám phá ấy.

Melvin McLeod: Tôi nghĩ là ai ai trong chúng ta cũng từng có thương một người trong cuộc đời và ta sẽ sẵn sàng gánh chịu hết những khổ đau của người kia cũng như sẵn sàng trao tặng cho người đó những hạnh phúc ta có. Trải rộng tình thương đó ra cho nhiều người, và cuối cùng là cho tất cả mọi người, là điều hay  nhất mà ta có thể làm để giúp cho thế giới tốt đẹp hơn. Vậy theo Thiền sư, làm sao để tình thương trong ta có thể lớn lên và trải rộng ra cho tất cả mọi người?

Thiền sư: Ngay giây phút lọt lòng mẹ, ta đã trải nghiệm sự sợ hãi – nỗi sợ nguyên thủy. Cái sợ đầu tiên đó thật lớn, thật sâu bởi vì ta có thể chết trong giây phút trọng đại, nguy ngập ấy. Ta vừa rời khỏi cung điện ấm áp (tử cung) của mẹ và sợi dây rốn gắn kết ta với mẹ không còn nữa. Giờ đây ta phải tự thở lấy. Phổi của ta khi ở trong bụng mẹ thì có nước, nhưng trong giây phút trọng đại này, ta phải đẩy chất nước ấy ra khỏi phổi để tự hít vào hơi thở đầu tiên, nếu làm không được thì ta sẽ chết.

Thành ra, đó là lần đầu tiên ta kinh nghiệm về nỗi sợ hãi và ước muốn được sống còn cũng phát sinh từ giây phút ấy. Là một em bé sơ sinh, ta thấy ta thật bất lực. Ta sẽ không sống sót nổi nếu không được ai chăm sóc. Khi nghe bước chân của ai đó đến gần và nhận ra đó là người chăm sóc cho ta thì ta hạnh phúc. Cả ngày ta chỉ chờ đợi tiếng chân đến gần bởi vì ta biết sau khi tiếng chân ấy là có sữa, có sự ấm áp, có mọi thứ… Đó là cái sợ ban đầu và cái thèm khát ban đầu được phát sinh.

Rồi khi ta lớn lên, cái thèm khát có một người yêu cũng là sự tiếp nối từ cái thèm khát ban đầu đó. Ta thấy cần có một người để chăm sóc ta, nếu phải sống một mình thì thiếu thiếu cái gì đó và ta thấy hơi bất lực, mong manh. Ta không tự thấy yên tâm nếu chỉ sống một mình. Vì vậy cứ tìm cách có một người yêu cùng sống bên nhau, đó cũng chứng tỏ là cái thèm khát ban đầu (khi mới sơ sinh) vẫn còn đó, rằng ta không cảm thấy an tâm nếu không có ai bên cạnh.

Thế nên người yêu, người bạn hôn phối cũng là một sự tiếp nối cái thèm khát ban đầu, cái nhu yếu có mẹ, có cha kề bên. Ta thấy có sự an ổn ngay khi có mẹ, có cha kề bên. Thật ra không phải sự có mặt thật sự của cha, của mẹ mới làm cho ta an tâm. Chính cái ý niệm là “mẹ đang ở đây mà” hay là “cha đang ở đây mà” đã khiến cho ta có cảm giác an ổn rồi. Nhưng sau một thời gian thì ta thấy người ở kề bên ta làm phiền ta quá và ta muốn ly dị. Thế nên thật ra không phải vì sự hiện diện của anh chàng hay cô nàng ấy cho ta có cảm tưởng thoải mái mà chính là cái ý niệm trong đầu và cái thèm khát ban đầu khi còn bé thơ đã sai khiến ta.

Trong đạo Bụt, tình thương lúc nào cũng cần bắt đầu với chính mình, trước khi thương yêu một ai khác trong cuộc đời. Thương yêu theo phương pháp Bụt dạy là ta cần trở về với chính ta và nhận diện được nỗi khổ, niềm đau trong tâm ta. Sự hiểu biết sâu sắc nỗi khổ của tự thân khiến ta nhẹ ra và biết thương mình nhiều hơn, bởi vì ta cảm thấy có sự mãn ý, sự toàn vẹn trong chính con người mình. Và vì thế ta không cần phải có một người nào khác để bắt đầu thương yêu. Ta nên bắt đầu với chính ta.

Tình thương chân thật không phải chỉ dành cho một người. Khi tình thương có mặt, ta tỏa rạng như một ngọn đèn. Ánh sáng mà đèn tỏa chiếu ra không phải chỉ dành cho một người mà là dành cho tất cả mọi người có mặt trong không gian đó. Cũng thế, nếu trong ta thật sự có tình thương thì mọi người quanh ta đều được thừa hưởng  – chẳng những con người mà ngay cả cầm thú, cỏ cây và đất đá cũng được thừa hưởng. Tình thương chân thật là như vậy. Trong tình thương chân thật có yếu tố xả, tức là bao trùm tất cả, không phân biệt một ai.

Melvin McLeod: Như vậy muốn trải tình thương ra thật rộng, thật xa thì trước tiên ta nên tập thương chính mình, làm cho mình trở thành một con người toàn vẹn, viên mãn?

Thiền sư:Đúng vậy!

Melvin McLeod: Trong một buổi thiền tập, Sư cô Chân Không hướng dẫn chúng tôi nhìn sâu để tiếp xúc với những điều kiện và yếu tố khác nhau đã làm nên con người chúng ta và những yếu tố đó vẫn đang ở có mặt trong ta như: cha mẹ, tổ tiên huyết thống, tổ tiên tâm linh và nhiều yếu tố văn hóa, xã hội v.v. Sự thực tập này mang lại những lợi ích gì?

Thiền sư: Cái ngã được làm bởi những yếu tố không phải là ngã, đó là tuệ giác vô ngã, tuệ giác ấy có công năng giải phóng cho ta. Chúng ta được làm bởi những yếu tố không phải là ta. Khi nhìn sâu, ta sẽ thấy trong ta có tổ tiên, cha mẹ, văn hóa, xã hội… nói chung là có tất cả.

Có nhiều giảng sư Phật giáo giảng dạy giáo lý tương tức bằng những danh từ rất trừu tượng. Tôi nghĩ rằng giáo lý Bụt dạy có thể được diễn bày một cách rất đơn giản, dễ hiểu và ngay cả trẻ em cũng có thể hiểu được. Sáng nay chúng ta đã được hướng dẫn một buổi thiền tập quán chiếu về sự có mặt của gia đình huyết thống trong ta: “Thở vào tôi thấy cha tôi là một em bé năm tuổi, rất mong manh và dễ bị thương tích; Thở ra, tôi cười với em bé là cha tôi với nụ cười hiểu biết và xót thương”. Cách quán chiếu như vậy có thể giúp ta tiếp xúc được với tự tánh vô ngã. Khi biết ta được làm bởi các yếu tố không phải là ta, ta có thể thấy cha ta vẫn đang có đó trong ta. Cha ta đang thực sự sống trong từng tế bào của thân thể ta và những đau khổ của cha cũng vẫn còn đó trong ta.

Thực tập như vậy sẽ đưa tới tuệ giác tương tức và vô ngã. Nếu ta đang giận cha thì tuệ giác này có thể giải phóng cho ta khỏi những giận hờn, oán trách đó.

Melvin McLeod: Tại sao ta quán chiếu những yếu tố vô ngã trong ta không những bằng tuệ giác mà còn bằng tình thương?

Thiền sư: Tuệ giác và tình thương là một. Tuệ giác đưa tới tình thương và tình thương không thể nào có được nếu không có hiểu, không có tuệ giác. Nếu ta không hiểu thì không thể nào ta thương được. Tuệ giác là cái hiểu trực tiếp, không phải chỉ là những khái niệm, những tư duy trừu tượng. Trong thiền quán ta phải để cho  ánh sáng của tuệ giác soi sáng cho ta.

Đôi khi việc sử dụng một hình ảnh có thể giúp cho ta có thể hiểu một cách sâu sắc hơn. Ví dụ tôi hay dùng hình ảnh hạt bắp và cây bắp để giải thích cho các em nhỏ về tính tương tức. Tôi nói với các em rằng thật khó để giúp cho một cây bắp hiểu rằng nó từng là một hạt bắp. Thế nhưng đó là sự thật, và nếu ta thực sự nhìn theo cách đó, ta sẽ thấy được sự tương tức giữa hạt bắp và cây bắp. Bởi vì nếu không có hạt bắp thì làm sao có được cây bắp? Cũng tương tự như vậy đối với cha mẹ và con cái. Nếu ta chạm được sự thật đó qua thiền quán thì những giận hờn, trách móc sẽ tan biến và tình thương có thể phát sinh.

 

Thầy cô giáo hạnh phúc sẽ thay đổi thế giới

[ThaiHaBooks] “Thầy cô giáo hạnh phúc sẽ thay đổi thế giới” – bộ sách bạn đang cầm trên tay là một món quà đặc biệt quan trọng – hay nói cách khác là một sự trao truyền – từ Thiền sư Thích Nhất Hạnh trao tặng vào giai đoạn chín muồi của một nhân cách vĩ đại. Bạn sẽ thấy rằng nó là kết tinh tình thương sâu sắc của Thiền sư đối với những người trẻ và sự mong mỏi không ngừng về một nền giáo dục bồi dưỡng tài và đức cho các thế hệ mai sau. Ở mỗi trang, bạn có thể cảm được sự tôn vinh dành cho những con người đang thực hiện sứ mệnh này, thường là âm thầm không ai biết, và khối lượng công việc khổng lồ mà họ gánh vác từng ngày nhằm phục vụ cho công cuộc kiến tạo, chuyển hóa và hàn gắn thế giới của chúng ta từ dưới lên, từ thế hệ này sang thế hệ khác – đó là những người thầy, người cô. Đây cũng đồng thời là tác phẩm được kết tinh từ sự cộng tác đầy cảm hứng với giáo sư Katherine Weare, một nhà giáo dục và cũng là một giáo viên về chánh niệm, người đã có nhiều năm nghiên cứu những tác động của thực tập chánh niệm trong môi trường học đường, và đội ngũ các cây bút cố vấn, những học trò lớn của Thiền sư từ Làng Mai. Cùng nhau họ đã thiết kế một cẩm nang thiền tập mang tính đa diện và rất dễ sử dụng để giúp các thầy cô giáo có thể đem chánh niệm vào lớp học cũng như vào đời sống của chính mình bằng nhiều hình thức.

Bộ sách gồm 2 cuốn: Tập 1 “Cẩm nang hạnh phúc”, Tập 2 “Đi như một dòng sông”

Trong cuốn “Cẩm nang hạnh phúc” thầy Thích Nhất Hạnh và tác giả Katherine Weare sẽ chia sẻ chi tiết về chánh niệm và tỉnh thức. Bởi thế giới đang thay đổi quá nhanh đến nỗi chúng ta không thực sự biết được nền tảng tri thức và kỹ năng nào sẽ là quan trọng nhất mà các thế hệ kế cận cần phải trau dồi. Nhưng điều mà chúng ta có thể biết chắc là muốn sáng tạo, yêu nghề, thích nghi với thời đại kỹ thuật số và học hỏi suốt đời thì người trẻ ở lứa tuổi nào cũng cần phải phát triển kỹ năng sống với giây phút hiện tại. Điều này bao gồm kỹ năng làm bạn với chính mình, tin tưởng những trải nghiệm trong nội tâm và học cách làm chủ môi trường bên trong, gồm thân và tâm của mình, cũng như biết cách thích nghi với môi trường học tập bên ngoài khi tương tác với những người khác. Đánh thức khả năng sáng tạo và trí tưởng tượng của bản thân trong suốt cuộc đời theo cách thức này là một yếu tố quan trọng dẫn tới thành công và hạnh phúc như tiêu đề của bộ sách.

Một trong những nguyên tắc chính ở đây là các thầy cô giáo cần thực tập chánh niệm trong đời sống của chính mình trước khi có thể đưa nó vào lớp học một cách hiệu quả. Nếu bạn làm nghề giáo và mới biết đến phương pháp chánh niệm, bộ sách này sẽ hướng dẫn hết sức chi tiết cách bạn thực tập cho chính mình, cũng như cách bạn có thể đưa nó vào lớp học theo cách riêng của mình để giúp học sinh phát triển lành mạnh về thể chất và tinh thần, biết cách chăm sóc cảm xúc và có niềm vui trong khi học. Cần lưu ý rằng không có một phương pháp nào là phù hợp cho mọi hoàn cảnh. Cái hay của cách nhìn này là cho bạn một loạt các lựa chọn để thử nghiệm và trên hết là nhắc bạn nhớ rằng chính sự sáng tạo của riêng bạn, được nuôi dưỡng bởi sự thực tập chánh niệm, sẽ mang đến muôn vàn những cơ hội mới và đầy thú vị. Nói một cách thực tế thì học trò của bạn sẽ là người giúp khơi mở nguồn tuệ giác đó trong bạn. Các em chính là những người thầy chánh niệm vĩ đại nhất của bạn. Điểm hay của phương thức tiếp cận này là nó có thể bắt nguồn từ tình yêu nghề và tấm lòng mong mỏi học trò tiến bộ, được ấp ủ và truyền đạt bởi chính trực giác và kinh nghiệm thực tiễn của bạn; tất cả những điều này đều dựa vào công phu thực tập trong từng thời khắc của bạn. Theo như tôi nghiệm thấy, những băn khoăn, học hỏi, quán chiếu cứ lớn lên không ngừng trên mảnh đất nuôi dưỡng ấy.

Công ty cổ phần Sách Thái Hà trân trọng giới thiệu!

Lắng nghe tiếng gọi chân tình

 

Theo thông tin thời tiết, ngày mai sẽ mưa. Tôi bỏ chuyện đi dạo chiều nay, cầm cây chổi ra vườn quét lá. Buổi chiều chưa tắt nắng, theo cơn gió, vài chiếc lá vàng bay xuống lãng đãng như bước chân chim tíu tít gọi đàn.

Mấy tuần nay trong Tăng thân ôn lại cách sống theo Chánh niệm tỉnh giác. Tôi tự nhủ: “Mình nên quét lá với ý thức tỉnh giác mới được!“ Tôi miệt mài quét lá nhưng thầm nhận ra rằng tâm ý tôi cứ lơ lửng lang thang đâu đó, không mấy hài lòng vì cây chổi trong tay chẳng gom được đàng hoàng lắm những chiếc lá vàng nằm vô trật tự ngổn ngang trên sân cỏ rậm rạp. Lâu nay cái máy cắt cỏ hư nên cỏ mọc dài, che luôn lá vàng rơi xuống! Thật ra thì tâm trí tôi chẳng bay đi đâu xa cả, quanh quẩn vẫn còn trong khuôn sân nhỏ này mà thôi. Tâm tôi loanh quanh bên chiếc lá vàng đỏ au, bên chú tiểu quét lá sân chùa, bên bóng dáng Sư Ông ngồi trước cốc bên Làng ngày xưa khi thu về lá đổ…

 

 

Mấy hôm trước, được các bạn báo tin Sư Ông đã về lại Việt Nam, lúc đầu tôi không tin lắm vì nghĩ là năm ngoái, 2017, Sư Ông đã về rồi. Nhưng khi đọc các tin tức qua mạng thì đúng là Sư Ông đang ở VN. Mừng đến rơi nước mắt vì Sư Ông đã về được để thăm lại quê cha đất mẹ mặc dù rất lớn tuổi và sức khỏe rất mong manh.

Tôi không còn nhớ rõ Sư Ông đã rời Làng bao lâu rồi! Nghĩ đến đây, tôi tự cảm thấy mắc cỡ vì Sư Ông có đi đâu và có đến đâu hay về đâu đâu. Tại mình lo sợ cái mất cái còn, cái hình cái tướng của trần tục nên mới như vậy, chứ Sư Ông vẫn có mặt cho các con, cho mọi người…. Không gian và thời gian không tác động được khi tiếng gọi chân tình của Sư Ông còn văng vẳng trong tôi: “Các con cứ gọi tên Thầy, Thầy sẽ có mặt ngay cho các con!“ Đây là lời cam kết của Sư Ông cho tất cả mọi người khi cần đến.

Từ ngày Sư Ông ngã bệnh, không còn sinh hoạt như xưa, quý Thầy Cô đệ tử lớn đã tiếp tục công trình hoằng pháp của Sư Ông thật hoàn hảo, tuy rằng cũng có đâu đó một vài cản trở. Tôi cũng có trong riêng mình những mơ hồ, bức xúc, nghi vấn trong việc tu tập. Tôi chăm chỉ hơn trong việc “trước đèn lật trang sách cũ“, mày mò nghe lại từ từ những bài pháp thoại vô cùng quý giá của Sư Ông ròng rã mấy chục năm nay… Có những điều tôi cứ tự phụ cho là mình đã tự thấu hiểu, đã tự biết… thì ra đó là kết quả tích tụ từ những lời giảng đầy tâm huyết của Sư Ông ngày qua ngày mà vì vô tình tôi chẳng nhận ra. Cả đời này tôi làm sao học hết!

Xa gia đình từ thuở chưa chín chắn lắm nên tôi luôn dạy các con cần phải biết sống độc lập, không nên nương tựa vào bất cứ người nào trên đường đời. Nhưng đây, phải nói là đời sống cơm áo gạo tiền, chứ đời sống tâm linh, nếu không có nơi nương tựa, con người đôi khi sẽ không có được con đường bình yên trong sáng nhẹ nhàng đâu. Điều này tôi đã không nghĩ đến ở thuở hai mươi, ba mươi. Lâu lâu cũng đặt ra câu hỏi, nhưng rất mơ hồ… Nhưng bây giờ, tôi khẳng định với chính mình, giữa cõi đời dâu bể này, không có nơi nương tựa cho đời sống tâm linh thì thật là đáng thương và khốn khổ, nghèo nàn và tội nghiệp lắm.

Nghe lại các bài pháp thoại của những năm 1995, tuy không có cơ hội ngồi trong thiền đường Xóm Thượng, Xóm Hạ hay Xóm Mới… Qua khung kính của màn hình, tôi thấy tôi đang ngồi trong đó, tôi nghe rõ Sư Ông đang ân cần dạy dỗ, truyền trao kinh nghiệm cho các con của Người, trong đó có tôi. Tôi thấy những yêu thương cùng những nghiêm túc, điều lệ, giờ giấc trong từng lời nói với từng ánh sáng dịu dàng, trong suốt không kém nghiêm khắc luôn tỏa ra từ đôi mắt đầy bao dung thương cảm của Sư Ông. Ôi hạnh phúc nào bằng! Tôi đã có nơi nương tựa.

Vài ánh tà dương còn nhảy múa trên ngọn khóm trúc, trời đã ngả xuống dưới mái nhà. Gió lành lạnh thổi về, tôi nhanh tay quét vội, lùa những chiếc lá khô vào giỏ để dẹp chổi vào hiên, chuẩn bị cho bữa cơm chiều.

Cánh cửa khép lại, ngoài kia vài chiếc lá vàng nâu vẫn còn bay nhảy, một vài lá không định hướng rơi ra khuôn sân rồi nằm yên trên mặt đường hay bên vườn hàng xóm. Khi lá theo cơn gió thì lá có biết mình sẽ về đâu không? Mà thật ra có phép lạ nào đâu! Gió thu chiều nay chắc là không như gió thu hôm qua, lá vàng hôm nay cũng không là lá vàng ngày hôm qua, nhưng gió vẫn là gió và lá vẫn là lá; là sự lặp đi lặp lại của sự vận hành của vũ trụ. Đến Đi vẫn tự thuở nào!

 

 

Tối nay, tụng lại bài “Bát Nhã Tâm Kinh“ tôi thấy bình an vô cùng. Dựa vào tiếng mõ, tiếng chuông, tôi thả mình vào dòng nước mát trong qua lời kinh mà Sư Ông đã dùng hết tuệ giác của mình dịch ra tiếng Việt, tiếng nói của Mẹ.

Năm tới, nếu có duyên qua Làng sau hơn mười năm xa cách, tôi sẽ bằng lòng và không hụt hẫng nữa nếu Sư Ông vẫn ở thật xa. Hiện hữu hay không hiện hữu đều từ cõi lòng tôi mà thôi.

Tôi chợt nhớ lời của Sư Ông, đại ý như sau: “con người ta có nhiều nơi để đi, để đến…, nhưng chỉ có một chốn để quay về“ Tôi chắp tay nguyện cầu cho Bồ câu trắng hiện, cho vườn cải đầy hoa vàng nở rộ vườn sau, cho những đau đớn thân tâm những người đang mắc phải được qua đi để an nhiên tự tại đến với mọi người…, cho những chiếc lá khô kia cuối cùng sẽ về được nơi lòng đất ấm, cho những mầm cây mới sẽ nẩy lộc đâm chồi.

 

Hiên trúc – 26.10.2018

Tâm Hải Đức

Vun bón một chồi non cúng dường Cây Đại Thụ

Trong khóa này chúng ta cũng đã học kinh Pháp Hoa bằng con mắt của những nhà nghiên cứu.
Một trong những điều mà chúng ta đã thực hiện được trong khóa học này là chúng ta đã nhìn thấy bình diện Hạnh môn trong kinh Pháp Hoa.  Chúng ta được tiếp xúc với các vị Bồ Tát như Thường Bất Khinh, Dược Vương, Dược Thượng, Diệu Âm và Quán Thế Âm.  Các vị Bồ Tát này đích thực là những vị Bụt, nhưng họ đang đóng vai Bồ Tát, nghĩa là họ xuất hiện từ Bản môn, hành đạo trong Tích môn, và mở ra một cánh cửa gọi là Hạnh môn để nối pháp giới Bản môn với thế giới Tích môn, hầu hướng dẫn chúng sanh phương cách tu tập con đường Phật thừa.
Trong khi học Pháp Hoa, chúng ta đã thấy rằng mình có thể sắp đặt lại đôi chút để cho kinh Pháp Hoa trở nên một viên ngọc toàn bích.  Sau này các thế hệ học giả tương lai sẽ tiếp tục nghiên cứu kinh Pháp Hoa bằng con mắt của nhà nghiên cứu lịch sử, vì vậy việc làm của chúng ta sẽ không làm cho ai ngạc nhiên, tại vì chúng ta cũng đã bắt đầu học kinh Pháp Hoa với con mắt của nhà sử học.

Trên bình diện phân phối các phẩm trong kinh, ta biết rằng Tông Thiên Thai ở Nhật bản đã nghiên cứu và phân kinh Pháp Hoa ra làm hai Môn, Tích môn và Bản môn.  Họ cho rằng 14 phẩm đầu thuộc về Tích môn, và 14 phẩm sau thuộc về Bản môn.
Khi đọc kinh Pháp Hoa, chúng ta thấy tuy cái ý về Tích môn và Bản môn rất hay, nhưng cách phân chia như vậy chưa được ổn lắm.  Lý do là đang đọc những phẩm thuộc về Bản môn, chúng ta bỗng đi sang những phẩm thấy như không có gì là Bản môn, mà như là Tích môn.  Ví dụ như phẩm thứ 21, phẩm Như Lai Thần Lực, đang thuộc về Bản môn, thì tiếp đó, sang phẩm thứ 22 là phẩm Chúc Lũy, chúng ta lại trở về Tích môn. Vì vậy tuy ý hay, nhưng sự phân chia như vậy làm cho người đọc lúng túng.
Vì vậy, chúng ta nên đề nghị xếp đặt lại thứ vị các phẩm để kinh được toàn hảo.  Theo tôi, chúng ta vẫn giữ nguyên văn kinh Pháp Hoa như đã được truyền thừa, nhưng nên xếp đặt lại vị trí các phẩm, đưa một số phẩm ra trước và một số phẩm về sau để cho hợp với ý niệm về Bản môn và Tích môn hơn.  Khi làm vậy, chúng ta phải ghi rõ sự xếp đặt lại này, để nếu có người muốn biết cách sắp đặt thứ tự các phẩm theo truyền thống, thì họ vẫn có thể biết được.
Nhìn sâu hơn, tôi thấy chia thành hai môn như vậy là còn có khuyết điểm.  Lý do thứ nhất như đã nói ở trên, không phải 14 phẩm đầu hoàn toàn diễn bày về Tích môn, và 14 phẩm sau hoàn toàn nói về Bản môn.  Lý do thứ hai là mình có thể thiết lập thêm một môn thứ ba nữa gọi là Hạnh môn thì sự phân chia mới được hoàn mỹ.

Hạnh tức là hành động.  Sau khi đã thấy Tích môn như vậy và Bản môn như vậy rồi, chúng ta phải cần được thấy cái phương pháp thực hiện.  Cái diệu dụng của Bản môn khi được diễn tả trong Tích môn, là sự hiện hữu của một số chư vị Bồ Tát, và họ đã làm như thế nào để diễn dịch cái Bản môn ra Tích môn và đưa người ta từ Tích môn về Bản môn.  Những phẩm thuộc về lĩnh vực này, ta đều có thể liệt vào môn thứ ba mà ta gọi là Hạnh môn.  Đó là những phẩm nói về các vị Bồ Tát lớn, như Bồ Tát Thường Bất Khinh, Bồ Tát Dược Vương, Bồ Tát Diệu Âm, Bồ Tát Quán Thế Âm, và Bồ Tát Phổ Hiền.
Bồ Tát Địa Tạng cũng phải được đưa vào trong Hạnh môn của kinh Pháp Hoa, vì Ngài là người có đại nguyện tìm đến những nơi đen tối nhất, u ám nhất, khổ đau nhất của cuộc đời, những nơi gọi là địa ngục.  Vì vậy, muốn cho kinh Pháp Hoa được hoàn mỹ, chúng ta nên thêm vào một phẩm nói về Bồ Tát Địa Tạng.  Đồng thời cũng nên thêm vào một phẩm để trình bày về hạnh nguyện của Bồ Tát Trì Địa, chứ không để chung trong Phẩm Phổ Môn như hiện nay.
Tóm lại, nếu có đủ cơ duyên để được chép lại kinh Pháp Hoa, chúng ta sẽ thêm vào và sắp xếp lại thứ tự các phẩm như sau:

–  Khai triển thêm Phẩm thứ 28, và đưa mười hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền vào.
–  Đưa Bồ Tát Trì Địa vào riêng một phẩm như một nhà hoạt động bảo hộ sinh môi, bảo tồn trái đất,
–  Thêm vào một phẩm để nói về Bồ Tát Địa Tạng như một con người nguyện dấn thân đi sâu vào những nơi ngục tù đau khổ, những địa ngục trần gian, trong đó có nhiều áp bức, bóc lột, bất công.
– Xếp đặt lại thứ tự các phẩm để kinh được chia làm ba môn: Tích môn, Bản môn và Hạnh môn.

Đề nghị như vậy là vì tôi nghĩ rằng kinh Pháp Hoa đã trải qua một giai đoạn hình thành kéo dài mấy trăm năm, trong đó có những phẩm mới đã được đưa vào. Kinh là một viên ngọc rất quí, và mình có bổn phận gọt giũa cho kinh trở thành toàn bích.  Đó là một phần thực tập Pháp Hoa của chúng ta.

 

 Vòng Tay Lớn của Kinh Pháp Hoa

Một đặc điểm khác đã đưa kinh Pháp Hoa lên ngôi vị cao nhất trong vườn kinh điển Đại Thừa là cái khả năng dung hợp, chấp nhận mọi bộ phái trong đạo Bụt của kinh.

Chúng ta nên biết rằng đạo Bụt có nhiều dòng. Trước hết là đạo Bụt Nguyên Thủy, là đạo Bụt được giảng dạy từ hồi Bụt còn tại thế. Tiếp đó là đạo Bụt Bộ phái, xuất hiện từ khi Giáo hội chia ra làm nhiều bộ phái khác nhau. Ban đầu thì giáo đoàn chia ra làm hai phái, một là Thượng Tọa Bộ, và một là Đại chúng Bộ. Phái Thượng Tọa gồm có những người lớn tuổi, còn phái Đại chúng gồm đa số còn lại, và có khuynh hướng phát triển, tiến bộ. Về sau lại bị chia ra làm nhiều bộ phái khác nữa. Sách sử ghi lại đến 18 bộ phái, và có lúc còn nhiều hơn, tới 25, 26 bộ phái. Như vậy thì Phật giáo Bộ phái đã khác với Phật giáo Nguyên Thủy. Phật giáo Nguyên Thủy có tính cách thống nhất, chỉ có một Kinh tạng và một Luật tạng. Trong khi đó, về phía Phật giáo Bộ phái, mỗi Bộ phái có Kinh tạng riêng, có Luật tạng và Luận tạng riêng của mình. Trong văn học Phật giáo, Luận tạng (Abhidharma-piỊaka) là phần thứ ba, được sáng tác thêm để hệ thống hóa và giảng giải thêm về những tư tưởng của đạo Bụt. Hai phần kia là Kinh tạng (Sũtra-piỊaka) tức là những lời của Bụt dạy, và Luật tạng (Vinaya-piỊaka) là những giới luật qui định nếp sống của tăng đoàn.

Bộ phái thứ nhất gọi là Theravada mà chúng ta thấy tại Tích lan hiện giờ, không phải là đạo Bụt Nguyên Thủy, mà là đạo Bụt Bộ phái. Bộ phái thứ hai là Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ ở Kashmir (Pakistan), tồn tại trong vòng một ngàn năm, và truyền sang Trung hoa, cũng không phải là đạo Bụt Nguyên Thủy, mà là đạo Bụt Bộ phái. Hai bộ phái đó, một là Theravada ở miền Nam, đã truyền thừa lại Tạng kinh Nam truyền, và Bộ phái SarvẠstivẠda, tức là Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, được truyền lại ở Kashmir, miền Tây Bắc Pakistan, rồi đi sang Trung hoa, đều không phải là Phật giáo Nguyên Thủy. Dầu họ tự gọi là Phật giáo Nguyên Thủy, nhưng vì cách truyền thừa, cách giữ gìn, và cách giải thích giáo lý của họ rất khác với đạo Bụt Nguyên Thủy, cho nên họ không phải là truyền thừa đích thực của Phật giáo Nguyên Thủy. Rất nhiều kinh điển của bộ phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ ở Kashmir đã được dịch ra chữ Hán.

Thượng Tọa Bộ tiếng Pali là Theravada, tiếng Phạn là SthaviravẠda, có nghĩa là những vị trưởng lão, những bậc tôn túc. Thật ra, tên của Bộ phái mà ta gọi là Theravada ở Tích lan, chính thật là Tãmrasã tiya, dịch là Đồng Diệp Bộ. Đồng là một thứ kim loại màu vàng đỏ. Đồng Diệp Bộ là một Bộ phái của các vị tu sĩ khoác y màu đồng đỏ, ngày nay ta gọi là Theravada. Trong mười tám bộ phái của thời đại Phật giáo Bộ phái, có những bộ phái bảo thủ, có những bộ phái tiến bộ. Từ những bộ phái tiến bộ, tư tưởng Đại Thừa bắt đầu phát hiện, và đến khi những tư tưởng đó chín muồi, thì kinh điển Đại Thừa bắt đầu xuất hiện. Kinh xuất hiện đầu tiên trong văn học Đại Thừa là kinh Bát Nhã.

Như vậy ta có thể nói rằng sự hình thành của đạo Bụt có ba giai đoạn:

– Giai đoạn thứ nhất là đạo Bụt Nguyên Thủy,

Giai đoạn thứ hai là đạo Bụt Bộ phái, và

Giai đoạn thứ ba là đạo Bụt Đại Thừa.

 Khi đạo Bụt Đại Thừa xuất hiện thì tất cả những bộ phái không phải là Đại Thừa đều được gọi chung là Tiểu Thừa. Thành ra chữ Tiểu Thừa đã được dùng trong cái nghĩa khinh thị, chiếc xe của anh không chở được bao nhiêu người, nhiều lắm là một mình anh, còn chúng tôi là loại xe lớn, có thể chở được hàng chục, hàng trăm người. Vì vậy mà hồi đó trong hai danh từ Đại Thừa và Tiểu Thừa đã có tính cách đôi co, tự hào. Đạo Bụt là một thực tại sinh động, tràn đầy sự sống. Khi có sự sống thì nó phải phát triển, nó không thể đứng nguyên trong tình trạng cũ. Ví dụ như một cái cây đang sống thì thế nào cũng phải mọc thêm cành, thêm lá, thêm hoa. Do đó, nếu muốn cho đạo Bụt còn là một thực tại sinh động thì phải để cho đạo Bụt phát triển, bằng không nó sẽ chết. Tuy nhiên có những người đã không muốn đạo Bụt phát triển, họ muốn giữ y nguyên như cũ, và không chịu thích ứng giáo lý, cũng như cách hành trì với khung cảnh mới, với thời đại mới, với xã hội mới. Trong trường hợp ấy đạo Bụt không còn được phổ biến sâu rộng trong quần chúng nữa, mà chỉ đóng khung trong phạm vi rất nhỏ của những người bảo thủ.

Xã hội thay đổi, văn hóa thay đổi, kinh tế thay đổi, nếu đạo Bụt không thay đổi để thích ứng với đời sống mới, để trả lời cho những vấn đề mới, thì đạo Bụt không thể nào đóng được vai trò lãnh đạo tâm linh. Trên căn bản đó, phái bảo thủ đã không làm tròn nhiệm vụ của mình, cho nên phái tiến bộ phải đứng ra để cải tổ, để thích ứng với thời đại mới.

Nhìn cho sâu, chúng ta thấy phái bảo thủ có khi cứng ngắc, không linh động, họ chỉ chuyên đi về hướng phân tích mà không chịu đi về hướng tổng hợp. Thật vậy, trong nền văn học A-tỳ-đạt-ma (Abhidharma) cái khuynh hướng chia chẻ rất nhiều. Một sợi tóc không những chẻ làm tư mà còn chẻ làm ba mươi sáu. Trong văn chương đã vậy, mà trong sự hành trì, nhiều khi cũng vậy. Cứ phân tích, rồi tiếp tục phân tích, phân tích để có niềm vui trong sự phân tích mà thôi. Ví dụ khi chúng ta đi trong chánh niệm, khi bước chân trái, mình biết rằng mình bước một bước chân trái, khi bước chân phải, mình biết rằng mình bước một bước chân phải, và như vậy bước chân có thể rất tự nhiên, rất an lạc. Chúng ta hãy hình dung Bụt và các vị đại đức đi khất thực ở trong thành Vương Xá, các vị ôm bình bát, đi chậm rãi, trang nghiêm, và rất có chánh niệm. Họ đi thiền hành. Nhưng với người bảo thủ thì họ phân tích bước đi, và họ làm thành những động tác hơi khó nhìn. Ví dụ nhiều lúc quý vị thấy có những người đi kinh hành bằng cách nhón gót chân, và đi trên đầu ngón chân, trông không tự nhiên chút nào cả. Theo nguyên tắc, họ phân tích bước chân ra ba giai đoạn: Dỡ chân lên, đưa tới, và đặt xuống (lifting, moving, placing). Nó có tính cách máy móc như một con người máy. Nhưng đó là mới chia làm ba thôi, họ còn có khuynh hướng chia nhiều hơn nữa: Mới dỡ lên, dỡ lên nữa, dỡ lên cao rồi; đưa tới một chút, đưa tới hai chút, đưa tới đủ rồi; bắt đầu đặt xuống, đặt xuống gần đất, đặt xuống sát đất rồi v.v…, và cứ tiếp tục chia ra như vậy. Điều đó đúng là thực tập chánh niệm, nhưng cái chánh niệm này rất khô, rất là máy móc và không dẫn đến sự an lạc, hạnh phúc, thảnh thơi gì trong lúc thực tập. Nó bị kẹt vào hình thức. Khi ăn cơm trong chánh niệm, gắp một miếng đậu hủ đưa lên, mình chỉ cần quán chiếu: Tôi đang gắp một miếng đậu hủ, và tôi biết đây là miếng đậu hủ; tôi đang nhai đậu hủ và tôi biết rằng tôi đang nhai đậu hủ. Rất tự nhiên, rất an lạc. Ngược lại, nếu thực tập chia chẻ: gắp, gắp, gắp lên; bỏ, bỏ, bỏ vào miệng; nhai, nhai, nhai… thì làm sao mà ăn cho an lạc được? Trong phép thực tập này, người ta nghĩ phải chẻ động tác ra từng giai đoạn, càng chẻ ra nhiều chừng nào thì sự thực tập càng sâu sắc chừng đó! Với thực tập đó, mình thấy có một sự khó nhìn, đời sống mất hết sự hồn nhiên, chỉ còn có hình thức. Không phải đi thiền hành chậm thì hay hơn đi thiền hành nhanh, hoặc ngược lại. Vấn đề là trong khi thực tập chánh niệm, mình có được sự an lạc và chánh niệm hay không. Đi, mình có biết mình đang đi hay không? Đứng, mình có biết mình đang đứng hay không? Ăn, mình có biết mình đang ăn hay không, và có sự sống trong đó không, hay mình biến mình ra một con người máy? Sự thực tập chia chẻ đó đúng là thực tập chánh niệm, nhưng liệu cái chánh niệm đó nó có đưa tới sự sống an lạc và chuyển hóa cho hành giả hay không? Thêm vào đó, cách đọc, cách hiểu và cách hành trì của những người ấy cũng cứng ngắc như thế. Cái thái độ cố chấp ấy làm người khác không thể chịu đựng được. Vì vậy mà khi các kinh điển Đại Thừa xuất hiện, người ta đã phải dùng những quả trọng pháo rất lớn mới có thể phá vỡ được thành trì của phái bảo thủ. Trong kinh điển Đại Thừa, nhất là trong các kinh điển xuất hiện lúc ban đầu, chúng ta thấy có những câu tuyên bố rất mạnh, có thể nói là gần như cực đoan. Ví dụ:

* Khi một ông Vua không ngủ với Hoàng hậu, mà lại ngủ với một người đàn bà khác, thì đứa con sanh ra không thể nào làm Thái tử Đông cung được.

* Những người Tiểu Thừa không có bồ đề tâm, không có chí nguyện lớn, họ không phải là con đích của Bụt, họ chỉ là con ghẻ thôi.

* Những người Tiểu Thừa là những người chỉ chăm lo cho sự tư lợi của mình, mà không quan tâm tới cái tư lợi của người khác.

* Những người Tiểu Thừa là những người chỉ muốn chấm dứt đau khổ mà không có khả năng tạo tác an lạc cho mình và cho mọi người.

* Những người Tiểu Thừa chỉ làm thối nát những hạt giống tốt của đạo Bụt mà thôi v.v…

 Danh từ dùng trong đạo Bụt là Tiêu nha bại chủng. Nha là cái mầm, như trong danh từ mạch nha, chủng tức là hạt giống. Tiểu Thừa là những người tiếp nhận hạt giống từ bi, trí tuệ, giải thoát, an lạc từ đạo Bụt, mà không gieo trồng và phát triển để những hạt giống này trở thành những gì tốt đẹp cho nhân loại, thì họ chỉ làm cho hư thối những hạt giống của Phật Pháp mà thôi. Đó là những câu nói rất nặng, chĩa mũi dùi về phe bảo thủ. Thoạt nghe, chúng ta nghĩ rằng những câu nói đó hơi quá đáng, thiếu từ bi, và không có ái ngữ. Nhưng nếu chúng ta nghiên cứu cho kỹ và khi thấy được cái thái độ bảo thủ, cứng ngắc của phái Tiểu Thừa, thì chúng ta có thể hiểu được tại sao. Trong lịch sử văn học của kinh điển Đại Thừa, kinh Bát Nhã xuất hiện trước nhất, rồi mới tới kinh Bảo Tích, kinh Hoa Nghiêm. Sau đó mới có những kinh khác như kinh Duy Ma Cật.

 Tôi không mê kinh Duy Ma Cật lắm, tại vì kinh Duy Ma có những đoạn đi quá đà. Kinh Duy Ma Cật đưa hình bóng của một vị tại gia, tên là Duy Ma Cật (Vimalakĩrti), để so sánh với các vị thượng thủ trong giới xuất gia của Bụt, như tôn giả Trưởng lão Xá Lợi Phất (ệẠriputra). Trong sự so sánh này, ta thấy thầy Xá Lợi Phất là một chú bé con, rất dại khờ, ngây ngô, còn cư sĩ Duy Ma Cật lại là một người rất thông minh, một đại cư sĩ. Thành ra, kinh Duy Ma Cật đã đem đại đức Xá Lợi Phất ra làm trò cười cho thiên hạ. Đại đức Xá Lợi Phất là người anh cả của giáo đoàn khất sĩ, là người được xem là thông minh nhất trong hàng cao đệ của Bụt. Ấy vậy mà trong kinh Duy Ma, đại đức Xá Lợi Phất đã được đưa ra như là hình ảnh của sự nhỏ bé, của sự thiếu thông minh. Khi thấy người đại diện giáo đoàn của Bụt bị nhục mạ, thì mọi người trong giáo đoàn đều cảm thấy bị thương tích, bị xúc phạm. Tuy nhiên kinh Duy Ma Cật có nhiều tư tưởng rất uyên áo, thâm sâu, như tư tưởng Bất nhị. Ngoài ra giáo lý kinh Duy Ma Cật còn được trình bày rất khéo léo, rất hay ho, rất đẹp đẽ.

Hồi đó, ở Ấn độ có một phong trào văn hóa mới nổi lên, và có những kịch bản nổi tiếng như là Mahabharata. Những người chép kinh thời đó cũng bị ảnh hưởng của phong trào văn hóa mới này, cho nên các kinh điển Đại Thừa được trình bày theo phương thức của những kịch bản, mỗi chương là một màn kịch. Kinh Duy Ma Cật đã được trình bày theo phương thức đó, và kinh Pháp Hoa sau này cũng được trình bày theo cùng một kỹ thuật. Kinh Duy Ma Cật và những kinh Đại Thừa xuất hiện trước đó, đã dùng những quả trọng pháo rất lớn để bắn vào hàng ngũ của những người Thanh văn. Ngược lại, kinh Pháp Hoa là kinh Đại Thừa đầu tiên sử dụng ngôn từ hòa ái, chấp nhận mọi bộ phái và mọi khuynh hướng ở trong đạo Bụt.

 

Vì vậy cho nên khi kinh Pháp Hoa ra đời như là có một làn gió mát, một cơn mưa rào, làm dịu lại cái không khí ngột ngạt, đôi co đang xảy ra giữa hai phái bảo thủ và tiến bộ.

Luận bàn về năm giáo

Giáo thứ nhất

Sư tử tuy là một pháp do nhân duyên sinh khởi, và đi qua sinh diệt trong từng phút giây, nhưng thật ra không có

 

tướng sư tử có thể nắm bắt. Cái này là cái thấy của các vị thanh văn chưa hiểu được mặt thật của các pháp.

Trong nguyên văn, chúng ta thấy có chữ ngu pháp thanh văn, nhưng ở đây chúng ta dịch rất khéo. Chữ ngu dịch là chưa hiểu được, rất là lễ phép. Ngu pháp là chưa hiểu được mặt thật của các pháp. Nói là có cũng không đúng mà nói là không cũng không đúng luôn. Sáu tông đầu đều chủ trương là các pháp do duyên sinh khởi và đi qua sinh diệt trong từng phút giây. Vì vậy cho nên không có tướng sư tử có thể nắm bắt.

Giáo thứ hai

Các pháp do duyên sinh mà có ấy đều không có tự tính, triệt để là không, đó là thỉ giáo đại thừa (giáo lý đại thừa lúc ban đầu).

Tất cả các thanh văn giáo đều chủ trương vô thường, luôn luôn biến chuyển. Đến Đại thừa thỉ giáo thì nói, vì các pháp là duyên sinh và vô thường nên nó không có tự tính. Chúng nó triệt để là không nên gọi là Đại thừa thỉ giáo.

Giáo thứ ba

Tuy các pháp triệt để là không, nhưng điều đó không làm trở ngại cho sự có mặt của các pháp như huyễn. Hai tướng duyên sinh và giả hữu vẫn có thể có mặt song hành với nhau. Cái đó là chung giáo đại thừa (giáo lý đại thừa lúc chung kết).

Hai chữ duyên sinh và giả hữu có thể đi đôi với nhau. Duyên sinh thì không có thật, nó giả hữu. Chúng ta không nắm bắt được nên gọi là giả hữu. Các pháp như sắc, thọ, tưởng, hành và thức là vô thường, là sát na sinh diệt, là nắm bắt không được, cho nên ta nói nó là không. Kỳ thực nó không phải là không đối với có. Tuy là không nắm bắt được nhưng ta thấy được, cảm nhận được nó.

Cũng như khi chiếu phim lên màn ảnh, chúng ta thấy có người, có vật. Ta có cười, có khóc, có buồn vui, lo sợ khi coi phim, nhưng ta đưa tay ra nắm những cái đó không được. Làm sao nắm được những hình ảnh trên màn ảnh? Chúng ta không nắm được nhưng nó có đó nên gọi là huyễn hữu hay giả hữu. Duyên sinh không đi đôi với thật hữu nhưng đi đôi với giả hữu. Nói nó không có là không đúng, không nắm bắt được gọi là không là không đúng.

Ví dụ như khi ta yêu ai thì ta muốn nắm bắt người đó. Khi quí vị yêu ai thì tự nhiên trong lòng quí vị có khuynh hướng muốn nắm bắt người đó. Nhưng ai có yêu rồi thì biết, mình nắm bắt đối tượng đó không được. Chính mình, mình còn không nắm bắt mình được nữa thì làm sao mình nắm bắt được người kia. Nó như là một bóng ma vậy, có đó mà nắm bắt không được gọi là bất khả đắc (you cannot grasp the object of your love). Chủ thể nắm bắt, ta nắm bắt không được mà đối tượng nắm bắt, ta cũng nắm bắt không được. Giống như một bóng ma, một cuốn phim chiếu lên màn ảnh, thấy rõ ràng người đó cười, người đó khóc, người đó chạy, người đó lo, người đó đánh nhau, người đó mắng nhưng chúng ta đưa tay ra nắm không được. Đối tượng của sự yêu hay sự ghét của ta cũng vậy, ta không nắm bắt được gọi là bất khả đắc. Ta nói nó không có cũng không đúng. Nó có, nó làm cho ta lên xuống, sợ hãi, lo lắng. Vì vậy ta phải nhận thức rằng những cái đó là duyên sinh và giả hữu thì tự nhiên ta không còn đau khổ, không còn nắm bắt nữa.

Tuy các pháp triệt để là không nhưng nó không làm trở ngại cho các pháp như huyễn là như vậy. Cuốn phim vẫn còn đang chiếu và người ta vẫn còn khóc cười theo cuốn phim. Sự thật là như vậy mà trong đó ta thấy rõ là giả, là huyễn hữu. Vì vậy hai tướng duyên sinh và giả hữu vẫn có thể có mặt song song với nhau.

Duyên sinh rất khoa học, sát na sinh diệt rất khoa học. Tất cả vạn pháp đều là do điều kiện mà có (duyên sinh) và đều sinh diệt trong từng sát na. Điều đó cả đạo Bụt và khoa học đều công nhận. Ai có cơ hội, có khả năng nhìn sâu vào bản chất của vạn pháp đều thấy duyên sinh và sát na sinh diệt. Vì duyên sinh và sát na sinh diệt nên mình có khuynh hướng cho nó là không có. Ta cũng có thể nói nó có nhưng có một cách giả (giả hữu) và nó vượt ra khỏi ý niệm không. Sử dụng ý niệm về giả hữu để đưa người ta thoát khỏi ý niệm không. Không không phải là một ý niệm nhưng đã là ý niệm rồi thì thế nào cũng phải thoát ra. Dù nói rằng không không phải là không đối với có, dù nói rằng không đó là chân không nhưng người ta vẫn bị kẹt vào như thường. Cho nên phải có phương tiện đưa ra để giúp họ thoát khỏi cái không và nói cho họ biết nó là bất không, chân đức bất không. Đó là chung giáo Đại thừa tức giáo lý Đại thừa lúc chung kết.

Ban đầu thì nói không, nhưng sau khi chín rồi thì nói bất không. Tuy nói ngược nhau như vậy nhưng kỳ thực nó đi đôi với nhau rất là hay. Khi thông cảm được, đạt được rồi thì nói có cũng đúng mà nói nó không cũng đúng.

Giáo thứ tư

Hai tướng duyên sinh và giả hữu ấy tương đoạt và tương vong (trừ khử nhau và tiêu diệt nhau) làm cho cả tình thức và ngụy tướng không cái nào còn lại. Cả hai đều mất hết năng lực, cả không và hữu đều tiêu vong, con đường danh từ và ngôn thuyết bị cắt đứt, tâm không còn nơi nương tựa và nắm bắt. Đó là đốn giáo đại thừa (giáo lý đại thừa đốn ngộ).

Chúng ta có nói đến tưởng và tướng không có mặt độc lập với nhau. Tưởng và tướng đồng thời phát hiện một lần. Trong tưởng có tướng và trong tướng có tưởng. Khi vượt thoát sự phân biệt đó rồi thì tình thức tức là vọng tưởng của ta và đối tượng của vọng tưởng tức là ngụy tướng, cả hai đều không còn. Tình thức là vọng tưởng, ngụy tướng là đối tượng của vọng tưởng. Hữu vô nhị vong tức là cả hai đều mất hết năng lực, cả không và hữu đều tiêu vong. Ban đầu nói không, sau nói có, nhưng tới đây thì không cũng tiêu mà có cũng tiêu. Con đường danh từ và ngôn thuyết bị cắt đứt, tâm không còn nơi nương tựa và nắm bắt. Không nơi nương tựa là vô trú, không nắm bắt được là vô đắc. Đó là đốn giáo Đại thừa tức là giáo lý Đại thừa đốn ngộ.

Theo bản văn này chúng ta thấy tinh thần của Thiền là: Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt. Ngôn ngữ đạo đoạn là con đường của ngôn ngữ bị cắt đứt, nói không được nữa. Tâm hành xứ diệt là sự suy nghĩ, sự cố gắng lý luận của mình đều bị tắt nghẽn, không còn. Chúng ta hãy tưởng tượng một chiếc xe lửa chạy trên đường sắt. Tới lúc đó thì xe lửa bị chận lại không đi được nữa. Con đường sắt là con đường của ngôn ngữ và tư duy. Con đường của ngôn ngữ bị cắt đứt mà con đường tư duy cũng bị cắt đứt (ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt), có nghĩa là bất khả ngôn thuyết, bất khả tư nghì. Nói có không được mà nói không cũng không được.

Có một lần, tôi đi biểu tình ở Philadelphie để chống chiến tranh Việt Nam. Một anh nhà báo tới hỏi tôi: “Thầy, thầy là miền Bắc hay miền Nam?” Ông ký giả hỏi tôi từ miền Bắc hay từ miền Nam tới. Trong đầu ông có hai cái hộp, hộp Nam và hộp Bắc, hộp Bắc là cộng sản, hộp Nam là chống cộng. Ngôn ngữ đạo đoạn, tôi mở miệng không được, sẽ có hiểu lầm liền lập tức. Sau đó tôi nói: “Tôi là miền Trung”. Đó là Thiền! Nói là Trung, không Nam, không Bắc thì ít nhất là tránh cho ông ta khỏi lọt vào một trong hai ý niệm. Ông lọt vào một trong hai ý niệm đó là ông không có chân lý. Im lặng là giúp cho người đó nhiều hơn, hoặc nếu nói thì nói cái gì đó để người ta đừng lọt vào trong hai ý niệm đó. Ông ta chỉ nghĩ, sự thật chỉ có hai cái: một là cộng sản, hai là chống cộng sản. Trong cách suy nghĩ hay tư duy của chúng ta có những cái hộp, rồi ta đem sự thật bỏ vào trong những hộp đó. Có tám hộp chánh là sinh, diệt, thường, đoạn, có, không, tới và đi. Chúng ta hay lọt vào trong những hộp đó.

Cho nên giáo thứ tư chủ trương, muốn tới sự thật thì không thể nào đi bằng con đường ngôn ngữ hay tư duy được. Con đường ngôn ngữ bị cắt đứt và con đường tư duy cũng bị cắt đứt nên Thiền gọi là ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt. Chỉ có trực giác do Niệm-Định-Tuệ đưa tới mới nắm được chân lý mà thôi. Nó là đốn giáo của Đại thừa, nó là Thiền, nó là giáo lý bất nhị.

Bây giờ thầy Pháp Tạng nói tới tông phái của thầy. Giáo thứ năm tương đương với tông thứ mười là viên minh cụ đức.

Giáo thứ năm

Khi tình thức đã không còn và thể tính đã hiển lộ thì tất cả trở thành một khối hỗn độn bất phân. Đại dụng được trưng bày (với tất cả mọi chi tiết mầu nhiệm của nó) và nơi nào đại dụng được trưng bày như thế thì cái toàn chân cũng được hiển lộ. Muôn vàn hiện tượng được trình bày một cách giàu có, các hiện tượng tham dự vào nhau mà vẫn không đánh mất cá tính của chúng. Cái tất cả cũng là cái một (cái tất cả nằm trong cái một), cả hai đều vô tính. Cái một cũng là cái tất cả (cái một nằm trong cái tất cả), nhân quả hiển nhiên (rõ ràng). Lực và dụng của cái này và cái kia thu nhiếp nhau, và sự co duỗi của chúng xảy ra một cách tự tại. Cái đó gọi là viên giáo của nhất thừa (giáo lý tròn đầy của Phật thừa).

Tình thức là nhận thức đầy vọng tưởng của chúng ta. Có cái tham, cái sợ, cái lo, tất cả thứ đó làm cho trí của ta bị lu mờ, nhận thức của ta đầy vọng tưởng. Thầy Pháp Tạng dùng danh từ tình thức.

Khi tình thức không còn thì cố nhiên ngụy tướng cũng không còn, tình thức còn thì ngụy tướng còn. Những cái ta thấy qua tình thức là tri giác sai lầm, gọi là ngụy tướng mà không phải chân tướng.

Chữ hỗn độn ở đây không có nghĩa là lộn xộn. Hỗn độn có nghĩa là undifferentiated, không phân tích được, không chia chẻ được nữa. Khoa học hiện đại, phần lớn còn bị kẹt vào cái thấy lưỡng nguyên, tức là có chủ thể và đối tượng. Chủ thể có mặt ngoài đối tượng và đối tượng có mặt ngoài chủ thể. Có sự phân biệt giữa chủ thể và đối tượng, có sự phân biệt giữa nature and consciousness. Những nhà khoa học đi sâu vô hơn thì thấy, giữa chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức có liên hệ cho đến nỗi không thể tách rời hai cái ra được. Đó gọi là hỗn độn bất phân, tiếng Anh dịch là undifferentiated.

Trong Duy Thức học có danh từ nhị thủ (double grasping), nghĩa là hai cái kẹt hoặc cái kẹt đôi (nhị là đôi). Khoa học hiện đại nhất là khoa học lượng tử (quantum physics) đang vùng vẫy để thoát ra khỏi cái gọi là nhị thủ, tức là bị kẹt vào ý niệm: chủ thể và đối tượng là hai cái tách rời ra nhau.

Trong tương lai, chúng ta có thể nói nhà khoa học nào vượt được nhị thủ (double grasping) thì người đó có thể nắm được sự thật.

Trong bản văn này nói: Khi nhận thức sai lầm của mình không còn nữa thì thực tại hiển lộ ra với tính cách hỗn độn bất phân, không thể phân biệt ra được giữa chủ thể và đối tượng: Khi tình thức không còn và thể tính đã hiển lộ thì tất cả trở thành một khối hỗn độn bất phân. Đại dụng được trưng bày với tất cả mọi chi tiết của nó và nơi nào đại dụng được trưng bày như thế thì cái toàn chân cũng được hiển lộ.

Trong triết học Đông phương, chúng ta có ý niệm về thể, về tướng và về dụng. Thể là bản thân của thực tại. Như cây viết này có cái thể của nó, tức là cái thực chất của cây viết. Thứ hai là tướng, tức là hình thức hay tướng trạng của nó như nó có màu trắng hay màu đen, nó dài hay nó tròn. Cây viết có cái thể, cái thể đó biểu hiện ra tướng. Thứ ba là dụng, tức là công dụng (function) của nó, cây viết có thể viết được. Ví dụ như là bàn tay này có thể,tướng và có dụng.

Khi tình thức không còn nữa tức là những nhận thức sai lầm, những vọng tưởng không còn nữa, thì cái thể hiện ra như một khối bất phân, không còn sự phân biệt giữa chủ thể và đối tượng. Cái này với cái kia là một. Cái này không có mặt ra ngoài cái kia. Chúng ta thấy được chân tướng của nó, chân tướng của nó là tương tức: Cái một chứa đựng cái tất cả, trong cái này có tất cả cái khác. Và khi nói đến dụng thì hết sức mầu nhiệm, thấy được thể và tướng như vậy thì đại dụng được hiển bày. Rất là mầu nhiệm. Muốn có chân như thì có, muốn có Niết Bàn thì có, muốn có sinh tử cũng có, muốn có Tịnh Độ cũng có, có liền lập tức, bây giờ và ở đây. Đó là đại dụng được hiển bày. Chúng ta có tự do!

Khi vọng tình không còn nữa thì ta có trí tuệ. Với trí tuệ đó, ta tiếp xúc được với cái thể của thực tại, tức là sự thật của thực tại, ta tiếp xúc được với cái tướng của thực tại (không còn bị đánh lừa nữa) và ta có thể sử dụng nó một cách rất là mầu nhiệm. Đó gọi là đại dụng. Ta muốn là ánh sáng thì ta trở thành ánh sáng, ta muốn là dòng sông thì ta thành dòng sông, ta muốn là Bụt thì ta thành Bụt, ta muốn vào địa ngục độ đời thì ta vào địa ngục độ đời. Đó là đại dụng hiện tiền. Ta muốn làm gì cũng được hết, ta có tự do hoàn toàn. Tự do đó chỉ có thể có khi ta thấy được thể và tướng của thực tại. Thể của nó là bất phân, tướng của nó là tương tức, dụng của nó là tự do hoàn toàn. Đó là tự do lớn của các vị Bụt và các vị Bồ Tát: Muôn vàn hiện tượng được trình bày một cách giàu có. Các hiện tượng tham dự vào nhau mà vẫn không đánh mất cá tính của chúng. Cái tất cả cũng là cái một (cái tất cả nằm trong cái một), cả hai đều là vô tính (vô tính là không có sự có mặt riêng rẽ). Cáí một cũng là cái tất cả (cái một nằm trong cái tất cả), nhân quả hiển nhiên (rõ ràng). Lực và dụng của cái này và cái kia thu nhiếp nhau, và sự co duỗi (contraction and expansion) của chúng xảy ra một cách tự tại. Cái đó gọi là viên giáo của nhất thừa (giáo lý tròn đầy của Phật thừa). Trong đoạn này những chữ nằm trong vòng đơn là để giải thích thôi.

Trong khoa học có nói tới sự co duỗi của vũ trụ. Có một lý thuyết gọi là Big Bang cho rằng, vũ trụ phình ra và co duỗi. Sự phình ra, co duỗi, phình ra, co duỗi v.v.. xảy ra, nhưng tất cả sự co duỗi, phình ra nằm trong một cái thể.

Một thiền sư Việt nam đời Lý đã nói: Đại dụng hiện tiền, quyền tại thủ. Đó là thiền sư Khánh Hỷ. Thiền sư Khánh Hỷ là một thiền sư Việt Nam sinh năm 1064 và tịch năm 1142. Thiền sư được vua Lý Thánh Tông tôn vinh lên chức tăng thống. Năm sáu mươi hai tuổi thầy được mời về kinh đô để cho vua được học hỏi, năm bảy mươi sáu tuổi thì thầy tịch.

Câu này có ý nghĩa là: Đại dụng kia, trước mặt mình, nó cũng giống như nắm tay nằm nơi bàn tay. Nắm tay có xoè ra hay nắm lại thì nắm tay cũng nằm trong bàn tay. Thủ là tay, quyền là nắm tay. Nắm tay xoè ra hay nắm vô đều là bàn tay hết. Bàn tay đó là thể. Co lại hay duỗi ra (contraction and expansion) đều do bàn tay, nó không ra khỏi bàn tay. Expansion cũng nó, contraction cũng nó. Vũ trụ là thể. Sự co hay dãn của vũ trụ đều nằm trong thực tánh của vũ trụ, đó gọi là đại dụng. Chúng ta có những vị tổ sư giỏi như vậy, lấy hình ảnh của một bàn tay để nói tới sự co và dãn của tất cả các pháp. Đó là đại dụng.

Ý niệm căn bản trong giáo lý Hoa Nghiêm là, khi nhận thức sai lạc hay vọng tưởng của ta không còn nữa, sự phân biệt chủ thể và đối tượng, cái nhị thủ (double grasping) không còn nữa thì lúc đó thực tại hiển bày ra. Khi thực tại hiển bày ra thì ta nhận thức được tướng trạng mầu nhiệm của nó. Tướng trạng đó là nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất. Cái một ôm lấy cái tất cả, cái tất cả nằm trong cái một. Đó là tương tức.

Thấy được như vậy chúng ta có tự do rất lớn. Vũ trụ có co hay dãn, cái này còn hay mất, có hay không thì ta cũng vượt thoát ra hết và ta có tự do lớn. Tự do lớn đó khiến cho ta có hạnh phúc vì ta không còn sợ hãi, không còn nắm bắt, không còn chạy trốn nữa. Khi bàn tay xòe ra thì nó là bàn tay, khi nắm lại thì nó cũng là bàn tay, không có gì thêm, không có gì bớt, không có gì còn, không có gì mất. Ta không có sợ hãi nữa khi ta thấy được như vậy. Vũ trụ co lại ta cũng không buồn, không sợ mà vũ trụ dãn ra ta cũng không buồn, không sợ tại vì ta đã thấy được đại dụng rất là mầu nhiệm.

Trong đoạn thứ năm này, thầy Pháp Tạng tóm tắt lại giáo lý Hoa Nghiêm. Đoạn này chúng ta chỉ có thể hiểu được khi đã đi ngang qua giáo lý về Thập huyền. Theo nguyên tắc thì đoạn về Năm giáo chúng ta phải hiểu sau khi đã học tất cả các đoạn khác.

Hôm nay chúng ta có thể kết luận về đoạn Ngũ giáoThập tông. Hoa Nghiêm tông chia giáo lý của đạo Bụt ra làm mười tông, sáu tông trước thuộc về Thanh văn thừa, bốn tông sau thuộc về Bồ Tát thừa hay Đại thừa. Năm giáo là sự tóm tắt của Mười tông. Chư tổ, các thầy đã cho ta một cái nhìn sơ lược để có thể nắm được hệ thống giáo lý đạo Bụt.

Tại Làng Mai, chúng ta đã học Dị Bộ Tông Luân Luận, nói về hai mươi mấy tông phái của Đạo Bụt Tiểu thừa. Mùa đông năm nay, chúng ta chỉ đi qua sơ lược. Nếu quí vị muốn học lại, muốn có căn bản, thì phải học trở lại lớp đó.

Khi đi ngang qua lãnh vực của Đại thừa thì chúng ta có bốn tông, đây là cái nhìn của Hoa Nghiêm Tông. Theo Hoa Nghiêm Tông, giáo lý Nhất thừa viên giáo là sự phát triển cao nhất của triết học Phật giáo. Chúng ta đã học qua Sáu tướng Mười huyền thì ta biết đó là tinh ba của Hoa Nghiêm Tông.

 

Thông cáo ngày 02 tháng 11 năm 2018

Trung tâm Thiền tập Làng Mai Quốc tế
Le Pey, Thénac 24240, Pháp

 

THÔNG CÁO

Thứ Sáu, ngày 2 tháng 11 năm 2018

 

Tăng thân Làng Mai quốc tế hiện đang sát cánh bên người Thầy thương kính – Thiền sư Thích Nhất Hạnh, một nhà lãnh đạo tinh thần của thế giới, nhà hoạt động vì hòa bình và cũng là một nhà thơ, trong chuyến trở về quê hương lần này của Thầy. Sau buổi kỷ niệm Ngày Tiếp nối lần thứ 92 vào tháng trước, Thầy đã bày tỏ ước nguyện sâu sắc mong được trở lại ngôi chùa gốc rễ tâm linh của mình là Tổ đình Từ Hiếu ở Việt Nam để sống những ngày còn lại trong đời. Thầy vẫn đang tiếp tục sống từng phút giây trong thảnh thơi và an lạc, với sự có mặt đích thực và đầy ý nghĩa, biến những khó khăn thử thách về sức khỏe sau cơn đột quỵ bốn năm trước thành một bài pháp không lời.

Chùa Từ Hiếu là nơi Thầy xuất gia vào năm 1942, lúc mười sáu tuổi. Sau gần sáu mươi năm giảng dạy và truyền trao giáo lý ở nhiều nước trên thế giới, sự trở về ngôi chùa tâm linh gốc rễ của Thầy mang lại niềm bình an và hạnh phúc lớn cho các học trò, cho chùa Từ Hiếu và cho các thế hệ tiếp nối. Lần trở về này của Thầy có ý nghĩa vô cùng quý báu, nó giúp cho những người học trò trong tăng thân quốc tế rộng lớn của Thầy có thể duy trì sự kết nối sâu sắc, không gián đoạn với gốc rễ tâm linh của mình ở Việt Nam. Khởi xướng phong trào Đạo Bụt dấn thân, Thầy đã cống hiến cả cuộc đời mình để làm mới đạo Bụt với mong muốn giúp cho từng cá nhân cũng như toàn xã hội giải quyết những khó khăn, thử thách trong thời đại chúng ta. Những giáo lý mà Thầy trao truyền luôn bắt nguồn từ gốc rễ tâm linh mang tinh thần nhập thế của các vị Tổ Sư đã làm rạng rỡ cho đạo Bụt Việt Nam từ thời Lý, Trần.

Mặc dù chưa phục hồi khả năng nói kể từ khi bị đột quỵ, Thầy vẫn luôn hiện diện tỉnh táo và mạnh mẽ. Sau khi triệu tập các đệ tử lớn của mình và tổ chức buổi họp vào ngày 24 tháng 10 tại Làng Mai Thái Lan, nơi Thầy cư trú từ tháng 12 năm 2016, Thầy truyền đạt rõ ràng mong muốn được trở về Việt Nam bằng cử chỉ gật đầu hay lắc đầu khi trả lời các câu hỏi. Những chuẩn bị cần thiết cho chuyến đi đã được tiến hành ngay sau đó, và Thầy đã có mặt tại sân bay Đà Nẵng vào chiều ngày 26 tháng 10 trong sự chào đón của quý Hoà thượng, chư vị Tôn túc Tăng Ni và quý thân hữu Phật tử cư sĩ.

Sau hai ngày nghỉ ngơi tại Đà Nẵng để hồi phục sức khỏe, Thầy về đến Tổ đình Từ Hiếu vào chiều ngày 28 tháng 10, và được chào đón bằng một nghi lễ Phật giáo truyền thống trong tiếng chuông trống Bát nhã trầm hùng. Khi vào cổng Tam quan, Thầy dừng lại một lát và đưa tay chạm vào bức tường đá cổ như một dấu ấn Đã về đã tới. Mọi người đều giữ yên lặng khi Thầy ngắm nhìn hồ bán nguyệt, nơi Thầy có nhiều kỷ niệm đáng nhớ khi còn là một sư chú. Sau đó Thầy vào chánh điện, niệm hương cúng dường Bụt và liệt vị Tổ sư.

Từ khi về đến Tổ đình, sức khỏe của Thầy vẫn còn yếu nhưng định tĩnh. Thầy đã cùng Tăng thân thiền hành vào lúc bình minh, thăm mọi nơi trong ngôi chùa vốn là nhà của Thầy và là nơi Thầy được nuôi dưỡng khi mới bắt đầu con đường tu tập. Trước đó, vào tối ngày 26 tháng 10 tại Đà Nẵng, với tư cách trụ trì và là niên trưởng dòng truyền thừa chùa Từ Hiếu, Thầy đã hướng dẫn các đệ tử soạn một lá thư mời tất cả Tăng Ni dòng Từ Hiếu (đệ tử và hậu duệ của Thiền sư Thanh Quý Chân Thật, vị Bổn sư của Thầy) tham dự buổi họp mặt gia đình đầm ấm  trong tình huynh đệ tại chùa Từ Hiếu vào thứ Bảy, ngày 3 tháng 11. Như Thầy đã nói trong chuyến về Việt Nam lần đầu tiên vào năm 2005, sau bốn mươi năm xa xứ: “Không có tôn giáo nào, học thuyết nào, chủ nghĩa nào cao hơn tình huynh đệ.”

Ngay lúc này đây, qua từng hơi thở và hành động của mình, Thầy vẫn kiên định và tràn đầy năng lượng trong việc xây dựng tăng thân, thúc đẩy quá trình trị liệu, hòa giải và chuyển hóa trong cộng đồng, xã hội và trên thế giới.

Kêu gọi yểm trợ cho tu viện Suối Tuệ gần Paris

Dưới đây là một câu chuyện về Sư Ông Làng Mai do thầy Pháp Dung kể lại, câu chuyện về tình huynh đệ và nỗi khát khao hòa bình. Câu chuyện này sẽ làm sáng tỏ thêm cho mối liên hệ bền lâu giữa Làng Mai và nước Pháp. Để  làm vững mạnh thêm mối liên hệ này, tăng thân Làng Mai  mong muốn xây dựng một trung tâm thực tập chánh niệm gần Paris để giúp cho nhiều người có thể tìm thấy được bình an và niềm vui trong chính tự thân mình.

Hãy chung tay cùng với chúng tôi để biến ước mơ này thành hiện thực bằng lòng hảo tâm của các bạn.

 

Người bạn cũ – Trung tâm mới

Trung tâm thiền tập mới của Làng Mai ở gần thủ đô Paris có thể được xem như sự tiếp nối đẹp đẽ của một tình bạn sâu đậm giữa Thầy và một người lính Pháp trẻ tuổi trong bối cảnh xung đột của chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Đó là vào khoảng năm 1947 hay 1948 khi Thầy còn là một sadi trẻ đang học tại Phật học đường Báo Quốc ở Huế. Khi ấy các thầy vẫn thường nghe thấy tiếng súng bắn qua lại giữa những ngọn đồi, và người dân rất ít khi dám mạo hiểm đi theo những con đường hẻo lánh băng qua các cánh đồng.

Một ngày nọ, Thầy về thăm chùa Tổ (Từ Hiếu) từ rất sớm, khi sương mai chưa ráo trên đầu ngọn cỏ. Tháng nào cũng vậy, Thầy đều về thăm chùa một lần. Đang đi theo con đường băng qua ngọn đồi thì bất chợt Thầy nghe tiếng ai gọi. Nhìn lên thì ở phía trên đồi, có một chàng lính Tây đưa tay vẫy. Anh ta chạy từ trên đồi xuống để nói chuyện với Thầy. Anh ta muốn biết Thầy từ đâu tới. Khi nghe là Thầy từ chùa Báo Quốc, anh ta đề nghị Thầy ở lại một lát để nói chuyện với anh ta. Người lính trẻ ấy còn choáng váng vì ký ức về một cuộc đột kích ban đêm vào chùa Báo Quốc mà anh ta phải tuân lệnh thực thi vào tuần trước đó.

Những người lính đột kích vào chùa để tìm Việt Minh. Họ giậm chân, quát tháo, trên tay là những khẩu súng sẵn sàng nhả đạn. Nhưng thay vì gây nên sự căng thẳng và hoảng loạn như họ trông chờ, thì họ lại thấy một ngôi chùa hoàn toàn tĩnh lặng, không một bóng người. Không có một tiếng đáp lại nào cho những tiếng quát tháo của họ; chẳng có một chuyển động nào hết. Khi họ chiếu đèn pin vào gian giữa tối lờ mờ mà họ nghĩ là trống trơn, họ chợt thấy trong đó chừng sáu mươi tu sĩ đang ngồi tĩnh tọa bất động… Trước cảnh tượng bất ngờ này, họ hoảng lên và vội vàng nhè nhẹ rút ra khỏi chùa. Đó là sức mạnh lớn lao của sự tĩnh lặng. Rõ ràng là không có một sự đe dọa nào ẩn chứa trong đó, nhưng những người lính này không thể nào làm khác hơn ngoài việc nhẹ nhàng rút lui.

Sự im lặng hùng tráng của thiền định đã gây một ấn tượng mạnh cho người lính trẻ Daniel Marty. Nó đã giúp tâm trí và trái tim của anh mở ra, đồng thời gây hứng khởi cho anh tìm hiểu thêm về con người và văn hóa Việt Nam. Anh hăm hở hỏi Thầy về sự im lặng mà anh thấy thật cuốn hút. Và anh đã mở lòng thổ lộ về nỗi nhớ nhà của mình. Anh chia sẻ rằng nhìn những tu sĩ ngồi bình an quá làm cho anh thấy trân quý sự sống của loài người. Hai người thanh niên trẻ ngồi đó nói chuyện về những nỗi đau của chiến tranh và chia sẻ với nhau niềm hy vọng hòa bình. Sau này, anh còn tới chùa thăm Thầy mỗi khi có một kỳ phép và phát nguyện rằng anh muốn suốt đời được sống theo lời Bụt dạy. Thầy đã cho anh pháp danh là Thanh Lương, nghĩa là “thanh tịnh, trong sáng, mát mẻ”.

Trung tâm thực tập chánh niệm mới của chúng ta – tu viện Suối Tuệ – là một sự tiếp nối của tình bạn sâu đậm giữa hai nền văn hoá này và của tình nhân loại. Đó là mảnh đất mà từ đó thật nhiều hạt giống của từ bi và trị liệu sẽ được gieo vào trái tim của bao người trẻ Pháp. Thầy thường dạy rằng không có gì mất đi cả, chỉ có những sự tiếp nối trong những hình thức mới, giống như một đám mây trở thành cơn mưa. Người huynh đệ có tên Thanh Lương vẫn còn đó trong chí nguyện của chúng ta, trong sự có mặt của chúng ta, trong tình huynh đệ của chúng ta và trong niềm hy vọng vào tương lai, cũng như nơi nguồn suối mát lành chảy quanh mảnh đất mới này – nơi mà tu viện Suối Tuệ sẽ biểu hiện trong tương lai.

Với sự giúp đỡ của các bạn, chúng ta có thể làm lớn thêm tình bạn của Thầy và Daniel, mở rộng hơn nữa vòng tay của chúng ta đến với hàng trăm, hàng ngàn người trẻ từ nhiều văn hóa, nhiều quốc gia trên thế giới. Cùng nhau chúng ta đang gieo trồng một tương lai hòa bình, trị liệu, bao dung và hy vọng cho tất cả mọi người.

Xin hãy chung tay cùng chúng tôi để ước mơ xây dựng tình huynh đệ và hòa bình này trở thành hiện thực. Chúng tôi rất biết ơn sự yểm trợ và cúng dường của các bạn. Mỗi món quà đều làm nên sự khác biệt.

Sen búp xin tặng bạn, một vị Bụt tương lai.

Chân Pháp Dung

 

Xem video về Tu viện: