Lễ Truyền đăng trong Đại Giới Đàn “Bây Giờ Ở Đây”

Trong Đại Giới Đàn này, tăng thân Làng Mai đã truyền đăng cho mười hai tân giáo thọ xuất sĩ và một tân giáo thọ cư sĩ (người Pháp). Buổi lễ đã được diễn ra với bầu không khí đầm ấm của một đại gia đình tâm linh.

Sau đây là một vài hình ảnh, kính mời đại chúng xem qua:

Truyền Giới Khất sĩ nam và Khất sĩ nữ

Ngày 22/2/2019, tại thiền đường Nước Tĩnh, xóm Thượng, Làng Mai đã diễn ra Lễ truyền Giới khất sĩ nam vào buổi sáng; truyền giới Khất sĩ nữ vào buổi chiều.

Đại giới đàn năm nay, tăng thân rất hạnh phúc với sự có mặt và chứng minh của Sư Ông Làng Mai trước Nhất sau Hạnh. Ngoài ra, tăng thân vinh dự được cung thỉnh chư tôn đức từ Việt Nam vào Hội đồng truyền giới Khất sĩ nam: Hòa thượng Thích Minh Nghĩa – viện chủ Tổ Đình Giác Nguyên (Đồng Nai),  Hòa thượng Thích Từ Vân, viện chủ chùa Kim Sơn (Nha Trang), Hòa thượng Thích Đổng Hoằng, viện chủ  Tổ đình Thiền Lâm (Phan Rang) cùng với quý thầy Giáo Thọ Đạo Tràng Mai Thôn làm Thầy Tôn Chứng.

Bên phía Hội đồng truyền giới Khất sĩ nữ gồm: Ni trưởng Thích Nữ Như Tuấn – trú trì chùa Phổ Hiền (Pháp), Ni trưởng Thích Nữ Lưu Phong- trú trì chùa Kiều Đàm (Sài Gòn), Ni trưởng Thích Nữ Như Ngọc – trú trì chùa Linh Bửu cùng với quý sư cô Giáo Thọ Đạo Tràng Mai Thôn làm Thầy Tôn Chứng.

Sau đây là một vài hình ảnh, kính mời đại chúng xem qua.

Rước Giới Bản – Ba La Đề Mộc Xoa từ Thiền đường Chuyển Hóa đến Thiền đường Nước Tĩnh

Sáng ngày 21 tháng 2 vừa qua, tại xóm Thượng, Làng Mai đã diễn ra Lễ rước Giới Bản khai mạc Đại giới đàn “Bây giờ ở đây”. Buổi chiều cùng ngày là lễ truyền 14 Giới Tiếp Hiện.  Đại giới đàn được diễn ra trong vòng 5 ngày.  Những hình ảnh của lễ truyền Giới lớn, truyền Đăng sẽ được cập nhật trong một vài ngày tới.

Sau đây là một vài hình ảnh, kính mời đại chúng xem qua:

Con sóc và hạt đậu

Vào một mùa thu tại tu viện Bích Nham, sư cô Trúc Nghiêm và tôi đã mua một vài loại hạt dành cho loài chim nhỏ. Chúng tôi hy vọng những hạt chứa trong chiếc túi vải thưa đó có thể quyến rũ những con chim nhỏ có bộ lông màu vàng mượt mà, xinh xắn. Sư cô cột một cây gậy dài lên ban công trước sân ni xá và treo cái túi hạt lên đó. Phải mất một vài tuần mới thấy các loài chim tìm đến. Chúng vừa gọi nhau vừa ăn hạt, trông thật vui nhộn. Nhưng ngay sau đó, loài sóc cũng đã kéo nhau đến tìm ăn những hạt do chim vung vãi xuống đất. Có vài chú sóc rất tinh ranh và can đảm, trèo lên cây gậy hoặc nhảy lên để bám vào cái túi đựng hạt. Sau nhiều lần như vậy, chúng đã làm rách cái túi và hạt rơi tung tóe ra mặt đất!

Sư cô Trúc Nghiêm kiên trì không kém, khâu lại cái túi và tìm một ống nhựa dài thay thế cây gậy gỗ để treo túi hạt lên đó. Thậm chí sư cô còn mua vaseline để bôi lên ống nhựa cho trơn, cho chắc ăn. Cái thú ngắm chim xem ra cũng khá tốn kém. Nhưng đối với chị em chúng tôi, đó là một niềm vui lớn trong những giờ rảnh rỗi ở tu viện. Những con sóc tí hon cố gắng hết sức bám vào ống nhựa, nhưng vì trơn quá lại bị tụt xuống, hoặc có những chú sóc lấy đà nhảy lên thật cao để chụp túi hạt, nhưng rồi cũng ngã lăn xuống… Ngồi nhìn cái màn trình diễn nhào lộn này chúng tôi cười khan cả cổ. Nhưng cuối cùng một chú sóc đã nhanh nhẹn nhảy lên thật cao, bám chặt vào túi hạt làm nó vỡ tung, và một lần nữa tất cả các hạt đều rơi xuống đất!

Chúng tôi vẫn không bỏ cuộc. Sư cô Trúc Nghiêm lại đi tìm một cây gậy gỗ ốm và dài để cắm vào trong ống nhựa, rồi dùng một hòn đá nhỏ để chẹn cho thật chặt, và như thế là túi hạt đã được treo ngất ngưởng trên cao. Nếu đi bộ ngang qua ni xá, bạn có thể trông thấy nó liền. Lần này, một vài chú sóc tham ăn đã cố gắng vượt qua được đoạn đường khó khăn là cái ống nhựa trơn, nhưng khi leo lên đến cây gỗ nhỏ thì cây gỗ oằn xuống, đong đưa qua lại làm các chú sóc sợ hãi, mất đà và rơi xuống như sung rụng.

Một hôm, sư cô Thăng Nghiêm và tôi ra ngồi trước hiên ni xá để nhìn chim và sóc đến ăn hạt. Một chú sóc đang bình thản ăn những hạt nằm vung vãi dưới đất, còn một chú khác thì vừa ăn vừa nhìn lên cái túi hạt có vẻ thèm thuồng lắm. Thấy vậy, sư cô Thăng Nghiêm nói với con sóc: “Những hạt trên đó và những hạt dưới này đều giống nhau thôi mà!”. Tôi cười giòn và nói: “Ồ không, nếu những hạt dưới này ngon một, thì những hạt trên đó phải ngon gấp mười lần!”. Và như đồng ý với tôi, con sóc cứ ngẩng đầu nhìn cái túi đựng hạt một cách say mê, quên cả cổ và lưng nó đang uốn cong về phía sau và có thể làm nó ngã ngửa ra bất cứ lúc nào. Tôi nổi hứng lên câu vọng cổ giùm cho chú sóc si tình này: “Hạt ơi, tôi yêu hạt vô cùng! Cổ tôi có thể gãy chỉ vì em, lưng tôi cũng có thể gãy chỉ vì em!”. Chúng tôi lại cười ầm. Cuối cùng sư cô Thăng Nghiêm thốt lên: “Có lẽ những con sóc này đang nghĩ rằng the nuns are evil! Các sư cô thật độc ác, cười trên khổ đau của tụi tui!”.

Chúng ta hãy quán chiếu về hoạt cảnh này. Hãy hình dung mình là những con sóc quyết tâm, bền chí và nhiều tham vọng đó. Và cái gì là cái túi treo lơ lửng, chênh vênh trên cao kia đối với bạn? Cái mà bạn ao ước lấy cho bằng được dù phải làm bất cứ điều gì và phải hy sinh bất cứ cái gì để có thể đạt được nó. Có phải vì bạn nghĩ rằng nó sẽ mang lại cho bạn nhiều hạnh phúc? Cái túi tuyệt vời đó của bạn là gì? Một ông lão ráo riết tìm kiếm bạn đời. Một phụ nữ hăm hở du lịch khắp năm châu. Một thanh niên đeo đuổi tham vọng trở thành một bác sĩ nổi tiếng, v.v..

Giáo lý của đạo Bụt thường nói về Niết bàn – một trạng thái tĩnh lặng, không còn mong cầu, không còn nắm bắt. Niết bàn là một từ đã xuất hiện trước thời của Bụt. Khi đốt lửa, củi sẽ cháy thành than rất nóng. Nhưng nếu để qua đêm, đống than sẽ nguội dần và sáng hôm sau người chạm tay vào đống tro tàn sẽ thấy nó mát dịu. Đó là Niết bàn, trạng thái của sự rỗng lặng, mát mẻ và êm dịu. Niết bàn cũng đã được dịch là đại lạc như trong kinh Tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân. Từ “đại” có nghĩa là lớn. Khi nói về một cái gì đó vĩ đại như thành công lớn, niềm vui lớn, hoặc hạnh phúc lớn, chúng ta nghĩ điều đó là một đối tượng bên ngoài chúng ta và chúng ta là chủ thể. Trong ngôn ngữ Trung Quốc, chữ 大 (đại, lớn) gồm có hai phần. Phần chính là 人 (nhân, người) và phần kia là 一 (nhất, một). Như thế, đại cũng có thể được hiểu là người có sự nhất như. Vậy thì cái vĩ đại, to lớn đó không phải là một đối tượng bên ngoài, mà nó là một với chủ thể. Từ đại 大 này cũng trông giống một người đang bước một bước dài và hai tay dang ra để giữ cân bằng. Hình ảnh này cho thấy sự quan trọng của khả năng giữ thăng bằng. Vậy thì thân tâm được thăng bằng và nhất như là những điều kiện cần thiết để làm việc lớn, để có niềm hạnh phúc lớn, để thành một đại nhân.

Trong đạo Bụt, chúng ta thấy có sự khác biệt giữa niềm vui và hạnh phúc. Trong niềm vui vẫn còn hàm chứa hương vị của sự phấn khích, vẫn còn những cơn sóng trồi sụt. Ví dụ như khi bạn vui mừng được gặp lại người yêu sau một thời gian dài cách biệt, bạn có sự kích thích nội tâm làm tim bạn đập nhanh hơn. Khi bạn vui vẻ chuẩn bị mọi thứ để đón tiếp bạn bè hoặc cha mẹ thì đó là sự phấn khích, đó là niềm vui. Nhưng hạnh phúc là trạng thái sâu lắng hơn. Hạnh phúc là khi chúng ta im lặng và thoải mái ngồi với chính mình hoặc bên cạnh một ai đó, không cần nói gì, không cần làm gì, chỉ đơn giản có mặt thực sự cho nhau, ý thức tràn đầy. Đó là niềm hạnh phúc sâu xa và chân thật.

Trước đây có một nhóm sinh viên đại học hỏi chúng tôi: “Quý thầy, quý sư cô có hạnh phúc không?”. Tôi đã trả lời họ: “Hạnh phúc của chúng tôi không phải là trạng thái như khi bạn ăn sô cô la, lượng đường cao vào máu làm bạn phấn khích nhất thời, nhưng sau đó lại cảm thấy uể oải và mệt mỏi. Hạnh phúc của chúng tôi giống như khi ăn cà rốt hoặc ăn bông cải xanh. Hương vị của loại thức ăn này nhẹ nhàng không làm chúng tôi thèm khát. Thức ăn này tốt cho chúng tôi. Trong khi ăn chúng tôi có bình an và nó sẽ tiếp tục nuôi dưỡng cơ thể chúng tôi trong thời gian tới. Hạnh phúc của những người tu cũng vậy, nó là một trạng thái tĩnh lặng bình an luôn hiện diện và nuôi dưỡng chúng tôi bây giờ và cả sau này”.

Giáo lý Tứ diệu đế nói về liên hệ giữa khổ đau và hạnh phúc. Để khổ đau hiện hữu, phải có một con đường dẫn đến khổ đau. Thông thường chúng ta nghĩ rằng khổ đau là một cái gì đó được áp đặt lên chúng ta và chúng ta luôn thấy mình là nạn nhân. Ít khi được nghe ai đó nói: “Tôi là thủ phạm đã gây nhiều khổ đau, tôi đã bắt nạt, gạt gẫm và làm tổn thương nhiều người”. Chúng ta ít khi hoặc không bao giờ công nhận phần trách nhiệm của mình mà thường than vãn: “Tôi đang bị bắt ép, người ta nói xấu tôi, tôi bị tổn thương, tôi bị xúc phạm, tôi bị thế này và tôi bị thế kia, v.v.”. Nhưng khi tu học Pháp của Bụt, chúng ta nhận ra rằng chúng ta không những là nạn nhân mà còn là thủ phạm, là kẻ gây ra khổ đau và kéo dài sự khổ đau triền miên. Có thể khổ đau đã diễn ra nhiều lần trong thời thơ ấu, khi chúng ta phải chịu đựng sự đói nghèo, bị phân biệt, bị chửi mắng, hoặc bị lạm dụng tình dục. Đáng tiếc thay, hiện giờ chúng ta đã thành người lớn nhưng vẫn suy nghĩ theo chiều hướng tiêu cực như xưa, vẫn nghĩ rằng mình là nạn nhân, vẫn nói những điều tổn thương, vẫn tiếp tục gây thêm nhiều khổ đau cho bản thân và cho người khác. Có lần một cô gái trẻ đẹp đến xin tham vấn với tôi. Cô đã nói rất nhiều về những khổ đau của cô, và sau khi nghe tận nguồn cơn nỗi lòng của cô ấy, tôi đã thốt lên: “Em biết không? Em đang nghiện nỗi khổ đau của em!”. Cô rất ngạc nhiên và bị khựng lại trong vài giây. Sau khi nghe tôi giải thích thì cô rất xúc động và như bừng tỉnh sau một giấc mộng dài.

Tại sao ta lại có thể nghiện khổ đau? Hãy thành thật với chính mình, bỏ một chút thì giờ để nhìn sâu vào những ý nghĩ, lời nói và hành động của mình, thì ta sẽ thấy mình đã nuôi dưỡng khổ đau như thế nào. Chánh niệm giúp ta khám phá ra rằng ta đã và đang tưới tẩm thân tâm với những độc tố qua ý nghĩ, lời nói và hành động trong cuộc sống hàng ngày. Những loại thực phẩm tiêu cực mà chúng ta tiếp nhận qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng có công năng làm tăng trưởng khổ đau. Cho nên khổ đau của quá khứ không hề thuyên giảm với thời gian, mà ngược lại chúng ngày càng sâu đậm.

Ta thường mơ mộng, thổn thức, hoặc đau buồn, thương tiếc về những gì thuộc về quá khứ. Có lẽ ta không cố ý chọn khổ đau nhưng nó hiện hữu một cách vô thức bởi vì trên phương diện tâm lý, khổ đau là tất cả những gì ta cảm thấy thân thuộc, thường sống lại và diễn tập. Trên phương diện sinh lý, cơ thể chúng ta đã nghiện những kích thích tố của sự buồn phiền, thất vọng, tức giận. Và tâm chúng ta cũng đã nghiện những cảm thọ và cách suy nghĩ tiêu cực.

Vì vậy trong bốn sự thật cao quý Tứ diệu đế, chúng ta có thể nói rằng sự thật thứ nhất khổ đế không những công nhận sự hiện diện của khổ đau, mà cũng công nhận sự nghiện ngập đối với khổ đau. Sự nghiện ngập đối với khổ đau chính là mũi tên thứ hai làm cho khổ đau được duy trì hết thế hệ này đến thế hệ khác.

Sự thật thứ hai khổ tập đế chỉ ra là có một con đường, cũng như có những loại thức ăn dẫn đến khổ đau và duy trì sự nghiện ngập đó. Nếu Bụt dừng lại tại đây thì bạn sẽ nói rằng khổ đau có gì là cao quý đâu? Nhưng Bụt đã không dừng lại ở đó. Bụt đã khẳng định trong sự thật thứ ba khổ tập diệt đế rằng khổ đau và sự nghiện ngập khổ đau có thể chấm dứt để hạnh phúc chân thật có thể tỏa sáng ngay trong cuộc đời này của chúng ta. Sự thật cao quý thứ tư khổ tập diệt đạo đế là những sự thực tập cụ thể của Bát chánh đạo có công năng chấm dứt các nguyên nhân trưởng dưỡng khổ đau.

Khổ đau chỉ trở thành cao quý khi chúng ta dấn thân trên con đường tâm linh để chuyển hóa và trị liệu. Chúng ta sẽ có ý thức không nuôi sống khổ đau của quá khứ, không gây thêm khổ đau trong cuộc sống hàng ngày, mà ngược lại chúng ta chọn cách tư duy, nói năng và hành xử như những loại thực phẩm lành mạnh dẫn đến bình an và hạnh phúc. Như khi lấy bóng tối đi thì ánh sáng xuất hiện. Hoặc khi ánh sáng xuất hiện thì xua tan bóng tối. Bát chánh đạo, trong đó có Chánh niệm, là những sự thực tập rất cụ thể để giúp chúng ta có ý thức và có khả năng chọn lựa sáng suốt trong từng giây từng phút. Chúng ta có thể sống cuộc đời của mình trong tĩnh lặng, an hòa mà sẽ không phải như chú sóc kia cứ miệt mài ngửa cổ lên để mơ tưởng vài hạt đậu trên cao!

Chân Đẳng Nghiêm

Thầy về

Lần này Thầy về Việt Nam

Bao người cảm thấy bình an cõi lòng.

Mấy lâu trông được gặp Thầy,

Nay được diện kiến vô cùng hỷ hoan.

Thầy về đem lại bình an,

Đem nguồn hạnh phúc chứa chan tình người.

Dù cho vật đổi sao dời,

Nhưng lòng quý kính với Người khôn phai.

Thầy là Trưởng Tử Như Lai,

Hoằng dương chánh pháp, trải dài Đông Tây.

Tổ đình Từ Hiếu giờ đây,

Thầy về tĩnh dưỡng những ngày bệnh duyên.

Âu là thâm ý Tổ Tiên

Có Thầy ngồi đó, bình yên Tổ đình.

Chúng con tự mừng cho mình,

Thầy là điểm tựa tinh thần chúng con.

Thành tâm khấn nguyện mười phương,

Chư Phật chư Tổ xót thương hộ trì.

Ni Trưởng Thích Nữ Chân Như Minh

 

Một ngàn lẻ một chuyện

Con đã đọc truyện “Ngàn lẻ một đêm” chưa?

Đó là câu hỏi Thầy đã hỏi con vào một ngày đẹp trời tại Sơn Cốc. Câu nói ấy lại vang lên trong những ngày chúng con được tin Thầy về chùa Tổ và chúng con nhanh chóng hội tụ về bên Thầy. Về bên Thầy để ôn lại những kỷ niệm đẹp bên Thầy, bên huynh đệ. Chỉ cần ý thức Thầy đang có mặt trên quê hương là con thấy thật mầu nhiệm. Con nghĩ đến quẻ Kiều cụ Nguyễn Du cho con năm nay:

Những là nấn ná đợi tin
Tỉnh ra mới biết là mình chiêm bao

Đúng rồi! Đây không phải là chiêm bao mà là sự thật! Thầy đang có mặt tại quê hương để nhìn rõ từng ngọn cỏ, vườn rau, được nghe tiếng suối Tào Khê, tiếng gà gáy sáng quen thuộc,… Giấc mơ “Khi mô Thầy về?” ấy đã thành hiện thực thưa Thầy.

Nhân dịp Thầy về, các sư em con lại có dịp hỏi thăm đủ chuyện về Thầy và quý sư cha, sư mẹ, sư anh, sư chị lớn v.v. Mỗi lần nghe các sư em hỏi, con lại thấy lúng túng không biết bắt đầu như thế nào vì có quá nhiều chuyện mà Thầy đã kể cho chúng con nghe. Có khi là về cuộc đời hành đạo của Thầy, có khi là nỗi nhớ quê hương, có khi là một tuệ giác hay những cái thấy nho nhỏ trong đời sống hàng ngày, có khi là kỷ niệm với quý sư cha, sư mẹ trong thời các vị còn là những sa di, sa di ni… Thầy đều chia sẻ với chúng con khi chúng con có dịp quây quần bên Thầy. Con đã từng kể cho các sư bé nghe những câu chuyện rất thật trong đời sống tăng thân. Đó là những chuyện cổ tích nuôi dưỡng cho những tháng ngày bé thơ trong đời sống tâm linh của con khi được trở về cùng sống dưới một gia đình tăng thân lớn có nhiều thế hệ như vậy. Đời sống tăng thân như từ trang sách bước ra giữa cuộc đời này thật đẹp!

Chuyện cây bàng trước sân

Đó là khoảnh khắc con đi thiền hành cùng đại chúng tại chùa Tổ, khi dừng lại bên hồ Bán Nguyệt đưa mắt nhìn ra cổng, con bắt gặp cây bàng năm xưa trong câu chuyện của Thầy vẫn còn đó với dáng vẻ uy nghi, cổ kính và duyên dáng bên cổng chùa Từ Hiếu. Cây bàng phút chốc đưa con về với cây bàng tuổi thơ của con tại sân trường cấp một. Thầy dạy con viết thư kể cho Thầy nghe những kỷ niệm đẹp ở quê nhà và con đã kể về chuyện trường lớp. Trong đó có chuyện cây bàng trước sân trường đã là người bạn nhỏ của con. Thầy đọc xong thư và con nghĩ Thầy sẽ không nhớ lá thư ấy. Vậy mà khi có dịp gần Thầy, Thầy hỏi: “Con đã đọc thiên thần quét lá chưa?”. Con thưa Thầy: “Dạ chưa!”.Và thế là Thầy kể chuyện Thầy cũng có một người bạn là cây bàng trước cổng chùa, mỗi lần quét lá xong Thầy nghỉ dưới gốc cây bàng và nghe suối chảy róc rách. Thầy nhận ra cây bàng đổi màu lá đỏ. Rồi Thầy nói, quê hương mình có cây bàng thay lá và đổi màu, còn ở đây cũng có cây phong đổi màu rất đẹp.

Nhờ lời khai thị của Thầy mà giờ đây tâm con được trồng thêm cây phong bên cạnh cây bàng của quê hương. Cây phong trời Tây đứng bên cây bàng quê mình thiệt đẹp!

Đừng phí thời gian với những buồn đau vô ích

Đó là lời Thầy dạy khi tu viện Bát Nhã xảy ra chuyện. “Đây Bát Nhã thân yêu, có mây giăng sớm chiều… (Bát Nhã thân yêu – Thầy Pháp Niệm)”. Bát Nhã là chiếc nôi tuổi thần tiên trong gia đình tâm linh của những người con quê hương, đã một thời theo tiếng gọi con tim hội tụ về nơi yêu thương gió núi để xây dựng ngôi nhà tỉnh thức. Rồi qua câu chuyện Bát Nhã, mỗi chúng con mang theo một nỗi nhớ thương của cái thuở nằm nôi. Đôi lúc chúng con bị vết thương quá khứ trấn ngự mà quên đi mình đang có giây phút hiện tại. Bởi những cảm thọ cứ như thật, ngay cả những lúc chúng con rất an toàn bên Thầy và tăng thân. Những lúc này Thầy dạy rất mạnh: “Mỗi chúng ta phải tự trở về chăm sóc chính mình. Phải nắm lấy hơi thở, bước chân mà đừng chết chỉ vì một cảm thọ, đừng phí thời gian với những buồn đau vô ích. Chúng ta phải nhận diện và có can đảm dừng lại để đưa hiện tại đi về tương lai và chúng ta sẽ lại có một quá khứ đẹp”. Rồi Thầy mở cửa bước ra ngoài đi thiền hành, các sư con đi theo Thầy. Những bước chân của Thầy đưa chúng con trở lại với giây phút hiện tại trong sự bình an và tĩnh lặng.

Quân sư Đào Duy Từ

Lại một lần khác Thầy hỏi: “Con có biết ông Đào Duy Từ không?”. Con “dạ” rồi lục lại trí nhớ coi ông là ai nhỉ? Con không giỏi môn lịch sử, chỉ biết ông là một người có công với nước nên tên của ông được đặt cho một con đường ở quê nhà. Rồi con cũng quên câu hỏi của Thầy. Trước giờ, con chỉ nguyện sẽ đọc những sách vở mà Thầy giảng dạy và giới thiệu, chỉ dẫn nên con thường hứa là sẽ tìm tài liệu về ông Đào Duy Từ nhưng cái tập khí đãng trí của con đã lại đưa ông vào quên lãng. Cho đến hôm ra Diệu Trạm, tình cờ con bắt gặp lời Thầy trên giá sách. Con thường chơi trò thiền hành trong thư viện, để sách chọn mình mà mình không chọn sách. Cái hay là nhiều khi con cứ sống trong tăng thân và bắt gặp những cuốn sách mà Thầy giới thiệu một cách rất tình cờ.

Trường Làng Mai

Khi đọc cuốn Quân sư Đào Duy Từ, những lời Thầy tâm sự như vọng về. Thầy dạy: “Mình đã có Viện Phật học Ứng dụng châu Âu và Viện Phật học Ứng dụng châu Á rồi, nên ở Làng Thầy muốn giữ phong cách của một trường làng”. Nơi đây không chỉ là Học viện mà là một mô hình sống tự nhiên của những người chung lý tưởng, chung sở thích làm đẹp cuộc đời. Làng có lịch sử, văn hóa, quy định của Làng. Làng có nhiều thế hệ cùng chung sống, có kiến trúc khác Học viện. Làng không nặng về thủ tục hành chánh và kiến thức như Học viện. Làng có bãi cỏ, rừng cây, có tuổi thơ, có tình thầy trò, tình anh chị em. Có cây đa, có tiếng chuông chùa, có bóng trăng, có trung thu, có giỗ Tổ,… Làng vừa là gia đình vừa là trường học kiến thức và cách sống làm việc hòa hợp…

Tự nhiên lời khai thị của Thầy hôm ấy giúp con tìm ra cái khập khiễng trong cách học của con. Con thường có khuynh hướng chia hai hay còn gọi nôm na là chia năm xẻ bảy cuộc đời mình. Con không biết cách hợp nhất thân tâm, hay nói đúng hơn là con đã chia việc học và sống làm hai, làm ba hay nhiều phần mà có lần con thưa với Thầy là con đã chẻ cuộc đời mình ra thành nhiều mảnh. Bây giờ con sẽ học cách hợp nhất nó lại dưới sự dẫn dắt của Thầy.

Sau những năm ở Làng con nhận ra Làng Mai là một Viện Phật học, vì ai đến đây cũng với mục đích học cách sống hạnh phúc và chuyển hóa khổ đau. Viện Phật học thường có phòng thí nghiệm và thực hành. Ở Làng cũng vậy. Mỗi khi nhìn về Làng con lại thấy lời Thầy đã được mọi người công nhận khi số thiền sinh về tu học ngày một đông. Dù bây giờ Thầy đang ở Việt Nam, nhưng bước chân thiền hành qua bao năm tháng vẫn còn lưu lại nơi ấy năng lượng bình an và vững chãi cho các thế hệ học trò. Để mỗi lần lên xóm Thượng dự ngày quán niệm sẽ thấy một tăng thân Bụt ngồi an nhiên nơi rừng sồi hay bàn thờ lộ thiên tại xóm Mới và tượng Bụt tại rừng Bạch Dương xóm Hạ. Còn nhiều dấu tích khác mà Thầy đã đích thân làm cho Làng ngày càng thêm đẹp, vừa rất gần gũi với thiên nhiên vừa dung hợp được cả hai nền văn hóa.

Con hãy giúp Thầy một tay

Đó là những bài học không có trong sách vở nên nếu không để tâm thì năm tháng ở Làng chỉ là một nơi để mà nhớ thương. May thay lời Thầy năm ấy: “Thầy còn nhiều việc để làm lắm, các con hãy giúp Thầy một tay” là một lời tâm sự và cũng là một sự gửi gắm. Chúng con ý thức rõ chúng con là sự tiếp nối của Thầy trong sứ mạng đưa Thầy đi về tương lai.

Hôm nay về lại Tổ đình, khi xem video thấy Thầy đưa một tay lên rồi nhìn bàn tay mình lật qua lật về như thể nói rằng Thầy không còn nhiều thời gian nữa. Con nhớ lại những buổi ngồi chơi bên Thầy, Thầy thường nói: các con là tay của Thầy, các con là tai của Thầy, các con là hóa thân của Bồ tát ngàn tay ngàn mắt đó… Và mỗi dịp kỵ Tổ, Thầy lại kể cho chúng con nghe về những tháng ngày làm điệu ở Huế. Các con của Thầy kẻ Bắc, người Nam, có cả các vị Tây phương nữa… Vậy mà mỗi lần Thầy kể về chùa Tổ bằng tấm chân tình của một người con xa quê luôn hướng về nơi chôn nhau cắt rốn với mong ước được về tắm mát bên dòng suối tâm linh, bên công hạnh của Tổ, chúng con ai cũng thấy mình có gốc rễ nơi vùng đất thiêng liêng ấy.

Thầy nhìn các con và dạy: “Dù mình có khoảng cách về địa lý nhưng thời đại công nghệ hiện nay các con có thể sử dụng những kiến thức mình học được để hoằng pháp độ sanh. Các con có thể thỉnh kinh như ngài Huyền Trang dưới hình thức một tăng thân. Ngày xưa, ngài Huyền Trang thỉnh kinh dưới sự trợ giúp của Ngộ Không, Ngộ Tịnh, Ngộ Năng còn ngày nay thầy trò mình thỉnh kinh, biên dịch, in ấn và trao truyền dưới hình thức một tăng thân rất vui. Các con có tuổi trẻ, có tình huynh đệ, có tình yêu quê hương, các con có máy tính, có loa, có Internet,… Các con có đông anh chị em, mỗi người giúp một tay, làm cho vui, tu cho vui… Mình làm như một người vô sự. Con đã đọc Người vô sự chưa?”. Và Thầy đưa cho con cuốn sách Người vô sự như một món quà.

Con hãy gỡ ra rồi ráp lại

Có một lần con đọc được tài liệu Thầy viết về đức Phật của thế kỷ chúng ta. Thầy nói: Pháp mạt không phải là chúng ta không giữ gìn nó mà vì chính chúng ta đã giữ gìn nó chặt chẽ quá, ôm ấp nó kỹ càng quá. Vì vậy một ngày kia trong vòng tay cứng ngắc và siết chặt của chúng ta nó chỉ là một cái xác không hồn, một cái xác sơn phết bóng lộn. Thầy còn nói: Phật Di Lặc có thể xuất hiện vào cuối thế kỷ, nếu chúng ta biết buông bỏ sự cố chấp và biết gạn lọc tâm hồn. Lời dạy đó đã khai mở một cái thấy mới về đạo Bụt phù hợp với thời đại và đồng hành được với khoa học và tiến trình lành mạnh hóa xã hội hiện nay. Trong bối cảnh đó, Làng Mai sẽ đóng góp vai trò của mình một cách tốt đẹp nhất.

Rồi có hôm Thầy nghe chúng con hát bài Leo đồi thế kỷ. Thầy nói rằng chúng ta không thể vừa mang một ngôi nhà Phật giáo đồ sộ mà vừa leo đồi được. Là một nhà leo núi giỏi, chúng ta phải chọn những vật dụng cần thiết để mang theo thôi. Lên trên đó chúng ta ráp lại. Những bài pháp mini của Thầy nếu thu gom lại cũng là một túi khôn. Trong đó chứa đựng bao tâm sự và gửi gắm của Thầy về một đạo Bụt cho người trẻ. Thầy luôn có mặt cho chúng con nhưng Thầy vẫn không ngừng công việc nghiên cứu, biên dịch và giảng dạy suốt bảy mươi năm qua.

Con nhớ trong một pháp thoại nhân ngày kỵ Sư Tổ, trong không khí gia đình, Thầy chia sẻ: Ở chùa Từ Hiếu những năm đầu phải tự in kinh mà học và tất cả mọi người đều phải tham gia. Mùa xuân thì in Kinh Báo phụ mẫu ân và mùa thu thì in Kinh Thiền môn nhật tụng, tất cả đều bằng tiếng Hán. Năm 1997, Mai Thôn đạo tràng xuất bản Nhật tụng thiền môn năm 2000 bằng tiếng Việt, rồi dịch ra tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Ý cho tăng thân khắp nơi tụng đọc bằng tiếng địa phương cho dễ hiểu. Vậy là một trăm năm sau (1897-1997), Thầy trò mình đã có tiếng Việt để tụng đọc thay cho tiếng Hán. Thầy dạy: “Nếu có danh lam cổ tự mà không có các vị đại đức cao tăng thì pháp bảo không được truyền bá. Chính con người mới làm cho địa danh nổi tiếng và chính con người mới trao truyền được bảo vật”.

Thầy kể tiếp rằng chùa Từ Hiếu có ba gian, sau lưng chánh điện có Trung nghĩa đường (có ngựa Xích Thố, có Quan Công…); phía Đông là Lạc nghĩa đường và phía Tây là Báo đức đường. Năm 1894, thời vua Thành Thái là năm đại trùng tu chùa Từ Hiếu. Chùa có lầu chuông và lầu trống tráng lệ… Nếu nói về phương diện kiến trúc thì chùa đã trang nghiêm rồi, nhưng đứng về phương diện pháp bảo thì chưa theo kịp… Sau đó, chùa có in thêm Phổ Hiền hạnh nguyện và Pháp Bảo Đàn kinh. Vậy là tại chùa Từ Hiếu mình có bốn kinh được khắc bản…

Năm nay, Thầy về đúng dịp chùa Từ Hiếu đại trùng tu. Với nét đẹp cổ kính, nguyên sơ, chùa là một danh lam trên đất thần kinh xưa nay, nhưng nguyện vọng của chư Tổ thì Thầy đã âm thầm mang theo qua tận trời Tây. Để rồi từ phương trời Tây, Thầy vẫn tận tụy một lòng trong công việc bảo trì và làm lớn mạnh ngôi nhà pháp bảo dưới sự giúp sức của những người tu trẻ đầy nhiệt huyết. Cứ mỗi khi xuân về Tết đến, Thầy lại hướng về quê hương thắp nén tâm hương như thể thưa với chư Tổ rằng dù ở đâu Thầy vẫn là sự tiếp nối của chư Tổ. Để rồi sau chuyện Bát Nhã, Thầy động viên các con: “Thầy trò mình phải đi đường vòng thôi. Một ngày nào đó mình lại có mặt trên quê hương và các con phải biết rã ra rồi ráp lại cho phù hợp với quê nhà”.

Mỗi khi xe đẩy ngang qua kệ sách, Thầy đều đưa mắt nhìn “những đứa con tinh thần” của Thầy. Lời Thầy vang vọng trong con: “Viết sách cũng như một bà mẹ mang thai vậy đó con!”

Thôi chuyện con kể cũng đã dài lắm rồi, con xin dừng tại đây. Con kính gửi về Thầy và tăng thân mấy vần thơ “Mở cửa sổ” nơi vùng quê Trạm Tịch.
Mở cửa nhìn ra ngoài
Thấy đất trời hoan ca
Mở cửa nhìn ra ngoài
Thấy đất trời bao la.
Cây xanh và khí mát
Gió rì rào hát ca
Chị đi trong tĩnh lặng
Em mỉm cười nhận ra
Gửi tặng mẹ chốn này
Bên nhau một tình thương.
Cho nhau một tình yêu
Giữa cuộc đời rất thật
Cho nhau một niềm tin
Giữa cuộc đời tất bật
Cho nhau một con đường
Giữa muôn ngàn lối rẽ.
Thầy ơi con thấy rõ
Nếp sống và tình Thầy
Là ngọn đèn soi tỏ
Cho tiếng cười vang xa
Dịu êm vầng trán cha
Vơi dần nỗi khổ mẹ.
Bé thơ là bé thơ
Giữ nụ cười của bé
Tuổi trẻ là tuổi trẻ
Thương yêu được chính mình
Bồi đắp được niềm tin
Giúp quê hương thêm đẹp
Tôi yêu cuộc đời này.

Chân Văn Nghiêm

Nhà mới yên vui

Thầy Trời Đại Nguyện, xuất gia trong gia đình cây Cúc Đại Đóa, là một người luôn mang tiếng cười vào trong từng câu chuyện đơn sơ, đậm chất của người miền Tây sông nước. Mùa thu vừa qua, thầy đã cùng các huynh đệ lên đường đến trung tâm Suối Tuệ, một tu viện mới của Làng Mai tại Verdelot ở ngoại ô thành phố Paris. Dưới đây là những cảm nhận của thầy về những ngày đầu đặt chân tới tu viện mới.

Tôi đã từng nghe ai đó hát về một nỗi nhớ, nỗi nhớ quê hương, nhớ hương vị quê nhà, nhớ những gì quen thuộc khi mà ở nơi xa đó không có những gì quen thuộc, thân thương đã xa rồi không còn tìm thấy. Ngày xưa khi nghe thì tôi chỉ nghe cho vui mà thôi, nhưng giờ đây tâm thức tôi đang gợi lại một cái gì đó để nhớ về, cũng như câu hát: rồi đi xa thấy nhớ…

Đã ba tháng trôi qua, kể từ ngày huynh đệ chúng tôi rời xóm Thượng chuyển đến trung tâm Suối Tuệ. Suối Tuệ là tên mà chúng tôi đã đặt cho tu viện mới của Làng Mai vùng ngoại ô Paris. Tiền thân Suối Tuệ là một tu viện thuộc dòng thánh Saint Augustin của các nữ tu Công giáo (ma sơ) ngày xưa. Sau hơn một trăm năm sinh hoạt, các sơ vì già yếu và không có người tiếp nối nên đã sang nhượng lại. Người chủ mới đã sửa sang lại một phần của các tòa nhà trong tu viện để làm nhà nghỉ mát với dịch vụ bán bánh crêpes vào cuối tuần. Như thế là từ ba tháng nay chúng tôi được diễm phúc khôi phục lại năng lượng tu tập và cầu nguyện với sự ra đời của tu viện Suối Tuệ – Làng Mai.

Xa xóm Thượng, mọi thứ giờ đây đều rất mới mẻ và lạ lẫm với huynh đệ chúng tôi. Tu viện mới không có đông quý thầy, quý sư cô như ở Làng, mà chỉ có 12 quý thầy và sư chú. Không còn được là “baby” và chăm sóc như xưa, giờ đây mỗi huynh đệ chúng tôi phải tự đứng trên đôi chân của mình, tập đi và tập gánh vác những công việc mà xưa giờ mình chưa từng đụng tới,… Rất nhiều và rất nhiều thứ mà chúng tôi phải trải nghiệm từ khó khăn đến hạnh phúc kể từ ngày xa đại chúng lớn.

Nhớ ngày đầu tiên chúng tôi đặt chân đến đây, ai ai cũng háo hức, chờ đón để được nhìn thấy trực tiếp. Vì trước đó anh em chúng tôi chỉ được xem tu viện qua các tấm ảnh, cho nên trong tâm trí mọi người ai cũng có một hình dung riêng về tu viện Suối Tuệ.

Riêng tôi, vì được biết Suối Tuệ trước kia có nhà hàng bán bánh crêpes, nên tôi hình dung hẳn tu viện phải rất sang trọng và lộng lẫy giống với những nhà hàng mà khi xưa tôi đã từng đến.

Sau hơn một tiếng từ lúc rời khỏi Thiền đường Hơi Thở Nhẹ (chỗ ngủ tạm một đêm trước khi đến Suối Tuệ), chúng tôi đã đến được tu viện hằng mơ ước. Bề ngoài tu viện không quá sang trọng như tôi nghĩ, không màu mè, bóng loáng mà mang một nét đơn sơ, mộc mạc. Tôi tự nghĩ có lẽ người ta muốn giữ lại hình bóng của tu viện cũ. Vậy cũng hay!

Sau giây phút chào hỏi nhau, chúng tôi được người chủ nhà mời vào bên trong. Tôi càng ngạc nhiên hơn khi mọi thứ dường như khác với những gì tôi tưởng tượng. Tôi chợt nhớ đến lời Sư Ông dạy: “Tưởng là một tri giác sai lầm”. À ha, ra là vậy, tôi hơi buồn cười vì những gì mình đã tưởng tượng về hình ảnh của tu viện trước đó… “Không sao, đơn sơ dễ tu tập”, tôi nghĩ.

Và rồi, chúng tôi có thời gian chút chút để chuẩn bị cơm trưa và ăn cùng chủ nhà. Sau bữa trưa đầy hạnh phúc nơi không gian đẹp và gần gũi với thiên nhiên, tôi được nghe sơ qua về lịch sử của tu viện, của phố Verdelot. Đó là những mẩu chuyện có thực và rất mầu nhiệm.

Sát na này rồi đến sát na khác, thời gian thay đổi và không gian cũng đổi thay, lại thêm một thông tin nữa là chúng tôi phải đợi vài hôm, khi đã xong phần ký kết giấy tờ thì chúng tôi mới được nhận tu viện. Còn bây giờ chúng tôi phải ở tạm chờ đến ngày ký giấy. Khi nghe thông tin này anh em chúng tôi có cùng cảm giác như mình đang bị thất thủ trước một trận chiến mà mình đang sẵn sàng vào cuộc! Tôi lại tự nhủ với lòng, không sao, chờ vài ngày thôi thì mọi thứ sẽ ổn định.

Dãy nhà có nhiều phòng và anh em chúng tôi bắt đầu chọn phòng để ở cùng nhau. Sau một đêm dài, ngày hôm sau, anh em vẫn tươi cười, tay bắt mặt mừng. Chuyện gì xảy ra? Không gì cả, chỉ là giây phút trân quý nhau. Buổi sáng ngồi chơi, tôi nghe kể đêm qua có một sư em phải cố chạy tìm tấm tọa cụ để xếp làm giường ngủ, vì phòng của sư em không có giường, mà nền nhà thì bằng gỗ nên về đêm hơi lạnh. Và đêm đó sư em đã nằm co lại như một đứa bé còn trong bụng mẹ. Tôi hỏi sao không bật sưởi, sư em bảo là phòng không có sưởi. Ra là vậy. May mắn cho tôi, phòng tôi có giường và có một cái sưởi di động sẵn trong phòng, chỉ có điều tiếng quạt sưởi kêu hơi to. Nhưng chắc vì khá mệt sau một quãng đường dài nên vừa nằm xuống là tôi đi vào giấc ngủ ngay.

Sau đó, cũng còn thời gian trước khi ký xong giấy tờ nên chúng tôi quyết định đi gom góp thêm đồ đạc cho nhu cầu sinh hoạt, vì lúc đó mọi thứ đều thiếu thốn đối với chúng tôi. Ngày chuyển lên đây chúng tôi chỉ mang đúng bảy cái tô, thêm vài cái muỗng, và chút vật dụng khác cho sinh hoạt hằng ngày. Ngồi ngẫm lại, tôi thấy vui vì nếp sống thiểu dục tri túc của huynh đệ.

Buổi sáng hôm ấy, huynh đệ chúng tôi khởi hành đến nhà anh Sơn (anh ruột của thầy Pháp Liệu). Chúng tôi đi hai xe và chia làm hai nhóm.

Nhóm một gồm thầy Quảng Tuấn và tôi có nhiệm vụ trèo lên mái nhà của anh Sơn để hạ ống khói và “tịch thu” cái lò sưởi đốt củi nặng gần 100 kg mang về cho thiền đường Suối Tuệ.

Nhóm hai gồm thầy Pháp Liệu, thầy Đại Giác, thầy Kiệt Thành, sư chú Đạo Phương lên xe thẳng tiến trung tâm Paris để nhận những vật phẩm bà con Phật tử cúng dường.

Đến tối, chúng tôi gặp lại nhau và cười hí hửng, vì giờ mình không lo nữa rồi, bà con cho mình nào là nệm, ly, chén,… và thêm nửa xe củi của anh Sơn để đốt lò sưởi.

Cứ thế, lâu lâu các cô chú cư sĩ vì biết mình còn thiếu thốn nên mỗi người mang tới một ít vật dụng để tặng cho tu viện.

Thế là cũng đến ngày chúng tôi nói lời chia tay với chủ nhà. Anh em lại bắt đầu vào công việc cần làm, từ sơn nhà, sửa cửa, lót thảm cho phòng, đến dọn sạch nhà hàng cũ để chuẩn bị sửa chữa thành thiền đường. Anh em chúng tôi sơn lại từng căn phòng để dành làm phòng ở cho quý thầy, nhà bếp cũng phải bố trí lại cho phù hợp với nếp sống tu viện.

Dù làm việc cả ngày, nhưng huynh đệ chúng tôi rất tinh tấn trong những giờ công phu. Mỗi ngày chúng tôi có hai thời công phu sáng tối, ăn cơm chung với nhau và thiền hành vào buổi trưa. Chúng tôi ý thức rất rõ là trong thời gian khó khăn này, thức ăn nuôi dưỡng huynh đệ nhất chính là thời gian cùng nhau tham dự thời khóa. Có thể vì ý thức rõ ràng đó, cùng với sự tinh tấn hết lòng mà chúng tôi đã vượt qua được những giai đoạn khó khăn.

Ngày qua ngày, mọi thứ đã đổi mới, đã dần đi vào quỹ đạo. Những ngày gian khổ, thiếu thốn cũng đã vơi bớt. Những ngày làm tất bật từ sáng sớm đến giờ cơm chiều cũng đã trôi qua. Những bữa cơm cũng đã đầy đủ hơn với nhiều nguồn thực phẩm đa dạng.

Nhớ những ngày đầu, trước khi rời xóm Thượng, Happy Farm và xóm Mới có tặng cho tu viện rất nhiều quả bầu và bí ngô. Tôi còn nhớ, anh em chúng tôi đã hội ý có nên mang theo nhiều bầu, bí như vậy không? Một phần vì chuyển xóm nên anh em đã mang theo nhiều đồ, mặt khác mình vẫn có thể mua thêm thực phẩm từ chợ, nên không nhất thiết phải mang nhiều như thế. Sau cùng, chúng tôi quyết định mang được bao nhiêu thì mang, dư thì để lại. May cho anh em đã mang theo một số lượng khá nhiều vì khi lên tới nơi mới biết là mua thực phẩm tươi khó như thế nào. Vì còn mới và chưa quen khu vực, nên thực phẩm mà chúng tôi cần để chế biến thức ăn không đủ, chủ yếu là chả và đậu hũ được cung cấp từ Thiền đường Hơi Thở Nhẹ và các vị cư sĩ. Nhưng rau củ tươi thì thiếu, cho nên cuối cùng những quả bầu và bí ấy đã trở thành nguồn thực phẩm tươi chính thức và quan trọng của chúng tôi. Tôi dám chắc không ai quên được, trong một tháng đầu tiên tại tu viện, món ăn chính không thể thiếu trong mỗi bữa cơm của huynh đệ chúng tôi: một là canh bầu, hai là canh bí mà thôi!

Giờ đây, tu viện Suối Tuệ đã và đang vững chãi trên con đường hoằng pháp. Chúng tôi có những người bạn cư sĩ đến ở trong tuần và đến sinh hoạt trong ngày quán niệm cuối tuần. Dù không nhiều như những trung tâm khác nhưng đó cũng là một niềm động viên và khích lệ cho huynh đệ chúng tôi. Tu viện mới mở cửa, nhưng cũng đã có các bạn thiền sinh quan tâm và biết đến.

Một lần, có một em trai người Úc đi du lịch châu Âu, trước khi bay về lại Úc, em có tìm cách đến ở và sinh hoạt với tu viện trong vài ngày cuối. Em chia sẻ là em chỉ mới biết Làng Mai qua bộ phim Walk With Me. Em tìm trên mạng và được biết Làng Mai mới mở một trung tâm gần Paris nên đã dành những ngày cuối đến với chúng tôi và cùng vui Giáng sinh.

Hình bóng xóm Thượng đã in sâu đậm nơi tâm trí anh em chúng tôi. Những ngày được thả mình trong vòng tay đại chúng, chỉ cần trôi theo dòng chảy trong những ngày quán niệm, trong những buổi pháp đàm, ngày tụng giới, giờ thiền hành, hay chỉ đơn giản là những buổi ăn cơm chung với đại chúng. Tất cả đều tự nhiên và dễ dàng.

Quả thật đi xa rồi mới thấy nhớ, mới thấy trân quý những giây phút đó. Huynh đệ chúng tôi giờ cũng thực tập, cũng sinh hoạt như những sinh hoạt tại xóm Thượng nhưng không đông như ngày ấy. Điều đó là lẽ đương nhiên, vì Suối Tuệ như một đứa con vừa mới chào đời, vẫn còn rất non trẻ.

Nhưng trong tự thân của huynh đệ chúng tôi, mỗi người đang thực sự cảm nhận rằng mình đang lớn lên. Dù chưa quen với những điều mới lạ, nhưng ý thức về trách nhiệm và mục đích của con đường dấn thân đang thể hiện rõ rệt trong mỗi chúng tôi. Chúng tôi đang cùng nhau mỉm cười để cùng lớn lên, chấp nhận nhau và lắng nghe nhau, cùng chia sẻ những khó khăn. Điều đó đã và đang là những thực tập, là động lực để chúng tôi tiếp bước trên con đường xây dựng và phụng sự của tự thân nói riêng và của cả tăng thân nói chung.

Cả đoàn chia tay quý thầy chùa Sơn Hạ trước khi lên đường đi Paris

Chân Trời Đại Nguyện

Vui đón Tết Kỷ Hợi 2019

Vừa qua, tứ chúng Làng Mai đã có những ngày vui xuân cùng nhau trong bầu không khí đầm ấm của một đại gia đình tâm linh. Tuy đến từ nhiều nước khác nhau trên thế giới với những phong tục, tập quán khác nhau nhưng tất cả đã cùng nhau vui chung Tết Việt với một niềm vui tròn đầy.