Phải mất bao lâu mới có thành công trong sự thực tập?

(Trích từ cuốn “Sống tự do bất cứ nơi nào, ở đâu” – Sư Ông Làng Mai)

Thiền sinh: Thưa Thầy, phải mất bao lâu mới có thành công trong sự thực tập?

Sư Ông Làng Mai: Không phải vấn đề thời gian. Nếu bạn thực tập đúng và có niềm vui, bạn sẽ thành công nhanh. Tuy nhiên, nếu bạn mất nhiều thời giờ nhưng không thực tập đúng, có thể bạn sẽ không thành công được. Cũng giống như hơi thở trong chánh niệm. Nếu bạn thở đúng, hơi thở vào đầu tiên đã có thể đem lại khỏe nhẹ và niềm vui. Nhưng nếu bạn làm không đúng, ba hay bốn tiếng đồng hồ cũng không đem lại kết quả mong muốn. Tốt nhất là có một người bạn, một người anh hay người chị đã thành công trong sự thực tập, giúp bạn và nâng đỡ bạn.

Bạn cũng có thể thực tập một mình. Khi bạn thở vào, hãy để cho hơi thở đi vào một cách tự nhiên. Hãy chú tâm đến hơi thở vào. Khi bạn thở ra, hãy để cho hơi thở đi ra một cách tự nhiên. Bạn chỉ cần nhận biết hơi thở ra.

Ðừng xen vào nó. Ðừng ép nó. Nếu bạn để cho hơi thở đi vào đi ra một cách tự nhiên và bạn nhận biết hơi thở ấy, thì sẽ có tiến bộ trong vòng mười lăm hay hai mươi giây. Bạn sẽ bắt đầu cảm thấy thích thú trong khi thở vào thở ra.

Có một lần tôi tổ chức khóa tu ở Montreal, Canada. Sau lần thiền hành đầu tiên, một bà đến hỏi tôi: “Thưa Thầy, con có thể chia sẻ thực tập thiền hành với người khác không?” Trong bảy năm từ ngày bà đến xứ này, bà chưa bao giờ được bước đi với nhiều thảnh thơi và an lạc như bà cảm thấy sau chỉ một lần thiền hành ở khóa tu. Nó đem lại sự hàn gắn, sự tươi mát cho bà nên bà muốn chia sẻ sự thực tập đi trong chánh niệm này với các bạn. Tôi trả lời: “Ðược chứ!” Bà tin tưởng rằng sau một tiếng đồng hồ đi thiền hành, người ta có thể cảm thấy nhẹ khỏe và có niềm vui. Nhưng đừng đo lường bằng thời gian. Dù là thở trong chánh niệm, đi trong chánh niệm, ăn trong chánh niệm hay làm việc trong chánh niệm, khi bạn cảm thấy có hiệu quả ngay tức khắc, và khi sự thực tập có vui thích, là bạn đã thực tập đúng.

 

Thiền sinh: Tôi nên dành bao nhiêu thời giờ cho sự thực tập?

Sư Ông Làng Mai: Cách thiền mà tôi giới thiệu có thể được thực tập bất cứ lúc nào. Khi bạn đi từ chỗ này đến chỗ khác, bạn có thể áp dụng phương pháp đi trong chánh niệm. Khi bạn làm việc, bạn có thể dùng phương pháp làm việc trong chánh niệm. Khi bạn ăn, bạn có thể ăn trong chánh niệm. Bạn không cần phải xếp đặt một thời gian cố định nào cho sự thực tập; bạn có thể thực tập bất cứ lúc nào trong ngày.

Tuy nhiên, nếu hoàn cảnh cho phép, bạn có thể để ra một ít thời giờ để làm công chuyện riêng. Ví dụ thức dậy sớm hơn mười lăm phút để bạn có thể có thú vị ngồi thiền mười lăm phút. Hay trước khi ngủ – dù cho đèn đã tắt rồi – bạn ngồi trên giường để thực tập thở trong chánh niệm. Vì bạn có nhiều việc phải làm chung với người khác, nên có thể bạn không có thời giờ riêng để làm điều bạn muốn. Vì vậy còn tuỳ thuộc vào sáng kiến của bạn về sự xếp đặt thời giờ. Nhưng bạn nên nhớ, bạn có thể thực tập bất cứ lúc nào, dù là lúc bạn đi tiểu hay lúc bạn lau sàn nhà.

Bạn có thể lau nhà như một người tự do hay như một nô lệ, điều ấy tuỳ bạn. Ở đây, mọi người đều phải làm những công việc nhất định, nhưng bạn có thể làm những việc ấy như một người tự do. Bạn có thể nuôi dưỡng sự tự do cho lớn lên. Ðiều ấy sẽ đem lại cho bạn sự oai nghi và mọi người sẽ nhận thấy. Với sự thực tập, bạn thực sự là một người tự do, bất kể bạn đang sống trong hoàn cảnh nào.

Tôi đề nghị rằng mỗi lần bạn đi vào phòng vệ sinh, mỗi lần bạn đi đại tiện, đi tiểu tiện hay rửa tay, bạn hãy để hết 100 phần trăm của con người bạn vào động tác ấy. Hãy ngưng mọi suy tư. Chỉ cần làm động tác ấy với niềm vui. Bạn có thể cảm thấy thích thú. Trong vài tuần, bạn sẽ thấy hiệu quả tuyệt vời của sự thực tập này.

Thiền sinh: Xin Thầy nói rõ về chánh niệm. Làm sao chúng con có thể thực tập khi tâm trí bị phân tán?

Sư Ông Làng Mai: Tiếng Việt, “chánh niệm” có nghĩa là thực sự có mặt trong giây phút hiện tại. Khi bạn ăn, bạn biết là bạn đang ăn. Khi bạn bước, bạn biết là bạn đang bước. Ðối nghịch với chánh niệm là “thất niệm.” Bạn ăn nhưng bạn không biết là bạn đang ăn, bởi vì tâm trí bạn để ở đâu đâu. Khi bạn đem tâm bạn trở về với những gì đang xẩy ra bây giờ và ở đây, đó là chánh niệm, và chánh niệm có thể đem lại cho bạn sự sống, thích thú và niềm vui. Ví dụ đơn giản như ăn một trái cam trong chánh niệm có thể đem lại thích thú gấp ngàn lần hơn khi ăn cam mà bạn bị vướng mắc vào lo âu, sợ hãi hay tuyệt vọng. Vậy chánh niệm là năng lượng giúp bạn thực sự có mặt với những gì đang hiện hữu.

 

 

Ví dụ bạn nghe nhiều tiếng ồn chung quanh. Bạn có thể dùng tiếng ồn làm đối tượng của chánh niệm. “Thở vào tôi nghe nhiều tiếng ồn. Thở ra, tôi mỉm cười với tiếng ồn. Tôi biết rằng người làm ồn không luôn luôn có an lạc, và tôi cảm thấy có lòng từ bi đối với họ.” Vì vậy thực tập hơi thở có chánh niệm và dùng sự đau khổ quanh bạn làm đối tượng của chánh niệm sẽ giúp những năng lượng hiểu biết và thương yêu sinh khởi trong lòng bạn.

Ở một khóa tu, một bà than phiền rằng người bạn cùng phòng ngáy lớn quá làm cho bà không ngủ được. Bà sắp đem túi ngủ đi vào thiền đường, nhưng sực nhớ điều tôi dạy, nên bà ở lại. Bà dùng tiếng ngáy như một thứ chuông chánh niệm để làm phát sinh lòng từ bi. “Thở vào tôi biết có tiếng ngáy. Thở ra, tôi mỉm cười với tiếng ấy.” Mười phút sau bà đã ngủ ngon lành. Thật là một sự khám phá kỳ diệu cho bà ấy.

Tiếng chuông và nền văn hoá tâm linh

(Pháp thoại ngày 03.10.2005 trong khóa tu dành cho người xuất gia tại tu viện Lộc Uyển)

 

 

Tiếng đại hồng chung

Chuông đại hồng là chuông chúng ta thỉnh vào buổi sáng sớm và chiều tối. Đó là truyền thống đã có từ ngàn năm ở các thiền viện Việt Nam. Trong khi thỉnh chuông đại hồng, người tri chung sẽ xướng lên những bài kệ. Tri chung là một chức vụ rất quan trọng, và chúng ta phải đem hết trái tim để làm chức vụ tri chung. Trước khi thỉnh chuông, một vị tri chung giỏi luôn xá chuông và thực tập hơi thở theo bài kệ:

Ba nghiệp lắng thanh tịnh

Gửi lòng theo tiếng chuông

Nguyện người nghe tỉnh thức

Vượt thoát nẻo đau buồn.

Sau khi thở vào, thở ra nhiều lần tâm ta trở nên khỏe và tĩnh lặng. Lúc ấy ta mới bắt đầu thỉnh chuông. Trước hết phải thức chuông rồi mới được thỉnh. Buổi sáng khi nghe chuông, có thể có người đang làm việc dưới bếp, có người đang làm việc trong thiền đường hay trong Phật đường, có người đang pha trà cho các vị sư trưởng. Vì vậy, chúng ta chỉ thực tập đứng yên sau ba tiếng chuông đầu. Tới tiếng chuông thứ tư ta có thể tiếp tục công việc mình ̣đang làm. Tất cả mọi người trong chùa, dù đang chấp tác, đang chuẩn bị đi ngồi thiền hay đi tụng kinh, cũng phải thực tập nghe chuông. Mỗi tiếng chuông đưa ta về với giây phút hiện tại, ta được thở vào, thở ra một cách có chánh niệm. Vì ai cũng thực tập như vậy nên không khí buổi sáng rất tĩnh lặng, không ai nói chuyện với ai.

Tiếng chuông buổi sáng nâng hơi thở của mình lên và không để cho hơi thở rơi xuống đất. Những giờ phút đó là những giờ phút rất thanh tịnh trong chốn thiền môn. Chỉ khi có chuyện quá quan trọng, quá cấp bách thì ta mới nói với người kia một câu. Còn thường thì tất cả đều lặng lẽ, đi tới, đi lui, làm việc một cách rất chánh niệm, yên lặng. Tất cả mọi người đều được tiếng chuông nâng lên và thường trú trong chánh niệm suốt thời gian đại hồng chung được thỉnh. Chúng ta không dùng từ “im lặng hùng tráng” nhưng quả thật sự im lặng hùng tráng đang có mặt trong giờ phút đó.

Tiếng đại hồng chung buổi sáng hơi khác với buổi chiều. Buổi sáng, tiếng chuông nhặt hơn, tức là khoảng cách giữa hai tiếng chuông gần nhau hơn.Thông thường, ta có rất nhiều năng lượng vào buổi sáng và tiếng chuông có tính cách yểm trợ, đưa ta đi tới. Buổi chiều, tiếng chuông thưa hơn, khoảng cách giữa hai tiếng chuông dài hơn. Khi tiếng chuông đại hồng vọng lên thì không ai được nói chuyện. Chuông đại hồng có thể kéo dài nửa giờ đồng hồ với tiếng kệ. Nếu ở gần lầu chuông ta có thể nghe được tiếng kệ. Mọi người đều phải theo dõi hơi thở, tập thở trong chánh niệm. Tuy có những công việc đang làm nhưng ta luôn an trú trong chánh niệm. Ta cảm thấy nhẹ nhàng, thư thái, an vui trong khi nghe chuông và thở.

Không khí trong thiền viện rất tinh khiết, nhẹ nhàng và đầy năng lượng của hùng, của lực là nhờ tất cả mọi người đều thực tập thở theo tiếng chuông. Tiếng chuông rất linh thiêng. Tiếng chuông là sự có mặt đích thực của Đức Thế Tôn. Ta vâng kính theo tiếng chuông giống như vâng kính theo lời của Đức Bổn Sư. Vì vậy buổi sáng nghe chuông, ta phải nghe hết lòng và thở theo chuông. Ta nghe chuông và thở theo chuông như thế nào để có niệm, có định và có hạnh phúc. Hạnh phúc này được chế tác bởi toàn chúng chứ không phải bởi một người.

 

Thỉnh chuông là để cho người sống

Tiếng chuông được chế tác ra cho chúng ta thực tập, cho có an lạc. Tiếng chuông không chỉ là hiệu lệnh mà là sự nhắc nhở. Tiếng chuông là bạn đường nên ta phải cam kết với chuông là mỗi khi nghe tiếng chuông ta sẽ thực tập hết lòng. Hiện nay, nhiều chùa và nhiều người nghĩ thỉnh chuông là để cho tiếng chuông vọng tới địa ngục, làm thức tỉnh và xoa dịu bớt khổ đau nơi ngục tối. Họ đã thỉnh chuông trong niềm tin như thế:

Chuông đại hồng mới vọng

Tiếng kệ xướng đã vang

Trên vọng tới thiên đường

Dưới thông về địa phủ.

Như vậy có nghĩa là chúng ta thỉnh chuông cho chư thiên nghe, để cho họ hạnh phúc hơn và để những người ở địa ngục nghe cho bớt khổ. Điều này có thể có, nhưng trước hết tiếng chuông có tác dụng phụng sự những người đang sống. Vì vậy người sống trên mặt đất phải nghe tiếng chuông, thở theo chuông và có hạnh phúc với chuông. Nếu chúng ta không làm được chuyện đó thì chẳng lẽ đạo Bụt chỉ để cho chư thiên và những âm hồn dưới địa ngục hay sao? Chúng ta phải nhớ thỉnh chuông trước hết là cho đại chúng – từ các vị sư trưởng cho đến các thầy lớn, các sư cô lớn, các thầy trẻ, các sư cô trẻ và các sư chú – cùng thực tập.

 

 

Ngôi chùa là ngôi nhà linh thiêng lãnh đạo tâm linh trong làng. Vì vậy, tiếng chuông cũng có ảnh hưởng đến đời sống dân chúng trong làng. Nhiều bà mẹ thức dậy theo tiếng chuông. Những người Phật tử chân chính sẽ biết nghe chuông và thở theo chuông trong khi nấu cơm, làm thức ăn cho chồng con trước khi đi làm ruộng. Nếu có nghe chuông, nếu từng đi chùa, từng được nghe giảng hay nghe tụng kinh thì hạt giống tâm linh đó đã được gieo trồng trong tâm thức của ta dù ta là một cô bé, là một chàng thanh niên hay một cô thiếu nữ sống trong làng.

Người ăn trộm đang dùng thanh sắt để mở khóa một ngôi nhà, đột nhiên nghe tiếng chuông thì hạt giống lương thiện trong người đó được tưới tẩm và người đó có thể dừng lại, không xâm nhập vào nhà người khác nữa. Một người cầm dao muốn sát hại người khác, đang đưa dao lên, bỗng nghe tiếng chuông đại hồng thì giật mình nghĩ lại hành động này có thể đưa mình xuống địa ngục và buông dao xuống. Những chuyện như vậy đã từng xảy ra trong xóm làng, trong xã hội. Đó là nhờ ảnh hưởng của tiếng chuông. Tiếng chuông có tác dụng thức tỉnh, làm sống dậy lương tri của con người để họ đừng nhúng tay vào tội ác. Tiếng chuông không chỉ phục vụ các thầy, các sư cô mà còn phục vụ cho cả làng xóm, khu phố. Vì vậy tiếng chuông rất quan trọng!

Vị tri chung phải đem hết trái tim của mình để thỉnh chuông. Tiếng chuông là một thông điệp của lương tri, của trí tuệ, của lòng từ bi. Thỉnh chuông như vậy thì vị tri chung gửi theo được từ bi và trí tuệ vào tiếng chuông.

Ba nghiệp lắng thanh tịnh

Gửi lòng theo tiếng chuông.

Bài kệ này rất đúng! Sau khi đi chơi chùa Hương, thi sĩ Chu Mạnh Trinh làm một bài thơ khá hay có tựa là “Hương Sơn phong cảnh ca”, trong đó có hai câu:

Thoảng bên tai một tiếng chày kình

Khách tang hải giật mình trong giấc mộng.

Tiếng chày kình là tiếng vồ chuông. Mình đang ở trong một giấc mơ, đang đánh mất mình trong những lo lắng buồn khổ, vọng tưởng. Nghe một tiếng chuông đại hồng, mình tỉnh dậy và ra khỏi giấc mơ. Tang hải là sự thay đổi của biển dâu. Tang là ruộng dâu và hải là biển cả. Vì cuộc đời vô thường nên biển cả hóa thành ruộng dâu và ruộng dâu hóa thành biển cả (Thương hải tang điền). Khách tang hải là người sống trong cuộc sống vô thường.

Tiếng chuông đại hồng là một phần trong nền văn hóa tâm linh dân tộc. Vì vậy, chúng ta phải bảo vệ tiếng chuông, phải nuôi tiếng chuông, phải làm cho tiếng chuông sống mãi về tương lai. Nuôi tiếng chuông không có nghĩa là đúc nhiều chuông. Đúc nhiều chuông mà nghe chuông như bò nghe âm nhạc thì cũng không có ích gì. Nuôi được tiếng chuông là do ta biết nghe chuông. Hiện nay trong nhiều chùa, khi nghe chuông người ta nói chuyện râm ran, coi tiếng chuông không ra gì hết. Vì thế, tuy vẫn còn người thỉnh chuông nhưng tiếng chuông đã mất. Chính một số các thầy, các sư cô khi nghe tiếng chuông cũng không dừng lại để thở. Như vậy là chúng ta đang đánh mất tiếng chuông, chúng ta đang đánh mất hồn thiêng của sông núi, của dân tộc, của văn hóa. Tiếng chuông còn đó chỉ như một cái xác không hồn. Hồn của tiếng chuông là ở chỗ thực tập nghe chuông.

Tiếng chuông đại hồng buổi sáng, tiếng chuông đại hồng buổi chiều là nền văn minh của chúng ta, nền văn minh tâm linh mà chúng ta phải bồi dưỡng bằng sự thực tập.

 

Vì tình thương mà thực tập

Có một người khách tới chùa và ở lại một đêm. Buổi sáng người đó nghe tiếng chuông đại hồng, thức dậy và cảm được năng lượng vĩ đại chốn thiền môn. Tất cả các thầy, các sư cô, sư chú đều đang im lặng thực tập hơi thở. Trong sự im lặng hùng tráng, tự nhiên năng lượng vĩ đại đó đi vào trong thân và tâm của người khách kia. Chỉ có chuyện này thôi cũng đủ để thay đổi con người đó. Người khách kia lần đầu được thấm năng lượng tâm linh, sự tĩnh lặng, tinh tiến và giải thoát.

Trong khóa tu, chúng ta phải thực tập tiếng chuông một cách nghiêm chỉnh để khi về lại địa phương, ta có thể cứu được tiếng chuông, không để tiếng chuông tiếp tục làm một cái xác không hồn. Cái hồn đó, chúng ta biết, là sự thực tập của mỗi người trong chúng ta.

Boong… boong… Tôi là chuông đại hồng, ngôi chùa xưa trên đỉnh núi.

Đỉnh núi này là đỉnh núi chót vót của nền văn hóa tâm linh.

Tôi khua vang mở đầu cho một bình minh mới

Nghe tiếng tôi, xin người nở nụ cười

Nghe tiếng tôi, xin người đem mắt thương nhìn cuộc đời.

 

 

Tiếng chuông nhắc nhở chúng ta thực tập nụ cười, hơi thở và cách nhìn với con mắt từ bi. Nghe tiếng chuông mình giật mình tỉnh thức và trở về với hơi thở chánh niệm. Nghe chuông như vậy là thực tập tỉnh thức. Đạo Bụt là đạo tỉnh thức, ngay trong khi nghe tiếng chuông thì mình là người tỉnh thức. Những lúc đó mình gần với Đức Thế Tôn hơn bất cứ lúc nào. Là người tỉnh thức, mình biết mình đang làm gì, mình đang có tâm hành nào, thiện hay bất thiện. Nếu đó là tâm hành thiện thì mình hân hoan, nuôi dưỡng. Nếu đó là tâm hành bất thiện thì mình ôm ấp, chuyển hóa. Trong cả hai trường hợp mình đều đang đi về hướng của giải thoát, của giác ngộ.

Mỗi bước chân đi phải tỏa chiếu sự vững chãi, thảnh thơi. Mình đi đâu, đi đâu mà vội, đi đâu mà vàng? Thiền hành là đi mà không cần phải tới. Thiền hành là đi mà mỗi bước chân đều đi vào Tịnh độ, vào sự thật. Thiền hành là đi và có ý thức là mình đang đi. Mỗi bước chân đi vào Tịnh độ, bước trên thực địa. Đi như vậy thì mình là sự tiếp nối của Đức Thế Tôn, mình là con cháu đích thực của Đức Thế Tôn. Mình đi vững chãi, thảnh thơi và có an lạc. Đi từ xóm dưới lên xóm trên hay từ xóm trên xuống xóm dưới, mình cũng đi với những bước chân có an lạc, có thảnh thơi, có hạnh phúc. Những bước chân đó nuôi dưỡng mình. Đi như vậy, mình không cần phải cố gắng, tại vì mỗi bước chân đều có an lạc, thảnh thơi.

Mình đi cho ai? Mình đi cho chính mình. Mình đi để nuôi dưỡng sự vững chãi, thảnh thơi và an lạc. Đồng thời mình cũng nuôi dưỡng Đức Thế Tôn để Ngài có thể đi về tương lai. Mình mang Đức Thế Tôn đi tới tương lai vô cùng. Mình đi cho cha, cho mẹ, cho tổ tiên. Có thể ngày xưa cha, mẹ, tổ tiên không có cơ duyên được học hỏi, thực tập và đi những bước chân như vậy. Bây giờ, mình đi cho mình đã đành rồi mà mình còn đi cho Bụt, cho các vị Bồ tát, cho tổ tiên huyết thống. Đi như vậy thì hạnh phúc sẽ rất lớn.

Sự thực tập nghe chuông cũng như sự thực tập thiền đi, không phải là những lao tác mệt nhọc mà mình bắt buộc phải làm. Dù sao tiếng chuông cũng đang được thỉnh và mình cũng đang nghe tiếng chuông. Dù sao mình cũng phải lên xóm Thượng, mình cũng phải xuống xóm Hạ. Mình chỉ thay đổi cách đi mà thôi. Mình đừng đi như bị ma đuổi hay đi như bị bắt phải đi, mà mình đi như một người giải thoát, an lạc, hạnh phúc. Vì tình thương mà đi. Không ai bắt mình đi, bắt mình thở hay nghe chuông. Không phải vì sợ bị người ta chê cười mà mình bắt buộc phải làm. Mình không tự bắt mình phải làm, mình làm bởi vì mình thích làm.

Khi ăn cơm cũng vậy, mình ngồi ăn cơm cho thảnh thơi, ăn như một người vô sự. Mình ăn cơm không phải chỉ để nuôi mình. Mình cũng đang nuôi cha, nuôi mẹ, nuôi thầy, nuôi cả tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh. Nếu mình không ăn thì cha mẹ không thể tiếp tục đi về tương lai, Bụt và các vị thánh tăng cũng không thể tiếp tục đi về tương lai. Ăn như vậy là ăn vì tình thương. Khi có tình thương thì mình không cảm thấy bị ép buộc phải ăn, phải nghe chuông, phải đi thiền. Mình đừng nói sở dĩ mình phải thực tập vì người ta bắt ép mình thực tập. Mình phát tâm muốn thực tập vì mình muốn nuôi dưỡng tăng thân, chuyển hóa thân tâm và giúp chuyển hóa thân tâm của tổ tiên, ông bà và con cháu. Vì thương con cháu nên mình thực tập, mình nghe chuông, mình thở, mình đi. Dù muốn hay không thì mình cũng đi về tương lai, và con cháu là một phần của tương lai.

Khi ngồi thiền cũng vậy. Đừng nghĩ mình ngồi thiền là vì bị bắt buộc. Nếu không ngồi thiền hay tụng kinh thì Phật tử cư sĩ sẽ không tới cúng chùa. Mình ngồi thiền hay tụng kinh không phải là để có cơm, có áo. Mình đi tu không phải là vì cơm áo. Mình không ngồi thiền, tụng kinh, đi thiền vì kinh tế của chùa, vì thầy hay vì đại chúng bắt mình làm. Mình làm vì mình muốn làm, mình thấy hạnh phúc trong khi làm.

Quý vị thử nhớ lại xem. Có hôm mình hơi mệt, hơi làm biếng, hơi bị cảm, hay ngủ hơi ít nên thay vì đi ngồi thiền, mình nghĩ ngủ nướng thêm thì sẽ đỡ cho mình hơn. Nhưng vì một lý do nào đó rất nhỏ mà mình choàng dậy, đi tới thiền đường. Giữa đường mình nghĩ, nếu hồi nãy mình ngủ nướng thêm thì uổng biết mấy. Ra ngoài trời không khí quá trong lành, bước chân quá thảnh thơi. Ngồi thiền xong mình thấy trong lòng khỏe và phơi phới. Nếu nằm nướng trong phòng thì chắc giờ này mình vẫn chưa khỏe. Mình biết rằng nằm nướng thêm cho tới giờ này thì mình cũng không khỏe thêm chút nào mà trong lòng còn có mặc cảm tội lỗi và hối hận. Chỉ cần một chút xíu quyết định là mình có thể chuyển cái tiêu cực thành tích cực và sau đó mình rất hân hoan vì đã làm được chuyện đó. Con ma làm biếng luôn luôn có đó. Cho nên, đôi khi mình phải giúp người bạn tu một chút, chỉ cần đưa tay vỗ nhẹ hay kéo người đó lên là đủ rồi. Mình nhờ nhau trong những lúc đó, chỉ cần một chút xíu là mình có thể giúp cho người kia thoát ra khỏi tình trạng tiêu cực và đi vào thế giới hân hoan, an lạc của sự thực tập.

 

 

Gần bùn nhưng chẳng hôi tanh mùi bùn

Đi thiền mà không có hạnh phúc thì đó là một cực hình. Một nhà báo bên Pháp tới Làng vì muốn viết bài về Làng Mai. Được mời đi thiền hành với đại chúng, ông đau khổ vô cùng. Người ta đi thảnh thơi, an lạc còn ông đi về thì mệt nhoài, tại vì ông bắt ép ông làm. Mục đích của ông đến Làng Mai không phải để thiền hành mà là để viết bài. Nếu bắt ông ngồi thiền thì ông cũng sẽ rất đau khổ.

Mình ngồi thiền không phải để ép xác, để khổ đau. Mình ngồi thiền để được thong dong, tự tại, vững chãi, thảnh thơi. Ngồi thiền là để được nuôi dưỡng. Nếu trong khi ngồi thiền mình cảm thấy bị bức xúc, bị đè nén, bị bắt làm cái mà mình không muốn làm thì đó không phải là ngồi thiền mà là ngồi trong hầm tối, ngồi trong địa ngục. Tại sao mình phải ngồi trong địa ngục? Ngồi trong Tịnh độ, ngồi trong Thiên đường hay ngồi trong địa ngục là tùy theo cách mình ngồi. Đúng giờ đi thiền hành với đại chúng, đúng giờ thức dậy, đúng giờ đi ngồi thiền, đúng giờ đi ăn cơm với đại chúng, để cho năng lượng tập thể của đại chúng đưa mình đi. Đi như một dòng sông rất dễ. Mình không có cảm tưởng bị ép làm những cái mình không muốn làm.

Những khổ đau, những tập khí, những phiền não tiếp nhận từ thế hệ trước có thể còn đó. Chính vì vậy nên mình mới đến với tăng thân để thực tập. Nếu thực tập thành công, đi thiền có hạnh phúc, ngồi thiền có hạnh phúc, ăn cơm có hạnh  phúc, nghe chuông có hạnh phúc thì những phiền não, những tập khí, những khổ đau đó mới được chuyển hóa. Nếu không có hạnh phúc trong khi làm những công việc thường ngày gọi là công phu đó thì mình làm gì có cơ hội để chuyển hóa những phiền não, khổ đau, tập khí tiếp nhận từ cha mẹ, tổ tiên? Sự thực tập cũng có công năng tưới tẩm những hạt giống tốt lành do cha mẹ và tổ tiên để lại.

Có những người phải dành dụm cả năm trời mới có đủ tiền tham dự một khóa tu năm ngày. Trong khi đó mình không cần dành dụm, mỗi ngày mình đều có cơ duyên để tu, để ngồi thiền, để đi thiền, để ăn cơm im lặng, để nghe chuông, để thở. Tu viện là một cơ duyên rất lớn để mình có thể ở và làm được những điều này. Khi làm được thì mình nuôi dưỡng mình và làm chỗ nương tựa cho không biết bao nhiêu người.

Chúng ta vừa có một khóa tu cho 800 người Mỹ. Nhìn vào nét mặt họ trong ngày cuối của khóa tu, mình biết họ đã có rất nhiều chuyển hóa và an lạc. Nếu không có tu viện, không có tăng thân thì làm sao có được khóa tu? Trong khi ở chùa, trong khi thực tập, chúng ta cũng đang phục vụ cho xã hội bên ngoài. Đừng nghĩ là mình đang bị tách ra khỏi những khổ đau của xã hội bên ngoài, mình không giúp gì được cho xã hội bên ngoài. Cách hay nhất mình có thể giúp cho xã hội bên ngoài là mình nghe chuông, mình ngồi thiền, đi thiền, ăn cơm cho đàng hoàng, cho có hạnh phúc. Chính nhờ như vậy nên mình mới có thể tiếp đón những người có khổ đau, có nội kết, có những vết thương trong tâm hồn và giúp cho họ chuyển hóa, trị liệu.

Chúng ta không làm việc trong xã hội như những tác viên xã hội nhưng ta thật sự đang làm việc cho xã hội, đang giúp cho mọi người chữa lành được những thương tích trong tâm, trong gia đình và trong xã hội của họ. Chúng ta ở trong tu viện nhưng đồng thời ta cũng đang ở ngoài cuộc đời. Chúng ta như một bông sen mọc lên từ bùn hôi nhưng không dính mùi hôi của bùn. Gần bùn nhưng chẳng hôi tanh mùi bùn, đó là hình ảnh của một người xuất gia.

 

 

Nhìn bằng con mắt của chính mình

Chúng ta hãy tập nhìn anh chị em trong đại chúng như những tế bào của cùng một cơ thể. Trong cơ thể ta có trên 50 ngàn tỷ tế bào. Những tế bào đó sinh diệt không ngừng, một tế bào mẹ có thể sinh ra bốn tế bào con. Cứ mỗi ba ngày thì tất cả tế bào trong đường ruột đều trở thành những tế bào mới. Mỗi người được sinh ra nhiều lần trong một ngày. Vì vậy, ta phải nhìn sư anh, sư chị, sư em của ta bằng con mắt trí tuệ. Có những chuyện ta nghe nói về người đó nhưng nó đã thuộc về ngày xưa. Người đó bây giờ đã khác, nếu ta giữ lại những gì ta đã nghe và nhìn người đó qua những hình ảnh cũ thì rất tội cho ta và cho người đó.

Ta phải có con mắt của chính mình, đừng nhìn người khác qua những gì mình nghe mà phải có nhận xét của chính mình. Đó là sự thực tập của thầy. Mỗi khi nhìn một sư chú, một sư cô hay một thầy thì thầy nhìn bằng con mắt của thầy chứ không phải bằng con mắt của người khác. Thầy luôn thấy sư chú đó mới, sư cô đó mới và thầy có niềm tin nơi sư chú, sư cô đó. Mỗi ngày chúng ta đều có thay đổi, có chuyển hóa. Nhiều khi ngủ một đêm, thức dậy mình đã trở thành một người khác rồi. Đó là sự mầu nhiệm thường xảy ra. Hôm qua có tâm hành kia nhưng hôm nay tâm hành đó không còn nữa. Nó đã chuyển hóa. Cho nên khi nhìn một người, mình đừng nhìn bằng ký ức ghi lại từ những gì mình đã nghe một người khác nói. Mình phải là một con người tự do, để khi nhìn huynh đệ, mình thấy người nào cũng có cơ hội đi tới. Thầy không bao giờ có thành kiến với bất cứ một đệ tử nào, vì thầy có khả năng nhìn đệ tử bằng con mắt của chính thầy chứ không nghe qua những gì người khác nói, nhất là đã nói từ năm ngoái hay hai ba năm về trước.

Nếu chúng ta biết nhìn nhau như vậy thì không khí trong đại chúng sẽ rất nhẹ, rất trong sáng. Nhìn như vậy chúng ta sẽ lạc quan, sẽ đi tới và giúp cho huynh đệ đi tới. Chúng ta nâng đỡ nhau để đi tới như một dòng sông. Ta đi tới một bước thì tăng thân đi tới một bước. Sư anh đi tới một bước thì tăng thân cũng đi tới một bước. Sư em đi tới một bước thì tăng thân cũng đi tới một bước. Bằng mỗi bước chân, ta đưa tăng thân đi tới.

 

 

Nguyên tắc vô ngã

Sau trận hải chấn có biết bao nhiêu người đã chết. Người ta đặt câu hỏi với nhà thần học người Thụy Sĩ Hans Küng:

  • Là một nhà thần học lớn, ngài có thể trả lời câu hỏi: Tại sao Thượng đế có thể để một tai nạn, một khổ đau lớn như thế xảy ra?

Sau khi suy nghĩ, Hans Küng trả lời (tôi nghe thuật lại):

  • Chỉ có sự im lặng mới có thể trả lời được thôi.

Mới nghe qua, ta có cảm giác như đó là một câu trả lời rất “thiền”. Nhưng nhìn lại cho kỹ thì nó nói lên một sự bế tắc. Trong tiếng Anh, “thần học” là theology. Theology là biện chứng, là logic, tức là diễn đạt được bằng lời nói. Nếu không nói thì không phải thần học. Thần học là phải nói ra, cho dù là nói bằng ngôn ngữ “thiền”.

Khi nghe và tiếp xúc với những khổ đau do trận hải chấn gây ra, tôi cũng đã quán chiếu. Tôi thấy trong đạo Bụt có câu trả lời rất rõ. Tuệ giác của đạo Bụt là tuệ giác vô ngã, mà nguyên tắc vô ngã hiện nay đã được khoa học chứng minh. Khi nhìn vào trong cơ thể con người, khoa học thấy đó là một đoàn thể, một community, một sangha (tăng thân) của những tế bào. Hơn năm mươi ngàn tỷ tế bào mà trong đó không có tế bào nào làm chủ. Đó là một đoàn thể các tế bào có sự liên hệ, có sự truyền thông thường xuyên với nhau. Có những tế bào chuyên môn làm công việc truyền thông. Có những tế bào chuyên môn làm công việc lọc máu. Có những tế bào chuyên làm công việc đưa những chất phế thải ra ngoài. Trong cơ thể của ta, các tế bào chia ra làm nhiều nhóm, mỗi nhóm chuyên về một ngành riêng nhưng tất cả đều có mục đích là bảo vệ, nuôi dưỡng và giúp cho cơ thể lớn lên. Nhìn cho kỹ ta thấy không có tế bào nào ra lệnh cho những tế bào khác, kể cả những tế bào óc.

Tế bào óc liên hệ với nhau bằng những chất hóa học gọi là neurotransmitter – chất dẫn truyền thần kinh. Sự liên hệ giữa các tế bào xảy ra thường xuyên. Trong mỗi giây có hàng ngàn lần liên lạc như những dòng điện được truyền đi hay những chất hóa học được tiết ra từ đầu mút của các tế bào. Nếu có một quyết định thì đó là kết quả của sự đi tới với nhau giữa các tế bào óc và rồi truyền tới các tế bào khác. Đồng thời quyết định đó cũng cơ bản dựa trên những tin tức nhận được từ các tế bào khác. Các tế bào như tế bào gan hay tế bào tim, v.v. cũng đều gởi tin tức về cho hệ thần kinh trung ương. Chúng ta có một hệ thần kinh trung ương (the central nervous system) và một hệ thần kinh ngoại biên (the peripheral nervous system). Hai hệ thần kinh làm việc với nhau một cách rất chặt chẽ.

Nhìn vào tăng thân, ta thấy tăng thân cũng giống như một cơ quan, một sinh vật. Quan sát kỹ ta thấy tăng thân Làng Mai làm việc rất giống cơ thể của con người. Có sư anh, sư chị chuyên về âm thanh. Có sư anh, sư chị chuyên về máy vi tính. Có sư anh, sư chị chuyên về việc chăm sóc thiếu niên và thiếu nhi. Càng làm việc thì họ càng giỏi. Họ càng khám phá ra những sư em có khiếu về ngành của mình, mời sư em tham dự vào ngành và trao truyền kinh nghiệm, tài năng của mình cho sư em,  giống như các tế bào trong cơ thể sinh ra những tế bào con.

Những nhóm tế bào, khi làm việc trong phạm vi chuyên môn của mình cũng thấy được sự đóng góp của mình vào sự an bình, sự vươn lên của cơ thể mà không có sự cạnh tranh, sự ganh tỵ, giận hờn. Bởi vì các tế bào trong cơ thể thật sự hoạt động trên tuệ giác vô ngã. Tuệ giác vô ngã đem lại sự an bình, hòa điệu và hạnh phúc. Nhìn vào cơ thể, ta thấy được tính vô ngã của đạo Bụt. Nhìn vào loài người như một cơ thể ta cũng thấy như vậy! Trong xã hội có những người chuyên môn làm nghề này và có những người chuyên môn làm nghề khác. Có người đắp đường xây cầu, có người lo cày ruộng, có người đi buôn bán. Vì vậy, toàn thể nhân loại cũng có thể được coi như một cơ thể.

 

 

Nếu một phần của cơ thể bị đau nhức thì tất cả cơ thể đều phải gánh chịu. Vì vậy, khi có hàng chục ngàn người chết trong trận hải chấn thì niềm đau nỗi khổ đó không chỉ dành riêng cho người đã chết và thân nhân của họ. Tất cả chúng ta trên thế giới đều hứng chịu khổ đau đó, vì đó là một phần của cơ thể nhân loại. Chúng ta có mặt và khi nhận được tin tức thì chúng ta cũng đau niềm đau của những người chết và đau niềm đau của những người còn sống có thân nhân đã mất trong trận hải chấn. Mình thấy rất rõ, người chết tức là mình chết, cũng giống như khi tay trái bị thương thì tay phải cũng bị thương, tay trái bị đứt thì tay phải cũng bị đứt. Tay phải không nói: “May quá! Anh bị đứt chứ không phải tôi!”.

Và nhờ mình còn sống đây nên những người chết vẫn còn sống, nhờ tay phải không bị cắt nên tay trái vẫn còn. Bây giờ tay phải đang làm công việc của tay trái. Khi thấy được như vậy thì mình nhận ra rằng mình sống đây cũng là sống cho những người đã chết trong trận hải chấn. Vì họ chết nên mình cũng chết theo và vì mình sống nên họ cũng được sống theo. Cái thấy đó chỉ có thể đạt được với tuệ giác vô ngã. Đó là câu trả lời của đạo Bụt. Anh chết tức là tôi chết, nhưng nếu tôi sống thì anh cũng đang còn sống. Thấy được như vậy là  nhờ ánh sáng của tuệ giác vô ngã. Căn cứ trên cái thấy đó thầy đã viết một bài có tựa đề: “Ôm lấy niềm đau sau trận hải chấn”. Bài viết đã an ủi được rất nhiều người.

 

Không có gì quan trọng hơn tình huynh đệ

Trong chuyến về thăm Việt Nam ba tháng vừa rồi, có một câu mà thầy lặp đi lặp lại: “Không có tôn giáo nào, không có ý thức hệ nào cao hơn tình huynh đệ”. Đó cũng là phương châm của chúng ta. Dù đang xây chùa hay tu viện, dù đang tổ chức một khóa tu hay một khóa lễ nào đó, thì không có công việc xây cất hay công việc tổ chức nào quan trọng bằng tình huynh đệ. Vì vậy sự thực tập căn bản của chúng ta là nhìn sư anh, sư chị, sư em mình như chính bản thân mình. Dù cho người đó còn yếu kém nhưng những thắng lợi hàng ngày của mình trong sự tu tập không phải chỉ để cho mình mà còn là để cho người đó. Nếu tay trái không làm việc được thì tay phải làm việc gấp đôi cho tay trái. Lúc leo lên núi Yên Tử thì cánh tay trái của thầy rất yếu nên cánh tay phải của thầy phải làm việc cho cả hai.

Nếu có một huynh đệ đang trồi sụt, yếu kém thì mình phải tu thêm cho người đó và đừng trách móc người đó. Mình phải cho người đó cơ hội để đi tới. Nếu nhìn người huynh đệ dưới con mắt như vậy thì đỡ khổ cho mình và cho người huynh đệ kia rất nhiều. Mình không nhìn bằng con mắt trách móc, chê bai mà nhìn bằng con mắt hiểu và thương. Cái gì người đó chưa làm được thì mình làm giùm cho người đó. Người đó sẽ không còn mặc cảm vì biết rằng mình là một phần của cơ thể, mình đang được các phần khác của cơ thể ôm lấy, đưa lên để cùng đi một nhịp với cơ thể.

Cũng như một đàn chim bay trên trời, con chim đầu đàn có khi mệt, nhường chỗ cho con chim thứ hai bay tới. Bất cứ con chim nào cũng cần nương vào năng lượng tập thể của cả đàn chim. Khoa học đã chứng minh rằng khi bay chung thì mỗi con chim sẽ sử dụng ít năng lượng hơn khi bay một mình, tại vì có năng lượng tập thể chuyên chở.

Trong đại chúng luôn có sự tu tập, sự chuyển hóa, sự đi tới. Năng lượng tập thể đó nâng tất cả mọi người đi theo, kể cả những người còn yếu kém. Ý thức được như vậy ta sẽ không có mặc cảm là mình giỏi hơn hay dở hơn người đó. Người kia không còn đau khổ và ta cũng nuôi dưỡng được thêm lòng từ bi.

 

 

Thơ xuân

 

Tĩnh lặng

ngự giữa rừng tre

Những con chim

còn yên trong giấc ngủ

Hơi thở màn đêm

thâm sâu bao phủ

Mát trong

hương khí đất trời

Con tim tôi

bỏ ngỏ

Đón chào

sự sống muôn nơi.

 

Nguyên tác tiếng Anh:

 

Spring Poem

The birds are still

Sleeping,

no sounds

Arising from the

bamboo.

In the dark

breath of night

The air is cool.

My heart is open

To receive Life.

 

Chân Từ Nghiêm

Một hướng đi mới cho giáo dục

                                                                                                                           Tăng thân Làng Mai

Hạnh phúc là điều có thể có được

Năm 2011, khi Thầy của chúng tôi – Thiền sư Thích Nhất Hạnh – cầm bút lông lên và viết câu thư pháp “Thầy cô giáo có hạnh phúc sẽ thay đổi thế giới“ trong tịnh thất đơn sơ của Người ở miền tây nam nước Pháp thì đó không phải chỉ là một ước mơ suông, mà đó là tuệ giác sâu sắc dựa trên trải nghiệm của một đời giảng dạy và tu tập.

Trong suốt sự nghiệp giảng dạy của mình, Thầy đã áp dụng sức mạnh của chánh niệm một cách sáng tạo để đáp ứng những nhu yếu, những thách của thời đại chúng ta. Mục đích của giáo dục là cung cấp một môi trường mà trong đó học sinh và thầy cô giáo có thể phát triển bản thân, học hỏi được những phương pháp để đem lại một đời sống hạnh phúc, lành mạnh, đầy sáng tạo, hài hòa và có ý nghĩa. Nếu thầy cô giáo biết cách chuyển hóa những khó khăn và chế tác hạnh phúc trong đời sống hành ngày thì gia đình, đồng nghiệp và học sinh cũng hưởng được lợi lạc. Thầy đã từng nói rằng tài năng lớn nhất của một người là “biết sống hạnh phúc”, và “hạnh phúc là một thói quen mà mỗi người trong chúng ta đều cần phải luyện tập“.

Chánh niệm không phải là phương tiện mà là một con đường

Thầy đã chứng minh rằng trong sự thực tập chánh niệm chân chính không thể thiếu một chiều hướng tâm linh hay đạo đức. Vì thế cho nên ở Làng Mai, sự thực tập chánh niệm được chia sẻ và giảng dạy không phải như một phương tiện mà là một con đường. Chánh niệm là nếp sống mà chúng ta phải luôn nuôi dưỡng và làm cho lớn mạnh, sâu sắc hơn. Chánh niệm không phải là phương tiện để ta đạt tới một mục tiêu nào đó. Nó cũng không phải là một công cụ mà chúng ta sử dụng để có được những kết quả tốt đẹp hơn trong tương lai, cho dù đó là để có hạnh phúc lớn hơn hay kết quả học tập cao hơn. Chánh niệm là một con đường mà khi đi trên con đường đó, dù là người mới thực tập, chúng ta cũng có thể tiếp xúc với hạnh phúc, sự bình an và thoải mái ngay lập tức, trong mỗi giây phút thực tập. Vì vậy cuốn sách này phác họa một căn bản đạo đức làm nền tảng cho sự thực tập chánh niệm, cống hiến cho chúng ta một kim chỉ nam để xây dựng một môi trường hạnh phúc, lành mạnh và từ bi trong các lớp học, các trường học ở mọi cấp bậc.

Trong một khóa tu dành cho thầy cô giáo tại Làng Mai vào tháng Sáu năm 2014, Thầy đã chia sẻ:

Các nhà quản lý giáo dục có thể bị thu hút bởi sự thực tập chánh niệm vì họ nghĩ rằng  sự thực tập này có thể giúp nâng cao thành tích học tập và ngăn chặn tình trạng kiệt sức của thầy cô giáo.

Tuy nhiên sự thực tập chánh niệm có thể mang lại nhiều lợi ích hơn thế. Chánh niệm có thể giúp cho thầy cô giáo và học sinh ít đau khổ hơn; cải thiện sự truyền thông, xây dựng một môi trường học tập có chất liệu hiểu và thương nhiều hơn. Học sinh có thể học được nhiều điều vô cùng quan trọng như cách xử lý những cảm xúc mạnh, cách chăm sóc cơn giận, cách buông thư và làm giảm bớt sự căng thẳng, cách tái lập truyền thông và hòa giải với người khác. Sự học tập có ích lợi gì nếu nó không đem lại cho chúng ta hạnh phúc? Sự thực tập chánh niệm có thể mang lại một sự thay đổi sâu sắc trong lớp học cũng như trong toàn hệ thống giáo dục, giúp cho mọi người có thể có hạnh phúc thật sự. Và nếu trong khi thực tập chánh niệm mà học sinh có thể học hành dễ dàng hơn, nhanh hơn và thầy cô giáo không bị kiệt sức thì đó là cũng một điều tuyệt vời[1].

Cả một đời giảng dạy

Thầy được cả thế giới kính ngưỡng nhờ những lời dạy truyền cảm hứng và những cuốn sách viết về nghệ thuật chánh niệm được xếp vào hạng bán chạy nhất ở nhiều nước trên thế giới. Thầy là người đi tiên phong trong việc đem chánh niệm đến Mỹ và châu Âu. Người đã giảng dạy về chánh niệm tại các trường đại học Princeton, Columbia và Cornell vào đầu những năm 1960. Trong những năm tháng chiến tranh tại Việt Nam cũng như trong suốt sự nghiệp giảng dạy không mệt mỏi của mình trên khắp thế giới cho đến khi bị đột quỵ vào năm 2014, Thầy luôn không ngừng tìm tòi, sáng tạo những phương pháp áp dụng sự thực tập niệm, định và tuệ để đáp ứng những khó khăn, thách thức của thời đại. Điểm then chốt trong lời dạy của Người là với sự thực tập chánh niệm, chúng ta có thể học cách sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại – đây là cách duy nhất để thực sự đem lại bình an và hạnh phúc trong chính tự thân và trên thế giới.

Thầy sinh năm 1926 tại miền trung Việt Nam và đã xuất gia năm 16 tuổi. Vào những năm 1950, trong bối cảnh hỗn loạn của chiến tranh, Thầy cùng những người bạn đã bắt đầu tìm kiếm những phương pháp có thể áp dụng tinh hoa của giáo lý và sự thực tập mà mình đã được học vào trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, giáo dục và nhân đạo. Người cùng các bạn xuất bản những tạp chí cấp tiến, tổ chức những khóa học mới và xây một trường thí điểm cho trẻ em trên vùng cao nguyên Đà Lạt. Người còn thành lập Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, một cơ sở cứu trợ với hàng ngàn sinh viên, lấy sự bất bạo động và hành động từ bi làm nền tảng; cũng như thành lập trường đại học Vạn Hạnh với một chương trình giáo dục đột phá dành cho tăng ni sinh trẻ. Với nỗ lực không ngừng, Thầy quyết tâm tìm ra phương pháp có khả năng nuôi dưỡng tuệ giác, từ bi và xây dựng một cộng đồng thật sự trong lĩnh vực giáo dục và trong xã hội.

Năm 1966, sau một vòng du thuyết kêu gọi hòa bình cho Việt nam tại Hoa Kỳ và châu Âu, Thầy bị chính quyền của cả hai miền Nam-Bắc vô hiệu hóa hộ chiếu, không cho về lại quê hương. Mặc dù vậy, Thầy vẫn tiếp tục nỗ lực không mệt mỏi để kêu gọi hòa bình. Người chu du rộng rãi khắp Hoa Kỳ và châu Âu, đích thân gặp gỡ các chính khách và dẫn đầu một phái đoàn Phật giáo Việt Nam tại Hội Nghị Hòa Bình Paris. Từ nước ngoài, Người vẫn tiếp tục công việc yểm trợ cho Trường Thanh Niện Phụng Sự Xã Hội. Người hướng dẫn những chương trình cứu trợ nạn nhân chiến tranh và tài trợ cho những trẻ em tị nạn mồ côi. Năm 1967, Người đã được Mục sư Martin Luther King Jr. đề cử cho giải Nobel Hòa Bình. Năm 1970, Người lập chương trình cứu vớt thuyền nhân Việt Nam trên biển Đông. Sự thực tập chánh niệm đã hỗ trợ cho những hoạt động dấn thân của Thầy và vào năm 1975, Thầy đã cho ra đời tác phẩm kinh điển Phép lạ của sự thỉnh thức trong bối cảnh đó.

Chánh niệm và tăng thân

Tị nạn tại nước Pháp, Thầy và Phái đoàn Hòa Bình (đại diện Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất) đặt văn phòng tại một căn hộ nhỏ trong thành phố Paris. Sau đó văn phòng dời về một trang trại nhỏ ở vùng rừng Othe (Forêt d’Othe) trước khi tìm mua được một nông trại đổ nát ở miền tây nam nước Pháp. Tại mảnh đất ở miền tây nam này, tăng thân Làng Mai bắt đầu hình thành và mở cửa cho những thiền sinh háo hức muốn tìm hiểu về thiền tập và nghệ thuật sống chánh niệm. Cũng tại nơi đây, Thầy bắt đầu cho pháp thoại, tổ chức các khóa tu dành cho gia đình, giáo chức, doanh nhân, các nhà chính trị, các nhà khoa học, các nhà tâm lý trị liệu, các cựu chiến binh, các sĩ quan cảnh sát, và bắt đầu từ năm 2003, Người tổ chức khóa tu cho người Palestine và người Do Thái.

Được thành lập từ năm 1982, đến nay Làng Mai đã trở thành một trung tâm thực tập chánh niệm quốc tế lớn nhất ở Tây phương với hơn 200 vị xuất sĩ thường trú và hàng ngàn thiền sinh đến tu học mỗi năm.

Khi danh tiếng của Thầy được cộng đồng quốc tế biết đến nhiều hơn, Người được mời đi giảng dạy khắp nơi trên thế giới. Người đã đến giảng ở những nơi như Hạ Viện Mỹ, Quốc Hội của các nước như Anh, Bắc Ái Nhĩ Lan và Ấn Độ, UNESCO, Ngân Hàng Thế Giới (Worl Bank), và Đại hội Tôn Giáo thế giới (World Parliament of Religions). Trong 15 năm qua, Người đã thành lập những trung tâm tu học (với sự có mặt của xuất sĩ thường trú) ở California, New York, Việt Nam, Paris, Hồng Kông, Thái Lan, Mississipi, Úc và Đức. Hiện nay có hơn 2000 nhóm tăng thân cư sĩ thực tập chánh niệm theo truyền thống Làng Mai tại nhiều thành phố trên khắp thế giới, trong đó có hơn 60 nhóm là của người trẻ trong phong trào Wake Up. Những người trẻ này đang tích cực dấn thân vào công việc xây dựng một xã hội lành mạnh và từ bi hơn.

Năm 2008, Thầy bắt đầu triển khai một chương trình đào tạo quốc tế dành cho giáo chức, đem chánh niệm vào môi trường giáo dục như các trường học và đại học ở châu Âu, Bắc Mỹ và châu Á. Đây chỉ là sự tiếp nối những nỗ lực mà Thầy đã làm trong cả cuộc đời mình với mong muốn làm cho việc dạy và học trở nên có ý nghĩa, vui tươi và mang lại sự chuyển hóa cho cả thầy cô giáo và học sinh. Với kinh nghiệm của hơn 30 năm giảng dạy, Thầy và tăng thân Làng Mai đã triển khai và chọn lọc một loạt các phương pháp dồi dào, sáng tạo và hữu hiệu để trao truyền sự thực tập chánh niệm cho giáo chức và người trẻ. Trong khi giảng dạy, Thầy sử dụng hình ảnh của một nhà thơ, tuệ giác của một thiền sư và sự tinh nghịch của một đứa trẻ để chế tác ra những phương pháp đầy sáng tạo giúp chia sẻ giáo lý và sự thực tập chánh niệm với trẻ em, với những người trẻ, với phụ huynh học sinh và thầy cô giáo. Năm 1987, trong một khóa tu ở Santa Barbara, Người đã sáng chế ra phương pháp thiền sỏi nổi tiếng, gồm có bốn phần, cho trẻ em thực tập. Phương pháp được coi là “kinh điển” này nay đã trở nên thông dụng khắp nơi trên thế giới. Người đã dùng một hạt bắp để giảng cho trẻ em về tính tương tức; dùng hình ảnh một đám mây để giải thích về tính vô thường, về cái chết, về sự tiếp nối. Người kể câu chuyện về cái búa và hai bàn tay của mình để giải thích cho các em về tính tương tức và vô phân biệt. Người đã chứng minh rằng những trẻ em nhỏ tuổi nhất cũng có thể học cách chế tác tình thương và sự hiểu biết,  hai yếu tố cốt lõi của một nền tảng đạo đức.

Wake Up schools – Chương trình đem chánh niệm vào trường học

Năm 2008, Tổng thống Nikolas Sarkozy đưa ra một chính sách mới về “giáo dục đạo đức công dân“ trong các trường học của Pháp để góp phần xây dựng một xã hội có đạo đức hơn. Chính sách này là một phần trong những nỗ lực của Tổng thống Sarkozy sau những vụ bạo động xảy ra tại các thành phố lớn khiến cho cả nước Pháp chấn động một vài năm trước đó. Nhưng có một điều mà ai cũng sớm nhận ra là các thầy cô giáo không biết chắc là mình phải dạy những gì trong các tiết học như vậy.

“Chúng tôi có một vài gợi ý“, Thầy nói vào thời điểm đó và Người dạy các đệ tử của mình trình lên Tổng thống một đề xuất về “đạo đức ứng dụng“ mà Làng Mai đã chia sẻ với các em thiếu nhi, thiếu niên và các thầy cô giáo từ thập niên 80. Theo Thầy, học cách làm thế nào để thư giãn, để có mặt thật sự và có chánh niệm, làm thế nào để có sự định tâm, để chế tác từ bi, làm thế nào để thực tập ái ngữ và lắng nghe sâu là những phương pháp “đạo đức ứng dụng“cụ thể, có thể giảng dạy được, không những có công năng lấy đi gốc rễ của bạo động và bất công mà còn mang lại hạnh phúc sâu sắc, dài lâu cho cá nhân, học đường, gia đình và xã hội.

Tháng 9 năm 2008, Thầy và tăng thân Làng Mai đã triển khai ý tưởng đó xa hơn nữa bằng cách tổ chức một khóa tu mang tính đột phá cho hơn 500 giáo chức tại thành phố Dehradun nằm dưới chân núi Himalayas, miền bắc Ấn Độ. Trong cuộc gặp gỡ diễn ra một vài tuần sau đó tại Delhi giữa Thầy với bà Sonia Gandhi – Chủ tịch Đảng Quốc đại cầm quyền ở Ấn Độ thì vấn đề  giáo dục và đào tạo giáo chức chiếm vị trí hàng đầu trong nội dung đối thoại. Không ngừng phát triển giáo lý về Đạo đức Ứng dụng, vào năm 2011 Người công bố một sáng kiến mới để phát triển và chia sẻ những phương pháp thực tập này của Làng Mai một cách rộng rãi hơn.

Chương trình “Wake Up schools“ (tạm dịch là Trường học Tỉnh thức, tên gọi của chương trình đem chánh niệm vào trường học) tổ chức những khóa đào tạo, tập huấn dành cho các giáo chức, với nội dung có nguồn gốc từ những phương pháp thực tập cũng như tuệ giác của Làng Mai và không mang tính tôn giáo. Hiện đang hoạt động tại Làng Mai – Pháp, chương trình Wake Up Schools tổ chức các khóa tu và chương trình đào tạo, đề ra nội dung bài giảng cho các lớp học và xây dựng một mạng lưới cộng đồng để yểm trợ cho sự phát triển cá nhân và hạnh phúc của thầy cô giáo, các nhà quản lý giáo dục, học sinh cũng như các bậc phụ huynh. Wake Up Schools được các đệ tử của Thầy hướng dẫn và được sự yểm trợ, giúp đỡ của một cộng đồng quốc tế gồm các giáo chức và tình nguyện viên có quá trình thực tập chánh niệm lâu dài theo truyền thống Làng Mai.

Hướng dẫn thiền quýt cho các em tại trường tiểu học Dharma School, Vương quốc Anh

Mục đích của chương trình Wake Up schools là cung cấp một nền tảng đạo đức cho các thầy cô giáo, giúp tạo nên một không khí học tập có sự tập trung, hỗ trợ cho chương trình rèn luyện những kỹ năng về cảm xúc và xã hội (social-emotinal learning) trong trường học, đồng thời giúp thầy cô giáo có thêm chánh niệm và hạnh phúc.

Wake Up Schools nhận thấy rằng môi trường học đường đang trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết, với những đòi hỏi ngày càng nhiều ở thầy cô giáo và các nhà quản lý giáo dục. Trong khi đó thì áp lực kinh tế và xã hội không ngừng tạo ra những thách thức mới cho đời sống gia đình. Vì vậy cho nên chế tác hạnh phúc, chánh niệm và sự phát triển lành mạnh cho chính mình là một công việc rất quan trọng của giáo chức. Làm được như vậy họ mới có thể giúp cho trẻ em và người trẻ phát triển được kỹ năng cần thiết để có thể xử lý được những thách thức và áp lực, tìm được niềm vui trong đời sống hàng ngày ngay trong giây phút hiện tại.

Có được niệm, định, niềm vui và bình an trong tự thân thì các thầy cô giáo có thể đem lại hạnh phúc, sự vững chãi và sáng tỏ trong cộng đồng của họ. Với năng lượng của chánh niệm và từ bi thì lớp học hay trường học sẽ trở thành một gia đình, một nơi mà các học sinh, đặc biệt là các học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn, sẽ có được một cơ hội thứ hai. Dần dần, những cộng đồng giáo dục có thể trở thành những tác nhân cho sự phát triển của học sinh, của thầy cô giáo – ở cả phương diện cá nhân lẫn phương diện xã hội – và của cả thế giới.

Tăng thân Làng Mai

Làng Mai, nước Pháp – tháng 10 năm 2016.

[1] Pháp thoại của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, ngày 15.6.2014 trong khóa tu 21 ngày tại Làng Mai, nước Pháp

Cháu đuổi bắt mưa

Ngoại thương,

Có những ngày đông mang nắng về, nhuộm đất trời và vũ trụ một màu áo vàng tươi, con thích lắm.Thường thì đông mặc áo bạc, chỉ thỉnh thoảng mới thay áo vàng cho thêm phần mới mẻ, tươi trong và ấm áp. Thế nên con đã nhận món quà ấy của thiên nhiên mà tận hưởng, bước ra ngoài với một lòng hân hoan, như là để tiếp thêm năng lượng cho một ngày mới. Mỗi mùa đông tới, con lại có cơ hội được làm “người nước ngoài” đó ngoại. Con mặc thật nhiều lớp áo, choàng khăn thật dày, mang vớ thật ấm, đội mũ, đeo bao tay vào và đi giày chống nước, như những người tóc vàng trên tivi mà hồi nhỏ con thường thấy và thường nói với ngoại là ước chi con được đi nước ngoài, chắc con sung sướng lắm! Nào ngờ đâu ước mơ đó đã trở thành sự thật.

Con đã ngắm nhìn năm mùa đông đi qua ở nơi đây với một niềm thích thú. Và mùa đông đã hóa thành niềm thương của con từ lúc nào không hay. Tuy nhiều khi phải co rúm người lại vì cái lạnh thấu xương, phải bắt buộc dùng kem dưỡng ẩm để da khỏi nứt nẻ, nhưng không khi nào là con không hạnh phúc với màn sương bạc của những buổi sớm, với những hàng mận trơ xương, với “thánh đường” Bạch Dương ẩn hiện hiên ngang giữa khung trời lam xám, hay với những thửa ruộng mới cày tươi màu đất nâu, và cảm nghe những giọt sương khuya rơi rụng thành tiếng trên   lá khô… Con biết vì sao mình cứ thích mùa đông rồi ngoại ạ. Có nhiều khi như là “thú đau thương” vậy, lạnh rứa mà có lúc con còn ăn cả hộp kem giữa khung trời băng giá ấy một cách ngon lành nữa. Cũng bởi quê mình nhiều nắng quá, thời tiết có lúc khô đến nỗi nghẹt thở, mở bao nhiêu máy quạt cũng không mát. Có khi càng mở nhiều quạt bao nhiêu thì lại càng nóng bức bấy nhiêu! Nhưng không vì thế mà con muốn ở châu Âu hoài đâu ngoại nhé, con cũng nhớ mưa nắng quê mình lắm!

Con nhớ hồi nhỏ, con rất thích ở với ngoại, xa ba mẹ cả ngày từ sáng đến tối, vậy mà con không thấy một nỗi nhớ nhung nào xuất hiện cả. Con không nhớ những lúc ấy ngoại chơi trò gì với con để làm con vui và không thấy nhàm chán. Càng lớn con lại càng thắc mắc khi thấy hình ảnh của những đứa con nít dễ bị chán nản. Con vẫn chưa hỏi ngoại về điều này nhưng lý do sâu sắc nhất in vào tâm con khiến con cứ muốn “nhập hộ khẩu” ở nhà ngoại là được ngoại dắt đi chùa. Nhưng cả ngày lận mà, đâu phải đi chùa từ sáng đến tối, đi nhiều nhất là có một lần thôi, vậy mà cứ mỗi tối nghe tiếng xe máy của ba mẹ từ xa qua đón là con cứ tìm một góc nào đó để trốn hay chạy vòng vòng trong nhà ngoại vì không muốn phải về nhà. Con đã biết làm ba mẹ con buồn từ hồi con mới lên ba!

Những hôm trời mưa ở nhà ngoại, con sợ hãi thiệt nhiều. Cứ đi theo hỏi ngoại: “Mưa này có đi chùa không ngoại?”. Rồi lại hồi hộp với chính câu hỏi ấy của mình. Ngoại thường im lặng một lúc, chắc là để nghe mưa. Không biết cách phân định âm lượng của ngoại thế nào để mưa được xếp vào cấp độ nhỏ, cấp độ vừa hoặc cấp độ lớn. Ngoại thường nói với giọng thật hiền: “Mưa to, thôi ở nhà”. Con lại bảo: “Mưa to thì che dù, mặc áo mưa đi”. Ngoại lại nói: “Mưa to vậy chắc quý thầy và các bác không công phu đâu con”. Con thường túm áo ngoại khi nghe những thông báo ấy với sự cầu khẩn thiết tha và với đôi mắt đầy ánh sao hy vọng, lòng con luôn mong ngoại sẽ đổi ý. Con không bao giờ chấp nhận việc chùa có nghỉ công phu, thay vào đó, con chỉ ngậm ngùi ở nhà, ngó ra hiên mưa và trách mưa quá chừng. Hồi đó, mưa giống như một người bạn của con vậy. Khi thì thương mưa lắm, khi thì giận và trách mưa không ít!

Nhà ngoại có một cái gác nhỏ, trên gác có một cái sân thượng không lớn lắm, chỉ cỡ chừng mười mấy tấm gạch nền vuông nhỏ thôi. Cứ mỗi lần trời cho mưa, dù to hay nhỏ, chỉ cần nước dâng lên ngập đủ một bàn chân ở mặt nền sân thượng là con cùng mấy đứa em xúm lại í ới, xin ngoại cho trèo lên đó, để tập bơi! Ui cha, hồ bơi của ngoại không bao giờ sợ chìm cả, cũng không sợ nước vào mũi. Cả lũ cứ dang tay xòe chân vẫy vùng tập bơi trên ấy. Một bể bơi với năm đứa con nít dưới một vòm trời rộng đầy những hạt mưa… Không bao giờ biết chán! Cứ mỗi khi mưa, con chỉ thích được như thế. Tắm gội, bơi lội, nô đùa, chạy giỡn với những hạt ngọc trong suốt trời ban. Ấy vậy mà có nhiều lần con không thấy thương mưa nữa. Khi mưa, con không được ngoại cho đi chùa. Con đuổi mưa đi, không làm bạn với mưa nữa. Con bắt mưa ngưng để ngoại còn dắt con đi chùa. Hồi đó, con cứ đuổi bắt mưa như là trò chơi quen thuộc của mình vậy.

Ngoại ơi, nhiều lần con tự hỏi vì sao con đi tu? Lý tưởng của con là gì? Câu trả lời của con thường thay đổi. Vô thường lắm! Từng chặng đường mà con đi qua, mỗi cách con đón nhận và tiếp xử, những gì xảy đến với con, tất cả đều khác nhau. Khác nhau, hay phải chăng vì chính tâm con khác nên con nhìn sự việc khác, chứ có thể nội dung đều mang những phẩm chất tương tự? Nhưng có hay không thì lý tưởng của con, dù mạnh mẽ hay ốm yếu, dù cao siêu hay giản đơn, hoặc chỉ lặng yên như mặt hồ đứng gió… cũng đều quay về sự tu tập để chuyển hóa tự thân. Hình như chỉ khi con thực sự biết mình, hiểu mình và tin mình thì con mới có thể gọi đó là tu, phải không ngoại? Quý sư cô hay bảo con là người có phước đức từ ông bà tổ tiên. Con thường thắc mắc với câu nói đó lắm. Có một lần con còn ngây ngô chắp tay xin quý sư cô hoan hỷ chỉ dạy cho con biết vì sao gọi con là người có phước đức như rứa nữa. Con thấy con đâu có gì đâu, tu tập còn nhiều vụng về, thói quen tốt còn ít và thất niệm thì liên tục. Những tập khí, tính tình của con còn khô cứng, không mấy dễ thương ngoại à. Thế nhưng con cũng để câu nói ấy của quý sư cô ngự trị trong tàng thức của con. Cho tới một hôm, nhìn thấy gương mặt phúc hậu cùng nụ cười hiền từ của ngoại hiện về trong tâm tưởng, con mới hay mình khờ dại, đã ngủ quên bên núi châu vàng.

Bao đức hạnh, bao cách sống hài hòa, bao công việc mang tính Bụt của ngoại và nhiều điều tốt đẹp khác nữa đã đi vào nuôi dưỡng tâm hồn bé thơ của con. Ngoại đã truyền trao tất cả những điều đó cho con từ ngày con mới lọt lòng, thậm chí từ khi con còn trong bụng mẹ. Vậy mà có lúc con chẳng hay là mình đã được mang những “châu báu” ấy từ hồi còn nhỏ. Để khi con khôn lớn, được ngoại dạy dỗ, được đến chùa và bây giờ con được khoác lên mình chiếc áo nâu bình dị. Và con cũng đã thấy ngoại nơi Sư Ông, thầy của con, người tiếp tục trao truyền cho con những đức tính đẹp lành. Con được sinh ra thêm một lần nữa, nghĩa là thêm một lần con được khoác những “châu báu” mới trên mình. Một thứ trang sức khó tìm và thật là vô giá.

Mỗi ngày, con đều có cơ hội thức dậy với một hình hài đầy đủ, sáu giác quan còn khỏe mạnh và những người con thương yêu còn có đó cho con, con thấy mình may mắn quá chừng! Mùa này vì lạnh nên con hay thích ngồi yên ở một góc nhỏ, cảm nhận hơi ấm từ ánh nến tỏa ra, giữ ly trà thơm ngát, tỏa khói mây giữa hai lòng bàn tay còn đương lạnh và nghe … sáng nay sau giấc ngủ của trăng sao. Vũ trụ làm rơi những giọt nước mắt trong như pha lê, êm dịu sương khuya… (Thơ từng ôm và mặt trời từng hạt – thơ Sư Ông). Con chất thêm không gian vào “túi trăng sao” của mình. Có khi con chỉ để lòng lặng yên, nghe tiếng thiên nhiên ngoài kia cùng thở với hơi thở của mình. Không gian và thời gian như chỉ dành riêng cho con thôi vậy. Những lúc ấy, con thấy mình lớn hẳn ra, như một người đứng tuổi! Nhờ đi tu mà con học cách làm bạn với thiên nhiên, biết tận hưởng thiên nhiên và đôi khi thấy thiên nhiên là tâm hồn của mình, thật gần gũi thân thương sao đó. Không thể diễn tả được. Mọi ngôn từ ý niệm tự dung thông. (Nơi bình yên – Chân Thuần Khánh). Mỗi ngày con lại được ngồi thiền, đi thiền, ăn cơm, chấp tác, học tập, vui chơi và tham gia thời khóa của đại chúng cùng với quý sư cô, sư chị, sư em của con. Ngoại biết không, những ngày thân tâm con khỏe khoắn an ổn, con như một đứa bé lên ba, hạnh phúc vì mình ngồi thiền đàng hoàng, có bình an, đi được những bước chân nhẹ nhàng, nhai một muỗng cơm chậm rãi tận tám mươi lần, hay truyền thông vui vẻ với sư cô này, sư chị kia. Hạnh phúc của con có thể tăng lên thêm một cấp bậc nữa, tiếng cười tiếng nói của con ngập tràn đến độ không dừng lại được. Bên cạnh đó cũng có những ngày thân tâm con không ổn định, mệt mỏi hay có điều gì không vui xảy đến, con chỉ muốn thu tôi bé lại… làm mưa tan giữa trời… (Biết đâu nguồn cội – Trịnh Công Sơn). Con trầm ngâm không muốn cười nói chi cả, bao nhiêu tâm hành không dễ thương như lạc lõng, bơ vơ, bâng khuâng, lo lắng,… cứ đi lên. Con chỉ muốn lặng tìm một góc nào đó để trốn vì không muốn ai thấy khuôn mặt rầu rầu của mình. Sư Ông dạy phải học cách cân bằng và điều độ trong tất cả mọi sinh hoạt, đặc biệt là “tu, học, chơi và làm việc”. Phải tìm cho mình con đường trung đạo để đi mà đừng nghiêng về một thái cực nào cả. Con cũng thực tập theo, nhận diện và mỉm cười được với những tâm hành của mình, tuy nhiên con cũng cần tưới thêm hạt giống kiên trì và bền bỉ trong con nữa phải không ngoại?

Ngoại ơi, nơi làng quê nước Pháp yên bình này, nhiều lúc con có cảm tưởng như con đang sống trên quê hương mình vậy. Lâu lâu gió trời thoáng qua làm lúa cỏ có dịp nhả hương đồng nội, con lại thấy thân quen hơn. Mỗi dịp làm biếng, con tạm thời rời xa nó vài hôm, để được đi chơi “nước ngoài”, lên núi tuyết Thụy Sĩ, hay ghé đồng hoa tulip Hà Lan, hay đi ăn kem ở Đức,… Những lúc đó, lòng biết ơn trong con dâng trào đối với Sư Ông, với quý sư cô và cả với ngoại nữa. Con được nạp thêm nhiều thức ăn nuôi dưỡng tâm con, được nghỉ ngơi sau một khóa tu dài, được chơi đùa cùng thiên nhiên, được tạm không theo thời khóa của đại chúng và được thắt chặt thêm tình huynh đệ. Để rồi sau những chuyến đi đầy hạnh phúc mầu nhiệm ấy, con lại trở về chào đón những con đường nhỏ uốn lượn quanh xóm, những cánh đồng nhấp nhô chạy dài hai bên đường. Con trân quý đời sống giản đơn mà mình đang có, để thực sự thêm một lần chăm lại khu vườn tâm của mình cho đàng hoàng kỹ lưỡng, cho mát mẻ tốt tươi. Thỉnh thoảng, con mở tung cánh cửa lòng mình ra, khám phá mọi người. Mỗi người là một bài thơ – (Vui giấc đại đồng – Chân Uyển Nghiêm). Con thấy được nuôi dưỡng và học hỏi rất nhiều trên con đường con đang đi, từ mảnh đất tâm của những sư cô, sư chị xung quanh con, mà có khi những bài học ấy con không cần phải kiếm tìm từ sách vở, từ internet hay từ một phương tiện nào khác. Chỉ cần con chịu mở lòng ra để quán sát, để ý thức, để nhìn sâu, để nghe rõ là con có thể nhặt được vô vàn kim cương mà không ai biết ai hay.

Con vẫn còn nhớ lời nhắn nhủ của ngoại giữa bao lời chúc của mọi người trong gia đình khi tiễn con ra sân bay qua Làng tu học. Ngoại bảo: “Đi tu nhớ sống sao cho sâu sắc nghe con”. Con luôn mang theo câu nói ấy làm hành trang và cũng là công án mà con thường tự hỏi mình: “Mình đã sống sâu sắc chưa?”, hay: “Hôm nay mình có thực sự sống sâu sắc không?”. Con không biết phải dùng ngôn từ nào để nói hộ lòng con niềm biết ơn sâu dày mỗi khi nghĩ về Sư Ông, về tăng thân, về ngoại, về ba mẹ và về những người con thương. Con có phước đức lắm mới có được cả một kho báu như thế! Con nguyện sẽ đi vui và hạnh phúc trên con đường sáng đẹp mà Sư Ông và ngoại đã truyền trao cho con. Con nguyện trân quý tất cả những gì mình đang có để làm chất liệu nuôi dưỡng tâm bồ đề của con, dù đường đi có gập ghềnh muôn dặm. Con biết ơn ngoại thật nhiều về những gì ngoại đã và đang dành cho con với một tình thương và niềm tin không bờ bến.

Ngoài kia, những cơn mưa đã nhẹ nhàng đi qua, để lại những hạt sương trời lác đác, rơi rụng giữa không trung và quy tụ về hồn đất. Con biết ơn cơn mưa tuổi thơ của ngoại cho con, để hôm nay con đã đến đây – “ngồi yên dưới mái chùa”!

Chân Trăng Vô Ưu

Gặp Thầy

Cốc Ngồi Yên, 22.02.2019

 Kính bạch Thầy!

Sáng nay con may mắn được dậy sớm. Con mặc áo ấm, đi dạo một vòng từ Tăng xá ra thiền đường Nước Tĩnh, rồi con ghé xuống Cốc thăm Thầy. Con vẫn nhớ như in những ngày mùa An cư kiết đông năm nào Thầy ở Xóm Thượng, buổi chiều con thích nhìn xuống cốc Ngồi Yên. Từ trong Cốc, ánh đèn chiếu ra rất ấm áp. Có lúc con được Thầy cho thị giả gọi vào ăn chiều. Năng lượng bình an ấy vẫn còn ở đây, sáng nay. Thầy đi từng bước rất thảnh thơi, vững chãi. Thầy ngồi ăn cơm với thị giả. Thầy ngồi uống trà đón trăng lên.

Hôm nay là một ngày rất đẹp, thưa Thầy. Các vị Tôn đức sẽ thay Bụt, thay Thầy truyền trao giới pháp cho các sư chú, sư cô để các sư em được chính thức làm con trai, con gái của Bụt. Đó là một may mắn lớn, là một phước đức rất lớn mà Thầy đã tạo duyên cho chúng con.

Kính bạch Thầy! Dù đã thọ giới lớn nhiều năm, mỗi khi được Thầy cho tham dự vào trong buổi lễ truyền giới, con như được làm mới lại thân tâm mình. Thân tâm con vẫn rất chấn động khi nghe Thầy truyền giới, như chính con cũng là giới tử.

Sáng nay, con sẽ chuẩn bị thân tâm con cho thật kỹ lưỡng. Kỹ lưỡng tức là chuẩn bị gấp đôi phải không Thầy. Con cũng sẽ là một giới tử. Đại giới đàn năm nay, Tỳ kheo có 13 giới tử và Tỳ kheo ni cũng có 13 giới tử. Đó là trên hình thức. Con biết chắc là sẽ có nhiều hơn số lượng đó.

Kính bạch Thầy!

Con được quét dọn cốc Ngồi Yên và trong thời gian đầu con hay có suy nghĩ: “Phải tìm một bức hình thật đẹp để an trí trong cốc này”. Thế rồi, một hôm con quét dọn và con có cái thấy. “Thầy đâu chỉ là một bức hình, Thầy là cốc Ngồi Yên này; mà như thế vẫn còn nhỏ bé quá, ngoài kia là Xóm Thượng, Xóm Mới, Xóm Hạ, học viện EIAB, Làng Mai ở Mỹ, Thái Lan, Việt Nam, Hongkong, Úc, … bao nhiêu là tăng thân, sách, pháp thoại, bao nhiêu là hình ảnh, lời dạy của Thầy đã gieo khắp nơi”. Con mỉm cười và thấy mình không còn “ngốc” nữa, không cần một cái gì tượng trưng cho Thầy nữa. Sáng nay con đã thấy Thầy ở đây, trong con và chung quanh con.

Bên ngoài trăng rất đẹp, con đang thưởng thức giùm Thầy. Hoa thủy tiên cũng đang nở rất đẹp, thưa Thầy! Có mấy vị hái một bông hoa, hai bông hoa cài trên mũ, họ nói để nhớ Thầy. Hoa là Bụt đó, họ đang đội Bụt trên đầu. Những búp hoa mận tím cũng đang lớn dần, sẽ nở đẹp trong một ngày gần đây thôi, có lẽ là trong khóa tu xuất sĩ. Ngắm những nụ hoa đang lớn dần, có cảm tưởng như con đang ngắm từng huynh đệ của con đang lớn lên trong sự thực tập.

Mùa xuân đã về, mỗi ngày con sẽ đi thăm Thầy, trong từng nụ hoa, chiếc lá, chắc chắn con sẽ lại được gặp Thầy.

Con của Thầy
Minh Hy

Khóa tu xuất sĩ 2019 “Theo bước chân Thầy” – (1-8/3/2019)

Kệ truyền đăng trong Đại Giới Đàn “Bây Giờ Ở Đây” -2019

Đại Giới Đàn được diễn ra từ ngày 21-25/2/2019, tại Làng Mai Pháp và Làng Mai Thái Lan. 32 vị tân giáo thọ đã được truyền đăng, trong đó có 6 vị là giáo thọ cư sĩ.

 

Thầy Thích Chân Đồng Trí
(Nguyễn Thanh Dân

Pháp danh: Đồng Trí)

Trăng núi ngàn năm một chữ đồng
Cam lồ ươm trí nhuận non sông
Viên thông trong cõi huyền hoa tạng
Mỗi bước thêm ngời nếp tổ tông.

Thầy Thích Chân Quảng Tuấn

(Văn Viết Anh

Pháp danh: Quảng Tuấn)

Vẫn tâm ban đầu luôn quảng đại
Rộng đường trang tuấn kiệt xưa nay
Một sớm mai hồng đà cất bước
Pháp khí trượng phu tự hiển bày.
Thầy Thích Chân Huệ Trực
(Lelio

Pháp danh: Dharma Shanti)

 

Giới huệ nhuận uy nghi
Trực tâm tuyệt thị phi
Nhập tức xuất tức niệm
Bình đẳng tánh đồng quy.
Thầy Thích Chân Pháp Thệ
(Paul Roger Tarchichi
Pháp danh:  Détermination Solide du Coeur)

Pháp
Bụt ươm trong từng hơi thở
Sắt son thệ nguyện buổi ban sơ
Vườn xưa mỗi bước lòng lên mới
Mỗi bước nhiệm mầu mắt bé thơ.
Sư cô Thích Nữ Chân Triển Nghiêm
(Nguyễn Thị Hồng Thu

Pháp danh: Tâm Thanh Hiếu Lạc)

Pháp môn khai triển hạnh tâm đầu
Hơi thở nghiêm hòa trí giới sâu
Kỳ viên một sớm muôn chim hót
Từng bước ca vang khúc nhạc mầu.
Sư cô Thích Nữ Chân Chức Nghiêm
(Hồ Thị Ngân

Pháp danh: Tâm Liên Sắc)

 

Huynh đệ tình thâm nguyện chức thành
Nghiêm soi cõi Bụt tuyệt vô tranh
Ngồi yên tịch tĩnh mâu ni hiện
Rạng rỡ hồng liên sắc nhuận lành.
Sư cô Thích Nữ Chân Đôn Nghiêm
(Ngô Thị Hồng Hiếu

Pháp danh: Tâm Liên Hương)

 

Xuất gia tuổi nhỏ
Tâm tánh thuần đôn
Trang nghiêm trú xứ
Gìn giữ tông môn.
Sư cô Thích Nữ Chân Thúc Nghiêm
(Nguyễn Kim Vi

Pháp danh: Tâm Liên Đài)

Thân tâm thúc liễm trang nghiêm
Bước chân địa xúc dạo miền tịnh cư
Đơn thuần nhận diện thực hư
Lắng nghe ái ngữ bi từ triều dâng.
Sư cô Thích Nữ Chân Biện Nghiêm
(Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Pháp danh: Tâm Nguyên Đức)

 

Chân thật hiền lương ấy biện tài
Nghiêm từ nuôi chí nguyện Như Lai
Nước non mời gọi trăng về hội
Một quyết lên đường sạch trần ai.
Sư cô Thích Nữ Chân Đương Nghiêm
(Lê Thị Năm

Pháp danh: Tâm Diệu Thu)

 

Đương niệm làm nên muôn niệm
Tự nghiêm thế giới trang nghiêm
Thông điệp tình thương hợp tấu
Thuyền từ cập bến an nhiên.

 

Sư cô Thích Nữ Chân Thiệp Nghiêm
(Phan Thị Thương

Pháp danh: Tâm Minh Ngọc)

Chân nhân tĩnh tại
Lịch thiệp nhật thường
Tứ nghi nghiêm hộ
Phát túc siêu phương.
Tiếp hiện Chân Bi Nhật (người Pháp)

Serge Rousseau

Tâm từ bi, vòng tay rộng mở
Hạnh lắng nghe, tuệ nhật rõ soi
Buồm căng gió, hành trang chánh niệm
Thuyền tăng thân cỡi sóng ba đào.
 Thầy Thích Chân Trời An Quốc
(像真安国天)

Xu Liu Gang (姓名名) 

Lắng tâm theo hơi thở
Tịnh độ hiện nơi này
Cõi trời người trước mặt
Cửa bất nhị ngay đây).
依 安 般 守 意
樂 國 是 當 國
人 天 無 遠 處
不 二 於 法 門
Sư cô Thích Nữ Chân Thượng Nghiêm
(Phan Thị Kinh Nhựt
Pháp danh: Tâm Nhật Nguyệt
Sơ tâm hướng thượng đoan nghiêm
Bước chân địa xúc lặng yên ba đào
Đơn thuần hơi thở ra vào
Bốn ơn mãn nguyện trăng sao rạng ngời.
Sư cô Thích Nữ Chân Nhuận Nghiêm
(Nguyễn Thị Thanh Huyền

Pháp danh: Tâm Quảng Trang)

Lắng lại đầy ba cõi
Buông ra đâu cũng nhà
Hơi thở đà thấm nhuận
Nghiêm trang khắp gần xa.
Thầy Thích Chân Pháp Hợp
(Trần Mai Thắng
Pháp danh: Tâm Nhật Phước)
Chân pháp diệu dụng nơi tăng thân

Sức mạnh tâm linh kết hợp thành

Đuốc tuệ là nhau soi mọi chốn

Đại từ mở hội độ chúng sanh.

Sư cô Thích Nữ Chân Nguyên Tường
(Nguyễn Thị Thùy Tuyến

Pháp danh: Nguyên Tường)

 

Bắc nam trí giác cùng nguyên thể
Đại ý thiền tông sáng tỏ tường
Hương tích cõi Bụt đâu xa lắm
Hoa nở hương bay vạn dạm phần.
Sư cô Thích Nữ Chân Ý Nghiêm
(Trần Thị Thanh Trâm
Pháp danh: Tâm Tánh Châu)
Một dải ý từ nhô sóng bạc
Mảnh trăng bi mẫn ngự nghiêm trang
Thế giới ba ngàn thu một niệm
Hiểu thương rực chiếu vạn phương an.
 
Sư cô Thích Nữ Chân Chất Nghiêm
(Mai Thị Ngọc Thiện
Pháp danh: Tâm Quảng Duyên)
Hơi thở vào ra đã hài hoà
Đến đi tự tại vượt người ta
Chân chất tự ngàn xưa nghiêm mật
Bỉ thử không bờ tự tại ca.
Thầy Thích Chân Pháp Chỉnh
(Đinh Viết Tứ
Pháp danh: Tâm Thiện Đạt)
Chân đạo nằm ngay nơi hiện pháp
Khéo chỉnh thân tâm đạt lý mầu
Một bước mở toang muôn cõi Bụt
Ảnh chiếu trùng trùng lưới đế châu.
Thầy Thích Chân Pháp Đàm
(Phan Đăng Trung
Pháp danh: Tâm Quảng Đạo)
Chân tâm hiện chân pháp
Linh đàm soi Lăng-già
Vằng vặc trăng thu ngự
Ta, huynh đệ đâu xa.

 

Thầy Thích Chân Pháp Thuật
(Huỳnh Tấn Cường
Pháp danh: Tâm Liên Kiên)

Niệm định hiển bày công hạnh

Pháp âm hôm sớm thuật truyền

Bồ đoàn sen vàng khai hội

An ban thủ ý tinh chuyên.

 

 Thầy  Thích Chân Pháp Lân
(Đỗ Trường Thịnh
Pháp danh: Tâm Quảng Đạt)

Pháp
trao, tình cũng đã trao

Hạt mầm lân mẫn thuở nào đơm hoa

Vun trồng định tuệ gần xa

Công phu chọc thủng ngồi tòa Chân Như.

 Sư cô Thích Nữ Chân Tự Nghiêm
(Hong Dậu Tinh Trinh
Pháp danh: Tâm Nhuận Đăng)
Duyên sinh thừa tự nghiêm thân

Đơn thuần nhận diện thói trần xuống lên

Lắng nghe ái ngữ tinh chuyên

Hiểu thương nuôi lớn mãn nguyền sơ tâm.

 Thầy Thích Chân Pháp Kỳ
(Nguyễn Tường Long

Pháp danh: Tâm Liên Khai)

Chân lý sớm mở ra

Nhờ pháp Bụt diệu kỳ

Công phu trong nhật dụng

Độ người khắp gần xa.

 Sư cô  Thích Nữ Chân Hoàn Nghiêm
(Cao Thị Thúy

Pháp danh: Tâm Minh Tâm)

Đi đứng nằm ngồi đều thưởng thức

Sáu thời đâu chẳng phải công phu

Hoàn vũ tròn đầy trong hơi thở

Nghiêm thân niệm niệm mỗi nhiếp thu.

 Sư cô Thích Nữ Chân Hoan Nghiêm
(Khuất Thị Nga

Tâm Vạn Hằng)

 

Tâm lắng hân hoan hiện

Thân an trang nghiêm bày

Nói im cùng hành động

Bây giờ và ở đây.

 Tiếp hiện Chân Huyền Chỉ
(Nguyễn Thị Ngọc Bích)
Chân như hiển bày trong nhịp thở

Huyền pháp tinh thông bước kiện hành

Ý chỉ Bụt truyền trong chớp mắt
Nụ cười thanh thoát nở ngay đây.

 

 Tiếp hiện  Chân Lạc Tuệ

(Đỗ Thị Thủy)

 

Suối lạc tuôn về biển

Mây tuệ bay về nguồn

Tử sinh là biểu hiện

Độ người khắp hằng muôn.

 Tiếp hiện  Chân Đại Lượng
(Dương Thị Mỹ
Pháp  danh: Tâm Diệu)

Chân
thành hướng đạo một nhà

Đại từ lân mẫn gần xa chung lòng

Nhờ thầy độ lượng khai thông

Lợi hành đồng sự thong dong tháng ngày.

Tiếp  hiện Chân Đạo Nguyên
(Lê Đình Du

Tâm Phật Địa)

 

Tâm đạo luôn tiếp nối

Nguyên vẹn niềm tin sâu

Trẻ thơ vang tiếng hát

Bình minh ánh nhiệm mầu.

Tiếp hiện Chân Đức Đạo

(Martha Martinez)

 

Chân tâm thuần hậu được vun bồi

Nhân từ đức hạnh khắp mọi nơi

Bao dung ôm trọn không kỳ thị

Đem đạo giúp đời sống thảnh thơi.

 

Việt Wake Up tại Bắc Mỹ – 2019

(bắt đầu từ cuối tháng 5 đến cuối tháng 6 năm 2019)

Thương chào các bạn trẻ,

Chúng tôi xin giới thiệu đến các bạn trẻ về chuyến đi Việt Wake Up của quý thầy và quý sư cô trẻ Làng Mai.  Chuyến đi Việt Wake Up sẽ được diễn ra vào dịp Hè, bắt đầu từ cuối tháng 5 đến cuối tháng 6 năm 2019 tại Bắc Mỹ và sẽ hướng tới người trẻ Việt Nam từ 17 đến 38.  Phong trào Wake Up do Sư Ông Làng Mai (Thiền Sư Thích Nhất Hạnh) thành lập vào năm 2008 và đã được quý thầy và quý cô Làng Mai hướng dẫn khấp nơi trên thế giới hơn một thập niên qua. Theo tinh thần phong trào Wake Up này, quý thầy và quý sư cô trẻ cũng đã tạo ra một sân chơi mới dành riêng cho người trẻ Việt Nam tại Bắc Mỹ, gọi là Việt Wake Up.

Chuyến hoằng pháp của Việt Wake Up có mục đích:

  1. Giới thiệu cho các bạn trẻ Việt Nam đến với phong trào Wake Up nhằm tạo nên một xã hội hạnh phúc, lành mạnh và từ bi.
  2. Tạo cơ hội để các bạn trẻ học hỏi về các pháp môn tu học chánh niệm có công năng giúp các bạn trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệt trong những năm trong đại học, sau đại học, trong việc lập nghiệp và tạo dựng gia đình.
  3. Chia sẻ với các bạn các pháp môn có công năng nuôi dưỡng hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại, xử lý khó khăn, chuyển hóa khổ đau, và bắc nhịp cầu truyền thông giữa các thế hệ trong gia đình.
  4. Cung cấp cho các bạn một lăng kính mới để khám phá lại gia tài văn hóa và tâm linh của tổ tiên để lại.

Việt Wake Up sẽ được tổ chức tại các thành phố ở Bắc Mỹ như sau:

  1. Miami, FL: May 30- June 2
  2. Dallas, TX: June 6-9
  3. Chicago, IL: June 13-16
  4. Seattle, WA: June 23-26

Tất cả mọi sinh hoạt sẽ được hướng dẫn bằng tiếng Anh. Nếu các bạn muốn biết thêm tin tức về chuyến đi Việt Wake Up này hoặc các bạn muốn đăng ký, xin viếng thăm trang nhà www.vietwakeup.org.

Hy vọng là các bạn có thể sắp xếp thời gian đến tham dự. Hẹn gặp các bạn tại khoá tu của Việt Wake Up. Chúc các bạn một ngày mới nhẹ nhàng, tươi vui và an lạc.

Sen búp xin tặng các bạn,

Ban Tổ Chức Việt Wake Up Tour 2019

(Email: vietwkup@gmail.com)