Hiểu Thương

 

 

                    Em nói một lời không hiểu thương

                    Vô tình làm vỡ giọt tâm trong

                    Chút ân, chút nghĩa chị vun bón

                    Chút hiểu, chút thương anh ươm mầm

 

                    Anh Chị nói lời không Hiểu Thương

                    Em như trẻ nhỏ lạc giữa đường

                    Tâm linh bến đỗ là đâu nhỉ?

                    Gạn lại dòng sông cho nắng lên

 

                    Tôi nói một lời không Hiểu Thương

                    Tôi thấy Thầy tôi bước một mình

                    Đất Mẹ lặng im độ lượng hứng

                    Những ăn năn về giữa mắt trong

 

          Tôi cũng là em, cũng là anh

          Xin cho lầm lỗi chút không gian

          Cho khổ đau được tự nhiên biểu hiện

          Để em tôi được thắp sáng đong đầy.

 

          Chị cũng là tôi, cũng là em

          Chọn đời thanh đạm làm quê hương

          Chọn lắng nghe sâu để chuyển hóa

          Chọn thương yêu để bước vào đời

 

          Thôi hãy thứ tha và lãng quên

          Mây về núi ngủ thuở hồng hoang

          Trời xanh mây trắng tự nguyên thủy

          Mãi học hiểu thương mỗi mỗi ngày.

 

 

Chân Hạ Nghiêm

Sen búp từng cánh hé

(Trích từ cuốn “Sen búp từng cánh hé” của Sư Ông Làng Mai)

 

 

Trong truyền thống đạo Bụt, thiền tập có công năng giúp ta khôi phục sự toàn vẹn của con người ta, giúp ta trở nên tươi mát, ổn định, chăm chú để ta nhìn sâu vào bản thân và vào hoàn cảnh mà thấy rõ được thực tại của bản thân ấy và hoàn cảnh ấy. Cái thấy có khả năng giúp ta vượt thoát khổ đau và ràng buộc. Một khi đã trở nên thảnh thơi hơn và an lạc hơn, chúng ta sẽ không còn làm khổ kẻ khác bằng cách hành xử và nói năng của chúng ta nữa, và chúng ta có thể bắt đầu chuyển hóa hoàn cảnh chung quanh và giúp kẻ khác được thảnh thơi và an lạc hơn. Thiền tập có tác dụng trị liệu và chuyển hóa. Để có thể thực tập nhìn sâu và lắng nghe, chúng ta phải biết cách thức khôi phục sự toàn vẹn của con người chúng ta, biết cách thức trở thành tươi mát, ổn định và chăm chú. Năng lượng được sử dụng để làm công việc ấy là chánh niệm.

Chánh niệm có khả năng giúp ta ý thức được những gì đang có mặt, đang xảy ra trong ta và chung quanh ta. Chánh niệm chiếu rọi ánh sáng trên đối tượng thiền quán, dù đối tượng ấy là một tri giác, một cảm thọ, một động tác, một phản ứng hoặc một hiện tượng sinh lý hoặc vật lý. Chánh niệm lại có khả năng nhìn sâu và hiểu thấu được tự tính và gốc rễ của đối tượng quán chiếu. Trong quá trình thiền quán, năng lượng chánh niệm được thường trực phát khởi, nuôi dưỡng và làm lớn mạnh. Chánh niệm giúp ta tiếp xúc thật sự với sự sống, nghĩa là với tất cả những gì đang xảy ra trong hiện tại, giúp ta sống sâu sắc cuộc đời của chúng ta, giúp chúng ta thực tập quán chiếu để nhìn sâu và lắng nghe. Hoa trái của sự thực tập nhìn sâu và lắng nghe là sự kiến đạo, là giác ngộ, là giải thoát.

Trong quá trình thực tập, những sợi dây ràng buộc (triền sử) từ từ được tháo mở, những nội kết khổ đau như sợ hãi, hận thù, giận dữ, nghi kỵ, đam mê,… từ từ được chuyển hóa, biên giới chia cách từ từ được tháo gỡ, và liên hệ giữa ta và người, giữa ta và thiên nhiên trở nên dễ dàng, sự thảnh thơi và niềm vui sống tự nhiên xuất hiện, và hành giả cảm thấy như là một đóa sen búp đang từ từ hé nở. Thật ra, con người cũng là một loại hoa và có thể nở ra đẹp đẽ và tươi mát như bất cứ một loại hoa nào. Bụt là một đóa hoa người đã mãn khai, vô cùng tươi mát và xinh đẹp. Tất cả chúng ta đều là Bụt sẽ thành. Vì vậy cho nên tại các trung tâm thiền tập, mỗi khi thiền sư gặp gỡ nhau, họ thường chấp tay thành búp sen để chào nhau. “Sen búp xin tặng người, Một vị Bụt tương lai”, đó là bài kệ được sử dụng trong khi chào nhau bằng chánh niệm. (Bạn hãy nhớ thở vào khi đọc “Sen búp xin tặng người” và thở ra khi đọc “một vị Bụt tương lai”. Và hãy mỉm cười khi thở ra. Bạn sẽ có dáng dấp của một bông sen hơn).

Không có minh sư và không có tăng thân ta cũng có thể thực tập một mình. Minh sư là một vị thầy đã có kinh nghiệm thực tập và tu chứng. Tăng Thân là đoàn thể của những người cùng thực tập chung với nhau và phương pháp thực tập có thể nói là gần giống như nhau. Cũng vì tất cả một người cùng thực tập nên bạn thấy thực tập rất dễ. Năng lượng của tâm thức cộng đồng rất mạnh, có thể yểm trợ ta rất nhiều, nếu ta có cơ hội thực tập trong một tăng thân. Ta cũng có thể học được kinh nghiệm của mỗi thành viên ấy. Có nhiều cái ta không làm được khi ta ở một mình, nhưng trong môi trường tăng thân ta lại làm được dễ dàng. Những ai đã từng thực tập với một tăng thân đều đã nhận thấy điều đó.

Nếu bạn chưa có cơ hội gặp gỡ một vị minh sư và một tăng thân thì tập sách này sẽ có thể giúp bạn trong buổi ban đầu. Trong sách có nhiều bài thiền tập có hướng dẫn, tất cả đều xuất phát từ các minh sư và các tăng thân trong lịch sử. Trong khi thực tập bạn sẽ có cảm giác được yểm trợ phần nào bởi các vị minh sư và các tăng thân.

Thực tập một số bài trong sách, bạn sẽ có thể tạo ra năng lượng của chánh niệm trong bạn và bạn sẽ trở nên tươi mát hơn, chăm chú hơn và có nhiều niềm vui hơn trong cuộc sống hằng ngày. Và lúc ấy bạn sẽ có nhiều cơ hội hơn để gặp gỡ một minh sư hay một đoàn thể tăng thân. Có thể là vị minh sư ấy hoặc tăng thân ấy đã có mặt sát bên bạn nhưng bạn chưa có cơ hội tiếp xúc. Sách này có thể giúp bạn gặp được thầy và được tăng thân. Xin bạn hãy vững tâm thực tập theo sách.

Trong truyền thống đạo Bụt, tăng thân được xem là một viên ngọc quý trong số ba viên ngọc quý là Bụt, Pháp, và Tăng. Tam bảo đã có mặt ngay trong lòng bạn. Tăng Bảo trong lòng bạn sẽ dẫn bạn tới tăng thân trong vùng bạn cư trú. Dù biết rằng tất cả tùy thuộc nơi năng lượng chánh niệm của bạn, chúng tôi vẫn chúc bạn “may mắn” vì chúng ta, ai cũng là đóa sen sắp nở, một vị Bụt tương lai.

 

Thiền duyệt

 

Bài Tập Thứ Nhất 

Thở vào, tâm tĩnh lặng / Tĩnh lặng
Thở ra, miệng mỉm cười / Mỉm cười

Thở vào, an trú trong hiện tại / Hiện tại
Thở ra, giây phút đẹp tuyệt vời / Tuyệt vời

Nhiều người bắt đầu thực tập thiền bằng bài tập này. Có nhiều người dù đã thực tập bài tập này nhiều năm vẫn còn tiếp tục thực tập, bởi vì nó tiếp tục đem tới nhiều lợi lạc cho hành giả. Thở vào, ta chú ý tới hơi thở: hơi thở vào tới đâu ta cảm thấy tĩnh lặng tới đó, giống như khi ta uống nước mát, nước tới đâu thì ruột gan ta mát tới đó. Trong thiền tập, hễ tâm tĩnh lặng thì thân cũng tĩnh lặng, bởi vì hơi thở có ý thức đem thân và tâm về một mối. Khi thở ra, ta mỉm cười, để thư giãn tất cả các bắp thịt trên mặt (có khoảng 300 bắp thịt trên mặt ta). Thần kinh ta cũng được thư giãn khi ta mỉm cười. Nụ cười là kết quả của sự tĩnh lặng do hơi thở đem lại, mà cũng vừa là nguyên nhân giúp ta trở nên thư thái và cảm thấy sự an lạc phát hiện rõ ràng thêm.

Hơi thở thứ hai đem ta về giây phút hiện tại, cắt đứt mọi ràng buộc với quá khứ và mọi lo lắng về tương lai, để ta có thể an trú trong giây phút hiện tại. Sự sống chỉ có mặt trong giây phút hiện tại, vì vậy ta phải trở về sự sống chân thật. Biết mình đang sống và biết mình có thể tiếp xúc với tất cả mầu nhiệm của sự sống trong ta và xung quanh ta. Đó là một phép lạ. Chỉ cần mở mắt hoặc lắng nghe là ta tiếp nhận được những mầu nhiệm của sự sống. Vì vậy cho nên giây phút hiện tại có thể là giây phút đẹp nhất và tuyệt vời nhất, nếu ta biết thực tập hơi thở thứ nhất nhiều lần trước khi đi sang hơi thở thứ hai.

Bài này có thể thực tập bất cứ ở đâu: trong thiền đường, trên xe lửa, trong nhà bếp, ngoài bờ sông, trong công viên, trong các tư thế đi, đứng, nằm, ngồi và ngay cả đang lúc làm việc.

 

 

Bài Tập Thứ Hai 

Thở vào, biết thở vào / Vào
Thở ra, biết thở ra / Ra

Hơi thở vào càng sâu / Sâu
Hơi thở ra càng chậm / Chậm

Thở vào, ý thức toàn thân / Ý thức
Thở ra, buông thư toàn thân / Buông thư

Thở vào, an tịnh toàn thân / An tịnh
Thở ra, lân mẫn toàn thân / Lân mẫn

Thở vào, cười với toàn thân / Cười
Thở ra, thanh thản toàn thân / Thanh thản

Thở vào, cười với toàn thân / Cười
Thở ra, buông thả nhẹ nhàng / Buông thả

Thở vào, cảm thấy mừng vui / Mừng vui
Thở ra, nếm nguồn an lạc / An lạc

Thở vào, an trú hiện tại / Hiện tại
Thở ra, hiện tại tuyệt vời / Tuyệt vời

Thở vào, thế ngồi vững chãi / Vững chãi
Thở ra, an ổn vững vàng  / An ổn

Bài này tuy dễ thực tập nhưng hiệu quả thì to lớn vô cùng. Những người mới bắt đầu thiền tập nhờ bài này mà nếm được sự tịnh lạc của thiền tập. Tuy nhiên, những người đã thiền tập lâu năm cũng vẫn cần thực tập bài này để tiếp tục nuôi dưỡng thân tâm, để có thế đi xa.

Hơi thở đầu (vào, ra) là để nhận diện hơi thở. Nếu đó là hơi thở vào thì hành giả biết đó là hơi thở vào. Nếu đó là hơi thở ra thì hành giả biết đó là hơi thở ra. Thực tập như thế vài lần tự khắc hành giả ngưng được sự suy nghĩ về quá khư, về tương lai và chấm dứt mọi tạp niệm. Sở dĩ được như thế là vì tâm hành giả đã để hết vào hơi thở để nhận diện hơi thở, và do đó tâm trở thành một với hơi thở. Tâm bây giờ không phải là tâm lo lắng hoặc tâm tưởng nhớ mà chỉ là tâm hơi thở (the mind of breathing).

Hơi thở thứ hai (sâu, chậm) là để thấy được rằng hơi thở vào đã sâu hơn và hơi thở ra đã chậm lại. Điều này xảy ra một cách tự nhiên mà không cần sự cố ý của hành giả. Thở và ý thức mình đang thở (như trong hơi thở đầu) thì tự nhiên hơi thở trở nên sâu hơn, nghĩa là có phẩm chất hơn. Mà khi hơi thở trở nên điều hòa, an tịnh và nhịp nhàng thì hành giả bắt đầu có cảm giác an lạc trong thân và trong tâm. Sự an tịnh của hơi thở kéo theo sự an tịnh của thân và tâm. Lúc bấy giờ hành giả bắt đầu có pháp lạc, tức là thiền duyệt.

Hơi thở thứ ba (ý thức toàn thân, buông thư toàn thân): Hơi thở vào đem tâm về với thân và làm quen lại với thân. Hơi thở là cây cầu bắc từ thân sang tâm và từ tâm sang thân. Hơi thở ra có công dụng buông thư (relaxing) toàn thân.
Trong lúc thở ra hành giả làm cho các bắp thịt trên vai, trong cánh tay và trong toàn thân thư giãn ra để cho cảm giác thư thái đi vào trong toàn thân. Nên thực tập hơi thở này ít ra là mười lần.

Hơi thở thứ tư (an tịnh toàn thân, lân mẫn toàn thân): Bằng hơi thở vào, hành giả làm cho an tịnh lại sự vận hành của cơ thể (Kinh Niệm Xứ gọi là an tịnh thân hành); bằng hơi thở ra hành giả tỏ lòng lân mẫn săn sóc toàn thân. Tiếp tục hơi thở thứ ba, hơi thở này làm cho toàn thân lắng dịu và giúp hành giả thực tập đem lònh từ bi mà tiếp xử với chính thân thể của mình.

Hơi thở thứ năm (cười với toàn thân, thanh thản toàn thân): Nụ cười làm thư giãn tất cả các bắp thịt trên mặt (có đến hàng trăm bắp thịt trên mặt). Hành giả gửi nụ cười ấy đến với toàn thân như một giòng suối mát. Thanh thản là làm cho nhẹ nhàng và thư thái (easing). Hơi thở này cũng có mục đích nuôi dưỡng toàn thân bằng lòng lân mẫn của chính hành giả.

Hơi thở thứ sáu (cười với toàn thân, buông thả nhẹ nhàng): Tiếp nối hơi thở thứ năm, hơi thở này làm cho tan biến tất cả những gì căng thẳng (tentions) còn lại trong cơ thể.

Hơi thở thứ bảy (cảm thấy mừng vui, nếm nguồn an lạc): Trong khi thở vào hành giả cảm nhận nỗi mừng vui thấy mình còn sống, khoẻ mạnh, có cơ hội săn sóc và nuôi dưỡng cơ thể lẫn tinh thần mình. Hơi thở ra đi với cảm giác hạnh phúc. Hạnh phúc luôn luôn đơn sơ và giản dị. Ngồi yên và thở có ý thức, đó có thể là một hạnh phúc lớn rồi. Biết bao nhiêu người đang xoay như một chiếc chong chóng trong đời sống bận rộn hàng ngày và không có cơ hội nếm được pháp lạc này.

Hơi thở thứ tám (an trú hiện tại, hiện tại tuyệt vời): Hơi thở vào đưa hành giả về an trú trong giây phút hiện tại. Bụt dạy rằng quá khứ đã đi mất, tương lai thì chưa tới, và sự sống chỉ có mặt trong giây phút hiện tại mà hành giả tiếp xúc được tất cả những mầu nhiệm của cuộc đời. An lạc, giải thoát. Phật tính và niết bàn…tất cả đều chỉ có thể tìm thấy trong giây phút hiện tại. Hạnh phúc nằm trong giờ phút hiện tại. Hơi thở vào giúp hành giả tiếp xúc với những mầu nhiệm ấy. Hơi thở ra đem lại rất nhiều hạnh phúc cho hành giả, vì vậy hành giả nói: hiện tại tuyệt vời.

Hơi thở thứ chín (thế ngồi vững chãi, an ổn vững vàng): Hơi thở này giúp hành giả thấy được thế ngồi vững chãi của mình. Nếu thế ngồi chưa được thẳng và đẹp thì sẽ trở nên thẳng và đẹp. Thế ngồi vững chãi đưa đến cảm giác an ổn vững vàng trong tâm ý. Chính trong lúc ngồi như vậy mà hành giả làm chủ được thân tâm mình, không bị lôi kéo theo thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp có tác dụng làm chìm đắm.

Lời của một giọt sương

 

Ngàn năm giọt giọt tinh khôi

Ngàn năm đọng mật đất trời trong veo

 

Tôi đã đến trên mỗi cành lá biếc

Những bông hoa, ngọn cỏ sớm an lành

Sợi tơ mỏng, thảm lá mục an nhiên

Nghe đất mẹ từ hòa ca trong gió

 

Giọt bình yên mang ngàn đời hơi thở

Của bao la trời đất giữa luân hồi

Mát lành ở trong tôi

Thảnh thơi cười dâng hiến

 

 

Dành tặng bạn một phút giây mầu nhiệm

Lắng suy tư sau giấc ngủ đêm dài

Mở mắt chạm ban mai

Thở và cười cùng tình tôi biêng biếc

 

Soi vào tôi, và rồi bạn sẽ gặp

Cánh hoa thơm đêm trước đã cựa mình

Lấp lánh một vầng trăng

Con dế khuya kéo vĩ cầm ru gió

 

Soi vào tôi, bạn biết bạn đang thở

Biết mặt trời lấp ló sắp vươn lên

Biết nhẹ nhàng thầm lặng tôi biến tan

Nhưng tình tôi vẫn còn trong đôi mắt

 

Tôi đã đến, phút giây này rất thật

Tôi đã đi như trời đất xoay vần

Một nụ cười bé nhỏ giữa nhân gian

Dành tặng bạn khi bình minh thức giấc.

 

Tôi đi nhé, khẽ khàng tan vào đất

Tan vào hoa, vào cỏ, nắng mai hiền

Tan vào bạn – từng hơi thở an nhiên

Có trong nhau từ ánh nhìn đang sống.

 

Hát lên đi, ngày hôm nay đẹp lắm

Bước thong dong trên từng phút vô thường

 

 

(Lương Đình Khoa)

Phật Đản 2019

Lễ tắm Bụt trong ngày Phật Đản 19.05.2019 tại Xóm Hạ, Làng Mai Pháp

 

Gọi về tiếng chân xưa

Tháng cuối năm, Huế mưa dai dẳng và lạnh. Cây mai ngay trước cửa phòng tôi nở duy nhất một bông hoa năm cánh tươi nhuận. Mỗi ngày, ngồi uống trà, tôi đều hướng mắt về phía bông hoa. Còn hai tuần nữa là Tết. Thầy về đây vậy mà cũng gần ba tháng rồi. Nhìn cánh hoa vàng, tôi nhớ đến câu thơ của thầy Hoàng Bá:

Bất thị nhất phiên hàn triệt cốt

Tranh đắc mai hoa phốc tị hương.

Không phải một phen lạnh đến tận cùng xương thịt, thì dễ gì hoa mai thoát ra được thứ hương thơm như vậy. Cội mai già cũng như một đấng trượng phu, âm thầm, kiên định, vững chãi, chờ đợi, kiên nhẫn và dâng hiến hương thơm cho đời.

Rau rịa

Hơn hai năm nay Thầy về thăm Vườn Ươm, và mỗi tháng Tư, Thầy đều đi cùng những học trò của mình đến Wangree, một resort, nơi tổ chức khóa tu gia đình trong mỗi dịp Tết của người Thái Lan. Resort rất đẹp, gần núi, có rất nhiều hoa, nhiều tán cây cổ thụ, có suối, nhiều hồ nước và những con đường quanh co để thiền hành.

Một buổi sáng, tôi nhìn thấy trên mâm cơm của Thầy có món rau. Hỏi ra mới biết đó là rau rịa, được hái từ khu vườn ngay trong khuôn viên của resort. Rau rịa. Thứ rau mà chưa bao giờ tôi nhìn thấy trực tiếp nhưng đã rất ấn tượng khi đọc Nẻo về của ý – quyển sách Thầy viết hơn năm mươi năm trước. Nói đến tên, tôi đã cảm thấy rất hạnh phúc.

Thế là tôi, thầy Đồng Trí và sư chú Trời Trong Sáng quyết định đi tìm rừng rau rịa. Bất ngờ quá, rừng rau chỉ cách chỗ chúng tôi ở vài trăm mét. Từ đó, những món ăn như rau rịa nấu canh, rau rịa xào được anh em chúng tôi thưởng thức thường xuyên. Tôi có thưa cho Thầy nghe về rừng rau rịa, nhắc lại Nẻo về của ý và thỉnh Thầy đi thăm rừng rau. “Thứ cây này có rất nhiều ở Phương Bối, nhất là trong khu rừng ở phía Tây Nam. Ta chỉ có thể hái được những đọt lá non màu hồng tím. Lá rịa mọc song đôi trên đọt cho nên Lý đặt tên thứ rau này là song diệp thái. Người Thượng có thể bán cho người Kinh bất cứ thứ gì họ kiếm được ở rừng: tre, mây, phong lan, thịt nai, măng, v.v. nhưng không bao giờ bán lại rau rịa”. (trích Nẻo về của ý)

Vào một buổi sáng, trời nắng đẹp, Thầy cùng anh chị em thị giả chúng tôi ra thăm rừng rau. Con đường rợp bóng cổ thụ. Đến nơi, Thầy chăm chú quan sát các con của Thầy ngắt từng đọt non, hình ảnh mà hơn 50 trước Thầy đã từng thưởng thức. Thầy nhìn rừng rau, nhìn cụm lá non trong tay sư cô Linh Nghiêm và sư cô Định Nghiêm, ánh mắt rất hạnh phúc. Tôi nhìn thấy cả ánh sáng ban mai trong ánh mắt Thầy. Quý sư cô mang những đọt non tới dâng lên Thầy. Thầy chắp tay, sau đó đưa nắm rau rịa lên mũi thưởng thức. Nắm rau hôm nay cũng là nắm rau tại núi rừng Phương Bối Đại Lão của ngày xưa. Tôi rất xúc động với cách tiếp xúc của Thầy, chú tâm, trang trọng, chánh niệm, như gặp lại một người bạn cố tri.

Cả hai lần ghé resort, Thầy đều đến thăm rừng rau rịa. Những lần đi hái rau sau này, đoàn chúng tôi còn có thêm thầy Pháp Chất và thầy Mãn Chí, hay sư chú Trời Kỳ Diệu. Khi nào thấy tôi không có trong phòng, thầy Pháp Chất thường nói với anh em: “Thầy Nguyên Tịnh lại đi thăm rừng rau rịa rồi”. Đúng rồi. Những ngày sống ở đây thật ngắn ngủi, chúng tôi phải tận dụng thời gian để thưởng thức. Thưởng thức rau rịa, tôi thưởng thức được cả rừng núi Đại Lão và tình anh em mà ngày xưa Thầy đã vun bồi trên đồi Phương Bối. Tôi nhớ đến lời thầy Lợi, một người cư sĩ lớn tuổi từng nói với tôi: “Đọc Bây giờ mới thấy, Tình người hay Nẻo về của ý, thầy sẽ thấy tại sao Thầy Nhất Hạnh lại có những hoa trái đẹp tươi như vậy. Thầy Nhất Hạnh đã biết cách nuôi dưỡng được tình huynh đệ đồng môn và chưa bao giờ đánh mất sự thương yêu yểm trợ đối với những người em trẻ tuổi. Đây là một bài học rất lớn mà Thầy để lại cho cuộc đời.”

Giữ lửa

Có một buổi chiều, trời mưa, gió và lạnh. Lúc đó thầy trò chúng tôi đang ở Sơn Cốc. Ngồi nhìn ra cửa kính, Thầy đưa bàn tay trái, bàn tay duy nhất Thầy còn cử động được sau lần bệnh nặng, áp lên khuôn mặt mình và nhìn từng người học trò đang ngồi xung quanh. Đôi mắt Thầy muốn nói một điều gì đó. Không khí im lặng bao trùm. Đôi mắt Thầy vẫn hướng đến từng người. Tôi nhìn Thầy, rồi như một tiếng nói trực tiếp đi ra từ sự vận hành của cả năm uẩn, tôi đọc lớn đủ để Thầy nghe bài thơ Ấm áp, bài thơ Thầy đã viết trong thời gian Thầy đi kêu gọi chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam:

Tôi bưng mặt trong lòng hai bàn tay
Có phải để khóc đâu anh
Tôi bưng mặt để giữ cho ấm áp sự cô đơn
Hai bàn tay chở che
Hai bàn tay nuôi dưỡng
Hai bàn tay ngăn cản
Sự ra đi hờn dỗi của linh hồn.

Thầy nhìn tôi chăm chú, đôi mắt sáng lên, gật đầu và đặt bàn tay lên đầu tôi. Tôi lấy giọng, đọc thêm lần nữa và lần nữa, lòng rạt rào xúc động. Tôi thưa: “Thầy ơi, con biết Thầy nhớ rõ bài thơ này lắm. Trái tim của một người trẻ đầy nhiệt huyết, đầy hy vọng, đầy tin tưởng và bàn tay của người trẻ là để thương yêu, để xây dựng, để làm đẹp cuộc đời. Nhưng mà trái tim ấy, bàn tay ấy của người trẻ đã lắm lúc mang thương tích, lắm lúc rơi vào sự cô đơn, lắm lúc đối diện với những bế tắc và thất vọng. Người trẻ ấy đã áp bàn tay lên khuôn mặt những lúc buồn tủi cô đơn nhất, để sự ấm áp mãi còn, để nhắc nhở cho chính mình bầu nhiệt huyết vẫn còn tuôn dậy, để cho sự cô đơn không lấn áp được niềm tin yêu. Đôi bàn tay của người trẻ kia đã làm nhiệm vụ che chở, nuôi dưỡng bếp lửa tâm thức và ngăn cản một tâm hồn đang hờn dỗi, cô đơn và thất vọng muốn từ bỏ. Con biết, Thầy không bao giờ bỏ cuộc, và Thầy luôn trao truyền cho chúng con tinh thần đó”.

Tôi cũng chẳng biết tại sao tôi lại “liều lĩnh” nói lên được những điều như vậy. Bàn tay Thầy đặt trên trán tôi. Mắt tôi nhòe đi trong niềm xúc động và biết ơn. Thầy gật đầu, đôi mắt vẫn sáng một tia sáng kỳ diệu. Mưa gió vẫn kéo về khắp Sơn Cốc. Thầy trò tôi ngồi với nhau rất ấm áp.

Được cơ may thân cận Thầy trong thời gian làm thị giả, tôi đã học được những bài học Thầy trao truyền. Mỗi bữa cơm, bằng bàn tay trái, Thầy đưa từng muỗng thức ăn lên miệng bằng tất cả sự chú tâm, thận trọng và thưởng thức. Chánh niệm đã trở thành sự sống của Thầy. Thầy thưởng thức từng ngụm trà một cách trầm lặng, ngắm nhìn thiên nhiên, Thầy trở thành người vô sự. Bàn tay trái của Thầy vỗ về, chấp nhận và làm thay những công việc cho bàn tay phải. Tôi thương lắm mỗi khi nhìn thấy bàn tay trái của Thầy chăm sóc và đánh thức bàn tay phải. Thầy ngồi vào bàn, giấy đã được thị giả chuẩn bị sẵn, với bàn tay trái, Thầy cầm bút và vẽ từng vòng tròn thư pháp. Thầy nhìn một bông hoa hồng vươn cao và uốn mình bên cửa kính, rồi vẽ theo. Những vòng tròn cứ thế hình thành nơi nét bút, tạo nên một bông hoa hồng. Bông hoa nở trên giấy. Bông hoa nở trong lòng Thầy. Bông hoa nở trong lòng mỗi anh chị em thị giả chúng tôi. Và bông hoa ấy cũng nở trong lòng mỗi đứa con của Thầy ở khắp mọi nơi. Thầy đọc sách. Thầy tập chân. Thầy tập trở người. Thầy tập nói, tập đi,… Bếp lửa cứ thế, ngày đêm Thầy âm thầm giữ gìn và trao truyền cho mỗi chúng tôi.

Tôi không lớn lên trong chiến tranh. Nhưng tôi lớn lên trong thời kỳ mà tuổi trẻ cũng mang nhiều buồn tủi, cô đơn, nghi kỵ và thương tích. Nói với tuổi hai mươi là tập sách đã giúp tôi định hình đời sống của mình rất nhiều. Thầy viết tác phẩm đó trong lúc chiến tranh và chết chóc có mặt khắp quê hương. Một cuốn sách chứa đầy tình thương, bao dung, chấp nhận, tha thứ, biết ơn và tin tưởng. Những hạt giống của nghi kỵ, thủ tiêu, chống báng, tuyệt vọng trong người đọc dần lắng dịu để cho tình thương và sự cảm thông có mặt. Tôi hiểu, từ lúc còn rất trẻ, Thầy đã là một người giữ lửa và mãi đến bây giờ, bếp lửa ấm áp ấy vẫn còn cho ta than hồng lửa đỏ.

Tìm tôi trong tận đáy hồn anh

20 tháng 11, ngày Nhà giáo Việt Nam. Sáng hôm đó, thầy Chơn Trí, một người bạn đồng học với Thầy tại Phật học đường Báo Quốc lúc Thầy còn là một sư chú, bất ngờ lên thăm Thầy. Thầy vừa dùng sáng xong. Thấy bóng dáng thầy Chơn Trí ngoài cửa sổ, Thầy đã đưa tay lên chào, kiểu chào của hai người bạn thân thiết lâu năm. Hai anh em nắm tay nhau. Thầy Chơn Trí, bằng cái cách hài hước vui vẻ rất trẻ trung, đưa tặng Thầy một chai xì dầu Maggi. Thầy gật đầu, đôi mắt rất sáng, nhận chai xì dầu và đưa lên cao một lúc lâu. Hai anh em cười rất tươi. Thầy đưa tay nắm tay thầy Chơn Trí sau khi gởi chai xì dầu cho thị giả. Chai xì dầu nhắc nhở lại kỷ niệm của thời học tăng. Đó là một báu vật mà chỉ có thầy Chơn Trí lúc đó, vốn được mệnh danh “giàu có” mới sở hữu được. Trong bữa ăn thanh bần của học tăng, lâu lâu sư chú Chơn Trí lấy chai xì dầu trong túi áo ra, xịt vài giọt vào chén cơm của mình một cách thận trọng, rồi chuyền chai xì dầu cho vài anh em trẻ cùng tận hưởng hương vị “giàu có” đó trước khi thu lại và cho vào túi áo. Hôm sau, thầy Pháp Huy kể cho anh em chúng tôi nghe, Thầy đã bảo mở chai xì dầu và Thầy đã thử ba giọt. Chai xì dầu sau đó được mang xuống bếp thị giả. Nghe xong câu chuyện, tôi liền đi cất chai xì dầu để làm kỷ niệm.

Thầy Chơn Trí là một người đã gắn bó với Thầy trong thời kỳ học tăng tại Báo Quốc như một đồng sự. Tờ báo Tiếng Sóng do Thầy phát động đã được thầy Chơn Trí giúp đỡ giấy mực rất nhiều. Tờ báo đó, tuy đơn sơ, nhưng là tiếng nói của những tăng sinh trẻ và là tờ báo mở đầu cho những tờ báo Thầy tham gia, cũng như hướng viết sách của Thầy sau này. Trong buổi gặp mặt hôm đó, thầy Chơn Trí đã nhắc lại một kỷ niệm rất đẹp cho Thầy và anh chị em thị giả chúng tôi được nghe.

Đó là lúc Thầy không đồng ý với chương trình giảng dạy ở Báo Quốc. Sau một vài lần thưa lên Ban giám đốc nhà trường mà không có kết quả, Thầy quyết định bỏ học đi vào Nam. Chuyến đi đó của Thầy và một vài anh em khác được bí mật tổ chức. Xe sắp chạy, thầy Chơn Trí thấy có gánh đậu hũ gần đó, liền mua cho Thầy một chén, lúc đó Thầy đã ở trên xe. Chén đậu hũ vừa đưa lên, bất ngờ xe chuyển bánh. Vậy là chén đậu hũ tuột khỏi tay Thầy, đổ đầy áo thầy Chơn Trí. Trên xe, Thầy đưa tay vẫy chào bạn và khóc rất nhiều. Cho đến lúc chiếc xe khuất hẳn, thầy Chơn Trí mới ra về. Một chuyến đi của khát khao tìm một con đường mới, nhưng vẫn còn rất mơ hồ, chưa biết được gì không nhưng đã phải xa thầy tổ, xa bạn bè thân thiết, xa người giáo thọ trẻ Trọng Ân hiền lành và hiểu được những đứa em tăng sinh. Tôi quỳ một bên và nghe giọng kể của thầy Chơn Trí, trong chất giọng ấy còn đủ đầy hình bóng của người bạn nức nở khóc khi xe lăn bánh và chén đậu hũ ướt đẫm cả vạt áo mình… Ngày hôm sau, anh chị em chúng tôi về chùa Phước Điền thăm thầy Chơn Trí, lại được nghe nhiều câu chuyện vui và hay do thầy Chơn Trí kể, đi kèm theo từ “bí mật”. Chúng tôi cảm thấy rất biết ơn khi được nghe những câu chuyện dễ thương về tình huynh đệ của mấy mươi năm về trước.

Sum họp

26 tháng 10 năm 2018, Thầy về đến Việt Nam. 28 tháng 10, Thầy về đến Tổ đình Từ Hiếu. Chúng tôi thỉnh Thầy xuống xe. Thầy chào đại chúng và ra dấu cho thị giả đẩy xe đi tiếp đến cổng tam quan chùa Tổ. Thầy chắp tay chào chùa Tổ. Tăng ni và Phật tử cư sĩ đứng hai hàng dài. Thầy ra hiệu dừng lại, ra hiệu cho mọi người dạt ra hai bên để Thầy có thể nhìn thấy toàn bộ cổng tam quan. Chúng tôi đứng đó, bên cạnh Thầy, và nhận ra hình bóng sư chú Phùng Xuân mỗi lần từ Phật học đường Báo Quốc hay đi đâu xa được về thăm chùa, thăm Sư Cố Thanh Quý, thăm huynh đệ, thường dừng lại một lúc trước cổng tam quan, trước hồ bán nguyệt để ngắm nhìn khung cảnh thanh bình ở đây, để thấm sâu hơn cảm giác về nhà của một người xuất sĩ trẻ. Lúc đó, tôi cảm nghe trong khung cảnh đông đảo ấy chỉ còn lại bóng dáng một sư chú trẻ với ngôi cổ tự rêu phong mà không thêm bất kỳ một âm thanh rộn ràng hay một hình ảnh náo nhiệt nào khác nữa. Dừng lại một lúc lâu, Thầy ra dấu đi tiếp. Đoàn thị giả đưa Thầy vào cửa giữa cổng tam quan. Thầy chạm bàn tay một cách cẩn trọng vào bức tường sạm màu theo thời gian. Chúng tôi nhìn bàn tay Thầy. Chúng tôi nhìn thấy dấu ấn linh thiêng của sự trở về.

Chùa Tổ đẹp quá. Thầy dành nhiều thời gian để thăm từng ngõ ngách.

Có cây khế hơn trăm tuổi cho trái vàng cam, yên lắng giữa sân chùa. Cây khế gắn bó với Thầy từ lúc Thầy mới vào chùa và trong lúc thị giả cho Sư Cố Thanh Quý. Cây khế ấy đã đi vào trong văn thơ của Thầy. “Ở chùa Từ Quang có một thầy tên là Trọng Ân, một ông thầy tu thật hiền, thật đẹp. Thầy này là thi sĩ, thơ của thầy được nhiều cô nhiều chú học thuộc lòng. Bút hiệu của thầy là Trúc Diệp, nghĩa là lá tre. Tết nào thầy cũng lên chùa tổ thăm Sư Ông và thăm chú Phùng Xuân. Tết nào thầy cũng được Sư Ông ban cho một trái khế. Khế được đặt trên một cái đĩa trắng. Có cả một con dao con. Dao chỉ để gọt khía và cắt hai đầu. Rồi ta xẻ khế ra thành từng múi, cầm tay mà ăn. Không bao giờ cầm dao cắt khế thành từng lát hình ngôi sao. Khi thầy Trúc Diệp ra về, chú Phùng Xuân thường hái thêm một trái khế thứ hai để thầy ấy mang về Từ Quang, chưng trong phòng “cho đẹp”. Trái khế này thường được hái kèm theo vài chiếc lá khế”. (Con nghé nhỏ đuổi chạy mặt trời – Thầy Làng Mai). Thầy rất thích ngồi yên ngắm nhìn cây khế nơi chiếc bể cạn có hòn non bộ xưa rêu phủ ấy. Những chiếc lá khế thỉnh thoảng chao nghiêng rơi xuống. Trái khế vàng cam lủng lẳng trên cây. Thầy đưa tay chạm vào một vài trái khế thấp và áp vào má. Có những hôm trời mưa lất phất, Thầy vẫn muốn dạo quanh dưới cội khế già. Thầy đang dạo chơi cùng Sư Cố, cũng như chúng tôi đang dạo chơi cùng Thầy.

Và rồi thế nào Thầy cũng ra dấu để chúng tôi mở cửa đưa Thầy vào thăm liêu Sư Cố. Chiếc giường Sư Cố thường nằm nghỉ vẫn còn đó. Thầy rất thích thị giả đưa Thầy đến sát chiếc giường mộc mạc ấy để Thầy được nhìn thật lâu và thật kỹ. Thầy chắp tay chào như Sư Cố vẫn ngồi đó mỗi lần Thầy có dịp về thăm. Bức chân dung Sư Cố mà Thầy cúng dường mấy mươi năm trước được thờ ngay giữa liêu. Thầy dừng lại lâu hơn, ngắm nhìn bức chân dung và đưa tay ra hiệu cho các học trò của mình cùng chiêm ngưỡng. Có những lúc Thầy kính cẩn chắp tay thật lâu trước bức chân dung ấy.

Ngày xưa, lúc Thầy ra nước ngoài vận động hoà bình cho quê hương, Thầy hứa với Sư Cố rằng Thầy đi rồi Thầy sẽ trở về. Sư Cố, sau đó, vẫn thường hay chống chiếc gậy nhìn xa xa và hỏi thị giả đứng hầu bên cạnh: “Thầy (Nhất Hạnh) về chưa?”. Một câu hỏi của tình thương và tin cậy mà Sư Cố dành cho người học trò của mình. Năm Sư Cố tịch, Thầy vẫn còn ở nước ngoài, không về được. Thầy buồn lắm. Thầy không được gặp Sư Cố bằng xương bằng thịt thêm một lần nào nữa cả. Câu hỏi: “Thầy (Nhất Hạnh) về chưa?” vẫn còn đó. Và hôm nay, mỗi lần nhìn thấy hình bóng Thầy ngồi yên hay chắp tay trước chiếc đơn trong liêu hay trước chân dung Sư Cố, tôi đã nghe trong gió chiều tiếng Thầy thưa với Sư Cố: “Bạch Thầy, con đã về rồi, con đã thực sự trở về rồi”. Thầy trở về như một người đệ tử xứng đáng với chư Tổ, với Sư Cố. Thầy về chùa Tổ là Thầy về nhà, về với nghĩa tình, Thầy về với từng bàn tay chạm nhẹ vào cổng tam quan, chạm nhẹ vào chiếc giường đơn sơ Sư Cố nghỉ, chạm nhẹ vào những chiếc đơn xưa từng là chỗ ngồi chơi hay chỗ nằm ngủ của sư chú Phùng Xuân và huynh đệ một thời, chạm vào từng chiếc lá khế ký ức… Cổng tam quan ấy, chiếc giường ấy, chiếc đơn ấy, chiếc lá khế ấy, từ xa xưa cho đến hôm nay, đã có mặt và chứng kiến cho một tấm lòng thủy chung, ân nghĩa. Bài học của sự trở về ấy, Thầy đang dạy cho chúng tôi từ những biểu hiện giản đơn nhất.

Tôi nhớ, lúc tôi xin phép Thầy tôi để rời Kim Sơn qua Làng Mai thực tập, tôi đã viết cho Thầy tôi những bức thư, tôi cũng đã nói: “Con đi rồi con sẽ trở về”. Lúc viết câu đó, tôi chưa được nghe câu chuyện cảm động tình nghĩa thầy trò giữa Sư Cố Thanh Quý và Thầy.

Ngày về

Về Huế lần này, tôi dành thời gian để về Kim Sơn thăm Thầy tôi, người đã cho tôi xuất gia và tác thành đời sống xuất sĩ. Đây là lần đầu tiên sau khi đi tu, có mặt tại Huế Huế mà tôi lại không ở Kim Sơn. Mỗi lần nghĩ đến điều này, tôi biết ơn Thầy tôi lắm. Thầy đã chấp nhận, đã âm thầm yểm trợ cho lý tưởng và con đường của tôi với tư cách một vị thầy dành cho một đệ tử. Núi đồi Kim Sơn bao giờ cũng đẹp, cũng an tịnh. Mùa này, hoa nứt nẻ tím nở thành từng cụm quanh vườn. Mấy chậu mai trong sân chùa đã bắt đầu nở. Tôi thích đứng ở một góc nào đó tại Kim Sơn ngắm mưa. Tôi thích đi dạo ra trước tháp thầy Trí Thuyên. Đọc Việt Nam Phật giáo sử luận hay Bây giờ mới thấy, hoặc trong những bài pháp thoại, tôi biết Thầy và thầy Trí Thuyên là bạn thân của nhau. Năm 2016, tôi may mắn được làm thị giả cho Thầy. Khi nhận tin, tôi khá bất ngờ, lúc đó đang trong thời điểm làm biếng mười ngày sau khóa tu xuất sĩ. Và còn bất ngờ hơn khi tôi khám phá ra, ngày tôi bắt đầu làm thị giả cho Thầy, thì ở Kim Sơn, đại chúng cũng đang tưởng niệm 69 năm ngày thầy Trí Thuyên viên tịch. Tôi có viết trong sổ công phu rằng: “Kính bạch thầy Trí Thuyên, trong thâm sâu tâm linh con biết rằng, thầy đã gọi con lên làm thị giả cho Sư Ông. Con tin rằng Thầy của con hiện tại ở Kim Sơn cũng sẽ cảm thấy rất vui lòng vì điều này”.

Những chậu mai vàng ở Kim Sơn cũng bắt đầu nở. Nhìn lại những tháng năm đi qua cuộc đời, tôi lại nhớ đến câu thơ của thầy Hoàng Bá: “Bất thị nhất phiên hàn triệt cốt. Tranh đắc mai hoa phốc tị hương”.

Thầy Nguyên Tịnh

Tìm về giếng nước thơm trong

(Sư cô Hiến Nghiêm, người Anh, xuất gia trong gia đình Cây Lê vào năm 2008 và hiện đang là một giáo thọ trẻ của Làng Mai. Dưới đây là những cảm nhận của sư cô về chuyến thăm chùa Tổ lần đầu tiên kể từ khi xuất gia. Bài viết được Ban biên tập chuyển ngữ từ tiếng Anh.)

Khi nhân viên xuất nhập cảnh mời con bước qua một bên ở sân bay Tân Sơn Nhất, trong một tích tắc tim con như ngừng đập. Visa của con có một sự khác biệt.

Từ sau sự kiện tu viện Bát Nhã năm 2008, đây là lần đầu tiên các vị xuất sĩ Tây phương trở lại Việt Nam. Chúng con đã ý thức rằng có thể đây sẽ là một chuyến đi không dễ dàng. Mười bảy năm trước lần đầu tiên tìm thấy Làng Mai, con đã luôn khao khát được về thăm chùa Tổ. Thế nhưng, con cũng đã sẵn sàng để chấp nhận rằng có lẽ “nhân duyên chưa đầy đủ”.

Con lập tức nhớ lại lần con tiếp xúc với nhân viên sở di trú của Mỹ năm 2011. Đó là lần đầu tiên con nhập cảnh vào Mỹ dưới hình thức một tu sĩ Phật giáo để tham gia chuyến hoằng pháp của Thầy và đại chúng. Nhân viên sở di trú đã mời con bước qua một bên, giữ con trong một cái phòng cùng với “những người di trú bất hợp pháp” khác trong vòng một giờ đồng hồ, và sau đó thẩm vấn con một cách gay gắt. “Tại sao cô…. như thế này?” – một nhân viên tra hỏi con trong khi chỉ vào cái đầu cạo trọc và áo người tu của con. “Đó không phải là truyền thống của cô!” – một người khác la thêm. Con đã trở về với hơi thở trước khi trả lời những câu hỏi giận dữ của họ. Nhưng thay vì làm cho tình huống trở nên lắng dịu, hành động đó của con đã làm cho họ giận dữ thêm.

Lần này, kinh nghiệm ở Việt Nam của con khác hơn. Sau một giờ đồng hồ kiên nhẫn chờ, con đi tới quầy xuất nhập cảnh và cố gắng sử dụng vốn tiếng Việt ít ỏi của con – con xưng “con” và gọi người nhân viên đó là “chú”. Con cười. Và con thở. Năm phút sau, người nhân viên đó đưa lại hộ chiếu cho con, đã được đóng dấu nhập cảnh.

Cuối cùng khi ra khỏi sân bay Huế, chúng con đã gặp những nụ cười và những bàn tay vẫy chào rất vui vẻ của quý sư cô Diệu Trạm và quý thầy Từ Hiếu. Thật đặc biệt đối với chúng con khi lần đầu tiên có một chuyến đi về chùa Tổ, về cội nguồn của truyền thống Làng Mai. Đó gần như là một chuyến hành hương. Chúng con đi “ngược về nguồn”, nơi đã nuôi dưỡng trái tim và tâm linh của Thầy. Về với mảnh đất nơi Thầy đã tiếp xúc với sự giản dị, tĩnh mặc, ấm áp tình huynh đệ và một liên hệ thầy trò rất thân thương. Nơi mà tiếng tụng kinh trầm hùng sáng tối đã nuôi dưỡng và tạo cảm hứng cho cuộc đời xuất gia của Thầy.

Phái đoàn Tây phương chúng con gồm có năm vị: sư cô Diệu Nghiêm (người Hà Lan gốc Ái Nhĩ Lan), thầy Pháp Hải (người Mỹ gốc Úc), sư cô Bi Nghiêm (người Đức), thầy Pháp Xả (người Hà Lan), thầy Ngộ Không (người Croatia gốc Đức) và sư chú Trời Minh Dung, một sa di trẻ người Mỹ – đây cũng là chuyến đi đầu tiên của sư chú ra khỏi nước Mỹ. Đi cùng đoàn còn có thầy Pháp Hội, sư cô Hương Nghiêm, sư cô Đắc Nghiêm từ Lộc Uyển, sư cô Thanh Ý từ Làng Mai, và thầy Pháp Khôi, thầy Pháp Không từ Bích Nham. Chúng con cùng về để đảnh lễ và dâng lên Thầy tấm lòng kính thương của chúng con.

Không có từ ngữ nào diễn tả được cảm giác khi lần đầu tiên chúng con nhìn thấy cổng tam quan, cây cối và hồ Bán Nguyệt tuyệt đẹp ở chùa Tổ. Một sự im lặng thâm sâu, ngập tràn khi chúng con trở về với hơi thở yên lắng trong mỗi bước chân. Trái tim con tràn đầy niềm biết ơn. Con biết ơn mỗi hòn đá xanh rêu, mỗi ngôi tháp cổ, mỗi con đường quanh co nơi đây. Thầy được làm bởi những yếu tố không phải là Thầy, và chùa Tổ là một trong những yếu tố này.

Ngay lập tức rất sâu trong lòng con dâng lên một cảm giác được trở về nhà. Nhưng con tự hỏi, làm sao mình lại có cảm giác về nhà ở một nơi cách nơi mình sinh ra gần nửa vòng trái đất? Con nhớ lần đầu tiên đến Làng Mai con cũng đã có cảm giác đó và con rất ngạc nhiên với chính mình. Cái cảm giác cuối cùng mình đã đáp xuống, đã tìm thấy một chỗ để gối đầu, và một cộng đồng gồm các bậc thiện tri thức để nương tựa và học hỏi.

Con nhớ Thầy từng kể câu chuyện lên núi tìm ông đạo khi Thầy còn nhỏ và Thầy đã tìm thấy giếng nước thơm trong. Thầy thường hỏi thính chúng trong Pháp đường: “Quý vị đã tìm thấy ông đạo của quý vị chưa? Quý vị đã tìm thấy giếng nước thơm trong của quý vị chưa? Ông đạo có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức. Vấn đề ở đây là quý vị có nhận diện ra được ông hay không?”.

Về thăm chùa Tổ lần đầu tiên, vậy mà con lại có cảm giác thân quen với nơi này quá đỗi, như thể con đang bước đi trong một giấc mơ, một cái gì đó mà con đã từng cảm nhận nhưng chưa bao giờ được gặp. Con vô cùng biết ơn hơi thở đã giúp con nhớ rằng giờ phút này rất thật. Ngỡ bây giờ là bao giờ, rõ ràng trước mắt còn ngờ chiêm bao. Sư cô Chân Không đã thỉnh chuông cho chúng con lạy, trán chúng con tiếp xúc với nền đá lạnh: chúng con đã về và đang tiếp xúc với chư Tổ. Chúng con được thăm liêu của Sư Cố Thanh Quý Chân Thật – Bổn sư của Thầy và lạy trước bàn thờ Sư Cố. Bước ra khỏi cánh cửa mà ngày xưa Thầy đã được Sư Cố dạy cách đóng cửa, chúng con qua Tổ đường để lạy Tổ và ngắm nhìn cây khế già đang trĩu quả giữa sân.

Con có cảm giác như con đã được “ăn quả” Từ Hiếu từ khi mới đến Làng Mai mười bảy năm về trước. Con đã được nuôi dưỡng bởi tất cả các pháp thực tập mà Thầy đã tiếp nhận từ nơi đây như phép thực tập thiền hành, các bài thi kệ nhật dụng, rửa chén và đóng cửa trong chánh niệm. Có lẽ chính vì được “ăn quả” của chùa Tổ trong một thời gian dài nên con mới có cảm giác thân thuộc khi cuối cùng được gặp cái cây đã cho những quả ngon ngọt ấy. Đi thiền hành dọc các hồ Bán Nguyệt, Sao Mai, Sao Hôm và trên những con đường mòn quanh chùa Tổ, con có thể cảm nhận được bầu không khí – mặt trời trí tuệ và mưa pháp – đã nuôi dưỡng cái cây ấy.

Thầy Trời Ngộ Không và sư chú Trời Minh Dung được chia làm việc, quét dọn các tháp trước ngày giỗ Tổ. Thầy Ngộ Không nói là thầy chưa bao giờ có nhiều niềm vui và hứng thú như vậy khi được cầm chổi và quét dọn tháp Tổ! Đây là mảnh đất thiêng mà ai cũng có thể cảm nhận được. Tất cả các đệ tử xuất gia người Tây phương của Thầy đều mơ ước có cơ hội được về và tiếp xúc với mảnh đất này.

Chúng con đã có cơ hội được đảnh lễ và ngồi chơi với Thầy trong im lặng. Thầy đưa tay ra nắm tay hoặc xoa đầu chúng con. Quý thầy dâng quà lên Thầy. Sư cô Bi Nghiêm đã được đẩy xe lăn khi Thầy đi dạo ra ngoài; Sư cô Diệu Nghiêm thì được mời đọc cho Thầy nghe một đoạn trong sách của Thầy.

Nhưng dường như Thầy không chỉ ở đó trong thất của Thầy. Thầy có mặt khắp nơi – trong tiếng chim hót, trong cỏ cây, trong không khí thật đẹp và nhẹ nhàng nơi này. Trong khóa tu 21 ngày năm 2014, Thầy dạy rằng Thầy có ít nhất là tám thân và nhục thân này chỉ là một trong những thân của Thầy mà thôi. Thầy chỉ về hướng Thầy và nói: “Khi quý vị nhìn vào hướng này và nói rằng đây là Thầy, điều đó không hoàn toàn đúng. Đây chỉ là một phần rất nhỏ của Thầy. Quý vị phải có khả năng thấy được thân tiếp nối của Thầy ngay bây giờ”.

Vậy là câu “Thầy đang ở đâu?” trở thành câu thần chú của con. Con giống như một đứa trẻ đang chơi trò chơi trốn tìm. Con cố gắng nhớ rằng nơi chắc chắn nhất để tìm thấy Thầy, thực tế, không phải ở trong thất của Thầy ở đằng kia. Nhưng thật không dễ để có được con mắt vô tướng khi mình ở rất gần, và cũng một phần mình biết chắc Thầy đang ở ngay kia trong thất của Thầy. Dù sao đó cũng là một sự rèn luyện hữu ích: thực tập để thấy Thầy đang có mặt ở khắp mọi nơi. Thầy có đó – bất cứ nơi nào có Pháp thân của Thầy – như khi thầy Pháp Hải, sư cô Diệu Nghiêm và sư cô Hỷ Nghiêm cho vấn đáp trong ngày quán niệm cho hơn 300 cư sĩ, trong đó có một số người từ Hà Nội vào. Thầy có đó ngay trong những câu trả lời sâu sắc và sáng tỏ của quý thầy, quý sư cô. Thầy có đó trong Tăng thân của Thầy, trong các sư em trẻ đang ngồi ngay bên cạnh con, vui tươi và đầy cảm hứng như dòng suối mát trong. Và Thầy có đó trong thân-ngoại-thân của Thầy, trong những cuốn sách và những bức thư pháp của Thầy ở Băng Cốc, và trong các gia đình nơi mà những cuốn sách và thư pháp này có mặt, thậm chí có thể trong các nhà tù, hay nơi mà những bài pháp thoại của Thầy qua YouTube đang được lắng nghe. Thầy còn có mặt trong thân tiếp nối của Thầy, trong “văn hóa tâm linh” mà Thầy đã tạo dựng nên từ gốc rễ tâm linh Việt Nam. Thân tiếp nối ấy vẫn đang tiếp tục lớn lên, phát triển mỗi ngày khi tăng thân ngày càng khám phá ra nhiều cách thức mới để những pháp môn thực tập có thể ứng dụng được khắp nơi trên thế giới.

Nhưng có lẽ món quà sâu sắc nhất đối với chúng con khi ở Huế là cảm nhận về thân vũ trụ của Thầy đang hiện diện ở nơi đây, trong cỏ cây, sỏi đá, trong những cơn mưa và tiếng chim hót, trong tổ tiên đất đai, tổ tiên tâm linh của Thầy và trong mảnh đất cố đô xinh đẹp. Con cảm thấy vô cùng biết ơn sự can đảm và lòng từ bi của Thầy khi quyết định trở về Huế. Nhờ đó mà tất cả chúng con – những đệ tử của Thầy – dù sinh ra ở đâu trên hành tinh này, cũng có một nơi để trở về, để được gần gũi và tiếp xúc sâu hơn với cội nguồn tâm linh.

Chân Hiến Nghiêm

Mẹ, suối nguồn tâm linh

 

Tôi còn nhớ, cách đây sáu tháng, khi tôi báo với má là tăng thân đã quyết định chọn tu viện dòng thánh Biển Đức (Benedict) ở Verdelot làm nơi xây dựng trung tâm thực tập mới cho quý thầy. Má đã thở phào nhẹ nhõm và thốt lên mừng rỡ: “Lạy Chúa, ước mong tha thiết nhất của con từ bao lâu nay đã thành hiện thực”.

Má tôi là một tín hữu Công giáo rất thuần thành. Từ khi thành hôn với ba tôi, má đã luôn mong ba cải đạo nhưng ba không chấp thuận vì ba muốn giữ truyền thống thờ ông bà tổ tiên của người Việt. Thế là các anh em chúng tôi đều được rửa tội và nhận tên thánh. Nhưng lớn lên, chúng tôi “xa dần” nhà thờ. Việc tôi trở thành tu sĩ Phật giáo theo truyền thống Làng Mai là một cú sốc lớn cho má. Má đã coi quyết định này của tôi như một sự chống đối ra mặt, thậm chí là một sự phản bội! Thực chất má nghĩ như vậy cũng không sai gì mấy vì lúc ấy tôi cũng khá gàn! Những năm gần đây, dù rất hài lòng tới thăm tôi ở Làng Mai, nhưng sâu xa trong lòng, má vẫn muốn tôi làm một thầy tu Công giáo.

Bây giờ đây, huynh đệ chúng tôi gồm 12 người (trong đó một nửa là người Việt Nam, nửa còn lại là người Pháp, người châu Âu hoặc châu Á), đến xây dựng tăng thân tại tu viện mới mang tên Suối Tuệ ở Verdelot. Việc này đã làm tan biến hết nỗi muộn phiền sâu kín trong lòng má: cuối cùng thì con trai má cũng được sống và thiền tập dưới mái nhà của Chúa! Thậm chí má tôi còn có ý định tới ở lâu dài tại Verdelot.

Vào thời Trung cổ, làng Verdelot đã từng là địa điểm hành hương nổi tiếng vì có đền thờ tượng “Đức Mẹ Đen” (The Black Virgin-La Vierge Noire). Tượng làm bằng gỗ và thường có màu đen mun. Nhưng ở Verdelot, tượng Đức Mẹ Đen lại bằng gỗ màu nâu sòng, cùng màu với màu áo tu của quý thầy thuộc truyền thống Phật giáo Việt Nam. Phải chăng đây cũng là một điềm lành tiền định? Các tín hữu Kitô giáo ngoan đạo rất tin tưởng vào hiệu lực cầu nguyện và linh ứng của Đức Mẹ Đen. Ngày nay, hằng năm truyền thống hành hương và rước kiệu Đức Mẹ Đen này vẫn còn được lưu giữ ở Verdelot. Tiền thân của Suối Tuệ là tu viện của các sơ dòng Thánh Augustino (Saint Augustin) trong suốt một trăm năm của thế kỷ 20. Xưa hơn nữa, từ thế kỷ 11 tới thế kỷ 17, nơi này là thánh địa của các cha dòng thánh Benedict.

Với tôi, dù mang chiếc áo dài nâu của một thầy tu trong truyền thống đạo Bụt Việt Nam, tôi luôn thấy thoải mái mỗi khi có dịp đưa má đi lễ nhà thờ hay đi thăm các linh mục, bạn của má. Giờ đây, tôi cảm thấy rất hạnh phúc, xen lẫn tự hào, khi được treo cây thánh giá ở ngay trên đầu giường tôi, gần bàn thờ Bụt. Cây thánh giá này được sư cô Giác Nghiêm – trụ trì Thiền đường Hơi Thở Nhẹ – tìm thấy chính tại đây, dưới tầng hầm, trong lần đi thăm để mua lại tu viện này.

Từ lúc chúng tôi bắt đầu chương trình gây quỹ cũng như trong quá trình mua lại tu viện cho tới bây giờ, khi anh em chúng tôi đang dần ổn định đời sống mới ở đây, tôi thấy huynh đệ chúng tôi như được ban phúc lành từ chư vị tổ tiên của chốn này. Chúng tôi cảm nhận rất nhiều bình an và tình thương từ các vị tiền bối đã từng tu tập và cầu nguyện ở chính nơi đây trong nhiều thế kỷ qua. Đặc biệt là năng lượng thương yêu, bảo bọc của Đức Mẹ Maria mà chúng tôi cảm được qua bức tượng của Người. Tượng rất đẹp, cao 1m20, được đặt trong một hốc tường trên mặt tiền chính của tu viện. Không bao lâu nữa, Suối Tuệ sẽ được đón nhận tượng Bồ tát Đại bi Quan Thế Âm do một tăng thân cư sĩ ở Việt Nam cúng dường. Chúng tôi dự định sẽ đặt tượng trong khuôn viên tu viện cạnh hồ sen. Và như thế, mỗi ngày, những bước chân thiền hành của huynh đệ chúng tôi ở tu viện Suối Tuệ sẽ luôn được cả hai đức Mẹ cùng dẫn dắt.

(Chân Pháp Liệu)

Tổng Quan Đại Tạng 1989

01Tổng Quan Đại Tạngmp3
02Tổng Quan Đại Tạngmp3
03Tổng Quan Đại Tạngmp3
04Tổng Quan Đại Tạngmp3
05Tổng Quan Đại Tạngmp3
06Tổng Quan Đại Tạngmp3
07Tổng Quan Đại Tạngmp3
08Tổng Quan Đại Tạngmp3
09Tổng Quan Đại Tạngmp3
10Tổng Quan Đại Tạngmp3
11Tổng Quan Đại Tạngmp3
12Tổng Quan Đại Tạngmp3
13Tổng Quan Đại Tạngmp3
14Tổng Quan Đại Tạngmp3
15Tổng Quan Đại Tạngmp3
16Tổng Quan Đại Tạngmp3
17Tổng Quan Đại Tạngmp3
18Tổng Quan Đại Tạngmp3
19Tổng Quan Đại Tạngmp3
20Tổng Quan Đại Tạngmp3
21Tổng Quan Đại Tạngmp3
22Tổng Quan Đại Tạngmp3
23Tổng Quan Đại Tạngmp3
24Tổng Quan Đại Tạngmp3
25Tổng Quan Đại Tạngmp3
26Tổng Quan Đại Tạngmp3
27Tổng Quan Đại Tạngmp3
28Tổng Quan Đại Tạngmp3
29Tổng Quan Đại Tạngmp3
30Tổng Quan Đại Tạngmp3
31Tổng Quan Đại Tạngmp3
32Tổng Quan Đại Tạngmp3
33Tổng Quan Đại Tạngmp3
34Tổng Quan Đại Tạngmp3
35Tổng Quan Đại Tạngmp3
36Tổng Quan Đại Tạngmp3
37Tổng Quan Đại Tạngmp3
38Tổng Quan Đại Tạngmp3
39Tổng Quan Đại Tạngmp3
40Tổng Quan Đại Tạngmp3
41Tổng Quan Đại Tạngmp3
42Tổng Quan Đại Tạngmp3
43Tổng Quan Đại Tạngmp3
44Tổng Quan Đại Tạngmp3
45Tổng Quan Đại Tạngmp3
46Tổng Quan Đại Tạngmp3
47Tổng Quan Đại Tạngmp3

 

Hoa Nắng

 

… Gom lại những vệt nắng vàng của mùa hè

Buổi sáng, đang ươm mầm cho những con chữ viết về xóm Trung. Mời hết những kỷ niệm đẹp đẽ, vui tươi, xúc động nhất trong ký ức của mình lên để viết về xóm Trung như một lời tri ân. Tri ân một giai đoạn đẹp đẽ trong những ngày nắng hè. Tri ân những người bạn xuất sĩ cũng như cư sĩ, những người đã có mặt, sẻ chia với mình những khoảnh khắc đó.

… Vệt nắng thương yêu

Cún

Cún đến từ nước Ba Lan, mới bốn tuổi thôi, Cún cùng đi với bố mẹ, đến xóm Trung vào một buổi chiều nắng vàng và cả nhà Cún cắm lều. Đôi mắt Cún đẹp mà cũng có nét trầm tư. Lúc nào cũng nắm tay, khép nép bên cạnh bố mẹ, ít chơi với quý thầy, quý sư cô.

Vậy mà ngày Cún về, các thầy, các sư cô đang ngồi ăn sáng ngoài sân, Cún đến ôm từng thầy, từng sư cô. Lúc đó, con đang ở ngoài lều, vội vàng chạy vào tiễn Cún. Cún đã lên xe. May mà xe chưa lăn bánh, con chạy ra xe và kêu Cún ơi! Đang ngồi trong lòng mẹ, không đợi nhắc, Cún bước ra và ôm con. Ôm Cún trong tay mà cảm thấy niềm xúc động, ấm áp dâng lên trong lòng. Sống chung với nhau có một tuần, ít nói chuyện, nhưng một đứa nhỏ như Cún cũng cảm được tình thương yêu và bày tỏ tình thương yêu một cách dịu dàng.

Con nít hay người lớn, cảm được tình thương yêu chân thành đều nở ra như một đóa hoa gặp nắng.

Trẻ em thích nhất là êm

Người lớn cũng vậy cần thêm dịu dàng

Yêu thương là đốm nắng vàng

Trên lưng chú chó lang thang chiều hè.

(Ra vườn nhặt nắng – thơ Nguyễn Thế Hoàng Linh)

Mẹ

“Sao mẹ thấy quý thầy, quý sư cô ai cũng hay cười, ai cũng dễ thương, chỉ có một mình con là lúc nào cũng nhăn?”. Trước lời “tuyên ngôn” của mẹ, con chỉ biết ngậm ngùi. Chẳng lẽ nói: “Ba mẹ của các thầy, các sư cô đó chắc cũng nói y chang như mẹ khi họ gặp con của họ”. Bụt nhà không thiêng mà!

Kết quả của chuyến mẹ thăm Làng là con nhận được hai lá “thư soi sáng” từ mẹ!

Con biết trong lòng của mẹ, con lúc nào cũng là đặc biệt nhất. Mẹ nhìn con, lúc nào cũng thấy con dở nhất… vì con biết mẹ lúc nào cũng mong con hoàn thiện bản thân mình, để trở thành một sư cô tốt và đẹp nhất… hành tinh!

Những ngày ở xóm Trung là những ngày vui của mẹ, được sống gần con, được sống gần quý thầy, quý sư cô và sống trong không khí tu tập của toàn những người nói tiếng Việt. Hai mẹ con mình đã có những khoảnh khắc dễ thương, nhất là lúc mẹ được ra lều chơi, nằm ngoài lều đọc sách, nghe mưa. Chắc đây cũng là lần đầu tiên mẹ được sống gần với thiên nhiên như vậy.

Thời gian ở Làng của mẹ là một món quà mà con và các em đã dành tặng cho mẹ. Thương mẹ vất vả và khổ tâm nhiều rồi! Con rất vui khi mẹ về đến Việt Nam, mẹ nhắn tin cho con, nói rằng thời gian ở Làng là thời gian hạnh phúc nhất của mẹ. Mẹ về sẽ cố gắng giữ gìn sức khỏe, tu tập và nghĩ đến con, nghĩ đến quý thầy, quý sư cô mỗi khi thấy lòng không vui!

Lần đầu

Tham vấn

“Thầy ơi, cho bạn này tham vấn nha. Câu hỏi cũng khá là… phức tạp… phù hợp với một người khá là… đơn giản như thầy”.

Thầy đang ngồi vót tre, chuẩn bị làm lồng đèn trung thu, mỉm cười, nói: “Đâu đưa coi coi”. Coi xong, thầy trả lại, nói: “Thôi! Khó quá, mình làm không được đâu, không có kinh nghiệm đâu”.

Con năn nỉ không được, thôi, cầm về, nghĩ bụng: “Chắc mình lại phải tự cho các em tham vấn hết quá. Ở Làng Mai có điểm đặc biệt đó mà, ai đưa ra ý gì thì cũng đồng nghĩa với chuyện tự thực thi ý tưởng đó luôn”.

Tới chiều chiều, gặp lại thầy, thầy hỏi: “Đâu, đưa câu hỏi coi lại coi”.

Con quay mặt, giấu đi nụ cười. Vậy là thầy đã trải qua quá trình suy nghĩ và quyết định: Lần đầu cho tham vấn.

Kết quả của buổi tham vấn, con không kể ra đây đâu, nhưng con có thể bật mí là: mầu nhiệm lắm!

Dâng hương

Ngày truyền Năm giới cuối khóa tu, buổi lễ bắt đầu từ tờ mờ sáng, đại chúng đã ngồi yên, y áo chỉnh tề. Thầy tri chung thỉnh hai tiếng chuông xả thiền để bắt đầu đứng lên dâng hương làm lễ. Khi tiếng khánh vừa dứt để đại chúng xá nhau và xoay về bàn thờ Bụt, con tò mò nhìn sang coi ai là người dâng hương cho buổi lễ hôm nay. Những buổi lễ, đối với con là những lần khám phá tài năng của anh chị em, những giọng tụng kinh, xướng tán,… lúc nào cũng đưa con đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác.

Rồi con thấy một thầy bước ra… uy nghi đĩnh đạc, đường bệ… thầy là người to lớn nhất xóm Trung trong mùa hè này. Theo quán tính, con nhìn về phía dàn âm thanh, loay hoay tính nhắn tín hiệu cho ai đó đang đứng gần giảm âm lượng xuống một chút. Vì con nghĩ, chắc giọng dâng hương của thầy sẽ rất to, nếu cộng thêm sự khuếch đại của dàn âm thanh chắc “banh” cái chánh điện. Đang lo lắng thì thầy cất giọng lên… mèn đét ơi… có ai ngờ giọng của người khổng lồ mà lại nhỏ xíu như “tiếng tơ đồng”. Đúng là tri giác vẫn thường hay sai lầm mà: tưởng là tiếng hổ gầm ai ngờ là tiếng mèo meo… Hỏi ra thì mới biết: lần đầu, thầy hồi hộp!

Lam

Không biết cái tin từ đâu mà rất nhiều người nghĩ rằng Làng Mai là trung tâm chuyển hóa. Ba mẹ không hài lòng về con cái, không biết làm sao, mang nó đến Làng Mai tham dự khóa tu. Vợ thấy khó khăn với chồng, không biết làm sao, mang ổng đến Làng Mai. Hình như Làng Mai như một cái máy, vô đầu này nhăn nhó, ra đầu kia sẽ tươi tắn hay sao đó! Kỳ lạ thiệt!

Tuần thứ hai của khóa tu mùa Hè, có một trường hợp khác. Anh Lam xuất hiện từ Hà Lan, mang bố mẹ theo, đến Làng tham dự khóa tu. Cả ba người đều lần đầu tiên đến xóm Trung. Sau những ngày sinh hoạt, câu chuyện dần được mở ra. Trong những buổi pháp đàm, Lam rất ít nói và khi nói thì cùng một nội dung: “Con muốn đi tu, xin quý thầy, quý sư cô hướng dẫn thêm cho con. Lần này, con mang bố mẹ của con đến xóm Trung. Con muốn bố mẹ con biết, thấy và hiểu thêm chút nào về con đường mà con sắp chọn, về môi trường mà con sắp tham dự vào”.

Còn bố mẹ của Lam thì: “Chẳng biết cháu nó nghĩ ra sao? Nhà cửa, công việc,… tất cả đều có cả rồi. Giờ lại muốn đi tu. Thôi thì cháu nó chọn con đường của nó!”.

Trước ngày Lam tiếp nhận Năm giới, đọc phần tâm nguyện, con cảm được hết sự chân thành trong một dòng Lam viết: con cảm thấy cách sống này phù hợp với ước nguyện sống của con.

Những ngày cuối của khóa tu, bố mẹ Lam trong ánh mắt đã có thêm niềm tin tưởng. Còn Lam, trong nụ cười đã có phần yên tâm hơn.

Vui

Niềm vui của con trong một tháng ở xóm Trung không sao viết xuống cho hết được trong 2500 chữ tối đa theo quy định của báo Lá Thư Làng Mai. Chỉ có thể nói rằng ở xóm Trung ngày nào cũng có tiếng cười, có chuyện để cười và tối nào trước khi đi ngủ con cũng mỉm một nụ cười.

Tiếng cười đã bắt đầu từ những hôm đầu tiên anh chị em xuất sĩ gặp nhau để chuẩn bị mở cửa đón bà con về tu tập. Những cách sắp xếp công việc, tổ chức thời khóa tu học, chọn các trách nhiệm hướng dẫn đều rất vui. Vui vì con từ từ khám phá ra những anh chị em xuất sĩ sống xung quanh con có nhiều khả năng, chỉ cần có đúng môi trường là những tài năng đó biểu hiện. Vui vì anh chị em xuất sĩ đến từ bốn xóm khác nhau: quý thầy đến từ xóm Thượng, Sơn Hạ, quý sư cô đến từ xóm Mới, xóm Hạ. Mà mỗi xóm dù có những điểm chung nhưng cách vận hành của mỗi nơi thì quá nhiều khác biệt. Ngồi lại với nhau để thống nhất và hài hòa quan điểm, cách làm việc,… là cả một vấn đề. Có vài giây phút không khí trở nên căng thẳng vì người thì thích có thiền hướng dẫn, người thì muốn có sinh hoạt này, bỏ thời khóa kia; xóm con không làm như vậy, xóm con làm kiểu khác kia, v.v. Nhưng tự nhiên ai đó nói vui một câu không liên quan gì đến vấn đề đang họp là anh chị em hiểu ý, thở và học cách buông bỏ, hài hòa ý kiến, trở về với ý thức: tình huynh đệ và sự hòa hợp là điều quan trọng nhất!

Rồi những buổi ăn chung ngoài sân, uống trà, nói chuyện, làm việc, dọn dẹp,… là tiếng cười tiếp tục…

Rồi những ngày ngồi thiền, tụng kinh… tiếng cười lại được tiếp tục vì khám phá ra giọng hô canh, tụng kinh, dâng hương “đặc biệt” của các anh chị em. Nhiều lần con nghĩ bụng: sao cái giọng của người hô canh với người hô canh không thấy dính líu gì với nhau hết vậy kìa!

Rồi những buổi tối, sau khi ngồi thiền tụng kinh, đại chúng lên dốc cao ngắm mặt trời lặn… có những khoảnh khắc không khí cũng đầy ắp tiếng cười.

Quy tắc mình có niềm vui thì mới có thể hiến tặng niềm vui, mình có bình an thì mới hiến tặng được bình an, mình có tình thương thì mới hiến tặng được tình thương… có bao giờ sai!

Mỗi ngày tu tập, con luôn nhắc mình gom lại chút nắng vàng tươi tắn từ những hơi thở bình an, từ những bước chân ý thức, từ những tác ý thương yêu để mỗi buổi tối về tới lều, kết thúc một ngày trong niềm biết ơn sự sống và luôn biết rằng sáng mai thức dậy là một ngày để hiến tặng những gì tươi đẹp nhất!

… gom những giọt nắng vàng thành một bông hoa.

Chân Sắc Nghiêm