Còn biết ơn là còn hạnh phúc

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 27.11)

Biết ơn là điều kiện của hạnh phúc

“Thanksgiving Day” là ngày lễ tạ ơn theo truyền thống của người Mỹ. Tại Làng Mai, hàng năm, chúng ta đều tổ chức lễ tạ ơn, nhưng với một tinh thần khác. Tinh thần của sự đi sâu vào thực tập làm lớn lên lòng biết ơn để nuôi dưỡng niềm hạnh phúc trong đời sống nơi mỗi chúng ta. Bởi khi nào lòng biết ơn còn có mặt thì hạnh phúc vẫn còn. Và người đã cạn kiệt lòng biết ơn, hạnh phúc không thể còn có nơi người ấy được.
 

 
Theo truyền thống Cơ Đốc Giáo, biết ơn được hiểu là biết ơn Thượng Đế, biết ơn Chúa. Bởi theo truyền thống Cơ Đốc Giáo thì Thượng Đế đã sinh ra mình, sinh ra vạn vật, và tất cả những gì cần thiết cho cuộc sống. Còn trong truyền thống đạo Bụt, sự biết ơn được hiểu như tứ ân: cha mẹ, thầy tổ, bạn bè và mọi loài. Vì cha mẹ cho ta hình hài này, thầy tổ cho ta đời sống tâm linh, bạn bè là những người đồng hành, và nâng đỡ ta trong những lúc khó khăn, các loài hữu tình và vô tình khác mang lại cho ta những điều kiện cần thiết cho cuộc sống. Ta biết rằng, tổ tiên của mình không chỉ là loài người. Chúng ta có chung nguồn gốc với các loài động vật, thực vật và cả những loài khoáng vật. Bởi con người xuất hiện rất muộn trong lịch sử hình thành sự sống. Do vậy, lòng biết ơn không chỉ hướng đến loài người, mà cả mọi loài. Đối tượng của lòng biết ơn trong đạo Bụt rất lớn.

Người Phương Đông có quan niệm phú tải chi ân – trời che đất chở. Bầu trời ôm lấy mình, che chở mình. Còn mặt đất chuyên chở mình, là nơi cư trú của mình. Trên thì che, mà dưới thì chở – thiên địa phú tải chi ân. Đó là ý niệm về lòng biết ơn của người Đông phương. Nếu có tuệ giác, mình thấy được mọi thứ hiện hữu xung quanh đều có ơn đối với mình. Khi nhìn nước chảy từ vòi ra, mình ý thức rõ: “Nước từ nguồn suối cao. Nước từ lòng đất sâu. Nước mầu nhiệm tuôn chảy. Ơn nước luôn tràn đầy.” Trong mình sẽ dâng lên niềm biết ơn, nếu mình biết quán chiếu như vậy, rồi mình nhìn sâu để biết ơn không khí, lửa,…Niềm biết ơn của mình sẽ bao trùm vạn hữu vũ trụ.

Trong ngày tạ ơn, người Mỹ thường có truyền thống trang hoàng những trái bí rợ rất lớn, những trái dưa, những trái bắp. Đây là những quà tặng của đất trời. Quà tặng ấy ta được tiếp nhận mỗi ngày. Ta cần thể hiện lòng biết ơn 24 giờ mỗi ngày. Ngày tạ ơn chỉ là biểu trưng cho lòng biết ơn ấy. Cần thực tập để lòng biết ơn trải rộng trên khắp mọi loài. Lòng biết ơn còn bị giới hạn, chưa phải là lòng biết ơn đích thực. Chúng ta thường nghĩ, cha mẹ là người nuôi dưỡng ta nên vóc nên hình. Nhưng nhìn sâu hơn, ta có thể thấy, góp công vào sự dưỡng dục ấy còn có rất nhiều yếu tố như đất, trời,… Nếu không có đất, có mặt trời sao có được lúa gạo, sao có được bông để dệt vải,…Do vậy, ta cũng có thể gọi, mặt trời là cha chung của muôn loài, trái đất là mẹ chung của muôn loài.
 

 
Người trao truyền, vật trao tryền và người tiếp nhận

Trong triết lý của Phật giáo, chuyện cho và nhận được nhận thức rất sâu sắc. Khi quán chiếu sâu sắc, ta thấy rằng, trong quan hệ cho nhận, người cho với người nhận không phải là hai thực tại riêng biệt – Người cho cũng là người nhận, và người nhận cũng là người cho. Thực tế là vậy, nhưng ta ít khi thấy được điều này. Ví dụ, tuy mình biết, cha mẹ là người trao truyền cho mình hình hài này, nhưng mình vẫn có khuynh hướng nghĩ  mình và cha mẹ là hai thực thể riêng biệt. Cha mẹ là một thực thể khác, con là một thực thể khác. Thấy như thế thì chưa đúng với tinh thần đạo Bụt. Nhìn kỹ, hình hài này chứa đựng cả cha mẹ. Cha mẹ có mặt trong từng tế bào cơ thể của con. “Con có cha có mẹ. Cha mẹ có trong con”. Con mang đầy đủ những hạt giống, nhiễm sắc thể của cha mẹ.  Người trao truyền và vật trao truyền là một. Đây gọi là cái nhìn bất nhị – Một giáo l‎ý rất thâm sâu trong đạo Bụt.

Nếu đem cái nhìn bất nhị này áp dụng vào trường hợp của những người bạn Cơ Đốc Giáo và Do Thái Giáo, mình sẽ có được những cái thấy rất hữu ích. Các bạn Cơ Đốc Giáo và Do Thái Giáo nếu quán chiếu thật kỹ, sẽ thấy được, mình và thượng đế không phải là hai thực thể riêng biệt. Mình ở trong thượng đế và thượng đế ở trong mình. Đối với vấn đề tạo hóa và tạo vật cũng vậy. Mình hay quan niệm rằng, tạo hóa và tạo vật là khác nhau. Nhưng nếu nhìn kỹ tạo hóa sẽ thấy được tạo vật ở trong, và ngược lại. Nếu không có liên hệ, làm sao tạo hoá làm ra tạo vật được?  Nếu không có liên hệ, làm sao có sự trao truyền? Trong truyền thống Cơ Đốc, nhiều vị tu sĩ đã thấy được điều này là nhờ có cái nhìn bất nhị. Nên họ không đi tìm Thượng Đế và Chúa bên ngoài họ, bởi họ đã thấy Thượng Đế và Chúa ngay bên trong họ. Kinh Phúc Âm có dạy rằng: “Chúa, Thượng Đế nằm ở trong trái tim của mình chứ không phải là một thực thể bên ngoài mình”. Do vậy, người trao truyền chính là vật trao truyền, vì người trao truyền đã trao truyền chính mình cho người tiếp nhận. Đứng về phía người tiếp nhận vật trao truyền, họ cũng chính là vật trao truyền. Tuy nói rằng, sự trao truyền có ba yếu tố: người trao truyền, người tiếp nhận, và vật trao truyền, nhưng kỳ thực, ba yếu tố đó chỉ là một. Cái này được gọi là tam luân không tịch – tức là ba cái không có sự riêng biệt. Người trao truyền, vật trao truyền và người tiếp nhận nương nhau mà có. Một trong ba yếu tố vắng mặt thì hai yếu tố còn lại không thể được hình thành.

Ngày tạ ơn là cơ hội để thể hiện lòng biết ơn. Nhưng lòng biết ơn ấy có sâu sắc hay không, còn tùy thuộc vào cái thấy về lòng biết ơn có sâu sắc hay không? Cái thấy sâu sắc nhất chính là cái thấy bất nhị – người mình mang ơn và mình là một. Trong ngày biết ơn, không phải chỉ ý thức đến sự  may mắn của mình mà cần phải quán chiếu cho sâu sắc vấn đề này để đạt đến tuệ giác bất nhị.

Truyền thống đạo Bụt có dùng danh từ pháp – chỉ sự vật như đối tượng của tâm thức. Pháp đây không có nghĩa là giáo pháp. Ví dụ, cây bút được gọi là một pháp, con mắt là một pháp, trái bí ngô là một pháp. Cơ thể ta có sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Và đối tượng của sáu căn là sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Sắc là đối tượng của mắt, thanh là đối tượng của tai, hương là đối tượng của mũi, vị là đối tượng của lưỡi, xúc là đối tượng của thân, và pháp là đối tượng của ý. Do vậy, chữ pháp có nghĩa là những cái ta nhận thức được.
 

 
Khi mình có tri giác, cái tri giác đó có hai phần: chủ thể và đối tượng. Chủ thể và đối tượng phát hiện cùng một lúc. Khi nói thấy, luôn luôn phải có đối tượng của cái thấy ấy, thấy cái gì? Tương tự với nghe, ngửi, vị, xúc, ý. Đây là vấn đề rất khó trong đạo Bụt, nhưng hết sức căn bản. Vì khi hiểu được điều này, mới có thể hiểu được các giáo lý của Bụt. Ví dụ, khi nhìn trái bí là một pháp, ta cần tập nhận biết trái bí là đối tượng của ý. Pháp là đối tượng của ý, và không tách rời khỏi tâm. Đây cũng là vấn đề bất nhị – chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức không độc lập, gắn liền với nhau. Thực tập điều này hơi khó, nhưng mình có thể đạt được. Ngành khoa học lượng tử đã bắt đầu hé mở được vấn đề này. Các nhà khoa học thấy được đối tượng nghiên cứu của mình ở đâu tâm mình ở đó. Tuy nhiên, họ vẫn còn bị kẹt vào ý niệm chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức độc lập nhau. Đó là cái thấy nhị nguyên, một cái thấy rất thông thường của con người. Phá vỡ được cái thấy nhị nguyên chỉ có thể nhờ vào công phu quán chiếu.

Hiện nay, các nhà khoa học đang chật vật để vượt qua điều này. Và khả năng giải thoát sanh tử của các hành giả cũng đều tùy thuộc vào việc có vượt qua được hàng rào của kiến chấp nhị thủ. Trong kinh bốn lĩnh vực quán niệm có đề cập đến bốn đối tượng để quán chiếu: thân, thọ, tâm và pháp. Quán thân nơi thân, quán thọ nơi thọ, quán tâm nơi tâm, quán đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Lĩnh vực quán chiếu thứ tư là pháp. Pháp là đối tượng của tâm, không tách rời khỏi tâm, không ở ngoài tâm.

Khổ đau có mặt nhưng hạnh phúc cũng có mặt

Chúng ta có nói căng thẳng là yếu tố luôn góp mặt trong những nguyên nhân gây ra những khổ đau như lo lắng, sợ hãi, bạo động, gia đình tan vỡ, ly dị, tự tử, chiến tranh, xung đột, khủng bố, ô nhiễm môi trường, địa cầu bị hâm nóng… Còn rất nhiều nỗi khổ đau trong lòng mỗi người, mà chúng ta không thể kể hết ở đây.

Theo nhận thức của những nhà chính trị, những nhà kinh tế, những nhà cách mạng thì khổ là nghèo đói, bệnh tật, thất nghiệp, bất công xã hội, nô lệ, kỳ thị,… Nhưng nếu quán chiếu cho sâu, họ cũng thấy được rằng những cái mà họ cho là khổ không nằm ngoài mối quan hệ với những nỗi khổ trong tự thân. Giả sử không có nghèo đói, không có bệnh tật, không có thất nghiệp, không có bất công xã hội thì vẫn có những căng thẳng, lo lắng, sợ hãi, bạo động, chiến tranh như thường.  Khổ vẫn có như thường. Nếu chúng ta không bị căng thẳng, không lo lắng, không sợ hãi, không bạo động thì tự nhiên nghèo đói, bệnh tật, thất nghiệp sẽ được giảm bớt.  Chúng ta cần phải nhìn nhận một cách sâu sắc để biết được cái nào đích thực là khổ. Ví dụ, một người tranh đấu chống nạn thất nghiệp để có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, để có tự do. Vì theo họ thì bị thất nghiệp, không có cơm ăn, áo mặc, nhà ở,… là khổ. Nhưng có thể trong họ vẫn có sự lo lắng, căng thẳng, sợ hãi, giận hờn, và họ vẫn khổ, cho dù họ có đấu tranh thành công để có được việc làm, để có được tự do.

Cho nên, cái khổ có nhiều mặt. Và khi đề cập đến tập đế, chúng ta có thể nói nó là con đường bát tà – tức là con đường không có mặt của chánh kiến, chánh tư duy. Nó là nguyên nhân đưa đến khổ đau. Nhờ biết được nguyên nhân khổ đau, ta chuyển hóa được khổ đau. Diệt đế là sự vắng mặt của khổ đau, sự vắng mặt của bóng tối. Khổ đau vắng mặt thì hạnh phúc có mặt. Bóng tối vắng mặt thì ánh sáng có mặt. Hạnh phúc là ngược lại với căng thẳng. Hạnh phúc là ngược lại với lo lắng. Hạnh phúc là ngược lại với sợ hãi. Trong hạnh phúc không thể có mặt yếu tố bạo động, yếu tố tan vỡ. Diệt đế là hạnh phúc, nhưng trong hạnh phúc thì khổ đau cũng có thể đang có mặt một phần nào đó. Công nhận khổ đế không có nghĩa là không có hạnh phúc. Công nhận có bùn không có nghĩa là không có sen. Trong giây phút hiện tại, trong ta vừa có bùn, vừa có sen; vừa có rác, vừa có hoa. Nếu nói khổ đế là một sự thật thì diệt đế cũng là một sự thật. Cuộc đời có những khổ đau, nhưng cuộc đời cũng đang có những hạnh phúc.

Sáng nay ngồi thiền, tôi cảm thấy rất hạnh phúc và hạnh phúc là một chuyện thật. Khi nói đến Tứ diệu đế, nếu nghĩ rằng Tứ diệu đế chỉ có nói tới khổ đau thôi thì không đúng. Tứ diệu đế nói rằng có khổ đau nhưng đồng thời hạnh phúc cũng đang có mặt. Nhìn cho kỹ thì khổ đau cũng đóng một vai trò nào đó để tạo dựng hạnh phúc. Vấn đề là làm thế nào để làm vơi bớt khổ đau và  làm tăng trưởng hạnh phúc. Luân lý đạo đức là những nguyên tắc, những phương pháp hành động để giảm thiểu khổ đau và nuôi lớn đạo đức. Cho nên không hẳn là  tiêu diệt khổ đau mới có hạnh phúc.

Vào khoảng 6 giờ sáng trên bầu trời có cả mảng sáng và mảng tối, sáng tối đan xen vào nhau. Khổ đau và hạnh phúc cũng vậy, chúng nương vào nhau. Trong tuệ giác tương tức thì cái này được làm bằng cái kia và cái kia được làm bằng cái này, “thử hữu tức bỉ hữu, thử vô tức bỉ vô” (cái này có vì cái kia có, cái này không vì cái kia không”. Giống như sen với bùn, nếu không bùn thì không có sen. Cho rằng tất cả đều là khổ là một ý niệm sai lầm. Bụt nói rằng: “Con ơi, có những khổ đau và con phải quán chiếu để chặt đứt khổ đau”. Chứ Bụt không hề nói: “Tất cả đều là khổ hết con ạ”.  Nếu một nhà thần học vì thương Bụt mà tìm đủ mọi cách để chứng minh đời là khổ để cho Bụt đúng thì ông ta hại Bụt rồi. Bởi vì làm như vậy là ông ta không hiểu được lời dạy của Bụt.

Công nhận khổ đau đang có mặt và cho rằng tất cả đều là khổ là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Sai lầm đầu tiên là cho rằng mọi thứ là khổ. Sai lầm thứ hai là tưởng rằng chỉ khi nào khổ đau vắng mặt hoàn toàn thì khi ấy mới thực sự có hạnh phúc.

Tuy cuộc đời có khổ đau nhưng nhờ tu tập ta tìm được những giây phút rất hạnh phúc. Cho dù đang trong hoàn cảnh khốn khó tới mấy thì vẫn luôn còn đó những điều kiện hạnh phúc, tuy ít ỏi nhưng nó có đó. Ngược lại, nếu cho rằng đời toàn niềm vui cũng không đúng. Đời có khổ có vui, cái khổ đang đóng một vai trò nào đó để làm ra cái vui. Nếu không đói thì ta ăn sẽ không ngon. Nhờ có cái đói ta mới cảm thấy hạnh phúc khi được ăn.

Trong kinh có nói năm uẩn là khổ. Người xưa diễn tả khổ là: Sinh, già, bệnh, chết. Sinh ra là khổ, già là khổ, bệnh tật là khổ, chết là khổ. Ham muốn mà không được là khổ, ghét bỏ mà phải gần gũi là khổ, thương nhau mà phải xa lìa và năm thủ uẩn là khổ. Thủ có nghĩa là bị kẹt, bị vướng mắc vào. Uẩn là năm yếu tố tạo nên con người gồm có: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức (hình hài, cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức). Nếu bị kẹt vào năm uẩn, bị dính mắc vào và cho chúng là của mình thì lúc đó mới khổ. Năm uẩn không khổ nhưng năm thủ uẩn mới khổ. Đức Thế Tôn nhờ có năm uẩn mà ngày hôm nay chúng ta mới có giáo pháp để hành trì. Ngài cũng có năm uẩn nhưng Ngài không khổ bởi vì Ngài không bị kẹt, không cho rằng năm uẩn là vật sở hữu của mình, nhờ đó nên ngài được tự do. Uẩn của ngài không phải là thủ uẩn. Các pháp không phải là khổ nhưng vì kẹt vào các pháp nên mới khổ.

Nghệ thuật xây dựng hạnh phúc

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 09.01.2014 tại thiền đường Nước Tĩnh, xóm Thượng, Làng Mai, trong khóa An Cư Kết Đông 2013-2014 – Phần 2)

Định sinh hỷ lạc

Trong Kinh cũng nói tới những phương pháp khác như: Định sinh hỷ lạc 定 生 喜 樂. Khi có thiền định (meditation) thì ta có rất nhiều an, hỷ và lạc. Trong thiền định có niệm, định và tuệ. Với ba loại năng lượng đó ta có thể chế tác ra an, hỷ và lạc. Với niệm, định và tuệ ta chế tác ra an, nghĩa là buông bỏ những căng thẳng, làm giảm thiểu những đau nhức trong hình hài của mình. Nếu biết cách thở trong chánh niệm, đi trong chánh niệm, ngồi trong chánh niệm, làm việc trong chánh niệm thì ta buông bỏ được nhiều sự căng thẳng trong thân và trong tâm, ta buông bỏ được sự căng thẳng trong cảm thọ hay trong cảm xúc. Ta chế tác được hỷ và lạc là nhờ định. Thiền định cũng làm phát sinh ra an, hỷ và lạc. Đây là một nghệ thuật (art of meditation).

 

 

Trong thiền môn, người ta nói: Niềm vui của thiền định là thức ăn (The joy of meditation as daily food). Thiền duyệt vi thực 禪 悅 為 食. Chữ duyệt giống như chữ hỷ, niềm vui của thiền định là thức ăn hàng ngày của người tu. Ta nuôi ta bằng hỷ, lạc và an mà không phải bằng danh vọng, quyền hành và sắc dục. Nếu có pháp thân (the practice) vững thì ta có thể nuôi được mình. Nuôi được mình rồi thì ta có thể nuôi được những người thương của mình.

Niệm sinh hỷ lạc

Trong định có niệm 念, và tại Làng Mai chúng ta học rất rõ niệm là một yếu tố để làm phát sinh ra an, hỷ và lạc (Mindfulness is the source of joy, happiness and peace). Đó không phải là lời nói suông. Biết chế tác ra năng lượng chánh niệm thì ta chế tác hỷ, lạc rất dễ. Ví dụ như tôi đứng trên bục giảng và làm những động tác chánh niệm. Tôi làm không phải để có sức khỏe mà là để có hỷ và lạc trong khi làm. Những động tác chánh niệm không phải là những phương tiện để đi tới cứu cánh là có thêm sức khỏe mà nó chính là cứu cánh. Tôi thấy có hỷ, lạc và an ngay trong khi làm. Ở Làng Mai, chúng ta phải học làm như vậy. Ngồi thiền, đi thiền, tụng kinh không phải là để có an lạc mà ngồi thiền, đi thiền, tụng kinh chính là an lạc. Đó là do niệm mà ra.

Có một năm nào đó tôi bị bệnh phổi, con vi khuẩn Pseudomonas aerogina làm phổi ra máu. Tôi thở không có hạnh phúc. Nhưng sau khi điều trị và phổi lành rồi thì tôi thở hay hơn. Mỗi khi muốn thở ngon tôi chỉ cần nhớ lại thời gian bị nhiễm trùng phổi thì tự nhiên tôi thấy hơi thở vào cũng ngon mà hơi thở ra cũng ngon. Chỉ cần có niệm thì muốn có hỷ, lạc là ta có hỷ, lạc ngay. Những người trẻ có hai chân rất khỏe, có thể đi, nhảy hay trèo được mà không có hạnh phúc thì rất uổng. Đợi tới khi già không nhảy, không trèo được nữa thì mới tiếc. Đó là do niệm. Niệm là nhớ rằng ta đang có tuổi trẻ, ta đang có hai mắt sáng, ta đang có buồng phổi tốt, có hai chân khỏe và ta có thể sử dụng được hai chân, hai mắt, hai buồng phổi của mình. Nếu ta không có hạnh phúc thì đó là tại vì ta không có niệm. Có niệm thì với hai mắt còn sáng đó, hai buồng phổi còn tốt đó, hai chân còn khỏe đó ta có thể có hỷ, lạc và an suốt ngày. Tùy ở chúng ta mà thôi. Ta phải tự nhắc mình và những người cùng tu có thể nhắc cho ta để ta có thể phát khởi niệm. Có niệm là có an, có lạc, có hỷ.

Ly đưa tới an, hỷ và lạc. Thiền định đưa tới an, hỷ và lạc và chánh niệm cũng đưa tới an, hỷ và lạc.

Tuệ sinh hỷ lạc

Tuệ cũng đưa tới an, lạc và hỷ. Tuệ sinh hỷ lạc 慧 生 喜 樂. Người nào trong chúng ta cũng đã có những cái thấy (insight). Ta biết chuyện đó không đáng để cho ta đeo đuổi, quan tâm và bị cuốn vào đó. Ta thông minh và có đủ tuệ giác, ta biết cái đó không quan trọng, không đáng để ta quan tâm và làm cho ta mất thì giờ tranh đấu. Cho dù như vậy nhưng ta vẫn quan tâm, vẫn tranh đấu, vẫn làm mất thì giờ vì ta không sử dụng cái tuệ mà ta có. Chúng ta, không ai là không có tuệ nhưng ta không biết sử dụng tuệ. Có tuệ thì ta buông bỏ rất dễ. Ta biết đa mang là khổ nhưng ta vẫn vướng vào như thường. Khi con cá biết được trong con mồi kia có sẵn một lưỡi câu thì nó có tuệ. Có tuệ thì con cá sẽ không cắn vào miếng mồi, tại vì nó biết nếu cắn vào thì nó sẽ bị lưỡi câu móc vào cổ họng và nó sẽ chết. Chúng ta có tuệ nhưng không chịu sử dụng tuệ, ta cứ để lưỡi câu móc vào cổ họng. Ta hành xử một cách dại dột, ta để mình vướng mắc vào một hoàn cảnh không đáng tại vì ta không biết sử dụng tuệ của mình. Chúng ta, ai cũng có tuệ, có nhiều hay có ít. Càng tu, càng có niệm và định thì tuệ càng lớn. Có định và tuệ mà không biết dùng thì ta bị kẹt vào những tình huống khó khăn, lầy lội. Vì vậy chúng ta phải biết sử dụng những yếu tố chúng ta có tức bốn yếu tố buông bỏ, thiền định, chánh niệm và trí tuệ để chế tác an, lạc và hỷ.

 

 

Nghệ thuật xử lý khổ đau

Trong Kinh dạy rất rõ, mỗi ngày chúng ta phải học theo lối điều kiện hóa (conditioning). Được nhắc nhở hay không được nhắc nhở chúng ta cũng phải làm cho được. Chế tác được hỷ, lạc và an bằng bốn yếu tố buông bỏ, thiền định, chánh niệm và trí tuệ thì ta cũng có khả năng xử lý được những nỗi khổ, niềm đau. Những nỗi khổ, niềm đau đó không quá lớn, nhưng vì ta không biết xử lý nên chúng trở thành lớn. Phương pháp ta học được trong Kinh là khi có nỗi khổ, niềm đau thì ta phải xử lý ngay. Nhưng đa số chúng ta trong xã hội lại tìm cách chạy trốn khi có nỗi khổ, niềm đau. Ta đi tiêu thụ để tìm quên lãng, ta mở ti vi ra xem, mở sách ra đọc, mở tủ lạnh tìm cái gì để ăn hoặc lên internet hay điện thoại cho một người bạn. Ta tìm đủ cách để đừng nhớ tới nỗi khổ niềm đau trong lòng. Đó là thái độ trốn chạy mà phần lớn những người trong xã hội đều làm theo. Vì vậy nỗi khổ, niềm đau đó chỉ bị khỏa lấp và nó tiếp tục ngày càng lớn lên cho đến khi nó bùng ra.

Trong Kinh Bụt đã dạy rất rõ là ta có thể xử lý được nỗi khổ, niềm đau nhờ bốn yếu tố buông bỏ, thiền định, chánh niệm và trí tuệ.

Nhận diện và ôm ấp khổ đau

Khổ đau là một sự thật và chánh niệm, chánh định, trí tuệ là một năng lượng khác. Ta dùng năng lượng niệm-định-tuệ để nhận diện và ôm ấp nỗi khổ niềm đau thì ta có thể làm cho nó dịu xuống. Cũng giống như một bà mẹ ôm lấy em bé một cách rất trìu mến, thân thương thì em bé sẽ bớt khổ. Nhận diện và ôm lấy nỗi khổ, niềm đau của mình bằng chánh niệm và chánh định thì khổ đau sẽ giảm xuống. Đó là bước đầu.

Quán chiếu để chuyển hóa khổ đau

Bước thứ hai là quán chiếu để chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau đó thành một cái gì tích cực hơn, giống như sử dụng bùn để nuôi sen. Nỗi khổ, niềm đau cũng có ích lợi, nó cũng giống như bùn có khả năng nuôi sen.

Người thực tập biết xử lý nỗi khổ niềm đau thì khổ đau rất ít. Người không biết cách xử lý thì khổ đau sẽ rất lớn. Hai người ở trong cùng một tình trạng mà một người khổ rất nhiều còn một người thì ít đau khổ hơn tại vì người này biết cách khổ đau. Biết cách khổ đau là gì?

Đừng khuếch đại khổ đau (exagerer)

Ta đừng để mũi tên thứ hai tới xâm nhập. Bụt dạy khi một người bị trúng một mũi tên thì người đó rất đau nhức. Nhưng nếu có một mũi tên thứ hai cắm đúng vào vết thương thì sự đau nhức sẽ lớn hơn gấp 10 lần hay nhiều hơn nữa. Mũi tên thứ hai đó là sự bực bội, giận dữ, phản kháng hay sự tưởng tượng của mình. Khi có một sự đau nhức trong cơ thể hay trong tâm hồn, ta đừng nên làm cho nó lớn ra thêm bằng sự tưởng tượng, lo sợ. Nó chỉ là một đau nhức nho nhỏ thôi nhưng ta nghĩ là mình bị ung thư (cancer) và mình sắp chết tới nơi. Ta sợ và chính cái sợ đó làm cho sự đau nhức tăng lên gấp mười. Đó là mũi tên thứ hai. Ta phải bình tĩnh và nhận diện nó là nó mà đừng tưởng tượng nó là một cái gì lớn hơn. Nếu cần thì ta đi gặp bác sĩ hay một vị thầy chứ đừng giận dữ, lo sợ, phản kháng. Sự giận dữ, lo sợ, phản kháng đó làm cho niềm đau lớn hơn gấp 10 lần.

Đó là bước thứ nhất: Tránh mũi tên thứ hai.

 

 

Đừng chạy trốn khổ đau

Ta phải có mặt đó để nhận diện, xử lý và ôm ấp nỗi khổ, niềm đau. Nếu biết dùng ly, niệm, định và tuệ để nhận diện, ôm ấp nỗi khổ niềm đau thì ta khổ rất ít. Người khác khổ 95% còn ta chỉ khổ 5%, hoặc ít hơn nữa.

Đó gọi là nghệ thuật khổ đau. Nếu có pháp thân khá vững thì ta có thể xử lý khổ đau một cách dễ dàng. Ta còn có thể đi xa hơn nữa là sử dụng những khổ đau một cách có ích lợi. Với khổ đau ta có thể chế tác ra hiểu, thương và hạnh phúc; cũng như với bùn ta có thể chế tác ra hoa sen.

(Phần 1: Ly sinh hỷ lạc)

Ly sinh hỷ lạc

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 09.01.2014 tại thiền đường Nước Tĩnh, xóm Thượng, Làng Mai, trong khóa An Cư Kết Đông 2013-2014)

Pháp thân phải có khả năng xử lý những khổ đau, trước hết là những cảm thọ đau buồn (khổ thọ). Ta tới Làng Mai để học làm chuyện đó. Nếu giỏi ta có thể học được rất nhiều trong một ngày, không phải chỉ học trong bài pháp thoại mà còn phải học trong sự thực tập. Mỗi bước chân, mỗi hơi thở đều có thể chế tác hỷ, lạc và an. Không chỉ trong mùa xuân pháp thân của ta lớn nhanh mà trong mùa đông, nếu có chí thì pháp thân của ta cũng lớn rất mau. Mỗi ngày pháp thân ta đều lớn lên. Người Pháp có câu: “Silence, ça pousse!” (Im lặng đi, nó đang lớn lên).
 

 
Trong kinh dạy cho chúng ta phương pháp chế tác hỷ, lạc và an. Là người tu chúng ta phải chế tác được hỷ 喜, lạc 樂 và an 安. Không chế tác được thì ta chưa phải là người tu, ta chưa có pháp thân mạnh. Kỹ thuật, cách luyện tập để chế tác hỷ, lạc trong kinh đã dạy rất rõ. Trước hết là:

Ly sinh hỷ lạc

Buông bỏ, chữ Hán là ly 離. Buông bỏ có khả năng đem lại hỷ, lạc và an.

Ly sinh hỷ lạc 離 生 喜 樂. Hỷ là niềm vui (joy), lạc là hạnh phúc (happiness). Hỷ và lạc có thể được sinh ra bởi sự buông bỏ (By the practice of letting go you can create joy and happiness). Ly sinh hỷ lạc, câu này xuất hiện rất nhiều trong các kinh Phật giáo. Ta không có hỷ, lạc tại vì ta chưa có khả năng buông bỏ. Ta đang ghì chặt, ta nghĩ không có cái đó thì ta sẽ chết. Ví dụ ta đang ở thành phố Los Angeles, ta quá bận rộn. Thành phố vừa ồn vừa bụi, ta muốn có hai ngày cuối tuần ra khỏi thành phố đi về miền quê. Ta đang ở Frankfurt, ta muốn về Làng Mai nhưng nói hoài mà ta không đi được vì ta không có khả năng buông bỏ. Cũng như nhiều người không bỏ được Paris, dù họ biết rằng ở Paris rất ồn ào, bụi bặm và ít khi thấy được ánh trăng hay các ngôi sao. Hôm đó một người bạn tới nói:

– Thôi, ngày mai chiều thứ sáu mình đi về Làng Mai đi. Tôi có xe hơi, tôi sẽ chở anh đi.

Người đó thuyết phục rất hay và ta chịu đi. Xe chạy độ 45 phút là ra khỏi Paris. Ta bắt đầu thấy miền quê, cảnh vật rất xanh và tươi mát. Ta có niềm vui lâng lâng, niềm vui đó có được là nhờ ta bỏ lại Paris phía sau lưng. Đó gọi là ly sinh hỷ. Ta tới Làng Mai và ngồi được ở đây là nhờ ta buông bỏ được cuộc sống của ta ở Paris. Có nhiều người vùng vẫy năm này sang năm khác cũng không tới được Làng Mai. Ta tới được Làng Mai có nghĩa là ta có khả năng buông bỏ. Nhưng ta phải buông bỏ cái gì? Đó là vấn đề. Ta phải lấy một tờ giấy và ngồi viết xuống những gì ta có thể buông bỏ được. Ta bị kẹt vào rất nhiều thứ và sở dĩ ta không có niềm vui và hạnh phúc là vì ta chưa buông bỏ được những thứ đó.

Trước hết là ý niệm của ta về hạnh phúc. Mỗi người chúng ta đều có một ý niệm về hạnh phúc. Chúng ta nghĩ phải có cái đó hoặc phải loại trừ cái kia thì mới có hạnh phúc. Ta nghĩ phải có cái nhà đó, cái xe đó, phải có người đó sống với mình thì mới có hạnh phúc. Ta đặt ra những điều kiện, những quan niệm về hạnh phúc của mình. Những người theo đảng cộng sản nghĩ chỉ có chủ nghĩa Mác-xít mới đem lại hạnh phúc cho mình và cho dân. Những người theo tư bản chủ nghĩa thì nghĩ chỉ có kinh tế thị trường mới đem lại hạnh phúc. Chúng ta có một ý niệm về hạnh phúc mà ta không buông bỏ được. Vì vậy ta phải ngồi xuống để xét lại ý niệm về hạnh phúc của mình. Có thể lâu này ta chưa có hạnh phục là vì ta chưa buông bỏ được ý niệm về hạnh phúc đó. Letting go ist the source of happiness. Trong Kinh có ví dụ thả bò: Hôm đó Đức Thế Tôn ngồi với các thầy trong một khu rừng. Sau khi đi khất thực về, thầy trò sắp sửa ăn cơm trong chánh niệm thì một bác nông dân đi ngang qua. Bác hớt hơ hớt hải hỏi:

– Các thầy ơi, các thầy có thấy mấy con bò của tôi đi qua đây không? Không biết tại sao sáng nay mấy con bò của tôi chạy đi đâu mất hết! Không có mấy con bò thì làm sao tôi sống được? Chắc là tôi phải chết quá!

Thấy Bụt lắng nghe, bác than phiền thêm:

– Tôi có mấy sào đất trồng hột mè, nhưng không biết tại sao năm nay lại bị sâu ăn hết, không gặt hái được gì. Như vậy thì làm sao tôi sống được? Chắc là tôi tự tử quá!

Đức Thế Tôn nói:

– Bác ơi, tôi ngồi đây đã hơn nửa giờ mà chưa thấy con bò nào đi ngang qua. Chắc bác phải đi tìm phía bên kia.

Sau khi bác nông dân đi rồi, Bụt quay lại nhìn các thầy mỉm cười và nói:

– Mấy thầy ơi, mấy thầy hên quá, mấy thầy đâu có bò đâu mà sợ mất.

Mục đích của câu chuyện là: Nếu có bò thì phải thả đi. Ý niệm về hạnh phúc là một con bò. Chính vì ý niệm đó mà ta chưa bao giờ có hạnh phúc (Your idea about happiness may be the main obstacle to your happiness). Liên bang Xô viết (the Soviet Union) cứ tin rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đem lại sự cường thịnh của đất nước, và ngoài chủ nghĩa Marx-Lenin ra thì không có con đường nào đưa tới hạnh phúc cho nước Nga. Họ đã bị kẹt vào vào ý niệm đó trong 70 năm. Nếu người công dân nào chống đối lại ý niệm đó thì bị bỏ tù. Họ đã gây ra khổ đau rất nhiều. Chủ thuyết đó là một trong những con bò mà họ chưa thả được.
 

 
Tu là phải có thì giờ ngồi xuống, lấy giấy viết ra tất cả tên của những con bò mà ta chưa thả được, trong đó có ý niệm về hạnh phúc của mình. Ta cứ vướng víu, khổ đau, chật vật, bức xúc với chúng. Ta không có khả năng buông bỏ chúng ra. Ta ngồi xuống, hồi tưởng và viết ra trên một tờ giấy tên của những con bò. Có khi một trang giấy cũng chưa đủ vì ta có quá nhiều bò. Sự thật là thả được một con bò thì ta nhẹ đi rất nhiều, thả được hai con thì ta nhẹ đi thêm nữa. Thả hết những con bò thì ta sẽ có rất nhiều hạnh phúc.

Trong thời của Đức Thế Tôn, ông thống đốc của một tiểu bang đi xuất gia. Một đêm ngồi thiền ông cảm thấy hạnh phúc quá tại vì ông đã thả hết những con bò của mình. Ông hứng chí nói lên: “Ôi hạnh phúc! Ôi hạnh phúc!” (Oh, my happiness!) Một thầy khác ngồi cách đó vài thước có tri giác sai lầm, nghĩ rằng ông thầy này chắc tiếc thời kỳ làm thống đốc, tại vì làm thống đốc thì có quân đội, có tiền nhiều, có kẻ hầu người hạ. Thầy ra mách lại với Đức Thế Tôn:

– Bạch Đức Thế Tôn, hồi hôm ngồi thiền con nghe sư anh đó la lên hai lần trong khi ngồi thiền: Ôi, hạnh phúc của ta! Ôi, hạnh phúc của ta! Con không biết tâm lý sư anh ra sao? Chắc là sư anh hối tiếc.

Bụt biết thầy này có tri giác sai lầm nhưng Ngài cứ gọi thầy Badya và một số các thầy tới. Bụt hỏi:

– Này thầy Badya, có phải tối hôm qua trong giờ ngồi thiền thầy đã thốt ra hai câu: “Ôi, hạnh phúc của ta” không?

– Dạ! Bạch Đức Thế Tôn, có. Đêm qua trong khi ngồi thiền con có thốt hai lần câu đó.

– Tại sao thầy làm như vậy, thầy nói cho chúng tôi nghe đi!

Thầy Badya nói:

– Bạch Đức Thế Tôn, hồi còn làm thống đốc con có đủ hết, có lính gác, có chức tước, có người hầu hạ, có châu báu, tiền bạc rất nhiều, nhưng con luôn luôn sống trong sợ hãi. Con sợ người ta lén vào giết con để lấy những thứ đó. Con thật sự không có hạnh phúc. Bây giờ đi xuất gia con buông bỏ hết. Ngồi thiền con thấy rất rõ là mình có tự do rất lớn, mình có sự vô úy, mình không còn sợ ai tới giết mình. Trong trạng thái hạnh phúc, có nhiều tự do đó con chịu không nổi nên đã thốt ra hai lần câu: “Ôi, hạnh phúc của ta”.

Bây giờ các thầy khác mới hiểu hạnh phúc của thầy Badya không phải là gom góp, tích lũy thêm tiền bạc, của cải, danh vọng, mà là buông bỏ. Trong kinh có nói: Buông bỏ là phương pháp đầu tiên để tạo dựng hỷ, lạc và an.
 

 
Quý vị có thể hỏi: “Tôi cũng muốn buông bỏ, nhưng bây giờ tôi phải buông bỏ cái gì đây?” Chúng ta phải nhận diện những con bò của mình rồi mới thả chúng được. Vì vậy chúng ta phải viết xuống tên của những con bò mà lâu nay ta không có can đảm để buông bỏ. Buông được một con thì hạnh phúc tăng lên mấy mươi phần trăm. Đó là phương pháp đầu tiên: Ly sinh hỷ, ly sinh lạc, ly sinh an. Thầy Badya có rất nhiều an nên thầy có nhiều hỷ và lạc.

Khi sư chú hay sư cô đi xuất gia thì có người bảo là sư chú hay sư cô dại dột. Nhưng thật ra thì sư chú hay sư cô rất khôn, tại vì mình buông bỏ hết để được cái quý nhất là an, lạc và hỷ. Mình nhẹ lâng lâng, không còn sợ hãi hay lo lắng gì nữa.

(Phần 2: Nghệ thuật xây dựng hạnh phúc)

Giảng kinh quán niệm hơi thở năm 2008

01

2008-05-31

Kinh Quán niệm hơi thở

Mp3

02

2008-06-01

Tuỳ niệm Phật thân

Mp3

03

2008-06-03

Hạt giống tuệ giác

Mp3

04

2008-06-04

Niệm Pháp-Niệm Tăng

Mp3

05

2008-06-05

Niệm giới

Mp3

06

2008-06-06

Tam tụ tịnh Giới

Mp3

07

2008-06-07

Niệm Giới (tt)

Mp3

08

2008-06-08

Buông thư cảm xúc

Mp3

09

2008-06-11

Niệm Thân

Mp3

10

2008-06-12

Xuất Trần Thượng Sĩ

Mp3

11

2008-06-14

Kinh căn bản-Ly sinh hỷ lạc

Mp3

12

2008-06-15

Dục an tất an

Mp3

13

2008-06-16

Mười sáu bài quán niệm hơi thở

Mp3

14

2008-06-17

Bài tiếp theo

Mp3

15

2008-06-18

 Dặn dò

Mp3

Lễ Tự tứ An cư kiết thu 2019

Sáng ngày 13/12/2019, tại Thiền đường Nước Tĩnh, xóm Thượng, Làng Mai đã diễn ra lễ Tự tứ kết thúc 90 ngày An cư kiết thu năm 2019. Ngày Tự tứ được xem là ngày Tết của những người con Bụt, xuất gia cũng như tại gia. Đây cũng là ngày Bụt hoan hỷ, chư Tăng hoan hỷ.

Sau ba tháng công phu miên mật với những phát nguyện, mỗi người trong đại chúng đã gặt hái được những hoa trái trên con đường chuyển hoá thân tâm, từ đó làm đẹp hơn cho chính mình và tăng thân. Các vị thiền sinh dài hạn cũng đã đóng góp rất nhiều năng lượng bình an vào đời sống tu học và phụng sự cùng đại chúng.

Giờ phút đón nhận lá thư soi sáng với những bông hoa tươi thắm cùng những lời khích lệ chứa đầy tình thương đã trở thành những phút giây huyền thoại. Chúng con xin nguyện làm mới mình trong từng hơi thở ý thức, từng bước chân chánh niệm để xứng đáng là sự tiếp nối đẹp của chư Bụt, chư Tổ, Thầy và Tăng thân.

 

Dưới đây là một vài hình ảnh của buổi lễ:

 

 

 

Mười năm tiếp nối con đường

 
Sau khi thọ giới lớn, Sư Ông thường khuyến khích con về lại quê hương hoằng pháp. Lần đầu tiên con về Thái Lan hướng dẫn khóa tu là vào khoảng năm 2002. Bắt đầu từ đó, năm nào quý thầy, quý sư cô từ Làng Mai Pháp cũng đều về đây để giảng dạy. Năm 2007, ban tổ chức Đại lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc tại MCU (Mahachulalongkornrajavidyalaya University) đã thỉnh mời Sư Ông cho một bài diễn thuyết chính tại hội trường Liên Hiệp Quốc Châu Á Thái Bình Dương ở Bangkok. Trong chuyến đi này, Sư Ông đã trực tiếp hướng dẫn một khóa tu, một ngày quán niệm và thuyết giảng bốn buổi pháp thoại công cộng tại nhiều địa điểm khác nhau ở Bangkok, Chiang Mai, Nakhon Pathom. Thiền sinh Thái Lan rất xúc động và hạnh phúc khi được tiếp xúc với giáo pháp của Sư Ông. Trước đây, họ đã từng mong muốn có một trung tâm thực tập chánh niệm theo pháp môn Làng Mai tại Thái Lan để có nhiều cơ hội tiếp xúc và tu học thường xuyên cùng quý thầy, quý sư cô. Niềm mong muốn này lại càng trở nên mãnh liệt hơn sau khi họ được gặp Sư Ông. Đó là động lực chính thức xúc tiến việc thành lập một tu viện tại Thái Lan vào năm 2009.

Để Bụt lo

Ngày 09 tháng 09 năm 2009, năm thầy và năm sư cô đầu tiên từ tu viện Bát Nhã đã đặt chân đến đất nước Thái Lan để xây dựng trung tâm thực tập (gồm quý thầy Pháp Toàn, thầy Pháp Toại, thầy Pháp Anh, thầy Pháp Tánh, thầy Pháp Xứ và quý sư cô Hạnh Nghĩa, sư cô Tịnh Chánh, sư cô Dung Nghiêm, sư cô Cẩm Nghiêm, sư cô Đài Nghiêm). Lúc đó, quý thầy được ở tạm trên miếng đất của mẹ con ở Parchong và quý sư cô cũng ở gần đó trong một khu nhà rộng lớn với rất nhiều cây ăn trái của bác Bun Lư. Bác là một cảnh sát trưởng đã nghỉ hưu, hiền lành, tốt bụng và là một người bạn thân quý lâu năm của gia đình con.

Ngay sau khi quý thầy, quý sư cô đến đây, con cùng với các tình nguyện viên cư sĩ đã tìm cách xin visa dài hạn cho quý thầy, quý sư cô. Nhưng Ban tôn giáo đã từ chối giúp đỡ vì mình không thuộc vào truyền thống Theravada (Nam tông – truyền thống Phật giáo tại Thái) và cũng vì có các tỳ kheo ni trong giáo đoàn. Bộ ngoại giao cũng không thể yểm trợ gì vì mọi vấn đề của người xuất gia phải đi qua Ban tôn giáo để được giải quyết. Cuối cùng, người đã giúp các chị em con là thầy Wo (Phra Medhi Vajirodom). Thầy là một thầy tu trẻ nổi tiếng ở Thái Lan, người đã từng đọc sách của Sư Ông và đã xem Sư Ông như một vị thầy của mình. Thầy Wo đã chỉ cho chị em con tìm đến trường đại học Phật giáo hoàng gia Thái Lan – MCU. Chúng con và các tình nguyện viên liền đi đảnh lễ thầy hiệu trưởng – Ngài Phra Brahmapundit. Khi nghe chúng con chia sẻ về khó khăn xin visa cho quý thầy, quý sư cô Việt Nam, thầy hiệu trưởng rất hiểu và hoan hỷ yểm trợ ngay. Thầy hướng dẫn chúng con đến gặp thầy phó hiệu trưởng – Ngài Phra Sophonvachira Phorn. Và nhờ vậy mà năm thầy, năm sư cô đầu tiên đến Thái đã xin được visa dài hạn. Làng Mai Thái Lan đã được trường đại học MCU đỡ đầu từ đó và thầy Wo là một trong những người có công mở đường trong bước đầu hình thành Làng Mai ở Thái Lan.
 

 
Đúng 18 ngày sau, ngày 27 tháng 9, tai nạn Bát Nhã xảy ra và 400 người xuất sĩ trẻ bị đuổi đi. Đa số các anh chị em mình chạy qua tị nạn nơi chùa Phước Huệ gần đó và bắt đầu vào giữa tháng mười một, rất nhiều quý thầy, quý sư cô sang Thái Lan tị nạn. Từ tháng 12 năm 2009 đến tháng 1 năm 2010, mỗi ngày đều có từ mười đến hai mươi sư em sang Thái. Điện thoại mở 24/24 để luôn sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi gọi thình lình từ phi trường. May mắn là đa số những công an hải quan đều thương và rất kính trọng người xuất sĩ bởi vì Thái Lan là một nước Phật giáo. Các tình nguyện viên của mình cũng luôn trong tinh thần “chạy” để đặt xe cho những chuyến đi đột xuất, đôi khi vào lúc hai, ba giờ sáng. Đến Thái, mỗi tháng quý thầy, quý sư cô lại phải thay phiên nhau đi ra các biên giới, các cửa khẩu xin đóng dấu để được phép ở thêm. Mỗi lần như vậy, các tình nguyện viên luôn đi theo để giúp đỡ đoàn. Tuy nhiên, đoàn cũng gặp phải không ít khó khăn: có nhiều nơi, công an đặt rất nhiều câu hỏi; có nơi họ cho, có nơi không; tại cùng một nơi, có khi lúc này họ cho rồi lúc khác thì không. Thế là chúng con phải cầu cứu sự yểm trợ từ khắp mọi nơi. Có những lúc không xoay sở được, chúng con đành phải “thả”, chỉ biết ngồi thở và “để Bụt lo”. Mọi việc như nằm ngoài khả năng của mình rồi! Nhưng thật may, những vị “bồ tát” đã lần lượt xuất hiện và sẵn sàng tìm cách giúp đỡ mình vượt qua hết khó khăn này đến trở ngại khác. Sự thực tập “để Bụt lo” quả thật là mầu nhiệm!

Trong giai đoạn đó, khó khăn đã đến gần như mỗi ngày và con chỉ tâm niệm là làm sao cho hôm nay tốt nhất thôi. Ngay những chuyện đơn giản nhất là chỗ ăn, chỗ ở cũng có thể trở thành một vấn đề khó khăn khi người cứ đến liên tục, có khi mấy chục quý thầy, quý sư cô cùng đến một lúc. Trên miếng đất của mẹ con chỉ có những chiếc lều và một thiền đường. Thiền đường chưa có nền xi-măng nên đại chúng phải ngồi thiền trên các giường tre đóng đinh. Ngồi thiền xong đứng dậy, quý thầy thường bị đinh làm rách quần. Đó là lý do vì sao sau này thiền đường được mang tên là thiền đường Hội Ngàn Đinh. Các tình nguyện viên khắp nơi đang kêu gọi sự giúp đỡ từ trong nước. Các tăng thân trên thế giới như Pháp, Đức, Mỹ, Canada… rồi đến cả Việt Nam cũng đều hướng về yểm trợ chúng con. Mỗi khi ngân sách sắp cạn và chúng con không biết ngày mai sẽ ra sao thì lại xuất hiện những vị bồ tát đến cúng dường đủ để trang trải tiếp. Mỗi ngày đều hiện ra những khó khăn mới, những thử thách mới cho nên lúc đó chúng con thực sự chỉ biết sống với ngày hôm nay, an trú hay nhất trong ngày hôm nay thôi và để quý thầy, quý sư cô vẫn có cơm ăn, chỗ ở và tăng thân mình vẫn còn được cùng nhau tu học. Sống được hôm nay thì sẽ có ngày mai.

Bụt Tổ đã sắp đặt

Một hôm, bác Bun Lư có kể lại rằng: một năm trước khi quý thầy, quý sư cô tới Thái Lan bác đã cho sửa chữa lại hết khu nhà của bác. Lúc đó chính bác cũng không biết lý do tại sao bác lại muốn sửa, bác chỉ biết là bác phải sửa thôi. Và khi pháp nạn Bát Nhã xảy ra, thấy quý thầy, quý sư cô phải sang Thái Lan, bác mới hiểu. Phước đức của bác Bun Lư cũng đã giúp cho quý thầy, quý sư cô sống bình an và an toàn trên mảnh đất mới. Đúng là Bụt Tổ đã sắp đặt.

Khi pháp nạn Bát Nhã xảy ra, quý thầy quý sư cô phải rời khỏi tu viện và chia nhau ra đi trú ẩn khắp nơi. Vì sự an toàn và để được tiếp tục tu tập với tăng thân, quý thầy, quý sư cô đã phải rời khỏi nước mình đột xuất. Có phải là khi sang Thái Lan, các anh chị em mình có cảm giác như phải đi tị nạn, cảm thấy bị tổn thương, phải cần thời gian và không gian để được ôm ấp và trị liệu không? May mắn thay, Thái Lan là một nước Phật giáo, người dân rất hiền lành và Bụt Tổ nơi đây luôn bảo hộ, yểm trợ người tu.

Vào tháng 09 năm 2010, con được tham dự khoá tu ở Mã Lai trong chuyến đi hoằng hóa tại khu vực Đông Nam Á của Sư Ông. Con đã hỏi Sư Ông với niềm trăn trở của mình: “Bạch Thầy con phải làm sao để các anh chị em của con xóa đi mặc cảm mình là người tị nạn”. Nghe câu hỏi này, Sư Ông liền trả lời: “Con tổ chức khóa tu cho Thầy qua Thái mỗi năm đi”. Trong chuyến hoằng pháp này, Sư Ông cũng có qua Thái để gặp các sư con, hướng dẫn khóa tu và cho một buổi pháp thoại công cộng tại trường đại học MCU. Năm sau, vào mùa xuân 2011, Sư Ông đã gặp và trò chuyện với thầy hiệu trưởng và phó hiệu trưởng của trường MCU.
 

 
Ngay sau buổi gặp gỡ, vào ngày 26 tháng 3 năm 2011, Làng Mai và trường đại học MCU đã ký kết văn bản Hiệp ước đối tác, một sự cộng tác giữa hai bên trong việc trao đổi sinh viên và phát triển ngành Phật Học Ứng Dụng. Từ đó, quý thầy, quý sư cô được ở lại đất Thái một cách dễ dàng hơn, được về thành phố Hồ Chí Minh làm visa một năm. Suốt một năm rưỡi khi chưa có sự bảo trợ của MCU, đại chúng mình đã phải chịu khó đi ra, đi vào biên giới Campuchia – Thái Lan để được phép ở lại từng tháng một. Số tiền thuê xe để chở mọi người đi làm giấy tờ, tính ra chắc cũng đủ để mua được một chiếc xe hơi. Vì vậy tăng thân quyết định khi nào có đủ tiền viện trợ từ khắp nơi gởi về là sẽ mua hẳn luôn một chiếc xe mới và thuê tài xế lái.

Trong thời gian đầu, con đã phải đứng ra lãnh nhiều công việc như tri xa, tri visa, tri văn phòng, thủ quỹ, ngoại giao… Đã nhiều lần, con cảm thấy khá căng thẳng. Với cảm giác như đang bị bỏ rơi, con luôn cảm thấy mình rất cần sự yểm trợ của tăng thân từ khắp nơi. Con đã từng thưa với Sư Ông lần đầu khi Sư Ông đến Thái Lan sau chuyện Bát Nhã: “Thưa Sư Ông, chính tại thiền đường này, chúng con đã ngồi thành vòng tròn và chia sẻ cùng nhau với biết bao nhiêu là nước mắt”. Ai cũng đang bị tổn thương! Người lớn về đây đầu tiên để yểm trợ trong giai đoạn khó khăn đó là sư cô Đoan Nghiêm. Sư cô là một sư cô lớn trong chúng và đã thường xuyên chỉ dạy con khi còn ở Pháp. Sư cô về đây là một niềm hạnh phúc và an ủi rất lớn cho con. Sau đó, quý sư cô lớn khác cũng bắt đầu lần lượt về giúp đỡ như sư cô Hoa Nghiêm, sư cô Kính Nghiêm, sư cô Đàn Nghiêm… Trong lòng con dâng lên một niềm biết ơn sâu sắc vì sự có mặt của quý sư cô trong giai đoạn ban sơ này. Tuy sống trong một hoàn cảnh rất khó khăn và vất vả nhưng đã để lại rất nhiều kỷ niệm vui, tình huynh đệ, chị em lại thêm đoàn kết và gắn bó keo sơn với nhau hơn.
 

 
Khi mọi việc đã ổn định, việc tìm mua đất đã được triển khai và xúc tiến để đại chúng có nơi ở cố định. Các thành viên cư sĩ của tổ chức Làng Mai Thái Lan cùng với quý thầy, quý sư cô đi xem đất mỗi tuần hai, ba lần. Trong vòng chín tháng, mình đều đến xem hầu hết vùng đất đai gần đó để hỏi mua. Nhưng việc mua đất đã không dễ dàng mà còn khá phức tạp nữa. Có một miếng đất mình ưng ý thì lại không có giấy tờ hợp pháp, hoặc môi trường xung quanh bị ô nhiễm, hoặc chủ đất đổi ý không bán hoặc lên giá… Có những mảnh đất dường như mình sắp mua được rồi nhưng lại có những chuyện xảy ra ngoài dự tính. Chỉ còn một tháng nữa là Sư Ông trở lại Thái Lan rồi mà mình vẫn chưa tìm được miếng đất nào phù hợp. Một ngày nọ, Pi Nuch – thủ quỹ của tổ chức Làng Mai Thái Lan lúc đó – tình cờ gặp một người bạn đồng tu và chia sẻ về việc mình đang tìm mua đất. May thay, bạn của Pi Nuch có biết một người đang sở hữu một miếng đất nằm trong vòng tay dãy núi Khao Yai. Ngay ngày hôm sau, mình đã tìm đến miếng đất này. Lúc mới tới xem, các thành viên của tổ chức Làng Mai Thái Lan chỉ thấy toàn là đất đá nên hơI e ngại để mời quý thầy, quý sư cô tới xem thử. Nhưng khi đến, tất cả quý thầy, quý sư cô đều rất thích cảnh thiên nhiên rộng lớn và hùng vĩ nơi đây. Chỉ có một câu hỏi mà ai cũng thắc mắc là đất đá như vậy thì có xây nhà được không. Thế là một nhà khảo cổ và các kiến trúc sư được mời đến xem xét. Những chuyên gia này cho biết mình không cần lo lắng về vật liệu làm móng cho việc xây nhà nữa vì đã có lớp đá quý, rất rắn chắc, tuổi đời khoảng 240 triệu năm, có mặt trên trái đất trước con người.

Những miếng đất gần núi Khao Yai giá rất đắt, vì vậy trước đó, tăng thân đã không bao giờ dám mơ tưởng đến. Nhưng không ngờ là bác chủ đất này đã từng đọc tác phẩm Giận của Sư Ông và bác rất thích quyển sách này. Ba mẹ của bác đã lớn tuổi và đang mắc bệnh nên bác muốn làm việc tốt, tạo thêm phước đức cho gia đình. Và bác đã quyết định bán miếng đất cho tăng thân mình. Trong suốt chín tháng, mình đi tìm mua đất mỗi tuần ở những nơi mà họ giăng bảng bán, nhưng cuối cùng, mình lại mua được một miếng đất mà chủ đất không có ý định bán. Thế mới thấy rằng có phải mọi chuyện cũng là do Bụt Tổ sắp đặt không chứ?

Cuối tháng 10 năm 2010, hai tuần trước khi Sư Ông về, việc mua đất đã hoàn tất nhưng mình chỉ có đủ tiền để trả đặt cọc. Mình đã phải xin họ thêm sáu tháng để quyên góp từ khắp nơi, từ các khóa tu và từ tăng thân Mã Lai. Ấy vậy mà đến tháng giêng năm sau, mình đã kiếm được một số tiền lớn như thế. Một trung tâm đã chính thức được thành lập.
 

 
Sau này, các thành viên của tổ chức Làng Mai Thái Lan đã nói với con:

“Có một điều mà chúng con học được từ sư cô là niềm tin (Faith). Khi mua mảnh đất này, trong ngân hàng, mình cũng không có đủ tiền đặt cọc nữa và mình đã phải năn nỉ chủ đất cho mình đặt cọc ít lại”. Lúc đó, con chỉ tự nói với mình: “Just Trust! Hãy có niềm tin nơi tăng thân và phước đức của Sư Ông”. Vì con đã đi qua những giai đoạn khó khăn với Bát Nhã, với chuyện visa Thái Lan nên con chỉ biết đặt niềm tin nơi con đường mình đang đi. Mọi chuyện đã có Bụt Tổ sắp đặt, nhân duyên sẽ tới vì phước đức của Sư Ông, của tăng thân, của đất nước Thái Lan. Tấm lòng người dân Thái Lan thấm nhuần giáo lý Phật giáo sẽ luôn yểm trợ cho tăng thân. Nếu mình tu hết lòng ngày hôm nay thì mình sẽ có ngày mai. Những gì tăng thân mình đang có hôm nay không phải do một cá nhân nào có thể tạo dựng được. Mình luôn biết ơn tất cả, biết ơn tăng thân khắp nơi, gia tài của tổ tiên đất nước ở đây và những người đầu tiên đã đến xây dựng tăng thân trong một hoàn cảnh thiếu thốn và khó khăn nhất.

Đây là đôi dòng tâm sự chia sẻ từ những trải nghiệm thực, một chặng đường mười năm Làng Mai Thái Lan đã đi qua. Ngày hôm nay được làm từ chất liệu của những tháng ngày vất vả đầu tiên để mình trân quý, biết ơn, sống và tu học cho có thật nhiều hạnh phúc trên thực địa xinh đẹp này.
 

Chân Linh Nghiêm

Hạnh phúc và sức khoẻ tinh thần trong trường học

(Trích từ cuốn “Thầy cô giáo hạnh phúc sẽ thay đổi thế giới” – Sư Ông Làng Mai và Katherine Weare)

 

 

Hạnh phúc và sự khoẻ mạnh về tinh thần (well-being) là đề tài càng ngày càng được công nhận chính thức để đưa vào lớp học cho các học sinh nghiên cứu. Một phần là vì ngày càng có nhiều căn cứ khoa học chứng minh tầm quan trọng của đề tài này; mặt khác, vấn đề hạnh phúc và sự khoẻ mạnh tinh thần có liên hệ tới việc học tập của học sinh. Trong phần này, chúng tôi đưa ra một vài ví dụ cụ thể và tạo nhiều cảm hứng về cách thức mà một số giáo viên đã áp dụng phương pháp của Làng Mai và tinh thần của phép thực tập chánh niệm thứ hai (trong Năm phép chánh niệm) vào lớp học của mình. Các giáo viên này đã mời học sinh đủ mọi lứa tuổi cùng quan sát và nhìn lại xem thói quen và sự lựa chọn có ảnh hưởng tới hạnh phúc của các em như thế nào.

Người lớn thường lo sợ rằng người trẻ đi tìm hạnh phúc bằng những con đường sai lầm, quá chạy theo vật chất, sử dụng phương tiện truyền thông, công nghệ và ma tuý để chạy trốn khỏi những cảm xúc không dễ chịu. Nhưng khi nói chuyện với người trẻ, chúng tôi nhận thấy họ thường giải thích rõ ràng, ít nhất về mặt lý thuyết, là những thứ đó không đem lại cho họ hạnh phúc. Khi thảo luận về đề tài hạnh phúc với các học sinh ở tuổi thiếu niên trong lớp của mình, Mike Bell khám phá ra rằng người trẻ không có khó khăn gì trong việc đưa ra một số quy tắc cụ thể để xây dựng một xã hội hạnh phúc.

Các học sinh đã đề ra một danh sách những điều lệ mà họ gọi là “Những quy tắc cho một xã hội hạnh phúc”. Trong đó gồm có:

  1. Tôn trọng người khác – không kỳ thị vì tuổi tác, giới tính, tôn giáo, hay khuyết tật.
  2. Không trộm cắp.
  3. Không làm hại, không xâm phạm, không giết chóc.
  4. Bảo vệ tôn giáo và văn hoá.
  5. Chấp nhận một mức độ rủi ro mà mình gặp phải – không tìm cách đổ lỗi cho ai khác.
  6. Tiếp nhận người tị nạn, nhưng trục xuất người di cư bất hợp pháp.
  7. Đảm bảo cơ sở và điều kiện sống thuận lợi cho mọi người ở mọi lứa tuổi.
  8. Giới hạn việc sử dụng các chất gây nghiện.

Tôi đã thử làm một bài tập tương tự với các em học sinh 12 tuổi. Tôi giới thiệu sự thực tập với tên gọi “Khoa học về hạnh phúc”. Tôi bảo các em đừng tin những gì tôi nói mà hãy xem xét, kiểm chứng từ thực tế. Và thật bất ngờ là dù không có sự chỉ dẫn nào, các em đã chia những quan tâm của mình thành năm phạm trù giống như Năm phép thực tập chánh niệm: Bạo động, trộm cắp, lời nói, tà dâm và sự tiêu thụ. Theo kinh nghiệm thì tôi nghĩ mình nên đặt thêm một câu hỏi nữa như là: “Các em thấy những sản phẩm nào mà khi mình ăn, mình mua hay mình tiêu thụ có thể làm cho người khác không có hạnh phúc?”. Đưa ra câu hỏi như vậy sẽ giúp cho các em dễ dàng nhận thấy những thói quen không đem lại hạnh phúc như sự ăn uống không có chừng mực, sự say sưa và nghiện ngập.

Trong một ví dụ khác, Mike sử dụng một viên đá và một cây xanh để giúp các em học sinh suy nghĩ sâu sắc hơn về nhu cầu phức tạp của các sinh vật, giúp cho các em nhận ra được những điều kiện hạnh phúc đang có mặt khắp nơi, trong đó mối liên hệ với con người và môi trường xung quanh cũng đóng một vai trò quan trọng.

Năm nay tôi dự định giảng cho các em học sinh 11 tuổi về đặc tính của các sinh vật. Tôi nhờ anh kỹ thuật viên đem cho tôi một cây xanh và một tảng đá to. Tôi chỉ cho các em học sinh hai vật đó và đặt câu hỏi điều gì sẽ xảy ra khi tôi cất tảng đá vào tủ, rồi một năm sau lấy nó ra. Các em trả lời không chút do dự là tảng đá vẫn gồ ghề như vậy, có lẽ nó có nhiều bụi hơn hay bị mốc một chút nhưng căn bản thì nó vẫn như cũ. Khi tôi hỏi các em điều gì sẽ xảy ra nếu tôi cất cây vào tủ một năm thì các em đều đồng ý với nhau là cây sẽ chết, mục ruỗng hay khô lại.

Rồi tôi hỏi nếu các em bị nhốt vô tủ một năm thì sao (tôi nhấn mạnh là mình không cố ý làm như vậy). Các em trả lời một cách dễ dàng là các em sẽ chết, thối rữa và bốc mùi. Tôi hỏi các em cần gì để sống thì đầu tiên các em nghĩ tới thức ăn, nước và không khí. Sau đó các em thêm vô bạn bè, gia đình và nhà ở. Các em nhận ra rằng mình không thể tồn tại một mình. Rồi tôi hỏi các em cần gì để có hạnh phúc, và một lần nữa tôi lại nhận thấy các em không cảm thấy khó khăn gì khi đưa ra một danh sách những thứ có thể làm cho mình hạnh phúc.

 

 

Cũng về chủ đề hạnh phúc, cô giáo Lyndsay Lunan – giảng viên đại học tại Vương quốc Anh – đã sử dụng một phương pháp đặc biệt lấy sinh viên làm trọng tâm. Cô đề nghị các sinh viên lập một bản đồ và nghiên cứu các phản ứng cảm xúc của họ ở những thời điểm khác nhau trong ngày. Phương pháp này giúp cho sinh viên có ý thức hơn, một cách tự nhiên và trực tiếp, về cái gì nuôi dưỡng hạnh phúc và cái gì làm cho hạnh phúc của các em bị tiêu hao.

Tôi đề nghị các em vẽ một biểu đồ về cảm xúc của các em trong một ngày bình thường và quan sát xem các cảm xúc tích cực, tiêu cực hay trung tính phát sinh chiếm khoảng bao nhiêu thời gian trong một ngày. Các em đã khám phá ra rằng rất nhiều các cảm xúc tiêu cực và chán nản bắt nguồn từ những hành động dựa trên thói quen của mình như là dùng Facebook hay xem tivi. Và điều này đưa đến những cuộc thảo luận hấp dẫn về đề tài: “Cái gì thực sự nuôi dưỡng chúng ta?” Những giây phút hạnh phúc của các em luôn là những giây phút được gần gũi với những người mình thương yêu hay khi đi chơi bên ngoài. Từ các khám phá đó, chúng tôi cùng thực tập chế tác những cảm xúc tích cực. Thay vì đề xuất những “điều kiện hạnh phúc” mà đôi khi không gần với nhu yếu của các em, tôi để các em tự lựa chọn một trải nghiệm về hạnh phúc mà các em đã từng nếm được và ngồi yên, mời những trải nghiệm đó đi lên trong tâm trí. Các em biết ý thức về hơi thở và chú tâm vào cảm xúc mà những trải nghiệm đó đem lại trong lòng mình. Đây là cách mà các em có thể dễ dàng áp dụng được để trở về với chính mình. Và có lẽ đây cũng là sự thực tập công hiệu nhất đối với các em.

Angelica Hoberg, một giáo viên tiểu học người Đức đã về hưu, từng cho các em học sinh lớp Ba làm một cuốn sổ chánh niệm để ghi lại những thành công của các em trong việc tưới tẩm hạt giống tốt nơi tự thân. Qua sự quan sát, suy ngẫm của các em cùng với kinh nghiệm hướng dẫn của cô Angelica Hoberg, các em đã dần phát triển khả năng sống hạnh phúc và có nhiều tình thương hơn. Các em biết trân quý những điều kiện hạnh phúc đang có mặt bây giờ và ở đây. Phương pháp thực tập rất thực tiễn này không những thúc đẩy các em học sinh (và cả cô giáo) phải suy nghĩ và hành động mà còn thu hút cả các bậc phụ huynh.

Tôi mời các em tự làm cho mình một cuốn sổ ghi chép, gọi là cuốn sổ chánh niệm. Tôi vẽ một biểu đồ thật lớn tượng trưng cho ý thức và tàng thức. Và chúng tôi cùng nhau suy nghĩ xem hạt giống nào mình muốn tưới tẩm trong tự thân mình. Tôi viết xuống tất cả những đề nghị của các em và treo lên cùng với tấm biểu đồ.

Các em vẽ lại biểu đồ vào cuốn sổ chánh niệm của mình và mỗi người ghi xuống những hạt giống mà mình đã chọn để tưới tẩm, từ danh sách các hạt giống mà cả lớp cùng đề nghị ra với nhau. Mục đích của bài tập này là khuyến khích các em tưới tẩm hạt giống mà mình đã lựa chọn trong vòng một tuần lễ. Sau đó các em viết bên cạnh sơ đồ của mình về những hoàn cảnh/ tình huống mà các em đã thực tập thành công.

Có lần, một em nhỏ trong lớp tự nhiên khen ngợi sự thành công của một bạn khác. Tôi hỏi em lúc đó em cảm thấy như thế nào thì em ngập ngừng. “Em có thấy vui không? Cảm thấy hạnh phúc khi giúp đỡ và khen ngợi người khác chẳng phải là điều rất tuyệt vời sao?”, tôi hỏi. Từ giây phút đó cho đến cuối tiết học, tôi thấy em chạy hết chỗ này đến chỗ khác để giúp các bạn của mình. Tôi phải nói rằng, trước nay điều này chưa bao giờ là ưu điểm của em. Cách hành xử này thực sự cũng là một sự khám phá vô cùng ngạc nhiên đối với em. Chính tôi cũng thấy mình còn nhiều thứ để khám phá. Tôi có cuốn sổ chánh niệm của mình. Tôi nhận thấy có một sự khác biệt rất lớn khi tôi bắt một em học sinh đang giận dữ, ồn ào phải yên lặng với khi tôi chỉ hỏi em một câu: “Em đang tưới tẩm hạt giống nào vậy?”. Các bạn khác giúp em suy nghĩ và em dừng lại để lắng nghe cảm xúc của mình. “Hạt giống giận dữ? Chúng ta đã chọn tưới tẩm hạt giống nào trong tuần này?”. “Hạt giống hạnh phúc”. Và em cười. Không có gì cần phải nói nữa.

 

 

Trong những trường hợp như vậy, các em học được rằng mình có thể chọn lựa cách nhìn sự vật/ sự việc và quyết định nên có thái độ như thế nào cho phù hợp. Các em không còn phản ứng như là nạn nhân của những điều kiện bên ngoài. Khi họp với các bậc phụ huynh học sinh vào buổi tối, tôi chia sẻ cuốn sổ chánh niệm của lớp. Tôi chỉ cho cha mẹ của các em xem cuốn sổ sau khi họ đã hứa là không chỉ trích những lỗi lầm của con họ khi trở về nhà. Lẽ dĩ nhiên là trước đó tôi đã xin phép các em rồi! Các phụ huynh xem cuốn sổ và tôi cảm thấy trong phòng có một bầu không khí lắng yên và đầy tôn trọng.

Chúng tôi đã nghiên cứu việc giảng dạy chánh niệm trong các lớp học, dưới hình thức một khoá học chánh niệm theo đúng nghĩa, hoặc dưới hình thức của một phần khoá học về đạo đức hoặc một phần trong chương trình giáo dục cảm xúc – xã hội. Chúng tôi nhận thấy có một tiềm năng rất lớn trong việc đưa chánh niệm vào trong chương trình giáo dục. Chánh niệm ngày càng được học sinh, sinh viên, giáo viên và phụ huynh xem như một phương pháp thực sự quan trọng, đáng tin cậy. Việc thực tập chánh niệm có thể giúp cho học sinh, sinh viên thay đổi cách nhìn và lối sống của mình một cách lâu dài, một khi nó được đưa vào trong chương trình giáo dục chính quy.

Cuộc tương phùng với Đức Thế Tôn

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 16.11.1997 tại tu viện Rừng Phong, Phần 2)

 

Ngày xưa, có một Thầy tên là Vakkhali. Thầy Vakkhali thương Bụt vì Bụt đẹp quá về phương diện hình thức. Thấy vị đạo sư đẹp quá, tướng hảo quang minh quá, thành ra thương vậy thôi. Thầy kẹt vào bóng dáng của Bụt. Thầy ngồi đó, tuy nghe Pháp Thoại nhưng không nghe nhiều và chỉ để ngắm Bụt. “Yêu nhau tức là nhìn nhau” đó! Nhìn, nhưng thầy không nhìn sâu, chỉ nhìn bóng dáng bên ngoài thôi. Sau vài tháng, Đức Thế Tôn biết là Thầy bị kẹt và đi đâu Bụt cũng không cho Thầy đi theo. Ngày xưa cũng không khác ngày nay, có người không thật sự tu tập quán chiếu, chỉ muốn hưởng sự có mặt của một người khác và kẹt vào đó mà thôi.

 

 

Bữa đó, Thầy Vakkhali “thất tình”. Thất tình vì bị Bụt “hắt hủi” không cho đi theo. Bụt muốn giúp Thầy trị bịnh của Thầy. Thầy đã có lần muốn nhảy từ triền núi xuống để tự tử. Đức Thế Tôn biết trước cái gì sẽ xảy ra. Ngài tìm cách có mặt lúc đó để dạy cho Thầy Vakkhali. Sau này Thầy Vakkhali thoát khỏi tình trạng vướng mắc và đã thực tập đàng hoàng. Thầy Vakkhali cũng đã đi tìm một cái gì mà Thầy thấy thiếu, tìm cái đẹp. Nhưng sự đi tìm không sâu sắc lắm. Và Bụt đã giúp Thầy tìm đến một cái gì sâu sắc hơn. Thầy Vakkhali sau này bị một chứng bệnh nan y và cuối cùng Thầy đã phải tự tử bằng dao. Nhưng Bụt đã từ bi làm lơ để Thầy làm như vậy. Thầy chết trong nhà một người thợ gốm. Bụt có tới thăm Thầy hai hôm trước khi Thầy tịch. Quý vị muốn biết chuyện Thầy Vakkhali xin đọc trong “Đường Xưa Mây Trắng”.

Thời của Bụt cũng có một cô gái thuộc giai cấp hạ tiện, tên là Matanga. Cô này xinh lắm và cô yêu Thầy A Nan. Chuyện bắt đầu xảy ra hôm thầy A Nan đi khất thực, khát nước và ghé vào một cái giếng để tìm nước uống. Thầy thấy cô gái kia đang múc nước. Thầy nói: “Cô cho tôi uống một ngụm.” Cô trả lời: “Con là con gái giai cấp hạ tiện. Con đâu có quyền đưa nước cho Thầy uống.” Thầy A Nan thấy tội, nói: “Theo giáo lý của Đức Thế Tôn dạy, tôi không phân biệt và kỳ thị giai cấp. Cô cứ đưa gàu cho tôi uống.” Cô mừng quá, đưa gàu nước cho Thầy uống và từ đó cô tương tư Thầy.

Cô ngủ không được. Cô bị bệnh. Rồi cuối cùng cô bàn với bà mẹ mời Thầy tới để cô có dịp tỏ tình. Hai mẹ con đã dùng bùa chú, dùng một thứ lá cây nào đó làm nước trà mà khi uống vào Thầy A Nan mất cả sự tỉnh táo. Thấy Thầy A Nan quá giờ mà chưa về, Bụt sai các thầy khác đi tìm và may mắn kiếm được Thầy A Nan trước khi Thầy làm một cái gì sai với uy nghi và hại tới giới phẩm. Thầy A Nan uống xong thứ nước trà kia, biết là bị trúng độc, liền ngồi im vận dụng phép thở khí công. Thầy thở theo chánh niệm và đợi các thầy khác tới giải cứu đem về. Các thầy cũng đem luôn cả cô Matanga về. Tội nghiệp cho cô. Cô cũng cảm thấy thiếu một nửa và đi kiếm, vậy thôi. Lần này, cái nửa cô đi tìm là một ông thầy tu trẻ.

Bụt gọi cô vào hỏi: “Con thương Thầy A Nan lắm hả?” Cô trả lời: “Dạ, con thương Thầy A Nan lắm.” “Con thương cái gì nơi Thầy A Nan?” Bụt hỏi. Ngây thơ, cô trả lời: “Cái gì của Thầy con cũng thương. Con mắt Thầy con cũng thương, cái mũi Thầy con cũng thương. Cái gì của Thầy con cũng thương hết.” Bụt nói: “Nhưng mà thương như vậy con chỉ mới thương được một chút xíu của Thầy A Nan thôi. Con chưa biết gì nhiều về Thầy A Nan. Ví dụ như chí nguyện của Thầy A Nan, con đã thấy gì đâu. Một người trẻ như vậy mà đi xuất gia là vì chí nguyện rất lớn, chí nguyện độ đời, giúp cho bao nhiêu người thoát khổ. Con đâu đã thấy cái đó. Nếu thấy cái đó mà con cũng thương được thì con đã không cho Thầy A Nan uống thứ nước trà kia.

 

 

Thầy A Nan có một tình thương rất đẹp. Tình thương của Thầy A Nan là Bồ Đề Tâm, là chí hướng muốn làm hạnh phúc cho nhiều người khác. Nếu con thấy được tình thương đó thì con cũng sẽ thương. Và nếu con thương được thì không bao giờ con muốn chiếm Thầy A Nan cho riêng một mình con.” Bụt dạy từ từ như vậy để cho cô thấy được cái đẹp của thầy A Nan trong chiều sâu của nó. Bụt nói tiếp: “Con cũng vậy, con cũng có cái tình thương ấy trong con.Thương được Bồ Đề Tâm của Thầy A Nan thì con cũng có thể thương được Bồ Đề Tâm trong con.” Ngạc nhiên, cô Matanga hỏi: “Đức Thế Tôn muốn nói là con cũng xuất gia được? Con cũng sống được một đời có lý tưởng như Thầy A Nan sao?” Bụt cười: “Tại sao không?” Và rốt cuộc cô Matanga cũng được Bụt cho phép xuất gia, làm Tỳ kheo ni.

Cho nên cuộc tương phùng giữa ta với Đức Thế Tôn là một cơ hội để ta tìm ra được là ta cũng có tiềm tàng trong ta khả năng vững chãi và thảnh thơi. Khi ta tiếp xúc được với cái vững chãi, thảnh thơi và hạnh phúc đó trong ta, ta bắt đầu có đức tin nơi tự thân và hạnh phúc mới thật sự có được. Nếu không, thì ta vẫn đầy mặc cảm. Ta nghĩ ta không có giá trị gì và ta vẫn tiếp tục đi tìm cầu nơi một kẻ khác. Ban đầu ta tìm cầu một cái vung để đậy lên cái nồi của mình, nhưng sau thấy đậy vung rồi mà nồi vẫn còn lạnh, vẫn còn trống trải, ta mới đi tìm tới một vị đạo sư. Có người đã may mắn gặp được vị đạo sư đích thực, bởi vì đạo sư giả cũng rất nhiều. Vị đạo sư đích thực là vị đạo sư có khả năng chỉ cho mình thấy được cái mà mình đi tìm đang nằm trong bản thân của mình. Cho nên tôi luôn luôn nhắc quý vị: Một ông thầy giỏi là một ông thầy giúp cho mình thấy được ông thầy trong bản thân mình” (The best teacher is the teacher who can help you to find the teacher within yourself). Quí vị nên nhớ lời căn dặn này.

Mình không thể làm như Thầy Vakkhali, ngày nào cũng tới ngồi kè kè bên Bụt và không bao giờ có thể tự chủ được. Ngồi ngắm Thầy, ngồi bên vị đạo sư có sự vững chãi, thảnh thơi và tiếp tục tin rằng không bao giờ mình có được chất liệu của sự vững chãi, thảnh thơi trong mình hết, và kẹt vào cách hành xử này, đó là một thói quen của nhiều người. Người thương của ta có thể là Đức Thế Tôn, có thể là Thầy A Nan. Người thương của ta cũng có thể là bất cứ ai mà bản thân biểu hiện được cái Chân, cái Thiện và cái Mỹ chân thật. Khi thương một người và nhận diện được chất liệu vững chãi, bình yên, thảnh thơi và từ bi nơi người ấy là ta đã có một cơ hội rồi. Ta có quyền thừa hưởng những yếu tố ấy. Nhưng sau khi học nhận diện những yếu tố ấy, khen ngợi những yếu tố ấy và học nuôi dưỡng những yếu tố ấy nơi người đó, ta phải trở về bản thân mà tìm cách làm phát hiện những yếu tố ấy trong ta, vì ta cũng có những hạt giống tốt tiềm tàng trong tâm thức. Đây là tính Bụt, đây là kho tàng Như Lai, đây là kho tàng bảo sở tự tâm. Thương cũng là giúp người mình thương trở về tìm lại kho tàng ấy, phát hiện kho tàng ấy.

Thương yêu không phải là vấn đề cá nhân

Bây giờ ta hãy tìm tới một khía cạnh khác của tình thương. Mình thường nói tới thương yêu như một vấn đề cá nhân, nhưng không biết thương yêu cũng là một sản phẩm tập thể. Mình có thể thương chung (Love is a collective practice). Khi thương Đức Thế Tôn, mình có cơ hội tìm ra được Phật tánh trong chính mình. Mình nói: “Đức Thế Tôn, xin Ngài cho phép con thương chung với Ngài”. Mình muốn tham dự vào sự nghiệp thương yêu của Đức Thế Tôn. Mình muốn làm đệ tử của Đức Thế Tôn, làm con của Đức Thế Tôn và tiếp tục công trình của Ngài. Đó gọi là “cùng nhìn về một hướng”. Ban đầu thì mình nhìn nhau trước. Nhìn nhau để thấy có tôi ở trong anh và có anh ở trong tôi. Sau đó chúng ta cùng tập thương chung.

 

 

Khi mình đã có lý tưởng, mình phải giúp cho người thương của mình có lý tưởng đó. Đức Thế Tôn thương mình cho nên Ngài chỉ cho mình thấy cái đó, cái Bồ Đề Tâm trong mình. Thành ra mình không thương đơn độc. Cả hai đứa mình đều có cái đó hết và vì vậy mình có thể thương chung. Khi hai người cùng thương chung thì hai người có hạnh phúc như nhau. Tại sao anh đi một đường mà tôi lại đi một đường khác? Tại sao tôi có lý tưởng của tôi, còn anh có lý tưởng của anh? Mình với Đức Thế Tôn là như vậy đó, là “associés” của nhau (Associated lovers). Người anh, người chị, người mẹ, người cha của mình cũng có thể cùng đi trên con đường mình đi. Người hôn phối của mình cũng vậy. Nếu người kia chưa đi chung với mình thì mình phải làm cho người đó có thể thương được như mình. Và như vậy sẽ không có sự trách móc, rằng: “anh cứ đi con đường lý tưởng của anh nhiều quá, anh không dành cho tôi thì giờ. Anh không “nhìn tôi” anh cứ nhìn về hướng “của anh” thôi.” (You don’t look at me, you only look at the direction of your love. I am not included). Cái nhìn đó vẫn là cái nhìn lưỡng nguyên (dualistic view), phải không?

Khi mình thương và biết cách thương thì người kia cũng thương được như mình. Và “chúng ta” luôn luôn có nhau trên bước đường lý tưởng, trên bước đường thương. Tại sao cứ phải trách móc là anh cứ lo cái lý tưởng của anh nhiều quá và anh không để ý tới tôi? Chuyện nhìn nhau và chuyện cùng nhìn về một hướng phải là một. Chúng ta đã bắt đầu bằng câu nói của Antoine de St. Exupéry: “Yêu nhau không phải là nhìn nhau mà là cùng nhìn về một hướng.” Đến đây ta có thể trả lời rằng: “Ông nhà văn ơi, ông nói lại đi: Thương nhau cũng là nhìn nhau để nhận diện rằng chúng ta có trong nhau, để chúng ta cũng có thể cùng nhìn chung về một hướng.” Phần chót là để quý vị quán chiếu và phát hiện.


(Phần 1: Trở về thương lấy chính mình)