Con tủi thân và cay đắng quá

Hỏi:

Sư Ông ơi!
Con đã xem nhiều phim và truyện về bạo lực, trả thù, chém giết, chết chóc, làm cho tâm hồn mình trở nên sắt đá lạnh lùng. Con đã tự nhủ rằng sẽ xuống tay hạ thủ bất kỳ ai dám động đến mình. Còn bây giờ, là nỗi ám ảnh về những điều đó. Con sợ mình sẽ là nạn nhân.

Lúc còn nhỏ con đã không thích đi ra ngoài, không muốn tiếp xúc với ai. Vì cái mặt của con rất khó ưa. Không ai muốn trông thấy con. Cả mẹ cũng thế. Mỗi lần thấy bóng con là mẹ cầm chổi, cầm roi quất vào con. Mẹ đánh bầm mắt con, mẹ đánh vào lưng vào chân tay con đau điếng. Mẹ ném gạch đá cây gậy vào con. Mẹ bảo con không được đụng đến đầu của em, không đánh em nhưng sao mẹ lại đánh vào đầu con. Tủi thân. Vì bạn bè thì có một người mẹ thật tuyệt… Cả nhà chỉ có mỗi đứa em là con của mẹ thôi. Còn con thì bỏ xó. Con đã khóc rất nhiều. Mẹ giấu con trong nhà mỗi khi có người đến. Đi học, bài vở, đó là niềm vui sống duy nhất của con lúc đó. Được thầy cô phát quà thưởng mẹ cũng chẳng bận tâm…

Mẹ bảo rằng: mày là một tên đầu trộm đuôi cướp, đồ ăn cắp, đồ ma quỷ, đi ăn mày mà sống đi… Đúng là con có chôm đồ của người, những món đồ chơi, cục kẹo. Nhưng sao mẹ lại nói thế với con. Mẹ đuổi cổ con khỏi nhà. Lúc đầu con sợ lắm, nhưng rồi cũng quen dần. Con đã làm bạn với bóng tối. Con không muốn khóc nữa, như vậy đã quá đủ rồi. Con không nghe lời ai nữa. Bắt đầu quậy phá, chống đối kịch liệt. Sát hại không thương tiếc bất cứ sinh vật nào làm chướng mắt. Trong lòng con rất ác cảm người mẹ ấy. Điều tệ hại là con đã khoét lủng đôi mắt của một Bồ Tát và con vật của ngài trong một bức họa và còn xé tấm ảnh ấy tan tành.

Sư cô bảo là năng lượng của Sư Ông sẽ che chở cho con nhưng con ở cách xa Sư Ông như thế thì năng lượng đó có đến tới không hở cô!
Con biết là tội của con đã lớn như núi rồi. Con chỉ không muốn cái núi đó phình to thêm nữa.




Sư Ông ơi,
Trong lúc nóng giận con đã cắn vào tay mẹ để chạy trốn khỏi cây roi vì mẹ giữ con lại. Một lần con chạy trốn ra ngoài nhưng mẹ đã đuổi theo và la to lên: ăn trộm, bắt lấy nó, ăn trộm. Lúc ấy cái đầu con rất cứng và lì. Mẹ muốn đánh con cho hả giận nhưng con đã thoát mất rồi nên mẹ mới tức mà la lên như thế. Con không chôm chỉa gì cả mà cũng không muốn bị ăn đòn. Con đã phá hỏng nhiều vật dụng trong nhà và đã phát ra những lời dung tục thô lỗ cộc cằn với mẹ và còn lấy trộm tiền của mẹ, số tiền không lớn, để mua quà vặt. Con không cố ý đánh em. Chỉ tại đuôi cán dài quá mà con không thấy em ở phía sau nên mới quơ trúng. Bố mẹ không cho con nói, sau đó con đã đánh em thiệt luôn và cạch không chơi với nó nữa.

Con đang tạm trú ở thành phố Hồ Chí Minh và học Đại Học. Bố mẹ vẫn chi phí cho con. Cả bố và mẹ đều là teachers. Nhưng mẹ đã quá đàn áp con, không thể tiêu hóa nổi nữa và con trở nên lì lợm khó bảo như thế này… Mẹ xem con là thủ phạm của mọi việc. Cả cái kéo cây bút của mẹ bị lạc, mẹ cũng kiếm con để đập…

Con đã khóc một mình, nếm thử nước mắt của mình nó mặn và chát như thế nào. Con đã không nói chuyện này với ai. Từ đó mỗi lần sắp khóc là con đã tự cấm mình không được rơi nước mắt nữa. Khóc chẳng để làm gì cả. Nước ấy đã tự khô dần mà không còn nhỏ thành giọt. Nhưng khi ngủ đến nửa khuya thức dậy thì hai mắt và gối đã ướt sũng… Con nghĩ là mình còn may vì đã không hành động ngu ngốc mà bỏ học nửa chừng, không đi bụi cho rồi (lúc còn nhỏ). Rằng mình phải sống, phải tồn tại cho được bằng mọi cách, vì vậy cần phải cố công mà học với bất cứ giá nào. Có cái học rồi thì muốn làm gì cũng được, không ai có thể cản trở. Và kết quả cũng không tồi. Nhưng chính việc học đã cứu con. Ít ra thì không phải trở thành một tên máu lạnh, không phải động đến đao mác súng ống và nhiều loại khác nữa.

Sư Ông ơi, vì sao con lại phải sống xa nhà như thế này, vì sao phải xa những người mà con thương nhớ, những người mà con muốn ngày nào cũng được gặp họ. Sao tất cả lại không ở cùng một chỗ để con có thể thấy hết mọi người? Sao lại mỗi người mỗi nơi vậy. Con không có động lực nào để tiếp tục làm việc. Con chán nản quá rồi.

Sư Cô Đoan Nghiêm chia sẻ:

Cô xin cảm ơn em đã viết thư cho Sư Ông. Qua lá thư của em, cũng như của nhiều người trẻ khác, Sư Ông thấy và biết rất rõ có rất nhiều người trẻ hiện nay trên thế giới rất cần một hướng đi tâm linh, một lối thoát cho cuộc sống đang bế tắc của mình. Sư Ông kể có nhiều người trẻ vì áp lực xã hội, vì không có bạn lành thầy giỏi, và không có một môi trường lành mạnh mà họ đã phải tìm biện pháp tự tử để giải quyết tất cả các khó khăn. Sư Ông rất thương những người trẻ, thương nhất là những người trẻ thiếu may mắn trong cuộc đời như em chẳng hạn. Năng lượng thương yêu của Sư Ông lúc nào cũng tỏ rạng và tỏa chiếu khắp nơi. Từ khi cô được sống dưới sự chở che và dạy dỗ của Người, cô được thấy và được biết Sư Ông đã cố gắng bằng nhiều cách để thắp sáng năng lượng thương yêu và hiểu biết tới mọi nơi (như giảng dạy, viết sách, thành lập những chương trình từ thiện, biến kinh thành nhạc, tạo dựng những trung tâm tu học, và xây dựng những tăng thân tu học có tình huynh đệ).

Em có thấy thương Sư Ông không? Nếu có, năng lượng thương yêu của Người đã chạm tới em rồi đó. Em hãy bắt đầu thực tập học thương những gì đẹp, những gì lành và thật từ con người của Sư Ông nha em. Em hãy cố gắng tìm những quyển sách, những đĩa nhạc kinh của Sư Ông để thực sự tiếp xúc với những gì đẹp, lành và thật em nhé. Cô biết chắc em sẽ được chuyển hóa, vì Bụt có dạy rằng khi ta thắp sáng thương yêu ở trong ta thì ta có khả năng dập tắt được lửa hận thù không phải chỉ ở trong ta mà ta còn có khả năng giúp người độ đời nữa em ạ.

 

 
Em chỉ cần hướng đến Sư Ông, nghĩ tới tình thương của Sư Ông dành cho mọi người, nghĩ tới sự không ngại đường xa, tuổi cao, lòng kiên trì của Sư Ông… thì Sư Ông đã có mặt ngay đó với em rồi, đâu có xa gì đâu. Em hãy mời Sư Ông có mặt với em trong từng giây phút của cuộc sống hằng ngày bằng cách học nói những lời thương yêu như Sư Ông nói, hãy học ăn với lòng biết ơn muôn loài như Sư Ông ăn, hãy học nâng tách trà bằng hai tay với tất cả sự trân quý như Sư Ông đã làm, hãy học đi từng bước với ý thức là mình đang bước từng bước ý thức như Sư Ông bước, hãy học tiếp xúc với những mầu nhiệm xung quanh mình như Sư Ông đã sống mỗi giây phút của cuộc đời mình rất chánh niệm… Em hãy học sống như Sư Ông vậy, bắt đầu từ hôm nay, thì khi thương yêu và hiểu biết bắt đầu sống lại ở trong em là lúc em sẽ cảm nhận được sự chở che và nâng đỡ của Người. Em phải tự mình chứng nghiệm để tăng trưởng niềm tin trong mình.

Nói về tội lỗi, hôm nay cô xin kể một câu chuyện có thật thời Bụt còn tại thế. Bụt có một vị đệ tử tên là Angulimala. Trước khi xuất gia, Angulimala là một tên giết người không gớm tay. Sau khi giết nạn nhân của mình xong, Angulimala lấy kiếm chặt đứt một ngón tay rồi xỏ thành một xâu chuỗi để đeo. Nghe đến tên Angulimala là ai nấy đều khiếp đảm. Những nẻo đường hẻo lánh càng không ai dám đi lại. Nhà vua đã sai từng đoàn từng đoàn quân lính đi vây bắt, nhưng rất khó tìm bắt được. Hôm đó, như mọi lần, Bụt đi khất thực (đi đến từng nhà xin ăn). Và Angulimala đã thấy Bụt từ xa. Angulimala gọi Bụt đứng lại. Nhưng Bụt không sợ, Bụt vẫn tiếp tục đi ung dung vững chãi, bước đi của một con voi chúa. Khi tới gần Bụt, Angulimala hỏi Bụt sao không đứng lại. Bình thản, nhẹ nhàng và từ bi, Bụt nói Người đã dừng lại từ lâu rồi, chỉ có Angulimala là chưa đứng lại thôi. Angulimala sửng sốt ngạc nhiên. Bụt nói tiếp là Người đã từ lâu dừng lại những hành động gây khổ đau cho người khác, và Người đã học được những phương pháp đem lại thương yêu và hiểu biết…

Từng lời nói của Bụt như những giọt cam lộ rưới lên mảnh đất tâm khô cằn (thiếu) thương yêu và hiểu biết của Angulimala. Sau khi Bụt nói xong, thì Angulimala đã buông đao xuống từ lâu, và Angulimala quỳ xuống xin Bụt cho xuất gia theo Ngài. Khi Angulimla xuất gia, Ngài có tên là Bất hại (không hại ai). Khi xuất gia xong, thì Ngài cũng phải đi khất thực như thầy bổn sư và huynh đệ của mình. Nhưng với quá khứ của Ngài, những người có thân nhân bị Ngài giết, khi thấy Ngài, thay vì họ cúng dường thức ăn cho Ngài, thì họ dùng gậy đánh đập lên người Ngài, lấy đá ném vào Ngài. Nhưng Ngài một lòng đứng yên tiếp nhận niềm đau và nỗi khổ của những người đó qua cái đánh đập và ném đá mà không một lời than trách và tránh né, tại vì Ngài hiểu vì sao họ hành xử như vậy đối với Ngài. Không có lần nào về lại tu viện cùng thọ trai chung với Bụt và chư tăng mà trên mình Ngài không thương tích. Tu không lâu, Ngài Bất Hại chứng quả thánh. Từ một tên giết người Ngài đã trở thành một bậc thánh, chỉ trong một kiếp người.

Em thấy không, nguồn gốc của tội lỗi phát xuất từ lòng người, nhưng tội lỗi được tiêu trừ cũng từ lòng người mà ra.

 

 
Từ tấm bé, em không được thương, không được hiểu, lại còn bị đánh đập, nên khi lớn lên em căm thù, em hận, em tàn phá, em gây tội lỗi… Em nào có muốn đâu, phải không em? Kinh nghiệm bản thân, cô biết chắc không ai muốn mình làm con người tàn ác, khó thương cả. Nếu có sự chọn lựa, ai cũng sẽ chọn cho mình làm con người thánh thiện. Cô nghĩ mẹ em cũng vậy. Có thể bà đã đi qua trường hợp như em khi bà còn tấm bé. Bà đã khổ đau, bà đã chất chứa nhiều hận thù, bạo động… Bà chất chứa quá nhiều đến nỗi vung vảy khổ đau lên cho đứa con của mình. Bà không có người để lắng nghe, để bày tỏ niềm đau nỗi khổ, bà không có lối thoát đó em. Cũng như em đã không có lối thoát trong quá khứ nên cũng đã vung vảy niềm đau lên bất cứ chướng ngại vật nào. Nhưng mẹ em lại không có may mắn như em bây giờ là còn có cơ hội nhìn lại, hay biết vào trang nhà Làng Mai, được tiếp xúc với Sư Ông Làng Mai và những pháp môn tu tập để cải hóa cuộc đời và vận mạng của mình.

Cô mong rằng em thấy được điều này để hiểu mẹ, tha thứ cho mẹ, đừng giận mẹ, và đừng để nó luân hồi lên con cháu của mình, như em đã kinh nghiệm nó trong cuộc đời của em. Có hiểu thì có thương em ạ. Em có thấy mình có bổn phận chấm dứt vòng luân hồi khổ đau này không? Trách nhiệm của em lớn lắm. Cô rất mừng cho em vẫn còn phước đức của ông bà tổ tiên để lại cho nên em có cơ duyên gặp được Sư Ông, có hướng đi mới. Đã có đường đi rồi con không còn lo sợ, là câu thư pháp của Sư Ông đó em. Em có thể đánh máy, in ra cho thật to rồi dán đâu đó trong phòng, trong nhà… bất cứ nơi nào để em nhớ là mình có lối thoát, mình không chịu thua hoàn cảnh. Nhớ nhé. Chừng nào em tha thứ được cho mẹ là em tu thành công rồi đó.
Chúc em thành công.

Giọt hạnh phúc

 

 

Này em có thấy không?

Mặt trời hồng đang thức tỉnh màn đêm.

Những chồi non vươn mình

Nhựa sống vun đầy

Bầu trời thăm thẳm ngàn mây

 

Em có nghe chăng, tiếng tôi gọi sáng nay

Tia nắng sớm rọi vào tổ ấm

Đàn chim non rộn ràng, ríu rít

Chim mẹ hớn hở mớm mồi

Im vắng buổi trưa

Lá hát ru em.

 

Này em, hãy cười với tôi!

Trăng thỏ thẻ theo bước chân em

Im lặng đất trời, nghe từng hơi thở,

Những đôi mắt bao dung chan đầy hiểu biết

Tình người sống động, em có hay?

 

Khóc ư?

Ừ em cứ khóc đi

Hãy để những con sóng cồn cào trong em lắng dịu

Nước mắt nhỏ xuống

Vỗ về trái tim tưởng chừng cô độc

Và những con sóng giận hờn trách móc

Sẽ thôi cấu cào

Lặng lẽ trôi đi

Hòa vào lòng đại dương sâu thẳm.

 

Bình an đón em trở về

Long lanh đôi mắt hiền từ

Nắng gió vẫy gọi,

Trăng sao sẽ dìu em vào vũ trụ

Bản hợp tấu cất lên

Vạn vật hòa ca

Em sẽ thấy giọt hạnh phúc dâng đầy

Tình thương tràn về, ngập trái tim em.

 

Chân Quế Nghiêm

Sư Ông Làng Mai đã về tới Tu Viện Vườn Ươm

Ngày 28/11/2019, sau đúng một năm một tháng kể từ ngày về tới Việt Nam năm ngoái, Sư Ông đã cùng các thị giả trở về thăm lại Thái Lan. Chuyên cơ chở Sư Ông đã đáp xuống phi trường Don Mueang, Bangkok vào lúc 11g 20 sáng. Trong suốt chuyến bay, Sư Ông rất vui và ngồi thẳng, nhìn qua cửa sổ ngắm mây bay.

Bữa cơm trưa được thị giả chuẩn bị sẵn và Sư Ông đã dùng rất ngon miệng, thậm chí Sư Ông còn thử chút ít trái cây dọn ra trên máy bay. Đến sân bay Don Muong, gần năm mươi đệ tử xuất sĩ đến từ tu viện Vườn Ươm và phật tử cư sĩ ở Bangkok đã tụ tập chào đón người. Sư Ông nhìn quanh với ánh mắt tinh anh, với niềm vui trong mắt và giơ tay vẫy mọi người. Sau đó Sư Ông được đưa lên xe cứu thương để về thẳng bệnh viện ở Bangkok.


              Sư Ông vừa xuống sân bay Don Mueang, Bangkok, Thái Lan

           
Theo dự kiến Sư Ông sẽ nghỉ ngơi một ngày trước khi được tái khám nhưng Sư Ông rất khoẻ nên đã cho phép mọi việc được thực hiện ngay vào chiều hôm đó và xuất viện. Một số các thầy và sư cô thay phiên nhau lên thăm Sư Ông mỗi ngày. Tuy nhiên chiều hôm sau Sư Ông ngỏ ý muốn về thăm tu viện Vườn Ươm ngay. Sáng 30/11/2019, Sư Ông và đoàn thị giả đã rời Bangkok và về tới tu viện vào lúc 10g30 sáng.

 

               Đại chúng Tu viện Vườn Ươm hân hoan mừng Sư Ông về

 
(Nhật ký Ban thị giả)

Còn biết ơn là còn hạnh phúc

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 27.11)

Biết ơn là điều kiện của hạnh phúc

“Thanksgiving Day” là ngày lễ tạ ơn theo truyền thống của người Mỹ. Tại Làng Mai, hàng năm, chúng ta đều tổ chức lễ tạ ơn, nhưng với một tinh thần khác. Tinh thần của sự đi sâu vào thực tập làm lớn lên lòng biết ơn để nuôi dưỡng niềm hạnh phúc trong đời sống nơi mỗi chúng ta. Bởi khi nào lòng biết ơn còn có mặt thì hạnh phúc vẫn còn. Và người đã cạn kiệt lòng biết ơn, hạnh phúc không thể còn có nơi người ấy được.
 

 
Theo truyền thống Cơ Đốc Giáo, biết ơn được hiểu là biết ơn Thượng Đế, biết ơn Chúa. Bởi theo truyền thống Cơ Đốc Giáo thì Thượng Đế đã sinh ra mình, sinh ra vạn vật, và tất cả những gì cần thiết cho cuộc sống. Còn trong truyền thống đạo Bụt, sự biết ơn được hiểu như tứ ân: cha mẹ, thầy tổ, bạn bè và mọi loài. Vì cha mẹ cho ta hình hài này, thầy tổ cho ta đời sống tâm linh, bạn bè là những người đồng hành, và nâng đỡ ta trong những lúc khó khăn, các loài hữu tình và vô tình khác mang lại cho ta những điều kiện cần thiết cho cuộc sống. Ta biết rằng, tổ tiên của mình không chỉ là loài người. Chúng ta có chung nguồn gốc với các loài động vật, thực vật và cả những loài khoáng vật. Bởi con người xuất hiện rất muộn trong lịch sử hình thành sự sống. Do vậy, lòng biết ơn không chỉ hướng đến loài người, mà cả mọi loài. Đối tượng của lòng biết ơn trong đạo Bụt rất lớn.

Người Phương Đông có quan niệm phú tải chi ân – trời che đất chở. Bầu trời ôm lấy mình, che chở mình. Còn mặt đất chuyên chở mình, là nơi cư trú của mình. Trên thì che, mà dưới thì chở – thiên địa phú tải chi ân. Đó là ý niệm về lòng biết ơn của người Đông phương. Nếu có tuệ giác, mình thấy được mọi thứ hiện hữu xung quanh đều có ơn đối với mình. Khi nhìn nước chảy từ vòi ra, mình ý thức rõ: “Nước từ nguồn suối cao. Nước từ lòng đất sâu. Nước mầu nhiệm tuôn chảy. Ơn nước luôn tràn đầy.” Trong mình sẽ dâng lên niềm biết ơn, nếu mình biết quán chiếu như vậy, rồi mình nhìn sâu để biết ơn không khí, lửa,…Niềm biết ơn của mình sẽ bao trùm vạn hữu vũ trụ.

Trong ngày tạ ơn, người Mỹ thường có truyền thống trang hoàng những trái bí rợ rất lớn, những trái dưa, những trái bắp. Đây là những quà tặng của đất trời. Quà tặng ấy ta được tiếp nhận mỗi ngày. Ta cần thể hiện lòng biết ơn 24 giờ mỗi ngày. Ngày tạ ơn chỉ là biểu trưng cho lòng biết ơn ấy. Cần thực tập để lòng biết ơn trải rộng trên khắp mọi loài. Lòng biết ơn còn bị giới hạn, chưa phải là lòng biết ơn đích thực. Chúng ta thường nghĩ, cha mẹ là người nuôi dưỡng ta nên vóc nên hình. Nhưng nhìn sâu hơn, ta có thể thấy, góp công vào sự dưỡng dục ấy còn có rất nhiều yếu tố như đất, trời,… Nếu không có đất, có mặt trời sao có được lúa gạo, sao có được bông để dệt vải,…Do vậy, ta cũng có thể gọi, mặt trời là cha chung của muôn loài, trái đất là mẹ chung của muôn loài.
 

 
Người trao truyền, vật trao tryền và người tiếp nhận

Trong triết lý của Phật giáo, chuyện cho và nhận được nhận thức rất sâu sắc. Khi quán chiếu sâu sắc, ta thấy rằng, trong quan hệ cho nhận, người cho với người nhận không phải là hai thực tại riêng biệt – Người cho cũng là người nhận, và người nhận cũng là người cho. Thực tế là vậy, nhưng ta ít khi thấy được điều này. Ví dụ, tuy mình biết, cha mẹ là người trao truyền cho mình hình hài này, nhưng mình vẫn có khuynh hướng nghĩ  mình và cha mẹ là hai thực thể riêng biệt. Cha mẹ là một thực thể khác, con là một thực thể khác. Thấy như thế thì chưa đúng với tinh thần đạo Bụt. Nhìn kỹ, hình hài này chứa đựng cả cha mẹ. Cha mẹ có mặt trong từng tế bào cơ thể của con. “Con có cha có mẹ. Cha mẹ có trong con”. Con mang đầy đủ những hạt giống, nhiễm sắc thể của cha mẹ.  Người trao truyền và vật trao truyền là một. Đây gọi là cái nhìn bất nhị – Một giáo l‎ý rất thâm sâu trong đạo Bụt.

Nếu đem cái nhìn bất nhị này áp dụng vào trường hợp của những người bạn Cơ Đốc Giáo và Do Thái Giáo, mình sẽ có được những cái thấy rất hữu ích. Các bạn Cơ Đốc Giáo và Do Thái Giáo nếu quán chiếu thật kỹ, sẽ thấy được, mình và thượng đế không phải là hai thực thể riêng biệt. Mình ở trong thượng đế và thượng đế ở trong mình. Đối với vấn đề tạo hóa và tạo vật cũng vậy. Mình hay quan niệm rằng, tạo hóa và tạo vật là khác nhau. Nhưng nếu nhìn kỹ tạo hóa sẽ thấy được tạo vật ở trong, và ngược lại. Nếu không có liên hệ, làm sao tạo hoá làm ra tạo vật được?  Nếu không có liên hệ, làm sao có sự trao truyền? Trong truyền thống Cơ Đốc, nhiều vị tu sĩ đã thấy được điều này là nhờ có cái nhìn bất nhị. Nên họ không đi tìm Thượng Đế và Chúa bên ngoài họ, bởi họ đã thấy Thượng Đế và Chúa ngay bên trong họ. Kinh Phúc Âm có dạy rằng: “Chúa, Thượng Đế nằm ở trong trái tim của mình chứ không phải là một thực thể bên ngoài mình”. Do vậy, người trao truyền chính là vật trao truyền, vì người trao truyền đã trao truyền chính mình cho người tiếp nhận. Đứng về phía người tiếp nhận vật trao truyền, họ cũng chính là vật trao truyền. Tuy nói rằng, sự trao truyền có ba yếu tố: người trao truyền, người tiếp nhận, và vật trao truyền, nhưng kỳ thực, ba yếu tố đó chỉ là một. Cái này được gọi là tam luân không tịch – tức là ba cái không có sự riêng biệt. Người trao truyền, vật trao truyền và người tiếp nhận nương nhau mà có. Một trong ba yếu tố vắng mặt thì hai yếu tố còn lại không thể được hình thành.

Ngày tạ ơn là cơ hội để thể hiện lòng biết ơn. Nhưng lòng biết ơn ấy có sâu sắc hay không, còn tùy thuộc vào cái thấy về lòng biết ơn có sâu sắc hay không? Cái thấy sâu sắc nhất chính là cái thấy bất nhị – người mình mang ơn và mình là một. Trong ngày biết ơn, không phải chỉ ý thức đến sự  may mắn của mình mà cần phải quán chiếu cho sâu sắc vấn đề này để đạt đến tuệ giác bất nhị.

Truyền thống đạo Bụt có dùng danh từ pháp – chỉ sự vật như đối tượng của tâm thức. Pháp đây không có nghĩa là giáo pháp. Ví dụ, cây bút được gọi là một pháp, con mắt là một pháp, trái bí ngô là một pháp. Cơ thể ta có sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Và đối tượng của sáu căn là sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Sắc là đối tượng của mắt, thanh là đối tượng của tai, hương là đối tượng của mũi, vị là đối tượng của lưỡi, xúc là đối tượng của thân, và pháp là đối tượng của ý. Do vậy, chữ pháp có nghĩa là những cái ta nhận thức được.
 

 
Khi mình có tri giác, cái tri giác đó có hai phần: chủ thể và đối tượng. Chủ thể và đối tượng phát hiện cùng một lúc. Khi nói thấy, luôn luôn phải có đối tượng của cái thấy ấy, thấy cái gì? Tương tự với nghe, ngửi, vị, xúc, ý. Đây là vấn đề rất khó trong đạo Bụt, nhưng hết sức căn bản. Vì khi hiểu được điều này, mới có thể hiểu được các giáo lý của Bụt. Ví dụ, khi nhìn trái bí là một pháp, ta cần tập nhận biết trái bí là đối tượng của ý. Pháp là đối tượng của ý, và không tách rời khỏi tâm. Đây cũng là vấn đề bất nhị – chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức không độc lập, gắn liền với nhau. Thực tập điều này hơi khó, nhưng mình có thể đạt được. Ngành khoa học lượng tử đã bắt đầu hé mở được vấn đề này. Các nhà khoa học thấy được đối tượng nghiên cứu của mình ở đâu tâm mình ở đó. Tuy nhiên, họ vẫn còn bị kẹt vào ý niệm chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức độc lập nhau. Đó là cái thấy nhị nguyên, một cái thấy rất thông thường của con người. Phá vỡ được cái thấy nhị nguyên chỉ có thể nhờ vào công phu quán chiếu.

Hiện nay, các nhà khoa học đang chật vật để vượt qua điều này. Và khả năng giải thoát sanh tử của các hành giả cũng đều tùy thuộc vào việc có vượt qua được hàng rào của kiến chấp nhị thủ. Trong kinh bốn lĩnh vực quán niệm có đề cập đến bốn đối tượng để quán chiếu: thân, thọ, tâm và pháp. Quán thân nơi thân, quán thọ nơi thọ, quán tâm nơi tâm, quán đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Lĩnh vực quán chiếu thứ tư là pháp. Pháp là đối tượng của tâm, không tách rời khỏi tâm, không ở ngoài tâm.

Khổ đau có mặt nhưng hạnh phúc cũng có mặt

Chúng ta có nói căng thẳng là yếu tố luôn góp mặt trong những nguyên nhân gây ra những khổ đau như lo lắng, sợ hãi, bạo động, gia đình tan vỡ, ly dị, tự tử, chiến tranh, xung đột, khủng bố, ô nhiễm môi trường, địa cầu bị hâm nóng… Còn rất nhiều nỗi khổ đau trong lòng mỗi người, mà chúng ta không thể kể hết ở đây.

Theo nhận thức của những nhà chính trị, những nhà kinh tế, những nhà cách mạng thì khổ là nghèo đói, bệnh tật, thất nghiệp, bất công xã hội, nô lệ, kỳ thị,… Nhưng nếu quán chiếu cho sâu, họ cũng thấy được rằng những cái mà họ cho là khổ không nằm ngoài mối quan hệ với những nỗi khổ trong tự thân. Giả sử không có nghèo đói, không có bệnh tật, không có thất nghiệp, không có bất công xã hội thì vẫn có những căng thẳng, lo lắng, sợ hãi, bạo động, chiến tranh như thường.  Khổ vẫn có như thường. Nếu chúng ta không bị căng thẳng, không lo lắng, không sợ hãi, không bạo động thì tự nhiên nghèo đói, bệnh tật, thất nghiệp sẽ được giảm bớt.  Chúng ta cần phải nhìn nhận một cách sâu sắc để biết được cái nào đích thực là khổ. Ví dụ, một người tranh đấu chống nạn thất nghiệp để có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, để có tự do. Vì theo họ thì bị thất nghiệp, không có cơm ăn, áo mặc, nhà ở,… là khổ. Nhưng có thể trong họ vẫn có sự lo lắng, căng thẳng, sợ hãi, giận hờn, và họ vẫn khổ, cho dù họ có đấu tranh thành công để có được việc làm, để có được tự do.

Cho nên, cái khổ có nhiều mặt. Và khi đề cập đến tập đế, chúng ta có thể nói nó là con đường bát tà – tức là con đường không có mặt của chánh kiến, chánh tư duy. Nó là nguyên nhân đưa đến khổ đau. Nhờ biết được nguyên nhân khổ đau, ta chuyển hóa được khổ đau. Diệt đế là sự vắng mặt của khổ đau, sự vắng mặt của bóng tối. Khổ đau vắng mặt thì hạnh phúc có mặt. Bóng tối vắng mặt thì ánh sáng có mặt. Hạnh phúc là ngược lại với căng thẳng. Hạnh phúc là ngược lại với lo lắng. Hạnh phúc là ngược lại với sợ hãi. Trong hạnh phúc không thể có mặt yếu tố bạo động, yếu tố tan vỡ. Diệt đế là hạnh phúc, nhưng trong hạnh phúc thì khổ đau cũng có thể đang có mặt một phần nào đó. Công nhận khổ đế không có nghĩa là không có hạnh phúc. Công nhận có bùn không có nghĩa là không có sen. Trong giây phút hiện tại, trong ta vừa có bùn, vừa có sen; vừa có rác, vừa có hoa. Nếu nói khổ đế là một sự thật thì diệt đế cũng là một sự thật. Cuộc đời có những khổ đau, nhưng cuộc đời cũng đang có những hạnh phúc.

Sáng nay ngồi thiền, tôi cảm thấy rất hạnh phúc và hạnh phúc là một chuyện thật. Khi nói đến Tứ diệu đế, nếu nghĩ rằng Tứ diệu đế chỉ có nói tới khổ đau thôi thì không đúng. Tứ diệu đế nói rằng có khổ đau nhưng đồng thời hạnh phúc cũng đang có mặt. Nhìn cho kỹ thì khổ đau cũng đóng một vai trò nào đó để tạo dựng hạnh phúc. Vấn đề là làm thế nào để làm vơi bớt khổ đau và  làm tăng trưởng hạnh phúc. Luân lý đạo đức là những nguyên tắc, những phương pháp hành động để giảm thiểu khổ đau và nuôi lớn đạo đức. Cho nên không hẳn là  tiêu diệt khổ đau mới có hạnh phúc.

Vào khoảng 6 giờ sáng trên bầu trời có cả mảng sáng và mảng tối, sáng tối đan xen vào nhau. Khổ đau và hạnh phúc cũng vậy, chúng nương vào nhau. Trong tuệ giác tương tức thì cái này được làm bằng cái kia và cái kia được làm bằng cái này, “thử hữu tức bỉ hữu, thử vô tức bỉ vô” (cái này có vì cái kia có, cái này không vì cái kia không”. Giống như sen với bùn, nếu không bùn thì không có sen. Cho rằng tất cả đều là khổ là một ý niệm sai lầm. Bụt nói rằng: “Con ơi, có những khổ đau và con phải quán chiếu để chặt đứt khổ đau”. Chứ Bụt không hề nói: “Tất cả đều là khổ hết con ạ”.  Nếu một nhà thần học vì thương Bụt mà tìm đủ mọi cách để chứng minh đời là khổ để cho Bụt đúng thì ông ta hại Bụt rồi. Bởi vì làm như vậy là ông ta không hiểu được lời dạy của Bụt.

Công nhận khổ đau đang có mặt và cho rằng tất cả đều là khổ là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Sai lầm đầu tiên là cho rằng mọi thứ là khổ. Sai lầm thứ hai là tưởng rằng chỉ khi nào khổ đau vắng mặt hoàn toàn thì khi ấy mới thực sự có hạnh phúc.

Tuy cuộc đời có khổ đau nhưng nhờ tu tập ta tìm được những giây phút rất hạnh phúc. Cho dù đang trong hoàn cảnh khốn khó tới mấy thì vẫn luôn còn đó những điều kiện hạnh phúc, tuy ít ỏi nhưng nó có đó. Ngược lại, nếu cho rằng đời toàn niềm vui cũng không đúng. Đời có khổ có vui, cái khổ đang đóng một vai trò nào đó để làm ra cái vui. Nếu không đói thì ta ăn sẽ không ngon. Nhờ có cái đói ta mới cảm thấy hạnh phúc khi được ăn.

Trong kinh có nói năm uẩn là khổ. Người xưa diễn tả khổ là: Sinh, già, bệnh, chết. Sinh ra là khổ, già là khổ, bệnh tật là khổ, chết là khổ. Ham muốn mà không được là khổ, ghét bỏ mà phải gần gũi là khổ, thương nhau mà phải xa lìa và năm thủ uẩn là khổ. Thủ có nghĩa là bị kẹt, bị vướng mắc vào. Uẩn là năm yếu tố tạo nên con người gồm có: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức (hình hài, cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức). Nếu bị kẹt vào năm uẩn, bị dính mắc vào và cho chúng là của mình thì lúc đó mới khổ. Năm uẩn không khổ nhưng năm thủ uẩn mới khổ. Đức Thế Tôn nhờ có năm uẩn mà ngày hôm nay chúng ta mới có giáo pháp để hành trì. Ngài cũng có năm uẩn nhưng Ngài không khổ bởi vì Ngài không bị kẹt, không cho rằng năm uẩn là vật sở hữu của mình, nhờ đó nên ngài được tự do. Uẩn của ngài không phải là thủ uẩn. Các pháp không phải là khổ nhưng vì kẹt vào các pháp nên mới khổ.

Nghệ thuật xây dựng hạnh phúc

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 09.01.2014 tại thiền đường Nước Tĩnh, xóm Thượng, Làng Mai, trong khóa An Cư Kết Đông 2013-2014 – Phần 2)

Định sinh hỷ lạc

Trong Kinh cũng nói tới những phương pháp khác như: Định sinh hỷ lạc 定 生 喜 樂. Khi có thiền định (meditation) thì ta có rất nhiều an, hỷ và lạc. Trong thiền định có niệm, định và tuệ. Với ba loại năng lượng đó ta có thể chế tác ra an, hỷ và lạc. Với niệm, định và tuệ ta chế tác ra an, nghĩa là buông bỏ những căng thẳng, làm giảm thiểu những đau nhức trong hình hài của mình. Nếu biết cách thở trong chánh niệm, đi trong chánh niệm, ngồi trong chánh niệm, làm việc trong chánh niệm thì ta buông bỏ được nhiều sự căng thẳng trong thân và trong tâm, ta buông bỏ được sự căng thẳng trong cảm thọ hay trong cảm xúc. Ta chế tác được hỷ và lạc là nhờ định. Thiền định cũng làm phát sinh ra an, hỷ và lạc. Đây là một nghệ thuật (art of meditation).

 

 

Trong thiền môn, người ta nói: Niềm vui của thiền định là thức ăn (The joy of meditation as daily food). Thiền duyệt vi thực 禪 悅 為 食. Chữ duyệt giống như chữ hỷ, niềm vui của thiền định là thức ăn hàng ngày của người tu. Ta nuôi ta bằng hỷ, lạc và an mà không phải bằng danh vọng, quyền hành và sắc dục. Nếu có pháp thân (the practice) vững thì ta có thể nuôi được mình. Nuôi được mình rồi thì ta có thể nuôi được những người thương của mình.

Niệm sinh hỷ lạc

Trong định có niệm 念, và tại Làng Mai chúng ta học rất rõ niệm là một yếu tố để làm phát sinh ra an, hỷ và lạc (Mindfulness is the source of joy, happiness and peace). Đó không phải là lời nói suông. Biết chế tác ra năng lượng chánh niệm thì ta chế tác hỷ, lạc rất dễ. Ví dụ như tôi đứng trên bục giảng và làm những động tác chánh niệm. Tôi làm không phải để có sức khỏe mà là để có hỷ và lạc trong khi làm. Những động tác chánh niệm không phải là những phương tiện để đi tới cứu cánh là có thêm sức khỏe mà nó chính là cứu cánh. Tôi thấy có hỷ, lạc và an ngay trong khi làm. Ở Làng Mai, chúng ta phải học làm như vậy. Ngồi thiền, đi thiền, tụng kinh không phải là để có an lạc mà ngồi thiền, đi thiền, tụng kinh chính là an lạc. Đó là do niệm mà ra.

Có một năm nào đó tôi bị bệnh phổi, con vi khuẩn Pseudomonas aerogina làm phổi ra máu. Tôi thở không có hạnh phúc. Nhưng sau khi điều trị và phổi lành rồi thì tôi thở hay hơn. Mỗi khi muốn thở ngon tôi chỉ cần nhớ lại thời gian bị nhiễm trùng phổi thì tự nhiên tôi thấy hơi thở vào cũng ngon mà hơi thở ra cũng ngon. Chỉ cần có niệm thì muốn có hỷ, lạc là ta có hỷ, lạc ngay. Những người trẻ có hai chân rất khỏe, có thể đi, nhảy hay trèo được mà không có hạnh phúc thì rất uổng. Đợi tới khi già không nhảy, không trèo được nữa thì mới tiếc. Đó là do niệm. Niệm là nhớ rằng ta đang có tuổi trẻ, ta đang có hai mắt sáng, ta đang có buồng phổi tốt, có hai chân khỏe và ta có thể sử dụng được hai chân, hai mắt, hai buồng phổi của mình. Nếu ta không có hạnh phúc thì đó là tại vì ta không có niệm. Có niệm thì với hai mắt còn sáng đó, hai buồng phổi còn tốt đó, hai chân còn khỏe đó ta có thể có hỷ, lạc và an suốt ngày. Tùy ở chúng ta mà thôi. Ta phải tự nhắc mình và những người cùng tu có thể nhắc cho ta để ta có thể phát khởi niệm. Có niệm là có an, có lạc, có hỷ.

Ly đưa tới an, hỷ và lạc. Thiền định đưa tới an, hỷ và lạc và chánh niệm cũng đưa tới an, hỷ và lạc.

Tuệ sinh hỷ lạc

Tuệ cũng đưa tới an, lạc và hỷ. Tuệ sinh hỷ lạc 慧 生 喜 樂. Người nào trong chúng ta cũng đã có những cái thấy (insight). Ta biết chuyện đó không đáng để cho ta đeo đuổi, quan tâm và bị cuốn vào đó. Ta thông minh và có đủ tuệ giác, ta biết cái đó không quan trọng, không đáng để ta quan tâm và làm cho ta mất thì giờ tranh đấu. Cho dù như vậy nhưng ta vẫn quan tâm, vẫn tranh đấu, vẫn làm mất thì giờ vì ta không sử dụng cái tuệ mà ta có. Chúng ta, không ai là không có tuệ nhưng ta không biết sử dụng tuệ. Có tuệ thì ta buông bỏ rất dễ. Ta biết đa mang là khổ nhưng ta vẫn vướng vào như thường. Khi con cá biết được trong con mồi kia có sẵn một lưỡi câu thì nó có tuệ. Có tuệ thì con cá sẽ không cắn vào miếng mồi, tại vì nó biết nếu cắn vào thì nó sẽ bị lưỡi câu móc vào cổ họng và nó sẽ chết. Chúng ta có tuệ nhưng không chịu sử dụng tuệ, ta cứ để lưỡi câu móc vào cổ họng. Ta hành xử một cách dại dột, ta để mình vướng mắc vào một hoàn cảnh không đáng tại vì ta không biết sử dụng tuệ của mình. Chúng ta, ai cũng có tuệ, có nhiều hay có ít. Càng tu, càng có niệm và định thì tuệ càng lớn. Có định và tuệ mà không biết dùng thì ta bị kẹt vào những tình huống khó khăn, lầy lội. Vì vậy chúng ta phải biết sử dụng những yếu tố chúng ta có tức bốn yếu tố buông bỏ, thiền định, chánh niệm và trí tuệ để chế tác an, lạc và hỷ.

 

 

Nghệ thuật xử lý khổ đau

Trong Kinh dạy rất rõ, mỗi ngày chúng ta phải học theo lối điều kiện hóa (conditioning). Được nhắc nhở hay không được nhắc nhở chúng ta cũng phải làm cho được. Chế tác được hỷ, lạc và an bằng bốn yếu tố buông bỏ, thiền định, chánh niệm và trí tuệ thì ta cũng có khả năng xử lý được những nỗi khổ, niềm đau. Những nỗi khổ, niềm đau đó không quá lớn, nhưng vì ta không biết xử lý nên chúng trở thành lớn. Phương pháp ta học được trong Kinh là khi có nỗi khổ, niềm đau thì ta phải xử lý ngay. Nhưng đa số chúng ta trong xã hội lại tìm cách chạy trốn khi có nỗi khổ, niềm đau. Ta đi tiêu thụ để tìm quên lãng, ta mở ti vi ra xem, mở sách ra đọc, mở tủ lạnh tìm cái gì để ăn hoặc lên internet hay điện thoại cho một người bạn. Ta tìm đủ cách để đừng nhớ tới nỗi khổ niềm đau trong lòng. Đó là thái độ trốn chạy mà phần lớn những người trong xã hội đều làm theo. Vì vậy nỗi khổ, niềm đau đó chỉ bị khỏa lấp và nó tiếp tục ngày càng lớn lên cho đến khi nó bùng ra.

Trong Kinh Bụt đã dạy rất rõ là ta có thể xử lý được nỗi khổ, niềm đau nhờ bốn yếu tố buông bỏ, thiền định, chánh niệm và trí tuệ.

Nhận diện và ôm ấp khổ đau

Khổ đau là một sự thật và chánh niệm, chánh định, trí tuệ là một năng lượng khác. Ta dùng năng lượng niệm-định-tuệ để nhận diện và ôm ấp nỗi khổ niềm đau thì ta có thể làm cho nó dịu xuống. Cũng giống như một bà mẹ ôm lấy em bé một cách rất trìu mến, thân thương thì em bé sẽ bớt khổ. Nhận diện và ôm lấy nỗi khổ, niềm đau của mình bằng chánh niệm và chánh định thì khổ đau sẽ giảm xuống. Đó là bước đầu.

Quán chiếu để chuyển hóa khổ đau

Bước thứ hai là quán chiếu để chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau đó thành một cái gì tích cực hơn, giống như sử dụng bùn để nuôi sen. Nỗi khổ, niềm đau cũng có ích lợi, nó cũng giống như bùn có khả năng nuôi sen.

Người thực tập biết xử lý nỗi khổ niềm đau thì khổ đau rất ít. Người không biết cách xử lý thì khổ đau sẽ rất lớn. Hai người ở trong cùng một tình trạng mà một người khổ rất nhiều còn một người thì ít đau khổ hơn tại vì người này biết cách khổ đau. Biết cách khổ đau là gì?

Đừng khuếch đại khổ đau (exagerer)

Ta đừng để mũi tên thứ hai tới xâm nhập. Bụt dạy khi một người bị trúng một mũi tên thì người đó rất đau nhức. Nhưng nếu có một mũi tên thứ hai cắm đúng vào vết thương thì sự đau nhức sẽ lớn hơn gấp 10 lần hay nhiều hơn nữa. Mũi tên thứ hai đó là sự bực bội, giận dữ, phản kháng hay sự tưởng tượng của mình. Khi có một sự đau nhức trong cơ thể hay trong tâm hồn, ta đừng nên làm cho nó lớn ra thêm bằng sự tưởng tượng, lo sợ. Nó chỉ là một đau nhức nho nhỏ thôi nhưng ta nghĩ là mình bị ung thư (cancer) và mình sắp chết tới nơi. Ta sợ và chính cái sợ đó làm cho sự đau nhức tăng lên gấp mười. Đó là mũi tên thứ hai. Ta phải bình tĩnh và nhận diện nó là nó mà đừng tưởng tượng nó là một cái gì lớn hơn. Nếu cần thì ta đi gặp bác sĩ hay một vị thầy chứ đừng giận dữ, lo sợ, phản kháng. Sự giận dữ, lo sợ, phản kháng đó làm cho niềm đau lớn hơn gấp 10 lần.

Đó là bước thứ nhất: Tránh mũi tên thứ hai.

 

 

Đừng chạy trốn khổ đau

Ta phải có mặt đó để nhận diện, xử lý và ôm ấp nỗi khổ, niềm đau. Nếu biết dùng ly, niệm, định và tuệ để nhận diện, ôm ấp nỗi khổ niềm đau thì ta khổ rất ít. Người khác khổ 95% còn ta chỉ khổ 5%, hoặc ít hơn nữa.

Đó gọi là nghệ thuật khổ đau. Nếu có pháp thân khá vững thì ta có thể xử lý khổ đau một cách dễ dàng. Ta còn có thể đi xa hơn nữa là sử dụng những khổ đau một cách có ích lợi. Với khổ đau ta có thể chế tác ra hiểu, thương và hạnh phúc; cũng như với bùn ta có thể chế tác ra hoa sen.

(Phần 1: Ly sinh hỷ lạc)

Ly sinh hỷ lạc

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 09.01.2014 tại thiền đường Nước Tĩnh, xóm Thượng, Làng Mai, trong khóa An Cư Kết Đông 2013-2014)

Pháp thân phải có khả năng xử lý những khổ đau, trước hết là những cảm thọ đau buồn (khổ thọ). Ta tới Làng Mai để học làm chuyện đó. Nếu giỏi ta có thể học được rất nhiều trong một ngày, không phải chỉ học trong bài pháp thoại mà còn phải học trong sự thực tập. Mỗi bước chân, mỗi hơi thở đều có thể chế tác hỷ, lạc và an. Không chỉ trong mùa xuân pháp thân của ta lớn nhanh mà trong mùa đông, nếu có chí thì pháp thân của ta cũng lớn rất mau. Mỗi ngày pháp thân ta đều lớn lên. Người Pháp có câu: “Silence, ça pousse!” (Im lặng đi, nó đang lớn lên).
 

 
Trong kinh dạy cho chúng ta phương pháp chế tác hỷ, lạc và an. Là người tu chúng ta phải chế tác được hỷ 喜, lạc 樂 và an 安. Không chế tác được thì ta chưa phải là người tu, ta chưa có pháp thân mạnh. Kỹ thuật, cách luyện tập để chế tác hỷ, lạc trong kinh đã dạy rất rõ. Trước hết là:

Ly sinh hỷ lạc

Buông bỏ, chữ Hán là ly 離. Buông bỏ có khả năng đem lại hỷ, lạc và an.

Ly sinh hỷ lạc 離 生 喜 樂. Hỷ là niềm vui (joy), lạc là hạnh phúc (happiness). Hỷ và lạc có thể được sinh ra bởi sự buông bỏ (By the practice of letting go you can create joy and happiness). Ly sinh hỷ lạc, câu này xuất hiện rất nhiều trong các kinh Phật giáo. Ta không có hỷ, lạc tại vì ta chưa có khả năng buông bỏ. Ta đang ghì chặt, ta nghĩ không có cái đó thì ta sẽ chết. Ví dụ ta đang ở thành phố Los Angeles, ta quá bận rộn. Thành phố vừa ồn vừa bụi, ta muốn có hai ngày cuối tuần ra khỏi thành phố đi về miền quê. Ta đang ở Frankfurt, ta muốn về Làng Mai nhưng nói hoài mà ta không đi được vì ta không có khả năng buông bỏ. Cũng như nhiều người không bỏ được Paris, dù họ biết rằng ở Paris rất ồn ào, bụi bặm và ít khi thấy được ánh trăng hay các ngôi sao. Hôm đó một người bạn tới nói:

– Thôi, ngày mai chiều thứ sáu mình đi về Làng Mai đi. Tôi có xe hơi, tôi sẽ chở anh đi.

Người đó thuyết phục rất hay và ta chịu đi. Xe chạy độ 45 phút là ra khỏi Paris. Ta bắt đầu thấy miền quê, cảnh vật rất xanh và tươi mát. Ta có niềm vui lâng lâng, niềm vui đó có được là nhờ ta bỏ lại Paris phía sau lưng. Đó gọi là ly sinh hỷ. Ta tới Làng Mai và ngồi được ở đây là nhờ ta buông bỏ được cuộc sống của ta ở Paris. Có nhiều người vùng vẫy năm này sang năm khác cũng không tới được Làng Mai. Ta tới được Làng Mai có nghĩa là ta có khả năng buông bỏ. Nhưng ta phải buông bỏ cái gì? Đó là vấn đề. Ta phải lấy một tờ giấy và ngồi viết xuống những gì ta có thể buông bỏ được. Ta bị kẹt vào rất nhiều thứ và sở dĩ ta không có niềm vui và hạnh phúc là vì ta chưa buông bỏ được những thứ đó.

Trước hết là ý niệm của ta về hạnh phúc. Mỗi người chúng ta đều có một ý niệm về hạnh phúc. Chúng ta nghĩ phải có cái đó hoặc phải loại trừ cái kia thì mới có hạnh phúc. Ta nghĩ phải có cái nhà đó, cái xe đó, phải có người đó sống với mình thì mới có hạnh phúc. Ta đặt ra những điều kiện, những quan niệm về hạnh phúc của mình. Những người theo đảng cộng sản nghĩ chỉ có chủ nghĩa Mác-xít mới đem lại hạnh phúc cho mình và cho dân. Những người theo tư bản chủ nghĩa thì nghĩ chỉ có kinh tế thị trường mới đem lại hạnh phúc. Chúng ta có một ý niệm về hạnh phúc mà ta không buông bỏ được. Vì vậy ta phải ngồi xuống để xét lại ý niệm về hạnh phúc của mình. Có thể lâu này ta chưa có hạnh phục là vì ta chưa buông bỏ được ý niệm về hạnh phúc đó. Letting go ist the source of happiness. Trong Kinh có ví dụ thả bò: Hôm đó Đức Thế Tôn ngồi với các thầy trong một khu rừng. Sau khi đi khất thực về, thầy trò sắp sửa ăn cơm trong chánh niệm thì một bác nông dân đi ngang qua. Bác hớt hơ hớt hải hỏi:

– Các thầy ơi, các thầy có thấy mấy con bò của tôi đi qua đây không? Không biết tại sao sáng nay mấy con bò của tôi chạy đi đâu mất hết! Không có mấy con bò thì làm sao tôi sống được? Chắc là tôi phải chết quá!

Thấy Bụt lắng nghe, bác than phiền thêm:

– Tôi có mấy sào đất trồng hột mè, nhưng không biết tại sao năm nay lại bị sâu ăn hết, không gặt hái được gì. Như vậy thì làm sao tôi sống được? Chắc là tôi tự tử quá!

Đức Thế Tôn nói:

– Bác ơi, tôi ngồi đây đã hơn nửa giờ mà chưa thấy con bò nào đi ngang qua. Chắc bác phải đi tìm phía bên kia.

Sau khi bác nông dân đi rồi, Bụt quay lại nhìn các thầy mỉm cười và nói:

– Mấy thầy ơi, mấy thầy hên quá, mấy thầy đâu có bò đâu mà sợ mất.

Mục đích của câu chuyện là: Nếu có bò thì phải thả đi. Ý niệm về hạnh phúc là một con bò. Chính vì ý niệm đó mà ta chưa bao giờ có hạnh phúc (Your idea about happiness may be the main obstacle to your happiness). Liên bang Xô viết (the Soviet Union) cứ tin rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đem lại sự cường thịnh của đất nước, và ngoài chủ nghĩa Marx-Lenin ra thì không có con đường nào đưa tới hạnh phúc cho nước Nga. Họ đã bị kẹt vào vào ý niệm đó trong 70 năm. Nếu người công dân nào chống đối lại ý niệm đó thì bị bỏ tù. Họ đã gây ra khổ đau rất nhiều. Chủ thuyết đó là một trong những con bò mà họ chưa thả được.
 

 
Tu là phải có thì giờ ngồi xuống, lấy giấy viết ra tất cả tên của những con bò mà ta chưa thả được, trong đó có ý niệm về hạnh phúc của mình. Ta cứ vướng víu, khổ đau, chật vật, bức xúc với chúng. Ta không có khả năng buông bỏ chúng ra. Ta ngồi xuống, hồi tưởng và viết ra trên một tờ giấy tên của những con bò. Có khi một trang giấy cũng chưa đủ vì ta có quá nhiều bò. Sự thật là thả được một con bò thì ta nhẹ đi rất nhiều, thả được hai con thì ta nhẹ đi thêm nữa. Thả hết những con bò thì ta sẽ có rất nhiều hạnh phúc.

Trong thời của Đức Thế Tôn, ông thống đốc của một tiểu bang đi xuất gia. Một đêm ngồi thiền ông cảm thấy hạnh phúc quá tại vì ông đã thả hết những con bò của mình. Ông hứng chí nói lên: “Ôi hạnh phúc! Ôi hạnh phúc!” (Oh, my happiness!) Một thầy khác ngồi cách đó vài thước có tri giác sai lầm, nghĩ rằng ông thầy này chắc tiếc thời kỳ làm thống đốc, tại vì làm thống đốc thì có quân đội, có tiền nhiều, có kẻ hầu người hạ. Thầy ra mách lại với Đức Thế Tôn:

– Bạch Đức Thế Tôn, hồi hôm ngồi thiền con nghe sư anh đó la lên hai lần trong khi ngồi thiền: Ôi, hạnh phúc của ta! Ôi, hạnh phúc của ta! Con không biết tâm lý sư anh ra sao? Chắc là sư anh hối tiếc.

Bụt biết thầy này có tri giác sai lầm nhưng Ngài cứ gọi thầy Badya và một số các thầy tới. Bụt hỏi:

– Này thầy Badya, có phải tối hôm qua trong giờ ngồi thiền thầy đã thốt ra hai câu: “Ôi, hạnh phúc của ta” không?

– Dạ! Bạch Đức Thế Tôn, có. Đêm qua trong khi ngồi thiền con có thốt hai lần câu đó.

– Tại sao thầy làm như vậy, thầy nói cho chúng tôi nghe đi!

Thầy Badya nói:

– Bạch Đức Thế Tôn, hồi còn làm thống đốc con có đủ hết, có lính gác, có chức tước, có người hầu hạ, có châu báu, tiền bạc rất nhiều, nhưng con luôn luôn sống trong sợ hãi. Con sợ người ta lén vào giết con để lấy những thứ đó. Con thật sự không có hạnh phúc. Bây giờ đi xuất gia con buông bỏ hết. Ngồi thiền con thấy rất rõ là mình có tự do rất lớn, mình có sự vô úy, mình không còn sợ ai tới giết mình. Trong trạng thái hạnh phúc, có nhiều tự do đó con chịu không nổi nên đã thốt ra hai lần câu: “Ôi, hạnh phúc của ta”.

Bây giờ các thầy khác mới hiểu hạnh phúc của thầy Badya không phải là gom góp, tích lũy thêm tiền bạc, của cải, danh vọng, mà là buông bỏ. Trong kinh có nói: Buông bỏ là phương pháp đầu tiên để tạo dựng hỷ, lạc và an.
 

 
Quý vị có thể hỏi: “Tôi cũng muốn buông bỏ, nhưng bây giờ tôi phải buông bỏ cái gì đây?” Chúng ta phải nhận diện những con bò của mình rồi mới thả chúng được. Vì vậy chúng ta phải viết xuống tên của những con bò mà lâu nay ta không có can đảm để buông bỏ. Buông được một con thì hạnh phúc tăng lên mấy mươi phần trăm. Đó là phương pháp đầu tiên: Ly sinh hỷ, ly sinh lạc, ly sinh an. Thầy Badya có rất nhiều an nên thầy có nhiều hỷ và lạc.

Khi sư chú hay sư cô đi xuất gia thì có người bảo là sư chú hay sư cô dại dột. Nhưng thật ra thì sư chú hay sư cô rất khôn, tại vì mình buông bỏ hết để được cái quý nhất là an, lạc và hỷ. Mình nhẹ lâng lâng, không còn sợ hãi hay lo lắng gì nữa.

(Phần 2: Nghệ thuật xây dựng hạnh phúc)

Giảng kinh quán niệm hơi thở năm 2008

01

2008-05-31

Kinh Quán niệm hơi thở

Mp3

02

2008-06-01

Tuỳ niệm Phật thân

Mp3

03

2008-06-03

Hạt giống tuệ giác

Mp3

04

2008-06-04

Niệm Pháp-Niệm Tăng

Mp3

05

2008-06-05

Niệm giới

Mp3

06

2008-06-06

Tam tụ tịnh Giới

Mp3

07

2008-06-07

Niệm Giới (tt)

Mp3

08

2008-06-08

Buông thư cảm xúc

Mp3

09

2008-06-11

Niệm Thân

Mp3

10

2008-06-12

Xuất Trần Thượng Sĩ

Mp3

11

2008-06-14

Kinh căn bản-Ly sinh hỷ lạc

Mp3

12

2008-06-15

Dục an tất an

Mp3

13

2008-06-16

Mười sáu bài quán niệm hơi thở

Mp3

14

2008-06-17

Bài tiếp theo

Mp3

15

2008-06-18

 Dặn dò

Mp3

Lễ Tự tứ An cư kiết thu 2019

Sáng ngày 13/12/2019, tại Thiền đường Nước Tĩnh, xóm Thượng, Làng Mai đã diễn ra lễ Tự tứ kết thúc 90 ngày An cư kiết thu năm 2019. Ngày Tự tứ được xem là ngày Tết của những người con Bụt, xuất gia cũng như tại gia. Đây cũng là ngày Bụt hoan hỷ, chư Tăng hoan hỷ.

Sau ba tháng công phu miên mật với những phát nguyện, mỗi người trong đại chúng đã gặt hái được những hoa trái trên con đường chuyển hoá thân tâm, từ đó làm đẹp hơn cho chính mình và tăng thân. Các vị thiền sinh dài hạn cũng đã đóng góp rất nhiều năng lượng bình an vào đời sống tu học và phụng sự cùng đại chúng.

Giờ phút đón nhận lá thư soi sáng với những bông hoa tươi thắm cùng những lời khích lệ chứa đầy tình thương đã trở thành những phút giây huyền thoại. Chúng con xin nguyện làm mới mình trong từng hơi thở ý thức, từng bước chân chánh niệm để xứng đáng là sự tiếp nối đẹp của chư Bụt, chư Tổ, Thầy và Tăng thân.

 

Dưới đây là một vài hình ảnh của buổi lễ: