Pháp thoại ngày 4 tháng 12 năm 2008, tại chùa Từ Nghiêm, xóm Mới.
Chánh kiến là nền tảng của đạo đức học.
Pháp thoại ngày 30 tháng 11 năm 2008, tại chùa Cam Lộ, xóm Hạ.
Tri ân và hạnh phúc
Pháp thoại ngày 27 tháng 11 năm 2008, tại chùa Pháp Vân, xóm Thượng.
Đừng tìm hạnh phúc trong tương lai.
Pháp thoại ngày 23 tháng 11 năm 2008, tại chùa Từ Nghiêm, xóm Mới.
Quê hương trong giây phút hiện tại.
Pháp thoại ngày 20 tháng 11 năm 2008, tại chùa Cam Lộ, xóm Hạ.
Để có hạnh phúc
(Trích trong sách “Con đã có đường đi” của Sư Ông Làng Mai)
Thư giãn là hạnh phúc có mặt
Trong đời sống, rất nhiều người không có sự thư giãn. Chúng ta cần phải học cho được cách thư giãn. Ví dụ, tập đi thiền hành là cơ hội để tập thư giãn. Sự căng thẳng và thư giãn đi đôi với nhau, chúng có mặt cùng một lúc. Vấn đề là cái nào nhiều, cái nào ít mà thôi. Trong chúng ta có sự căng thẳng, nhưng cũng có sự thư giãn. Tùy cách sống của mình mà ta có nhiều sự căng thẳng hay nhiều sự thư giãn.
Phát triển sự thư giãn, buông bỏ những lo lắng, sợ hãi và bạo động là hạnh phúc đang có mặt. Mỗi người đều có khả năng chế tác ra sự thư giãn với tư cách cá nhân và năng lượng đó sẽ ảnh hưởng tới tập thể. Thí dụ một người giáo viên nếu có ý thức nuôi dưỡng sự thư giãn trong mình và chế tác sự thư giãn đó cho học sinh thì việc dạy và học sẽ thành công hơn. Giữa giáo viên và học sinh có sự nhẹ nhàng mà không phải căng thẳng mệt mỏi.
Đạo đế là con đường mà trong đó có những phương pháp đưa tới sự thư giãn. Yếu tố đầu tiên của hạnh phúc là biết thư giãn để chấm dứt lo lắng, sợ hãi. Đứng về phương diện sinh học thì chính sự căng thẳng tạo ra lo lắng, sợ hãi, bạo động và bệnh tật. Trong não của ta có tuyến yên. Khi cảm thấy có tình trạng nguy hiểm thì tự nhiên tuyến yên sẽ tiết ra một chất hoá học trong máu. Nội trong mấy giây sau chất hoá học đó đụng tới tuyến thượng thận và nhả ra chất adrenalin, chất này vào trong máu thì sẽ khiến trái tim đập mạnh hơn để dồn máu tới hai chân, hai tay và đôi mắt để sẵn sàng đối phó với tình trạng nguy hiểm. Đó là phản ứng hoặc chống cự, hoặc là bỏ chạy. Muốn chống cự hay bỏ chạy đều cần dùng tới rất nhiều năng lượng và vì vậy các cơ năng khác phải dừng lại hết. Chất đó cũng khóa bộ máy tiêu hoá lại và không cho làm việc nữa. Lúc này cơ thể tạo ra sự căng thẳng. Nếu sự căng thẳng kéo dài thì nó sẽ làm hỏng bao tử và bộ phận tiêu hóa. Cho nên những người nào hay lo sợ rất có hại cho bao tử. Một thí dụ khác là trong lúc chạy đua thi đấu, trước khi người phát lệnh thổi còi cho bắt đầu cuộc thi chính là giây phút trong cơ thể các vận động viên tiết ra chất adrenalin. Nếu giây phút đó kéo dài quá lâu thì đương sự có thể sẽ chết.
Đôi khi trong đời sống hằng ngày khi nghe tiếng điện thoại reo ta cũng lo. Có khi nhìn những tờ báo ta cũng thấy lo vì không biết cổ phần đang lên hay đang xuống. Tuy không có những lo lắng lớn hay nguy hiểm lớn xảy ra nhưng những lo lắng nhỏ trong đời sống hằng ngày cũng làm cho chất adrenalin tiếp tục được tiết ra và nó cũng khoá bộ máy tiêu hoá lại khiến ta bị căng thẳng. Những căng thẳng ấy dồn chứa mỗi ngày sẽ sinh ra đủ thứ bệnh. Mỗi khi căng thẳng thì hành động trở nên thô tháo và lời nói cộc cằn sẽ làm đổ vỡ hạnh phúc gia đình, làm hư hoại tổ chức, bè bạn của ta. Do đó phải nắm cho được phương pháp thư giãn để giải tỏa những căng thẳng.
Những lúc ngồi thiền, thiền hành hay buông thư thì chất adrenalin không tiết ra. Buông thư toàn thân và nương vào hơi thở có ý thức thì trong ta bắt đầu có sự thư giãn. Thở vào tôi ý thức đây là hơi thở vào, thở vào tôi sung sướng được thở vào. Thở ra tôi ý thức về thân thể tôi, thở ra tôi làm cho thân thể tôi thư giãn. Là một người thực tập, chúng ta phải biết nuôi dưỡng sự thư giãn trong mỗi giây phút.
Khi làm việc với máy vi tính cũng có thư giãn mà đọc sách cũng thư giãn, lúc nào cũng thư giãn hết. Khi đi, phải đi sao cho có bình an mà không vội vàng như bị ma đuổi; khi ngồi thì phải ngồi như đang ngồi trên một đóa sen. Trong lúc thư giãn thì nhịp đập của trái tim sẽ chậm lại và hệ miễn dịch được tăng cường. Thư giãn không phải chỉ là vấn đề thể chất và hình hài. Nếu trong tâm đang có điều bất an thì sự thư giãn rất khó thực hiện được. Do đó phải tổ chức lại đời sống hàng ngày để đừng bị áp lực quá nhiều đừng để lo lắng, buồn khổ. Muốn vậy thì phải quán chiếu cho sâu sắc.
Khi có bạo động tức là trong thân thể không có sự buông thư. Khi ấy phải tập thở, tập đi để nhận diện và ôm ấp những bạo động, giận hờn, bực bội trong mình. Nếu những tâm hành đó được ôm ấp thì tự nhiên nó sẽ lắng dịu. Nền văn minh mới của chúng ta tạo ra rất nhiều căng thẳng, cho nên sự thực tập của mình là làm lắng dịu thân tâm. Mà muốn thư giãn thì phải thực hành những pháp môn cụ thể như buông thư, thiền hành, ngồi thiền,… Cho nên nền đạo đức học hiện đại phải là đạo đức ứng dụng chứ không phải là đạo đức lý thuyết. Phải biết rõ rằng muốn có thư giãn thì ta không nên làm gì và nên làm gì. Đạo đế được diễn đạt qua con đường Bát chánh, trong đó có chánh kiến. Các vị tổ sư giải thích chánh kiến là một cái thấy sâu sắc về Bốn sự thật. Nhưng trí óc con người thường hay đi kiếm tìm sự thật của chân lý vạn hữu. Ta thường có ý muốn đi vào siêu hình học, thực thể học. Khuynh hướng hay phóng tâm ra vũ trụ và đặt những câu hỏi như: Vũ trụ này từ đâu mà có? Những nguyên lý cai quản vũ trụ là những nguyên lý nào? Bởi có những câu hỏi này mà ta có siêu hình học và bản thể luận.
Đức Thế Tôn rất thực tế, Ngài nói đừng phóng tâm ra vũ trụ bên ngoài mà hãy đưa tâm về với tình trạng đích thực trong đó ta đang sống. Phải nhận diện nỗi khổ đang có mặt, tìm ra nguồn gốc của khổ và phải tìm ra con đường thoát khổ. Rất là thực tế. Hai chân chấm đất. Chánh kiến đức Thế Tôn nói ở đây không phải là kiến thức về vũ trụ vạn hữu mà là về Bốn sự thật. Mình phải có cái thấy khá vững chãi về Bốn sự thật. Khi mới học về Tứ diệu đế, mới nghe nói về Bốn sự thật, ta nói nó quá dễ, nhưng thật sự thì ta chưa hiểu rõ về nó. Cách đây một năm có người hỏi tôi: “Thầy có hiểu hết về Tứ diệu đế chưa?” Tôi trả lời: “Chưa, tôi chưa hiểu hết, tôi vẫn đang trên con đường tìm hiểu”.
Muốn có được cái thấy sâu sắc đòi hỏi chúng ta phải bỏ ra rất nhiều công phu tu tập. Phần lớn chúng ta chỉ nắm được ý niệm về Bốn sự thật chứ chưa nắm được Bốn sự thật. Chúng ta không nắm được bản chất của Bốn sự thật. Bốn sự thật tương tức với nhau, Sự thật này nằm trong Sự thật kia. Không hiểu được khổ đế thì không hiểu được diệt đế, ngược lại nếu không thấy được diệt đế thì không hiểu được khổ đế. Chánh kiến trước hết là cái thấy sâu sắc về Bốn sự thật. Bốn sự thật tương tức với nhau, chúng không thể có mặt độc lập, chúng liên hệ với nhau chặt chẽ cho đến nỗi không thấy được cái này thì không thấy được cái kia.
Trong lĩnh vực trao truyền, khi không thấy được ta thì sẽ không thấy được cha ta. Chưa thấy được cha ta là ai thì sẽ không thấy được ta là ai. Khi thấy được sự tương tức của bốn sự thật thì tự nhiên ta cũng sẽ thấy được sự tương tức của các pháp. Tương tức nghĩa là cái này chính là cái kia, cái này nằm trong cái kia, không có cái này thì không có cái kia. Không có sự thật nào có mặt riêng rẽ. Cái này cũng gọi là không. Thí dụ như bông hoa: bông hoa do mặt trời, ánh nắng, đám mây, đất, phân bón, người làm vườn… tạo nên. Cho nên bông hoa không có mặt riêng biệt, bông hoa đầy hết tất cả vũ trụ. Bông hoa là vũ trụ, nó không thể có mặt riêng biệt được. Bốn sự thật không thể có mặt một mình được. Nếu không có bùn thì sẽ không có sen. Nếu như nhận Bốn sự thật là riêng biệt thì ta rất sai lầm.
Trong Kinh Bát Nhã nói “không khổ, không tập, không diệt, không đạo”, Bốn sự thật là không. Bản chất của sự thật này là bản chất của sự thật kia. Sự thật thứ nhất được làm bằng sự thật thứ hai, thứ ba, và thứ tư. Lấy sự thật thứ hai, thứ ba, thứ tư ra thì không có sự thật thứ nhất. Đó là tính tương tức của sự thật thứ nhất. Nếu thấy được Bốn sự thật có liên hệ với nhau thì chúng mới đích thực là Bốn sự thật.
Dừng lại và buông thư
Pháp môn căn bản của Làng Mai là phương pháp thở chánh niệm và phương pháp đi chánh niệm. Các vị giáo thọ của Làng có nhiệm vụ nắm vững tình trạng tu tập của xóm mình và phải trao truyền những thực tập căn bản này đến mọi thành viên trong xóm từ người xuất gia cho tới tại gia. Nếu họ chưa biết thở, chưa biết đi trong chánh niệm, đồng nghĩa với việc họ còn bị đói. Ai bỏ đói họ? Các vị giáo thọ dự phần lớn vào việc bỏ đói các sư em và các thiền sinh tới với mình. Do vậy, các vị giáo thọ cần nắm thật vững phương pháp thở, phương pháp đi. Ta không cần nói những bài pháp hùng hồn. Sự thực tập vững chãi của ta chính là bài pháp sống động nhất. Nếu ta có khả năng buông thư được, hạnh phúc được trong mỗi bước chân, mỗi hơi thở thì ta sẽ là người đầu tiên được trị liệu và nuôi dưỡng.
Thiền, Dhyana, nghĩa là dừng lại và làm cho buông thư. Sự dừng lại và buông thư được gọi là thiền chỉ. Trong sự thực tập, nếu chưa có khả năng dừng lại và buông thư thì hành giả sẽ không thể đi xa hơn được. Bởi vì nếu không thành công được trong thiền chỉ thì khó có thể nhìn sâu (thiền quán) để thấy rõ bản chất của các hiện tượng.
Mỗi người đều sẵn có hạt giống rong ruổi, tìm kiếm. Chúng ta không thể ở yên lâu được. Hạt giống này chúng ta được tiếp nhận từ tổ tiên. Sở dĩ ta không dừng lại được bởi vì ta thiếu khả năng buông thư. Những căng thẳng trong cơ thể bị dồn nén khiến cho yếu tố trầm tĩnh của đời sống mất đi. Nếu thực tập vững vàng phương pháp thở và đi trong chánh niệm thì ta sẽ dừng được sự chạy đua. Lúc ấy, sự buông thư và niềm an lạc sẽ lập tức có mặt.
Ngồi thiền là cơ hội để thực tập dừng lại hoàn toàn. Trong khi ngồi, chúng ta sử dụng hơi thở có ý thức để hỗ trợ cho việc dừng lại ấy. Dừng lại được là bắt đầu có chủ quyền đối với thân và tâm của chính mình. Ngồi thiền trước hết là dừng lại và buông thư. Nếu trong khi ngồi mà phải đấu tranh, phải gồng mình và xem việc ngồi thiền như một lao tác mệt nhọc thì đó chưa phải là cách ngồi thiền đúng. Khi ngồi, tư thế phải thật thoải mái, lưng thẳng nhưng buông thư. Và sau đó mới bắt đầu theo dõi hơi thở. Thở vào, tôi ý thức về toàn thân của tôi; thở ra, tôi buông thư toàn thân. Ta phải đem cái tâm đi vào cái thân. Cái tâm của ta chỗ nào cũng có cái thân hết, tức là tâm đầy trong thân. Giống như việc ta ngâm đậu xanh với nước ấm vậy, đậu xanh được ngâm trong nước ấm một hồi, nước sẽ thấm vào trong hạt đậu, hạt đậu sẽ nở ra gấp hai lần ban đầu. Sở dĩ cái thân khô héo là bởi vì cái tâm không thấm được vào trong thân. Nếu muốn cái thân được tươi mát, được thấm nhuận thì cần phải để cho tâm đi vào trong thân. Lúc ấy, thân của ta sẽ trở thành một thực thể linh động chứ không còn là một xác chết nữa vì tâm đã được thấm vào trong từng tế bào. Tức là cái thân đầy cả cái tâm. Trong khi ngồi thiền, thiền hành, phải làm như thế nào để thân của ta đầy tâm mà tâm cũng đầy thân. Khi thân và tâm hợp nhất, là khi ta có được những giây phút sống sâu sắc.
Thiền là một phương pháp thực tập, và nếu thực tập đúng thì hạnh phúc sẽ có liền tức khắc. Hạnh phúc này bắt đầu từ sự dừng lại và buông thư. Không có sự dừng lại và buông thư, thì không thể nào có hạnh phúc được. Hạnh phúc này được gọi là thiền duyệt. Thiền duyệt tức là niềm vui do sự thực tập thiền đem lại. Và người tu phải lấy niềm an lạc mà thiền tập đem lại làm thực phẩm hàng ngày (Thiền duyệt vi thực). Trong nghi thức cúng ngọ có câu: “Nhược phạn thực thời, đương nguyện chúng sanh, thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn”. (Khi ăn cơm, con nguyện cho chúng sinh nếm được niềm vui mà thiền tập đem lại, hạnh phúc luôn tràn đầy). Mỗi lần ăn cơm, cúng ngọ, lúc nào ta cũng nguyện cho tất cả chúng sanh đều hưởng được niềm vui của thiền tập nhưng chính ta đã làm được chưa? Có khi ta đã để cho chính ta bị đói và để cho những người bạn đến với ta cũng bị đói. Những người bạn tin tưởng vào ta, trông cậy vào ta, nhất là khi ta là một vị giáo thọ, nhưng ta quên mất vai trò của chính mình. Đôi khi ta bỏ đói đại chúng, bỏ đói các bạn đến với ta. Nếu ta bắt đầu dừng lại và buông thư được, tức khắc ta sẽ có được hỷ lạc. Khi có được hỷ lạc, ta mới bắt đầu quán chiếu vào lòng sự vật để thấy được bản chất của sự vật.
Chúng ta có thể thực tập theo những hướng dẫn của đức Thế Tôn để dừng lại. Thở vào, con ý thức về hình hài của con. Thở ra, con ý thức về toàn thể hình hài con. Lúc đó, cái tâm đi vào cái thân và cái thân đi vào cái tâm. Tiếp tục thực tập như vậy, ta để cho tâm thấm dần vào trong thân. Ta có thân đầy trong tâm và tâm cũng đầy trong thân. Kế tiếp, nương vào hơi thở chánh niệm ta buông thư cả thân và tâm. Thở vào, con buông thư thân thể con, tâm hồn con. Thở ra, con tiếp tục để cho tâm hồn con, thân thể con được buông thư. Hãy cho ra ngoài hết tất cả những dồn nén, những căng thẳng. Sự buông thư này sẽ mang lại sự trị liệu. Do vậy, khi đề cập đến khổ hay gọi tên những nỗi khổ, ta đừng quên đề cập đến những căng thẳng trong thân thể và tâm hồn. Bởi nó đích thực là một nỗi khổ và rất cần được chúng ta quan tâm đến.
Chánh niệm là phép tu căn bản
Khi thực tập thiền hành, phải thực tập như thế nào để dừng lại được trong khi đi. Đi như là đi chơi trong Tịnh Độ mà không đi như bị ma đuổi. Buông thư được trên từng bước chân. Đường dài, em bước như dạo chơi. Đường càng dài càng hay, vì ta có thể dạo chơi càng nhiều. Mặc dù chưa là giáo thọ nhưng ta cũng không được bỏ đói các bạn thiền sinh đến với ta, ta có bổn phận phải giúp họ. Vì mỗi ngày ta được hưởng thức ăn của thiền tập nên khi có ai đến, phải hỏi: Các anh, các chị có đói không? Thực phẩm đây! Tức là phương pháp giúp họ biết thở, biết đi, biết cười. Do vậy, khi ngồi thiền, cho dù nửa giờ hay bốn mươi lăm phút, cũng phải biết tận dụng khoảng thời gian ấy để nắm lấy chủ quyền, phải để cho thân tâm được buông thư, nghỉ ngơi. Nếu không làm được như vậy thì ta đã phung phí một cách oan uổng nguồn thời gian quý báu của chính mình.
Kệ truyền đăng trong khoá tu xuất sĩ 2020 "Giữ lửa trong tim" tại EIAB
Khóa tu xuất sĩ diễn ra từ ngày 15 đến 24.02 tại Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu (EIAB). Đã có 6 thầy và 15 sư cô được nhận đèn trong dịp này.
Dưới đây là hình ảnh của quý thầy, quý cư cô giáo thọ mới và bài kệ truyền đăng của từng vị:
1. Thầy Thích Chân Pháp Lý Nương tựa tăng thân pháp nhiệm mầu | ![]() |
Sư Ông Làng Mai kể chuyện: “Tú Uyên và Giáng Kiều”
“Trích Pháp thoại tại Washington D.C. ngày 15.10.1995”
Mì gói Giáng Kiều
Quý vị chắc đã nghe câu chuyện chàng Tú Uyên. Tú Uyên là một chàng sinh viên khá đẹp trai nhưng nhiều đau khổ. Tú Uyên có vấn đề với bố, với mẹ, không nói chuyện được với bố, với mẹ. Tú Uyên cứ nghĩ rằng tất cả những niềm đau và nỗi khổ của chàng là do bố mẹ gây ra. Tú Uyên cũng không nói chuyện được với anh, với chị và với em. Tú Uyên sống một cuộc sống rất cô đơn. Nghĩ rằng không ai hiểu được mình, nhưng Tú Uyên không biết rằng chàng không hiểu được ai. Chàng nghĩ rằng chàng là người đau khổ duy nhất ở trên đời và người làm chàng đau khổ là những người khác. Người đó có thể là bố, mẹ, anh, chị, em, bạn bè và xã hội. Tú Uyên học đại học và sống côi cút một mình trong cư xá đại học. Không truyền thông được với cha mẹ và với anh em đã đành, chàng ta cũng không truyền thông được cả với thầy, với bạn.
Tú Uyên rất thèm có được một người bạn, nhưng Tú Uyên không có khả năng sống được với bạn, vì trong lòng chàng đầy những thói quen giận hờn, thù hận, khổ đau. Tú Uyên không có khả năng nói với ngôn ngữ hòa ái. Tú Uyên cũng không có khả năng lắng nghe bạn. Bạn của Tú Uyên chỉ có thể chơi với chàng chừng một hai tuần là bỏ chàng, rốt cuộc Tú Uyên một mình một bóng sống trong cư xá đại học. Niềm đau, nỗi khổ chất chứa trong tâm nhiều quá, không chịu nổi, cho nên Tú Uyên đi tìm những phương tiện làm khuây khỏa những niềm đau của chàng. Tú Uyên nghiện rượu. Tối nào chàng cũng ra quán rượu uống cho say mèm mới về. Mỗi khi say chàng nói và làm những điều có thể làm tan nát tình nghĩa.
Sáng hôm đó, Tú Uyên cảm thấy cô đơn. Chàng muốn lên chùa, mong gặp được một người bạn mới. Chùa là nơi duy nhất mà Tú Uyên hy vọng có thể gặp được một người bạn mới. Tới cổng chùa, Tú Uyên thấy một đoàn người ở trong cổng chùa đi ra, rất sang trọng, và trong đám đó có một thiếu nữ xinh đẹp lạ thường. Hình bóng của thiếu nữ va chạm mạnh vào tâm thức Tú Uyên. Chưa bao giờ chàng thấy một cô thiếu nữ xinh đẹp như vậy. Tự nhiên anh chàng nảy sinh một ao ước: nếu mình có được một người bạn như vậy thì mình sẽ đem hết tất cả những khéo léo, những thiện chí của mình để giữ người bạn này lại với mình. Chúng ta biết rằng cái mà Tú Uyên đói và thiếu nhất ở trên đời là một người bạn, một người để tâm sự, trao đổi những khổ đau và những ước vọng của mình. Tú Uyên vốn là người hoàn toàn bị cô lập trong xã hội của chàng.
Tú Uyên quyết định không vào chùa nữa mà quay lại đi theo đám người kia. Nhưng rủi cho chàng, chỉ trong vài phút sau cô thiếu nữ xinh đẹp kia biến mất trong đám đông. Từ đó về sau, hình bóng của cô thiếu nữ cứ lảng vảng trong đầu chàng, Tú Uyên không thể nào quên được. Đi cũng nhớ, ngồi cũng nhớ, nằm cũng nhớ, đọc sách chàng cũng không đọc được. Một đêm, Tú Uyên nằm mơ thấy một cụ già tóc bạc phơ. Cụ nói với chàng: ‘‘Ngày mai vào lúc sáu giờ sáng, con đi ra chợ cửa Đông con sẽ gặp lại cô thiếu nữ.’’ Chàng thức dậy đúng một giờ khuya. Trời còn tối quá. Đợi tới sáu giờ sáng thì quá lâu, nhưng chàng ngủ không được nữa. Tới năm giờ sáng, chàng đi ra nhắm hướng chợ cửa Đông. Ra tới, thấy chợ chưa đông, chàng ghé vào tiệm sách để mua vài cuốn sách. Ngước đầu lên nhìn, chàng thấy cô thiếu nữ mình gặp hôm trước trong một bức tranh treo trên tường. Đó chỉ là một bức tranh nhưng người trong tranh đúng là cô thiếu nữ đó. Cũng hai con mắt đó, cái mũi đó, cái miệng đó, và cô thiếu nữ như đang mỉm cười với Tú Uyên. Chàng đổ hết tất cả tiền ở trong túi ra mua bức tranh ấy về treo ở phòng chàng trong cư xá đại học.
Từ đó về sau, ngày nào chàng cũng nói chuyện với người đẹp trong tranh. Chúng ta thấy trên cõi đời này có những người rất cô đơn, họ không có ai để trò chuyện, đôi khi phải nói chuyện một mình. Có những người vì cô đơn quá nên phải nuôi một con mèo hay một con chó để rồi đem tất cả tình thương của mình dồn vào con mèo hay con chó ấy, và chỉ nói chuyện được với nó. Rất tội nghiệp. Sống với một con mèo cố nhiên là dễ hơn sống với một con người. Khi chúng ta nói một điều gì không dễ thương thì con mèo không la mắng và trả đũa trở lại, nhưng nếu chúng ta nói một câu không dễ thương với một người thì chưa chắc người đó sẽ để cho chúng ta yên thân. Chúng ta không trách móc Tú Uyên, chúng ta chỉ thấy tội nghiệp cho anh chàng sinh viên đó mà thôi. Tuy đẹp trai nhưng anh chàng hết sức cô đơn. Tú Uyên không có hạnh phúc, tại vì chàng không có bạn, không có khả năng truyền thông. Mỗi ngày Tú Uyên chỉ biết ăn mì gói. Mì gói tức là mì ăn liền. Buổi trưa cũng mì gói, buổi tối cũng mì gói. Chỉ cần bỏ mì vào một cái tô, đổ nước sôi vào, đợi vài phút là ăn thôi. Tú Uyên không biết sử dụng các thứ rau tươi và rau thơm cho nên ngày nào chàng cũng chỉ ăn mì gói suông như vậy.
Hôm ấy Tú Uyên làm hai tô mì gói, một tô để dành cho người đẹp ở trong tranh và một tô để chàng ăn. Tú Uyên đặt ra hai đôi đũa. Ăn mì gói một hồi chán quá, chàng nuốt không trôi nữa. Chàng buông đũa, nhìn lên bức tranh. Tự nhiên chàng thấy người trong tranh mỉm cười với chàng. Rồi từ bức tranh nàng thiếu nữ bước xuống và trở nên một con người bằng xương bằng thịt. Nàng tự xưng là Giáng Kiều. Giáng Kiều nghĩa là người đẹp từ trên trời đi xuống. Quý vị có biết câu nói đầu tiên mà Giáng Kiều nói với Tú Uyên là câu gì không? ‘‘Mì nấu như thế này mà anh ăn được thì tôi cũng phục anh thiệt.’’ Rồi nàng mỉm cười: ‘‘Anh đợi một chút!’’ Và Giáng Kiều biến mất. Chỉ trong vài phút sau, Giáng Kiều lại xuất hiện với một cái xách trong đó có rau thơm, rau ngò, đủ thứ. Cô nàng rất tài tình. Chỉ trong ba phút thôi cô đã làm xong được hai tô mì rất hấp dẫn, rất thơm tho. Chúng ta hãy tưởng tượng niềm hạnh phúc lớn lao của Tú Uyên. Tự nhiên có một người đẹp xuất hiện trong đời mình, tự nhiên có những thức ăn rất mầu nhiệm. Hạnh phúc của Tú Uyên không thể nào tả được.
Nhưng chắc quý vị đã dư biết cái gì sẽ xảy ra cho Tú Uyên sau đó vài tháng. Một con người như Tú Uyên thì luôn luôn có quá nhiều niềm đau và nỗi khổ trong lòng. Tú Uyên không có khả năng sử dụng ngôn ngữ hòa ái. Tú Uyên không có khả năng lắng nghe. Tú Uyên say rượu mỗi bữa tối, và thường nói những lời làm cho tan nát cả tình nghĩa. Vì vậy cho nên ba tháng sau Giáng Kiều đã bỏ Tú Uyên mà đi. Có thể là có những buổi tối say rượu về Tú Uyên đã đánh đập Giáng Kiều. Giáng Kiều đã làm hết cách để đem lại hạnh phúc cho Tú Uyên, nhưng Tú Uyên không có khả năng sống hạnh phúc. Cuối cùng thì Giáng Kiều đã bỏ đi. Một ngày nọ, Tú Uyên thấy cuộc đời không có ý nghĩa gì nữa, chàng muốn treo cổ tự tử.
Nếu quý vị có đọc báo, có nghe ngóng về tin tức của thanh niên ở Hoa Kỳ thì quý vị đã biết rằng số thanh niên ở Hoa Kỳ tự tử như Tú Uyên nhiều lắm. Hầu hết đó là những người đã chống báng gia đình, đã mất gốc trong gia đình cũng như trong xã hội. Nếu muốn gặp Tú Uyên không khó. Chỉ cần đưa mắt nhìn xung quanh là quý vị sẽ gặp vô số những chàng Tú Uyên. Và những nàng Tú Uyên nữa. Họ thù hận cha mẹ, họ không có gốc rễ hạnh phúc trong gia đình. Họ đi bơ vơ trong cuộc đời, họ không có bạn, họ chỉ có những niềm đau nỗi khổ trong lòng mà thôi. Họ không có cái gì đẹp để tin tưởng, không có cái gì thật để tin tưởng, họ sống một cách không trách nhiệm và họ tàn phá thân thể họ và tâm hồn họ. Không những họ sử dụng rượu mà còn sử dụng đủ các loại ma túy.
Nếu để tâm thì quý vị sẽ thấy rằng cái số lượng các chàng Tú Uyên và các nàng Tú Uyên sử dụng ma túy trong thời đại chúng ta lớn lắm. Chính quyền có thể dùng quân đội, dùng máy bay, dùng trực thăng để kiểm soát việc nhập cảng những chất liệu ma túy, nhưng những biện pháp dữ dằn ấy cũng vô hiệu quả là tại vì số lượng các chàng Tú Uyên ở trong nước quá đông đảo. Số lượng các nàng Tú Uyên ở trong nước cũng quá đông đảo. Tại sao họ phải đi tìm rượu? Tại sao họ phải đi tìm các chất ma túy? Tại vì nỗi khổ niềm đau trong lòng họ quá lớn, họ không thể nào gánh chịu được nổi, cho nên họ phải tìm bất cứ cách thức nào để có thể quên đi trong chốc lát những khổ đau ấy trong lòng họ.
Xã hội của chúng ta tổ chức như thế nào mà cứ chế tạo ra hàng trăm ngàn Tú Uyên mỗi tuần lễ? Chúng ta có nên trách móc hay là la mắng Tú Uyên hay không? Cha mẹ Tú Uyên đã làm gì cho Tú Uyên và đã dạy dỗ Tú Uyên như thế nào? Cha mẹ Tú Uyên có khả năng lắng nghe con hay không? Có khả năng nói với con bằng những lời hòa ái hay không, hay là chỉ biết dùng quyền uy cha mẹ để đàn áp và la mắng mà thôi? Nếu con chúng ta không có khả năng lắng nghe chúng ta và không có khả năng nói những lời hòa ái với chúng ta, thì chúng ta có khả năng lắng nghe con của chúng ta hay không và khả năng nói những lời hòa ái với con hay không?
Tâm hương
Sau khi Giáng Kiều bỏ đi, Tú Uyên đau khổ lắm. Chàng biết chàng đã đánh mất cơ hội chót của chàng. Giáng Kiều đi rồi, mình sống làm gì nữa? Tú Uyên bị trầm cảm (depression) nặng. Chàng không chịu đựng nỗi đau khổ nữa. Chàng muốn tự tử. Và chàng quyết định treo cổ tự tử.
Đột nhiên trong khi chuẩn bị tự tử, Tú Uyên nhớ lại một câu mà Giáng Kiều nói với chàng một buổi sáng khi hai người từ trên chùa đi về nhà. Hôm ấy Giáng Kiều rủ chàng đi chùa dâng hương và nghe thuyết pháp. Thầy trú trì đã thuyết pháp về ngũ phận hương: hương giới, hương định, hương tuệ, hương giải thoát và hương giải thoát tri kiến. Tú Uyên đã nghe pháp bằng nửa lỗ tai thôi, vì chàng không có đủ định tâm. Buổi thuyết pháp chấm dứt, hai người ra về. Ra tới cổng, Giáng Kiều nói với chàng: ‘‘Thầy đã giảng về hương như là một phương tiện truyền thông. Thắp hương là để truyền thông với tổ tiên, tổ tiên tâm linh cũng như tổ tiên huyết thống. Nếu một ngày kia anh thấy thiếu vắng em mà muốn nhắn em điều gì thì anh có thể thắp hương lên. Em sẽ trở về.’’
Nhớ tới đó, Tú Uyên lập tức bỏ sợi dây xuống, chạy ù ra phố, mua một bó nhang. Về tới phòng, chàng thắp luôn một lượt mấy chục cây hương, mong cho Giáng Kiều trở về lập tức với chàng. Khói hương xông lên mờ mịt cả gian phòng, nhưng chàng không thấy động tĩnh gì hết. Mấy giờ đồng hồ sau vẫn chưa thấy Giáng Kiều trở về. Tú Uyên ngồi ngay ngắn trở lại. Chàng ngồi yên bất động. Trong tư thế ngồi yên ấy, một hồi lâu chàng thấy được Giáng Kiều quả thật là một người hiếm có. Giáng Kiều có một trái tim biết thương và biết cảm. Giáng Kiều kiên nhẫn, có lắng nghe, có chịu đựng. Giáng Kiều đã làm đủ mọi cách để giúp Tú Uyên, nhưng chàng đã vẫn chứng nào tật ấy, không chịu chuyển hóa. Tú Uyên thấy rằng nếu sống với một người như Giáng Kiều mà chàng không sống được thì chàng sẽ không có thể sống với bất cứ một ai khác. Chàng bắt đầu thấy lỗi của mình, và chàng để rơi những giọt nước mắt hối hận và thương cảm.
Những giọt nước mắt ấy làm trái tim Tú Uyên êm dịu và mát mẻ lại. Chàng nhớ lại những điều thầy trú trì đã giảng trên chùa. Thầy nói: ‘‘Thứ hương mà mình đốt lên để cúng dường phải là tâm hương: hương giới, hương định, hương tuệ…’’ Chàng chưa bao giờ đốt được hương giới. Chàng đã quen để cho tập khí lôi kéo, chàng chưa biết hành trì giới luật. Giới thứ tư dạy về cách lắng nghe và sử dụng ngôn ngữ từ ái. Chàng đã từng trách móc mẹ cha, anh chị, từng nghĩ rằng những người ấy đã gây khổ đau cho chàng, nhưng chính thực thì chàng chưa từng biết lắng nghe họ và biết sử dụng ngôn ngữ từ ái với họ. Chàng đã gây khổ đau cho họ rất nhiều mà chàng không biết.
Thấy được điều này, tự dưng niềm xót thương dâng lên trong lòng chàng: chàng bắt đầu thấy hối hận, thấy thương mẹ, thương cha, thương anh, thương em, thương thầy, thương bạn. Chàng thấy mọi người đều đã khổ vì chàng, và chàng không còn có khuynh hướng trách móc họ, lên án họ, phê phán họ. Tự dưng ngồi đó mà chàng cảm thấy một niềm bình an dâng lên trong trái tim. Chàng thấy khỏe. Chàng thấy chàng không còn có nhu yếu đi vào quán rượu để nhấn chìm những nỗi khổ niềm đau của mình trong những ly rượu. Và chàng có cảm tưởng là chàng có thể thực tập được không khó khăn giới thứ năm là giới không sử dụng các chất ma túy. Chàng biết mỗi khi say rượu, chàng đã gây đổ vỡ rất nhiều và sau đó tình trạng không thể hàn gắn được nữa.
Tú Uyên ngồi yên như vậy trong căn phòng của chàng, chỉ mới trên một tiếng đồng hồ mà đã đạt tới những cái thấy rất sâu sắc. Chàng đã thực sự đốt được ba thứ tâm hương: giới, định và tuệ. Chàng bắt đầu hiểu tại sao Giáng Kiều đã từng khuyên nhủ chàng thọ trì năm giới. Nếu không thực tập năm giới, chàng sẽ không chuyển hóa được tập khí và khổ đau, và sẽ không bao giờ có hạnh phúc. Chàng rơi nước mắt. Chàng nói: ‘‘Giáng Kiều, em ở đâu? Sao em không về với anh?’’
Chính vào lúc ấy thì có tiếng gõ cửa, và Giáng Kiều bước vào. Tâm hương đã giúp chàng tái lập được sự truyền thông. Tú Uyên đã thay đổi. Giáng Kiều rất mừng. Nàng nói: ‘‘Anh mới chỉ thực tập có một giờ đồng hồ mà đã chuyển hóa nhiều như thế thì em tin rằng sau một thời gian thực tập vài tháng anh sẽ có rất nhiều hạnh phúc, anh sẽ có thể hòa giải lại được với ba má anh, với các anh, chị và em của anh. Em sẵn sàng tha thứ cho tất cả những lầm lỗi của anh trong quá khứ.’’
Em ở đâu?
Thưa quý vị, tôi xin mời quý vị cùng quán chiếu. Trong giờ phút này, nàng Giáng Kiều của quý vị đang ở đâu, khổ đau hay là hạnh phúc? Người ấy đã từ trong một bức tranh bước xuống, đi vào cuộc đời của quý vị, nguyền chia sẻ cuộc đời với quý vị. Quý vị đã đối xử với Giáng Kiều của quý vị như thế nào? Quý vị đã từng làm cho người ấy khóc bao nhiêu lần? Người ấy còn sống với quý vị, hay đã bỏ đi? Người ấy hiện giờ ở đâu? Quý vị có khả năng truyền thông với người ấy hay không? Quý vị đã từng chửi mắng và hành hạ nàng Giáng Kiều của quý vị hay không? Quý vị có biết lắng nghe để hiểu được những niềm đau nỗi khổ của nàng hay không? Quý vị có biết sử dụng ngôn ngữ hòa ái với người ấy hay không? Nàng Giáng Kiều của quý vị có thể là cha, là mẹ, là chồng, là vợ, là con trai, con gái của quý vị. Hạnh phúc của quý vị tùy thuộc vào hạnh phúc của những người đó. Quý vị đã làm gì để cho họ có hạnh phúc, hay quý vị chỉ lên án, trách móc và hành hạ những nàng Giáng Kiều của quý vị?
Tôi biết trong trái tim của Giáng Kiều bao giờ cũng có thương yêu và tha thứ. Nếu quý vị biết nhìn sâu, biết nhận diện gốc rễ của những niềm đau và nỗi khổ của mình, quý vị sẽ thấy rằng những khổ đau của chúng ta đã được tạo tác ra vì tập khí không lành mạnh của chúng ta: chúng ta không biết lắng nghe, không biết nói lời từ ái, chúng ta chỉ lên án, trách móc và đàn áp. Thấy được như thế là ta đã đốt lên được hương tuệ. Nguyện thực tập hạnh lắng nghe và ái ngữ, đó là thực tập hương giới. Có giới thì sẽ có định. Có định thì có tuệ. Và có tuệ tức là có hiểu biết. Hiểu biết đưa tới chấp nhận và thương yêu. Nếu quý vị không chấp nhận và thương yêu được nàng Giáng Kiều của quý vị thì làm sao quý vị có hạnh phúc?
Chuyện Tú Uyên và Giáng Kiều là chuyện của mỗi chúng ta, chuyện đang xảy ra cho chúng ta trong giờ phút hiện tại. Chúng ta ai cũng là Tú Uyên, ai cũng là Giáng Kiều. Mỗi người trong chúng ta phải đóng vai Tú Uyên và Giáng Kiều của mình cho khéo léo, cho hết lòng, thì hạnh phúc là một cái gì có thể nắm bắt được ngay trong phút giây hiện tại.
Hiện có những Tú Uyên và Giáng Kiều trong pháp hội này. Xin chúc quý vị thực hiện được những gì mà đức Thế Tôn mong mỏi: chúng ta hãy đốt lên tâm hương giới, định và tuệ để thiết lập lại sự truyền thông giữa chúng ta. Hạnh phúc tùy thuộc ở sự thành công này của liệt vị.
Làng Mai giữa lòng bản Mường
(Chân Trời Hiện Pháp)
Những hạt giống đầu tiên
Tháng 4 năm 1976, thầy Nhất Hạnh được mời tham dự hội thảo Pacific Ashram tổ chức tại Chiang Mai. Người tổ chức là Sulak Sivaraksa – một giảng viên đại học. Ông là bạn của Thầy, quen biết Thầy một năm trước tại Sri Lanka, là người khởi xướng tư tưởng “bảo thủ cách tân”, được mệnh danh là “trí thức đất Xiêm”. Ông là người có can đảm nói ra ý kiến phê bình tôn giáo, chính trị, xã hội và cũng là một người rất tích cực trong phong trào Phật giáo nhập thế toàn cầu.
Lần đó thầy Nhất Hạnh đã tạm trú tại Wat Phalad – ngôi chùa trong rừng cây và thác sâu trên đường đi lên Doi Suthep. Tại đây, Thầy đã có cơ hội tiếp cận và giao lưu với các sinh viên trẻ Thái Lan đang có thao thức về đường hướng tâm linh trong việc phụng sự xã hội, đặc biệt là con đường Phật giáo – nền tảng tâm linh lâu đời của xứ sở này. Tình hình chính trị Thái Lan lúc bấy giờ khá căng thẳng, khiến cho các thế hệ trẻ phải thao thức tìm một lối ra. Chính phủ lúc ấy nắm quyền độc tài nên các sinh viên trẻ trong các trường đại học có ý thức dân chủ và có lý tưởng đã cùng nhau lên tiếng biểu tình nhưng bị đàn áp một cách bạo lực nên rất nhiều người trẻ thất vọng và hận thù. Một nhóm sinh viên không tin vào đường lối bạo lực và khuynh hướng cực tả hay cực hữu, không tin vào sự phân biệt kỳ thị con người mà chỉ tin vào con đường bất bạo động và sự truyền thông hòa giải. Họ đã tìm tới thầy Nhất Hạnh để được lắng nghe và tham khảo.
Người hùng bất bạo động
Lần đó, thầy Nhất Hạnh đã trao quyển “Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức” bằng tiếng Anh cho một sinh viên trẻ lúc đó vừa xuất gia tại chùa Wat Phalad để dịch sang tiếng Thái. Từ khi được phát hành, “Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức” đã trở thành một cuốn sách kinh điển, gây ấn tượng mạnh cho những người trẻ đầy lý tưởng xây dựng lại xã hội theo chiều hướng tâm linh trong những năm về sau. Cuốn sách trở thành cẩm nang cho con đường Đạo Bụt Nhập Thế và đã trả lời những câu hỏi thời đại rằng người tu Phật nên tĩnh tâm tại chỗ hay nên ra ngoài hoạt động để cải thiện tình trạng của xã hội. Nhóm thanh niên với lý tưởng hòa bình đã xem Thầy như một vị anh hùng dẫn bước trên con đường bất bạo động với những gì mà Thầy và chị Phượng (sau này là sư cô Chân Không) cũng như Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội đã từng thực hiện trong cuộc chiến tranh khốc liệt tại Việt Nam. Đặc biệt là khả năng phụng sự xã hội nhưng vẫn đi đôi rất hài hòa với sự thực tập thiền và chánh niệm – vốn là nền tảng tâm linh của Bản Mường (Thái Lan).
Từ đó trở đi, sách của thầy Nhất Hạnh đã liên tiếp được dịch ra Thái văn và đã hỗ trợ đắc lực cho con đường đạo Phật đi vào cuộc đời của các thanh niên Phật tử Thái, như những quyển Nẻo Về Tiếp Nối Đường Đi (sách nói về sự kiện 5 sinh viên Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội bị ám sát và sự tự thiêu của Nhất Chi Mai), Thiền Hành Yếu Chỉ, Đạo Phật Ngày Nay, Nẻo Vào Thiền Học, An Lạc Từng Bước Chân… Tuy đã qua thời tai nạn chính trị nhưng những cuốn sách, những bài thơ và lời dạy của Thầy vẫn tiếp tục gây ảnh hưởng trong nhóm người trẻ Thái Lan – bao gồm các vị độc giả, giới xuất gia và tại gia đang đi tìm đường hướng mới cho đạo Phật, xã hội, văn hoá, môi trường và thiên nhiên. Ít người quan tâm về các lĩnh vực trên mà không hề biết đến tên của Thầy.
Ngài Buddhadāsa Indapañño là một vị Sư có tầm ảnh hưởng mạnh nhất trong giới Phật giáo nước Thái của thế kỷ vừa qua. Vì không hài lòng với hình thức giảng dạy của Phật giáo truyền thống vốn mang rất nhiều sắc thái nghi lễ thần bí hoặc thiếu tính thực tiễn, Ngài đã tự mình tìm hiểu và đi sâu vào kinh điển Phật giáo Nguyên Thuỷ trong tạng kinh Pali, cố gắng tìm nhiều cách áp dụng giáo lý trong thời đại mới và đồng thời thấy được sự kết nối giữa Phật giáo Nguyên Thủy với các truyền thống Phật giáo khác, nhất là Thiền tông. Sulak Sivaraksa, người được đề cập ở trên, đã đưa những cuốn sách của thầy Nhất Hạnh cho Ngài Buddhadāsa xem. Ngài đón nhận với sự cởi mở và nói rằng: “Vị sư này viết sách hay hơn tôi.” Trong thời gian cuối đời, Ngài đã đưa cuốn sách “Từng Bước Nở Hoa Sen” tiếng Thái được dịch bởi Sulak, cho vị thị giả là vị sư Singthong và nói: “Hãy đọc và thực tập theo cuốn sách này là đủ, chính tôi cũng sẽ thực tập theo như vậy.” Ngay trong cuốn sách ấy đã có lời tựa với nhiều sự hoan hỷ và tán thán của Đức Tăng Thống Thái Lan thời bấy giờ là Somdech Phra ñāṇasaṃvara, người được tôn kính là một vị sư đức độ, học bác và chuyên thiền.
Năm 1982, Thầy thành lập Làng Mai tại Pháp và bắt đầu có nhiều khách thiền sinh đến tu học theo con đường của Thầy từ khắp mọi nơi trên thế giới. Khoảng năm 2000, phái đoàn của Maechi Sansanee Sathirasut – một trong những vị nữ tu áo trắng có tầm ảnh hưởng lớn tại Thái, đã viếng thăm và tu tập cùng tứ chúng Làng Mai. Taweesak Uchukatanon – một nghệ sĩ trẻ – đã rất thích bài hát Quay Về Nương Tựa của tiếng Việt, sau đó dịch đoạn thở vào – thở ra và phổ nhạc lại trong tiếng Thái thành bài hát “Lom Hai Chay”. Bài hát được tổ chức của nữ tu Maechi phổ biến và lan rộng tới khắp các trường học của Thái Lan, thường được mở vào mỗi buổi sáng, trở thành bài hát thiền giúp hướng dẫn trẻ em biết lắng dịu và quay về với chính mình. Hạt lành của Làng Mai đã âm thầm tung bay trên mọi miền đất Thái dù rất ít người Thái biết rằng bài hát nổi tiếng này có xuất xứ từ Làng Mai.
Cây Mai nẩy mầm xanh
Năm 2007 là lần đầu tiên sau gần 30 năm, Thầy Làng Mai trở lại đất Thái. Vừa bước chân tới, Thầy đã nhìn lại sư cô Linh Nghiêm và nói: “Chúng ta đã bàn rất nhiều về chuyến đi Thái Lan và This is it”. Sư cô Linh Nghiêm là một trong những đệ tử thế hệ đầu tiên của Thầy và là một trong những người phụ nữ Thái Lan đầu tiên thọ giới Tỳ kheo ni – một trong tứ chúng đồng tu đã hoàn toàn vắng mặt trong lịch sử Phật giáo nước nhà, lại là người Thái Lan đầu tiên chính thức làm đệ tử xuất gia của Thiền sư Nhất Hạnh, vốn có ảnh hưởng từ trước đối với xã hội Thái Lan. Điều này đã gây thêm cảm hứng và sự kết nối chặt chẽ giữa Làng Mai và đất Thái. Cũng trong năm 2007, trước khi Thầy và tăng thân đến Thái, đã có một buổi hội thảo tại Bangkok với tựa đề “30 năm Thích Nhất Hạnh và xã hội Thái”. Duyên xưa ấy đang từ từ được hình thành rõ ràng hơn.
Năm 2009, sư cô Linh Nghiêm cùng các bạn Thái đã chọn được đất ở NongSarai, Pakchong để lập trung tâm Làng Mai nhỏ, bắt đầu với 5 thầy và 5 sư cô. Đến cuối năm, vì sự kiện Bát Nhã nên rất đông các vị xuất sĩ Làng Mai từ Việt Nam sang, tăng thân buộc phải đi tìm đất rộng hơn để có đủ không gian và xây dựng cơ sở cho các vị xuất sĩ cư trú cũng như các vị thiền sinh tới tu học. Thầy Làng Mai cùng tăng thân đồng ý đặt tên tu viện này là Tu viện Vườn Ươm – Trung Tâm Thiền Tập Quốc Tế Làng Mai Thái Lan và xem đây là trung tâm để các Tăng thân cư sĩ và xuất sĩ Làng Mai ở châu Á quay về tề tựu.
Bước khởi đầu, việc cư trú của các vị xuất sĩ Làng Mai – đa phần từ Việt Nam, đều được ủng hộ bởi các vị lãnh đạo trong giáo hội Phật giáo Thái Lan, đặc biệt là trường Đại học Mahachulalongkornrajavidayalaya (MCU). Bác Bun Lư Bunmayon là vị thí chủ đầy uy đức đã yểm trợ nơi cư trú cho quý sư cô, đích thân dẫn chúng Làng Mai đến thăm Ngài Somdetch PhraPutthacharn (Kiều Upaseno), quyền Tăng thống tại Wat Sraket, Bangkok lúc bấy giờ, là vị sư rất thân thiết với bác từ hồi trẻ. Ngài đã dặn dò bác như một lời phó thác: “Hãy chăm sóc, ủng hộ để các vị được sống yên ổn và đầy đủ các điều kiện.”
Cùng một thời điểm đó, đài truyền hình Thái đã chiếu tập phim tài liệu nói lên sự gắn liền vượt ngoài bộ phái giữa Thầy và Ngài Buddhadasa, hướng dẫn chương trình là Sutthichai Yun – nhà phân tích tin tức nổi tiếng và thầy Phramaha Wutthichai Vajiramedhi (thầy Wo) – một vị sư trẻ đầy năng lực có chí hướng làm mới Phật giáo để phù hợp với con người đương thời. Bộ phim gồm 12 tập mang tựa đề “Zen 2010: Từ Suan Mokkh đến Làng Mai”, là trung tâm của hai thiền sư, thuộc hai truyền thống Phật giáo mà phái đoàn đã viếng thăm để đi tìm sự tương quan của hai vị thiền sư.
Trong năm 2010, Sư Ông và Tăng thân Làng Mai một lần nữa tới Thái Lan để thật sự đặt nền móng cho việc thành lập trung tâm thường trú. Lễ cúng dường được tổ chức trên khu đất được chọn, gần rừng quốc gia Khao Yai, Pakchong với sự tham gia của chư Tôn Túc và cư sĩ từ các nước gồm hơn 1000 người. Sư Ông đã tự tay trồng cây bồ đề như biểu tượng của bước khởi đầu mới này và nói rằng: “Thật ra đất nước Thái là nơi vốn sẵn có truyền thống Phật giáo rất đầy đủ mà không cần đi tìm ở đâu bên ngoài. Chúng ta chỉ cần tìm lại gia tài đó, nhìn sâu vào nó hơn để có thể thấy được viên kim cương quý báu mà có thể làm lợi lạc cho rất nhiều người. Nhưng chúng ta phải làm mới Phật giáo với những phương pháp phù hợp cho người đương thời để họ có thể tiếp nhận và áp dụng, chuyển hóa những khổ đau của thời đại”.
Mảnh đất màu mỡ thuận duyên tại đất Thái
Bản Mường là cách thức tổ chức xã hội của người Thái từ một làng (bản) trở thành nhỏ như thị trấn hay rộng lớn như một đất nước (mường). Bản Mường trong tiếng Thái có nghĩa là nước nhà, quê hương hay tổ quốc. Phật giáo đã du nhập đến xứ sở này từ hơn 2000 năm trước nhưng lịch sử chính thức của đất nước Thái Lan chỉ mới bắt đầu cách đây khoảng 800 năm. Xuyên suốt dòng lịch sử ấy, tất cả các đời vua Thái Lan đều là Phật tử và Phật giáo đã gắn bó với mọi tầng lớp trong xã hội, là nền tảng quan trọng của sự phát triển Bản Mường và văn hóa truyền thống. Phật giáo là một trong những tác nhân lớn nhất giúp cho Bản Mường của người Thái Lan không còn là một ngôi làng hay thị trấn trên núi rừng mà đã trở thành một nhà nước có quy mô tổ chức chặt chẽ, là một vương quốc có văn minh, có tầm ảnh hưởng và có sự giao lưu với ngoại quốc.
Tinh thần cởi mở, bao dung và từ bi của đạo Phật đi đôi dễ dàng với bản chất của dân tộc Thái là luôn luôn tìm cách thích nghi với những hoàn cảnh xã hội mới để phát triển, sống hài hòa, an lạc mà không đánh mất gốc rễ văn hóa dân tộc. Trong suốt lịch sử của dân tộc, Thái Lan là một nước chưa hề bị thế lực ngoại xâm đô hộ và đàn áp. Tuy nhiên, tinh thần bao dung và từ bi của đạo Phật lại làm cho người Thái rất cởi mở, phóng khoáng để tiếp thu những nguồn văn hoá khác từ nước ngoài, cũng như dễ dàng chấp nhận các tôn giáo khác và dân tộc khác, để họ có thể tự do hoạt động mà không bị đàn áp trên đất Thái. Đó là tinh thần sẵn sàng học hỏi, chấp nhận và tôn trọng sự đa dạng mà thế giới đang hướng đến. Trong những thế kỷ qua, có rất nhiều người từ Việt Nam và Trung Quốc di cư đến Thái Lan và mang theo truyền thống tâm linh của họ, trong đó có Phật giáo. Các vị vua Thái và các chính quyền đều chấp nhận và ủng hộ. Đặc biệt, vua Rama IV từng ký sắc lệnh chấp nhận hai truyền thống Bắc tông của Việt Nam và Trung Quốc (Annam- nikaya và Chinnikaya) là một phần của Phật giáo Thái Lan, có quyền tự do hành đạo trên toàn nước và có thể thế phát cho người Thái xuất gia. Lịch sử đã được tiếp nối và ta cần nhận diện thêm những nhân duyên khác giúp hình thành nên một bối cảnh thích hợp cho sự có mặt của truyền thống Làng Mai tại Thái Lan.
(Thầy Trời Hiện Pháp là người Thái xuất gia theo truyền thống đạo Bụt Nam Tông Thái Lan. Hiện tại Thầy đang tu tập với đại chúng tu viện Vườn Ươm, Làng Mai Thái Lan.
Bài viết được thầy viết bằng vốn Tiếng Việt tự học của mình)
Sư cố Thanh Quý Chân Thật
Cố Hoà Thượng Chí Mậu
Công hạnh tu học và cứu độ của Sư Cố vô cùng lớn lao, không thể kể hết. Sư cố có hạnh rất hiền. Hạnh nguyện của Sư Cố là khiêm cung, thể chất hoan hỷ và nhiều lòng từ bi. Liêu Sư Cố nằm bên phải chánh điện nhìn từ bên ngoài vào. Sư Cố đã ngoài tám mươi tuổi thành ra ngủ rất ít, thường thức dậy lúc hai hoặc ba giờ sáng uống trà, ngồi niệm Phật và lần tràng hạt bên hộp tợ với ánh đèn dầu mờ mờ. Đúng giờ thỉnh chuông, Sư Cố đi lắc linh thức chúng dậy đi công phu tu tập.
Vào khoảng năm 1965-1966, trong chùa chỉ có ba điệu, đó là điệu Hồng, điệu Trí và điệu Hải. Sư Cố chia phiên cho ba điệu hầu Sư Cố. Một điệu quét dọn liêu phòng và nấu nước pha trà khi có khách đến thăm. Một điệu thì treo mùng, chải mền và xoa bóp cho Sư Cố. Mùa đông thì điệu lấy than đỏ bỏ vào lồng ấp để Sư Cố sưởi cho đỡ lạnh. Điệu còn lại thì nấu cơm ngày ba bữa và sắc thuốc. Sư Cố thường hay đi ra vườn ngắm cảnh, ngắm cây lá trong vườn và nhìn các điệu quét sân. Có một lần Sư Cố ra sân thượng thấy cây hoa mộc nở hoa trắng xóa, thơm cả vùng. Sư Cố hái vài hoa và bảo điệu đem vào để khi nào pha trà thì bỏ vào một ít, uống rất thơm, nó còn có tác dụng làm cho sáng mắt. Một lần khác Sư Cố đi xuống sân hạ chơi thì thấy hai điệu ở chùa Châu Lâm và chùa Thọ Đức đi nhặt củi ngoài đồi thông về và ngồi nghỉ dưới cây hồng quân gần hồ Bán Nguyệt. Cây hồng quân rất lớn và ra trái rất nhiều. Hai điệu thấy vậy bèn leo lên cây hái. Khi nhìn thấy Sư Cố đứng trên sân nhìn xuống, hai điệu sợ quá liền tuột xuống. Thấy Sư Cố đứng gần đó hai điệu chắp tay xá. Sư Cố bèn chắp tay xá lại rồi đi lui. Thấy vậy hai điệu ra xầm xì với nhau rằng: “Chà, cố hiền hỉ! Cố hiền hỉ!”.
Có một lần Sư Cố thấy các điệu ham chơi, lơ là học kinh, Sư Cố gọi từng điệu lên liêu và bảo: “Này, Cố có gói kẹo cho con. Khi mô con dùng, nhưng mà ráng học cho giỏi nghe, gắng học kinh cho mau thuộc và đừng cho điệu khác biết”. Điệu nào cũng được Sư Cố gọi lên cho kẹo và nói như vậy. Khi các điệu nhận quà ra rồi, điệu nào cũng mừng thầm là mình được Sư Cố cưng nhất nên điệu nào cũng cố gắng học hành để Cố cưng. Thành ra thời gian đó mấy điệu học kinh rất nhanh. Có một lần đến phiên điệu đó nấu ăn. Mùa đông trời lạnh nên điệu dậy trễ. Điệu lật đật chạy vào trong khố lấy gạo ra nấu, loay hoay làm sao đụng cái chảo lớn rơi xuống đất bể ra làm hai. Điệu sợ quá nên chạy ra cây me gần chuồng bò đứng khóc. Thường thường Sư Cố hay chống gậy ra ngoài vườn chơi, Sư Cố nghe tiếng khóc, nhìn quanh thì thấy điệu, Sư Cố bèn tới gần hỏi: “Sao điệu khóc, điệu nhớ nhà à?”. Điệu chắp tay xá Cố và bạch: “Thưa Cố, khi sáng nấu ăn con sơ ý làm bể cái chảo lớn, con sợ thầy tri sự biết và la con thành ra con khóc”. Sư Cố nói: “Thôi, đi theo Cố vô đây. Cố cho tiền đi lên phường Đúc với chú Kiến mua chảo mới về thế lại”. Khi hai chú cháu mua chảo về rồi để lại trong khố, thấy chảo mới hơn các chảo khác nên điệu sợ quá bèn tới thưa với Cố: “Bạch Cố, cái chảo mới quá thế nào thầy tri sự cũng biết và la con”. Cố cười rồi nói: “Cố có cách, tối nay con xách chảo đó ra góc vườn, con để đó và lấy hai bao trấu đổ vô và lấy rác thông đốt. Cháy một đêm thì sáng ngày ra nó sẽ giống chảo cũ liền”. Điệu làm y theo lời Sư Cố dạy, sáng ngày ra bươi đống tro lên thì thấy chảo giống hệt như cũ. Điệu mừng quá, đi vào xá Sư Cố và ghi vào tâm thức niềm biết ơn đến với Cố. Điệu làm bể chảo đó chính là con.
Có một lần trời mùa đông giá rét nên Sư Cố ở trong liêu mà không đi đâu cả. Trưa hôm đó điệu thị giả mang cơm lên cho Sư Cố dùng. Vì trời lạnh nên các điệu khác cũng vào ngồi xung quanh lò ấp cho ấm và nghe Sư Cố kể chuyện. Lúc đó Sư Cố dùng cơm, còn các điệu thì ngồi xung quanh. Sư Cố hỏi: “Mấy điệu thấy cơm ngon như ri mà Cố ăn hết rồi thì thị giả có buồn không?”. Điệu thị giả trả lời: “Bạch Sư Cố, thấy Sư Cố dùng cơm được thì con mừng lắm”. Sư Cố cười và kể cho các điệu nghe một câu chuyện: “Hồi xưa, có một vị thầy làm trú trì. Thầy còn rất trẻ. Một hôm có một đạo hữu lên chùa cúng cho thầy một số thức ăn khá ngon và khá nhiều. Điệu thị giả dọn hết lên mâm cho vị trú trì dùng. Điệu nghĩ thầm là trưa nay thế nào thầy cũng để dành nhiều thức ăn cho mình. Nhưng vị trú trì còn quá trẻ, thấy thức ăn ngon thì ăn hết mâm cơm mà quên để phần cho vị thị giả. Thấy thức ăn trong mâm sắp hết, vị thị giả đi xuống nhà bếp và quẹt lọ nghẹ trên miệng rồi đi lên. Khi đi lên, thầy thấy miệng điệu như vậy thì hỏi: “Sao miệng điệu chi lạ rứa?”. Điệu chắp tay và nói: “Dạ thưa, miệng thầy thầy lo, miệng con con lo”. Nghe Sư Cố kể vậy mấy điệu lăn ra cười. Câu chuyện đó luôn nằm trong tâm thức con, khi nào nghĩ đến chuyện đó thì con cười.
Có một lần Sư Cố hỏi mấy điệu học kinh Lăng Nghiêm đã thuộc chưa, điệu Hồng lời: “Thưa Sư Cố, kinh Lăng Nghiêm khó học quá. Đã ba tháng rồi mà con chưa thuộc. Khi học xong đệ nhị rồi thì con quên đệ nhất, học xong đệ nhất thì con quên đệ nhị”. Cố trả lời: “Mình phải học như ăn cháo thì mới thuộc. Người ta thường nói: “lên đèo thì sợ ngãi, ở sãi thì sợ Lăng Nghiêm”. Lăng Nghiêm khó học lắm. Rồi Sư Cố kể ngày xưa lâu lắm ở đây có một điệu học kinh rất mau thuộc. Kinh Lăng Nghiêm năm đệ mà điệu đó học trong vòng mười hai ngày thôi. Điệu đó tên là Phùng Xuân. Điệu đó thông minh và học giỏi lắm. Rồi Sư Cố kể có một lần điệu đó làm thị giả cho Sư Cố. Sư Cố thì thích ăn canh me đất nấu với khoai lang. Điệu nấu canh đó rất ngon. Mùa hè mà ăn canh me đất nấu với khoai lang thì rất mát. Nhưng đến bữa dọn cơm, điệu làm sao đó mà trên mâm cơm quên đôi đũa, chỉ có muỗng thôi. Hôm đó Sư Cố dùng cơm bằng muỗng và điệu đứng hầu phía sau. Sư Cố hỏi điệu: “Ngoài vườn còn tre nhiều không?”. Điệu trả lời: “Dạ bạch Ôn, ở ngoài vườn tre nhiều lắm, những cây tre cán giáo măng rất nhiều. Dì Tư mới bẻ vô kho cho chúng ăn rất ngon”. Sư Cố dạy: “Chút nữa ra chặt cho Cố cây tre”. Khi đó điệu nhìn lại mâm cơm thì mới thấy không có đôi đũa. Điệu đi xuống bếp và lấy đôi đũa lên cho Sư Cố. Điệu chắp tay và sám hối Sư Cố. Điệu đó bây giờ lên thầy rồi và hiện đang học ở bên tây. Điệu thông minh lắm. (Đại chúng cười vì ai cũng biết điệu đó là Sư Ông Làng Mai. Họ đã được nghe Sư Ông kể nhiều lần về việc thiếu chánh niệm của mình).
Vào mùa đông trời lạnh và mưa phùn, các điệu trong chùa thường xay lúa giã gạo. Mùa đông giã gạo thì ấm lắm. Lúc đó trong chùa ăn cơm ngày hai bữa, chín giờ sáng và năm giờ chiều. Khi giã gạo thì thầy tri sự đi vắng, Sư Cố chống gậy đi xuống và dạy các điệu rằng: “Các con lấy tấm gạo lức đó đem xay để mỗi buổi sáng múc vài muỗng pha với đường mà ăn. Buổi sáng các con dậy sớm quét sân ăn thứ này vào thì đỡ bị gió và lạnh. Nhưng nhớ đừng cho thầy Tri sự biết mà thầy rầy nghe”. Các điệu rất kính mến Sư Cố qua tình thương mà Sư Cố dành cho các điệu. Thời gian đó, tuổi Sư Cố đã lớn nên Sư Cố rất ít ra ngoài vườn chơi mà chỉ đi trong sân của chùa. Chùa có cái sân trong thành ra từ liêu Sư Cố đi thiền hành ngang qua nhà Tổ, đến nhà Bảo Đức Đường rồi qua Quảng Hiếu Đường. Đứng trên đó nhìn xuống hòn non bộ thì thấy cây khế rất lớn và trái ra rất nhiều. Sư Cố đi xuống hái một trái cho điệu thị giả và Sư Cố cùng dùng. Điệu ăn và khen khế ngon và ngọt. Sư Cố dạy: “Con biết không, có một thời gian người ta đồn rằng cây khế này linh thiêng lắm. Cây khế này đã trên một trăm năm rồi. Khi trồng nó lên thì có trận bão năm Thìn. Trận bão này lớn lắm, nó cuốn bay cầu Trường Tiền và cây khế này cũng bị ngã xuống. Sau đó các thầy mới xây hòn non bộ bên cây khế. Cây khế này có cái đặc biệt hơn các cây khế khác là khi mới ra thì trái nó màu xanh, đến già thì nó màu vàng và khi chín thì chuyển sang màu đỏ. Khi nào trái có màu đỏ thì ăn mới ngọt thanh mà giòn.
Có một buổi trưa mấy anh sinh viên lên thăm chùa, khi về họ khát nước, thấy khế ngon mắt thì xin Cố hái vài trái. Sư Cố dạy điệu ra hái cho họ. Thường thường khế nhà mình thì mình biết, cho nên mình lựa trái nào đỏ chín mới hái. Anh sinh viên ăn thấy ngọt quá khen thầm trong bụng và muốn hái một trái để về khoe với bạn. Anh liền hái một trái, đem về nhà ăn thì chát ngầm và chẳng có hương vị chi cả. Anh bèn lên thưa với Sư Cố rằng: “Cây khế này, răng Cố hái cho con ăn thì nó ngọt mà con hái thì ăn không có hương vị chi cả. Cây khế ni linh thiêng lắm, hễ ai có tâm gian mà hái thì ăn chẳng có hương vị”. Sư Cố hỏi anh sinh viên tại sao lại nói như vậy thì anh trả lời: “Con đã hái thử mấy lần rồi”. Khi đó Sư Cố mới giải thích là: “Cây khế này khác với những cây khế ở ngoài. Những cây khế ngoài khi chín vàng thì nó rụng ngay, nhưng cây khế này khi vàng thì mới già thôi, khi mô nó màu đỏ mới chín, lúc đó ăn mới ngọt. Thành ra khi Cố bảo mấy điệu hái thì hái trái đỏ, còn anh hái trái vàng thì nó chát chớ có chi mô mà linh thiêng”.
Hồi đó Sư Cố thường đi dạo xung quanh vườn và hai điệu đi gần bên Sư Cố. Khi nào điệu cảm thấy buồn thì ngồi cạnh Sư Cố để nghe Cố kể những chuyện vui. Có một buổi chiều trời lạnh, Sư Cố dùng cháo còn các điệu thì ngồi chơi bên cạnh. Sư Cố kể chuyện cho các điệu nghe rằng: “Ngày xưa Cố có hầu Sư Tổ (Đệ nhị Tổ). Vua Thành Thái là người thân với Sư Tổ lắm. Sư Tổ thường dạy điệu buổi chiều nào cũng nên nấu một nồi sắn mì để cho chúng ăn trước khi đi làm vườn. Mỗi ngày điệu thị giả thường xuống bếp lựa củ nào mềm mà ngon, dọn vô đĩa và bưng lên cho Sư Tổ dùng sau giờ nghỉ trưa.
Một hôm vua Thành Thái lên thăm chùa với hai người lính theo sau. Khi vào liêu, vua thấy Sư Tổ đang ngồi thiền. Vua đi vào, đứng một bên rồi dơ một tay đặt nhẹ lên chân Sư Tổ. Sư Tổ hỏi: “Ai đó?”. Vua Thành Thái trả lời: “Dạ bạch! Thành Thái lên thăm Hòa Thượng”. Sư Cố kể là Sư Tổ có hai mí mắt sụp xuống thành ra mỗi khi nhìn ai thì Sư Tổ vén hai mí mắt lên để xem cho rõ. Khi nhìn thấy vua Thành Thái, Sư Tổ cười và mời vua ngồi. Sư Tổ lắc linh kêu mấy điệu lên pha trà nước. Mấy điệu đang làm vườn, nghe lắc linh như vậy thì ùa nhau đến bên liêu Sư Tổ để ngắm nhìn vua Thành Thái. Sư Tổ và vua Thành Thái ngồi uống trà và nói chuyện đạo lý. Sau khi đàm luận xong, Sư Tổ lấy đĩa sẵn và mời vua rằng: “Sắn ở ngoài vườn ngon lắm, vua ăn với ta một miếng cho vui”. Sư Tổ bẻ một nửa cho vua, nửa còn lại phần Sư Tổ. Cả hai cùng dùng một cách ngon lành. Khi đó hai người lính đứng gác bên cửa tái xanh mặt. Họ nói hồi xưa hễ ai mời vua ăn sắn là tội khi quân, răng chừ vua lại ăn ngon lành như vậy? Sau khi chào nhau và tiễn vua ra về, mấy thầy đứng xung quanh và hỏi Sư Tổ: “Bạch Sư Tổ, vua Thành Thái là người nghênh ngang lắm mà sao lên đây đảnh lễ Hòa Thượng một cách cung kính quá vậy?”. Sư Tổ cười và kể lại rằng: “Một kiếp xưa kia, vua Thành Thái với ta cùng tu một chùa. Vua Thành Thái học rộng, nghe nhiều nhưng ham chơi và không lo tu tập. Còn ta thì tinh chuyên tu tập nghiêm tinh giới luật. Hôm nay vua Thành Thái tái sinh trong hoàng cung làm vua, còn ta tái sinh trong chùa làm Hòa Thượng. Cho nên hôm nay vua gặp ta thì kính nể”. Đó là câu chuyện Sư Cố kể lại mà con còn nhớ.
Vào sau cuối mùa đông năm Đinh Mùi 1967, trời tự nhiên lạnh hơn mọi năm. Mưa phùn và gió bấc thổi về rất lạnh. Vào lúc đó chiến tranh khắp nơi, súng đạn nổ suốt ngày đêm. Toàn miền Nam Việt Nam nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng, dân chúng phải gánh chịu một cuộc chiến tranh tàn khốc giữa hai miền Nam Bắc. Tết năm Mậu Thân 1968, quân đội miền Bắc đã tấn công, chiếm thành phố Huế và các vùng quê. Dân chúng phải di tản khỏi vùng bị tạm chiếm. Trong khi đó Tăng Ni các chùa cũng phải di tản. Các Hòa Thượng các chùa trong vùng Thủy Xuân như Hòa Thượng chùa Châu Lâm, Hòa Thượng chùa Thiên Hưng thường hay qua chùa Từ Hiếu để chơi kiệu với Sư Tổ, cũng phải tản cư về chùa Quốc Học. Trong chùa chỉ còn lại Sư Cố, thầy Chí Niệm là tri sự cùng với điệu Trí, điệu Hồng và điệu Hải. Điệu Hồng tức là thầy Chí Viên hiện nay trú trì tại chùa Linh Phong ở Nha Trang. Điệu Hải tức là thầy Chí Thắng trú trì chùa Phước Thành ở An Cựu, còn điệu Trí là con-Chí Mậu. Trong chùa có một kho lúa cũng được vác vào trong liêu để chất làm hầm trú ẩn bom đạn cho Sư Cố. Ngày đêm Sư Cố chỉ ở trong hầm thôi chứ không ra được. Có một lần quả pháo M.79 dội gần ngay liêu nhưng Sư Cố không bị gì cả. Sư Cố rất thương chúng tăng và thường hay nhắc nhở đại chúng gắng tu hành để cho nỗi khổ niềm đau ở ngoài giảm bớt, không thôi chiến tranh ngày đêm cứ tiếp tục nổ thì thiên hạ chắc chết nhiều.
Thật Sư Cố đã hiểu và thương các con của Sư Cố biết chừng nào! Bên cạnh đức từ bi, Sư Cố còn thể hiện đức tính khiêm cung cao cả. Các phật tử lên chùa lễ Phật xin vào đảnh lễ Sư Cố, Sư Cố từ chối mà còn dạy rằng: “Các vị lạy tôi thì tôi lạy lại đó”. Thật ai mà lạy Sư Cố được một lạy là phước lắm! Một hôm, Sư Cố chùa Thuyền Quang bảo điệu đem thư qua mời Sư Cố Từ Hiếu sang chùa Thuyền Tôn chơi. Điệu đem thư qua và đọc cho Sư Cố nghe. Điệu thỉnh Sư Cố ngồi để nghe đọc nhưng Sư Cố cứ đứng chứ không chịu ngồi. Sư Cố đáp rằng: “Khi nghe thư của bậc Tôn Túc nên cung kính như khi có mặt các Ngài”. Về sự sinh hoạt hằng ngày, Sư Cố sống rất giản dị, không làm phiền tới ai. Các điệu thị giả chưa có điệu nào giặt được một bộ áo quần của Sư Cố. Có một lần điệu thị giả lén lấy áo quần dơ của Sư Cố định đem đi giặt, áo quần tuy dơ nhưng Sư Cố xếp rất ngay ngắn để dưới chiếu, Sư Cố biết được và nói: “Bộ đồ mới của Ôn đó!” Làm thị giả mà giặt được của Sư Cố một bồ đồ là phước lắm.
Về sau vì tuổi già sức yếu nên Sư Cố không đi ra vườn như trước, người chỉ đi thiền hành từ Liêu ngang qua nhà Tổ vòng qua Báo Đức Đường, lên Quảng Hiếu đường, đến Lạc Nghĩa Đường rồi Tịnh Trai đường… Tại đây, Sư Cố ngồi nhìn ra phía rừng thông để ngắm cảnh. Tuổi đã ngoài tám mươi nhưng Sư Cố không có bệnh gì nghiêm trọng ngoài bệnh tuổi già. Các điệu thị giả thường hay sắc thuốc bắc để Sư Cố dùng. Ngặt vì lúc đó giặc giã bom đạn khắp nơi, đường xá bị phong tỏa nên các điệu không đi lấy thuốc bắc được. Tuổi càng ngày càng lớn nên sức khỏe của Sư Cố cũng yếu dần đi. Đến ngày mồng tám tháng hai năm Mậu Thân, Sư Cố không dùng cơm nữa mà chỉ uống nước thôi. Đêm đó cả ba điệu thức suốt đêm để hầu Sư Cố. Vào lúc ba giờ sáng, Sư Cố ngồi dậy kêu điệu thị giả đi mời các thầy lớn đến cho Sư Cố nói chuyện. Điệu Hồng thưa cho Sư Cố hay là các thầy lớn đã tản cư hết rồi, trong chùa chỉ còn thầy tri sự và ba điệu thôi. Gần bốn giờ sáng thì Sư Cố xin đi vệ sinh và tẩy rửa sạch sẽ, sau đó các điệu đưa Sư Cố vào giường nằm nghỉ. Sư Cố nằm nghiêng bên phải, chắp tay theo thế cát tường và nằm yên như vậy. Các điệu nghĩ rằng Sư Cố đã khỏe nên để yên cho Sư Cố nghỉ, điệu Hồng và điệu Trí đi tụng kinh khuya, còn lại mình điệu Hải hầu Sư Cố. Khi than trong lò ấp hết rồi thì điệu Hải đi xuống bếp để lấy than bỏ vào thêm cho Sư Cố. Lúc điệu đưa cái lò ấp than vào, đợi một lúc mà không thấy Sư Cố nhúc nhích chi cả nên đi tìm thầy tri sự là thầy Chí Niệm. Nghe tin, thầy đi tới thì Sư Cố đã viên tịch. Lúc đó khoảng sáu giờ sáng. Thầy tri sự cùng các điệu đứng chung quanh tụng kinh niệm Phật khoảng ba phút. Sau đó thầy tri sự bảo điệu Hải qua trình cho Sư Cố Thiền Tôn và đi mời quý thầy đi tản cư từ chùa Bảo Quốc lên. Quý thầy lên và làm lễ cung nghinh nhục thân của Sư Cố nhập kim quan. Vì hoàn cảnh chiến tranh nên tang lễ Sư Cố có khoảng ba mươi vị Tăng đến tham dự và chỉ diễn ra trong vòng ba ngày. Lễ nhập tháp là ngày mười một tháng hai năm Mậu Thân. Có lẽ cuộc đời của Sư Cố sống đơn giản nên Ngài viên tịch cũng thật là vắng lặng. Và đây cũng là hạnh nguyện của Sư Cố lúc sanh tiền. Sư Cố thọ tám mươi sáu tuổi. Khi còn tại thế Sư Cố có dạy rằng: “Khi nào Sư Cố mất thì phải thỉnh một tượng Phật để ở trên tháp. Nếu sau này hễ ai đến tháp lạy tức là lạy tháp Phật”. Cho nên sau khi Huế được tái chiếm, Chư Tôn Túc Tăng Ni trở về lại chùa và đến tháp Sư Cố đảnh lễ. Thật đúng, chư vị đảnh lễ tháp Phật. Cho đến ngày nay, trên tháp của Sư Cố có tượng Phật là vậy.


































