Thông báo của Đạo Tràng Mai Thôn Pháp quốc tháng Tư năm 2020

 

Trung tâm Thiền tập Làng Mai Quốc tế

Le Pey, Thénac 24240, Pháp

Làng Mai ngày 25 tháng 4 năm 2020

Kính thưa tăng thân khắp chốn,

Mùa xuân ở Làng đang rất đẹp. Trên mặt đất là những thảm cỏ xanh mướt. Cây cối đã ra đầy lá non và trong các hồ, những chiếc lá sen đang bắt đầu ngoi lên khỏi mặt nước. Đất Mẹ đang được nuôi dưỡng bởi những cơn mưa rào mát mẻ. Chỉ thiếu sự hiện diện của các bạn, những thiền sinh đã dự định tới Làng tu học trong mùa xuân năm nay. Quý thầy, quý sư cô vẫn đang thực tập hết lòng và luôn nhớ đến các bạn trong mỗi bước thiền hành. Chúng tôi vẫn lắng nghe tiếng chim hót bằng đôi tai của các bạn, ngắm nhìn và mỉm cười với những bông hoa bằng cặp mắt của tất cả các bạn. Chúng ta thực sự không hề bị chia cách trong phút giây hiện tại.

Ước mong sâu sắc của quý thầy, quý sư cô là được mở cửa Làng trở lại thật sớm khi đã có đủ điều kiện an toàn. Vào cuối tháng Hai, tăng thân đã phải làm một quyết định rất khó khăn là đóng cửa Làng cho tới ngày mùng 1 tháng Năm, và chúng tôi có hứa rằng sẽ xem xét lại quyết định này vào cuối tháng Tư.

Tình hình ở nước Pháp hiện nay

Khoảng 10 ngày trước đây, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã ra thông cáo là lệnh phong tỏa toàn quốc ở Pháp sẽ được kéo dài cho đến ngày 11 tháng Năm; sau thời điểm này, Nhà nước sẽ có những biện pháp để dỡ bỏ dần dần lệnh phong tỏa đối với một số lĩnh vực nhất định. Nhà nước Pháp yêu cầu, trong thời điểm hiện nay, không ai ở nước Pháp được lên kế hoạch đi du lịch vào kỳ nghỉ hè hoặc tụ tập đông người trong dịp lễ hội. Chúng tôi ý thức rằng nếu tổ chức một khóa tu ở Làng thì đó sẽ được coi là việc tụ tập đông người, bởi vì khóa tu mùa Hè hàng năm thu hút tới trên một ngàn người mỗi tuần.

Chúng tôi không biết khi nào nước Pháp sẽ nới lỏng lệnh phong tỏa cho những cộng đồng thực tập tâm linh có xuất sĩ thường trú như Làng Mai, nơi mà mọi người đến từ nhiều quốc gia khác nhau và chia sẻ nơi ăn chốn ở trong một không gian gần gũi. Vì vậy, tới thời điểm này, chúng tôi không thể biết khi nào tình hình sẽ ổn định để mở cửa lại mà vẫn bảo vệ được sức khỏe và đủ an toàn cho tất cả mọi người, trong khi chúng ta vẫn chưa biết nhiều về virút Corona và cách mà nó lây lan.

Sau khi xem xét kỹ lưỡng, Hội đồng Giáo thọ Làng Mai nước Pháp một lần nữa phải ra một quyết định rất khó khăn, đó là hủy tất cả những khóa tu của Làng Mai cho đến cuối tháng Tám năm 2020. Trong đó bao gồm khóa tu 21 ngày vào tháng Sáu, khóa tu mùa Hè vào tháng Bảy và khóa tu Wake Up Earth vào tháng Tám. Đối với những ai đã gửi phí cho các khóa tu này, chúng tôi sẽ xin hoàn lại tất cả.

Thích ứng và khám phá những pháp môn mới

Quý thầy, quý sư cô hiện đang tìm hiểu và thử nghiệm với những khoá tu và giảng dạy online trong thời gian Làng đóng cửa. Đây là một cơ hội mới mẻ tuyệt vời cho chúng tôi khám phá những phương cách để yểm trợ cho gia đình tâm linh quốc tế, thông qua việc sử dụng công nghệ một cách tích cực để tránh việc di chuyển bằng máy bay hoặc tụ tập đông người. Chúng tôi hy vọng sẽ cống hiến được những khóa tu online bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Xin các bạn thường xuyên theo dõi thông tin trên Trang nhà Làng Mai để có thể tham gia và yểm trợ cho những khóa tu này.

Chăm sóc cho chính mình và cho nhau là chăm sóc cho thế giới

Xin các bạn nhớ thưởng thức hơi thở của mình và trở về với phút giây hiện tại bất cứ khi nào có thể. Chỉ cần thực tập năm phút mỗi ngày thôi cũng có thể giúp tâm ta trở nên an định. Thực tập này còn giúp ta luôn nhớ rằng những điều kiện hạnh phúc vẫn đang có đó cho ta ngay trong giây phút này.

Xin hãy chăm sóc bản thân và những người thương của các bạn, đó cũng là cách chúng ta thể hiện tình thương đối với cả gia đình nhân loại. Thầy đã dạy chúng ta rằng món quà quý nhất mà ta có thể hiến tặng cho nhau là sự có mặt của mình. Hơn bao giờ hết, đây là lúc phẩm chất có mặt của mỗi chúng ta có ý nghĩa rất quan trọng, dù ở xa hay gần; dù ở nhà một mình hay với những người thương. Chúng tôi hy vọng các bạn có thể tìm ra thời gian để dừng lại, trở về với hơi thở, và thực tập câu thần chú: “Tôi biết rằng bạn (anh, em, con…) đang có đó, và tôi vô cùng hạnh phúc” hoặc “Con đang có mặt cho ba (mẹ, anh, em,…) đây”, trong khi hướng tới những người thương trong gia đình, đồng nghiệp, hàng xóm hoặc những người đang làm việc nơi tuyến đầu để chống lại dịch bệnh.

Chúng tôi biết đây là giai đoạn đầy thử thách cho tất cả mọi người, nhưng chúng tôi tin tưởng rằng với năng lượng chánh niệm, với tăng thân khắp chốn đầy sức sống và đang phát triển, chúng ta sẽ lớn lên từ những kinh nghiệm buồn thương này và trở nên vững chãi hơn, nhân hậu và bao dung hơn, với tư cách những cá nhân, những cộng đồng, những quốc gia cũng như với tư cách loài người cùng sống trên trái đất xinh đẹp này.

Chúng tôi sẽ tiếp tục thông báo tới các bạn khi điều kiện ở Pháp và trên thế giới có sự thay đổi và an toàn hơn để Làng có thể mở cửa trở lại. Chúng tôi mong sẽ lại được đón các bạn về Làng trong một tương lai rất gần.

Nguyện cầu hồng ân Tam bảo gia hộ cho các bạn và gia đình luôn được an toàn, bình an và hạnh phúc.

 

Trân kính và biết ơn,

Quý thầy, quý sư cô Làng Mai.

Đi sâu vào sự thực tập và nuôi dưỡng tâm thương yêu

 

 

Hỏi: Làm sao chúng ta có thể đi sâu vào sự thực tập và nuôi dưỡng tâm thương yêu mỗi ngày?

Sư Ông Làng Mai: Theo tôi, đi sâu vào sự thực tập nghĩa là làm thế nào để sự thực tập phải có thực chất, mà không rơi vào cái bẫy của sự thực tập hình thức. Khi sự thực tập của quý vị có thực chất, thì nó sẽ đem lại cho quý vị và những người chung quanh niềm vui, an lạc và sự vững chãi thật sự. Tôi thích cách nói ‘thực tập thiệt’. Theo tôi, sự tu tập phải đem lại an lạc ngay trong giây phút mình thực tập. Sự thực tập chân thật có thể đem lại cho ta sự sống liền lập tức. Khi quý vị thực tập hơi thở có ý thức, quý vị trở nên tỉnh thức, sống động và có thực, chứ không phải sống như một bóng ma. Điều này không phải chỉ xảy ra trong khi thực tập ngồi thiền hay đi thiền, mà nó còn xảy ra ngay trong khi quý vị đang làm thức ăn sáng. Nếu quý vị biết cách thở vào, thở ra trong chánh niệm và mỉm cười trong khi làm thức ăn sáng, quý vị sẽ chế tác được chất liệu tự do, nghĩa là tâm quý vị không bị lôi kéo bởi những nuối tiếc về quá khứ hoặc lo lắng tới tương lai, hoàn toàn tự chủ. Làm được như thế, quý vị trở thành người có nhiều sức sống, niềm vui và tình thương trong lòng. Trong khi làm thức ăn sáng, quý vị có thể chế tác ra chất liệu an vui, tình thương và sự sống thật sự. Đó là sự thực tập chính thống, chân thật và quý vị có thể nếm được hoa trái của sự thực tập ngay trong khi thực tập.

Phần thứ hai của câu hỏi là làm sao để nuôi dưỡng Tâm Bồ Đề – tức là tâm thương yêu rộng lớn. Nuôi dưỡng tâm thương yêu là loại thực phẩm thứ ba trong kinh Tứ Thực – tức là Tư niệm thực – là ước muốn sâu sắc nhất của ta. Tất cả chúng ta đều được tồn tại bởi những yếu tố của dục (những ước muốn), đó là sức sống của ta. Có những loại ước muốn có thể đưa ta tới cảnh giới của khổ đau, tuyệt vọng, và có những loại ước muốn có thể đưa ta tới cảnh giới của an lạc, hạnh phúc và tự do. Ước muốn được sống, muốn đem niềm vui tới cho người và giúp người bớt khổ là loại ước muốn chúng tôi gọi là Bồ Đề Tâm – tâm thương yêu. Uớc muốn đó là nguồn năng lượng vô biên làm cho ta có thêm sức sống. Ước muốn sâu sắc, cao cả đó làm cho hai mắt ta sáng rực lên, làm cho bước chân ta trở nên vững chãi hơn. Khi học hỏi và thực tập sâu sắc theo tinh thần Năm Giới, ta nhận thấy rằng ta có rất nhiều năng lượng để sống, để thương. Nhìn sâu vào bản chất của Năm Giới, ta thấy Năm Giới là nền tảng của hạnh phúc, chúng có công năng bảo hộ ta, gia đình ta và xã hội ta, ngăn ngừa ta để ta không bị rơi vào hầm hố của khổ đau và tuyệt vọng. Năm Giới có công năng đem lại cho ta chất liệu bình an, niềm vui, tình thương và hạnh phúc. Cái thấy sâu sắc về bản chất của Năm Giới có thể đem lại cho ta ước muốn sống theo tinh thần của chúng để biến ta thành một khí cụ của an lạc và thương yêu.

Theo tôi, Năm Giới là chất liệu thương yêu của một vị Bồ Tát. Bồ Tát tức là người được thúc đẩy bởi ước muốn rất lớn muốn giúp mọi người tỉnh thức, muốn làm vơi bớt khổ đau của người và đem lại cho người thật nhiều an vui và hạnh phúc. Tôi nghĩ rằng nếu ta phát nguyện thọ trì Năm Giới và quyết tâm sống theo tinh thần Năm Giới, ta sẽ trở thành một vị Bồ Tát và ta sống an vui và hạnh phúc không phải chỉ cho riêng ta mà cho rất nhiều người trong xã hội; đời sống phụng sự của ta như một nguồn năng lượng của hạnh phúc cho nhân loại. Học hỏi và nhìn sâu vào bản chất của Năm Giới, ta sẽ gặt hái được nhiều cái thấy. Những cái thấy ấy sẽ làm phát sinh lòng từ bi trong ta và thúc đẩy ta phát nguyện thọ trì Năm Giới và biến chúng thành lẽ sống trong đời sống hàng ngày của ta.

Khi quý vị học hỏi về Mười Bốn Giới Tiếp Hiện, quý vị cũng sẽ tiếp xúc được với nguồn sức mạnh của tình thương lớn như quý vị đã học hỏi và tiếp nhận Năm Giới. Đời sống tu tập hàng ngày của ta có thể được thúc đẩy bởi ước muốn độ đời, muốn tạo dựng hòa bình cho thế giới, cho nhân loại. Bụt đã được thúc đẩy bởi ước muốn như thế nên Ngài đã để rất nhiều thì giờ trong việc tu tập và tìm ra con đường giải thoát. Sau khi giác ngộ, Ngài đã hành đạo trong suốt bốn mươi chín năm, xả thân cứu độ mọi người, mọi loài không phân biệt một ai. Đời sống tu tập và sự thành đạt của Ngài đã xuất phát từ sức mạnh của Bồ Đề Tâm – ước muốn thương yêu sâu của Ngài. Tôi tin chắc rằng nếu quý vị có ước muốn cao sâu ấy thì quý vị sẽ có rất nhiều năng lượng và nó sẽ thể hiện qua cách sống và cách nhìn của quý vị đối với cuộc đời; năng lượng thương yêu ấy sẽ thể hiện cụ thể qua nụ cười, cách đi, cách đứng, nói năng, hành xử và làm việc của quý vị. Quý vị sẽ không còn sợ hãi về những thử thách, chướng ngại và khổ đau của cuộc đời nữa. Với nguồn năng lượng thương yêu vô biên ấy, quý vị có thể vượt qua tất cả những khổ đau ách nạn, bởi vì trái tim của quý vị có không gian vô biên để ôm lấy tất cả thế gian này. Quý vị sẽ không còn có khuynh hướng muốn loại trừ. Quý vị chỉ muốn ôm trọn thế gian này và không muốn loại trừ một ai, dù họ là kẻ thù của mình. Và trong đời sống tu tập hàng ngày, các hoạt động như đi, đứng, nằm, ngồi và thở đều thể hiện được chất liệu an lạc, thảnh thơi, hiểu biết, thương yêu và bao dung.

Chỉ có tình thương mới có thể cứu chúng ta khỏi những hiểm họa của biến đổi khí hậu

 

Jo Confino

(đăng ngày 21.1.2013 trên tờ The Guardian)

 

 

Thiền sư Thích Nhất Hạnh, một trong những vị thầy tâm linh có ảnh hưởng hàng đầu trên thế giới, là người có sự an định rất lớn, dù Thiền sư đã dự đoán rằng nền văn minh của nhân loại có khả năng sụp đổ trong vòng một trăm năm tới do hậu quả của biến đổi khí hậu.

Vị thầy người Việt hiện đã 86 tuổi này –  người có hàng trăm ngàn đệ tử xuất gia và tại gia trên khắp thế giới – cho rằng sở dĩ phần lớn chúng ta không hành động gì để đối phó lại trước nguy cơ trái đất bị hâm nóng cho dù đã có vô số các chứng cứ khoa học, là vì chúng ta không có khả năng tự cứu mình khỏi những khổ đau của tự thân thì làm sao có thể lo lắng cho vận mệnh của đất Mẹ.

Thầy nói rằng bình an là điều mà chúng ta có thể có được nếu chúng ta chọc thủng được bức màn của thế giới hiện tượng vốn được xây dựng dựa trên ý niệm về sinh – diệt để chạm tới thế giới bản môn, thế giới không sinh không diệt.

Nhận thấy tính cách tương tức của vạn hữu trong vũ trụ, chúng ta sẽ vượt thoát ý niệm cho rằng chúng ta là những thực thể tách biệt, khi đó tình thương, lòng từ bi trong ta sẽ trở nên rộng lớn và chính năng lượng đó thôi thúc ta hành động để bảo hộ đất Mẹ.

Nhìn sâu vào nỗi sợ hãi

Trong tác phẩm mới xuất bản có tên là Nỗi sợ hãi (Fear), Thầy viết rằng con người chúng ta thường bỏ ra quá nhiều thời gian để lo lắng về bệnh tật, về cái già, về sự mất mát những gì mà chúng ta trân quý nhất, cho dù sự thật hiển nhiên là một ngày nào đó chúng ta sẽ phải buông bỏ tất cả.

“Chúng ta không chỉ là hình hài nhỏ bé này mà thôi, và chúng ta không phải từ không mà trở thành có và rồi từ có mà tan biến vào hư vô. Thấy được điều đó thì chúng ta sẽ thoát khỏi sợ hãi”, Thầy nói. “Không những vượt thoát được sợ hãi, chúng ta còn chạm tới được niềm vui lớn nhất”. 

Chia sẻ với tôi tại Làng Mai – nước Pháp, Thầy nói rằng: “Chúng ta cần nhìn lại ý niệm của mình về thời gian. Đối với chúng ta, tình trạng hiện giờ rất khẩn cấp, rất đáng báo động, nhưng đối với đất Mẹ thì đất Mẹ vẫn có khả năng tự trị liệu cho chính mình cho dù công việc đó phải mất khoảng 100 triệu năm. Chúng ta cho rằng thời gian của con người trên trái đất chỉ khoảng 100 năm, thành ra chúng ta thiếu kiên nhẫn. Hành động và sự vô minh tập thể của loài người chúng ta cũng như năng lượng giận dữ và bạo động tập thể sẽ đưa chúng ta đến chỗ bị hủy diệt và chúng ta phải chấp nhận điều đó”.

“Và có thể đất Mẹ sẽ sản sinh ra một vĩ nhân trong một thập niên tới… Chúng ta không thể biết và không thể nói trước được. Đất Mẹ rất tài năng. Người đã từng sản sinh ra các vị Bụt, các vị Bồ tát và các bậc đại nhân.

“Vì vậy ta hãy nương tựa đất Mẹ, phó thác thân mạng cho Mẹ và nhờ Mẹ trị liệu, cứu giúp chúng ta. Và ta phải chấp nhận rằng điều xấu nhất có thể sẽ xảy ra: chúng ta sẽ bị hủy diệt như các chủng loại khác trên trái đất và đất Mẹ sẽ có khả năng đưa chúng ta biểu hiện trở lại, có thể là sau hàng triệu năm, và lần biểu hiện sau này chúng ta sẽ có nhiều tuệ giác hơn.”

 

 

Đối diện với sự thật

Thầy chỉ ra rằng phần lớn chúng ta thường chạy theo danh lợi, giàu sang, quyền hành và sắc dục, coi đây là nơi trú ẩn tuyệt hảo để trốn tránh thực tại đầy khó khăn, thách thức mà thế giới đang phải đối mặt. Thêm vào đó, lối sống xô bồ cùng với thói quen hưởng thụ những tiện nghi vật chất chỉ tạo ra một miếng băng dán tạm thời để băng bó cho những vết thương sâu về cảm xúc và tâm linh bên trong ta. Điều này chỉ làm tăng thêm sự cô đơn và khổ đau.

Trước thực trạng con người vẫn chưa có những hành động cần thiết để đối diện với hệ thống sinh thái đang bị phá hủy, sự đa dạng sinh học đang suy giảm nhanh chóng, Thầy chia sẻ rằng: “Có những người đã thấy được thực trạng nhưng vẫn không muốn thức tỉnh, bởi vì thực trạng đó làm cho họ khổ, họ không thể đối diện với sự thực. Không phải là họ không biết chuyện gì đang xảy ra. Chỉ là họ không muốn nghĩ về nó mà thôi.

“Họ làm cho mình thật bận rộn để quên đi thực tại. Với những người như vậy, ta đừng khuyên họ nên làm thế này, không nên làm thế kia cho tương lai. Ta hãy trò chuyện như thế nào để chạm được trái tim của những người ấy, giúp họ cùng bước trên con đường của hạnh phúc chân thực, con đường của hiểu biết và thương yêu. Khi đã nếm được một chút bình an và thương yêu thì họ sẽ thức tỉnh”.

Thầy đã thành lập phong trào Đạo Bụt Dấn Thân nhằm thúc đẩy vai trò tích cực của cá nhân trong việc tạo ra sự thay đổi trong xã hội. Thông qua Năm Giới tân tu – được xem như một tấm bản đồ chỉ đường đưa ta đi về nếp sống đạo đức, Thầy kêu gọi mọi người không tiêu thụ các sản phẩm gây hại đến môi trường và đối diện với những bất công xã hội. 

Thuyết phục những người có thế lực trong xã hội thay đổi cách hành xử của mình là điều không hề dễ dàng, vì vậy Thầy cho rằng các phong trào tự phát từ quần chúng (grassroots movement) rất cần thiết, đây cũng là chiến thuật của Thánh Gandhi. Tuy nhiên, Thầy nhấn mạnh rằng điều này chỉ thực sự hiệu quả khi những nhà hoạt động vì môi trường biết cách đối diện với cơn giận và sự sợ hãi trong họ trước tiên, thay vì hướng năng lượng đó vào những người mà họ cho là phải chịu trách nhiệm cho tình trạng ô nhiễm môi trường.

Người tiêu thụ tỉnh thức có thể ảnh hưởng đến đường lối kinh doanh của doanh nghiệp

Về những doanh nghiệp chuyên sản xuất các sản phẩm độc hại, Thầy nói rằng: “Những doanh nghiệp đó không nên tiếp tục sản xuất những sản phẩm độc hại. Chúng ta không cần các sản phẩm như vậy. Chúng ta cần những loại sản phẩm giúp ta khỏe mạnh hơn. Nếu những người tiêu thụ có sự tỉnh thức thì nhà sản xuất sẽ phải thay đổi. Chúng ta có thể buộc họ thay đổi bằng cách không tiêu thụ các sản phẩm của họ.

“Thánh Gandhi đã kêu gọi được người dân Ấn Độ tẩy chay một số hàng hóa để phản đối chính sách của Anh. Ông biết cách chăm sóc cho chính mình trong quá trình tranh đấu bất bạo động. Ông biết giữ gìn năng lượng vì cuộc đấu tranh sẽ kéo dài. Chính vì vậy sự thực tập tâm linh rất cần thiết nếu ta muốn giúp thay đổi xã hội.”

 

Thầy, tác giả của hơn 100 đầu sách trong đó có cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức, nói rằng những người có quyền lực trong xã hội không dễ lên tiếng về sự tàn hại mà hệ thống kinh tế hiện nay gây ra đối với môi trường, vì họ sợ bị tẩy chay và nhạo báng. Tuy nhiên, chúng ta cần có thêm nhiều nhà lãnh đạo có can đảm thay đổi tình trạng. Để có thể làm được điều này, các nhà lãnh đạo kinh tế và chính trị cần nuôi dưỡng tình thương, lòng từ bi để có thể ôm ấp và làm giảm bớt cái ngã của mình, Thầy nói:

“Sở dĩ ta có can đảm nói ra sự thật là vì ta có lòng từ bi trong trái tim, lòng từ bi là một loại năng lượng rất hùng hậu,” Thầy nói. “Với lòng từ bi, ta có thể hy sinh thân mạng mình vì người khác, như người mẹ có thể hy sinh thân mạng cho đứa con của mình. Ta có can đảm nói ra sự thật vì ta không sợ mất gì cả, ta biết rằng hiểu biết và thương yêu là nền tảng của hạnh phúc. Còn nếu vẫn sợ mất địa vị, quyền lực thì ta sẽ không có đủ can đảm để làm điều đó”.

 

Giây phút suy ngẫm

Trong khi nhiều người đang mất phương hướng trước những phức tạp của cuộc sống và bị choáng ngợp bởi quá nhiều sự lựa chọn trong một xã hội tiêu thụ, những khóa tu do Thầy hướng dẫn chỉ ra cho mọi người một cách sống khác, khá giản dị mà vô cùng sâu sắc.

Trong khóa tu an cư kiết đông ở Làng, Thầy thường xuyên hướng dẫn cho hàng trăm xuất sĩ và cư sĩ về sự thực tập tắt “đài phát thanh” (những ồn ào không dứt) trong đầu mình và tập trung vào những thực tập căn bản về chánh niệm như thưởng thức hơi thở ý thức, chế tác niềm vui trong khi đi thiền hành và nhìn sâu vào giây phút hiện tại.

Thầy chỉ ra rằng thay vì tìm kiếm câu trả lời cho những vấn đề trong cuộc sống bằng tư duy triết học hay tìm kiếm những trải nghiệm tột đỉnh thăng hoa, ta có thể tìm thấy hạnh phúc thật sự khi tiếp xúc được với sự mầu nhiệm trong những điều rất đỗi bình thường của đời sống hàng ngày, những điều mà ta thường xem nhẹ. Chẳng hạn như trái tim làm việc suốt ngày đêm để giữ gìn sự sống cho ta, nhưng ta có thường thể hiện sự trân quý đối với trái tim không? Thầy chia sẻ rằng ta có thể tìm thấy những chân lý thâm diệu khi định tâm vào một việc đơn giản như ăn một củ cà rốt. Khi sự định tâm của ta vững chãi, ta sẽ thấy được rằng củ cà rốt đó không thể nào tồn tại nếu không có sự góp mặt của cả vũ trụ.

“ Nếu bạn thực sự tiếp xúc với một miếng cà rốt, bạn sẽ tiếp xúc được với đất, với mưa, với ánh nắng mặt trời,” Thầy nói: “Bạn cũng đồng thời tiếp xúc được với đất Mẹ. Ăn như thế, bạn cảm thấy mình đang thực sự tiếp xúc với sự sống, với gốc rễ của mình. Và đó là thiền quán. Nếu ta nhai mỗi miếng thức ăn theo cách đó, ta sẽ phát khởi tâm niệm biết ơn. Và chừng nào còn biết ơn, chừng đó ta còn hạnh phúc”.

Dù thiền tập mỗi ngày trong bảy mươi năm qua, Thầy vẫn tin rằng mình vẫn còn nhiều điều để học hỏi. “Trong đạo Bụt, thương yêu được diễn tả thành bốn khía cạnh mà chúng ta gọi là bốn tâm vô lượng hay tứ vô lượng tâm. Bốn tâm đó là từ, bi, hỷ và xả.  Vô lượng có nghĩa là không thể đo lường được, không có biên giới.

“Đó là cách nhìn của Bụt. Các đệ tử của Bụt coi Bụt như một con người toàn hảo, nhưng đó là vì lòng thương kính mà thôi, sự thật là ta không bao giờ có thể toàn hảo được. Mà ta cũng không cần phải toàn hảo. Nếu mỗi ngày ta có tiến bộ một chút, có thêm một chút niềm vui và bình an, vậy là tốt rồi. Vì vậy tôi vẫn đang tiếp tục thực tập và có những cái thấy mỗi ngày mỗi sâu hơn.

“ Sự thực tập không hề có giới hạn. Và tôi nghĩ là điều này cũng đúng đối với loài người chúng ta. Chúng ta có thể tiếp tục học hỏi từ thế hệ này sang thế hệ khác, và bây giờ là lúc chúng ta cần bắt đầu học hỏi cách thương yêu không kỳ thị, bởi vì loài người chúng ta đã có đủ thông minh, nhưng chưa có đủ tình thương.”

Thiền sư Thích Nhất Hạnh: một cuộc đời thầm lặng

Thầy thường được so sánh với Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhưng Người luôn tìm cách tránh sự chú ý của công chúng và chọn sống một nếp sống giản dị, thầm lặng của một người tu. Thầy đã tránh cái bẫy của sự nổi tiếng và chỉ cho phỏng vấn đối với những phóng viên chịu dành thời gian thiền tập với Thầy trước khi phỏng vấn, vì chánh niệm là cái cần phải được trải nghiệm thay vì được mô tả.

Nhưng Thầy không phải là người sống khép kín. Người đã sống một cuộc đời phi thường và đã được Mục sư Martin Luther King đề cử cho giải Nobel Hòa bình vào năm 1967 vì những đóng góp của Người trong việc chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam. Trong thư đề cử của mình, Mục sư King nói rằng: “Cá nhân tôi không thấy ai xứng đáng được trao giải Nobel Hòa bình hơn vị thầy tu Phật giáo đến từ Việt Nam này. Những phát kiến cho hòa bình của Ngài, nếu được áp dụng, sẽ dựng nên một tượng đài của tinh thần đại đồng, tình huynh đệ và nhân bản”.

Thầy đã thành lập nên Làng Mai tại Pháp cách đây 30 năm, từ khi bị sống lưu vong nơi xứ người, và sau đó thành lập thêm nhiều tu viện khác tại Mỹ, Thái Lan, Hồng Kông, cũng như Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) tại Đức. Người vẫn tiếp tục phụng sự cho hòa bình, hòa giải các cuộc xung đột trên thế giới, trong đó phải kể đến việc tổ chức các khóa tu cho người Israel và Palestin.

Dù đã đạt được rất nhiều thành tựu – gần đây Thầy đã được mời làm Tổng biên tập danh dự của tờ báo Times of India khi tờ báo này ra ấn bản đặc biệt về hòa bình, Thầy vẫn khiêm tốn khi nhìn lại cuộc đời mình.

“Tôi không đạt được gì nhiều ngoài một chút bình an, một chút hỷ lạc trong tự thân. Như vậy cũng đã nhiều rồi,” Thầy nói. “Những giây phút hạnh phúc nhất là khi tôi ngồi yên và cảm nhận được sự có mặt của các vị xuất sĩ lẫn cư sĩ đang cùng nhau thực tập thiền tọa hay thiền hành. Đó là thành tựu chính, còn việc xuất bản sách và thành lập các viện Phật học ứng dụng như ở Đức, những cái đó không quan trọng.

 

 

“Điều quan trọng là xây dựng được một tăng thân – một cộng đồng tu học, và tôi có một cái thấy là đức Bụt của thời đại chúng ta có thể không phải là một cá nhân mà là một tăng thân. Nếu mỗi ngày ta thực tập thiền hành, thiền tọa và chế tác năng lượng của niệm, định và bình an thì ta đang là một tế bào trong thân của Bụt. Đây không phải là một giấc mơ. Điều này có thể thực hiện được ngay hôm nay và ngày mai. Bụt không phải ở một nơi xa xôi mà Bụt đang có mặt ngay bây giờ và ở đây”.

Mặc dù tại thời điểm này Thầy vẫn đang khỏe mạnh và trí tuệ của Người sắc bén như một lưỡi gươm nhưng Thầy đã lớn tuổi và sẽ không thể tiếp tục có những chuyến hoằng pháp dài ngày trên khắp thế giới như trước đây. Năm nay Thầy có chuyến hoằng pháp tại nhiều tiểu bang của Mỹ cũng như tại một số nước châu Á, và có lẽ đây sẽ là chuyến hoằng pháp ra nước ngoài cuối cùng của Thầy.

Dù Thầy tin rằng bản chất của chúng ta là vô sinh bất diệt nhưng Thầy cảm thấy như thế nào về sự ra đi của chính mình?

“Tôi sẽ không chết nhưng sẽ tiếp tục nơi những người khác, đó là điều rất rõ ràng,” Thầy nói. “Không có gì mất đi cả. Và tôi rất vui vì đã được tham gia vào công trình làm mới lại giáo lý của Bụt. Có nhiều người đã hiểu sai lời Bụt dạy, vì vậy chúng ta cố gắng làm cho giáo lý của Bụt trở nên dễ hiểu, dễ áp dụng đối với tất cả mọi người.”

Nâng chén trà trong tay, Thầy nói thêm: “Tôi đã chết rất nhiều lần, có thể nói chúng ta đều được sinh ra và chết đi trong mỗi phút giây, đó là cách mà chúng ta cần rèn luyện cho chính mình. Cũng giống như lá trà, khi ta cho lá trà vào ấm rồi đổ nước sôi lên, vài phút sau là ta có trà để uống. Rồi ta chế thêm nước sôi để có ly trà thứ hai. Sau vài lần như vậy, ta sẽ thấy rằng lá trà tuy còn trong ấm nhưng hương vị của nó đã đi vào ly trà rồi, cái còn lại trong ấm chỉ là bã trà mà thôi.

“Nhưng đó không có nghĩa là lá trà đã chết. Dù chỉ còn là bã trà nhưng ta vẫn có thể sử dụng chúng để bón cho chậu hoa trong vườn và như vậy lá trà vẫn tiếp tục hiến tặng cho cuộc đời. Chúng ta phải nhìn hiện tượng sinh – diệt theo cách đó. Vì vậy khi tôi nhìn các đệ tử xuất sĩ và cư sĩ đang thực tập, tôi thấy đó là sự tiếp nối của Bụt, đó cũng là sự tiếp nối của chính tôi.”

Nhận được một lá thư cho biết là có một vị đã xây một ngôi tháp tại Hà Nội để tưởng nhớ công đức của Thầy, gần đây Thầy đã gửi một lá thư cho Tổ đình Từ Hiếu tại Huế nơi Thầy xuất gia tu học và nói rõ rằng: “Thầy không muốn sau này quý vị xây cho thầy một ngôi tháp ở Tổ Đình. Tốn đất chùa vô ích. Thầy rất không thích chuyện lấy một mớ tro từ hình hài của thầy bỏ vào trong một cái hũ, rồi đặt vào trong tháp. Thầy không muốn được tiếp nối như vậy. Đem tro mà rải hết ra ngoài để nuôi cây cỏ. Đừng ngăn sự tiếp nối của nắm tro ấy.”

Thầy nói thêm: “Nếu đã lỡ xây rồi thì phải ghi lên trước tháp mấy chữ: Trong này không có gì. Thầy không nằm trong tháp ấy đâu. Nếu người ta vẫn chưa hiểu thì ghi thêm một câu nữa: Ngoài kia cũng không có gì. Và nếu vẫn còn chưa hiểu thì ghi thêm một câu chót là Nếu có gì thì nó có trong bước chân và hơi thở của bạn”.

 

 

 

Vượt thoát sợ hãi

 

(Trích trong sách “Hướng đi của đạo Bụt cho hoà bình và môi sinh” của Sư Ông Làng Mai)

Mỗi ngày trong cơ thể ta đều có những tế bào cũ chết đi và những tế bào mới sinh ra nhưng có bao giờ chúng làm đám tang hay tổ chức sinh nhật cho chúng đâu.

Đức Bụt dạy rằng tất cả mọi hiện tượng đều vô thường, không có cái gì mà không thay đổi từ giây phút này qua giây phút kia. Có được tuệ giác này, ta mới thấy được bản chất của thực tại và không còn bị kẹt vào ý niệm về hình hài và thọ mạng.

Mọi nền văn minh đều có một đời sống giống như đời sống của con người, có sanh và có diệt. Nền văn minh của chúng ta cũng sẽ có ngày chấm dứt, chấm dứt sớm hay muộn là do ta quyết định. Sự quyết định này rất tối hậu. Nếu loài người chúng ta vẫn tiếp tục sống như hiện nay thì nền văn minh của chúng ta sẽ sớm bị diệt vong. Cách chúng ta sử dụng xe hơi, cách chúng ta tiêu thụ, khai thác không nương tay những nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽ làm cho nền văn minh của chúng ta nhanh chóng bị diệt vong. Việc trái đất bị nóng lên có thể là triệu chứng đầu tiên của sự diệt vong. Nếu chúng ta vẫn tiếp tục tiêu thụ một cách bừa bãi như hiện nay thì phần lớn dân số trên hành tinh này sẽ bị tiêu diệt, vì hệ sinh thái đang bị thương tổn nặng nề, không thể nào bảo vệ chúng ta được nữa. Rất nhiều nền văn minh trước đây đã bị diệt vong, không có gì có thể tồn tại được lâu dài.

Mọi sự vật đều bị định luật vô thường chi phối, không có cái gì có thể tồn tại một cách độc lập. Lý trí chúng ta hiểu rõ như vậy, nhưng trong thực tế chúng ta khó chấp nhận điều đó. Ta vẫn muốn những người ta thương yêu và những vật ta trân quý luôn còn mãi với chúng ta. Chúng ta khó mà hiểu được vô thường chỉ qua ngôn từ và khái niệm. Phải để hết lòng thực tập mới hiểu được thế nào là vô thường, và mới biết chấp nhận nó. Khi thở vào, ta nhìn sâu vào đối tượng đang quán chiếu, đối tượng đó có thể là hoa, là lá, hay là người… Và khi thở ra, ta quán sát tính chất vô thường của đối tượng. Nhờ thực tập quán sát và nhìn sâu, ta thấy được sự vật thay đổi không ngừng trong mỗi giây phút.

 

 

Có hai loại vô thường, sát na vô thường (impermanence in every instant) và nhất kỳ vô thường (cyclic impermanence). Sát na vô thường là sự thay đổi trong từng giây phút, trong từng sát na. Nhất kỳ vô thường là khi sự vật đến giai đoạn chót của chu kỳ: sinh, trụ, hoại, diệt, ta mới thấy được sự đổi thay. Như khi ta nấu nước, nước cứ nóng lên từ từ cho đến khi nước sôi lên và bốc hơi . Khi nước sôi và bốc hơi, ta mới thấy có sự thay đổi, đó là nhất kỳ vô thường (cyclic impermanence). Còn sự đổi thay liên tục (sát na vô thường) rất khó nhận thấy nếu ta không chú ý kỹ. Cũng như một đứa bé bắt đầu lớn, trong giai đoạn đang lớn lên, có rất nhiều thay đổi nho nhỏ trong đứa bé nhưng ít khi ta chú ý tới, đến khi đứa bé lớn phổng lên, lúc ấy ta mới thấy có sự thay đổi. Ðó gọi là nhất kỳ vô thường. Ta phải học nhìn sâu vào nhất kỳ vô thường (cyclic change) để có thể chấp nhận những thay đổi cần thiết cho cuộc sống, để không còn bị điêu đứng vì chúng. Ta học quán sát sự thay đổi trong tự thân của ta, nơi những vật quanh ta, nơi những người ta thương yêu, nơi cả những người gây khổ đau cho ta. Nếu không biết nhìn sâu vào những thay đổi đó, ta có thể nghĩ rằng vô thường là khía cạnh tiêu cực của đời sống, bởi vì vô thường lấy đi của ta những thứ ta yêu quý. Nhưng nếu quán chiếu sâu sắc, ta sẽ thấy rằng vô thường không tiêu cực mà cũng không tích cực. Nó là vô thường, vậy thôi! Không có vô thường thì sự sống không thể tồn tại được. Không có vô thường, làm sao chúng ta có hy vọng chuyển hóa được khổ đau của chúng ta, chuyển hóa khổ đau của những người ta thương? Không có vô thường, làm sao chúng ta có hy vọng thay đổi được những hành vi sai lầm của chúng ta đối với đất Mẹ?

Vô thường cũng có nghĩa là duyên sinh bởi vì không có một hiện tượng nào có thể tồn tại một cách độc lập, bởi vì vạn vật không ngừng biến chuyển, đổi thay. Một bông hoa luôn tiếp nhận những yếu tố không phải là hoa như nước, không khí, ánh nắng mặt trời để có thể biểu hiện thành hoa. Muốn là hoa là cả một tiến trình chuyển biến không ngừng, con người cũng vậy. Trong mỗi khoảnh khắc đều có cái đi vào và đi ra. Bông hoa không ngừng sinh và diệt, và nó liên kết chặt chẽ với mọi thứ quanh nó. Mọi thành phần trong vũ trụ đều nương vào nhau để tồn tại. Ví dụ về sóng và nước giúp ta hiểu được bản chất vô ngã của mọi sự vật. Con sóng có thể lên cao và xuống thấp, sinh và diệt. Nhưng thực chất của sóng là nước thì không cao, không thấp, không sinh không diệt. Các hình tướng cao, thấp, sinh, diệt không ảnh hưởng gì đến bản chất của nước. Chúng ta dễ khóc dễ cười bởi vì chúng ta bị kẹt vào hình tướng bên ngoài, chúng ta chưa tiếp xúc được với bản chất thực của sự vật. Nếu chúng ta chỉ thấy sóng với hình tướng sinh diệt của nó, làm sao chúng ta không khổ đau. Nếu chúng ta thấy được bản chất của sóng là nước và tất cả các con sóng đều trở về với nước thì chúng ta sẽ không còn sợ hãi nữa.

“Thở vào, tôi thấy được tính vô thường. Thở ra, tôi thấy được tính vô thường.” Ta phải thực tập như thế nhiều lần. Bởi vì sự sống là vô thường. Nếu không thực tập để thấy được như vậy, ta sẽ thấy bất an. Ta phải tập sống sâu sắc trong từng giây phút để đối diện với cảm giác bất an khi chúng phát khởi.

Khi mới bắt đầu thực tập, ta vẫn còn muốn sự vật là thường. Ta nghĩ rằng sự vật có một cái ngã riêng biệt và khi sự vật thay đổi thì ta khổ đau. Để giúp ta vượt thoát khổ đau, đức Bụt cho ta chiếc chìa khóa Vô Thường và Vô Ngã. Nhìn sâu vào bản chất Vô Thường, Vô Ngã, ta mở tung được cánh cửa đi vào thực tại, đi vào Niết Bàn. Nhờ vậy, sợ hãi và khổ đau sẽ tan biến, và ta không còn bận tâm là mình già hay trẻ, ngay cả sống chết cũng không còn động tới ta. Ta không còn hiểu chết theo nghĩa thông thường là ta không còn hiện hữu nữa, bởi vì ta đã thấy sự sống là một dòng chuyển hóa liên tục. Vô Thường, Vô Ngã, Niết Bàn là ba pháp ấn, đó là ba dấu ấn của đạo Bụt. Nếu ta không hiểu về Vô Thường và tìm cách chống lại nó, ta sẽ khổ đau, vì sợ hãi, giận hờn và tuyệt vọng sẽ xâm chiếm ta. Cho nên việc làm trước tiên là biết cách đối diện với những nỗi sợ hãi, tuyệt vọng trong lòng mình trước khi biết đối diện với những vấn đề môi trường, vấn đề trái đất bị hâm nóng. Đức Bụt dạy rất rõ về điều này, ta phải biết chăm sóc và chữa trị cho ta trước, sau đó ta mới biết cách chăm sóc và chữa trị cho hành tinh mẹ của chúng ta. Nếu ta không nhận diện được nỗi sợ hãi đang có mặt trong ta thì nỗi sợ hãi đó sẽ tiếp tục sai sử ta. Đức Bụt đã dạy ta không nên trốn tránh sự sợ hãi, mà ta nên mời chánh niệm giúp ta nhận diện, ôm ấp và nhìn sâu vào nỗi sợ hãi. Thực tập được như vậy, ta sẽ nuôi lớn sự hiểu biết và khả năng chấp nhận trong ta. Ta sẽ không còn bị nỗi sợ hãi lôi kéo ta đi một cách mù quáng.

Nỗi sợ hãi về cái chết luôn luôn có mặt trong tàng thức của ta. Khi ta được tin mình phải chết, ta thường có phản ứng chống lại, không chịu chấp nhận sự thật này. Tôi đã chứng kiến nhiều người bạn thân khi được báo tin có bệnh AIDS hoặc bệnh ung thư, họ quyết liệt từ chối, không muốn tin. Họ không ngừng đấu tranh với nỗi sợ hãi này trong một thời gian dài. Cho đến khi họ chịu chấp nhận sự thật thì ngay lúc đó họ có bình an. Khi có bình an, có sự thư giãn, ta có cơ hội điều trị cơn bệnh. Tôi có biết nhiều người mắc bệnh ung thư vẫn có thể sống thêm mười năm, hai mươi năm, hay ba mươi năm sau khi được chẩn đoán có bệnh, ấy là nhờ họ có khả năng chấp nhận căn bệnh và biết sống bình an với nó.

 

 

Có một sư thầy ở Hà Nội được bác sĩ cho biết là bị bệnh ung thư. Bác sĩ nói sư thầy chỉ còn sống thêm vài tháng nữa thôi. Nghe tin đó, sư thầy quyết định qua Làng Mai để tu học trước khi phải chết. Sư thầy hoàn toàn chấp nhận việc mình sắp sửa phải chết. Khi đến làng, một sư cô khuyên sư thầy nên đi bác sĩ để biết chính xác hơn về căn bệnh của mình. Sư thầy trả lời: tôi đến làng để được tu học vài tháng với đại chúng, chứ đâu phải đến đây để đi bác sĩ.” Sư thầy sống hết lòng trong mỗi phút giây suốt ba tháng ở làng. Sư thầy tinh cần thực tập thiền hành, thiền tọa, nghe pháp thoại, dự pháp đàm. Ba tháng trôi qua, chiếu khán của sư thầy hết hạn, sư thầy phải về lại Việt Nam. Sư cô ở làng, một lần nữa, đề nghị sư thầy đi bác sĩ để kiểm tra lại căn bệnh của mình. Lần này thì sư thầy đồng ý. Đến khám bác sĩ thì sư thầy được bác sĩ cho biết: “Di căn đã ngưng và chứng ung thư hầu như biến mất.” Bây giờ là hơn 14 năm trôi qua kể từ ngày sư thầy đến làng Mai mà sư thầy vẫn còn sống rất khỏe mạnh. Cho nên biết sống chấp nhận là điều rất quan trọng. Biết chấp nhận cái chết giúp ta có bình an và với sự bình an đó, ta có thể tiếp tục sống vui.

Khi một con sóng được lên cao, có thể nó rất vui, và khi phải rơi xuống, có thể nó có nhiều lo lắng. Có lên thì phải có xuống, có sinh thì có diệt. Nếu con sóng biết thiền tập thì nó sẽ thấy được nó là nước, cho nên nó có thể tan biến đi một cách vui vẻ. Bởi vì là sóng thì có thể tan biến đi, là nước thì không bao giờ tan biến cả. Giáo lý của Bụt giúp ta tiếp xúc được với bản chất thực của sự sống, và với tuệ giác này, ta có thể xua tan được mọi sợ hãi. Lúc ấy ta có thể mỉm cười với cái chết, không còn hoảng hốt, không còn tức giận.

Một hạt mưa vừa rơi xuống đất là biến mất. Nhưng sự thực là nó vẫn còn đó, dù nó đã thấm vào lòng đất, nó vẫn còn đó dưới một hình thức khác. Khi nó bốc hơi thì nó vẫn còn đó trong không khí dưới hình thức hơi nước. Ta không còn nhìn thấy hạt mưa nhưng không phải vì vậy mà hạt mưa không còn nữa. Đám mây cũng vậy, đám mây không bao giờ chết, đám mây chỉ thay hình đổi dạng, khi là mưa, là tuyết, là băng đá, đám mây không thể nào trở thành hư không. Chúng ta thường nghĩ rằng chết tức là từ có trở thành không. Nhờ có thiền tập, ta tiếp xúc được với tự tánh vô sinh bất diệt của mình. Trước khi biểu hiện thành mây, đám mây đã là hơi nước, là đại dương sâu. Cho nên mây không phải từ không mà trở thành có. Sinh và diệt chỉ là ý niệm của ta. Có được tuệ giác này rất quan trọng, vì nó giúp ta lấy đi nỗi sợ hãi. Nếu ta hiểu rằng ta không bao giờ thật sự biến mất thì ta vượt thoát được sợ hãi. Vượt thoát được sợ hãi là trút được một khối nặng khiến ta thấy vô cùng nhẹ nhõm. Có đức vô úy này thì có bình an và hạnh phúc thật sự. Khi ta có bình an thật sự thì nền văn minh của chúng ta mới có cơ hội trường tồn. Nếu lúc nào ta cũng sống trong lo âu sợ hãi thì ta chỉ càng đẩy mạnh nền văn minh của chúng ta xuống hố thẳm. Khi ta có được sự bình an, ta sẽ dễ dàng biết cách xử lý với những tình huống khó khăn.

Đức Bụt dạy chúng ta nên tập nhìn thẳng vào những hạt giống sợ hãi thay vì tìm cách che đậy hoặc chạy trốn. Chúng ta ai cũng có hạt giống sợ hãi. Chúng ta sợ chết, sợ bị bỏ rơi, sợ bị bệnh tật… vì thế chúng ta luôn tìm cách để quên đi, bằng cách làm cho ta bận rộn suốt ngày, hết công việc này đến công việc khác, để quên đi nỗi sợ hãi trong ta. Nhưng một ngày nào đó chúng ta cũng bị bệnh, chúng ta cũng phải chết, phải dứt bỏ mọi thứ. Cho nên đức Bụt khuyên ta không nên chạy trốn nữa, mà nên thực tập nhận diện hạt giống sợ hãi trong ta mỗi ngày. Ta có thể thực tập năm phép quán tưởng. Năm phép quán tưởng giúp ta nhận diện những hạt giống sợ hãi trong ta và làm quen với chúng. Phép quán tưởng thứ nhất: “Tôi thế nào cũng phải chết, tôi không thể nào tránh khỏi cái chết.” Ta tập đối diện với sự thật, ta mời hạt giống sợ hãi lên, và dùng chánh niệm để đối diện với nó và ôm ấp nó. Ta cần phải can đảm. Có thực tập như vậy, ta mới thấy là cường độ của sợ hãi dần dần giảm xuống, và ta bắt đầu chấp nhận được cái già, cái bệnh, cái chết là những sự kiện có thật mà ta không thể nào tránh được. Khi ta biết chấp nhận những điều này, ta cảm thấy dễ chịu hơn.

Khi ta biết chấp nhận cái chết của mình, cũng như khi ta biết chấp nhận sự tàn hoại của nền văn minh của chúng ta thì trong lòng ta có được sự bình an. Và khi ta có bình an, ta sẽ có hạnh phúc, nhờ vậy ta biết cách sử dụng những phương tiện kỹ thuật hiện đại để cứu sống hành tinh của chúng ta. Nếu ta đầy tuyệt vọng và sợ hãi, thì dù ta có đầy đủ những phương tiện kỹ thuật, ta vẫn không biết cách để cứu sống trái đất này. Ta có thể chết một cách an lành khi ta hiểu thế nào là tương tức và tiếp xúc được với bản tánh vô sinh bất diệt của mình.

 

Thư gửi bạn hiền mùa Cô Vy

 

 

Bạn hiền thương quý,

Tôi lại về đây, về cái Xóm Mới nhỏ mà rộn ràng đầy ắp thương yêu. Mỗi năm dịp cuối đông là tôi lại bay về Pháp để gia hạn cho cái visa ở lâu. Lần này giữa mùa dịch, tôi về được một tuần hơn thì việc vào Pháp trở nên khó khăn. Và song song vào đó việc trở về lại Việt Nam cũng thành vô hạn định cho đến khi nào hết dịch. Khi nào? Nên sau khi tự cách ly 14 ngày ở Nhà Lưng Đồi để nghỉ ngơi cho quen với múi giờ và bảo đảm an toàn cho cộng đồng sau khi đi qua nhiều phi trường: Huế, Hà Nội, Charles de Gaules, Bordeaux, tôi thấy mình trở thành “dân Xóm Mới” thực thụ. Có nghĩa là đợt này tôi không thấy mình chỉ có vài ba tuần ở tạm chờ lấy giấy tờ mà tôi thấy mình hội nhập hoàn toàn với nếp sống của Xóm Mới. Có lẽ vì thời gian về dài hơn, lại không có khoá tu tiếng Pháp như mọi năm để ai cũng bận tất bật, và vì cả tu viện được cách ly nên mọi người đều ở nhà, cảm giác “at home” – về nhà, thật là rõ nét.

Tôi về đây khi trời bắt đầu vào xuân dù còn lạnh lắm. Còn những ngày mưa phùn ướt át nhưng cũng đã bắt đầu có những ngày nắng óng ả vàng tươi. Hoa thuỷ tiên tàn rồi nhưng hoa tulip đang nở, và hoa lê trắng, hoa đào hồng, hoa forsythia (mai Đông Á) vàng đều đang khoe sắc trong vườn. Mùa xuân của Pháp đẹp quá. Trên bãi cỏ xanh thì bồ công anh vàng và những đoá cúc trắng tí xíu nở đầy. Nên dù bị ngứa mắt, sổ mũi, ho khục khục vì dị ứng trở lại (ở Việt Nam không khí ô nhiễm vậy mà thoát cái nạn bị dị ứng phấn hoa bụi cỏ này), tôi vẫn không ngăn được mình cầm kéo ra vườn tỉa cây và thơ thẩn… ngắm trời ngắm đất.

Thầy có lần bảo cái gì cũng là một cơ hội. Đúng vậy đó bạn hiền. Bao nhiêu năm rồi có bao giờ mình dám “đóng cửa chùa”, không tiếp nhận thiền sinh về thực tập trong một thời gian dài như bây giờ? Cả tu viện như đang trong một thời kỳ “an cư” không chủ định. Không cần kiết giới mà cũng không ai ra khỏi giới trường. May đất đủ lớn để đi bộ trong xóm. May có vườn mận nhà bên gần là của mình rồi (vì chịu bán nhưng chưa đủ tiền mua) nên ngày nào đại chúng cũng được đi thiền hành lên ngọn đồi đầy hoa nở trắng. Mùa thu vừa rồi thu hoạch mận xong tới mùa tỉa cây không ai chịu tỉa (vì chủ đất coi như sẽ bán đất nên không chăm sóc nữa, nhà mình thì chưa mua nên chưa trách nhiệm) nên nhờ đó hoa mận nhiều hơn, trắng ngợp cả trời. Ngày hội hoa mai chị em tổ chức gần tháp chuông, nghe nhạc và ngắm hoa rất vui. Năng lượng trẻ đầy tràn qua “ban nhạc Xóm Mới” với vĩ cầm, keyboard, ghi ta, đàn tranh và những nụ cười tươi hết cỡ. Giữa mùa dịch bệnh, chúng tôi nuôi nhau bằng năng lượng tích cực để nâng cao sức khoẻ thân và tâm, không phải chỉ cho mình mà còn cho tất cả mọi người.

 

 

Các hoạt động bên ngoài đều giới hạn, chỉ có tri khố mỗi hai tuần ra khỏi nhà. Tri xa thì “ế ẩm”. Ai bước chân ra ngoài là phải cầm theo giấy chính quyền yêu cầu: phải điền lý do, giờ rời nhà. Trong xe chỉ được có hai người. Từ nhà chính đi qua nhà Lưng Đồi hay Sơn Cốc cũng phải cầm theo giấy vì phải đi xe hơi. Từ nhà chính đi qua nhà Giếng Thơm cũng đi đường bên trong cho an toàn. Có một hôm vài chị em đi thiền hành trên con đường đất ranh giới vườn rau Xóm Mới với nhà hàng xóm trồng măng tây cũng được cảnh sát ưu ái nhắc nhở chỉ nên đi trong đất nhà mình, và mỗi lần đi không được quá hai người đi chung. Thế là “the way out is in”, tha hồ mà quay về NHÀ. Mọi thời khoá đều đủ người. Năng lượng tu tập và học hành lên cao. Không có thiền sinh đồng nghĩa với thời gian dành toàn bộ cho nhau, nên lớp học đều đặn và không ai bị vắng mặt. Người đứng lớp cũng nhiều hơn vì không ai phải đi hướng dẫn khoá tu nước khác. Mọi chuyến hoằng pháp mùa Xuân đều bị huỷ bỏ. Vì thế thời khoá được sắp xếp lại để các lớp học có thêm giờ và thêm nhiều môn như các lớp về ngôn ngữ, kỹ năng, nội điển, v.v… Lớp học hầu như xảy ra mỗi ngày. Nhờ vậy mọi người đều được học hỏi và thực tập sâu sắc hơn.

Vì tình trạng cách ly nên ba xóm không còn gặp nhau vào ngày quán niệm như truyền thống nhưng chúng tôi vẫn giữ chương trình quán niệm đều đặn mỗi thứ năm và chủ nhật, pháp thoại thì online: ngày thứ năm xem DVD của Sư Ông, ngày chủ nhật giáo thọ ba xóm chia nhau giảng dạy. Tới phiên xóm nào giảng thì hai xóm kia học online (trực tuyến). Gặp nhau qua màn hình thôi cũng ấm áp lắm rồi. Những buổi ngồi thiền sáng tối chúng tôi đều gởi năng lượng an lành cầu nguyện cho các nạn nhân nhiễm bệnh cũng như cho cả thế giới. Nghĩ tới các thân hữu không được tới tu viện tu tập chung với quý thầy quý sư cô giữa cơn bão dịch bệnh này chúng tôi rất thương. Biết là bên trang nhà tiếng Anh (plumvillage.org) đã có nhiều hoạt động được online, phía tiếng Việt các thầy các sư cô cũng bàn tính sẽ lên chương trình ngày quán niệm online bằng những video hướng dẫn ngồi thiền, nghe pháp thoại, thiền buông thư,… để các thân hữu và đồng bào có thể tham dự. Cùng thực tập, dù là qua mạng, sẽ chế tác năng lượng bình an cộng đồng để chăm sóc những bất an, sợ hãi trong tâm mọi người. Và chưa bao giờ, tôi thấy “ngôi chùa online” như ý Thầy mong muốn được rõ nét như bây giờ. Ngày ấy, đã mười mấy năm rồi, Thầy dạy chúng tôi làm chùa trực tuyến để mọi người cùng thực tập nhưng có lẽ phải đủ nhân duyên như bây giờ, khi cửa chùa bên ngoài bị đóng lại thì cổng chùa trên mạng mới được chú ý tới. Mới biết, tầm nhìn của Thầy xa đến chừng nào !

Bạn hiền thương! Đây là khoá tu online và những video hướng dẫn thiền tập đăng tải trên trang nhà tiếng Anh, ghi lại để bạn hiền có thể vào cùng thực tập trong khi chờ đợi phần tiếng Việt:

 Chúng tôi có mặt đây cho bạn

Pháp thoại của thầy Pháp Lưu

Pháp thoại của thầy Pháp Dung

Thiền tập có hướng dẫn

Hướng dẫn thiền hành

Tôi ngừng bút ở đây bạn hiền nhé. Mình sẽ gặp nhau khi thực tập ngồi thiền, nghe pháp thoại, thiền buông thư… Khoảng cách thì xa nhưng tâm lại gần hơn bao giờ, vì mình sẽ cùng nhau đi qua giai đoạn khủng hoảng này bằng niềm tin, tin là với luật vô thường thành, trụ, hoại, diệt thì rồi cũng có ngày cơn dịch bệnh này phải chấm dứt thôi.

Lạy Bụt gia hộ cho tất cả chúng ta được an lành trong tình thương của Người.

 

 

Chân Thoại Nghiêm

 

 

Giỗ tổ Hùng Vương

(Trích trong sách “Tý – Cây tre triệu đốt, Chiếc lá ổi non” của Sư Ông Làng Mai)

 

 

Từ hồi còn nhỏ xíu, Tý đã thỉnh thoảng có nghe nói tới tên Sư Ông. Nghe nói Sư Ông cưng Tý lắm, ngay từ khi Tý mới lọt lòng Mẹ. Mẹ nói Sư Ông là thầy tu; ngày xưa Sư Ông đã từng dạy Ba học. Tý tưởng tượng Sư Ông là một người già, có hai con mắt hiền và một bộ râu dài trắng xóa. Tý nghe nói ở bên Pháp Sư Ông trồng cà chua, khoai tây, củ cải, rau ngò, rau tía tô và rau húng. Mẹ nói qua Pháp Tý sẽ được gặp cả cô Chín nữa. Cô Chín rất cưng Tý và Miêu. Hồi còn ở Thủ Ðức, Tý và Miêu thường nhận quà của cô từ Pháp gửi về; khi thì bút chì màu, khi thì cục gôm, khi thì cuốn tập. Mẹ quý những hộp quà của cô Chín lắm, bởi vì trên nắp của hộp nào cũng có nét chữ chi chít của cô Chín. Trong những hộp quà đó thỉnh thoảng lại có thuốc bổ gởi cho bà ngoại của Tý. Ngoại của Tý cư trú ở miền quê, quận Trúc Giang, tỉnh Bến Tre…

Trại tỵ nạn Palawan năm đó ăn Tết lớn lắm. Ăn Tết lớn không có nghĩa là tiêu xài nhiều đâu. Tiền bạc đâu ở trại mà tiêu xài nhiều. Tý nhớ rất rõ buổi lễ giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức vào đêm giao thừa. Lễ giỗ tổ trang trọng lắm. Tất cả mọi người trong trại đều có mặt tại buổi lễ, ở sân chào cờ trung ương. Các anh chị Hướng Ðạo và Gia Ðình Phật Tử là những người đứng ra sắp đặt mọi nghi lễ. Từ hôm hai mươi ba Tết, ban tổ chức đã thông báo cho mọi gia đình biết về lễ giỗ tổ rồi. Năm nay Mẹ Tý không cúng ông Táo, bởi vì ở đây gia đình Tý không có bếp núc riêng. Mẹ Tý đã dành dụm để có tiền mua đậu và nếp để làm bánh chưng cúng Tết. Ba nói ngày Tết mà không có bánh chưng để cúng ông bà thì tủi lắm. Ðọc sách Văn Lang Dị Sử Tý biết tục gói bánh chưng vào ngày Tết rất đẹp. Mẹ Tý ngâm đậu và nếp từ hôm hăm chín Tết. Sáng ba mươi Ba của Tý bắt đầu gói bánh. Ba gói bánh chưng khéo lắm. Ba nói Ba đã học được nghệ thuật gói bánh chưng tại Am Phương Bối, trên rừng Ðại Lão, cách đây đã gần hai mươi năm. Ba làm một cái khung gỗ để gói bánh. Những chiếc bánh của Ba gói rất vuông và rất gọn. Mấy gia đình kế cận thấy Ba gói bánh đẹp quá liền đến nhờ Ba gói dùm cho họ. Ba vui vẻ nhận lời. Trước hết chỉ có hai gia đình nhờ Ba gói bánh. Sau đó, năm sáu gia đình khác cũng đến nhờ. Rồi mười mấy gia đình khác nữa đến nhờ Ba gói giúp. Khởi sự gói bánh từ tám giờ sáng ba mươi Tết mà mãi đến mười một giờ khuya đêm ba mươi, Ba mới gói xong. Ba mệt lắm. Hai cánh tay của Ba mỏi nhừ. Ba chỉ nghỉ gói chừng mươi phút để ăn cơm trưa mà thôi. Gói xong cái bánh cuối cùng cho một gia đình hàng xóm, Ba đi rửa mặt và thay áo vì đã sắp đến giờ làm lễ giao thừa và giỗ tổ Hùng Vương rồi. Ngoài kia những tiếng trống và những tiếng chiêng đã được điểm lên đều đặn và uy nghiêm. Mẹ cũng đã mặc áo, anh em Tý cũng đã mặc áo quần xong xuôi. Tội nghiệp cho Mẹ, đi ra nước ngoài mà không đem theo được áo dài. Anh em Tý thì mặc áo sơ mi cụt tay, tuy đã cũ nhưng mới được giặt rất sạch.

Lễ đài được thiết lập gần cột cờ, rất trang nghiêm. Khói trầm hương nghi ngút. Ðèn nến sáng trưng trên bàn thờ. Những người đứng ra giỗ tổ đều mặc áo thụng xanh, tay áo rất rộng. Tý chưa từng thấy một buổi lễ nào mà trang nghiêm và thành kính như thế. Trên bảy ngàn người mà không ai gây thành tiếng động. Người dự lễ đứng chật vòng trong vòng ngoài. Người chủ tế là một cụ đứng tuổi, có chòm râu bạc rất đẹp. Tất cả có bảy người mặc áo thụng xanh. Họ đi tới, đi lui, quỳ xuống và đứng lên theo nhịp chiêng và nhịp trống. Mỗi khi có tiếng “hưng” hô lên, là họ đưa hai tay áo rộng lên ngang đầu. Mỗi khi có tiếng “bái” là họ lạy xuống. Lại có những anh chừng mười bốn mười lăm tuổi mặc áo dài đứng một bên cạnh để giúp việc hương đèn và sớ giấy. Ðứng nghiêm trang trước bàn thờ, vị chủ tế bắt đầu đọc văn tế. Giọng đọc rất trang trọng. Tổ Hùng Vương đã khai sáng nước Văn Lang. Người dân Việt Nam giỗ tổ để nhớ lại công ơn lập quốc của tổ tiên.

 

 

Tý nhớ đến chuyện anh Hùng và chị Mỵ đi xuống thủy cung để thỉnh Lạc Quân về làm mưa. Chuyện này Tý đọc trong Văn Lang Dị Sử. Anh Hùng chính là vua Hùng Vương thứ nhất. Ðó là một chàng trai dũng cảm và thông minh. Có tới mười tám đời vua Hùng Vương nối tiếp nhau để cai trị đất nước và giữ cho đất Văn Lang được độc lập và thái bình. Ðúng vào lúc giao thừa, những bánh pháo được đem ra đốt. Không khí rất tưng bừng. Tý thấy khói pháo thơm quá. Khói pháo làm cho nó nhớ lại những cái Tết ở quê ngoại. Ba tấm tắc khen ban tổ chức đã khéo mượn được đủ chiêng trống và đã may được cả áo thụng xanh để làm lễ giỗ tổ. Trong các làng mạc Việt Nam ngày xưa, Ba nói, mỗi khi tế thần, các quan viên đều mặc áo thụng xanh như thế.

Lễ giỗ tổ cử hành xong thì đại diện các đoàn thể lên lễ đài đọc diễn từ chúc Tết. Các bài diễn từ hơi dài đối với Tý. Bài diễn văn cuối cùng đọc xong thì có tiếng chiêng trống rộn ràng vọng lên, à đây là tiếng chiêng trống múa lân. Tý nhớ ngay tới chú Dũng. Nãy giờ chú Dũng đâu có đứng chung với Tý. Chú có mặt trong ban múa lân. Lúc này, đèn lồng đã được giăng thành hai hàng. Lân tới. Chắc chắn người cầm đầu lân là chú Dũng. Tiếng trống rung lên, Lân bắt đầu múa. Chú Dũng múa khéo lắm. Người ta reo hò không ngớt. Lại có những tràng pháo nổ. Không khí toàn trại thật tưng bừng và rộn ràng. Múa lân xong thì đã một giờ rưỡi khuya. Chú Dũng trở về với gia đình. Chú mệt nhưng tươi cười. Ba, Mẹ, Tý và Miêu theo chú trở về căn phòng nhỏ của gia đình, trong đó ba đã thiết lập một bàn thờ ông bà rất đơn giản. Ba thắp hương, đứng ngay ngắn trước bàn thờ để khấn vái. Mọi người cung kính đứng sau lưng Ba. Trên bàn thờ có một bình hoa và một đĩa bánh chưng. Mẹ đã lựa ba cái bánh đẹp nhất để bày lên cúng. Tý thấy hai mắt của Mẹ long lanh. Ðây là cái Tết đầu tiên xa quê hương, xa đất nước. Tất cả lạy trước bàn thờ, hướng về quê hương, hướng về đất nước.

Ba nói : “Chúng ta xa quê hương, nhưng quê hương mãi mãi còn trong lòng chúng ta.”

Trịnh Công Sơn với thông điệp của tình thương yêu

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 01-02-2004 tại tu viện Lộc Uyển)

 

Nếu lời nguyện của Đức Bồ Tát Địa Tạng là đi vào địa ngục để cứu độ chúng sanh, lời nguyện của Đức Bồ Tát Quan Thế Âm là lắng nghe tiếng kêu đau thương của muôn loài để tìm tới cứu khổ, thì lời nguyện của Trịnh Công Sơn là gởi tới những thính giả của mình thông điệp của tình yêu thương, tức là tưới tẩm hạt giống thương yêu và tha thứ nơi mọi người. Trong cuộc đời mà ai cũng được dẫn đạo bằng hướng đi như vậy thì thật là quý hóa. Tuy Trịnh Công Sơn đã được tiếp nhận hạt giống thương yêu từ mẹ, từ chùa nhưng chưa có cơ hội học hỏi và thực tập về phương pháp thiền quán để có thể tiếp xúc được với tự tính vô sinh bất diệt của mình. Vì vậy cho nên Trịnh Công Sơn chưa vượt thoát được nỗi ám ảnh của cái chết.

 

 

Tôi không bị ám ảnh bởi cái chết vì tôi có tuệ giác về sống chết, tôi đã thiền quán và tôi đã tiếp xúc được với tính vô sinh bất diệt của mình. Quý vị hãy nhìn lên đám mây trên bầu trời. Đám mây đó chiều nay hoặc ngày mai sẽ biến thành mưa. Đám mây đó từ đâu mà có? Có phải từ không mà trở thành có hay không? – Không. Đám mây đó từ nước ao hồ, sông biển do sức nóng mặt trời bốc hơi lên ngưng tụ mà thành. Đám mây không phải từ không mà trở thành có. Có lần Trịnh Công Sơn nói rằng, chúng ta từ hư vô tới và chúng ta sẽ trở về hư vô. Nói như vậy tức là chưa có tuệ giác của người tu thiền. Chúng ta không phải từ hư vô tới và chúng ta cũng không đi về hư vô.

Trong Thánh Kinh có nói chúng ta từ hạt bụi tới và chúng ta sẽ trở về cát bụi. Trịnh Công Sơn cũng có cùng quan điểm đó “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi.” Hạt bụi không phải hư vô, hạt bụi cũng không đủ để hóa kiếp thân tôi. Nhiều nhân, nhiều duyên kết hợp lại tôi mới biểu hiện, chứ một nhân, một duyên thì tôi không thể nào biểu hiện được. Theo đạo Cơ Đốc thì Thượng Đế là nhân và là nhân duy nhất để có hiện hữu, nhưng trong đạo Bụt ý niệm về nguyên nhân duy nhất là vô lý. Không có cái gì có thể phát sinh ra từ một nhân duy nhất. Ví dụ như bông hoa này, phải có hạt giống của hoa, phải có đất, có phân, có ánh sáng mặt trời, phải có đám mây biến thành nước mưa… tức là nhiều nhân, nhiều duyên mới có thể làm cho bông hoa biểu hiện được. Thành ra ý niệm một nguyên nhân duy nhất không phù hợp với sự thật. Sự thật là đa nhân đa duyên “trùng trùng duyên khởi”.

Rất tiếc là Trịnh Công Sơn trong những năm tháng đó đã không có cơ hội lên chùa để học hỏi thêm về thiền quán. Trịnh Công Sơn có gởi cho tôi một tập nhạc đề là “Tặng thầy Nhất Hạnh”. Bây giờ tôi vẫn còn giữ. Tôi cũng có viết thư cho Trịnh Công Sơn yêu cầu Trịnh Công Sơn phổ nhạc dùm một số bài kinh. Vì tôi biết rằng nếu Trịnh Công Sơn phổ nhạc những bài kinh này thì Phật tử đọc, tụng, hát sẽ hay lắm, sẽ được nhiều lợi lạc. Thế nhưng thư của tôi bi thất lạc, đến khi Trịnh Công Sơn nhận được thư đó thì ông đã bị bệnh nặng nên không làm được. Thật đáng buồn! Nhưng Trịnh Công Sơn vẫn đang còn đó. Trịnh Công Sơn đang nghe lời tôi nói, mai mốt Trịnh Công Sơn sẽ sáng tác những bài thơ, bài nhạc, bài kinh theo tinh thần của Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn đang ở đây, đang ở trong quý vị. Trong số các thượng tọa, ni sư từ Việt Nam sang có Trịnh Công Sơn trong đó. Đừng tưởng Trịnh Công Sơn chết rồi. Trịnh Công Sơn đang sống hùng mạnh hơn bao giờ hết. Đám mây kia không phải từ hư vô tới và nó cũng không phải trở thành hư vô. Mai mốt nó sẽ biến thành mưa. Nó chỉ biến đổi hình thức thôi.

Bây giờ xin quý vị quán chiếu với tôi: giả dụ 2/3 đám mây kia gặp khí lạnh trở thành mưa, rơi xuống, một phần biến thành dòng, thành khe, một phần đi vào trong ruộng lúa xanh tươi. Đứng trên cao, đám mây kia nhìn xuống và nhận ra mình đang ở dưới đó. Một phần của mình biến thành ruộng lúa xanh tươi, một phần biến thành dòng suối. Rồi đám mây nói:“Chào em, tôi biết em là tôi, em là sự tiếp nối của tôi”. Như vậy đám mây kia đâu chết, khi không còn hình thức của đám mây nữa thì nó biến thành một hình thức khác, hình thức của dòng suối hay hình thức của đám mạ xanh tươi. Thế nên trong đạo Bụt nói bản tánh của chúng ta là “vô sinh bất diệt”, chúng ta chỉ thay đổi hình thức thôi. Tự tánh của đám mây cũng vô sinh bất diệt. Trịnh Công Sơn cũng vô sinh bất diệt.

Nếu ta có con mắt của Bụt, nếu ta có con mắt của thầy thì ta có thể thấy Trịnh Công Sơn có mặt một cách rất đích thực ngay trong thính chúng này. Quý vị có thấy được Trịnh Công Sơn trong trái tim mình hay không? Ngày hôm qua thầy nghe thầy Thông Hội hát nhạc Trịnh Công Sơn. Người ta thường hỏi: “Sau khi chết ta sẽ đi về đâu?” Câu hỏi đó làm tốn rất nhiều bút mực và nước bọt để giải thích. Thông thường muốn trả lời câu hỏi đó phải trả lời một câu hỏi khác là “Trong giây phút hiện tại chúng ta đang đi về đâu?” Chúng ta tưởng rằng sau khi thân xác này tàn hoại chúng ta mới đi, nhưng kỳ thực bây giờ chúng ta đang đi, chúng ta đang trở thành một cái khác.

Hãy tưởng tượng Trịnh Công Sơn lúc 5 tuổi và Trịnh Công Sơn lúc 25 tuổi, hai người rất khác nhau, và khi Trịnh Công Sơn 45 tuổi thì lại khác nữa. Chúng ta chuyển biến, sinh diệt trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Đứng về phương diện năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) ta so sánh ta trước khi vào đây và ta bây giờ là đã có sự khác nhau rồi. Bao nhiêu sinh diệt, bao nhiêu biến chuyển đã đi qua trong chúng ta và chúng ta luôn luôn được tiếp nối. Nước mưa tiếp nối đám mây, sương mù cũng tiếp nối đám mây. Khi chúng ta nâng một tách trà lên để uống, nếu có chánh niệm, có tuệ giác của Bụt, thì chúng ta thấy rằng mây đang nằm đây trong ly trà này. Thay vì đang uống nước chúng ta đang uống mây. Đây là một sự thật rất khoa học. Nó không phải chỉ là thi ca mà thôi.

 

 

Tôi đang uống mây và đám mây chiều nay có thể trở thành một bài thơ, hay ngày mai mây trở thành bài pháp thoại. Mây biến hóa vô cùng. Cho nên ta phải có khả năng nhận diện sự có mặt của Trịnh Công Sơn dưới những hình thái biểu hiện khác của Trịnh Công Sơn. Thế nên ta không thể nói Trịnh Công Sơn chết được. Vì sự thực không có cái gì chết đi cũng không có cái gì sanh ra. Chết nghĩa là từ có trở thành không, Trịnh Công Sơn không phải từ có trở thành không. Đã không có từ không mà trở thành có thì cũng không thể nào từ có mà trở thành không được. Nếu quý vị vừa mới mất một người thân mà quý vị tưởng người thân đó không còn nữa là quý vị lầm. Người thân đó bây giờ đang biểu hiện dưới một hình thức khác. Nhìn cho kỹ ta sẽ thấy được người thân của mình và ta nói: “Chào em, chị rất hạnh phúc nhận ra em dưới một hình thức mới”. Đó là diệu dụng của thiền quán.

Trong những năm 80, 90 nếu Trịnh Công Sơn có được tuệ giác đó thì Trịnh Công Sơn sẽ không bị ám ảnh bởi cái chết, vì Trịnh Công Sơn biết rõ mình không bao giờ chết cả. Trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày, mình đã hiến tặng những lời nói, những lời ca, những tư duy và những hành động của mình cho đời và đó là sự tiếp nối của mình. Đó gọi là ba nghiệp. Ba nghiệp là thân, khẩu, ý. Cũng như cây đèn cầy, khi được thắp sáng lên thì trong mỗi giây phút nó đều hiến tặng ánh sáng, sức nóng và hương thơm. Con người cũng vậy, trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày, chúng ta đã hiến tặng tư duy, lời nói và hành động của ta. Nếu tư duy của ta đầy tham, sân, si thì những hiến tặng của ta sẽ không có giá trị, chúng sẽ làm hư xấu cuộc đời, như thế chúng ta sẽ không có sự tiếp nối đẹp đẽ. Còn nếu tư duy của ta có lòng thương yêu, có lòng nhân ái, có tha thứ, bao dung thì sự tiếp nối của ta sẽ đẹp đẽ.

Trịnh Công Sơn đã hiến tặng tư duy của mình qua nhiều hình thái khác nhau. Hình thái mà ta dễ thấy nhất là những ca khúc của ông. Trịnh Công Sơn đã cống hiến những ngôn từ, hành động, cử chỉ biết thương yêu, chăm sóc, biết tha thứ, bao dung. Có lần ngồi chơi với Hoàng Phủ Ngọc Tường trong một quán cà phê ở Huế, cô bé bán quán bưng tới cho Trịnh Công Sơn một ly cà phê, nhưng vô tình, bé làm đổ hết ly cà phê vào chiếc áo vest của Trịnh Công Sơn, bé sợ xanh mặt, bà chủ tới la bé rất dữ dội. Cô bé sợ quá co rúm người lại. Rất tội nghiệp! Trịnh Công Sơn thấy vậy thương quá, liền nói: “Không phải nó làm đổ đâu, chính tôi làm đổ đó”. Và Trịnh Công Sơn móc túi lấy tiền ra trả cho ly cà phê ấy để cho bà chủ đừng la bé. Sau khi trả tiền Trịnh Công Sơn đứng dậy, nháy mắt cô bé đó rồi ra đi. Đó là một hành động biểu dương lòng tốt của tình thương trong Trịnh Công Sơn. Những cái đó không bao giờ mất đi cả. Đó là nghiệp. Chúng ta đừng hiểu nghiệp là xấu. Nghiệp có thể xấu mà cũng có thể là tốt. Nghiệp xấu gọi là ác nghiệp, nghiệp tốt gọi là thiện nghiệp.

Trịnh Công Sơn đã làm ra những thiện nghiệp và những thiện nghiệp ấy đang tiếp tục đi về tương lai. Chúng ta có thể nhận diện sự có mặt của Trịnh Công Sơn qua những thiện nghiệp mà Trịnh Công Sơn đã tạo tác ra qua những tư duy, lời nói và hành động của ông. Trịnh Công Sơn chưa bao giờ giết người. Trịnh Công Sơn không kỳ thị, Trịnh Công Sơn có can đảm dám nói ra sự thật, yêu nước, yêu dân. Ba mẹ Trịnh Công Sơn phải hãnh diện về điều đó.

Quý vị đã nghe và đã thấy Trịnh Công Sơn có mặt trong mình và bây giờ tôi muốn chia sẻ để quý vị thấy mình cũng có mặt trong Trịnh Công Sơn. Có một lần Trịnh Công Sơn được nhà báo hỏi: “Anh có bao giờ hình dung ra thân xác và tâm hồn mình lúc ở bờ bên kia chưa?”– “Chưa! Đó là tại do lười biếng mà ra.” Do không chịu quán chiếu. Mình có tự do, có thiền đường mà không chịu tham khảo đề tài sống chết, để rồi mai mốt khi nằm trên giường không biết mình đi về đâu. Trịnh Công Sơn công nhận mình làm biếng, không chịu giành thời gian để quán chiếu sâu sắc về vấn đề sinh tử. Các cô, các chú có thấy mình có trong Trịnh Công Sơn không?

Trịnh Công Sơn nói: “… Vì do lười biếng mà ra cả, mình không bao giờ chuẩn bị trước cho mình cái gì hết cho những ngày sắp tới, như thể là khi muốn về Huế là cứ bỏ đồ đạc vào vali mà đi thôi”. Ra Huế thiếu gì thì tính sau. Điều đó rất con người. Và ta thấy sự lười biếng đó nằm trong tất cả chúng ta. Chúng ta giải đãi, làm biếng, như thể là mình sẽ sống cả ngàn năm và mình có cả ngàn năm để thiền quán, nhưng kỳ thực chúng ta không biết mình sống được bao lâu. Vì vậy chúng ta phải tinh tiến và phải làm thay cho Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn chưa làm được thì mình phải làm cho Trịnh Công Sơn. Thầy cũng đang làm cho Trịnh Công Sơn, các thầy, các sư cô cũng đang làm cho Trịnh Công Sơn. Quý vị cũng phải làm cho Trịnh Công Sơn. Chúng ta phải đưa Trịnh Công Sơn đi tới. Bởi vì Trịnh Công Sơn không phải là Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn là quý vị. Khi người ta hỏi Trịnh Công Sơn: “Không biết có cõi nào mà sau khi chết mình đi về hay không?” Thì Trịnh Công Sơn trả lời:

“Nếu có một sự tiếp nối ở một cõi khác, một thế giới khác thì chắc là vui lắm. Và tôi nghĩ nếu thực sự có một cõi khác với cõi đời này thì tôi hy vọng chúng ta sẽ được rong chơi mãi mãi”.

Rong chơi là từ của Trịnh Công Sơn. Mình ở trên cuộc đời này là để rong chơi, và nếu hết cuộc đời này có một cõi khác, mình cũng sẽ tiếp tục rong chơi. Đó là hy vọng. Cõi đó gọi là thiên quốc hay thiên đường. Nhưng nếu Trịnh Công Sơn nhưng nếu biết quán chiếu sâu hơn thì sẽ thấy được rằng thân xác này chẳng qua là sự chấm dứt của một giai đoạn biểu hiện và mình sẽ được biểu hiện lại dưới một hình thức khác trong giai đoạn kế tiếp. Đám mây khi không còn là hình thức của đám mây nữa thì nó tiếp tục làm con suối hay làm tảng băng. Làm mây bay trên trời cũng vui mà làm mưa rơi xuống ruộng đồng cũng vui. Tại sao phải sợ?

 

 

Trịnh Công Sơn có thể rong chơi mãi mãi trên thế gian nầy mà không cần phải giả định có một thế giới khác hay có một cõi nào khác nữa. Không có cái gì tự nhiên mà có, cũng không có cái gì từ có trở thành không. Trịnh Công Sơn là một thực tại. Trịnh Công Sơn là mãi mãi. Trịnh Công Sơn tha hồ rong chơi, nếu không dưới hình thức của một người Huế, thì dưới hình thức của người Thụy Sĩ. Làm người Huế cũng vui mà làm người Thụy Sĩ cũng vui. Làm một bông hoa thủy tiên cũng hay, làm một bông sen cũng hay. Hình thức nào của sự sống cũng đẹp cả.

Khi Trịnh Công Sơn thấy được điều đó thì Trịnh Công Sơn sẽ thấy được tự tánh của mình là vô sinh bất diệt, mình có thể rong chơi mãi mãi hoài hoài. Mong rằng các thầy, các sư cô, các sư chú, các đạo hữu nắm được chân lý này và thấy được tự tánh vô sinh bất diệt của mình. Cho nên đối với tôi, Trịnh Công Sơn chưa bao giờ chết. Nếu thắp một nén hương cho Trịnh Công Sơn thì chúng ta không nên thắp bằng sự tiếc thương mà thắp bằng ý thức là Trịnh Công Sơn đang còn đó với mình và mình có thể mang Trịnh Công Sơn đi về tương lai, để Trịnh Công Sơn có thể tiếp tục sứ mạng của mình, sứ mạng chuyên chở thông điệp thương yêu. Chúng ta hãy cùng hát với nhau bài “Nối vòng tay lớn” để tưới tẩm hạt giống của tình huynh đệ, của hy vọng và của tình thương yêu trong ta.

Hội hoa mai mùa xuân 2020

“Nhìn vào hành tinh Đất Mẹ ta thấy được cả vũ trụ. Khi bước chân trên trái đất ta thấy Đất Mẹ đang có mặt trong mình. Mình và Đất Mẹ không phải là hai thực tại tách rời… Mẹ là một nơi nương tựa vô cùng vững chãi cho tất cả chúng ta. Mỗi khi ta lao đao, lận đận, đánh mất mình trong quên lãng, buồn tủi, hận thù, cô đơn và tuyệt vọng, ta có thể trở về tiếp xúc, nương tựa nơi Đất Mẹ để lấy lại sự bình an, phục hồi niềm vui sống và đức tự tin trong ta. Đất Mẹ luôn bảo hộ, nâng đỡ và đón ta trở về. Nếu ta ý thức được điều đó và để cho Đất Mẹ cùng những mầu nhiệm của sự sống nuôi dưỡng và trị liệu thì ta mới có thể giúp ích được cho những người chung quanh mình.” – (Sư Ông Làng Mai)

Kính mời đại chúng cùng trở về với hơi thở ý thức và tiếp xúc với những mầu nhiệm của Đất Mẹ đang có mặt trong mình và trong cả muôn loài.

 

Nở ra rồi một đoá từ bi

(Sư chú Aggapanno xuất gia năm 2015 tại Indonesia và đang nương tựa đại chúng chùa Pháp Vân, xóm Thượng, Làng Mai để tu học từ năm 2017 đến nay. Bài viết được BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh)

 

Hạt giống giận

Con ra đời tại Indonesia, mười bảy năm sau khi Tướng Suharto chiếm chính quyền trong một cuộc đảo chính vào năm 1965. Thế hệ những người gốc Hoa ở Indonesia, lớn lên trong giai đoạn từ 1965 đến 1998, phải mang trong mình rất nhiều khổ đau do hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ. Đối với con, sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo khó người Indonesia gốc Hoa vào giai đoạn đó không phải là một điều dễ dàng. Nhiều người Indonesia bản địa vẫn luôn nghĩ là người Hoa ai cũng giàu có, vì vậy họ không có cảm tình và rất ganh tị. Người Hoa bị đàn áp nặng nề, và cộng đồng người Hoa phải đối diện với nạn diệt chủng trong hơn ba mươi năm trên đất Indonesia. Ở trường tiểu học, con đã bị bạn bè và thầy cô giáo kỳ thị, hiếp đáp, bởi vì gia đình con nghèo trong khi gia đình các bạn thì giàu có.

Hạt giống giận bắt đầu lớn lên trong lòng con. Con không thể hiểu được tại sao mình lại sinh ra là một người Hoa nghèo mà không phải là một người địa phương như những người hàng xóm, hoặc một người Hoa giàu có như các bạn cùng lớp. Nỗi hiềm hận trong lòng con càng lớn thêm khi ba con gặp rắc rối với những người Indonesia bản địa.

Con đã lớn lên như thế với hạt giống tức giận và hiềm hận. Vào năm học cuối cùng của con ở cấp hai, một cuộc khủng hoảng chính trị đã diễn ra ở Indonesia. Nhiều người bản địa đã tấn công vào khu vực của người Hoa. Ám sát, cướp bóc và xâm phạm tình dục đã diễn ra. Họ đã hành hạ, giết chết hầu như bất cứ người Hoa nào họ gặp và cưỡng hiếp phụ nữ. Hầu hết các nạn nhân là người Hoa nghèo hoặc trung lưu. Những người Hoa giàu có đã kịp chạy ra nước ngoài để lánh nạn.

Cuộc khủng hoảng chấm dứt với sự sụp đổ của chính quyền Suharto. Sau mấy thập niên bị chế độ độc tài khống chế, hệ thống thông tin cuối cùng đã được thông thoáng. Thời gian này con đang học cấp ba. Trong trường học, các thầy cô giáo luôn khuyến khích học sinh tư duy phản biện và sáng tạo. Học sinh được dạy cách tranh luận và chủ động tìm kiếm những thông tin có giá trị chứ không chỉ theo những gì người khác nói. Chúng con đã được học về cách thức tướng Suharto sử dụng để chia rẽ người Indonesia bản địa và cộng đồng người Hoa. Ông ta đã bắt tay với những doanh nhân người Hoa giàu có, nhưng cùng lúc ấy lại cấm người Hoa không được học tiếng Hoa, cấm văn hóa và tín ngưỡng của người Hoa.

 

 

Con đã lớn lên với một ngọn lửa uất ức và hận thù trong tim. Nhận ra mình đã lớn lên một cách không lành, con bắt đầu tìm kiếm một con đường thoát. Con đã thực tập trong rất nhiều truyền thống tâm linh và bắt đầu thiền tập. Có vẻ như sự cố gắng của con mang lại kết quả tốt vì con đã bình tĩnh lại từ khi bắt đầu thiền tập. Nhưng ngọn lửa kia vẫn còn đó. Thiền tập chỉ là một cơ chế giúp con trốn chạy sự giận dữ của mình. Bất cứ khi nào cơn giận đi lên là con thiền tập để lắng dịu lại. Khi tác dụng của thiền yếu đi, con lại tức giận như cũ. Bao giờ đọc tin tức về những áp bức, bất công, cơn giận của con lại bùng lên. Thiền tập chỉ là một lớp điểm trang con phủ lên khuôn mặt giận dữ của mình để người khác chỉ có thể thấy con là một con người đẹp đẽ. Nhưng khi lớp điểm trang đó phai đi, con người đẹp đẽ ấy trở thành một con quái vật.

Với lòng tức giận đó, con kết bạn với nhiều người từ các nhóm bị gạt ra bên lề xã hội, như nhóm đồng tính, nhóm thân Cộng, nhóm Sa man giáo, nhóm vô thần, nhóm theo thuyết bất khả tri, và thành viên của các tôn giáo bị chính phủ coi là dị giáo. Rất nhiều người trong số đó đã bị đàn áp rất tàn bạo. Họ bị mất việc, mất cơ hội được đến trường, thậm chí gia đình họ có người còn bị mất cả mạng sống. Khi nghe họ kể lại, nước mắt của con đã trở thành nhiên liệu tưới vào ngọn lửa tức giận vốn có sẵn trong con.

Thật lòng con cảm thấy mệt mỏi vì sự tức giận của mình. Con muốn nghỉ ngơi. Nhưng mặt khác, con lại thấy lòng ray rứt vì không thể làm gì để giảm thiểu khổ đau của những người xung quanh. Trong thời gian ấy, con đã tìm được một việc làm tốt, nhưng con không thấy thỏa mãn chút nào. Sau một thời gian dài chiêm nghiệm, con bỏ việc và quyết định xuất gia như một thầy tu đạo Bụt. Lúc ấy con không biết nhiều về đời sống xuất gia. Điều duy nhất mà con biết là giáo lý đạo Bụt nói đến việc mang lại hạnh phúc cho tất cả chúng sanh và giúp họ thoát khỏi khổ đau. Con cũng được gây cảm hứng bởi hình ảnh của một số vị thầy lớn trong đạo Bụt, đặc biệt là Thầy và Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14. Cuộc đời quý Ngài cũng đã trải qua bất công và đàn áp, nhưng quý Ngài vẫn trung kiên với con đường của tình thương và từ bi.

Tách trà cho một sự mở đầu mới mẻ

Tiếng chuông mời con trở lại với ngôi nhà đích thực của mình, bây giờ và ở đây. Thời thiền tọa tối vừa chấm dứt. Trong suốt thời thiền tọa con đã quán chiếu về sự thực tập Sám pháp địa xúc. Thực tập này giúp con thực sự nhìn sâu vào gốc rễ khổ đau của mình – một người Indonesia gốc Hoa nghèo đang bị đốt cháy bởi hận thù. Con thấy cơn giận trào lên mỗi khi con phải lạy xuống trước tổ tiên đất đai, những người đã làm tổn thương con, rõ ràng đó là ông Suharto, bạn bè cùng lớp và thầy cô giáo. Nhưng khi đang thiền lạy với đại chúng, con không thể đứng đó trong khi tất cả mọi người đều đang lạy xuống. Thầy giáo thọ giải thích cho con rằng lạy xuống trước một người nghĩa là mình cảm ơn người đó về tất cả những điều tốt đẹp mà người đó đã trao truyền cho mình, chấp nhận tất cả những điều không hay mà họ đã làm, những khiếm khuyết và tập khí chưa đẹp của họ cũng như của chính tự thân mình. Chấp nhận họ vì chúng ta tương tức với họ. Chúng ta phát nguyện sẽ thực tập để chuyển hóa năng lượng của các tập khí không đẹp mà họ đã trao truyền cho chúng ta. Lúc ấy, trí năng của con chấp nhận lời giải thích này nhưng lòng con thì vẫn chưa thông.

Một hôm con và một sư anh cùng uống trà với nhau. Sư anh pha trà thật chánh niệm. Con đón nhận với tất cả lòng biết ơn. Hai anh em cùng thưởng thức trà trong giây phút hiện tại, có mặt cho nhau với ly trà trong hai tay.

“Sư anh, em có thể hỏi sư anh một điều không?”, con hỏi. Sư anh gật đầu, cười. Con hỏi: “Trong thời gian Bát Nhã xảy ra chuyện, sư anh đang ở đâu?”.

“Sư anh đang ở đó.” Sư anh bắt đầu kể lại cho con nghe về biến cố ấy.

Trong thời gian xảy ra biến cố ở Bát Nhã, sư anh con vẫn còn ở tuổi thiếu niên (teen). Một nhóm người đã tấn công vào tu viện trong khi quý thầy và quý sư cô đang tụng kinh. Họ phá cổng và đã hành xử rất bạo động với quý thầy, quý sư cô. Sư anh con là một trong những người đã bị đánh, dù khi ấy sư anh vẫn còn là một chú sa di nhỏ tuổi. Vì biến cố ấy mà sau đó sư anh phải rời bỏ quê hương Việt Nam để nương náu ở Thái Lan. Sư anh chia sẻ với con về nỗi nhớ quê hương. Nghe sư anh kể chuyện, con đã khóc. Con không hiểu tại sao sư anh vẫn có thể nhớ thương mảnh đất nơi mà sư anh đã bị đối xử một cách bạo động và tàn bạo như vậy.

“Bởi vì sư anh yêu quê hương”, đó là câu trả lời duy nhất của sư anh. Chúng con tiếp tục thưởng thức một ly trà nữa. Con vẫn còn nhiều câu hỏi trong đầu nhưng con không dám hỏi thêm. Con không muốn tạo ra một vết thương khác cho sư anh bằng cách đi sâu vào chi tiết về những gì đau lòng nhất mà sư anh đã phải đi qua trong thời đó. Mặt khác, con rất ấn tượng khi sư anh vẫn giữ vẹn tình yêu và lòng từ bi đối với quê hương và đồng bào mình. Con chưa bao giờ được học về một tình thương và lòng từ bi như thế. Con đã tiếp nhận một nền giáo dục trong trường Cơ Đốc giáo, và Kinh Thánh dạy rằng khi người ta tát mình vào má trái, mình phải chìa má phải ra cho họ, nhưng ba mẹ con luôn nói rằng giáo lý ấy chỉ áp dụng cho những bậc thánh nhân chứ không phải cho những người phàm như mình.

 

 

Trong màn đêm tĩnh mịch, con nhắm mắt lại để mang ý thức trở về với hiện tại. Con có thể nghe em bé bị tổn thương trong mình đang gào khóc. Thở vào, con tiếp cận với em bé đang tổn thương đó. Thở ra, con ôm lấy em bé. Nước mắt của em chảy như một dòng sông. Nước mắt của em chính là nước mắt của con. Em chính là em bé tổn thương trong con. Em đã bị bạn cùng lớp, bị thầy cô ruồng rẫy. Em là một người Hoa nghèo bị hàng xóm láng giềng chối bỏ. Em cũng là một phần của con nhưng lại bị con chối bỏ. Con không muốn giống như em. Con luôn hình dung mình được sinh ra là một người bản địa không bao giờ bị chính quê hương của mình đẩy ra bên lề xã hội. Hoặc sinh ra là một người Hoa giàu có, lúc nào cũng có thể dùng tiền để giải quyết vấn đề. Con đã thật sự ruồng rẫy em bé đó. Giờ đây, con ôm và xin lỗi em.

Con mở mắt ra, đứng dậy và bước qua thư viện. Con thấy bước chân của mình an nhiên hơn sau khi đã xin lỗi em bé tổn thương trong lòng. Em bé ấy đang mỉm cười với con, và bước cùng con sang thư viện. Nụ cười của em cũng chính là nụ cười của con. Bật đèn lên, con đưa tay lấy ngẫu nhiên một quyển sách của Thầy và mở ra. Thật kỳ lạ, trước mắt con là bài thơ “Hãy gọi đúng tên tôi”.

Tôi là con phù du thoát hình trên mặt nước

Và là con chim sơn ca mùa xuân về trên sông đón bắt phù du

Tôi là con ếch bơi trong hồ thu

Và cũng là con rắn nước trườn đi tìm cách nuôi thân bằng thân ếch nhái

Tôi là em bé nghèo Ouganda, bao nhiêu xương sườn đều lộ ra, hai bàn chân bằng hai ống sậy

Tôi cũng là người chế tạo bom đạn

Để cung cấp kịp thời cho các dân tộc Á Phi.

Tôi là em bé mười hai bị làm nhục nhảy xuống biển sâu

Tôi cũng là người hải tặc sinh ra với một trái tim chưa biết nhìn biết cảm

Tôi là người đảng viên cao cấp, cầm quyền sinh sát trong tay

Và cũng là kẻ bị coi là có nợ máu nhân dân đang chết dần mòn trong trại tập trung cải tạo

Nỗi vui của tôi thanh thoát như trời xuân, ấm áp cỏ hoa muôn lối

Niềm đau của tôi đọng thành nước mắt, ngập về bốn đại dương sâu

Hãy nhớ gọi đúng tên tôi

Cho tôi được nghe một lần tất cả những tiếng tôi khóc tôi cười

Cho tôi thấy được nỗi đau và niềm vui là một

Hãy nhớ gọi đúng tên tôi

Cho tôi giật mình tỉnh thức

Và để cho cánh cửa lòng tôi để ngỏ

Cánh cửa xót thương.

(Hãy gọi đúng tên tôi – thơ  Sư Ông Làng Mai)

Nước mắt con lại chảy như một dòng sông, nhưng giờ đây nỗi hiềm hận trong tim con đã bắt đầu được yên ngủ trong tàng thức và đóa hoa từ bi đang dần hé nở. Con nhận ra rằng cảm thọ của mình khi lắng nghe những câu chuyện về áp bức bất công không phải do lòng từ bi thật sự, mà là sự thương hại dành cho bản thân khi nhìn thấy phần nào hình ảnh của chính mình trong hoàn cảnh bị áp bức bất công ấy.

 

 

Đó là lý do tại sao con đã không thấy được phần khác của mình trong vai người áp bức. Con đã không thấy được rằng rất nhiều lần con đã góp phần tạo ra sự áp bức qua suy nghĩ, lời nói và hành động của mình. Con cũng không thấy được rằng khi những kẻ ấy áp bức người khác, thực ra họ cũng muốn cố gắng đi ra khỏi những khó khăn của chính họ, nhưng lại bằng những cách thức rất sai lầm. Trong quá khứ, con đã không có đủ hiểu biết, vì vậy con luôn đổ lỗi cho họ.

Một lần nữa, con nhắm mắt lại, mang ý thức trở về với hơi thở và giây phút hiện tại. Con thấy các bạn cùng lớp, các thầy giáo, cô giáo trong hình thức của những đứa trẻ bị tổn thương. Con cũng thấy ông Suharto là một đứa trẻ bị thương. Con thấy rất rõ những khổ đau của họ. Tất cả các em bé đều đang khóc nức nở. Nước mắt của các em chảy như một dòng sông. Nước mắt đó cũng chính là nước mắt của con. Con đến gần và ôm từng em bé vào lòng, xin lỗi vì trước đây con chỉ biết đổ lỗi cho các em. Cuối cùng, con thấy những nụ cười hiện lên trên môi các em như những hoa sen đang nở. Nụ cười của các em cũng là nụ cười của chính con.

Từ khoảnh khắc ấy, con có thể thấy mình rõ ràng hơn. Khi con quyết định trở thành một người xuất gia, con chỉ có một mục tiêu duy nhất, đó là phụng sự và giúp mọi người, mọi loài chuyển hóa khổ đau. Rồi con nhận ra rằng muốn phụng sự và giúp người khác, trước tiên con phải chuyển hóa khổ đau của chính mình. Con nguyện sẽ cố gắng để chăm sóc em bé bị thương trong mình. Con cũng nguyện nhìn sâu và lắng nghe sâu, cả những kẻ áp bức và bị áp bức, bởi vì thật sâu bên trong mỗi người, ai cũng có một em bé bị thương cần được chăm sóc và chữa lành.

Cầu mong Bụt Tổ chứng minh và yểm trợ để con đời đời hoàn thành ước nguyện.