EIAB – Hành trình 10 năm

(Chân Pháp Ấn)

Vài nét về Viện Phật học Ứng dụng châu Âu EIAB

Đầu tháng 9 năm 2008, trên hai mươi vị xuất gia nam và xuất gia nữ đã được Sư Ông Làng Mai gửi đến thành phố Waldbröl thuộc miền Trung nước Đức để góp phần xây dựng Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (European Institute of Applied Buddhism-EIAB).

Từ khi còn là một vị xuất gia trẻ, Sư Ông đã mang trong lòng tâm nguyện thiết tha đem đạo Bụt đi vào cuộc đời; để đạo Bụt không phải chỉ là những triết lý cao siêu ngoài tầm tay mà còn có thể ứng dụng được vào trong mọi lĩnh vực của đời sống, giúp chuyển hóa những khổ đau của cá nhân, gia đình và xã hội. Đây cũng là ước mơ chung của cả tăng thân Làng Mai trên khắp thế giới, của những vị xuất sĩ cũng như cư sĩ. Chương trình tu học tại Viện Phật học EIAB bao gồm những khóa học dành cho các thanh niên và thiếu nữ có ý định thành lập gia đình, những khóa học giúp hàn gắn sự truyền thông giữa cha mẹ và con cái, những khóa học cho các nhân viên cảnh sát, chính trị gia, hay cho những nhà tâm lý trị liệu, những nhà giáo dục, những thương nhân v.v. (Xin quý vị vào thăm trang nhà www.eiab.eu của Viện Phật học EIAB để có thêm chi tiết về các khóa học và các chương trình tu học khác.)

 

Viện Phật học EIAB là một tặng phẩm của đạo Bụt Việt Nam không những chỉ cho châu Âu, mà còn cho cả thế giới. Sư Ông thường nhắc nhở chúng ta rằng do nhân duyên của đất nước, chúng ta có mặt tại Tây phương. Tuy nhiên, chúng ta không phải chỉ là những người tị nạn, mà chúng ta còn mang một sứ mạng của chư Tổ sư tâm linh Việt Nam giao phó, để trao truyền lại những hạt giống đẹp đẽ của đạo Bụt cho những ai có duyên tại các đất nước này trong thiên niên kỷ mới. Các chương trình tu học tại Viện Phật học EIAB có thể giúp cho tất cả mọi người tìm thấy niềm hứng khởi và thực hiện một nếp sống an vui và hòa ái trên toàn thế giới. Với những thực tập cụ thể, đơn giản nhưng sâu sắc của đạo Bụt, chúng ta vững tin rằng thế nào đóa hoa tuệ giác và từ bi chắc chắn cũng sẽ được nở tròn vẹn và viên mãn hơn nữa tại Tây phương. Giáo lý hiến tặng tại EIAB không mang tính chất bộ phái và sẽ đóng góp vào sự hòa hợp, hiểu biết và chấp nhận nhau giữa những truyền thống tôn giáo và tâm linh dị biệt.

Để có một cơ sở tương xứng với viễn kiến xây dựng một Viện Phật học cho cả châu Âu, Sư Ông và các vị phụ tá đã dành nhiều năm để tìm ra một cơ sở có tầm vóc quốc tế và hình thức của một Học viện. Vào ngày 10 tháng 9 năm 2008, quý thầy quý sư cô chính thức tiếp nhận cơ sở đầu tiên – mà Sư Ông đặt tên là Viện Vô Ưu – của Viện Phật học Ứng dụng châu Âu. Một năm sau, Viện Phật học may mắn có thêm cơ sở thứ hai, ngay bên cạnh Viện Vô Ưu. Để kỷ niệm ngôi chùa đầu tiên Sư Ông đã đến sinh hoạt và phát tâm xuất gia, cơ sở thứ hai được đặt tên là chùa Đại Bi. Với tên thành phố là Waldbröl, có nghĩa là rừng và suối, tên đầy đủ của chùa là Lâm Tuyền Địa – Đại Bi Tự.

Tòa nhà hiện nay là Viện Vô Ưu, khởi đầu là một bệnh viện được xây dựng từ năm 1895 đến năm 1897 để chăm sóc các bệnh nhân tâm thần và khuyết tật dưới sự quản lý của giáo hội Tin Lành. Bệnh viện này được khánh thành vào ngày 9 tháng 6 năm 1897. Đến năm 1933, do ý thức hệ thuần chủng và chính sách thanh lọc giống nòi, phần lớn những người bị bệnh tâm thần, khuyết tật về tâm lý hay cơ thể, những người ở ngoài vòng xã hội (psychisch Kranke, geistig Behinderte und gesellschaftliche Randgruppen), hay các thai nhi, trẻ em có khả năng bị khuyết tật đều bị đối xử bằng những phương pháp bạo động như bị triệt sản (Zwangssterilisation von Geisteskranken), bị phá thai hoặc giết chết bằng thuốc mê (gewaltsamer Geburtenverhütung bis zu “Euthanasie”-Aktionen). Từ giữa tháng 11 năm 1938 đến tháng 1 năm 1939, gần 700 bệnh nhân tâm thần, khuyết tật và trên 100 nhân viên của bệnh viện bị ép ra khỏi tòa nhà để đi đến làng Hausen ở Westerwald. Không ai biết rõ số phận của những bệnh nhân này. Nhưng chúng ta biết họ đã phải chịu đựng những khổ đau rất lớn từ thể xác đến tinh thần. Từ đó trở đi, tòa nhà hoàn toàn thuộc về sự kiểm soát của những người theo chủ nghĩa phát-xít Đức. Những khổ đau to lớn đó, chúng ta không hề biết cho đến khi chúng ta dọn vào tòa nhà, và với thời gian, qua sự chia sẻ của những người địa phương, chúng ta từ từ hiểu ra mọi chuyện.

Tuy vậy đã có những sự việc xảy ra, báo cho chúng ta biết sự có mặt của những năng lượng này vào những ngày cuối tháng 1 năm 2008, trước khi các nhà bán bất động sản giới thiệu tòa nhà này cho Sư Ông và tăng thân Làng Mai. Chúng ta cũng được báo ngay vào buổi chiều của ngày đầu tiên tiếp nhận tòa nhà, sau khi quý thầy quý sư cô làm lễ đại thí thực trước mặt tiền của Viện Vô Ưu; và hai ngày sau đó trong buổi ăn trưa, sau khi Sư Ông có cuộc họp báo để tuyên bố về sự thành lập Viện Phật học. Và những năng lượng này tiếp tục kêu gọi sự chú ý của chúng ta trong những năm tháng sau đó.

 

 

Khi được hỏi vì sao Sư Ông chọn thành phố Waldbröl để xây dựng Viện Phật học, Sư Ông thường trả lời rằng thành phố Waldbröl chọn Sư Ông và tăng thân Làng Mai. Quả thật, những năng lượng khổ đau do chiến tranh và hận thù tại nơi đây đã nương vào sức mạnh tâm linh của Sư Ông và đại chúng Làng Mai để được chuyển hóa và hòa giải. Đó cũng là hạnh nguyện Bồ tát cứu khổ của Sư Ông suốt một đời xây dựng hòa bình, chấm dứt chiến tranh và chuyển hóa khổ đau, không những cho đất nước Việt Nam mà còn cho cả thế giới.

Sau thế chiến thứ 2, tòa nhà lại trở thành bệnh viện đa khoa. Kể từ năm 1969, sau khi bệnh viện được dời đi nơi khác, tòa nhà này trở nên một trung tâm cho các sinh hoạt quân sự về biên phòng, và từ năm 1975 cho đến năm 2006 chính thức thuộc về quân đội liên bang Đức (Deutsch Bundeswehr). Tòa nhà có chiều dài 150m, chiều ngang từ 12 đến 16m, với sáu tầng (kể cả tầng hầm) và có tổng diện tích mặt bằng khoảng 12.000m2. Tòa nhà có thể cung cấp chỗ ở cho khoảng 500 người và các phòng ốc khác dùng để tu học. Đại chúng biết rằng mình sẽ phải đầu tư rất nhiều tài chánh và năng lực để thực hiện công trình xây dựng Viện Phật học. Tuy nhiên, những dự tính về thời gian cũng như ngân quỹ sửa chữa đã phải bị thay đổi rất nhiều vì trong quá trình sửa chữa và xây cất lại có phát sinh thêm những đòi hỏi quan trọng và thiết yếu khác của cơ quan xây cất chính quyền.

Trước đây, tòa nhà là một trung tâm sinh hoạt của quân đội liên bang Đức, do đó những yêu cầu về tiêu chuẩn phòng hỏa của tòa nhà được xác định dựa trên những quy chế đặc biệt dành riêng cho quân đội. Giờ đây, tòa nhà được sử dụng như một cơ sở dân sự, nên những đòi hỏi về xây cất trên khía cạnh phòng hỏa, các hệ thống điện và cầu thang thoát hiểm cần phải thay đổi rất nhiều và dĩ nhiên khắt khe hơn để đáp ứng những yêu cầu theo quy chế dân dụng. Ngoài ra, phần lớn hệ thống ống nước đã được lắp ráp vào những thập niên 30, nay đã bị rỉ nặng và hư hỏng rất nhiều. Thêm vào đó, toàn bộ thiết kế của nhà bếp đã quá lỗi thời, không còn đáp ứng được những tiêu chuẩn đặt ra hiện nay về phương diện vệ sinh và y tế công cộng. Hệ thống lò sưởi cần phải được sửa chữa lại rất nhiều vì đã bị rỉ chảy. Quan trọng hơn cả là hệ thống lò sưởi cần phải được thiết kế lại theo tiêu chuẩn mới để có thể tiết kiệm được năng lượng và giúp bảo vệ sinh môi. Các nhà vệ sinh và phòng tắm công cộng cũng cần phải được xây cất thêm để đáp ứng cho nhu cầu mới. Tình trạng của tòa nhà hiện nay không hội đủ tiêu chuẩn phòng hỏa cần thiết để được phép nhận khách thăm viếng, mở các khóa tu, cũng như tổ chức những hoạt động công cộng khác.

Trong mười năm qua, nhờ sự thương yêu, yểm trợ của quý vị đạo hữu và thân hữu khắp nơi trên thế giới, tăng thân chúng ta đã trùng tu được tầng trệt (2012) và 1/5 (một phần năm) tòa nhà của Viện Vô Ưu (2010). Những phần này quý thầy và quý sư cô hiện nay chỉ được giấy phép sử dụng tạm thời với sự gia hạn hai năm một lần cho đến khi toàn thể tòa nhà được sửa chữa xong. Để quân bình năng lượng cho toàn bộ khu đất của Viện Vô Ưu và chùa Đại Bi, chúng ta đã xây dựng (2013) một tháp chuông đại hồng với chiều cao 21m với những biểu tượng hàm chứa giáo lý và con đường thực tập của đạo Bụt. Năm vừa qua (2017), sau bốn năm xây dựng, nhà bếp và phòng ăn cũng đã được hoàn tất và theo yêu cầu của chính quyền địa phương, hệ thống phòng hỏa trung ương cho chùa Đại Bi cũng đã được thực hiện.

 

 

Trên phương diện tu học và hành trì, trong mười năm qua, các khóa tu học, các chương trình sinh hoạt cho các em học sinh, sinh viên cũng như giao lưu tôn giáo, những buổi pháp thoại công cộng, sinh hoạt cộng đồng, hòa tấu gây quỹ, v.v. được tổ chức ngay tại Viện Phật học, hay tại các địa điểm khác trong cũng như ngoài châu Âu do Sư Ông, quý thầy quý sư cô của Viện Phật học và tăng thân Làng Mai đảm trách đã giúp cho hàng vạn lượt người khắp nơi trên thế giới biết đến pháp môn, tu tập và chuyển hóa những khổ đau của tự thân và hòa giải được với những người thân trong gia đình. Số lượng thiền sinh đến tu học mỗi ngày một đông hơn. Có những khóa học đông, thiền sinh phải mướn phòng trọ ở bên ngoài. Có những cuối tuần, quý thầy quý sư cô gặp khó khăn trong việc sắp xếp phòng sinh hoạt và thuyết giảng cho tất cả các khóa.

Từ khi biết đến những khổ đau của những bệnh nhân đã từng sống tại đây, trong suốt bảy năm sau khi dọn vào tòa nhà của Viện Vô Ưu, quý thầy quý sư cô đã gửi năng lượng từ bi, cúng cháo mỗi ngày cho các hương linh. Mỗi tuần, toàn thể đại chúng cùng nhau tổ chức cúng thí thực cho các vị khuất mặt, cầu nguyện năng lượng từ bi và hồng ân của chư Bụt, chư vị Bồ tát và chư vị Tổ sư gia hộ cho quý vị đó được vãng sanh Tịnh độ. Hằng năm vào trước các khóa tu mùa Hè, Sư Ông và đại chúng cũng tổ chức trai đàn chẩn tế cho tất cả các nạn nhân đã chết oan ức trong mọi hoàn cảnh khổ đau của cuộc sống, đặc biệt là cho các nạn nhân tại Waldbröl và trong các cuộc chiến tranh. Trong những lần chẩn tế đầu, có lúc gió bão nổi lên cuồn cuộn rất mạnh. Chư vị tôn đức đến thăm viếng Viện Phật học cũng đã tổ chức những buổi lễ cầu siêu và chú nguyện rất nhiều cho các hương linh.

Nhờ công phu tu tập tinh chuyên và sự tùy hỷ hồi hướng công đức của toàn thể tứ chúng cho tất cả mọi người và mọi loài, năng lượng thương yêu, hiểu biết và bao dung càng ngày càng được bồi đắp tại vùng đất mới này. Nhờ vậy mà sự hòa giải, tha thứ và chấp nhận cũng từ từ được biểu hiện, giúp cho năng lượng khổ đau của những nạn nhân trong quá khứ tại nơi đây cũng nhẹ đi được một phần nào. Những vị khách đã từng đến Viện Phật học từ những ngày đầu, giờ đây chia sẻ là họ đã nhận thấy rõ rệt sự chuyển hóa lớn trong năng lượng tại nơi đây. Năng lượng của Viện Phật học giờ đây nhẹ nhàng, tươi vui và sáng đẹp hơn xưa rất nhiều.

Chúng tôi ý thức rất rõ những chuyển hóa nêu trên vẫn còn rất nhỏ bé so với tâm nguyện độ sanh bao la rộng lớn, Đại Từ, Đại Bi của Sư Ông, của chư vị Bồ tát và chư vị Tổ sư. Đón mừng xuân năm nay, chúng tôi ý thức rõ trong mười năm qua công trình xây dựng Viện Phật học và những thành quả tu học của tăng thân Viện Phật học vẫn còn rất khiêm tốn. Những ước nguyện độ sanh mà Sư Ông đã giao phó cho tứ chúng Viện Phật học, chúng ta chỉ mới thực hiện được một phần rất nhỏ. Do vậy năm nay Viện Phật học có thêm một cặp đối Học viện mười năm hoa kết nụ / Rừng thiền muôn thuở cội tùng xanh bên cạnh cặp hồng điều Một nhà sum họp / Khắp chốn an vui để mừng Tết của tứ chúng Làng Mai.

Chúng tôi hy vọng chỉ trong một vài năm tới, công trình xây dựng chánh điện, thiền đường và trùng tu Viện Phật học sẽ được thực hiện nhanh chóng cùng với sự thương yêu, yểm trợ của quý vị đạo hữu và thân hữu khắp nơi trên thế giới, để công trình xây dựng một trung tâm tu học theo tinh thần đạo Bụt Ứng dụng và Nhập thế của Sư Ông cho toàn thể châu Âu cũng như trên toàn thế giới được thành công viên mãn.

Trân quý,

Tỳ kheo Thích Chân Pháp Ấn và quý thầy, quý sư cô Viện Phật học Ứng dụng châu Âu.

 

Mạ còn đó bình yên như hơi thở

 

Mạ thuỷ chung âm thầm như nguồn cội

Bãi vắng trưa xô gió cát lao xao

Mặc gió mưa giông bão thét gào

Mạ còn đó bình yên như hơi thở.

Tôi chẳng nhớ những câu thơ tôi viết cho Mạ khi nào, có lẽ đã lâu lắm rồi, lúc tôi còn là một cô sa di nhỏ. Mỗi lần cùng Mạ lên Diệu Trạm thăm, thế nào cũng có sư em rỉ tai tôi, giọng nghịch ngợm: “Sư cô ơi, sao con nhìn Mệ trẻ trung vui vẻ hơn sư cô nữa à nha!”. Các sư em gọi Mạ tôi là Mệ, như cách người Huế thường gọi người lớn tuổi. Tôi muốn viết và kể chuyện của Mạ, nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu, bởi có quá nhiều điều vui buồn, khổ đau và hạnh phúc suốt cuộc đời của Mạ. Nhìn thấy tất cả nét vui tươi hồn nhiên trong mắt cùng giọng cười vui vẻ của Mạ, thật khó mà tin rằng Mạ đã đi qua bao nhiêu gian nan, lao nhọc và khó khăn, khổ đau chồng chất trong đời.

Lúc mới hơn mười tuổi, tôi đã tròn xoe mắt khi Mạ dặn dò: “Ra đường phải vui vẻ và mỉm cười với mọi người nghe con. Dù con có đói ba ngày, con vẫn phải tử tế với người khác. Có khi người đang đứng trước mặt con còn khó khăn hơn con nhiều lắm, con không có gì để cho, nhưng con còn có nụ cười!”. Lớn lên tôi là một người hay cười, có lẽ cũng nhờ những lời dạy và cách hành xử của Mạ.

Mạ không biết chữ, lúc mang thai tôi, là con thứ năm trong nhà, Mạ mới được vài ba đêm cầm cây đèn dầu đến nhà cô giáo làng ở xóm trên, theo lớp Bình dân học vụ. Ba mất, để lại cho Mạ bảy đứa con và lời trăn trối thiết tha: “Một là đừng cho đứa nào theo nghề của Ba đi đánh cá, hai là cố gắng cho con học hành tới nơi tới chốn”. Năm đó Mạ 38 tuổi. Ba mất, Mạ không còn cơ hội nào mơ đến những con chữ bí mật mà hấp dẫn đó nữa, dù niềm yêu thích đọc chữ vẫn không hề nguôi ngoai. Những người con của Mạ, hết người này đến người khác, học hành và ra trường, là những người đỗ đại học đầu tiên ở quê, sau này làm bác sĩ, làm kỹ sư, làm thầy giáo và là niềm tự hào của Mạ. Anh em tôi từ lâu đã có ý định bày cho Mạ học đọc, nhưng hình như chưa ai thật sự làm cả.

Có một lần, anh Phong, anh thứ ba của tôi, lúc đó đã là thầy giáo, về thăm Mạ. Buổi trưa hôm đó, nằm thiu thiu nơi võng, anh Phong nghe giọng Mạ chầm chậm đánh vần từng chữ một, anh tỉnh hẳn và lắng tai nghe. Mạ đánh vần thật. Mạ biết đánh vần và đọc từng chữ, từng chữ nơi cuốn “kinh Nhật Tụng của Mạ”. Sư em Nguyên Tịnh đã chọn in một số bài kinh, bài sám với cỡ chữ lớn và làm quà tặng Mạ, trong một dịp các anh chị em xuất sĩ đi thăm các ba mẹ. Anh Phong ngồi dậy, len lén nhìn sang Mạ, có lẽ để biết chắc đó là Mạ. Mạ vẫn hồn nhiên chăm chú đánh vần, không biết rằng thằng con trai đã lớn của mình đang khóc. Anh Phong khóc, và các anh em tôi đều khóc khi nghe anh kể chuyện đó.

 

 

Sau này mỗi lần về thăm, tôi đều nghe Mạ khoe: “Mạ đã thuộc lòng bài Ba Sự Quay Về rồi nghe cô”, hay là: “Lần vừa rồi ở Diệu Trạm, Mạ đã tụng theo được với quý thầy, quý sư cô hết bài Quy Nguyện luôn đó cô”. Tôi vui vẻ khen ngợi và động viên Mạ. Tôi vui với niềm vui của Mạ, lòng hân hoan như những tháng ngày mới vào chùa và  học thuộc lòng thần chú Lăng Nghiêm. Khoảng sáu tháng trước, Mạ băn khoăn: “Cô nè, bài Sám Nguyện dài quá, Mạ học có thuộc nổi không hè?”. Tôi mỉm cười, nói giọng tự tin và “tỉnh bơ”, dù lòng rưng rưng thương Mạ: “Đương nhiên là Mạ sẽ thuộc rồi, như là Mạ đã thuộc rất nhiều bài sám khác. Mạ học từ từ từng đoạn thôi. Bây chừ Mạ đọc ro ro rồi mà”. Mạ đã lớn tuổi, mỗi đêm, vẫn thắp hương lên bàn thờ Bụt, bàn thờ Tổ tiên và thầm khấn nguyện để kiếp sau được làm người xuất gia.

Tôi và em tôi xuất gia, dù “đã là con của Phật chớ mô còn là con của mình” như lời Mạ thường trả lời các bác hàng xóm mỗi lần họ tán dương rằng Mạ quả thật phước đức khi có hai người con đi tu, tôi vẫn biết rằng thực tập để nuôi dưỡng và làm cho tươi mát niềm vui sống mãnh liệt trong tim là điều tôi sẽ học hỏi và thừa hưởng suốt đời từ Mạ. Hễ lúc nào cánh cửa còn hé mở, thì ánh sáng nhất định biết cách tràn vào. Hễ lúc nào trái tim còn để ngỏ thì tình thương và niềm tin sẽ mãi thắp sáng đôi mắt và mọi nẻo đường mình bước qua. Tôi nguyện giữ gìn nụ cười của Mạ để tâm hồn tôi được tắm mát trong dòng suối thanh lương đó.

 

Mùa Đông, Huế, 04.01.2020

Chân Thuần Khánh

Bụt là vầng trăng mát

Thơ: Sư Ông Làng Mai

Giọng hát: Sư cô Diễm Nghiêm

 

 

Bụt là vầng trăng mát

Đi ngang trời thái không

Hồ tâm chúng sinh lặng

Trăng hiện bóng trong ngần.

Bông hồng cài áo

 

Một bông hồng cho em
Một bông hồng cho anh
Và một bông hồng cho những ai
Cho những ai đang còn Mẹ
Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn
Rủi mai này Mẹ hiền có mất đi
Như đóa hoa không mặt trời
Như trẻ thơ không nụ cười
Ngỡ đời mình không lớn khôn thêm
Như bầu trời thiếu ánh sao đêm

Mẹ, Mẹ là dòng suối dịu hiền
Mẹ, Mẹ là bài hát thần tiên
Là bóng mát trên cao
Là mắt sáng trăng sao
Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối

Mẹ, Mẹ là lọn mía ngọt ngào
Mẹ, Mẹ là nải chuối buồng cau
Là tiếng dế đêm thâu
Là nắng ấm nương dâu
Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời

Rồi một chiều nào đó anh về nhìn Mẹ yêu, nhìn thật lâu
Rồi nói, nói với Mẹ rằng “Mẹ ơi, Mẹ ơi, Mẹ có biết hay không ?”
-Biết gì ? “Biết là, biết là con thương Mẹ không ?”

Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó anh
Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó em
Thì xin anh, thì xin em
Hãy cùng tôi vui sướng đi.

Xem thêm: Lễ Bông Hồng Cài Áo 2021 tại Làng Mai, Pháp

Đứa con cùng tử

( Trích trong pháp thoại ngày 27/7/2012 của Sư Ông Làng Mai )

Châu báu chất đầy thế giới
tôi đem tặng bạn sáng nay
một vốc kim cương sáng chói
long lanh suốt cả đêm ngày

Mỗi phút một viên ngọc quý
sáng soi đất nước trời mây
chỉ cần một hơi thở nhẹ
là bao phép lạ hiển bày

Chim hót, thông reo, hoa nở
trời xanh, mây trắng, là đây là đây
ánh mắt thương yêu sáng tỏ
nụ cười ý thức đong đầy.

Này người giàu sang bậc nhất
tha phương cầu thực xưa nay
hãy thôi làm thân cùng tử
về đi tiếp nhận gia tài

Hãy dâng cho nhau hạnh phúc
và an trú phút giây này
hãy buông thả dòng sầu khổ
về nâng sự sống trên tay

Hãy dâng cho nhau hạnh phúc
và an trú phút giây này
hãy buông thả dòng sầu khổ
về nâng sự sống trên tay.

 

 

Trong bài thơ này có danh từ “người cùng tử”. “ Người cùng tử” tức là đứa con phá sản, phá của, và ruốt cuộc thì nghèo đói đi lang thang tha phương cầu thực. Ở trong kinh Pháp Hoa cũng có chuyện người cùng tử. Có anh chàng đó có bố rất giàu nhưng mà không có trách nhiệm không biết dành dụm, không biết làm ăn, không biết học hành và chỉ biết tiêu pha thôi. Người bố biết tính của đứa con mình nên rất lo lắng. Biết sau này khi mình chết thằng con sẽ tiêu xài hết và sẽ nghèo đói. Cho nên ông lấy một cái áo bông khá ấm. Ông ta lén may vào chiếc áo một viên ngọc quý, và dặn đứa con: “Này con, con có thể tiêu xài hết tất cả, ruộng nương, trâu bò, nhà cửa. Nhưng có một cái con không nên bán. Nếu con thương bố con không nên bán mà nên giữ lại chiếc áo này. Nó rất ấm, bố chỉ xin con một điều kiện này thôi. Đừng vứt hay đừng bán chiếc áo này.”

Quả đúng như lời ông tiên đoán, sau khi ông ta mất, đứa con tiêu xài rất hoang phí và không còn đồng nào hết. Đứa con trở thành một người cùng tử. Một đứa con vào đường cùng phải đi tha phương cầu thực, rất nghèo đói, khổ sở. Một hôm anh nằm ở ngoài chợ, đang mặc chiếc áo ngày xưa của bố, lăn qua lăn lại thấy có cái gì đó cộm cộm. Ngạc nhiên và tò mò anh xe cái áo ra xem thì thấy có một viên ngọc rất lớn. Viên ngọc có thể đem bán và đổi ra rất nhiều tiền. Anh ta đã học được bài học cuộc đời rồi, nên kỳ này anh ta đem bán viên ngọc quyết định gây dựng lại vốn liếng và cơ nghiệp để sống một cuộc đời đàng hoàng, và hạnh phúc hơn.

Trong kinh Pháp Hoa, Đức Thế Tôn đã kể lại câu chuyện đó và nói rằng chúng ta là những đứa con phá của. Chúng ta đã được tiếp nhận rất nhiều châu báu. Nhưng chúng ta không biết sử dụng châu báu đó để mà sống một cuộc đời hạnh phúc. Châu báu là giáo pháp mà Đức Thế Tôn trao truyền cho chúng ta. Ta có nghe, có học nhưng mà ta không đem nó ra để thực tập. Chúng ta sống cuộc sống của một người nghèo khổ về tâm linh. Có thể là chúng ta không nghèo đói về vật chất, nhưng chúng ta nghèo đói về tâm linh. Và chúng ta để lại cho con cháu của chúng ta một gia tài rất nghèo nàn.

 

 

Trong văn hóa đông tây đều có câu chuyện đứa con cùng tử. Ông triệu phú nọ có một đứa con. Đứa con không biết gốc tích của mình, nó không biết bố mình là ai, nó đi lạc loài đã lâu năm. Một hôm nó về quê hương mà nó không có biết. Nó thấy một ông triệu phú với gia sản rất lớn. Có nhiều kẻ hầu người hạ, nó tới nó xin làm công nhân. Khi ông triệu phú thấy nó, thì ông biết đây là đứa con của mình. Nhưng ông không tới gần nó, vì ông biết nếu ông tới nhận thì nó sẽ bỏ chạy. Nó bỏ chạy vì mặc cảm nó là dân bần tiện cùng khổ. Khi một người quý phái tới thì nó phải chạy đi thôi. Vì sợ chứ không phải ghét. Vì nó không biết ông là cha của nó. Nó nghĩ mình và ông triệu phú là hai thế giới khác nhau, không thể tiếp cận với nhau được. Nhưng mà ông triệu phú này rất giỏi, ông biết mình phải khéo léo, phải dùng phương tiện để có thể đưa đứa con trở về từ từ.

Ông mới ra lệnh cho người hầu cận tới với người cùng tử và cho nó một công ăn việc làm khá hơn để có lương bổng cao hơn một chút. Nó rất mừng. Cứ như vậy mỗi hai ba tuần thì cho lên chức vụ cao. Cuối cùng thì nó được làm một chức vụ phụ tá rất gần với ông triệu phú. Bây giờ nó đã ăn mặc đàng hoàng, đi lại chững chạc rất khác so với lúc mới tới. Khi anh ta vượt qua giai đoạn đó rồi thì người triệu phú mới tới và nói ra sự thật anh ta là con của ông. Lúc đó anh ta mới chấp nhận.

Trong kinh kể câu chuyện ấy, và người triệu phú tượng trưng cho một người có gia sản rất lớn về tâm linh. Tức là một vị Bụt, một vị giác ngộ hoàn toàn. Đứa con kia có mặc cảm mình là chúng sinh, mình là một con người tầm thường chỉ có ngu si, khổ đau đày đọa mà thôi. Có sự mặc cảm và sợ hãi là mình không bao giờ có thể được như người kia. Người kia tức là một vị thánh nhân, một vị Bụt, một vị Bồ Tát. Và vì vậy cho nên nếu Đức Thế Tôn nói rằng: “Này anh, anh không chỉ là chúng sinh, anh có thể là một vị Bụt.” Thì người kia sẽ hoảng sợ, sẽ không bao giờ tin.

Mình có quan niệm là chúng sinh và Bụt thì hoàn toàn khác nhau. Chúng sinh ngược lại với Bụt, và Bụt là ngược lại chúng sinh. Và khi mở ra sự thật là mỗi người đều có Phật tánh, đều có thể giác ngộ thành Phật thì có thể làm cho người ta hoảng sợ. Vì vậy nên kinh pháp Hoa là một kinh ra đời muộn hơn so với những kinh khác. Kinh Pháp Hoa đưa ra một sự thật là tất cả chúng sanh đều có thể trở thành Phật. Đức Thế Tôn nghĩ rằng nếu gặp nhau lúc ban đầu mà nói ra sự thật ấy thì người kia không tin và sẽ bỏ chạy mất. Vậy nên phải từ từ hướng dẫn cho người kia tu tập, tiến bộ cho đến lúc nói ra được sự thật. Kinh Pháp Hoa đưa ra sự thật đó “Nhất thiết chúng sanh, giai hữu Phật tánh” tất cả chúng sanh đều có thể thành Phật được. Chỉ khi nào mình không có mặc cảm thì mình mới chấp nhận được sự thật đó. Đức thế Tôn là nhà triệu phú và chúng ta là những người cùng tử. Chúng ta cho rằng chúng ta nghèo đói, khổ đau suốt đời, hết kiếp này đến kiếp khác. Vì vậy nên Đức Thế Tôn muốn đưa chúng ta ra khỏi vòng mặc cảm đó để cho chúng ta thấy mình có khả năng hạnh phúc, có khả năng giác ngộ.

“Châu báu chất đầy thế giới
tôi đem tặng bạn sáng nay
một vốc kim cương sáng chói
long lanh suốt cả đêm ngày

Mỗi phút một viên ngọc quý
sáng soi đất nước trời mây
chỉ cần một hơi thở nhẹ
là bao phép lạ hiển bày.”

Xung quanh mình đều là châu báu hết. Tại mình không biết dùng thôi. Nếu mình nhận diện ra được thì mình sẽ có hạnh phúc liền lập tức. Trong giáo lý của Đức Thế Tôn có giáo lý gọi là “hiện pháp lạc trú”. Nghĩa là có thể sống hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Khi mình có chánh niệm, mình thở một hơi thở, đem tâm trở về với thân. Thì tự nhiên mình thấy được rằng mình có rất nhiều điều kiện hạnh phúc, có rất nhiều châu báu, và mình có thể hạnh phúc liền được. Sở dĩ mình không có hạnh phúc là tại mình không nhận diện được những điều kiện hanh phúc. Khi mình nhắc nhở người khác về những điều kiện hạnh phúc mà người ấy đang có tức là mình tặng cho họ một vốc kim cương sáng chói.

“Mỗi phút một viên ngọc quý
sáng soi đất nước trời mây
chỉ cần một hơi thở nhẹ
là bao phép lạ hiển bày

Chim hót, thông reo, hoa nở
trời xanh, mây trắng, là đây là đây
ánh mắt thương yêu sáng tỏ
nụ cười ý thức đong đầy.”

Mỗi giây phút mà đời sống cho mình để sống là một viên ngọc quý. Nếu mình có chánh niệm thì trong giây phút đó có trời xanh, mây trắng, có tất cả những mầu nhiệm của vũ trụ. Những châu báu, những hạnh phúc đó, mình đạp lên trên mà đi. Mình là đứa con phá của, mỗi ngày có hai mươi bốn giờ đồng hồ, mỗi giây, mỗi phút là cả vốc kim cương. Mình sống như thế nào mà những giờ, ngày, phút mình liệng đi những châu báu đó. Mình không biết sống và thừa hưởng hạnh phúc mà mình đang có, hạnh phúc mà tổ tiên đã để lại cho mình. Mình đi tìm ở đâu đâu.

Đây là một bài thơ, một bài nhạc để mình thực tập. Nếu mình có thì giờ để trở về với chính mình và nhìn kỹ thì sẽ thấy mình may mắn hơn rất nhiều người trong nước và trên thế giới. Ngay chuyện rửa mặt, khi muốn rửa mặt, chỉ cần mở vòi thì nước sẽ chảy xuống và mình rửa. Khi muốn uống nước mình chỉ cần đưa cốc hứng nước và uống. Nhưng có những vùng trên thế giới người ta phải đi năm, mười cây số mới lấy được một ít nước, mà nước cũng không được trong. Nếu mình sống có ý thức chánh niệm thì khi mở nước hay khi rửa mặt, hay tắm gội mình cũng cảm thấy hạnh phúc. Vì vậy mình phải có ý thức, có chánh niệm.

 

 

Hạnh phúc bây giờ và ở đây

Chánh niệm tức là mình có mặt ở đó. Năng lượng chánh niệm giúp mình nhận diện được những điều kiện hạnh phúc mình đang có. Ví dụ, hai mắt mình đang còn sáng và tốt là một điều kiện hạnh phúc. Chỉ cần mở mắt ra là mình tiếp xúc được với thiên đường của màu sắc và hình dáng. Thiên đường đó có mặt ngay trong giây phút hiện tại. Những điều kiện hạnh phúc đó dư dả để mình có thể hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại.

Hai chân còn khỏe, còn đi, chạy nhảy và leo trèo được. Đó là một điều kiện hạnh phúc. Trái tim của mình còn đang vận hành bình thường. Đó là một điều kiện hạnh phúc. Có những người không có một trái tim bình thường, họ có thể bị đứng tim bất cứ lúc nào. Ước mơ sâu sắc nhất của những người ấy là có một trái tim bình thường như trái tim của mình. Chúng ta đang có một trái tim khỏe mạnh nhưng chúng ta không có hạnh phúc. Chúng ta có hai mắt sáng chúng ta cũng không hạnh phúc. Có đôi chân khỏe mạnh vẫn không hạnh phúc. Chúng ta có tuổi trẻ chúng ta cũng không có hạnh phúc. Nói tóm lại, chúng ta là những đứa con cùng tử, không biết là mình rất giàu có. Mình là con nhà giàu, nhưng mình vẫn tha phương cầu thực hết ngày này qua ngày khác. Đó là tình trạng của hầu hết chúng ta. Chuyện trong kinh là chuyện có thật bây giờ và ở đây.

Cho nên tu là phải biết phát khởi chánh niệm. Đưa tâm trở về với thân trong giây phút hiện tại. Khi thở vào một hơi thở và chú ý tới hơi thở thì mình đem tâm trở về với thân. Mình thấy được là mình đang có một hình hài tương đối mạnh khỏe, một đầu óc tương đối minh mẫn. Mình thấy mình có dư dả điều kiện hạnh phúc. Những người thương vẫn đang còn sống xung quanh mình,  rõ ràng mình thấy quá may mắn. Khi nhận diện được những hạnh phúc đó thì không cần phải chạy về tương lai để kiếm thêm những điều kiện hạnh phúc khác nữa. Mình có đủ rồi. Còn chờ đợi gì điều gì nữa?

Chủ đề “người cùng tử” là một chủ đề rất quan trọng. Chúng ta đừng đi tìm người cùng tử ở đâu khác. Chúng ta là những người cùng tử.

Tu là để nhận diện những điều kiện hạnh phúc mà mình đang có. Tới Làng Mai là để học điều đó. Thiền sinh từ nhiều nước trên thế giới đến để học cái đó. Và họ học thành công lắm. Chỉ cần năm hay sáu ngày là thấy sự thay đổi. Trong khi mình bước một bước chân, thở một hơi thở là mình có hạnh phúc. Trong khi uống trà cũng có hạnh phúc, chải răng mình cũng có hạnh phúc. Chải răng trong chánh niệm. Mình cần hai phút để chải răng, nhưng mà mình làm hấp tấp, mình nói chải răng cho mau để làm việc khác. Trong khi đó đối với người tu thì chải răng có thể hạnh phúc lắm. Chải răng có chánh niệm thì mình thấy có lúc mình quên bàn chải, quên kem đánh răng, hay mở nước thì nước bị cúp. Nhưng giờ đây có đủ hết mà không hạnh phúc, không vừa lòng. Khi chải răng thì nghĩ chuyện này chuyện kia. Mỗi khi chải răng thầy nghĩ: “Tám mấy tuổi rồi mà cẫn còn răng để chải, sướng quá.” Là tự nhiên có hạnh phúc liền. Thế nên hạnh phúc từ chánh niệm mà ra. Chứ không phải từ sự giàu sang hay quyền lực, danh tiếng hay sắc dục. Có những người chạy theo danh vọng, giàu sang và sắc dục mà họ không có hạnh phúc gì hết. Họ tàn phá thân và tâm của họ. Và có rất nhiều người tìm đến con đường tự tử. Cho nên giàu sang, tiền bạc, sắc dục có thể là những hiểm nguy. Nó tàn phá cuộc đời mình. Trong khi đó chánh niệm là suối nguồn của hạnh phúc. Mình học và phải thực tập điều đó.

 

(Còn tiếp)

 

Những câu linh chú Làng Mai

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai)

Ở đời ai lại không có những người thương? Chúng ta có cha, có mẹ, có anh, có chị, có em, có bạn, có thầy. Khi có chánh niệm thì ta nhận rõ được sự có mặt của những người đó là quí giá cho ta lắm. Họ là những bông hoa, họ đang nở cho ta. Còn ta đang co rút lại, ta phải nở ra cho họ! Vì vậy cho nên câu linh chú thứ nhất của Làng Mai là công nhận sự có mặt của người kia, nhìn người đó bằng chánh niệm, trân quí sự có mặt của người đó và nói ra một câu thần chú bằng tiếng Việt, không cần phải bằng tiếng Phạn:

“Bố ơi, con biết là bố đang còn sống bên con, nên con rất hạnh phúc”,

 Đó là một câu thần chú, và ta phải đọc câu thần chú đó trong trạng thái thân tâm nhất như. Thân và tâm ta phải có mặt 100% thì ta mới nên đọc câu thần chú đó.

Nghe vậy thì người kia sẽ có hạnh phúc, sẽ nở ra như một đóa hoa. Lúc ấy mình cũng là một đóa hoa, mình nở cho người kia, hạnh phúc có mặt liền lập tức. Đó là một thứ hạnh phúc có liền. Hạnh phúc trong khi thực tập câu linh chú thứ nhất còn nhanh hơn là pha cà phê uống liền, tại vì khỏi phải xé bọc cà phê ra, khỏi bỏ vào ly, khỏi chế nước sôi.

Hôm trước khi đi với sư anh Pháp Ứng ở Xóm Thượng, sư anh đưa cánh tay cho tôi vịn để đi xuống dốc cho an toàn. Tôi quay lại nói rằng: “Pháp Ứng ơi! Có con ở đây thầy hạnh phúc quá.” Đó là tôi đọc câu thần chú thứ nhất. Tôi nói câu đó không phải là một câu nói ngoại giao, mà câu đó nó được làm bằng bản chất của chánh niệm, thấy sự có mặt của sư chú là quí giá cho tôi. Biết sư chú đã cho tôi hạnh phúc, đang cho tôi hạnh phúc và sẽ cho tôi hạnh phúc, cho nên tôi chỉ cần nói sự thật đúng lúc thôi. Đó là nhờ “chỉ”, “quán”và “niệm”. Thân tâm tôi nhất như, tuy là đang đi, nhưng nhờ an trú trong hiện tại, tôi nhận diện được sự có mặt của sư chú, nên tôi đã nói được câu linh chú thứ nhất. Sư chú đáp lại liền: “Có Thầy ở bên con, con cũng rất hạnh phúc.” Thành ra hai thầy trò cùng thực tập linh chú.

Có cần lặp lại 100 lần mỗi buổi sáng không? Nếu đã nói được một lần, thì sau này mình không hối tiếc nữa. Huống hồ mình lấy đó làm sự thực tập hàng ngày của mình?

Cho nên hôm đó ở thủ đô Hán Thành tôi đã mỉm cười nhìn những bông hoa ngọc lan đang nở rộ và nói:”Hoa ngọc lan ơi, tôi biết hoa đang có đó và tôi rất hạnh phúc!” Đi một mình giữa những đóa ngọc lan như vậy, mình thấy được tất cả những mầu nhiệm của sự sống, mình sống sâu sắc những giờ phút của buổi sáng, không tiếc nuối gì cả. Không những hoa ngọc lan nở cho mình, mà lúc ấy mình cũng là một bông hoa nở ra cho ngọc lan nữa. Giữa hoa và mình có một mối tình tri kỷ, cũng như giữa hai thầy trò Huệ Năng và Hoằng Nhẫn.

Cho nên những giây phút mà quý vị sống ở Xóm Thượng, có thể là những giây phút quan trọng nhất trong cuộc đời của quý vị. Dù quý vị sống ở đó một tuần, hai tuần hay hai năm, thì mỗi giây phút mà quý vị sống ở đó phải là những giây phút như vậy. Nếu không thì uổng phí quá. Những giây phút của quý vị ở Xóm Hạ, Xóm Trung, Xóm Mới cũng phải như vậy. Những phương pháp ấy tôi đã trao truyền. Nay đến lượt quý vị. Như những người chơi bóng chuyền, khi trái bóng đến tay, thì phải hành động. Không thể giữ bóng mà không chuyền lại cho người khác.

Đối với cha, mẹ, anh,chị hay, đối với những người xung quanh, với hoa đào, với vì tinh tú, với con đường thiền hành, mình phải thực tập nhìn những thứ đó như là nhìn Huệ Năng của mình, nhìn tri kỷ của mình. Chúng ta thực tập để nâng đỡ cho những người chung quanh cùng thực tập. Nếu ta không thực tập thì những người chung quanh ta sẽ không được nâng đỡ, khuyến khích. Sự thực tập của mình có công hiệu tổng quát, nghĩa là mình làm điều nàykhông chỉ riêng cho mình, mà làm cho tất cả những người chung quanh mình. Công tác xây dựng tăng thân lớn lao nhất là công tác đó, nghĩa là phải biết nở ra trong từng giây từng phút của cuộc sống hàng ngày.

Như vậy, câu linh chú đầu tiên của Làng Mai là:

Bố ơi, con biết bố còn đang sống đó và đang ngồi bên con, nên con rất hạnh phúc.

Mẹ ơi, con biết mẹ còn đang sống đó và đang ngồi bên con, nên con rất hạnh phúc.

Và “công thức” của câu linh chú ấy là:

(…) ơi ,( …) biết là (…) còn đang sống đó và đang ngồi bên ( …),nên (…) rất hạnh phúc .

Nếu trong đời anh, đời chị, mà chưa từng nói được câu đó, thì đó là điều rất đáng tiếc. Nếu chưa nói thì lát nữa phải gọi điện thoại. Nói điện thoại trong tinh thần thực tập của chúng ta thì dù là điện thoại viễn thông cũng đáng để cho mình sử dụng.

Câu thần chú thứ hai, có khi mình đảo ngược lại, lấy câu thứ hai làm câu thần chú thứ nhất. Điều này không quan trọng mấy. Điều quan trọng là chúng ta phải thực tập những câu thần chú này.

Câu thần chú thứ hai là:

Bố ơi, con đang có mặt thật sự bên bố đây.

Mẹ ơi, con đang có mặt thật sự bên mẹ đây.

Thầy ơi, con đang có mặt thật sự bên thầy đây.

(…) ơi, ( … ) đang có mặt thật sự bên ( … ) đây.

Thương yêu trong giáo lý của đạo Bụt, trước hết là phải có mặt. Tại vì nếu không có mặt thì làm sao anh thương? Nhiều khi sống 24 giờ đồng hồ với người đó, nhưng anh không bao giờ thật sự có mặt bên người đó. Anh sống như đang sống trong một quán trọ, trong một chung cư mà mình không cần biết người ở phòng bên cạnh là người thuộc quốc tịch nào, có những hạnh phúc nào, những khổ đau nào.

Có thể mình sống với bố, với mẹ, với những người anh, người chị của mình, nhưng mình chưa bao giờ có mặt thật sự với họ. Mình đi, mình về như là những mũi tên, cho đến khi người ấy chết, hay đi xa. Sống như chưa bao giờ mình từng gặp người ấy. Người ấy là ai mà mình nói mình thương?

Món quà quý giá nhất

Có một ông nọ, ông nói với đứa con trai 12 tuổi của ông: “Này con, ngày mai là sinh nhật của con, con muốn gì, nói cho bố biết, bố sẽ mua cho con.” Nhưng cậu bé đó không có hạnh phúc. Cậu bé là con nhà giàu, và bố là giám đốc của một công ty rất lớn, muốn gì ông cũng mua được hết. Nhưng những món quà không làm cho cậu bé hạnh phúc thật sự, vì bố nó chưa bao giờ có mặt với nó hết. Bố bận rộn quá. Tại vì sao? Tại vì khi mình giàu thì mình không muốn mình không giàu nữa! Đó là bệnh của chúng sanh. Đã giàu rồi thì không thể chấp nhận được chuyện mình không giàu! Mà muốn tiếp tục giàu thì phải đổ hết thời gian và tâm lực vào việc làm giàu. Vì vậy mà không có thời gian để thở, để ăn, để nhìn con, nhìn vợ, và cứ đi đi về về như một mũi tên. Nhiều khi phải đi công tác xa nhà đến năm bảy ngày. Cũng không có thời gian gọi điện thoại về cho vợ, cho con. Thành ra vợ con của ông nhà giàu đó không có hạnh phúc.

Ông có đem tiền về thật, nhưng hạnh phúc đâu phải được làm bằng tiền? Tiền có thể giúp được một phần nào, nhưng hạnh phúc là sự thương yêu, và thương yêu là phải có mặt cho nhau. Ông ta không có thời gian để ăn cơm với con, ngồi chơi với con, hay nắm tay con đi dạo. Vì vậy mà lúc nghe bố hỏi, cậu bé đã trả lời: “Con chỉ muốn bố thôi!”  Ông ta liệu có thức tỉnh được hay không thì không thấy nói!

Trong chúng ta có biết bao nhiêu người bị kẹt vào cái thế đó. Cho nên ta phải thực tập. Phải biết nói tội nghiệp quá! Trong quá khứ mình chưa bao giờ có mặt với con mình, có mặt với vợ mình! Chắc là mình phải thay đổi! Ông ta phải thả đi một số bò, để trở lại với vợ, với con, với cuộc sống trong hiện tại.

 

Trong số những người thiền sinh đến Làng Mai để tu học, có những người đã chứng tỏ khả năng thả bò của họ. Họ thấy cuộc sống của họ không có hạnh phúc, họ đã chạy theo sự thành công về sự nghiệp, mà họ không thật sự sống sâu sắc những giây phút hằng ngày. Họ không có thì giờ để thương, để hạnh phúc, cho nên khi trở về sau khóa tu họ đã thức tỉnh và thả được những con bò rất to. Đừng nói rằng không có sự giác ngộ. Nếu không giác ngộ thì làm sao người ta chịu thả những con bò to như vậy? Nếu nghé mà ta cũng không có khả năng thả được thì bò làm sao mà thả cho được?

 

Nhiều khi với các thầy, các sư cô, mình nói đùa rằng ngôi chùa của mình cũng là một con bò, vướng vào con bò đó mình không có thì giờ để thở, để đi thiền hành, để ngồi uống trà; để sử dụng con mắt của Bụt, lỗ tai của Bụt, cái mũi của Bụt, hai bàn chân của Bụt.

Những thứ đó đã được thầy trao truyền rồi, nhưng vì “rét”, mình không thả được. Thành ra ở Làng Mai, chúng ta phải dùng lỗ tai của thầy trao truyền, phải dùng con mắt của thầy trao truyền, cái mũi của thầy trao truyền, bàn tay của thầy trao truyền, hơi thở của thầy trao truyền. Đó là có hiếu. Dòng giống thánh, và hạt giống thánh chủng, mà nối tiếp được là do những thứ ấy, chứ không phải là do chúng ta xây được ngôi chùa lớn, hay làm được những “Phật sự” lớn. Phật sự lớn nhất là có mặt và sống sâu sắc những giây phút của đời sống hàng ngày để có thể tỏa chiếu an lạc, và hạnh phúc. Pháp thân là bài thuyết pháp hay nhất.

Thành ra nếu người cha ấy giác ngộ và thả được những con bò. Có thể một hôm nào đó, ông ngồi xuống bên đứa con mỉm cười và nói: “Con ơi! con biết không? Bố đang có mặt đây cho con” và thật sự anh ta làm được. Tâm anh ta không nghĩ đến công việc. Tâm của anh hiện giờ đang có mặt với con. “Trời ơi, mấy ai có đứa con trai dễ thương như vậy?” Hai cha con nắm tay nhau, thì bỗng nhiên nơi đó trở thành thiên đường, và đứa bé sẽ có hạnh phúc tức thì.

Chăm sóc giây phút hiện tại là xây dựng tương lai

Mỗi khi lên Xóm Thượng, tôi đi trên Xóm thượng như đi trên một thiên đường. Tôi nắm tay và cùng đi với những người đệ tử của tôi rất hạnh phúc. Mỗi khi đi ở Xóm Mới, hay Xóm Hạ tôi đều thấy như vậy. Mình phải có mặt cho nhau. Mình phải có hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Đó là cách thức hay nhất để đầu tư cho tương lai. Tại vì tương lai chỉ được làm bằng một chất liệu thôi, đó là hiện tại. Làm cho chất liệu của hiện tại có phẩm chất, thì tự nhiên mình có một tương lai tươi sáng. Còn lo lắng cách mấy cũng không có tương lai. Tại chất liệu lo lắng, bồn chồn không thể nào làm nên một tương lai đẹp. Chỉ có chất liệu hạnh phúc hiện tại thì mới làm được một tương lai đẹp mà thôi.

Đây là một quá trình rèn luyện và thực tập. Cho nên khi quý vị về Làng Mai, và nghĩ rằng mình chỉ nghe pháp thoại rồi đem về nhà mới thực tập, thì không được. Tại vì Làng Mai là môi trường thuận tiện để thực tập chuyện này. Tức là làm thế nào để nó trở thành một thói quen, rồi đến khi về trú xứ, mình mới thực tập được. Còn nếu trong thời gian ở tại Làng Mai mà mình không tạo được thói quen này, thì khi về thành phố của mình, mình sẽ không làm được. Ở thành phố mình khó thực tập lắm. Tại vì tất cả mọi người đều chạy, không ai có khả năng an trú. Ít người biết sống sâu sắc trong giây phút hiện tại.

Do đó nếu quý vị ở được hai tuần hay hai tháng, thì trong thời gian đó mình phải quyết tâm tập cho được nếp sống này để nó trở nên một thói quen tốt, một tập khí tốt. Trong khi tập luyện như vậy, mình có hạnh phúc liền lập tức.Vì đó là giáo pháp Hiện pháp Lạc trú. Quê hương đích thực của hình, tịnh độ của mình nằm ngay tại đó, trong giây phút ấy, chứ không phải trong không gian khác, hay trong thời gian khác. Bây giờ hay là sẽ không bao giờ. Đó là nguyên tắc của chúng ta.

Nhắc lại câu linh chú thứ nhất: “Bố ơi, mẹ ơi, con biết là bố đang có mặt đó, và con rất có hạnh phúc.” Quý vị cứ làm đi! Khi tam nghiệp hợp nhất thì chắc chắn thành công, nó tạo ra một sự biến chuyển lớn liền lập tức, hạnh phúc sẽ có liền lập tức. Hãy thực tập với ngôi sao Mai, với trăng Rằm; hãy thực tập với lá sồi, với sư anh, sư chị.

Cũng nhắc lại câu thần chú thứ hai là “Mẹ ơi, con đang thật sự có mặt bên mẹ đây!”. Tại vì món quà lớn nhất mà mình có thể hiến tặng cho người thương của mình là sự có mặt đích thực của mình. Nếu không có mặt thì làm sao anh thương? Mà có mặt không phải là chuyện dễ. Phải thực tập mới có mặt được. Phải biết nghệ thuật thở chánh niệm, phải có nghệ thuật thả bò, buông bỏ những lo lắng, suy tư, tham vọng, khổ đau, giận hờn thì mới thật sự có mặt cho người mình thương được.

Trong những buổi pháp đàm, chúng ta phải bàn với nhau, phải chia sẽ cho nhau, người này đã làm như thế này, đã thành công như thế kia, người kia chưa thành công được là tại vì kẹt cái này, kẹt cái khác. Chúng ta phải tới với nhau như một tăng thân để chia sẻ kết quả của những thực tập đó. Và chiều hôm đó sau buổi pháp đàm, chúng ta đem ra thực tập liền. Có như vậy thì chúng ta mới xứng đáng với kỳ vọng, và trông đợi của Bụt, của Tổ và của Thầy.

 

 

 

 

 

Thư gửi me

 

(Sư cô Bảo Nghiêm là một vị giáo thọ của Làng Mai, xuất gia năm 1991 trong gia đình Con Sư Tử. Sư cô hiện đang tu học tại xóm Mới, Làng Mai, Pháp. Dưới đây là lá thư Sư cô viết cho người mẹ quá cố của mình.)

Xóm Mới, ngày 20.12.2019

Me yêu quý,

Ở Làng Mai bây giờ cũng treo một cái đồng hồ “quả lắc”. Nghe tiếng chuông con nhớ tiếng chuông đồng hồ nhà ta ngày xưa. Hồi đó, còn nhỏ nên con rất thích nghe nó như nghe một bài hát. Có khi con bắt chước hát theo tiếng chuông trầm bổng và những tiếng điểm giờ. Con gõ theo boong boong bằng miệng rất vui. Tiếng gõ của đồng hồ Làng Mai giản đơn và ngắn gọn hơn nhiều. Không có tiếng dạo nhạc trước mỗi nhịp gõ điểm giờ.

Cứ mỗi giờ thì nó lại báo hiệu bằng điệu nhạc:

Tính tang tang tình

Tình tang tính tang

Táng tinh tinh tàng

Tàng tinh tính tang

Hết điệu nhạc dạo thì có tiếng chuông gõ điểm giờ. Cứ mỗi mười lăm phút thì lại có nhạc dạo. Tại Làng Mai mỗi khi nghe chuông mọi người đều ngừng lại để thở và nhiếp tâm vào chánh niệm. Tiếng chuông đồng hồ cũng là tiếng gọi của Bụt để ta quay về với hơi thở, đem tâm ý mình về một mối để an trú trong sự sống hiện tại. Hiện tại là tiếng chuông thì phải thở theo tiếng chuông. Thở vào “tính tang”. Thở ra “tang tình”. Cứ như thế đừng quên. Khi có nhịp gõ điểm giờ thì me thở vào theo một tiếng “boong”, thở ra theo một tiếng “boong” cho đến khi hết gõ. Me làm được như thế thì cái đồng hồ nhà ta sẽ trở nên một người bạn vui tính của me.

Me yêu quý, con mong rằng lá thơ này sẽ làm cho me vui và nở được nụ cười với con.

Và nhờ sự thực đó, dù hai me con mình thật quá xa xôi mà có thể lại hóa ra gần.

Con thương me nhiều lắm.

Con của me.

Chân Bảo Nghiêm

 

Mùa Hè 2020 – Mận Làng

 

Mùa này ở Làng, chỉ cần đi dạo quanh đồi mận, ta sẽ cảm nhận được mùi mận chín ngọt và thơm lừng trong nắng ấm. Cầm trên tay trái mận, ta có thể thấy cả quá trình từ lúc chỉ là hạt mầm ươm mình trong đất, cho đến khi đơm hoa và kết trái. Trong lòng trái mận nhỏ chứa đựng cả vũ trụ bao la, nắng, mưa, đất, nước, không khí, và cả tấm lòng của những em bé ngày xưa đã gây quỹ cho trẻ em đói Việt Nam,…

Mận ở Làng được trồng theo phương pháp hữu cơ. Những cây mận đã quen thuộc với hình ảnh của quý thầy quý sư cô, với những bước chân thiền hành, và lời kinh tiếng kệ sớm hôm. Mận sau khi thu hoạch sẽ được sấy khô hoặc làm mứt để dành. Nếu có dịp tới Làng, bạn sẽ được thưởng thức mứt mận vào mỗi bữa sáng. Đó là một món đặc sản mộc mạc mà thiền sinh nào sau khi tham dự khóa tu cũng muốn mang về  làm quà.

Mời các bạn buông thư, thở nhẹ, mỉm cười và tận hưởng những khoảnh khắc hái mận, làm mứt mận cùng quý thầy quý sư cô.

 

 

Cái này có vì cái kia có

 (Sư cô Hội Nghiêm chuyển ngữ từ cuốn sách “Being Peace” của Sư Ông Làng Mai )

Đức Bụt dạy chúng ta rằng: “Cái này có vì cái kia có”. Em có thấy không, vì em mỉm cười cho nên tôi hạnh phúc. Nhờ cái này có nên cái kia có, nhờ cái kia có nên cái này có. Đó gọi là duyên sinh. 

Giả sử anh và tôi là hai người bạn. Thì an lạc, hạnh phúc của tôi tùy thuộc rất nhiều vào anh và niềm an lạc, hạnh phúc của anh cũng tùy thuộc rất nhiều vào tôi. Tôi có trách nhiệm đối với anh và anh có trách nhiệm đối với tôi. Bất cứ tôi làm sai điều gì anh cũng khổ đau và bất cứ anh làm sai điều gì tôi cũng khổ đau. Vì vậy để chăm sóc cho anh thì tôi phải chăm sóc cho chính tôi. 

 

 

 

Trong tạng Pali có kể một câu chuyện về hai cha con làm xiếc. Người cha đặt một cây tre dài trên trán, và người con gái leo lên đứng trên cây tre ấy. Hai cha con hành nghề như thế để kiếm tiền mua gạo và thức ăn. Một ngày nọ, người cha nói với người con: “Con ơi, mình phải chăm sóc cho nhau. Con phải chăm sóc cho cha và cha phải chăm sóc cho con để hai cha con mình được an toàn. Tiết mục biểu diễn của mình nguy hiểm quá”. Bởi vì nếu người con rơi xuống thì cả hai sẽ không còn có thể kiếm sống được nữa. Có thể người con sẽ bị gãy chân và họ sẽ không có gì để ăn cả. “Con ơi, mình phải lo cho nhau để tiếp tục sinh sống”.

Đứa con gái rất thông minh. Nó nói: “Cha ơi, cha phải nói như vậy nè, mỗi người chúng ta phải tự chăm sóc cho chính mình, cha phải chăm sóc cho cha, con phải chăm sóc cho con để chúng ta có thể tiếp tục kiếm sống được. Bởi vì trong khi biểu diễn cha phải lo cho cha, cha chỉ cần lo cho mình cha thôi. Cha phải giữ thật vững và phải rất tỉnh táo. Điều đó sẽ giúp cho con. Và khi con leo lên thì con cũng phải tự lo, và bảo hộ cho chính con. Con leo rất cẩn thận, không để bất cứ điều sai lầm nào xảy ra. Cha phải nên nói như vậy, cha ạ. Cha lo cho cha đàng hoàng và con sẽ lo cho con đàng hoàng. Như vậy thì chúng ta mới có thể giữ an toàn cho nhau và tiếp tục kiếm sống được.” Đức Bụt cũng đồng ý là người con gái nói đúng hơn. 

Vì vậy, là anh em, hay bạn bè thì hạnh phúc của chúng ta tùy thuộc vào nhau rất nhiều. Theo như giáo lý này thì tôi phải chăm sóc tôi và bạn phải chăm sóc cho bạn. Bằng cách đó chúng ta sẽ nâng đỡ, và yểm trợ nhau rất nhiều. Đây là cách nhìn hay nhất. Nếu tôi chỉ nói: “Bạn không được làm cái này, bạn phải làm cái kia” mà trong khi ấy tôi không chăm sóc tôi cho đàng hoàng, tôi toàn gây ra những sai sót thì câu đó chẳng giúp ích gì được cả. Tôi phải biết cách chăm sóc tôi, tôi biết là tôi phải có trách nhiệm cho hạnh phúc của bạn. Và nếu bạn cũng làm được như vậy thì mọi chuyện sẽ an ổn. Đó là cách nhận thức dựa trên nguyên lý duyên sinh. Đạo Bụt rất đơn giản, ai cũng có thể học hỏi và thực tập được. 

 

Sư Thúc – người Thầy khả kính

Làng Mai, 09/ 08/ 2009

Từ phương xa con xin hướng trọn lòng mình về đất thiêng chùa Tổ.

Sư Thúc kính thương!

Đêm qua, trời trở gió và đến giữa khuya thì đổ mưa. Mưa suốt từ đó cho đến chiều nay mới tạnh. Ở Làng bây giờ đang là mùa hè mà lại có một cơn mưa, rất Huế. Mưa tưới mát cho cả núi rừng sau những ngày nóng bức. Mưa làm cho con nhớ về chùa Tổ và nghĩ đến Sư Thúc nhiều hơn.

Chiều hôm qua, các anh chị em chúng con ở các xóm đã tập trung về Thiền đường Chuyển Hóa – xóm Thượng để làm lễ tưởng niệm và thọ tang Sư Thúc. Chúng con đã ngồi thiền, tụng Tâm kinh. Thượng tọa Thích Minh Tuấn dâng hương cúng dường lên Bụt và Sư Thúc. Thường thì sau khi xướng hương xong sẽ có thị giả đem hương dâng Bụt nhưng lần này Thượng Tọa tự mình làm việc ấy. Dáng điệu của Thượng Tọa rất cung kính khi cắm hương vào bát hương trước di ảnh của Sư Thúc. Đại chúng ai cũng cảm được tình huynh đệ của Thượng Tọa gửi tới Sư Thúc. Sau đó, Thầy Trung Hải xướng lên những bài kệ tán thán công hạnh của Sư Thúc trước khi thọ tang. Những bài kệ rất hay. Kế đến, các anh chị em chúng con ai cũng đều  nhận một chiếc tang màu vàng để cài lên áo, đó là biểu tượng nhắc nhở rằng sư thúc đang có mặt trong mỗi người chúng con.

Nhớ đến những ngày tháng sống ở chùa Tổ, có cơ hội gần gũi và được Sư Thúc nâng đỡ dìu dắt, con cảm thấy rất ấm lòng.

 

 

Ở chùa Tổ các anh chị em chúng con ai cũng biết Sư Thúc có đức hạnh rất đặc biệt. Người rất thương cây cối. Mỗi năm Sư Thúc đều trồng thêm rất nhiều cây, để bù lại cho những cây đã chết và để làm cho đất Tổ thêm xanh tươi mỗi ngày. Vào năm ấy, bão lớn làm gãy đổ nhiều cây. Sau khi ra thăm vườn, lòng Sư Thúc buồn rười rượi. Tuy thế, Người đã dạy chúng con chỉ chặt bỏ những cây không thể cứu vãn được. Còn những cây chỉ mới nghiêng thôi, chưa ngã đổ thì mình phải chăm sóc, dùng dây mà kéo lên, vun gốc lại cẩn thận. Nhờ vào tình thương của Sư Thúc, những cái cây ấy có thêm cơ hội để sống. Khi nghĩ về tăng thân chùa Tổ, được Sư Thúc bao bọc và chở che, con càng thấy được tấm lòng từ bi độ lượng của Người. Đôi khi, trong tăng thân cũng có một vài sư em còn vụng về, yếu kém, nhiều lúc làm phiền lòng Sư Thúc và đại chúng. Nhưng Sư Thúc vẫn thương, vẫn ôm ấp và dạy dỗ để sư em đó tiếp tục được tu học trong chúng. Có lần, con nhớ có một sư chú đã bỏ chúng mà đi được mấy năm, nay lại trở về xin nương tựa Sư Thúc và đại chúng. Sư chú ấy không được dễ thương lắm nên đại chúng còn đang phân vân thì Sư Thúc dạy chúng con: “Đánh kẻ chạy đi chứ ai mà nỡ đánh người chạy lại”. Lời dạy từ bi ấy đã thấm sâu vào trong tâm khảm con.

Các điệu rất thích lên thất Sư Thúc để chơi, con cũng vậy. Con rất thích được nghe Sư Thúc kể chuyện. Những câu chuyện hay và thú vị. Chuyện nào mà Sư Thúc kể cũng đem lại cho chúng con một trận cười thiệt đã. Cười xong rồi thì hết buồn, và hết luôn cả lo lắng. Vì vậy, mỗi khi thấy trong người hơi mệt, con lại tìm lên thất và xin được ngồi chơi với Sư Thúc. Các điệu lần nào lên chơi cũng được Sư Thúc đãi bánh kẹo. Đó là những niềm vui rất lớn của các em. Anh chị em chúng con mỗi khi lên thăm thì cũng đều được nghe Người kể chuyện và cho ăn bánh. Sư Thúc mời một lần mà không ăn thì Sư Thúc lại mời lần thứ hai, rồi lần thứ ba nữa. Có những câu chuyện Sư Thúc kể, chúng con nghe đến mấy lần mà vẫn thấy vui vì người kể chuyện rất có duyên. Chúng con vui đã đành, mà Sư Thúc cũng rất vui. Một lần đó, có một người học trò của Sư Thúc đi học ở xa về thăm người. Sư Thúc mở hộp bánh, lấy một cái và đưa cho người học trò của mình. Người học trò mới thưa là “con đã ăn cơm no rồi”. Một lát sau, Sư Thúc lại mời thêm lần nữa. Nhưng người học trò ấy cũng chắp tay xin không nhận. Nói chuyện được một lúc, thì Sư Thúc lại mời thêm một lần nữa: “Kệ, con ăn một cái cho vui”. Nhưng người học trò ấy cũng xin không lấy, lý do cũng như trên. Lúc đó Sư Thúc mới nói: “Thầy mời con đến lần thứ ba rồi, con không ăn thì cầm một cái cho Thầy vui. Nếu người ta có mời con mà con không ăn thì cũng nhận để cho người ta vui, không thì mất lòng. Huống nữa Thầy là Thầy của con”.

Lúc đó con đang đứng sau lưng Sư Thúc để hầu trà và con rất thấm thía, trong những lời mắng yêu ấy chứa đựng cả tấm lòng từ bi và thương học trò vô hạn.

Có một bữa, Sư Thúc nói với con:

“Thầy chỉ thích các con gọi Thầy là Thầy thôi. Gọi “Ôn” là để dành cho quí ôn Hòa thượng, chứ Thầy còn nhỏ lắm”. Nhưng vì kính trọng Sư Thúc cho nên con vẫn thường gọi Sư Thúc là “Ôn”, “Thưa Ôn”. Nghe Sư Thúc dạy mà con cảm nhận được trong đó đức khiêm cung của người. Sư Thúc không còn kẹt vào địa vị và danh từ nữa.

Con nhớ là thầy Từ Đạo cũng có lần nói như vậy với chúng con trong một buổi pháp đàm ở nhà Thủy tạ. Là Thầy cũng thích các anh em gọi Thầy là Thầy thôi. Con cũng thích như vậy. Gọi Thầy thì tự nhiên thấy gần gũi hơn. Con cũng đã tập gọi như vậy nhưng nhiều khi cũng bị lẫn lộn và con đã mỉm cười với thói quen đó của con.

Sư Thúc kính thương!

Bên hông chánh điện chùa Tổ có một câu chữ Hán, nghĩa của nó là:

“Rừng thì không thể thiếu cây to

Tòng lâm không thể vắng bóng bậc trưởng thượng”

Con thấy đức tính đó nơi Sư Thúc. Người ít khi đi ra ngoài mà dành nhiều thời gian ở chùa, Người có mặt đó để sách tấn đại chúng “hạ thủ công phu”. Sư Thúc đã dành rất nhiều thời gian và công sức để dạy dỗ và nâng đỡ chúng con trên con đường tu tập. Vào những đêm sáng trăng, Sư Thúc thường mắc võng bên hông liêu gần tháp tổ khai sơn để ngắm trăng. Chúng con cũng thường xuống đó ngồi chơi và ngắm trăng với Người. Đó là khoảng thời gian rất đẹp mà chúng con được gần gũi bên Người. Có một hôm, Sư Thúc ngồi trên võng, hai chân đặt vững chãi trên đất, Người nói rằng: “ Thầy không muốn làm gì hết. Chỉ muốn sống bên cạnh Tổ để phụng sự Bụt, và phụng sự Tổ thôi.”

 

 

Dưới ánh trăng khuya, trong thế ngồi vững chãi, hai bàn chân tiếp xúc với đất Tổ, Sư Thúc đã cất lên những lời nói rất dõng dạc đó. Con thích chiêm ngưỡng hình ảnh ấy của Sư Thúc.

Thượng tọa Thích Thái Hòa, vị giáo thọ lớn đã từng ở chùa Tổ nhiều năm để dẫn dắt các anh em học tăng chúng con tu học cũng đã từng nhiều lần nhắc nhở chúng con rằng: “Ôn trú trì là người mà Bụt, mà Tổ đã bổ xứ, quí thầy coi mà nương tựa không thì lại mang tội!”

Nhờ những lời dạy đó của Thượng Tọa mà niềm tin nơi Sư Thúc trong con càng thêm vững chãi. Tuy tuổi đã cao, lại thêm trong người có bệnh, vậy mà không lúc nào Sư Thúc không để tâm đến đại chúng. Từ việc phơi củi, xay lúa, đi chợ, nấu ăn, quét sân..v.v, cho đến việc sách tấn, tuần liêu để đánh thức chúng con dậy đi công phu. Vì còn trẻ tuổi cho nên trong chúng con ai cũng có những kỷ niệm với Sư Thúc, khi Người thức chúng con dậy đi công phu. Tất cả những việc ấy đã thể hiện tấm lòng phụng sự Tam Bảo hết mực của Sư Thúc.

Có một câu chuyện vui mà con được nghe một sư chú kể lại. Chuyện xảy ra vào một buổi sáng nọ. Ở chùa Tổ, mỗi buổi sáng ai cũng có việc để chấp tác, từ quý Thầy lớn cho đến các điệu nhỏ. Vì chùa thuộc về thiền tông cho nên còn giữ được nếp sinh hoạt đó. Công việc quét lá cần nhiều người hơn hết. Không may, hôm ấy sư chú đã bị ai đó lấy mất cái chổi. Thế là sư chú đi lòng vòng để tìm xem ai mượn chổi của mình. Khi đi ngang qua hồ Bán Nguyệt thì sư chú gặp Sư Thúc. Đó là lần thứ nhất sư chú bị Sư Thúc bắt gặp. Thường thì vào mỗi buổi sáng Sư Thúc hay đi dạo quanh chùa, nếu Sư Thúc gặp sư chú hay điệu nào mà chưa đi làm việc thì đều được người “hỏi thăm”. Cũng thiệt đúng là xui cho sư chú đó, vì đi vòng vòng cố tìm cho ra cái chổi mà sư chú gặp Sư Thúc đến lần thứ ba. Buổi sáng chưa chấp tác mà gặp Sư Thúc đến ba lần thì thật là xui xẻo. Sư chú chia sẻ với con là sư chú rất buồn vì bị thầy rầy và đã rất giận vì bị mất cái chổi. Sau khi quét lá xong, sư chú trở về phòng thì nhìn thấy Sư Thúc từ dưới nhà Báo Đức Đường đưa tay vẫy gọi sư chú. Sư chú cũng không biết là có chuyện gì nữa. Vừa đến nơi thì Sư Thúc đã nắm tay sư chú  và dẫn vào phòng rồi bẻ cho sư chú một trái chuối. Chỉ có thế thôi, mà sư chú không còn buồn Sư Thúc nữa. Con thấy cách Người thực tập làm mới rất là hay.

Có lần Sư Thúc tâm sự: “Mỗi khi đi ra vườn Thầy thấy các anh em làm việc thì Thầy hay đóng góp ý kiến để công việc được tốt hơn. Nhưng nghĩ lại, thấy bệnh của mình còn lo chưa xong mà đi lo đến chuyện khác làm gì. Nghĩ như vậy, cho nên Thầy đã buông bỏ được rất nhiều thứ.”

Đó là vào những ngày tháng cuối đời của Sư Thúc. Con nhớ thời gian ấy, bệnh của Sư Thúc nặng hơn, cơ thể luôn đau đớn, lại không ngủ được nên Sư Thúc thường dậy rất sớm. Sau khi uống trà, Người ra trước Thất Lắng Nghe ngồi thiền. Có hôm Sư Thúc mở kinh Lăng Nghiêm do Ôn Chí Niệm tụng để nghe. Và Người thỉnh mõ đều đều theo tiếng tụng kinh trầm hùng của sư huynh mình. Tụng kinh xong, Người thực tập bái sám. Sư Thúc có nói là mỗi khi xướng lên một danh hiệu Bụt hay Bồ tát thì Sư Thúc lạy xuống trong tư thế năm vóc sát đất, hai bàn tay mở ra và đọc thầm bài kệ sám hối:

“Con đã gây ra bao lầm lỗi

Khi nói, khi làm, khi tư duy

Đam mê, hờn giận và ngu si

Hôm nay con cúi đầu xin sám hối

Một lòng con cầu Bụt chứng tri

Bắt đầu hôm nay nguyện làm mới

Nguyện sống đêm ngày trong chánh niệm

Nguyện không lặp lại lỗi lầm xưa.

Nam mô Cầu Sám Hối Bồ tát  (3lần)”

Với cái lạy nào Sư Thúc cũng thực tập như vậy cho nên Người lạy rất đều, lạy nào cũng chừng ấy thời gian. Lạy xong, thì trời vẫn còn chưa sáng nên Người thường đi quanh Thất Lắng Nghe để tập thở. Thở vào và niệm “Nam mô Bụt” và thở ra Người niệm “A Di Đà”. Có khi, Sư Thúc niệm danh hiệu của đức Bổn sư hoặc là Bồ Tát Quán Thế Âm. Khi trời đã gần sáng thì Sư Thúc đi xuống tăng xá đốc thúc các sư chú, các điệu đi ngồi thiền tụng kinh. Đó là những tháng ngày con được gần gũi bên Sư Thúc nên đã được nghe Người chia sẻ về những sự thực tập đó. Thời gian ấy, Thượng Tọa Thích Trí Tựu cũng thường về thăm và chơi với Người. Có những khi Sư Thúc nhức mỏi không ngồi ghế được mà chỉ nằm trên võng thì Thượng tọa cũng xin không ngồi ghế mà ngồi trên sàn gạch thôi. Sư Thúc và Thượng tọa trò chuyện cùng nhau gần gũi và thân mật như người một nhà. Thượng tọa cứ nhắc Sư Thúc hoài: “ khi mô rảnh thì Ôn cho các điệu chùa Tổ lên giao lưu với các điệu trên chùa của em. Các điệu lên chơi, ăn cơm và hát hò với nhau, tiền taxi em sẽ lo”.

Thượng tọa lúc nào cũng xưng là “em”với “Sư Thúc”. Anh em con rất được nuôi dưỡng bởi những hình ảnh dễ thương đó. Chỉ ngồi lắng nghe thôi mà chúng con đã rất hạnh phúc. Mỗi buổi chiều, Sư Thúc thường gọi mấy anh em con lên để ăn cơm cùng. Ngồi ăn đông người thì Sư Thúc vui và dùng cơm được nhiều hơn. Có lần, Người nói:  “May mà Thầy đi tu chứ ở nhà thì làm gì mà mỗi chiều có bảy, tám người con trai lên ngồi chơi với mình”.

Con nghĩ đó là những ngày tháng rất hạnh phúc và bình an của Sư Thúc, mà đó cũng là những ngày tháng đáng nhớ của anh em chúng con. Sư Thúc rất trân quý giá trị cuộc đời tu của mình. Mỗi lần có dịp được lên chơi với Sư Thúc ở thất Lắng Nghe, nếu hôm đó Sư Thúc không mệt, có thể ngồi trên ghế thì Sư Thúc cũng chỉ ghế để cho chúng con ngồi. Nhưng chúng con lại thích ngồi dưới sàn hơn. Sư Thúc thương chúng con như con ruột của mình nên không còn phân biệt địa vị nữa. Tình thầy trò trở nên thân thiết và sâu đậm.

Hôm ấy, trong khi đang xoa bóp cho Sư Thúc, thấy Sư Thúc tuổi đã cao mà bệnh lại nặng, con chợt nghĩ đến một ngày nào đó Sư Thúc sẽ ra đi. Lúc ấy, trong con đi lên ý thức chánh niệm là con cần phải thực tập nhận diện Sư Thúc qua một hình tướng mới. Để con có thể ít đau buồn và nuối tiếc khi Sư Thúc ra đi. Con nghĩ đến các điệu và con thấy rất rõ các điệu là sự tiếp nối của Sư Thúc, là một phần của Sư Thúc. Bên cạnh đó còn có các Thầy và các anh chị em chúng con nữa. Sau đó, con đã xin Sư Thúc cho phép con được chăm sóc cho các điệu. Sư Thúc đã ủng hộ và yểm trợ con, Người đã photo sách Nhật Tụng Thiền Môn bằng chữ Hán để con kèm cho các điệu học. Con cũng có dạy cho các em thực tập Sám Pháp Địa Xúc, theo dõi hơi thở và tập thỉnh chuông nữa. Các điệu rất ngoan và học giỏi. Con thấy các em có khả năng tiếp nhận những pháp môn mới mà Sư Thúc đã dạy cho chúng con thực tập mỗi ngày.

Tuy Sư Thúc đã ra đi, nhưng kỳ thực là Sư Thúc vẫn đang còn ở đó. Sư Thúc đã để lại một tăng thân, đó một món quà rất quý báu cho đất Thần Kinh cố đô. Con nghĩ rằng, đó là gia tài quí giá nhất mà Sư Thúc đã hiến tặng cho cuộc đời. Qua đó, mọi người có thể thấy công hạnh của Người. Sư Thúc mang trong mình chí nguyện của của các thế hệ Tổ sư đi trước. Các Thiền sư vào những năm 30 đã để rất nhiều tâm huyết đến việc phục hưng Phật giáo, mà âm vang vẫn còn tiếp tục và tuôn chảy mãi trong mạch sống của Tăng già Thừa Thiên cho đến ngày hôm nay. Dù Sư Thúc không hề nói một lời nào đến việc đó nhưng Sư Thúc đã tiếp nối và hoàn thành  chí nguyện ấy một cách rất xứng đáng. Mỗi khi nghĩ đến điều ấy, con cảm thấy kính ngưỡng Người hết mực. Thành quả đó cũng là nhờ rất nhiều vào sự ủng hộ của chư tôn đức trong sơn môn.

 

 

Con rất biết ơn Sư Thúc. Trong những năm tháng con được sống và nương tựa Sư Thúc, nhờ tình thương và lòng lân mẫn của người mà con đã lớn lên rất nhiều. Đất Tổ linh thiêng đã hun đúc và hiến tặng cho cuộc đời nhiều vị tổ sư xuất chúng. Và hôm nay, thế hệ con cháu chúng con rất hạnh phúc khi nghĩ đến dòng tổ tiên tâm linh lại có thêm Sư Thúc – một bậc Thầy khả kính. Sư Thúc đã tu tập thành công trong kiếp này. Chúng con cũng nguyện nối gót của Người. Tiếp nối và giữ gìn gia tài tâm linh mà các thế hệ Tổ sư và Sư Thúc đã dày công trao truyền.

Đây là những lời mộc mạc mà chân thành nhất, nương vào năng lượng từ bi của Sư Thúc cho nên con mới dám bộc bạch.

Sư Thúc kính thương! Nếu có dịp về chùa Tổ thì con sẽ lại được đi thiền hành trên những con đường đẹp, quanh hồ Sao Hôm,  hồ Sao Mai hay Lăng Viện. Thỉnh thoảng, các điệu làm biếng và không quét sạch lá ở đó, nhưng mà con thì lại thích như vậy. Mỗi khi đi ngang qua, bàn chân con được tiếp xúc với lá khô và con tập nhìn sâu hơn để thấy được sự lưu chuyển của rừng cây và của những những chiếc lá. Ở chùa Tổ, cứ vào cuối hè đầu thu, thì có rất nhiều lá sến rơi mỗi khi gió nhẹ thổi qua. Thỉnh thoảng, cũng có một vài chiếc lá bàng rơi rất ngoạn mục. Sư Thúc cũng là một trong những chiếc lá bàng đẹp trên đất Tổ. Người đã rơi một cách tự tại và an nhiên để rồi lại trở thành chất mùn nuôi dưỡng những mầm non tương lai.

Xin cho con đem hết lòng thành kính và biết ơn hướng về trước di ảnh và kim quan Sư Thúc đảnh lễ tam bái.

 

-(Chân Minh Hy)-