Một lá ngô đồng rơi

Nhạc Dân ca Pháp

Lời Việt: Sư Ông Làng Mai

Giọng hát: Quý thầy, quý sư cô Làng Mai

 

 

Một lá ngô đồng rơi

Có hay chăng người ơi

Một lá ngô đồng rơi

Thu đẹp đã về rồi (ĐK)

 

Lờ lững trên trời cao

Chiếu lên nước hồ xanh

Lờ lững trên trời cao

Mây bạc còn dựng thành (ĐK)

 

Rừng vi lô quạnh hiu

Sáo lên ru hồn ai

Rừng vi lô quạnh hiu

Nắng vàng ngập ruộng dài (ĐK)

 

Niềm thương trong lòng tôi

Thắm tươi không nhạt phai

Niềm thương trong lòng tôi

Thu đẹp vẫn còn hoài.(ĐK)

 

(Điệp khúc)

Ngàn chiếc lá còn rơi

Đỏ au hay vàng tươi

Ngàn chiếc lá rơi rơi

Bay vèo ngập cả trời.

Trị liệu các mối quan hệ trong gia đình

(Trích trong cuốn “Thiền sư và em bé 5 tuổi” của Sư Ông Làng Mai)

Chúng ta có khuynh hướng đổ lỗi cho người khác như thể họ với ta không hề dính líu gì với nhau cả. Ta phải nhìn sâu và đặt câu hỏi là: Chúng ta có cùng lớn lên mỗi ngày không? Chúng ta có hạnh phúc mỗi ngày không? Chúng ta có hòa hợp với chính mình và những người khác quanh mình không, những người dễ thương và những người không dễ thương?

Những gì người khác nói và làm không nhất thiết phải ảnh hưởng đến ta. Ta vẫn có thể chăm sóc chính mình. Chúng ta có thể cố gắng hết sức để thực sự giúp đỡ người khác thay vì phán xét, la mắng hay tạo ra chiến tranh quanh mình.

Khi tay trái bị thương ta không hề nói là: “Đồ ngu. Tại sao mày có thể làm như vậy?”. Chúng ta chăm sóc tay trái một cách tự nhiên để cho nó được chữa lành. Đây là cách mà ta đối xử với những người khác trong gia đình hoặc trong tăng thân ta, những người không mấy dễ thương, có nhiều khó khăn và dễ bị tổn thương. Chúng ta không nói: “Anh đối xử không dễ thương với tôi, anh phải thay đổi”. Chúng ta phải học cách chăm sóc những người ấy như cách ta chăm sóc cho bàn tay trái đang bị thương.

Sở dĩ ta giận một ai đó là do ta không có khả năng thấy được nhiều yếu tố trong người đó không phải là người đó. Chúng ta không thấy được người đó hành xử vì tập khí mà người đó được trao truyền lại. Khi hiểu được một cách sâu sắc hơn, ta có thể chấp nhận người đó dễ dàng hơn. Điều này cũng đúng với tự thân chúng ta. Khi chúng ta thấy được trong ta tất cả những yếu tố đến từ nhiều nguồn khác nhau, như cha mẹ, ông bà tổ tiên và môi trường thì chúng ta sẽ thấy được đa phần những tính nết khắt khe của chúng ta đến từ những gốc rễ, yếu tố khác nhau. Chúng ta có thể thấy rằng: “A, đây là ông nội, ông đang phán xét bạn mình”. Nếu để tâm đến những hành động tương tác qua lại của ta mà không phán xét, ta sẽ làm phát khởi ý thức chánh niệm, giúp ta hiểu được những suy nghĩ, lời nói, hành động của ta không phải do một mình ta tạo ra. Tổ tiên của ta tiếp tục biểu hiện trong ta mỗi ngày. Với sự hiểu biết này, chúng ta có thể tìm cách tháo gỡ những khó khăn giữa ta với người khác để tạo nên sự an lạc.

 

 

Tri giác sai lầm

Vì thường bị kẹt trong nhiều hình ảnh khổ đau của quá khứ nên chúng ta dễ xây dựng lên những tri giác sai lầm, dễ phản ứng lại với người khác và tạo ra nhiều khổ đau hơn. Giả sử như ta đang giận một ai đó, đó là do ta tin rằng người đó có chủ tâm, cố tình làm cho ta đau khổ, làm cho cuộc đời ta khốn đốn. Tri giác đó đưa đến sự giận dữ và phản ứng. Chính sự giận dữ và phản ứng này mang lại nhiều khổ đau hơn cho bản thân và cho tất cả những người có liên quan.

Thay vì đả kích nhau, chúng ta có thể sử dụng hơi thở chánh niệm hoặc đi thiền hành để chế tác sự tỉnh thức và tuệ giác. Chúng ta có thể thở vào thở ra để thấy được trong ta có những nỗi khổ niềm đau và tri giác sai lầm. Trong người kia cũng có những nỗi khổ niềm đau và tri giác sai lầm. Có thể chúng ta đã đạt được một sự thức tỉnh nào đó nhưng người kia có thể không có vì họ không biết cách nhận diện và xử lý nỗi khổ niềm đau để vượt thoát tình trạng khó khăn. Người ấy đau khổ, và người ấy làm cho bản thân cũng như những người chung quanh đau khổ.

Ngay khi nhận ra được điều này, ta nhìn người ấy bằng một cách khác. Ta thấy được nỗi khổ niềm đau trong người ấy và ta hiểu được rằng người ấy không biết cách xử lý khổ đau của họ. Khi chúng ta có khả năng thấy được nỗi khổ niềm đau trong người ấy, thấy được tình trạng của người ấy, lòng từ bi trong ta sẽ phát khởi. Khi từ bi phát khởi thì cơn giận được chuyển hóa. Chúng ta không hành động để trừng phạt bởi vì ta không còn giận dữ nữa.

Đây là sự can thiệp của tuệ giác. Nhờ tuệ giác mà ta được an toàn bởi vì tuệ giác giúp ta điều chỉnh lại tri giác sai lầm. Khi tri giác sai lầm không còn thì sự giận dữ, sợ hãi và tuyệt vọng cũng không còn. Ta sẽ phát khởi tâm từ bi và thiện chí muốn giúp đỡ.

Tư niệm thực (ước muốn của ta) là nền tảng căn bản của mọi hành động. Khi có tri giác sai lầm thì cái ước muốn của ta thúc đẩy, khiến ta phản ứng tạo thêm nhiều khổ đau hơn. Tuy nhiên nếu có tuệ giác, ước muốn của ta sẽ trở thành ước muốn tốt, trở thành nguồn tư niệm thực tốt. Chúng ta có cảm hứng muốn giúp đỡ mà không phải trừng phạt. Khi động cơ thúc đẩy của ta đi về hướng tích cực, ta sẽ thấy khỏe hơn nhiều cho dù ta chưa làm gì cả. Ta hưởng được lợi lạc từ sự thực tập này ngay lập tức. Người kia, người mà ta nghĩ đã gây khổ đau cho ta cũng sẽ hưởng được lợi lạc theo sau đó.

Trị liệu các mối quan hệ trong gia đình

Có thể cha ta xem ta như một thứ tài sản quý báu của cha, như nhà cửa, tiền bạc, xe hơi. Cha nghĩ rằng ta là con của cha, cha đã làm tất cả mọi thứ cho ta, và cha chỉ muốn ta đi theo con đường mà cha đã vạch ra. Cha không nghĩ rằng ta cũng là một con người như bao người khác có quyền được suy nghĩ, được hành động, được đi theo những gì mà ta tin là chân thiện mỹ. Tại sao lại có những người cha như thế? Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có những người cha rất khác, rất tâm lý, có khả năng đối xử với con mình một cách rất kính trọng, cho con quyền được tự do lựa chọn.

Nếu cha đối xử không tốt với ta, có thể là do cha ta thiếu may mắn. Nền giáo dục và môi trường của cha không dạy cho cha cách cảm nhận cũng như cách bày tỏ tình thương yêu và sự hiểu biết. Nếu ta đổ lỗi cho cha, nếu ta muốn trừng phạt cha thì cha ta chỉ khổ đau hơn mà thôi. Ngoài ra không có lợi lạc gì cả. Chúng ta không thể giúp đỡ cha bằng cách ấy. Nếu ta hiểu được rằng do cha mình thiếu may mắn thì cái giận của ta đối với cha sẽ tan biến. Ta sẽ thấy cha ta là người cần tình thương của ta mà không phải sự trừng phạt.

Tất nhiên, ta cũng cần giữ cho mình được an toàn. Nếu cha ta làm tổn hại ta vì cảm xúc hoặc hành động thì ta không nên đến gần cha. Tuy nhiên bỏ trốn cha cũng làm tăng thêm nỗi khổ đau cho cả hai bên. Nếu không thực tập chánh niệm với cha mẹ, chúng ta sẽ tạo ra địa ngục cho nhau.

Hễ khi nào cha mẹ và con cái xung đột, cãi cọ, la mắng nhau thì bao giờ con cái cũng thiệt thòi hơn, bởi vì con cái không được nói lại những lời mà cha mẹ đã nói với chúng. Cha mẹ có thể đánh con cái nhưng con cái không thể đánh lại cha mẹ. Cha mẹ có thể mắng nhiếc con cái nhưng con cái không thể mắng nhiếc cha mẹ. Vì chúng không thể bạo động lại như những gì chúng nhận được nên chúng trở nên bệnh hoạn. Những bạo động mà chúng nhận được vẫn còn đó trong chúng, và nó muốn tìm đường để thoát ra, muốn bạo động trở lại. Là một người trẻ, sở dĩ ta không đối xử tốt với bản thân, làm cho bản thân bị tổn thương là do ta không biết cách để cho những bạo động trong ta thoát ra ngoài. Chúng ta là nạn nhân của những bạo động mà ta nhận được từ cha mẹ và xã hội.

Đôi khi cha mẹ chúng ta cũng không đủ khéo léo và sáng suốt để không bạo động với con cái cho dù họ rất muốn thương yêu con cái, muốn làm cho con cái hạnh phúc. Tôi biết có một em thanh niên trẻ đang học ngành y khoa. Cha em là một bác sĩ. Em muốn mình là một người thuộc thế hệ trẻ, hành xử phóng khoáng hơn, và em hứa với lòng mình là lớn lên em sẽ không hành xử như cha em. Nhưng khi làm cha, em lại hành xử y hệt như cha mình. Em la mắng và phê bình con cái mỗi ngày.

Khi làm con, ta nguyện làm ngược lại những gì mà cha mẹ ta đã làm. Tuy nhiên khi có con, chúng ta thường lặp lại tập khí của cha mẹ. Đó là một vòng luẩn quẩn, nối tiếp những nỗi khổ đau trong cuộc sống từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chúng ta phải thực tập để chấm dứt vòng luân hồi này, dừng lại những tập khí của mình và không để cho chúng ảnh hưởng đến mối quan hệ của ta với con cái.

Cả hai thế hệ phải nhận diện được những bạo động đang hủy hoại chúng ta, hủy hoại những người ta thương yêu. Cả hai bên đều phải tìm cách nhìn sâu bởi vì cả hai đều là những nạn nhân. Con cái nghĩ rằng mình là nạn nhân của cha mẹ, và cha mẹ nghĩ rằng cha mẹ là nạn nhân của con cái. Chúng ta tiếp tục đổ lỗi cho nhau. Chúng ta không chấp nhận sự thật là bạo động có mặt trong cả hai bên. Vì vậy thay vì xung đột, cãi cọ, la mắng nhau, cả hai bên cha mẹ và con cái nên đến với nhau để tìm cách hòa giải. Không phải vì chúng ta khổ đau thì chúng ta tiếp tục làm cho người kia khổ đau. Bên nào cũng đều khổ đau nhiều vì cùng những nguyên nhân như nhau. Vì vậy, chúng ta cần những đồng minh chứ không phải là kẻ thù. Những nỗi khổ niềm đau trong ta cũng đủ giúp ta biết cách làm thế nào để không lặp lại những lỗi lầm đó nữa. Đức Bụt nói rằng: “Tất cả những gì xảy ra, ta phải quán chiếu sâu sắc vào bản chất của nó”. Một khi hiểu được bản chất của sự vật là ta đang đi trên con đường tự do giải thoát rồi.

Vì vậy hai bên phải đến với nhau, bạn đến với bạn, mẹ đến với con. Chúng ta đồng ý với nhau rằng cả hai bên đều đang khổ đau. Cả hai bên đều có những bạo động, hận thù và phiền não trong lòng. Thay vì chống đối hay đổ lỗi, chúng ta nên giúp đỡ và thực tập chung với nhau, nếu cần ta cũng có thể nhờ thầy hoặc tăng thân giúp đỡ.

 

 

Mở rộng trái tim

Tôi biết có một thanh niên trẻ rất giận cha và đã nói: “Con không có liên quan gì với cha cả”. Điều này cũng dễ hiểu. Anh ta nghĩ rằng tất cả những nỗi khổ đau của mình là do cha gây nên và anh ta không muốn dính líu gì đến cha cả. Anh ta muốn cắt đứt hoàn toàn mối liên hệ. Tuy nhiên, nếu nhìn sâu anh ta sẽ thấy rằng cho dù anh ta có giận cha mình đến tận xương tủy đi nữa thì người kia vẫn là cha mình, anh là sự tiếp nối của cha. Ghét cha tức là ghét mình. Không có cách nào khác hơn là chấp nhận cha. Nếu trái tim ta nhỏ bé thì ta không thể ôm ấp được người kia, vì vậy ta phải có trái tim rộng lớn hơn. Ta có thể làm mọi cách cho trái tim ta rộng lớn để có đủ không gian ôm ấp cha ta.

Nhìn sâu là sự thực tập duy nhất giúp cho trái tim rộng mở đến vô lượng, vô biên, không thể nào đo lường được. Một trái tim mà còn có thể đo lường được thì không phải là một trái tim lớn. Có bốn yếu tố để làm nên tình thương chân thật, gọi là tứ vô lượng tâm. Đó là từ (maitrī), bi (karuṇā), hỷ (muditā) và xả (upekṣā). Chúng ta thực tập bốn yếu tố này để biến trái tim ta thành vô lượng. Khi trái tim ta bắt đầu lớn rộng, chúng ta sẽ có khả năng dung chứa, chấp nhận bất kỳ loại khổ đau nào. Khi có khả năng ôm ấp nỗi khổ niềm đau trong lòng, ta sẽ không còn khổ đau nữa.

Đức Bụt ví trái tim rộng lớn giống như một dòng sông. Nếu có một chút bùn nhơ rơi vào ly nước thì ta không thể uống nước đó được mà ta phải đổ nó đi. Nhưng nếu ta thả chút bùn nhơ đó vào trong một dòng sông rộng lớn thì ta vẫn có thể sử dụng nước trong dòng sông ấy. Vì dòng sông lớn có khả năng chấp nhận chút bùn nhơ đó mà không ảnh hưởng đến dòng nước.

Khi trái tim ta bé nhỏ, ta không thể chịu đựng được nỗi khổ niềm đau do người khác và xã hội giáng xuống cho ta. Nhưng nếu trái tim ta rộng lớn thì ta có khả năng ôm ấp nỗi khổ niềm đau ấy và ta sẽ không khổ đau. Thực tập tứ vô lượng tâm là giúp cho trái tim ta rộng lớn như dòng sông.

 

Muôn dặm thênh thang

Bạn hiền thương quý,

Vậy mà đã hai mươi năm từ khi Thầy cùng với chúng tôi “leo đồi thế kỷ”. Đã hai mươi năm từ khi tôi về vùng rừng núi Escondido để rồi bài viết đầu tiên “Sư tử núi” ra đời. Hai mươi năm cho chặng đường đi không ngừng nghỉ, mà Tết nào cũng có người hỏi “Sư tử núi đến đâu rồi?”, dù tôi đã xin Ban biên tập những tựa đề khác cho bài viết mười mấy năm nay. Bài viết cho Lá Thư Làng Mai trở thành chứng nhân cho những gì xảy ra mỗi năm dù lắm lúc tôi quá làm biếng để “tìm về dĩ vãng”, tìm lại thông tin mà chỉ mới có một năm đã rơi rớt đâu đó trong bộ nhớ có giới hạn của mình.

Bây giờ, hai mươi năm, không lẽ không ghi gì để kỷ niệm cho cái mốc thời gian này? Nên giữa những bộn bề lo toan cho Tết, tôi lại thấy mình tâm sự với bạn hiền đây.

Tháng Một

Ngày đầu tiên của năm ngoái, tôi ngồi trên máy bay từ Mỹ về lại Việt Nam. Trong bụng nghĩ thầm không biết mình có ứng vào sao Thiên Mã năm nay không. Đi đâu chưa biết, thấy cái laptop “đi” trước, bị vấn đề trục trặc kỹ thuật mất mấy ngày mới sửa xong. May mà sửa được, nên tôi mới làm xong chuyện tổng kết tiền thân hữu cúng dường tu sửa chùa Từ Hiếu để chuyển qua thầy Từ Đạo cho kịp trước Tết. Các chị em sau ba tháng an cư bên Mỹ, bên Pháp, bên Đức rủ nhau về thăm Thầy. Toàn chị lớn gặp nhau nên vui quá, bao nhiêu là chuyện của các trung tâm được chia sẻ. Thầy cũng rất vui, rất tình cảm, nắm tay từng người. Tôi cầm tay Thầy thưa: “Chúng con ý thức chúng con có nhiều hạnh phúc được gần Thầy trong khi nhiều người muốn gần Thầy chút xíu mà không được”. Thầy gật đầu. Đôi khi chỉ cần ít phút ngắn ngủi bên Thầy mà niềm vui nuôi dưỡng thật lâu bền.

Giữa tháng Một, tôi đi Bangkok vài ngày để giúp làm triển lãm. Đa phần thầy Pháp Nguyện và tăng thân ở Thái Lan đã chuẩn bị xong, tôi chỉ giúp phần chót về triển lãm sách của Thầy thôi. Địa điểm triển lãm cũng là chỗ Trung tâm văn hóa và nghệ thuật Bangkok mà năm 2013 đã từng triển lãm thư pháp của Thầy. Kỳ này có triển lãm thêm một số các tác phẩm của Thầy bằng nhiều ngôn ngữ và pháp khí. Chúng tôi xin tăng thân các nước Đông Nam Á đem sách của nước mình tới nên số lượng sách nhiều hơn dự định. Thậm chí có nhiều cuốn được xuất bản lúc sau này mà tôi không biết. Các thầy và các sư cô trong ban tổ chức trang trí rất đẹp, rất thiền vị. Ở trung tâm triển lãm thiết kế logo chùa Một Cột của Làng Mai, bao quanh là những trình bày về pháp khí mà Thầy dùng để giảng dạy như chuông, ly uống trà, nến, hộp diêm,… Đề tài của buổi triển lãm là “Đón mừng sự sống”. Một cuốn sách song ngữ Anh – Thái về những bức thư pháp của Thầy được in thật trang nhã và đầy nghệ thuật.

Cuối tháng, trời đẹp, ban thị giả mời Thầy đi xem chợ hoa đón Tết. Sức khỏe Thầy khá nên Thầy gật đầu, làm ai cũng mừng. Xe Thầy chạy trước, ban thị giả và một vài thân hữu tình cờ đến thăm đi taxi theo sau. Chiếc xe chạy vòng qua những con đường đầy hoa Tết rồi vào Thành Nội. Nhiều người quá nên Thầy không xuống xe vào thăm Thành Nội được. Xe tiếp tục đi thăm Huế. Trên đường, Thầy làm dấu cho xe ngừng lại ghé thăm chùa Từ Ân. Thầy Trung Hải dẫn vài chú điệu nhỏ xíu đứng đón ngoài cổng. Hòa thượng Quán Chơn cùng tăng chúng ra đảnh lễ vấn an sức khỏe Thầy. Thầy thăm quanh chùa rồi sau đó vào phòng Hòa thượng trụ trì để nghỉ ngơi.

Giờ trưa đến rồi mà không biết Thầy sẽ ăn ở đâu, tôi cứ bối rối chẳng biết có nên nhắn về chùa đem cơm tới hay không. Mọi người ngồi trên sân chùa, chờ đợi. Đói bụng nhưng được đi với Thầy là hiếm hoi rồi, chẳng ai muốn rời. Tội thầy Trung Hải thấy vậy đem mấy hộp bánh kẹo thật đặc biệt (chắc để dành cho Tết) ra mời thiên hạ lót lòng. Thầy ra, chắp tay chào rồi rời chùa. Ai cũng nghĩ đi lâu chắc Thầy đã mệt, ai ngờ trên đường về Thầy lại làm dấu ghé vào thăm chùa Từ Đàm. Buổi trưa, giờ chỉ tịnh nên chùa vắng lặng, nhưng có Hòa thượng Hải Ấn, trụ trì ra tiếp đón. Thầy đi quanh chùa một vòng, vào chánh điện niêm hương, chỉ cho thị giả những chốn xưa rồi mới lên xe về lại chùa Tổ. Tiếc là Ôn Trí Quang cũng đang dưỡng bệnh nên hai Ôn không gặp được nhau.

 

 

Tháng Hai

Ba mươi Tết, tôi và sư em Đạm Nghiêm vào phiên nấu ăn cuối năm. Lúc này, Thầy dùng bữa được nên thị giả nấu ăn vui lắm. Tôi làm món tào phớ bằng đậu mắc ca vì Thầy chưa được dùng đậu nành, lần nào cũng hết và lần nào tôi cũng mừng. Tối, Thầy khỏe nên đã cùng thị giả qua Diệu Trạm thăm văn nghệ tất niên một chút làm mọi người ngạc nhiên và vô cùng hạnh phúc.

Mồng Một Tết, Thầy ra thiền đường, đại chúng đảnh lễ chúc thọ Thầy và sau đó chụp hình chung với Thầy. Lâu rồi mới có một bức ảnh đại chúng được chụp hình chung cùng Thầy mà đang đắp y. Đại chúng Diệu Trạm và Từ Hiếu xúm xít bên Thầy rất ấm áp. Mong sao nguyên năm nay Thầy vẫn khỏe như vậy.

Tôi theo chân Sư cô Chân Không đi chúc Tết các vị Tôn túc. Để biết Tết ở Huế. Rồi cũng thăm phòng, thăm nhau. Tục lệ của Làng Mai không đổi. Phòng thăm ít hơn ở Làng Mai Thái nhưng cũng rộn ràng ra phết. Giữa tháng, có phái đoàn từ Canada lên thăm, lại thêm từ Mỹ và Hồng Kông về gần 30 người nên Thầy ra khỏi thất đi thiền hành. Trời ấm áp và Thầy khỏe nên mọi người được theo Thầy đi thăm nhà Tổ, phòng Sư cố, phòng Sư thúc. Thầy không cần đội mũ len. Sau đó, Thầy đi tiếp xuống hồ bán nguyệt. Đi theo Thầy ai cũng hạnh phúc. Có người nói là đã coi hình Thầy trong video nhưng không ngờ tới chùa được gặp Thầy trực tiếp như vậy nên rất bất ngờ. Buổi tối,Thầy dùng bữa rất vui, cười hoài, ai thưa gì cũng gật đầu.

Tôi xin phép đi Bangkok để đem thư pháp và sách của Thầy về Việt Nam cho lần triển lãm tới. Sau đó, cùng với hai sư em và tăng thân trẻ ở Từ Hiếu, tôi có một chuyến đường bộ tới Bangkok kịp giờ trước khi phòng triển lãm đóng cửa, đóng gói dọn dẹp và đi thẳng về Hà Nội cất vào nhà một chị trong tăng thân. Xong xuôi đâu đó tôi về lại Huế. Chuyến đi liên tục bốn ngày mà không ở lại đâu cả, chỉ thỉnh thoảng khi tài xế mệt thì xe dừng lại cho chú ấy nghỉ ngơi và ăn thôi, thật là đáng nhớ. Ngày xưa, tôi từng đi xuyên bang như vậy nhưng mấy chục năm rồi, quên mất mình cũng sắp thành “cụ” tới nơi. Bây giờ, chân đi vẫn là chân đi, hình như chỉ có tăng chứ không giảm.

May quá, về lại Huế gặp dịp có bác sĩ Quốc qua thăm Thầy, bác sĩ đã giúp chỉnh lại xương cốt cho tôi, thật là đỡ. Gặp dịp anh Tảo về thăm làng, mời bác sĩ Quốc đi thăm đồng quê Việt Nam cho biết nên Linh Nghiêm, Định Nghiêm và tôi cũng được cơ hội xin anh đưa đi thăm nhà thờ họ ở làng Vân Cù. Làng quê rất êm ả, đường vào làng rợp bóng tre xanh. Tôi đi trên con đường đất, nhắm mắt nghĩ tới ông bà mình đã từng đi trên con đường này mà lòng bâng khuâng. Ba tôi không về được để thăm làng quê xưa. Tôi nghĩ bụng mình phải nhìn bằng con mắt của ba, cảm bằng tấm lòng của ba với quê hương làng nước.

26 tháng 2 là ngày lịch sử trong nhật ký của tôi. Thầy đã dùng bữa nhiều và ngon miệng, nên dù chỉ ăn hai bữa nhưng ai cũng vui. Buổi tối lên Thầy chơi, tôi thưa: “Thầy ơi!”. Đột nhiên Thầy đáp lại “ơi” làm ai cũng giật mình. Khí lực Thầy rất tốt. Hy vọng kỳ này cô bác sĩ Julie qua tập nói cho Thầy sẽ có nhiều kết quả hơn. Tôi thưa: “Mai con sẽ nấu ăn ngon cho Thầy”. Thầy bật cười, rồi xoa đầu tôi. Vui quá!

Tháng Ba

Đầu tháng Ba, tôi bay ra Hà Nội để tìm chỗ làm triển lãm sách và thư pháp của Thầy cùng với thầy Pháp Nguyện và Sư cô Chân Không. Tăng thân Hà Nội dẫn chúng tôi đi xem các địa điểm nổi tiếng như Văn Miếu, Viện Bảo tàng Mỹ thuật ở ngay trung tâm. Chỗ nào cũng tình nguyện hỗ trợ khiến ai cũng vui. Tôi nghĩ Thầy sẽ vui lắm nếu triển lãm thư pháp của Thầy ở Văn Miếu, nhưng rất tiếc không gian để dành cho triển lãm quá nhỏ, rồi thêm sự nhộn nhịp, thiếu yếu tố thiền vị nên chúng tôi đi tìm thêm vài địa điểm khác trước khi quyết định.

Ngày hôm sau, chúng tôi dậy sớm đi thăm Tràng An. Thuyền chèo qua cái động khá dài và đẹp. Cảnh sơn thủy còn thiên nhiên và thiên hạ cũng không xả rác nên nước khá sạch, bóng núi in trên nước rất thi vị. Sư cô Chân Không về lại Huế còn chúng tôi đi xem tiếp một vài chỗ có thể dùng để triển lãm nữa. Hôm sau, anh Hiểu đưa đi thăm chùa Thầy, rồi ghé thăm trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam và Viện bảo tàng Hà Nội. Viện bảo tàng Hà Nội hơi xa trung tâm nhưng rộng rãi, dễ thiết kế, tôi cảm thấy yên tâm. Chúng tôi điểm qua các địa danh ở Sài Gòn, ở Huế, vẫn thấy làm ở Hà Nội là tốt nhất.

Ngày 13 là lễ giỗ Tổ và đặt đá khởi công trùng tu nên chùa Từ Hiếu đông nghẹt người. Thầy bị mệt nên không ra dự lễ. Tôi cũng loay hoay trên cốc Thầy. Buổi trưa, tôi cùng sư em Trăng Bồ Đề xuống nhà thầy Pháp Niệm dự tang lễ của mẹ thầy. Đại chúng đang làm lễ, y vàng sáng cả khoảng sân nhỏ trước nhà. Không khí rất nhẹ nhàng. Cụ bà đã chuẩn bị cho ngày đi của mình từ lâu và đi rất an nhiên nên không có sự buồn đau. Cụ ông kể cho tôi nghe về những ngày cuối của cụ bà bằng khuôn mặt vui vẻ. Sư cô Tịnh Hằng cũng kể về hai mươi mấy ngày trước khi mất, cụ bà nói sư cô cho ăn hai nắm cơm vắt thật chặt với muối rồi từ đó về sau chỉ uống nước. Thầy Pháp Niệm bảo là khi hấp hối, được khai thị cụ bà còn ráng chắp tay lại trước ngực để cám ơn. Tôi hâm mộ cụ bà quá đi.

Hôm sau, tôi đi Pháp. Mỗi năm “đến hẹn lại lên” mà cái hẹn với sở di trú cứ đẩy sớm từ từ, bây giờ thành tháng Ba thay vì tháng Tư như xưa. Trời còn lạnh nên tôi bị cúm. Lâu rồi mới bị cúm lại như vậy. Nhưng nhờ vậy mà được nghỉ ngơi, ở yên trong phòng cũng thật là tuyệt. Sau đó, tôi chuẩn bị sách để đem về Việt Nam làm triển lãm. Ngày nào cũng đi qua Sơn Cốc với các sư em Trọng Nghiêm và Trăng Huyền Thoại để làm hồ sơ sách, đồng thời sắp xếp lại chỗ để thư pháp của Sư Ông. Tôi cũng giúp một chút cho việc tham vấn và cho pháp thoại. Thấy thương các sư em đã phải lớn rất nhanh để lấp đầy chỗ trống của các sư chị vắng mặt.

Tháng Tư

Về Làng thì có chuyện Làng. Tôi sửa sang nhà cửa ở Nhật Nguyệt Thất chút ít. Nhiều người góp tay nên chỗ lên cầu thang sáng sủa và khang trang hơn. Họp với xóm Thượng về việc tu sửa lại toàn bộ xóm Thượng và Sơn Hạ. Nặng gánh đó. Có mạnh thường quân hứa giúp nhưng không được bao nhiêu. Dãy nhà hư ở Sơn Cốc cũng cần hoàn thành sớm để chúng có chỗ sinh hoạt vào ngày xuất sĩ. Các sư cô ở thiền đường Hơi Thở Nhẹ cũng nhắn tôi lên Paris để đi xem chỗ ở mới cho gần với trung tâm Suối Tuệ. Tôi lên Paris với sư cô Lăng Nghiêm, rốt cuộc cũng kiếm được chỗ ở mới thích hợp cho các sư cô mà giá không quá cao, mừng quá.

Ông chủ vườn mận sau xóm Mới muốn bán vườn, các sư cô quá vui vì sẽ có đất để xây ni xá. Ông hàng xóm xóm Thượng cũng muốn bán nhà, các thầy hớn hở lắm. Toàn là những nơi rất cần thiết và nên mua, giá cũng phải chăng. Tôi nhìn Sư cô Chân Không cười, mình thành địa chủ rồi, dù là chưa có tiền. Chắc chờ các sư cô ở thiền đường Hơi Thở Nhẹ an cư rồi thì bán nhà cũ đi mới xoay sở được.

Cuối tháng, về lại Việt Nam, Thầy đang nghỉ dưỡng ở Thuận An. Nghe nói sức khoẻ Thầy đỡ hơn, thậm chí sáng đó còn tắm biển nữa. Hôm sau, phiên tôi nấu ăn nhưng may quá, Thầy về lại chùa nên tôi không phải xách vali đi tiếp.

 

 

Tháng Năm

Đúng là sức khỏe người lớn tuổi không ổn định. Một buổi Thầy mệt, ăn sáng ít mà ăn xong Thầy xoa tay lên ngực, ai cũng lo. Chúng tôi xin Thầy truyền nước biển. May mà Thầy chịu. Thế là chiều đó Thầy vừa vào nước biển vừa ăn, và ăn khá, ai cũng thở phào. Thầy truyền nước biển đến sáng hôm sau khỏe lại. Mừng ơi là mừng. Vậy thì tôi yên tâm bay đi Bali. Vé đã mua mà tôi cứ lo không đi được vì sức khoẻ của Thầy. Lần này, các sư em người Indonesia có khóa tu trên quê hương và muốn tìm đất để lập Làng Mai Indo nên mời tôi đi qua ít ngày. Không đi thì có vẻ mình không quan tâm đến các em, nhưng đi thì thấy mình cứ nấu ăn cho Thầy ít bữa lại “xẹt” đi mất tiêu.

Kỳ này tôi không đi thăm đền hay thắng cảnh, nhưng lang thang một buổi ở trung tâm Bali cũng rất vui. Khách du lịch đông lắm. Con đường nhỏ như ở phố cổ Hội An. Sư em Trăng Tin Yêu kể cho tôi nghe ở Bali có một ngày gọi là “ngày im lặng” để mọi người tĩnh tâm, không nói chuyện. Thường thường ngày này đánh dấu một năm mới theo lịch Hindu của người dân trên đảo. Trong ngày này không được xài điện, toàn thành phố không có đèn, không có xe, ai ở yên nhà nấy và trong nhà cũng không được bật đèn. Chỉ có nhà thương là có điện. Ai đi ra ngoài có thể bị cảnh sát bắt giữ lại đến sáng hôm sau mới thả ra. Phi trường không hoạt động, mạng internet bị cắt. Chỉ có một ngày một đêm thôi mà sáng hôm sau không khí khác hẳn, trong lành hơn rất nhiều. Tôi nghĩ đúng là không xe không điện thì thành phố bớt ô nhiễm, mà tĩnh tâm không nói chuyện thì tâm cũng bớt ô nhiễm.

Tôi về lại Việt Nam, nhập vào ban thị giả đang nấu ăn cho Thầy ở Đà Nẵng. Gió biển thoáng nên Thầy ngủ ngon, ăn khá. Nhưng cũng chỉ ở vài ngày là Thầy lại muốn về Huế.

Tháng Sáu

Cái máy tính xách tay của tôi đúng là sắp đình công rồi. Cứ loay hoay sửa chữa mà hết cả giờ. Tôi lại bay đi Hà Nội để họp về việc triển lãm và làm thống kê sách. Viện Bảo tàng Hà Nội thích hợp cho việc triển lãm nhưng thời gian không thích hợp nên phải chờ tới sang năm mới rõ có làm ở đó được hay không. Cũng tốt, vì như vậy chúng tôi có thêm giờ để chuẩn bị. Trời thật nóng và oi ả. Tôi nghĩ bụng mình còn mệt huống chi là Thầy?

Tháng Sáu

Cái máy tính xách tay của tôi đúng là sắp đình công rồi. Cứ loay hoay sửa chữa mà hết cả giờ. Tôi lại bay đi Hà Nội để họp về việc triển lãm và làm thống kê sách. Viện Bảo tàng Hà Nội thích hợp cho việc triển lãm nhưng thời gian không thích hợp nên phải chờ tới sang năm mới rõ có làm ở đó được hay không. Cũng tốt, vì như vậy chúng tôi có thêm giờ để chuẩn bị. Trời thật nóng và oi ả. Tôi nghĩ bụng mình còn mệt huống chi là Thầy?

Một tuần sau đó, Thầy ăn ít nên chịu truyền nước biển. Tôi lên thăm, thấy Thầy đang được đẩy xe đi quanh phòng, bình nước truyền cũng được sư chú thị giả đẩy đi theo. Thầy giơ tay cho tôi nắm một lúc lâu. Cảm động quá chừng.

Giữa tháng, cả tuần Thầy lúc khỏe lúc không nhưng nhờ có cô Anna nên khá ổn định. Cô Julie tập nói cho Thầy khả quan lắm. Cô tập có mười lăm phút mà Thầy nói được chữ “uống trà” rất rõ. Thầy vui, giờ ăn nắm tay mọi người rất tình cảm. Thậm chí sư em Trăng Hải Chiếu cầm đồ bận hết cả hai tay mà Thầy vẫn đưa tay chờ sư em bỏ đồ xuống để nắm tay sư em. Thầy ăn khá, nhưng lượng ăn bắt đầu ít hơn trước. Cả một thời gian dài Thầy rất dịu dàng, chắp tay cảm ơn thị giả nấu ăn, nắm tay từng đứa học trò. Chúng tôi đều ý thức rằng hạnh phúc thay mình còn có Thầy đó.

Đột nhiên, có hai ba bữa Thầy bỏ ăn, tay thường ôm ngực, chúng tôi lo quá chừng, tính đưa Thầy vào bệnh viện ở Bangkok để nhóm bác sĩ vẫn hay trị bệnh cho Thầy kiểm tra nhưng may sao có bác sĩ Chom Chai đi du lịch ghé qua khám và nói là Thầy chỉ bị mất nước, chỉ cần truyền một bình đạm là Thầy khỏe và ăn lại. Mừng quá! Bác sĩ khuyên rằng Thầy cần thay đổi không khí một thời gian. Tập nói lại mất sức quá nên từ từ chúng tôi cũng chấp nhận là Thầy cần được giữ gìn khí lực hơn là cố gắng tập nói.

Gần cuối tháng, nghe tin thầy Pháp Lượng gặp tai nạn, ai cũng lặng người. Tôi nhắm mắt, nhớ tới người “lão sư em” vui vẻ từng làm chung với tôi những cái bàn cho triển lãm sách ở EIAB. Lúc nào gặp nhau cũng một nụ cười cởi mở và khoe những chậu hoa bonsai mới tạo hình. Biết rõ vô thường xảy ra từng phút từng giây, nhưng khi chuyện xảy ra mình vẫn không sao tránh được nỗi đau đột ngột.

Tháng Tám

Đầu tháng đi nghỉ dưỡng ở Thuận An. Gió biển làm Thầy khỏe ra. Chỗ nấu ăn hơi bất tiện, nhưng nấu ăn xong thấy Thầy dùng được trở lại chúng tôi mừng quá. Ở nhà nghỉ, Thầy ăn ngon, ăn nhiều, thị giả cũng đói bụng hoài vì gió biển. Nên mệt mà vui.

Hai cô bác sĩ Julie và Megan lên chào Thầy, hy vọng Thầy cho họ chữa trị lần cuối trước khi về lại Mỹ. Thầy không đồng ý nhưng nắm tay, rồi chắp tay cảm ơn. Tôi thưa Thầy tập một buổi nữa đi rồi khi cô ấy về chúng con tập tiếp cho Thầy. Thầy bật cười, ra điều như muốn nói “nghèo mà ham, có cô ấy đây còn tập chưa xong” làm ai cũng cười phá lên rất vui. Cô Julie cảm động lắm trong không khí rất thân tình đó.

Ngày 13 tháng 8 là ngày Tự tứ. Một mùa an cư đi qua nhanh quá. Các sư em chụp hình, tặng hoa, tặng quà,… Tôi kêu mấy em bày đặt mà thấy lòng có chút cảm động. Thầy đi biển về vẫn ăn nhiều, ăn ngon. Đội thị giả hạnh phúc ra mặt. Ngày hôm sau, trăng thật sáng, thật đẹp. Tôi nấu ăn cho Thầy xong về phòng nghỉ ngơi, không ngờ khoảng tám giờ ba mươi tối, nghe tin Thầy đang đi ngắm trăng ở hồ bán nguyệt. Sau đó, qua Diệu Trạm và lên thiền đường. Chúng Diệu Trạm được đi theo Thầy ngắm trăng. Ôi tính lại hôm nay Thầy đi ra ngoài tới những năm lần, tôi thì thào với thị giả là chị đâu có cho Thầy ăn thứ gì đặc biệt đâu mà Thầy khỏe thế. Nói vậy chứ lòng vui quá chừng luôn. Bạn hiền có vui với tôi không?

Tháng Chín

Tôi lại ra Hà Nội để chuẩn bị cho phần triển lãm sách. Năm nay, tôi đi Hà Nội nhiều lần vì chuyện này. Thầy ăn ít lại, rồi ho, sức khỏe xuống. May có bác sĩ Megan châm cứu Thầy mới đỡ đôi chút. Ở Hà Nội về, tôi nghe tin ban thị giả sắp xếp cho Thầy đi nghỉ dưỡng ở suối nước nóng Alba. Trời ẩm và nóng bức nên tôi cũng xuống sức. Thầy nằm trên võng trước cửa ngắm núi rất yên tĩnh. Ban thị giả ngồi quanh đưa võng, nói chuyện. Ngày kế, Thầy không ra khỏi cửa, nằm trên ghế dài nhìn ra núi và ngày kế nữa, Thầy muốn về. Các vị chăm lo khu nhà nghỉ này rất dễ thương, cúng dường toàn bộ và còn mời chúng tôi chia sẻ cho nhân viên để nhân viên cũng nếm được lợi lạc của sự thực tập.

Ngày sinh nhật, tôi lại lênh đênh trên trời trong chuyến bay từ Hà Nội về Huế. Đã bảo là năm nay đi nhiều mà. Hai hôm sau, tôi lại vào Sài Gòn để bay về Mỹ với dì tôi. Sau mười mấy năm chờ đợi, cuối cùng dì cũng được đoàn tụ với mẹ tôi nhưng lại bị té gãy xương vai mấy tuần trước. Thế là tôi chuyển cái hẹn về thăm nhà cuối năm để đi sớm hơn cùng với dì. Dì vừa mổ ra tuần trước, ngồi xe lăn. Tôi kéo vali theo sau, nghĩ tới ngày đoàn tụ gia đình mà quên đi cái mệt. Nhưng mà, mệt vì nghĩ là có việc phải làm, chứ thật ra có làm gì thật đâu?

Tháng Mười

Những ngày tháng ở với gia đình bao giờ cũng qua rất nhanh. Ba mẹ tôi có yếu hơn nhưng vẫn còn khỏe đủ. Có thêm hai dì nên ngày nào cũng rộn ràng như nhà có hội. Tôi và dì Chín bày ra đủ món Việt Nam để nấu nướng. Cứ hết đi chợ lại đi thăm nhà các cậu, nhà em tôi. Không khí gia đình ấm áp. Tết này chắc là vui lắm đây. Tôi phải làm lại hộ chiếu vì đã hết giấy dù còn hạn. Đi nhiều quá mà. Nội chuyến đi đường bộ qua Thái đã bị mất hai trang vì dán visa của Lào rồi.

Tôi về lại Huế. Thầy đang truyền nước biển và thuốc mấy ngày rồi vì bị nhiễm trùng phổi. Bỏ ăn gần cả tuần nhưng nhờ đủ nước nên trông Thầy không hốc hác bao nhiêu. Các chị em triển lãm sách Thầy ở thiền đường Trăng Rằm để mừng ngày Tiếp nối của Thầy rất thiền vị và dễ thương. Nghe nói ngày nào Thầy cũng bảo đẩy xe ra ngắm, đến nỗi sư cô Định Nghiêm hỏi đùa Thầy là có nên đem luôn cái giường của Thầy ra thiền đường, Thầy cũng gật đầu.

Ngày Tiếp nối Thầy không ra lúc làm lễ mà ra sớm hơn đi dạo ngắm phòng triển lãm nên báo chí đăng tin, nhìn hình thấy Thầy khỏe lắm, ai ngờ mới tháo túi truyền dịch để đi dạo.

Thời gian này, cũng như năm ngoái, Thầy yếu sức lắm. Y tá trực suốt ngày và Thầy được truyền đủ loại chất dinh dưỡng liên tục. Chúng tôi nói lén với nhau sang năm không tổ chức nữa, cứ tổ chức là Thầy bị bệnh. Bạn hiền có thấy chúng tôi mê tín chưa? Nhưng trùng hợp quá mà, phải không?

 

 

Tháng Mười Một

Năm nay dịch sốt xuất huyết tràn lan, bên cốc Thầy, thị giả nhập viện hết mấy người. Bên Diệu Trạm có Sư cô Chân Không. Mấy ngày đầu, Sư cô sốt cao, chúng tôi còn tưởng Sư cô bị cúm nên tôi cũng bị cấm qua Thầy vì sợ lây cho Thầy (tôi ở cùng phòng với Sư cô mà). Sau đó, thử máu mới biết Sư cô cũng bị nhiễm virus sốt xuất huyết. Sư cô không chịu đi nhà thương, chỉ ở nhà truyền dịch. Tôi lên mạng tra về bệnh này, học thêm được về nhiều triệu chứng của bệnh. Và tái cả mặt khi biết là ngày thứ ba vừa hết sốt, Sư cô đã dang tay quay mấy chục vòng thế Tây Tạng để “phục hồi sức khỏe”. May là Sư cô không bị xuất huyết bên trong, đúng là nhờ Phật độ. Sau đó, chúng tôi nhất định bắt Sư cô phải nằm nghỉ ngơi cho đến khi tiểu cầu trở lại số lượng bình thường. Ai tới thăm cũng khuyên đi bệnh viện còn Sư cô thì tuyên bố có chết thì chết ở chùa chứ không vào bệnh viện. Bạn hiền thấy Sư cô anh hùng ghê chưa. Sau một tuần, Sư cô khỏe lại từ từ rồi hết hẳn. Ai cũng nể phục sự kiên cường của Sư cô hết.

Thầy vẫn tiếp tục được truyền dịch và theo dõi mỗi ngày như ở trong nhà thương. Các sư em đã từng là y tá, là dược sĩ đều được thay nhau đến phụ với cô y tá Thái Lan đang chăm sóc cho Thầy. Thầy vẫn ăn được, ăn lai rai, ăn không đúng giờ nên nhiều khi tôi qua thăm mà toàn gặp lúc Thầy nghỉ ngơi. Nhưng biết Thầy đang ở đó, là đủ ấm lòng.

Ôn Trí Quang tịch, tôi đi dự lễ nhập kim quan với Sư cô Chân Không và thị giả. Hôm sau, đi dự lễ di quan và trà tỳ. Trời mưa to và con đường đất dẫn đến chỗ trà tỳ thật trơn trợt nhưng người đi dự rất đông. Ôn di ngôn lại làm tâm tang rất đơn giản, không nhận hoa và phúng điếu nên các buổi lễ rất gọn. Sau một ngày lại có tin thầy của sư cô Thuần Khánh vừa tịch, tôi cũng đi hộ niệm khi nhập kim quan. Quý Tôn túc đi dự lễ của Ôn Trí Quang đều ghé qua thăm Thầy. Cuối tháng, Thầy đồng ý đi Thái Lan để kiểm tra lại sức khỏe. Thế là đúng một năm một tháng sau khi về Việt Nam, Thầy lên máy bay trở lại Thái Lan. Rất nhiều người không ngờ tới chuyện này vì ai cũng nghĩ Thầy sẽ ở Việt Nam mãi đến cuối đời. Chúng tôi cũng nghĩ như vậy. Không ngờ Thầy còn khỏe đủ để đi. Chúng tôi nhờ một bác sĩ và một y tá đi theo trên máy bay cho yên tâm.

Tháng Mười Hai

Lần này, máy bay cất cánh từ Huế nên thời gian di chuyển ngắn hơn, Thầy cũng khoẻ hơn. Trên máy bay Thầy ngồi uống trà, ngắm mây. Nhìn Thầy rất khỏe, lại còn ăn một chút trái cây của thị giả. Tới Thái, Thầy được đưa thẳng đến bệnh viện rồi xuất viện ngay. Buổi chiều, Thầy ăn ngon và hôm sau muốn về PakChong. Khỏi phải nói các sư em ở tu viện Vườn Ươm mừng đến độ nào.

Tôi về lại phòng cũ, cứ như chưa từng rời bao giờ. Sư em Thuyết Nghiêm cho mượn mấy giò lan đang nở treo trước phòng. Không khí thật thoáng và rất khác với ở Huế. Đêm đầu tiên tôi ngủ không được vì lạnh quá, ban đêm chỉ mười độ. Vốn nghĩ rằng Thầy đi qua Thái chỉ dăm bữa mười ngày là cùng và ở trên Bangkok thôi nên tôi đem theo có mấy bộ đồ nhẹ, không hề nghĩ đến việc đem áo lạnh. Cũng may trên cốc Thầy ấm đủ!

Ngày 11 tháng 12, tôi cùng Sư cô Chân Không và thị giả đi Sài Gòn để làm răng. Ngày hôm sau, cô Xuân đưa Sư cô Chân Không cùng chúng tôi đi khắp Sài Gòn để Sư cô ngắm lại cảnh cũ như chùa Ấn Quang, Xá Lợi, Từ Nghiêm. Sư cô chỉ cho tôi thấy nơi cô Nhất Chi Mai đã tự thiêu ở chùa Từ Nghiêm. Tại đó, Sư cô đã lạy xuống và ngồi im tâm sự với cô Nhất Chi Mai rất cảm động. Chúng tôi cũng có cơ hội đi thăm đường sách Nguyễn Văn Bình và chợ Bến Thành một chút cho sư em thị giả – mới tới Sài Gòn lần đầu tiên – được biết.

Ngày 15, ở tu viện có lễ xuất gia cho cây Ngọc Am. Các tân sadi này có phước lớn. Lúc còn là tập sự đã được ra chơi và gặp Thầy ngoài thất. Trong buổi lễ, Thầy ra dự và còn đưa tay ra cho các em nắm. Đúng là mỗi cây có một cái duyên khác nhau. Ai mà ngờ Thầy lại qua Thái Lan và dự lễ xuất gia chứ.

Ba ngày 17, 18, 19 là cơ hội cho các giáo thọ Đông Nam Á chia sẻ và bàn luận về những vấn đề đã, đang và có thể là sẽ xảy ra ở các trung tâm Làng Mai. Chúng tôi lắng nghe nhau và chơi chung với nhau. Thầy cũng ghé sang hai lần, chào các sư con và ôm đầu thầy Pháp Niệm.

Ai cũng đoán Thầy muốn về lại Việt Nam rồi.

Ngày 21, Thầy có hẹn với nhà thương ở Bangkok. Các thầy và sư cô ra tiễn đưa rất bùi ngùi vì sau đó chắc là Thầy về Việt Nam luôn. Thầy vào thẳng nhà thương và ở luôn trong đó dù không còn cần phải làm gì nữa. Thầy bắt đầu dùng bữa trở lại, từ từ từng chút một mỗi bữa và đến gần cuối tháng thì Thầy ăn trả bữa, ngày nào cũng hết mâm khiến ban thị giả nấu ăn mừng quá chừng. Thấy Thầy khỏe lại, câu hỏi tiếp tục được đặt ra là Thầy sẽ muốn đi đâu. Chúng tôi hỏi mà hình như Thầy cũng chưa quyết định, chỉ muốn cho thật khỏe đã. Tôi cười: “Thầy xin chọn nơi này làm quê hương thưa Thầy?”. Thầy gật đầu làm ai cũng cười phá lên.

Ngày cuối năm, ban thị giả kéo nhau qua phòng Thầy ở nhà thương để cùng ăn bánh rồi đón năm mới. Thầy không khỏe lắm nên đi nghỉ sớm mặc cho phòng ngoài nói chuyện. Tôi cũng buồn ngủ quá nên về sớm, không ngắm pháo hoa chi hết. Thế là một năm cũ đã trôi qua và tôi đón năm mới ở Bangkok. Nào có trà, có hoa hay hương trầm để khai bút chứ.

Ngày đầu năm mới, năm 2020, Thầy muốn rời nhà thương. Thế là lại về PakChong. Bạn hiền thấy tôi đi nhiều chưa? Cứ ngày đầu năm là đang ở đâu đâu chứ không ở trong nhà. Người đi hơi ngơ ngác còn người đón quá hoan hỷ. Kỳ này các Phật tử xong khóa tu nhưng chưa rời Làng Mai Thái đều được gặp Thầy vì Thầy khỏe quá, đi mấy tiếng mà về tới thất lại ngồi ăn trưa ngay ngoài hiên mà không đi nghỉ liền như thường lệ. Kể cả buổi chiều còn lại, Thầy cứ đi quanh chứ không vào nghỉ nhiều. Sáng hôm sau, Thầy kêu thầy Pháp Niệm lên ra dấu muốn thầy Pháp Niệm đưa Thầy về Việt Nam. Kỳ này là về thiệt nhé, ban thị giả thở phào, rốt cuộc rồi cũng đến lúc trở về.

Thầy khỏe hẳn nên dùng bữa được nhiều, ra sân ăn dù trời tối mịt, ăn chung với chúng ngoài hồ sen, có lẽ biết rằng lần này rời Thái cũng không rõ bao giờ mới trở về lại.

Ngày 4 tháng 01, Thầy ra thẳng phi trường ở Bangkok để bay về Việt Nam. Ai cũng ngạc nhiên và phục Thầy quá chừng vì một người khi rời Huế là đang truyền nước, truyền đạm suốt ngày mà bây giờ bay qua bay lại, đi tới đi lui Bangkok – Pak Chong không mệt. Chưa hết, về tới chùa Tổ, trong khi các sư cô đã trang hoàng khuôn viên quanh phòng Thầy thành nơi triển lãm hoa và sách rất dễ thương, Thầy vẫn khỏe đủ để đi quanh thất ngắm phòng triển lãm mini đó rồi mới vào nghỉ. Bạn hiền phục Thầy chưa?

Tôi ngừng ở đây nhé bạn hiền. Sáng nay gói bánh, Thầy cũng qua Diệu Trạm để thăm một chút. Bây giờ, ngoài sân đang nấu bánh chưng và đại chúng đang ca hát. Tiếng hát như những bông hoa đang nở ra trong đêm tối làm tôi nhớ tới câu đối của năm nay:

Địa cầu vừa tỉnh thức

Lòng đất bỗng đơm hoa

Hình ảnh đẹp quá, và sự thực tập chứa đựng trong đó cũng sâu sắc biết bao nhiêu, bạn hiền có nghĩ vậy không?

Thương quý,

Thoại Nghiêm

Làm thế nào để bảo vệ môi trường?

Câu hỏi:

Con đang công tác ở mảng giáo dục môi trường thuộc khu vực vườn quốc gia Cát Tiên. Làm thế nào để đem tuệ giác của đạo Bụt, lời dạy của Sư Ông để chia sẻ và phổ biến sự thực tập bảo vệ môi trường vào các trường học cấp hai, cấp ba và cộng đồng dân cư xung quanh nơi con đang sinh sống và làm việc?

Sư Ông trả lời:

 Có sự liên hệ mật thiết giữa con người và các loài động vật, thực vật và khoáng vật. Theo lịch sử phát triển của sự sống thì con người xuất hiện trên trái đất rất là trễ. Đầu tiên là loài thảo mộc, sau đó là động vật và cuối cùng là con người. Vì vậy cái gốc của con người là từ các loài thực vật, động vật và khoáng chất. Nếu mình không bảo hộ môi trường. Nếu mình không bảo hộ các loài động vật, các loài thực vật, tàn phá sự sống các loài động vật, làm cho chúng diệt chủng, tàn phá rừng, tàn phá cây cối. Sử dụng toàn xi măng cốt thép, làm ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí và đất đai. Đó là mình đang làm hư nền tảng của chính mình. Nền tảng của con người là ở động vật, thực vật và khoáng vật. Nếu mình làm hư hoại nền tảng của mình thì tương lai của mình cũng bị tiêu diệt luôn. Cho nên mình phải bảo hộ môi trường. Bảo vệ sinh môi là bảo vệ con người. Đó là cái thấy sâu sắc.

 Trong kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật, đức Thế Tôn nói rằng có bốn ý niệm mà mình phải chuyển hóa, đó là ý niệm về ngã, chúng sanh, thọ mạng và con người. Ý niệm về ngã là ý niệm rất nguy hiểm, nó chia cách giữa mình và người khác. Ví dụ giữa mình và cha mình. Mình và cha mình không phải là hai người khác nhau. Mình là sự tiếp nối của cha mình, trong mình có cha mình. Mình nghĩ mình là người khác và cha là một người khác, hai người hoàn toàn khác nhau là không đúng. Đó không phải là hai, đó là sự tiếp nối lẫn nhau. Cây bắp là tiếp nối của hạt bắp. Mình tách rời hạt bắp, cho hạt bắp là một cái khác và cây bắp non là một cái khác là không đúng. Vì vậy ý niệm ngã là sai, phải lấy nó ra. Ý niệm thứ hai là con người (ý niệm nhân). Con người được làm bằng yếu tố không phải con người, đó là các loài động thực vật và khoáng vật. Mình đừng tưởng con người có thể sống sót được nếu không có các loài động, thực vật và khoáng vật. Vì vậy con người có trí tuệ thì phải biết bảo hộ các loài động thực vật và khoáng vật.

Kinh Kim Cương là một kinh rất xưa, dạy về môi trường và bảo hộ sinh môi. Đó là một văn bản xưa nhất của nền văn học thế giới dạy về bảo vệ môi trường và sinh môi rất hay. Ý thức bảo vệ sinh môi của Người Việt rất thấp. Đi xe hơi, tôi thấy bao ni lông vứt khắp nơi. Tệ nạn khai thác rừng bừa bãi và chặt phá cây, làm ô nhiễm sông hồ quá nhiều. Như vậy là mình tự tử, con người đang tự tử trong khi làm như vậy. Tự tử một cách từ từ, nếu các loài bị diệt chủng, sông hồ bị ô nhiễm, cây cối bị đốt hết và rừng bị tàn phá thì con người không thể sống được lâu.

Bảo hộ sinh môi, giữ gìn phát triển hệ sinh thái là công việc của tất cả mọi người. Trong gia đình, cha mẹ có thể nói chuyện với con cái về bảo vệ sinh môi, tức là môi trường của sự sống. Trong trường học, thầy cô giáo phải dạy học trò về công tác bảo vệ sinh môi. Trong khu phố, xóm làng phải có các buổi họp giáo dục về sinh môi, vì ý thức bảo vệ sinh môi của người việt rất thấp. Nếu quý vị có dịp qua Đức thì sẽ được thấy bên đó các thành phố rất sạch, họ bắt đầu không dùng bao ni lông. Phải mất hàng trăm năm bao ni lông mới có thể tiêu hủy được. Bây giờ mỗi khi đi chợ mua hàng là người ta xách theo túi vải. Khi ăn cơm dùng chén đĩa bằng nhựa thì không tốt; dùng chén dĩa bằng sành sứ hoặc đất nung thì tốt hơn. Nếu dơ thì mình đem đi rửa. Như vậy sẽ tốt hơn là dùng những loại làm bằng nhựa. Trên thế giới có những đất nước mà ý thức bảo vệ sinh môi rất cao. Chẳng hạn như nước Đức. Chuyến về Việt Nam lần trước cũng như lần này, tôi thấy ý thức bảo vệ môi trường của dân mình còn rất thấp. Mình chưa đủ tinh thần trách nhiệm.

Tôi kêu gọi tất cả các bậc phụ huynh, các thầy và cô giáo cũng như các vị trong ủy ban nhân dân, các vị trong quốc hội, các vị lãnh đạo trong đảng và nhà nước, mỗi người phải đóng góp một phần của mình để nâng cao ý thức về sinh môi. Chúng ta hiện đang cố gắng duy trì một số lâm viên quốc gia để bảo tồn sinh môi như là Cúc Phương,…vv. Việc làm đó rất tốt. Khi có dự án phóng làm đường giao thông đi ngang qua những khu vực đó, chúng ta phải chống lại và tranh đấu để bảo hộ sinh môi. Ở các nước như Pháp, Đức và Anh, người ta bảo hộ sinh môi tích cực lắm. Người ta bảo hộ các loài động vật nhiều lắm. Bên Anh có một hội chuyên bảo hộ thú vật, vì thú vật đau khổ nhiều, bị lợi dụng và tàn sát bị đem ra làm thí nghiệm rất nhiều. Có một tổ chức giải phóng thú vật ( animal liberation fund) và mình nghe được những tiếng đau thương của các loài thú vật. Đất nước mình có gốc là Phật giáo, ngày xưa tổ tiên chúng ta đã xây dựng đất nước trên nền tảng từ bi của đạo Phật. Bây giờ mình không làm được như những nước Âu Châu thì rất là dở. Vì vậy những người Phật tử phải đóng góp thật nhiều trong công tác giáo dục nâng cao ý thức về bảo vệ sinh môi.

 

Vợ chồng không thể nói chuyện được với nhau?

Câu Hỏi:

Kính bạch Sư Ông, gia đình con, vợ chồng con không thể nói chuyện được với nhau. Con biết tu tập, nhưng đứng trước một lời nói xúc phạm, chê bai và không tôn trọng thì con khó kiềm chế lắm. Con đã  thực tập hơi thở và thực tập quán chiếu là chồng của con có những đau khổ và không hài lòng về con, nhưng con vẫn chưa nói được lời ái ngữ.

Sư Ông trả lời:

Đó là tu chưa tới, cơm chưa chín. Khi quán chiếu thật kỹ, thấy người kia có nhiều khổ đau, khó khăn, bức xúc là tự nhiên trái tim mình mềm ra. Khi mình thấy tội nghiệp là trong trái tim sẽ ứa ra một giọt nước tình thương cam lộ, từ bi. Nếu giọt nước chưa ứa ra là do tu chưa tới, chưa thấy rõ tất cả những khổ đau, khó khăn, bức xúc của chồng. Nên vẫn còn có sự trách móc.

Nếu biết rằng người kia có quá nhiều khổ đau; hễ khi nói ra là nói những lời nặng nề, trách móc, lên án, buộc tội. Cho nên mình biết cái gốc là khổ đau, nếu người đó không khổ đau thì lời nói sẽ ôn hòa, dễ thương. Tại người đó quá khổ đau, quá bực tức. Hễ nói ra câu nào là câu nói đó phun nọc độc. Tại vì trong lòng mình không đủ từ bi, chưa có chất liệu của tình thương để bảo hộ cho mình, nên chất độc mới thấm vô. Hễ khi nào mình có lòng từ bi, có tình thương thì mình được tình thương đó bảo hộ. Dù người kia có nói những lời xúc phạm hay chửi mắng gì thì cũng không lọt vào trong mình được.

Từ bi là một chất liệu có khả năng bảo hộ cho mình. Khi có lòng từ bi thì dù người kia có la hét, mắng chửi thì mình vẫn thấy tội nghiệp vì người có quá nhiều đau khổ. Vì có quá nhiều đau khổ nên không có khả năng nói lời thương yêu. Mình không còn là nạn nhân của những lời nói đó vì mình đã được lòng từ bi che chở, và mình mỉm cười. Nếu mình chưa mỉm cười được và còn đau khổ với những câu nói đó thì mình chưa đủ chất liệu xót thương.

“Mẹ ơi nhìn lại để thương ba nhiều hơn, ba cũng có nhiều đau khổ lắm, nhưng mẹ không thấy được những đau khổ của ba nên mẹ mới chua chát, lên án buộc tội ba, mẹ mới đau khổ. Nếu mẹ thấy được ba đau khổ khó khăn, bức xúc thì mẹ sẽ thương ba. Cho dù ba có nói gì đi nữa thì mẹ cũng không đau khổ nhưng sẽ tìm cách giúp ba”.

Do tu chưa chín, nên mình chỉ thấy sơ sơ thôi, chưa thấy hết những khó khăn của người kia. Khi thấy được hết thì sẽ tội nghiệp, hiểu sẽ đưa đến thương. Hiểu ở đây là hiểu khổ đau của người kia và khi hiểu rồi thì trong tim sẽ ứa ra chất liệu của tình thương. Chất liệu của tình thương sẽ bảo hộ mình, không làm cho mình đau khổ khi người đó có những cử chỉ phũ phàng hay lời nói không dễ thương.

Hãy tu thêm, công phu phải đi tới thêm vài bước nữa, đừng đòi hỏi người đó thay đổi. Mình phải thay đổi mình trước,  phải tươi mát, dịu dàng. Khi mình đã thay đổi rồi, không trách móc, lời nói dịu dàng thì người đó bắt đầu thay đổi. Hạnh phúc, hòa bình bắt đầu từ chính mình, chuyển hóa bắt đầu từ chính mình. Cho nên bà phải chuyển hóa trước, tươi mát, dịu dàng, dễ chịu. Ông sẽ cần bà. Ông sẽ thấy bà là một đóa hoa tươi mát và ông sẽ mắc cỡ, sẽ thay đổi. Bà đừng chờ ông thay đổi và ngưng ngay những lời nói khó nghe. Bà không chịu thực tập để chuyển hóa, trở thành tươi mát và dịu dàng thì bà đừng mong ông thay đổi. Vũ khí của người phụ nữ là sự tươi mát, dịu dàng không trách móc. Nếu mình đã đánh mất những điều đó thì sẽ không còn hạnh phúc và không còn khả năng giúp người khác có hạnh phúc. Cho nên phải tu tập để khôi phục lại sự tươi mát, sự dịu dàng để có thể hiểu được, thương được và nói những lời ái ngữ với người kia được thì chắc chắn người kia sẽ thay đổi. Nhưng trước đó đừng trông chờ người kia thay đổi.

 

Con muốn làm người xuất gia

Mùa xuân năm 2014 con đã quyết định chọn con đường xuất gia và trở thành một người xuất sĩ theo pháp môn Làng Mai. Lúc đó con vừa tròn 18 tuổi, trước khi tốt nghiệp trường trung học ở tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ. Ba mẹ con đều sinh ra và lớn lên ở Việt Nam. Vì muốn tìm kiếm một tương lai tốt đẹp hơn nên cả hai đã chuyển qua Hoa Kỳ khi mới 20 tuổi. Sau đó, ba mẹ con định cư tại miền Đông, đó cũng là nơi mà anh chị em con được sinh ra và lớn lên.

Trước kia, hồi còn niên thiếu, con có một cuộc sống khá tự do. Con làm những điều mà mọi người cho rằng nó sẽ đem đến hạnh phúc và niềm vui. Kể cả tham dự những buổi tiệc tùng cùng bè bạn. Việc học ở trường của con khá tốt. Con cũng có một công việc ổn định, có xe hơi riêng. Con tích cực tham gia các hoạt động thể thao, nhất là đá bóng, bóng rổ, chạy bộ,… Con cũng trải qua những cuộc tình rất lãng mạn với bạn gái và tự cho mình trải nghiệm những gì mà con nghĩ là sẽ đem lại hạnh phúc lúc đó. Nhưng ngược lại, con chỉ nhận lại khổ đau và hoàn toàn rơi vào bế tắc. Con thấy mình cần phải tìm một con đường khác để mà đi tới.

 

 

Một trong những khổ đau lớn nhất của con là con không tìm thấy được một con đường mà có thể mang lại hạnh phúc đích thực cho con. Nhiều khi con thao thức, trăn trở và tự hỏi chính mình: Vì sao con lại ở đây? Cuộc đời là gì? Nếu trên đời này thật sự có Thượng Đế, thì sự hiện hữu của ngài có ý nghĩa gì? Con cứ loay hoay đi tìm ý nghĩa của cuộc đời và sự tồn tại của con trên thế gian này. Những câu hỏi như một gánh nặng trên đôi vai mà con không tìm được một câu trả lời thích đáng. Lúc ấy, liều thuốc duy nhất có thể giúp con làm vơi nhẹ khổ đau là Thiền tập. Cứ mỗi hai tuần một lần, ba mẹ thường lái xe chở con đến sinh hoạt ở một ngôi chùa Việt Nam cách nhà 15 phút. Hình ảnh của các sư cô trong chùa là hình ảnh những người hạnh phúc nhất trên đời mà con từng được gặp. Dù chỉ mới lững chững thực tập thiền nhưng những hoa trái và lợi lạc của nó đã giúp thân tâm con trở nên thanh thoát và nhẹ nhàng hơn.

Có một lần, tình cờ con được nghe pháp thoại của một sư thầy ở trên Youtube. Thấy hình ảnh của thầy, và nghe thầy trả lời  những câu hỏi của con. Lòng con bỗng nhiên cảm thấy hân hoan và sảng khoái vô cùng. Trước kia con lang thang đi tìm câu trả lời, nhưng chưa có một lời giải đáp nào giúp con cảm thấy thỏa mãn như lần này. Câu trả lời sâu sắc từ trái tim của thầy đã chữa lành và trị liệu tâm hồn con. Con chợt nhận ra trước đây mình đã nhìn cuộc đời qua một lăng kính tối tăm và bi quan. Nhờ thực tập thiền, lắng nghe tuệ giác từ thầy, cộng thêm sự yểm trợ của gia đình, sự nâng đỡ của các thầy cô, sự chăm sóc của các bác sĩ tâm lý đã giúp cho con có đủ nghị lực và sức mạnh để nhìn thấy cuộc sống tươi đẹp và đầy màu sắc trở lại. Cũng phải mất nhiều tháng trời thực tập và quán chiếu con mới có thể thật sự đi ra được vấn đề của mình.

Con quyết định chọn con đường xuất gia vì biết đích xác ước nguyện của con là được trở thành một tu sĩ như hình ảnh của sư thầy ở trên Youtube ấy. Thầy đã truyền cho con rất nhiều cảm hứng và động lực. Con muốn sau này trở thành một vị Giáo thọ Tu sĩ. Được thực tập thiền và lan tỏa, chia sẻ những chuyển hóa, những hạnh phúc ấy đến cho người thân và xã hội. Sau khi hoàn thành xong chương trình trung học ở trường, con quyết định xin vào sống trong một ngôi chùa gần nhà. Từ đó, con bắt đầu hành trình tìm kiếm con đường và pháp môn tu học để có thể trở thành một người tu sĩ.

Sau những tháng ngày rong ruổi tìm kiếm, cuối cùng thì con đã quyết định đích đến của mình là Làng Mai. Con chính thức xuống tóc để trở thành một người xuất gia ngày 14 tháng 12 năm 2016. Nhìn lại chặng đường đã đi qua, con thật sự cảm thấy hạnh phúc và mãn nguyện với quyết định của mình ngày hôm ấy.

Khi nghe con tâm sự là con muốn đi tu, ba mẹ tỏ ra hết sức lo lắng và e ngại. Cả hai người đều tìm cách khuyên con nên đi thử đi học đại học một năm, lúc đó rồi hãy tính. Trong lòng con hoàn toàn không muốn lựa chọn bước đi trên con đường ấy. Nếu con chọn con đường học đại học thì điều đó có nghĩa là con sẽ phải ký vào tờ giấy vay nợ. Nợ tiền chính phủ để đi học. Biến mình trở thành một con nợ chỉ để làm điều mà chính mình thật sự không muốn làm. Con lấy hết cam đảm để thưa với ba mẹ: “Con xin lỗi ba mẹ, con thật sự không làm được. Thật lòng con chỉ muốn xuất gia và trở thành một thầy tu thôi”.

Hiểu rõ tính cách của con, một khi đã đam mê và muốn thực hiện điều gì thì con sẽ hơi cứng đầu và phải làm cho được nên ba mẹ đành chiều lòng và chọn cách yểm trợ con. Đó cũng là khoảng thời gian mà con vừa mới trải qua được hai giai đoạn của bệnh rối loạn tâm thần (psychosis). Con nghĩ rằng khi nghe đến trạng thái rối loạn tâm thần mọi người hiểu rằng đó là do tinh thần của bệnh nhân yếu và dễ trở nên mong manh. Trước khi biết thực tập Thiền, con đã từng hút cần sa và hành xử rất ích kỷ. Con không quan tâm đến những người thương của mình. Một đêm nọ, đang hút cần sa như thường lệ, bỗng dưng con rơi vào cảm giác giống hệt như một trạng thái rối loạn tâm thần nặng (psychotic break). Cảm giác đó không hề dễ chịu và thoải mái, ngược lại nó vô cùng đáng sợ và rùng rợn. Từ đó trong con bắt đầu phát triển những  triệu chứng của tâm thần phân liệt (schizophrenia):  hoang tưởng (paranoia). Những chuyện này đã xảy ra trước khi con biết đến Thiền tập.

Thời gian đầu mới thực tập Thiền, con hay chia sẻ với mọi người trong gia đình về ý định muốn trở thành một tu sĩ phật giáo. Lúc đó con đoán rằng bố mẹ và mọi người sẽ nghĩ: “Con trai của mình đang được trị liệu và lành bệnh; nó đã bắt đầu vui vẻ trở lại và còn muốn trở thành một ông thầy tu.” Những người tu sĩ là những người rất tuyệt vời, giống như các sư cô trong ngôi chùa Việt Nam đã giúp đỡ con trước đó. Con hiểu là ba mẹ cũng nghĩ rằng “Ba mẹ cảm thấy lo ngại, vì con đường xuất gia không phải là một con đường dễ dàng, nhưng vì muốn yểm trợ con nên ba mẹ đành chiều lòng, rồi để từ từ xem sao.” Ba mẹ đã lặng lẽ theo bước và yểm trợ con như vậy: Ngày này qua ngày khác, và năm này qua năm khác.

Mới đó mà bốn năm đã trôi qua kể từ dạo ấy. Bây giờ mỗi khi nghĩ về con, ba mẹ cảm thấy ấm lòng và hãnh diện. Năm nào ba mẹ và các anh chị em trong gia đình cũng sắp xếp để thay phiên nhau qua Làng thăm con. Cả gia đình con ai cũng cùng tu tập với con. Mẹ hay kể với con là mỗi đêm mẹ thường lên Trang Nhà Làng Mai đọc và nghe pháp thoại của Sư Ông trước khi đi ngủ. Mẹ cũng hay khoe với con về những mẩu chuyện vui mà mẹ nghe được trong bài pháp thoại. Nghe mẹ kể con thấy lòng mình ngập tràn hạnh phúc. Đây cũng là cách mà con nuôi dưỡng và gìn giữ mối liên hệ với gia đình huyết thống của mình. Cuối tuần nào con cũng gọi điện về thăm hỏi ba mẹ, và thường xuyên nói chuyện với các anh chị em trong nhà. Kể từ lúc đi tu, liên hệ giữa con và các anh chị em cũng trở nên gần gũi, ấm áp và nhẹ nhàng hơn. Mọi người ai cũng hiểu ba mẹ là người mà con thương yêu và kính trọng nhất.

 

 

Con cũng thường hay viết thư tay gửi về cho ba mẹ và những người bạn thân. Với các anh chị em ruột thì con thích gửi email vì nó nhanh và đơn giản hơn. Sau khi trở thành một người xuất gia con thấy mình thật sự được “chạm đất”. Trước kia, khi còn là cư sĩ, lúc nào đầu óc con cũng mơ màng như ở trên mây. Bây giờ tình trạng đó đã được cải thiện nhiều. Con không cần phải mong đợi có được cảm giác thật sự chạm đất ấy. Chỉ cần thực tập con sẽ làm được.

Nghĩ lại ước mơ muốn trở thành thiền sư hồi 18 tuổi của con, lúc đó con chỉ đơn giản nghĩ rằng muốn tu thì phải đi vào rừng sâu. Hoặc hoặc tìm một hang động tĩnh mịch rồi ngồi thiền hàng giờ trong đó một mình hoặc ngồi thiền cùng với sư phụ để có thể chứng ngộ và đạt đến tuệ giác. Con còn tưởng tượng rằng khi thành đạo nhất định con sẽ đi du hóa khắp nơi và giảng dạy Phật pháp giống như vị thầy tu mà con thấy trên Youtube. Khi ấy chắc chắn là sẽ có rất nhiều người ngồi nghe pháp thoại của con. Đó là những hình ảnh đầu tiên mà con mường tượng trong đầu về đời sống của người xuất gia. Bây giờ sau 2 năm làm một người tu sĩ, con thấy cuộc sống xuất gia khác hoàn toàn so với những gì con đã nghĩ, nhưng mọi thứ đều tiến triển theo hướng tốt đẹp hơn.

Thầy (Sư Ông) và quý thầy và quý sư cô ở Làng đã hướng dẫn và giúp đỡ để con thật sự sống và thật sự “chạm đất” được. Khi trở thành người tu, con thấy mình có thể làm được nhiều việc hơn là mình nghĩ. Đó là một bước chuyển hóa tích cực của con. Con học cách kết nối và sắp xếp những suy nghĩ của mình, chẳng hạn như sắp xếp tổ chức công việc trước khi bắt tay vào làm, hay là chuẩn bị trước những vật dụng đơn giản như băng keo, giấy, bút,…   

Với tuệ giác và tình thương của Thầy, thầy đã mở ra cho thế hệ những xuất sĩ trẻ như chúng con một đời sống xuất sĩ mới. Chúng con cũng phụng sự và làm việc để có thêm tiền mua rau đậu. Khí hậu Phương Tây cũng khác nhiều so với khí hậu Phương Đông. Ở đây không nóng như ở bên đó. Nếu ở bên ấy, chỉ cần ôm bình bát xuống phố để khất thực thì thế nào cũng sẽ có Phật tử cúng dường đồ ăn cho chúng con. Nhưng ở Làng Mai bên Tây Phương phải trả tiền gas và tiền điện nước. Chúng con yểm trợ Đất mẹ và sử dụng thực phẩm hữu cơ. Trong phòng của các vị thiền sinh đến Làng tu tập cũng cần có máy sưởi những ngày mùa đông. Vì vậy chúng con vừa tu học và vừa phụng sự cống hiến bằng cách mở khóa tu để thiền sinh khắp nơi có thể về tham dự cùng.

Phụng sự và cống hiến cho xã hội và một phần thiết yếu trong cuộc sống của chúng con. Nếu không có phụng sự thì chúng con không phải là tu sĩ của Làng Mai. Nếu phải dừng lại việc phụng sự, không mở khóa tu cho thiền sinh nữa thì chắc con không phải là xuất sĩ của Làng Mai. Có lẽ con sẽ chia tay tăng thân nếu như không được làm những công tác ý nghĩa đó. Có thể lúc ấy con sẽ không còn cảm thấy hạnh phúc, bởi vì phụng sự cho xã hội là một phần cuộc sống của chúng con. Theo quan điểm của con thì phụng sự hay làm bất cứ một công việc gì mình cũng cần làm với niềm vui. Như vậy mình mới có đủ hạnh phúc để nuôi dưỡng chính mình và nuôi dưỡng những người xung quanh.

Một mặt khác, tổ chức khóa tu cũng là một cách huấn luyện hay. Con ý thức về sự cân bằng của bốn yếu tố: “Tu, học, chơi, làm việc” để đảm bảo một đời sống tâm linh lành mạnh. Trước kia theo hình ảnh người tu mà con nghĩ thì con sẽ thiếu hụt yếu tố làm việc. Con cứ nghĩ tu là chỉ cần ngồi thiền suốt cả ngày. Bây giờ khi đã biết thực tập, con hiểu được tầm quan trọng của sự cân bằng các yêu tố đó. Nếu không làm việc để tổ chức khóa tu, chắc chắn con cũng sẽ không có đủ hạnh phúc. Con thấy so với trước kia, sự nhìn nhận của con về yếu tố “làm việc” đã thay đổi và có nhiều chuyển hóa tích cực hơn.

 

 

(Bài viết được chuyển ngữ từ tạp chí Mindfulness Bell / Winter/Spring 2020/issue 83)

(Sư chú Chân Trời Đức Khiêm đến từ tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ. Vào mùa đông năm 2016, sư chú đã xuất gia thọ giới Sadi tại Làng Mai, Pháp quốc trong gia đình xuất gia “Cây Mai Vàng”. Sư Chú thích thực tập thiền, đọc sách, viết văn, và chia sẻ những khoảnh khắc của tình huynh đệ với các anh chị em trong gia đình xuất sĩ. Hiện tại sư chú đang tu học ở tu viện Lộc Uyển- một trung tâm thiền tập của Làng Mai tại Hoa Kỳ).

Con muốn làm người xuất gia

Mùa xuân năm 2014 con đã quyết định chọn con đường xuất gia và trở thành một người xuất sĩ theo pháp môn Làng Mai. Lúc đó con vừa tròn 18 tuổi, trước khi tốt nghiệp trường trung học ở tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ. Ba mẹ con đều sinh ra và lớn lên ở Việt Nam. Vì muốn tìm kiếm một tương lai tốt đẹp hơn nên cả hai đã chuyển qua Hoa Kỳ khi mới 20 tuổi. Sau đó, ba mẹ con định cư tại miền Đông, đó cũng là nơi mà anh chị em con được sinh ra và lớn lên.

Trước kia, hồi còn niên thiếu, con có một cuộc sống khá tự do. Con làm những điều mà mọi người cho rằng nó sẽ đem đến hạnh phúc và niềm vui. Kể cả tham dự những buổi tiệc tùng cùng bè bạn. Việc học ở trường của con khá tốt. Con cũng có một công việc ổn định, có xe hơi riêng. Con tích cực tham gia các hoạt động thể thao, nhất là đá bóng, bóng rổ, chạy bộ,… Con cũng trải qua những cuộc tình rất lãng mạn với bạn gái và tự cho mình trải nghiệm những gì mà con nghĩ là sẽ đem lại hạnh phúc lúc đó. Nhưng ngược lại, con chỉ nhận lại khổ đau và hoàn toàn rơi vào bế tắc. Con thấy mình cần phải tìm một con đường khác để mà đi tới.

 

 

Một trong những khổ đau lớn nhất của con là con không tìm thấy được một con đường mà có thể mang lại hạnh phúc đích thực cho con. Nhiều khi con thao thức, trăn trở và tự hỏi chính mình: Vì sao con lại ở đây? Cuộc đời là gì? Nếu trên đời này thật sự có Thượng Đế, thì sự hiện hữu của ngài có ý nghĩa gì? Con cứ loay hoay đi tìm ý nghĩa của cuộc đời và sự tồn tại của con trên thế gian này. Những câu hỏi như một gánh nặng trên đôi vai mà con không tìm được một câu trả lời thích đáng. Lúc ấy, liều thuốc duy nhất có thể giúp con làm vơi nhẹ khổ đau là Thiền tập. Cứ mỗi hai tuần một lần, ba mẹ thường lái xe chở con đến sinh hoạt ở một ngôi chùa Việt Nam cách nhà 15 phút. Hình ảnh của các sư cô trong chùa là hình ảnh những người hạnh phúc nhất trên đời mà con từng được gặp. Dù chỉ mới lững chững thực tập thiền nhưng những hoa trái và lợi lạc của nó đã giúp thân tâm con trở nên thanh thoát và nhẹ nhàng hơn.

Có một lần, tình cờ con được nghe pháp thoại của một sư thầy ở trên Youtube. Thấy hình ảnh của thầy, và nghe thầy trả lời  những câu hỏi của con. Lòng con bỗng nhiên cảm thấy hân hoan và sảng khoái vô cùng. Trước kia con lang thang đi tìm câu trả lời, nhưng chưa có một lời giải đáp nào giúp con cảm thấy thỏa mãn như lần này. Câu trả lời sâu sắc từ trái tim của thầy đã chữa lành và trị liệu tâm hồn con. Con chợt nhận ra trước đây mình đã nhìn cuộc đời qua một lăng kính tối tăm và bi quan. Nhờ thực tập thiền, lắng nghe tuệ giác từ thầy, cộng thêm sự yểm trợ của gia đình, sự nâng đỡ của các thầy cô, sự chăm sóc của các bác sĩ tâm lý đã giúp cho con có đủ nghị lực và sức mạnh để nhìn thấy cuộc sống tươi đẹp và đầy màu sắc trở lại. Cũng phải mất nhiều tháng trời thực tập và quán chiếu con mới có thể thật sự đi ra được vấn đề của mình.

Con quyết định chọn con đường xuất gia vì biết đích xác ước nguyện của con là được trở thành một tu sĩ như hình ảnh của sư thầy ở trên Youtube ấy. Thầy đã truyền cho con rất nhiều cảm hứng và động lực. Con muốn sau này trở thành một vị Giáo thọ Tu sĩ. Được thực tập thiền và lan tỏa, chia sẻ những chuyển hóa, những hạnh phúc ấy đến cho người thân và xã hội. Sau khi hoàn thành xong chương trình trung học ở trường, con quyết định xin vào sống trong một ngôi chùa gần nhà. Từ đó, con bắt đầu hành trình tìm kiếm con đường và pháp môn tu học để có thể trở thành một người tu sĩ.

Sau những tháng ngày rong ruổi tìm kiếm, cuối cùng thì con đã quyết định đích đến của mình là Làng Mai. Con chính thức xuống tóc để trở thành một người xuất gia ngày 14 tháng 12 năm 2016. Nhìn lại chặng đường đã đi qua, con thật sự cảm thấy hạnh phúc và mãn nguyện với quyết định của mình ngày hôm ấy.

Khi nghe con tâm sự là con muốn đi tu, ba mẹ tỏ ra hết sức lo lắng và e ngại. Cả hai người đều tìm cách khuyên con nên đi thử đi học đại học một năm, lúc đó rồi hãy tính. Trong lòng con hoàn toàn không muốn lựa chọn bước đi trên con đường ấy. Nếu con chọn con đường học đại học thì điều đó có nghĩa là con sẽ phải ký vào tờ giấy vay nợ. Nợ tiền chính phủ để đi học. Biến mình trở thành một con nợ chỉ để làm điều mà chính mình thật sự không muốn làm. Con lấy hết cam đảm để thưa với ba mẹ: “Con xin lỗi ba mẹ, con thật sự không làm được. Thật lòng con chỉ muốn xuất gia và trở thành một thầy tu thôi”.

Hiểu rõ tính cách của con, một khi đã đam mê và muốn thực hiện điều gì thì con sẽ hơi cứng đầu và phải làm cho được nên ba mẹ đành chiều lòng và chọn cách yểm trợ con. Đó cũng là khoảng thời gian mà con vừa mới trải qua được hai giai đoạn của bệnh rối loạn tâm thần (psychosis). Con nghĩ rằng khi nghe đến trạng thái rối loạn tâm thần mọi người hiểu rằng đó là do tinh thần của bệnh nhân yếu và dễ trở nên mong manh. Trước khi biết thực tập Thiền, con đã từng hút cần sa và hành xử rất ích kỷ. Con không quan tâm đến những người thương của mình. Một đêm nọ, đang hút cần sa như thường lệ, bỗng dưng con rơi vào cảm giác giống hệt như một trạng thái rối loạn tâm thần nặng (psychotic break). Cảm giác đó không hề dễ chịu và thoải mái, ngược lại nó vô cùng đáng sợ và rùng rợn. Từ đó trong con bắt đầu phát triển những  triệu chứng của tâm thần phân liệt (schizophrenia):  hoang tưởng (paranoia). Những chuyện này đã xảy ra trước khi con biết đến Thiền tập.

Thời gian đầu mới thực tập Thiền, con hay chia sẻ với mọi người trong gia đình về ý định muốn trở thành một tu sĩ phật giáo. Lúc đó con đoán rằng bố mẹ và mọi người sẽ nghĩ: “Con trai của mình đang được trị liệu và lành bệnh; nó đã bắt đầu vui vẻ trở lại và còn muốn trở thành một ông thầy tu.” Những người tu sĩ là những người rất tuyệt vời, giống như các sư cô trong ngôi chùa Việt Nam đã giúp đỡ con trước đó. Con hiểu là ba mẹ cũng nghĩ rằng “Ba mẹ cảm thấy lo ngại, vì con đường xuất gia không phải là một con đường dễ dàng, nhưng vì muốn yểm trợ con nên ba mẹ đành chiều lòng, rồi để từ từ xem sao.” Ba mẹ đã lặng lẽ theo bước và yểm trợ con như vậy: Ngày này qua ngày khác, và năm này qua năm khác.

Mới đó mà bốn năm đã trôi qua kể từ dạo ấy. Bây giờ mỗi khi nghĩ về con, ba mẹ cảm thấy ấm lòng và hãnh diện. Năm nào ba mẹ và các anh chị em trong gia đình cũng sắp xếp để thay phiên nhau qua Làng thăm con. Cả gia đình con ai cũng cùng tu tập với con. Mẹ hay kể với con là mỗi đêm mẹ thường lên Trang Nhà Làng Mai đọc và nghe pháp thoại của Sư Ông trước khi đi ngủ. Mẹ cũng hay khoe với con về những mẩu chuyện vui mà mẹ nghe được trong bài pháp thoại. Nghe mẹ kể con thấy lòng mình ngập tràn hạnh phúc. Đây cũng là cách mà con nuôi dưỡng và gìn giữ mối liên hệ với gia đình huyết thống của mình. Cuối tuần nào con cũng gọi điện về thăm hỏi ba mẹ, và thường xuyên nói chuyện với các anh chị em trong nhà. Kể từ lúc đi tu, liên hệ giữa con và các anh chị em cũng trở nên gần gũi, ấm áp và nhẹ nhàng hơn. Mọi người ai cũng hiểu ba mẹ là người mà con thương yêu và kính trọng nhất.

 

 

Con cũng thường hay viết thư tay gửi về cho ba mẹ và những người bạn thân. Với các anh chị em ruột thì con thích gửi email vì nó nhanh và đơn giản hơn. Sau khi trở thành một người xuất gia con thấy mình thật sự được “chạm đất”. Trước kia, khi còn là cư sĩ, lúc nào đầu óc con cũng mơ màng như ở trên mây. Bây giờ tình trạng đó đã được cải thiện nhiều. Con không cần phải mong đợi có được cảm giác thật sự chạm đất ấy. Chỉ cần thực tập con sẽ làm được.

Nghĩ lại ước mơ muốn trở thành thiền sư hồi 18 tuổi của con, lúc đó con chỉ đơn giản nghĩ rằng muốn tu thì phải đi vào rừng sâu. Hoặc hoặc tìm một hang động tĩnh mịch rồi ngồi thiền hàng giờ trong đó một mình hoặc ngồi thiền cùng với sư phụ để có thể chứng ngộ và đạt đến tuệ giác. Con còn tưởng tượng rằng khi thành đạo nhất định con sẽ đi du hóa khắp nơi và giảng dạy Phật pháp giống như vị thầy tu mà con thấy trên Youtube. Khi ấy chắc chắn là sẽ có rất nhiều người ngồi nghe pháp thoại của con. Đó là những hình ảnh đầu tiên mà con mường tượng trong đầu về đời sống của người xuất gia. Bây giờ sau 2 năm làm một người tu sĩ, con thấy cuộc sống xuất gia khác hoàn toàn so với những gì con đã nghĩ, nhưng mọi thứ đều tiến triển theo hướng tốt đẹp hơn.

Thầy (Sư Ông) và quý thầy và quý sư cô ở Làng đã hướng dẫn và giúp đỡ để con thật sự sống và thật sự “chạm đất” được. Khi trở thành người tu, con thấy mình có thể làm được nhiều việc hơn là mình nghĩ. Đó là một bước chuyển hóa tích cực của con. Con học cách kết nối và sắp xếp những suy nghĩ của mình, chẳng hạn như sắp xếp tổ chức công việc trước khi bắt tay vào làm, hay là chuẩn bị trước những vật dụng đơn giản như băng keo, giấy, bút,…   

Với tuệ giác và tình thương của Thầy, thầy đã mở ra cho thế hệ những xuất sĩ trẻ như chúng con một đời sống xuất sĩ mới. Chúng con cũng phụng sự và làm việc để có thêm tiền mua rau đậu. Khí hậu Phương Tây cũng khác nhiều so với khí hậu Phương Đông. Ở đây không nóng như ở bên đó. Nếu ở bên ấy, chỉ cần ôm bình bát xuống phố để khất thực thì thế nào cũng sẽ có Phật tử cúng dường đồ ăn cho chúng con. Nhưng ở Làng Mai bên Tây Phương phải trả tiền gas và tiền điện nước. Chúng con yểm trợ Đất mẹ và sử dụng thực phẩm hữu cơ. Trong phòng của các vị thiền sinh đến Làng tu tập cũng cần có máy sưởi những ngày mùa đông. Vì vậy chúng con vừa tu học và vừa phụng sự cống hiến bằng cách mở khóa tu để thiền sinh khắp nơi có thể về tham dự cùng.

Phụng sự và cống hiến cho xã hội và một phần thiết yếu trong cuộc sống của chúng con. Nếu không có phụng sự thì chúng con không phải là tu sĩ của Làng Mai. Nếu phải dừng lại việc phụng sự, không mở khóa tu cho thiền sinh nữa thì chắc con không phải là xuất sĩ của Làng Mai. Có lẽ con sẽ chia tay tăng thân nếu như không được làm những công tác ý nghĩa đó. Có thể lúc ấy con sẽ không còn cảm thấy hạnh phúc, bởi vì phụng sự cho xã hội là một phần cuộc sống của chúng con. Theo quan điểm của con thì phụng sự hay làm bất cứ một công việc gì mình cũng cần làm với niềm vui. Như vậy mình mới có đủ hạnh phúc để nuôi dưỡng chính mình và nuôi dưỡng những người xung quanh.

Một mặt khác, tổ chức khóa tu cũng là một cách huấn luyện hay. Con ý thức về sự cân bằng của bốn yếu tố: “Tu, học, chơi, làm việc” để đảm bảo một đời sống tâm linh lành mạnh. Trước kia theo hình ảnh người tu mà con nghĩ thì con sẽ thiếu hụt yếu tố làm việc. Con cứ nghĩ tu là chỉ cần ngồi thiền suốt cả ngày. Bây giờ khi đã biết thực tập, con hiểu được tầm quan trọng của sự cân bằng các yêu tố đó. Nếu không làm việc để tổ chức khóa tu, chắc chắn con cũng sẽ không có đủ hạnh phúc. Con thấy so với trước kia, sự nhìn nhận của con về yếu tố “làm việc” đã thay đổi và có nhiều chuyển hóa tích cực hơn.

 

 

(Bài viết được chuyển ngữ từ tạp chí Mindfulness Bell / Winter/Spring 2020/issue 83)

(Sư chú Chân Trời Đức Khiêm đến từ tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ. Vào mùa đông năm 2016, sư chú đã xuất gia thọ giới Sadi tại Làng Mai, Pháp quốc trong gia đình xuất gia “Cây Mai Vàng”. Sư Chú thích thực tập thiền, đọc sách, viết văn, và chia sẻ những khoảnh khắc của tình huynh đệ với các anh chị em trong gia đình xuất sĩ. Hiện tại sư chú đang tu học ở tu viện Lộc Uyển- một trung tâm thiền tập của Làng Mai tại Hoa Kỳ).

Chương 7: Chế tác truyền thông

 

Chưa bao giờ trong lịch sử loài người có quá nhiều phương tiện truyền thông như ngày nay: điện thoại di động, máy nhắn tin, điện thư (email), phương tiện truyền thông trực tuyến… nhưng chúng ta lại xa cách mọi người hơn bao giờ hết. Mọi người trong gia đình, trong xã hội và giữa các quốc gia ít có truyền thông với nhau thực sự.

Là một nước văn minh, chúng ta phải đảm bảo là không chế tác những nghệ thuật nghe nói chỉ nhằm để thỏa mãn một nhu yếu bình thường nào đó. Chúng ta thật sự không biết lắng nghe nhau. Hầu hết chúng ta có rất ít khả năng quý giá là bày tỏ chính mình và lắng nghe người khác với một tinh thần cởi mở, thành thật. Khi không thể truyền thông được thì năng lượng bên trong bị bế tắc, làm cho ta bệnh hoạn. Khi bệnh tình tăng trưởng thì ta lại khổ đau và khổ đau của ta lại đổ lên người khác.

Nếu muốn truyền thông với người khác tốt hơn, ta không cần phải nhắn tin thêm cho họ, mà ta chỉ cần lắng nghe họ thêm. Lắng nghe sâu đưa tới cái hiểu. Hiểu đưa tới liên hệ tốt hơn. Cách lắng nghe sâu không đơn thuần là cố gắng nhiều hơn. Trái lại, ta cần thời gian thực tập bắt đầu bằng sự im lặng, tắt đài NST trong đầu (đài suy nghĩ liên tục, không ngừng).

Truyền thông bằng chánh niệm

Tất cả chúng ta đều mong muốn (thèm khát) truyền thông và nhiều người trong chúng ta tìm cách truyền thông qua điện thoại, email. Ta thấy ngọt ngào dễ chịu khi ai đó gởi cho ta một tin nhắn hay một email, và cảm thấy lo lắng khi không có điện thoại hay không ở gần điện thoại.

Tôi không có điện thoại nhưng không thấy mất truyền thông với bạn bè và đệ tử. Tôi thường nghĩ tới họ. Tôi viết thư cho họ trên giấy viết thực sự. Nó cũng mất thời gian, đôi khi cần vài ngày hay cả tuần để viết một trang thư cho một người bạn. Nhưng trong lúc đó, tôi lại có nhiều thời gian để nghĩ về người bạn của tôi. Tôi cũng có những người bạn đến thăm. Chúng tôi không nói chuyện thường xuyên, ngay cả trên điện thoại. Nhưng khi ngồi chơi với nhau, chúng tôi thật sự trân quý thời gian đó. Tôi nhìn họ và lắng nghe họ kỹ càng. Lời nói của họ rất quý giá bởi vì tôi sẽ không được nghe những lời như thế nữa trong một thời gian.

Bạn có bao giờ ngồi chơi với bạn thân mà không cần nói gì hết không? Với tôi, đó là một tình bạn sâu sắc nhất, một tình bạn tâm linh chân thật. Điều này rất quý hiếm. Một người bạn tâm linh, một thiện hữu tri thức, trong một ý nghĩa nào đó, là người thầy của mình. Người thầy đích thực là người có tự do và không sợ sự im lặng. Người đó không cần phải được gọi là thầy, người đó có thể nhỏ hơn ta. Nếu trong đời, ta có một thiện hữu tri thức, một người bạn tâm linh tốt như vậy thì ta đã quá may mắn rồi. Người ta nói rằng gặp được thiện hữu tri thức thì quý hiếm giống như hoa Ưu Bát Đa La ba ngàn năm mới nở một lần.

Khi gặp được một thiện hữu tri thức, ta phải biết thừa hưởng những cái tốt từ người bạn đó. Người đó có hiểu biết, có hạnh phúc, có tự do và ta có thể nương tựa người đó để tưới tẩm những hạt giống hiểu biết, tự do cho chính ta. Cuối cùng, ta cũng nhận ra rằng ta không cần nhiều những tiện nghi tình cảm và tiện nghi vật chất. Chúng ta không cần thiện hữu tri thức, hay người bạn tâm linh khen ngợi ta, gọi điện cho ta mỗi ngày. Ta không cần những món quà mua ở tiệm hay những đối xử đặc biệt.

Chúng ta phải sử dụng thời gian của mình cho có hiệu quả. Nếu ta lãng phí thời gian với những đòi hỏi tầm thường thì ta sẽ không có khả năng thừa hưởng những món quà đích thực quý giá từ người bạn tâm linh. Chúng ta có thể gặt hái được những tuệ giác giá trị bằng cách quan sát cách người ấy hành xử qua những trường hợp khác nhau. Chúng ta có thể kinh nghiệm được cái hiểu biết lớn mà họ có được. Ta không cần phải ngồi cạnh họ suốt ngày, hay bắt họ chú ý tới ta, công nhận sự có mặt của ta. Đơn giản ta chỉ thưởng thức sự có mặt của họ mà không cần họ phải làm, hay cho ta bất cứ thứ gì.

Người bạn tâm linh, thiện hữu tri thức có thể là bất cứ người nào, có thể là người mà ta không mong đợi. Nhưng khi gặp được một người như thế, ta hạnh phúc vô cùng.

Nuôi dưỡng sự im lặng dễ chịu

Khi sống với một ai đó, có thể ta ý thức được sự tĩnh lặng từ người thân quen làm cho ta cảm thấy thoải mái. Nhưng nếu ta không gìn giữ chăm bón thì sự thoải mái dễ chịu này có thể khiến ta nhờn đi sự có mặt của người ấy. Antoine de Saint-Exupéry, tác giả cuốn Hoàng tử đã viết: “Thương nhau không phải nhìn nhau mà cùng nhìn về một hướng.” Tôi nghĩ ông ta nói như vậy không có nghĩa là ngồi trong phòng cùng coi ti vi với nhau.

Có thể lý do mà cả hai người cùng nhìn về một hướng ti vi là bởi vì nhìn nhau không mang lại hạnh phúc nhiều như trước đây. Khi mới gặp nhau, ta nghĩ người thương của ta rất dễ thương và hấp dẫn. Người ấy là thiên thần của đời ta, ta nói rằng: “Không có em ta không thể sống được.” Nghe giọng nói của người kia như là nghe tiếng chim hót, rất ngọt ngào, nhìn nhau thấy lòng ấm áp như mặt trời lên. Còn bây giờ, nhìn nhau, nghe nhau không còn mang đến cho nhau niềm vui và hạnh phúc nữa. Có thể ta đã cãi cọ quá nhiều và không biết cách hòa giải, không biết cách tìm lại nguồn hạnh phúc. Nếu ta không tìm cách nói chuyện, truyền thông mà cứ xem ti vi thì tình trạng chỉ tệ hại thêm năm này qua năm khác.

Có lần một phụ nữ đến phỏng vấn quý sư cô xóm Mới, Làng Mai cho tờ báo Phụ nữ. Ngày nọ, khi nhà báo đang nói chuyện với quý sư cô thì tôi đến thăm. Cô ta nắm lấy cơ hội này để phỏng vấn tôi. Cô ta muốn tôi nói về thiền và chánh niệm. Nhưng tôi thấy mình nên gây cảm hứng cho người ta thực tập hơn. Đây là những đề nghị của tôi cho độc giả báo Phụ nữ thực tập:

Tối nay, sau khi ăn tối, khi chồng mình mở ti vi lên, hãy thực tập những hơi thở thật sâu, làm cho thân tâm lắng dịu rồi mỉm cười với anh ta và nói: “Anh ơi, anh có thể tắt ti vi được không? Em có chuyện muốn nói với anh.” Với lời nói ái ngữ, bạn nói với chồng như thế. Có thể anh chồng hơi bực mình và chờ đợi một cuộc cãi lộn hay chuyện gì đó tương tự xảy ra.

Sau khi anh ta tắt ti vi, bạn tiếp tục mỉm cười và nói: “Anh ơi, tại sao vợ chồng mình không có hạnh phúc? Dường như mình có tất cả. Cả hai đều có lương cao. Mình có nhà đẹp và có đủ tiền trong ngân hàng. Vậy tại sao mình không hạnh phúc? Chúng ta có thể dành vài phút để xem lại điều này không? Ban đầu chúng ta sống với nhau rất dễ thương, chúng ta có hạnh phúc. Chúng ta có thể nói cho nhau nghe để cùng nhau tìm ra nguyên nhân tại sao hạnh phúc của chúng ta lại ra đi?”

Đó là thiền tập. Đó mới đích thực là thiền. Thông thường, chúng ta chỉ đổ lỗi cho người kia, nhưng trong bất kỳ mối quan hệ nào, cả hai bên đều cùng có trách nhiệm cho những gì xảy ra. Cả hai bên đều không biết cách nuôi dưỡng tình yêu và hạnh phúc. Hầu hết chúng ta không biết cách xử lý khổ đau hoặc giúp người khác xử lý khổ đau của họ. Vì vậy, tôi đã nói những điều đó với độc giả báo Phụ nữ. Để cho những chia sẻ của mình dễ thương và có ích, bạn phải chuẩn bị, sắp xếp những lời nói của mình, như là: “Em đã có lỗi, em đã suy nghĩ, đã nói và đã làm những điều gây tổn hại đến hạnh phúc và truyền thông của chúng ta.”

Khi thấy hai bên có sự xung đột thì ta phải trở về với chính mình và nhìn lại kỹ hơn. Nếu nhận ra được cách ta nghĩ, ta nói, ta làm có hại cho mối quan hệ của hai bên, thì ta có thể xin lỗi người kia. Với sự thành thật và chánh niệm, chúng ta có thể bày tỏ mong muốn làm mới trở lại.

Thực tập mà tôi đề nghị với nhà báo kia có thể gia đình nào cũng làm được. Chúng ta bắt đầu bằng cách tắt ti vi đi và nói chuyện với nhau. Sử dụng ngôn ngữ bình thường, cùng nhau nhìn sâu vào tình trạng của mình. Chúng ta có thể khởi đầu bằng những cuộc hội thoại như thế.

Khi một cặp vợ chồng đang khổ đau và cùng nhau nhìn về một hướng, thì hướng đó không phải là hướng ti vi. Những người thương yêu nhau thực sự thì nên nhìn về hướng an lạc. Tất cả chúng ta cần thực tập nuôi dưỡng tình thương và giúp nhau xử lý những khổ đau đang có trong mỗi chúng ta, trong chồng mình, vợ mình, bạn mình và trong thế giới. Người ta khổ đau trên khắp thế giới, chúng ta phải yểm trợ họ. Đây là điều mà ta có thể làm được. Bất cứ lúc nào ta giúp được cho mọi người bớt khổ thì hạnh phúc của ta sẽ lớn lên.

Trong các khóa tu ở Làng Mai, có những cặp vợ chồng sắp bị đổ vỡ đến tham dự. Đăng ký tham dự khóa tu là phương cách cuối cùng. Và sau mỗi khóa tu năm ngày, sáu ngày hay bảy ngày luôn luôn có những cặp vợ chồng có thể hòa giải được. Điều đó nuôi dưỡng hạnh phúc của tất cả mọi người.

Bạn và vợ hay chồng bạn là những người thương của nhau, bạn có thể mơ, nghĩ và hành xử như thế nào để giúp nhau bớt khổ. Một khi biết cách trưởng dưỡng hạnh phúc và xử lý khổ đau trong mình và trong người kia thì cả hai có thể tiếp tục giúp đỡ những người khác. Đó là cùng nhau nhìn về một hướng. Điều này làm cho hạnh phúc của ta vững chắc và tăng trưởng.

Âm nhạc im lặng

Trong âm nhạc có những khoảng lặng, không có âm thanh. Nếu không có không gian cho những khoảng lặng ấy thì nó sẽ trở nên rối rắm và hỗn độn. Âm nhạc mà không có những khoảng lặng sẽ rất rối loạn và nặng nề. Khi chúng ta ngồi yên với một người bạn mà không nói gì cả, nó quý giá và quan trọng như những dấu lặng cần thiết trong âm nhạc. Những người bạn ngồi yên lặng với nhau có thể tốt hơn là nói chuyện.

Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ được nhiều người mến mộ. Ông sinh năm 1939. Ông được gọi là Bob Dylan của Việt Nam. Người ta nói rằng khi ông qua đời năm 2001, hàng ngàn người đến tham dự buổi hòa nhạc tự phát trong lễ tang của ông.

Trịnh Công Sơn rất mệt mỏi với những tiếng ồn cho dù đó là những tiếng kêu gào khen ngợi hay vỗ tay hoan hô. Ông trân quý những giây phút tĩnh lặng. Ông viết: “Có những sự có mặt của bạn bè tương đương với một dấu lặng trong âm nhạc nên sự có mặt đó thường có khả năng mang đến cho ta một sự thoải mái thảnh thơi tựa hồ như niềm hoan lạc. Đó là những trường hợp ta không cần phải đối phó, không cần phải cố gắng lấp đầy khoảng trống bằng những câu chuyện gắng gượng, nhạt nhẽo.” Trịnh Công Sơn thích những lúc ngồi im lặng với bạn bè mà không cần nói năng hay làm gì cả, chỉ nuôi dưỡng bởi tình bạn. Tất cả chúng ta đều cần những tình bạn như thế.

Ở Làng Mai, chúng tôi thích ngồi thiền, đặc biệt là ngồi với tăng thân, ngồi như một gia đình tâm linh. Trong suốt buổi ngồi thiền, ta không nói gì cả. Ấy vậy mà nhiều người trong chúng ta cảm thấy ngồi ba, bốn người hay nhiều hơn thì vui hơn là ngồi một mình. Ngồi yên với nhau như thế, mỗi người đều được nuôi dưỡng bởi sự có mặt của nhau.

Trong tác phẩm Tỳ bà hành có kể một câu chuyện về một người phụ nữ đang chơi đàn Tỳ bà, bỗng dưng ngưng bặt không chơi nữa. Nhưng giây phút mà người chơi đàn Tỳ bà ngưng đàn thì tuy không có tiếng đàn mà còn hay hơn có tiếng đàn nữa. “Tiếng tơ lặng ngắt bây giờ càng hay”.

“Thử thời vô thanh thắng hữu thanh.” Thử thời là ngay bây giờ. Vô thanh nghĩa là không có âm thanh. Thắng là chiến thắng. Hữu thanh là có âm thanh. Vô thanh thắng hữu thanh, hay nói cách khác là âm thanh nhường cho sự im lặng. Không gian giữa các nốt nhạc rất hào hùng và rất có ý nghĩa. Nó hùng hồn hơn bất cứ loại âm thanh nào. Sự im lặng có thể dễ chịu, sâu sắc hơn âm thanh. Trịnh Công Sơn cũng thấy như vậy.

Một trong những học trò người Mỹ của tôi nói với tôi là ông David Sanborn người Mỹ, chơi kèn Xắc-xô, cũng nói những điều tương tự như vậy trong một cuộc phỏng vấn. Sanborn nói, theo như anh bạn Hank Crawford, người chơi Xắc-xô, và Miles Davis, người sáng tác và chơi kèn trumpet nổi tiếng: “Hank hiểu rằng khoảng lặng mà ta ngưng lại quan trọng như âm thanh ta phát ra… Và khi nghe Miles Davis, tôi đã bị cuốn hút bởi sự đơn giản và cách sử dụng khoảng lặng của anh ta để làm đầy những khoảng không gian kia.”

Thầy Ananda và âm nhạc truyền thông

Mối quan hệ và sự truyền thông cũng giống như một loại âm nhạc. Ngồi với bạn bè ta không cần phải nói gì cả. Chỉ cần có sự hiểu biết cảm thông và trân quý sự có mặt mà chúng ta hiến tặng cho nhau là đủ rồi. Tôi tin là trong những năm khổ cực của chiến tranh Việt Nam, điều an ủi lớn nhất của Trịnh Công Sơn là những giây phút ngồi yên với bạn bè. Tuy nhiên, nếu một người không biết cách ngồi như thế, nếu anh ta chỉ biết rót rượu từ ly này qua ly khác thì những giây phút ấy sẽ mất đi.

Một lần nọ, khi Bụt đang ở tu viện Jetavana Ấn Độ, trong khi 200 vị khất sĩ thường trú chuẩn bị cho khóa an cư hằng năm thì có 300 người từ Kosambi đến. Các vị khất sĩ rất vui mừng khi gặp nhau và họ nói chuyện với nhau rất lớn. Từ phòng của mình nghe ồn, Bụt hỏi vị đệ tử lớn Shariputta: “Có chuyện gì mà ồn dữ vậy?”

Thầy Shariputta trả lời: “Có quý thầy từ Kosambi đến, gặp nhau họ mừng rỡ, nói cười lớn tiếng và đánh mất uy nghi. Xin Ngài tha lỗi cho họ.”

Bụt nói: “Nếu họ ồn ào, thô tháo như vậy thì mời họ đi nơi khác. Không thể ở lại đây được.” Đức Bụt muốn dạy cho quý thầy sử dụng năng lượng của mình có ý thức và chánh niệm hơn.

Thầy Shariputta thông báo cho quý thầy nghe những gì Bụt nói. Quý thầy im lặng và dời đi một nơi khác gần đó để an cư. Trong suốt 90 ngày an cư, quý thầy nhớ lại lời Bụt dạy, không đánh mất mình trong những cuộc chuyện trò vô bổ. Họ hết lòng thực tập chế tác niệm định, và cuối mùa an cư họ chuyển hóa được rất nhiều. Điều này không làm cho họ trở nên nặng nề, nghiêm trọng mà trái lại khuôn mặt của họ sáng ngời, nụ cười họ rất tươi.

Vào ngày tự tứ, kết thúc mùa an cư, quý thầy muốn trở lại cám ơn Bụt đã chỉ dạy cho họ. Khi tin này đến tai thầy Shariputta, thầy nói với Bụt: “Bạch thầy, quý thầy đã hoàn tất ba tháng an cư và muốn đến bày tỏ niềm cung kính đối với Ngài.” Bụt cho gọi các thầy đến và chắp tay xá chào.

Lúc đó vào khoảng 7 giờ tối, khoảng 300 thầy đến từ Kosambi và vài trăm thầy thường trú ngồi với Bụt trong thiền đường. Thầy trò ngồi với nhau im lặng từ 7 giờ tối cho đến nửa đêm, không ai nói với ai lời nào.

Thầy Ananda, thị giả của Bụt, đi đến bên Bụt và nói: “Bạch thầy, bây giờ đã là nửa đêm, thầy có gì nói cho quý thầy nghe không?” Bụt không trả lời, và mọi người ngồi với nhau như thế cho đến 3 giờ sáng, ngồi với nhau mà không nói một lời nào. Thầy Ananda hơi lung túng, vì vậy thầy đi đến bên Bụt và nói: “Bây giờ là 3 giờ sáng rồi. Thầy có nói gì với quý thầy không?” Bụt vẫn tiếp tục ngồi yên im lặng với mọi người.

Đến 5 giờ sáng, thầy Ananda trở lại và năn nỉ: “Bạch thầy, mặt trời lên rồi, Ngài không nói gì với quý thầy chăng?”

Cuối cùng Bụt lên tiếng: “Thầy muốn ta nói điều gì? Thầy trò ngồi với nhau hạnh phúc, bình an như vậy không đủ hay sao?”

Có khả năng hiểu và trân quý sự có mặt của người kia là một hạnh phúc rất lớn. Đơn giản như vậy thôi. Mặc dù không nói gì, không có một âm thanh nào phát ra, nhưng hoàn toàn có giá trị hơn bất kỳ một âm thanh nào khác.

Đến với nhau bằng sự im lặng

Trong đời sống hằng ngày, nhiều người cứ chuyện trò qua lại với người khác suốt ngày. Nhờ chánh niệm, ta luôn có khả năng chạm được vào cái tĩnh cư dễ chịu, tươi mát bên trong. Như tôi đã nói trước đây, độc cư không có nghĩa là sống một mình trong một cái cốc trong rừng sâu núi thẳm, cắt đứt mọi liên hệ với nền văn minh bên ngoài, cho dù sống độc cư là một trong những khía cạnh tâm linh mà chắc chắn ta cần thực tập.

Độc cư đích thực đến từ một trái tim an định vững vàng mà không bị lôi kéo bởi đám đông, bởi những buồn đau trong quá khứ, những lo lắng về tương lai, hay những căng thẳng, kích động trong hiện tại.

Nương tựa vào hơi thở chánh niệm, trở về với giây phút hiện tại là nương tựa vào hải đảo xinh đẹp và thanh tịnh mà mỗi chúng ta đều có trong lòng. Chúng ta không đánh mất mình, không đánh mất chánh niệm.

Chúng ta có thể ngồi chơi với nhau, với những người khác mà không bị đánh mất mình trong những cảm thọ hay kẹt vào những tri giác. Trái lại, ta có thể xem người kia như là những người yểm trợ ta. Khi thấy một ai đó đi trong chánh niệm, nói những lời thương yêu, an trú trong công việc mình đang làm thì người đó nhắc nhở ta trở về với suối nguồn chánh niệm trong mình. Khi ta thấy một người nào đang xao lãng, tán tâm thì đó cũng có thể là một tiếng chuông chánh niệm, nhắc nhở chúng ta tinh tấn trở về tiếp xúc với sự có mặt đích thực của ta, để hiến tặng cho tự thân và hiến tặng cho người khác. Có thể người kia nhận ra được phẩm chất của sự có mặt của ta và can đảm trở về với tự thân người ấy.

Khi chúng ta có mặt, chơi với những người chung quanh mà không đánh mất mình trong những cuộc chuyện trò thì bất kỳ ở đâu chúng ta cũng có thể mỉm cười, thở vào bình yên và an trú hạnh phúc trong hải đảo tự thân của mình.

Có được một tăng thân yểm trợ cho sự thực tập đều đặn của chúng ta là rất quan trọng. Nếu ta có cơ hội ngồi với người khác và để cho năng lượng chánh niệm tập thể ôm lấy nỗi khổ đau của ta thì chúng ta giống như một giọt nước đang trôi trong một dòng sông bao la và chúng ta sẽ thấy khỏe hơn nhiều.

Điều quý giá nhất mà ta có thể hiến tặng cho nhau là sự có mặt của chúng ta đóng góp vào năng lượng chánh niệm và an lạc tập thể. Chúng ta có thể ngồi cho những người không thể ngồi được, đi cho những người không thể đi được, chế tác năng lượng bình an và yên tĩnh cho những ai không yên tĩnh bình an được.

Có thể chúng ta không cần phải làm gì để tháo gỡ những nội kết của chúng ta trong bầu không khí như thế, nội kết tự nó được chuyển hóa.

Với mỗi bước chân chánh niệm, mỗi hơi thở ý thức, ta có thể vừa trị liệu bản thân vừa trị liệu thế giới.

Phát triển thói quen tập thể

Tâm thức cộng đồng có thể là một loại thức ăn độc hại hay hiền thiện. Cũng vậy, thói quen suy nghĩ, nói năng và hành động của cộng đồng có thể lành mạnh hay không lành mạnh. Nếu chúng ta, những người làm việc chung với nhau, những người trong gia đình hay bạn bè, cùng cam kết với nhau thở chánh niệm trước khi trả lời điện thoại, hay dừng lại nghe chuông, nghe điện thoại, nghe chuông đồng hồ điểm, nghe tiếng còi hoặc tiếng máy bay, điều này sẽ trở thành những thói quen tập thể mang đến rất nhiều lợi lạc.

Thói quen tập thể có thể rất hùng mạnh. Chúng ta có thể yểm trợ nhau để dừng lại những thói quen cổ hủ, không lành mạnh và đi tới một hướng đi tốt đẹp hơn. Cùng với nhau, chúng ta có thể dừng lại những suy nghĩ và tập trung vào hơi thở của mình. Chúng ta có thể yểm trợ nhau để thở vào nhẹ nhàng và tập trung vào hơi thở vào, thở ra nhẹ nhàng và tập trung vào hơi thở ra. Điều này rất đơn giản nhưng hiệu quả thì vô cùng lớn lao. Nếu mọi người dừng lại những suy nghĩ và thở với nhau bằng ý thức thì tự nhiên ta không còn bị cô lập hóa bởi cái cá nhân nữa, chúng ta là một tập thể vui tươi. Chúng ta không hành xử như những cá nhân riêng lẻ mà hành xử như một tập thể, một cơ thể siêu việt. Nguồn năng lượng mới được tạo ra này thậm chí còn mạnh hơn nguồn năng lượng được tạo ra khi ta đi và thở có chánh niệm.

Khi chúng ta cho phép mình buông thư và để cho nguồn năng lượng Chánh Niệm và Chánh Định tập thể đi vào mình thì việc trị liệu có thể xảy ra rất dễ dàng. Khi tuyệt vọng, nếu chúng ta mở thân tâm mình ra và để cho năng lượng Chánh Niệm Chánh Định tập thể đi vào thì chúng ta được trị liệu rất nhiều.

Nuôi dưỡng người khác

Chúng ta có thể học cách chế tác sự im lặng có công năng trị liệu hùng hậu, không chỉ trong gia đình hay trong những nhóm tu học địa phương mà còn trong những tăng thân rộng lớn hơn. Nếu là thầy giáo cô giáo, chúng ta phải biết cách nuôi dưỡng sự Im Lặng Hùng Tráng tươi mát này trong lớp học. Nếu là những thương gia, những nhà lãnh đạo, chúng ta có thể đề nghị mở đầu một buổi họp, hoặc bắt đầu ngày làm việc bằng sự im lặng này.

Năm 1997, ở Ấn Độ, khi viếng thăm chủ tịch quốc hội, tôi đã đề nghị ông giới thiệu pháp môn thực tập nghe chuông, thở và cười trong các buổi họp lập pháp. Tôi đề nghị các thành viên trong quốc hội bắt đầu các buổi họp bằng hơi thở chánh niệm và nghe chuông. Khi sự trao đổi và bàn cãi lên cao độ, mọi người không còn khả năng lắng nghe nhau nữa thì có thể thỉnh lên một tiếng chuông để cho toàn quốc hội có thể dừng lại, thở những hơi thở chánh niệm, làm lắng dịu thân tâm trước khi tiếp tục bàn luận và lắng nghe nhau. Mười ngày sau, ông ta lập ra một hội đồng đạo đức học (ethics committee) trông coi những thực tập đem lại văn minh cho quốc hội.

Nếu ta khắc những giây phút yên tĩnh bao la nho nhỏ vào những sinh hoạt khác nhau của đời sống hằng ngày thì ta sẽ đạt tới một tự do vô bờ bến. Chúng ta không còn tranh giành địa vị, danh tiếng với hy vọng những thứ này sẽ đem đến cho ta hạnh phúc nữa. Chúng ta có thể hạnh phúc ngay bây giờ. Chúng ta có thể có bình yên và an vui ngay nơi phút giây này. Dù chúng ta đã từng lăng xăng bất ổn suốt đời và chỉ còn hai phút nữa để sống trước khi nhắm mắt thì chúng ta vẫn có thể dừng suy nghĩ để thở những hơi thở chánh niệm, tìm lại sự yên tĩnh và bình an. Nhưng tại sao phải đợi đến khi nằm trên giường bệnh mới ý thức và trân quý phép lạ là mình đang còn sống?

Thực tập: Ngồi chỉ để ngồi

Thỉnh thoảng ta nghe người ta nói: “Đừng có ngồi không đó, làm gì đi chứ.” Họ rất muốn làm. Nhưng những người thực tập chánh niệm thì thường hay nói: “Đừng làm gì hết, hãy ngồi yên đó.” Không làm thực ra cũng là làm. (Vô hành tức là hành.) Có những người dường như họ không làm gì nhiều nhưng sự có mặt của họ rất quan trọng cho sự an sinh của thế giới. Phẩm chất của người đó thật sự cần thiết cho người khác và cho cuộc sống. Không làm đối với họ đã là làm rồi. Có thể đôi khi ta cũng muốn ngồi yên không làm gì cả nhưng khi có cơ hội, ta lại không biết ngồi yên, không biết thưởng thức giây phút hiện tại.

Điều này rất phổ biến vì xã hội của ta là một xã hội phải luôn có mục tiêu để hướng tới. Chúng ta có khuynh hướng luôn đi theo một chiều hướng nào đó và luôn có một mục tiêu đặc biệt trong tâm thức. Trái lại, đạo Bụt tôn trọng giáo lý vô nguyện (vô tác). Giáo lý này dạy ta không cần phải đặt ra một mục tiêu phía trước để chạy theo, bởi vì mọi thứ đã có sẵn trong ta rồi. Ngồi cũng vậy. Đừng ngồi để đạt được mục tiêu gì cả. Mỗi giây phút ngồi thiền đều mang ta trở về với sự sống. Bất kể làm gì, tưới vườn, đánh răng, rửa bát, chúng ta phải xem thử mình có khả năng làm với tinh thần vô nguyện không.

Chúng ta có thể ước mơ, có thể đặt ra mục đích cho đời mình. Nhưng đừng để cho chúng trở thành chướng ngại, không cho ta sống hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây.

Ngồi im lặng có thể là sự thực tập vô nguyện tuyệt vời. Chúng ta có thể thực tập thiền hướng dẫn theo hướng vô nguyện. Đây là thiền tập giúp ta vun trồng sự tự nhiên, tươi mát, vững chãi, trong sáng và không gian bao la trong lòng.

Thở vào, tôi biết tôi đang thở vào.

Thở ra, tôi biết tôi đang thở ra.

(Vào/ra)

 

Thở vào, tôi thấy mình là hoa.

Thở ra, tôi thấy tươi mát.

(Hoa/tươi mát)

 

Thở vào, tôi thấy tôi là núi.

Thở ra, tôi thấy vững vàng

.(Núi/vững vàng).

Thở vào, tôi thấy mình là nước tĩnh.

Thở ra, lặng chiếu.

Nước tĩnh/lặng chiếu)

 

Thở vào, tôi thấy mình là không gian.

Thở ra, tôi thấy thênh thang.

(Không gian/ thênh thang)

Chương 6: Chú tâm

 

Càng thường xuyên trở về ngôi nhà đích thực của chính mình, càng có nhiều thời gian thực tập chánh niệm thì ta càng ý thức được nỗi khổ đau của ta. Hơi thở chánh niệm và sự vắng lặng không những giúp ta tiếp xúc với niềm vui, mà còn giúp ta tiếp xúc được với nỗi đau, đặc biệt là khi ta ý thức hơn về nỗi đau mà ta đang trốn chạy.

Chúng ta có một khuynh hướng tự nhiên là muốn trốn chạy khổ đau. Nhưng không có khổ đau thì ta không thể lớn lên thành người.

Đối diện với khổ đau bằng cách này thì chúng ta sẽ bớt khổ đi nhiều, khổ đau có thể tự nó được chuyển hóa dễ dàng hơn.

Thay vì tiếp tục chạy trốn khổ đau hay đẩy khổ đau vào những xó xỉnh xa xôi nào đó trong tâm thức, ta chỉ cần nhận diện nó.

Nếu không bao giờ khổ đau, ta sẽ không có nền tảng hoặc động lực để phát triển trí tuệ và từ bi. Khổ đau rất quan trọng. Chúng ta phải học cách nhận diện và ôm ấp khổ đau vì ý thức về khổ đau sẽ giúp ta lớn lên.

Chúng ta khá thường xuyên tránh né sự im lặng, nghĩ rằng như vậy là chúng ta sẽ tránh được khổ đau, nhưng sự thật là dành thời gian tĩnh lặng để ý thức trở về ngôi nhà đích thực của chúng ta là cách duy nhất giúp ta trị liệu khổ đau.

Nhận diện khổ đau

Nhiều bài giảng của tôi có mục đích giúp mọi người học cách nhận diện khổ đau, ôm ấp khổ đau và chuyển hóa khổ đau. Chúng ta có khả năng mỉm cười với nỗi khổ của ta bằng sự bình an giống như ta mỉm cười với bùn vậy, bởi vì ta biết rằng, chỉ khi nào có bùn và biết cách tận dụng bùn thì chúng ta mới có thể trồng được sen.

Có thể có những nguồn khổ đau lớn, những nỗi đau do những cảm xúc mạnh gây nên và ở lại với ta lâu dài tạo thành những vết thương căn để. Tuy nhiên, cũng có những khổ đau nho nhỏ, mà tiếng Pháp gọi là les petites misères, nhưng lại làm chúng ta mòn mõi, hao gầy từ ngày này qua ngày khác. Nếu biết cách xử lý những khổ đau nho nhỏ ấy thì chúng ta sẽ không trở thành nạn nhân của những công việc hằng ngày. Khi khổ đau kết thành khối, cho dù là từ những khổ đau lớn hay từ những khổ đau nho nhỏ, chúng ta cũng nên học cách nhận diện và ôm ấp nó.

Khổ đau mà chúng ta đang có có thể được trao truyền từ cha mẹ, ông bà, tổ tiên của chúng ta. Nếu có khả năng nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa thì không những ta chuyển hóa cho chính ta mà còn chuyển hóa cho cha mẹ, ông bà và tổ tiên ta nữa.

Chúng ta không thể trốn thoát nỗi đau. Nó có mặt khắp nơi. Bên cạnh những khổ đau cá nhân và khổ đau của cộng đồng loài người, thì cũng có những khổ đau từ thiên nhiên. Những thiên tai và thảm họa do con người gây ra xảy ra hằng ngày trên toàn cầu, như sóng thần, cháy rừng, đói kém, chiến tranh… những trẻ em vô tội chết mỗi ngày do thiếu nguồn nước sạch, thiếu thức ăn hoặc thuốc uống. Chúng ta cũng liên hệ mật thiết với những khổ đau này cho dù chúng ta không trực tiếp gánh chịu những khổ đau ấy. Em nhỏ kia, người đàn bà già nua kia, người thanh niên thiếu nữ kia… khi họ chết thì ta cũng chết với họ dưới hình thức này hay hình thức khác. Tuy nhiên, ta đang còn sống, nghĩa là họ cũng đang còn sống với chúng ta bằng một cách nào đó. Chúng ta phải thiền tập quán chiếu về điều này. Hiểu được sự thực sâu sắc này giúp chúng ta phát khởi nguồn Tư Niệm Thực, ước muốn sống như thế nào để có thể giúp người khác vẫn được tiếp tục sống như mình.

Hải đảo tự thân

Khi bước vào ngôi nhà của mình, ta có thể thư giãn, trở về với chính mình. Ta cảm thấy ấm cúng, thoải mái, an toàn và hạnh phúc.

Nhưng thực sự thì ngôi nhà đích thực của ta ở đâu?

Ngôi nhà đích thực của ta, cái mà Bụt gọi là hải đảo tự thân, là một nơi bình an bên trong. Thường thì ta không thấy nó ở đó, thậm chí ta không biết thật sự ta đang ở đâu, bởi vì môi trường bên ngoài và bên trong ta đầy những tiếng ồn. Ta cần một ít tĩnh lặng để tìm lại hải đảo tự thân.

Mỗi khi thấy mệt mỏi, bực bội, buồn rầu, sợ hãi, lo lắng…, ta sử dụng hơi thở chánh niệm để trở về ngôi nhà của chính mình, trở về với hải đảo chánh niệm. Nếu thực tập chánh niệm đều đặn, luôn trở về với hải đảo tự thân, thì khi có vấn đề khó khăn, ta sẽ dễ dàng và thích thú hơn để tìm lại nơi an toàn, trở về lại ngôi nhà của chính mình. Chúng ta có đủ may mắn để biết các pháp môn thực tập chánh niệm, chúng ta phải tận dụng sự thực tập để làm lớn mạnh sự liên hệ với ngôi nhà đích thực của mình. Đừng đợi đến khi bị sóng lớn đánh ta mới trở về hải đảo tự thân. Thực tập trở về càng nhiều càng tốt bằng cách sống chánh niệm trong những giây phút của đời sống hằng ngày. Làm được như vậy thì chắc chắn khi những lúc khó khăn đến, ta sẽ dễ dàng và tự nhiên thoải mái trở về ngôi nhà của mình.

Đi thiền, ngồi thiền, uống trà, ăn cơm, thở trong chánh niệm là những thực tập nương tựa cụ thể mà chúng ta có thể thực tập nhiều lần trong ngày. Hạt giống chánh niệm luôn có trong ta. Hơi thở vào ra của ta cũng luôn có đó. Chúng ta có hải đảo tự thân. Nương tựa hải đảo tự thân bằng chánh niệm là thực tập hằng ngày của chúng ta.

Thầy Đạo Dừa

Ở Việt Nam có một thầy tu mà người ta gọi là thầy Đạo Dừa, bởi vì thầy thích leo lên cây dừa ngồi thiền trên đó. Trên đó thầy làm một tấm ván để ngồi và ngồi rất mát. Khi còn trẻ, thầy đã học kỹ sư ở Pháp. Nhưng khi trở lại Việt Nam, chiến tranh xảy ra khắp nơi nên thầy không muốn làm kỹ sư nữa, thầy muốn làm thầy tu, thực tập như một người tu. Thầy viết một lá thư ca ngợi Nhất Chi Mai, đã tự thiêu để kêu gọi hòa bình, chấm dứt chiến tranh. Thầy nói: “Tôi sẽ tự thiêu như em. Chỉ có một điều khác là tôi sẽ tự thiêu chậm hơn.” Thầy nói rằng thầy dành cả đời mình để kêu gọi hòa bình.

Thầy Đạo Dừa làm nhiều điều để dạy hòa bình. Có lần thầy mở một trung tâm thực tập ở đồng bằng sông Mê Kông và kêu gọi mọi người đến ngồi thiền với thầy. Thầy đi lượm những mảnh vỏ bom đạn trong vùng để đúc thành một cái chuông lớn, một cái chuông chánh niệm. Thầy treo lên trong trung tâm tu học để đêm ngày thỉnh lên cho mọi người nghe. Thầy viết một bài trong đó thầy nói: “Những mảnh bom đạn ơi, kiếp trước con đã tàn phá và giết hại, bây giờ qua đã lượm các con về đây để cho các con tu. Khi qua thỉnh lên một tiếng chuông, thì các con trở thành Bồ tát hết, các con thức người ta tỉnh dậy, đánh thức tình nhân loại, tình thương yêu và sự hiểu biết để thiên hạ đừng bắn giết lẫn nhau nữa.” Thầy thỉnh chuông mỗi sáng và mỗi tối. Sự có mặt của cái chuông là biểu tượng chứng minh rằng sự chuyển hóa là điều có thể xảy ra.

Một ngày nọ, thầy đến dinh Tổng thống, muốn gởi một thông điệp hòa bình. Những người canh gác không muốn cho thầy vào. Nói chuyện với họ không thành công, thầy đành im lặng. Thầy ở lại và ngủ ngay bên ngoài cổng dinh tổng thống. Thầy mang theo một cái lồng trong đó có một con mèo và một con chuột đã học làm bạn với nhau. Con mèo không ăn con chuột. Một người hộ vệ hỏi: “Mục đích ông đến đây làm gì?” Thầy Đạo Dừa nói: “Tôi muốn chỉ cho Tổng thống thấy là ngay cả mèo và chuột mà cũng có thể sống chung hòa bình với nhau.” Thầy muốn mọi người tự hỏi lại chính mình rằng nếu mèo và chuột có thể sống hòa bình an lạc với nhau thì tại sao loài người chúng ta không thể sống hòa bình được?

Thầy Đạo Dừa sống im lặng một mình trong một thời gian dài. Ước muốn của thầy là đóng góp một phần vào công việc tạo ra một môi trường hòa bình an lạc hơn cho đất nước. Để làm được điều này, thầy cần phải rất sáng suốt và định tâm. Có người nói thầy điên. Nhưng tôi không nghĩ là thầy điên. Tôi nghĩ thầy là một nhà hoạt động cho hòa bình rất vững chãi trong ngôi nhà đích thực, trong hải đảo tự thân của thầy.

Độc cư

Khi nghe đến “hải đảo tự thân” hay “một mình tĩnh cư,” người ta thường nghĩ ngay là họ phải sống tách rời với mọi người, không tiếp xúc với ai cả, không liên hệ đến bất cứ thứ gì khác. Kỳ thực, sự thực tập này, cách sống một mình này không có nghĩa là tách rời ra với những người chung quanh, mà là biết thiết lập thân tâm vững chãi trong cái bây giờ ở đây, và ý thức được những gì đang xảy ra trong phút giây hiện tại.

Chúng ta dùng chánh niệm để ý thức những gì đang xảy ra: ý thức về cảm thọ, tri giác cũng như những gì đang xảy ra trong tăng thân chung quanh mình. Chúng ta luôn trở về với chính mình, luôn là chính mình, không đánh mất mình. Đây là cách sống độc cư sâu sắc nhất.

Thực tập sống một mình là thực tập có mặt đích thực trong mỗi một giây phút, không bị kẹt vào quá khứ, không mơ tưởng về tương lai và không bị đám đông lôi kéo. Chúng ta không cần phải đi vào rừng để sống một mình tĩnh cư. Chúng ta có thể sống chung với mọi người, có thể đi chợ, đi bách bộ với người khác mà vẫn có thể sống một mình và im lặng được. Trong xã hội ngày nay, có quá nhiều thứ chung quanh bắt ta phải chú ý và phản ứng, nên sống một mình tĩnh cư là điều mà ta cần phải học hỏi.

Mỗi ngày ta cần để ra một ít thời gian để ngồi yên một mình. Có thể ta nghĩ rằng ta chỉ có thể vui được khi có ai bên cạnh, nói chuyện, cười giỡn chung quanh ta. Nhưng niềm vui, hạnh phúc khi được ở một mình cũng có thể rất lớn lao và thâm sâu, giúp ta có nhiều khả năng để chia sẻ hơn. Nếu ta có những niềm vui và hạnh phúc sâu sắc trong việc sống độc cư, ta sẽ có nhiều khả năng để cho đi. Không có khả năng sống một mình thì càng ngày ta càng suy yếu, kiệt quệ. Và khi chúng ta không đủ chất dinh dưỡng nuôi lấy tự thân thì ta không có gì nhiều để hiến tặng cho người khác. Vì vậy, học cách sống một mình rất quan trọng.

Mỗi ngày, chúng ta nên dành một ít thời gian để sống một mình, bởi vì nó sẽ giúp ta nuôi dưỡng tự thân và nhìn sâu dễ dàng hơn. Điều này không có nghĩa là ta không thể sống độc cư một mình tĩnh cư và nhìn sâu khi chung quanh ta có quá đông người. Ta có thể làm được. Thậm chí ngồi giữa chợ ta cũng có thể sống một mình mà không bị đám đông lôi kéo. Ta vẫn có thể là ta, vẫn làm chủ được chính mình. Cũng như vậy, ta vẫn có thể là ta cho dù ta đang ở trong một cuộc đàm luận sôi nổi hay trong một cộng đồng đang có nguồn năng lượng cảm xúc mạnh của tập thể. Ta có thể tiếp tục an trú vững chãi và an toàn trong hải đảo tự thân của ta.

Có hai khía cạnh độc cư và cả hai đều quan trọng. Thứ nhất là sống một mình. Thứ hai là có khả năng trở về với chính mình và không bị chi phối bởi những thứ chung quanh, ngay cả khi mình ở giữa một đám đông người. Chính vì cảm thấy thoải mái khi ở một mình mà ta có thể quan hệ giao thiệp với thế giới. Tôi thấy gần gũi truyền thông tốt với quý vị vì tôi hoàn toàn là tôi. Rất đơn giản, để thực sự liên hệ được với thế giới, trước hết, ta phải trở về liên hệ truyền thông với chính mình.

Vượt thoát tập khí

Tất cả chúng ta đều có những khối tập khí bên trong chúng ta. Tập khí là một năng lượng vô thức khiến ta cứ lặp đi lặp lại những thói quen cũ, lặp lại những cách hành xử giống nhau cả hàng ngàn lần. Tập khí đẩy ta chạy, luôn luôn phải làm một cái gì đó, khiến ta đánh mất mình trong những suy tư về quá khứ, những mơ tưởng về tương lai và đổ lỗi cho người khác vì những khổ đau của mình. Nó cản trở ta, không cho ta có khả năng bình an và hạnh phúc trong giây phút hiện tại.

Tập khí được trao truyền cho ta qua nhiều thế hệ tổ tiên, và chúng ta tiếp tục làm cho nó mạnh thêm. Mạnh lắm. Chúng ta thông minh đủ để biết rằng nếu chúng ta làm những điều đặc thù này, nếu chúng ta phê bình buộc tội, chúng ta sẽ gây đổ vỡ trong mối quan hệ của chúng ta. Chúng ta không muốn phê phán buộc tội, không muốn làm những điều gây đau buồn, ấy vậy mà khi gặp khó khăn căng thẳng, chúng ta đã nói hoặc làm những điều mà chúng biết là sẽ gây đổ vỡ phá hoại. Tại sao? Tại vì nó mạnh hơn chúng ta. Tập khí luôn đẩy chúng ta đi. Vì vậy, thực tập chánh niệm có mục đích giải phóng chúng ta ra khỏi các tập khí.

Tôi nhớ có một ngày nọ ở Ấn Độ đang ngồi trên xe buýt với một người bạn, đi thăm tăng thân Dalit. Chúng tôi đã đi đến nhiều tiểu bang ở Ấn Độ để mở những ngày quán niệm, các khóa tu và những pháp thoại công cộng. Khung cảnh ở bên ngoài rất đẹp, những cây cọ, những ngôi đền, những con trâu và những đồng lúa. Tôi thích nhìn mọi thứ, nhưng người bạn của tôi thì rất căng thẳng, rõ ràng là người ấy đã không thưởng thức cảnh đẹp như tôi. Ông ta đang đấu tranh. Thấy vậy, tôi nói: “Này bạn, bây giờ không có gì phải lo lắng cả. Tôi biết là anh muốn làm cho chuyến đi của tôi được vui vẻ, làm cho tôi hạnh phúc, nhưng ngay bây giờ tôi đã hạnh phúc rồi, cho nên anh hãy tận hưởng đi. Ngồi lại và mỉm cười. Khung cảnh ở bên ngoài rất đẹp.”

Anh ta: “Dạ.” Và ngồi lại thoải mái hơn. Nhưng chỉ vài phút sau, khi nhìn lại thì thấy anh ta cũng căng thẳng như trước. Anh ta vẫn lo lắng, băn khoăn, sốt ruột, không yên tâm. Anh ta không thể buông được những giằng co trong lòng, những giằng co đó đã diễn ra cả hàng ngàn năm. Anh ta không có khả năng an trú trong giây phút hiện tại và tiếp xúc sâu sắc với sự sống trong giây phút ấy. Tôi thấy anh ta không có khả năng tiếp xúc được với chính mình. Bây giờ anh ta có gia đình, có nhà đẹp, có nghề giỏi, nhưng anh ta vẫn bị tập khí, khổ đau lôi kéo, khổ đau của tổ tiên trong hàng ngàn năm quá khứ. Anh ta đã vật lộn, đấu tranh đêm ngày, ngay cả trong giấc mơ vẫn còn đấu tranh. Anh ta không có khả năng buông bỏ và thư giãn.

Tổ tiên của chúng ta có thể may mắn hơn anh ta, nhưng nhiều người trong chúng ta vẫn bị ám ảnh, bất an như thế. Chúng ta không cho phép mình buông thư, không cho phép mình an trú trong giây phút hiện tại bây giờ ở đây. Tại sao ta phải chạy, và phải luôn chạy? Ngay cả khi ta đang chuẩn bị buổi ăn sáng, ăn trưa, đi bộ hay ngồi chơi cũng có một cái gì đó luôn thúc đẩy, kéo ta đi. Chúng ta chạy theo cái gì?

Đức Bụt dạy về vấn đề này rất rõ ràng. Ngài nói: “Đừng khổ đau tuyệt vọng vì quá khứ, vì quá khứ đã qua rồi. Đừng lo lắng về tương lai, vì tương lai chưa đến. Chỉ có giây phút mà mình có thể sống được, đó là giây phút hiện tại. Trở về với giây phút hiện tại, sống sâu sắc với giây phút ấy, chúng ta sẽ được tự do, vượt thoát được khổ đau hệ lụy.

Tháo gỡ nội kết

Có hai loại nội kết. Nội kết thứ nhất bao gồm những quan điểm, tư tưởng, ý niệm, khái niệm và kiến thức. Ai cũng có những quan điểm, những ý niệm, nhưng khi bị kẹt vào đó thì ta mất tự do, ta không có cơ hội tiếp xúc với sự thật của cuộc sống. Nội kết thứ hai là những phiền não, tập khí khổ đau như sợ hãi, giận dữ, kỳ thị, tuyệt vọng, kiêu căng. Chúng ta phải lấy đi những thứ ấy mới được tự do.

Hai loại nội kết này khắc sâu trong tâm ý và trí não của ta, làm cho ta mù mắt, khiến ta làm những điều mà ta không muốn làm, khiến ta nói những điều ta không muốn nói. Vì vậy, ta không có tự do. Bất cứ lúc nào làm điều gì vì tập khí, vì những ý niệm quan điểm đã khắc sâu vào trí não mà không xuất phát từ ước muốn đích thực của ta thì ta không có tự do.

Đọc sách, thiền tập, không phải là để ta có thêm kiến thức, khái niệm mà thực chất là để buông bỏ những quan điểm khái niệm. Đừng thay thế những ý niệm quan điểm cũ bằng những ý niệm quan điểm mới. Đừng chạy theo những ý niệm hạnh phúc này đến ý niệm hạnh phúc nọ. Đừng thay đổi quan điểm này thành quan điểm khác.

Tất cả chúng ta đều có những cách hành xử, những tập khí rất sâu dày. Mỗi ngày ta đã để cho những năng lượng vô hình này thống trị đời sống của ta. Chúng ta hành động, phản ứng theo những ảnh hưởng của những khuynh hướng này trong ta. Tuy nhiên, tâm ta cũng uyển chuyển rất tự nhiên. Như các nhà khoa học não bộ đã nói, não ta có tính mềm dẻo. Chúng ta có thể chuyển hóa chúng.

Có khả năng dừng lại và ý thức giây phút hiện tại là một phần định nghĩa của hạnh phúc. Không thể có hạnh phúc ở tương lai. Đây không phải là vấn đề tín ngưỡng, không phải là niềm tin mà là kinh nghiệm sống.

Khi dừng lại những hành động của thân thì ta sẽ nghe rõ những tiếng nói lẩm nhẩm trong tâm. Và khi dừng lại được những tiếng nói lẩm nhẩm, những cuộc độc thoại trong đầu, những lao xao liên tục, ta sẽ thấy được một không gian bên trong cho ta cơ hội sống đời sống của ta một cách thỏa mãn và hoàn toàn mới.

Ta không thể có hạnh phúc được nếu ta không có những khoảng lặng, những không gian yên lắng. Tôi biết đây là kinh nghiệm và sự quán sát trực tiếp. Tôi không cần cái máy của nhà khoa học não bộ nói cho tôi nghe. Khi thấy một ai đó đi ngang qua, thông thường tôi có thể nói được người đó có hạnh phúc hay không, có bình an hay không, có tình thương hay không. Không có sự im lặng, ta không thể sống trong giây phút hiện tại, và giây phút này là cơ hội tốt nhất để tìm thấy hạnh phúc.

Angulimala (Ương Quật Ma)

Vào thời của Bụt, có một người tên là Angulimala (Ương Quật Ma). Ông ta là một kẻ sát nhân, giết người hàng loạt mà ai cũng biết đến. Ông khổ đau cùng cực và lòng đầy hận thù.

Một ngày nọ, ông đi vào thành phố, tất cả mọi người đều sợ hãi. Lúc ấy, Bụt và tăng đoàn đang ở gần đó và sáng hôm ấy đức Bụt cũng đi vào thành để khất thực. Một người trong thành khẩn nài: “Bạch đức Thế Tôn, hôm nay đi ra đường rất nguy hiểm. Thỉnh mời Ngài đến nhà con, con xin được cúng dường Ngài. Angulimala đang có mặt trong thành phố này.”

Bụt nói: “Không sao. Đừng lo lắng. Ta sẽ đi khất thực từng nhà, không phải đến một nhà mà đến nhiều nhà. Ta đi khất thực không chỉ để kiếm miếng ăn hằng ngày mà còn để cho họ có cơ hội thực tập bố thí và ta có cơ hội tiếp xúc với họ, để giảng dạy cho họ.” Vì vậy, Bụt đã không tán thành lời cầu khẩn đầy lo lắng của người kia. Ngài có đủ bình an, có đủ can đảm và sức mạnh tâm linh để tiếp tục sự tu học của mình. Trước khi đi tu, Ngài cũng là một người có võ công cao cường.

Bụt ôm bát, rất bình an và định tĩnh, đi từng bước ung dung, chánh niệm. Sau khi khất thực xong, Ngài đi vào rừng. Nghe tiếng ai đó chạy theo sau lưng, Ngài nhận ra ngay là Angulimala. Đây là lần đầu tiên Angulimala thấy có một người không sợ mình. Bất kỳ người nào khi thấy Angulimala đến gần cũng đều bỏ chạy càng nhanh càng tốt, trừ những người vô phúc, thiếu may mắn bị tê liệt vì sợ hãi nên không chạy được.

Nhưng với Bụt thì khác hẳn. Ngài cứ tiếp tục đi, bình thản. Angulimala giận điên lên khi thấy có người không hề bối rối sợ hãi mình chút nào. Đức Bụt rất chánh niệm. Ngài ý thức tình trạng của mình, nhưng không run sợ, nhịp tim của Ngài vẫn đập ổn định, bình thường, không có một chất adrenaline[1] nào xuất hiện trong cơ thể Ngài. Ngài không hề luống cuống đắn đo là nên bỏ chạy hay nên chống lại. Ngài rất bình tĩnh. Ngài thực tập rất hay.

Khi Angulimala đến gần Ngài, ông ta la lớn: “Này ông thầy tu kia, hãy dừng lại.” Bụt vẫn tiếp tục đi, phong thái Ngài rất điềm tĩnh, uy nghiêm và thanh tịnh. Ngài là hiện thân của bình an và vô úy (sự không sợ hãi). Angulimala đến ngay bên cạnh Bụt và nói: “Này ông thầy tu kia, ta biểu ngươi dừng lại sao ngươi không dừng lại?”

Vẫn tiếp tục bước đi, Ngài nói: “Angulimala, ta đã dừng lại từ lâu rồi, chỉ có anh là chưa dừng lại thôi”.

Angulimala sửng sốt: “Ngươi muốn nói gì? Ngươi vẫn còn đang bước đi mà nói là đã dừng lại à?”

Sau đó Bụt nói cho Angulimala nghe dừng lại thực sự nghĩa là gì. “Angulimala, anh không nên tiếp tục làm những điều anh đang làm nữa. Anh có biết là anh đang gây khổ đau cho chính anh và cho nhiều người khác không? Anh phải học cách thương yêu.”

“Thương yêu? Ngươi đang nói với ta về thương yêu ư? Loài người rất độc ác. Tôi ghét tất cả bọn họ. Tôi muốn giết hết tất cả. Trên đời này không có tình thương yêu.”

Đức Bụt ôn tồn nói: “Angulimala, ta biết anh rất đau khổ. Nỗi giận dữ, hận thù của anh rất lớn. Nhưng nếu nhìn chung quanh, anh sẽ thấy có những người rất dễ thương, họ có tâm tốt. Anh đã từng gặp vị tỳ kheo, tỳ kheo ni nào trong tăng đoàn của ta chưa? Anh đã từng gặp những người học trò cư sĩ của ta chưa? Họ rất từ bi và bình an, không ai có thể phủ nhận điều này.

Anh không nên che mờ sự thật là trên cuộc đời này vẫn có tình thương, vẫn có những người có khả năng thương yêu. Này Angulimala, hãy dừng lại.”

Angulimala trả lời: “Quá trễ rồi. Bây giờ đã quá trễ cho tôi dừng lại rồi. Cho dù tôi có cố gắng dừng lại thì người ta cũng không chấp nhận tôi. Người ta sẽ giết tôi trong tích tắc. Tôi không thể dừng lại được nếu tôi muốn sống sót.”

Bụt nói: “Này anh bạn, không bao giờ là quá trễ cả. Hãy dừng lại ngay đi. Ta sẽ làm bạn với anh và sẽ giúp anh. Tăng thân của ta sẽ bảo vệ cho anh.” Nghe được điều này, Angulimala quăng kiếm, quỳ xuống và xin Ngài nhận vào tăng đoàn của Ngài. Angulimala trở thành một hành giả thực tập chuyên cần nhất trong tăng đoàn. Ngài chuyển hóa hoàn toàn và trở thành một người vô cùng nhẹ nhàng, Ngài là hiện thân của bất bạo động.

Nếu Angulimala có khả năng dừng lại thì tất cả chúng ta cũng có khả năng dừng lại. Không ai trong chúng ta bận rộn, lo lắng, điên rồ hơn kẻ giết người này. Chúng ta không thể tìm thấy an lạc trong sự im lặng nếu ta không dừng lại. Chạy càng nhanh, đẩy mình càng nhiều thì ta sẽ không bao giờ đạt được bình an. Chúng ta chỉ tìm thấy bình an ở đây thôi, không thể tìm thấy bình an ở bất cứ nơi nào khác. Giây phút mà ta có thể dừng lại thật sự, trên cả hai phương diện hành động và những tiếng ồn bên trong, thì ta bắt đầu tìm thấy được sự im lặng và trị liệu. Im lặng không phải là một sự mất mát, trống trỗng. Càng có không gian cho sự yên tĩnh và im lặng, ta càng có khả năng hiến tặng cho chính mình và cho người khác.

Thực tập: Hải đảo tự thân

Khi Bụt lâm bệnh vào lần cuối cùng, Ngài biết rằng nhiều vị đệ tử của Ngài sẽ cảm thấy mất mát khi Ngài qua đời. Vì vậy, Ngài dạy đệ tử không nên nương tựa vào bất cứ một thứ gì ngoài mình mà phải nương tựa vào hải đảo tự thân. Thực tập hơi thở ý thức, chế tác chánh niệm trong tự thân, ta sẽ trở về khám phá ra người thầy trong mình và hướng về hải đảo tự thân.

Hải đảo tự thân cũng có chim, có cây, có suối giống như trên đất liền vậy. Thực sự không có ranh giới phân chia giữa cái bên trong và bên ngoài. Nếu ta không có mặt đó, nếu ta không thật sự là ta trong hải đảo của chính mình thì ta cũng không thực sự tiếp xúc được với thế giới bên ngoài. Tiếp xúc sâu sắc với bên trong, ta cũng tiếp xúc được với bên ngoài, và ngược lại. Truyền thông thực sự có mặt chỉ khi nào ta có đủ Niệm và Định. Vì vậy, trở về với hải đảo tự thân trước hết là chế tác Niệm Định.

Ở Làng Mai có bài hát “The Island of Self” (Hải đảo tự thân). Chúng ta có thể sử dụng bài hát này để thực tập như các bài thiền tập có hướng dẫn mỗi khi ngồi hay đi.

Breathing in,

I go back to the island within myself.

There are beautiful trees within the island.

There are clear streams of water.

There are birds, sunshine and fresh air.

Breathing out, I feel safe.

I enjoy going back to my island.

 

(Thở vào, tôi quay về nơi hải đảo tự thân, ở đó có cây cối xanh tươi, có dòng suối trong xanh, có chim chóc ca hát, có ánh nắng mặt trời và không khí trong lành.

Thở ra, tôi thấy an toàn. Tôi muốn trở về nơi hải đảo tự thân.)

 

 

[1] Adrenaline là một loại hormone được sản xuất ra khi cơ thể sợ hãi hay tức giận

Chương 5: Sức mạnh tĩnh lặng

 

Tôi vẫn còn nhớ khoảng thời gian ở Huế, năm 1947, khi còn là học tăng ở Phật Học Viện Báo Quốc, không xa chùa Tổ bao nhiêu (chùa Tổ là nơi tôi được xuất gia và tu học). Lúc đó, quân đội Pháp đã chiếm đóng toàn bộ vùng này và thiết lập căn cứ quân sự ở đây. Vì vậy, chung quanh chúng tôi thường nghe tiếng súng nổ giữa quân đội Pháp và lính Việt Nam. Những người dân sống trên các đồi cao thường lập nên những pháo đài bảo vệ. Có những đêm dân làng phải rút vào nhà để tránh những đợt nã súng. Buổi sáng khi thức dậy, có khi người ta thấy vài thi thể rớt lại từ trận đánh của đêm trước với những khẩu hiệu trên đường được viết bằng vôi trắng hòa với máu. Thỉnh thoảng, cũng có các tu sĩ đi ngang qua những con đường vắng vẻ này nhưng hầu như không ai dám đi vào khu vực đó, đặc biệt là những người dân thành phố Huế vừa mới trở về sau đợt sơ tán. Cho dù chùa Báo Quốc nằm gần nhà ga, cũng hiếm có ai liều mạng đến đó, điều ấy cũng nói lên được sự hiểm nguy của vùng này.

Mỗi tháng, từ Phật Học Viện Báo Quốc, tôi thường về thăm chùa Tổ một lần. Sáng hôm ấy, trời còn khá sớm, khi những giọt sương còn đọng trên đầu ngọn cỏ, tôi về thăm chùa Tổ, trong đãy mang theo một chiếc y và vài quyển kinh, trên tay cầm chiếc nón lá. Tôi thấy lòng nhẹ nhàng, hân hoan khi nghĩ đến chuyện được thăm Thầy, thăm huynh đệ và thăm ngôi chùa cổ kính, uy nghiêm.

Vừa băng qua ngọn đồi, tôi bỗng nghe một tiếng gọi lớn. Trên đỉnh đồi, phía trên con đường, tôi thấy một người lính Pháp đang vẫy tay ngoắt tôi lại. Tôi nghĩ anh ta đang chọc ghẹo tôi vì tôi là một ông thầy tu, nên tôi quay lại và tiếp tục đi xuống đường. Nhưng bỗng nhiên, tôi có cảm giác đó không phải là chuyện chọc phá. Tôi nghe tiếng gót giầy của anh lính Pháp chạy theo sau lưng tôi. Có lẽ anh ta muốn tìm tôi, cái đảy tôi mang theo trông có vẻ đáng nghi ngờ. Tôi ngừng lại và đứng đợi. Một người lính trẻ, với khuôn mặt gầy nhưng đẹp trai, tiến lại gần tôi.

“Anh đi đâu đó?” Anh ta hỏi tôi bằng tiếng Việt. Qua cách phát âm, tôi biết anh ta là người Pháp và vốn liếng tiếng Việt của anh còn rất giới hạn.

Tôi mỉm cười và hỏi anh bằng tiếng Pháp: “Nếu tôi trả lời bằng tiếng Việt anh có hiểu không?”

Khi nghe tôi nói bằng tiếng Pháp, gương mặt anh sáng lên. Anh nói rằng anh không có ý định điều tra tôi, anh chỉ muốn hỏi tôi một vài điều. “Thầy sống ở chùa nào?” Anh ta hỏi.

Khi tôi trả lời là tôi đang sống ở chùa Báo Quốc, anh ta trông có vẻ thích thú.

“Chùa Báo Quốc,” anh ta lặp lại. “Đó có phải là ngôi chùa lớn trên đồi gần nhà ga không?”

Khi tôi gật đầu, anh bèn chỉ lên một trạm bơm (pump house) trên đồi, với vẻ cảnh giác, và nói: “Nếu thầy không quá bận, chúng ta hãy lên trên kia nói chuyện một lát.” Chúng tôi ngồi xuống gần trạm bơm, anh ta kể cho tôi nghe về cuộc viếng thăm chùa Báo Quốc của anh và 5 người lính khác cách đó 10 ngày. Họ đến chùa vào lúc 10 giờ tối để lùng sục Việt Minh sau khi được nghe báo cáo là Việt Minh sẽ tụ tập ở đó.

“Chúng tôi mang theo súng và quyết bắt cho được họ. Chỉ thị của cấp trên là bắt họ, thậm chí thủ tiêu họ nếu cần thiết. Nhưng khi vào trong chùa, chúng tôi rất sửng sốt.”

“Bởi vì có quá đông Việt Minh ở đó hả?”

“Không, không.” Anh ta kêu lên. “Nếu thấy Việt Minh, chúng tôi đã không sửng sốt. Chúng tôi sẽ tấn công cho dù có nhiều bao nhiêu đi nữa.”

“Vậy các anh ngạc nhiên vì điều gì?”

“Những gì xảy ra quá bất ngờ cho tôi. Trong quá khứ, bất kể nơi nào chúng tôi lùng sục, hoặc là người ta bỏ chạy hoặc là người ta rơi vào tình trạng sợ hãi, hoảng loạn.”

“Người ta đã bị khủng bố quá nhiều lần, cho nên họ mới sợ hãi bỏ chạy.” Tôi giải thích.

“Tôi không có thói quen khủng bố hoặc đe dọa người khác.” Anh trả lời. “Có lẽ vì họ đã bị hại bởi những người đến trước chúng tôi nên họ hoảng sợ như vậy.”

“Nhưng khi chúng tôi vào đến sân chùa Báo Quốc, chúng tôi có cảm tưởng như lạc vào một nơi hoàn toàn hoang vắng. Những cây đèn dầu được vặn rất nhỏ. Chúng tôi cố tình dậm chân thật mạnh trên nền sỏi, tôi có cảm giác rằng có rất nhiều người trong chùa, thế nhưng chúng tôi lại không nghe tiếng ai cả. Mọi thứ im lặng khủng khiếp. Tiếng la lối của những người bạn tôi làm tôi thấy khó chịu. Không ai trả lời. Tôi mở đèn pin lên, soi vào một căn phòng mà chúng tôi nghĩ là không có ai trong đó, và tôi thấy khoảng 50, 60 vị tu sĩ đang ngồi thiền trong yên lặng.”

“Đó là vì các anh đã đến đúng vào giờ ngồi thiền.” Tôi gật đầu, nói.

“Vâng, chúng tôi như đang bị một sức mạnh lạ lùng và vô hình chi phối,” anh ta nói. “Chúng tôi như bị giật lùi lại, chúng tôi quay lại và đi trở ra ngoài sân. Những vị tu sĩ không biết có chúng tôi đó! Họ không trả lời chúng tôi một lời nào và không tỏ ra một dấu hiệu nào cho thấy sự sợ hãi hoặc hoảng loạn.”

“Không phải họ không biết các anh, mà họ đang chú tâm vào hơi thở của họ. Chỉ có vậy thôi.”

“Tôi cảm thấy như bị chìm vào sự yên tĩnh của họ,” anh thừa nhận. “Điều đó thực sự khiến tôi phải kính phục. Chúng tôi đứng yên trong sân dưới một gốc cây lớn và đợi ở đó, có lẽ khoảng nửa tiếng. Sau đó, một hồi chuông vang lên và ngôi chùa trở lại những sinh hoạt bình thường. Một thầy cầm một cây đuốc, đến mời chúng tôi vào trong, nhưng chúng tôi chỉ nói cho ông ta biết lý do tại sao chúng tôi ở đó rồi rút lui. Kể từ ngày đó, tôi bắt đầu thay đổi quan điểm của mình về người Việt.”

“Trong số chúng tôi có rất nhiều thanh niên trẻ,” anh ta tiếp tục. “Chúng tôi rất nhớ nhà, nhớ gia đình và đất nước. Chúng tôi đã được cử sang đây để tiêu diệt Việt Minh, nhưng không biết là chúng tôi sẽ giết họ hay bị họ giết và không bao giờ có thể trở về quê hương với gia đình mình nữa. Nhìn thấy những người dân ở đây hết sức cực khổ để xây dựng lại cuộc đời tan hoang của họ nhắc tôi nhớ đến những cuộc đời tan nát của những người thân của tôi ở Pháp. Cuộc sống bình an và thanh thản của các vị tu sĩ làm tôi nghĩ đến cuộc sống của toàn thể nhân loại trên trái đất này. Và tôi tự hỏi tại sao tôi lại đến đây. Mối thù hận nào giữa Việt Minh và chúng tôi khiến chúng tôi phải du hành suốt một chặng đường dài đến đây để đánh họ?”

Trong tôi dâng lên một sự xúc động sâu sắc, tôi cầm tay anh ta, kể cho anh ta nghe câu chuyện về một người bạn cũ của tôi, được tuyển nhập ngũ để đánh Pháp và đã giành được chiến thắng trong nhiều trận đánh. Một ngày nọ, anh bạn tôi đến chùa nơi tôi đang ở, rồi đột nhiên ôm lấy tôi và khóc òa lên. Anh kể rằng trong một cuộc tấn công, khi đang trốn sau những tảng đá, anh đã thấy hai người lính Pháp đang ngồi nói chuyện với nhau. Anh nói: “Khi tôi thấy gương mặt sáng láng, đẹp trai và ngây thơ của những cậu bé này, tôi không thể đành lòng nhả đạn được, thưa Thầy. Người ta có thể cho là tôi yếu đuối, nhu nhược, họ có thể nói rằng nếu tất cả những người lính Việt Nam đều như tôi thì chẳng mấy chốc cả nước sẽ thua cuộc và bị chiếm mất. Thế nhưng, lúc đó, tôi đã thương kẻ thù của mình như mẹ tôi thương tôi vậy! Tôi biết rằng cái chết của hai người lính trẻ đó sẽ làm cho mẹ của họ ở Pháp đau khổ, giống như mẹ tôi đã từng đau khổ về cái chết của em trai tôi.”

“Vì vậy, anh thấy đó,” tôi nói với anh lính Pháp, “trái tim của người lính Việt Nam mang đầy tình yêu thương nhân loại.”

Anh lính trẻ ngồi yên lặng, chìm trong suy tư. Có lẽ, giống như tôi, anh đã ý thức hơn về sự mù quáng của giết chóc, thảm họa của chiến tranh, nỗi đau khổ của biết bao nhiêu người đang chết dần trong sự nhẫn tâm và vô lý.

Mặt trời lên cao và đã đến lúc tôi phải về. Người lính nói cho tôi biết tên anh là Daniel Marty, 21 tuổi. Anh vừa mới học xong trung học trước khi sang Việt Nam. Anh cho tôi xem hình mẹ, em trai và em gái anh. Chúng tôi chia tay với cảm giác hai bên hiểu và thông cảm nhau. Anh ta hứa sẽ đến chùa thăm tôi vào ngày Chủ nhật.

Trong những tháng tiếp theo sau đó, mỗi khi có dịp, anh đến thăm tôi. Tôi mời anh vào thiền đường ngồi thiền với tôi. Tôi đặt cho anh pháp danh là Thanh Lương, có nghĩa là “tinh khiết và tươi mát.” Tôi dạy cho anh tiếng Việt, anh chỉ biết được vài câu, học trong quân đội. Sau vài tháng, chúng tôi đã có thể trao đổi với nhau một chút bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Anh ta kể rằng anh không còn làm những cuộc đột kích như trước đây nữa và tôi đã chia sẻ được nỗi buồn của anh. Mỗi khi nhận được lá thư nào từ gia đình, anh đều đem đến cho tôi xem. Và lần nào gặp tôi, anh cũng chắp tay xá chào.

Một ngày nọ, chúng tôi mời Thanh Lương đến ăn cơm chay tại chùa. Anh ta rất hạnh phúc nhận lời mời và hết sức ca ngợi những quả bùi ngon lành cũng như những món ăn đầy hương vị mà chúng tôi đãi. Anh khen món cháo nấm hương sư huynh tôi nấu ngon tuyệt vời và không thể tin được đó là thức ăn chay. Tôi phải giải thích cho anh cách chế biến cặn kẽ để anh tin.

Có những ngày ngồi bên cạnh tháp chuông, chúng tôi cùng nhau thảo luận một cách tương đắc về những vấn đề tâm linh và văn chương. Khi tôi ca ngợi văn học Pháp, mắt Thanh Lương sáng lên đầy tự hào về văn hóa của đất nước anh. Tình bạn của chúng tôi càng ngày càng sâu sắc.

Rồi đến một ngày, khi đến thăm, Thanh Lương cho tôi biết đơn vị của anh sẽ chuyển đến một vùng khác và có lẽ anh sẽ sớm được trở về Pháp.

Tôi đưa anh ra đến cổng tam quan và chúng tôi ôm tiễn biệt nhau. “Tôi sẽ viết thư cho thầy,” anh nói.

“Tôi rất mừng nếu nhận được thư của anh và sẽ hồi âm cho anh.”

Một tháng sau, tôi nhận được thư của anh báo tin là anh sẽ trở về Pháp để đi Algeria. Anh hứa khi nào đến đó sẽ viết thư cho tôi. Nhưng từ lúc đó, tôi không còn nghe tin tức gì về anh nữa. Có ai biết bây giờ Thanh Lương đang ở đâu không? Có được an toàn không? Tôi biết rằng, khi tôi gặp anh vào lần cuối, anh rất bình an.

Cái giây phút im lặng sâu sắc trong chùa ngày hôm ấy đã thay đổi anh. Anh đã mang sự sống của tất cả các loài hữu tình vào trong trái tim anh, đồng thời thấy được tính chất vô nghĩa và hoại diệt của chiến tranh. Điều làm cho mọi sự trở nên có thể là dừng lại hoàn toàn và mở ra một đại dương kỳ diệu hùng tráng, có công năng trị liệu, mà ta gọi là sự tĩnh lặng.

Để hiển lộ được bản tính chân thật, chúng ta cần phải dừng lại cuộc đối thoại nội tâm liên miên, chiếm hết tất cả không gian trong lòng ta. Chúng ta có thể bắt đầu bằng cách tắt đài phát thanh NST vài lần mỗi ngày, mỗi lần một chút, để đem niềm vui vào trong không gian nội tâm ta.

Hơi thở chánh niệm

Như chúng ta đã biết, cách dễ nhất để giải thoát chúng ta ra khỏi vòng quay suy nghĩ liên tục là thực tập hơi thở chánh niệm. Lúc nào chúng ta cũng thở, thế nhưng chúng ta lại hiếm khi để ý và thưởng thức hơi thở của mình.

Hơi thở chánh niệm là một bữa tiệc để thưởng thức khi ta mang toàn bộ sự chú tâm vào suốt chiều dài của từng hơi thở vào và hơi thở ra. Khi ta chú tâm vào trong từng hơi thở thì cũng giống như tất cả các tế bào não và phần còn lại của cơ thể ta đang hát lên cùng một bài hát.

Bằng hơi thở chánh niệm, ta đi vào bên trong.

Cơ thể ta đang thở;

cơ thể ta chính là nhà của ta.

Mỗi hơi thở đều có thể đưa ta trở về.

Có thể ta đang có những nỗi buồn, cơn giận hoặc nỗi cô đơn. Khi tiếp xúc được với hơi thở vào ra, ta có thể tiếp xúc được với những cảm xúc đó mà không sợ trở thành nạn nhân của chúng. Trở về với hơi thở chánh niệm là một cách nói rằng: “Đừng sợ. Tôi đang có mặt ở nhà đây. Tôi sẽ chăm sóc những cảm thọ này.”

Hơi thở chánh niệm là trụ sở chính. Nếu muốn thực hiện được những nguyện ước của mình, muốn xây dựng truyền thông với gia đình và bạn bè, muốn giúp đỡ cho đoàn thể, ta nên bắt đầu với hơi thở. Mỗi hơi thở, mỗi bước chân, mỗi hành động được làm trong chánh niệm sẽ nuôi dưỡng ta.

Tạo không gian cho chánh niệm dễ hơn ta nghĩ

Nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng cuộc sống của chúng ta quá bận rộn, không còn chỗ để nuôi dưỡng chánh niệm. Thế nhưng, thực ra, sống chánh niệm là vấn đề thay đổi thái độ và nhớ lại mục đích thực sự của mình mà không phải nhét thêm mục “thiền tập” vào lịch sinh hoạt hàng ngày. Ta không cần phải ở trong phòng thiền hoặc đợi có giờ rảnh để thực tập chánh niệm, tuy đó dĩ nhiên là điều tuyệt vời để tận hưởng khi ta có cơ hội. Hơi thở yên tĩnh, chánh niệm là điều mà ta có thể làm bất cứ lúc nào. Bất cứ ở đâu cũng đều có thể là một nơi linh thiêng nếu tâm ta thanh tịnh, thư thái, theo dõi hơi thở và tập trung tâm ý vào những gì ta đang làm.

Thức dậy vào buổi sáng, trong khi còn ở trên giường, ta có thể bắt đầu một ngày mới bằng hơi thở chánh niệm. Trong giây phút đó, việc đầu tiên là theo dõi hơi thở vào ra và ý thức là ta đang có 24 giờ tinh khôi để sống. Đó là món quà cuộc sống ban tặng cho ta.

Khi mới xuất gia làm một chú sa di, tôi phải học thuộc lòng nhiều bài thi kệ để giúp tôi thực tập chánh niệm. Bài thi kệ đầu tiên là:

Thức dậy miệng mỉm cười

Hăm bốn giờ tinh khôi

Xin nguyện sống trọn vẹn

Mắt thương nhìn cuộc đời.

Như chúng ta thấy, bài kệ có bốn câu. Câu đầu đi với hơi thở vào. Câu thứ hai đi với hơi thở ra. Câu thứ ba đi với hơi thở vào kế tiếp. Và câu thứ tư đi với hơi thở ra kế tiếp. Khi thở, chúng ta dùng bài thi kệ để tập trung tâm ý vào chiều hướng thiêng liêng của những gì chúng ta đang làm. Ta muốn sống 24 giờ mà cuộc sống ban tặng cho ta trong bình an và hạnh phúc. Ta quyết tâm không lãng phí 24 giờ đó bởi vì ta biết rằng 24 giờ đó là món quà tặng của cuộc sống và ta đón nhận món quà đó một lần nữa vào mỗi buổi sáng.

Nếu ta có khả năng ngồi cho thoải mái thảnh thơi thì ngồi thiền là một cách mầu nhiệm để thực tập hơi thở chánh niệm. Có nhiều người không thể cho phép họ có thời gian để chỉ ngồi thở mà không làm gì cả. Họ cho đó là lãng phí hoặc xa xỉ. Người ta nói: “Thời gian là tiền bạc.” Nhưng thời gian quý hơn tiền bạc nhiều lắm. Thời gian là sự sống. Sự thực tập ngồi yên đều đặn đơn thuần có thể có công năng trị liệu rất lớn. Dừng lại và ngồi yên là một cách hữu hiệu để tập trung vào hơi thở ý thức và không làm gì khác.

Cũng giống như ta có thể tắt ti vi trong lúc ăn, nếu chú tâm vào hơi thở, vào thức ăn và những người đang ngồi ăn với mình, ta có thể tắt đài phát thanh NST trong đầu. Khi lau nhà bếp hoặc rửa chén, ta cũng có thể làm trong tỉnh thức với tinh thần thương yêu, hoan hỷ và biết ơn. Khi đánh răng, ta cũng có thể đánh răng trong chánh niệm. Đừng nghĩ đến những việc khác, chỉ chú tâm vào việc đánh răng. Ta có thể dành hai hay ba phút để đánh răng. Trong thời gian này, ta chỉ ý thức về răng và động tác đánh răng. Đánh răng như vậy có thể mang lại cho ta nhiều niềm vui. Khi đi vệ sinh, ta cũng có thể thưởng thức thời gian ở trong nhà vệ sinh. Chánh niệm có thể làm thay đổi những mối liên hệ của ta đến với mọi thứ. Chánh niệm giúp ta thực sự có mặt và thực sự thưởng thức những gì ta đang làm.

Thực tập thiền hành là một cơ hội khác để tạo ra những giây phút hạnh phúc và trị liệu. Mỗi khi bước một bước chân, kết hợp với hơi thở vào ra, ta có thể tận hưởng cảm giác mà bàn chân ta đang tiếp xúc với mặt đất. Khi bước đi một bước trong chánh niệm, ta trở về với chính mình. Mỗi bước chân giúp ta tiếp xúc với cơ thể, mang ta về với ngôi nhà của chính mình, bây giờ và ở đây. Vì vậy, khi đi từ bãi đậu xe, hoặc trạm xe buýt đến chỗ làm, đi đến bưu điện hoặc ra chợ, tại sao ta không về nhà với mỗi bước chân của mình?

Trong bất kỳ hoạt động nào, mỗi khi tâm ta tĩnh lặng và có ý thức, ta có cơ hội tiếp xúc với chính mình. Phần lớn thời gian chúng ta đi mà không biết rằng mình đang đi. Chúng ta đang đứng đây mà không biết là mình đang ở đây, tâm ta đã đi xa hàng nghìn dặm. Chúng ta sống, mà không biết là mình đang sống. Chúng ta tiếp tục đánh mất chính mình. Vì vậy, an tịnh thân tâm, và ngồi chỉ để có mặt với chính mình là một hành động cách mạng. Hãy ngồi xuống và chấm dứt sự rong ruổi. Khi ngồi xuống, ta có thể trở về tiếp xúc với chính mình. Ta không cần một chiếc iphone hoặc một chiếc máy vi tính để làm chuyện đó. Ta chỉ cần ngồi xuống trong chánh niệm và thở vào, thở ra ý thức thì chỉ trong vài giây, ta sẽ trở về tiếp xúc với chính mình. Ta biết được những gì đang xảy ra – trong thân thể, trong những cảm thọ và trong nhận thức. Ta đã trở về nhà, và ta có thể chăm sóc ngôi nhà của mình đàng hoàng.

Có thể ta đã đi khỏi nhà mình một thời gian dài và ngôi nhà của ta đang lộn xộn, bừa bãi. Chúng ta thật có lỗi biết bao nhiêu khi phớt lờ những gì mà cơ thể chúng ta đang cảm nhận. Những cảm xúc nào đang trỗi dậy trong chúng ta? Những tri giác sai lầm nào đang dẫn dắt suy nghĩ và lời nói của chúng ta?

Thực sự quay về nhà có nghĩa là ngồi xuống và có mặt với chính mình, thiết lập lại truyền thông với chính mình và chấp nhận tình trạng hiện tại. Cho dù đó là một bãi chiến trường, ta cũng có thể chấp nhận nó, và đó là khởi điểm để thay đổi thái độ (định hướng lại chính mình) nhằm đi xa trên một hướng đi tích cực hơn. Tôi thường nghĩ về Thanh Lương, khi anh có thể có được một khoảng yên lặng sâu sắc trong ngôi chùa Báo Quốc và mang nó theo cùng anh vào cuộc chiến tranh hỗn loạn. Cho dù chúng ta đang có những rối loạn đặc biệt của riêng mình, chúng ta vẫn có thể tìm ra không gian cho sự yên tĩnh mỗi ngày, giúp chúng ta có được bình an cho tình trạng đó, thậm chí có thể chỉ cho chúng ta một hướng đi mới để ra khỏi đám hỗn độn đó.

Có lần tôi tổ chức một khóa tu trong một tu viện trên núi ở phía Bắc California. Bắt đầu khóa tu, bỗng có một đám cháy lớn lan nhanh ở cạnh bên. Trong khi ngồi thiền và đi thiền hành, chúng tôi nghe tiếng của nhiều chiếc máy bay trực thăng. Âm thanh đó thực sự không dễ chịu chút nào. Đối với nhiều người, kể cả tôi, cho dù là người Việt hay người Mỹ gốc Việt, tiếng máy bay trực thăng đồng nghĩa với súng ống, với chết chóc, với bom đạn, hoặc với cả cái chết nữa. Chúng tôi đã sống qua suốt một thời kỳ chiến tranh khốc liệt, do đó có cảm giác rất bất an khi nghe tiếng máy bay trực thăng và nó gợi cho chúng tôi nhớ lại cái thời kỳ bạo động đó. Cho dù có những người trong khóa tu chưa từng trải qua chiến tranh thì cái âm thanh đó vẫn rất nặng nề và nhiễu loạn

Tuy nhiên, những chiếc máy bay trực thăng vẫn ở đó, và chúng tôi cũng vậy. Vì thế, chúng tôi chọn cách thực tập lắng nghe tiếng máy bay trực thăng bằng chánh niệm. Nghe một âm thanh dễ chịu, như tiếng chuông, người ta sẽ muốn đặt sự chú tâm vào đó. Chú tâm vào một âm thanh dễ chịu, thật dễ dàng để cảm thấy hạnh phúc và có mặt. Giờ đây, chúng tôi phải học cách chú tâm tích cực với tiếng máy bay trực thăng. Bằng chánh niệm, chúng tôi có khả năng nhắc nhở bản thân rằng đây không phải là máy bay trực thăng thời chiến tranh. Máy bay trực thăng này đang giúp dập tắt những đám cháy. Với ý thức đó, chúng tôi có thể chuyển hóa một cảm giác không dễ chịu thành cảm giác biết ơn và cảm kích. Vì tiếng máy bay trực thăng đến đều đặn mỗi vài phút, nếu không thực tập chánh niệm theo cách đó, chúng tôi sẽ rất mỏi mệt.

Vì vậy, mỗi người trong số khoảng 600 người tham dự khóa tu, đã thực tập thở vào và thở ra với tiếng máy bay trực thăng. Chúng tôi đọc thầm bài kệ nghe chuông, được sửa đổi lại để phù hợp với hoàn cảnh đó:

Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe.

Tiếng máy bay trực thăng

Đưa tôi về với giây phút hiện tại.

Và chúng tôi đã sống với nhau rất vui trong những ngày đó. Chúng tôi đã biến tiếng máy bay trực thăng thành một thứ hữu ích.

Năm phút cho cuộc sống

Nếu bạn chỉ mới bắt đầu thực tập, thì hãy cố gắng dành 5 phút mỗi ngày để đi bộ trong im lặng và chánh niệm. Nếu ở một mình, bạn có thể làm việc chậm lại, càng chậm càng tốt.

Bạn sẽ thấy rất hay nếu bắt đầu bằng việc đi thật chậm. Bước một bước, bạn thở vào, bước thêm một bước, bạn thở ra. Khi thở vào, bạn bước một bước và bạn phải dừng lại mọi suy nghĩ để hoàn toàn tập trung tâm ý vào bước chân cũng như hơi thở. Nếu bạn không dừng lại được những suy nghĩ thì hãy đứng lại, thở vào thở ra cho đến khi bạn hoàn toàn dừng lại được những suy nghĩ. Bạn sẽ cảm nhận được điều đó. Trong trạng thái chánh niệm, có một cái gì đó sẽ thực sự làm thay đổi thân tâm bạn.

Nếu bạn thành công khi đi được một bước như vậy thì bạn sẽ biết cách để đi tiếp bước thứ hai. Bạn hãy bắt đầu trong 5 phút thôi, nhưng sau đó có thể bạn sẽ rất thích thú để làm tiếp vài lần như vậy trong ngày.

Bây giờ người ta quá bận rộn. Chúng ta luôn luôn bị đẩy ra khỏi giây phút hiện tại. Chúng ta không có cơ hội để thực sự sống đời sống của chúng ta. Chánh niệm giúp ta có thể nhận diện được điều đó. Đó đã là giác ngộ rồi. Vì thế, chúng ta bắt đầu từ sự giác ngộ, tỉnh giác này: chúng ta thực sự muốn sống cuộc sống của chính mình, chúng ta thực sự muốn dừng lại mà không bị đẩy ra khỏi cuộc sống. Và với sự thực tập hơi thở chánh niệm, ngồi thiền và đi thiền, ngay cả trong khi đánh răng, chúng ta cũng có thể dừng lại. Sự thực tập dừng lại có thể được thực hiện bất kỳ lúc nào trong ngày, kể cả lúc chúng ta đang lái xe.

Buông bỏ, ta sẽ đạt được tự do. Với tự do đó, với sự buông bỏ đó, sự trị liệu có thể xảy ra. Sự sống trở thành có thật. Và niềm vui là điều mà chúng ta có thể đạt được.

Ngày nay, người ta thường nói về cân bằng giữa công việc và cuộc sống. Người ta có khuynh hướng nghĩ rằng công việc và cuộc sống là hai thứ tách biệt nhau. Thế nhưng, đó không phải là cách nghĩ đúng. Sau khi lái xe đến chỗ làm và đậu xe xong, bạn có thể lựa chọn giữa cách đi thiền hành trong chánh niệm vui tươi hay là đi một cách hối hả, gấp gáp vào văn phòng. Dù sao đi nữa, bạn cũng phải đi qua quãng đường đó. Nếu bạn biết cách để đi, biết cách có mặt đó cho mình thì quãng đường từ bãi đậu xe vào đến văn phòng có thể mang lại cho bạn nhiều niềm vui và hạnh phúc. Bạn có thể buông bỏ những căng thẳng trong thân và tiếp xúc với những mầu nhiệm của cuộc sống với từng bước chân của bạn.

Khi đi trong chánh niệm, bạn để 100% con người mình trong khi đi. Bạn có ý thức trong từng bước chân của mình: chính bạn là người đang đi một cách có ý thức chứ không phải là những tập khí đang đẩy bạn đi. Bạn lấy lại chủ quyền của mình. Bạn là vua hay hoàng hậu đang quyết định. Bạn bước đi vì bạn có chủ quyền trong khi đi, và bạn có tự do trong mỗi bước chân. Bạn chú tâm bước từng bước chân và mỗi bước chân trong chánh niệm mang bạn về tiếp xúc với những mầu nhiệm của cuộc sống đang có mặt bây giờ và ở đây. Đi như vậy, bạn để toàn bộ thân và tâm trong mỗi bước chân. Đó là lý do tại sao, khi đi, bạn không suy nghĩ. Nếu bạn suy nghĩ thì những ý nghĩ sẽ lấy mất buổi thiền hành của bạn. Bạn không nói chuyện, bởi vì nói chuyện cũng lấy đi mất những bước chân chánh niệm của bạn.

Bước đi như vậy là một niềm vui. Khi Niệm và Định có mặt sống động trong bạn, bạn hoàn toàn là chính mình. Bạn đi như Bụt đi. Không có chánh niệm, bạn có thể nghĩ rằng đi là một việc chán phèo hoặc bị bắt buộc. Còn với chánh niệm, bạn thấy bước đi chính là sự sống.

Tương tự, khi rửa chén sau mỗi bữa ăn, cách bạn rửa chén sẽ quyết định đó là một công việc chán ngán, buồn tẻ hay là một giây phút hạnh phúc của đời sống thật sự. Có một cách rửa chén giúp bạn thưởng thức mỗi giây phút. Khi bạn lau nhà hay nấu ăn sáng, nếu bạn biết làm trong chánh niệm thì đó là sự sống, chứ không phải là công việc.

Những người tách rời cuộc sống và công việc không thực sự sống trong phần lớn cuộc đời họ. Không phải chỉ có khi chơi, khi thiền tập ta mới có niềm vui, không gian hay chánh niệm. Chúng ta phải tìm cách mang những yếu tố chánh niệm, không gian và niềm vui vào tất cả mọi sinh hoạt hằng ngày của ta. Nếu chúng ta mang chánh niệm vào mỗi sinh hoạt hằng ngày, 5 phút một lần, thì sự chia rẽ tưởng tượng của chúng ta giữa công việc và cuộc sống sẽ biến mất và mỗi sinh hoạt trong ngày của chúng ta là thời gian cho chính mình.

Thực tập: Thiền hành

Người ta nói rằng phép lạ là đi trên không trung, đi trên mặt nước hoặc trên than hồng. Nhưng đối với tôi, bước đi bình an trên mặt đất đã là một phép lạ. Chính đất Mẹ là một phép lạ. Bước từng bước chân tỉnh thức trên hành tinh xinh đẹp này có thể mang lại cho ta sự trị liệu và hạnh phúc. Thiền hành là một cách tuyệt vời để quay về với giây phút hiện tại và quay về với cuộc sống.

Khi thực tập thiền hành, hãy ý thức hoàn toàn vào bàn chân, mặt đất và sự tiếp xúc giữa bàn chân và mặt đất. Hãy để hơi thở tự nhiên và kết hợp bước chân với hơi thở. Bước vài bước với hơi thở vào và vài bước khác với hơi thở ra. Hơi thở ra có khuynh hướng hơi dài hơn, vì vậy bạn cần nhiều bước chân hơn. Khi có thời gian và nơi chốn thích hợp, có lẽ là nơi nào không quá đông người, bạn có thể thực tập đi thiền hành chậm, bước một bước cho hơi thở vào và một bước khác cho hơi thở ra, điều này đặc biệt giúp cho ta trị liệu. Với mỗi hơi thở vào ra, bạn nói thầm “vào/ra” hoặc “đã về/đã tới.” Với mỗi bước chân, bạn sẽ quay về với ngôi nhà đích thực của mình, là giây phút hiện tại.

Nếu bạn cảm thấy lạc lõng hay đang trong một tình trạng chao đảo, hoặc cho dù bạn cảm thấy hơi lười biếng thì cũng đừng lo lắng, bạn không cần phải cố gắng để thực tập hơi thở chánh niệm, ngồi thiền hay đi thiền. Thở thôi là đủ rồi, ngồi thôi là đủ rồi, đi thôi là đủ rồi. Bạn hãy để mình trở thành một với hành động. Mình là đi.

Tôi nhớ một ngày, năm 2003, tôi đang ở Hàn Quốc để hướng dẫn một buổi đi thiền hành qua những con đường ở Seoul. Có rất nhiều người đến để tham gia vào buổi đi bộ đó. Nhưng vì có quá nhiều nhiếp ảnh gia và phóng viên chen chúc với nhau phía trước, tôi thấy không thể nào bắt đầu đi được. Tôi bèn nói: “Bụt ơi, con đầu hàng rồi. Xin Bụt đi cho con đi.” Tôi bước một bước. Ngay lập tức, một con đường được mở ra và tôi có thể bước đi tiếp. Sau kinh nghiệm này, tôi đã viết bài kệ dưới đây mà đến bây giờ tôi vẫn còn dùng để thực tập thiền hành. Có thể, nó cũng sẽ giúp ích được cho bạn.

Để Bụt thở

Để Bụt đi

Con khỏi thở

Con khỏi đi.

Bụt là thở

Bụt là đi

Con là thở

Con là đi.

Chỉ có thở

Chỉ có đi

Không người thở

Không người đi.