Chủ đề của 5 ngày khóa tu

 

Thứ Hai 28.12.2020 An Trú Trong Hiện Tại

Trong đời sống hàng ngày, ta bị những buồn phiền, lo lắng, giận hờn, sợ hãi trấn ngự và che lấp. Những lúc như vậy ta phải biết làm thế nào để xử lý cái buồn phiền, lo lắng và sợ hãi của ta. Năng lượng của hơi thở chánh niệm,  khả năng an trú bây giờ và ở đây sẽ giúp chúng ta ôm ấp những khổ đau của ta để chúng êm dịu lại và chuyển hóa chúng. Đây là sự thực tập rất quan trọng.

Thầy Pháp Ấn

 

Thứ Ba 29.12.2020 Nhìn Sâu Và Trị Liệu

Nhìn sâu nghĩa là có mặt đích thực và ý thức sâu sắc với đối tượng, tâm ý không bị tán loạn, an trú vững vàng và trở thành một với đối tượng; trạng thái đó gọi là Định.  Niệm và Định là hai nguồn năng lượng làm nền tảng cho sự thực tập nhìn sâu. Nếu thực tập thiền chỉ giỏi, tất nhiên ta sẽ có niệm và định. Niệm tức là sự chú tâm, biết rõ cái gì đang xảy ra. Được ngồi yên là một cơ hội để nuôi dưỡng và trị liệu thân tâm.

Sư cô Đoan Nghiêm

 

             Sư cô Định Nghiêm                                         Thầy Pháp Niệm                                 Thầy Pháp Nguyện

Thứ Tư 30.12.2020 Vấn Đáp

Trong khóa tu này, các bạn sẽ có cơ hội đặt những câu hỏi đến cho quý thầy, quý sư cô giáo thọ của Làng. Câu hỏi hay chuyên chở những thao thức muốn tìm ra con đường thực tập giúp chuyển hóa những tình trạng khó khăn hiện tại để nuôi lớn thêm tình thương và sự hiểu biết; xây dựng những kết nối tốt đẹp hơn trong chính tự thân và những người xung quanh.

 

Thứ Năm 31.12.2020 Để Có Một tương Lai

Chúng ta có thể sống trong giây phút hiện tại, nhưng đồng thời cũng tạo dựng một tương lai hay không? Câu trả lời rất rõ ràng: Giây phút hiện tại chính là giây phút tốt nhất để xây dựng tương lai. Chúng ta không những thực tập chánh niệm, ái ngữ và hành động yêu thương cho chính bản thân chúng ta mà còn mang chúng vào trong đời sống. Tương lai được làm từ chất liệu của giây phút hiện tại.

Thầy Pháp Ứng

 

Chủ  nhật 1.1.2021 Truyền Thọ Năm Giới

Năm Giới là nền tảng của hạnh phúc cá nhân, hạnh phúc gia đình và xã hội.
Học hỏi và thực hành theo Năm Giới, ta sẽ đi đúng con đường chánh pháp, ta sẽ tránh được lỗi lầm, khổ đau, sợ hãi và thất vọng, ta sẽ xây dựng được an lạc hạnh phúc cho ta, cho gia đình ta và đóng góp vào phẩm chất an lạc và hòa bình của xã hội.

 

 

 

Về trang ghi danh khóa tu

Hướng dẫn ghi danh

Trả lời các câu hỏi thường gặp

Tự tin

Chân Bội Nghiêm

“It always seems impossible until it is done.” Đó là câu nói nổi tiếng của Ngài Nelson Mandela. Bản thân tôi đã nhiều lần tự trải qua kinh nghiệm này, khi nghĩ mình không thể làm được việc này, việc kia, nhưng cuối cùng lại làm được. “Tự” nghĩa là chính mình, và “tin” là niềm tin. Có niềm tin nơi chính mình là món quà quý giá nhất mình trao tặng cho tự thân. Có những lúc tôi rơi vào đường cùng, chưa tìm ra cách giải quyết những khó khăn thách thức trong công việc hay những mối liên hệ với mọi người. Nhưng mừng thay câu nói, “I give up!” (Tôi bỏ cuộc) không khởi lên trong tâm ý, mà chỉ có “There is ALWAYS a way.” (Luôn luôn sẽ có cách) Đó là điều tôi rất trân quý nơi bản thân mình. Có được cảm thông, cảm ơn và cảm hứng sẽ làm lớn mạnh niềm tự tin. Đối với tôi không khó để có tự tin và tôi chia sẻ điều này không phải để tự hào, tự cao, tự kiêu hay tự mãn mà từ tự nhiên. Một người thành đạt không nhất thiết là một người thông minh. Chỉ cần người đó tràn đầy nhiệt huyết với những gì mình làm, có lối tư duy tích cực và xem mỗi thất bại như một vị thầy khả kính. 

 “Em đừng tự tin quá.” Tôi đã từng được nghe một vài vị nói với tôi như thế. Tôi buồn vì trong câu đó dường như ẩn chứa một điều gì không tích cực. Phải chăng vị đó đang muốn nhắn nhủ tôi, “Em đừng tự cao quá”. Những năm tháng học tại trường, trò chuyện với bạn bè và những người thân thương, chúng ta thường được khuyến khích, “Em hãy tự tin lên. Em có thể làm được. Thầy/cô/anh/chị tin em sẽ làm rất tốt”. Vậy nên khi nghe câu nói “Em đừng tự tin quá.”, tôi cảm thấy khá hoang mang. Câu nói đó đang có mục đích gì, tại sao người đó lại nói với giọng điệu, nhìn tôi với ánh mắt không mấy thân thiện như thế? Nhiều băn khoăn đi lên trong tôi, và tôi bắt đầu cẩn trọng hơn khi tiếp xúc với những ai đã nói như thế. Nếu là người bạn thật sự thì sẽ có cách khác để chia sẻ “constructive criticism” (lời phê bình mang tính xây dựng) thay vì “destructive criticism.” (phê bình mang tính phá hủy) Đúng là không đủ khả năng và sức lực mà lại nghĩ mình làm được thì cần phải xem xét lại sự tự tin của mình. Người tự tin thường khiêm cung và chính điều đó khiến họ đẹp hơn và nhận được sự kính quý từ nhiều người. Có những lúc tự tin xuất hiện trong im lặng như khi thầm nói, “Tôi sẽ hạnh phúc mỗi khi rửa tay.”, nhưng có lúc lại biểu hiện như “tiếng hét của sư tử.” khi nói ra “Thôi em suy nghĩ tiêu cực như vậy là đủ rồi nhé.” Dù trong hình tướng nào chăng nữa, tự tin là sự vắng mặt của tự hào, tự cao, tự kiêu, tự mãn hay tự tiện. 

Những lúc mình nghĩ chỉ mình mới giỏi và làm được việc này, mình không muốn chia sẻ công việc, không có niềm tin vào ai khác thì chính ngay lúc đó mình đồng thời làm vơi đi tự tin trong bản thân. Người tự tin không xem thường một ai và không nghĩ rằng mình giỏi hơn người khác. Người tự tin đích thực luôn tạo cơ hội, gây cảm hứng và nhận thấy rằng đang có nhiều người giỏi hơn mình. Nếu một người khác làm công việc mình đang làm thì có thể vị đó sẽ làm hay hơn. Tự tin không đồng nghĩa với mắc kẹt vào những gì mình học và mình biết. Người tự tin còn rất thoải mái thú nhận những điều mình chưa biết. Mong muốn được học hỏi và không ngần ngại lắng nghe ý kiến từ người khác là đức tính đẹp của một người tự tin. 

 

 

Tháng 05 năm 2018, tôi được ban tổ chức khoá tu Wake Up tại Thái Lan mời cho pháp thoại về đề tài hạnh phúc, mười ngày trước khi khoá tu bắt đầu. Một thầy giáo thọ đảm nhiệm đề tài bốn loại thức ăn và sư cô giáo thọ khác chia sẻ về vô uý. Đôi lúc được biết đề tài pháp thoại trước cũng hay nhưng cũng mệt. Suốt mười ngày đó, tôi nghiên cứu về hạnh phúc ảnh hưởng não bộ và cơ thể như thế nào. Xem biết bao nhiêu đoạn phim, đọc không biết bao nhiêu bài viết và thực tập rất tinh tấn để chế tác hạnh phúc. Bởi tôi luôn quan niệm những gì mình chia sẻ trước đại chúng thì mình cần phải thực hành. Tôi thấy an tâm khi trong sổ tay đã có được dàn bài, và những ý muốn chia sẻ đã thông suốt. Không còn gì để lo lắng nữa, chỉ có mặt trọn vẹn và thưởng thức khoá tu với 350 người trẻ và 200 vị xuất sĩ. Tôi thoải mái ngồi nghe pháp thoại của thầy chia sẻ về bốn loại thức ăn. Sau 30 phút, 45 phút rồi 1 tiếng chia sẻ, thầy không nhắc gì bốn loại thức ăn mà chỉ đề cập đến hạnh phúc. Tôi tự hỏi, “What is going on?” (Chuyện gì đang xảy ra thế này?) Tôi là người ít lo lắng nhưng ngày hôm đó tôi lo thật. Tim tôi bắt đầu đập mạnh và dòng suy nghĩ không ngừng nghỉ. Lúc đó thật khó để thở sâu, tôi không tập trung nghe tiếp nội dung pháp thoại của thầy được nữa. Đột nhiên bài hát “When you believe” của hai divas Whitney Houston và Mariah Carey khởi lên trong tâm ý. Trong đó có câu:

“There can be miracles when you believe. 

Though hope is frail, it’s hard to kill.

Who knows what miracle you can achieve

When you believe somehow you will.     

You will when you believe.”

(Phép lạ sẽ đến khi bạn có niềm tin

Tuy niềm hy vọng đang rất mong manh, nhưng rất khó để nó bị tiêu diệt

Ai biết được phép lạ gì sẽ đến

Khi bạn tin thì thế nào bạn cũng sẽ làm được

Bạn sẽ làm được khi bạn tin.)

Hai phút trước khi chấm dứt pháp thoại, thầy nói, “Ngày mai đại chúng sẽ được nghe sư cô Bội Nghiêm chia sẻ về bốn loại thức ăn.” Tôi nghĩ đây là mơ hay thật?! 

Trong buổi ăn trưa hôm đó, tôi chỉ nhai sự lo lắng, buồn tủi, bực tức và trách móc. Bao nhiêu câu hỏi đi lên như: “Tại sao thầy lại làm như vậy? Bây giờ phải làm gì?” Làm sao tôi quên được buổi nghỉ trưa ngày hôm đó chứ? Lần đầu tiên trong đời ngủ trưa mà gặp ác mộng vì lo lắng quá, và thật khó thở vì tim đang làm việc quá sức. Có nhiều quý sư cô biết tin nên đã an ủi và tìm mọi cách để giúp tôi. Buổi chiều về phòng, tôi thấy trên bàn có năm cuốn sách của Sư Ông Làng Mai và sư cô Sùng Nghiêm đã bookmark (đánh dấu) những trang viết về bốn loại thức ăn. Tôi thật sự cảm động với cử chỉ đầy tình thương và tình người ấy. Hình ảnh đó đã làm tôi có thêm động lực và tự tin. Tôi không vì tình huống bất ngờ đó mà bỏ những sinh hoạt của đại chúng. Tôi vẫn đi làm chủ toạ pháp đàm, dùng cơm tối và ngồi thiền như mọi khi. Vì tôi biết nếu ngồi trong phòng thì chỉ lo lắng thêm thôi. Giờ nghỉ giữa các sinh hoạt, tôi chuẩn bị nội dung mới và xem những gì tôi đã chuẩn bị cho đề tài hạnh phúc có thể đem vào chia sẻ được. Tối đó tôi đi ngủ khá khuya và bất chợt thức dậy giữa đêm vì sự lo lắng và căng thẳng vẫn còn quá lớn. 

Giờ cho pháp thoại đã đến. Tôi đi lên thiền đường một mình, tự nhắc nhở bản thân thở cho thật sâu và an trú trong từng bước chân. Đến nơi mới sực nhớ mình quên mang theo áo Tiếp hiện. Cũng may Bồ tát – sư cô Sùng Nghiêm đi về ni xá lấy áo cho tôi mượn. Sau ba tiếng chuông bắt đầu buổi pháp thoại, tôi nhìn xuống thính chúng mà lòng hồi hộp. Không phải vì tôi sợ nói chuyện trước thính chúng mà vì không biết mình đã sẵn sàng chưa? Tôi kể cho đại chúng nghe những gì đã trải qua trong 24 giờ vừa rồi và những điều tôi đã học được. Tôi lấy cơ hội đó để bày tỏ lòng biết ơn đến thầy kia, “Con cảm ơn thầy đã cho con cơ hội này. Con xem đây như một bài học, một công án mà thầy cho con. Thầy đang thử sức xem con làm được không? Con có sẵn sàng để xử lý những bất ngờ và bất như ý không? Thưa thầy, hôm nay con xin trả bài cho thầy.” 

Tôi cũng có chia sẻ thêm một điểm, “Ngày hôm qua tôi rất sợ việc cho bài pháp thoại hôm nay vì thấy khó quá. Nhưng sau đó tôi tự nhủ, “cho pháp thoại mà khó hả?” Bụt đã mất sáu năm để tìm đạo, đã ngồi dưới cây bồ đề 49 ngày. Sư Ông đã đi qua bao nhiêu khó khăn trong thời chiến tranh, thành lập Làng Mai và xây dựng đoàn thể tu học. Đó là những công việc rất khó để làm. Còn mình cho 1 tiếng 30 phút pháp thoại mà than khó. Buồn cười nhỉ.” Đại chúng đã cười và khóc trong buổi đó. Cuối buổi pháp thoại, tôi thầm nói với chính mình, “You aced the test. Good job, sister Bội Nghiêm.” (“Em đã làm bài thi rất tuyệt. Tốt lắm, sư cô Bội Nghiêm.” Tôi không muốn lãng phí thời gian ngồi đó nghĩ rằng tôi giỏi hay dở hơn ai. Những gì hay và đẹp tôi đang có là nhờ được sống và tu tập trong tăng thân, chứ không phải vì được lớn lên ở Mỹ. Những điểm yếu còn đang có mặt trong tôi, tôi sẽ tinh tấn thực tập để chuyển hoá, với sự giúp đỡ của tăng thân. Đừng nói, cũng đừng nghĩ “Sư em lớn lên tại Việt Nam nên không có nhiều cơ hội để học như sư chị.” Đại chúng đang cho mình nhiều cơ hội lắm đấy, mình có chịu nhận hay không thôi. 

Trải nghiệm này đã cho tôi nhiều bài học khó quên. Hãy tin vào chính mình, hãy tự nói, “Mình sẽ làm được.” Hãy tâm sự với những người bạn về những tình huống, những tâm trạng mình đang đi qua để đón nhận sự động viên, yểm trợ và giúp đỡ. Tự tin chứ đừng tự kỷ. Suy nghĩ tiêu cực và sự lo lắng sẽ cản trở chúng ta thực hiện công việc theo cách hiệu quả nhất. Sư Ông đã nhắc nhở chúng ta “hãy nắm lấy cơ hội” trong một bức thư viết cho đệ tử. “Đi khoá tu là cơ hội, ở nhà cũng là một cơ hội. Mỗi bước chân là một cơ hội, mỗi hơi thở là một cơ hội.” Lời dạy này đã giúp tôi đón nhận mọi việc đến trong đời mình như một cơ hội để nắm lấy (let’s seize the opportunity). Bao nhiêu điều kiện đã tụ hợp đầy đủ để một bài pháp thoại được biểu hiện, để nụ cười được hiến tặng hay để cơn giận đi lên. Mình là điều kiện cuối cùng để giúp nó biểu hiện đẹp hay xấu. Điều đó tuỳ thuộc vào niềm tin, cách tư duy và công phu tu tập của chúng ta.

 

 

Tôi đã thầm phát nguyện sẽ không tình nguyện đi khoá tu hay cho pháp thoại.  Nhưng nếu ban tổ chức hay hội đồng giáo thọ đề nghị thì tôi sẽ không từ chối, và tôi sẽ nắm lấy cơ hội để cống hiến hết trái tim và khả năng. Tuy nhiên tôi không muốn tên mình xuất hiện trên hai lần trong việc hướng dẫn trong một khoá tu. Không làm cũng không được mà làm nhiều quá cũng không hay. Khi Đại chúng đã đề cử là Đại chúng đang cho mình niềm tin để nuôi lớn sự tự tin trong mình. Ai tặng cho tôi món quà niềm tin là tôi nhận liền, không ngần ngại. Và tôi cũng thích tặng lại món quà đó. Mắt tăng rất sáng nên sẽ không để mình rơi vào con đường của tự hào, tự cao, tự kiêu hay tự mãn. Có những vị rất muốn được sự công nhận và chú ý nên không ngần ngại để tình nguyện hướng dẫn. Đại chúng sẽ tìm cách khéo léo để không tạo điều kiện cho vị này đóng vai trò lãnh đạo tâm linh vì thấy vị này cần thực tập khiêm cung. Ngược lại, Đại chúng tìm mọi cách để khuyến khích những vị khác tự tin và mạnh dạn lên để ra hướng dẫn vì thấy quý thầy và quý sư cô đó có phẩm chất tâm linh rất cao nhưng còn hơi rụt rè.  

“Con thấy con không có khả năng. Con làm không được đâu. Con không biết làm…” là những câu nói tôi thường nghe. Lạ thay đôi lúc có người lại nói, “Sư em đó khiêm cung.” Tôi ngạc nhiên vô cùng. Tôi không xem đó là sự khiêm cung. Nếu đó là biểu hiện của sự khiêm cung thì câu, “Con thấy con có khả năng. Con sẽ làm được…” là không khiêm cung? Nếu vậy thì không biết bao nhiêu kiếp nữa tôi mới khiêm cung đây. Sư Ông thường chia sẻ, “Thầy làm được thì các con sẽ làm được và thậm chí các con sẽ làm hay hơn Thầy.” Mình hãy cho mình cơ hội để đi ra khỏi comfort zone (vùng thoải mái). Nếu chỉ làm những việc quen thuộc thì sẽ rất ít cơ hội học hỏi những điều mới. Nên chăng, nếu nghĩ mình làm không được thì hãy tập làm rồi qua thời gian mình sẽ trở thành chuyên nghiệp. Mình chưa làm thì sao lại biết mình làm không được? Hoặc mới chỉ một lần thất bại, sao đã vội mất đi sự tự tin? Thomas Edison đã thất bại đến hàng ngàn lần trước khi phát minh ra dây tóc bóng đèn. Hãy cho mình ít nhất ba hoặc năm cơ hội rồi lúc đó mới kết luận mình làm được hay không.

 Một trong những điểm chính yếu làm cản trở sự tự tin là khuynh hướng so sánh mình với người khác. Ba mẹ so sánh mình với bạn đã mệt rồi, mình so sánh mình với người khác lại càng rắc rối hơn. Chưa kể, mình chỉ nhìn thấy thành quả của người khác, nào biết những khó khăn hay nỗ lực mà họ đã phải trải qua suốt cả hành trình? Tôi được mời ngồi chuông cho buổi sinh nhật 80 tuổi của Sư cô Chân Không tại Làng Mai Thái Lan năm 2018. Sau đó có một sư em đến nói với tôi, “Cảm ơn sư chị đã ngồi chuông rất hay, tạo không khí vui tươi trong đại chúng”, nhưng tâm hoan hỷ lại không có mặt trong câu nói đó. Tôi cảm nhận rõ sư em đã phải cố gắng và có sự ngượng ngùng mới nói được. Sáng hôm sau một sư em khác cho tôi biết là tối hôm trước sư em đó đã khóc. Buổi trưa sư em gặp tôi và xin được nói chuyện. Tôi cũng đoán trước chuyện gì sẽ xảy ra nên trong lòng có sự chuẩn bị khi ngồi lắng nghe sư em. Sư em nói, “I envy you. You have the capacity to create joyful energy in the Sangha, which something I don’t have.” (Sư em ganh tỵ với sư chị. Sư chị có khả năng tạo không khí tươi vui trong đại chúng, điều này em không có). Tôi lắng nghe mà thương cho sư em của mình, không có chút giận hờn hay trách móc. 

Từ lúc nhỏ cho đến khi vào xuất gia, sư em thường đóng vai trò “background” (làm nền), đứng phía sau, khiến sư em không tự tin và thường so sánh mình với người khác. Sư em vừa chia sẻ vừa khóc, còn tôi chỉ biết cầm tay sư em mà thôi. Tôi cảm ơn sư em đã chia sẻ chân thật và chờ vài phút để cảm xúc trong sư em lắng dịu. Rồi tôi nói “Sư em có biết bao nhiêu vị trong đại chúng đang mong ước có những gì sư em đang có không? Uy nghi của sư em rất đẹp, sư em giỏi về âm nhạc và thông thạo tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Việt. Chị cũng muốn được như sư em lắm đó. Chị muốn chia sẻ rằng sự ganh tỵ của sư em sẽ không làm chị rút lui trong công việc cống hiến của chị. Nếu chị làm với mục đích để người khác ganh tỵ thì chị sẽ không bao giờ làm. Chị làm với tâm trong sáng và thường xuyên để ý intention (chủ ý) của mình khi nhận lời mời từ ban tổ chức. Nếu vì muốn được lời khen, sự chú ý hay làm cho người khác mặc cảm tự ti thì chị sẽ không nhận. Chị nhận với tâm muốn cống hiến những gì mình có thể.” Có một sư em hay nói đùa mỗi khi ai nhờ sư em giúp việc gì với câu: “Bức hình đẹp hay không là nhờ vào background đấy.” 

Điều gì đã khiến mình thiếu sự tự tin khi thấy một ai khác “giỏi hơn” mình? Người đó đang truyền cảm hứng sao mình không chịu nhận? Tại sao mình không nghĩ như vậy để có thêm niềm vui và lòng hoan hỷ? Như nhà văn, MC Nguyễn Ngọc Ngạn có nói, “Nếu quý vị thấy tôi làm MC hay thì quý vị hãy tìm cách để làm hay hơn tôi mà không nên ganh tỵ hay nói những lời không xây dựng.” Tôi không nhớ nguyên văn nhưng nội dung là thế. Sư cô Xứ Nghiêm chia sẻ câu chuyện làm tôi rất cảm kích. Sư cô Xứ Nghiêm không chia sẻ thì thôi chứ khi đã chia sẻ thì vừa hóm hỉnh vừa sâu sắc, làm cho người nghe suy ngẫm. Sư cô thắc mắc tại sao mình buồn khi ai đó giỏi hơn mình. Những người mẹ khi thấy con mình giỏi hơn mình thì mẹ mừng vui và hạnh phúc lắm. Tại sao thế? Tại vì trong mẹ có tràn đầy tình thương. Còn mình chưa có đủ tình thương với sư chị và sư em nên buồn và mặc cảm tự ti.

Thời gian gần đây tôi rất thích nhìn cây mỗi khi đi thiền hành hoặc đi bộ. Càng quan sát tôi càng kinh ngạc với những điều kỳ diệu của tự nhiên. Tôi để ý từng chi tiết và thấy rằng những chiếc lá, những nhánh cây rất hiếm khi đụng nhau. Tuy cùng gốc rễ, thương yêu và bảo vệ cho nhau từ khi là cây non đến lúc trưởng thành, lá và nhánh cây cho nhau không gian để vươn lên. Những cây lớn không chiếm không gian hay làm cho những cây nhỏ đứng bên cạnh yếu đi hay ngã đổ. Mỗi cây có vị trí riêng và tất cả các cây đều có thể được nhìn thấy. Không có cây nào ẩn trốn sau cây nào. Thậm chí không có cây nào thật sự “đứng trước” hay “đứng sau”, hoàn toàn tùy theo góc độ mình đứng nhìn. Lá đang nuôi rễ và rễ đang nuôi lá. Ai cũng quan trọng như nhau. Mục đích của tất cả các cây là mỗi ngày mỗi lớn mạnh.  Cây cũng cảm được niềm đau khi thấy bạn mình đang chết dần. Rồi tôi nghĩ lại mình. Tôi vẫn là sư em của nhiều sư chị và cũng là sư chị của nhiều sư em. Ngoài việc hướng dẫn hay cho pháp thoại, tôi vẫn tiếp tục rửa nồi, dọn dẹp, lau nhà vệ sinh, sửa bồn cầu hay đi xin phân bò và tôi rất hạnh phúc với điều này. Tôi không muốn việc tay chân hay cho pháp thoại trở nên xa lạ. Thế nhưng lại có những khi tôi thấy mình đi ra hướng dẫn khá nhiều so với quý sư chị của mình. Quý sư chị có những lý do riêng như “chị chưa cảm thấy thoải mái, tiếng Anh của chị chưa lưu loát, chị không thích nói trước máy computer.” Thế là chỉ còn “tôi với trời bơ vơ” và phải nhận thôi chứ biết làm sao bây giờ. Tôi nghĩ lại mục đích của cây là mỗi ngày mỗi lớn. Sư chị đang yểm trợ mình nên hãy nắm lấy cơ hội. Và tôi mời một sư em khác làm với tôi. Đừng vì sư chị không làm mà mình không làm, mình hãy làm cho sư chị và hãy giữ tâm mình cho đẹp lúc đang làm và sau khi làm. Cũng đừng vị một lời chê hay góp ý mà lùi bước. Cây đứng rất vững nhưng cây biết nương tựa vào những người bạn chung quanh.

 

 

Người tự tin không ích kỷ, ngược lại họ luôn muốn chia sẻ những gì mình biết và mình có để những người khác cũng được như thế. Người tự tin có mặt để giúp đỡ và thường xuyên tạo cơ hội cho người khác có thêm tự tin. Và khi một ai đến nói: “Sao sư em làm được việc đó hay quá vậy? Sư em là viên ngọc của tăng thân” hay “Sư em rất hãnh diện có sư chị trong đại chúng… ”, thì người tự tin sẽ không chối từ bằng những câu nói: “Sư chị nói hơi quá. Sư em đừng nói như thế.” Người kia đang nuôi lớn lòng hoan hỷ và tình thương khi nói câu đó thì tại sao mình lại chối từ. Hãy nhớ rằng người kia nói câu đó không với mục đích làm cho mình tự hào, tự kiêu, tự cao và tự mãn mà với mục đích muốn mình tiếp tục nuôi dưỡng những đức tính đẹp qua cách suy tư, nói năng và hành động. Người tự tin sẽ mỉm cười và nói, “Thank you for your encouragement.” (Cảm ơn những lời khích lệ của sư chị và sư em). Sau đó, người tự tin sẽ thầm biết ơn Bụt, Thầy, tăng Thân, ba mẹ và vô vàn điều kiện khác giúp mình được như ngày hôm nay.

 Đầu năm 2005 tôi viết bức thư đầu tiên dâng lên Sư Ông, chia sẻ niềm lo lắng và mặc cảm tự ti khi thấy có nhiều vị trong tăng thân viết văn hay, giỏi về nghi lễ và làm rất nhiều việc giúp đại chúng. Nhìn lại tôi thấy mình không được như thế. Trước khi trở về Việt Nam lần đầu tiên sau 39 năm viễn xứ, Sư Ông gọi tôi vào thất Ngồi Yên tại Xóm Thượng. Tôi vừa đi vừa hồi hộp trong lòng vì đây là lần đầu tôi được gặp Sư Ông một mình. Sư Ông ngồi rất thảnh thơi trên ghế đung đưa và nói với tôi: “Con thấy cảnh phía trước có đẹp không? Con biết gì không? Đối với Thầy tài năng quan trọng nhất là sống hoà hợp trong đại chúng”. Tôi không bao giờ quên giây phút ấy và lời dạy từ trái tim của Sư Ông. 

Người tự tin luôn xem sự hoà hợp và niềm hạnh phúc của các bạn là điều quan trọng. Nếu những người mình đang sống chung không đến được với mình thì có thể người bạn tự tin đang vắng mặt. Người tự tin được những người bạn thấy khả năng của mình, thương những lúc mình lầm lỗi, hoan hỷ với những gì mình đang có, yểm trợ những lúc mình gặp khó khăn và tin tưởng vào sự tự tin của chính mình. Nếu có ai tránh xa mình thì hãy nhìn lại mình đã làm gì sai để cải thiện tự thân. Nếu mình không làm gì sai thì việc còn lại là của vị đó phải giải quyết. Vì vậy hãy dành thời gian để nhìn kỹ những người bạn mình đang chơi và nương tựa. Nếu bạn mình có sự Trạch pháp qua cách tư duy, Học hỏi qua cách sống, Khải hoàn khi ra “trận”, Tự nhiên trong lúc cống hiến, Ân cần giúp đỡ người khác, Thuần tuý là chính mình khi nói chuyện, Hiệp sĩ khi đối diện với khó khăn, Linh hoạt với những thay đổi trong tinh thần yểm trợ và cảm thông thì làm sao mình có thể đánh mất sự tự tin được chứ. Những người bạn đang giúp tôi học và hiểu thêm ý nghĩa của sự tự tin. 

 

 

 

Khóa tu trực tuyến “Thương Như Bụt Thương” từ ngày 28.12.2020 – 1.1.2021

 

 

Kính thưa tăng thân khắp chốn,

Làng Mai đang trong những ngày cuối thu. Những chiếc lá sắc màu cuối cùng của mùa thu năm nay cũng đang trong cuộc hành trình trở về với cội. Tứ chúng tại Làng cũng sắp đến ngày hoàn mãn cho mùa an cư kiết thu năm 2020.

Một năm nữa sắp đi qua với nhiều biến động của dịch bệnh toàn cầu Covid – 19; đau thương, mất mát bởi những thiên tai lũ lụt,… Bằng sự thực tập chánh niệm, chúng ta đã cùng nhau đối diện, chấp nhận và chuyển hóa biết bao khó khăn, thử thách. Triệu triệu bàn tay, vô vàn tấm lòng sẻ chia, hỗ trợ khó khăn mùa Covid, hay những đóng góp cứu trợ thiên tai lũ lụt cho đồng bào các tỉnh miền Trung thân yêu… là những biểu hiện đẹp bắt nguồn từ tính Bụt trong mỗi người.

Sư Ông Làng Mai đã từng dạy rằng: “Điều quan trọng là xây dựng được một tăng thân – một cộng đồng tu học, và tôi có một cái thấy là đức Bụt của thời đại chúng ta có thể không phải là một cá nhân mà là một tăng thân. Nếu mỗi ngày ta thực tập thiền hành, thiền tọa và chế tác năng lượng của niệm, định và bình an thì ta đang là một tế bào trong thân của Bụt. Đây không phải là một giấc mơ. Điều này có thể thực hiện được ngay hôm nay và ngày mai. Bụt không phải ở một nơi xa xôi mà Bụt đang có mặt ngay bây giờ và ở đây”.

Kính mời đại chúng cùng trở về với nhau để khép lại năm 2020 và mở ra một hướng đi cho năm mới 2021 với 5 ngày của khóa tu trực tuyến “Thương như Bụt thương”, sẽ diễn ra từ ngày 28.12.2020 – 1.1.2021. Khóa tu này là nỗ lực của quý thầy, quý sư cô mong muốn tiếp nối con đường của Sư Ông Làng Mai trong việc tạo dựng một ngôi chùa điện tử để dù đang ở nơi đâu, trong hoàn cảnh nào, chúng ta cũng dễ dàng quay về nương tựa và thực tập với tăng thân.

Chúng ta sẽ cùng tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi như: Thực tập chánh niệm giúp chúng ta đối diện như thế nào với những cảm xúc trong tự thân? Làm sao có thể lấy những khó khăn, khổ đau là cơ hội để hiểu bản thân và nuôi dưỡng lòng từ bi, nhận ra mối liên hệ giữa chúng ta với nhau và cùng cố gắng cho một tương lai mới? Có một nền đạo đức toàn cầu nào có thể định hướng cụ thể, giúp chúng ta biết đâu là điều đúng đắn cần làm trong đời sống hàng ngày?

Các thời khoá trong khoá tu được tính theo múi giờ tại Việt Nam và được hướng dẫn bằng tiếng Việt. Chương trình sinh hoạt phong phú được diễn ra ở một vài tu viện của Làng Mai với những buổi ngồi thiền có hướng dẫn, thiền buông thư, lắng nghe sâu, v.v. Đặc biệt, chúng ta sẽ có cơ hội tìm hiểu thêm về pháp môn Làm mới và đi sâu vào nội dung của Năm giới tân tu. Bên cạnh đó là những buổi chia sẻ thân tình trong các nhóm nhỏ (Pháp đàm) với sự có mặt của quý thầy, quý sư cô Làng Mai.

 

Trang ghi danh của khóa tu

Hướng dẫn ghi danh

Chủ đề 5 ngày khóa tu

Trả lời những câu hỏi thường gặp

Nẻo về sen nở – Sư cô Chân Lan Nghiêm

 

Nam mô Đức Bổn sư Bụt Shakyamuni

Kính thưa toàn thể đại chúng Tăng Thân Đạo Tràng Mai Thôn

Kính thưa quý vị thân hữu khắp nơi,

Hôm nay, thứ Ba ngày 1 tháng 12 năm 2020, vào lúc 7:15 sáng, khi đại chúng chùa Cam Lộ, Xóm Hạ Làng Mai Pháp vừa tụng xong 14 giới Tiếp Hiện trong thiền đường Hội Ngàn Sao thì cũng vừa lúc sư cô Chân Lan Nghiêm an nhiên thị tịch.

Hồi tháng Sáu năm nay 2020, sư cô Lan Nghiêm đã được chẩn đoán là có bệnh ung thư vào giai đoạn cuối. Trong những tháng gần đây, sức khỏe sư cô suy giảm dù các bác sĩ đã tận tình điều trị. Sư cô ra đi trong tình thương, sự chăm sóc chu đáo của quý sư cô Xóm Hạ, trong đó có ba sư cô thị giả thay phiên túc trực bên cạnh sư cô.

 

 

Sư cô Chân Lan Nghiêm người Hà Lan, sinh năm 1951, tập sự xuất gia năm 2003 (51 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 07 tháng 07 năm 2003 tại chùa Từ Nghiêm, Xóm Mới, Làng Mai. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Vô Ưu. Sư cô thọ giới lớn ngày 18 tháng 12 năm 2006 trong đại giới đàn Văn Lang và nhận truyền đăng ngày 29 tháng 2 năm 2012 trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ tại Làng Mai với bài kệ:

Phúc điền lan huệ trang nghiêm

Nghe trong lòng đất tâm thiền nở hoa

Thái dương vầng sáng chan hòa

Bước trên thật địa ngồi tòa chân như.

Là đệ tử thứ 182 của Thầy Làng Mai, sư cô Chân Lan Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Sư cô Chân Lan Nghiêm đã có mặt với tăng thân Làng Mai 17 năm. Trong thời gian đó, sư cô đã sống, tu tập, phụng sự và chăm sóc tăng thân rất hết lòng trong mọi trách vụ mà sư cô đảm nhiệm. Sư cô yêu thích thiên nhiên, thích đi bộ ngoài trời và thưởng thức sâu sắc tất cả những vẻ đẹp của Đất mẹ. Sư cô đã tạo được những mối quan hệ thân hữu với hàng xóm láng giềng quanh chùa Cam Lộ. Sư cô sống một đời sống giản dị, tận hưởng và tri ân sự sống trong từng giây phút.

Sư cô là người có óc tổ chức và rất thực tế. Trong các khóa tu, sư cô luôn có mặt rất hết lòng với thiền sinh và bao giờ cũng hướng dẫn gia đình pháp đàm do sư cô phụ trách với tình thương yêu tròn đầy. Sư cô rất hạnh phúc chia sẻ giáo pháp với thiền sinh, nhất là trong những chuyến giảng dạy và hướng dẫn khóa tu ở Hà Lan và Nam Phi, đem lại lợi lạc cho biết bao người. Mỗi lần từ các chuyến đi như vậy trở về, sư cô đều làm quà cho các sư chị, sư em mình bằng các câu chuyện “phiêu lưu” đầy lý thú của mình.

Sư cô Lan Nghiêm đã thực tập hiện pháp lạc trú, thưởng thức sự sống cũng như đã tu học và phụng sự hết lòng. Giờ đây sư cô đã lên đường thong dong trên nẻo về sen nở. 

Kính xin đại chúng và quý thân hữu trong khi ngồi thiền, tụng kinh, trì tụng hồng danh của Bụt và chư vị Bồ Tát gửi năng lượng bình an, hòa hợp và từ bi đến với sư cô Chân Lan Nghiêm để sư cô được an nhiên, tự tại, và có một thân nối tiếp bình an, vui tươi, đẹp đẽ.

Xin thành kính tri ân đại chúng và quý thân hữu.

Quý thầy và sư cô Đạo Tràng Mai Thôn, Pháp

Một lá ngô đồng rơi

Nhạc Dân ca Pháp

Lời Việt: Sư Ông Làng Mai

Giọng hát: Quý thầy, quý sư cô Làng Mai

 

 

Một lá ngô đồng rơi

Có hay chăng người ơi

Một lá ngô đồng rơi

Thu đẹp đã về rồi (ĐK)

 

Lờ lững trên trời cao

Chiếu lên nước hồ xanh

Lờ lững trên trời cao

Mây bạc còn dựng thành (ĐK)

 

Rừng vi lô quạnh hiu

Sáo lên ru hồn ai

Rừng vi lô quạnh hiu

Nắng vàng ngập ruộng dài (ĐK)

 

Niềm thương trong lòng tôi

Thắm tươi không nhạt phai

Niềm thương trong lòng tôi

Thu đẹp vẫn còn hoài.(ĐK)

 

(Điệp khúc)

Ngàn chiếc lá còn rơi

Đỏ au hay vàng tươi

Ngàn chiếc lá rơi rơi

Bay vèo ngập cả trời.

Trị liệu các mối quan hệ trong gia đình

(Trích trong cuốn “Thiền sư và em bé 5 tuổi” của Sư Ông Làng Mai)

Chúng ta có khuynh hướng đổ lỗi cho người khác như thể họ với ta không hề dính líu gì với nhau cả. Ta phải nhìn sâu và đặt câu hỏi là: Chúng ta có cùng lớn lên mỗi ngày không? Chúng ta có hạnh phúc mỗi ngày không? Chúng ta có hòa hợp với chính mình và những người khác quanh mình không, những người dễ thương và những người không dễ thương?

Những gì người khác nói và làm không nhất thiết phải ảnh hưởng đến ta. Ta vẫn có thể chăm sóc chính mình. Chúng ta có thể cố gắng hết sức để thực sự giúp đỡ người khác thay vì phán xét, la mắng hay tạo ra chiến tranh quanh mình.

Khi tay trái bị thương ta không hề nói là: “Đồ ngu. Tại sao mày có thể làm như vậy?”. Chúng ta chăm sóc tay trái một cách tự nhiên để cho nó được chữa lành. Đây là cách mà ta đối xử với những người khác trong gia đình hoặc trong tăng thân ta, những người không mấy dễ thương, có nhiều khó khăn và dễ bị tổn thương. Chúng ta không nói: “Anh đối xử không dễ thương với tôi, anh phải thay đổi”. Chúng ta phải học cách chăm sóc những người ấy như cách ta chăm sóc cho bàn tay trái đang bị thương.

Sở dĩ ta giận một ai đó là do ta không có khả năng thấy được nhiều yếu tố trong người đó không phải là người đó. Chúng ta không thấy được người đó hành xử vì tập khí mà người đó được trao truyền lại. Khi hiểu được một cách sâu sắc hơn, ta có thể chấp nhận người đó dễ dàng hơn. Điều này cũng đúng với tự thân chúng ta. Khi chúng ta thấy được trong ta tất cả những yếu tố đến từ nhiều nguồn khác nhau, như cha mẹ, ông bà tổ tiên và môi trường thì chúng ta sẽ thấy được đa phần những tính nết khắt khe của chúng ta đến từ những gốc rễ, yếu tố khác nhau. Chúng ta có thể thấy rằng: “A, đây là ông nội, ông đang phán xét bạn mình”. Nếu để tâm đến những hành động tương tác qua lại của ta mà không phán xét, ta sẽ làm phát khởi ý thức chánh niệm, giúp ta hiểu được những suy nghĩ, lời nói, hành động của ta không phải do một mình ta tạo ra. Tổ tiên của ta tiếp tục biểu hiện trong ta mỗi ngày. Với sự hiểu biết này, chúng ta có thể tìm cách tháo gỡ những khó khăn giữa ta với người khác để tạo nên sự an lạc.

 

 

Tri giác sai lầm

Vì thường bị kẹt trong nhiều hình ảnh khổ đau của quá khứ nên chúng ta dễ xây dựng lên những tri giác sai lầm, dễ phản ứng lại với người khác và tạo ra nhiều khổ đau hơn. Giả sử như ta đang giận một ai đó, đó là do ta tin rằng người đó có chủ tâm, cố tình làm cho ta đau khổ, làm cho cuộc đời ta khốn đốn. Tri giác đó đưa đến sự giận dữ và phản ứng. Chính sự giận dữ và phản ứng này mang lại nhiều khổ đau hơn cho bản thân và cho tất cả những người có liên quan.

Thay vì đả kích nhau, chúng ta có thể sử dụng hơi thở chánh niệm hoặc đi thiền hành để chế tác sự tỉnh thức và tuệ giác. Chúng ta có thể thở vào thở ra để thấy được trong ta có những nỗi khổ niềm đau và tri giác sai lầm. Trong người kia cũng có những nỗi khổ niềm đau và tri giác sai lầm. Có thể chúng ta đã đạt được một sự thức tỉnh nào đó nhưng người kia có thể không có vì họ không biết cách nhận diện và xử lý nỗi khổ niềm đau để vượt thoát tình trạng khó khăn. Người ấy đau khổ, và người ấy làm cho bản thân cũng như những người chung quanh đau khổ.

Ngay khi nhận ra được điều này, ta nhìn người ấy bằng một cách khác. Ta thấy được nỗi khổ niềm đau trong người ấy và ta hiểu được rằng người ấy không biết cách xử lý khổ đau của họ. Khi chúng ta có khả năng thấy được nỗi khổ niềm đau trong người ấy, thấy được tình trạng của người ấy, lòng từ bi trong ta sẽ phát khởi. Khi từ bi phát khởi thì cơn giận được chuyển hóa. Chúng ta không hành động để trừng phạt bởi vì ta không còn giận dữ nữa.

Đây là sự can thiệp của tuệ giác. Nhờ tuệ giác mà ta được an toàn bởi vì tuệ giác giúp ta điều chỉnh lại tri giác sai lầm. Khi tri giác sai lầm không còn thì sự giận dữ, sợ hãi và tuyệt vọng cũng không còn. Ta sẽ phát khởi tâm từ bi và thiện chí muốn giúp đỡ.

Tư niệm thực (ước muốn của ta) là nền tảng căn bản của mọi hành động. Khi có tri giác sai lầm thì cái ước muốn của ta thúc đẩy, khiến ta phản ứng tạo thêm nhiều khổ đau hơn. Tuy nhiên nếu có tuệ giác, ước muốn của ta sẽ trở thành ước muốn tốt, trở thành nguồn tư niệm thực tốt. Chúng ta có cảm hứng muốn giúp đỡ mà không phải trừng phạt. Khi động cơ thúc đẩy của ta đi về hướng tích cực, ta sẽ thấy khỏe hơn nhiều cho dù ta chưa làm gì cả. Ta hưởng được lợi lạc từ sự thực tập này ngay lập tức. Người kia, người mà ta nghĩ đã gây khổ đau cho ta cũng sẽ hưởng được lợi lạc theo sau đó.

Trị liệu các mối quan hệ trong gia đình

Có thể cha ta xem ta như một thứ tài sản quý báu của cha, như nhà cửa, tiền bạc, xe hơi. Cha nghĩ rằng ta là con của cha, cha đã làm tất cả mọi thứ cho ta, và cha chỉ muốn ta đi theo con đường mà cha đã vạch ra. Cha không nghĩ rằng ta cũng là một con người như bao người khác có quyền được suy nghĩ, được hành động, được đi theo những gì mà ta tin là chân thiện mỹ. Tại sao lại có những người cha như thế? Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có những người cha rất khác, rất tâm lý, có khả năng đối xử với con mình một cách rất kính trọng, cho con quyền được tự do lựa chọn.

Nếu cha đối xử không tốt với ta, có thể là do cha ta thiếu may mắn. Nền giáo dục và môi trường của cha không dạy cho cha cách cảm nhận cũng như cách bày tỏ tình thương yêu và sự hiểu biết. Nếu ta đổ lỗi cho cha, nếu ta muốn trừng phạt cha thì cha ta chỉ khổ đau hơn mà thôi. Ngoài ra không có lợi lạc gì cả. Chúng ta không thể giúp đỡ cha bằng cách ấy. Nếu ta hiểu được rằng do cha mình thiếu may mắn thì cái giận của ta đối với cha sẽ tan biến. Ta sẽ thấy cha ta là người cần tình thương của ta mà không phải sự trừng phạt.

Tất nhiên, ta cũng cần giữ cho mình được an toàn. Nếu cha ta làm tổn hại ta vì cảm xúc hoặc hành động thì ta không nên đến gần cha. Tuy nhiên bỏ trốn cha cũng làm tăng thêm nỗi khổ đau cho cả hai bên. Nếu không thực tập chánh niệm với cha mẹ, chúng ta sẽ tạo ra địa ngục cho nhau.

Hễ khi nào cha mẹ và con cái xung đột, cãi cọ, la mắng nhau thì bao giờ con cái cũng thiệt thòi hơn, bởi vì con cái không được nói lại những lời mà cha mẹ đã nói với chúng. Cha mẹ có thể đánh con cái nhưng con cái không thể đánh lại cha mẹ. Cha mẹ có thể mắng nhiếc con cái nhưng con cái không thể mắng nhiếc cha mẹ. Vì chúng không thể bạo động lại như những gì chúng nhận được nên chúng trở nên bệnh hoạn. Những bạo động mà chúng nhận được vẫn còn đó trong chúng, và nó muốn tìm đường để thoát ra, muốn bạo động trở lại. Là một người trẻ, sở dĩ ta không đối xử tốt với bản thân, làm cho bản thân bị tổn thương là do ta không biết cách để cho những bạo động trong ta thoát ra ngoài. Chúng ta là nạn nhân của những bạo động mà ta nhận được từ cha mẹ và xã hội.

Đôi khi cha mẹ chúng ta cũng không đủ khéo léo và sáng suốt để không bạo động với con cái cho dù họ rất muốn thương yêu con cái, muốn làm cho con cái hạnh phúc. Tôi biết có một em thanh niên trẻ đang học ngành y khoa. Cha em là một bác sĩ. Em muốn mình là một người thuộc thế hệ trẻ, hành xử phóng khoáng hơn, và em hứa với lòng mình là lớn lên em sẽ không hành xử như cha em. Nhưng khi làm cha, em lại hành xử y hệt như cha mình. Em la mắng và phê bình con cái mỗi ngày.

Khi làm con, ta nguyện làm ngược lại những gì mà cha mẹ ta đã làm. Tuy nhiên khi có con, chúng ta thường lặp lại tập khí của cha mẹ. Đó là một vòng luẩn quẩn, nối tiếp những nỗi khổ đau trong cuộc sống từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chúng ta phải thực tập để chấm dứt vòng luân hồi này, dừng lại những tập khí của mình và không để cho chúng ảnh hưởng đến mối quan hệ của ta với con cái.

Cả hai thế hệ phải nhận diện được những bạo động đang hủy hoại chúng ta, hủy hoại những người ta thương yêu. Cả hai bên đều phải tìm cách nhìn sâu bởi vì cả hai đều là những nạn nhân. Con cái nghĩ rằng mình là nạn nhân của cha mẹ, và cha mẹ nghĩ rằng cha mẹ là nạn nhân của con cái. Chúng ta tiếp tục đổ lỗi cho nhau. Chúng ta không chấp nhận sự thật là bạo động có mặt trong cả hai bên. Vì vậy thay vì xung đột, cãi cọ, la mắng nhau, cả hai bên cha mẹ và con cái nên đến với nhau để tìm cách hòa giải. Không phải vì chúng ta khổ đau thì chúng ta tiếp tục làm cho người kia khổ đau. Bên nào cũng đều khổ đau nhiều vì cùng những nguyên nhân như nhau. Vì vậy, chúng ta cần những đồng minh chứ không phải là kẻ thù. Những nỗi khổ niềm đau trong ta cũng đủ giúp ta biết cách làm thế nào để không lặp lại những lỗi lầm đó nữa. Đức Bụt nói rằng: “Tất cả những gì xảy ra, ta phải quán chiếu sâu sắc vào bản chất của nó”. Một khi hiểu được bản chất của sự vật là ta đang đi trên con đường tự do giải thoát rồi.

Vì vậy hai bên phải đến với nhau, bạn đến với bạn, mẹ đến với con. Chúng ta đồng ý với nhau rằng cả hai bên đều đang khổ đau. Cả hai bên đều có những bạo động, hận thù và phiền não trong lòng. Thay vì chống đối hay đổ lỗi, chúng ta nên giúp đỡ và thực tập chung với nhau, nếu cần ta cũng có thể nhờ thầy hoặc tăng thân giúp đỡ.

 

 

Mở rộng trái tim

Tôi biết có một thanh niên trẻ rất giận cha và đã nói: “Con không có liên quan gì với cha cả”. Điều này cũng dễ hiểu. Anh ta nghĩ rằng tất cả những nỗi khổ đau của mình là do cha gây nên và anh ta không muốn dính líu gì đến cha cả. Anh ta muốn cắt đứt hoàn toàn mối liên hệ. Tuy nhiên, nếu nhìn sâu anh ta sẽ thấy rằng cho dù anh ta có giận cha mình đến tận xương tủy đi nữa thì người kia vẫn là cha mình, anh là sự tiếp nối của cha. Ghét cha tức là ghét mình. Không có cách nào khác hơn là chấp nhận cha. Nếu trái tim ta nhỏ bé thì ta không thể ôm ấp được người kia, vì vậy ta phải có trái tim rộng lớn hơn. Ta có thể làm mọi cách cho trái tim ta rộng lớn để có đủ không gian ôm ấp cha ta.

Nhìn sâu là sự thực tập duy nhất giúp cho trái tim rộng mở đến vô lượng, vô biên, không thể nào đo lường được. Một trái tim mà còn có thể đo lường được thì không phải là một trái tim lớn. Có bốn yếu tố để làm nên tình thương chân thật, gọi là tứ vô lượng tâm. Đó là từ (maitrī), bi (karuṇā), hỷ (muditā) và xả (upekṣā). Chúng ta thực tập bốn yếu tố này để biến trái tim ta thành vô lượng. Khi trái tim ta bắt đầu lớn rộng, chúng ta sẽ có khả năng dung chứa, chấp nhận bất kỳ loại khổ đau nào. Khi có khả năng ôm ấp nỗi khổ niềm đau trong lòng, ta sẽ không còn khổ đau nữa.

Đức Bụt ví trái tim rộng lớn giống như một dòng sông. Nếu có một chút bùn nhơ rơi vào ly nước thì ta không thể uống nước đó được mà ta phải đổ nó đi. Nhưng nếu ta thả chút bùn nhơ đó vào trong một dòng sông rộng lớn thì ta vẫn có thể sử dụng nước trong dòng sông ấy. Vì dòng sông lớn có khả năng chấp nhận chút bùn nhơ đó mà không ảnh hưởng đến dòng nước.

Khi trái tim ta bé nhỏ, ta không thể chịu đựng được nỗi khổ niềm đau do người khác và xã hội giáng xuống cho ta. Nhưng nếu trái tim ta rộng lớn thì ta có khả năng ôm ấp nỗi khổ niềm đau ấy và ta sẽ không khổ đau. Thực tập tứ vô lượng tâm là giúp cho trái tim ta rộng lớn như dòng sông.

 

Muôn dặm thênh thang

Bạn hiền thương quý,

Vậy mà đã hai mươi năm từ khi Thầy cùng với chúng tôi “leo đồi thế kỷ”. Đã hai mươi năm từ khi tôi về vùng rừng núi Escondido để rồi bài viết đầu tiên “Sư tử núi” ra đời. Hai mươi năm cho chặng đường đi không ngừng nghỉ, mà Tết nào cũng có người hỏi “Sư tử núi đến đâu rồi?”, dù tôi đã xin Ban biên tập những tựa đề khác cho bài viết mười mấy năm nay. Bài viết cho Lá Thư Làng Mai trở thành chứng nhân cho những gì xảy ra mỗi năm dù lắm lúc tôi quá làm biếng để “tìm về dĩ vãng”, tìm lại thông tin mà chỉ mới có một năm đã rơi rớt đâu đó trong bộ nhớ có giới hạn của mình.

Bây giờ, hai mươi năm, không lẽ không ghi gì để kỷ niệm cho cái mốc thời gian này? Nên giữa những bộn bề lo toan cho Tết, tôi lại thấy mình tâm sự với bạn hiền đây.

Tháng Một

Ngày đầu tiên của năm ngoái, tôi ngồi trên máy bay từ Mỹ về lại Việt Nam. Trong bụng nghĩ thầm không biết mình có ứng vào sao Thiên Mã năm nay không. Đi đâu chưa biết, thấy cái laptop “đi” trước, bị vấn đề trục trặc kỹ thuật mất mấy ngày mới sửa xong. May mà sửa được, nên tôi mới làm xong chuyện tổng kết tiền thân hữu cúng dường tu sửa chùa Từ Hiếu để chuyển qua thầy Từ Đạo cho kịp trước Tết. Các chị em sau ba tháng an cư bên Mỹ, bên Pháp, bên Đức rủ nhau về thăm Thầy. Toàn chị lớn gặp nhau nên vui quá, bao nhiêu là chuyện của các trung tâm được chia sẻ. Thầy cũng rất vui, rất tình cảm, nắm tay từng người. Tôi cầm tay Thầy thưa: “Chúng con ý thức chúng con có nhiều hạnh phúc được gần Thầy trong khi nhiều người muốn gần Thầy chút xíu mà không được”. Thầy gật đầu. Đôi khi chỉ cần ít phút ngắn ngủi bên Thầy mà niềm vui nuôi dưỡng thật lâu bền.

Giữa tháng Một, tôi đi Bangkok vài ngày để giúp làm triển lãm. Đa phần thầy Pháp Nguyện và tăng thân ở Thái Lan đã chuẩn bị xong, tôi chỉ giúp phần chót về triển lãm sách của Thầy thôi. Địa điểm triển lãm cũng là chỗ Trung tâm văn hóa và nghệ thuật Bangkok mà năm 2013 đã từng triển lãm thư pháp của Thầy. Kỳ này có triển lãm thêm một số các tác phẩm của Thầy bằng nhiều ngôn ngữ và pháp khí. Chúng tôi xin tăng thân các nước Đông Nam Á đem sách của nước mình tới nên số lượng sách nhiều hơn dự định. Thậm chí có nhiều cuốn được xuất bản lúc sau này mà tôi không biết. Các thầy và các sư cô trong ban tổ chức trang trí rất đẹp, rất thiền vị. Ở trung tâm triển lãm thiết kế logo chùa Một Cột của Làng Mai, bao quanh là những trình bày về pháp khí mà Thầy dùng để giảng dạy như chuông, ly uống trà, nến, hộp diêm,… Đề tài của buổi triển lãm là “Đón mừng sự sống”. Một cuốn sách song ngữ Anh – Thái về những bức thư pháp của Thầy được in thật trang nhã và đầy nghệ thuật.

Cuối tháng, trời đẹp, ban thị giả mời Thầy đi xem chợ hoa đón Tết. Sức khỏe Thầy khá nên Thầy gật đầu, làm ai cũng mừng. Xe Thầy chạy trước, ban thị giả và một vài thân hữu tình cờ đến thăm đi taxi theo sau. Chiếc xe chạy vòng qua những con đường đầy hoa Tết rồi vào Thành Nội. Nhiều người quá nên Thầy không xuống xe vào thăm Thành Nội được. Xe tiếp tục đi thăm Huế. Trên đường, Thầy làm dấu cho xe ngừng lại ghé thăm chùa Từ Ân. Thầy Trung Hải dẫn vài chú điệu nhỏ xíu đứng đón ngoài cổng. Hòa thượng Quán Chơn cùng tăng chúng ra đảnh lễ vấn an sức khỏe Thầy. Thầy thăm quanh chùa rồi sau đó vào phòng Hòa thượng trụ trì để nghỉ ngơi.

Giờ trưa đến rồi mà không biết Thầy sẽ ăn ở đâu, tôi cứ bối rối chẳng biết có nên nhắn về chùa đem cơm tới hay không. Mọi người ngồi trên sân chùa, chờ đợi. Đói bụng nhưng được đi với Thầy là hiếm hoi rồi, chẳng ai muốn rời. Tội thầy Trung Hải thấy vậy đem mấy hộp bánh kẹo thật đặc biệt (chắc để dành cho Tết) ra mời thiên hạ lót lòng. Thầy ra, chắp tay chào rồi rời chùa. Ai cũng nghĩ đi lâu chắc Thầy đã mệt, ai ngờ trên đường về Thầy lại làm dấu ghé vào thăm chùa Từ Đàm. Buổi trưa, giờ chỉ tịnh nên chùa vắng lặng, nhưng có Hòa thượng Hải Ấn, trụ trì ra tiếp đón. Thầy đi quanh chùa một vòng, vào chánh điện niêm hương, chỉ cho thị giả những chốn xưa rồi mới lên xe về lại chùa Tổ. Tiếc là Ôn Trí Quang cũng đang dưỡng bệnh nên hai Ôn không gặp được nhau.

 

 

Tháng Hai

Ba mươi Tết, tôi và sư em Đạm Nghiêm vào phiên nấu ăn cuối năm. Lúc này, Thầy dùng bữa được nên thị giả nấu ăn vui lắm. Tôi làm món tào phớ bằng đậu mắc ca vì Thầy chưa được dùng đậu nành, lần nào cũng hết và lần nào tôi cũng mừng. Tối, Thầy khỏe nên đã cùng thị giả qua Diệu Trạm thăm văn nghệ tất niên một chút làm mọi người ngạc nhiên và vô cùng hạnh phúc.

Mồng Một Tết, Thầy ra thiền đường, đại chúng đảnh lễ chúc thọ Thầy và sau đó chụp hình chung với Thầy. Lâu rồi mới có một bức ảnh đại chúng được chụp hình chung cùng Thầy mà đang đắp y. Đại chúng Diệu Trạm và Từ Hiếu xúm xít bên Thầy rất ấm áp. Mong sao nguyên năm nay Thầy vẫn khỏe như vậy.

Tôi theo chân Sư cô Chân Không đi chúc Tết các vị Tôn túc. Để biết Tết ở Huế. Rồi cũng thăm phòng, thăm nhau. Tục lệ của Làng Mai không đổi. Phòng thăm ít hơn ở Làng Mai Thái nhưng cũng rộn ràng ra phết. Giữa tháng, có phái đoàn từ Canada lên thăm, lại thêm từ Mỹ và Hồng Kông về gần 30 người nên Thầy ra khỏi thất đi thiền hành. Trời ấm áp và Thầy khỏe nên mọi người được theo Thầy đi thăm nhà Tổ, phòng Sư cố, phòng Sư thúc. Thầy không cần đội mũ len. Sau đó, Thầy đi tiếp xuống hồ bán nguyệt. Đi theo Thầy ai cũng hạnh phúc. Có người nói là đã coi hình Thầy trong video nhưng không ngờ tới chùa được gặp Thầy trực tiếp như vậy nên rất bất ngờ. Buổi tối,Thầy dùng bữa rất vui, cười hoài, ai thưa gì cũng gật đầu.

Tôi xin phép đi Bangkok để đem thư pháp và sách của Thầy về Việt Nam cho lần triển lãm tới. Sau đó, cùng với hai sư em và tăng thân trẻ ở Từ Hiếu, tôi có một chuyến đường bộ tới Bangkok kịp giờ trước khi phòng triển lãm đóng cửa, đóng gói dọn dẹp và đi thẳng về Hà Nội cất vào nhà một chị trong tăng thân. Xong xuôi đâu đó tôi về lại Huế. Chuyến đi liên tục bốn ngày mà không ở lại đâu cả, chỉ thỉnh thoảng khi tài xế mệt thì xe dừng lại cho chú ấy nghỉ ngơi và ăn thôi, thật là đáng nhớ. Ngày xưa, tôi từng đi xuyên bang như vậy nhưng mấy chục năm rồi, quên mất mình cũng sắp thành “cụ” tới nơi. Bây giờ, chân đi vẫn là chân đi, hình như chỉ có tăng chứ không giảm.

May quá, về lại Huế gặp dịp có bác sĩ Quốc qua thăm Thầy, bác sĩ đã giúp chỉnh lại xương cốt cho tôi, thật là đỡ. Gặp dịp anh Tảo về thăm làng, mời bác sĩ Quốc đi thăm đồng quê Việt Nam cho biết nên Linh Nghiêm, Định Nghiêm và tôi cũng được cơ hội xin anh đưa đi thăm nhà thờ họ ở làng Vân Cù. Làng quê rất êm ả, đường vào làng rợp bóng tre xanh. Tôi đi trên con đường đất, nhắm mắt nghĩ tới ông bà mình đã từng đi trên con đường này mà lòng bâng khuâng. Ba tôi không về được để thăm làng quê xưa. Tôi nghĩ bụng mình phải nhìn bằng con mắt của ba, cảm bằng tấm lòng của ba với quê hương làng nước.

26 tháng 2 là ngày lịch sử trong nhật ký của tôi. Thầy đã dùng bữa nhiều và ngon miệng, nên dù chỉ ăn hai bữa nhưng ai cũng vui. Buổi tối lên Thầy chơi, tôi thưa: “Thầy ơi!”. Đột nhiên Thầy đáp lại “ơi” làm ai cũng giật mình. Khí lực Thầy rất tốt. Hy vọng kỳ này cô bác sĩ Julie qua tập nói cho Thầy sẽ có nhiều kết quả hơn. Tôi thưa: “Mai con sẽ nấu ăn ngon cho Thầy”. Thầy bật cười, rồi xoa đầu tôi. Vui quá!

Tháng Ba

Đầu tháng Ba, tôi bay ra Hà Nội để tìm chỗ làm triển lãm sách và thư pháp của Thầy cùng với thầy Pháp Nguyện và Sư cô Chân Không. Tăng thân Hà Nội dẫn chúng tôi đi xem các địa điểm nổi tiếng như Văn Miếu, Viện Bảo tàng Mỹ thuật ở ngay trung tâm. Chỗ nào cũng tình nguyện hỗ trợ khiến ai cũng vui. Tôi nghĩ Thầy sẽ vui lắm nếu triển lãm thư pháp của Thầy ở Văn Miếu, nhưng rất tiếc không gian để dành cho triển lãm quá nhỏ, rồi thêm sự nhộn nhịp, thiếu yếu tố thiền vị nên chúng tôi đi tìm thêm vài địa điểm khác trước khi quyết định.

Ngày hôm sau, chúng tôi dậy sớm đi thăm Tràng An. Thuyền chèo qua cái động khá dài và đẹp. Cảnh sơn thủy còn thiên nhiên và thiên hạ cũng không xả rác nên nước khá sạch, bóng núi in trên nước rất thi vị. Sư cô Chân Không về lại Huế còn chúng tôi đi xem tiếp một vài chỗ có thể dùng để triển lãm nữa. Hôm sau, anh Hiểu đưa đi thăm chùa Thầy, rồi ghé thăm trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam và Viện bảo tàng Hà Nội. Viện bảo tàng Hà Nội hơi xa trung tâm nhưng rộng rãi, dễ thiết kế, tôi cảm thấy yên tâm. Chúng tôi điểm qua các địa danh ở Sài Gòn, ở Huế, vẫn thấy làm ở Hà Nội là tốt nhất.

Ngày 13 là lễ giỗ Tổ và đặt đá khởi công trùng tu nên chùa Từ Hiếu đông nghẹt người. Thầy bị mệt nên không ra dự lễ. Tôi cũng loay hoay trên cốc Thầy. Buổi trưa, tôi cùng sư em Trăng Bồ Đề xuống nhà thầy Pháp Niệm dự tang lễ của mẹ thầy. Đại chúng đang làm lễ, y vàng sáng cả khoảng sân nhỏ trước nhà. Không khí rất nhẹ nhàng. Cụ bà đã chuẩn bị cho ngày đi của mình từ lâu và đi rất an nhiên nên không có sự buồn đau. Cụ ông kể cho tôi nghe về những ngày cuối của cụ bà bằng khuôn mặt vui vẻ. Sư cô Tịnh Hằng cũng kể về hai mươi mấy ngày trước khi mất, cụ bà nói sư cô cho ăn hai nắm cơm vắt thật chặt với muối rồi từ đó về sau chỉ uống nước. Thầy Pháp Niệm bảo là khi hấp hối, được khai thị cụ bà còn ráng chắp tay lại trước ngực để cám ơn. Tôi hâm mộ cụ bà quá đi.

Hôm sau, tôi đi Pháp. Mỗi năm “đến hẹn lại lên” mà cái hẹn với sở di trú cứ đẩy sớm từ từ, bây giờ thành tháng Ba thay vì tháng Tư như xưa. Trời còn lạnh nên tôi bị cúm. Lâu rồi mới bị cúm lại như vậy. Nhưng nhờ vậy mà được nghỉ ngơi, ở yên trong phòng cũng thật là tuyệt. Sau đó, tôi chuẩn bị sách để đem về Việt Nam làm triển lãm. Ngày nào cũng đi qua Sơn Cốc với các sư em Trọng Nghiêm và Trăng Huyền Thoại để làm hồ sơ sách, đồng thời sắp xếp lại chỗ để thư pháp của Sư Ông. Tôi cũng giúp một chút cho việc tham vấn và cho pháp thoại. Thấy thương các sư em đã phải lớn rất nhanh để lấp đầy chỗ trống của các sư chị vắng mặt.

Tháng Tư

Về Làng thì có chuyện Làng. Tôi sửa sang nhà cửa ở Nhật Nguyệt Thất chút ít. Nhiều người góp tay nên chỗ lên cầu thang sáng sủa và khang trang hơn. Họp với xóm Thượng về việc tu sửa lại toàn bộ xóm Thượng và Sơn Hạ. Nặng gánh đó. Có mạnh thường quân hứa giúp nhưng không được bao nhiêu. Dãy nhà hư ở Sơn Cốc cũng cần hoàn thành sớm để chúng có chỗ sinh hoạt vào ngày xuất sĩ. Các sư cô ở thiền đường Hơi Thở Nhẹ cũng nhắn tôi lên Paris để đi xem chỗ ở mới cho gần với trung tâm Suối Tuệ. Tôi lên Paris với sư cô Lăng Nghiêm, rốt cuộc cũng kiếm được chỗ ở mới thích hợp cho các sư cô mà giá không quá cao, mừng quá.

Ông chủ vườn mận sau xóm Mới muốn bán vườn, các sư cô quá vui vì sẽ có đất để xây ni xá. Ông hàng xóm xóm Thượng cũng muốn bán nhà, các thầy hớn hở lắm. Toàn là những nơi rất cần thiết và nên mua, giá cũng phải chăng. Tôi nhìn Sư cô Chân Không cười, mình thành địa chủ rồi, dù là chưa có tiền. Chắc chờ các sư cô ở thiền đường Hơi Thở Nhẹ an cư rồi thì bán nhà cũ đi mới xoay sở được.

Cuối tháng, về lại Việt Nam, Thầy đang nghỉ dưỡng ở Thuận An. Nghe nói sức khoẻ Thầy đỡ hơn, thậm chí sáng đó còn tắm biển nữa. Hôm sau, phiên tôi nấu ăn nhưng may quá, Thầy về lại chùa nên tôi không phải xách vali đi tiếp.

 

 

Tháng Năm

Đúng là sức khỏe người lớn tuổi không ổn định. Một buổi Thầy mệt, ăn sáng ít mà ăn xong Thầy xoa tay lên ngực, ai cũng lo. Chúng tôi xin Thầy truyền nước biển. May mà Thầy chịu. Thế là chiều đó Thầy vừa vào nước biển vừa ăn, và ăn khá, ai cũng thở phào. Thầy truyền nước biển đến sáng hôm sau khỏe lại. Mừng ơi là mừng. Vậy thì tôi yên tâm bay đi Bali. Vé đã mua mà tôi cứ lo không đi được vì sức khoẻ của Thầy. Lần này, các sư em người Indonesia có khóa tu trên quê hương và muốn tìm đất để lập Làng Mai Indo nên mời tôi đi qua ít ngày. Không đi thì có vẻ mình không quan tâm đến các em, nhưng đi thì thấy mình cứ nấu ăn cho Thầy ít bữa lại “xẹt” đi mất tiêu.

Kỳ này tôi không đi thăm đền hay thắng cảnh, nhưng lang thang một buổi ở trung tâm Bali cũng rất vui. Khách du lịch đông lắm. Con đường nhỏ như ở phố cổ Hội An. Sư em Trăng Tin Yêu kể cho tôi nghe ở Bali có một ngày gọi là “ngày im lặng” để mọi người tĩnh tâm, không nói chuyện. Thường thường ngày này đánh dấu một năm mới theo lịch Hindu của người dân trên đảo. Trong ngày này không được xài điện, toàn thành phố không có đèn, không có xe, ai ở yên nhà nấy và trong nhà cũng không được bật đèn. Chỉ có nhà thương là có điện. Ai đi ra ngoài có thể bị cảnh sát bắt giữ lại đến sáng hôm sau mới thả ra. Phi trường không hoạt động, mạng internet bị cắt. Chỉ có một ngày một đêm thôi mà sáng hôm sau không khí khác hẳn, trong lành hơn rất nhiều. Tôi nghĩ đúng là không xe không điện thì thành phố bớt ô nhiễm, mà tĩnh tâm không nói chuyện thì tâm cũng bớt ô nhiễm.

Tôi về lại Việt Nam, nhập vào ban thị giả đang nấu ăn cho Thầy ở Đà Nẵng. Gió biển thoáng nên Thầy ngủ ngon, ăn khá. Nhưng cũng chỉ ở vài ngày là Thầy lại muốn về Huế.

Tháng Sáu

Cái máy tính xách tay của tôi đúng là sắp đình công rồi. Cứ loay hoay sửa chữa mà hết cả giờ. Tôi lại bay đi Hà Nội để họp về việc triển lãm và làm thống kê sách. Viện Bảo tàng Hà Nội thích hợp cho việc triển lãm nhưng thời gian không thích hợp nên phải chờ tới sang năm mới rõ có làm ở đó được hay không. Cũng tốt, vì như vậy chúng tôi có thêm giờ để chuẩn bị. Trời thật nóng và oi ả. Tôi nghĩ bụng mình còn mệt huống chi là Thầy?

Tháng Sáu

Cái máy tính xách tay của tôi đúng là sắp đình công rồi. Cứ loay hoay sửa chữa mà hết cả giờ. Tôi lại bay đi Hà Nội để họp về việc triển lãm và làm thống kê sách. Viện Bảo tàng Hà Nội thích hợp cho việc triển lãm nhưng thời gian không thích hợp nên phải chờ tới sang năm mới rõ có làm ở đó được hay không. Cũng tốt, vì như vậy chúng tôi có thêm giờ để chuẩn bị. Trời thật nóng và oi ả. Tôi nghĩ bụng mình còn mệt huống chi là Thầy?

Một tuần sau đó, Thầy ăn ít nên chịu truyền nước biển. Tôi lên thăm, thấy Thầy đang được đẩy xe đi quanh phòng, bình nước truyền cũng được sư chú thị giả đẩy đi theo. Thầy giơ tay cho tôi nắm một lúc lâu. Cảm động quá chừng.

Giữa tháng, cả tuần Thầy lúc khỏe lúc không nhưng nhờ có cô Anna nên khá ổn định. Cô Julie tập nói cho Thầy khả quan lắm. Cô tập có mười lăm phút mà Thầy nói được chữ “uống trà” rất rõ. Thầy vui, giờ ăn nắm tay mọi người rất tình cảm. Thậm chí sư em Trăng Hải Chiếu cầm đồ bận hết cả hai tay mà Thầy vẫn đưa tay chờ sư em bỏ đồ xuống để nắm tay sư em. Thầy ăn khá, nhưng lượng ăn bắt đầu ít hơn trước. Cả một thời gian dài Thầy rất dịu dàng, chắp tay cảm ơn thị giả nấu ăn, nắm tay từng đứa học trò. Chúng tôi đều ý thức rằng hạnh phúc thay mình còn có Thầy đó.

Đột nhiên, có hai ba bữa Thầy bỏ ăn, tay thường ôm ngực, chúng tôi lo quá chừng, tính đưa Thầy vào bệnh viện ở Bangkok để nhóm bác sĩ vẫn hay trị bệnh cho Thầy kiểm tra nhưng may sao có bác sĩ Chom Chai đi du lịch ghé qua khám và nói là Thầy chỉ bị mất nước, chỉ cần truyền một bình đạm là Thầy khỏe và ăn lại. Mừng quá! Bác sĩ khuyên rằng Thầy cần thay đổi không khí một thời gian. Tập nói lại mất sức quá nên từ từ chúng tôi cũng chấp nhận là Thầy cần được giữ gìn khí lực hơn là cố gắng tập nói.

Gần cuối tháng, nghe tin thầy Pháp Lượng gặp tai nạn, ai cũng lặng người. Tôi nhắm mắt, nhớ tới người “lão sư em” vui vẻ từng làm chung với tôi những cái bàn cho triển lãm sách ở EIAB. Lúc nào gặp nhau cũng một nụ cười cởi mở và khoe những chậu hoa bonsai mới tạo hình. Biết rõ vô thường xảy ra từng phút từng giây, nhưng khi chuyện xảy ra mình vẫn không sao tránh được nỗi đau đột ngột.

Tháng Tám

Đầu tháng đi nghỉ dưỡng ở Thuận An. Gió biển làm Thầy khỏe ra. Chỗ nấu ăn hơi bất tiện, nhưng nấu ăn xong thấy Thầy dùng được trở lại chúng tôi mừng quá. Ở nhà nghỉ, Thầy ăn ngon, ăn nhiều, thị giả cũng đói bụng hoài vì gió biển. Nên mệt mà vui.

Hai cô bác sĩ Julie và Megan lên chào Thầy, hy vọng Thầy cho họ chữa trị lần cuối trước khi về lại Mỹ. Thầy không đồng ý nhưng nắm tay, rồi chắp tay cảm ơn. Tôi thưa Thầy tập một buổi nữa đi rồi khi cô ấy về chúng con tập tiếp cho Thầy. Thầy bật cười, ra điều như muốn nói “nghèo mà ham, có cô ấy đây còn tập chưa xong” làm ai cũng cười phá lên rất vui. Cô Julie cảm động lắm trong không khí rất thân tình đó.

Ngày 13 tháng 8 là ngày Tự tứ. Một mùa an cư đi qua nhanh quá. Các sư em chụp hình, tặng hoa, tặng quà,… Tôi kêu mấy em bày đặt mà thấy lòng có chút cảm động. Thầy đi biển về vẫn ăn nhiều, ăn ngon. Đội thị giả hạnh phúc ra mặt. Ngày hôm sau, trăng thật sáng, thật đẹp. Tôi nấu ăn cho Thầy xong về phòng nghỉ ngơi, không ngờ khoảng tám giờ ba mươi tối, nghe tin Thầy đang đi ngắm trăng ở hồ bán nguyệt. Sau đó, qua Diệu Trạm và lên thiền đường. Chúng Diệu Trạm được đi theo Thầy ngắm trăng. Ôi tính lại hôm nay Thầy đi ra ngoài tới những năm lần, tôi thì thào với thị giả là chị đâu có cho Thầy ăn thứ gì đặc biệt đâu mà Thầy khỏe thế. Nói vậy chứ lòng vui quá chừng luôn. Bạn hiền có vui với tôi không?

Tháng Chín

Tôi lại ra Hà Nội để chuẩn bị cho phần triển lãm sách. Năm nay, tôi đi Hà Nội nhiều lần vì chuyện này. Thầy ăn ít lại, rồi ho, sức khỏe xuống. May có bác sĩ Megan châm cứu Thầy mới đỡ đôi chút. Ở Hà Nội về, tôi nghe tin ban thị giả sắp xếp cho Thầy đi nghỉ dưỡng ở suối nước nóng Alba. Trời ẩm và nóng bức nên tôi cũng xuống sức. Thầy nằm trên võng trước cửa ngắm núi rất yên tĩnh. Ban thị giả ngồi quanh đưa võng, nói chuyện. Ngày kế, Thầy không ra khỏi cửa, nằm trên ghế dài nhìn ra núi và ngày kế nữa, Thầy muốn về. Các vị chăm lo khu nhà nghỉ này rất dễ thương, cúng dường toàn bộ và còn mời chúng tôi chia sẻ cho nhân viên để nhân viên cũng nếm được lợi lạc của sự thực tập.

Ngày sinh nhật, tôi lại lênh đênh trên trời trong chuyến bay từ Hà Nội về Huế. Đã bảo là năm nay đi nhiều mà. Hai hôm sau, tôi lại vào Sài Gòn để bay về Mỹ với dì tôi. Sau mười mấy năm chờ đợi, cuối cùng dì cũng được đoàn tụ với mẹ tôi nhưng lại bị té gãy xương vai mấy tuần trước. Thế là tôi chuyển cái hẹn về thăm nhà cuối năm để đi sớm hơn cùng với dì. Dì vừa mổ ra tuần trước, ngồi xe lăn. Tôi kéo vali theo sau, nghĩ tới ngày đoàn tụ gia đình mà quên đi cái mệt. Nhưng mà, mệt vì nghĩ là có việc phải làm, chứ thật ra có làm gì thật đâu?

Tháng Mười

Những ngày tháng ở với gia đình bao giờ cũng qua rất nhanh. Ba mẹ tôi có yếu hơn nhưng vẫn còn khỏe đủ. Có thêm hai dì nên ngày nào cũng rộn ràng như nhà có hội. Tôi và dì Chín bày ra đủ món Việt Nam để nấu nướng. Cứ hết đi chợ lại đi thăm nhà các cậu, nhà em tôi. Không khí gia đình ấm áp. Tết này chắc là vui lắm đây. Tôi phải làm lại hộ chiếu vì đã hết giấy dù còn hạn. Đi nhiều quá mà. Nội chuyến đi đường bộ qua Thái đã bị mất hai trang vì dán visa của Lào rồi.

Tôi về lại Huế. Thầy đang truyền nước biển và thuốc mấy ngày rồi vì bị nhiễm trùng phổi. Bỏ ăn gần cả tuần nhưng nhờ đủ nước nên trông Thầy không hốc hác bao nhiêu. Các chị em triển lãm sách Thầy ở thiền đường Trăng Rằm để mừng ngày Tiếp nối của Thầy rất thiền vị và dễ thương. Nghe nói ngày nào Thầy cũng bảo đẩy xe ra ngắm, đến nỗi sư cô Định Nghiêm hỏi đùa Thầy là có nên đem luôn cái giường của Thầy ra thiền đường, Thầy cũng gật đầu.

Ngày Tiếp nối Thầy không ra lúc làm lễ mà ra sớm hơn đi dạo ngắm phòng triển lãm nên báo chí đăng tin, nhìn hình thấy Thầy khỏe lắm, ai ngờ mới tháo túi truyền dịch để đi dạo.

Thời gian này, cũng như năm ngoái, Thầy yếu sức lắm. Y tá trực suốt ngày và Thầy được truyền đủ loại chất dinh dưỡng liên tục. Chúng tôi nói lén với nhau sang năm không tổ chức nữa, cứ tổ chức là Thầy bị bệnh. Bạn hiền có thấy chúng tôi mê tín chưa? Nhưng trùng hợp quá mà, phải không?

 

 

Tháng Mười Một

Năm nay dịch sốt xuất huyết tràn lan, bên cốc Thầy, thị giả nhập viện hết mấy người. Bên Diệu Trạm có Sư cô Chân Không. Mấy ngày đầu, Sư cô sốt cao, chúng tôi còn tưởng Sư cô bị cúm nên tôi cũng bị cấm qua Thầy vì sợ lây cho Thầy (tôi ở cùng phòng với Sư cô mà). Sau đó, thử máu mới biết Sư cô cũng bị nhiễm virus sốt xuất huyết. Sư cô không chịu đi nhà thương, chỉ ở nhà truyền dịch. Tôi lên mạng tra về bệnh này, học thêm được về nhiều triệu chứng của bệnh. Và tái cả mặt khi biết là ngày thứ ba vừa hết sốt, Sư cô đã dang tay quay mấy chục vòng thế Tây Tạng để “phục hồi sức khỏe”. May là Sư cô không bị xuất huyết bên trong, đúng là nhờ Phật độ. Sau đó, chúng tôi nhất định bắt Sư cô phải nằm nghỉ ngơi cho đến khi tiểu cầu trở lại số lượng bình thường. Ai tới thăm cũng khuyên đi bệnh viện còn Sư cô thì tuyên bố có chết thì chết ở chùa chứ không vào bệnh viện. Bạn hiền thấy Sư cô anh hùng ghê chưa. Sau một tuần, Sư cô khỏe lại từ từ rồi hết hẳn. Ai cũng nể phục sự kiên cường của Sư cô hết.

Thầy vẫn tiếp tục được truyền dịch và theo dõi mỗi ngày như ở trong nhà thương. Các sư em đã từng là y tá, là dược sĩ đều được thay nhau đến phụ với cô y tá Thái Lan đang chăm sóc cho Thầy. Thầy vẫn ăn được, ăn lai rai, ăn không đúng giờ nên nhiều khi tôi qua thăm mà toàn gặp lúc Thầy nghỉ ngơi. Nhưng biết Thầy đang ở đó, là đủ ấm lòng.

Ôn Trí Quang tịch, tôi đi dự lễ nhập kim quan với Sư cô Chân Không và thị giả. Hôm sau, đi dự lễ di quan và trà tỳ. Trời mưa to và con đường đất dẫn đến chỗ trà tỳ thật trơn trợt nhưng người đi dự rất đông. Ôn di ngôn lại làm tâm tang rất đơn giản, không nhận hoa và phúng điếu nên các buổi lễ rất gọn. Sau một ngày lại có tin thầy của sư cô Thuần Khánh vừa tịch, tôi cũng đi hộ niệm khi nhập kim quan. Quý Tôn túc đi dự lễ của Ôn Trí Quang đều ghé qua thăm Thầy. Cuối tháng, Thầy đồng ý đi Thái Lan để kiểm tra lại sức khỏe. Thế là đúng một năm một tháng sau khi về Việt Nam, Thầy lên máy bay trở lại Thái Lan. Rất nhiều người không ngờ tới chuyện này vì ai cũng nghĩ Thầy sẽ ở Việt Nam mãi đến cuối đời. Chúng tôi cũng nghĩ như vậy. Không ngờ Thầy còn khỏe đủ để đi. Chúng tôi nhờ một bác sĩ và một y tá đi theo trên máy bay cho yên tâm.

Tháng Mười Hai

Lần này, máy bay cất cánh từ Huế nên thời gian di chuyển ngắn hơn, Thầy cũng khoẻ hơn. Trên máy bay Thầy ngồi uống trà, ngắm mây. Nhìn Thầy rất khỏe, lại còn ăn một chút trái cây của thị giả. Tới Thái, Thầy được đưa thẳng đến bệnh viện rồi xuất viện ngay. Buổi chiều, Thầy ăn ngon và hôm sau muốn về PakChong. Khỏi phải nói các sư em ở tu viện Vườn Ươm mừng đến độ nào.

Tôi về lại phòng cũ, cứ như chưa từng rời bao giờ. Sư em Thuyết Nghiêm cho mượn mấy giò lan đang nở treo trước phòng. Không khí thật thoáng và rất khác với ở Huế. Đêm đầu tiên tôi ngủ không được vì lạnh quá, ban đêm chỉ mười độ. Vốn nghĩ rằng Thầy đi qua Thái chỉ dăm bữa mười ngày là cùng và ở trên Bangkok thôi nên tôi đem theo có mấy bộ đồ nhẹ, không hề nghĩ đến việc đem áo lạnh. Cũng may trên cốc Thầy ấm đủ!

Ngày 11 tháng 12, tôi cùng Sư cô Chân Không và thị giả đi Sài Gòn để làm răng. Ngày hôm sau, cô Xuân đưa Sư cô Chân Không cùng chúng tôi đi khắp Sài Gòn để Sư cô ngắm lại cảnh cũ như chùa Ấn Quang, Xá Lợi, Từ Nghiêm. Sư cô chỉ cho tôi thấy nơi cô Nhất Chi Mai đã tự thiêu ở chùa Từ Nghiêm. Tại đó, Sư cô đã lạy xuống và ngồi im tâm sự với cô Nhất Chi Mai rất cảm động. Chúng tôi cũng có cơ hội đi thăm đường sách Nguyễn Văn Bình và chợ Bến Thành một chút cho sư em thị giả – mới tới Sài Gòn lần đầu tiên – được biết.

Ngày 15, ở tu viện có lễ xuất gia cho cây Ngọc Am. Các tân sadi này có phước lớn. Lúc còn là tập sự đã được ra chơi và gặp Thầy ngoài thất. Trong buổi lễ, Thầy ra dự và còn đưa tay ra cho các em nắm. Đúng là mỗi cây có một cái duyên khác nhau. Ai mà ngờ Thầy lại qua Thái Lan và dự lễ xuất gia chứ.

Ba ngày 17, 18, 19 là cơ hội cho các giáo thọ Đông Nam Á chia sẻ và bàn luận về những vấn đề đã, đang và có thể là sẽ xảy ra ở các trung tâm Làng Mai. Chúng tôi lắng nghe nhau và chơi chung với nhau. Thầy cũng ghé sang hai lần, chào các sư con và ôm đầu thầy Pháp Niệm.

Ai cũng đoán Thầy muốn về lại Việt Nam rồi.

Ngày 21, Thầy có hẹn với nhà thương ở Bangkok. Các thầy và sư cô ra tiễn đưa rất bùi ngùi vì sau đó chắc là Thầy về Việt Nam luôn. Thầy vào thẳng nhà thương và ở luôn trong đó dù không còn cần phải làm gì nữa. Thầy bắt đầu dùng bữa trở lại, từ từ từng chút một mỗi bữa và đến gần cuối tháng thì Thầy ăn trả bữa, ngày nào cũng hết mâm khiến ban thị giả nấu ăn mừng quá chừng. Thấy Thầy khỏe lại, câu hỏi tiếp tục được đặt ra là Thầy sẽ muốn đi đâu. Chúng tôi hỏi mà hình như Thầy cũng chưa quyết định, chỉ muốn cho thật khỏe đã. Tôi cười: “Thầy xin chọn nơi này làm quê hương thưa Thầy?”. Thầy gật đầu làm ai cũng cười phá lên.

Ngày cuối năm, ban thị giả kéo nhau qua phòng Thầy ở nhà thương để cùng ăn bánh rồi đón năm mới. Thầy không khỏe lắm nên đi nghỉ sớm mặc cho phòng ngoài nói chuyện. Tôi cũng buồn ngủ quá nên về sớm, không ngắm pháo hoa chi hết. Thế là một năm cũ đã trôi qua và tôi đón năm mới ở Bangkok. Nào có trà, có hoa hay hương trầm để khai bút chứ.

Ngày đầu năm mới, năm 2020, Thầy muốn rời nhà thương. Thế là lại về PakChong. Bạn hiền thấy tôi đi nhiều chưa? Cứ ngày đầu năm là đang ở đâu đâu chứ không ở trong nhà. Người đi hơi ngơ ngác còn người đón quá hoan hỷ. Kỳ này các Phật tử xong khóa tu nhưng chưa rời Làng Mai Thái đều được gặp Thầy vì Thầy khỏe quá, đi mấy tiếng mà về tới thất lại ngồi ăn trưa ngay ngoài hiên mà không đi nghỉ liền như thường lệ. Kể cả buổi chiều còn lại, Thầy cứ đi quanh chứ không vào nghỉ nhiều. Sáng hôm sau, Thầy kêu thầy Pháp Niệm lên ra dấu muốn thầy Pháp Niệm đưa Thầy về Việt Nam. Kỳ này là về thiệt nhé, ban thị giả thở phào, rốt cuộc rồi cũng đến lúc trở về.

Thầy khỏe hẳn nên dùng bữa được nhiều, ra sân ăn dù trời tối mịt, ăn chung với chúng ngoài hồ sen, có lẽ biết rằng lần này rời Thái cũng không rõ bao giờ mới trở về lại.

Ngày 4 tháng 01, Thầy ra thẳng phi trường ở Bangkok để bay về Việt Nam. Ai cũng ngạc nhiên và phục Thầy quá chừng vì một người khi rời Huế là đang truyền nước, truyền đạm suốt ngày mà bây giờ bay qua bay lại, đi tới đi lui Bangkok – Pak Chong không mệt. Chưa hết, về tới chùa Tổ, trong khi các sư cô đã trang hoàng khuôn viên quanh phòng Thầy thành nơi triển lãm hoa và sách rất dễ thương, Thầy vẫn khỏe đủ để đi quanh thất ngắm phòng triển lãm mini đó rồi mới vào nghỉ. Bạn hiền phục Thầy chưa?

Tôi ngừng ở đây nhé bạn hiền. Sáng nay gói bánh, Thầy cũng qua Diệu Trạm để thăm một chút. Bây giờ, ngoài sân đang nấu bánh chưng và đại chúng đang ca hát. Tiếng hát như những bông hoa đang nở ra trong đêm tối làm tôi nhớ tới câu đối của năm nay:

Địa cầu vừa tỉnh thức

Lòng đất bỗng đơm hoa

Hình ảnh đẹp quá, và sự thực tập chứa đựng trong đó cũng sâu sắc biết bao nhiêu, bạn hiền có nghĩ vậy không?

Thương quý,

Thoại Nghiêm

Làm thế nào để bảo vệ môi trường?

Câu hỏi:

Con đang công tác ở mảng giáo dục môi trường thuộc khu vực vườn quốc gia Cát Tiên. Làm thế nào để đem tuệ giác của đạo Bụt, lời dạy của Sư Ông để chia sẻ và phổ biến sự thực tập bảo vệ môi trường vào các trường học cấp hai, cấp ba và cộng đồng dân cư xung quanh nơi con đang sinh sống và làm việc?

Sư Ông trả lời:

 Có sự liên hệ mật thiết giữa con người và các loài động vật, thực vật và khoáng vật. Theo lịch sử phát triển của sự sống thì con người xuất hiện trên trái đất rất là trễ. Đầu tiên là loài thảo mộc, sau đó là động vật và cuối cùng là con người. Vì vậy cái gốc của con người là từ các loài thực vật, động vật và khoáng chất. Nếu mình không bảo hộ môi trường. Nếu mình không bảo hộ các loài động vật, các loài thực vật, tàn phá sự sống các loài động vật, làm cho chúng diệt chủng, tàn phá rừng, tàn phá cây cối. Sử dụng toàn xi măng cốt thép, làm ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí và đất đai. Đó là mình đang làm hư nền tảng của chính mình. Nền tảng của con người là ở động vật, thực vật và khoáng vật. Nếu mình làm hư hoại nền tảng của mình thì tương lai của mình cũng bị tiêu diệt luôn. Cho nên mình phải bảo hộ môi trường. Bảo vệ sinh môi là bảo vệ con người. Đó là cái thấy sâu sắc.

 Trong kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật, đức Thế Tôn nói rằng có bốn ý niệm mà mình phải chuyển hóa, đó là ý niệm về ngã, chúng sanh, thọ mạng và con người. Ý niệm về ngã là ý niệm rất nguy hiểm, nó chia cách giữa mình và người khác. Ví dụ giữa mình và cha mình. Mình và cha mình không phải là hai người khác nhau. Mình là sự tiếp nối của cha mình, trong mình có cha mình. Mình nghĩ mình là người khác và cha là một người khác, hai người hoàn toàn khác nhau là không đúng. Đó không phải là hai, đó là sự tiếp nối lẫn nhau. Cây bắp là tiếp nối của hạt bắp. Mình tách rời hạt bắp, cho hạt bắp là một cái khác và cây bắp non là một cái khác là không đúng. Vì vậy ý niệm ngã là sai, phải lấy nó ra. Ý niệm thứ hai là con người (ý niệm nhân). Con người được làm bằng yếu tố không phải con người, đó là các loài động thực vật và khoáng vật. Mình đừng tưởng con người có thể sống sót được nếu không có các loài động, thực vật và khoáng vật. Vì vậy con người có trí tuệ thì phải biết bảo hộ các loài động thực vật và khoáng vật.

Kinh Kim Cương là một kinh rất xưa, dạy về môi trường và bảo hộ sinh môi. Đó là một văn bản xưa nhất của nền văn học thế giới dạy về bảo vệ môi trường và sinh môi rất hay. Ý thức bảo vệ sinh môi của Người Việt rất thấp. Đi xe hơi, tôi thấy bao ni lông vứt khắp nơi. Tệ nạn khai thác rừng bừa bãi và chặt phá cây, làm ô nhiễm sông hồ quá nhiều. Như vậy là mình tự tử, con người đang tự tử trong khi làm như vậy. Tự tử một cách từ từ, nếu các loài bị diệt chủng, sông hồ bị ô nhiễm, cây cối bị đốt hết và rừng bị tàn phá thì con người không thể sống được lâu.

Bảo hộ sinh môi, giữ gìn phát triển hệ sinh thái là công việc của tất cả mọi người. Trong gia đình, cha mẹ có thể nói chuyện với con cái về bảo vệ sinh môi, tức là môi trường của sự sống. Trong trường học, thầy cô giáo phải dạy học trò về công tác bảo vệ sinh môi. Trong khu phố, xóm làng phải có các buổi họp giáo dục về sinh môi, vì ý thức bảo vệ sinh môi của người việt rất thấp. Nếu quý vị có dịp qua Đức thì sẽ được thấy bên đó các thành phố rất sạch, họ bắt đầu không dùng bao ni lông. Phải mất hàng trăm năm bao ni lông mới có thể tiêu hủy được. Bây giờ mỗi khi đi chợ mua hàng là người ta xách theo túi vải. Khi ăn cơm dùng chén đĩa bằng nhựa thì không tốt; dùng chén dĩa bằng sành sứ hoặc đất nung thì tốt hơn. Nếu dơ thì mình đem đi rửa. Như vậy sẽ tốt hơn là dùng những loại làm bằng nhựa. Trên thế giới có những đất nước mà ý thức bảo vệ sinh môi rất cao. Chẳng hạn như nước Đức. Chuyến về Việt Nam lần trước cũng như lần này, tôi thấy ý thức bảo vệ môi trường của dân mình còn rất thấp. Mình chưa đủ tinh thần trách nhiệm.

Tôi kêu gọi tất cả các bậc phụ huynh, các thầy và cô giáo cũng như các vị trong ủy ban nhân dân, các vị trong quốc hội, các vị lãnh đạo trong đảng và nhà nước, mỗi người phải đóng góp một phần của mình để nâng cao ý thức về sinh môi. Chúng ta hiện đang cố gắng duy trì một số lâm viên quốc gia để bảo tồn sinh môi như là Cúc Phương,…vv. Việc làm đó rất tốt. Khi có dự án phóng làm đường giao thông đi ngang qua những khu vực đó, chúng ta phải chống lại và tranh đấu để bảo hộ sinh môi. Ở các nước như Pháp, Đức và Anh, người ta bảo hộ sinh môi tích cực lắm. Người ta bảo hộ các loài động vật nhiều lắm. Bên Anh có một hội chuyên bảo hộ thú vật, vì thú vật đau khổ nhiều, bị lợi dụng và tàn sát bị đem ra làm thí nghiệm rất nhiều. Có một tổ chức giải phóng thú vật ( animal liberation fund) và mình nghe được những tiếng đau thương của các loài thú vật. Đất nước mình có gốc là Phật giáo, ngày xưa tổ tiên chúng ta đã xây dựng đất nước trên nền tảng từ bi của đạo Phật. Bây giờ mình không làm được như những nước Âu Châu thì rất là dở. Vì vậy những người Phật tử phải đóng góp thật nhiều trong công tác giáo dục nâng cao ý thức về bảo vệ sinh môi.

 

Vợ chồng không thể nói chuyện được với nhau?

Câu Hỏi:

Kính bạch Sư Ông, gia đình con, vợ chồng con không thể nói chuyện được với nhau. Con biết tu tập, nhưng đứng trước một lời nói xúc phạm, chê bai và không tôn trọng thì con khó kiềm chế lắm. Con đã  thực tập hơi thở và thực tập quán chiếu là chồng của con có những đau khổ và không hài lòng về con, nhưng con vẫn chưa nói được lời ái ngữ.

Sư Ông trả lời:

Đó là tu chưa tới, cơm chưa chín. Khi quán chiếu thật kỹ, thấy người kia có nhiều khổ đau, khó khăn, bức xúc là tự nhiên trái tim mình mềm ra. Khi mình thấy tội nghiệp là trong trái tim sẽ ứa ra một giọt nước tình thương cam lộ, từ bi. Nếu giọt nước chưa ứa ra là do tu chưa tới, chưa thấy rõ tất cả những khổ đau, khó khăn, bức xúc của chồng. Nên vẫn còn có sự trách móc.

Nếu biết rằng người kia có quá nhiều khổ đau; hễ khi nói ra là nói những lời nặng nề, trách móc, lên án, buộc tội. Cho nên mình biết cái gốc là khổ đau, nếu người đó không khổ đau thì lời nói sẽ ôn hòa, dễ thương. Tại người đó quá khổ đau, quá bực tức. Hễ nói ra câu nào là câu nói đó phun nọc độc. Tại vì trong lòng mình không đủ từ bi, chưa có chất liệu của tình thương để bảo hộ cho mình, nên chất độc mới thấm vô. Hễ khi nào mình có lòng từ bi, có tình thương thì mình được tình thương đó bảo hộ. Dù người kia có nói những lời xúc phạm hay chửi mắng gì thì cũng không lọt vào trong mình được.

Từ bi là một chất liệu có khả năng bảo hộ cho mình. Khi có lòng từ bi thì dù người kia có la hét, mắng chửi thì mình vẫn thấy tội nghiệp vì người có quá nhiều đau khổ. Vì có quá nhiều đau khổ nên không có khả năng nói lời thương yêu. Mình không còn là nạn nhân của những lời nói đó vì mình đã được lòng từ bi che chở, và mình mỉm cười. Nếu mình chưa mỉm cười được và còn đau khổ với những câu nói đó thì mình chưa đủ chất liệu xót thương.

“Mẹ ơi nhìn lại để thương ba nhiều hơn, ba cũng có nhiều đau khổ lắm, nhưng mẹ không thấy được những đau khổ của ba nên mẹ mới chua chát, lên án buộc tội ba, mẹ mới đau khổ. Nếu mẹ thấy được ba đau khổ khó khăn, bức xúc thì mẹ sẽ thương ba. Cho dù ba có nói gì đi nữa thì mẹ cũng không đau khổ nhưng sẽ tìm cách giúp ba”.

Do tu chưa chín, nên mình chỉ thấy sơ sơ thôi, chưa thấy hết những khó khăn của người kia. Khi thấy được hết thì sẽ tội nghiệp, hiểu sẽ đưa đến thương. Hiểu ở đây là hiểu khổ đau của người kia và khi hiểu rồi thì trong tim sẽ ứa ra chất liệu của tình thương. Chất liệu của tình thương sẽ bảo hộ mình, không làm cho mình đau khổ khi người đó có những cử chỉ phũ phàng hay lời nói không dễ thương.

Hãy tu thêm, công phu phải đi tới thêm vài bước nữa, đừng đòi hỏi người đó thay đổi. Mình phải thay đổi mình trước,  phải tươi mát, dịu dàng. Khi mình đã thay đổi rồi, không trách móc, lời nói dịu dàng thì người đó bắt đầu thay đổi. Hạnh phúc, hòa bình bắt đầu từ chính mình, chuyển hóa bắt đầu từ chính mình. Cho nên bà phải chuyển hóa trước, tươi mát, dịu dàng, dễ chịu. Ông sẽ cần bà. Ông sẽ thấy bà là một đóa hoa tươi mát và ông sẽ mắc cỡ, sẽ thay đổi. Bà đừng chờ ông thay đổi và ngưng ngay những lời nói khó nghe. Bà không chịu thực tập để chuyển hóa, trở thành tươi mát và dịu dàng thì bà đừng mong ông thay đổi. Vũ khí của người phụ nữ là sự tươi mát, dịu dàng không trách móc. Nếu mình đã đánh mất những điều đó thì sẽ không còn hạnh phúc và không còn khả năng giúp người khác có hạnh phúc. Cho nên phải tu tập để khôi phục lại sự tươi mát, sự dịu dàng để có thể hiểu được, thương được và nói những lời ái ngữ với người kia được thì chắc chắn người kia sẽ thay đổi. Nhưng trước đó đừng trông chờ người kia thay đổi.

 

Con muốn làm người xuất gia

Mùa xuân năm 2014 con đã quyết định chọn con đường xuất gia và trở thành một người xuất sĩ theo pháp môn Làng Mai. Lúc đó con vừa tròn 18 tuổi, trước khi tốt nghiệp trường trung học ở tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ. Ba mẹ con đều sinh ra và lớn lên ở Việt Nam. Vì muốn tìm kiếm một tương lai tốt đẹp hơn nên cả hai đã chuyển qua Hoa Kỳ khi mới 20 tuổi. Sau đó, ba mẹ con định cư tại miền Đông, đó cũng là nơi mà anh chị em con được sinh ra và lớn lên.

Trước kia, hồi còn niên thiếu, con có một cuộc sống khá tự do. Con làm những điều mà mọi người cho rằng nó sẽ đem đến hạnh phúc và niềm vui. Kể cả tham dự những buổi tiệc tùng cùng bè bạn. Việc học ở trường của con khá tốt. Con cũng có một công việc ổn định, có xe hơi riêng. Con tích cực tham gia các hoạt động thể thao, nhất là đá bóng, bóng rổ, chạy bộ,… Con cũng trải qua những cuộc tình rất lãng mạn với bạn gái và tự cho mình trải nghiệm những gì mà con nghĩ là sẽ đem lại hạnh phúc lúc đó. Nhưng ngược lại, con chỉ nhận lại khổ đau và hoàn toàn rơi vào bế tắc. Con thấy mình cần phải tìm một con đường khác để mà đi tới.

 

 

Một trong những khổ đau lớn nhất của con là con không tìm thấy được một con đường mà có thể mang lại hạnh phúc đích thực cho con. Nhiều khi con thao thức, trăn trở và tự hỏi chính mình: Vì sao con lại ở đây? Cuộc đời là gì? Nếu trên đời này thật sự có Thượng Đế, thì sự hiện hữu của ngài có ý nghĩa gì? Con cứ loay hoay đi tìm ý nghĩa của cuộc đời và sự tồn tại của con trên thế gian này. Những câu hỏi như một gánh nặng trên đôi vai mà con không tìm được một câu trả lời thích đáng. Lúc ấy, liều thuốc duy nhất có thể giúp con làm vơi nhẹ khổ đau là Thiền tập. Cứ mỗi hai tuần một lần, ba mẹ thường lái xe chở con đến sinh hoạt ở một ngôi chùa Việt Nam cách nhà 15 phút. Hình ảnh của các sư cô trong chùa là hình ảnh những người hạnh phúc nhất trên đời mà con từng được gặp. Dù chỉ mới lững chững thực tập thiền nhưng những hoa trái và lợi lạc của nó đã giúp thân tâm con trở nên thanh thoát và nhẹ nhàng hơn.

Có một lần, tình cờ con được nghe pháp thoại của một sư thầy ở trên Youtube. Thấy hình ảnh của thầy, và nghe thầy trả lời  những câu hỏi của con. Lòng con bỗng nhiên cảm thấy hân hoan và sảng khoái vô cùng. Trước kia con lang thang đi tìm câu trả lời, nhưng chưa có một lời giải đáp nào giúp con cảm thấy thỏa mãn như lần này. Câu trả lời sâu sắc từ trái tim của thầy đã chữa lành và trị liệu tâm hồn con. Con chợt nhận ra trước đây mình đã nhìn cuộc đời qua một lăng kính tối tăm và bi quan. Nhờ thực tập thiền, lắng nghe tuệ giác từ thầy, cộng thêm sự yểm trợ của gia đình, sự nâng đỡ của các thầy cô, sự chăm sóc của các bác sĩ tâm lý đã giúp cho con có đủ nghị lực và sức mạnh để nhìn thấy cuộc sống tươi đẹp và đầy màu sắc trở lại. Cũng phải mất nhiều tháng trời thực tập và quán chiếu con mới có thể thật sự đi ra được vấn đề của mình.

Con quyết định chọn con đường xuất gia vì biết đích xác ước nguyện của con là được trở thành một tu sĩ như hình ảnh của sư thầy ở trên Youtube ấy. Thầy đã truyền cho con rất nhiều cảm hứng và động lực. Con muốn sau này trở thành một vị Giáo thọ Tu sĩ. Được thực tập thiền và lan tỏa, chia sẻ những chuyển hóa, những hạnh phúc ấy đến cho người thân và xã hội. Sau khi hoàn thành xong chương trình trung học ở trường, con quyết định xin vào sống trong một ngôi chùa gần nhà. Từ đó, con bắt đầu hành trình tìm kiếm con đường và pháp môn tu học để có thể trở thành một người tu sĩ.

Sau những tháng ngày rong ruổi tìm kiếm, cuối cùng thì con đã quyết định đích đến của mình là Làng Mai. Con chính thức xuống tóc để trở thành một người xuất gia ngày 14 tháng 12 năm 2016. Nhìn lại chặng đường đã đi qua, con thật sự cảm thấy hạnh phúc và mãn nguyện với quyết định của mình ngày hôm ấy.

Khi nghe con tâm sự là con muốn đi tu, ba mẹ tỏ ra hết sức lo lắng và e ngại. Cả hai người đều tìm cách khuyên con nên đi thử đi học đại học một năm, lúc đó rồi hãy tính. Trong lòng con hoàn toàn không muốn lựa chọn bước đi trên con đường ấy. Nếu con chọn con đường học đại học thì điều đó có nghĩa là con sẽ phải ký vào tờ giấy vay nợ. Nợ tiền chính phủ để đi học. Biến mình trở thành một con nợ chỉ để làm điều mà chính mình thật sự không muốn làm. Con lấy hết cam đảm để thưa với ba mẹ: “Con xin lỗi ba mẹ, con thật sự không làm được. Thật lòng con chỉ muốn xuất gia và trở thành một thầy tu thôi”.

Hiểu rõ tính cách của con, một khi đã đam mê và muốn thực hiện điều gì thì con sẽ hơi cứng đầu và phải làm cho được nên ba mẹ đành chiều lòng và chọn cách yểm trợ con. Đó cũng là khoảng thời gian mà con vừa mới trải qua được hai giai đoạn của bệnh rối loạn tâm thần (psychosis). Con nghĩ rằng khi nghe đến trạng thái rối loạn tâm thần mọi người hiểu rằng đó là do tinh thần của bệnh nhân yếu và dễ trở nên mong manh. Trước khi biết thực tập Thiền, con đã từng hút cần sa và hành xử rất ích kỷ. Con không quan tâm đến những người thương của mình. Một đêm nọ, đang hút cần sa như thường lệ, bỗng dưng con rơi vào cảm giác giống hệt như một trạng thái rối loạn tâm thần nặng (psychotic break). Cảm giác đó không hề dễ chịu và thoải mái, ngược lại nó vô cùng đáng sợ và rùng rợn. Từ đó trong con bắt đầu phát triển những  triệu chứng của tâm thần phân liệt (schizophrenia):  hoang tưởng (paranoia). Những chuyện này đã xảy ra trước khi con biết đến Thiền tập.

Thời gian đầu mới thực tập Thiền, con hay chia sẻ với mọi người trong gia đình về ý định muốn trở thành một tu sĩ phật giáo. Lúc đó con đoán rằng bố mẹ và mọi người sẽ nghĩ: “Con trai của mình đang được trị liệu và lành bệnh; nó đã bắt đầu vui vẻ trở lại và còn muốn trở thành một ông thầy tu.” Những người tu sĩ là những người rất tuyệt vời, giống như các sư cô trong ngôi chùa Việt Nam đã giúp đỡ con trước đó. Con hiểu là ba mẹ cũng nghĩ rằng “Ba mẹ cảm thấy lo ngại, vì con đường xuất gia không phải là một con đường dễ dàng, nhưng vì muốn yểm trợ con nên ba mẹ đành chiều lòng, rồi để từ từ xem sao.” Ba mẹ đã lặng lẽ theo bước và yểm trợ con như vậy: Ngày này qua ngày khác, và năm này qua năm khác.

Mới đó mà bốn năm đã trôi qua kể từ dạo ấy. Bây giờ mỗi khi nghĩ về con, ba mẹ cảm thấy ấm lòng và hãnh diện. Năm nào ba mẹ và các anh chị em trong gia đình cũng sắp xếp để thay phiên nhau qua Làng thăm con. Cả gia đình con ai cũng cùng tu tập với con. Mẹ hay kể với con là mỗi đêm mẹ thường lên Trang Nhà Làng Mai đọc và nghe pháp thoại của Sư Ông trước khi đi ngủ. Mẹ cũng hay khoe với con về những mẩu chuyện vui mà mẹ nghe được trong bài pháp thoại. Nghe mẹ kể con thấy lòng mình ngập tràn hạnh phúc. Đây cũng là cách mà con nuôi dưỡng và gìn giữ mối liên hệ với gia đình huyết thống của mình. Cuối tuần nào con cũng gọi điện về thăm hỏi ba mẹ, và thường xuyên nói chuyện với các anh chị em trong nhà. Kể từ lúc đi tu, liên hệ giữa con và các anh chị em cũng trở nên gần gũi, ấm áp và nhẹ nhàng hơn. Mọi người ai cũng hiểu ba mẹ là người mà con thương yêu và kính trọng nhất.

 

 

Con cũng thường hay viết thư tay gửi về cho ba mẹ và những người bạn thân. Với các anh chị em ruột thì con thích gửi email vì nó nhanh và đơn giản hơn. Sau khi trở thành một người xuất gia con thấy mình thật sự được “chạm đất”. Trước kia, khi còn là cư sĩ, lúc nào đầu óc con cũng mơ màng như ở trên mây. Bây giờ tình trạng đó đã được cải thiện nhiều. Con không cần phải mong đợi có được cảm giác thật sự chạm đất ấy. Chỉ cần thực tập con sẽ làm được.

Nghĩ lại ước mơ muốn trở thành thiền sư hồi 18 tuổi của con, lúc đó con chỉ đơn giản nghĩ rằng muốn tu thì phải đi vào rừng sâu. Hoặc hoặc tìm một hang động tĩnh mịch rồi ngồi thiền hàng giờ trong đó một mình hoặc ngồi thiền cùng với sư phụ để có thể chứng ngộ và đạt đến tuệ giác. Con còn tưởng tượng rằng khi thành đạo nhất định con sẽ đi du hóa khắp nơi và giảng dạy Phật pháp giống như vị thầy tu mà con thấy trên Youtube. Khi ấy chắc chắn là sẽ có rất nhiều người ngồi nghe pháp thoại của con. Đó là những hình ảnh đầu tiên mà con mường tượng trong đầu về đời sống của người xuất gia. Bây giờ sau 2 năm làm một người tu sĩ, con thấy cuộc sống xuất gia khác hoàn toàn so với những gì con đã nghĩ, nhưng mọi thứ đều tiến triển theo hướng tốt đẹp hơn.

Thầy (Sư Ông) và quý thầy và quý sư cô ở Làng đã hướng dẫn và giúp đỡ để con thật sự sống và thật sự “chạm đất” được. Khi trở thành người tu, con thấy mình có thể làm được nhiều việc hơn là mình nghĩ. Đó là một bước chuyển hóa tích cực của con. Con học cách kết nối và sắp xếp những suy nghĩ của mình, chẳng hạn như sắp xếp tổ chức công việc trước khi bắt tay vào làm, hay là chuẩn bị trước những vật dụng đơn giản như băng keo, giấy, bút,…   

Với tuệ giác và tình thương của Thầy, thầy đã mở ra cho thế hệ những xuất sĩ trẻ như chúng con một đời sống xuất sĩ mới. Chúng con cũng phụng sự và làm việc để có thêm tiền mua rau đậu. Khí hậu Phương Tây cũng khác nhiều so với khí hậu Phương Đông. Ở đây không nóng như ở bên đó. Nếu ở bên ấy, chỉ cần ôm bình bát xuống phố để khất thực thì thế nào cũng sẽ có Phật tử cúng dường đồ ăn cho chúng con. Nhưng ở Làng Mai bên Tây Phương phải trả tiền gas và tiền điện nước. Chúng con yểm trợ Đất mẹ và sử dụng thực phẩm hữu cơ. Trong phòng của các vị thiền sinh đến Làng tu tập cũng cần có máy sưởi những ngày mùa đông. Vì vậy chúng con vừa tu học và vừa phụng sự cống hiến bằng cách mở khóa tu để thiền sinh khắp nơi có thể về tham dự cùng.

Phụng sự và cống hiến cho xã hội và một phần thiết yếu trong cuộc sống của chúng con. Nếu không có phụng sự thì chúng con không phải là tu sĩ của Làng Mai. Nếu phải dừng lại việc phụng sự, không mở khóa tu cho thiền sinh nữa thì chắc con không phải là xuất sĩ của Làng Mai. Có lẽ con sẽ chia tay tăng thân nếu như không được làm những công tác ý nghĩa đó. Có thể lúc ấy con sẽ không còn cảm thấy hạnh phúc, bởi vì phụng sự cho xã hội là một phần cuộc sống của chúng con. Theo quan điểm của con thì phụng sự hay làm bất cứ một công việc gì mình cũng cần làm với niềm vui. Như vậy mình mới có đủ hạnh phúc để nuôi dưỡng chính mình và nuôi dưỡng những người xung quanh.

Một mặt khác, tổ chức khóa tu cũng là một cách huấn luyện hay. Con ý thức về sự cân bằng của bốn yếu tố: “Tu, học, chơi, làm việc” để đảm bảo một đời sống tâm linh lành mạnh. Trước kia theo hình ảnh người tu mà con nghĩ thì con sẽ thiếu hụt yếu tố làm việc. Con cứ nghĩ tu là chỉ cần ngồi thiền suốt cả ngày. Bây giờ khi đã biết thực tập, con hiểu được tầm quan trọng của sự cân bằng các yêu tố đó. Nếu không làm việc để tổ chức khóa tu, chắc chắn con cũng sẽ không có đủ hạnh phúc. Con thấy so với trước kia, sự nhìn nhận của con về yếu tố “làm việc” đã thay đổi và có nhiều chuyển hóa tích cực hơn.

 

 

(Bài viết được chuyển ngữ từ tạp chí Mindfulness Bell / Winter/Spring 2020/issue 83)

(Sư chú Chân Trời Đức Khiêm đến từ tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ. Vào mùa đông năm 2016, sư chú đã xuất gia thọ giới Sadi tại Làng Mai, Pháp quốc trong gia đình xuất gia “Cây Mai Vàng”. Sư Chú thích thực tập thiền, đọc sách, viết văn, và chia sẻ những khoảnh khắc của tình huynh đệ với các anh chị em trong gia đình xuất sĩ. Hiện tại sư chú đang tu học ở tu viện Lộc Uyển- một trung tâm thiền tập của Làng Mai tại Hoa Kỳ).