Về với chính mình

(Trích trong sách “Tĩnh lặng” của Sư Ông Làng Mai)

Trong bất kỳ hoạt động nào, mỗi khi tâm ta tĩnh lặng và có ý thức, ta có cơ hội tiếp xúc với chính mình. Phần lớn thời gian chúng ta đi mà không biết rằng mình đang đi. Chúng ta đang đứng đây mà không biết là mình đang ở đây, tâm ta đã đi xa hàng nghìn dặm. Chúng ta sống, mà không biết là mình đang sống. Chúng ta tiếp tục đánh mất chính mình. Vì vậy, an tịnh thân tâm, và ngồi chỉ để có mặt với chính mình là một hành động cách mạng. Hãy ngồi xuống và chấm dứt sự rong ruổi. Khi ngồi xuống, ta có thể trở về tiếp xúc với chính mình. Ta không cần một chiếc iphone hoặc một chiếc máy vi tính để làm chuyện đó. Ta chỉ cần ngồi xuống trong chánh niệm và thở vào, thở ra ý thức thì chỉ trong vài giây, ta sẽ trở về tiếp xúc với chính mình. Ta biết được những gì đang xảy ra – trong thân thể, trong những cảm thọ và trong nhận thức. Ta đã trở về nhà, và ta có thể chăm sóc ngôi nhà của mình đàng hoàng.

Có thể ta đã đi khỏi nhà mình một thời gian dài và ngôi nhà của ta đang lộn xộn, bừa bãi. Chúng ta thật có lỗi biết bao nhiêu khi phớt lờ những gì mà cơ thể chúng ta đang cảm nhận. Những cảm xúc nào đang trỗi dậy trong chúng ta? Những tri giác sai lầm nào đang dẫn dắt suy nghĩ và lời nói của chúng ta?

Thực sự quay về nhà có nghĩa là ngồi xuống và có mặt với chính mình, thiết lập lại truyền thông với chính mình và chấp nhận tình trạng hiện tại. Cho dù đó là một bãi chiến trường, ta cũng có thể chấp nhận nó, và đó là khởi điểm để thay đổi thái độ (định hướng lại chính mình) nhằm đi xa trên một hướng đi tích cực hơn. Cho dù chúng ta đang có những rối loạn đặc biệt của riêng mình, chúng ta vẫn có thể tìm ra không gian cho sự yên tĩnh mỗi ngày, giúp chúng ta có được bình an cho tình trạng đó, thậm chí có thể chỉ cho chúng ta một hướng đi mới để ra khỏi đám hỗn độn đó.

 

 

Có lần tôi tổ chức một khóa tu trong một tu viện trên núi ở phía Bắc California. Bắt đầu khóa tu, bỗng có một đám cháy lớn lan nhanh ở cạnh bên. Trong khi ngồi thiền và đi thiền hành, chúng tôi nghe tiếng của nhiều chiếc máy bay trực thăng. Âm thanh đó thực sự không dễ chịu chút nào. Đối với nhiều người, kể cả tôi, cho dù là người Việt hay người Mỹ gốc Việt, tiếng máy bay trực thăng đồng nghĩa với súng ống, với chết chóc, với bom đạn, hoặc với cả cái chết nữa. Chúng tôi đã sống qua suốt một thời kỳ chiến tranh khốc liệt, do đó có cảm giác rất bất an khi nghe tiếng máy bay trực thăng và nó gợi cho chúng tôi nhớ lại cái thời kỳ bạo động đó. Cho dù có những người trong khóa tu chưa từng trải qua chiến tranh thì cái âm thanh đó vẫn rất nặng nề và nhiễu loạn

Tuy nhiên, những chiếc máy bay trực thăng vẫn ở đó, và chúng tôi cũng vậy. Vì thế, chúng tôi chọn cách thực tập lắng nghe tiếng máy bay trực thăng bằng chánh niệm. Nghe một âm thanh dễ chịu, như tiếng chuông, người ta sẽ muốn đặt sự chú tâm vào đó. Chú tâm vào một âm thanh dễ chịu, thật dễ dàng để cảm thấy hạnh phúc và có mặt. Giờ đây, chúng tôi phải học cách chú tâm tích cực với tiếng máy bay trực thăng. Bằng chánh niệm, chúng tôi có khả năng nhắc nhở bản thân rằng đây không phải là máy bay trực thăng thời chiến tranh. Máy bay trực thăng này đang giúp dập tắt những đám cháy. Với ý thức đó, chúng tôi có thể chuyển hóa một cảm giác không dễ chịu thành cảm giác biết ơn và cảm kích. Vì tiếng máy bay trực thăng đến đều đặn mỗi vài phút, nếu không thực tập chánh niệm theo cách đó, chúng tôi sẽ rất mỏi mệt.

Vì vậy, mỗi người trong số khoảng 600 người tham dự khóa tu, đã thực tập thở vào và thở ra với tiếng máy bay trực thăng. Chúng tôi đọc thầm bài kệ nghe chuông, được sửa đổi lại để phù hợp với hoàn cảnh đó:

Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe.

Tiếng máy bay trực thăng

Đưa tôi về với giây phút hiện tại.

Và chúng tôi đã sống với nhau rất vui trong những ngày đó. Chúng tôi đã biến tiếng máy bay trực thăng thành một thứ hữu ích.

Năm phút cho cuộc sống

Nếu bạn chỉ mới bắt đầu thực tập, thì hãy cố gắng dành 5 phút mỗi ngày để đi bộ trong im lặng và chánh niệm. Nếu ở một mình, bạn có thể làm việc chậm lại, càng chậm càng tốt.

Bạn sẽ thấy rất hay nếu bắt đầu bằng việc đi thật chậm. Bước một bước, bạn thở vào, bước thêm một bước, bạn thở ra. Khi thở vào, bạn bước một bước và bạn phải dừng lại mọi suy nghĩ để hoàn toàn tập trung tâm ý vào bước chân cũng như hơi thở. Nếu bạn không dừng lại được những suy nghĩ thì hãy đứng lại, thở vào thở ra cho đến khi bạn hoàn toàn dừng lại được những suy nghĩ. Bạn sẽ cảm nhận được điều đó. Trong trạng thái chánh niệm, có một cái gì đó sẽ thực sự làm thay đổi thân tâm bạn.

Nếu bạn thành công khi đi được một bước như vậy thì bạn sẽ biết cách để đi tiếp bước thứ hai. Bạn hãy bắt đầu trong 5 phút thôi, nhưng sau đó có thể bạn sẽ rất thích thú để làm tiếp vài lần như vậy trong ngày.

Bây giờ người ta quá bận rộn. Chúng ta luôn luôn bị đẩy ra khỏi giây phút hiện tại. Chúng ta không có cơ hội để thực sự sống đời sống của chúng ta. Chánh niệm giúp ta có thể nhận diện được điều đó. Đó đã là giác ngộ rồi. Vì thế, chúng ta bắt đầu từ sự giác ngộ, tỉnh giác này: chúng ta thực sự muốn sống cuộc sống của chính mình, chúng ta thực sự muốn dừng lại mà không bị đẩy ra khỏi cuộc sống. Và với sự thực tập hơi thở chánh niệm, ngồi thiền và đi thiền, ngay cả trong khi đánh răng, chúng ta cũng có thể dừng lại. Sự thực tập dừng lại có thể được thực hiện bất kỳ lúc nào trong ngày, kể cả lúc chúng ta đang lái xe.

Buông bỏ, ta sẽ đạt được tự do. Với tự do đó, với sự buông bỏ đó, sự trị liệu có thể xảy ra. Sự sống trở thành có thật. Và niềm vui là điều mà chúng ta có thể đạt được.

 

 

Ngày nay, người ta thường nói về cân bằng giữa công việc và cuộc sống. Người ta có khuynh hướng nghĩ rằng công việc và cuộc sống là hai thứ tách biệt nhau. Thế nhưng, đó không phải là cách nghĩ đúng. Sau khi lái xe đến chỗ làm và đậu xe xong, bạn có thể lựa chọn giữa cách đi thiền hành trong chánh niệm vui tươi hay là đi một cách hối hả, gấp gáp vào văn phòng. Dù sao đi nữa, bạn cũng phải đi qua quãng đường đó. Nếu bạn biết cách để đi, biết cách có mặt đó cho mình thì quãng đường từ bãi đậu xe vào đến văn phòng có thể mang lại cho bạn nhiều niềm vui và hạnh phúc. Bạn có thể buông bỏ những căng thẳng trong thân và tiếp xúc với những mầu nhiệm của cuộc sống với từng bước chân của bạn.

Khi đi trong chánh niệm, bạn để 100% con người mình trong khi đi. Bạn có ý thức trong từng bước chân của mình: chính bạn là người đang đi một cách có ý thức chứ không phải là những tập khí đang đẩy bạn đi. Bạn lấy lại chủ quyền của mình. Bạn là vua hay hoàng hậu đang quyết định. Bạn bước đi vì bạn có chủ quyền trong khi đi, và bạn có tự do trong mỗi bước chân. Bạn chú tâm bước từng bước chân và mỗi bước chân trong chánh niệm mang bạn về tiếp xúc với những mầu nhiệm của cuộc sống đang có mặt bây giờ và ở đây. Đi như vậy, bạn để toàn bộ thân và tâm trong mỗi bước chân. Đó là lý do tại sao, khi đi, bạn không suy nghĩ. Nếu bạn suy nghĩ thì những ý nghĩ sẽ lấy mất buổi thiền hành của bạn. Bạn không nói chuyện, bởi vì nói chuyện cũng lấy đi mất những bước chân chánh niệm của bạn.

Bước đi như vậy là một niềm vui. Khi Niệm và Định có mặt sống động trong bạn, bạn hoàn toàn là chính mình. Bạn đi như Bụt đi. Không có chánh niệm, bạn có thể nghĩ rằng đi là một việc chán phèo hoặc bị bắt buộc. Còn với chánh niệm, bạn thấy bước đi chính là sự sống.

Tương tự, khi rửa chén sau mỗi bữa ăn, cách bạn rửa chén sẽ quyết định đó là một công việc chán ngán, buồn tẻ hay là một giây phút hạnh phúc của đời sống thật sự. Có một cách rửa chén giúp bạn thưởng thức mỗi giây phút. Khi bạn lau nhà hay nấu ăn sáng, nếu bạn biết làm trong chánh niệm thì đó là sự sống, chứ không phải là công việc.

Những người tách rời cuộc sống và công việc không thực sự sống trong phần lớn cuộc đời họ. Không phải chỉ có khi chơi, khi thiền tập ta mới có niềm vui, không gian hay chánh niệm. Chúng ta phải tìm cách mang những yếu tố chánh niệm, không gian và niềm vui vào tất cả mọi sinh hoạt hằng ngày của ta. Nếu chúng ta mang chánh niệm vào mỗi sinh hoạt hằng ngày, 5 phút một lần, thì sự chia rẽ tưởng tượng của chúng ta giữa công việc và cuộc sống sẽ biến mất và mỗi sinh hoạt trong ngày của chúng ta là thời gian cho chính mình.

 

 

Suy nghĩ của ta đối với thế giới

(Trích trong sách “Tĩnh Lặng” của Sư Ông Làng Mai)

Thường thường, suy nghĩ của ta cứ đi lòng vòng nên ta đánh mất niềm vui sống. Hầu hết những suy nghĩ của ta không có ích lợi mà còn làm hại ta nữa. Có thể ta tin rằng nếu chỉ suy nghĩ thôi thì ta sẽ không gây ra tổn hại nào, nhưng thực tế thì suy nghĩ đi qua tâm thức ta và cũng đi ra thế giới. Giống như cây nến vừa tỏa chiếu ánh sáng, hơi nóng và hương thơm cùng một lúc, thì suy nghĩ của ta cũng biểu hiện ra bằng nhiều cách khác nhau, kể cả qua lời nói và hành động.

Ta là sự tiếp nối của suy nghĩ và cách nhìn của ta. Chúng là con ta, do ta sinh ra trong mỗi giây mỗi phút.

 

 

Khi ai đó quanh ta không hạnh phúc hay bị những suy nghĩ tiêu cực lôi kéo, ta cũng có thể thấy được ngay. Mỗi khi ta suy nghĩ về bản thân hay về thế giới, về quá khứ hoặc tương lai, thì bằng cách này hay cách khác, ta cũng phát ra những tư duy và cách nhìn dựa trên suy nghĩ ấy. Ta tạo ra suy nghĩ và suy nghĩ chuyên chở cái nhìn và năng lượng của ta.

Khi bị kẹt vào những lo lắng, kẹt vào những suy nghĩ tiêu cực, ta rất dễ tạo ra sự hiểu lầm và khổ đau. Khi dừng suy nghĩ và làm cho tâm lắng dịu, ta sẽ tạo thêm không gian cho mình và ta sẽ cởi mở hơn.

Vì thế, mỗi chúng ta đều có quyền chọn lựa. Suy nghĩ của ta có thể làm cho ta và thế giới khổ ít hay khổ nhiều. Đừng cố thay đổi người khác, chúng ta hãy bắt đầu bằng cách tạo ra một bầu không khí tập thể hài hòa trong sở làm và trong tăng thân ta. Cái ưu tiên hàng đầu là tìm một nơi yên tĩnh bên trong để học thêm về chính mình.

Ta phải ý thức và hiểu được nỗi khổ đau của ta. Khi sự thực tập của ta trở nên vững chãi, ta đã gặt hái được hoa trái trong việc tìm hiểu chính mình thì ta có thể xem xét tìm cách đưa sự im lặng, nhìn sâu, hiểu biết và thương yêu vào sở làm và tăng thân ta.

Chánh niệm nghĩa là lấy lại sự chú tâm

Không suy nghĩ là một nghệ thuật như bất kỳ nghệ thuật nào, đòi hỏi sự thực tập và kiên nhẫn. Lấy lại sự chú tâm và đưa tâm trở về với thân, chỉ trong vòng 10 hơi thở thôi thì cũng đã khác đi rất nhiều rồi. Tuy nhiên, với sự thực tập liên tục, ta có thể khôi phục lại khả năng có mặt và học cách sống trong giây phút hiện tại.

Ngồi yên vài phút là cách dễ nhất để bắt đầu tập luyện buông bỏ tập khí suy nghĩ. Khi ngồi yên, ta có thể quan sát suy nghĩ của ta vọt lên như thế nào và ta có thể thực tập không nhai lại những suy nghĩ đó. Ta định tâm vào hơi thở và vào sự im lặng, để cho chúng đến rồi đi.

Có nhiều người không thích ngồi yên. Thậm chí họ thấy rất đau nhức, khổ sở. Chỉ vì họ không biết cách buông thư. Có một người người phụ nữ quyết định là sẽ không bao giờ thiền tập nữa, chỉ vì cô ta thực tập không thành công. Tôi mời cô ta đi bộ với tôi, tôi không gọi là thiền hành, nhưng chúng tôi đi rất chậm và rất ý thức, thưởng thức không khí trong lành, tận hưởng những bước chân đặt trên mặt đất, và chỉ đi với nhau như vậy thôi. Khi trở về, hai mắt cô sáng lên, tươi mát trở lại và thấy lòng quang đãng hơn.

Chỉ cần ta để ra vài phút cho bản thân làm lắng dịu thân thể, cảm thọ, tri giác bằng cách này thì niềm vui sẽ xuất hiện. Niềm vui của sự yên tĩnh sẽ trở thành thức ăn trị liệu hằng ngày của chúng ta.

Đi bộ là một cách tuyệt hảo để thanh lọc tâm mà không cần phải cố gắng. Ta không nói: “Bây giờ tôi phải thiền tập,” hay, “Bây giờ tôi sẽ không suy nghĩ.” Chúng ta chỉ đi thôi, và khi ta tập trung vào việc đi thì niềm vui và ý thức sẽ phát khởi một cách rất tự nhiên.

Để thực sự thưởng thức từng bước chân khi đi, ta phải cho phép tâm ta buông bỏ hoàn toàn những lo lắng và kế hoạch. Ta không cần phải mất nhiều thời gian và nỗ lực để dừng suy nghĩ. Chỉ cần một hơi thở vào trong chánh niệm là ta đã có thể dừng lại rồi. Thở vào, ta bước một bước. Với hơi thở vào này, ta mất hai, hoặc ba giây để dừng lại những tâm hành đang vọng đọng. Nếu đài NST (Suy nghĩ liên tục) vang lên, đừng để cho năng lượng tán loạn lòng vòng này lôi kéo ta như một cơn lốc xoáy. Nhiều người trong chúng ta cứ để cho tình trạng này xảy ra liên tục. Thay vì sống hạnh phúc, ta để cho mình bị càn quét nhiều lần trong ngày, từ ngày này sang ngày khác. Với sự thực tập chánh niệm, ta có thể an trú trong giây phút hiện tại, vì chỉ có trong giây phút hiện tại thì sự sống và những mầu nhiệm của nó mới có thực và có mặt cho ta.

Ban đầu có thể ta cần nhiều thời gian hơn, có thể 10 hay 20 giây thở trong chánh niệm thì suy nghĩ mới ra đi. Ta có thể bước một bước với hơi thở vào và một bước với hơi thở ra. Nếu tâm ta lang thang thì ta nhẹ nhàng đưa tâm về với hơi thở. 10 hay 20 giây là nhiều lắm. Một cái vọng thức, một hành động bộc phát chỉ cần một phần nghìn giây để phát khởi. Cho mình 20 giây là cho mình 20 nghìn lần của một phần nghìn giây để dừng lại con tàu suy nghĩ. Nếu muốn, ta có thể cho ta thêm thời gian.

Trong khoảng thời gian này, ta có thể nếm được hạnh phúc, niềm vui sướng của việc dừng lại. Trong khi dừng lại, cơ thể ta có khả năng trị liệu. Tâm ta cũng có khả năng trị liệu. Không một ai và không một thứ gì có thể ngăn cản ta tiếp tục chế tác niềm vui sướng trong khi ta bước bước thứ hai hay thở hơi thở thứ hai. Bước chân và hơi thở của ta luôn có mặt đó để giúp ta trị liệu cho chính mình.

 

 

Khi bước đi, có thể tâm ta bị thúc đẩy hoặc lôi kéo bởi tập khí tham đắm, giận hờn sâu dày và lâu đời. Thực tế, tập khí này luôn thúc đẩy ta bất kể ta đang làm gì, kể cả khi ta đang ngủ. Chánh niệm có khả năng nhận diện tập khí này. Nhận diện nó, mỉm cười với nó và tắm nó trong chánh niệm, trong sự im lặng ấm áp và bao la. Với sự thực tập này, ta có khả năng buông bỏ được tập khí tiêu cực. Trong khi đi, khi nằm, khi rửa bát, khi đánh răng, ta có thể để cho sự im lặng ấm áp và bao la này ôm lấy ta.

Im lặng không có nghĩa là không nói. Hầu hết những tiếng ồn ào náo loạn mà ta nếm trải là những cuộc độc thoại trong đầu. Chúng ta suy đi nghĩ lại lòng vòng. Vì vậy, khi bắt đầu ăn, ta nhắc nhở chính mình là chỉ ăn những thức ăn nuôi dưỡng mà không ăn những suy nghĩ. Ta thực tập chú tâm đến việc ăn. Không suy nghĩ, chỉ ý thức đến thức ăn và những người chung quanh.

Điều này không có nghĩa là ta không được suy nghĩ hay đè nén suy nghĩ của ta. Đơn giản là khi đi, ta hiến tặng cho ta một sự nghỉ ngơi không suy nghĩ, bằng cách đưa sự chú tâm vào hơi thở và bước chân của mình. Nếu thật sự muốn suy nghĩ về điều gì đó, ta có thể dừng lại để suy nghĩ về vấn đề đó với tất cả sự chú tâm của ta.

Thở và đi trong chánh niệm cho phép ta tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống chung quanh ta, những suy nghĩ tán loạn sẽ tan biến đi rất tự nhiên. Ý thức được những mầu nhiệm đang có mặt đó cho ta, giúp cho hạnh phúc của ta phát khởi. Nếu có trăng tròn trên trời mà ta bận suy nghĩ thì trăng sẽ biến mất, nhưng nếu ta chú tâm vào trăng thì suy nghĩ của ta sẽ dừng lại rất tự nhiên. Ta không cần phải ép buộc hay la rầy mình, cũng không cần cấm mình suy nghĩ.

Im lặng không nói. Nếu ta có khả năng hiến tặng cho ta một sự im lặng sâu lắng hơn, không suy nghĩ thì trong sự yên lắng đó, ta có thể tìm thấy sự nhẹ nhàng và tự do tuyệt hảo.

Từ suy nghĩ, ta chuyển sự chú tâm về định trên những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại, đó là sự thực tập chánh niệm căn bản. Ta có thể thực tập điều này bất cứ lúc nào, ở đâu, và ta sẽ thấy thích thú hơn trong cuộc sống. Dù đang nấu ăn, làm việc, đánh răng, giặt áo hay ăn cơm, ta cũng có thể thưởng thức sự im lặng tươi mát trong suy nghĩ và lời nói của ta.

Thực tập chánh niệm đích thực không yêu cầu ta phải ngồi thiền hay để tâm về những hình thức bên ngoài, mà đòi hỏi ta phải nhìn sâu để thưởng thức được sự tĩnh lặng bên trong. Nếu không làm được điều này, ta không thể chăm sóc được năng lượng bạo động, sợ hãi, hèn nhát và hận thù trong ta.

Khi tâm ta đang ồn ào hay phóng đi mà ta đi tìm sự yên tĩnh bên ngoài thì đó chỉ là một hình thức lừa gạt. Nhưng nếu tìm được một không gian tĩnh lặng trong lòng, thì không cần phải cố gắng, chúng ta cũng tỏa chiếu được bình an và niềm vui sống. Ta có khả năng giúp đỡ người khác, có khả năng tạo ra một môi trường có công năng trị liệu hơn mà không cần phải phát ra một lời nào.

 

Triển lãm sách và thư pháp của Sư Ông Làng Mai tại Hà Nội (14/4 – 26/4/2021)

Sau ba tiếng chuông trầm hùng sâu lắng, buổi triển lãm sách và thư pháp với chủ đề “Hương thơm quê mẹ – Thể hiện nếp sống tỉnh thức qua nghệ thuật thư pháp” của Sư Ông Làng Mai đã chính thức khai mạc tại Hà Nội. Đây là lần đầu tiên công chúng thủ đô nói riêng và đồng bào người Việt nói chung có dịp trải nghiệm một nếp sống tâm linh qua nghệ thuật thư pháp của Sư Ông Làng Mai tại vùng đất Thăng Long ngàn năm văn hiến.

 “Hương Thơm Quê Mẹ” đã hiến tặng cho khán giả miền Nam một vùng quê hương với hương lúa chín thơm bên mái tranh giản dị. Đến với Hà Nội, khách thưởng lãm sẽ có dịp bước từng bước thảnh thơi giữa hương loa kèn tháng tư nhẹ nhàng để hòa mình vào một miền quê xưa với những kỉ vật làng quê mộc mạc, thân thương được bài trí theo phong cách nghệ thuật thiền đầy tinh tế. Ở đó ta sẽ thấy được một phần nét đẹp trong nếp phong hóa con người Việt Nam.

Trong khi đi, ta hãy trở về, ý thức từng hơi thở, bước chân để tiếp nhận được hương thơm quê mẹ – hương vị của hạnh phúc, của sự bình yên, tình thương và niềm vui sống. Đi trong yên lặng, buông bỏ mọi lo âu, dự án… sống trọn vẹn trong giây phút hiện tại bây giờ và ở đây để tiếp xúc với sự có mặt của Sư Ông trong không gian triển lãm bằng năng lượng chánh niệm, tuệ giác và từ bi. Hãy đi như những con người tự do để sự chuyển hóa nuôi dưỡng và trị liệu xảy ra trong khi ta dừng lại ở mỗi bức thư pháp hay mở đọc một cuốn sách của Thầy. Đến để thấy rằng: “Phật Pháp có mặt khắp mọi nơi, không phải chỉ giới hạn trong các tu viện, và ta cũng có thể nếm được pháp lạc dễ dàng chỉ với một hơi thở nhẹ, một bước chân đi.”

Triển lãm đang mở cửa cho khách thưởng lãm từ 9:00 – 21:00 các ngày từ 14/4 – 26/4/2021 tại Trường Đại Học Mỹ Thuật Việt Nam – 42 Yết Kiêu, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

 

 

Xem thêm:

Lễ khai mạc triển lãm tại Hà Nội

Đoạn phim toàn cảnhHình ảnh triển lãm sách tại thành phố Hồ Chí Minh

Ngát hương thơm quê mẹ

(Bài viết của Giải Hạnh đã được đăng trên Báo Giác Ngộ ngày 15/4/2021)

Những ngày cuối tháng 3, giữa tiết trời nóng bức của phương Nam, nhiều người vẫn dành thời gian để ghé qua một không gian triển lãm đặc biệt. Nói đặc biệt bởi trong triển lãm này, mọi thứ được xếp đặt không chỉ với mục đích trình diễn hay thiên về việc thưởng lãm. Ở đó, những người tổ chức đã tạo nên một không gian bình yên, thư thả. Khách có thể đến trong yên lặng và về cũng trong yên lặng. Mạch kết nối duy nhất giữa không gian, tác phẩm và con người chính là những rung động trong sâu thẳm tâm hồn.

 

 

100 tác phẩm – 100 bức thư pháp do Thiền sư Thích Nhất Hạnh chấp bút, trong đó có cả các bức thư pháp cuối cùng được Thầy viết tại nội viện Phương Khê (Pháp), cùng góp mặt trong triển lãm mang tên “Hương thơm quê mẹ”. Cái tên ấy gợi nhắc cho nhiều người, nhất là những người lớn tuổi nhớ lại “Giữ thơm quê mẹ”, một tờ báo mang khuynh hướng dung hòa giữa văn nghệ và triết lý đạo Phật do thầy Nhất Hạnh sáng lập vào thập niên 60 của thế kỷ trước. Đó là cách thầy Nhất Hạnh năm xưa từng thực hiện để làm mới đạo Phật. Thầy luôn ấp ủ trong mình mong muốn làm mới, đem đạo Phật đi vào cuộc đời, tháo bỏ lớp áo huyền nhiệm mà bao thế hệ đã khoác lên để đưa Đức Phật, mà thầy quen gọi một cách rất Việt Nam là Bụt, tới gần hơn với quần chúng, với con người. Mấy mươi năm hành đạo ở phương Tây, rồi quay về quê hương, thầy vẫn luôn đi đúng con đường mà mình đã chọn.

Một trong những bài viết của thầy nói về thư pháp, về làm mới sự thực tập đạo Phật mà người viết có cơ duyên được tiếp xúc lần đầu, khi còn sinh viên, đó là “Hẹn nhau mùa hoa đào sang năm”. Trước đó, tôi chỉ được biết tới thủ bút của thầy trên những bìa sách thanh tao kèm những bức minh họa mang đậm hồn vị dân tộc mà sau này mới được biết tác giả chính là đôi vợ chồng họa sĩ Nguyễn Thị Hợp – Nguyễn Đồng. Lúc bấy giờ, tôi chưa từng có ý niệm rằng nét chữ của Thiền sư Nhất Hạnh là thư pháp, bởi đã quá quen với những nét mác phẩy của nền thư pháp chữ Hán được những bậc cao niên trong gia đình chỉ vẽ cho. Câu hỏi trong bài viết của thầy như một sự đánh động tâm thức của một người trẻ lúc ấy: “Tôi thấy nhiều nhà thơ Việt Nam hiện đại đã viết thơ của mình thành bức, bằng chữ Việt, có khi viết bằng bút lông, có khi viết cả bằng bút sắt… Tại sao chỉ viết chữ Hán?”. Từ đó, dần dần, tôi để tâm nhiều hơn đến thư pháp của thầy và nhận ra được nhiều điều thú vị hơn đằng sau những con chữ ấy.

 

 

Công tâm mà nói, chúng ta không thể đem cái nhìn gắn liền với những nguyên tắc cứng nhắc gần như đã thành lề luật trong nghệ thuật thư pháp để ngắm con chữ của Thiền sư Nhất Hạnh. Chữ của thầy đứng ngoài mọi nguyên tắc ấy. Nhà phê bình nghệ thuật Hồng Kông Eva Yuen gọi những tác phẩm thư pháp của thầy Nhất Hạnh là “choreographic calligraphy”, tức nghệ thuật kết hợp giữa thư pháp và vũ đạo. Nhưng có lẽ chúng ta không cần bàn sâu vào vấn đề nghệ thuật, phạm trù ấy dành cho những chuyên gia có thẩm quyền hơn. Ở đây, tôi muốn nói về một khía cạnh khác trong thư pháp của thầy, đó là những nội dung mà thầy chuyển tải qua câu chữ.

Và quả thật, tất cả những bức thư pháp của thầy đều là một lời nhắc nhở người xem về sự thực tập chánh niệm trong đời sống hàng ngày. Những câu chữ được thầy thể hiện không phức tạp mà hết sức gần gũi, giản dị. Khi nghe nhắc đến thiền ngữ, chắc không ít người nghĩ đến những giai thoại kỳ thú giữa các thiền sư, những công án khó thấu triệt, những câu nói hàm nghĩa sâu xa mà một người bình thường không thể hiểu hết được. Nhưng với thầy Nhất Hạnh, thiền ngữ đơn giản là những câu nói có công năng giúp cho mọi người nhận diện được thực tại, hạnh phúc, quay về với hơi thở, bước chân có ý thức và nuôi lớn được chánh niệm bằng sự thực tập. “Uống trà đi”, “Vô sự”, “Mỗi bước chân là Tịnh độ”,… chỉ vậy mà thôi. Đôi lúc thiền ngữ lại là một câu kệ, bài thơ do thầy sáng tác, một câu lẩy Kiều được thầy diễn đạt lại dưới góc nhìn thiền quán.

 

 

Thư pháp – đó chính là cách để thầy diễn đạt những thiền ngữ ấy bằng giấy trắng mực đen. Đối với thầy Nhất Hạnh, viết thư pháp cũng là một môn thiền định, “trong thư pháp của tôi, có mực, trà, hít thở, chánh niệm và sự tập trung… Khi viết thư pháp, tôi luôn tìm cách viết như thế nào để có thể chế tác và duy trì được năng lượng niệm, định, tuệ và từ bi trong suốt thời gian viết”. Có lẽ cũng vì lý do đó, mỗi thiền sinh khi đứng trước một thư pháp của thầy đều cảm nhận được ít nhiều sự phát sinh của năng lượng bình an.

Không ít lần, thư pháp của Thiền sư Nhất Hạnh được triển lãm tại nhiều nơi trên thế giới như Mỹ, Pháp, Đài Loan, Thái Lan,… và nhận được sự quan tâm từ giới nghiên cứu mỹ học lẫn thiền học. Tuy nhiên, chỉ đến khi “Hương thơm quê mẹ” được tổ chức tại TP.HCM, lần đầu tiên, công chúng Việt Nam mới có dịp được bước chân vào không gian thiền… chữ của thầy Nhất Hạnh. Bên cạnh những bức thư pháp, còn là hoa, các đầu sách của thầy viết bằng tiếng Việt đã được xuất bản tại Việt Nam, các “pháp khí” gợi lên những phương pháp thực tập thân và tâm mà thầy đã từng hướng dẫn suốt nhiều năm qua: một quả quýt, vài que diêm, những hạt bắp,… Bắt đầu từ những bước chân đầu tiên cho tới khi kết thúc một vòng dạo quanh vài trăm mét vuông của phòng triển lãm, nếu chuyên chú và gạt được những lo toan, bộn bề để thưởng lãm, có lẽ người xem cũng đã hoàn tất trọn vẹn một vòng thiền hành, hít thở và thụ hưởng một không gian tĩnh lặng…

 

 

Một tiếng chuông ngân lên, những cuộc trò chuyện tạm dừng, những bước chân cũng tạm dừng, những nghĩ suy cũng tạm dừng,… chỉ có hơi thở và sự sống tiếp diễn. Giây phút ấy, phòng triển lãm trở thành một thiền đường đúng nghĩa, điều mà có lẽ chưa một triển lãm nghệ thuật nào tại Việt Nam từng thực hiện và thực hiện được. Giây phút ấy, cái đẹp sâu sắc nhất ẩn chứa trong những bức thư pháp của Thiền sư Nhất Hạnh bất chợt biểu hiện thật rõ ràng và sinh động.

 

 

Tiếp xúc với hạnh phúc

(Trích pháp thoại Sư Ông Làng Mai giảng về kinh “Tam Di Đề” tại Xóm Thượng ngày 14/9/1994)

Tiếp xúc với hiện tại là tiếp xúc với hạnh phúc

Ngày xưa lúc Bụt sắp nhập diệt, thầy A Nan rất đau buồn. Thấy vắng thầy A Nan nên Bụt hỏi, các thầy mới bạch cho Bụt biết thầy A Nan đang đứng khóc ở sau một gốc cây. Bụt liền kêu thầy A Nan đến và an ủi rằng: “Nếu chư Bụt quá khứ có những thị giả giỏi, thì họ cũng chỉ giỏi bằng thầy A Nan mà thôi”. Thầy A Nan lo cho Bụt hết lòng. Kinh Du Hành và Kinh Niết Bàn có ghi lại những câu Bụt khen thầy. Tuy nhiên, trong những kinh khác, ta thấy thỉnh thoảng thầy A Nan cũng được Bụt nhắc nhở là đừng có lo chuyện thị giả quá mà quên những điều mầu nhiệm đang xảy ra chung quanh mình. Dưới mắt của người thị giả thì chỉ có Thầy thôi, còn tất cả những chuyện khác đều như không có. Như vậy chưa phải là thị giả giỏi. Bằng chứng là Bụt thường nhắc thầy A Nan nhìn và sống với những cái mầu nhiệm đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Trong kinh có rất nhiều câu nhắc nhở của Bụt:

– Này thầy A Nan, thầy có thấy những thửa ruộng trải dài dưới chân đồi, những cánh đồng lúa chín vàng, trải tận chân trời, đẹp mầu nhiệm như thế nào không?

– Đẹp lắm, đẹp lắm, thưa Đức Thế Tôn.

Nếu Bụt không nhắc thì thầy đâu có thấy! Rồi Bụt lại nói:

– Cái áo Tăng Già Lê của các thầy nếu may theo kiểu của những đám ruộng này thì chắc đẹp lắm.

– Dạ để về con bàn với mấy sư huynh, chế cách may áo Tăng Già Lê theo mô thức của những đám ruộng đó.

Có lúc Bụt lại hỏi:

– Thầy A Nan thầy có thấy núi Linh Thứu đẹp không?

– Bạch Đức Thế Tôn đẹp lắm!

Đến năm thầy trò an cư lần cuối ở thành phố Vaisali, Bụt nói:

– Thành phố Vaisali đẹp quá hả thầy A Nan?

– Dạ bạch Đức Thế Tôn đẹp lắm.

– Cái đền này đẹp không?

– Dạ đẹp lắm.

– Cái đền kia cũng đẹp phải không?

– Dạ bạch Đức Thế Tôn cũng đẹp lắm.

Khi tới vùng có suối nước nóng, Bụt cũng khen và thầy A Nan cũng nhớ những vùng có suối nước nóng là rất đẹp. Đức Thế Tôn luôn luôn nhắc nhở như vậy vì Ngài thấy thầy A Nan mải lo cho Bụt mà quên hái những bông hoa tươi thắm trong đời sống hàng ngày.

Tại Làng Mai những vị đã từng làm thị giả cho thầy, chắc đã thấy thầy học được rất kỹ bài học này của Bụt. Khi nào thầy thấy ngôi sao mai lấp lánh trên nền trời thì thầy nói “Con! Con có thấy ngôi sao mai lấp lánh kia không?” hay “Con có thấy hoàng hôn rực rỡ hay không?” và luôn luôn thầy nhắc như vậy. Đó là một sự thực tập. Ta phải sống như thế nào để những hạt giống của hạnh phúc được tưới tẩm trong ta. Khi được tiếp xúc với hạnh phúc mà ta có khả năng tiếp nhận được hạnh phúc thì ta mới có thể giúp được sư em, sư chị, sư anh và sau này, học trò của ta. Cái đó gọi là “La culture de là joie”, “La culture du bonheur”, tu tập hạnh phúc, tu tập niềm vui, tu tập thương yêu.

 

 

Mình chỉ có thể làm được những điều đó khi mình có cái năng lượng gọi là chánh niệm. Nếu không có chánh niệm thì làm sao thấy được núi Linh Thứu đẹp? làm sao thấy được trời mưa là đẹp? Làm sao nhận ra mưa là một phần phải có của quê hương đích thực của ta, và làm sao thấy chính ta đang ở trong quê hương đích thực, không cần phải đi tìm ở đâu cả? Thở vào tôi biết là trời đang mưa, thở ra tôi mỉm cười với mưa, thở vào tôi biết mưa là một phần phải có của quê hương đích thực của tôi, thở ra tôi mỉm cười với quê hương của tôi hiện đang có mặt.

Cái thiên đường mình nghĩ rằng đã mất, ai sẽ giúp mình khôi phục được nó? Chánh niệm! Chánh niệm có thể giúp khôi phục lại cái quê hương mình đã đánh mất. Muốn phát ra cái năng lượng chánh niệm đó, chúng ta cần có một bầu không khí, một môi trường để tu tập cùng với tăng thân.

Ngồi cho yên, đứng cho vững

Chúng ta thường có khuynh hướng muốn đi tìm hạnh phúc và phủ nhận, chối từ cái quê hương đang có trong hiện tại vì nghĩ rằng hiện tại chỉ là khổ đau. Ta nghĩ hạnh phúc chỉ có thể có được ở trong tương lai và quê hương đích thực chỉ có mặt trong quá khứ mà bây giờ thì đã mất rồi! Cái khuynh hướng trốn chạy và chối từ đó đã trở thành một tập khí, nên bây giờ ta không đứng yên, không ngồi yên được nữa, ta chỉ có thể chạy thôi! Người Việt thường nói ngồi như ngồi trên đống lửa! là vì ta đã mất cái khả năng gồi yên, cái khả năng an tọa. Xin mời sư huynh an tọa, nghĩa là mời anh ngồi xuống trên một đóa sen, đừng ngồi như ngồi trên một đống lửa. Người không tu tập không tu tập thì không có khả năng ngồi yên. An tọa có nghĩa là ngồi yên và ngồi yên an lạc thì đó là ngồi trên một đóa sen. Dầu ngồi trên một tảng đá, dưới một gốc cây, hay trên một đồi cỏ, nếu ta biết an tọa thì chỗ ngồi đó sẽ biến thành một đóa liên hoa. Ta thường vẽ Bụt ngồi trên đóa sen là vì Bụt biết an tọa. Bụt ngồi ở đâu cũng là ngồi trên đóa hoa sen là vì Ngài am tường nghệ thuật an tọa.

Khi về tới quê hương là ta đã trở về nơi ta thương yêu nhất, thoải mái nhất, thì ta còn phải đi tìm gì nữa? Gia đình Phật tử Việt Nam có bài hát “Kính mến Thầy”, trong đó có một câu rất ngộ:

            Hôm nay Thầy về đây,

            Chúng con xin kính chào Thầy,

            Trong giờ phút vui này,

            Chúng con biết làm gì đây?

Thương thầy và được gặp thầy thì mình ngồi yên, an tọa với thầy là chuyện phải làm. Cái gì mà thương mến nhất, điều gì khiến ta cảm thấy thoải mái nhất, khi đã đạt rồi thì ta đâu cần làm gì nữa? Tại sao gặp được người mình thương, tới được chỗ ta coi là quê hương mà còn phải lăng xăng “không biết làm gì đây”? Vì vậy tôi đề nghị với các cháu sửa câu này lại là:

            Trong giờ phút vui này,

            Chúng con quyết lòng ngồi đây.

Người Việt có nhiều câu rất hay để diễn tả những người không có khả năng đi đứng, nằm, ngồi yên ổn. Ví như trong truyện Kiều:

            Vậy nên những chốn thong dong,

            Ở không yên ổn, ngồi không vững vàng,

            Ma đưa lối, quỉ dẫn đàng,

            Lại tìm những chốn đoạn tràng mà đi.

Ở những chỗ thong dong như mái chùa, như tại Làng Mai, xóm Thượng, xóm Hạ, mà mình vẫn không an trú được, thì đúng là ta bị ma quỉ nó xúi đi về những nẻo đường tăm tối, những nẻo tạo nên trạng huống đau buồn đứt ruột. Những nẻo đường đó do đâu mà có? Chính là do những tập khí năm xưa, và tập khí đó là ma, là quỉ.

Một câu ví von khác là “Như bắt cóc bỏ vào đĩa!” Con cóc sống mà đạt lên cái đĩa thì nó ngồi yên được bao lâu? Nếu ta ngồi không yên, đi không vững ngay tại những nơi đáng lý ta phải có an lạc, thì đó là những năng lượng tiêu cực của tập khí, những năng lượng phát sinh từ tư tưởng ta đã đánh mất quê hương, đánh mất thiên đường, và từ ý tưởng rằng quê hương ấy chỉ có trong quá khứ hoặc trong tương lai. Nếu chuyên tâm và khôn khéo tu tập, ta có thể tạo được, khôi phục lại được cái quê hương ấy ngay bây giờ và ở đây.

 



Đi cho thảnh thơi

Giới bình dân mô tả những người không thể đi một cách thong thả, thảnh thơi bằng những câu rất hay như “chân đi không dính đất”, “chạy như chó đạp lửa”. Đi mà chân không dính đất là đi mà không biết mình đi, là đi như ma đi, còn chó mà đạp phải lửa thì nó chạy cuống quít, vừa chạy vừa kêu la, tâm thần tán loạn. Cái khả năng có thể tìm ra quê hương, an trú trong quê hương, hái được bông hồng trong quê hương, nghe được tiếng mưa trên quê hương là một hạt giống tích cực. Cái tập khí trốn chạy, làm thân cùng tử là một loại năng lượng tiêu cực. Nhờ tu tập chánh niệm, mỗi khi hạt giống tiêu cực này phát hiện, ta nhận diện được nó, mỉm cười với nó và nói “biết rồi, ta biết ngươi rồi”. Ngay giây phút ta nhận thức được cái tập khí đó, thì nó không còn làm gì được ta nữa, tự nhiên ta an trú được liền trong chánh niệm. Có rất nhiều kinh đề cập đến việc ma vương xuất hiện trong thời gian Bụt ngồi dưới cội Bồ Đề, nhưng mỗi lần ma vương xuất hiện, Bụt biết là ma vương và Ngài nói “Ta biết ngươi là ma vương”, thì ma vương vội vàng biến đi. Những bậc tu hành thâm hậu họ có khả năng ngồi yên, ngồi yên trong bất cứ hoàn cảnh nào. Hòa Thượng Thích Quảng Đức là một điển hình, Ngài đã ngồi yên trên tòa sen giữa đường Phan Đình Phùng trong khi lửa bốc cháy, thiêu đốt nhục thân của Ngài. Đó là một hình ảnh có thể dùng để cực tả cái khả năng an trú trong hiện tại của một con người. Vì vậy mà ta gọi Ngài là Bồ Tát Quảng Đức.

Kinh Samiddhi dạy ta những phương pháp tu tập để tận hưởng được nguồn hạnh phúc có ngay trong giây phút hiện tại. Kinh cũng dạy ta đừng chạy trốn, đừng lìa bỏ quê hương mà ta đang có để đi tìm một quê hương, một thiên đường, một bóng dáng của hạnh phúc vốn chỉ là ảo mộng mà thôi. Ta có thể nghiên cứu Kinh Samiddhi rất sâu để tìm được giáo lý mầu nhiệm của Bụt tiềm tàng trong từng câu, từng chữ trong Kinh.

Phỏng vấn thầy Pháp Nguyện: Sư Ông lúc nào cũng hướng về đất nước và con người Việt Nam

Thầy Pháp Nguyện đã từng có cơ hội được làm thị giả của Sư Ông Làng Mai trong vài năm. Từ đó đến nay, Thầy đã cùng Tăng thân tổ chức thành công các cuộc triển lãm thư pháp của Sư Ông tại một số thành phố lớn trên thế giới. Thầy cũng là người biên soạn cuốn sách “Hương thơm quê mẹ” và tham gia tổ chức các sự kiện nhân dịp ra mắt cuốn sách và triển lãm thư pháp lần này tại Việt Nam.

Dưới đây là nội dung cuộc phỏng vấn của Báo Người Đô Thị với thầy Pháp Nguyện nhân sự kiện ra mắt sách và triển lãm thư pháp của Sư Ông Làng Mai tại thành phố Hồ Chí Minh.

 

Là người tổ chức triển lãm thư pháp cho Sư Ông tại Thái Lan năm 2019 và biên soạn cuốn sách Hương thơm quê mẹ, thầy có thể chia sẻ về việc viết thư pháp của thiền sư Thích Nhất Hạnh và những triển lãm trước đây trên thế giới?

Bắt đầu vào mùa thu năm 2010, sau chuyến hoằng pháp tại Hồng Kông, một bác sĩ ở Hồng Kông đã tổ chức cho Sư Ông một triển lãm thư pháp. Đó là triển lãm thư pháp và ra mắt sách thư pháp đầu tiên của Sư Ông. Sau triển lãm đầu tiên thành công đó, đã có chuỗi triển lãm diễn ra ở Canada, Pháp, Đức, Mỹ, Thái Lan… Cuốn sách thư pháp được tái bản lần thứ hai và ra mắt ở Đức.

 

Sư Ông tại triển lãm thư pháp 2013 ở Băng Cốc, Thái Lan

 

Năm 2019, triển lãm thư pháp một lần nữa diễn ra ở Thái Lan và cuốn sách được tái bản có lần thứ ba. Mỗi lần tái bản thì nội dung cũng được làm mới. Đây là lần đầu tiên triển lãm và ra mắt sách thư pháp của Sư ông tại Việt Nam. Cuốn sách này, tuy là cuốn thứ tư, nhưng có thể nói nội dung lại giàu có nhất, với gần 70 bức thư pháp Việt, Anh. Đặc biệt, trong cuốn này có tấm thư pháp “Một ngón chân nhúc nhích” lần đầu tiên được xuất hiện trước công chúng.

Nghe rất đơn giản nhưng đây là tấm thư pháp kỷ niệm của Làng Mai. Trong một lần nhập viện tại bệnh viện Agen miền nam nước Pháp, bàn chân phải của Sư Ông không cử động được trong một thời gian ngắn. Nhưng vào một buổi tối, đột nhiên một ngón chân của Sư Ông đã nhúc nhích được. Điều này đã làm cho Sư Ông và quý thầy, quý sư cô rất hạnh phúc.

Sau khi xuất viện, Sư Ông đã viết tấm thư pháp này tại nội viện Phương Khê để nhắc nhở chúng ta biết trân quý những điều kiện mà mình đang có, dù chỉ một ngón chân hay một ngón tay đang nhúc nhích. Đây là tấm thư pháp cuối cùng được Sư Ông viết vào ngày 15.10.2014. Trong cuộc sống, đôi khi chúng ta quên đi những điều vô cùng đơn giản xung quanh mình, có thể là người thương đang ở bên cạnh, nhưng ngày qua ngày, mình cảm thấy điều đó thường đi. Khi sức khỏe còn, tim đang đập, chân đang đi, đôi lúc mình không biết trân quý, đến khi có chuyện xảy ra, mình mới biết trân quý.

Tấm thư pháp mang thông điệp nhắc nhở quý thầy, quý sư cô và mọi người biết trân quý những điều xung quanh mình, dù đó là điều đôi khi rất nhỏ nhoi. Người biết biết ơn, là người có hạnh phúc. Người biết đủ là người giàu có nhất, hạnh phúc nhất trên đời.

Song song đó là rất nhiều tấm thư pháp chuyển tải các vấn đề trong cuộc sống hằng ngày, giúp mình thực tập mỗi ngày để hạnh phúc và bình an hơn. Ví dụ tấm Thở và cười, Uống trà đi. Uống trà là một nghệ thuật, uống trà là để có mặt, để ngồi yên. Mỗi buổi sáng, trước khi đi làm, mình ngồi yên, thưởng thức một chén trà, thì lúc đó mình đang có mặt, đang tiếp xúc với giây phút hiện tại. Chính giây phút tiếp xúc với hiện tại đó là giây phút bình an chứ không phải là vô chùa thắp cây nhang mới là bình an.

Về nghệ thuật thư pháp. Ở Việt Nam, Nhật, Trung Hoa, có rất nhiều người viết thư pháp đẹp. Thư pháp Sư Ông viết chứa đựng sự tu học của Sư ông. Sư Ông viết thư pháp có niệm, định, tuệ. Khi Sư Ông đặt cây bút xuống, lúc đó, Sư Ông hoàn toàn có mặt trong giây phút đó. Khi Sư Ông viết xong, chữ thư pháp đó đi ra bằng tình thương. Đúng như tinh thần trong câu thư pháp của sư Ông “Lắng nghe để hiểu, nhìn kỹ để thương“. Mỗi câu thư pháp là để mọi người nhìn vào đó và thực tập đời sống thiền định.

Trong những năm đầu thành lập Làng Mai, từ những năm 1982, Sư Ông viết những bức như Thở đi con, An lạc từng bước chân, Từng bước nở hoa sen để cho mọi người đi mà nhớ quay về. Có những lúc mình đi nhưng mình thất niệm, đầu óc nghĩ này nghĩ nọ, tự nhiên thấy những bức thư pháp Sư Ông viết treo trên đường đi, mình liền nhớ phải trở về với hơi thở, với bước chân. Mục đích ban đầu của những bức thư pháp mà Sư ông viết là như vậy.

 

 

Khi treo thư pháp ở tu viện, thiền sinh thích và xin thỉnh về: “Thầy ơi, thầy viết cho con bức để con về con treo ở nhà”. Thức dậy miệng mỉm cười. Hăm bốn giờ tinh khôi. Xin nguyện sống trọn vẹn. Mắt thương nhìn cuộc đời. Ví dụ mấy câu này treo ở phòng ngủ, sáng thức dậy, mọi người nhìn thấy và bắt đầu ngày mới với những công việc hằng ngày.

Qua thời gian, trải qua 20 – 30 năm, nét chữ thư pháp của Sư Ông thong dong hơn, thảnh thơi hơn, mang nhiều ý nghĩa hơn. Cá nhân Pháp Nguyện đi theo Sư Ông trong 6 năm, nhìn thấy rất rõ sự chuyển hóa trong từng nét chữ của Sư Ông. Không phải là nét chữ đẹp hơn mà nét chữ thong dong hơn, tự tại hơn. Ở Làng, mỗi khi Sư Ông dạy cho quý thầy, quý sư cô viết thư pháp, Sư Ông nói: “Cuộc đời vốn phức tạp quá rồi, các con không cần phải làm cho cuộc đời phức tạp hơn, nên viết thư pháp sao để người ta nhìn vô đọc được liền, hiểu liền, không cần phải bay múa gì cả, không phải nhìn vô để đoán chữ này là chữ gì”. Nhìn vô nét chữ thư pháp của Sư ông thấy được chiều sâu của công phu thiền tập.

Thông điệp của cuốn sách Hương thơm quê mẹ là gì, thưa thầy?

Mấy chục năm sống xa quê hương, dù ở nơi đâu, Sư Ông lúc nào cũng hướng về đất nước và con người Việt Nam. Tình thương của Sư Ông lúc nào cũng gửi gắm trọn vẹn cho quê hương. Trong cuốn Hương thơm quê mẹ, 68 bức thư pháp thể hiện tinh thần, giá trị đạo đức của con người, văn hóa, dân tộc Việt Nam. Mình có thể tìm ra những phương pháp rất cụ thể và đơn giản để thực tập nếp sống tỉnh thức trong cuộc sống hằng ngày.

Hương thơm quê mẹ mang ba yếu tố. Trước hết đó là văn hóa, đạo đức, tinh thần, giá trị con người Việt Nam. Đất nước Việt Nam có nền văn hóa giàu đẹp. Nhưng quê hương Việt Nam không chỉ giới hạn trong khuôn khổ lãnh thổ Việt Nam. Quê mẹ cũng là quê hương. Quê mẹ gần nhất là Việt Nam nhưng quê mẹ cũng là hành tinh xanh, là quả địa cầu của mình.

Xa hơn nữa, quê mẹ còn là quê hương đích thực có trong từng hơi thở của mình. Khi nào tâm của mình hoàn toàn có mặt với thân, mình trở về với giây phút hiện tại, đó là lúc mình tìm được quê mẹ đích thực của mình. Quê hương đích thực của mình, mình không cần đi đến một nơi xa vời, một vùng đất hứa. Khi bạn hoàn toàn có mặt trong giây phút hiện tại, khi đó đất hứa chính là nơi đây.

 

Thầy Pháp Nguyện chia sẻ ý nghĩa nội dung các bức thư pháp

 

Sư Ông có chia sẻ cảm nhận của mình về triển lãm thư pháp đầu tiên của mình tại Việt Nam không, thưa thầy?

Từ 2008 đến 2014, Pháp Nguyện là một trong những thị giả thân cận của Sư Ông, phụ giúp Sư Ông nhiều trong việc thư pháp. Sư Ông cũng bày tỏ mong muốn sau này có một triển lãm thư pháp tại Việt Nam, đi theo đường hướng của văn hóa, chứ không phải tôn giáo. Trong bộ thư pháp được triển lãm lần này tại Việt Nam, phần nhiều những bức thư pháp tiếng Việt đã được Sư Ông viết riêng cho Việt Nam, và được chuẩn bị trước khi Sư Ông bệnh.

Cuốn thư pháp này đặc biệt ở chỗ có những bức chưa từng xuất hiện ở đâu hết. Kể từ khi Sư Ông bệnh và kể từ bức thư pháp cuối cùng vào năm 2014. Sau bảy năm, đến nay, mọi thứ mới đủ điều kiện, đủ duyên để có mặt tại Việt Nam. Trước khi tổ chức triển lãm, quý thầy quý cô cũng có thưa với Sư Ông, xin phép tổ chức. Sư Ông đã rất vui.

Sau triển lãm ở Sài Gòn, sự kiện sẽ tiếp tục diễn ra ở Hà Nội, và sau đó, nếu tình hình dịch bệnh ổn hơn thì sẽ mang các bức thư pháp đến Thái Lan, Pháp.

Sư ông viết thư pháp bằng tiếng gì là nhiều nhất, với những bức song ngữ Anh – Việt thì Sư ông viết tiếng nào trước?

Phần nhiều thư pháp của Sư ông là tiếng Anh. Bao nhiêu năm nay Sư Ông ở nước ngoài, phần đông người đến tu học cũng là người Tây phương, người Việt đến Làng Mai cũng không bao nhiêu so với người nước ngoài. Để giúp thiền sinh, Sư Ông viết tiếng Anh, tiếng Pháp. Ví dụ như câu “Be beautiful, be yourself” Sư ông viết bằng tiếng Anh trước sau đó Sư ông dịch qua tiếng Việt “Ta có là ta thì ta mới đẹp“. Nhưng cũng có những câu bắt đầu bằng tiếng Việt trước, trong một buổi đi thiền hành ở Xóm Hạ, cái câu tiếng Việt: “Đã về, đã tới” xuất hiện trong đầu Sư Ông trước. Đã về, đã tới, đó là về với ông bà tổ tiên, về với đất mẹ, về trong giây phút hiện tại. Sau đó, Sư Ông mới phóng tác sang tiếng Anh, tiếng Pháp. Nhưng ở cuộc triển lãm này, quý thầy quý sư cô mang về những bức thư pháp tiếng Việt nhiều hơn.

Về sự phát triển của các không gian thiền định, Làng Mai trên thế giới, Sư Ông và quý thầy ở Làng Mai có nghĩ đến một tương lai gần ở Việt Nam không?

Sư Ông dạy rất kỹ, với cá nhân thầy. Sư Ông nói rằng ở Làng Mai mình không chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng, không xây chùa cao móng lớn, mà chỉ chú trọng con người và sự tu học. Sư Ông dùng hình ảnh khay đào và trái đào để nói về việc này. Khay đào dùng để đựng trái đào. Nếu khay đào đẹp, bự, làm bằng những chất liệu sang trọng, bằng ngọc, gỗ, đá quý… mà không có trái đào để chưng thì cái khay đó trở nên vô nghĩa. Nếu bạn đầu tư vô cái chùa mà không tu học thì cũng vô nghĩa. Sư Ông dạy các con phải tập trung vào việc tu học mỗi ngày, chính đó là trái đào, là bài pháp sống, là nguồn cảm hứng để mọi người tu học. Còn lại, mọi chuyện khác phải tùy duyên, phải biết kiên nhẫn chờ đợi.

 

Sách thư pháp song ngữ Việt – Anh “Hương thơm quê mẹ”

 

Con xa đất nước thời thơ ấu

Giọng nói quê hương vẫn ngọt ngào

Nề nếp tổ tông cha nắm giữ

Hương sắc quê nhà mẹ chuyển trao.

Mấy chục năm sống xa quê hương, dù ở nơi nào, Sư ông lúc nào cũng hướng về đất nước và con người Việt Nam. Tình thương của Sư ông lúc nào cũng gửi gắm trọn vẹn cho quê hương. Trong cuốn Hương thơm quê mẹ, 68 bức thư pháp thể hiện tinh thần, giá trị đạo đức của con người, văn hóa, dân tộc Việt Nam. Mình có thể tìm ra những phương pháp rất cụ thể và đơn giản để thực tập nếp sống tỉnh thức trong cuộc sống hằng ngày.

 

 

Hương thơm quê mẹ mang ba yếu tố. Trước hết đó là văn hóa, đạo đức, tinh thần, giá trị con người Việt Nam. Đất nước Việt Nam có nền văn hóa giàu đẹp. Nhưng quê hương Việt Nam không chỉ giới hạn trong khuôn khổ lãnh thổ Việt Nam. Quê mẹ cũng là quê hương. Quê mẹ gần nhất là Việt Nam nhưng quê mẹ cũng là hành tinh xanh, là quả địa cầu của mình.

Xa hơn nữa, quê mẹ còn là quê hương đích thực có trong từng hơi thở của mình. Khi nào tâm của mình hoàn toàn có mặt với thân, mình trở về với giây phút hiện tại, đó là lúc mình tìm được quê mẹ đích thực của mình. Quê hương đích thực của mình, mình không cần đi đến một nơi xa vời, một vùng đất hứa. Khi bạn hoàn toàn có mặt trong giây phút hiện tại, khi đó đất hứa chính là nơi đây. 

Sức mạnh từ phương pháp thiền tập và tuệ giác đã làm cho nghệ thuật thư pháp của Thiền sư Thích Nhất Hạnh trở nên đặc biệt và được nhiều người yêu thích trên khắp thế giới. “Mọi người đều muốn đem năng lượng của Thầy về nhà. Bức thư pháp Thầy viết chứa đựng năng lượng mà Thầy đã chế tác ra, đó là năng lượng hiểu biết, thương yêu và chánh niệm”. 

“Mỗi tác phẩm thư pháp đều là một đề tài thiền tập. Chẳng hạn như bức thư pháp “Be beautiful, be yourself”. Ta phải là chính ta thì ta mới đẹp. Ta không cần phải trở thành một ai khác. Ví như một đóa sen, tự thân nó đã rất đẹp, nó không cần phải cố gắng để biến thành hoa hồng hay một loại hoa khác mới đẹp. Trong mỗi chúng ta đều có hạt giống của niềm vui, của thương yêu và hạnh phúc. Nếu chúng ta để cho những hạt giống này được biểu hiện thì ta sẽ trở thành một đóa hoa đẹp trong vườn hoa của nhân loại.

Hay bức thư pháp “Let go and be happy” (Buông bỏ để có hạnh phúc). Buông bỏ ở đây nghĩa là buông bỏ những ham muốn, hờn giận, và buông bỏ luôn cả ý niệm của ta về hạnh phúc. Mỗi người trong chúng ta đều có một ý niệm về hạnh phúc. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta cần phải có cái này hoặc cái kia thì mới có thể hạnh phúc. Nhưng chúng ta đâu biết rằng: chính cái ý niệm về hạnh phúc đó lại là chướng ngại để chúng ta có hạnh phúc thực sự. Nếu chúng ta can đảm buông bỏ ý niệm đó thì hạnh phúc sẽ đến với chúng ta ngay lập tức.”

(Sư Ông Làng Mai)

 

Bạn có thể đặt mua sách tại những nhà sách:

Netabook

Lazada.vn

Khai mạc triển lãm sách và thư pháp của Sư Ông Làng Mai tại thành phố Hồ Chí Minh 26/3/2021

 

 

Ngày 26 tháng 3, 2021 vào lúc 5 giờ chiều, sự kiện Triển lãm sách và thư pháp của Sư Ông Làng Mai do Công ty TNHH Phan Lệ & Friends (Phanbook) đăng cai tổ chức với tựa đề “Hương Thơm Quê Mẹ” đã chính thức khai mạc tại Nhà sách Hải An (2B Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Đa Kao, Quận 1). Buổi khai mạc được diễn ra long trọng với đông đảo quan khách tham dự, trong đó có nhiều lãnh sự quán, lãnh đạo giới chức, thân hào nhân sĩ và truyền thông báo chí. Trong không khí tưng bừng khai mạc, quan khách cảm thấy rất hân hoan đón chào một sự kiện đầy thiền vị của một bậc Thầy đầy khả kính.

 

 

Sau nhiều cuộc triển lãm thư pháp thiền gây tiếng vang ở Hồng Kông, Đài Loan, Thái Lan, Canada, Pháp, Đức và Mỹ, đây là lần đầu tiên thư pháp và sách của Sư Ông Làng Mai được chính thức triển lãm tại Việt Nam. Sự kiện này đang thu hút sự quan tâm đông đảo của quần chúng, trong đó có những người mộ điệu từ mọi miền đất nước đến thưởng lãm.

Hơn 145 đầu sách tiếng Việt và 100 tác phẩm thư pháp với nhiều ngôn ngữ khác nhau của Sư Ông được trưng bày, phục vụ độc giả, công chúng.

 

 

Mục đích của cuộc triển lãm tại Việt Nam lần này là để giới thiệu, trình bày, và tạo cơ hội cho người xem được thưởng thức một gốc di sản văn hoá dân tộc và học hỏi nếp sống tỉnh thức qua những tác phẩm sách và thư pháp của Sư Ông. Hơn nữa, chủ đề của cuộc triển lãm cũng chuyên chở rất nhiều thông điệp ý nghĩa. Quê hương chúng ta đang tỏa ngát hương thơm. Quê mẹ cũng là quê hương mà trong mỗi người chúng ta ai cũng có một quê hương để hướng về — nơi đó chúng ta được sinh ra, được dạy dỗ và được chở che. Quê hương đó là Việt Nam, là nơi chứa đầy những giá trị đạo đức, văn hoá dân tộc và truyền thống cao đẹp ngàn đời của ông bà tổ tiên. Nhưng quê hương của chúng ta không dừng lại ở đó hoặc giới hạn ở một nơi chôn nhau cắt rốn, mà quê hương của chúng ta cũng còn là quả địa cầu này — một đại địa, một hành tinh xanh đẹp. Sư Ông thường dạy chúng ta phải biết gìn giữ quả địa cầu này cho xinh đẹp và xanh tươi để các thế hệ tương lai tiếp tục có chỗ nương tựa. Và cách căn bản và hữu hiệu nhất chính là cách tập sống tiêu thụ cho có chánh niệm trong đời sống hàng ngày của mỗi chúng ta.

 

 

Sư Ông cũng dạy chúng ta phải đi xa hơn. Chúng ta phải thực tập để khám phá và tiếp xúc cho được với quê hương đích thực, mà quê hương đích thực đó không phải là một nơi vật lý hay một cõi hứa hẹn nào đó xa xôi ở tương lai. Quê hương đó đang có mặt ngay bây giờ và ở đây mà chúng ta có thể tiếp xúc được trong từng hơi thở và bước chân trong cuộc sống hàng ngày. Thực tập như thế nào để mỗi hơi thở, mỗi bước chân chúng ta có thể tiếp xúc và trở về với quê hương đích thực, đó mới là điều tối hậu. Quê hương đích thực đó là chốn bình an, là nơi chúng ta không còn phải bôn ba ngược xuôi tìm kiếm.

 

Chương trình ngày khai mạc

17:00 Chào đón và ghi danh (thiền ca)

17:30 Khai mạc chương trình

  • Quý thầy, quý sư cô niệm danh hiệu Bồ Tát Avalokiteshvara 
  • Xem đoạn phim ngắn khi Sư Ông viết thư pháp
  • Âm nhạc cúng dường
  • Ra mắt cuốn sách “Hương thơm quê mẹ” của Sư Ông

18:30 Buổi giao lưu chia sẻ về nghệ thuật Thư pháp, Văn hoá và Nếp sống tỉnh thức

19:00 Lễ cắt băng khai mạc

19:15 Xem triển lãm

20:00 Kết thúc

 

 

Cuộc triển lãm tại thành phố Hồ Chí Minh sẽ kéo dài đến hết ngày 05/04/2021 và sau đó sẽ tiếp tục được diễn ra tại Hà Nội từ ngày 14/04 đến 26/04/2021.

 

Xem thêm:

Đoạn phim toàn cảnhHình ảnh triển lãm sách tại thành phố Hồ Chí Minh

Lễ khai mạc triển lãm tại Hà Nội  và  Hình ảnh triển lãm tại Hà Nội

 

 

Đám mây, một lần được hiểu

 

(Trích nhật ký thị giả của thầy Chân Trời Lĩnh Nam)

Sáng hôm nay trời lạnh. Đồng hồ reo lúc 4 giờ 30 phút. Tôi thức dậy và thắp lên ngọn nến cúng dường vị Bụt trên bàn học. Thời gian này không khí buổi sáng ở chùa Tổ khá lạnh nhưng khi nến được thắp lên đã làm sáng một vùng nhỏ trong phòng và Bụt hiện ra mờ mờ ảo ảo, ngồi nghiêm trang trên đài sen trắng với bình nước cam lồ trên tay như xua tan đi cái lạnh trấn ngự trong phòng. Hôm nay, phiên trực của tôi là từ 5 giờ – 8 giờ sáng.

Từ phòng quý thầy thị giả đến Thất Lắng Nghe có hai con đường và tôi thường đi bộ băng qua phòng quý thầy giáo thọ. Tôi chọn đi con đường đó chỉ đơn giản là thích chứ không có gì ghê gớm cả. Vào thất của Thầy phải đi qua cánh cửa được làm bằng nhôm, mỗi lần mở cửa này, tôi thường chánh niệm lắm. Có lần, vì đi vào hơi vội nên tôi đã vô tình tạo ra tiếng động khá lớn. Từ đó, mỗi lần đi trực tôi thường tự nhắc nhở mình phải thật chánh niệm trước khi vào phòng Thầy.

Vào phòng Thầy giữa lúc đất trời đang chuyển mình giữa đêm và ngày, vạn vật cũng đang thức dậy từ từ. Tôi nhẹ nhàng bước vào, đứng nghiêm trang, chắp tay xá chào Thầy. Tôi tiến đến gần thấy Thầy vẫn còn đang ngủ. Nhật ký thị giả cho tôi biết đêm qua Thầy không ngủ được và qua xe nhiều lần, vậy là sáng nay Thầy ngủ bù.

 

 

Ngồi xuống trên chiếc ghế cạnh giường Thầy, như một thói quen, tôi nắm lấy tay Thầy và bắt đầu thực tập theo dõi hơi thở và gởi sự bình an cho Thầy. Dù không biết được bao nhiêu nhưng đó là những gì tôi có thể làm được. Tôi ngồi yên trong khi Thầy nằm ngủ. Tôi nhìn lại lần nữa xem thầy còn ngủ không? Thầy vẫn còn ngủ. Tôi bắt đầu nhắm mắt lại như để bắt đầu một buổi ngồi thiền, cảm nhận sự yên lặng trong phòng cũng như hơi ấm từ tay Thầy. Lúc này không phải là “tay thầy trong tay con” hay “tay con trong tay Thầy”, mà đúng hơn là “tay con đang nắm tay Thầy”.

Ngồi yên như vậy được 20 phút, tôi mở mắt ra thì thấy Thầy đã thức từ lúc nào, Thầy đang nhìn tôi, tôi vội chắp tay lại và thưa: Dạ, con chào Thầy buổi sáng. Lúc ấy thầy nhìn tôi và gật đầu như một lời chào lại. Mắt Thầy sáng lắm, cái gật đầu của Thầy như một minh chứng là Thầy vẫn còn tỉnh táo. Đó là sự khích lệ tinh thần rất lớn cho tôi và cho cả ban thị giả.

Xung quanh thất của Thầy được bài trí nhiều hoa lắm. Thầy nằm yên, ngắm những bông hoa ngoài cửa sổ, một điều mà Thầy rất thích khi Thầy còn khỏe. Tôi di chuyển chỗ ngồi để dành lại không gian riêng cho Thầy ngắm hoa – như là một cách Thầy đang tự trị liệu cho mình. Cách hay nhất chúng tôi có thể làm cho Thầy những lúc như thế này là không làm phiền Thầy trong khoảng thời gian đó.

Ngồi nhìn Thầy từ xa, tôi cảm được năng lượng bình an toát ra từ Thầy và tôi nghĩ: Thầy để hết cả đời cho việc tu học, nghiên cứu và giúp người, đặc biệt là xây dựng chúng xuất sĩ, một công việc không hề đơn giản chút nào. Thầy muốn mọi người tu học với nhau như huynh đệ một nhà, nâng đỡ nhau trong sự tu học, thương yêu và chấp nhận nhau khi ai đó còn mắc phải những lỗi lầm. Nhưng sao con thấy khó quá Thầy ơi, thương Thầy thì dễ, nhưng thương được người mình không thương thì làm sao mà mình thương được? Đặc biệt là những người đó đã sử dụng những câu nói hoặc hành động chạm đến lòng tự trọng của mình thì quả thật rất khó thương Thầy ạ. Nếu Thầy đang nghe con chia sẻ những điều này thì chắc Thầy sẽ bật cười phải không ạ?

Và Thầy sẽ nói: Mình có thể giận một người nhưng mình đâu có thể giận một đám mây phải không con, dù là một đám mây đen, bởi vì mây đen báo hiệu sắp có một cơn mưa. Mưa đến cho cây cối xanh hơn, làm không khí mát mẻ hơn. Vạn vật cần đến mưa con ạ. Đúng như vậy thưa Thầy, cây cối không bao giờ giận mưa hay kể cả bão, mà nó chỉ làm công việc của nó là nhận thán khí và cho ra dưỡng khí để hiến tặng cho đời mà không đòi hỏi hay kể công kể trạng gì hết. Chúng cần cù như vậy cho đến khi về với đất mẹ. Đó là một sự biểu hiện rất đẹp.

 

 

 

Nghĩ đến đây, con thấy mình tu còn dở quá! Con xin thực tập như một thân cây với hai câu thơ của Thầy: “Sáng cho người niềm vui, Chiều giúp người bớt khổ”. Đang suy nghĩ miên man thì bỗng nhiên Thầy đưa tay lên như muốn điều gì, tôi đi đến bên Thầy, chắp tay lại và hỏi:

Thưa Thầy, Thầy khó chịu trong người ạ? Thầy nhìn tôi và không gật đầu.

Tôi hỏi tiếp: Thưa Thầy, Thầy muốn qua xe ạ?

Thầy cứ nhìn tôi thật lâu khiến tôi hơi lúng túng nhưng bất chợt một suy nghĩ ở đâu đi lên trong tôi, và tôi hỏi:
Thưa Thầy, Thầy muốn con mở khẩu trang ra phải không Thầy? Và Thầy liền gật đầu.
Tôi kéo khẩu trang xuống, chắp tay xá Thầy và nói tên mình cho Thầy nghe, sau đó lại mang vào để bảo vệ sức khỏe cho Thầy.
Khoảnh khắc ấy tôi thấy Thầy đã hoá thân thành một người Ông, một người Cha già muốn nhìn mặt từng đứa con tâm linh của mình để xem thử hôm nay nó có khỏe không, mắt nó có sáng không, miệng nó có mỉm cười được không?,… Có phải Thầy sợ những đứa còn nhỏ tuổi thì dễ bệnh phải không? Và khi bệnh thì không biết anh chị nó có quan tâm chăm sóc tốt cho nó không nữa?
Cha là vậy đó, cho nên mới có câu cha già 90 vẫn còn lo cho con 70 là vậy.
Thêm một sự gắn kết mới cho tình Thầy và trò lại sâu đậm hơn. Đâu cần nói gì đâu, tất cả mọi công việc của thị giả đều diễn ra trong im lặng. Ngôn ngữ truyền thông chính là khi tôi nhìn vào đôi mắt của Thầy, mặc dù tôi rất ngại điều này. Cái này thì quý sư cô làm giỏi hơn nhiều.

Có tiếng mở cửa, quý sư cô đi vào, đến giờ của quý sư cô điều trị cho Thầy, tôi nhường lại không gian và âm thầm cảm ơn Thầy.

Sư Ông Làng Mai kể chuyện Sư Tổ Thanh Quý – Chân Thật

(Trích Pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 3 tháng 3 năm 1996, tại thiền đường Nến Hồng)

Bây giờ, thầy muốn kể vài kỷ niệm về Sư Ông của các con để các con biết rõ thêm về nguồn gốc của mình. Sư Ông pháp danh là Thanh Quý, là người học trò chót của thế hệ Thanh trong giới xuất gia, thuộc dòng Lâm Tế chánh tông.

Sư Ông của các con đi xuất gia từ hồi còn rất nhỏ. Tuy nhiên, ở chùa đã lâu nhưng chú bé ngày xưa chưa được chính thức thọ giới sa di vì còn quá nhỏ! Đến khi hòa thượng Hải Thiệu viên tịch, thì sư anh của Sư Ông là hòa thượng Thanh Thái, hiệu Huệ Minh, đã làm lễ thế độ cho Sư Ông trước Linh Cữu của Bổn Sư, và đặt pháp danh cho Sư Ông là Thanh Quý. Thanh Quý có nghĩa là người đệ tử út mang pháp danh có chữ Thanh đứng đầu. Sư Ông được sư anh nuôi lớn, dạy dỗ, rồi sau đó được sư anh (hòa thượng Huệ Minh) truyền đăng cho và đặt pháp tự là Cứu Cánh, pháp hiệu là Chân Thật.

 

 

Bài kệ phó pháp mà sư anh Thanh Thái Huệ Minh trao cho sư em Thanh Quý Chân Thật là:

Chân Thật duy tùng thể tánh trung
Thâm cùng vọng thức bổn lai không
Thỉ tri thị vật nguyên vô vật
Diệu dụng vô khuy chỉ tự công

Thầy dịch ra tiếng Việt:

Chân lý nằm trong thể tính không
Trước sau vọng thức vẫn là không
Vật kia như thật mà không thật
Diệu  dụng công phu hãy một lòng.

Đây là một bài kệ mà ý nghĩa rất thâm sâu để chúng ta học hỏi và hành trì theo. Thầy được làm thị giả cho Sư Ông chỉ một mùa thôi, vào khoảng ba tháng, và không được làm lần thứ hai vì sau đó còn có nhiều sư em. Có một lần dọn cơm cho Sư Ông, không biết vì thiếu chánh niệm thế nào thầy đã quên không để một đôi đũa vào trong mâm cơm. Mâm cơm Việt Nam mà thiếu đũa thì nguy lắm! Sau khi đặt mâm cơm trên bàn của Sư Ông, thầy lui ra đứng khoanh tay sau lưng Sư Ông để chờ xem Sư Ông có cần sai bảo gì không.

Hồi đó, thầy dại lắm! Thầy nghĩ rằng: “Đứng mà không làm gì hết thì rất uổng thì giờ”. Vì vậy thầy đã lấy cuốn kinh đứng sau lưng Sư Ông mà học; hành động mà bây giờ ta gọi là “tranh thủ thời gian”. Thầy mải đọc kinh nên không thấy rằng mâm cơm của Sư Ông không có đũa. Ấy thế mà Sư Ông không nói gì hết. Sư Ông lấy thìa để ăn cơm, từ đầu đến cuối. Ăn cơm xong, Sư Ông gọi: “Này chú”, thầy bỏ cuốn kinh xuống, đứng chắp tay. Sư Ông hỏi: “Ngoài vườn của mình còn nhiều tre không?” Ngây thơ thầy trả lời: Dạ, bạch Sư Ông, ngoài vườn mình còn nhiều tre lắm. Nhất là tre cán giáo (tre cán giáo có nhiều măng, ăn ngon lắm!). Sư Ông nói: vậy thì ăn cơm xong, chú ra vườn đốn một cây tre đem vào đây! Thầy lại: “Dạ.” rất ngây thơ. Đột nhiên thầy nghĩ: “Đốn tre làm chi vậy ?” Thầy chắp tay: Bạch Sư Ông! Đốn tre để làm gì ạ? Sư Ông cười nói: để vót vài đôi đũa. Chú nhìn xem: trong mâm cơm này không có đôi đũa nào hết. Lúc đó, thầy mới giật mình sợ hãi. Bài học đó thầy không bao giờ quên. Bài học thiếu chánh niệm.

Ở Làng Mai, chuyện này cũng đã thường xảy ra. Có một lần sư chú Pháp Tạng làm thị giả cho thầy. Sư chú dọn cơm cho thầy với một thiền sư khách. Không biết loay hoay làm sao đó sư chú quên đem cơm mà chỉ đem thức ăn thôi! Hôm đó, vị thiền sư khách và thầy chỉ ăn thức ăn suông.

Tiếp Nhận Và Trao Truyền

Hồi còn thơ ấu, thầy được ra ngoài Bắc học, nên bị ảnh hưởng của người Bắc. Thay vì nói theo kiểu Huế: “Mời Sư Ông thời cơm” thì thầy lại nói: “Mời Sư Ông dùng cơm!” Nghe từ “dùng cơm”, Sư Ông hơi lấy làm lạ nhưng Sư Ông đã chấp nhận dễ dàng. Có một hôm, Sư Ông dẫn thầy đi và chỉ cho thầy những cây me đất mọc ở chỗ ẩm thấp và chung quanh mái tam quan. Những cây me đất cao chừng hai tấc, có bốn cánh, năm cánh, vị chua chua. Sư Ông nói: “Có một món này con có thể học được, đó là món canh khoai me đất”. Sư Ông dạy: “Mình chỉ cần đổ một ít nước vào xoong rồi cắt khoai lang ra từng miếng nhỏ bỏ vào nấu cho sôi, khi mềm thì nêm muối rồi cắt vào đó một mớ me đất”. Sư Ông rất ưa món canh này. Lâu lâu, thầy nấu món canh khoai đó để cúng dường Sư Ông. Trước khi nấu món canh khoai đó, thầy thường đến chắp tay thưa: “Bạch Sư Ông, hôm nay con muốn cúng dường món canh khoai me đất, Sư Ông có dùng không?” Sư Ông mỉm cười trả lời: “Dùng!”. Thế là Sư Ông đã dùng cái động từ mà thầy đã dùng.

Không bao giờ Sư Ông nói ra bằng lời rằng Sư Ông thương thầy, nhưng thầy biết là trong trái tim của Sư Ông luôn có đầy ắp yêu thương… một tình thương ấm áp và cao cả của thầy đối với trò. Người Á đông vốn là kín đáo. Khi thương, người ta để trong lòng không chịu nói ra. Vì vậy có những đứa con và những đứa học trò cứ tưởng rằng cha mình không thương, thầy mình không thương. Ở Tây phương, thương thì nói ra. Đôi khi thương ít mà nói thương nhiều, làm cho người ta tưởng là thương nhiều thật. Đó là sự khác biệt giữa hai nền văn hóa. Sư Ông có viết di chúc để lại mà không cho thầy và ai biết cả. Trong di chúc ghi là sau khi Sư Ông tịch thì thầy phải kế thế để làm trụ trì tổ đình Từ Hiếu. Nhưng hình như thầy đã được sinh ra không phải để làm trụ trì, cho nên khi Sư Ông tịch, sư anh của thầy là thượng tọa Chí Niệm đứng ra đảm trách chức vụ trụ trì của tổ đình Từ Hiếu.

 

 

Năm 1966 là năm mà thầy phải rời quê hương để đi vận động hòa bình, bởi vì chiến tranh Việt Nam vào lúc đó đã đến giai đoạn khốc liệt. Khốc liệt đến nỗi ban đêm mình không ngủ được vì sự chết chóc diễn ra hằng ngày, hằng đêm. Ngay tại xung quanh thành phố Sài Gòn, sự chết chóc cũng diễn ra từng ngày, từng đêm. Vì vậy, thầy nói với các vị cộng sự xuất gia và tại gia: hãy lo lắng mọi công việc ở quê nhà để thầy có thể xuất ngoại đi vận động chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

Thầy lên đường vào ngày 11 tháng 5 năm 1966. Năm đó có Nhuần hai tháng Ba. Sau khi bà bác sĩ Hiệu, chị Uyên và chị Phượng, chị Phượng là sư cô Chân Không bây giờ, vận động xin được cho thầy giấy xuất ngoại. Thầy liền bay về Huế để từ biệt Sư Ông: Bạch Sư Ông! Con phải đi xuất ngoại, ít nhất là ba tháng. Con sẽ cố gắng vận động dư luận thế giới, tìm cách chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Thầy không biết lần đó là lần cuối cùng được gặp Sư Ông. Nhưng hình như có linh tính báo cho Sư Ông biết trước nên Sư Ông nói: Con hãy ở lại thêm một ngày nữa để thầy làm lễ truyền đăng cho con trước khi con đi. Khuya hôm sau, một lễ truyền đăng được tổ chức trong chánh điện. Sư Ông đã ban cho thầy bài kệ truyền đăng mà các con đã thấy treo ở trên tường:

Nhất hướng Phùng Xuân đắc kiện hành
Hành đương vô niệm diệc vô tranh
Tâm đăng nhược chiếu kỳ nguyên thể
Diệu pháp Đông Tây khả tự thành

Thầy dịch ra tiếng Việt:

Đi gặp mùa xuân, bước kiện hành
Đi trong vô niệm với vô tranh
Đèn tâm soi chiếu vào nguyên thể
Diệu  pháp Đông Tây ắt tự thành.

Ngày xuất gia và được thọ giới sa di, thầy được trao pháp danh là Trừng Quang, pháp tự là Phùng Xuân. Phùng Xuân nghĩa là gặp mùa xuân. Thầy không thích cái pháp tự này mấy, vì thầy cho rằng pháp tự này giống tên con gái. Hồi đó, thầy chưa biết rằng Phùng Xuân là một từ để đối lại với từ Khô Mộc. Khô Mộc tức là cây khô. Giọt nước cam lồ của bồ tát Quan Thế Âm một khi rưới lên cây khô, cây khô đó biến thành một mùa xuân mới.

Trong thiền môn, có những đoàn thể không hiểu tu tập như thế nào mà người ta trở thành những cây khô. Vì vậy ngày nay chúng ta có những danh từ Khô Mộc Đường, Khô Mộc Chúng, v.v… Họ ngồi thiền ngày đêm, mục đích là làm sao để những ước muốn, những mơ tưởng của mình khô cạn hết, như một cây khô vậy thôi; làm sao để giải thoát ra khỏi những khổ đau, những bứt rứt ở trong lòng để đừng đau khổ. Truyền thống thiền đó gọi là “Khô Mộc Thiền”.

Những bài có liên quan:

Sư Cố Thanh Quý Chân Thật (Sư Thúc Chí Mậu chia sẻ) : https://langmai.org/tang-kinh-cac/la-thu-lang-mai/la-thu-lang-mai-28-2005-1/su-co-thanh-quy-chan-that

Tưởng niệm Sư Tổ Thanh Quý: https://langmai.org/tang-kinh-cac/loi-quan-nguyen/tuong-niem-su-to-thanh-quy

Tưởng nhớ Sư Tổ Thanh Quý: https://langmai.org/cong-tam-quan/thong-tin-sinh-hoat/sinh-hoat-nam-2014/tuong-nho-su-to-thanh-quy-chan-that/