Nụ cười vô úy

Bây giờ và ở đây

Một nhóm người Đại Hàn đến thăm tu viện Bích Nham trong vài giờ đồng hồ. Họ được hướng dẫn tổng quát, đi thiền hành với đại chúng và thực tập thiền buông thư. Sau đó, họ có một buổi vấn đáp với quý sư cô, trong đó có tôi.

Trước khi rời phòng để đến tham dự sinh hoạt này, tôi đã bị tiêu chảy rất nặng. Trong quá khứ tôi đã phải uống thuốc trụ sinh cả ba tháng để trị bệnh Lyme và đã một năm trôi qua nhưng tôi vẫn còn bị tiêu chảy mỗi ngày, khiến cho phần hậu môn bị rát và đau đớn. Tôi phải ngồi yên trên bồn cầu thật lâu để thở và buông thư toàn thân. “Cảm ơn em chịu đựng nỗi đau này”, tôi thì thầm với hình hài của mình. Lòng biết ơn giúp tôi chịu đựng cơn đau mà không cảm thấy buồn phiền hay sợ hãi.

Trên đường đi đến thiền đường Đại Đồng, tôi đi mỗi bước với mỗi hơi thở vì sự co thắt và cơn đau vẫn còn. Đi trong chánh niệm, tôi để ý thấy nắng chiều rất nhẹ; những bông hoa vàng, tím trang điểm hai bên đường; một phụ nữ hối hả đi trước tôi. Thật là một ngày tuyệt đẹp!

Tôi đến thiền đường và thầm đọc câu kệ ở ngưỡng cửa trước khi bước vào:

Vào thiền đường thấy chân tâm,

Một ngồi xuống dứt trầm luân.

Mọi người đang ngồi yên trong hai vòng tròn lớn. Tôi đi thật chậm đến chiếc bồ đoàn trống dành cho tôi ngay kế bên chuông gia trì. Tôi đứng yên sau bồ đoàn, xá và đọc câu kệ:

Ngồi đây ngồi cội Bồ đề
Vững thân chánh niệm không hề lãng xao.

Ngồi xuống, lưng thẳng, tôi lập tức điều thân với hơi thở chánh niệm để toàn thân được thư giãn. Ánh mắt tôi nhìn xuống và nụ cười nhẹ nở trên môi.

Ngoài tôi, còn có ba sư cô khác. Quý sư cô đã bắt đầu buổi sinh hoạt, nên tôi ngồi im lặng để không làm động năng lượng của đại chúng vì sự đến trễ của mình. Sau vài câu hỏi, một ông lớn tuổi giơ tay xin phép hỏi tôi một câu. Ông ấy nói bằng tiếng Anh: “Thưa sư cô, con cảm nhận được rất nhiều bình an trong năng lượng của sư cô, và sư cô xinh đẹp  như tài tử. Xin cho con hỏi sư cô đã có sự chứng đắc nào? Nếu sư cô đã đạt được thì xin chia sẻ với chúng con”.

Có những tiếng cười khúc khích trong khi câu hỏi của ông được dịch ra tiếng Đại Hàn. Tôi mỉm cười và chỉ có thể nghĩ đến cơn tiêu chảy vừa mới xảy ra. Chắc chắn mặt tôi tái xanh, làm sao tôi có thể tin rằng tôi xinh đẹp trong giây phút này!

Tôi thong thả trả lời: “Cả đời tôi không hề cảm thấy mình thuộc về bất cứ nơi nào. Ngay cả trong gia đình với mẹ và với bà con họ hàng của tôi. Ngay cả tại quê hương Việt Nam của tôi. Tôi có nhiều mặc cảm tự ti vì tôi là con lai Mỹ nên nhìn khác biệt với bọn trẻ, vì tôi mồ côi, vì tôi xuất thân từ một gia đình nghèo. Ở Hoa Kỳ, tôi cũng khác biệt như một loài hoa kiêu sa trong cái nhìn của người Mỹ. Tuy tôi rất cố gắng hội nhập vào văn hóa và nếp sống của người Mỹ, tôi vẫn biết rằng tôi sẽ không bao giờ có thể được nhìn nhận là người Mỹ hoàn toàn vì màu da và nét mặt Á châu của tôi tức khắc phản bội tôi.

Sau khi xuất gia một thời gian, tôi phát hiện rằng tôi thường có những giấc mơ được lặp lại, tuy bối cảnh thay đổi nhưng vẫn cùng một chủ đề. Trong các giấc mơ, tôi bỗng nhận ra mình đang bị lạc rất xa nhà và cần phải tìm cách trở về nhà. Mỗi lần thức dậy, tim tôi đập nhanh và cả người co cứng hoặc run rẩy. Những giấc mơ này tiếp tục xảy ra sau khi tôi xuất gia nhưng dần dần, nhận thức và phản ứng của tôi bắt đầu thay đổi. Khi phát hiện là mình đang bị lạc, tôi biết tự nói với mình: “Không sao đâu! Nếu cứ đi thẳng thì mình sẽ về đến nhà”. Sự định hướng giúp tôi cảm thấy tự tin và nhẹ nhõm hơn.

Trong một giấc mơ khác, tôi thấy mình đang cố gắng bắt kịp một nhóm quý thầy, quý sư cô đang trên đường đến một nơi để thọ trai. Khung cảnh chung quanh đông nghịt người và thật huyên náo khiến tôi bị mất dấu tích của quý thầy, quý sư cô. Tôi cảm thấy hoảng hốt, lo sợ bị bỏ rơi đằng sau. Rồi bỗng dưng tôi thầm nhủ: “Mình không thật sự cần phải đến nơi đó hay phải dự bữa ăn đó”. Ngay lập tức toàn thân tôi nhẹ tênh, mọi người đều biến mất, mọi tiếng ồn ào đều im bặt, chung quanh tôi và trong tôi tuyệt đối tĩnh lặng, an bình!

Trong giấc mơ gần đây nhất, tôi lại thấy mình bị lạc trong một khu siêu thị khổng lồ, nhưng tôi ý thức rằng mẹ đang đứng đợi tôi đâu đó, chỉ cần tìm ra cổng chính là tôi gặp mẹ .

U buồn và sợ hãi của đứa bé trong tôi biểu hiện qua những giấc mơ cứ lặp lại này nhiều năm qua dù tôi đã lớn lên và trưởng thành. Khi chưa biết tu tập, tôi đã không biết cách để nuôi dưỡng chánh niệm và sự trị liệu trong cuộc sống hàng ngày. Vậy nên khi sự sợ hãi và những vết thương biểu hiện trong giấc mơ, đứa bé trong tôi lại thêm một lần đi qua cơn khủng hoảng. Thức dậy, tâm trí tôi tràn ngập lo âu và tuyệt vọng.

Qua nhiều năm tu tập, năng lượng chánh niệm giờ đây có thể biểu hiện trong giấc ngủ của tôi, soi sáng để tôi không tư duy và hành xử mù quáng như một nạn nhân nữa. Ánh sáng chánh niệm giúp tôi có khả năng phân tích tình huống một cách rõ ràng, giúp tôi thay đổi sự phản ứng của mình để có thể tìm hướng đi ra. Đây là thành quả của sự tu học, được gọi là chuyển y, sự chuyển hóa tận gốc trong tâm lý học Phật giáo.

Tôi đã nhận ra rằng nhà của tôi không phải là một nơi bằng gạch, hay xi măng, hay có mái ngói trên đầu. Nhà của tôi là giây phút hiện tại, là nơi này và ở đây. Bất cứ nơi  nào tôi đến hay đi, tôi đều có thể tiếp xúc với ngôi nhà đích thực của mình trong hơi thở và trong bước chân. Tôi cũng thực tập về nhà với đất Mẹ. Điều này giúp tôi an trú sâu sắc hơn trong giây phút hiện tại và chữa lành những ám ảnh bị bỏ rơi, bị lạc lõng, hoang mang, chao đảo từ thời ấu thơ. Sự thực tập miên mật trong khi thức đã và đang giúp tôi chuyển hóa những tri giác và tập khí ngay cả trong giấc mơ. Vậy nên nếu tôi có chứng ngộ được điều gì thì đó là quê hương luôn có trong tôi, bây giờ và nơi đây”.

Nụ cười vô úy

Một người đàn ông Đại Hàn khác phát biểu: “Tôi thấy quý sư cô thường hay mỉm cười và xin phép được hỏi về ý nghĩa của nụ cười này”.

Nhiều người cũng đã từng hỏi tôi: “Có phải sư cô lúc nào cũng hạnh phúc nên cười tươi như vậy?”. Tôi trả lời rằng có những lúc tôi hạnh phúc, nhưng phần nhiều tôi mỉm cười với những suy nghĩ không ngừng khởi lên trong tâm. Tư duy của tôi có thể tích cực và vui vẻ, cũng có thể vớ vẩn, hỗn loạn, tiêu cực, xấu ác. Thay vì ghét bỏ chính mình hay chối từ sự khiếm nhã đó, tôi học mỉm cười với nó, một nụ cười vô úy – không sợ hãi.

 

 

Trên con đường tâm linh, ta học không sợ hãi bất cứ điều gì, nhất là khi nó phát sinh từ trong tự thân. Có thể ta ao ước mình được thánh thiện và toàn mỹ nhưng ta phải thực tâm công nhận ta không thánh thiện cũng không toàn mỹ. Bất cứ điều gì khởi lên từ ta – thánh thiện hay không thánh thiện, toàn mỹ hay không toàn mỹ – đều là một phần của ta, một phần của tâm thức tự muôn đời. Ta chỉ cần mỉm cười với ý nghĩ ganh tị, giận dữ, buồn bã, thèm khát, sợ hãi thì chúng sẽ lắng xuống, mất dần đi sức hút và quyền lực của chúng.

Khi các vị thiền sư nhập diệt, các ngài khác với người thường như thế nào? Họ có thể mỉm cười an nhiên để xả bỏ hình hài! Là những người có tu có học, ta cũng có thể thực tập mỉm cười với tất cả những gì đến đi trong cuộc sống hàng ngày để trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời, ta có thể buông xả hình hài mà không nuối tiếc hay hoảng sợ. Ra đi với nụ cười hàm tiếu và tiếp nối trong những hình thái khác. Vấn đề chính là ta có đủ thời gian và tình thương cho tự thân để luyện tập nụ cười vô úy này hay không?

Có những người nhìn khá căng thẳng trong khi ngồi thiền, trán nhăn thành nhiều lằn ngang, môi mím lại hoặc trễ xuống. Sư Ông Làng Mai có câu thư pháp Thở và Cười. Hãy ý thức các cơ mặt và thư giãn với một nụ cười nhẹ và bền để toàn thân cũng như các cảm thọ, tri giác, tư duy cũng được lắng dịu trong các buổi ngồi thiền.

Thông thường chúng ta cười khi có niềm vui hoặc khi cần phải cười xã giao, cười gượng gạo. Đó không hẳn là chức năng duy nhất của nụ cười. Ta có thể học cười trong khi nước mắt tuôn trào. Ta có thể học cười trong khi con sóng giận trồi lên hoặc một ý nghĩ bất thiện sôi sục bên trong. Chỉ cần ta nhớ để mỉm cười thì nó sẽ mất đà và lặn xuống chiều sâu tâm thức. Nụ cười cũng giúp ta không trở nên quá nghiêm trọng, không bị đắm chìm trong những tri giác và cảm thọ mà có sự sáng suốt, quảng đại để có thể thấy và chăm sóc tình huống một cách hữu hiệu, công bình. Nụ cười trượng phu đem đến tự do và hạnh phúc chân thật.

 

Chân Đẳng Nghiêm

 

Thiền đóng cửa và mở cửa

Trích trong sách “Hơi thở nuôi dưỡng và trị liệu” của Sư Ông Làng Mai

Quán Niệm Về Các Tư Thế Của Thân

Theo lời Bụt dạy trong kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm, sau khi quán chiếu về tứ đại trong cơ thể, hành giả quán về các tư thế của thân. Có tất cả bốn tư thế, gọi là tứ uy nghi: đi, đứng, nằm và ngồi. Ta ý thức rõ ràng các tư thế căn bản của thân ta. Khi đi, biết mình đang đi; khi đứng, biết mình đang đứng; khi ngồi, biết mình đang ngồi; khi nằm, biết mình đang nằm. Ta chiếu dụng ánh sáng chánh niệm vào các tư thế của thân thể ấy. Các thầy, các sư cô được tập luyện rất kỹ về bốn tư thế hoạt động của thân, gọi là tứ uy nghi. Tuy nhiên đừng nghĩ rằng Bụt chỉ dạy kinh này riêng cho người xuất sĩ, người cư sĩ cũng có thể thực tập. Phép quán này thuộc về lĩnh vực quán thân trong thân. Chúng ta bắt đầu thực tập ý thức về hơi thở, nhận diện tình trạng của hơi thở và làm lắng dịu hơi thở. Kế đó ta thực tập ý thức về thân, ôm ấp, chăm sóc thân, làm cho thân thể lắng dịu, chú ý và mỉm cười với từng bộ phận của thân. Ta quán chiếu những yếu tố tạo nên thân thể và mỉm cười với từng yếu tố ấy trong thân thể ta. Rồi ta thực tập quán niệm về các tư thế của thân trong khi đi, đứng, nằm, ngồi và làm việc. Chúng ta sẽ cùng thực tập với nhau trong suốt khóa tu này. Đi, đứng, nằm, ngồi và làm việc cho thật vững chãi và thảnh thơi.

 

 

Quán niệm về thân đưa tới sự quán niệm về các hoạt động của thân. Khi khom xuống, ý thức rõ ràng là mình đang khom xuống. ”Thở vào, biết mình đang khom xuống để nhặt cây bút. Thở ra, biết mình đang nhặt cây bút.” Ta ý thức từng động tác, từng cử chỉ của thân thể ta. Ví dụ, mỗi buổi sáng khi đun nước để chế cà phê hoặc pha trà, ta có thể sử dụng thời gian chế cà phê hoặc pha trà để thực tập chánh niệm. Ta ý thức từng cử chỉ, từng động tác của ta trong lúc chế cà phê hoặc pha trà. Ta mỉm cười với từng động tác, cử chỉ ấy của thân thể, dù đó là một động tác rất nhỏ. Thực tập như thế giúp ta thiết lập được vững mạnh năng lượng chánh niệm và nó đem lại cho ta rất nhiều niềm vui. Ta hạnh phúc là vì trong đời sống hàng ngày ta biết cách thắp lên ánh sáng chánh niệm và chiếu dụng vào mỗi cử chỉ và hoạt động của thân thể. Ta không còn sống trong sự quên lãng, không sống như một người mộng du nữa. Ta làm tất cả mọi cái trong ánh sáng chánh niệm. Ta hoàn toàn làm chủ các hoạt động của thân thể ta. Chánh niệm là sự hiện diện của Bụt, là năng lượng của Chúa Ki Tô, là chất thánh trong ta. Chánh niệm không phải là một cái gì trừu tượng. Hạt giống chánh niệm đã sẵn có trong tâm thức ta. Tất cả chúng ta đều có khả năng tiếp xúc với hạt giống chánh niệm và làm cho nó biểu hiện thường xuyên trong đời sống hàng ngày.

Thiền Đóng Cửa Và Mở Cửa

Thời còn làm sa di, một hôm Thầy của tôi dạy tôi làm giùm Thầy một việc. Tôi rất thương kính Thầy và sẵn sàng làm bất cứ điều gì Thầy giao phó, làm bất cứ điều gì có thể để đem lại niềm vui cho Thầy. Sau khi tiếp nhận xong lời dạy, tôi liền lui ra để đi làm. Nhưng do hạnh phúc quá, tôi đã mở cửa và đóng cửa rất hấp tấp, không có chánh niệm. Thấy vậy, Thầy tôi gọi tôi trở lại và nói rất nhỏ nhẹ rằng: ”Này con, con hãy đi ra trở lại. Lần này con nhớ mở cửa và đóng cửa cho thật từ tốn, nhẹ nhàng, có chánh niệm nghe con.” Tôi chắp tay xá Thầy, rồi lui ra. Lần này tôi biết tôi phải làm gì. Tôi đã đi từng bước thật chánh niệm tới cửa, đặt bàn tay lên núm cửa, rồi nhẹ nhàng mở cửa, bước ra ngoài và đóng cửa thật từ tốn; tất cả mọi động tác, mọi cử chỉ đều được làm trong chánh niệm. Từ đó về sau Thầy tôi không cần phải nhắc nhở tôi lần thứ hai. Tôi không bao giờ quên bài học quý giá ấy.

Vào năm 1966, tôi viếng thăm cha Thomas Merton tại thành phố Kentucky, một vị tu sĩ thuộc dòng Luyện tâm (Trappist – dòng tu kín- giáo phái sống rất khắc khổ và phát nguyện không nói, không tiếp xúc với thế giới bên ngoài). Cuộc gặp gỡ của hai chúng tôi rất lý thú. Sau này cha Thomas có nói với các môn đệ của ngài rằng: ”Quý vị chỉ cần quán sát cách thầy Nhất Hạnh mở cửa, đóng cửa thì đủ biết thầy là một vị chân tu.” Năm trước có một cô thiền sinh người Đức đến tu học tại tu viện Làng Mai. Cô ấy đã ở lại tu tập khoảng một tháng. Ngày rời Tu Viện, cô chia sẻ với chúng tôi rằng sở dĩ cô đến Làng Mai là vì cô có nghe cuốn băng thuyết giảng của cha Thomas Merton; trong bài thuyết giảng đó cha có nói về phong cách mở cửa, đóng cửa của thầy Nhất Hạnh. Và vì tâm hiếu kỳ, tâm tò mò muốn thấy tận mắt cách thầy Nhất Hạnh mở cửa và đóng cửa như thế nào mà cha Thomas khen ngợi đến thế. Trong thời gian một tháng ở Làng Mai, cô cảm thấy rất thoải mái, hạnh phúc và mục đích chính của chuyến viếng thăm Tu Viện Làng Mai là để mắt quán sát cách thầy trò chúng tôi mở cửa và đóng cửa.

 

 

Đóng cửa và mở cửa là một phần của sự thực tập chánh niệm để làm cho thân tâm lắng dịu và bình an trở lại. Xin quý vị thực tập mở cửa và đóng cửa trong chánh niệm để nhiều người, trong đó có Thầy tôi nữa được thừa hưởng niềm an lạc và hạnh phúc tỏa ra nơi hành động mở cửa và đóng cửa của quý vị. Thầy tôi vẫn còn có mặt đó với chúng ta trong giây phút này. Quý vị đã được học cách chăm sóc, tiếp xúc với cơ thể bằng hơi thở chánh niệm. Đây là sự thực tập rất quan trọng. Quý vị không cần phải trở thành một vị giáo thọ mới có thể tổ chức được những ngày tu chánh niệm. Quý vị có thể dành một ngày cuối tuần để trở về với chính mình, thực tập chăm sóc cơ thể và sống hài hòa với cơ thể mình. Nếu muốn, quý vị có thể mời thêm một số bạn bè đến tham dự ngày tu. Một ngày hoặc vài giờ thực tập chánh niệm như thế là cơ hội để thân tâm được nghỉ ngơi, phục hồi lại sự tươi mát và thư thái. Bốn phép thở đầu của kinh Quán Niệm Hơi Thở nếu được thực tập đúng cách, ta thấy tình thương của Bụt dành cho ta rất lớn. Bụt chỉ dạy cho ta những phương pháp tu tập thật thực tiễn, khoa học và hữu hiệu.

Y báo và chánh báo

Y báo theo chánh báo

Trong đạo Bụt chúng ta có nói tới hai thứ quả báo. Quả báo tiếng Anh là retribution. Một là chánh báo và một là y báo. Chánh báo tức là thân và tâm của chúng ta. Y báo là hoàn cảnh của chúng ta. Ví dụ trồng hoa hướng dương thì ta sẽ gặt hoa hướng dương. Gặt hoa hướng dương tức là báo. Trong quá khứ ta đã sống như thế nào, đã có những hành động nào về thân, miệng và ý, cho nên hôm nay ta có cái thân thể như thế này và cái tâm thức như thế này. Đó gọi là chánh báo. Hình hài, thân thể, sức khỏe và tâm tư ta là chánh báo của ta. Và cái hoàn cảnh bao quanh chánh báo đó gọi là y báo. Y là chỗ mình nương tựa vào. Hoàn cảnh tiếng Anh gọi là environment. Ta đừng tưởng hoàn cảnh nằm ở bên ngoài. Hoàn cảnh cũng do mình tạo ra. Tại vì cả hai đều là “báo” hết cho nên chánh báo cũng là mình mà y báo cũng là mình.

Làng Mai này là cái mà quý vị đã tạo ra trong quá khứ, vì vậy cho nên hôm nay nó ôm lấy quý vị, nó làm thành cái môi trường trong đó quý vị đang sống. Nếu trong quá khứ ta đã không gieo trồng những hạt giống Làng Mai thì ngày hôm nay ta đã không ngồi ở đây và không được bao bọc bởi hoàn cảnh này. Cho nên hoàn cảnh này là y báo của ta. Do hành động trong quá khứ, ta đã tạo ra chánh báo và y báo của ta, và cả hai đều là ta cả. Ta có bổn phận phải nâng cao chất lượng của cả hai cái. Ta nâng cao chất lượng của thân thể, làm cho thân thể mạnh khỏe và vững chãi hơn. Ta nâng cao chất lượng của tâm thức để cho tâm ta nhẹ nhàng, vững chãi và an lạc hơn. Và ta nâng cao chất lượng của hoàn cảnh để cho sự tu tập có nhiều thuận duyên hơn.

 

 

Giữa chánh báo và y báo có sự liên hệ mật thiết, ta không thể tách rời hai cái ra được. Cái gọi là ngã có dính líu tới cái mà ta tưởng là phi ngã. Ngã và phi ngã thực ra là một. Chúng ta không thể chia ra giới hạn giữa ta và không ta, giữa chánh báo và y báo, giữa con người ta và hoàn cảnh. Ví dụ ở đây có một người đang chia sẻ cùng một y báo với ta. Ta trở nên một thành phần y báo của người đó. Thành ra, ta vừa là chánh báo của ta mà vừa là y báo của người sư anh của ta. Vì vậy phẩm chất tu học của ta có liên hệ tới phẩm chất tu học của người sư anh của ta. Ta thấy không còn ranh giới giữa chánh báo và y báo. Ta là chánh báo của ta, nhưng đồng thời cũng là y báo cho người sư em của ta. Vì vậy cho nên xây dựng cho ta hay xây dựng cho người sư em của ta cũng là xây dựng cho cái y báo của cả hai.

Có thể trong một giây phút nào đó, ta có cảm tưởng là y báo này không thích hợp cho ta, ta muốn đi tìm một hoàn cảnh khác, thì ta nên nhớ rằng y báo luôn luôn đi theo chánh báo như bóng theo hình. Chúng ta đi đâu thì cái loại y báo đó cũng đi theo. Đi đâu ta cũng sẽ gặp những điều kiện tương tự. Tốt hơn hết là chúng ta nên chuyển hóa thân tâm của ta để tìm cách chuyển hóa cái y báo của ta ngay bây giờ và ở đây và chấm dứt hành động chạy quanh.

Thiết kế y báo

Trong thời đại chúng ta, chúng ta nói rất nhiều tới hoàn cảnh, tới sinh môi. Chúng ta biết rằng sinh môi và hoàn cảnh có ảnh hưởng trực tiếp tới hạnh phúc của thân tâm, tức là của chánh báo. Người kiến trúc sư vẽ ra một kiểu nhà phải có những kiến thức về khoa học, phải biết về những nhu yếu của cơ thể, của tâm hồn con người để có thể tạo ra môt ngôi nhà trong đó con người cảm thấy thoải mái. Có khi chúng ta bước vào một căn nhà mà thấy ngộp thở, chúng ta thấy những khối bê tông rất nặng, chúng ta cảm thấy tù túng và chúng ta nghĩ rằng nếu phải sống trong ngôi nhà đó, chúng ta sẽ không có hạnh phúc.

Người kiến trúc sư phải thấu rõ nhu yếu của sinh lý, tâm lý, nhu yếu của kinh kế và xã hội của con người để có thể làm ra một ngôi nhà trong đó người cư trú cảm thấy thoải mái và an lạc. Kiến trúc sư phải là một người chuyên môn thiết kế y báo. Chúng ta biết rằng mỗi thành phố lớn có một công viên, ít nhất phải có một công viên, như New York City có Central Park. Nếu là một nhà thiết kế đô thị, chắc chắn ta phải để một công viên trong thành phố, tại vì nếu không có công viên, dân trong thành phố đó sẽ chết bí, không những đứng về phương diện cơ thể mà còn đứng về phương diện tâm hồn nữa. Có những lúc không đi vào công viên được, chúng ta thấy ngộp thở muốn chết. Cho nên những nhà thiết kế đô thị cũng phải biết về khoa học sinh lý, khoa học tâm lý, về những nhu yếu tinh thần và thể chất của con người. Những nhà chuyên môn thiết kế những trục giao thông cũng vậy. Thiết kế thế nào để sự liên lạc giữa các đô thị và vùng quê được dễ dàng, có những con đường có thể đi từ đô thị về miền quê một cách mau chóng. Chúng ta biết rằng cứ mỗi cuối tuần những con đường ở thành phố Paris đi ra ngoại ô đều bị ứ đọng, tại vì nhu yếu thoát ra khỏi thành phố của thị dân rất lớn.

Chúng ta biết rằng sự an vui, hạnh phúc của chánh báo tùy thuộc rất nhiều vào lề lối chúng ta tổ chức y báo của chúng ta. Những nhà kiến trúc, những nhà chuyên môn thiết kế đô thị và những người trông coi sắp đặt lãnh thổ phải có kiến thức vững chãi về những nhu yếu đích thực của con người. Con người có những nhu yếu gọi là nhu yếu đích thực. Có những nhu yếu không phải là nhu yếu đích thực mà chỉ là những thèm khát hay ham muốn. Chúng ta ai cũng có nhu yếu đích thực, chúng ta phải khám phá ra đâu là nhu yếu đích thực của chúng ta và khi chúng ta thực hiện được những nhu yếu đích thực đó, tự nhiên chúng ta có sức khỏe, có sự an vui về cơ thể cũng như về tinh thần. Nhưng trong đời sống hiện đại, ít người trong chúng ta thấy được những nhu yếu đích thực trong chúng ta tại vì chúng ta chỉ sống bởi sự ham muốn. Chúng ta ham muốn cái này, chúng ta ham muốn cái kia, mà những đối tượng của sự ham muốn đó không phải là nhu yếu đích thực.

 

 

Một kiến trúc sư mới có thể nghĩ ra chuyện để làm thỏa mãn những ham muốn, tức là những nhu yếu không đích thực của chúng ta. Ví dụ khi chủ nhà về, ông ta chỉ cần nói với cánh cửa rằng: “Ta đây, ta là chủ nhà này đây” thì cánh cửa tự động mở ra, còn nếu một người khác nói thì vì giọng nói đó không phải là giọng nói của ông chủ nên cánh cửa sẽ không bao giờ mở. Khỏi cần lấy chìa khóa ra, khỏi cần lắp vô và khỏi cần mở. Bây giờ nền kiến trúc mới đang đi về hướng đó. Chúng ta không cần giặt áo quần nữa vì đã có máy giặt. Cà-phê, chúng ta cũng không cần làm nữa, chỉ cần thiết kế cho đúng giờ thì có cà-phê uống. Đó là nhu yếu của thời đại.

Ngày xưa có những người ra bờ sông để giặt lụa như nàng Tây Thi. Thiếu nữ giặt áo ở bờ sông là một hình ảnh rất đẹp. Các cô có thể đùa giỡn với nhau, khoát nước vào nhau…, những cái đó bây giờ ta không thấy nữa, vì nhà nào bây giờ cũng có máy giặt và máy sấy. Chúng ta đi tìm cái gọi là tiện nghi nhưng nhiều khi chúng ta đi quá xa. Có những cậu bé ăn thịt bò mà chưa bao giờ thấy con bò. Có những cô bé ăn cá mà chưa bao giờ thấy cá, nghĩ rằng cá là một cái gì hình vuông vì con cá bán ở siêu thị hình vuông. Và sự kiện những chai sữa tìm tới nhà mình mỗi sáng không còn là một cái gì làm cho cậu bé ngạc nhiên nữa. Cậu nghĩ rằng chuyện sữa xuất hiện mỗi bữa sáng trước cửa nhà mình là một chuyện dĩ nhiên trên đời. Trong khi đó thì những nhu yếu đích thực của chúng ta thì chúng ta không có để mà thỏa mãn.

Y báo ở đây cũng vậy. Y báo đẹp hay không đẹp, thuận lợi hay không thuận lợi, thích hợp hay không thích hợp cho ta, một phần lớn là do cách thức ta tiếp nhận. Nếu có tri giác sâu sắc và cởi mở hơn, ta sẽ khám phá ra rằng trong môi trường đó ta có thể thỏa mãn những nhu yếu đích thực của thân tâm ta, và tự nhiên ta cảm thấy hạnh phúc và an toàn trong cái hoàn cảnh đó, và ta quyết định cùng nhau xây dựng cho cái y báo đó càng ngày càng đẹp để nuôi dưỡng ta, và tư tưởng rời bỏ chốn này đi tìm chốn khác sẽ không bao giờ nẩy sinh nữa.

 

Gọi niềm tin thức dậy

 

Tôi gặp Thầy lần đầu tiên khi đến xóm Mới vào năm 2007 nhân dịp Giáng sinh. Sau này, mỗi khi có thể đến Làng, tôi đều chọn thời điểm ấy.

Những nét văn hóa và ngôn ngữ giao thoa, hòa quyện nhau, hân hoan tạo nên một bảng màu lung linh, không ngừng đổi mới. Đó cũng là Thầy trong công cuộc dựng xây hòa bình cho thế giới.

Trong tôi, tăng thân Làng Mai chính là một biểu hiện của Thầy. Đó là tăng thân yêu quý mà Thầy đã nhẫn nại ấp ủ trong trái tim, để rồi tổ chức, thương yêu và nuôi dưỡng bằng nghệ thuật sống của mình.

Niềm vui lớn của tôi là được đi thiền hành, được ngồi thiền, được ăn cơm, được thở, được quán chiếu và hoàn toàn thả mình trong sự hiện diện của Thầy. Những giây phút im lặng thân tình, chan chứa sự thấu cảm, được ôm ấp trọn vẹn bởi con người Thầy. Khi ấy, mọi thứ trở nên trong trẻo đến mức mọi suy tư đều biến mất, chỉ còn lại sự sáng suốt và bình an nội tâm.

Tình thương thuần tịnh của Thầy bao trùm và đón nhận tất cả như chúng là, không một mảy may phân biệt.

Đặc biệt, tôi nhớ những giây phút trọn vẹn, thực sự an trú, lòng đầy mãn nguyện không vì một đối tượng nào, khi mọi người ngồi trên cỏ thành những vòng tròn xung quanh Thầy, giống như một mạn đà la. Sự vui thích được ở bên cạnh Thầy thật không thể diễn tả được! Tựa như ta đang được bao bọc trong một trường năng lượng đầy ý thức, trong đó vườn hoa nhân loại đang bừng nở niềm tin và niềm vui sống tròn đầy.

 

 
 

Tôi thấy Thầy trong những nụ cười rạng rỡ, trong sự tử tế, sẵn lòng và sự nhẹ nhàng của quý sư cô người Việt khi đón tiếp chúng tôi.

Tôi cũng thấy Thầy trong sự hòa hợp, trong bầu không khí nhẹ nhàng, êm dịu. Sự yên lặng ngọt ngào, dễ cảm nhận này thu phục mọi trái tim.

Tôi lại thấy Thầy qua những cử chỉ thanh thoát trong bài múa hòa điệu của những bóng áo nâu, đang khởi hoạt và tương tác với nhau một cách thật tinh tế và đầy sự kính trọng. Đó chính là Thầy trong hành động.

Tiếng chim vút cao, tiếng tre xào xạc vui đùa trong gió cùng tiếng chuông vang lên trong yên lặng, gõ nhịp cho một thời khắc vượt ra ngoài không gian và thời gian. Đó là tiếng Thầy đang thì thầm bên tai chúng ta: “Con đã về, con đã tới!”.

Trong một ngày quán niệm ở xóm Hạ, Thầy lại đến đánh thức trái tim tôi, khi tôi thấy lòng mình tràn ngập niềm biết ơn, giống như một cơn rùng mình tuyệt diệu, một con sóng dịu dàng vỗ về khắp châu thân không thể nào chống cự lại.

Tôi biết ơn đã được lắng nghe và thấy được hình hài tiếp nối của Thầy, một cách sống động và đầy cảm hứng qua bài chia sẻ của thầy Pháp Hữu, vị trụ trì trẻ tuổi.

Tôi biết ơn được thưởng thức đậu hũ do chính quý thầy, quý sư cô làm và các loại rau củ quả từ “nông trại hạnh phúc” trong bữa ăn quá đường nơi thiền đường rộng lớn; được tắm mình trong bầu không khí của tình huynh đệ mộc mạc, bình dị, trong năng lượng định tâm và buông thư.

Tôi biết ơn buổi pháp đàm của gia đình nói tiếng Pháp, nơi tôi cảm nhận được nguồn năng lượng tập thể, rung lên bởi lòng từ bi và sự lắng nghe sâu, đang hiến tặng một cơ hội quý giá để ta có thể dùng lời nói mà làm lắng dịu và vén lên tấm màn ảo tưởng về một cái ta riêng biệt.

Và sau cùng, tuệ giác của Thầy về tương tức và từ bi trong hành động là những cọc tiêu tỏa sáng, dẫn dắt tôi và mang tôi về lại với con đường tâm linh mỗi khi tâm trí tôi bị sự nghi ngờ và rối loạn xâm chiếm.

Những gì sống động và cụ thể nhất mà Thầy đã trao truyền cho tôi, chính là kiệt tác về cuộc đời Thầy.

Xin tạ ơn Thầy

Chân Trời Đức Hiền

 

 

Lễ xuất gia cây Hoa Mộc

Cây Hoa mộc xuất gia ngày 18.11.2020 tại Tổ đình Từ Hiếu, Việt Nam, gồm 4 sư chú: Chân Trời Phương Ngoại, Chân Trời Biển Đức, Chân Trời Vắng Lặng, Chân Trời Thênh Thang và 14 sư cô: Chân Trăng Hương Thiền, Chân Trăng Yên Hòa, Chân Trăng Yên Thảo, Chân Trăng Biển Tuệ, Chân Trăng Khai Hội, Chân Trăng Yên Hiếu, Chân Trăng Yên Phương, Chân Trăng Yên Thuần, Chân Trăng Bảo Tích, Chân Trăng Phương Ân, Chân Trăng Yên Thư, Chân Trăng Thanh Khê, Chân Trăng Yên Thanh, Chân Trăng Yên Nhã.

Phật Đản 2021

“Giáo lý của Bụt dạy rất rõ rằng Bụt cũng là một con người như chúng ta. Nếu không có con người thì Bụt cũng không thể có được. Vì vậy để làm Bụt chúng ta cần làm một con người và để làm một con người chúng ta cần làm Bụt. Hai là một. Nếu Phật tánh không có trong ta thì ta không thể là một con người. Ai cũng có Phật tánh trong mình. Chúng ta có thể thở như Bụt, đi như Bụt, ngồi như Bụt và ăn uống như Bụt. Thực tập chánh niệm giúp ta thành Bụt ngay trong giây phút hiện tại. Nếu chúng ta đi tìm Bụt cách đây hai ngàn sáu trăm năm thì chúng ta sẽ mất Ngài, còn nếu chúng ta thở và thắp sáng ý thức rằng chúng ta là Bụt, là sự tiếp nối của Bụt thì Bụt sẽ có mặt ngay trong chúng ta”.

(Sư Ông Làng Mai)

Kỷ niệm ngày Bụt đản sanh và để nuôi dưỡng ý thức sáng tỏ về sự tiếp nối của Bụt, tứ chúng Làng Mai đã có một buổi lễ Tắm Bụt trong không khí trang nghiêm và ấp áp tại chùa Từ Nghiêm-Xóm Mới.

Dưới đây là một vài hình ảnh của buổi lễ, kính mời mọi người cùng thưởng thức:

Bảy bước mầu nhiệm

Trích trong sách “Bụt là hình hài, Bụt là tâm thức” của Sư Ông Làng Mai

Theo truyền thống đạo Bụt thì khi vừa mới sinh ra Bụt đã bước đi bảy bước. Bụt bắt đầu đi thiền hành khi mới lọt lòng mẹ. Số bảy là con số rất linh thiêng. Vì vậy chúng ta có thể hiểu bảy bước đó như là bảy yếu tố giác ngộ. Để kỷ niệm ngày Bụt đản sanh, cách hay nhất là chúng ta đi bảy bước, hoàn toàn an trú trong chánh niệm. Tôi luôn thấy mình may mắn và mầu nhiệm có mặt trên hành tinh này, bước đi như một con người tự do. Không cần phải làm gì cả. Chúng ta chỉ đi cho bình an trên hành tinh này. Phi hành gia Apollo đã chụp hình trái đất và gởi đến cho chúng ta, nhờ đó chúng ta thấy được trái đất rất xinh đẹp, là thành trì của sự sống. Trái đất là Tịnh Độ của chúng ta. Thật kỳ diệu!

Nếu chúng ta bay lên không trung, chúng ta sẽ thấy sự sống ở đó rất hiếm hoi. Khí hậu quá khắc nghiệt, khi thì quá nóng, khi thì quá lạnh làm cho sự sống không thể tồn tại. Trở về trái đất, chúng ta mới thấy được sự mầu nhiệm của sự sống. Chúng ta thấy được cây xanh, thấy được các loài thảo mộc và động vật. Chúng ta tiếp xúc được với mặt đất, với cỏ cây bằng đôi chân của ta, chúng ta ngắm nhìn những bông hoa, quan sát những chú sóc chuyền cành, lắng nghe tiếng chim hót, tiếng gió rủ rỉ qua các cành thông, hít thở và tiếp xúc với không khí trong lành. Nhiều người trong chúng ta cần phải xa nhà một tuần để khi trở về biết trân quý cõi Tịnh Độ của mình hơn. Chúng ta hay xem thường những gì mình đang có, cứ cho rằng đó là những điều hiển nhiên. Nếu có chánh niệm chúng ta sẽ ý thức rằng còn sống và có mặt trên trái đất này, bước được những bước chân trên hành tinh xinh đẹp là một phép lạ. Thiền sư Lâm Tế nói: “Phép lạ không phải là đi trên mặt nước hay đi trên không trung mà là đi trên mặt đất.” Tất cả chúng ta đều có thể đạt được phép lạ khi đi trên mặt đất. Chúng ta có thể bắt đầu bằng bảy bước. Nếu thành công, chúng ta có thể bước tiếp bước thứ tám, thứ chín. Với năng lượng chánh niệm, chân của ta trở thành chân Bụt. Thực tập hơi thở chánh niệm sẽ giúp ta chế tác năng lượng chánh niệm và với năng lượng chánh niệm đó, chúng ta ủy quyền cho đôi chân của ta để chân ta trở thành chân Bụt. Khi chúng ta đi bằng chân Bụt thì nơi ta đi là đất Bụt. Bụt ở đâu thì đất Bụt và cõi Tịnh Độ ở đó. Nước Chúa cũng luôn luôn có mặt ở đây, ngay bây giờ. Tịnh Độ của Bụt cũng vậy. Vấn đề là chúng ta có có mặt cho nước Chúa, có mặt cho cõi Tịnh Độ hay không? Có thể chúng ta quá bận rộn, không thể rong chơi trong cõi Tịnh Độ hay trong nước Chúa. Vì vậy mà Siddhartha muốn chứng minh rằng Ngài có thể bắt đầu đi trong cõi Tịnh Độ ngay khi vừa mới ra đời.

 

 

Quay về nương tựa Bụt, Pháp, Tăng và tiếp nhận năm giới là chúng ta được tái sinh trở lại trong gia đình tâm linh. Cũng giống như Siddhartha chúng ta có thể đi bảy bước thành công. Bước thức nhất, ta tiếp xúc với mặt đất, bước thứ hai ta thấy được trời xanh trên trái đất này v.v… Chúng ta chỉ cần bảy bước để giải thoát, giác ngộ. Chúng ta có thể giác ngộ trong mỗi giây phút của cuộc sống hằng ngày. Ý thức rằng chúng ta đang còn sống và đang đi trên mặt đất đã là một sự giác ngộ rồi. Chúng ta phải làm mới sự giác ngộ của mình mỗi ngày. Đi trong nước Chúa, đi trong cõi Tịnh Độ của Bụt là một niềm hân hoan, tươi mới, rất nuôi dưỡng, rất trị liệu. Chúng ta biết mình có khả năng làm được điều đó nhưng thông thường chúng ta không làm. Chúng ta cần bạn, cần thầy nhắc nhở chúng ta.

Bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể thực tập hơi thở chánh niệm và chế tác năng lượng chánh niệm. Ai cũng có khả năng bước được một bước chân, tiếp xúc với mặt đất, tiếp xúc với nước Chúa bằng năng lượng chánh niệm. Một số người trong chúng ta cần phải bay lên không trung để biết trân quý trái đất hơn. Chúng ta hay xem thường nhiều thứ. Chúng ta không biết trân quý những gì ta đang có. Rất nhiều điều kiện hạnh phúc, an lạc có sẵn cho chúng ta, nhưng chúng ta đã không tiếp nhận được. Pháp Bụt giúp ta thực tập chánh niệm, ý thức là chúng ta đang ở đây, bầu trời vẫn xanh, cỏ cây, mây nước, dòng sông vẫn còn đó. Chúng ta có thể tận hưởng từng phút giây của cuộc sống để sự tiếp nối của chúng ta có cơ hội đi lên.

Chánh niệm có khả năng làm cho mỗi giây phút của sự sống trở thành giây phút mầu nhiệm. Đó là món quà quý nhất mà chúng ta có thể hiến tặng cho con cháu của chúng ta. Con cháu của chúng ta là ai? Con cháu chúng ta chính là chúng ta. Bởi vì con cháu chúng ta là sự tiếp nối của chúng ta. Vì vậy mỗi giây phút của đời sống hằng ngày có thể trở thành món quà cho con cháu chúng ta và cho toàn thế giới.

Địa xúc

Đi là một hình thức tiếp xúc. Tiếp xúc với mặt đất bằng đôi chân của mình là chúng ta trị liệu cho mặt đất, trị liệu cho chính mình và trị liệu cho toàn nhân loại. Lúc nào có năm, mười hay mười lăm phút chúng ta nên đi thiền. Mỗi bước chân đều có khả năng trị liệu và nuôi dưỡng thân tâm. Mỗi bước chân đi trong chánh niệm, thảnh thơi có thể giúp ta chuyển hóa và trị liệu cho tự thân, cho thế giới.

Chúng ta chỉ cần khởi đầu như đức Bụt sơ sinh, bắt đầu đi bảy bước. Chúng ta trở về ngôi nhà của chính mình ngay trong giây phút hiện tại và bước một bước: “Tiếp xúc với mặt đất, tôi biết hành tinh này thật mầu nhiệm.” Bước bước thứ hai tuệ giác của ta sẽ sâu hơn: “Không những tôi tiếp xúc với mặt đất mà còn tiếp xúc với bầu trời đang có mặt trong lòng đất. Tôi tiếp xúc được tính tương tức.” Bước thứ ba chúng ta có thể tiếp xúc được với tất cả các loài sinh vật trên trái đất, kể cả tổ tiên và con cháu của chúng ta. Chúng ta giác ngộ ngay nơi mỗi bước chân mình. Đi như thế không phải là một lao tác mệt nhọc mà chúng ta đang chế tác niệm, định, tuệ. Niệm, định, tuệ chính là nguồn an lạc, hạnh phúc của chúng ta. Chúng ta có muốn trở thành một hành giả không? Đơn giản lắm. Chỉ cần chúng ta đi chánh niệm như Bụt sơ sinh ngay trong giây phút hiện tại, hoàn toàn ý thức về những mầu nhiệm của cuộc sống đang có mặt chung quanh ta.

 

 

Địa xúc cũng là một phép thực tập mang lại khả năng trị liệu rất lớn. Chúng ta có thể tâm sự trực tiếp với Bụt. Sau khi nói chuyện với Bụt ba bốn phút, chúng ta thực tập địa xúc, không phải chỉ bằng đôi chân mà bằng năm vóc của mình (hai tay, hai chân và trán). Giao hết thân mạng mình cho đất, chúng ta với đất là một. Để cho đất ôm ấp và trị liệu chúng ta. Chúng ta không cần phải ôm khổ đau một mình. Ta xin đất ôm ấp những khổ đau của ta như người mẹ ôm ấp đứa con của mình để được trị liệu và chuyển hóa.

Hy vọng mỗi người trong chúng ta đều thực tập được như thế. Chúng ta có thể thực tập bằng hai cách. Trước tiên chúng ta có thể đi đến một gốc cây, hay bất cứ ở đâu mà chúng ta thích và thực tập địa xúc một mình. Chúng ta theo dõi thở thở và tâm sự với Bụt, chúng ta có thể sử dụng những hướng dẫn trong sách hoặc thêm vào những điều mình muốn tâm sự với Bụt. Sau hai ba phút tâm sự với Bụt, chúng ta lạy xuống. Chúng ta cũng có thể thực tập chung với gia đình hoặc với tăng thân. Thực tập một lần là ta đã thấy có sự trị liệu và chuyển hóa rồi. Không thể khác được. Cũng giống như khi ăn cơm, bất cứ lúc nào ăn, ta cũng nhận được chất dinh dưỡng của thức ăn, không còn nghi ngờ gì nữa. Tôi tin rằng sau một hai tuần thực tập chúng ta sẽ có sự chuyển hóa và trị liệu, không chỉ cho chúng ta mà còn cho những người ta mang theo trong mình.

Bụt không thuộc về quá khứ. Bụt có mặt trong giây phút hiện tại. Kỷ niệm Đức Bụt Đản sanh, chúng ta phải để cho Bụt sinh ra trong mỗi chúng ta. Chúng ta nên đặt câu hỏi cho chính mình: “Bụt là ai?” Và chúng ta có thể trả lời: “Tôi là Bụt”, bởi vì có chánh niệm, chánh định là ta đã trở thành Bụt. Chúng ta ý thức là chúng ta luôn mang theo sự nghiệp của Ngài.

Mang tăng thân theo mình

Mỗi người trong chúng ta đều tiếp nối Bụt bằng con đường của mình. Cho dù xã hội có tạo ra những hoàn cảnh khắc nghiệt khiến chúng ta khó sống với giây phút hiện tại thì chúng ta vẫn luôn có Bụt, có Pháp, có Tăng bên mình nếu chúng ta biết thực tập chánh niệm và chánh định. Với tấm lòng thương yêu và quyết tâm của mình, chúng ta có thể mang theo Tịnh Độ của Bụt và chia sẻ với những người chung quanh. Sở dĩ tôi còn sống sót trong ba mươi chín năm qua là nhờ tôi luôn mang theo tăng thân bên mình. Có tăng thân trong mình chúng ta không bị khô héo như một tế bào văng ra khỏi cơ thể.

Thỉnh thoảng trong khi đi thiền, nấu ăn, lái xe, chúng ta có thể dừng lại để tiếp xúc với tăng thân trong mình. Chúng ta có thể hỏi:  “Tăng thân ơi, tăng thân có còn đó trong con không?” Và chúng ta sẽ nghe tăng thân trả lời: “Tăng thân luôn có trong con. Tăng thân đang nâng đỡ con. Tăng thân sẽ không để con khô héo như một tế bào riêng lẻ bị tách ra khỏi cơ thể.”

Ý thức về tăng thân trong ta và chung quanh ta, chúng ta sẽ có năng lượng để đi tới. Mỗi chúng ta đều là một ngọn đuốc, mỗi chúng ta đều là nhân tố gây cảm hứng cho nhiều người và mỗi chúng ta phải là một vị Bồ Tát. Bồ Tát không cần phải làm gì to tát, chỉ cần thực tập sống đời sống hằng ngày của mình cho đàng hoàng là chúng ta đã trở thành Bồ Tát rồi.

Giáo lý của Bụt dạy rất rõ rằng Bụt cũng là một con người như chúng ta. Nếu không có con người thì Bụt cũng không thể có được. Vì vậy để làm Bụt chúng ta cần làm một con người và để làm một con người chúng ta cần làm Bụt. Hai là một. Nếu Phật tánh không có trong ta thì ta không thể là một con người. Ai cũng có Phật tánh trong mình. Chúng ta có thể thở như Bụt, đi như Bụt, ngồi như Bụt và ăn uống như Bụt. Thực tập chánh niệm giúp ta thành Bụt ngay trong giây phút hiện tại. Nếu chúng ta đi tìm Bụt cách đây hai ngàn sáu trăm năm thì chúng ta sẽ mất Ngài, còn nếu chúng ta thở và thắp sáng ý thức rằng chúng ta là Bụt, là sự tiếp nối của Bụt thì Bụt sẽ có mặt ngay trong chúng ta.

 

 

Cuối cuộc hành trình là bắt đầu một sự tiếp nối. Tôi hy vọng và nguyện cầu chư Bụt, chư vị Bồ Tát gia hộ cho quý vị được an lành, khỏe mạnh và hạnh phúc. Chúng tôi tin tưởng ở quý vị. Bụt cũng đang tin tưởng nơi mỗi chúng ta. Hôm nay chúng ta hãy đi cho thảnh thơi. Chỉ cần đi bảy bước, chúng ta sẽ thấy được những mầu nhiệm của cuộc sống đang hiển bày.

 

Con đã biết vì sao con cần tăng thân

 

Con vốn là người thích đi một mình, thích tự học, tự nghiên cứu. Con đã thực tập pháp môn của Sư Ông Làng Mai được 3 năm, rất chuyên tâm, luyện tập từng giờ, từng ngày nhưng đều thông qua việc đọc sách và nghe pháp thoại của Sư Ông trên Youtube. Có lần, con gặp một người bạn là phật tử lâu năm, con kể về việc thiền tập, bạn hỏi con tu tập như thế nào, có ai là người hướng dẫn không, và tỏ ra nghi hoặc về con đường con đang thực tập? Sau hôm đó, con vô cùng hoang mang, và tự nghi ngờ chính chính bản thân mình. Con vô cùng khát khao tìm gặp người chỉ dẫn, để tự tin trên con đường tu tập. Con tìm trên Facebook, tìm những nhóm mang tên Sư Ông, tìm kết bạn với những thành viên tích cực trong nhóm, để hằng ngày theo dõi những lời dạy được trích dẫn trên đó. Dạo gần đây, con có cảm giác bớt cô đơn hơn vì tham dự cùng những người trong Tăng thân “ảo” như thế. Dù vậy, trong tâm con vẫn ao ước một ngày có thể sang Làng Mai tại Thái Lan tham dự một khóa tu của Làng. 

 

 

Con đã đọc được hơn 10 cuốn sách của Sư Ông rồi. Vào một ngày gần cuối năm 2020, con mua cuốn sách Đường Xưa Mây Trắng. Khi đọc hơn 10 chương đầu, con vừa đọc vừa khóc, có những chương khóc nức nở. Lần đầu tiên trong đời, con đã biết thế nào là những giọt nước mắt hạnh phúc. Ngay trong thời điểm đó, con bỗng thấy có người chia sẻ trên Facebook khóa tu trực tuyến Thương Như Bụt Thương. Vậy là, từ lúc con phát tâm nguyện tu học tới lúc gặp được khóa tu chỉ có vài tuần. Con vui mừng lắm, không đắn đo, xin nghỉ làm để chuyên tâm ở nhà tham gia khóa tu. Lúc tham gia con còn không hề biết tới ngày cuối khóa tu con được thọ 5 giới. Khi được nhận Pháp danh mới, được chính thức là đệ tử của Sư Ông, con thấy tự hào và tự tin vô cùng. Vậy là từ nay con đã chính thức có tổ tiên tâm linh. 

Bốn tháng sau khóa tu, con lại kiên trì tự đi một mình, không nghĩ ra việc cần tìm tới tăng thân. Nhưng cảm giác khó khăn lại sớm quay trở lại. Con cảm thấy đang rất cô đơn, cảm giác mình lạc lõng vì xung quanh không có những người cùng quan điểm sống và tu tập. Nhiều khi con chỉ muốn tìm một người để chia sẻ về những điều con mới học được…mà không có ai. Con đã cố gắng hằng ngày để duy trì học tập, nhưng thấy tiến bộ rất chậm, và nhiều khi phải tự vực dậy cảm xúc của mình. Con biết hiểu về lý thuyết, để được đến hạnh phúc, nhưng thực tập thực sự khó. 

Con rất bất ngờ khi nhận được email của sư cô Thể Nghiêm từ ban tổ chức khóa tu “Thương Như Bụt Thương” về việc liên hệ với sư cô Nhẫn Nghiêm để nhận Điệp hộ giới, nhân dịp sư cô ra Hà Nội hỗ trợ cho triển lãm thư pháp của Sư Ông tại đây. Khi gặp sư cô Nhẫn Nghiêm, sư cô chỉ hỏi một câu: “Khó khăn lớn nhất của em trong việc tu tập là gì?”. Con vô cùng bất ngờ. Con đã lạc đường nên tới muộn, sư cô phải đứng chờ con gần 25 phút, mà trời trở gió lạnh, con áy náy vô cùng. Sư cô không còn nhiều thời gian để nói chuyện với con mà chỉ hỏi đúng có câu đó thôi. Nghe xong, con thấy sững sờ như chạm trúng vào cái trăn trở nhất lâu nay của mình. Trước khi tới, con đã tưởng tượng ra đủ thứ để tâm sự với sư cô về quá trình con tự tu học. Nhưng khi sư cô hỏi thế, con không có chút suy nghĩ, trả lời luôn rằng: “Con cô đơn, lẻ loi, bơ vơ quá. Con cứ bơ vơ một mình bao lâu nay.” Nhờ câu hỏi đó, mà con đã có cơ duyên tham gia một buổi sinh hoạt với tăng thân. Ngay ngày hôm sau, con được nghe thầy Pháp Khâm thuyết pháp trong buổi sinh hoạt của tăng thân cư sĩ Vô Sự. Rồi con lại được tham gia lễ bế mạc triển lãm thư pháp cùng tăng thân. 

Buổi sinh hoạt đầu tiên tại gia đình Vô Sự, con được nghe thầy Pháp Khâm giảng về một đoạn trong cuốn sách Đường Xưa Mây Trắng. Lúc đầu, khi mới tới, thầy hỏi thăm mọi người, con chỉ nhìn thầy như một vị thầy bình thường như bao vị thầy khác con từng gặp, không có gì khác biệt. Nhưng trong lúc thầy giảng, mắt thầy lần lượt nhìn từng phía, rồi thầy nhìn về phía con. Khi đó, con mới nhận ra, con chưa từng gặp ai có đôi mắt nhân từ, điềm tĩnh, lâu lắng, bình yên như thế. Thầy giảng về tăng đoàn của Bụt ngày xưa, về câu hỏi của một vị đệ tử “Sau khi chết, Bụt còn hay không còn?”. Lúc đó, con tự hỏi, người có đôi mắt nhân từ ngồi trước mặt con đây là ai? Có phải là thầy Pháp Khâm không? Con thấy đôi mắt đó giống đôi mắt của Sư Ông – người mà con chỉ được gặp qua những video trên Youtube, qua ảnh, qua những trang sách. Lúc sau, con lại thấy đôi mắt đó, hình hài đó dường như lại là của Bụt, người con đã gặp qua những trang sách trong Đường Xưa Mây Trắng. Rồi con lại thấy chính con và những thành viên trong tăng thân Vô Sự đang ngồi đây, dường như cũng đã ngồi cùng nhau vào 2600 năm trước để quây quần nghe Bụt giảng, cảm giác thân thuộc vô cùng. Thầy nói rằng nếp sinh hoạt của tăng đoàn trong sách Đường Xưa Mây Trắng đã được tái hiện lại trong nếp sinh hoạt của Làng Mai hiện tại. Con dường như đã hiểu ra tại sao con khóc rất nhiều trong hơn 10 chương sách đầu tiên. 

Lần thứ hai là 3 ngày sau đó, con tham dự lễ bế mạc triển lãm thư pháp. Dù đây là lần đầu tiên con được cùng tăng thân hát thiền ca, nhưng con bỗng tự hát theo được (Có lẽ con đã nghe nhiều trên Youtube). Cảm giác rõ rệt như trở về nhà, con không còn nhu cầu phải nói để vơi bớt sự cô đơn trong tu tập nữa. Chỉ cần ngồi đó cùng tăng thân là đã đủ và hạnh phúc rồi. Con đã rất kìm nén, vì lúc đó nước mắt cứ muốn trào ra rất nhiều. Con tâm đắc từng lời chia sẻ của các sư thầy, sư cô, của tăng thân. Chưa bao giờ con thấy một bầu không khí tràn đầy năng lượng hùng tráng và an lành như thế. 

 

 

Hơn 2 tuần, kể từ lần đầu gặp tăng thân, nhờ tiếp thu được năng lượng yểm trợ, con đã hiểu tại sao con cần tăng thân. Hai tuần vừa rồi, cuộc sống của con vô cùng hạnh phúc. Con không còn thấy thời gian trôi nhanh như trước nữa mà đã biết tận hưởng từng phút giây hơn.

Hôm nay con bỗng nhận ra mình chính thức thọ 5 giới vào 1/1/2021, tức là mới có 5 tháng, vậy mà con cảm giác tưởng chừng như đã cả năm rồi. Điều này chứng tỏ rằng, con đã làm thời gian của con trôi chậm lại, con đã biết sống sâu sắc trong từng giây phút hơn. Con không còn bị lặp lại cái câu nói: “Ồ, thời gian trôi nhanh quá, vừa mới Tết xong mà đã lại sắp nghỉ lễ 30/4 – 1/5 rồi”. Bây giờ con đã thấy mình có thêm rất nhiều thời gian thảnh thơi để làm những việc con muốn làm và dành thời gian cho những người thân thương của con nữa.

 

Tâm Xuân Hạnh

Thiền tập trong đời sống hàng ngày

 

Trong suốt khóa tu, thỉnh thoảng vị tri chung sẽ thỉnh lên một tiếng chuông. Trước tiên, người ấy đọc thầm bài thi kệ:

Ba nghiệp lắng thanh tịnh

Gởi lòng theo tiếng chuông

Nguyện người nghe tỉnh thức

Vượt thoát nẻo đau buồn.

Sau đó vị ấy sẽ thở ba hơi thở thật chậm rãi và khoan thai rồi mới thỉnh chuông. Khi nghe chuông, chúng ta sẽ dừng lại mọi suy tư, theo dõi hơi thở vào ra ba lần và đọc bài thi kệ:

Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe

Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm.

Thiền là ý thức những gì đang xảy ra trong thân thể, trong cảm thọ, trong tâm hành và trên thế giới. Thiền tập là gia tài quý giá nhất của đạo Bụt. Điều quan trọng là chúng ta phải thiền tập trong trạng thái vui tươi. Phải cười nhiều mới có thể thiền tập được. Tiếng chuông chánh niệm sẽ giúp ta làm được điều này.

Giả sử bạn đang có một đứa con trai hư hỏng, khó có thể tha thứ và thương yêu được. Điều đó cũng bình thường thôi. Để được người khác thương thì mình phải dễ thương. Nếu đứa con trai của ta trở nên khó thương như vậy thì ta sẽ đau khổ lắm. Ta mong là ta có khả năng thương được nó, nhưng cách duy nhất để thương được nó là phải hiểu nó, hiểu rõ tình trạng của nó. Ta phải lấy con ta làm đề tài quán chiếu của mình. Thay vì quán chiếu về ‘không’ hay về những đề tài khác, ta có thể lấy con ta làm đề tài quán chiếu cụ thể.

Trước hết ta cần dừng lại những suy nghĩ, cảm thọ đang xâm chiếm ta khiến cho năng lực định tĩnh và khả năng thiền quán của ta yếu đi. Định, tiếng Sanskrit là Samadhi. Một em học sinh, muốn làm bài tập tốt phải ngừng nhai kẹo ‘chewing gum’, ngừng nghe nhạc, để có thể tập trung vào bài tập. Muốn hiểu con mình, ta phải ngưng lại tất cả những thứ làm ta xao lãng. Định, Samadhi, là bước thực tập đầu tiên.

Khi bật đèn đọc sách, muốn cho ánh sáng tập trung vào quyển sách, ta cần có cái chao đèn (chụp đèn) để gom ánh sáng lại, để ta có thể đọc sách dễ dàng hơn. Thực tập định cũng giống như cái chao đèn, giúp chúng ta tập trung tâm ý vào một đối tượng nào đó. Khi ngồi thiền, đi thiền, ta không nghĩ về quá khứ, không nghĩ về tương lai, chỉ an trú trong hiện tại, như vậy là ta phát triển được năng lực định tĩnh trong ta. Với năng lực định tĩnh này, ta có khả năng nhìn sâu vào vấn đề. Và khi nhìn sâu vào vấn đề, ta hiểu được tình trạng và bản chất của nó. Trong trường hợp này, ta thấy được tình trạng khó khăn và khổ đau mà đứa con ta đang gặp phải.

Ta không than phiền, trách móc con trai ta. Ta chỉ muốn hiểu tại sao nó trở nên như vậy. Từ từ ta sẽ tìm ra được tất cả những nguyên nhân xa gần dẫn đến tình trạng hiện tại của nó. Càng thấy rõ vấn đề ta càng hiểu con ta hơn. Càng hiểu ta càng thương hơn. Hiểu biết là suối nguồn của thương yêu. Hiểu chính là thương. Hiểu là một cách nói khác của thương. Thương là một cách nói khác của hiểu. Thực tập theo đạo Bụt là phải thực tập như vậy.

Khi ta trồng cây mà nó không lên ta không thể đổ lỗi cho cái cây ấy. Ta chỉ tìm hiểu nguyên do tại sao cây không lớn lên được. Có thể chúng cần thêm phân bón, thêm nước hoặc bớt ánh nắng mặt trời. Chúng ta không bao giờ phàn nàn, đổ lỗi cho cây, ấy vậy mà ta lại lên án, đổ lỗi cho con ta. Nếu biết cách chăm sóc thì con ta cũng lớn lên khỏe mạnh vui tươi như cái cây kia. Đừng phàn nàn đổ lỗi, đừng lên án, trách móc, đừng cố tìm lý do này lý do nọ để tranh cãi. Đổ lỗi, trách móc chẳng bao giờ đem lại một kết quả tốt đẹp nào. Không tranh cãi, không lý luận, không đổ lỗi, không trách móc, chỉ tìm hiểu thôi. Đó là kinh nghiệm của tôi. Nếu bạn hiểu được vấn đề, hiểu và thông cảm được người ấy, thương được người ấy thì tình trạng sẽ đổi thay.

Tiếng chuông chánh niệm là tiếng gọi của Bụt gọi ta trở về với bản tâm ta. Ta phải tôn trọng tiếng chuông đó. Khi nghe chuông, ta dừng lại mọi suy nghĩ, nói năng và hành động để trở về với chính mình, mỉm cười và theo dõi hơi thở. Bụt ở đây không phải ở ngoài ta mà Bụt trong chính tự thân ta, gọi ta trở về. Nếu không có khả năng nghe chuông thì ta không thể nghe được bất cứ một âm thanh nào khác mà những âm thanh ấy cũng là tiếng gọi của Bụt, như tiếng gió, tiếng chim, hay ngay cả tiếng xe hơi hoặc tiếng khóc của trẻ thơ. Tất cả đều là tiếng gọi của Bụt gọi ta trở về. Nghe chuông  là một pháp môn  rất hay, rất hữu hiệu. Khi đã thực tập được với tiếng chuông, ta có thể thực tập với tiếng gió hay những tiếng khác. Không những với âm thanh mà với hình ảnh chúng ta cũng có thể thực tập như vậy. Ánh nắng xuyên qua khung cửa cũng là tiếng gọi của Pháp thân, gọi chúng ta trở về cho Phật thân có mặt, cho Tăng thân trở thành một Tăng thân đích thực.

Khi ngồi thiền, đi thiền, chúng ta có thể đọc thầm: Tĩnh lặng, Mỉm cười, Hiện tại, Tuyệt vời; hoặc sử dụng những phương pháp khác, như phương pháp đếm hơi thở. Thở vào đếm một, thở ra đếm một. Thở vào đếm hai, thở ra đếm hai. Vào đếm ba, ra đếm ba. Cho đến mười. Sau đó đếm ngược lại từ mười xuống chín, tám, bảy… Đếm hơi thở là một trong những phương pháp giúp ta dễ định tâm.

Nếu không đủ định lực, chúng ta sẽ không đủ khả năng đi sâu vào quán chiếu. Vì vậy thở, đi thiền, ngồi thiền, nghe chuông, ăn cơm im lặng… là những bước đầu tiên giúp ta nhận biết được mức độ định tĩnh của ta. Đó gọi là “chỉ”, là dừng lại. Dừng lại để tập trung tâm ý, để định tâm. Cũng như cái chao đèn, có tác dụng gom ánh sáng lại, không cho ánh sáng phân tán để chúng ta có thể đọc sách dễ dàng hơn. Bước đầu tiên của thiền là chỉ, chỉ là dừng lại. Dừng lại những xao lãng, phân tán, để tập trung tâm ý vào một đối tượng. Đối tượng hay nhất, luôn có mặt với ta là hơi thở. Hơi thở rất mầu nhiệm, có khả năng đem tâm trở về với thân, làm hợp nhất thân tâm. Đếm hơi thở hay theo dõi hơi thở cũng chỉ là để dừng lại.

Dừng lại và nhìn sâu (chỉ và quán) rất gần nhau. Ngay khi ta dừng lại thì chữ nghĩa trên trang giấy trở nên rõ ràng hơn. Vấn đề của đứa con ta cũng trở nên rõ ràng hơn. Dừng lại và nhìn sâu là thiền tập, là tuệ giác. Tuệ giác là cái thấy sâu, cái thấy về thực tại. Dừng lại cũng là nhìn sâu (chỉ cũng là quán). Nhìn sâu giúp ta  có khả năng dừng lại. Hai là một. Chúng ta làm quá nhiều, chạy quá nhanh và hoàn cảnh của ta quá khó khăn nên nhiều người thường hay nói: “Làm gì đi chứ, sao lại ngồi không đó.” Nhưng ‘làm’ đôi khi lại làm cho tình trạng tệ hại hơn. Vì vậy chúng ta nên nói: “Đừng làm gì hết, hãy ngồi yên đó”. Ngồi yên, dừng lại, có mặt với chính mình trước và mọi chuyện bắt đầu từ đó. Đó là ý nghĩa của thiền tập. Khi ngồi trong thiền đường, ở nhà hay bất cứ ở đâu, chúng ta cũng có thể làm như vậy. Tuy nhiên chúng ta phải thực sự ngồi. Ngồi không thì không đủ. Ngồi và phải có mặt. Ngồi mà không có mặt thì không phải là ngồi.

Có rất nhiều phương pháp để dừng lại và nhìn sâu. Một người thầy có nhiều tuệ giác sẽ có khả năng chế tác ra nhiều phương pháp thực tập. Trong đạo Bụt, có tám vạn bốn ngàn pháp môn giúp ta đi vào thực tại, tiếp xúc với thực tại như thực tại chính nó. Pháp môn là những phương tiện, cách thức thực tập. Khi chúng ta cưỡi một con ngựa mà không điều khiển được nó thì ước muốn lớn nhất của ta là dừng lại. Nhưng dừng lại như thế nào? Chúng ta phải cầm dây cương để rị nó lại, nghĩa là làm cho tốc độ của con ngựa chậm lại. Tốc độ ở đây là những thứ khiến ta đánh mất bản thân. Ta phải tổ chức đời sống của ta như thế nào để có thể dừng lại những thứ đang lôi kéo ta. Ngồi uống một ly trà hai tiếng đồng hồ trong một buổi thiền trà là một hành động dừng lại. Dừng lại bất bạo động. Chúng ta có khả năng làm được điều này bởi vì chúng ta có Tăng thân. Chúng ta có thể làm chung với nhau. Chúng ta có thể dừng lại cách sống làm chúng ta đánh mất bản thân mình. Thiền đi cũng là một cách dừng lại. Ngồi thiền cũng là một cách dừng lại. Vì vậy nếu muốn ngăn chặn vũ trang, ta phải dừng lại, ta phải bắt đầu bằng chính đời sống hàng ngày của ta. Tôi thấy một chiếc xe hơi đến từ New York có một câu sticker dán trên xe: “Hãy để cho hòa bình bắt đầu với tôi”. Điều đó rất đúng. Nhưng nếu nói ngược lại: “Tôi sẽ bắt đầu bằng hòa bình” thì điều đó cũng đúng.

Đi thiền cũng rất vui và lý thú. Ta có thể đi một mình hay đi với người khác, chậm rãi, thong thả và thảnh thơi. Nếu được thì đi ở những nơi có khung cảnh đẹp. Đi thiền ta phải thực sự thích thú, đi không phải để tới, đi chỉ để mà đi. Mục đích của thiền đi là có mặt trong giây phút hiện tại và thưởng thức từng bước chân của mình. Vì vậy ta phải rũ bỏ tất cả những lo lắng buồn phiền, đừng nghĩ về tương lai, đừng nghĩ về quá khứ, chỉ tận hưởng giây phút hiện tại. Chúng ta có thể cầm tay một em bé để đi. Chúng ta bước đi như thể chúng ta là người tự do nhất trên Trái đất này.

Chúng ta đi rất nhiều nhưng thường thì chúng ta đi như chạy. Và đi như thế, chúng ta in lên đất Mẹ sự lo lắng, buồn phiền của ta. Chúng ta đi như thế nào để chỉ in lên đất Mẹ sự bình an, thanh tịnh của ta thôi. Mỗi người trong chúng ta ai cũng có thể làm được điều này. Bất kỳ đứa trẻ nào cũng có thể làm được. Nếu ta có khả năng bước được một bước như thế thì ta có thể bước được bước thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm… như thế. Nếu ta có khả năng bước được một bước bình an và hạnh phúc thì ta có khả năng đem đến bình an và hạnh phúc cho nhân loại. Đi thiền là một pháp môn rất thú vị đem lại cho ta nhiều lợi lạc.

Bản kinh căn bản liên quan đến thiền là kinh Satipatthana, có trong tạng Pali, Hán tạng và nhiều thứ tiếng khác, kể cả trong tiếng Anh và tiếng Pháp. Theo bản kinh này thì thiền là ý thức được những gì đang xảy ra trong thân thể, cảm thọ, tâm thức và đối tượng tâm thức. Mà đối tượng tâm thức ở đây là thế giới. Ý thức được những gì đang xảy ra, ta có thể thấy được vấn đề như chúng đang là, và ta có khả năng ngăn chặn được nhiều thảm họa sắp xảy ra. Khi mọi thứ đã xảy ra rồi thì quá trễ. Xử lý đời sống hàng ngày của ta là một vấn đề rất quan trọng. Làm chủ lời nói, làm chủ cảm xúc, xử lý cảm thọ và ý thức được những gì đang xảy ra trong đời sống hàng ngày chính là thiền tập. Chúng ta phải học cách ứng dụng thiền tập vào trong đời sống hàng ngày của ta.

Có rất nhiều thứ đơn giản và dễ làm. Chẳng hạn như trước buổi ăn tối, mọi người ngồi chung quanh bàn ăn, thở ba hơi thật chậm rãi và khoan thai. Có mặt cho chính mình và phục hồi lại chính mình. Chắc chắn mỗi khi thở sâu như vậy ta có khả năng trở về với ta và có mặt trọn vẹn cho ta. Trước khi ăn, ta có thể nhìn mọi người và mỉm cười, chỉ cần hai, ba giây thôi, không cần nhiều. Chúng ta luôn bận rộn, không  bao giờ có thời gian để nhìn nhau, ngay cả với người ta thương. Đến một lúc nào đó thì ta thấy tiếc nuối vì người thương của ta đã qua đời hay đã xa ta và lúc đó thì đã quá trễ. Vì vậy, chúng ta phải thực tập có mặt và trân quý những người thân trong gia đình.

Ở Làng Mai, trước khi ăn, có đọc năm quán. Thỉnh thoảng ta mời một em nhỏ đọc. Nâng bát cơm trên tay, ta thấy mình thật may mắn. Là một người tỵ nạn, người ấy ý thức rằng ở những nước Đông Nam Á trẻ em không có đủ thức ăn để ăn. Loại gạo ngon nhất mà người ta mua ở Tây phương được nhập khẩu từ Thái Lan. Nhưng ngay ở Thái Lan, trẻ em Thái cũng không có may mắn để được ăn những loại gạo ngon như thế. Họ ăn những loại dở hơn, kém chất lượng hơn. Loại gạo ngon đó họ cho xuất khẩu để đổi lấy ngoại tệ. Khi một đứa trẻ tỵ nạn cầm chén cơm trong tay, nó phải nhớ rằng nó rất may mắn. Nó biết rằng 40 ngàn trẻ em ở độ tuổi của nó chết đói mỗi ngày vì thiếu thức ăn. Đứa trẻ có thể nói rằng: “Hôm nay, ở trên bàn ăn có nhiều thức ăn ngon mẹ mới nấu. Nhìn vào thức ăn con có thể thấy ba, thấy anh hai, thấy em gái. Con rất hạnh phúc để ngồi với nhau và ăn cơm với nhau trong khi nhiều người đang đói khổ thiếu thốn. Con thấy trân quý và biết ơn vô cùng.”

Có rất nhiều pháp môn thực tập mà ta có thể ứng dụng để nâng cao ý thức trong đời sống hàng ngày, ví dụ như thở khi có điện thoại reo, đi thiền hành từ nơi này đến nơi khác, thiền tập trong khi giúp đỡ trẻ em đói hoặc những nạn nhân chiến tranh. Đạo Bụt phải được ứng dụng khắp nơi trong đời sống hàng ngày. Thiền có ích gì nếu nó không dính líu gì đến đời sống hàng ngày của ta?

Chúng ta có thấy hạnh phúc trong khi thở và mỉm cười không? Tất cả những điều kiện hạnh phúc đã có sẵn đó. Chúng ta có thể thực tập bất cứ ở đâu, trong tu viện, trong thiền đường, trong công viên, dọc bờ sông hay ở nhà. Mỗi gia đình nên có một phòng thở. Chúng ta có phòng ngủ, phòng ăn, phòng khách, nhà bếp, thì tại sao ta không làm được phòng thở? Thở rất quan trọng.

Chúng ta có thể trang trí phòng thở thật đơn giản, không quá tối mà cũng không quá sáng. Chúng ta có thể đặt một chiếc chuông nhỏ có âm thanh hay, một vài cái gối ngồi hay vài chiếc ghế, một lọ hoa để nhắc nhở chúng ta trở về với chính mình. Các em nhỏ có thể cắm hoa trong chánh niệm, theo dõi hơi thở và mỉm cười. Nếu nhà mình có năm người thì có năm cái gối  ngồi hay năm chiếc ghế. Có thể thêm vài cái cho khách. Thỉnh thoảng mình có thể mời ai đó đến ngồi thở với mình vài ba phút.

Nếu muốn chúng ta có thể đặt một bức tượng hay một bức ảnh của Bụt. Tuy nhiên có nhiều tượng Bụt không bình an và thanh thoát lắm. Có thể các nghệ nhân khi làm tượng không buông thư đủ, không theo dõi hơi thở và mỉm cười. Nếu chúng ta muốn thỉnh Bụt về nhà thì phải chọn tượng cho đẹp. Bụt phải bình an, thanh thoát, mỉm cười, buông thư và hạnh phúc. Nếu nhìn vào Bụt mà ta không thấy thoải mái, tươi vui và hạnh phúc thì đó không phải là một tượng Bụt đạt tiêu chuẩn. Nếu chưa tìm được một tượng Bụt đẹp thì chúng ta phải đợi. Chúng ta có thể cắm một bình hoa thay cho tượng Bụt. Hoa là Bụt. Hoa cũng có tính Bụt.

Có nhiều gia đình, sau giờ ăn sáng, trẻ con vào phòng ngồi xuống thở vào thở ra mười lần trước khi đi học. Thực tập này rất hay. Nếu con ta không thích thở mười lần thì có thể thở ba lần. Bắt đầu một ngày mới với tính Bụt trong lòng như thế rất mầu nhiệm và nuôi dưỡng. Nếu buổi sáng ta làm Bụt và ta cố gắng nuôi dưỡng đức Bụt ấy trong ta suốt ngày thì chiều tối về ta vẫn có khả năng mỉm cười. Đức Bụt vẫn còn đó trong ta.

Khi nào bực bội, bức bối, bất an thì ta đừng nói hay làm gì cả. Chỉ theo dõi hơi thở và thong thả đi vào phòng thở. Phòng thở cũng tượng trưng cho một cõi tịnh độ bên trong của ta, vì vậy mà ta có thể vào đó bất cứ lúc nào ta cần, cho dù khi ta không có ở nhà. Tôi có một người bạn mà hễ lúc nào bất an, bực bội là anh ta đi vào phòng thở. Ngồi xuống một cách cung kính, theo dõi hơi thở vào ra ba lần rồi thỉnh chuông và đọc thi kệ. Tức thì anh ta thấy khỏe ngay. Nếu muốn ngồi lâu hơn thì anh ta ngồi lại thêm. Có khi vợ anh đang nấu ăn và nghe chuông cũng trở về nấu ăn trong chánh niệm. Những lúc như thế cô ta rất biết ơn chồng. Cô nói: “Anh rất tuyệt vời, rất khác với những người khác. Anh biết làm chủ cơn giận của mình.” Lúc đó, nếu cô ta đang bực bội, giận dữ thì cô cũng ngưng nấu ăn, đi vào phòng thở ngồi chung với chồng. Đó là một hình ảnh rất đẹp, đẹp hơn bất cứ một bức tranh đắt giá nào. Thực tập như thế sẽ gây ảnh hưởng tốt đến người khác. Và đó là một bài thuyết pháp không lời. Khi con ta bất an, có những cảm xúc mạnh đi lên, ta không cần phải nói: “Đi vào phòng thở đi.” Ta chỉ cần đến nắm tay con, cùng đi vào phòng thở và ngồi yên lặng với nhau. Đây là cách giáo dục con chế tác bình an hay nhất.

Mở đầu một ngày bằng ý thức ‘trong ta có Bụt’ rất đẹp. Mỗi khi thấy mình sắp từ bỏ Bụt mà đi thì hãy ngồi xuống, thở nhẹ nhàng cho đến khi trở về được với chính mình. Tôi đề nghị các bạn làm ba điều. Thứ nhất là tạo một phòng thở trong gia đình, thứ hai là tập thở chánh niệm và ngồi thiền với con vài phút vào mỗi sáng, thứ ba là đi thiền hành với con trước khi đi ngủ,  chỉ mười phút thôi cũng đủ. Điều này rất quan trọng, có thể làm thay đổi cả một nền văn minh của chúng ta.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tương tức

 

Sự gặp gỡ giữa đạo Bụt và Tây phương rất quan trọng và lý thú. Xã hội Tây phương có những giá trị đáng kể như tinh thần dân chủ, tự do nhận thức và cách nhìn nhận vấn đề rất khoa học. Sự gặp gỡ giữa đạo Bụt và những giá trị này đã cống hiến cho nhân loại nhiều điều rất mới mẻ và thú vị. Chúng ta hãy nhìn vào vài ví dụ điển hình. Máy in được phát minh ra ở Trung Quốc và loại dây thép chuyển động (movable metal type) được phát minh ở Hàn Quốc, nhưng khi người Tây phương bắt đầu sử dụng thì nó trở thành một phương tiện truyền thông quan trọng. Thuốc súng (Gun power) được người Trung Quốc khám phá nhưng nó đã làm thay đổi bộ mặt của Trái đất khi người Tây phương bắt đầu sản xuất rộng lớn. Cây trà được người châu Á khám phá ra nhưng khi đưa qua Tây phương thì nó trở thành trà túi lọc (tea bags). Khi kết hợp với cách nhìn và sáng tạo của Tây phương thì nguyên lý bất nhị của đạo Bụt sẽ làm thay đổi toàn bộ cách sống của chúng ta. Vai trò của đạo Bụt ở Hoa Kỳ trong việc đưa đạo Bụt vào gặp gỡ nền văn minh Tây phương là rất quan trọng đối với tất cả chúng ta.

Đạo Bụt không phải chỉ có một pháp môn duy nhất mà có rất nhiều pháp môn. Đạo Bụt đi vào một nước nào thì nước đó hình thành nên một đạo Bụt mới. Lần đầu tiên viếng thăm tăng thân Phật giáo ở nước này (nước Mỹ) tôi nói với một người bạn: “Xin bạn hãy chỉ cho tôi đức Bụt của bạn, đức Bụt của nước Mỹ bạn”. Câu hỏi của tôi đã làm người bạn ngạc nhiên, bởi vì người đó nghĩ rằng Bụt ở đâu thì chẳng vậy, có  khác gì nhau đâu. Kỳ thực, Trung Quốc có Bụt Trung Quốc, Tây Tạng có Bụt Tây Tạng… Và giáo lý cũng vậy, cũng khác nhau. Giáo lý của đạo Bụt nước này khác với giáo lý của đạo Bụt nước khác. Đạo Bụt để được coi là đạo Bụt thì đạo Bụt phải phù hợp và thích ứng với tâm lý, văn hóa của xã hội nơi mà đạo Bụt ấy đang thâm nhập và phụng sự.

Câu hỏi của tôi rất đơn giản: “Bồ tát của các bạn ở đâu? Các bạn hãy chỉ cho tôi một Bồ tát Hoa Kỳ.” Người bạn của tôi không có khả năng làm điều đó. “Hãy chỉ cho tôi một thầy tu Hoa Kỳ, một sư cô Hoa Kỳ, hay một trung tâm đạo Bụt Hoa Kỳ”. Tất cả những điều này chưa biểu hiện. Chúng ta có thể học hỏi từ những truyền thống đạo Bụt khác, nhưng chúng ta cũng nên sáng tạo ra một đạo Bụt cho chính mình. Tôi tin rằng với sự thực tập thâm sâu, các bạn sẽ sớm có được một đạo Bụt cho chính mình. Tôi xin giới thiệu cho các bạn một hình thức đạo Bụt có thể được chấp nhận ở Tây phương. Trong 20 năm qua chúng tôi đã thí nghiệm hình thức đạo Bụt này và thấy phù hợp với xã hội Tây phương. Đó là giới Tiếp Hiện.

Giới Tiếp hiện được hình thành trong chiến tranh Việt Nam. Nó bắt nguồn từ phái thiền Lâm Tế, thuộc thế hệ thứ 42. Đó là hình thức đạo Bụt nhập thế hay còn gọi là đạo Bụt dấn thân – đạo Bụt được ứng dụng vào trong đời sống hàng ngày, trong xã hội chứ không chỉ có trong tu viện hay trong chùa chiền. Tiếp Hiện là hai từ Hán Việt.

‘Tiếp’ nghĩa là tiếp xúc. Ý niệm đạo Bụt dấn thân cũng đã nằm trong từ tiếp này. Trước hết là tiếp xúc với chính mình. Trong xã hội hiện đại hóa, hầu hết chúng ta không muốn tiếp xúc với tự thân. Hàng ngày, chúng ta tiếp xúc với rất nhiều thứ như tôn giáo, thể thao, chính trị, sách báo… nhưng lại muốn quên đi bản thân mình. Bất cứ lúc nào rảnh rỗi, ta cũng muốn cho một cái gì đó đi vào trong ta, ví dụ như mở ti vi lên và để những chương trình ti vi đi vào xâm chiếm tâm thức ta. Vì vậy mà ‘Tiếp’ trước hết nghĩa là tiếp xúc với tự thân để tìm ra nguồn tuệ giác, hiểu biết và thương yêu trong mỗi chúng ta. Tiếp xúc với tự thân là ý nghĩa của thiền, là ý thức được những gì đang xảy ra trong thân, tâm và cảm thọ. Đó là ý nghĩa thứ nhất của từ ‘Tiếp’.

‘Tiếp’ cũng có nghĩa là tiếp xúc với các vị Bụt và Bồ tát, những bậc đã giác ngộ, chứa đầy hiểu biết và thương yêu. Tiếp xúc với tự thân là tiếp xúc với nguồn tuệ giác và từ bi ấy. Các em nhỏ cũng hiểu được rằng Bụt ở trong chính tự thân chúng. Một bé trai đã tuyên bố vào ngày đầu tiên của khóa tu ở Ojai – Cali là ‘con là một đức Bụt’. Tôi nói với em rằng điều đó đúng một phần, vì có khi em là Bụt nhưng có khi em không là Bụt. Là Bụt hay không phụ thuộc vào mức độ tỉnh thức nơi em.

Nghĩa thứ hai của từ ‘Tiếp’ là tiếp tục, là  kéo dài lâu hơn. Nghĩa là sự nghiệp hiểu  biết và thương yêu mà chư Bụt và chư vị Bồ tát đã khởi xướng phải được tiếp tục. Điều này chỉ thực hiện được khi chúng ta tiếp xúc được với tự thân. Cũng giống như khi đào giếng, chúng ta đào sâu xuống đất cho đến khi nào tìm thấy được mạch nước ngầm thì giếng nước sẽ đầy. Khi chúng ta tiếp xúc với tự tâm mình thì nguồn hiểu biết, thương yêu sẽ hiện ra. Đây là nguồn gốc căn bản của mọi vấn đề. Tiếp xúc với tự tâm (chân tâm) để duy trì sự nghiệp của chư Bụt và chư Bồ tát.

‘Hiện’ nghĩa là hiện tại. Chúng ta phải có mặt trong giây phút hiện tại bởi vì chỉ có hiện tại là có thật, chỉ có giây phút hiện tại là ta có thể sống được. Ta thực tập không phải để cho tương lai hay để lên thiên đường, mà thực tập để có bình an, có tình thương và niềm vui sống ngay bây giờ. ‘Hiện’ cũng có nghĩa là hiện thực, là biểu hiện, là chứng nghiệm. Tình thương và sự hiểu biết không phải là những khái niệm mơ hồ hay những lời nói suông mà phải được chứng nghiệm trong tự thân và trong xã hội. Đó là ý nghĩa của từ ‘hiện’.

Rất khó để tìm được từ tiếng Anh hay tiếng Pháp có thể chuyên chở được ý nghĩa của hai từ ‘tiếp hiện’. Trong kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka) có từ Interbeing (Tương tức) chuyên chở được tinh thần này, vì vậy mà ta tạm dịch từ Tiếp hiện là Interbeing. Trong kinh, từ tương tức là một từ ghép, nghĩa là có trong nhau, là nhau. Interbeing là một từ mới trong tiếng Anh, hy vọng nó sẽ được chấp nhận và được đưa vào từ điển. Chúng ta đã nói về cái tất cả trong cái một và cái một chứa đựng cái tất cả. Nhìn vào tờ giấy ta thấy mọi thứ như mây, rừng, người tiều phu… Vì có tôi đây nên có anh đó. Vì có anh đó nên có tôi đây. Đó là ý nghĩa của Tương tức. Chúng ta có trong nhau, là nhau, tương tức nhau. Dòng tu tiếp hiện có hai chúng. Chúng chủ trì và chúng đồng sự. Chúng chủ trì bao gồm những người nguyện thực tập 14 giới Tiếp hiện. Trước khi thọ 14 giới tiếp hiện phải thực tập ít nhất một năm. Ngay sau khi thọ giới, giới tử phải sắp xếp, tổ chức như thế nào để có thể tiếp tục thực tập với tăng thân ngay xung quanh mình. Tăng thân đó được gọi là chúng đồng sự, nghĩa là những người này cũng thực tập như vậy nhưng chưa thọ giới, chưa trở thành thành viên của chúng chủ trì.

Những người trong chúng chủ trì cũng không mang một hình thức đặc biệt nào cả. Họ không cạo đầu, hay mang sắc phục đặc biệt. Điều làm cho họ khác với những người khác là họ cần thực hiện thêm một số điều lệ. Một trong số những điều lệ này là mỗi năm tham dự 60 ngày tu chánh niệm, liên tục hoặc chia ra thành nhiều đợt. Ví dụ nếu họ thực tập mỗi ngày chủ nhật thì họ đã có 52 ngày. Những người trong chúng đồng sự cũng có thể thực tập như vậy hoặc nhiều hơn cho dù họ không muốn thọ giới. Những người thuộc chúng chủ trì có thể chọn lựa sống độc thân hay lập gia đình.

Các thành viên phải tụng 14 giới ít nhất là mỗi hai tuần một lần. Có thể bắt đầu tụng Ba sự quay về và Hai lời hứa cho trẻ em. Hai lời hứa này là nền tảng của tất cả những giới tướng của người lớn. Lời hứa thứ nhất là: “Con nguyện nuôi lớn lòng từ bi để thương yêu và bảo vệ sự sống của mọi người, mọi loài, cỏ cây và đất đá.” Lời hứa thứ hai là: “Con nguyện nuôi lớn sự hiểu biết để thương yêu và sống hài hòa với mọi người, mọi loài, cỏ cây và đất đá.” Vì vậy hai lời hứa này là từ bi và sự hiểu biết. Đó là tinh yếu của đạo Bụt. Sau khi tụng Ba sự quay về và Hai lời hứa, các em có thể ra ngoài chơi và người lớn tiếp tục tụng 14 giới.

Thông thường các giới tướng bắt đầu bằng những lời khích lệ, cảnh báo liên quan đến thân như không giết hại, trộm cắp… Nhưng giới tiếp hiện thì ngược lại, bắt đầu bằng những giới liên quan đến Tâm. Trong đạo Bụt, tâm là gốc của mọi thứ. Đây là giới tướng của 14 giới tiếp hiện.

Giới thứ nhất: Thái độ cởi mở

Ý thức được những khổ đau do thái độ cuồng tín và thiếu bao dung gây ra, con xin nguyện thực tập để không bị vướng mắc vào bất cứ một chủ nghĩa nào, một lý thuyết nào, một ý thức hệ nào, kể cả những chủ thuyết Phật giáo. Con nguyện nhìn nhận những giáo nghĩa Bụt dạy như những pháp môn hướng dẫn thực tập để làm phát khởi tuệ giác và từ bi mà không phải là những chân lý để thờ phụng và bảo vệ, nhất là bảo vệ bằng những phương tiện bạo động. Thấy được rằng niềm cuồng tín dù dưới bất kỳ hình thức nào cũng đều bắt nguồn từ cách tư duy lưỡng nguyên và kỳ thị, con xin nguyện tập nhìn với thái độ cởi mở và với tuệ giác tương tức để có thể chuyển hóa tập khí vướng mắc vào giáo điều và năng lượng bạo động trong con và trên thế giới.

Đây là tiếng gầm sư tử lớn, là đặc trưng của đạo Bụt. Người ta thường nói rằng Giáo Pháp chỉ là chiếc bè giúp người qua sông, là ngón tay chỉ mặt trăng. Đừng nhầm lẫn ngón tay là mặt trăng, chiếc thuyền là bờ. Nếu chấp chặt vào chiếc bè hay vào ngón tay, ta sẽ đánh mất mọi thứ. Chúng ta không thể nhân danh ngón tay hay chiếc bè mà giết hại lẫn nhau. Loài người chúng ta quý hơn bất kỳ một học thuyết hay một ý thức hệ nào.

Đạo Bụt không phải như vậy. Một trong những lời dạy căn bản nhất của Bụt là:  “Sự sống là cái quý giá nhất”. Đó là câu trả lời cho vấn đề chính ‘chiến tranh và hòa bình’. Hòa bình chỉ có thể đạt được khi chúng ta không kẹt vào các quan điểm và chủ thuyết; vượt thoát được những cuồng tín và giáo điều. Càng thực tập giới này chúng ta càng thấy rõ thực tại và càng hiểu được lời Bụt dạy hơn.

Giới thứ hai: Phá bỏ kiến chấp

Ý thức được những khổ đau do kiến chấp và vọng tưởng gây ra, con xin nguyện thực tập để phá bỏ thái độ hẹp hòi và cố chấp, để có thể mở lòng ra mà đón nhận kinh nghiệm và tuệ giác của kẻ khác, và nhờ đó thừa hưởng được nhiều lợi lạc từ trí tuệ tập thể. Con biết rằng những kiến thức hiện giờ con đang có không phải là những chân lý bất di bất dịch. Tuệ giác chân thật chỉ có thể đạt được do sự thực tập quán chiếu và lắng nghe, bằng sự buông bỏ tất cả mọi ý niệm mà không phải bằng sự chứa chấp kiến thức khái niệm. Con nguyện suốt đời là một người đi tìm học và thường trực sử dụng chánh niệm để quán chiếu sự sống trong con và xung quanh con trong từng giây phút.

Giới này phát xuất từ giới thứ nhất. Hãy nhớ câu chuyện người cha không chịu mở cửa cho đứa con trai của mình vì nghĩ rằng con của mình đã chết. Đức Bụt nói: “Nếu chúng ta nắm bắt một cái gì đó và cho đó là chân lý tuyệt đối, rồi kẹt vào đó thì khi sự thật đến gõ cửa, chúng ta cũng không chịu mở cửa cho sự thật đi vào. Một nhà khoa học với tinh thần cởi mở, có khả năng chất vấn những kiến thức của khoa học hiện tại thì sẽ có cơ hội khám phá ra sự thật cao hơn. Người Phật tử cũng vậy, trong khi thiền tập, trong khi đi tìm sự hiểu biết cao hơn, phải đặt câu hỏi với những cái thấy hiện đang có của mình liên quan đến thực tại. Phương pháp để đạt tới sự hiểu biết là vượt thoát những kiến thức, ý niệm. Không kẹt vào các ý niệm là giáo lý căn bản giúp ta đạt tới sự hiểu biết lớn.

Giới thứ ba: Tự do nhận thức

Ý thức được những khổ đau do sự cưỡng bức người khác vâng theo cái thấy của mình, con nguyện không ép buộc bất cứ một ai, kể cả trẻ em, đi theo quan điểm của con, bằng bất cứ cách nào: uy quyền, sự mua chuộc, sự dọa nạt, sự tuyên truyền và giáo dục nhồi sọ. Con nguyện tôn trọng sự khác biệt của kẻ khác và quyền tự do nhận thức của họ. Tuy nhiên con biết con phải sử dụng những phương tiện đối thoại từ bi và ái ngữ để giúp người khác cởi bỏ cuồng tín và cố chấp.

Giới này cũng xuất phát từ giới thứ nhất. Đây là tinh thần tự do nhận thức. Tôi nghĩ người Tây phương có thể chấp nhận được bởi vì các bạn hiểu được nó. Nếu chúng ta có khả năng tìm cách ứng dụng giới này trên toàn cầu thì thế giới sẽ rất hạnh phúc.

Giới thứ tư: Ý thức về khổ đau

Ý thức rằng tiếp xúc và quán chiếu  về bản chất của khổ đau có thể giúp con có thêm hiểu biết và phát khởi tâm từ bi, con nguyện thực tập quay về với tự thân và sử dụng năng lượng chánh niệm để nhận diện, chấp nhận, ôm ấp và lắng nghe những nỗi khổ niềm đau trong con. Thay vì trốn tránh thực tại khổ đau và tìm cách khỏa lấp niềm đau trong con bằng sự tiêu thụ, con sẽ hết lòng thực tập hơi thở ý thức và bước chân chánh niệm để nhìn sâu vào những gốc rễ của khổ đau. Con   ý thức rằng con chỉ có thể tìm thấy con đường thoát khổ khi nào con thấu hiểu được nguồn gốc của khổ đau. Và một khi thấu hiểu được khổ đau của tự thân thì con mới có khả năng hiểu được những khổ đau của người khác. Bằng những phương tiện tiếp xúc, tường thuật, hình ảnh, âm thanh, con nguyện thường xuyên tự đánh thức mình và đánh thức những người xung quanh về sự có mặt của những đau khổ hiện thực khắp nơi trên thế giới. Con nguyện tìm tới với những kẻ khổ đau để hiểu biết được tình trạng của họ và để giúp đỡ họ.

Bài pháp thoại đầu Bụt dạy cho năm anh em Kiều Trần Như ở vườn Lộc Uyển là Tứ Thánh Đế (Bốn sự thật cao quý). Sự thật thứ nhất là khổ đau. Chúng ta phải ý thức về nỗi khổ đau của ta. Nếu không có bệnh tật ốm đau, không có khó khăn đau khổ thì ta sẽ không tìm ra được nguyên nhân của chúng, không tìm ra được những phương thuốc hữu hiệu giúp ta chữa lành bệnh.

Đứng về phương diện nào đó thì Mỹ là một xã hội khép kín. Người Mỹ không ý thức nhiều về những gì đang xảy ra trên thế giới. Cuộc sống của họ quá bận rộn, cho dù họ có xem ti vi hay đọc báo để biết thêm tin tức, và những tin tức, hình ảnh bên ngoài có hiện ra trong họ thì họ cũng không thực sự tiếp xúc được với chúng. Tôi hy vọng các bạn sẽ tìm cách nuôi dưỡng ý thức về những khổ đau hiện thực đang có mặt khắp nơi trên thế giới. Cố nhiên trong nước Mỹ cũng có những nỗi khổ đau và chúng ta phải tiếp xúc với những nỗi khổ đau ấy. Nhưng hầu hết những nỗi khổ đau của Tây phương thì không quá trầm trọng và dai dẳng. Nó có thể biến mất khi chúng ta thấy và hiểu được những nỗi đau khổ trầm kha của các dân tộc khác. Đôi khi ta khổ đau vì những yếu tố tâm lý. Ta không thể vượt thoát được chính mình, vì vậy mà ta khổ. Do đó, nếu chúng ta tiếp xúc được với những nỗi khổ đau của thế giới và những nỗi khổ đau ấy làm ta chấn động, xót thương thì có thể chúng ta sẽ có nhiều động lực để tìm tới và giúp đỡ những người đang lâm vào tình trạng đau khổ đó và như thế nỗi khổ của ta sẽ có cơ hội chấm dứt.

Giới thứ năm: Nếp sống lành mạnh và từ bi

Ý thức rằng hạnh phúc chân thật chỉ thật sự có mặt khi nào các yếu tố an ổn, vững chãi, thảnh thơi và từ bi có mặt, con nguyện không tích lũy tiền bạc và của cải trong khi nhiều người đang đói khổ thiếu thốn, không đặt danh vọng, quyền hành, giàu sang và sự hưởng thụ dục lạc làm mục tiêu của đời mình vì con biết những thứ ấy sẽ đem lại cho con nhiều khổ đau và tuyệt vọng. Con nguyện thực tập nhìn sâu vào cách con nuôi dưỡng thân tâm bằng bốn loại thực phẩm: đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực và thức thực. Con nguyện không chơi bài bạc, không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy và bất  cứ một sản phẩm nào có độc tố, trong đó có mạng lưới toàn cầu, trò chơi điện tử, phim ảnh, các chương trình truyền thanh, truyền hình, sách báo và cả chuyện trò, vì con biết rằng những thứ ấy có thể gây tàn hại trên thân tâm con cũng như trên thân tâm của cộng đồng. Con nguyện thực tập tiêu thụ như thế nào để nuôi dưỡng được lòng từ bi, sự lành mạnh và niềm vui sống cho thân tâm con cũng như cho gia đình, xã hội và cả cho Trái đất.

Kinh Tám Điều Giác Ngộ của Các Bậc Đại Nhân nói rằng: “Vì tâm ta rong ruổi chạy theo danh lợi không bao giờ biết chán, cho nên tội lỗi ta cũng theo đó mà càng ngày càng lớn. Các bậc Bồ tát thì khác hẳn, họ luôn luôn nhớ nghĩ đến phép tri túc, an vui sống với đời đạm bạc để hành đạo và xem sự nghiệp duy nhất của mình là sự thực hiện trí tuệ giác ngộ.” Trong xã hội hiện đại của chúng ta, sống đơn giản nghĩa là gìn giữ tự do của chính mình, không để cho những tiêu cực của xã hội, những cơ chế kinh tế thị trường lôi kéo ta, tránh tình trạng căng thẳng, trầm cảm, nhồi máu cơ tim và những căn bệnh khác của thời đại. Chúng ta phải cố gắng hết sức để tránh những áp lực và lo lắng mà hầu hết xã hội hiện đại nào cũng gặp phải. Cách giải quyết duy nhất là ta phải tiêu thụ ít lại. Có khả năng sống đơn giản và hạnh phúc thì chúng ta sẽ có khả năng giúp người khác hay hơn và nhiều hơn.

Giới thứ sáu: Chăm sóc cơn giận

Ý thức được rằng sân hận và oán thù có tác dụng cắt đứt truyền thông giữa người với người và tạo ra nhiều khổ đau cho   cả hai phía, con nguyện học hỏi phương pháp chăm sóc năng lượng sân hận và oán thù khi chúng phát khởi trên ý thức con; cũng như phương pháp nhận diện và chuyển hóa hạt giống của sân hận và oán thù trong chiều sâu tâm thức con. Con nguyện tập luyện để mỗi khi cơn giận hoặc sự bực tức phát khởi, con sẽ không nói gì và làm gì cả mà chỉ thực tập hơi thở chánh niệm hoặc đi thiền hành để nhận diện và nhìn sâu vào bản chất của các tâm niệm sân hận và oán thù ấy. Con ý thức rằng gốc rễ của các cơn giận đó không phải ở bên ngoài con mà nằm ngay trong nhận thức sai lầm của con và nơi sự thiếu hiểu biết về khổ đau của chính con và của người kia. Bằng phương pháp quán chiếu về vô thường, con sẽ có thể nhìn lại chính con và nhìn lại người mà con nghĩ đã gây nên tâm niệm sân hận và oán thù trong con bằng con mắt từ bi và nhận ra rằng mối liên hệ giữa con và người đó quý giá biết nhường nào. Con cũng nguyện thực tập Chánh Tinh Tấn để nuôi dưỡng khả năng hiểu biết và thương yêu, khả năng chế tác niềm vui và lòng bao dung, không kỳ thị trong con. Nhờ đó, con sẽ dần dần chuyển hóa những bạo động, hận thù, sợ hãi trong con và giúp cho những người khác cũng làm được như vậy.

Chúng ta phải ý thức được cơn giận và sự bực tức khi chúng phát khởi, và tìm hiểu nguyên nhân của chúng. Khi hiểu được thì chúng ta có khả năng tha thứ và thương yêu hơn. Quán chiếu về từ bi nghĩa là quán chiếu về sự hiểu biết. Nếu không hiểu thì chúng ta không thể thương được.

Trong kinh Pháp Hoa (Lotus Sutra) chương Bồ Tát Quan Thế Âm có câu: “Nhìn mọi loài bằng mắt thương”. Chúng ta có thể viết câu này và treo trong phòng khách để thực tập. Câu này tiếng Hán chỉ có năm từ: “Từ nhãn thị chúng sinh”. Lần đầu tiên đọc kinh Pháp Hoa, khi đọc đến năm chữ này lòng tôi chấn động. Tôi ý thức rằng năm chữ này đủ để hướng dẫn tôi đi trọn đời.

Giới thứ bảy: Hiện pháp lạc trú

Ý thức được rằng sự sống chỉ có thể thật sự có mặt trong giây phút hiện tại, con nguyện tập luyện để có thể sống sâu sắc từng giây phút trong cuộc sống hàng ngày của con. Con nguyện không để cho những hối tiếc về quá khứ, những lo lắng về tương lai và những tham dục, giận hờn và ganh tỵ đối với những gì đang xảy ra trong hiện tại lôi kéo con và làm cho con đánh mất sự sống mầu nhiệm. Con xin nguyện thực tập giáo lý hiện pháp lạc trú, sử dụng hơi thở và nụ cười chánh niệm để tiếp xúc với những gì đang diễn ra trong giây phút hiện tại và tiếp xúc với những gì mầu nhiệm, tươi mát và lành mạnh trong con và chung quanh con dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Nhờ đó, con có thể nuôi lớn những hạt giống an lành, hiểu biết và thương yêu trong con để làm động lực chuyển hóa và trị liệu trong chiều sâu tâm thức. Con ý thức rằng hạnh phúc chân thật được phát sinh từ chính tự tâm và cách nhìn của con chứ không phải từ những điều kiện bên ngoài, và con có thể sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại bằng cách nhận ra rằng con đã có quá đủ những điều kiện hạnh phúc.

Giới này là trái tim của 14 giới, là giới quan trọng nhất: sống với ý thức và an trú trong giây phút hiện tại. Không có giới này, không có chánh niệm, thì những giới khác không thể hoàn hảo được. Giống như cái đòn gánh vậy. Ở các nước châu Á người ta dùng đòn gánh để gánh đồ. Người ta treo đồ đạc trên hai đầu đòn gánh và đặt đoạn giữa chiếc đòn gánh trên vai mà đi. Giới này cũng giống như phần giữa của chiếc đòn gánh mà ta gánh trên vai vậy.

Giới thứ tám: Xây dựng đoàn thể tu học chân chính và duy trì sự truyền thông

Ý thức được rằng những khó khăn trong việc truyền thông giữa người với người luôn luôn đưa tới ngăn cách và khổ đau, con nguyện thực tập lắng nghe bằng tâm từ bi và nói năng bằng lời ái ngữ. Ý thức rằng một đoàn thể chân thật được xây dựng trên nền tảng không kỳ thị và hài hòa trong quan điểm, tư duy cũng như lời nói, con nguyện thực tập chia sẻ những hiểu biết và kinh nghiệm của con với những thành viên khác trong đoàn thể để cùng nhau đi đến một cái thấy chung.

Con nguyện học hạnh lắng nghe chăm chú mà không phán xét, không phản ứng, không nói ra bất cứ một lời nào có thể tạo nên sự bất hòa và có thể làm tan vỡ đoàn thể. Mỗi khi có khó khăn xảy ra,  con nguyện ở lại cùng tăng thân và thực tập nhìn lại chính mình cũng như nhìn  lại những người khác để tìm ra tất cả những nguyên nhân và điều kiện đã tạo nên tình trạng khó khăn, trong đó có cả những tập khí của chính con. Con sẽ nhận trách nhiệm về những gì con đã nói và đã làm, những gì có thể đã góp phần tạo nên sự bất hòa và tìm cách duy trì được sự truyền thông. Con sẽ không hành xử như một nạn nhân mà sẽ cố gắng hết sức để giải quyết mọi vụ bất hòa, dù lớn dù nhỏ.

Bây giờ chúng ta đi đến phần thứ hai của 14 giới liên quan đến lời nói. Bảy giới đầu thuộc về tâm (ý), hai giới tiếp theo thuộc về lời nói (khẩu) và năm giới sau cùng thuộc về thân thể (thân). Giới thứ tám này nói về sự hòa giải để đem lại an lạc không chỉ cho gia đình mà còn cho xã hội. Để giúp hóa giải những cuộc xung đột, chúng ta phải tiếp xúc với cả hai bên. Chúng ta phải vượt thoát những xung đột trong lòng. Nếu còn xung đột thì khó mà hòa giải được. Chúng ta phải có cái nhìn bất nhị để lắng nghe cả hai phía để hiểu được tình trạng của họ. Thế giới cần những con người như thế, những con người có khả năng hiểu và thương cho công cuộc hòa giải.

Giới thứ chín: Ngôn ngữ chân thật và từ ái

Ý thức được rằng lời nói có thể tạo ra khổ đau hay hạnh phúc, con xin nguyện thực tập sử dụng lời nói chân thật, từ ái và có tính xây dựng. Con chỉ sử dụng những lời nói nào có thể mang lại niềm tự tin, an vui và hy vọng, những lời chân thật có tác dụng hòa giải và mang lại an lạc cho tự thân con cũng như giữa mọi người với nhau. Con nguyện thực tập ái ngữ và lắng nghe để giúp con và những người khác chuyển hóa khổ đau và tìm ra con đường vượt thoát tình trạng khó khăn đó. Con nguyện không nói dối để mưu cầu tài lợi và sự kính phục, không nói những lời gây chia rẽ và căm thù. Con xin nguyện bảo vệ hạnh phúc và sự hòa hợp của tăng thân bằng cách tránh nói lỗi của người khác khi họ vắng mặt  và luôn đặt câu hỏi về tính chính xác của những tri giác mà con đang có. Con nguyện chỉ nói với mục đích muốn hiểu rõ và giúp chuyển hóa tình trạng. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án những gì con không biết rõ. Con nguyện can đảm nói ra sự thật về những tình trạng bất công, dù hành động này có thể gây khó khăn cho con hay mang lại những đe dọa cho sự an thân của mình.

Lời nói có thể tạo ra tình thương, niềm tin và hạnh phúc; nhưng lời nói cũng có thể tạo nên địa ngục. Chúng ta phải cẩn thận với những gì chúng ta nói. Nếu chúng ta có khuynh hướng nói nhiều thì chúng ta phải ý thức về điều đó và học nói ít lại. Ta phải ý thức về lời nói của ta và kết quả do lời nói đem lại. Chúng ta có một bài thi kệ, đọc lên trước khi nhấc điện thoại:

Tiếng đi ngoài ngàn dặm

Xây dựng niềm tin yêu

Mỗi lời là châu ngọc

 Mỗi lời là gấm thêu

Chúng ta phải nói những lời nói có tính cách xây dựng. Khi nói chúng ta phải tránh để đừng tạo ra sự hiểu lầm, hận thù hay ganh tỵ, trái lại phải làm tăng thêm sự hiểu biết, cảm thông, thương yêu và chấp nhận. Giới thứ chín cũng đòi hỏi sự thẳng thắn và can đảm. Có bao nhiêu người trong chúng ta đủ can đảm lên tiếng cho những tình trạng bất công mà có khi những lời nói của chúng ta có thể đe dọa đến tính mạng của chính mình?

Giới thứ mười: Bảo vệ và nuôi dưỡng tăng thân

Ý thức rằng mục đích và bản chất của một đoàn thể tu học là sự thực hiện tuệ giác và từ bi, con nguyện sẽ không bao giờ lợi dụng đạo Bụt và các đoàn thể giáo hội vào mục tiêu lợi dưỡng hoặc quyền bính, không biến các giáo đoàn thành những tổ chức hoạt động chính trị. Tuy nhiên, con nhận thức rằng một đoàn thể tu học phải có ý thức và thái độ rõ rệt về tình trạng áp bức, bất công xã hội, và tìm cách chuyển đổi các tình trạng ấy mà không cần và không nên dấn thân vào những cuộc tranh chấp phe phái. Con nguyện học nhìn với con mắt tương tức để thấy con và những người khác đều là những tế bào của cùng một tăng thân. Một khi đã là một tế bào thật sự của tăng thân, có khả năng chế tác ra Niệm, Định và Tuệ để nuôi dưỡng chính mình và nuôi dưỡng toàn thể tăng thân thì mỗi người trong chúng con cũng đồng thời là một tế bào của Phật thân. Chúng con nguyện tích cực xây dựng tình huynh đệ, đi với nhau như một dòng sông và thực tập để làm lớn thêm ba đức là trí đức, ân đức và đoạn đức, để thực hiện được sự nghiệp giác ngộ tập thể.

Điều này không có nghĩa là chúng ta phải im lặng trước những bất công xã hội, trái lại chúng ta phải hành động bằng ý thức sáng tỏ của mình và không đứng về một bên. Chúng ta phải nói ra sự thật mà không phải chỉ cân nhắc về những hậu quả chính trị. Nếu đứng về một bên, chúng ta sẽ đánh mất khả năng giúp giải quyết những cuộc xung đột.

Giới thứ mười một: Chánh mạng

Ý thức rằng thiên nhiên và xã hội con người đã bị tàn phá trầm trọng vì bạo động, bất công, con nguyện không sinh sống bằng những nghề nghiệp có thể gây tàn hại cho con người và thiên nhiên. Con sẽ làm mọi cách có thể để chọn những phương tiện sống nào có khả năng góp phần vào sự an lành của mọi loài trên Trái đất và có khả năng cho phép con thực hiện được lý tưởng từ bi và cứu khổ của đạo Bụt. Ý thức được về hiện thực của thế giới trên các mặt kinh tế, chính trị và xã hội, cũng như mối tương quan giữa con người với môi trường sinh thái, con nguyện hành xử một cách có trách nhiệm với tư cách một người tiêu thụ và một công dân. Con nguyện không đầu tư hay mua sắm những sản phẩm của những doanh nghiệp chuyên làm lợi cho một nhóm người trong khi tước đoạt môi trường và cơ hội sinh sống của những nhóm người khác.

Giới này rất khó thực tập. Nếu chúng ta đủ may mắn có một nghề nghiệp giúp ta thực hiện được lý tưởng từ bi và cứu khổ của đạo Bụt thì ta cũng vẫn phải tìm hiểu sâu thêm về nó. Nếu tôi là một người thầy giáo thì tôi rất hạnh phúc được giúp đỡ trẻ em bằng con đường lương thiện của tôi. Tôi hạnh phúc là mình không phải là một bác đồ tể giết heo, bò. Tuy nhiên con cái tôi lại ăn thịt do bác đồ tể kia làm và con cái của bác lại đến trường học với tôi. Con cái bác được thừa hưởng từ nghề nghiệp chánh mạng của tôi và con cái tôi được thừa hưởng từ nghề nghiệp của bác. Như thế chúng ta liên hệ rất mật thiết với nhau. Tôi không thể nói rằng nghề nghiệp của tôi hoàn toàn chánh mạng. Không thể được. Thực tập giới này là ta phải nhận ra và nâng cao ý thức về nghề nghiệp chánh mạng của cộng đồng.

Có thể chúng ta ăn chay hay ăn theo chế độ ăn kiêng, chỉ ăn rau quả, giảm bớt việc giết hại súc vật. Tuy nhiên chúng ta cũng không thể tránh được việc giết hại hoàn toàn. Khi uống một ly nước trong, có thể chúng ta cũng đã giết hại nhiều sinh vật nhỏ trong đó. Cho dù dĩa thức ăn của ta có chay tịnh đi nữa thì cũng có rất nhiều sinh vật bị chết trong ấy. Tôi ý thức rằng dĩa thức ăn chay của tôi không hoàn toàn chay tịnh, và tôi nghĩ rằng nếu Bụt có ăn chay thì Bụt cũng không thể tránh được điều này. Vấn đề là ta có nguyện đi theo hướng từ bi hay không. Nếu có thì chúng ta sẽ có khả năng giảm thiểu khổ đau của các loài sinh vật đến mức tối đa. Nếu tôi đi lạc đường, tôi phải tìm Sao Bắc Đẩu. Điều đó không có nghĩa là tôi muốn đến Sao Bắc Đẩu mà tôi chỉ muốn đi về hướng ấy.

Giới thứ mười hai: Tôn trọng sự sống

Ý thức được những khổ đau do chiến tranh và các cuộc xung đột tạo ra, con nguyện thực tập sống đời sống hàng ngày của con theo tinh thần bất hại, thương yêu và theo tuệ giác tương tức. Con nguyện góp phần vào công việc giáo dục hòa bình, làm môi giới trong chánh niệm và thực tập hòa giải trong phạm vi gia đình, cộng đồng, giữa những nhóm dân tộc và tôn giáo, quốc gia và quốc tế. Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán thành sự chém giết. Con nguyện sẽ không yểm trợ bất cứ một hành vi giết chóc nào trên thế giới, trong tư tưởng hoặc trong cách sống hàng ngày của con. Con cũng sẽ thường xuyên quán chiếu với tăng thân con để tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ sinh mạng, ngăn chặn chiến tranh và xây dựng hòa bình.

Ngân quỹ quốc phòng của các nước phương Tây lớn. Các cuộc nghiên cứu cho thấy rằng ngưng các cuộc chạy đua vũ trang chúng ta sẽ dư dả kinh phí để xóa đói giảm nghèo, xóa nạn mù chữ và nhiều căn bệnh khác trên thế giới. Chúng ta không chỉ áp dụng giới này đối với loài người mà còn đối với những loài sinh vật khác. Như chúng ta đã hiểu, không ai có thể thực tập giới này một cách hoàn hảo được, tuy nhiên cái cốt lõi của giới này là tôn trọng và bảo vệ sự sống tới mức tối đa. Nghĩa là ta không giết hại, không để kẻ khác giết hại. Điều này hơi khó. Tuy nhiên, những ai thực tập giới này phải hành động cho hòa bình để có hòa bình trong tự thân. Ngăn chặn chiến tranh tốt hơn nhiều so với tranh đấu chống lại chiến tranh. Chống lại chiến tranh đã là quá trễ rồi.

Giới thứ mười ba: Tôn trọng quyền tư hữu

Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cướp và bất công xã hội gây ra, con xin nguyện nuôi dưỡng lòng từ bi trong cách suy nghĩ, nói năng và hành động của con. Con xin học theo hạnh đại từ để đem niềm vui sống và an lạc cho mọi người và mọi loài, để chia sẻ thì giờ, năng lực và tài vật của con với những kẻ đang thật sự thiếu thốn. Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra. Con nguyện tôn trọng quyền tư hữu của kẻ khác, nhưng cũng nguyện ngăn ngừa kẻ khác không cho họ tích trữ và làm giàu một cách bất lương trên sự đau khổ của con người và của muôn loại.

“Ý thức những khổ đau do bất công xã hội gây ra”, giới thứ mười ba khuyến khích chúng ta xây dựng một xã hội lành mạnh hơn để con người có thể chung sống hạnh phúc được với nhau. Giới này liên quan đến giới thứ tư (Ý thức về khổ đau), giới thứ năm (Nếp sống lành mạnh và từ bi) và giới thứ mười một (Chánh mạng). Để hiểu được giới này một cách sâu sắc chúng ta phải quán chiếu cả ba giới kia.

“Ngăn ngừa kẻ khác không cho họ tích trữ và làm giàu một cách bất lương trên sự đau khổ của con người và của muôn loài” là trách nhiệm của những nhà lập pháp và những nhà chính trị. Tuy nhiên mỗi người trong chúng ta cũng phải hành động theo hướng ấy. Đứng về một phương diện nào đó, chúng ta rất gần với những người bị áp bức, chúng ta có thể bảo vệ quyền sống của họ và giúp họ tự bảo vệ, chống lại những tình trạng áp bức, bất công. Để cho người khác làm giàu trên sự đau khổ của con người và của muôn loài là điều mà chúng ta không nên và không thể làm. Là một tăng thân chúng ta phải ngăn chặn tình trạng ấy. Làm thế nào để đem lại công bằng cho xã hội là vấn đề mà chúng ta phải xem xét và quán chiếu. Hạnh nguyện cứu đời của các vị Bồ tát rất rộng lớn. Mỗi người trong chúng ta có thể phát nguyện ngồi trên những chiếc thuyền cứu nhân độ thế ấy. 

Giới thứ mười bốn: Tình thương đích thật

(Dành cho Tiếp Hiện Tại Gia)

Ý thức được rằng tình dục  và  tình  yêu là hai thứ khác nhau, rằng sự phối hợp giữa hai cơ thể do sự thúc đẩy của dục tình không những đã không thể giải tỏa được nỗi cô đơn mà còn tạo thêm nhiều khổ đau, chua cay và xa cách, con nguyện không ăn nằm với bất cứ ai không phải là vợ hay chồng của con. Ý thức được rằng thân và tâm là một, con nguyện học hỏi những phương pháp thích ứng để chăm sóc năng lượng ái dục trong con và nuôi lớn các tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả giúp làm tăng trưởng hạnh phúc của con và của người khác. Con ý thức được rằng hành động tà dâm sẽ gây ra khổ đau cho kẻ khác và cho chính con trong hiện tại và trong tương lai. Con biết muốn bảo vệ hạnh phúc của mình và của kẻ khác thì phải biết tôn trọng những điều mà mình và kẻ khác đã cam kết. Con nguyện sẽ làm mọi cách có thể để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa. Con sẽ đối xử với thân thể con một cách kính trọng và từ bi. Con nguyện thực tập nhìn sâu vào bốn loại thực phẩm và thường xuyên học hỏi bảo tồn tinh, khí và thần để thực hiện lý tưởng độ đời. Con cũng ý thức trọn vẹn trách nhiệm của con về sự cho ra đời những sinh mạng mới và thường xuyên quán chiếu về môi trường sinh hoạt trong tương lai của những sinh mạng này.

(Dành cho Tiếp Hiện Xuất Gia)

Ý thức được rằng lý tưởng xuất gia chỉ có thể thực hiện được với sự cắt bỏ hoàn toàn những ràng buộc đối với ái dục, con nguyện giữ mình thật tinh khiết, tự bảo vệ nếp sống phạm hạnh của con và hết lòng bảo vệ tiết hạnh của kẻ khác. Con biết cô đơn và khổ đau không thể nào được giải tỏa bằng dục tình mà chỉ có thể đượcchuyển hóa bằng sự thực tập Từ, Bi, Hỷ, Xả. Con biết hành động dâm dục sẽ làm tan vỡ cuộc đời xuất gia của con, làm hại đến cuộc đời của kẻ khác và không cho con thực hiện được lý tưởng cứu độ chúng sanh của mình. Con nguyện học hỏi những phương pháp thích ứng để chăm sóc năng lượng ái dục trong con. Con nguyện không ép uổng thân thể con, không đối xử với thân thể con một cách bạo động và khinh xuất, không xem thân thể chỉ như là một dụng cụ. Con nguyện bảo trọng thân thể con, nguyện thực tập nhìn sâu vào bốn loại thực phẩm và thường xuyên học hỏi bảo tồn tinh, khí, thần để đi tới trên đường thành tựu đạo nghiệp.

Có thể ta có cảm tưởng là giới này khuyến khích ta đừng có con, nhưng kỳ thực không phải vậy. Giới này chỉ khuyến khích ta ý thức những gì ta đang làm. Thế giới của chúng ta có đủ an toàn để cho những đứa con ta ra đời không? Nếu muốn cho con mình ra đời thì chúng ta phải làm gì đó cho thế giới, làm gì đó cho cuộc đời.

Giới này cũng liên quan đến chuyện sống độc thân, không gia đình. Theo truyền thống đạo Bụt thì người xuất sĩ phải sống đời sống độc thân,  ít nhất là vì ba lý do. Thứ nhất là vì vào thời Bụt các vị xuất sĩ thực tập hầu như suốt ngày. Các  vị xuất sĩ phải đi khất thực, tiếp xúc với những người trong thôn làng để thuyết pháp cho họ. Do đó, nếu người xuất sĩ có gia đình thì sẽ bận rộn và không thể thực hiện được lý tưởng của mình. Lý do thứ hai là người xuất sĩ phải gìn giữ và bảo tồn năng lượng để thiền định. Theo truyền thống tôn giáo và y học Đông phương thì con người có ba nguồn năng lượng, đó là tinh, khí thần. Tinh là nguồn năng lượng ta tiêu hao khi giao hợp. Khí là nguồn năng lượng tiêu tốn khi mình nói quá nhiều hay thở quá ít. Thần là nguồn năng lượng tiêu hao khi mình quá lo lắng hay ngủ không được. Nếu chúng ta tiêu hao quá nhiều ba nguồn năng lượng này thì chúng ta không đủ sức mạnh để thực hiện lý tưởng và thâm nhập thực tại. Người xuất sĩ thực tập giới này, sống nếp sống độc thân, không phải vì luân lý đạo đức mà để bảo tồn năng lượng. Những ai thực tập lâu năm sẽ hiểu được tầm quan trọng của việc bảo tồn ba nguồn năng lượng ấy.

Lý do thứ ba mà người xuất sĩ thực tập giới này là vì ý thức về những khổ đau của xã hội. Vào thời đại đó, mà ngay cả thời đại này cũng vậy, nếu đến Ấn Độ chúng ta sẽ thấy nhiều trẻ em đói khổ, thiếu thốn. Đói không có thức ăn để ăn, bệnh tật không có thuốc men để chữa trị. Trong khi đó phụ nữ lại sinh đẻ rất nhiều, có khi đến mười hay mười hai đứa con trong một gia đình mà lại không có khả năng nuôi dưỡng dù chỉ là hai hay ba đứa. “Đời là khổ”, đó là sự thật thứ nhất trong giáo lý Tứ Thánh Đế của đạo Bụt. Cho ra đời một đứa con là trách nhiệm rất lớn của chúng ta. Nếu chúng ta khá giả thì nuôi con có thể không có vấn đề. Nhưng nếu chúng ta nghèo khổ, thiếu thốn thì nuôi con quả là mối quan tâm lo lắng thực sự. Tái sinh trước hết là tái sinh trong con ta, vì con ta là sự tiếp nối của ta. Ta được tái sinh trong chúng. Chúng ta tiếp tục vòng luẩn quẩn khổ đau. Ý thức được việc cho ra đời những sinh mạng mới có thể làm cho chúng khổ đau, đức Bụt khuyến khích người xuất sĩ sống nếp sống độc cư, không gia đình và không có con. Suốt 2.600 năm qua các vị xuất sĩ trong nhiều nước đã đóng góp rất nhiều vào việc hạn chế gia tăng dân số. Điều này khá quan trọng.

Giới thứ mười bốn khuyến khích chúng ta tôn trọng thân thể của mình và duy trì nguồn năng lượng để thực hiện lý tưởng cứu độ chúng sanh của mình. Nguồn năng lượng này không những chỉ cần cho thiền định mà bất kỳ ta muốn làm điều gì để thay đổi tình trạng thế giới cũng cần nguồn năng lượng này.

Theo tôi thì cuộc cách mạng về tình dục (the liberation of sexual behavior) ở Tây phương đã mang lại một số kết quả, nhưng cũng gây nên một số vấn đề nan giải. Tự do quan hệ tình dục của người phụ nữ qua những phương pháp ngừa thai là một cái gì rất thực. Trong quá khứ những cô gái trẻ ở châu Á cũng như ở Tây phương đã gặp phải những khó khăn và thậm chí nhiều người đã tự tử khi phải mang thai ngoài ý muốn. Từ khi người ta khám phá ra được phương pháp ngừa thai thì những thảm kịch này đã được giảm xuống đến mức đáng kể. Tuy nhiên tự do quan hệ tình dục cũng gây ra nhiều vấn đề căng thẳng và rắc rối. Nhiều người bị trầm cảm một phần cũng vì lý do đó. Họ quan hệ tình dục chỉ để lấp đầy những nỗi cô đơn trống vắng trong lòng mà không phải xuất phát từ một tình yêu thương chân thật. Chúng ta cũng nên quán chiếu thêm về vấn đề này. Đây là vấn đề quan trọng của xã hội Tây phương.

Nếu muốn sinh con, chúng ta phải chuẩn bị một môi trường tốt cho đứa con ta ra đời. Chúng ta phải làm gì đó cho cuộc đời, phải làm gì đó để đảm bảo cho cuộc đời của chúng sau khi sanh ra được an toàn và hạnh phúc. Điều này khiến ta trở thành một nhà hoạt động cho hòa bình dưới bất kỳ hình thức nào.