Phật giáo Việt Nam ngày nay qua cái nhìn tương tức


Phật giáo Việt Nam ngày nay qua cái nhìn tương tức
Ngày 18.01.2005 tại viện Nghiên Cứu Tôn Giáo – Hà Nội



Lời giới thiệu của ban tổ chức

Kính thưa Hòa thượng Thích Nhất Hạnh và quý vị tăng thân Làng Mai. Hôm nay chúng tôi có mời các nhà chuyên môn của viện Nghiên Cứu Tôn Giáo, viện Sử Học, viện Văn Học, viện Hán Nôm, viện Triết Học. Chúng tôi cũng mời một số các nhà chuyên môn ở các cơ quan khác, các viện có liên quan đến tham dự buổi nói chuyện của Hòa thượng Thích Nhất Hạnh với chủ đề: Phật giáo Việt Nam ngày nay qua cái nhìn tương tức. Chúng tôi xin phép thay mặt toàn thể cán bộ của Viện Nghiên Cứu Tôn giáo cám ơn Hòa thượng về buổi thuyết trình ngày hôm nay, xin chúc Hòa thượng có một chuyến đi Việt Nam thật là phấn chấn, sức khỏe và đạt những thành quả lớn cho công việc của giáo hội cũng như trong nghiên cứu khoa học. Bây giờ tôi xin trân trọng nhường lời lại cho Hòa thượng Thích Nhất Hạnh.


Thiền sư Nhất Hạnh thuyết giảng

Kính thưa ông Viện trưởng,
kính thưa quý vị Học giả, Nhân sĩ.

Phái đoàn chúng tôi tới đây với hai trăm người cám ơn thịnh tình của quý vị đón tiếp chúng tôi ngày hôm nay.
Các thầy, các sư cô Làng Mai hôm nay sẽ niệm danh hiệu đức Bồ Tát Quan Thế Âm bằng tiếng Phạn, Namo Avalokiteśvara. Đức Quan Thế Âm biểu trưng cho tình thương và khả năng lắng nghe. Khi có khả năng lắng nghe thì mình có thể làm vơi bớt khổ đau của người. Người kia có những nỗi khổ niềm đau, có những khó khăn, ước vọng mà không nói ra được, nếu là Bồ Tát Quan Thế Âm thì mình có khả năng lắng nghe với lòng từ bi, với tâm không thành kiến. Tri giác của mình có thể sai lầm và chính vì tri giác sai lầm mình đã tạo ra sự sợ hãi, nghi kỵ, hận thù. Luyện tập để có khả năng lắng nghe là một thực tập rất quan trọng.

Nam mô Bồ Tát Quan Thế Âm! Quan có nghĩa là lắng nghe, quán chiếu. Thế Âm tức là tiếng kêu thương của cuộc đời. Quan Thế Âm biểu trưng cho khả năng lắng nghe với tâm từ bi. Bồ Tát Quan Thế Âm cũng có khi được gọi là Avalokiteśvara Boddhisattava, vị Bồ Tát của lòng đại bi. Trong khi niệm danh hiệu Namo Avalokiteśvara thì lòng mình phát khởi tâm từ bi và mình có thể nhìn những người khác bằng con mắt từ bi. Trong kinh Pháp Hoa có câu: Từ nhãn thị chúng sinh tức là nhìn mọi người bằng cặp mắt thương yêu, chấp nhận chứ không phải kỳ thị, căm thù.

Trong khi lắng nghe các thầy và các sư cô xướng tụng danh hiệu đức Bồ Tát Quan Thế Âm, chúng ta ngồi cho thật thẳng, ngồi cho thoải mái, đừng suy nghĩ về quá khứ, đừng suy nghĩ về tương lai, đừng suy nghĩ về những đề tài triết học, để cơ thể buông thư cho năng lượng từ bi của đức Bồ Tát thấm vào trong người của mình.

Nếu chúng ta có những đau nhức, bệnh hoạn chúng ta cho cơ thể thư giãn để năng lượng của Bồ Tát Quan Thế Âm đi vào, sẽ có sự thuyên giảm trị liệu. Nếu chúng ta có những nỗi khổ niềm đau, uất ức chưa biểu lộ ra được, chúng ta mở lòng ra cho năng lượng của đức Quan Thế Âm đi vào sẽ cảm thấy nhẹ trong lòng. Trị liệu và chuyển hóa chỉ là sự thực tập.

Tăng thân Làng Mai sẽ niệm danh hiệu đức Bồ Tát Quan Thế Âm bằng tiếng Phạn. Xin quý vị buông thư, coi như không có chuyện gì cần phải làm, chỉ ngồi đó để đón nhận năng lượng từ bi. Năng lượng đó có trong mỗi con người, chúng ta có thể đón nhận năng lượng đó từ khắp nơi trong vũ trụ.

Hy vọng quý vị thấy khỏe trong người hơn sau khi nghe niệm danh hiệu đức Bồ Tát Quan Thế Âm. Ở Tây phương, ngoài tiếng Việt, chúng tôi tụng kinh bằng tiếng Anh, tiếng Pháp hoặc tiếng Đức, tại vì đa số thiền sinh tới tu tập là người ngoại quốc. Những bài kinh tiếng Hán Việt phần lớn đã được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức để tụng.

Xin mời mọi người ngồi xuống nghe cho thoải mái. Hôm nay sư cô Đẳng Nghiêm là người thông dịch cho các thiền sinh Tây phương, sư cô là bác sĩ y khoa tốt nghiệp trường đại học Hoa Kỳ, cô thấy đi tu giúp được nhiều người hơn nên phát tâm đi tu. Ở đây cũng có một thầy tên Pháp Liệu, thầy là bác sĩ chuyên về tim, chữa cho rất nhiều người bị bệnh tim nhưng trái tim của thầy thì phải tới chùa mới chữa được.

Việt Nam Phật Giáo Sử Luận

Kính thưa quý vị, tôi ít khi tự nhận mình là nhà học giả, tôi chỉ cho mình là một hành giả. Lý do khiến cho chúng tôi viết cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Luận rất là buồn cười, tại vì lúc đó tôi không có chủ ý viết sử.

Hồi đó tôi rời đất nước để đi kêu gọi chấm dứt cuộc chiến tranh ở Việt Nam, điểm đầu tiên trong năm điểm mà tôi đề nghị tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ là phải chấm dứt tất cả những cuộc oanh tạc ở miền Bắc cũng như ở miền Nam Việt Nam, án binh bất động và thương thuyết để chấm dứt chiến tranh… Sau khi chúng tôi đã nói lên tiếng nói của đại đa số Phật tử Việt Nam, không muốn cuộc chiến tranh này tiếp diễn, muốn người Mỹ phải rời khỏi đất nước Việt Nam thì ông Thiệu, ông Kỳ 1* không cho tôi về nước nữa.

Trong thời gian lưu vong, tôi mới tìm cách chia sẻ, trao truyền pháp môn thực tập. Tôi không có ý muốn đi hoằng pháp tại Tây phương, không có ý muốn làm giáo sĩ, nhưng trong khi vận động hòa bình, mình phải kết hợp với các bạn trong giới trí thức, tôn giáo, nhân bản để làm việc với nhau. Mình là người tu, cố nhiên trong sự sống hàng ngày mình biểu lộ được sự tu học, sự thực tập của mình. Ví dụ như khi đi, tôi đi như một nhà tu, nghĩa là mỗi bước chân có ý thức, không đi như bị ma đuổi, đó gọi là thiền hành, tiếng Việt gọi là thiền đi. Khi đi mình phải ý thức từng bước chân đi, bước những bước an lạc, thảnh thơi, vững chãi trên mặt đất. Tâm của mình ở với thân của mình, chứ không bay đi nơi khác, không bị lôi về quá khứ, cũng không bị cuốn bởi tương lai. Mình an trú trong phút giây hiện tại, mình đi như một con người tự do.

Tôi còn nhớ một Linh mục tên là Daniel Berigan 2*, sau khi nghe tôi nói chuyện, ông cũng quyết định đứng lên chống cuộc chiến ở Việt Nam, không đồng ý với chính quyền Mỹ về việc tiếp tục cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Tôi cũng đã nói chuyện với mục sư Martin Luther King, người lãnh đạo phong trào nhân quyền ở Hoa Kỳ, ông cũng đứng ra để chống đối việc Mỹ can thiệp vào Việt Nam, gây ra cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Linh mục Berigan là một thầy tu dòng Tên, rất thông minh, là một thi sĩ đã xuất bản nhiều tập thơ. Một lần đi trong công viên Central Park ở New York, tôi mời ông đi chơi với tôi. Tôi có dặn trước: Đi không có nói chuyện nhé! Vì mỗi bước chân mình phải tiếp xúc với đất trời, với sự an lành, đẹp đẽ và mầu nhiệm của đất trời. Mình biết rằng khi tiếp xúc được với những gì mầu nhiệm, đẹp đẽ và an lành thì mình có thể chuyển hóa và trị liệu những nỗi buồn lo của mình. Ông ta đồng ý, nhưng ông ta có tập khí đi nhanh. Tôi mới bước đi một bước thì ông đã bước đi ba bước rồi, nhưng tôi cứ giữ tốc độ của tôi. Ông đi được chừng mười bước, thấy không có ai đi bên cạnh, ông dừng lại, chờ tôi đi tới rồi hai người lại tiếp tục đi, nhưng tôi mới đi độ chừng ba bốn bước nữa thì ông đã đi xa năm sáu bước. Đó là một ví dụ, khi mình ở đâu, mình ảnh hưởng đến hoàn cảnh chung quanh hoặc mình bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh chung quanh. Tôi cương quyết không để bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh chung quanh. Tôi muốn giữ vững được sự thực tập của tôi cho nên trong khi đi, đứng, làm việc, nói, cười tôi duy trì sự thực tập đó.

Ở bên Mỹ, suốt một tháng trời tôi đi diễn thuyết kêu gọi chấm dứt cuộc chiến ở Việt Nam. Sau đó, sang Âu châu đi một vòng các nước ở Âu châu, rồi tôi đi Tân Tây Lan, Úc, Nhật Bản và các nước ở Á châu. Đi tới đâu cũng với một thông điệp: Yêu cầu Hoa Kỳ phải ngưng oanh tạc Việt Nam, bắt đầu thương thuyết về việc rút lui khỏi Việt Nam. Năm điểm đó đã được ghi vào trong lịch sử, trong công báo của Quốc hội Hoa Kỳ, hình như là ngày 11 hay là ngày 12 tháng sáu năm 1966. Dân biểu John Down của tiểu bang New York đã đặt năm điểm đề nghị của tôi vào trong công báo Quốc hội. Ở bên Pháp tôi còn tàng trữ những tài liệu đó.

Sau chuyến đi vận động, tôi trở về Pháp. Giáo sư Paul Demiéville 3* là một nhà học giả Phật học rất nổi tiếng, đề nghị mời tôi vào trong trường để dạy. Khi rời quê hương, tôi không còn cơ hội đi dạy nữa (hồi trước tôi dạy ở trường đại học Văn Khoa và đại học Vạn Hạnh. Đại học Vạn Hạnh là do chính tôi thành lập). Vì nhớ trường, nhớ lớp học cho nên khi ông ta đề nghị tôi bằng lòng ngay. Tôi được mời vào phân khoa Bác Ngữ Học và Sử Học. Để khỏi tốn thì giờ, tôi dạy về lịch sử Phật giáo Việt Nam. Giáo sư Demiéville cho tôi mượn bộ Việt Nam Thập Vấn Tuần San của trường Viễn Đông Bác Cổ mà ông có. Tôi sử dụng những tài liệu đó để giảng dạy trong trường đại học. Tôi có giúp cho một số sinh viên làm luận án về những đề tài Phật học Việt Nam, ví dụ như Đời Sống và Giáo Lý của thiền sư Thích Huyền Quang (ngài Huyền Quang là đệ tam tổ của tôi).

Trong khi giảng dạy tại Đại học Paris, tôi khám phá được một số dữ kiện về lịch sử Phật giáo Việt Nam. Tôi đã may mắn tìm ra được tên của Tuệ Trung Thượng Sĩ là Trần Quốc Tung, tìm ra sự kiện Tuệ Trung Thượng Sĩ là anh ruột của tướng Trần Hưng Đạo. Nhờ giảng dạy về môn lịch sử Phật giáo nên tôi có cơ hội thu thập một ít tài liệu và sử dụng những tư liệu này cho các tăng sinh ở bên nhà học hỏi. Hồi ở nhà, tôi đã giúp đào tạo nhiều thế hệ tăng sinh, ni sinh trẻ tuổi nên có viết Việt Nam Phật giáo Sử Luận I, sau đó tôi viết quyển Việt Nam Phật giáo Sử Luận II. Ở bên Pháp trong thư viện quốc gia có rất nhiều tạp chí Việt Nam được tàng trữ, trong đó tôi tìm thấy tạp chí Tiếng Chuông Sớm do chùa Bà Đá phát hành, tìm thấy Đuốc Tuệ, Từ Bi Âm và rất nhiều tư liệu để viết tiếp Việt Nam Phật Giáo Sử Luận II và Sử Luận III 4*. Trường Viễn Đông Bác Cổ có rất nhiều Microfilm lưu trữ những tác phẩm cổ có liên hệ tới Phật giáo Việt Nam. Ông giám đốc rất dễ thương, ông vui lòng cho tôi sử dụng những Microfilm đó.

Trong quá trình vận động hòa bình, chúng tôi làm quen với rất nhiều người trong giới trí thức, tôn giáo và thanh niên, những thanh niên trẻ rất có lòng. Tôi còn nhớ hồi đó ở tại văn phòng của chúng tôi ở Paris, có rất nhiều người trẻ, đủ các quốc tịch tới giúp chúng tôi làm những công việc thiện nguyện. Chúng tôi đã vận động bảo trợ cho trên 8000 cô nhi nạn nhân của chiến cuộc ở Việt Nam. Chúng tôi không chủ trương thành lập những cô nhi viện mà chủ trương đem mỗi cô nhi đặt vào gia đình ông chú, bà thím và nâng đỡ cho gia đình đó để họ có thể nuôi cho em bé ăn học. Chúng tôi nhờ các bạn của chúng tôi trong giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đi thăm để biết chắc rằng các cháu được ăn và được đi học đàng hoàng, tại vì chúng tôi không muốn số tiền đó lọt vào chỗ khác.

Đạo Bụt đi vào cuộc đời

Năm 1964 chúng tôi có thành lập tại miền Nam Việt Nam một trường gọi là Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội. Trường đào tạo các vị tu sĩ Phật giáo trẻ tuổi, tăng cũng như ni và các thanh niên nam nữ. Những người trẻ của trường sau khi đào tạo, được gởi về các miền quê để giúp dân quê tổ chức lại đời sống trong thôn xóm. Trước khi thành lập Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, chúng tôi có nghiên cứu những phong trào Kitbutz 5*, phong trào phát triển nông thôn Philippines và nhiều nơi khác. Khóa đầu chúng tôi đào tạo 300 sinh viên, sau trở thành tác viên xã hội, những khóa sau chúng tôi đều tiếp tục huấn luyện như vậy.

Chúng tôi nghĩ rằng, từ bi không là một lý thuyết mà từ bi phải được thực hiện ngay trong đời sống hàng ngày. Trong đất nước chiến tranh, có nhiều tai nạn, nhiều nghèo khổ, nhiều áp bức thì người tu phải làm cái gì đó để làm vơi bớt khổ đau cho đất nước của mình. Cho nên các thầy, các sư cô trẻ tuổi, cũng như các thanh niên Phật tử trẻ tuổi, ngoài những giờ ngồi thiền, thiền hành và học hỏi giáo lý cũng phải dành thời giờ để đi ra cứu trợ, băng bó vết thương, cho các cháu ăn cơm, uống thuốc. Chúng tôi đã thành lập được nhiều trung tâm định cư cho đồng bào tị nạn chiến tranh. Đó mới đích thực là đạo Bụt dấn thân 6*, tiếng Pháp gọi là Bouddhisme engagé, tiếng Anh gọi là Engaged Buddhism. Danh từ đạo Bụt đi vào cuộc đời, hiện bây giờ người Tây phương rất thích, có cội nguồn từ Việt Nam.

Người ta hay hỏi: Thế nào là đạo Bụt đi vào cuộc đời? Tôi nói rằng: Khi ngồi trong thiền đường để nhất tâm, để tĩnh niệm mà nghe tiếng bom nổ, đạn rơi ở ngoài, tiếng kêu thương của người lớn cũng như của con nít thì làm sao mình có thể ngồi tiếp tục được, mình phải đi ra để giúp người thôi! Trong khi tìm cách giúp người mình đừng để đánh mất sự thực tập của mình. Nếu đánh mất sự thực tập thì mình giống như những tác viên xã hội ở ngoài đời thôi, không khác gì hết. Sự thực tập không phải chỉ nằm ở trong chùa, trong thiền đường mà cũng có thể ở bên ngoài trong khi mình làm việc phụng sự con người.

Khi đi mình phải đi thiền, khi ăn cơm phải ăn cơm thiền, khi uống nước phải uống nước thiền. Giữ cho mình có sự vững chãi, thảnh thơi và nuôi dưỡng lòng từ bi mình mới có thể tiếp tục lâu dài công việc của mình được. Nếu không, sau một thời gian thì mình mệt mỏi, mình hết xí quách, mình burn out, mình không thể tiếp tục được nữa. Danh từ Đạo Phật đi vào cuộc đời, Đạo Phật dấn thân có dính líu tới cụm danh từ Nhân gian Phật giáo mà bên Trung Quốc người ta có nói đến. Tôi đã từng được hiệp hội Phật giáo Trung Quốc mời qua giảng dạy (sách của chúng tôi đã được ấn hành rất rộng rãi, khoảng gần bốn chục cuốn đã được in và hiện giờ đi vào nhà sách nào cũng có thể mua được sách của Nhất Hạnh). Trong khi giảng dạy, viết lách, tôi sử dụng thứ ngôn ngữ có thể trao truyền được kinh nghiệm và nội dung thâm sâu nhất của đạo Phật cho giới trẻ. Họ tiếp nhận được một cách dễ dàng và có thể đem ra áp dụng dễ dàng vào trong đời sống hàng ngày của họ.

Chúng tôi làm việc ở hải ngoại mà vẫn tiếp tục phục vụ được bên nhà là nhờ sự có mặt của Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã hội, nhờ lòng nhiệt thành của các tác viên xã hội xuất gia cũng như tại gia. Chúng tôi đã làm được những công việc đáng kể như nuôi dưỡng cho ít nhất là 8000 cô nhi, thiết lập không biết bao nhiêu nhà trẻ và rất nhiều khu định cư ở khắp nơi. Chúng tôi còn nhớ, có một làng nằm gần khu phi quân sự ở Quảng Trị. Hồi đó chiến cuộc rất tàn khốc. Chúng tôi gởi tác viên tới để giúp cho dân làng tái thiết lại vì bị bom đạn làm hư hoại. Sau khi tái thiết được rồi thì làng lại bị dội bom trở lại và cứ như vậy làng bị phá hủy tới lần thứ tư. Các bạn tác viên xã hội hỏi: Bạch thầy mình có nên tái thiết lại không? Đây là vấn đề tâm lý, mình không thể chịu thua được, vì chịu thua thì sự tuyệt vọng sẽ đi vào trong trái tim của mình. Đó là chuyện rất nguy hiểm cho nên chúng tôi quyết định tái thiết lại làng Trà Lộc, làng tự nguyện của chúng tôi. Những việc mà chúng tôi thực hiện được là nhờ những tác viên xã hội làm việc hết lòng, không có tiền lương, chỉ đủ tiền túi để sống và làm việc. Lúc đó, chúng tôi có gần mười ngàn tác viên xã hội làm việc ở miền Nam. Có thể nói rằng: Đó là đạo Phật dấn thân, đạo Phật đi vào cuộc đời chứ không phải là một đạo Phật chỉ nằm ở trong chùa.

Có một anh tác viên, anh đi ra ngoài làm việc rất giỏi, một bà cụ hỏi: Cậu lãnh lương bao nhiêu mà cậu làm giỏi như vậy, nhà nước trả cho bao nhiêu? Cậu ta nói: Chúng con đâu có lãnh lương gì đâu, chúng con đi làm công quả mà! Công quả ở miền Nam nghĩa là đi làm việc để có công đức. Bà cụ hỏi: Thường thường người ta làm công quả trong chùa chứ ai ra ngoài này làm công quả? Cậu ta nói: Thưa bác trong thời đại này người ta đau khổ quá, chính Phật cũng đi ra ngoài này để cứu đời, huống hồ chúng con. Vì vậy chúng con theo Phật ra ngoài này làm công quả chứ không có làm trong chùa. Đó là một lý thuyết, một sự diễn bày rất đơn sơ của một tác viên xã hội tự đặt ra nhưng có thể đã phản chiếu được tinh thần của đạo Bụt dấn thân.

Tại sao dùng chữ đạo Bụt ?

Sở dĩ chúng tôi dùng chữ đạo Bụt mà không dùng chữ đạo Phật, vì chúng tôi nghĩ rằng chữ Bụt có tính dân tộc hơn chữ Phật. Các nước chung quanh chúng ta đều còn gọi Buddha là Bụt. Dân Việt Nam cho đến thế kỷ thứ XIII- XIV vẫn còn gọi Buddha là Bụt. Chỉ từ khi quân Minh sang chiếm nước ta, chúng ta mới bắt đầu bắt chước họ gọi là Phật thôi. Nếu quý vị đọc Đắc Thú Long Tuyền Thành Đạo Ca của vua Trần Nhân Tông, quý vị thấy rằng ngài vẫn dùng chữ Bụt. Tổ thứ ba của phái Trúc Lâm ngài Huyền Quang cũng dùng chữ Bụt.

Thiền sư Khuy Cơ là đệ tử lớn của Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang nói: Chữ Buddha đáng lý phải dịch là Bụt Đà nhưng người ta đã dịch lầm là Phật. Chính những vị cao tăng bên Trung quốc đời Đường đã thấy. Như vậy sự sai lầm của một nước không có lý gì một nước khác cũng phải sai lầm theo? Chúng tôi đã cương quyết sử dụng chữ Bụt và đạo Bụt. Nếu chúng ta cần dùng danh từ Hán Việt thì chúng ta dùng Phật giáo, còn nếu đạo là đạo Bụt. Ngày Phật đản hay là ngày đản Bụt, Phật tử hay là con Bụt. Như vậy ngôn ngữ của chúng ta được giàu có thêm lên vì chúng ta không bỏ chữ Phật mà chúng ta phục hồi được chữ Bụt. Trong tác phẩm Đường Xưa Mây Trắng, chúng tôi sử dụng chữ Bụt và chữ Bụt có vẻ thân thương, gần gũi hơn chữ Phật nhiều lắm. Chắc quý vị cũng biết rõ là trong kho tàng truyện cổ tích, ca dao của nước ta, dân chúng vẫn còn duy trì cách gọi Buddha là Bụt.

Là hoa tươi mát – Là núi vững vàng

Năm mười hai tuổi, tình cờ thấy được trên bìa một tờ tạp chí Phật giáo có vẽ hình của đức Bụt đang ngồi trên bãi cỏ. Ngài ngồi rất thảnh thơi, rất nhẹ nhàng và miệng ngài mỉm cười nên tôi rất thích. Tự nhiên trong trái tim của cậu bé có ước muốn: Sau này mình lớn lên mình sẽ làm được như ông này, cũng ngồi nhẹ nhàng, thảnh thơi, an lạc và từ bi. Đó là hạt giống đầu tiên trong trái tim cậu bé được tưới tẩm. Tôi còn nhớ, chùa đầu tiên mà tôi đi vào là chùa Đại Bi ở Thanh Hóa, nơi đây có một vị cao tăng xuất thân từ chùa Từ Hiếu ở Thừa Thiên, Huế. Đến năm mười sáu tuổi thì tôi được xuất gia ở chùa Từ Hiếu, pháp danh của tôi là Trừng Quang và bổn sư của tôi có pháp danh là Thanh Quý. Chữ Thanh, Trừng được lấy từ trong bài kệ nói lên sự truyền thừa từ thế hệ này đến thế hệ khác, thuộc về dòng Liễu Quán của tông phái Lâm Tế. Phật giáo mà chúng tôi theo để thực tập là Phật giáo Thiền nhưng chúng tôi cũng được trao truyền cho Pháp môn Tịnh Độ nữa. Lúc đó tôi mới mười sáu tuổi thành ra chưa biết được gì nhiều chỉ có tâm niệm là rất muốn tu thôi.

Cuốn sách đầu tiên mà tôi được học là cuốn Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu, có khoảng năm chục bài kệ và mình phải học thuộc lòng. Lúc đầu tôi nghĩ, học thuộc lòng không phải là cách hay lắm. Nhưng sau này mới thấy, nhờ học thuộc lòng những bài kệ mà mình có thể thực tập chánh niệm được dễ dàng hơn. Khi múc nước để rửa tay, tôi nguyện rằng tất cả chúng sanh đều có hai bàn tay trong sạch, có thể nắm giữ được Phật Pháp cho lâu dài. Bài kệ ngày xưa tôi được học toàn bằng chữ Hán:

Dĩ thủy quán chưởng
Đương nguyện chúng sanh
Đắc thanh tịnh thủ
Thọ trì phật pháp

Khi cài nút áo cũng có một bài kệ, khi đánh răng súc miệng cũng có một bài kệ. Nghĩa là tất cả mọi hành vi trong đời sống hàng ngày của mình đều phải được thực tập theo một bài kệ để cho tâm của mình luôn luôn ở với thân của mình, mình luôn luôn nắm được tâm ý của mình, đó gọi là thực tập chánh niệm. Hồi mười sáu tuổi thọ giới sa di, tôi đã bắt đầu học như vậy rồi. Khi mình uống trà, mình cũng có cơ hội thực tập thiền. Sự thực tập này gọi là uống trà trong chánh niệm 7*.

Chánh niệm được dịch từ chữ smrti trong tiếng Phạn. Chánh niệm là năng lượng giúp cho mình biết được cái gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Trong giây phút hiện tại mình đang uống trà mà biết rằng mình đang uống trà tức là uống trà trong chánh niệm. Trước hết mình phải thật sự có mặt, khi thật sự có mặt rồi thì trà mới thật sự có mặt được và mình mới có thể uống trà trong chánh niệm được. Ví dụ chúng ta đang đứng với nhau và nhìn về phía mặt trời lặn. Mặt trời lặn rất huy hoàng diễm ảo nhưng nếu chúng ta cứ nghĩ về quá khứ, lo lắng về tương lai, nghĩ về những dự án hay cái đầu của chúng ta bị kéo đi rồi thì cảnh mặt trời lặn diễm ảo huy hoàng như vậy không phải là của chúng ta nữa. Chúng ta không có khả năng tiếp xúc với cái đẹp của thiên nhiên trong giây phút mặt trời lặn, tại vì tâm của ta bị quá khứ níu kéo, bị tương lai xô đẩy hoặc là bị những lo lắng ưu tư chiếm cứ, ta không phải là con người tự do. Chánh niệm là khả năng giúp cho chúng ta trở về trong giây phút hiện tại để thật sự có mặt trong giây phút hiện tại.

Có một kinh tên An Ban Thủ Ý dạy về quán niệm hơi thở, trong đó đức Thế Tôn chỉ dạy mười sáu phương pháp thở để thực tập chánh niệm. Bài tập đầu hết sức là đơn giản:

Thở vào tôi biết là tôi đang thở vào
Thở ra tôi biết là tôi đang thở ra

Nghĩa là trong khi thở vào để hết tâm ý vào hơi thở vào, trong khi thở ra để hết tâm ý vào hơi thở ra. Không nghĩ tới quá khứ, không nghĩ tới tương lai, không nghĩ tới dự án, chấm dứt tất cả mọi suy tư, chỉ để ý duy nhất một điều đó là hơi thở vào và hơi thở ra. An Ban Thủ Ý, thủ ý nghĩa là nắm lấy tâm ý của mình, lúc đó mình trở thành một với hơi thở vào và hơi thở ra.

Trong đời sống hàng ngày có nhiều khi chúng ta phóng tâm đi quá xa. Hình hài của chúng ta ngồi đây nhưng mà tâm của chúng ta bị những hối tiếc, những âu sầu về quá khứ chiếm cứ hoặc bị sự lo lắng hay sự sợ hãi về tương lai kéo đi, chúng ta không có thể có mặt thật sự trong giây phút hiện tại. Hơi thở có ý thức, hơi thở chánh niệm có khả năng giải phóng chúng ta, giải thoát chúng ta ra khỏi tình trạng bị lôi về quá khứ, bị kéo bởi tương lai, để chúng ta có thể trở về trong giây phút hiện tại, trở thành một con người tự do, tiếp xúc được với tất cả những mầu nhiệm của sự sống đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Trời xanh, mây trắng, chim hót, thông reo, hoa nở, em bé đang ngồi trước mặt là những mầu nhiệm của sự sống đang có mặt trong giây phút hiện tại. Nếu chúng ta bị quá khứ, tương lai, những dự án, sự buồn giận, nỗi thất vọng của chúng ta kéo đi thì chúng không thực sự có mặt trong sự sống, chúng ta đánh mất sự sống.

Hiện tại đẹp tuyệt vời

Trong kinh có câu: Quá khứ đã đi qua và tương lai thì chưa tới, chỉ có giây phút mà ta có thể thật sự sống là giây phút hiện tại. Phần lớn chúng ta đều nghĩ rằng hạnh phúc chắc chưa có trong giây phút hiện tại vì còn thiếu một vài điều kiện nào đó và nếu trong tương lai đạt tới được những điều kiện đó thì mình mới thật sự có hạnh phúc. Trong khi đó, nếu trở về trong giây phút hiện tại mình có thể khám phá ra không biết bao nhiêu điều kiện hạnh phúc đang có mặt, đủ để mình có thể có hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây. Bụt Thích Ca nói rằng: Chúng ta có thể sống hạnh phúc được ngay trong giây phút hiện tại. Câu nói đó, cụm từ đó là Hiện Pháp Lạc Trú (tiếng Phạn là Dristadharmasukhavihara) 8*. Hiện pháp tức là những gì xảy ra trong giây phút hiện tại. Lạc trú là sống hạnh phúc.

Trong kinh dạy cho ông trưởng giả Cấp Cô Độc và khoảng bốn trăm thương gia khi họ gặp đức Thế Tôn, ngài đã dạy cho các vị đó nghệ thuật sống hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại và ngài đã dùng cụm danh từ đó tới năm lần. Hiện Pháp Lạc Trú nghĩa sống an lạc hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Rất tiếc, giáo lý đó chúng ta không thực tập nhiều trong cộng đồng Phật tử mà chúng ta lại mơ ước về một cõi Thiên Đường, Cực lạc trong tương lai!

Ví dụ, chúng ta thực tập:

Thở vào, tôi ý thức về hai mắt của tôi, tôi biết hai mắt của tôi còn sáng và thở ra tôi mỉm cười với hai mắt còn sáng của tôi.

Đó là một bài tập nằm trong khuôn khổ của sự thực tập quán thân tâm của kinh Tứ Niệm Xứ. Khi mình chú ý tới sự kiện mình còn đôi mắt và đôi mắt mình còn sáng, tự nhiên hạnh phúc tới một cách rất là dễ dàng. Có những người không còn thấy được. Khuôn mặt của người mình thương ra sao mà mình cũng không còn nhớ thì mình phải đưa hai tay để sờ khuôn mặt đó để nhớ lại một đôi chút. Thường thường sau khi đánh mất những điều kiện của hạnh phúc rồi thì chúng ta mới biết là chúng ta đánh mất, chứ khi những điều kiện hạnh phúc đang còn thì mình quên lãng, mình không biết trân quý. Ví dụ trái tim của chúng ta không có vấn đề, đó là một điều kiện rất là căn bản của hạnh phúc. Có nhiều người bị bệnh tim và họ không biết bị đứng tim lúc nào thì mơ ước sâu sắc nhất của họ là có một trái tim bình thường như là trái tim của mọi người.

Thở vào, tôi có ý thức về trái tim tôi
Thở ra tôi mỉm cười và biết ơn trái tim tôi.

Đó là thực tập thiền, nhận diện một điều kiện hạnh phúc đang có mặt. Chúng ta có không biết bao nhiêu điều kiện của hạnh phúc ở trong ta và xung quanh ta. Người thương của ta, người bạn hôn phối của chúng ta còn sống, những đứa con của chúng ta đang còn xinh đẹp, đang còn mạnh khỏe. Tất cả những cái đó có thể vì bận rộn, vì lo lắng mà chúng ta không nhận diện được, chúng ta bỏ quên cho nên hạnh phúc không đến được. Trở về giây phút hiện tại, nhận diện được những điều kiện hạnh phúc đang có mặt là một trong những sự thực tập rất là quan trọng trong đạo Bụt và hạnh phúc có thể tới liền. Ví dụ bây giờ có người hỏi: Giờ phút tuyệt vời nhất trong đời của ông, của bà đã xảy ra chưa? Mình trả lời ra sao? Mình có khuynh hướng trả lời rằng: Hình như chưa xảy ra nhưng mà tôi tin chắc là thế nào cũng phải xảy ra. Nhưng nếu mình sống một cách quên lãng như mấy chục năm vừa qua thì mấy chục năm sắp tới nó cũng vậy và giờ phút đó nó sẽ không bao giờ xảy ra hết.

Bí quyết của sự thực tập thiền là làm thế nào để cho giây phút hiện tại này trở thành giây phút tuyệt vời nhất của đời mình thì giây phút tới cũng sẽ là giây phút đẹp tuyệt vời. Có những nguồn năng lượng giúp cho mình thực hiện được điều đó: nguồn năng lượng đầu là Niệm, nguồn năng lượng thứ hai là Định. Niệm là năng lượng giúp mình biết rằng cái gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Hiện tại tôi đang thở vào, hai mắt tôi còn sáng, trái tim tôi còn tốt, những đứa con tôi còn mạnh khỏe và tụi nó còn đang ở với tôi. Chiều nay quý vị hãy về thí nghiệm phương pháp này:

Thở vào tôi biết rằng tôi đang còn sống đây
Thở ra tôi mĩm cười với sự sống trong tôi và chung quanh tôi

Nhìn vào hai mắt của người mình thương (người đó có thể là người bạn hôn phối của mình, đứa con của mình, hay là người mẹ của mình) rồi mình nói như thế này: Mẹ ơi, con biết là mẹ đang còn đó, con hạnh phúc vô cùng! Mẹ đang còn sống là một hạnh phúc rất lớn, đó là chánh niệm.

Tôi đã viết đoản văn Bông Hồng Cài Áo (không có danh từ Phật pháp) dạy cho những người trẻ biết trân quí sự có mặt của mẹ mình. Có biết bao nhiêu cái mà mình cần phải trân quí. Mỗi giây phút của đời sống là một tặng phẩm rất lớn của đất trời và nếu mình để tâm chạy theo quá khứ, chạy theo tương lai, chạy theo những mơ ước viễn vông thì rất là uổng. Chúng tôi đã học được bí quyết của thiền tập là làm thế nào mình trở về trong giây phút hiện tại, nhận diện được những gì đang xảy ra, nhận diện được những điều kiện hạnh phúc mà mình đang có thì tự nhiên mình sẽ dừng lại sự rong ruỗi, sự chạy đua và hạnh phúc có được liền.

Tôi xin đề nghị với quý vị là có một lúc nào đó, lấy một tờ giấy, một cây bút và ghi xuống những điều kiện hạnh phúc mà mình đang có. Quý vị sẽ rất ngạc nhiên khi thấy rằng với hai trang giấy không đủ để ghi những điều kiện hạnh phúc mà mình đang có, đó là sự thực tập thiền. Những đứa con đang sống với mình, ngày mai nó có thể đi lấy chồng hay cưới vợ và nó sẽ sống riêng một nơi khác nhưng hôm nay nó đang còn đó thì mình phải nhìn để thấy được nó, để có thể nói được với nó (nói trong tâm tưởng): Con ơi, bố biết là con đang còn sống với bố, bố rất là hạnh phúc! Anh ơi, em biết rằng anh đang còn sống đó với em, em rất là trân quí sự có mặt của anh, mai này nếu anh không còn ở đây nữa thì em sẽ rất bơ vơ! Đó là ý thức, là chánh niệm, là hạnh phúc của đời mình.

Mỗi hơi thở một nụ cười

Hồi còn mười sáu tuổi, thực tập những bài kệ đó, tôi không biết đó là phương pháp thực tập chánh niệm để nhận diện những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Sau này tôi phát kiến ra được đó là sự thực tập căn bản. Sự thực tập để có thể an trú trong giây phút hiện tại, để tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống, để mình được nuôi dưỡng, được trị liệu. Có một bài tập trong kinh An Ban Thủ Ý được đem ra sử dụng rất nhiều trong các bệnh viện ở Âu châu và Mỹ châu:

Tôi thở vào và ý thức được toàn thân của tôi
Tôi thở ra và buông thư toàn thân của tôi.

Trong người có sự căng thẳng, bức xúc, toàn thân buông thư, thư giản là một yếu tố rất quan trọng của sự trị liệu. Những bác sĩ ở Tây phương đã nhận ra điều này, đã tập cho các bệnh nhân của họ tập buông thư. Chúng ta có thể sử dụng thuốc men nhưng nếu chúng ta không biết buông thư thì sự trị liệu sẽ chậm chạp hoặc không hiệu quả. Hơi thở chánh niệm có thể giúp cho mình buông thư. Khi mình có một nỗi khổ niềm đau, một cảm xúc thì nỗi cảm xúc đó cũng có thể được làm cho thư giản. Chánh niệm là khả năng có thể nhận diện được, ôm ấp được và làm nhẹ đi những cảm xúc của mình. Cũng giống như bà mẹ, khi nghe tiếng đứa con khóc, bà mẹ chạy tới nâng nó lên, ôm vào lòng với tất cả sự nhẹ nhàng và trìu mến. Năng lượng nhẹ nhàng, trìu mến của bà mẹ đi vào trong thân hình của em bé và em bé cảm thấy dễ chịu.

Ở đây, sự giận dữ, sự buồn phiền, sự bực tức hay sự lo lắng của mình là em bé của mình mà nếu mình biết chế tác ra năng lượng chánh niệm bằng hơi thở ý thức thì mình sẽ sử dụng năng lượng chánh niệm đó nhận diện ôm ấp nỗi khổ niềm đau đó. Nếu thực tập như vậy trong ba phút, mười phút thì tự nhiên có sự thuyên giảm và làm vơi đi những nỗi khổ, niềm đau cũng giống như bà mẹ ôm lấy em bé. Nếu tiếp tục lâu hơn mình có thể nhìn vào trong nỗi khổ niềm đau, nhận diện ra được, hiểu ra được gốc rễ của nỗi khổ niềm đau thì mình có thể chuyển hóa được nỗi khổ niềm đau đó.

Thiền tập có hai mặt: Chỉ và quán. Chỉ là ngừng lại, làm cho lắng dịu đi. Quán là nhìn sâu để tìm thấy bản chất của nỗi khổ niềm đau đó. Trong vòng bốn mươi năm qua chúng tôi đã cống hiến sự thực tập này cho rất nhiều người Tây phương, đã giúp họ làm vơi bớt những nỗi khổ niềm đau trong thân cũng như trong tâm. Tìm cách chỉ bày cho họ phương pháp lắng nghe, lắng nghe những nỗi khổ niềm đau của chính mình và của người khác. Người khác đó có thể là người hôn phối của mình, cha mẹ mình hay chính là con mình. Chúng tôi đã nói đến Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát của sự lắng nghe. Nhiệm vụ của các nhà tâm lý trị liệu bây giờ là phải lắng nghe nhưng các nhà tâm lý trị liệu đã không được học hỏi phương pháp này. Có những nhà trị liệu tâm lý có quá nhiều nỗi khổ niềm đau trong lòng mà họ lắng nghe những nỗi khổ niềm đau của họ còn không được thì làm sao có thể lắng nghe được những nỗi khổ niềm đau của người khác.

Tại Làng Mai mỗi năm chúng tôi có bảo trợ những nhóm người Do Thái và Palestine tới thực tập với chúng tôi để giúp cho họ. Những lúc đầu họ nhìn nhau không được, họ có rất nhiều căm thù, nhiều bạo động, nhiều hiểu lầm đối với nhau. Chúng tôi đem phương pháp này ra áp dụng để làm cho họ dịu đi những căng thẳng ở trong thân và trong tâm của họ. Chúng tôi tập cho họ tiếp xúc với những gì tươi mát lành mạnh có tính cách nuôi dưỡng ở trong họ và xung quanh họ để cho họ lấy lại niềm vui sống rồi chúng tôi tập cho họ lắng nghe nhau.

Một bên nói tất cả những khổ đau những uất ức của mình cho bên kia nghe, nhưng phải sử dụng lời nói như thế nào để người kia có thể tiếp nhận được. Bên kia chỉ thực tập lắng nghe thôi, không được trả lời, không được minh oan, không làm gì hết. Lắng nghe như vậy, từ ngày này sang ngày khác, lắng nghe theo kiểu Bồ Tát Quan Thế Âm. Khi lắng nghe như vậy thì mình thấy rằng bên kia cũng là nạn nhân của bao nhiêu hiểu lầm, bao nhiêu đau khổ, tự nhiên trong lòng mình nó trào lên chất liệu cảm thương của từ bi, mình có thể bắt đầu nhìn họ bằng con mắt từ bi hơn. Khi lắng nghe như vậy, mình có thể nhận diện ra rằng mình cũng có những tri giác sai lầm về chính mình và về họ. Từ từ mình cởi bỏ những tri giác sai lầm của mình và của họ.

Hai bên thực tập như vậy nhiều tuần lễ, cuối cùng họ trở thành bạn hữu với nhau. Họ cam kết rằng khi trở về Trung Đông thì họ sẽ thiết lập ra những đoàn thể tu tập như vậy để xây dựng tình huynh đệ và tìm cách chấm dứt chiến tranh. Đường lối chính trị và quân sự đang áp dụng đã đi qua không biết bao nhiêu là năm tháng mà nó chưa giải quyết được vấn đề. Chúng tôi đã giúp cho rất nhiều cặp vợ chồng, cha con hay mẹ con hòa giải được với nhau bằng phương pháp lắng nghe và ái ngữ đó. Đạo Bụt mà chúng tôi được nuôi dưỡng là Thiền và Tịnh. Sau này chúng tôi có cơ hội tiếp xúc với truyền thống Nam Tông và nhờ nghiên cứu những kinh bản bằng tiếng Pali chúng tôi có dịp so sánh với những kinh bản trong Hán tạng cho nên chúng tôi đã điều chỉnh được một số những sai lầm trong sự truyền thừa.

Sơ tổ của thiền tông Việt Nam

Vào thượng bán thế kỷ thứ ba tại Giao châu có thiền sư tên Tăng Hội, cha là người Khương Cư, Sogdiane 9*, Bắc Ấn Độ, mẹ là người Việt. Mới hơn mười tuổi thì cả cha mẹ đều qua đời, thầy được nhận vào chùa làm chú tiểu, được học kinh Phật bằng chữ Phạn lẫn chữ Hán. Khi thọ giới lớn, thầy không những đã tinh thông Phật học mà còn tinh thông cả Nho học và Lão học, giỏi cả Phạn ngữ lẫn Hán tự nữa. Thiền sư Tăng Hội không những là vị sơ tổ của Thiền Tông Việt Nam mà thiền sư cũng còn phải được xem là người đầu tiên đem Thiền học phát huy ở Trung Hoa nữa.

Vào khoảng giữa thế kỷ thứ ba, năm 247 thiền sư Tăng Hội đến Kiến Nghiệp, kinh đô nước Ngô (tức Nam Kinh bây giờ). Tại Kiến Nghiệp, thầy đã xây dựng trung tâm hoằng pháp Kiến Sơ (Kiến Sơ tức là ngôi chùa đầu tiên), tổ chức giới đàn và độ người xuất gia. Đây là lần đầu tiên tại Trung Quốc người bản xứ được phép xuất gia để thành sa môn. Cao Tăng Truyện nói rất rõ ràng là khi thầy Tăng Hội sang nước Ngô thì bên đó chưa có tăng sĩ Phật giáo.

Thiền sư Tăng Hội đã sử dụng những thiền kinh nguyên thủy theo tinh thần đại thừa như là kinh Quán Niệm Hơi Thở, kinh Niệm Xứ, Tứ Thập Nhị Chương để thực tập thiền. Trong bài tựa kinh An Ban Thủ Ý do thiền sư Tăng Hội viết chúng ta tìm ra một chứng cớ là thiền sư viết bài tựa này hồi thiền sư còn hành đạo ở Luy Lâu. Đó là chi tiết về ngài An Thế Cao ở kinh đô Lạc Dương: Các kinh ngài An Thế Cao dịch đã được những người Phật tử từ kinh sư Lạc Dương tới Giao Chỉ tỵ nạn mang xuống. Trong số những người Phật tử này có cư sĩ Trần Tuệ, học trò của An Thế Cao, người mà thiền sư Tăng Hội đã gặp và cùng cộng tác chú giải kinh An Ban Thủ Ý. Trong bài tựa nói tới Lạc Dương như là một kinh sư (kinh sư tức là kinh đô), tức là trước khi nhà Hán sụp đổ. Chúng ta biết rằng trước khi nhà Hán tan rã thì loạn lạc rất nhiều, khiến cho nhiều nhà trí thức ở nước Hán chạy về tỵ nạn ở Giao Châu (Giao Châu thời đó là vùng đất rất có an ninh). Sau khi nhà Hán sụp đổ, bị chia làm ba nước: Bắc Ngụy, Tây Thục và Đông Ngô. Lúc đó Giao Chỉ thuộc về Đông Ngô. Kinh sư không còn là Lạc Dương nữa mà là Kiến Nghiệp. Đó là một chứng cớ cho ta thấy rằng bài tựa kinh An Ban Thủ Ý được thiền sư Tăng Hội viết trước khi nhà Hán sụp đổ, tức trước thời Tam Quốc, có nghĩa là trước năm 229, lúc đó thì thiền sư còn hành đạo ở Giao Châu.

Mặc dù đã tiếp xúc được với truyền thống Phật giáo Nam tông, chúng tôi vẫn tiếp tục giảng dạy và xiển dương thiền học Việt Nam theo đúng tinh thần của thiền sư Tăng Hội. Nghĩa là căn cứ vào thiền kinh của Nam Tông để giảng dạy nhưng thực tập theo tinh thần rộng rãi và phóng khoáng của Bắc Tông. Nếu quý vị có tới Làng Mai để tu tập thì quý vị sẽ thấy rằng pháp môn của Làng Mai nối tiếp một cách rất trung thực và kỳ diệu với truyền thống của thiền sư Tăng Hội.

Thiền sư Tăng Hội lớn hơn thiền sư Bồ Đề Đạt Ma, sơ tổ Thiền tông Trung Quốc tới ba trăm tuổi. Như vậy trong các chùa của chúng ta, theo nguyên tắc thì phải thờ thiền sư Tăng Hội làm Thiền Tổ Việt Nam chứ không phải là thiền sư Bồ Đề Đạt Ma. Nếu quý vị là nhà học giả, nhà văn, hay họa sĩ thì phải vẽ ra hình ảnh của Tổ Sư Thiền đầu tiên của chúng ta là thiền sư Tăng Hội. Chúng tôi đã viết cuốn thiền sư Tăng Hội và cuốn sách này đã được phiên dịch ra nhiều thứ tiếng. Giới Phật tử lâu nay thường theo thiền Trung Quốc và Nhật Bản chưa có phản ứng vì cảm thấy rất lúng túng. Lâu nay họ đã lỡ tin Bồ Đề Đạt Ma là sơ tổ Thiền tông Trung Quốc và Việt Nam rồi. Bây giờ lại nghe nói thiền sư Tăng Hội mới chính là người đầu tiên đem giảng dạy thiền học tại Việt Nam và Trung Quốc thì điều đó họ chưa thể chấp nhận được.

Thiền sư Tăng Hội có kiến thức rất uyên bác về Lão giáo, Khổng giáo và Phật học cho nên đã thuyết phục được vua Ngô Tôn Quyền yểm trợ xây ngôi chùa đầu tiên ở tại nước Ngô. Sau đó, Tôn Hạo con của Tôn Quyền lên ngôi, nghe lời một số những người cộng sự, cho đạo Bụt là tà đạo từ ngoại quốc đem tới cho nên vua đã thẳng tay đàn áp đạo Bụt. Hầu hết các chùa đều bị phá bỏ và chùa Kiến Sơ bị làm khó dễ, nhưng cuối cùng vua đã bị thiền sư Tăng Hội thuyết phục và đã xin thọ tam quy, ngũ giới. Vua cho trùng tu lại chùa Kiến Sơ và cho phép tái thiết lại các ngôi chùa đã bị phá hoại. Chúng ta thấy khả năng hóa độ của thiền sư Tăng Hội rất lớn. Truyền thống thiền sư Tăng Hội thành lập đã là một thiền phái vững mạnh, tồn tại mãi tới đời Lý và sau đó đến đời Trần mới hòa nhập cùng các thiền phái như Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường, v.v… Chúng tôi mong rằng cuốn sách Thiền Sư Tăng Hội (đã được dịch sang tiếng Anh) sẽ dịch được ra tiếng Trung Quốc trong một ngày rất gần.

Sen nở tự vườn tâm

Về phương diện Tịnh Độ, khi đọc Trần Thái Tông hay là Tuệ Trung Thượng Sĩ, chúng ta thấy cha ông của chúng ta trong truyền thống Phật giáo có cái nhìn khá sâu sắc, đúng mức về giáo lý Tịnh Độ. Tuệ Trung Thượng Sĩ nói: Di Đà vốn thật pháp thân ta. Cố nhiên khi những người chưa biết nhiều về đạo Bụt, những người sơ cơ, mới tu khi vào chùa nghĩ rằng Bụt ngồi trên bàn mới là tuệ giác, mới là hạnh phúc, còn mình là chúng sanh, là đau khổ, là vô minh. Nếu như mình được thầy đàng hoàng hướng dẫn tu tập thì sau một thời gian mình thấy rất rõ ngồi trên bàn không phải là Phật thiệt mà chỉ là tượng Phật bằng đồng, bằng xi măng, bằng đá, bằng ngọc thạch hay bằng vàng thôi. Bản chất của Bụt là sự tỉnh thức, trí tuệ tuyệt vời và tình thương không biên giới. Vua Trần Thái Tông là một nhà Phật học nhưng cũng là một hành giả rất tinh chuyên. Tuy làm vua, bận việc triều chính nhưng mỗi ngày vẫn để ra sáu lần trong một ngày để thực tập thiền. Điều đó chúng ta thấy trong tác phẩm Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi, mỗi ngày thực tập sáu lần.

Đức Di Đà không phải là một thực tại ở ngoài ta, tưới tẩm những hạt giống tốt sẽ giúp cho Phật tính ở trong người mình biểu hiện ra. Bây giờ có thể thấy người đó như một kẻ thù nhưng khi nhìn bằng con mắt của Bụt thì mình thấy trong con người đó có hạt giống của bạn và nếu khéo léo hơn một chút thì mình có thể chuyển thù thành bạn. Mình được học rằng đức Phật Di Đà đang ngự tại phương Tây nơi cõi Tịnh Độ và nếu mình thực tập cho đàng hoàng thì đến khi chết mình sẽ sinh sang bên Tây phương Cực Lạc, trong một hoa sen, sẽ được đức Di Đà thu nhận làm đệ tử, sẽ tu học với Ngài trong một thời gian rất lâu, cõi đó là cõi Vô Lượng Quang và cõi Vô Lượng Thọ. Chúng ta được dạy rằng, mỗi khi mình niệm một câu Nam Mô A Di Đà Phật tức là mình để cái tâm, để chánh niệm, đem sự chú ý của mình đặt lên đối tượng gọi là Phật. Niệm Nam Mô A Di Đà Phật thì một đóa sen được nở ra, được lú ra ở cõi Tịnh Độ nhưng mà đồng thời cũng được lú ra ở trong trái tim của mình và hễ mỗi lần niệm thêm một câu thì đóa sen nở lớn hơn một chút. Sinh ra trong hoa sen là một hình ảnh thi ca, rất đẹp. Ở trong đạo Phật tôi thấy toàn là hình ảnh thi ca nhưng phải qua hình ảnh thi ca mới thấy được bản chất, nội dung của giáo lý.

Cũng có những vị Tổ sư dạy cho chúng ta biết rằng, cõi Tịnh Độ không phải nằm ở phương Tây, nó nằm ngay trái tim của mình cho nên gọi là Duy tâm Tịnh Độ. Nếu phối hợp Thiền học với Tịnh Độ thành Tịnh Độ Bây Giờ và Ờ Đây. Nói theo tiếng Hán Việt là Tịnh Độ Hiện Tiền. Tham đắm, thèm khát, giận hờn, si mê làm cho cõi đất mất sự thanh tịnh và bị ô nhiễm và khi lấy những cấu uế ra khỏi trái tim của mình, nghĩa là khi sự thèm khát, kỳ thị, giận hờn, sợ hãi biến mất thì tự nhiên cảnh Tịnh Độ Hiện Tiền. Chúng tôi gọi đó là Hiện Pháp Tịnh Độ. Trong kinh Di Đà có nói rằng mỗi khi gió thổi qua hàng cây, nếu lắng nghe thì mình sẽ nghe tiếng thuyết pháp về tứ đế, ngũ căn, ngũ lực, thất Bồ Đề phần, bát chánh đạo phần và có những con chim ở cõi Tịnh Độ khi nó hót lên, mình cũng nghe những bài pháp như là tứ đế, ngũ căn, ngũ lực, thất Bồ Đề, bát chánh đạo phần. Nếu lấy con mắt thiền mà nhìn thì rõ ràng: Cõi Tịnh Độ đang có mặt ở đây. Bông hoa trước mặt quý vị đang thuyết pháp: Thuyết pháp về sự vô thường, vô ngã, về tương tức, về vô sinh bất diệt.

Bài pháp Vô Sinh Bất Diệt

Nhìn đám mây trên trời quý vị sẽ thấy rằng, tự tánh đám mây là vô sinh bất diệt. Với con mắt của người chưa tu, mình tưởng đám mây là có sinh (sinh là từ cái không mà thành cái có), có diệt (diệt là từ cái có trở thành cái không). Nhưng nếu là người đã tu, đã quán chiếu thì mình thấy tự tánh của đám mây là Vô Sinh Bất Diệt. Nhìn vào tờ giấy với con mắt thiền quí vị sẽ thấy rừng cây, sẽ thấy đám mây, sẽ thấy ánh sáng mặt trời ở trong này. Nếu không có đám mây làm sao có mưa, có ánh sáng mặt trời để cây rừng mọc lên được và có bột cây để làm giấy? Cho nên nhìn vào một cái mình thấy tất cả, đó là giáo lý Một Là Tất Cả ở trong kinh Hoa Nghiêm. Vì vậy giờ phút mà mình gọi là sinh không phải là giờ sinh của tờ giấy mà chỉ là giờ chuyển hóa của tờ giấy thôi.

Trước khi tờ giấy là tờ giấy nó đã là đám mây, đã là cơn mưa, đã là rừng cây, đã là người thợ làm giấy. Nếu mình có con mắt trí tuệ, nhìn vào tờ giấy mình phải thấy tất cả những cái đó. Khi đốt tờ giấy mình đừng tưởng rằng tờ giấy chết (chết trong đầu của mình có nghĩa là từ có mà trở thành không). Đố quý vị làm cho tờ giấy này từ có mà trở thành không được? Khi mình đốt, mình nhận thấy, tờ giấy sẽ đi luân hồi thành hơi nóng, luân hồi thành tro, luân hồi thành khói. Khói bốc lên trở thành mây, hơi nóng đi vào trong con người mình và tro rơi xuống đất để mai này luân hồi thành một bông hoa, một cọng cỏ. Vì vậy không thể nào từ có mà trở thành không được.

Quan niệm chết, nghĩa là từ có trở thành không là một quan niệm sai lầm. Đám mây bây giờ mình thấy, mai mốt có thể trở thành mưa, thành tuyết, thành nước đá hay thành một thứ gì khác nhưng không thể trở thành không được. Một đám mây, một cơn mưa hay một tờ giấy không thể nào chết được cũng như tướng Trần Hưng Đạo, không bao giờ chết được. Nếu có con mắt thiền thì chúng ta thấy tướng Trần Hưng Đạo đang còn với chúng ta trong những hình thái mới.

Khi một người thương của chúng ta qua đời, chúng ta tưởng người đó không còn nữa nhưng kỳ thực người đó đã mang những hình thức biểu hiện mới. Cũng như khi mình thấy đám mây không còn trên trời nữa thì mình khóc, trong khi đám mây đã trở thành mưa và nói: Anh ơi, tôi đang còn đây này, anh không thấy tôi sao? Tôi đang còn dưới một hình thái mới và tôi đang ca hát trong khi rơi xuống đất. Cũng vậy, nếu quý vị vừa mất một người thương thì quý vị đừng tưởng người đó đã từ có trở thành không, người ấy không còn nữa.

Nếu có con mắt thiền thì mình có thể nhận diện được người thương của mình. Nhìn vào hạt sỏi, tờ giấy, đám mây với con mắt thiền thì mình có thể thấy được tính vô sinh bất diệt của nó để mình có thể vuợt thoát khỏi những cơn xúc cảm, những nổi khổ, niềm đau của mình. Cũng như một đợt sóng, đứng về phương diện sóng, mình thấy có sự bắt đầu, sự chấm dứt. Mình thấy đợt sóng phát sinh đi lên, rồi đi xuống, đợt sóng đi xuống rồi, không thấy đợt sóng nữa, mình nói đợt sóng không còn, đợt sóng đã chết. Đứng về phương diện nước, mình thấy rằng nước đâu có đi lên, đi xuống gì đâu. Nếu đợt sóng biết nó là nước thì đi lên cũng vui, đi xuống cũng vui, đâu có gì phải sợ hãi.

Thực tập thiền là để cho chúng ta có cơ hội tiếp xúc được với chân tánh của chúng ta. Chân tánh, tự tánh đó là bất sinh và bất diệt. Tịnh Độ không phải là vấn đề tương lai, những mầu nhiệm của Tịnh Độ như là bông hoa, như là đám mây đang thuyết pháp: Tôi đang nói bài pháp Bất sinh bất diệt, nếu quý vị chịu khó nhìn tôi và quán chiếu thì sẽ thấy được tôi là một bài thuyết pháp. Vô thường, vô ngã, tương tức, một là tất cả, tất cả là một, bất sinh bất diệt, tất cả những giáo pháp vi diệu đó đang có mặt trong giây phút hiện tại.

Đứng về phương diện Tam thân (Ba thân) 10*: Hóa thân của đức Thích Ca tuy bây giờ mình không thấy nữa nhưng mà Pháp thân của đức Thích Ca vẫn còn có mặt. Bây giờ và hiện tại mình có thể tiếp xúc với đức Thích Ca bất cứ lúc nào mình muốn. Bông hoa đang thuyết pháp, Pháp thân đang thuyết pháp. Một hôm đức Thích Ca nghe tin một vị đệ tử tên là Vakali sắp từ trần, ngài tới thăm và hỏi: Thầy có còn tiếc nuối gì không? Thầy Vakali trả lời: Bạch đức Thế Tôn, con không còn tiếc nuối gì hết nhưng vì bệnh hoạn thành ra con không thể lên núi Linh Thứu mỗi tuần để được thăm và được nhìn đức Thế Tôn nữa. Đức Thế Tôn mới nói rằng: Nhục thân của tôi không quan trọng, hình hài của tôi không quan trọng, chính Pháp thân của tôi mới quan trọng. Thầy đã học, thầy đã thực tập là thầy đã có Pháp thân của tôi trong người của thầy rồi, đó là điều quan trọng nhất. Chữ Pháp thân được dùng ở trong trường hợp đó. Cho nên đứng về phương diện Hóa thân, mình thấy có không nhưng đứng về phương diện Pháp thân, luôn luôn nó trường tồn mãi mãi. Đứng về phương diện sóng, hình như mình thấy có sinh có diệt, nhưng bản chất của sóng là vô sinh bất diệt. Vì vậy nếu đợt sóng tiếp xúc được với tự tánh của nó là nước thì nó sẽ không còn sợ hãi lo lắng nữa. Chúng ta cũng vậy, chúng ta là con người, chúng ta nghĩ rằng chúng ta là nạn nhân của sinh của tử, chúng ta sinh ra rồi chúng ta phải chết đi. Thiền tập giúp chúng ta tiếp xúc được với tự tánh vô sinh bất diệt, khi tiếp xúc được với tự tánh vô sinh bất diệt, chúng ta sống an ổn, hạnh phúc, vô úy từng giây từng phút. Đó là hạnh phúc lớn nhất của đời người.

Có không còn mất chẳng băn khoăn

Khi đi chùa, mình có thể cầu nguyện, lễ lạy, cúng dường, nghe Pháp, có thể bớt đi rất nhiều niềm đau, nỗi khổ. Nhưng báu vật quí giá nhất, châu báu bậc nhất mà mình tìm thấy trong đạo Phật là mình có thể tiếp nhận, hành trì để mình có thể tiếp xúc được với tự tánh không sinh, không diệt của chính bản thân mình. Cái đó gọi là Niết Bàn, tiếng Phạn là Nirvana, có nghĩa là sự vắng lặng, sự tắt ngấm. Vắng lặng ở đây có nghĩa là sự vắng lặng của những ý niệm, trước hết là ý niệm sinh và diệt. Bản chất của sự vật là không sinh và không diệt nhưng mình nghĩ rằng chúng có sinh và có diệt. Bản chất của sự vật là không tới cũng không đi nhưng mình nghĩ là có tới, có đi.

Tôi xin cống hiến quý vị một phép thực tập, chúng ta cùng làm cho vui (còn những dữ kiện về lịch sử Phật giáo thì đâu có thì giờ mà nói cho nhiều). Ví dụ, bây giờ chúng ta nhìn vào hộp diêm này và nếu nhìn bằng con mắt thiền thì chúng ta thấy ngọn lửa (không đợi tôi quẹt que diêm lên mình mới thấy), ngọn lửa đã tiềm tàng trong những nguyên nhân của chúng nó. Đức Thế Tôn dạy rằng khi hội đủ những điều kiện thì cái đó phát hiện (phát hiện chứ không phải là sinh đâu nhé!). Nhìn kỹ cái hộp diêm này mình thấy rằng ngọn lửa trốn ở đâu đây, không phải chỉ ở trong hộp diêm mà nó ở ngoài hộp diêm nữa, ví dụ như là dưỡng khí ở ngoài. Nếu không có dưỡng khí thì đố mà ngọn lửa biểu hiện ra được. Tất cả những điều kiện để cho ngọn lửa phát hiện đầy đủ rồi, chỉ thiếu một điều kiện cuối là cử động của ngón tay thôi. Tôi nói: Này lửa ơi! Tôi biết em có đó, bây giờ em hãy biểu hiện đi. Ngọn lửa mới nói: Thầy giúp em một tay, Thầy quẹt một cái đi, em sẽ biểu hiện. Tôi mới quẹt và ngọn lửa bừng cháy. Ngọn lửa không phải từ không mà trở thành có đâu, ngọn lửa biểu hiện khi các điều kiện hội tụ, nhân duyên đầy đủ. Nhân và duyên đầy đủ thì nó biểu hiện, nhân duyên thiếu thì nó ẩn tàng. Bây giờ mình hỏi ngọn lửa: Ngọn lửa ơi, em từ đâu tới và em đã đi về đâu rồi? Nếu mình lắng nghe với con mắt thiền, mình sẽ nghe tiếng trả lời của ngọn lửa: Quý vị ơi, em đâu có từ đâu tới! Em không phải từ phương Nam, phương Bắc, cũng không phải từ phương Tây, phương Đông tới, hễ khi nào những điều kiện nó hội đủ thì em biểu hiện thôi! Đó là sự thật, một sự thật rất khoa học. Hồi nãy tôi mới thấy em đó, em đã đi đâu rồi ngọn lửa ơi? Ngọn lửa trả lời: Em đâu có đi đâu đâu. Em cũng không đi về miền Bắc, miền Nam, miền Tây, miền Đông. Khi nào điều kiện không hội đủ thì em không có biểu hiện nữa thôi, em không có đi đâu hết! Đó là sự thực không tới cũng không đi, vô khứ vô lai, bất sinh bất diệt. Đó là bốn ý niệm sinh diệt khứ lai. Bản chất của sự vật là vô khứ vô lai, mà mình cứ nói là có khứ có lai cho nên mình không tiếp xúc được với tự tánh Niết Bàn của nó.

Chúng ta nhìn vào cậu con trai bằng con mắt thiền thì chúng ta thấy người bố, người mẹ trong cậu con trai, thấy đứa con là sự tiếp nối của cha, của mẹ. Cũng như khi nhìn vào cây ngô, chúng ta biết rằng cây ngô là sự tiếp nối của hạt ngô mà chúng ta mới gieo cách đây mấy tháng. Chúng ta thử hỏi hạt ngô năm xưa và cây ngô mà chúng ta đang thấy là một hay là hai cái? Nói hai thì không đúng, vì nếu không có hạt ngô thì làm gì mà có cây ngô, cây ngô là sự tiếp nối của hạt ngô. Nói một thì cũng không đúng tại vì hạt ngô có khác và cây ngô có khác. Vậy cho nên quan niệm một và quan niệm khác cũng không phù hợp với thực tại. Danh từ chuyên môn gọi là Phi nhất phi dị. Chúng ta quen suy tư với những phạm trù sinh diệt, tới đi, một khác và nhất là có không. Khi những điều kiện hội đủ, cái đó biểu hiện, ta gọi là có. Khi những điều kiện không đầy đủ cái đó không biểu hiện mà ta gọi là không thì điều đó không đúng. Ví dụ bây giờ trong phòng này, không có máy để tiếp nhận những luồng sóng điện từ đài phát thanh Hà Nội thì chúng ta không thể nói rằng những chương trình của đài phát thanh Hà Nội không có. Những âm ba của đài phát thanh đang có mặt đầy dẫy ở đây, chúng ta chỉ thiếu một điều kiện để có thể nhận thức được nó. Vậy khi nó chưa phát hiện mà nói là không thì không đúng và khi nó phát hiện rồi mà nói là có, cũng không đúng, tại vì có tức là sự trái chống lại của không. Cho nên sự thực vượt thoát cả hai ý niệm có và không.

Một thi sĩ Tây phương đã nói rằng: Có hay không đó là vấn đề (to be or not to be that is the question) 11*. Trong ánh sáng đạo Bụt thì: to be and not to be, being and non-being, hữu thể và vô thể đều là ý niệm. Niết Bàn là sự vắng mặt của tất cả các ý niệm. Niết Bàn là bản chất của thực tại, Niết Bàn không phải là một cõi mà sau khi chết mình đi vào, đó là một tư tưởng rất sai lầm. Nếu có cái nhìn sâu sắc của trí tuệ ta có thể tiếp xúc được Niết Bàn ngay trong giây phút hiện tại, đó là bản chất không sinh không diệt, không tới không đi, không một không khác, không có không không. Khi đạt tới cái đó là chúng ta thành công trong sự tu học, chúng ta vượt thoát tất cả những lo lắng, những sợ hãi và chúng ta có một trí tuệ lớn (gọi là đại trí). Tịnh Độ cũng vậy, Tịnh Độ có mặt bây giờ và ở đây. Đức A Di Đà nếu mình muốn ngài có mặt, mình có thể tiếp xúc được bây giờ và ở đây.

Bàn tay mẹ trong bàn tay con

Tôi có một người bạn họa sĩ, ngày xưa đã rời Việt Nam bằng một con đường rất là cực nhọc, đi làm bồi trên một chiếc tàu thủy để được qua bên Hoa Kỳ vì nghĩ rằng bên đó có cơ hội tiến thân hơn. Trước khi rời Việt Nam thì bà mẹ của anh vốn là một người không biết chữ, không biết triết học là gì có dặn một câu: Con ơi, khi con sang bên nớ, con nhớ mẹ, con hãy đưa bàn tay của con ra con nhìn thì con sẽ đỡ nhớ. Bà ta nói như vậy, giống như một nhà triết học. Trong những năm tháng lây lất ở quê người, mỗi khi nhớ mẹ, anh chàng họa sĩ đó đã đưa tay lên để nhìn cho đỡ nhớ mẹ. Trong quá trình tu học của tôi, tôi thấy rất rõ đây là một tuệ giác rất là lớn của những bà mẹ Việt Nam. Bàn tay này, mình nói là bàn tay của mình, cái đó cũng đúng nhưng kỳ thực bàn tay này cũng là sự tiếp nối của bàn tay mẹ, bàn tay cha cũng như cây ngô là sự tiếp nối của hạt ngô và hạt ngô là sự tiếp nối của cây ngô trước. Nhìn vào bàn tay của mình thì mình thấy bàn tay của mẹ, bàn tay của cha và bàn tay của tổ tiên đang có mặt trong bàn tay mình mà nói đây chỉ là bàn tay của riêng mình là không đúng, đây cũng là bàn tay của cha, của mẹ.

Hồi nhỏ khi còn thơ ấu có những lúc bị sốt, khát nước, khô cổ, nóng bức và khi mẹ đi vào, rồi để bàn tay của bà lên trên trán mình thì mình thấy dễ chịu một cách lạ kỳ. Đến khi mình lớn lên, mình rong ruỗi, mẹ không còn đó nữa, mỗi khi sốt, mình ao ước có bàn tay đó đặt lên trên trán. Theo tôi, bàn tay của mẹ vẫn còn, nếu mình muốn bàn tay đó đặt lên trên trán mình thì vẫn còn có thể được, dầu quý vị đã bốn mươi tuổi hay sáu mươi tuổi nhưng vẫn còn có bàn tay của mẹ. Quý vị chỉ cần đưa bàn tay lên và nhìn và thấy rằng: Mẹ ơi, con biết bàn tay tuy con nói là của con nhưng mà cũng là bàn tay của mẹ, nó là sự nối tiếp của bàn tay mẹ. Trong sự quán chiếu, trong sự thiền quán mình thấy rõ ràng bàn tay của mẹ đang còn có mặt cho mình. Trong tuệ giác đó, đưa tay lên mình thấy bàn tay của mẹ đang đặt trên trán mình một cách rất nhẹ nhàng và mình cảm thấy không khác gì bàn tay năm xưa.

Quý vị thử đi, quý vị sẽ thấy, tự tánh của mẹ mình là không sinh, không diệt. Mình đừng tưởng mẹ mình đã mất rồi, mẹ mình đang còn dưới những hình dạng mới và mình phải có tuệ giác mới có thể nhận diện ra được. Thiền tập có khả năng đưa tới trí tuệ để có thể vượt thoát những nỗi khổ, niềm đau trong đó có sự sợ hãi. Tuệ giác có thể giúp mình lấy đi hết tất cả những tri giác sai lầm của mình về mình và những tri giác sai lầm của mình về người khác, như vậy chúng ta tới gần nhau hơn và chúng ta không còn tiếp tục làm khổ nhau nữa. An lạc, hòa bình, hạnh phúc là chuyện có thể xảy ra một cách dễ dàng với trí tuệ đó.

Trong những năm tháng chúng tôi ở quê người chúng tôi đã từng tìm cách giảng dạy trao truyền kinh nghiệm, sự thực tập. Chúng tôi nghĩ rằng nếu người trẻ tuổi, những trí thức Tây phương có khả năng tiếp nhận và áp dụng trong đời sống hàng ngày của họ để chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau thì người trẻ tuổi Việt Nam, người trí thức Việt Nam cũng có thể áp dụng được, thừa hưởng được giáo lý đó. Tôi thấy thế hệ trẻ của chúng ta không có được nền tảng tâm linh vững chắc như thế hệ trước.

Quý vị đi chùa, quý vị sẽ thấy các bậc lớn tuổi, họ có niềm tin nơi nền đạo đức cổ truyền rất là vững chãi. Chính niềm tin giữ cho mình không bị rơi vào hầm hố của sự tham nhũng, sự hư hỏng, sự trác táng. Nếu người trẻ không có được vững chãi đó, niềm tin đó thì họ có thể trở thành nạn nhân của sự hư hỏng, sự tham nhũng, sự trác táng. Nhưng làm sao để thế hệ những người lớn tuổi có thể trao truyền lại được cái vốn liếng, cái gia tài tâm linh đó cho người trẻ? Nếu chúng ta thất bại trong sự trao truyền niềm tin đó cho thế hệ trẻ thì chúng ta đã có tội với tổ tiên, với đất nước. Chúng ta đã không trao truyền được những gì quí giá nhất mà tổ tiên tâm linh, tổ tiên huyết thống đã trao truyền cho chúng ta.

Hố ngăn cách giữa hai thế hệ chúng ta phải lấp đi, sự liên hệ giữa cha con và mẹ con cần phải được thiết lập trở lại để thế hệ này có thể trao truyền những gì quí giá nhất mà chúng ta đã tiếp nhận được từ các thế hệ trước. Đó là niềm ưu tư của chúng ta. Chúng tôi mong rằng các vị trong giới học giả, khảo cứu, các vị văn nghệ sĩ đóng góp vào một tay để chúng ta có thể bảo tồn được gia tài tâm linh quí giá của chúng ta. Gia tài đã làm cho nước chúng ta giàu mạnh, đứng vững và có khả năng đánh bại tất cả những cuộc xâm lăng của phương Bắc như đời Lý, đời Trần.

 

 

Vấn đáp

Hỏi:
Tôi hỏi một câu có thể là xa với chủ đề. Cuộc đời Thiền sư đã bôn ba rất nhiều ở các nước mà lại có thể truyền đạt được đạo Bụt cho nhiều người của các quốc gia trên thế giới. Thiền sư học ngoại ngữ như thế nào để giúp nhiều người hiểu được pháp tu của đạo Phật?


Thiền sư Nhất Hạnh:
Có rất nhiều người rất giỏi ngoại ngữ nhưng họ đâu có truyền đạt được gì, thành ra vấn đề không phải là vấn đề ngoại ngữ.

____________

Hỏi:
Xin Hòa Thượng cho biết sự khác biệt giữa thiền Việt Nam và thiền Trung Quốc.


Thiền sư Nhất Hạnh:
Chúng tôi đã nói ngay từ đầu, thiền Việt Nam nó phối hợp được với văn học, với truyền thống của đạo Bụt Nam Tông, với cái nhìn phóng khoáng của đạo Bụt đại thừa. Hơn nữa thiền Việt Nam có tính dấn thân hơn, thực tiễn hơn thiền Trung Quốc. Hiện bây giờ Tây phương có đủ các truyền thống Phật giáo, Theravada, Nam Tông, Phật giáo Tây Tạng, Phật giáo Miến Điện, Phật giáo Thái Lan, Phật giáo Trung Quốc, Phật giáo Đại Hàn,… nhưng bất cứ ai tới với khóa tu do chúng tôi tổ chức ở Âu châu và Mỹ châu đều cảm thấy thoải mái, giống như họ về nhà vậy.

Phật giáo Việt Nam theo cách chúng tôi trình bày được sự kết hợp một cách kỳ diệu giữa các truyền thống Phật giáo, nhất là truyền thống Nam Tông và truyền thống Bắc Tông. Điều này không phải là một điều mới, ngay từ thế kỷ thứ ba thiền sư Tăng Hội đã làm như vậy. Đời Trần chúng ta cũng đã làm như vậy. Trước đó chúng ta có truyền thống Tỳ Ni Đa Lưu Chi, truyền thống Vô Ngôn Thông, truyền thống Thảo Đường, rồi truyền thống Lâm Tế, tất cả truyền thống đó vào nước ta, rốt cuộc xuôi chảy về một dòng sông, tổng hợp lại hết. Đời Trần chúng ta có một vị quốc sư gọi là Nhất Tông quốc sư, một vị thầy của cả nước nhưng dạy thứ thiền Phật giáo tổng hợp, đó là một đặc điểm của Phật giáo Việt Nam.

____________

Hỏi:
Thưa Thiền sư, có một số ý kiến cho rằng là Lục tổ Huệ Năng có thể là một vị tổ sư xuất thân từ người Việt Nam và gần đây trong một cuốn sách của Hòa thượng Trí Quang cũng nhắc đến vùng này. Là một người rất thâm sâu về lịch sử Phật giáo, xin Thiền sư cho biết vấn đề tổ Huệ Năng có phải là người Việt Nam hay không?


Thiền sư Nhất Hạnh:
Vùng đất gọi là Lĩnh Nam đó, không phải chỉ có Giao Châu mà thôi, nó gồm có những tỉnh miền Bắc nữa 12*. Điều chắc chắn nhất mà chúng ta có thể nói là Lục Tổ Huệ Năng là từ Lĩnh Nam.

____________

Hỏi:
Con là người nghiên cứu nước ngoài và cũng là một Phật tử, con rất là tâm đắc câu của ngài nói:
Nếu chúng ta không trao truyền được cho thế hệ trẻ Việt Nam những truyền thống tâm linh quý báu của tổ tiên là chúng ta có tội với đất nước. Con nghĩ rằng nếu như chúng ta có thể làm điều gì giúp cho mọi người Việt Nam cũng như thế hệ trẻ thật sự hiểu được luật nhân quả. Trong mục tiêu giáo dục của Thái Lan, mục tiêu nào người ta cũng nhắc đến luật nhân quả, vậy trong những ngày Thiền sư còn ở đây, xin Thiền sư góp ý cho vấn đề trên.

Thiền sư Nhất Hạnh:
Trong những tháng chúng tôi được viếng thăm quê hương, chúng tôi sẽ có cơ hội gặp gỡ các vị giáo sư Phật học, các tăng sinh Phật học. Chúng tôi sẽ đàm luận về nền giáo dục Phật giáo mới. Chúng tôi nghĩ rằng nếu không có những giáo lý mới, những giáo lý đổi mới và những phương pháp thực tập đáp ứng lại được những nhu yếu hiện đại của thanh niên, của người trí thức thì chúng ta không làm tròn được sứ mạng của chúng ta đối với con cháu chúng ta. Nếu chúng ta cứ để như thế này, nếu chúng ta tiếp tục giảng dạy và thực tập như cách chúng ta đang làm thì từ từ người trẻ, người trí thức sẽ vắng tới chùa và chúng ta sẽ chỉ có thể dạy những người lớn tuổi thôi.

Kinh nghiệm của chúng tôi trong những năm giảng dạy ở Tây phương thì hầu hết tất cả những người đến thực tập với chúng tôi đều là người trẻ và người trí thức, tại vì chúng tôi đã tìm ra một thứ ngôn ngữ để có thể trao truyền được tuệ giác và những phương pháp thực tập để giúp cho người ta chuyển hóa được những nỗi khổ niềm đau ở trong lòng, để cho họ hòa giải được với cha mẹ, với người hôn phối, với con cái và với cộng đồng của họ. Vì vậy dù không quảng cáo, không quảng bá mà số thiền sinh tới tu tập trong các đạo tràng của chúng tôi càng ngày càng đông. Chúng tôi đã đào tạo ra mấy trăm vị giáo thọ có khả năng mở những khóa tu để trao truyền phương pháp thực tập này.

Trong chuyến đi này chúng tôi cũng có ý muốn mời một số các Phật tử Việt Nam tham dự vào công việc đó, nghĩa là đào tạo và đi giảng dạy, hướng dẫn thiền sinh Tây phương. Đây là cơ hội lớn để chúng ta có thể gieo trồng hạt giống Phật Pháp ở vùng văn hóa Tây phương. Sự đáp ứng lại của giới trẻ, giới trí thức Tây phương đối với đạo Bụt rất lớn. Chúng tôi nghĩ rằng nếu chúng ta có thể làm mới được sự giảng dạy và những phương pháp thực tập, để cho những lối giảng dạy đó, những phương pháp thực tập đó có thể làm thỏa mãn nhu yếu của con người hiện đại, nhất là người thanh niên, giúp họ chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau, giới trẻ sẽ trở lại với chùa và sẽ cộng tác để xiển dương, chấn hưng lại nền đạo học, chấn hưng lại truyền thống tâm linh của chúng ta. Chúng ta nên nhớ lại đời Lý, đời Trần, từ vua quan cho đến dân đều thực tập với tình huynh đệ cho nên đất nước chúng ta rất giàu mạnh.

____________

Hỏi:
Năm 2001 tôi có được mời sang Mỹ, được chứng kiến vụ 11 tháng 9. Điều đó làm cho tôi rất là kinh hoàng. Nhưng mà điều tôi và các bạn kinh ngạc hơn là ngay sau ngày 11 tháng 9, nghe tin Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã đến ngay tại chỗ hai tháp đôi bị đánh sụp, giảng thuyết về thiền học. Người Mỹ đã đến, đông đến mức không có đủ vé để vào, sáu bảy tám ngàn người đã đến chỗ đó. Nghe nói là Thiền sư giảng về đề tài: Không thể dùng bạo lực để chống lại bạo lực. Vì ở quá xa tôi không thể bay đến để nghe Thiền sư giảng được, hôm nay muốn Thiền sư nói lại một chút là Thiền sư đã nói những gì và người Mỹ đã phản hồi như thế nào trong ngày hôm đó?

Thiền sư Nhất Hạnh:
Chúng tôi đang ở tiểu bang California, miền Tây Hoa Kỳ khi sự kiện đó xảy ra. Hai ngày sau đó chúng tôi phải diễn thuyết tại nhà hát cộng đồng Berkeley, một thành phố ở miền Bắc Cali. Khi nghe tin kinh hoàng đó, chúng tôi yêu cầu ban tổ chức đổi đề tài, vì đề tài cũ không còn thích hợp nữa. Hôm đó có bốn ngàn thính giả Hoa Kỳ tới nghe bài diễn thuyết đó. Chúng tôi đã bắt đầu bằng cầu nguyện cho nạn nhân của cuộc tấn công tại New York. Tôi nói rằng: Trong tình trạng hiện tại, xin các bạn đừng vội vàng tuyên bố hoặc hành động, vì lúc đó cảm xúc quá lớn, sự sợ hãi, sự lo lắng, sự giận hờn quá lớn. Mà trong trạng thái cảm xúc lớn, giận hờn lớn, lo lắng lớn như vậy mà mình nói và mình làm thì mình sẽ gây ra đổ vỡ. Đó là thiền chỉ. Chúng ta hãy nhìn lại tình trạng cho kỹ và đặt câu hỏi tại sao những người đó đã làm như vậy? Căn cứ trên những tri giác nào mà những người đó đã làm như vậy? Chúng ta đã làm gì để cho họ hiểu lầm chúng ta, để họ có niềm căm thù tới mức đó. Chúng ta phải thực tập lắng nghe.

Sau nhiều ngày thực tập hơi thở và làm êm dịu những cảm xúc, chúng ta mới có thể bắt đầu cuộc đối thoại: Này quý vị bên kia, chúng tôi không hiểu tại sao quý vị đã làm như thế? Có lẽ quý vị nghĩ rằng chúng tôi muốn tiêu diệt quý vị, muốn đàn áp quý vị, muốn tiêu diệt văn hóa, tôn giáo của quý vị. Nhưng kỳ thực chúng tôi không có ý niệm đó, chúng tôi muốn lắng nghe quý vị, xin quý vị nói cho chúng tôi nghe nhận thức nào, cảm xúc nào đã khiến quý vị tạo ra một bi kịch như vậy cho chúng tôi, trên đất nước chúng tôi? Chúng tôi đã làm những lầm lỗi nào, chúng tôi nên làm những gì và không nên làm những gì để khỏi phải bị đối xử như vậy? Chúng tôi sẵn sàng lắng nghe! Đó cũng nằm trong phạm vi sự thực tập.

Trong khi lắng nghe, mình sẽ thấy được rõ ràng là họ có những tri giác nào về họ và họ có những tri giác nào về mình. Khi thấy được rồi, mình mới có khả năng giúp cho họ tháo gỡ những tri giác sai lầm. Nếu mình có tri giác sai lầm, mình cũng có thể tháo gỡ cho mình được. Tôi mới đề nghị cụ thể là ngay chính trong nước Mỹ cũng có những người họ cảm tưởng tuy họ là công dân Mỹ, nhưng họ cũng cảm tưởng họ là nạn nhân của sự kỳ thị, của sự đè nén áp bức, nhất là những giới da màu v.v… Trước hết quý vị phải lắng nghe ở trong châu thân của quí vị, những nỗi khổ niềm đau ở ngay trong đất nước Mỹ.

Quý vị phải triệu tập những nhân sĩ, những người có khả năng lắng nghe tới để tổ chức những cuộc lắng nghe tập thể như vậy và quý vị có thể truyền hình những buổi lắng nghe như vậy. Những người đó không cần phải là những nhà lãnh đạo chính trị. Họ có thể là những nhà nhân sĩ không có vai trò gì trong chính trị nhưng họ có khả năng lắng nghe, họ có đạo đức. Sau khi đã lắng nghe được nước Mỹ rồi thì quý vị sẽ lắng nghe những dân tộc khác mà quý vị nghi ngờ đã nhúng tay vào cuộc bạo động này.

Quý vị sẽ hỏi: Xin quý vị nói cho chúng tôi biết vì lý do gì mà quý vị đã gây ra một cuộc tàn sát như vậy? Chúng tôi đã làm nên những lầm lỗi gì? Nói đi để chúng tôi có thể hiểu và nếu quý vị có những nỗi đau khổ nào, những khó khăn nào chúng tôi cũng có thể giúp được cho quý vị. Nếu quý vị có tâm đạo đức, có khả năng quán chiếu thì quý vị có thể làm được việc đó. Trong bài diễn thuyết đầu tôi có nói rằng: Đừng bạo động, đừng hành động ngay lập tức một cách bộp chộp để gây ra các tai hại sau này. Sau đó một tuần lễ, tại New York, tôi được mời đi diễn thuyết tại nhà thờ lớn Riverside Church và buổi nói chuyện được thông báo trước trên tờ New York Time: Xin tới nghe Thiền sư Nhất Hạnh. Chiêm nghiệm về  tình trạng để biết con đường mình nên đi và những gì mình không nên làm. Trên báo cũng có đăng môt bài thơ của tôi:

Tôi ôm mặt trong hai bàn tay của tôi
Tôi ôm mặt không phải là để khóc
Tôi ôm mặt để cho ấm áp sự cô đơn
Hai bàn tay chở che,
hai bàn tay nuôi dưỡng,
hai bàn tay ngăn cản
Sự ra đi hờn dỗi của linh hồn.

Để đánh động tâm tư họ, để họ có ước muốn trở về với chính họ, để ôm ấp lấy nỗi khổ niềm đau của chính họ. Chúng tôi biết rằng trong khung cảnh đó, sự căm thù ngùn ngụt, ai cũng muốn đem bom đi bỏ liền lập tức những nước Ả Rập. Hồi đó, tăng thân đi theo tôi đông lắm, có nhiều người muốn tới để yểm trợ tôi trong buổi diễn thuyết đó như cựu đại sứ Andrew Young hay nhà doanh nghiệp Bill Ford,… nhưng mà họ cũng sợ, họ không dám tới hay tới trễ hơn sau khi tôi đã bắt đầu buổi nói chuyện. Trong tăng thân, nhiều người nói rằng: Thầy ơi, nguy hiểm lắm! Trong khi người ta sôi sục căm thù, Thầy kêu gọi từ bi, nói lên tiếng nói của trí tuệ, nó có thể đem súng đến bắn Thầy. Chuyện này đã xảy ra cho M. Luther King, cho Kennedy, Gandhi.v.v… khi mình nói sự thật, phải biết rằng có những người không chịu đựng nỗi được sự thật đó, họ sẽ ám sát mình. Tối hôm đó tôi nói: Trong tình trạng này, nếu người Mỹ bộp chộp có thể gây ra cuộc thế chiến thứ III, tan nát hết. Mình là người có tuệ giác, có từ bi, nếu sợ hãi không dám nói thì đâu còn xứng đáng làm thầy của quí vị nữa. Thà rằng nói mà bị bắn chết nhưng vẫn còn là thầy của quí vị. Nhát gan không dám nói, tuy còn sống, nhưng đâu còn xứng đáng là thầy của quí vị nữa. Nhiều người nghe thế đã khóc.

Tới Riverside Church, thấy bên trong đã đầy nghẹt người rồi mà bên ngoài còn đứng khoảng ba bốn trăm người. Hồi đó, tôi nói rất rõ ràng, bạo động không thể nào đáp lại bạo động, hận thù không có thể nào đáp lại hận thù. Đó là lời dạy của đức Thế Tôn. Khi mình dùng từ bi thì mình có thể dập tắt được hận thù và bạo động. Tôi tin rằng ở nước Mỹ có những người có khả năng thấy được điều này. Tôi yêu cầu những người đó hãy đứng ra hướng dẫn toàn dân đừng để cho nước Mỹ đi vào con đường của bạo động, của căm thù. Tôi nói như vậy, may mắn là không có gì xảy ra trong đêm hôm đó. Có ông lái xe taxi chở chúng tôi tới nên có được một chỗ ngồi trong nhà thờ, ông ấy là người Mỹ, người bình dân thôi. Sau buổi giảng tôi hỏi ông: Sao, anh thấy tôi nói như vậy có đúng không? Anh ta nói như thế này: Đó là điều chúng con cảm nhận nhưng không có ai trong chúng con dám nói ra điều đó ra hết. Nước Mỹ đã không nghe tiếng nói đó, nước Mỹ đã dấn thân vào cuộc chiến Iraq. Bao nhiêu sinh mạng của người Mỹ và người Iraq đã bị tàn hại, vì nước Mỹ quá căn cứ trên sức mạnh, vũ khí, tiền bạc của họ mà không biết sử dụng sức mạnh tâm linh mà nước Mỹ có. Có rất nhiều nhà đạo học, có nhiều nhà nhân bản trí thức ví dụ như là bà Susan Sontag 13* mà tôi được gặp hồi còn trẻ. Năm 1966 tôi qua New York để diễn thuyết kêu gọi chấm dứt chiến tranh Việt Nam, bà Susan Sontag đã tới yểm trợ, chúng tôi đã có thì giờ đàm luận với nhau rất lâu. Bà là nhà văn, một nhà nhân bản, bà mới qua đời cách đây độ chừng một hai tuần thôi.

Bà có nói như thế này: Khi người ta tấn công trung tâm thương mại quốc tế ở New York, không phải tấn công nước Mỹ mà tấn công vào ý niệm tự mình cho mình là lãnh đạo thế giới, tự mình cho mình là có quyền năng điều khiển thế giới. Chính họ tấn công vào cái ý niệm đó của người Mỹ, chứ không phải họ tấn công vào nước Mỹ. Khi bà nói ra như thế, biết bao nhiêu người phản đối nhưng bà đã có can đảm nói ra sự thật, tại vì sau khi Liên Bang Xô Viết giải thể rồi thì không còn có lực lượng tương đương để làm thăng bằng, nước Mỹ tự nhận mình như là lực lượng lãnh đạo thế giới và có thể can thiệp vào bất cứ một nước nào. Chính cái ý niệm đó làm người ta tấn công vào chứ không phải tấn công vào nước Mỹ như là một dân tộc, như là một quốc gia, bà nói như vậy.

Tôi thấy sự hình thành của Liên Hiệp Châu Âu rất là quan trọng, tại vì trong mỗi nước, như nước Pháp, nước Đức, nước Anh luôn luôn có phe bảo thủ, họ muốn là nước của họ thôi, không muốn pha hợp với một số các nước khác để phải hy sinh một số điều mà lâu nay họ có, như đồng bạc riêng, biên giới riêng hay này kia, kia nọ. Các nước châu Âu tới với nhau để thành lập ra Liên Hiệp Châu Âu, theo tôi thấy đúng là sự thực tập vô ngã, mình phải xóa cái ngã của mình thì mình mới có một tập đoàn lớn cũng như Liên Hiệp Châu Âu được thành lập thì mới có một lực lượng đủ để tạo sự thăng bằng đối với người Mỹ.

Bây giờ đây thì Châu Âu sắp mở cửa để đón nhận Thổ Nhĩ Kỳ đi vào. Thổ Nhĩ Kỳ là một nước Hồi giáo và Châu Âu là những nước Thiên chúa giáo và sự chấp nhận một nước Hồi giáo vào trong Liên Hiệp Châu Âu là một cố gắng của trí tuệ. Những người Cơ đốc giáo ở Châu Âu sẽ tìm cách đối xử với những người Hồi giáo bằng tinh thần huynh đệ, để chứng tỏ cho thế giới biết rằng sự mâu thuẫn xung đột giữa Cơ đốc giáo và Hồi giáo là một sự không cần thiết. Chiến tranh bùng nổ nhiều có khi là do những xung đột giữa các ý thức hệ và các tôn giáo. Cũng như là cuộc chiến tranh Mỹ và Iraq, nhìn cho kỹ thì chúng ta thấy rằng một bên là nền văn hóa Cơ đốc giáo, một bên là nền văn hóa Hồi giáo.

Những người Iraq chết hàng ngày trong mặt trận Iraq, những người chống lại người Mỹ ở Iraq, họ nghĩ rằng nước Mỹ đang tiêu diệt văn hóa, tôn giáo của họ. Họ chết như vậy không những chết cho tổ quốc mà còn chết cho lý tưởng tôn giáo của họ nữa. Tôi nghĩ rằng với một thái độ, một niềm tin như vậy thì nước Mỹ sẽ gặp rất nhiều khó khăn, tại vì khi người ta đem thân mạng của người ta ra để tranh đấu với niềm tin như vậy thì sức mạnh tinh thần của họ rất lớn. Cho nên nước Mỹ đang khổ đau, đang gặp rất nhiều khó khăn và rút ra rất khó. Tôi nghĩ nếu lãnh đạo Hoa Kỳ nghe và hiểu được những điều khuyến cáo của tôi lúc ban đầu thì bây giờ đã không bị sa lầy. Vì vậy thiền cần được áp dụng ngay trong lĩnh vực chính trị.

____________

Cảm nhận của một vị giáo sư:
Bạch thầy, bài thuyết trình Phật Pháp của thầy rất sáng tỏ. Hai tác phẩm của Thầy ở Việt Nam chúng tôi đã được đọc
An Lạc Từng Bước Chân Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức. Bài thuyết trình hôm nay nó làm sâu sắc thêm. Cho phép tôi nói một ứng dụng rất vui. Khi đi xe máy trên đường, tôi nghĩ rằng tôi cũng đang hành thiền, tôi cũng muốn An Lạc Từng Bước Chân, không vượt qua ai, thấy đèn đỏ dừng lại. Khi bị va quẹt, nhẹ nhàng khuyên bảo các cháu nếu rẽ trái phải có đèn signal, lần sau đi phải cẩn thận. Tôi nhận lại được những nụ cười và một lời xin lỗi, cảm ơn chú. Hôm nay với tư cách là một người chưa thể là Phật tử  xin cảm ơn Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã có những tác phẩm để cho chúng tôi đọc và chúng tôi nghĩ rằng nhờ đọc tác phẩm của Thầy Nhất Hạnh mình tự hoàn thiện mình hơn về nhiều phương diện, mình trở thành ra một người lương thiện hơn. Rất tiếc, sách của Thầy khi đọc xong cũng phải chuyển giao cho người khác, có những cuốn nó đi mà không bao giờ trở lại (cười). Ví dụ như cuốn Trái Tim Của Bụt, Thả Một Bè Lau, đọc xong người ta thích quá nên cũng không bao giờ trở lại… Hy vọng những người ở Việt Nam sẽ được gặp gỡ Thầy nhiều hơn, đặc biệt là mong được đọc những tác phẩm mới của Thầy. Với tư cách là một người đọc sách của Thầy hôm nay, tôi xin tỏ lòng rất cảm ơn Thầy.

Thiền sư Nhất Hạnh: Xin cảm ơn. Chúng tôi biết rằng chúng tôi có rất nhiều tri kỷ ở đây, chúng tôi rất hạnh phúc. Nhà nước Việt Nam đã bắt đầu cho phép chúng tôi được xuất bản ở tại Việt Nam. Bốn cuốn sách đầu đã được in và hy vọng rằng những cuốn khác cũng sẽ được xuất bản.

Lời cảm tạ của ban tổ chức
Thưa Thiền sư Thích Nhất Hạnh, thưa các vị tăng thân Làng Mai. Tôi xin được thay mặt anh chị em cán bộ của viện Nghiên Cứu Tôn Giáo, thay mặt cho các bạn đồng nghiệp, các nhà nghiên cứu, giới khoa học xã hội về dự buổi thuyết trình hôm nay cảm ơn Thiền sư Thích Nhất Hạnh về bài thuyết giảng. Chúng tôi cầu chúc Thiền sư và các vị tăng thân có nhiều sức khỏe và vui vẻ. Một lần nữa xin cảm ơn tất cả.

 

________________________________________
Chú thích

1* Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ: là nhũng người cầm quyền tại miền Nam, trong giai đoạn 1965-1975.
2* Daniel Berrigan, S.J. (born May 9, 1921) là nhà thơ, nhà tranh đấu cho hòa bình và cũng là một tu sĩ Ky Tô, dòng Tên. Ông cùng em là Philip đã tham dự nhiều cuộc phản kháng không bạo động chống chiến tranh (do Mỹ gây ra) nên có một thời cơ quan FBI đã ghi tên ông vào danh sách 10 người thường bị truy lùng nhất (FBI Ten Most Wanted Fugitives list.). Cùng tác giả với HT Nhất Hạnh: – The Raft Is Not the Shore: Conversations Toward a Buddhist/Christian Awareness, Daniel Berrigan (Co-author), Orbis Books, 2000.
3* Paul Demiéville (1894-1979) Nhà học Trung Hoa và  Đông Phương học, người Pháp. Ông học văn học sanskrit với Sylvain Lévi. Từng làm việc tại HaNoi l’EFEO (1919-1924). Đến năm 1946, P. Demiéville được bổ nhiệm vào Collège de France, giữ chức giáo sư ngôn ngữ và văn chương Trung Hoa, thừa kế vị tiền nhiệm là Henri Maspero.
4* Việt Nam Phật Giáo Sử Luận – toàn bộ 3 tập. Tác giả Nguyễn Lang – Lá Bối Xuất bản. Nguyễn Lang là một trong nhiều bút hiệu của Hòa thượng Nhất Hạnh.
5* Kibbutz: Tổ chức cộng đồng của những người Israel tiền phong , sau đệ II thế chiến, chủ yếu là canh nông, tự túc kinh tế, lao động và sinh hoạt tập thể. Khởi đầu với các người Do thái từ Nga trở về Palestine, khoảng 1880’s đến đầu thế kỷ XX.
6* Engaged Buddhism – xuất hiện lần đầu trong quyển Vietnam: Lotus in a Sea of Fire. Bản tiếng Anh của Hoa Sen trong biển lửa
7* smrti (s) (p: sati); chính (chánh) niệm ; Niệm , sự tỉnh giác trong mọi hoạt động – (Tiếng Phạn là Smrti, tiếng Pali là Sati, tiếng Anh là Mindfulness, tiếng Pháp là Pleine conscience). Kinh Tứ Niệm Xứ (四 念 處). Niệm: Đó là năng lượng đưa tâm trở về lại với thân để thân và tâm hợp nhất (thân tâm nhất như), để thân tâm được thiết lập trong giây phút hiện tại. Ta có thể sử dụng hơi thở, bước chân hay nụ cười để làm phát hiện năng lượng ấy, ý thức ấy. Chánh niệm chính là ý thức ấy. Ý thức bao giờ cũng là ý thức về một cái gì (conscience est toujours conscience de quelque chose), chánh niệm cũng thế. Khi ta để ý tới hơi thở của ta thì đó là chánh niệm về hơi thở và hơi thở ấy được gọi là hơi thở có chánh niệm. Khi ta có ý thức về từng bước chân chúng ta đặt trên mặt đất, đó là chánh niệm về bước chân và bước chân ấy được gọi là bước chân có chánh niệm. Vì thế thực tập hơi thở có chánh niệm hoặc bước chân có chánh niệm là chế tác năng lượng chánh niệm và duy trì năng lượng chánh niệm. Chánh niệm còn được duy trì thì tâm còn có mặt với thân và ta (hành giả, người thực tập) đang có mặt trong giây phút hiện tại và có thể xúc tiếp với những gì đang có mặt trong hiện tại. (Chỉ Nam Thiền Tập), sáu phép lạ mầu nhiệm của năng lượng chánh niệm:
1. Chánh niệm giúp ta có mặt đích thực trong giờ phút hiện tại.
2. Chánh niệm giúp ta ý thức được sự có mặt của người ta thương và tất cả những gì mầu nhiệm đang xảy ra trong hiện tại.
3. Chánh niệm giúp ta tự nuôi dưỡng bằng những yếu tố đẹp đẽ và lành mạnh mà ta có thể tiếp xúc trong giây phút hiện tại.
4. Chánh niệm giúp ta ôm ấp và xoa dịu những khổ đau trong ta và nơi người khác.
5. Chánh niệm giúp ta nhìn sâu và quán chiếu vào tự tánh của những đau khổ trong ta.
6. Chánh niệm giúp ta chuyển hóa những khổ đau ấy bằng cái thấy do sự nhìn sâu và quán chiếu. (Tự điển Làng Mai)
8* Hiện Pháp Lạc Trú: Có khi gọi là hiện pháp lạc cư (tiếng Phạn là Dristadharmasukhavihara), có nghĩa là sống hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Trong kinh Người Áo Trắng (Ưu Bà Tắc kinh, Trung A Hàm 128) Bụt dạy cư sĩ Cấp Cô Độc và năm trăm người bạn trong giới thương gia phương pháp sống hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại bằng cách thực tập ba quy, năm giới và các phép tùy niệm: Niệm Bụt, niệm Pháp, niệm Tăng và niệm Giới. (TĐLM)
9* Sogdiane: là một vùng đất lịch sử bao gồm một phần lãnh thổ của các nước Ousbékistan, Tadjikistan và Afghanistan ngày nay trong đó có những thành phố lịch sử như Sarmacande và Boukhara. Người Sogdien nói thứ tiếng thuộc nhóm ngôn ngữ “đông Ba Tư”(Est Perse) cổ. Họ đã đóng một vai trò rất quan trọng trong lĩnh vực thương mại dọc theo “con đường tơ lụa”.
10* Tam thân: Ba thân, (S) trikāya, (Hán) 三 身. Chỉ ba loại thân của một vị Phật, theo quan điểm (s: mahāyāna). Quan điểm này cho rằng: – Phật xuất hiện trên thế gian để hoằng hóa, tiếp độ chúng sinh. – Phật chính là biểu hiện của sự Tuyệt đối, của Chân như – Phật có khi hiện thân thành nhiều hình tướng khác nhau chỉ vì lợi ích của chúng sinh. Ba thân gồm:
1. Pháp thân (法 身; s: dharmakāya): là thể tính thật sự của Phật, đồng nghĩa với, là thể của vũ trụ. Pháp thân là thể mà Phật và chúng sinh đều có chung. Pháp thân cũng chính là (s: dharma), là qui luật vận hành trong vũ trụ, là giáo pháp do đức Bụt truyền dạy.
2. Báo thân (報 身; s: sambhogakāya), cũng được dịch là Thụ dụng thân (受 用 身): chỉ thân Bụt  xuất hiện trong các cõi.
3. Ứng thân (應 身; s: nirmānakāya, cũng được gọi là Ứng hóa thân hoặc Hóa thân): là thân Phật xuất hiện trên trái đất, với nhân trạng, với mục đích cứu độ con người. (Từ điển Phật Học – Chân Nguyên)
11* “To be or not to be, that is the question” trong vở kịch Hamlet, Prince of Denmark, Act III, scene I, của thi hào Anh W. Shakespeare
12* Ý của Thiền sư Nhất Hạnh thì Lĩnh Nam là vùng đất phía Nam núi Ngũ Lĩnh, thuộc Hoa Nam, Phía Nam của sông Dương Tử. Nay tạm xác định là địa phận các tỉnh Quí Châu, Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Hoa, ở trên phía Bắc của miền Bắc nước ta
13* Susan Sontag (1933-2004): Nhà văn, nhà phê bình, nhà làm phim, nhà tranh đấu. Bà là trí thức hàng đầu của nước Mỹ, nổi tiềng quốc tế. Đặc biệt, suốt đời bà đã tranh đấu không ngưng nghỉ cho nhân quyền.

Cùng bạn đọc




Trong chuyến về thăm quê hương mà nay đã thành lịch sử. Từ ngày 12 tháng 1 năm 2005 đến ngày 11 tháng 4 năm 2005, Thiền sư Thích Nhất Hạnh và tăng thân Đạo Tràng Mai Thôn đã đi thăm các Tổ Đình và Tự Viện trên khắp ba miền đất nước.

Chỉ với chín mươi ngày ngắn ngủi đó, trong những giảng đường dù lớn rộng đến đâu nhưng vẫn không bao giờ đủ chỗ. Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã thuyết giảng trên dưới bảy mươi bài, phần lớn dành cho Tăng Ni và Phật tử cư sĩ trong các khóa tu tổ chức tại chùa, nhưng cũng có những bài nói chuyện với nhân sĩ, trí thức đồng bào mọi giới ở bốn thành phố lớn Hà Nội (hai lần), Sài Gòn, Huế và Bình Định.

Bảy bài được in lại trong tập sách này được tuyển chọn từ bảy mươi bài pháp thoại của cả chuyến đi, xếp theo thứ tự thời gian các buổi nói chuyện của Thiền sư tại trụ sở các tổ chức văn hóa, giáo dục, tôn giáo và chính trị ở ba thành phố lớn Hà Nội, Huế và Sài Gòn. Người nghe là những cán bộ, nhân sĩ, trí thức hoạt động trong các giới chính trị, văn hóa, xã hội và tôn giáo. Ngoài ra cũng có đông đảo khách mời trong và ngoài nước.

Chủ đề của các bài nói dù khác nhau nhưng tựu trung nhà văn hóa Nhất Hạnh đã khách quan trình bày một Phật giáo qua nhãn quan và nhận  thức mới từ những kinh nghiệm thực tiễn qua những năm hành đạo của ngài tại các quốc gia Tây phương. Đó là Phật giáo dấn thân, trị liệu và chuyển hóa, là đạo Bụt đi vào cuộc đời mà hơn 40 năm trước ở quê hương, chính ngài đã khởi xướng. Nhưng chúng ta vẫn nhận ra được Phật giáo muôn đời của trí tuệ và từ bi, của hiểu và thương.

Để có được một tình thương đúng nghĩa ta cần phải có hiểu biết. Hiểu để nhận diện, để công nhận nhau qua bao oan khúc, phân ly để thoát khỏi những sợ hãi, nghị kỵ, hận thù… khi đó mới có thể thương được thực sự. Hiu càng sâu thương càng lớn, cả hai giúp ta đạt tới tự do, giải phóng chính mình, có cơ hội tiếp xúc sâu sắc với sự sống trong và quanh ta, thực sự sống trọn vẹn trong từng giây phút hiện tại màu nhiệm, đạt an lạc ngay giữa đời này, vượt trên mọi sóng thăng trầm của biển đời tục lụy, để rồi có thể sang bờ kia, thoát vòng sinh tử.

Gia tài của đạo Bụt Việt Nam tổng hợp của đại thừa và nguyên thủy, của Hiện Pháp Lạc Trú và Tịnh Độ hiện tiền sẽ đưa dân tộc bây giờ cùng đi như một giòng sông, sẽ đẩy đất nước ở đây đi lên.


Cho Đất Nước Đi Lên là tựa đề được Thiền Sư chọn và tự tay viết với thư pháp của ngài để làm bìa in cho tập sách này. Chúng tôi trân trọng gửi tới các bạn đọc.

Các bài nói chuyện ghi lại theo bản mp3 thu âm tại chỗ. Lời của ngài giữ nguyên, ý của ngài giữ trọn vẹn nhưng câu cú có lược chuyển đôi chút để những bài đọc được thêm xuôi thuận.

Các chú thích về các những danh từ Phật học, nhân danh, địa danh nước ngoài (nếu có sai lầm) là của ban biên tập. Chúng tôi đã dựa trên Tự Điển Làng Mai (TĐLM), Từ Điển Phật Học – Chân Nguyên và Nguyễn Tường Bách (TĐPH). Trân trọng cảm ơn các tác giả.

>> Xem các bài thuyết giảng này (video)


Nội Dung:

1. Phật giáo Việt Nam ngày nay qua cái nhìn tương tức
Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo Hà Nội, ngày 18-01-2005.

2. Tương lai đạo Bụt ở Âu, Úc và Mỹ châu
Trung Tâm Khoa Học Xã Hội TP. HCM, ngày 04-02-2005.

3. Những gì trong gia sản văn hóa Việt Nam có thể đóng góp cho nền hòa bình và an vui thế giới
Trung Tâm Văn Hóa Liễu Quán Huế, ngày 10-03-2005.

4. Sự kết hợp kỳ diệu giữa thờ cúng tổ tiên của người Việt với tuệ giác của đạo Phật.
Học Viện Quốc Gia Chính Trị Hồ Chí Minh – Hà Nội, ngày 17-03-2005

5. Vai trò của Phật giáo trong xã hội đương đại
Học Viện Quốc Gia Chính Trị Hồ Chí Minh – Hà Nội, ngày 18-03-2005.

6. Văn hóa và đạo đức trong đời sống tâm linh
Ủy Ban về Người Việt ở Nước Ngoài – Hà Nội, ngày 22-03-2005.

7. Ước hẹn với sự sống mầu nhiệm
Câu Lạc Bộ Giao Lưu Kinh Tế, Văn Hóa Quốc Tế – Hà Nội, ngày 25-03-2005.

 

Ban biên tập (2009)

Cho Đất Nước Đi Lên, tuyển tập 7/70 bài pháp thoại của thiền sư Thích Nhất Hạnh vào mùa Xuân 2005 tại Việt Nam do: Tịnh Ý –Hàn Sơn – Lê Thạch Thất – Minh Niệm – Phúc Quảng – Tâm Thụy – Trang B. – Đức Huy – Hồng Phượng – Lê Nguyên – Chính Bình phiên tả và biên tập.


Kinh văn gồm 36 bài kệ

Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê Hoàn là Niết Bàn (Nirvana, Nibbana). Trong bản dịch, có chữ trời phương ngoại. Trời phương ngoại là cái không gian vượt ra ngoài không gian, chữ Hán gọi là thiên ngoại thiên hay phương ngoại phương.  Phương là không gian, phương ngoại là ngoài không gian, nghĩa là không gian nằm ngoài không gian. Rong chơi trời phương ngoại là đi chơi trong thế giới không gian ngoài không gian.  Trong không gian này không có sinh, không có diệt, khống có tới, không có đi, không có còn, không có mất, không có ta, không có người, không có sự phân biệt kỳ thị.  Không gian đó bao la vô cùng, gọi là Niết Bàn.

Nê Hoàn Phẩm Pháp Cú Kinh đệ tam thập lục

泥洹品法句經第三十六

Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 36

Phẩm này có 36 bài kệ. Nê Hoàn là Niết Bàn, kinh này không có trong văn bản Pháp Cú Pali. Các kinh còn lại cũng thế.

Bài kệ 1

Nhẫn vi tối tự thủ
忍  為  最  自  守
Nê hoàn Phật xưng thượng
泥  洹  佛  稱  上
Xả gia bất phạm giới
捨  家  不  犯  戒
Tức tâm vô sở hại
息  心  無  所  害

Nhẫn là biện pháp hay nhất để tự bảo hộ.
Niết bàn là cái mà Bụt khen ngợi là cao đẹp nhất.
Buông bỏ nếp sống trần tục, sống đời phạm hạnh, không phạm giới,
Làm lắng dịu được tâm ý, thì không có gì có thể xâm phạm được đến mình.

Bài kệ 2

Vô bệnh tối lợi
無  病  最  利
Tri túc tối phú
知  足  最  富
Hậu vi tối hữu
厚  為  最  友
Nê hoàn tối khoái
泥  洹  最  快

Không bệnh là cái lợi tức lớn nhất
Tri túc là cái giàu có to nhất
Trung thực là người bạn tốt nhất
Niết bàn là cái hạnh phúc cao nhất.

Bài kệ 3

Cơ vi đại bệnh
飢  為  大  病
Hành vi tối khổ
行  為  最  苦
Dĩ đế tri thử
已  諦  知  此
Nê hoàn tối lạc
泥  洹  最  樂

Đói là cái bệnh khó chịu đựng nhất.
Các pháp hữu vi là cái gây khổ đau nhiều nhất.
Cứ nhìn vào sự thực mà tìm hiểu
Thì Niết bàn là cái lạc thú lớn nhất.

Bài kệ 4

Thiểu vãng thiện đạo
少  往  善  道
Thú ác đạo đa
趣  惡  道  多
Như đế tri thử
如  諦  知  此
Nê hoàn tối an
泥  洹  最  安

Ở đời, ít người được đi trên nẻo thiện,
Trong khi ấy, kẻ đi trên đường ác thì nhiều.
Cứ nhìn vào sự thực mà tìm hiểu
Thì Niết bàn là nơi an toàn nhất.

Bài kệ  5

Tùng nhân sanh thiện
從  因  生  善
Tùng nhân đọa ác
從  因  墮  惡
Do nhân nê hoàn
由  因  泥  洹
Sở duyên diệc nhiên
所  緣  亦  然

Các cõi trời do tạo tác nhân lành mà mình được sinh lên,
Các ác đạo cũng do ác nhân mà mình bị đọa xuống
Niết bàn cũng như thế
Do nhân duyên tu tập mà có Niết bàn.

Bài kệ 6

Mi lộc y dã
麋  鹿  依  野
Điểu y hư không
鳥  依  虛  空
Pháp quy kỳ báo
法  歸  其  報
Chân nhân quy diệt
真  人  歸  滅

Hươu nai nương đồng quê.
Chim chóc nương trời mây.
Sự vật nương phân biệt mà biểu hiện.
Các bậc chân nhân nương vào Niết bàn để sống thảnh thơi.


Bài kệ 7

Trong Đại Tạng Tân Tu:
Thỉ vô như bất
始  無  如  不
Thỉ bất như vô
始  不  如  無
Thị vi vô đắc
是  為  無  得
Diệc vô hữu tư
亦  無  有  思

Trong một bản in khác:
Thỉ vô thỉ phủ
始  無  始  否
Như bất như vô
如  不  如  無
Thị vi vô đắc
是  為  無  得
Diệc vô hữu tư
亦  無  有  思

Thấy được cái không trước, không sau
Không là, không không là
Cái đó là vô đắc
Cũng là cái không thể tư duy được.

Bài kệ 8

Tâm nan kiến tập khả đổ
心  難  見  習  可  覩
Giác dục giả nãi cụ kiến
覺  欲  者  乃  具  見
Vô sở lạc vi khổ tế
無  所  樂  為  苦  際
Tại ái dục vi tăng thống
在  愛  欲  為  增  痛

Tâm khó thấy, nhưng thói quen có thể nhận ra,
Kẻ nhận diện được dục ý thấy được đầy đủ rằng
Không tìm thú vui trong dục lạc thì tránh được mọi thứ khổ
Và ái dục luôn luôn làm tăng trưởng niềm đau.

Bài kệ 9

Minh bất thanh tịnh năng ngự
明  不  清  淨  能  御
Vô sở cận vi khổ tế
無  所  近  為  苦  際
Kiến hữu kiến văn hữu văn
見  有  見  聞  有  聞
Niệm hữu niệm thức hữu thức
念  有  念  識  有  識

Trong một bản in khác:

Minh bất nhiễm tịnh năng ngự
明  不  染  淨  能  御
Vô sở cận vi khổ tế
無  所  近  為  苦  際
Kiến hữu kiến văn hữu văn
見  有  見  聞  有  聞
Niệm hữu niệm thức hữu thức
念  有  念  識  有  識

Sáng suốt, không để cho tâm ý bị nhiễm ô
Một khi đã được thanh tịnh hóa thì chế ngự được mọi dục ý.
Lúc ấy không còn phải tiếp cận với thế giới đau khổ nữa
Tuy rằng thấy thì vẫn thấy, nghe thì vẫn nghe,
Nhớ thì vẫn nhớ, và biết thì vẫn biết.

Bài kệ 10

Đố vô trước diệc vô thức
覩  無  著  亦  無  識
Nhất thiết xả vi đắc tế
一  切  捨  為  得  際
Trừ thân tưởng diệt thống hành
除  身  想  滅  痛  行
Thức dĩ tận vi khổ cánh
識  已  盡  為  苦  竟

Đạt được cái vô trước và vô phân biệt,
Một khi buông bỏ được mọi ý niệm rồi thì sẽ vào được cõi ấy
Vượt thắng được ý niệm về ngã,
Điều phục được các tâm hành có tác dụng gây đau nhức
Và dứt bỏ được hoàn toàn cái tập khí nhận thức phân biệt kỳ thị, thì khổ đau không còn.


Bài kệ 11

Ỷ tắc động hư tắc tịnh
猗  則  動  虛  則  淨
Động phi cận phi hữu lạc
動  非  近  非  有  樂
Lạc vô cận vi đắc tịch
樂  無  近  為  得  寂
Tịch dĩ tịch dĩ vãng lai
寂  已  寂  已  往   來

Trong một bản in khác:

Ỷ tắc động hư tắc tĩnh
猗  則  動  虛  則  静
Động phi cận phi hữu lạc
動  非  近  非  有  樂
Lạc vô cận vi đắc tịch
樂  無  近  為  得  寂
Tịch dĩ tịch vô vãng lai
寂  已  寂  無  往  來

Ở trong hoàn cảnh động mà giữ được tâm thanh hư thì vẫn là tĩnh
Trong cái động, không tiếp cận được Niết bàn, cũng không có an lạc
Ý niệm về cái vui và cái khổ đã vượt qua rồi thì mới thực sự có cái tịch tĩnh
Vượt qua được cái ý niệm tịch tĩnh thì sẽ không còn cái qua lại nữa.


Bài kệ 12

Vãng lai tuyệt vô sanh tử
往  來  絕  無  生  死
Sanh tử đoạn vô thử bỉ
生  死  斷  無  此  彼
Thử bỉ đoạn vi lưỡng diệt
此  彼  斷  為  兩  滅
Diệt vô dư vi khổ trừ
滅   無  餘  為  苦  除

Cái qua lại đã hết, thì cái sinh tử cũng hết
Sinh tử hết thì làm gì còn phân biệt cái này cái kia?
Cái này và cái kia, cả hai ý niệm đều được chấm dứt
Cái tịch diệt tuyệt đối là cái vắng mặt của cảnh giới đau khổ.

Bài kệ 13
Tỳ-kheo hữu thế sanh
比  丘  有  世  生
Hữu hữu hữu tác hành
有  有  有  作  行
Hữu vô sanh vô hữu
有  無  生  無  有
Vô tác vô sở hành
無  作  無  所  行

Này các vị Tỳ Kheo, trên đời này có cái sinh, có cái hữu, có cái tác, có cái hành. Nhưng cũng có cái không sinh, có cái không hữu, có cái không tác, có cái không hành để làm nẻo thoát cho những cái có sinh, có hữu, có tác, có hành ấy.

Bài kệ 14

Phu duy vô niệm giả
夫  唯  無  念  者
Vi năng đắc tự trí
為  能  得  自  致
Vô sanh vô phục hữu
無  生  無  復  有
Vô tác vô hành xứ
無  作  無  行  處

Chỉ khi đạt được vô niệm
Mới có thể tới được Niết bàn
Nếu đã là vô sinh thì không còn hữu nữa
Lúc ấy không còn tác, cũng không còn hành


Bài kệ 15

Sanh hữu tác hành giả
生  有  作  行  者
Thị vi bất đắc yếu
是  為  不  得  要
Nhược dĩ giải bất sanh
若  已  解  不  生
Bất hữu bất tác hành
不  有  不  作  行

Thấy có sinh, có hữu, có tác, có hành
Là chưa đạt tới chỗ thiết yếu
Nếu hiểu được thế nào là bất sinh
Thì không thấy còn hữu cũng không còn nhu yếu tác và hành.

Bài kệ 16

Tắc sanh hữu đắc yếu
則  生  有  得  要
Tùng sanh hữu dĩ khởi
從  生  有  已  起
Tác hành trí tử sanh
作  行  致  死  生
Vi khai vi pháp quả
為  開  為  法  果

Vì hữu nên mới phải có sinh
Và vì sinh cho nên hữu lại tiếp tục
Có tác, có hành, thì tử rồi lại sinh
Đó là cánh cửa sinh tử mở ra, để đưa đến sự phát khởi của các pháp.

Bài kệ 17

Tùng thực nhân duyên hữu
從  食  因  緣  有
Tùng thực trí ưu lạc
從  食  致  憂  樂
Nhi thử yếu diệt giả
而  此  要  滅  者
Vô phục niệm hành tích
無  復  念  行  迹

Cái gì cũng do thức ăn mà tồn tại
Ngay cả cái buồn, cái vui cũng phải cần thức ăn mới có
Nếu cái chất liệu thiết yếu ấy không còn
Thì không còn dấu vết nào của hành mà mình có thể nhận diện.

Bài kệ 18

Chư khổ pháp dĩ tận
諸  苦  法  已  盡
Hành diệt trạm nhiên an
行  滅  湛  然  安
Tỷ-khưu ngô dĩ tri
比  丘  吾  已  知
Vô phục chư nhập địa
無  復  諸  入  地

Nếu khổ đau đã hết và các hành đã diệt
Thì hạnh phúc sẽ có mặt một cách lặng lẽ và sẽ có bình an
Này các vị Tỳ-kheo, tôi  đã thực chứng điều này
Cho nên tôi  không cần phải tìm đi vào một cõi nào nữa.

Bài kệ 19

Vô hữu hư không nhập
無  有  虛  空  入
Vô chư nhập dụng nhập
無  諸  入  用  入
Vô tưởng bất tưởng nhập
無  想  不  想  入
Vô kim thế hậu thế
無  今  世  後  世

Không đi vào cõi hư không
Không có cái nơi đi vào để đi vào
Không đi vào cõi tưởng hay cõi vô tưởng
Không đi vào đời này hay đời sau.

 

Bài kệ 20

Diệc vô nhật nguyệt tưởng
亦  無  日  月  想
Vô vãng vô sở huyền
無  往  無  所  懸
Ngã dĩ vô vãng phản
我  已  無  往  反
Bất khứ nhi bất lai
不  去  而  不  來

Cũng không có ý niệm về mặt trời và mặt trăng đang có mặt
Không đi cũng không ở lại
Không có một cái ngã để đi và để về
Thì không có cái đi và cái về.

Bài kệ 21

Bất một bất phục sanh
不  沒  不  復  生
Thị tế vi nê hoàn
是  際  為  泥  洹
Như thị tượng vô tượng
如  是  像  無  像
Khổ lạc vi dĩ giải
苦  樂  為  以  解

Nơi không có cái mất đi cũng không có cái còn sinh ra
Nơi ấy là Niết bàn.
Như thế thì vấn đề có đối tượng tri giác hay không có đối tượng tri giác
Vì vấn đề bản chất của cái khổ và cái vui, mình đã hiểu thấu.

Bài kệ 22

Sở kiến bất phục khủng
所  見  不  復  恐
Vô ngôn ngôn vô nghi
無  言  言  無  疑
Đoạn hữu chi xạ tiễn
斷  有  之  射  箭
Cấu ngu vô sở y
遘  愚  無  所  猗

Cái mình thấy không còn làm cho mình sợ hãi nữa
Không còn nghi ngờ gì nữa về ngôn từ hay không ngôn từ
Mũi tên bắn rơi được cái hữu rồi
Thì khi gặp kẻ ngu muội không cần diễn bày gì nữa cả.

Bài kệ 23

Thị vi đệ nhất khoái
是  為  第  一  快
Thử đạo tịch vô thượng
此  道  寂  無  上
Thọ nhục tâm như địa
受  辱  心  如  地
Hành nhẫn như môn quắc
行  忍  如  門  閾

Đó là cái lạc thú đệ nhất
Con đường tịch diệt này không có gì cao hơn
Lúc bấy giờ mình có khả năng nhẫn chịu được, tâm mình cũng như đất
Và cái hành nhẫn cũng như một thành quách.

Bài kệ 24

Tịnh như thủy vô cấu
淨  如  水  無  垢
Sanh tận vô bỉ thọ
生  盡  無   彼  受
Lợi thắng bất túc thị
利  勝  不  足  恃
Tuy thắng do phục khổ
雖  勝  猶  復  苦

Thanh tịnh như nước trong không còn chút cấu uế
Hết chất liệu luân hồi (sở sinh) thì không tiếp nhận cái kia nữa
Cái thắng và cái lợi không còn làm tiêu chuẩn để đi theo
Bởi vì dù có thắng có lợi nhưng cái khổ vẫn còn đó.

 

Bài kệ 25

Đương tự cầu khứ thắng
當  自  求  去  勝
Dĩ thắng vô sở sanh
已  勝  無  所  生
Tất cố bất tạo tân
畢  故  不  造  新
Yếm thai vô dâm hành
厭  胎  無  婬  行

Chỉ nên tự cầu cái thắng lợi về Pháp
Đã có pháp thắng thì không còn sở sinh
Hết sở sinh rồi thì không tạo tác thêm nữa
Muốn không còn luân hồi thì đừng nên có những hành động phóng đãng.


Bài kệ 26

Chủng tiêu bất phục sanh
種  燋  不  復  生
Ý tận như hỏa diệt
意  盡  如  火  滅
Bào thai vi uế  hải
胞  胎  為  穢  海
Hà vi lạc dâm hành
何  為  樂  婬  行

Hạt giống một khi bị đốt cháy rồi thì không sinh lại
Tâm ý đã dừng lại rồi thì cũng như lửa đã tắt
Chốn dâm căn là một biển ô uế
Tại sao lại đi tìm lạc thú ở nơi ấy?

 

Bài 27

Tuy thượng hữu thiện xứ
雖  上  有  善  處
Giai mạc như nê hoàn
皆  莫  如  泥  洹
Tất tri nhất thiết đoạn
悉  知  一  切  斷
Bất phục trước thế gian
不  復  著  世  間

Tuy phía trên kia có những cõi trời
Nhưng cũng không đâu bằng Niết bàn
Đã có nhất thiết trí thì cắt bỏ được tất cả
Ta không còn vướng mắc nữa vào thế gian.

Bài kệ 28

Đô khí như diệt độ
都  棄  如  滅  度
Chúng đạo trung tư thắng
眾  道  中  斯  勝
Phật dĩ hiện đế pháp
佛  以  現  諦  法
Trí dũng năng phụng trì
智  勇  能  奉  持

Buông bỏ hết, đã qua bờ diệt độ
Trong các con đường, đây là con đường đẹp nhất
Bụt đã diễn bày pháp chân đế
Kẻ có trí và có dũng có thể làm theo.

 

Bài kệ 29
Hành tịnh vô hà uế
行  淨  無  瑕  穢
Tự tri độ thế an
自  知  度  世  安
Đạo vụ tiên viễn dục
道  務  先  遠  欲
Tảo phục Phật giáo giới
早  服  佛  教  戒

Sống phạm hạnh, không một vết nhơ
Tự biết mình, vượt thời gian, đạt an ổn
Trong nếp sống tu tập, trước hết là xa lánh ái dục
Phải tự trang bị mình bằng giới luật của Bụt ngay tự bây giờ.

 

Bài kệ 30

Diệt ác cực ác tế
滅  惡  極  惡  際
Dị như điểu thệ không
易  如  鳥  逝  空
Nhược dĩ giải pháp cú
若  已  解  法  句
Chí tâm thể đạo hành
至  心  體  道  行

Diệt phiền não, thoát ra khỏi thế giới hệ lụy
Dễ như con chim cất cánh bay lên không trung
Nếu hiểu được pháp cú này
Thì hãy đem hết lòng mà đi tới trên con đường đạo

Bài kệ 31

Thị độ sanh tử ngạn
是  度  生  死  岸
Khổ tận nhi vô hoạn
苦  盡  而  無  患
Đạo pháp vô thân sơ
道  法  無  親  疎
Chánh bất vấn doanh cường
正  不 問  羸  強

Đó là con đường vượt qua bờ sinh tử
Đưa tới chỗ chấm dứt khổ đau hoạn nạn
Trong đạo pháp, không còn sự phân biệt thân sơ
Không còn hỏi ai có thế lực nhiều, ai không có thế lực.

 

Bài kệ 32

Yếu tại vô thức tưởng
要  在  無  識  想
Kết giải vi thanh tịnh
結  解  為  清  淨
Thượng trí yếm hủ thân
上  智  饜  腐  身
Nguy thúy phi thật chân
危  脆  非  實  真

Quan trọng nhất là đừng bám vào tri giác
Khi cả hai cái cột và mở đều đã thanh tịnh
Thì bậc thượng trí không còn bị kẹt vào cái hình hài dễ tan vỡ này
Và thấy nó là một cái gì không chắc thật.



Bài kệ 33

Khổ đa nhi lạc thiểu
苦  多  而  樂  少
Cửu khổng vô nhất tịnh
九  孔  無  一  淨
Tuệ dĩ nguy mậu an
慧  以  危  貿  安
Khí y thoát chúng nạn
棄  猗  脫  眾  難

Hình hài này đem lại khổ lụy nhiều mà an vui ít
Trong chín kẻ hở, không một kẻ hở nào thanh khiết
Người có trí tuệ biết bỏ nguy, giữ an
Chấm dứt ba hoa, trút được mọi khổ nạn.

 

Bài kệ 34

Hình hủ tiêu vi mạt
形  腐  銷  為  沫
Tuệ kiến xả bất tham
慧  見  捨  不  貪
Quán thân vi khổ khí
觀  身  為  苦  器
Sanh lão bệnh vô thống
生  老  病  無  痛

Hình hài này một khi đã hủy hoại sẽ trở thành tro bụi
Kẻ có tuệ biết buông bỏ không bám víu
Quán chiếu thấy được thân này là một công cụ mang toàn hệ lụy
Thì sinh, lão, bệnh, tử sẽ không còn là chuyện đau buồn.

Bài k35

Khí cấu hành thanh tịnh
棄  垢  行  清  淨
Khả dĩ hoạch đại an
可  以  獲  大  安
Y tuệ dĩ khước tà
依  慧  以  却  邪
Bất thọ lậu đắc tận
不  受  漏  得  盡

Buông bỏ được cấu uế, đi trên đường thanh tịnh
Thì có thể đạt tới cái an tĩnh lớn
Nương tuệ giác, bỏ tà kiến
Không tiếp nhận gì nữa thì đạt được tới lậu tận.

Bài kệ 36
Hành tịnh trí độ thế
行  淨  致  度  世
Thiên nhân mạc bất lễ
天  人  莫  不  禮
Sống thanh tịnh, vượt thoát được thời gian,
Thì cả hai giới thiên nhân đều nghiêng mình kính nể.

 

Rong chơi trời phương ngoại

Chống gậy rong chơi chừ, trời phương ngoại

Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Quốc Tung
(anh ruột của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn)

LỜI NÓI ĐẦU

Có nhiều người nghĩ rằng Niết bàn (Nirvāna) là một cảnh giới hạnh phúc mà người chứng đạo được đi vào sau khi chết. Không có sự hiểu lầm nào tai hại hơn thế. Bụt đã dạy rất nhiều lần về Hiện Pháp Niết Bàn (Dṛṣṭa-dharma) nghĩa là về Niết bàn trong hiện tại. Nếu ta có khả năng buông bỏ được những phiền não như đam mê, hận thù và ganh tị, nếu ta buông bỏ được những cái thấy sai lầm về sinh diệt, có không, tới đi v.v… thì ta có thể tiếp xúc được với Niết bàn ngay trong giây phút hiện tại. Niết bàn có nghĩa là giải thoát, là tự do. Ví dụ ta đạp nhằm một cái gai và nếu cái gai ấy chưa lấy ra được, thì ta khó chịu. Lấy ra được cái gai ấy rồi thì ta thấy rất dễ chịu. Cái dễ chịu ấy là một thứ giải thoát, một thứ tự do. Ta đâu cần phải chết đi mới có được cái cảm giác giải thoát và tự do đó. Những phiền não như đam mê và hận thù, những hiểu lầm và sợ hãi mà ta đang có chính là những cái gai đang làm cho ta khó chịu, khổ đau và đày đọa. Đó là những cái gai ta chưa khươi ra được. Lấy ra được một cái gai thì ta có thêm được một sự dễ chịu. Càng lấy được nhiều gai chừng nào thì càng dễ chịu từng ấy. Cảm giác tự do, thoải mái và dễ chịu ấy tức là Niết bàn. Có hai loại chướng ngại cho Niết bàn, hai loại rào cản không cho ta tiếp xúc với Niết bàn: đó là phiền não chướng sở tri chướng. Phiền não chướng là thứ chướng ngại do những tâm hành như tham đắm, hận thù và ganh tị gây ra. Đó là những ngọn lửa thiêu đốt ta. Sở tri chướng là những chướng ngại do những tâm hành như kỳ thị, cố chấp, những lề thói suy tư nhị nguyên, những tà kiến như ngã chấp, pháp chấp v.v… Chúng có tác dụng bưng bít, vây hãm, che đậy. Rất nhiều khi ta lấy tà kiến làm chân lý. Vượt thoát những tâm hành như thế ta thấy không gian trong ta và ngoài ta rộng thênh thang, và những ngọn lửa thiêu đốt kia được dập tắt. Niết bàn có nghĩa là sự dập tắt của các ngọn lửa phiền não và sở tri. Nó là trạng thái lắng dịu, nó là trạng thái mát mẻ, ổn định và tự do. Niết bàn là nơi cư trú hàng ngày của các bậc hiền nhân, của các bậc hiền thánh.

Trong kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại mà bạn sắp đọc đây có câu: Chim chóc ưa trời mây, huơu nai ưa đồng nội, và các bậc hiền nhân ưa rong chơi nơi Niết bàn. Có một con đường thực tập, có một cách sống cao đẹp gọi là con đường bát chánh, bắt đầu từ chánh kiến. Chánh kiến là cái thấy vượt ra mọi thành kiến và cố chấp, cái thấy vượt thoát lề lối suy tư nhị nguyên, cái thấy vượt thoát các quan niệm có và không, sinh và diệt. Trên căn bản của cái thấy ấy có sự thực tập chánh tư duy, chánh ngữ và chánh nghiệp. Những thực tập này có công năng giúp ta tháo bỏ dần dần các phiền não chướng và sở tri chướng. Thực tập đến đâu thì có Niết bàn đến đó. Không hẳn là phải chuyển hóa hết 100% các phiền não và sở tri ấy mới có Niết bàn. Chuyển hóa được 10% phiền não và sở tri thì đã có 10% Niết bàn rồi. Chuyển hóa được 90% thì có 90% Niết bàn. Cái phiền não và sở tri còn sót lại gọi là dư y. Niết bàn chưa toàn vẹn ấy là Niết bàn hữu dư y. Khi những phiền não và sở tri còn lại đã được chuyển hóa, thì hành giả đạt tới Niết bàn tuyệt đối, gọi là Niết bàn vô dư y. Các vị Bụt và Bồ tát trong khi còn có hình hài của họ vẫn có thể an trú trong Niết bàn vô dư y ấy. Đó là giáo lý của đạo Bụt Nguyên thỉ. Sau đó, có những sai sót về truyền thừa, người ta mới hiểu lầm dư y (upādhi) là uẩn (skandha) cho nên mới nói rằng chỉ khi nào hết năm uẩn thì mới có được Niết bàn tuyệt đối. Đây là cái thấy tai hại đưa nhiều người tới sự hiểu lầm rằng Niết bàn chỉ là một giai đoạn hạnh phúc vài ba chục năm sau khi đắc đạo và sau đó sẽ được tiếp nối bằng cái chết hằng vĩnh. Trong giáo lý Bốn Sự Thật Cao Quý (Tứ Diệu Đế hay Tứ Thánh Đế), sự thật thứ ba là Niết bàn, là sự lắng dịu, là sự vắng mặt của phiền não và sở tri, gọi là diệt đế. Diệt là sự vắng mặt của khổ đau, sự lắng dịu của khổ đau, là sự bình yên và tự do. Sự thực thứ tư là con đường, là đạo đế. Hiểu theo nghĩa bất nhị, thì đạo đế và diệt đế không thể tách rời khỏi nhau. Đang đi trên con đường đạo đế, tức cũng là đang chứng nghiệm diệt đế, nghĩa là chứng nghiệm Niết bàn, dù đó chưa phải là Niết bàn vô dư y. Bắt đầu thực tập đạo đế, như thế có nghĩa là bắt đầu nếm được hương vị của Niết bàn. Người xuất gia và người tại gia đều có khả năng tiếp cận Niết bàn qua đạo đế ngay trong giây phút hiện tại. Vì vậy cho nên ta có thể nói: “Không có con đường nào đưa tới Niết bàn cả, Niết bàn chính là con đường!” (There is no way to Nirvāna, Nirvāna is the way.) Đó là cách nhìn bất nhị về Tứ diệu đế.

Tuệ Trung Thượng Sĩ, tác giả của tập ngữ lục Thượng Sĩ Ngữ Lục, là một người cư sĩ thực tập đạo thiền. Ông là anh ruột và là anh cả của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Ông đã diễn tả Niết bàn với danh từ trời phương ngoại (phương ngoại phương). Phương ngoại phương là không gian nằm ngoài không gian (space outside space). Trời phương ngoại thênh thang hơn trời phương nội.

Trong kiếp nhân sinh, chúng ta bị giới hạn bởi thời gian, không gian, sinh diệt, còn mất và có không. Đó là vì ta bị tà kiến và phiền não che lấp. Vượt thoát tà kiến và phiền não, ta vươn tới trời phương ngoại, thênh thang hơn nhiều, hạnh phúc hơn nhiều. Trời phương ngoại, tức là Niết bàn, không phải là một mơ ước viển vông. Nếu ta nắm lấy đạo đế để thực tập, thì trời phương ngoại trở thành thực tại liền lập tức. Trong Phóng Cuồng, Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Quốc Tung đã viết: “Chống gậy rong chơi, chừ trời phương ngoại.” (Sách trượng ưu du hề phương ngoại phương.) Cha ông chúng ta đã làm được điều đó, chúng ta là con cháu há chẳng làm được như cha ông sao?

Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại được dịch từ phẩm Nê Hoàn trong kinh Pháp Cú tạng chữ Hán. Kinh Pháp Cú tạng chữ Hán có tới 39 phẩm, trong khi kinh Pháp Cú tạng Pali chỉ có 26 phẩm. Kinh Pháp Cú hiện lưu truyền rộng rãi tại Việt Nam là kinh Pháp Cú tạng Pali, trong đó không có phẩm Nê Hoàn nói về chủ đề Niết bàn. Kinh Pháp Cú Hán tạng được dịch từ giữa thế kỷ thứ ba Tây lịch tại kinh đô nước Ngô là Bành Thành tức là Nam Kinh ngày nay. Hồi đó tại nước Ngô chỉ có một ngôi chùa duy nhất gọi là chùa Kiến Sơ do một vị Thiền sư người Việt tạo dựng với sự yểm trợ của vua Ngô Tôn Quyền. Đó là Thiền sư Tăng Hội. Dịch giả là ông Duy Kỳ Nan và người viết tựa là cư sĩ Chi Khiêm. Có thể kinh đã được dịch tại chùa Kiến Sơ do Thiền sư Tăng Hội trú trì. Toàn bộ bản dịch kinh Pháp Cú Hán tạng sẽ được xuất bản dưới tiêu đề “Kết Một Tràng Hoa” trong một thời gian rất gần. Trong khi chờ đợi, mời các bạn độc giả thưởng thức kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại.

Kinh văn

Kinh Quán Niệm Hơi Thở (Tạp A Hàm 803)
Nhất Hạnh dịch từ Hán Tạng

Đây là những điều tôi được nghe hồi Bụt còn cư trú trong vườn Cấp Cô Độc, nơi rừng cây của thái tử Kỳ Đà ở nước Xá Vệ.

Lúc bấy giờ đức Thế tôn bảo các vị khất sĩ:

Các vị nên tu tập phép quán niệm hơi thở. Nếu vị khất sĩ nào tu tập phép quán niệm hơi thở và tu tập cho chín chắn thì thân và tâm vị ấy sẽ được thư thái nhẹ nhàng, có thẩm sát, có quán chiếu, tâm tư được tĩnh lặng, thuần nhất, có được những nhận thức có công năng đưa tới Minh Giác và vị ấy sẽ đưa sự thực tập của mình đến chỗ thành tựu viên mãn. Thực tập như thế nào? Vị khất sĩ sống nơi làng xóm hay thôn ấp, buổi sáng đắp y, ôm bát vào làng khất thực, biết khéo léo giữ gìn thân thể và các giác quan của mình và giữ cho chánh niệm luôn luôn có mặt. Khất thực xong, vị ấy trở về trú xứ, cất y bát, rửa chân, đi vào rừng, hoặc vào trong một căn phòng vắng, hoặc dưới một gốc cây, hoặc một nơi đất trống, ngồi xuống ngay thẳng, buộc chánh niệm trước mặt, buông bỏ mọi tham ái, buông bỏ mọi ước mong cho tâm tư vắng lặng, buông bỏ giận hờn, mê ngủ, trạo cử, ngờ vực, vượt qua mọi nghi hoặc, để cho tâm có cơ hội tương ứng với các pháp lành, xa lìa năm yếu tố ngăn che và các phiền não có thể làm cho tuệ lực mình yếu đi và gây chướng ngại trên con đường đi đến Niết bàn. Vị ấy:

1.    Để ý tới hơi thở vào, khéo léo buộc niệm vào hơi thở vào.

Để ý tới hơi thở ra, khéo léo buộc niệm vào hơi thở ra.

2.    Để ý tới hơi thở vào dài hay ngắn, khéo léo buộc niệm vào hơi thở vào dài hay ngắn.

Để ý tới hơi thở ra dài hay ngắn, khéo léo buộc niệm vào hơi thở ra dài hay ngắn.

3.   Để ý tới toàn thân, khéo léo buộc niệm vào hơi thở vào.

Để ý tới toàn thân, khéo léo buộc niệm vào hơi thở ra.

4.    Làm lắng dịu toàn thân, khéo léo buộc niệm vào hơi thở vào.

Làm lắng dịu toàn thân, khéo léo buộc niệm vào hơi thở ra.

5.    Ý thức về cảm thọ vui mừng, khéo léo buộc niệm vào hơi thở vào.

Ý thức về cảm thọ vui mừng, khéo léo buộc niệm vào hơi thở ra.

6.    Ý thức về cảm thọ hạnh phúc, khéo léo buộc niệm vào hơi thở vào.

Ý thức về cảm thọ hạnh phúc, khéo léo buộc niệm vào hơi thở ra

7.    Ý thức về tâm hành (đang có mặt), khéo léo buộc niệm vào hơi thở vào.

Ý thức về tâm hành (đang có mặt), khéo léo buộc niệm vào hơi thở ra.

8.    Làm lắng dịu tâm hành (đang có mặt), khéo léo buộc niệm vào hơi thở vào.

Làm lắng dịu tâm hành (đang có mặt), khéo léo buộc niệm vào hơi thở ra.

9.    Ý thức về tâm, khéo léo buộc niệm vào hơi thở vào.

Ý thức về tâm, khéo léo buộc niệm vào hơi thở ra.

10.     Ý thức về trạng thái vui của tâm, khéo léo buộc niệm vào hơi thở vào.

Ý thức về trạng thái vui của tâm, khéo léo buộc niệm vào hơi thở ra.

11.     Ý thức về trạng thái định của tâm, khéo léo buộc niệm vào hơi thở vào.

Ý thức về trạng thái định của tâm, khéo léo buộc niệm vào hơi thở ra.

12.     Ý thức về trạng thái giải thoát của tâm, khéo léo buộc niệm vào hơi thở vào.

Ý thức về trạng thái giải thoát của tâm, khéo léo buộc niệm vào hơi thở ra.

13.     Quán chiếu vô thường, khéo léo buộc niệm vào hơi thở vào.

Quán chiếu vô thường, khéo léo buộc niệm vào hơi thở ra.

14.     Quán chiếu buông bỏ, khéo léo buộc niệm vào hơi thở vào.

Quán chiếu buông bỏ, khéo léo buộc niệm vào hơi thở ra.

15.     Quán chiếu vô dục, khéo léo buộc niệm vào hơi thở vào.

Quán chiếu vô dục, khéo léo buộc niệm vào hơi thở ra.

16.     Quán chiếu tịch diệt, khéo léo buộc niệm vào hơi thở vào.

Quán chiếu tịch diệt, khéo léo buộc niệm vào hơi thở ra.

Tu tập phép quán niệm hơi thở làm cho thân tâm lắng dịu, có thẩm sát, có quán chiếu, tâm tư được tĩnh lặng, thuần nhất, đạt được những tri giác sáng suốt và có thể đưa sự thực tập đến chỗ thành tựu viên mãn là như thế đó.

Bụt nói kinh này xong. Các vị khất sĩ nghe Bụt giảng hoan hỷ phụng hành.

 

 

Kinh Quán Niệm Hơi Thở

(Anapanasati sutta, M.118.
Tham khảo các kinh 815,803 và 810 của bộ Tạp A Hàm, 99 Tạng Kinh Đại Chánh)

 

Tôi nghe như sau:

Hồi đó, Bụt còn ở tại nước Xá Vệ, cư trú trong vườn Kỳ Thọ với nhiều vị đại đệ tử nổi tiếng như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp, Ca Chiên Diên, Câu Thi La, A Nậu Lâu Đà, Ưu Bà Đa, A Nan Đà, v.v… Trong cọng đồng các vị khất sĩ, những vị trưởng thượng lo chăm sóc dạy dỗ các vị khất sĩ tân học, có vị chăm dạy mười người, có vị hai mươi người, có vị ba mươi người, có vị bốn mươi người… Các vị khất sĩ tân học được chăm sóc và dạy dỗ như thế dần dần thực hiện được nhiều tiến bộ…

Bây giờ đây, đã đến ngày trăng tròn tháng tư và Bụt đang ngồi ngoài trời với các vị khất sĩ. Người đưa mắt lặng lẽ quán sát đại chúng một hồi rồi lên tiếng:

“Quý vị khất sĩ! Tăng đoàn chúng ta đây quả là thanh tịnh và có thực chất tu học, không mang tính chất phù phiếm và ba hoa, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được gọi là phước điền, xứng đáng được kính nể.

“Này quý vị, trong đại chúng đây có những vị khất sĩ đã chứng quả La Hán, đã trừ hết mọi phiền não, đã trút bỏ được mọi gánh nặng, đã thành tựu được trí tuệ và giải thoát. Lại có những vị đã cắt được năm sợi dây ràng buộc đầu, chứng được quả Bất Hoàn, sẽ không còn trở lại luân hồi; có những vị đã cắt bỏ được ba sợi dây ràng buộc đầu, chứng quả Nhất Hoàn, hàng phục được phần thô của các phiền não tham, sân và si, và chỉ cần trở lại một lần; có những vị đã cắt bỏ được ba sợi dây ràng buộc đầu, chứng quả Dự Lưu, đang vững chãi đi về quả vị giác ngộ; có vị đang thực tập Tứ niệm xứ, có vị đang thực tập Tứ chánh cần, có vị đang thực tập Tứ như ý túc, có vị đang thực tập Ngũ căn, có vị đang thực tập Ngũ lực, có vị đang thực tập Thất bồ đề phần, có vị đang thực tập Bát chánh đạo, có vị đang thực tập Từ, có vị đang thực tập Bi, có vị đang thực tập Hỷ, có vị đang thực tập Xả, có vị đang thực tập Cửu tưởng quán, có vị đang thực tập Vô thường quán. Lại có những vị khác đang thực tập Quán niệm hơi thở.”

“Quý vị khất sĩ! Phép quán niệm hơi thở, nếu được phát triển và thực tập liên tục, sẽ đem lại những thành quả và lợi lạc lớn, có thể làm thành tựu Bốn lĩnh vực quán niệm; Bốn lĩnh vực quán niệm nếu được phát triển và thực tập liên tục, sẽ làm thành tựu Bảy yếu tố giác ngộ; Bảy yếu tố giác ngộ nếu được phát triển và thực tập liên tục sẽ đưa tới trí tuệ và giải thoát.

“Làm thế nào để phát triển và thực tập liên tục phép quán niệm hơi thở, để phép này mang lại những thành quả và lợi lạc lớn?

“Này đây, quý vị khất sĩ! Người hành giả đi vào rừng hoặc tới một gốc cây, nơi vắng vẻ, ngồi xuống trong tư thế hoa sen, giữ thân cho thẳng và đặt vững chánh niệm trước mặt mình. Thở vào, người ấy biết rằng mình thở vào; thở ra, người ấy biết rằng mình thở ra.

1.    Thở vào một hơi dài, người ấy biết: Ta đang thở vào một hơi dài. Thở ra một hơi dài, người ấy biết: Ta đang thở ra một hơi dài.

2.    Thở vào một hơi ngắn, người ấy biết: Ta đang thở vào một hơi ngắn. Thở ra một hơi ngắn, người ấy biết: Ta đang thở ra một hơi ngắn.

3.    Ta đang thở vào và có ý thức về toàn thân ta. Ta đang thở ra và có ý thức về toàn thân ta. Người ấy thực tập như thế.

4.    Ta đang thở vào và làm cho toàn thân an tịnh. Ta đang thở ra và làm cho toàn thân an tịnh. Người ấy thực tập như thế.

5.    Ta đang thở vào và cảm thấy mừng vui. Ta đang thở ra và cảm thấy mừng vui. Người ấy thực tập như thế.

6.    Ta đang thở vào và cảm thấy an lạc. Ta đang thở ra và cảm thấy an lạc. Người ấy thực tập như thế.

7.    Ta đang thở vào và có ý thức về những hoạt động tâm ý trong ta. Ta đang thở ra và có ý thức về những hoạt động tâm ý trong ta. Người ấy thực tập như thế.

8.    Ta đang thở vào và làm cho những hoạt động tâm ý trong ta được an tịnh. Ta đang thở ra và làm cho những hoạt động tâm ý trong ta được an tịnh. Người ấy thực tập như thế.

9.    Ta đang thở vào và có ý thức về tâm ý ta. Ta đang thở ra và có ý thức về tâm ý ta. Người ấy thực tập như thế.

10.     Ta đang thở vào và làm cho tâm ý ta hoan lạc. Ta đang thở ra và làm cho tâm ý ta hoan lạc. Người ấy thực tập như thế.

11.     Ta đang thở vào và thu nhiếp tâm ý ta vào định. Ta đang thở ra và thu nhiếp tâm ý ta vào định. Người ấy thực tập như thế.

12.     Ta đang thở vào và cởi mở cho tâm ý ta được giải thoát tự do. Ta đang thở ra và cởi mở cho tâm ý ta được giải thoát tự do. Người ấy thực tập như thế.

13.     Ta đang thở vào và quán chiếu tính vô thường của vạn pháp. Ta đang thở ra và quán chiếu tính vô thường của vạn pháp. Người ấy thực tập như thế.

14.     Ta đang thở vào và quán chiếu về tính không đáng tham cầu và vướng mắc của vạn pháp. Ta đang thở ra và quán chiếu về tính không đáng tham cầu và vướng mắc của vạn pháp. Người ấy thực tập như thế.

15.     Ta đang thở vào và quán chiếu về bản chất không sinh diệt của vạn pháp. Ta đang thở ra và quán chiếu về bản chất không sinh diệt của vạn pháp. Người ấy thực tập như thế.

16.     Ta đang thở vào và quán chiếu về sự buông bỏ. Ta đang thở ra và quán chiếu về sự buông bỏ. Người ấy thực tập như thế.

Phép quán niệm hơi thở, theo những chỉ dẫn trên, nếu được phát triển và thực tập liên tục, sẽ đem đến những thành quả và lợi lạc lớn.

Phát triển và thực tập liên tục như thế nào để phép quán niệm hơi thở có thể thành tựu được Bốn lĩnh vực quán niệm?

Khi hành giả thở vào hoặc thở ra một hơi dài hay một hơi ngắn mà có ý thức về hơi thở và về toàn thân mình, hoặc có ý thức là đang làm cho toàn thân mình an tịnh, thì khi ấy hành giả đang an trú trong phép quán thân trong thân, tinh tiến, tỉnh thức, biết rõ tình trạng, vượt khỏi mọi tham đắm cũng như mọi chán ghét đối với cuộc đời. Hơi thở vào và hơi thở ra có ý thức ở đây thuộc lĩnh vực quán niệm thứ nhất là thân thể.

Khi hành giả thở vào hoặc thở ra mà có ý thức về sự vui thích hoặc về sự an lạc, về những hoạt động của tâm ý, hoặc để làm cho những hoạt động của tâm ý an tịnh thì khi ấy hành giả đang an trú trong phép quán cảm thọ trong cảm thọ, tinh tiến, tỉnh thức, biết rõ tình trạng, vượt khỏi mọi tham đắm cũng như mọi chán ghét đối với cuộc đời. Những cảm thọ được chứng nghiệm trong hơi thở có ý thức ấy thuộc lĩnh vực quán niệm thứ hai là cảm thọ.

Khi hành giả thở vào hoặc thở ra mà có ý thức về tâm ý, làm cho tâm ý an tịnh, thu nhiếp tâm ý vào định hoặc cởi mở cho tâm ý được giải thoát tự do, thì khi ấy hành giả đang an trú trong pháp quán niệm tâm ý trong tâm ý, tinh tiến, tỉnh thức, biết rõ tình trạng, vượt khỏi mọi tham đắm cũng như mọi chán ghét đối với cuộc đời. Không quán niệm về hơi thở thì sẽ không phát triển được chánh niệm và sự hiểu biết.

Khi hành giả thở vào hoặc thở ra mà quán chiếu về tính cách vô thường hoặc về tính cách không đáng tham cầu và vướng mắc của vạn pháp, về bản chất không sinh diệt và về sự buông bỏ, thì khi ấy hành giả đang an trú trong pháp quán niệm đối tượng tâm ý trong đối tượng tâm ý, tinh tiến, tỉnh thức, biết rõ tình trạng, vượt khỏi mọi tham đắm cũng như mọi chán ghét đối với cuộc đời.

Phép quán niệm hơi thở nếu được phát triển và thực tập liên tục, sẽ đưa Bốn lĩnh vực quán niệm đến chỗ thành tựu viên mãn.

Nhưng nếu được phát triển và thực tập liên tục, Bốn lĩnh vực quán niệm sẽ đưa Bảy yếu tố giác ngộ đến chỗ thành tựu viên mãn. Bằng cách nào?

Khi hành giả an trú trong phép quán thân trong thân, quán cảm thọ trong cảm thọ, quán tâm ý trong tâm ý, quán đối tượng tâm ý trong đối tượng tâm ý, tinh tiến, tỉnh thức, biết rõ tình trạng, vượt khỏi mọi tham đắm cũng như mọi chán ghét đối với cuộc đời, thì lúc ấy chánh niệm của hành giả được duy trì vững chãi và bền bỉ; và hành giả đạt được yếu tố giác ngộ thứ nhất là niệm. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên mãn.

Khi hành giả an trú trong chánh niệm để quán chiếu và quyết trạch về các pháp, đối tượng của tâm ý, thì yếu tố giác ngộ thứ hai được sinh khởi và phát triển, đó là yếu tố trạch pháp. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên mãn.

Khi hành giả an trú trong quán chiếu và quyết trạch về các pháp một cách bền bỉ, tinh cần, vững chãi thì yếu tố giác ngộ thứ ba được sinh khởi và phát triển, đó là yếu tố tinh tấn. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên mãn.

Khi hành giả đã an trú vững chãi và bền bỉ trong sự hành trì tinh tiến thì yếu tố giải thoát thứ tư được sinh khởi và phát triển, đó là yếu tố hỷ lạc xuất thế. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên mãn.

Khi được an trú trong trạng thái hỷ lạc rồi, hành giả cảm thấy thân và tâm của mình nhẹ nhàng và an tịnh, đó là yếu tố giải thoát thứ năm được sinh khởi và phát triển, đó là yếu tố khinh an. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên mãn.

Khi thân và tâm mình đã nhẹ nhàng và thanh tịnh, hành giả có thể đi vào định một cách dễ dàng. Lúc đó yếu tố giải thoát thứ sáu được sinh khởi và phát triển. Đó là yếu tố định. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên mãn.

Khi đã thực sự an trú trong định, hành giả không còn duy trì sự phân biệt và so đo nữa. Khi đó yếu tố giải thoát thứ bảy là buông thả được sinh khởi và phát triển. Đó là yếu tố hành xả. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên mãn.

Bốn lĩnh vực quán niệm nếu được phát triển và thực tập liên tục sẽ đưa Bảy yếu tố giác ngộ đến chỗ thành tựu viên mãn như thế. Nhưng Bảy yếu tố giác ngộ, nếu được phát triển và thực tập liên tục, làm thế nào để có thể đưa đến sự thành tựu viên mãn của trí tuệ và giải thoát?

Nếu hành giả tu tập theo Bảy yếu tố giác ngộ, một mình tĩnh cư, chuyên quán chiếu về tính cách không sinh diệt của vạn pháp, quán chiếu về sự tự do, thì sẽ đạt tới khả năng buông bỏ. Đó là do tu tập Bảy yếu tố giác ngộ mà thành tựu viên mãn được trí tuệ và giải thoát.”

Đó là những điều đức Thế Tôn nói. Đại chúng ai nấy đều tỏ vẻ vui mừng được nghe Người dạy.

 

 

Năm Phương Pháp Sống Trong Chánh Niệm
(Năm Giới)

Căn bản của sự thực tập ở Làng là quy và giới. Tuy giới luật của người xuất gia có khác giới luật người cư sĩ, nhưng tất cả giới luật và uy nghi điều được phát xuất từ Tam quy và Ngũ giới. Thực tập theo Năm giới quý báu là ta đã thực sự thực tập Tam quy, bởi vì trong Năm giới đã có chất liệu của Bụt và của Pháp. Ta không thể thực tập Năm giới một cách hoàn hảo được nếu ta không nương tựa vào Tăng thân, tham dự pháp đàm về giới, và những buổi tụng giới. Nương tựa vào Tăng, tức đã là nương tựa vào Bụt và Pháp rồi. Tiếp nhận Năm giới để hành trì, ta đã thấy được con đường ta đi, ta không còn lưỡng lự và sợ hãi nữa. Sự thực tập Năm giới bảo vệ ta và gia đình ta, ta sẽ được Tam Bảo che chở và hộ trì. Đây là nội dung của Năm giới:

– Giới Thứ Nhất: Ý thức được những khổ đau do sự sát hại gây ra, con xin học theo hạnh đại bi để bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài. Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán thành sự giết chóc và không để kẻ khác giết hại, dù là trong tâm tưởng hay trong cách sống hàng ngày của con.

Giới Thứ Hai: Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cướp và bất công xã hội gây ra, con xin học theo hạnh đại từ để đem niềm vui sống và an lạc cho mọi người và mọi loài, để chia xẻ thì giờ, năng lực và tài vật của con với những kẻ đang thật sự thiếu thốn. Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra. Con nguyện tôn trọng quyền tư hữu của kẻ khác, nhưng cũng nguyện ngăn ngừa kẻ khác không cho họ tích trữ và làm giàu một cách bất lương trên sự đau khổ của con người và của muôn loại.

Giới Thứ Ba: Ý thức được những khổ đau do thói tà dâm gây ra, con xin học theo tinh thần trách nhiệm để giúp bảo vệ tiết hạnh và sự an toàn của mọi người và mọi gia đình trong xã hội. Con nguyện không ăn nằm với những người không phải là vợ hay chồng của con. Con ý thức được rằng những hành động bất chánh sẽ gây ra những đau khổ cho kẻ khác và cho chính con. Con biết muốn bảo vệ hạnh phúc của mình và của kẻ khác thì phải biết tôn trọng những cam kết của mình và của kẻ khác. Con sẽ làm mọi cách có thể để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa.

Giới Thứ Tư: Ý thức được những khổ đau do lời nói thiếu chánh niệm gây ra, con xin học theo hạnh ái ngữ và lắng nghe để dâng tặng niềm vui cho người và làm vơi bớt khổ đau của người. Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hoặc khổ đau cho người, con nguyện chỉ nói những lời có thể gây thêm niềm tự tin, an vui và hy vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng sự hiểu biết và hòa giải. Con nguyện không nói những điều sai với sự thật, không nói những lời gây chia rẽ và căm thù. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án những điều con không biết chắc. Con nguyện không nói những điều có thể tạo nên sự bất hòa trong gia đình và đoàn thể, những điều có thể làm tan vỡ gia đình và đoàn thể.

Giới Thứ Năm: Ý thức được những khổ đau do sự sử dụng ma túy và độc tố gây ra, con xin học cách chuyển hóa thân tâm, xây dựng sức khỏe thân thể và tâm hồn bằng cách thực tập chánh niệm trong việc ăn uống và tiêu thụ. Con nguyện chỉ tiêu thụ những gì có thể đem lại an lạc cho thân tâm con, và cho thân tâm gia đình và xã hội con. Con nguyện không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy, không ăn uống hoặc tiêu thụ những sản phẩm có độc tố trong đó có một số sản phẩm truyền thanh, truyền hình, sách báo, phim ảnh và chuyện trò. Con biết rằng tàn hoại thân tâm bằng rượu và các độc tố ấy là phản bội tổ tiên, cha mẹ và cũng là phản bội các thế hệ tương lai. Con nguyện chuyển hóa bạo động, căm thù, sợ hãi và buồn giận bằng cách thực tập phép kiêng cữ cho con, cho gia đình con và cho xã hội. Con biết phép kiêng khem này rất thiết yếu để chuyển hóa tự thân, tâm thức cộng đồng và xã hội.

16. Lục độ ba la mật

Chương 16
Lục độ ba la mật

 

Chúng ta ai cũng muốn được cư trú ở cõi nước an lạc, hạnh phúc và tự do; không ai muốn cư trú nơi cõi nước của sầu khổ, giận hờn và thù hận nên trong khóa tu này quý vị đã được cống hiến những phương pháp tu tập cụ thể để giúp quý vị vượt qua được bờ bên kia. Chúng ta muốn xa lìa bờ ghen tỵ, kỳ thị, hận thù và sầu khổ để tới bờ của Từ, Bi, Hỷ, Xả, của an lạc, hạnh phúc và thảnh thơi. Vì vậy đức Thế Tôn đã cống hiến cho ta phép thực tập rất mầu nhiệm để ta có thể thực hiện được điều đó, đó là Lục Độ Ba La Mật. Chúng ta có thể thực tập vượt qua bờ bên kia ngay trong đời sống hàng ngày của ta bằng sáu phép ba la mật. Ta có thể vượt qua bờ bên kia bất cứ lúc nào ta muốn, vì ta đã được trao truyền con đường. Tôi xin trình bày Sáu Phép Ba La Mật như một đóa hoa gồm có sáu cánh; cái đài ở giữa là tâm hoa, ta viết chữ ”chánh niệm.” Sáu cánh hoa tượng trưng cho sáu độ hoặc sáu phép tu: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ và bản chất của mỗi cánh hoa là tâm hoa, tức là chánh niệm.

Bố Thí Độ

Bố thí độ (dana paramita) tức là phép tu cúng dường, hiến tặng. Khi hiến tặng, ta được sinh qua bờ bên kia liền lập tức. Khi giận một người nào ta liền đau khổ. Nếu ta thực tập hiến tặng (bố thí), thì niềm sân hận trong ta được chuyển hóa và ta vượt sang được bờ bên kia ngay tức khắc, đó là bờ của vô sân, của an lạc, hạnh phúc và từ bi. Ta có ý muốn dâng tặng niềm vui cho người kia, muốn giúp người kia sống hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Điều này rất dễ thực tập. Ta biết trong chiều sâu tâm thức ta có hạt giống của sự độ lượng, sẵn lòng muốn làm cho người khác hạnh phúc. Những hạt giống và tâm hành này luôn luôn có mặt trong ta. Khi buồn giận, ta vung vãi sự buồn giận, bạo động và khổ đau lên những người quanh ta. Vậy điều thiết yếu trước tiên là trở về chăm sóc chính mình, thực tập tiếp xúc với hạt giống hiểu biết và thương yêu nơi tự thân. Thời gian đầu của mối liên hệ, ta cam kết là sẽ làm bất cứ điều gì cho người thương của ta hạnh phúc. Nhưng có lẽ bây giờ ta đang làm ngược lại với lời cam kết ấy. Vậy sự thực tập là trở về với cái tâm ban đầu, tiếp xúc với hạt giống thương yêu trong ta và làm đúng theo những lời mà ta đã cam kết, thì thế nào ta cũng làm cho người thương của ta hạnh phúc.

Ta không cần phải đi ra siêu thị để mua những món quà đắt tiền cho người thương. Có rất nhiều món quà ta có thể hiến tặng cho người thương ngay bây giờ và ở đây mà không cần tốn một đồng xu nào – ví dụ như nụ cười tươi mát và cái nhìn hiền từ của ta đã là những món quà quý giá và mầu nhiệm. Ta có khả năng hiến tặng không? Ta có thể hiến tặng cho người thương của ta niềm vui, sự vững chãi và thảnh thơi của ta không? ‘‘Thở vào, tôi biết tôi đang còn sống và người thương của tôi cũng đang còn sống bên tôi.’’ Với cái thấy ấy, ta sẽ nở được nụ cười tươi mát, nhìn với con mắt hiền từ và cơn giận trong ta sẽ tự dưng tan biến. Nụ cười tươi mát, niềm vui và khả năng biết trân quý sự có mặt của chính mình, của những người mình thương là một món quà rất lớn, đó chính là bờ của an lạc, hạnh phúc. Hoa trái của sự thực tập là thứ ta có thể gặt hái được liền ngay trong giây phút hiện tại, chứ không cần phải thực tập mười năm hay hai mươi năm sau mới đạt được. Nếu ta thực tập thở vào và thở ra trong chánh niệm, làm cho năng lực của định hùng hậu, thì tuệ giác sẽ phát sinh và ta có thể chuyển hóa được tình trạng. Điều này rất đơn giản và dễ thực tập; chỉ cần làm cho lòng thương (Từ bi) trong ta sống dậy là ta thực hiện được điều ấy. Đây là món quà do sự thực tập hiến tặng (Bố thí độ) đưa tới. Bố thí Ba la mật là phép thực tập có công năng đưa ta và người ta thương sang được bờ bên kia, bờ của an lạc và hạnh phúc. Ta cũng có thể hiến tặng chất liệu tự do của ta cho người khác, tự do đối với giận hờn, sầu khổ và quên lãng, tự do đối với những ràng buộc về quá khứ và mơ tưởng, lo sợ tới tương lai. Tự do nghĩa là ta có khả năng sống an lạc, thảnh thơi ngay bây giờ và ở đây. Tự do là hoa trái lớn nhất của người tu và cũng là món quà cao quý nhất mà ta có thể hiến tặng cho người ta thương. Ta có thể nói với người thương của ta: ”Em thương quý, món quà lớn nhất anh có thể dâng tặng em là tự do, là sự vô úy của anh.” Nếu chúng ta cống hiến cho nhau chất liệu tự do thì đời sống của chúng ta chắc chắn sẽ được an vui và hạnh phúc.

Khi bị khống chế bởi những tâm hành phiền não, giận hờn và sầu lo, thì ta không phải là người có tự do, có hạnh phúc đích thực. Trong khóa tu này, chúng ta đã được học nghệ thuật buông bỏ – gọi là thả bò. Chúng ta đã học nhiều phương cách để phục hồi lại khả năng tự do của ta. Là một người tự do, ta có thể hiến tặng món quà đẹp nhất, cao quý nhất cho người ta thương, cho đời. Người đó có thể là người hôn phối của ta, là con trai, con gái, bạn bè hoặc có thể là kẻ thù của ta. Bằng phép thực tập bố thí Ba la mật, ta có thể biến kẻ thù thành bạn. Bố thí Ba la mật là phép thực tập rất cao thâm, hữu hiệu và mầu nhiệm.

Đức Thế Tôn có nói rằng khi mình còn phiền giận một người nào, dầu mình cố tìm đủ cách để xua đuổi cái phiền giận ấy đi, thì cơn giận vẫn còn y nguyên. Tôi xin đề nghị một phương pháp thực tập rất có hiệu quả, đó là tặng cho người ta đang phiền giận một món quà. Khi quý vị chưa hờn giận người kia, quý vị nên làm sẵn một món quà cho người kia, rồi hãy cất giữ đó. Trong khi gói quà, quý vị hãy làm với tất cả tình thương yêu, lòng biết ơn và nghĩ như thế này: ”Mình đang gói món quà này cho anh ấy. Trái tim của mình đang tràn ngập tình thương yêu và lòng biết ơn. Mỗi cử chỉ của mình đều được phát xuất từ tình thương và lòng biết ơn ấy. Ước mong của mình là muốn làm cho người mình thương được hạnh phúc. Thế nào mình cũng có dịp gởi món quà này cho anh ấy.” Quý vị hãy thực tập phương pháp tặng quà này với ý thức rằng bản chất của người thương của mình là Vô thường; một ngày nào đó người ấy sẽ xa lìa mình. Món quà mà quý vị đang làm có thể một ngày nào đó sẽ giúp quý vị phục hồi lại tình thương, là bảo bối cứu giúp quý vị trong tình trạng nguy khó. Khi giận người ấy quý vị hãy đi tới bưu điện và gởi món quà cho người ấy. Sau khi gởi món quà đi rồi, tôi bảo đảm quý vị sẽ cảm thấy dễ chịu hơn rất nhiều. Quý vị có bao giờ thực tập phương pháp này chưa? Quý vị hãy thử xem. Tôi cam đoan là nó sẽ thay đổi tình trạng của quý vị rất mau chóng.

Có nhiều cách khác để thực tập phép bố thí Ba la mật. Khi phát nguyện tiếp thọ Ba Sự Quay Về (Tam Quy) và Năm giới, sống đúng theo tinh thần của Năm giới, ta sẽ bảo hộ được ta và những người ta thương. Năm giới quý báu là những nguyên tắc thực tập rất cụ thể, mầu nhiệm có công năng đưa ta sang được bến bờ của bình an, giải thoát và hạnh phúc. Thực tập Năm giới cho sâu sắc, ta sẽ thực hiện được phép bố thí Ba la mật. Quý vị không cần phải là người giàu có mới có thể thực hiện phép bố thí. Sự thật là mình giàu có hơn mình tưởng rất nhiều. Quý vị có thể làm cho nhiều người hạnh phúc bằng sự thực tập bố thí Ba la mật. Quý vị chỉ cần trở về với chính mình, thực tập hơi thở chánh niệm và nhận diện để thấy rằng mình có rất nhiều châu báu của hạnh phúc, niềm vui, tình thương yêu, hiểu biết và tự do để hiếu tặng; quý vị có rất nhiều yếu tố có thể làm cho nhiều người hạnh phúc. Nếu biết xử lý năng lực và thì giờ của mình một cách khôn khéo, mình có thể làm cho rất nhiều người hạnh phúc. Khi làm cho người khác hạnh phúc, tự thân mình cũng sẽ được hạnh phúc. Trong khi quý vị thực tập chánh niệm và đồng thời giúp cho người khác thực tập chánh niệm, quý vị sẽ cùng với họ chế tác ra sức sống rất hùng hậu gọi là pháp sống. Đây gọi là Pháp thí. Khi đã tiếp xúc được với bản chất không sinh không diệt của các pháp, quý vị vượt thoát được sợ hãi, chứng đạt được vô úy. Có được đức vô úy, quý vị sẽ giúp được người khác chuyển hóa khổ đau, sợ hãi và giúp họ sống an vui, tự do và hạnh phúc như mình. Đó là phép bố thí cao quý nhất trong tất cả các loại bố thí – tức là hiến tặng sự không sợ hãi, danh từ chuyên môn gọi là Vô úy thí. Có tất cả ba loại bố thí: thứ nhất là Tài thí, thứ hai là Pháp thí và thứ ba là Vô uý thí.

Quý vị cũng đã được học về giáo lý tánh Không (the teaching on the nature of emptiness) trong sự bố thí. Theo tinh thần của giáo lý tánh Không, thì chúng ta phải thực tập bố thí theo tinh thần vô phân biệt, không kỳ thị và không đặt điều kiện. Đây là hành động cao siêu nhất của sự bố thí. Nếu quý vị bố thí theo tinh thần Bồ Tát, nghĩa là bố thí mà không thấy có người bố thí, người tiếp nhận sự bố thí và phẩm vật bố thí, thì công đức vô lượng và hạnh phúc sẽ rất lớn. Xin quý vị học hỏi sâu thêm về giáo lý này để phép thực tập bố thí đạt tới hiệu quả lớn hơn. Càng bố thí ta càng hạnh phúc và ta làm cho nhiều người chung quanh ta hạnh phúc.

Tinh Tấn Độ

Tinh tấn là phép thực tập thứ hai của sáu phép tu Ba la mật (Lục độ Ba la mật) có công năng giúp ta vượt qua bờ bên kia. Ta đã được học và biết rằng trong tâm thức ta có rất nhiều loại hạt giống (chủng tử): hạt giống thiện và hạt giống bất thiện. Ta cần có đủ thì giờ và năng lực để trở về với tự thân và thực tập tưới tẩm những hạt giống của niềm vui, an lạc, tình thương, lòng tha thứ và bao dung trong ta mỗi ngày. Làm cho những hạt giống tốt, thánh thiện trong ta được phát triển liên tục, đó đích thực là sự thực tập tinh tấn. Muốn cho sự thực tập tinh tấn được thành công, ta phải thực tập như một Tăng thân, một cộng đồng, chúng ta phải giúp đỡ và yểm trợ nhau, nghĩa là phải tạo ra một môi trường sống thật tốt lành trong đó mọi người sống đúng theo tinh thần Năm giới, an trú vững chãi trong chánh niệm, không để cho những yếu tố độc hại của xã hội xâm chiếm, trấn ngự và làm ô nhiễm ta.

Ta phải tổ chức đời sống tu tập của ta như thế nào để những hạt giống tốt trong tâm thức của mỗi cá nhân và cộng đồng được tưới tẩm và phát triển mỗi ngày. Ta có thể mời những người thương của ta cùng thực tập chung. Ta có thể nói với người thương của ta như thế này: ”Anh yêu quý, nếu muốn chăm sóc em, muốn cho em có hạnh phúc, thì xin anh tưới tẩm những hạt giống tốt trong em mỗi ngày. Em biết trong em có khả năng thương yêu, hiểu biết, tha thứ và bao dung. Em rất cần sự yểm trợ, nâng đỡ của anh để sự thực tập của em được thành công dễ dàng. Em biết nếu em hạnh phúc, thì anh cũng hạnh phúc. Em nguyện thực tập để nhận diện những hạt giống tốt nơi anh và em sẽ cố gắng làm hết khả năng của em để tưới tẩm và vun trồng những hạt giống tốt ấy nơi anh để chúng được phát triển mỗi ngày. Em hứa sẽ không tưới tẩm những hạt giống tiêu cực như buồn giận, bực bội và nghi ngờ nơi anh và em cũng mong anh thực tập như vậy đối với em.” Đây là ngôn ngữ thương yêu đích thực. Mặt khác ta không muốn tưới tẩm những hạt giống tiêu cực, bất thiện trong ta như hạt giống thiếu niềm tin cậy, hận thù, ghen tỵ và kỳ thị… Ta cũng không muốn người thương của ta tưới tẩm chúng mỗi ngày, vì làm như vậy ta sẽ khổ. Nếu ta khổ, thì người thương của ta cũng sẽ khổ. Và đây là sự thực tập: ”Con nguyện sẽ không để cho những hạt giống tiêu cực trong con bị tưới tẩm mỗi ngày. Con nguyện ăn uống và tiêu thụ có chánh niệm để những hạt giống tiêu cực trong con không bị tưới tẩm. Con ý thức rằng nếu con không biết hộ trì thân tâm, để cho những hạt giống tiêu cực trong con bị tưới tẩm thì chúng sẽ phát triển lớn mạnh, như vậy con sẽ khổ và sẽ làm cho những người con thương khổ. Con ý thức rằng nỗi khổ của người kia sẽ ảnh hưởng đến con, sẽ làm cho con bị ngột ngạt.” Ta phải rất chánh niệm, phải quyết tâm trong sự thực tập. Đó là sự thực tập tinh tấn đích thực. Ta có thể ký một Hiệp ước sống chung an lạc với mọi người trong gia đình ta. Có những lúc ta sống rất hòa thuận với nhau, mọi người ngồi quây quần bên nhau, uống những tách cà phê, trà rất đầm ấm và hạnh phúc. Trong những dịp như thế, ta nhân cơ hội đó để ký hiệp ước cho hạnh phúc của ta, của con cháu ta, của cha mẹ và bè bạn ta. Tinh tấn phải được thực tập trong ánh sáng của giáo lý Tứ chánh cần – bốn phép thực tập siêng năng:

Thứ nhất: Khi những hạt giống bất thiện, tiêu cực như hạt giống của hờn giận, trách móc, ghen tỵ, kỳ thị trong tâm thức ta chưa phát khởi, ta phải làm mọi cách để cho những hạt giống tiêu cực, bất thiện ấy không có cơ hội bị tưới tẩm và phát khởi.

Thứ hai: Khi những hạt giống tiêu cực đã biểu hiện lên trên vùng ý thức, ta hãy thực tập nhận diện, ôm ấp và đưa chúng trở lại tàng thức dưới trạng thái của hạt giống. Nếu một hoặc hai hạt giống bị tưới tẩm và biểu hiện trên vùng ý thức, ta hãy chăm sóc chúng và đưa chúng trở về với nguồn gốc của chúng càng nhanh càng tốt. Nếu ta nhởn nhơ, đùa giỡn với chúng, để cho chúng hiện hành quá lâu trong vùng ý thức của ta, thì chúng sẽ gây ra nhiều tai họa và đổ vỡ.

Thứ ba: Nếu những hạt giống tốt, tích cực trong tâm thức ta chưa biểu hiện thì ta thực tập tưới tẩm để làm cho chúng biểu hiện lên trên vùng ý thức của ta. Ta biết rằng trong chiều sâu tâm thức ta có những hạt giống tốt như những hạt giống thương yêu, hiểu biết, tha thứ và bao dung…; ta phải cố gắng làm đủ mọi cách để tiếp xúc với chúng mỗi ngày để cho chúng có cơ hội biểu hiện lên trên vùng ý thức của ta.

Thứ tư: Khi những hạt giống thiện đã biểu hiện lên trên vùng ý thức, ta phải tìm cách khéo léo để duy trì chúng ở lại càng lâu càng tốt. Những tâm hành đó là những khách quý của ta. Những năng lượng ấy càng ở lâu trên vùng ý thức của ta chừng nào, thì tàng thức của ta càng được nuôi dưỡng, trong sáng và hùng mạnh chừng ấy.

Đó là phép thực tập tinh tấn thứ tư của Tứ chánh cần. Tinh tấn không phải là một danh từ trừu tượng, mà là sự thực tập rất thiết thực. Ta thực tập chung với cha mẹ, con cái và xã hội ta. Thực tập tưới tẩm cho nhau những hạt giống tốt sẽ giúp ta vượt qua được bờ bên kia rất mau chóng. Đây gọi là sự thực tập chuyển căn – chuyển hóa tận gốc.

Bây giờ chúng ta hãy trắc nghiệm lại tất cả những gì mình đã được học trong gần ba tuần qua. Trong khóa tu hai mươi mốt ngày, chúng ta đã tạo cơ duyên, môi trường tốt cho những hạt giống lành, tích cực trong ta được tưới tẩm. Tất cả những gì tôi đã cống hiến, trao truyền cho quý vị đều đã có sẵn trong tự thân của quý vị dưới hình thức của hạt giống. Tăng thân và tôi chỉ giúp khai mở, tưới tẩm những hạt giống ấy nơi quý vị mà thôi. Đất tâm của chúng ta đã được thấm nhuần bởi những cơn mưa pháp và nhờ chúng ta đã mở lòng đón nhận một cách chân thành nên những cơn mưa pháp đã chạm tới được những hạt giống tốt trong ta. Nhiều người trong chúng ta đã gặt hái được nhiều kết quả, nếm được hương vị của an lạc, thảnh thơi, hạnh phúc và giải thoát; đã thiết lập lại được niềm tin của mình trong sự thực tập. Ta làm được như vậy là nhờ sự dìu dắt, nâng đỡ và muôi dưỡng của Tăng thân.

Tổ chức khóa tu là chúng ta tạo cơ duyên, điều kiện cho những cơn mưa pháp có cơ hội thấm vào lòng đất tâm của chúng ta để cho hạt giống thương yêu, hiểu biết, tha thứ, bao dung trong ta được nẩy mầm và người nào cũng được thừa hưởng. Trong khóa tu, có khi chúng ta chưa cần làm gì cả, không cần tu tập có tính cách sít sao mang nặng hình thức, ta chỉ mở lòng và cho phép những cơn mưa pháp và năng lượng của tăng thân đánh động tới những hạt giống tốt trong tâm thức ta thôi cũng đủ cho ta được nuôi dưỡng, trị liệu và chuyển hóa. Chúng ta nên tổ chức khóa tu thường xuyên hơn – khóa tu dài hạn hay ngắn hạn, điều đó tùy khả năng và điều kiện. Tổ chức một ngày chánh niệm hoặc chỉ nửa ngày chánh niệm cũng tốt, bởi vì đó là cơ hội cho mọi người thuộc nhiều Tăng thân đến để tu tập, để cùng nuôi dưỡng, nâng đỡ và yểm trợ nhau; có mặt cho nhau và cùng nhau đi thiền, ngồi thiền, ăn cơm trong chánh niệm, chia sẻ những khó khăn và phương cách thực tập để chuyển hóa khó khăn, khổ đau v.v… Một ngày hoặc nữa ngày tu chánh niệm như thế chắc chắn sẽ đem lại rất nhiều lợi lạc và nuôi dưỡng.

Xem Ti Vi Trong Chánh Niệm

Là cha mẹ, chúng ta có thể bàn bạc với con cái của ta về phương cách sử dụng máy truyền hình hay máy vi tính như thế nào cho thông minh để những hạt giống tiêu cực như bạo động, căm thù, kỳ thị và thèm khát trong mỗi người không bị tưới tẩm. Nếu con cái của quý vị xem chương trình phim ảnh có chứa đựng quá nhiều chất liệu bạo động, thèm khát và sợ hãi – dù bộ phim đó rất hào hứng làm cho chúng say mê, thì chúng cũng sẽ mệt mỏi, tê liệt sau một giờ đồng hồ tiêu thụ. Quý vị có thể nói chuyện với con mình bằng ngôn từ hòa ái, cởi mở và xây dựng: ”Này con ạ, có chuyện này ba/mẹ muốn thảo luận với con. Con có thể ngưng xem ti vi một chút được không?” Rồi quý vị có thể hỏi con xem chúng nó cảm thấy như thế nào trong khi xem cuốn phim ấy. Chúng có cảm thấy bình an và hạnh phúc sau khi xem cuốn phim như thế hay không? Lúc ấy con của quý vị sẽ có cơ hội chia sẻ cái cảm giác, nhận thức của chúng cho quý vị nghe. Sau khi nghe xong, cả gia đình có thể bàn thảo với nhau và đi tới phương pháp hay, thông minh nhất về việc sử dụng ti vi, xem phim ảnh. Cố nhiên không phải chương trình truyền hình nào cũng dỡ, cũng độc hại; có rất nhiều chương trình truyền hình hay, lành mạnh có thể nuôi dưỡng tình thương và mở rộng kiến thức của ta. Tôi biết có một gia đình nọ ở thành phố Boston, sau khi biết tu tập, họ đã ngồi lại với nhau để bàn bạc về việc sử dụng máy truyền hình và đã đi tới một giải pháp rất hay trong việc sử dụng máy truyền hình; họ chọn những chương trình lành mạnh và cả gia đình cùng ngồi xem chung với nhau. Vào những buổi xem phim như thế, họ ăn mặc rất trang nhã như thể đi xem phim ở rạp xi nê. Họ quây quần tại phòng khách và xem một cuốn phim đã được tuyển chọn bởi một thành viên trong gia đình. Trong đời sống hàng ngày, họ giới hạn xem truyền hình, họ có ký Hiệp ước sống chung an lạc với nhau nên họ rất thận trọng khi có ý muốn xem truyền hình, xem phim, chứ không phải ai muốn xem lúc nào thì xem. Tôi thấy giải pháp đó rất hay.

Một hôm tôi có buổi phỏng vấn với ký giả của tờ báo Phụ Nữ ở Paris. Tôi đã kể câu chuyện này. Cô ký giả mời tôi chia sẻ một vài sự thực tập cụ thể cho những đọc giả của tờ báo Phụ Nữ và tôi đã chia sẻ với họ một ví dụ về một cặp vợ chồng có khó khăn với nhau. Họ không truyền thông, nói chuyện được với nhau, không khí trong gia đình càng ngày càng trở nên ngột ngạt, cả hai người không nhìn nhau được nữa và cuối cùng họ đều nhìn về một hướng cho bớt khổ, đó là hướng ti vi. Tôi nói rằng quý bà có thể thực tập như thế này: trong khi người chồng đang xem ti vi, thì người vợ với năng lượng chánh niệm vững mạnh tới bên cạnh, xin ông ngưng xem ti vi một chút và nói với chồng mình như thế này: ”Thưa anh, em có chuyện này xin được bàn thảo với anh. Anh có thể ngưng xem ti vi vài phút được không?” Ông chồng vốn là một người trí thức nên giữ phép lịch sự mà chấp thuận và tắt máy ti vi. Sau khi ông đã tắt máy ti vi, bà hãy nhìn chồng một lúc, rồi hỏi: ”Này anh, có phải chúng ta là một cặp vợ chồng có hạnh phúc không? Nếu không, thì tại sao? Chúng ta có thể nhìn lại để xem nguyên do nào đã khiến cho chúng ta mất đi sự hòa nhã, mất đi hạnh phúc đến nỗi bây giờ không thể nói chuyện được với nhau? Những năm đầu chúng ta hạnh phúc lắm mà, phải không anh? Sao bây giờ lại như vậy? Chúng ta có thiếu thốn gì không về phương diện vật chất, công  ăn việc làm, tiền tài và danh vọng? Nếu không thiếu thốn gì, vậy thì tại sao chúng ta không hạnh phúc?” Thiền tức là dừng lại và nhìn sâu để tìm hiểu những nguyên do đưa đến tình trạng bế tắc, không hạnh phúc trong gia đình hoặc trong mối liên hệ giữa vợ chồng, cha con và mẹ con với nhau v.v…

Là một cá nhân, một cặp vợ chồng, một gia đình, liên hệ cha con, mẹ con, anh, chị, em với nhau, quý vị có đủ sự thông minh và khả năng thực tập nhìn sâu để tìm ra những nguyên do tại sao quý vị không hạnh phúc. Nhìn sâu vào sự thật thứ nhất tức là khổ đế, ta sẽ khám phá ra sự thật thứ hai – khổ tập đế – những nguyên do, những điều kiện đã đưa tới cái khổ đó; và quý vị phải tập nhìn qua lăng kính của bốn loại thực phẩm (Đoàn thực, Xúc thực, Ý tư thực và Thức thực) đã có tác dụng nuôi dưỡng và tưới tẩm những khổ đau của quý vị. Khi hiểu được nguồn gốc của khổ, quý vị có thể loại trừ, xa lìa chúng. Quý vị nên bàn thảo về phương pháp làm mới hữu hiệu giữa vợ chồng, cha con, mẹ con với nhau. Dù vấn đề khó khăn, bế tắc cách mấy, quý vị vẫn có thể làm cho mối liên hệ mới trở lại, chuyển đổi được tình trạng, nối lại tình thâm với nhau. Ngày hôm qua có một cặp vợ chồng trong khóa tu này đã làm mới với nhau và sự thực tập đã làm họ cảm thấy như họ vừa mới đám cưới trở lại. Pháp môn Làm Mới rất hữu hiệu; người nào cũng có thể thực tập thành công.

Khi mới quen nhau, yêu nhau, ta thấy cái gì cũng đẹp, dễ thương; ta nhìn nhau suốt ngày mà không thấy chán, không thấy đói. Ta nói: ”Khuôn mặt của em đẹp quá. Đôi mắt của em dễ thương quá. Em là người anh thương yêu nhất trên đời. Không có em, anh không thể sống được.” Ta dành rất nhiều thì giờ ngồi bên nhau, có mặt cho nhau và nhìn nhau hoài mà không thấy mệt, thấy đói. Tình yêu ban đầu lúc nào cũng đẹp đẽ, trong sáng và tràn đầy sự chấp nhận. Nhưng vì ta không biết thực tập chăm sóc, vun bón, tưới tẩm và nuôi dưỡng mối tình đầu đẹp đẽ ấy, nên ta đã biến tình yêu của ta thành hận thù, ta bắt đầu tưới tẩm cho nhau những hạt giống tiêu cực. Ta bắt đầu thay đổi thái độ cư xử, cách nhìn và nói: ”Bà bây giờ như bà chằng, không dễ thương như ngày xưa nữa. Bây giờ nhìn bà tui thấy chán ngấy, không thoải mái chút nào.” Bây giờ ta không muốn nhìn nhau nữa. Vì vậy để cho đỡ khổ, ta nhìn về hướng ti vi. Ta trốn chạy khổ đau bằng cách đó. Đó là bi kịch của rất nhiều gia đình trong xã hội chúng ta. Người ta muốn trốn chạy, muốn quên đi những khó khăn, khổ đau bằng đủ mọi phương tiện. Ti vi là một phương tiện để trốn chạy; sa vào xì ke ma tuý, sống lang thang ngoài phố chợ, la cà nơi những quán rượu cũng là những cách để trốn chạy khổ đau v.v… Sự thực tập là phải trở về và đối diện với thực trạng của ta. Trốn chạy không phải là giải pháp. Cho nên ta phải tắt ti vi, bắt đầu nhìn nhau và cùng nhau đặt lại những vấn đề thiết thực. Ta phải công nhận là trong gia đình ta đang có khổ đau, đang bị bế tắc và phải cùng nhau nhìn lại để tìm ra những nguyên do tại sao gia đình mình không có hạnh phúc, tại sao mọi người không truyền thông được với nhau; có phương pháp tu tập nào có thể giúp ta tái lập lại sự truyền thông, phục hồi lại hạnh phúc và niềm an vui cho nhau hay không?

Có những người cho rằng thiền tập (đi tu) tức là trốn tránh thực tại; nghĩ rằng người tu khi đã đạt tới trạng thái giải thoát, siêu việt, thì họ không màng tới vấn đề thực trạng của đời sống nữa. Nghĩ như thế là không đúng; thiền tập – cụ thể qua phép tu tập chánh niệm, là lối sống giúp ta trực diện, ôm ấp và xử lý những vấn đề thiết thực trong hiện tại. Vì vậy tu thiền không phải là hành động trốn tránh thực tại.

Các cơ quan bảo vệ sức khỏe cho dân chúng đã đưa ra quy luật bắt các công ty sản xuất thuốc lá ghi câu cảnh tỉnh, cảnh báo lên các bao thuốc lá: “Hút thuốc sẽ có hại đến sức khỏe.” Những câu cảnh báo như thế nên được ghi và dán lên trên các màn ảnh của ti vi, máy vi tính, bởi vì có hàng triệu người đã bị đầu độc khi xem những chương trình ti vi có tính cách độc hại, chứa đựng nhiều chất liệu bạo động, căm thù, kỳ thị và thèm khát. Cho nên ta có thể ghi câu cảnh tỉnh: ”Xem ti vi có thể bị độc hại đến thân tâm.” Vì vậy ta phải có chánh niệm, phải tỉnh thức mỗi giây mỗi phút trong đời sống hàng ngày của ta, bởi vì chỉ có chánh niệm mới bảo hộ được ta và con em của ta. Tôi nghĩ vấn đề này phải được đem ra bàn thảo trong các cơ quan chính quyền, cơ quan lập pháp. Chúng ta phải thi thiết những pháp luật mới để bảo vệ ta, bảo vệ con em ta và dân tộc ta từ những sản phẩm văn hóa có tính cách độc hại thân tâm, phá hoại nền đạo đức của nhân loại. Chúng ta sản xuất ra vô số những sản phẩm tiêu thụ có chứa đựng quá nhiều những chất liệu bạo động, hận thù và thèm khát; những chất liệu ấy đã tưới tẩm những hạt giống xấu, tiêu cực và bất thiện trong ta và trong con em của chúng ta. Siêng năng (tinh tấn) phải được thực tập như một quốc gia. Những nhà chính trị, ký giả, nhà văn, thầy giáo, cô giáo và những nhà tâm lý trị liệu phải có trách nhiệm đóng góp phần mình trong việc gây ý thức về thực trạng của xã hội để mọi người cùng thức dậy và tìm ra những biện pháp cụ thể nhằm bảo hộ chúng ta và các thế hệ tương lai. Đây là việc làm rất cấp bách và cả quốc gia cùng làm mới thành công.

Trì Giới Độ

Phép thực tập thứ ba giúp ta vượt sang được bờ bên kia là trì giới. Năm giới là những nguyên tắc hướng dẫn chúng ta đi về hướng an lạc, giải thoát và giác ngộ. Năm giới có công năng bảo hộ bản thân, gia đình, xã hội, dân tộc và đất nước. Vừa qua, sư cô Chân Không đã đề nghị chúng ta gửi cho tổng thống Bill Clinton quyển sách nói về sự học hỏi và thực tập về Năm giới và hỏi ông xem có cách nào để thực thi những nguyên tắc ấy trên toàn quốc không. Bởi vì nếu mọi người trên toàn quốc sống theo tinh thần Năm giới, thì khổ đau sẽ được chuyển hóa rất nhiều, đất nước sẽ trở nên an bình, hạnh phúc hơn.

Giới tướng của Năm giới có thể được trình bày theo tinh thần phi tôn giáo – nghĩa là trình bày như thế nào để có thể lấy đi bớt những chất liệu, âm hưởng có tính cách tôn giáo, giáo điều và lễ nghi để những người khác tôn giáo có thể chấp nhận và thực tập được một cách dễ dàng. Thực ra tinh thần Năm giới cũng được tìm thấy rải rác trong các hệ thống giáo lý của tất cả các truyền thống tâm linh. Nếu trong đời sống hàng ngày chúng ta học hỏi và tập sống theo tinh thần Năm giới, thì tự thân sẽ được bảo hộ và chúng ta sẽ tạo dựng được một xã hội, thế giới hòa bình và hoàn thiện hơn. Năm giới là một món quà rất quý giá. Thực tập theo tinh thần Năm giới, ta sẽ thiết lập được chất liệu vững chãi, an lạc, thảnh thơi, từ bi và lòng bao dung trong ta. Những chất liệu ấy là món quà quý giá nhất ta có thể hiến tặng cho người thương của ta và đóng góp vào việc tạo dựng hòa bình cho nhân loại.

Muốn thực tập Năm giới có hiệu quả, ta phải thực tập như một tăng thân, một cộng đồng, một dân tộc, phải biết nương tựa vào Tăng thân; thực tập một mình sẽ khó gấp trăm lần. Nếu mọi người trong gia đình cùng sống theo tinh thần Năm giới, ta sẽ tránh được nhiều lầm lỗi, tránh gây khổ đau cho nhau. Nếu người nào cũng thực tập phương pháp lắng nghe sâu với tâm từ bi, sử dụng ngôn từ hòa ái, dịu dàng và xây dựng, thì chúng ta sẽ chuyển đổi được tình trạng trong gia đình. Nếu tự thân, gia đình ta thực tập thành công, thì năng lượng bình an, hài hòa và hạnh phúc của gia đình sẽ có ảnh hưởng rất tốt vào xã hội. Các cháu thiếu nhi cũng có khả năng thực tập hạnh lắng nghe sâu và ái ngữ như những người lớn trong gia đình.

Nhẫn Nhục Độ

Phép thực tập thứ tư của Lục độ Ba la mật giúp chúng ta vượt sang bờ bên kia là hạnh Nhẫn nhục – sự thực tập mở lòng để ôm lấy tất cả, không phân biệt, kỳ thị, theo phe. Tiếng Phạn là kshanti paramita. Nhẫn nhục Ba la mật nghĩa là không ghét bỏ một ai, không loại trừ một ai, là khả năng ôm lấy tất cả. Chữ Nhẫn nên dịch theo nghĩa bao dung, độ lượng thì hay hơn, vì chữ Nhẫn nhục có thể làm người ta hiểu lầm là sự cắn răng chịu đựng, chịu đựng như thế không phải là tinh thần của đạo Bụt, là không có trí tuệ và tình thương. Sức người có hạn, khi chịu đựng không nổi nữa, thì sẽ đưa tới hận thù, ghét bỏ v.v… Nếu tự luyện tập cho mình khả năng ôm lấy, bao dung, thì mỗi ngày trái tim của ta sẽ lớn rộng, bao la hơn và ta có thể ôm hết được tất cả mọi người vào lòng, chấp nhận được tất cả những khó khăn của họ mà không một lời than van, oán trách. Quý vị có nhớ hai ví dụ về tính chất của đất và nước không? Tính chất của đất rất sâu, dày và rộng, nhờ vậy mà đất có khả năng tiếp nhận, ôm lấy và chuyển hóa tất cả mọi thứ trong đó có các chất nhơ bẩn, hôi hám v.v… mà con người trút xuống. Đất không bao giờ tẩy chay, xua đuổi, ghét bỏ, kêu van hay oán trách một lời. Nước cũng vậy. Dung lượng của nước rất mênh mông, sâu rộng và uyển chuyển, vì thế nước có khả năng tiếp nhận, ôm lấy, dung chứa và thanh lọc tất cả. Đức Thế Tôn đưa ra ví dụ về một nắm muối được bỏ vào tô nước. Vì lượng nước trong tô quá ít nên khi bỏ nắm muối vào, thì nước trong tô trở nên quá mặn, không thể uống được. Nhưng cũng nắm muối đó mà nếu ta đem bỏ vào dòng sông, dòng sông sẽ hòa tan chúng, chuyển hóa chúng mà nước sông vẫn không biến đổi, ta vẫn dùng được. Nếu lòng ta tràn ngập chất liệu hiểu biết và thương yêu, thì ta có thể ôm lấy tất cả mà không bị đau khổ. Cho dù nếu có người nói hoặc làm điều gì xấu ác với ta, ta cũng không đau khổ, than trách, thù hận họ bởi vì ta có khả năng thương yêu, tha thứ và bao dung lớn trong lòng. Ta không loại trừ một ai; ta bước được những bước rất xa trên quá trình thương yêu. Lòng bao dung của ta được xuất phát từ sự hiểu biết và thương yêu lớn, chứ không phải do sự chịu đựng. Có rất nhiều cách để dịch chữ Nhẫn như nghĩa chịu đựng hoặc nhẫn nhục, nhưng nếu nhìn sâu vào bản chất cao thâm của giáo lý, ta thấy rằng dịch chữ Nhẫn theo nghĩa bao dung, ôm lấy tất cả (inclusiveness) thì hay hơn, chính xác hơn.

Thiền Định Độ

Phép tu tập thứ năm của Lục độ Ba la mật có công năng giúp ta vượt sang bờ bên kia là thiền định. Thiền định nói cho đúng nghĩa gồm có hai phần: chỉ và quán. Khi ở trong tình huống khó khăn, bế tắc mà ta biết trở về với hơi thở chánh niệm, mỉm cười, thì ta có thể thay đổi được tình trạng, có thể tạo ra được phép lạ. Khi phục hồi lại được chất liệu vững chãi và thảnh thơi, ta có thể vượt qua được tất cả những tình huống khó khăn, tai ương và khổ nạn. Ví dụ có hai chàng trai trẻ sắp đánh nhau. Nếu một trong hai anh chàng có khả năng trở về thực tập hơi thở chánh niệm, anh ta sẽ biết rằng trong khi hai người đánh nhau, thế nào rồi cả hai cũng sẽ bị trọng thương và có thể đi vào bệnh viện. Thấy được như thế, anh ta nói: ”Anh thật sự muốn đánh hả? Tôi biết nếu làm như thế, chắc chắn cả hai chúng ta sẽ bị trọng thương.” Cái thấy ấy sẽ giúp cho người kia thức tỉnh. Sau đó, thay vì đánh nhau, hai người có thể ngồi xuống thương thuyết, làm hòa với nhau. Khi chánh niệm có mặt thì định lực phát sinh và giúp ta dừng lại kịp thời. Vì vậy thiền tập trước hết là dừng lại, danh từ Phật học gọi là Chỉ. Khi Niệm lực và Định lực được phát triển hùng hậu thì Tuệ giác phát sinh; có tuệ giác, thì chỉ cần một tích tắc là ta có thể chuyển đổi được tình trạng; chỉ cần trong chớp nhoáng của ý thức, một hơi thở có chánh niệm là ta đã có thể đem lại sự chuyển hóa và trị liệu. Nếu thực tập hơi thở có ý thức một cách miên mật và đúng đắn, ta có thể thực hiện được những phép lạ, có thể can thiệp, ngăn chặn một bi kịch, một thảm họa sắp xảy ra. Ta trở thành vị Bồ Tát có khả năng phục hồi lại sự an bình và hòa giải.

Thiền định cụ thể qua sự thực tập chánh niệm có công năng giúp ta có mặt trọn vẹn và tiếp xúc được với những yếu tố mầu nhiệm, lành mạnh, tươi mát và trị liệu trong sự sống. Tiếp xúc và nuôi dưỡng ta với những yếu tố tích cực, lành mạnh như thế, ta có thể chuyển hóa, buông bỏ những yếu tố tiêu cực trong ta rất dễ dàng. Nếu không biết thừa hưởng và tự nuôi dưỡng mình với những yếu tố tươi mát, lành mạnh và mầu nhiệm đang có mặt cho ta mà cứ để thân tâm mình bị trấn ngự bởi những lo âu, giận hờn, ghen tỵ và kỳ thị thì thật đáng tiếc và đáng tội nghiệp cho bản thân. Ta không cần phải thực tập ngồi thiền mười năm, hai mươi năm mới có thể vượt qua được bờ bên kia; theo sự thực tập này, nếu thông minh, khéo léo thì chỉ cần vài phút là ta đã có thể làm được việc ấy rồi. Phép lạ có thể được thực hiện trong từng hơi thở có ý thức và bước chân chánh niệm của ta. Thiền sư Lâm Tế nói rằng: ”Phép lạ là đi trên mặt đất – Địa hành thần thông.” Ta có thể chế tác chất liệu giác ngộ trong mỗi giây mỗi phút và giác ngộ, tự do là năng lực rất hùng hậu vốn sẵn có trong ta. Khi ta có năng lực của sự giác ngộ thì lòng ta cảm thấy thư thái, bao la như trời, vững chãi như núi và ta có thể tiếp xúc được với những yếu tố mầu nhiệm của sự sống đang dàn trãi quanh ta và trong ta.

Trí Tuệ Độ

Trí tuệ, tiếng Phạn là prajna được ví như là người Mẹ của tất cả các vị Bụt. Ở Ấn Độ, người ta tạc hình tượng một người phụ nữ tượng trưng cho Trí tuệ Ba la mật (prajnaparamita). Trí tuệ Ba la mật là loại trí tuệ có công năng giúp ta vượt qua được bờ bên kia. Trí tuệ ba la mật là Mẹ sinh ra các vị Bụt và Bồ Tát. Do đó ta mới có danh xưng Phật Mẫu. Chúng ta đều là con của Phật Mẫu. Nhờ trí tuệ mà ta được sinh vào dòng của chánh Pháp và lớn lên trong gia đình của những người con Phật. Khi hạt giống của hiểu biết (trí tuệ) trong ta được chạm tới và biểu hiện, thì tự khắc ta biết điều gì nên làm, điều gì không nên làm. Ngay trong giây phút đó, ta đột nhiên thấy mình đang ở bên bờ của an lạc, hạnh phúc, vô úy và thương yêu. Nếu ta sắp lâm vào một cuộc tranh chấp, ta có thể thực tập thiền ôm mà ta đã được học. Khi giận người thương của ta và muốn chuyển hóa cơn giận, ta cần thực tập nhìn sâu, nhìn với con mắt Vô thường, Vô ngã và Tương tức. Như tôi đã trình bày trong những bài pháp thoại trước: Khi giận, quý vị hãy nhắm mắt lại và quán tưởng theo bài kệ:

”Giận nhau trong tích môn

Nhắm mắt nhìn mai sau

Trong ba trăm năm nữa

Em đâu và tôi đâu?”

Thực tập bài kệ này giúp ta chạm tới được hạt giống trí tuệ về Vô thường trong tàng thức của ta. Nếu quý vị nhắm mắt lại, thở vào, thở ra và quán tưởng mình và người thương của mình trong ba trăm năm sau, thì khi mở mắt ra, chắc chắn quý vị sẽ trở thành một con người khác, một con người hoàn toàn mới; cơn giận của quý vị đã được chuyển hóa, tan biến. Quý vị sẽ thấy rằng điều ý nghĩa và cần làm nhất ngay bây giờ là giang tay ra để ôm lấy người kia vào lòng với ý thức rằng mình và người thương của mình đang còn sống là một phép lạ. Quý vị tiếp xúc được với sự sống mầu nhiệm khi hạt giống hiểu biết trong tâm quý vị được chạm đến. Quý vị không cần vị Đạo Sư trao cho quý vị nguồn tuệ giác này hoặc đợi đến Bụt tương lai ra đời mới thực hiện được. Nếu quý vị biết cách tiếp xúc với tuệ giác Vô thường, Vô ngã và Tương tức nơi chính mình, thì Bụt tự thân của quý vị sẽ biểu hiện.

Con Mắt Của Bụt

Trong khóa tu này, tôi đã trao truyền cho quý vị con mắt của Bụt (Phật Nhãn). Con mắt đó có thể nhìn thấu được thực tại chân thật của các pháp. Quý vị có sẵn hạt giống, khả năng giác ngộ nơi tự thân, gọi là Phật Tánh. Mỗi khi ta nhìn sự vật bằng năng lực của Niệm và Định, tức là ta đang sử dụng con mắt của Bụt. Nhìn bằng con mắt của Bụt, ta đem lại rất nhiều niềm an vui, hạnh phúc, tình thương cho ta và cho mọi người chung quanh. Đó gọi là Từ nhãn thị chúng sanh. Cái nhìn của ta trở nên sâu sắc, không bị vẩn đục bởi những tri giác sai lầm của tâm kỳ thị, phân biệt, ghen tỵ và giận hờn. Nhìn như thế, ta sẽ hiểu được chính ta và mọi người quanh ta rõ ràng và sâu sắc. Ta phải tự hỏi: mình đang nhìn bằng mắt Bụt hay bằng mắt phàm? Đừng nghĩ rằng mình không có mắt Bụt (Phật Nhãn). Nhìn bằng mắt Bụt không phải là một ý niệm trừu tượng, mơ hồ. Nhìn bằng mắt Bụt là sự thực tập rất thực tiễn, bởi vì mình có khả năng đó, mình có sẵn con mắt của Bụt nơi tự thân.

Lỗ Tai Của Bụt

Quý vị cũng đã được trao truyền lỗ tai của Bụt. Xin quý vị khéo sử dụng lỗ tai của Bụt để lắng nghe sâu, lắng nghe với tình thương (từ bi) và hiểu biết. Khi quý vị lắng nghe người kia bằng lỗ tai của Bụt, thì người kia sẽ cảm thấy bớt khổ rất nhiều. Có thể từ trước đến nay chưa có một người nào lắng nghe ông ta, bà ta như thế bao giờ. Đừng bảo rằng quý vị không có lỗ tai của Bụt, sự thật là quý đã có sẵn lỗ tai của Bụt, quý vị có khả năng lắng nghe với tâm từ bi như Bụt. Quý vị phải biết sử dụng khả năng mầu nhiệm ấy mỗi ngày để lắng nghe con mình, vợ mình, chồng mình, người thân của mình, người công nhân, đồng sở của mình v.v… Trong khi nghe, ta phải tập nghe bằng cả con người của ta, thân tâm trở về một mối, thiết lập vững vàng năng lượng Niệm, Định và Tuệ. ‘‘Chỉ cần lắng nghe thôi cũng đã làm vơi bớt khổ đau của kẻ khác rồi.’’ Đó là hạnh của đức Bồ Tát Quán thế Âm.

Bàn Tay Của Bụt

Quý vị cũng đã được trao truyền bàn tay của Bụt. Tôi thường sử dụng bàn tay của Bụt để hành động, phụng sự. Sáng nay đôi mắt của tôi hơi mệt, khó chịu, vì tối hôm qua tôi bị thiếu ngủ. Tôi đã thực tập theo dõi hơi thở vào và hơi thở ra trong chánh niệm và dùng những ngón tay của Bụt để tiếp xúc, chăm sóc và ôm ấp hai mắt của tôi. Tôi biết Bụt luôn có mặt đó cho tôi và tôi muốn tiếp xúc với Ngài lúc nào cũng được. Chỉ cần có một ít năng lượng của Niệm và Định, thì bàn tay của mình tự nhiên trở thành bàn tay của Bụt và mình có thể thực hiện phép lạ. Mình phải tập tiếp xúc với thân thể, cảm thọ và tâm ý mình bằng bàn tay của Bụt. Bụt không phải là đối tượng có mặt ngoài ta, Ngài có mặt trong từng tế bào của cơ thể ta, Ngài là tổ tiên tâm linh của ta và ta là sự tiếp nối của Ngài. Nếu ta biết cách tiếp xúc sâu sắc, thì Ngài sẽ biểu hiện ngay trước mặt.

Nhớ lại lúc còn nhỏ, có những lần mình bị cảm, bị lên cơn sốt, nằm một mình cô quạnh trên giường; liền lúc đó mẹ xuất hiện như một thiên thần, như mẹ hiền Quán Thế Âm, đặt bàn tay lên trán mình với tất cả tình thương yêu, dịu dàng quan tâm, chăm sóc và tự nhiên mình cảm thấy khỏe ra liền lập tức. Nếu mẹ mình đã qua đời hoặc ở xa, nhưng nếu biết cách tiếp xúc với mẹ, thì mẹ sẽ biểu hiện ra liền cho mình. Vì sao, vì mình chính là sự tiếp nối của mẹ mình. Mình chính là mẹ mình. Mình và mẹ mình không phải là hai thực thể riêng biệt. Nhìn vào bàn tay mình, mình thấy bàn tay này cũng là bàn tay của mẹ, bày tay mình là sự tiếp nối của bàn tay mẹ. Nếu muốn được bàn tay ấm áp, dịu dàng và đầy tình thương của mẹ áp lên trán mình thì mình có thể làm được ngay bây giờ và ở đây. Hãy thực tập thử xem; đặt bàn tay mình lên vầng trán, ta sẽ thấy bàn tay này đích thực là bàn tay của mẹ. Mẹ mình còn sống trong từng tế bào của cơ thể mình. Mẹ mình chưa bao giờ từng chết. Đó là sự thật. Đó là thực tại mầu nhiệm mà mình phải tiếp xúc cho được trong từng giây từng phút của đời sống hàng ngày.

Có một anh thiền sinh người Việt đã kể cho tôi nghe chuyện anh rời Việt Nam sang Mỹ sinh sống cách đây bốn mươi năm. Mẹ của anh là người bình dân, không có học thức, không biết chữ. Trước ngày anh rời Việt Nam, mẹ anh nhắn nhủ với anh rằng: ”Con trai thương của mẹ, khi con ra đi, con sẽ nhớ mẹ và nhớ quê hương đất nước. Mỗi khi nhớ mẹ, con hãy nhìn vào bàn tay của con, con sẽ thấy mẹ có mặt đó với con.” Đó là tuệ giác Tương tức. Thật là mầu nhiệm. Với lời dặn dò ấy, trải qua bao nhiêu năm sống xa quê, xa mẹ, anh ta đã thực tập theo lời mẹ dặn dò để anh ta bớt nhớ mẹ. Anh ta hiện đang sinh sống ở Mỹ.

Với năng lượng của Niệm và Định, ta có thể luyện tập để nhìn bằng mắt của Bụt, nghe bằng tai của Bụt và hành động bằng bàn tay của Bụt để tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống đang có mặt ngay bây giờ và ở đây. Tất cả vẫn còn đây, tròn đầy; không có gì mất đi và không có gì cần hồi phục. Chúng ta chỉ cần nhận diện và tiếp xúc mà thôi. Sống được như vậy, ta sẽ tránh gây ra lầm lỗi và có khả năng làm vơi đi khổ đau trong cuộc sống, đem lại an lạc, hạnh phúc, thương yêu và hòa bình cho ta và cho mọi người quanh ta. Hiểu biết, thương yêu là hai nguồn năng lượng có thật trong ta, ta có thể vun trồng và chế tác những nguồn năng lượng ấy bất cứ lúc nào. Ta có thể thi thiết các phép lạ khi ta có mặt đích thực trong giây phút hiện tại. Ta phải tỉnh thức thật sự trong mỗi phút giây. Đi trong chánh niệm là thể hiện thần thông. Thiền sư Lâm Tế có nói rằng phép lạ không phải là đi trên mặt nước hay đi trên than hồng; phép lạ là đi trên mặt đất. Địa hành thần thông là câu nói trong bài Ngữ Lục của Thiền sư Lâm Tế. Ta phải đi như thế nào để mỗi bước chân của ta đem lại an lạc, vững chãi và thảnh thơi, đem lại sự sống đích thực. Đi như vậy tức là ta đang thể hiện thần thông, đang diễn bày phép lạ. Khi thấy các thầy, các sư cô, sư chú, quý vị đi từng bước an lạc, vững chãi, thảnh thơi, tôi cảm thấy được nuôi dưỡng rất nhiều và năng lượng ấy đã khích lệ tôi bước được từng bước như quý vị. Đi như vậy thì sự sống trở nên sống động, chân thật cho ta và những người ta thương.

Thiền Điện Thoại

Khi trở về lại phố thị, có thể quý vị sẽ cảm thấy khó thích nghi với nhịp sống mà quý vị đã từng sống trong đó. Môi trường sống chung quanh quá nhanh, dồn dập, ồn ào, náo nhiệt. Những người chung quanh không có khả năng sống chậm, an trú trong giây phút hiện tại. Dù thế, trong đời sống hàng ngày quý vị vẫn có thể tiếp tục sử dụng con mắt của Bụt, lỗ tai của Bụt, bàn tay của Bụt và bàn chân của Bụt để thực tập.

Có một pháp môn thực tập rất đơn giản tôi muốn cống hiến cho quý vị để thực tập, đó là thiền điện thoại. Khi có tiếng chuông điện thoại reo, thay vì vội vàng chạy tới bắt điện thoại, quý vị hãy đứng yên tại chỗ, trở về với hơi thở chánh niệm. Quý vị thực tập thở theo bài kệ:

Thở vào: Lắng lòng nghe. Lắng lòng nghe.

Thở ra: Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm.

Thực tập với tiếng chuông chùa (như chuông đại hồng, chuông gia trì, chuông báo chúng) đã hay rồi, nhưng thực tập với tiếng chuông của điện thoại hoặc tiếng chuông nhà thờ cũng hay không kém. Là người thực tập thông minh, ta biết sử dụng các âm thanh như thế để thực tập, để giúp ta đưa thân và tâm trở về một mối, an trú vững chãi trong giây phút hiện tại. Tại Làng Mai, chúng tôi thực tập tiếng chuông điện thoại rất nghiêm túc. Mỗi khi có tiếng điện thoại reo, tất cả mọi người trong tu viện đều thực tập dừng lại – dừng lại mọi suy tư, nói năng, hàng động và trở về an trú trong giây phút hiện tại. Thở vào, tâm tĩnh lặng; thở ra, miệng mỉm cười. Đại chúng thực tập như vậy với ba tiếng reo đầu, sau đó mới nhắc điện thoại để trả lời. Đừng ngại người bên kia đầu giây phải chờ quá lâu hoặc sẽ gác điện thoại; nếu người ấy muốn báo tin quan trọng, thì ít nhất trong ba tiếng reo đầu, người ấy sẽ không gác điện thoại. Vì vậy, quý vị thực tập ở yên tại chỗ và tận hưởng từng hơi thở vào ra, thiết lập sự vững chãi và thảnh thơi trong giây phút hiện tại. Mỗi khi có tiếng điện thoại reo, chúng ta thường có cảm giác khẩn trương, hồi hộp, kích động. Chúng ta tự hỏi: Không biết ai gọi vậy ta? Tin vui hay tin buồn? Thay vì làm theo thói quen ấy, quý vị hãy ở yên tại chỗ, trở về theo dõi hơi thở trong ba tiếng reo đầu, thiết lập sự vững chãi, thảnh thơi, trở về với chính mình, sau đó quý vị thực tập đi từng bước an lạc, vững chãi và thảnh thơi tới phía điện thoại. Quý vị phải đi như một ông vua, bà chúa, phải có tự do. Trong khi đi, quý vị vẫn làm chủ được thân tâm mình. Khi nhắc điện thoại lên để trả lời, quý vị đã là một con người tươi mát, vững chãi và thảnh thơi. Năng lượng lành mạnh đó không những bản thân của quý vị được lợi lạc, mà người bên kia đầu giây cũng sẽ được thừa hưởng. Chắc chắn cuộc trao đổi sẽ đem lại nhiều điều tốt đẹp và có phẩm chất.

Tôi xin cống hiến cho quý vị một bài kệ để quý vị thực tập mỗi khi gọi điện thoại:

Tiếng đi ngoài ngàn dặm

Xây dựng niềm tin yêu

Mỗi lời là châu ngọc

Mỗi lời là gấm thêu.

Quý vị có thể sáng tác ra bài kệ khác để thực tập. Mỗi khi muốn gọi điện thoại, quý vị hãy đặt bàn tay lên máy điện thoại và tập thở vào, thở ra trong chánh niệm. Quý vị có thể thực tập thở vào với câu kệ đầu và thở ra với câu kệ thứ hai, thở vào với câu kệ thứ ba và thở ra với câu kệ thứ tư. Thực tập thở cho đến khi nào quý vị cảm thấy thân tâm thư thái, vững chãi và thảnh thơi thì mới bấm số điện thoại. Quý vị biết rằng người bạn của mình bên kia đầu giây sẽ không nhấc điện thoại trong ba tiếng reo đầu, vì bạn mình cũng đang thực tập thở, thực tập an trú. Hãy tự nhắc mình: ”A! bạn mình đang thực tập thở, đang thực tập mỉm cười, tại sao mình không làm như thế?” Nếu bạn mình chưa biết về phép thực tập này, quý vị có thể khéo léo chia sẻ cho bạn để bạn có thể cùng thực tập và yểm trợ mình.

Có rất nhiều cơ hội và điều kiện cho ta thực tập. Có thể quý vị nghĩ rằng đời sống bận rộn, tấp nập như thế, quý vị sẽ không có thì giờ và không gian để sống theo nếp sống chánh niệm, tỉnh thức. Theo tôi, quý vị vẫn có thể thực tập chánh niệm được trong môi trường phố thị, chợ búa v.v… trong đời sống hàng ngày. Nếu mọi người trong thành phố thực tập Thiền Điện thoại thì con người, xã hội và đất nước sẽ trở nên hoàn thiện, an bình và hạnh phúc hơn rất nhiều. Quý vị hãy thực tập và khích lệ các bạn của mình thực tập pháp môn Thiền Điện thoại. Tôi đã sáng chế ra pháp môn này để mọi người thực tập trong đời sống xô bồ, bận rộn và căng thẳng. Nếu mọi người trên thế giới thực tập pháp môn này thì thế giới sẽ được hòa bình, chuyển hóa và trị liệu.

Bữa Cơm Gia Đình

Xin quý vị hãy tổ chức đời sống như thế nào để mỗi ngày ít nhất là gia đình có một bữa ăn chung. Điều này rất quan trọng. Sau khi mọi người trong gia đình ngồi vào bàn ăn, tất cả mọi người thực tập im lặng, trở về với hơi thở chánh niệm, thở vào thở ra ba lần rồi nhìn quanh và nhận diện sự có mặt của từng người trong gia đình, sau đó ăn trong im lặng khoảng năm tới mười phút đầu của bữa ăn. Nếu muốn, quý vị có thể thực tập năm lời Quán Nguyện trước khi ăn. Đây là Năm Lời Quán Nguyện:

1.    Thức ăn này là tặng phẩm của đất trời, mọi người, mọi loài và công phu lao tác.

2.    Xin nguyện ăn trong chánh niệm, có mặt đích thực trong giây phút hiện tại để xứng đáng thọ nhận thức ăn này.

3.    Xin nhớ ngăn ngừa những tật xấu, nhất là tật tham lam và tập ăn uống có chừng mực.

4.   Xin chỉ ăn những thức ăn có tác dụng nuôi dưỡng thân tâm và ngăn ngừa tật bệnh.

5.    Vì muốn thành tựu sự nghiệp giác ngộ, hiểu biết và thương yêu, xây dựng tình huynh đệ, tạo dựng hạnh phúc gia đình, chúng con xin thọ dụng thức ăn này.

Sự thực tập rất đơn giản. Chỉ cần ăn cho có chánh niệm, an trú vững chãi trong giây phút hiện tại là ta đã xứng đáng được ăn cơm này. Nếu ăn không có chánh niệm, thì ta không dễ thương với thức ăn, với mọi người và mọi loài đã làm ra thức ăn này. Tôi luôn luôn tự nhắc mình là phải ăn uống cho có chừng mực, điều độ. Tôi biết thức ăn đóng vai trò rất quan trọng cho sức khỏe, hạnh phúc của tôi và những người thương của tôi. Vì vậy tôi nguyện chỉ ăn những thức ăn, thức uống có tác dụng nuôi dưỡng, duy trì sức khỏe và an lạc cho thân tâm mình. Người lớn cũng như người nhỏ đều có thể thực tập pháp môn này.

Ăn cơm chung là cơ hội để chúng ta vun trồng, nuôi dưỡng thêm sự hòa thuận và tình thương yêu trong gia đình. Biết trân quý sự có mặt của mọi thành phần trong gia đình. Mời cháu nhỏ nào đã học thuộc lòng Năm Lời Quán Nguyện hoặc có thể cầm bổn để đọc lớn trong mỗi bữa ăn để cả nhà cùng thực tập quán chiếu. Thực tập Năm Lời Quán Nguyện trong khi ăn sẽ giúp chúng ta nuôi dưỡng hạnh phúc, tình thương, lòng biết ơn của ta đối với mọi người, mọi loài và đất trời. Quý vị có thể đọc hoặc làm thành bài hát để hát cũng được. Phải dùng tài năng và nghệ thuật của mình để làm cho sự thực tập trở nên hứng thú, vui tươi và linh động. Thiền tập không phải là chịu đựng cực khổ để gặt hái kết quả trong tương lai mà thiền tập là để có chất liệu hỷ lạc ngay trong khi thực tập.

Phòng Thở

Tại nhà, quý vị nên thiết lập một phòng thở tương tự như một thiền đường. Phòng Thở không cần phải lớn. Nhiều căn nhà được thiết kế với đủ các loại phòng – nào là phòng khách, phòng ngủ, phòng ăn, phòng đồ chơi v.v… nhưng chưa có nhà nào thiết kế phòng thở. Tôi đề nghị mỗi gia đình nên thiết lập một phòng để mọi người trong gia đình có cơ hội trở về phục hồi lại sự thăng bằng và bình an trong cuộc sống. Trong căn phòng đó, quý vị chỉ cần đặt một cái bàn nhỏ, thấp, trên bàn chỉ cần chưng một bình hoa và một tượng Bụt nhỏ nhưng phải thật đẹp. Bình hoa tượng trưng cho sự tươi đẹp, lành mạnh và chân thật trong ta – cái đẹp đó là chất liệu của hiểu biết và thương yêu. Quý vị cũng nên thỉnh thêm một cái chuông nhỏ, vài bồ đoàn và gối ngồi thiền. Quan trọng là phải chọn những gối ngồi thiền cho vừa để quý vị có thể ngồi được lâu, thoải mái mà không bị đau hoặc tê chân. Khi tôi chọn đúng gối, tôi có thể ngồi tới hai tiếng hoặc lâu hơn mà không bị đau hoặc tê chân. Nếu không, tôi chỉ có thể ngồi được ba mươi hoặc bốn mươi phút là phải đổi chân. Quý vị phải thử ngồi qua nhiều loại gối khác nhau để tìm ra gối ngồi thích hợp nhất để có thể giúp quý vị ngồi một cách vững chãi, thoải mái ít nhất là ba mươi phút.

Tại phòng thở này, ta thực tập y như ta đã từng thực tập tại các thiền đường của tu viện. Khi bước vào phòng thở, ta đặt tay lên nắm cửa trong khi thở vào và mở cửa trong khi thở ra. Ta bước vào phòng thở như ta bước vào Tịnh Độ hay Nước Chúa không khác. Ta phải làm cho được và mời con cái của ta cùng thực tập với ta. Ta phải biến căn nhà của ta thành Tịnh Độ, thành lãnh thổ của bình an, của hạnh phúc. Mỗi khi thân tâm có sự bực bội, giận hờn, bối rối, bất an hoặc khủng hoảng, quý vị nên đi vào phòng thở, thỉnh lên ba tiếng chuông và tập thở. Dùng hơi thở chánh niệm để chăm sóc những cảm thọ giận hờn, bực bội trong lòng. Đây là cách xây dựng hòa bình hữu hiệu nhất. Nếu bản thân mình không làm được, mình sẽ không có gì để trao truyền cho con cái của mình để chúng học hỏi và biết cách chăm sóc những cảm thọ khó chịu, những cảm xúc mạnh mỗi khi nó phát khởi?

Là một giáo viên, quý vị nên giúp các học trò của quý vị thực tập như thế, bởi vì các em cũng đương đầu với những căng thẳng, giận hờn, sợ hãi và tuyệt vọng. Thầy giáo, cô giáo phải thấy rằng các học trò của mình cũng là con của mình và phải tập ôm ấp, chăm sóc họ bằng tất cả tình thương yêu. Ở trường, nếu trong khi quý vị đi, đứng, ngồi, nói và cười mà biểu lộ được năng lượng Từ bi, thì các em sẽ thấy, sẽ cảm nhận và chúng sẽ được thừa hưởng. Nếu quý vị ôm ấp, chăm sóc học trò của mình bằng tình thương, quý vị sẽ làm cho học trò của quý vị bớt khổ rất nhiều và giúp các em thiết lập lại được liên hệ tốt với bố mẹ của các em và nhờ vậy mà việc học của các em tiến bộ hơn. Sau này, quý vị có thể bàn với bố mẹ của các em để tìm ra cách giáo dục hữu hiệu để giúp các em học hành tốt hơn. Thầy giáo, cô giáo và các bậc cha mẹ phải làm việc sát cánh bên nhau, phải liên kết với nhau để giúp cho các em. Nếu cả hai không làm việc chung được, không liên kết được với nhau, thì việc giáo dục các em sẽ trở nên rất khó khăn. Các giáo viên nên ngồi lại với nhau để bàn thảo, chia sẻ sự thực tập và tìm ra phương pháp hay để giáo dục các học sinh. Quý vị có thể thực hiện một tờ báo trong đó các thầy giáo, cô giáo viết những bài chia sẻ về hoa trái, kinh nghiệm của sự thực tập tại nhà và ở học đường. Tờ báo như thế sẽ giúp ích rất nhiều cho các giáo viên khác trong nước cũng như ngoài nước.

Các nhà tâm lý trị liệu cũng nên thực tập như thế. Họ phải tìm cách áp dụng nếp sống chánh niệm với những thành phần trong gia đình và với các bệnh nhân của họ. Là nhà tâm lý trị liệu, quý vị nên đến với nhau để thực tập như một Tăng thân để có thể nâng đỡ nhau. Nếu muốn, quý vị có thể phát hành Lá Thư (hình thức như một tờ báo nhỏ) trong đó quý vị chia sẻ những kinh nghiệm, tuệ giác, hoa trái của sự thực tập và trị liệu của mình. Điều này sẽ giúp ích rất nhiều cho các nhà tâm lý trị liệu khác. Quý vị hãy sử dụng trí thông minh, tài năng, sự khéo léo và óc sáng tạo của mình để làm cho sự thực tập trở nên linh động, thoải mái và tươi vui.

Là cha mẹ, mỗi buổi tối trước khi các cháu sắp đi ngủ, quý vị có thể mời các cháu vào phòng thở để thực tập ngồi yên và thở khoảng hai đến năm phút. Quý vị có thể dạy cho các cháu cách thỉnh chuông và tập thở chánh niệm theo tiếng chuông. Trong các khóa tu cho các cháu thiếu nhi, tôi thường dạy cho các cháu cách thỉnh chuông và thở trong chánh niệm. Cả nhà ngôi quây quần bên nhau, thỉnh lên một tiếng chuông để tất cả cùng thở – mỗi tiếng chuông quý vị thở vào và thở ra ba lần thật thoải mái, đưa thân và tâm trở về một mối, dùng hơi thở để làm cho thân tâm an tịnh, lắng dịu trở lại. Trong khi thở, quý vị có thể thực tập mỉm cười để cho những bắp thịt trên khuôn mặt được thư giãn. Quý vị thực tập như vậy với ba tiếng chuông; trong ba tiếng chuông ấy, ta có được chín cơ hội để thở vào và thở ra. Được ngồi yên và biết mình đang còn thở là món quà vô cùng quý giá, là hạnh phúc lớn. Sau đó mọi người nhìn nhau và ý thức sự có mặt của nhau. Đó là cái nhìn của sự trân quý và niềm biết ơn. Sau khi cháu thỉnh xong ba tiếng chuông, các cháu có thể đi ngủ trước. Quý vị có thể tiếp tục ngồi thêm năm, mười phút nữa nếu muốn, nhưng không nên quá gắng sức hay cố ép mình. Có những lúc quý vị cần ngồi lâu hơn để phục hồi lại chính mình. Điều đó tùy thuộc vào nhu cầu riêng của mỗi người. Tuy nhiên, nếu mỗi ngày quý vị thực tập ngồi thiền đều đặn như thế khoảng mười tới mười lăm phút, thì tự thân quý vị sẽ được nuôi dưỡng rất nhiều.

Mỗi buổi sáng sau giờ ăn sáng hoặc trước giờ ăn sáng, quý vị có thể vào Phòng Thở, ngồi thật yên, thực tập thở khoảng năm, mười phút. Ngồi yên và thực tập thở vào, thở ra với ba tiếng chuông để bắt đầu một ngày mới là nếp sống rất đẹp. Nếu được, quý vị cũng có thể mời các cháu thực tập chung. Quý vị cũng có thể tập cho các cháu thực tập lạy ba lạy trước bàn thờ Bụt, bàn thờ tổ tiên huyết thống để tiếp xúc với gốc rễ huyết thống, tâm linh và bày tỏ lòng biết ơn đối với tổ tiên trước khi đi học. Sau một thời gian thực tập, quý vị sẽ tạo được một thói quen rất tốt và năng lượng của thói quen tốt ấy sẽ được duy trì suốt cả ngày, sẽ nhắc nhở các cháu rằng các cháu là những người có gốc rễ. Nếu gần nhà có khu công viên hoặc một khu rừng, quý vị có thể thực tập đi thiền; cả gia đình dắt tay nhau đi bộ (thiền đi) là một hình ảnh rất đẹp, rất nuôi dưỡng. Quý vị cũng có thể tổ chức đi chơi ngoài trời (picnic), kết hợp với một buổi thiền đi ngắn và thiền buông thư trên cỏ. Mỗi ngày gia đình nên tổ chức thực tập thiền buông thư khoảng năm đến mười phút để cho thân tâm được nghỉ ngơi, thư giãn, bớt những phần căng thẳng trên cơ thể và tâm hồn. Quý vị nằm xuống trong tư thế buông thư và mời một người trong gia đình có khả năng hướng dẫn, cố nhiên là người đó có giọng hát hay để giúp mọi người buông thư dễ dàng. Nếu trong gia đình không có người nào có khả năng hướng dẫn thiền buông thư, quý vị có thể thỉnh đĩa CD hướng dẫn về phương pháp buông thư hoặc có thể dùng một đĩa nhạc tâm linh hòa tấu để thực tập. Trong tư thế nằm, quý vị thực tập thở vào, thở ra và buông thư khoảng năm tới mười phút. Sau năm, mười phút thực tập buông thư, quý vị sẽ thấy rằng mình đã trở thành một con người mới, tươi mát, nhẹ nhõm hơn. Ban đầu, quý vị có thể sử dụng băng hoặc CD hướng dẫn của một thầy hoặc một sư cô… nhưng khi đã biết cách thì mỗi thành phần trong gia đình có thể thay phiên nhau để hướng dẫn buổi thiền buông thư cho gia đình. Đây là món ăn tinh thần rất cần thiết cho thân tâm. Người nào thực tập thiền buông thư ít nhất là một lần trong ngày, người đó sẽ chuyển hóa được bệnh căng thẳng và phục hồi lại niềm vui và sự tươi mát rất mau chóng. Căng thẳng (stress) là một căn bệnh rất phổ biến của thời đại chúng ta. Chúng ta cũng có thể tổ chức nửa ngày tu chánh niệm. Tuy chỉ có nửa ngày, nhưng nếu thực tập hết lòng, chúng ta sẽ đem lại cho tự thân rất nhiều niềm vui, an lạc và thư thái. Chúng ta có thể mời một số các bạn thân quen và các cháu thiếu nhi đến để cùng thực tập. Ta cũng có thể mời các cháu tổ chức nửa ngày tu dưới sự yểm trợ và hướng dẫn của ta.

Xây Dựng Tăng Thân

Tăng thân là một viên ngọc quý trong ba viên ngọc quý, gọi là Tam Bảo. Xin quý vị đem hết tâm lực và thì giờ để tạo dựng một tăng thân nhỏ để nuôi dưỡng sự thực tập tại địa phương của mình. Nếu không có sự nâng đỡ và yểm trợ của tăng thân thì khó mà duy trì được sự thực tập lâu bền. Ở nước tôi, người ta nói rằng khi con cọp rời bỏ núi rừng và đi xuống miền đất bằng, thì thế nào nó cũng bị con người bắt giết, lột da. Trong thiền môn, các thầy tu cũng nói tương tợ như vậy: ”Tăng ly chúng tăng tàn. Hổ ly sơn hổ bại.” Đúng vậy, người tu mà rời bỏ thầy, rời bỏ Tăng thân, huynh đệ ra đi, lập am thất riêng để tu một mình thì thế nào cũng đánh mất sự thực tập trong một thời gian ngắn hoặc sẽ bị lột da – tức là bỏ áo tu. Vì vậy tạo dựng một tăng thân để tiếp tục duy trì và nuôi dưỡng sự thực tập là điều hết sức cần thiết. Dựng Tăng là một công tác rất thánh thiện và cấp thiết. Có thể nói là sự thực tập quan trọng nhất của người tu. Vì vậy về lại nhà, việc làm cấp bách nhất là nghĩ ra phương cách để tập họp một nhóm người ở tại địa phương của mình – những người tha thiết tu tập, có khả năng yểm trợ nhau trong sự thực tập. Quý vị phải sắp đặt như thế nào để Tăng thân có thể đến sinh hoạt, tu tập với nhau ít nhất là một lần trong tuần hay một lần trong mỗi hai tuần hoặc một lần trong một tháng. Thỉnh thoảng quý vị có thể tổ chức một ngày tu chánh niệm và mời các vị giáo thọ xuất gia hoặc tại gia đến hướng dẫn. Đây đích thực là sự thực tập “Con về nương tựa Tăng.” Tăng thân là chỗ nương tựa vững chắc. Mỗi người cần phải thực tập quay về nương tựa Tăng. Vì vậy, ”Con về nương tựa Tăng” không phải là vấn đề đức tin, không phải là vấn đề cam kết suông, mà chính là sự thực tập cụ thể. Đời sống tâm linh và phẩm chất tu tập của ta tùy thuộc vào khả năng nương tựa Tăng của ta.

Trong suốt hai mươi mốt ngày qua chúng ta đã sống và tu tập với nhau như một Tăng thân. Bây giờ chúng ta nên mang Tăng thân về nhà và làm cho mạng mạch của Tăng thân tiếp tục biểu hiện hùng mạnh trên nhiều hình thái, nhiều lãnh thổ. Cố nhiên là tùy theo hoàn cảnh, điều kiện để sáng tạo cách tu cho phù hợp. Trong khóa tu này, chúng ta đã có cơ duyên được thấm nhuần mưa Pháp. Chúng ta biết Tăng thân là viên ngọc quý giá bậc nhất. Không có Tăng thân thì Phật thân và Pháp thân cũng không thể duy trì được. Có những điều ta đã không thực hiện được ở nhà dưới tư cách của một cá nhân, thế mà ta đã làm được ngay tại đây với sự yểm trợ hùng hậu của Tăng thân. Sự yểm trợ, nâng đỡ và dìu dắt của Tăng thân là điều rất thực tiễn và hết sức cần thiết. Trở về nhà, chúng tôi mong rằng quý vị có thể tạo dựng được những Tăng thân và tiếp tục sự thực tập để nuôi dưỡng bản thân, gia đình, con cái và đóng góp vào công việc lành mạnh hóa môi trường của học đường và xã hội. Có như vậy chúng ta mới tạo dựng được một thế giới hòa bình thật sự, một nhân loại chứa chan tình người.

15. Hạnh phúc không phải là vấn đề cá nhân

Chương 15
Hạnh phúc không phải là vấn đề cá nhân

Tuệ Giác Tương Tức

Khi thực tập thiền Lạy, ta nhìn sâu vào thân ta để thấy rằng thân này không đích thực là ta, không phải là vật sở hữu của ta. Trong thân này không có cái gì gọi là cái ta riêng biệt để bám víu. Tuy nhiên, thân thể ta là một hợp thể rất mầu nhiệm, nó chứa đựng cả tinh hà vũ trụ bao la. Ta thấy được tất cả các thế hệ tổ tiên, con cháu của ta đều có mặt trong thân ta. Ta cảm nhận sự có mặt của họ trong từng tế bào của cơ thể. Họ luôn có mặt trong ta và chung quanh ta. Họ cũng như các yếu tố khác đã kết hợp lại để làm nên sự sống của ta. Ta có thể tiếp xúc với những yếu tố như đất, nước, lửa và không khí – bốn đại trong ta và ngoài ta. Ta thấy ta như một con sóng trên mặt đại dương. Con sóng này được hình thành bởi các con sóng khác. Đó là giáo lý Một là tất cả, tất cả là một của kinh Hoa Nghiêm. Đó là lý Duyên khởi, là bản chất của Vô ngã, Tương tức, Tương nhập của tất cả mọi sự mọi vật (Pháp). Sự lên xuống của các con sóng không động được tới nước. Sự tan rã của thân thể ta không động được tới bản chất không sinh không diệt của ta. Theo giáo lý Trùng trùng Duyên khởi, Tương tức tương nhập, Vô ngã, thì không có gì sinh mà cũng không có gì diệt. Ta phải có khả năng thấy được sự thật mầu nhiệm ấy của thực tại mỗi khi tiếp xúc với thân thể mình. Khi đã thấy được bản chất của thực tại, ta sẽ buông bỏ được ý niệm cho rằng thân thể này là mình, là của mình… Không những ta buông bỏ ý niệm về hình hài, mà ý niệm cho rằng thọ mạng của mình chỉ giới hạn khoảng sáu mươi năm hoặc bảy mươi năm cũng cần được buông bỏ nốt. Trước khi sinh ra, ta đã biểu hiện trên nhiều hình tướng khác; sau khi chết, ta tiếp tục biểu hiện trong các hình tướng khác nữa. Ta đồng thời cũng đang có mặt khắp mọi nơi trong mọi hình tướng khác nhau. Không phải chỉ có thọ mạng của Bụt và các vị Bồ Tát là vô lượng, mà thọ mạng của một chiếc lá hay của một cây nến cũng vô lượng. Vào mùa Thu, khi đi thiền trong các khu rừng, ta giẫm lên lá vàng khô; và với chánh niệm, ta tiếp xúc được với bản chất đích thực của những lá vàng khô ấy. Thoạt nhìn, ta có cảm tưởng như những chiếc lá đang chết, đang đi tới sự tàn hoại, tan rã vào lòng đất và trở thành hư vô. Thực ra, đó chỉ là tri giác sai lầm, là ảo giác của ta mà thôi; ta chỉ thấy được bề mặt thế giới hiện tượng của những chiếc lá. Nếu nhìn cho kỹ, ta sẽ thấy được bản chất của lá là Tương tức – lá và thân cây nương nhau mà biểu hiện, lá có mặt trong thân cây và thân cây có mặt trong lá; thân cây và lá không phải là hai thực thể biệt lập. Khi đi thiền trong các khu rừng vào những ngày đầu Xuân, ta thấy nhiều chồi lá non xuất hiện trên những cành cây trơ trụi và ta cho rằng chiếc lá vừa mới sinh ra, rồi nó sẽ có mặt cho tới gần cuối Thu, sau đó sẽ tàn úa và rơi rụng, ta cho đó là sự tàn hoại của chiếc lá. Thực ra, sự sinh diệt của chiếc lá chỉ là hiện tượng thuộc về thế giới tích môn. Trong thế giới tích môn, ta thấy chiếc lá có sinh có diệt, có đến có đi, nhưng nếu nhìn cho thật sâu, ta thấy rằng bản chất của lá là không sinh cũng không diệt. Khi các điều kiện (nhân duyên) hội tụ đầy đủ thì chiếc lá biểu hiện và khi có một vài điều kiện thiếu vắng thì chiếc lá ẩn tàng. Ẩn tàng không có nghĩa là không có mặt, là hư vô, là đoạn diệt; không có mặt dưới hình thức của một chiếc lá nhưng vẫn có mặt trong hình thái khác của sự sống như thân cây, rễ cây, đất đai, phân bón… Bản chất của chiếc lá chưa bao giờ từng sinh mà cũng chưa bao giờ từng diệt.

Buông Bỏ Ý Niệm

Trong kinh Kim Cương (Vajracchedika Prajnãparamita Sutra), đức Thế Tôn dạy chúng ta buông bỏ những ý niệm về ngã, nhân, chúng sanh và thọ giả. Ngài dạy rằng nếu buông bỏ được bốn ý niệm này, ta sẽ chạm tới được Niết bàn, ta sẽ được giải thoát, tự do ra khỏi những lo âu, ghen tỵ, phiền muộn và sợ hãi. Trong kinh Kim Cương, chúng ta tìm thấy những câu nói được lặp đi lặp lại rất nhiều lần như: ”Cái ta gọi là những hành động thánh thiện thực ra không thật sự là hành động thánh thiện, cho nên chúng mới đích thực là những hành động thánh thiện. Bồ Tát không phải là Bồ Tát, cho nên mới là Bồ Tát đích thực.” Đây là một công thức theo thể loại biện chứng của kinh Kim Cương.

Khi nhìn vào bông hoa, ta thấy bông hoa chỉ được làm bằng những yếu tố không phải hoa, thì ngay trong giây phút ấy ta tiếp xúc được với thực tại của bông hoa. Nếu ta thấy được ”A” không phải là ”A,” thì ta đích thực thấy ”A” trong bản chất chân thật của nó. Thông thường ta bị kẹt vào những ý niệm rằng ”A” chỉ có thể là ”A,” A không thể là ”B.” Đó là vì ta bị kẹt vào ý niệm ngã. Nhưng theo phương thức biện chứng của kinh Kim Cương, thì không phải như vậy. Nếu nhìn thật sâu vào ”A,” ta sẽ khám phá ra ”A” chỉ được làm bằng những yếu tố không phải ”A.” Phương thức biện chứng này giúp ta tiếp xúc được bản chất chân thật của thực tại mà không bị đánh lừa bởi tướng. Khi nhìn vào tự thân, ta thấy có một cái ngã và ta đồng nhất mình với cái ngã đó. Nếu biết nhìn sâu ta sẽ thấy mình được làm bằng những yếu tố không phải mình, như yếu tố: cha, mẹ, tổ tiên, không khí, đất đai, mây, sức nóng, thực phẩm, giáo dục, tâm thức cộng đồng, văn hóa, chiến tranh v.v… Thấy được như thế tức là tiếp xúc được với thực tại Vô ngã của tự thân. Lúc bấy giờ ta không ngại ngùng sử dụng danh từ ”ngã – ta – tôi” nữa, bởi vì ta đã vượt thoát được ý niệm ngã. Đức Thế Tôn đã sử dụng những danh từ như ”Tôi,” ”Anh,” ”Ngã.” Thỉnh thoảng Bụt mời thầy Ananda – thị giả của Ngài đi chơi, leo núi Linh Thứu… Ngài nói: ”Thầy Ananda, thầy muốn leo núi Linh Thứu với tôi không? Thầy trò chúng ta sẽ cùng leo núi với nhau.” Rõ ràng là đức Thế Tôn đã sử dụng những danh từ ”thầy,” ”tôi” và ”chúng ta” và Ngài không bị kẹt vào ý niệm ngã. Có lần tôi cống hiến cho đại chúng bài kệ thực tập nghe chuông,

”Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe

Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm.”

Chữ nhất tâm trong bài kệ này được dịch sang tiếng Anh là ”true self,” nghĩa là chân ngã. Dịch trọn câu là ”Tiếng chuông huyền diệu đưa tôi về với cái chân ngã – con người chân thật của tôi.” Khi nghe bài kệ này, nhiều thiền sinh Tây Phương đã hiểu lầm và ngần ngại sử dụng nó chỉ vì chữ chân ngã (true self). Sở dĩ họ ngần ngại là vì họ chưa hiểu hoặc còn bị kẹt vào ngôn từ và khái niệm, còn bị kẹt vào cái nhìn nhị nguyên, phân biệt. Nếu trong mỗi giây mỗi phút của đời sống hàng ngày, ta nuôi dưỡng được cái thấy Vô ngã, Tương tức thường xuyên, an trú được trong Định về Vô ngã, thì ta thấy rằng ngã chỉ được làm bằng những yếu tố không phải ngã và ta có thể mặc nhiên sử dụng những danh từ như ”ngã,” ”tôi,” ”anh” và ”chúng ta,” mà không bị kẹt vào chúng. Đó là trí tuệ vô phân biệt (Vô phân biệt trí). Có được trí tuệ này, ta sẽ vượt thoát tất cả mọi khổ đau ách nạn, sợ hãi và vướng mắc. Biện chứng pháp của kinh Kim Cương là phương pháp mầu nhiệm có công năng giúp ta thực tập nhìn sâu vào lòng sự vật một cách thấu đáo và trọn vẹn để không bị kẹt vào các danh ngôn, tướng trạng và ý niệm. Ý niệm đầu tiên trong kinh Kim Cương mà Bụt dạy chúng ta thực tập buông bỏ là ý niệm ngã. Điều này có thể được thực hiện bằng cách nhìn của biện chứng pháp của kinh Kim Cương. Nếu vị Bồ Tát nghĩ rằng mình là Bồ Tát, thì vị ấy chưa phải là Bồ Tát đích thực; bởi vì nghĩ như thế tức là còn bị kẹt vào tâm phân biệt – còn bị kẹt vào ý niệm ngã, nhân và chúng sanh. Khi một vị Bồ Tát cứu độ cho chúng sanh mà thấy rằng mình đang cứu độ cho chúng sanh, thấy rằng có chúng sanh để độ, thì vị ấy chưa phải là một vị Bồ Tát đích thực. Khi mình giúp người khác mà thấy rằng mình đang giúp họ, thì mình chưa thật sự giúp họ. Mình chỉ đang giúp chính mình, mình chỉ đang tô điểm cho cái bản ngã của chính mình và có khi nó là một trạng thái trá hình của tâm. Nếu ta phát tâm cúng dường với ý niệm rằng mình là người cúng dường (thí chủ) và người kia là kẻ nhận sự cúng dường, thì đó không phải là sự cúng dường đích thực theo tinh thần bố thí ba la mật (dana paramita), một trong sáu phép thực tập để vượt qua bờ bên kia – gọi là Lục độ ba la mật. Paramita nghĩa là ”vượt qua bờ bên kia.” Bố thí là một phép thực tập trong sáu phép thực tập ba la mật có công năng giúp ta vượt qua dòng sông khổ đau, sinh tử để tới được bến bờ an lạc, giải thoát và hạnh phúc. Vì vậy phép cúng dường (bố thí) phải được thực hiện theo tinh thần Xả, nghĩa là bố thí mà không mong cầu sự đền đáp, không mong cầu được người kia mang ơn; bố thí mà không thấy mình bố thí và người được bố thí, thì đó mới đích thực là bố thí. Đây là sự bố thí theo tinh thần Vô ngã, Không và Tương tức, nghĩa là không có sự phân biệt giữa người bố thí, vật bố thí và người tiếp nhận sự bố thí. Đó gọi là phép thực tập bố thí theo giáo lý Tam Luân Không Tịch. Người bố thí, vật bố thí và người tiếp nhận phải là một, nghĩa là chỉ có hành động bố thí mà không có chủ thể bố thí và đối tượng bố thí. Như khi tôi nói về phép trao truyền của giáo lý Tánh không giữa ta với tổ tiên ta – thấy rằng ta có mặt trong ông bà tổ tiên và ông bà tổ tiên cũng có mặt trong ta hoặc ví dụ bàn tay phải giúp bàn tay trái khi bàn tay trái bị thương là ý ấy. Trong liên hệ tình thương, những hành động hiến tặng niềm vui, hạnh phúc và giúp người mình thương chuyển hóa khổ đau đều phải được thực hiện theo tinh thần Xả – nghĩa là không phân biệt, không kỳ thị giữa ta và người; phải thấy rằng tất cả đều biểu hiện trong cùng một thực tại nhiệm mầu. Nếu ta bố thí theo tinh thần Xả, trí vô phân biệt, thì đó mới đích thực là bố thí ba la mật. Bố thí như vậy ta vượt qua được bờ bên kia liền lập tức, bởi vì Vô phân biệt trí là thứ trí tuệ siêu việt, nó giúp ta không bị vướng, không bị kẹt vào ý niệm ta và người. Ta vượt thoát được các ý niệm về ngã và phi ngã và đạt tới tự do lớn.

Các nhà tâm lý trị liệu trước hết phải tìm cách giúp các bệnh nhân trở thành một con người khỏe mạnh cả thân lẫn tâm. Nếu nhìn thật sâu, ta sẽ thấy rằng khoa tâm lý trị liệu đều có cùng một mục tiêu như thiền tập. Cả hai đều có cùng một mục đích là giúp mọi người biết rõ về chính bản thân mình. Nghĩa là ta phải thực tập có mặt đích thực và ý thức rõ ràng những gì đang xảy ra trong tự thân và chung quanh. Nếu ta không nhận diện được những gì đang xảy ra trong ta đứng về cả hai phương diện thân và tâm, thì làm sao ta có thể nhận diện được sự có mặt của người khác? Có những người trong chúng ta không có khả năng nhận diện sự có mặt của người khác vì họ không có mặt đích thực trong giây phút hiện tại. Chúng ta không có khả năng nhận diện sự vận hành của thân thể, cảm thọ, tri giác và các đối tượng của tri giác – tức là năm uẩn. Mục tiêu thứ hai của khoa tâm lý trị liệu là thiết lập sự tương quan giữa mình với những người khác; mà căn bản đầu tiên là nhận diện sự có mặt của chính mình. Sau khi ta hoàn toàn có mặt, ta sẽ nhận diện được sự có mặt của người khác quanh ta. Ta không chỉ nhận diện sự có mặt của người kia qua thể xác, mà cả tâm lý vui buồn của người kia nữa, nghĩa là đồng giao đồng cảm được với người kia về cả hai phương diện thân và tâm. Biết rằng mình là người phàm phu còn mang những nỗi vui, buồn, hờn giận, khổ đau và biết rằng người khác cũng khổ đau như mình. Khi hiểu được chính mình, mình bắt đầu hiểu được người khác.

Mục tiêu thứ ba của khoa tâm lý trị liệu là làm sao để thiết lập được mối liên hệ trên căn bản của tình thương đích thực (Từ bi), chứ không phải để lợi dụng, làm tình làm tội, gây chiến hoặc hại người. Nếu mối liên hệ của quý vị được đặt trên nền tảng của Từ bi thì sẽ chuyển hóa được khổ đau, đem lại hạnh phúc cho chính mình và cho những người thương của mình. Các nhà tâm lý trị liệu đều đồng ý với ba mục tiêu, ba quan điểm này. Trong thiền tập, hành giả thực hiện ba mục tiêu này bằng nếp sống chánh niệm qua cách thở, đi, đứng, nằm, ngồi, ăn cơm và làm việc v.v… Trong khi thực tập thở vào, thở ra có chánh niệm, hành giả ý thức được sự vận hành của hơi thở, thân thể và cảm thọ. Hành giả ý thức được sự có mặt của những khổ đau, phiền não cũng như những thao thức, hy vọng trong thân tâm. Đây là sự quán niệm về tự thân. Chánh niệm có khả năng giúp ta tiếp xúc được với chính mình một cách sâu sắc. Chánh niệm có khả năng giúp ta nhận diện được sự có mặt của những người khác quanh ta và cảm nhận được nỗi khổ niềm đau, sự lo sợ và hy vọng của họ. Khi yếu tố hiểu có mặt thì yếu tố thương có mặt. Hiểu là bản chất của thương.

Đức Thế Tôn đã cống hiến cho chúng ta những phương pháp thực tập rất cụ thể để chuyển hóa khổ đau, vun trồng an lạc và hạnh phúc. Hạnh phúc có thể được diễn tả như là trạng thái sức khỏe thuộc về tâm. Khi tâm ta bị trấn ngự bởi tâm hành mặc cảm tự ti, thì ta không có hạnh phúc. Khi các bệnh nhân bị mặc cảm tự ti trấn ngự, các nhà tâm lý trị liệu phải tìm cách giúp họ phát huy ngược lại, nghĩa là làm cho tâm tự hào, tự tôn trong họ phát triển. Nhưng theo lời dạy của đức Thế Tôn, tâm hành tự hào, tự tôn cũng là một loại tâm hành mặc cảm. Mặc cảm tự tôn cũng là một trạng thái của tâm bệnh. Chúng ta đã mất đi khả năng tiếp xúc trực tiếp với thực tại và chúng ta tưởng tượng, vẽ vời ra rất nhiều điều về chính ta rồi đồng nhất ta với những điều đã tạo tác ấy. Con người càng ngày càng xem thường các loài vật khác. Cho rằng các loài động vật được tạo ra là để cho loài người ăn thịt, tiêu thụ, còn chúng ta là loài người có đầy quyền uy trong tay để thao tác, giết hại, tàn phá đối với các loài động vật, thực vật và đất đá. Chúng ta càng ngày càng mất đi sự kính trọng đối với mọi loài chúng sanh trong đó có các loài cỏ cây và đất đá. Ngoài hai mặc cảm tự tôn và tự ti, ta có thêm một loại mặc cảm khác, gọi là mặc cảm ngang bằng. Theo lời dạy của đức Thế Tôn, loại mặc cảm này cũng là một thứ bệnh, bởi vì nó được căn cứ trên ý niệm ngã. Cho rằng: ”Tôi bằng anh ấy. Tôi không thua kém gì anh ấy cả.” Nghe cũng có lý lắm, thấy mình không bị kẹt vào mặc cảm hơn người, không bị kẹt vào mặc cảm thua người, nhưng cho rằng mình bằng người cũng là một mặc cảm, cũng bị kẹt như thường, vì  mình đang bị kẹt vào ý niệm ngã. Nói tóm lại, tất cả ba mặc cảm (ba Mạn) đều là bệnh, bởi vì chúng được căn cứ trên ý niệm ngã. Theo lời Bụt dạy, tự cho mình hơn người, thua người hoặc bằng người đều là những nhận thức sai lầm. Cái thấy đúng đắn nhất vượt ngoài những ý niệm trên, trong đạo Bụt gọi là Bình đẳng tánh trí. Đây là loại trí tuệ giúp ta thấy được rằng bản thân mình phải nương vào các hiện hữu khác, các yếu tố khác của sự sống mà biểu hiện. Nếu người này có hạt giống giác ngộ (Phật tánh), thì mình cũng có. Nếu người này có khả năng đạt tới toàn giác, thì mình cũng có khả năng đạt tới toàn giác. Nếu người này có khả năng sống an lạc, hạnh phúc và thương yêu, thì mình cũng có, bởi vì mình được biểu hiện trên cùng một nền tảng. Sau khi đạt tới toàn giác, đức Thế Tôn đã tuyên bố rằng tất cả chúng sanh đều có tính Giác Ngộ (Phật tính). Người nói rằng ai cũng có khả năng giác ngộ, có khả năng thành Bụt. Vì vậy chúng ta nên lấy đi cái mặc cảm tự ti để cho tính Bụt trong ta được hiển lộ. Nếu quán chiếu cho sâu sắc ta sẽ thấy được ta cũng là một vị Bụt. Đứng trên bình diện Tích môn, ta nghĩ rằng ta không phải là Bụt; nhưng nếu đứng trên bình diện Bản môn ta sẽ thấy rằng mình đã là Bụt, mình vốn đã an trú trong Niết bàn tịch tĩnh, trong thế giới bất sinh bất diệt, không tới không đi, không có sự bắt đầu cũng không có sự chấm dứt. Trong kinh Đại Niết Bàn, Bụt có dạy rằng: ”Các pháp vốn đã an trú trong tự tính Niết bàn của nó…” Ta biết rằng sóng cũng chính là nước. Ta không thể lấy sóng ra khỏi nước hoặc lấy nước ra khỏi sóng. Trong bình diện Bản môn, bản tính của ta đã là Niết bàn. Niết bàn là sự tắt ngấm, là sự vắng lặng của tất cả các khái niệm, ý niệm như ý niệm về sinh diệt, có không, đến đi, một khác… Niết bàn là bản chất của không sinh, không diệt, không có không không, không đến không đi, không một không khác, nó vượt thoát tất cả các khái niệm. Trạng thái giác ngộ đó gọi là Bình đẳng tánh trí. Bình đẳng tánh trí tức là trí tuệ không phân biệt, không kỳ thị, là trí tối thắng mà bất cứ chúng sanh nào cũng có. Bình đẳng tánh trí không phải khái niệm bình đẳng hay mặc cảm bằng người được căn cứ trên ý niệm của ngã chấp mà người ta thường nghĩ. Vô phân biệt trí chỉ có thể đạt tới được khi nào ta buông bỏ được ý niệm ngã. Nếu ý niệm ngã còn có mặt trong ta và ta bị kẹt vào nó, tức là ta chưa chạm tới được trí vô phân biệt. Trí bình đẳng trong ta vốn là bản tính vắng lặng, sáng ngời của tự tâm, của Niết bàn tối thượng.

Trí Vô Phân Biệt

Theo lời Bụt dạy, muốn chuyển hóa tất cả các triệu chứng của bệnh tâm thần, chúng ta phải nhìn sâu vào chính ta và những người khác để thấy rằng bản tính đích thực của ta là Vô ngã, thấy rằng ngã chỉ được làm bằng những yếu tố không phải ngã, thấy rằng hạnh phúc không phải là vấn đề cá nhân, các pháp đều tương quan tương duyên với nhau. Thấy được như vậy, ta sẽ đối xử với nhau bằng tình thương chân thật, ta sẽ không có khuynh hướng loại trừ, ghét bỏ một ai và sẽ tạo dựng được một thế giới hòa bình ngay trên trái đất này.

Theo giáo lý của kinh Kim Cương, nếu kẹt vào ý niệm ngã, ta sẽ không thiết lập được truyền thông với sự sống quanh ta và như vậy tình thương sẽ không có mặt. Hiểu được bản chất của khổ đau, hạnh phúc của chính ta và khơi mở được lòng từ bi nơi tự thân, ta sẽ phá tan được ngục tù của ngã chấp và đạt tới tự do lớn. Lúc bấy giờ ta tái lập lại được truyền thông giữa ta với mọi người và mọi loài chung quanh, ta tiếp xúc được với Bình đẳng tánh, với Chân như, Niết bàn, với Bụt và chư vị Bồ Tát. Khoa tâm lý trị liệu có thể khám phá, giúp cho bệnh nhân tháo gỡ và chuyển hóa khổ đau, đạt tới an lạc trên căn bản của tuệ giác vô phân biệt của Bụt. Hạnh phúc chân thật chỉ có thể đạt được khi ta có khả năng buông bỏ ý niệm về ngã, thấy được liên hệ mật thiết giữa ta với mọi người và mọi loài trong ánh sáng của Tương tức, Vô ngã. Vì vậy thiền quán là nếp sống rất lý thú, vì nó có thể giúp ta làm những cuộc thám hiểm, đột phá rất nhiều điều bí ẩn, mầu nhiệm của sự sống mà trong đời sống bận rộn ta không thể làm được.

Ý niệm thứ hai trong kinh Kim Cương mà Bụt dạy chúng ta thực tập buông bỏ là ý niệm nhân. Nhân tức là người. Nhìn sâu vào con người, ta thấy rằng con người chỉ được làm bằng những yếu tố không phải người: như động vật, thực vật và khoáng vật. Thấy được điều này tức khắc ta thấy được thực tại chân thực của con người, ta không còn bị mê hoặc bởi những tri giác sai lầm (vọng tưởng) của ta nữa. Nhìn vào những yếu tố không phải người, ta thấy được ta. Nếu thấy ta đang có mặt đồng thời trong các loài động vật, thực vật và khoáng vật, ta sẽ làm đủ mọi cách để bảo vệ, thương yêu và kính trọng mọi loài như bảo vệ, thương yêu và kính trọng chính ta. Con người không thể được bảo vệ, không thể tồn tại được nếu con người không bảo vệ các loài sinh vật, động vật và khoáng vật. Kinh Kim Cương phải được xem là bản kinh cổ xưa nhất nói về vấn đề bảo vệ môi trường, sinh thái. Những lời dạy của Bụt trong kinh Kim Cương hướng dẫn chúng ta sống theo nếp sống có trách nhiệm, biết kính trọng, bảo vệ tất cả mọi loài chúng sanh, bởi vì con người không thể tồn tại lâu dài được nếu các loài khác bị hủy diệt, môi trường bị ô nhiễm. ‘‘Cái này có vì cái kia có; cái này không vì cái kia không. Cái này sinh vì cái kia sinh; cái này diệt vì cái kia diệt. Cái này như thế này vì cái kia như thế kia.’’ Đó là trí tuệ Vô phân biệt, Vô ngã, Duyên sinh và Tương tức của kinh Pháp Hoa. Tuệ giác này giúp chúng ta thấy được nhu yếu bảo vệ môi trường sinh thái của ta, bởi vì môi trường sinh thái của ta cũng chính là ta. Khi ta thấy con người được làm bằng những yếu tố không phải người, thì ta đạt được cái thấy chân thực về thực tại.

Ý niệm thứ ba trong kinh Kim Cương mà Bụt dạy chúng ta thực tập buông bỏ là ý niệm chúng sanh. Ở đây chúng ta cũng thấy rằng chúng sanh được làm bằng những yếu tố không phải chúng sanh. Các loài động vật được làm bằng các loài thực vật và khoáng vật. Nếu ta tiêu diệt, phá hoại thế giới thực vật và khoáng vật, thì các loài động vật cũng sẽ bị tiêu diệt, trong đó có loài người. Sự thực tập này giúp ta đạt tới cái thấy của trí vô phân biệt. Khi đứng trước một thân cây to lớn và tập thở trong chánh niệm, quý vị sẽ thấy mình và thân cây Tương tức. Biết rằng nếu thân cây không có mặt, mình cũng không có mặt. Trí tuệ vô phân biệt có công năng đưa tới sự chấm dứt chiến tranh và kỳ thị. Tất cả chúng ta – không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, chủng tộc… đều có thể thực tập vun trồng và phát triển loại tuệ giác này. Hẳn nhiên trí tuệ vô phân biệt không phải để cho chúng ta hý luận hay tôn thờ như một chủ thuyết, không phải để cho chúng ta sống chết với nó, mà là loại tuệ giác chúng ta có thể chứng nghiệm được trong mỗi giây phút của đời sống hàng ngày. Bằng sự thực tập nhìn sâu, bằng nghệ thuật sống chánh niệm, chúng ta có thể chạm tới được thực tại Vô phân biệt trí trong mỗi giây mỗi phút. Khi ta tiếp xúc được với thực tại Vô phân biệt trí, thì sự giận hờn, kỳ thị trong ta không còn sinh khởi nữa; lúc đó lời nói, hành động của ta sẽ có công năng xây dựng hòa bình, hạnh phúc và thương yêu trong mối liên hệ giữa con người với con người, con người với mọi loài chung quanh, giữa tôn giáo với tôn giáo, giữa các quốc gia với quốc gia… Chúng ta yêu cầu các nhà lãnh đạo tôn giáo, lãnh tụ chính trị, các giáo chức, các nhà tâm lý trị liệu, các viên chức khác thực tập chiêm nghiệm về giáo lý Vô phân biệt trí và đem áp dụng vào đời sống hàng ngày của họ để xây dựng một thế giới hòa bình, thương yêu cho nhân loại. Các nhà tâm lý trị liệu có thể khám phá giáo lý sâu sắc này của Bụt và đem áp dụng cái thấy của họ vào lĩnh vực trị liệu để giúp các bệnh nhân thoát khỏi bệnh tâm thần, trầm uất. Chúng ta cần giáo dục các người trẻ để họ có thể sống đúng theo tuệ giác Tương tức của đạo Bụt. Tại học đường, học sinh phải học quá nhiều môn học và tâm trí của họ luôn luôn bị căng thẳng. Học sinh bị nhồi nhét quá mức, ấy thế mà họ lại không được học những điều quan trọng nhất về cuộc sống của đời người, đó là học thương, học hiểu, học sống cuộc sống an vui, bao dung và vị tha. Niềm ao ước của chúng ta là các học đường sẽ cống hiến cho các học sinh cơ hội để học những phương pháp biết điều phục thân tâm, học cách nhìn lại chính mình, nhận diện những khổ đau, thao thức, hạnh phúc nơi tự thân và nơi người khác. Vì khi thấy và hiểu được tình trạng của mình, của người, họ sẽ liên hệ được với nhau bằng trái tim từ bi, bằng lòng bác ái và biết quý trọng nhau. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi nào ta đạt tới tuệ giác Tương tức, Vô ngã và Vô phân biệt mà thôi.

Chúng sanh được làm bằng những yếu tố không phải chúng sanh. Nếu nhìn sâu vào bản chất của đất đá, chất khoáng và các loại thực vật, ta thấy chúng không phải là những loài không có tri giác. Nhà thi sĩ người Pháp Lamartine đã đặt câu hỏi như thế này: ”Hỡi các vật vô tri vô giác, chúng bây có linh hồn hay không?” Tôi xin trả lời với ông ta rằng: ‘‘Có!’’ Nếu nhìn sâu vào bản chất chân thực của hạt nguyên tử, ta sẽ thấy rằng hạt nguyên tử không phải là vật vô tri vô giác như ta tưởng. Nó rất sống động. Ý niệm của ta về những vật có tri giác (hữu tri chúng sinh) và những vật vô tri vô giác (vô tri chúng sinh) là một ý niệm rất sai lầm. Chúng ta phải vượt thoát những tri giác sai lầm ấy để đạt tới Vô phân biệt trí, thứ trí tuệ giúp ta chạm tới được thực tại của không sinh không diệt, không có không không, không đến không đi, không một không khác của mọi sự mọi vật.

Ý niệm cuối cùng trong kinh Kim Cương mà Bụt dạy chúng ta thực tập buông bỏ là ý niệm về thọ giả. Chúng ta đã được học rằng thọ mạng chúng ta là vô lượng – không có sự khởi đầu và sự chấm dứt (vô thỉ vô chung). Cho rằng ta bắt đầu có từ giây phút sinh ra và trở thành không sau giây phút diệt đi, điều này không phù hợp đối với thực tại. Thực tại của ta là không sinh không diệt. Thọ mạng của một chiếc lá cũng vậy. Nếu tiếp xúc sâu sắc được với bản tính không sinh không diệt của một chiếc lá, ta sẽ thấy rằng những tri giác của mình về thực tại không thể tin cậy được. Thọ mạng của tất cả chúng ta cũng vô lượng như thọ mạng của Bụt, của Chúa, của Thượng Đế, bởi vì ta và Bụt, ta và Thượng Đế hay một chiếc lá đều biểu hiện trên cùng một bản chất, đó là Niết bàn, là không sinh không diệt. Chúng ta không cần tìm kiếm Niết bàn hay nhập Niết bàn, bởi vì tự thân ta đã là Niết bàn. Ta đã an trú trong tự tính của Niết bàn. Cũng như sóng và nước; sóng không cần đi tìm nước, sóng không cần nhập vào nước, bởi vì sóng chính là nước. Sóng chỉ cần tiếp xúc cho sâu sắc để tuệ giác Tương tức, không sinh không diệt, không một không khác phản chiếu ngay trong tự thân.

Quán Chiếu Về Tính Không Tham Cầu Và Vướng Mắc

Hôm nay chúng ta có cơ hội học về phép quán niệm hơi thở thứ mười bốn: quán chiếu về tính không đáng tham cầu và vướng mắc của vạn pháp. Không tham cầu chính là bản chất của thực tại, của tự do lớn. Ta thường có những tri giác sai lầm về thực tại, nên ta không có khả năng chạm tới được với thực tại. Phép quán niệm hơi thở thứ mười ba, mười bốn, mười lăm và mười sáu có công năng giúp ta tháo gỡ những nhận thức sai lầm của ta để ta có thể chạm tới được bản chất đích thực của thực tại. Bởi vì nhận thức bao giờ cũng nhận thức về một cái gì, không thể có chủ thể nhận thức mà không có đối tượng nhận thức. Do đó ta cần phải xem xét lại ý niệm chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức.

Đức Thế Tôn dạy chúng ta nhìn sâu vào bản chất của đối tượng thèm khát, tham cầu của ta để thấy cho rõ bản chất của nó; một khi đã thấy rõ bản chất của nó rồi, ta sẽ không còn bị kẹt vào những nhận thức sai lầm của ta nữa. Chúng ta, người nào cũng có những đối tượng của sự thèm khát, của sự mong cầu. Cho rằng mình không thể hạnh phúc được nếu mình không đạt được những gì mình mong ước. Vì vậy ta bỏ hết năng lực và thì giờ để theo đuổi những đối tượng của hạnh phúc mà ta tự vẽ vời ra và nghĩ rằng chỉ khi nào có được cái đó thì ta mới thật sự hạnh phúc. Đức Thế Tôn khuyên chúng ta sử dụng năng lực chánh niệm và chánh định để nhìn sâu vào bản chất của đối tượng hạnh phúc của ta để thấy cho rõ bản chất chân thực của nó. Đây là mục tiêu của phép thực tập hơi thở thứ mười bốn: ”Tôi đang thở vào và quán chiếu về tính không đáng tham cầu và vướng mắc của vạn pháp. Tôi đang thở ra và quán chiếu về tính không đáng tham cầu và vướng mắc của vạn pháp.” Có thể chúng ta tham cầu tiền tài, nghĩ rằng nếu không có nhiều tiền thì mình không thể hạnh phúc được. Có những người có rất nhiều tiền và họ biết những thứ ấy mang lại cho họ rất nhiều khổ đau, tuyệt vọng, cô đơn và xa cách. Như vậy, tiền tài không phải là yếu tố của hạnh phúc chân thật. Ta nghĩ rằng có tiền là ta có sức mạnh, có uy quyền. Thứ uy quyền ấy có thể đem lại cho ta một ít niềm vui, an ninh và niềm tự hào, nhưng chúng luôn luôn mang theo trong nó chất liệu của cay đắng, khổ đau, chia rẽ, sợ hãi và bất an, bởi vì chúng được phát sinh trên những ý niệm về ngã, về sự kỳ thị, ảo tưởng và vô minh. Nhìn sâu vào đối tượng của sự mong cầu, thèm khát của ta, ta thấy rằng chúng thật sự không phải là đối tượng đáng để theo đuổi.

Nếu là một người nghiện rượu, ta sẽ nghĩ rằng mình không thể sống được nếu không có rượu. Ta cần phải nhìn sâu vào bản chất của rượu để thấy nó được chế tạo như thế nào. Rượu sẽ đem lại cho ta và những người chung quanh ta những kết quả gì? Nó sẽ gây tác hại như thế nào đến tim, gan, phèo, phổi… cảm thọ và tâm thức của ta? Nó sẽ gây tác hại gì đến môi trường sống và ảnh hưởng như thế nào đến nạn đói của con người? Nếu nhìn kỹ vào bản chất của nó, ta sẽ thấy rằng đối tượng của sự thèm khát về rượu của ta không phải là yếu tố hạnh phúc đích thực, không đáng cho ta tham cầu. Biết rằng rượu và các chất độc tố khác có thể tàn phá trầm trọng đến sức khỏe và tâm thức của ta, ta có thể chết vì nó hoặc gây ra thương đau cho những người khác, ấy vậy mà ta vẫn cứ chạy theo nó không biết nhàm chán. Đức Thế Tôn đã sử dụng hình ảnh của một người đàn ông thấy ly nước trong khi đang bị khát nước gần chết. Nước trong ly trông rất mát và hấp dẫn, nhưng có độc tố. Có một người cảnh báo ông ta rằng nước trong ly ấy có độc, không được uống! Người ấy bảo: ”Nếu uống nó vào, ông sẽ chết hoặc giả không chết thì cũng đau đớn gần như chết. Đừng uống! Ông nên tìm thứ nước khác để uống. Dùng thứ gì khác cũng được để giải cơn khát, hoặc để tôi đi tìm nước lành cho ông uống; tuyệt đối không được uống nước trong ly đó.” Nhưng vì người đàn ông kia quá khát và nước trong ly ấy trông quá hấp dẫn khiến ông ta nghĩ rằng uống ly nước này vào rồi chết cũng được, cũng thỏa mãn và ông ta đã vồ lấy ly nước và uống vào. Sau khi uống rồi, ông ta quằn quại, khổ đau khôn xiết. Đối với tiền tài, danh vọng, uy quyền, sắc dục và thức ăn ngon cũng như thế. Khi thấy các thức ăn ngon, hấp dẫn chưng bày trên bàn, ta khởi tâm thèm muốn, rồi nghĩ rằng mình không thể hạnh phúc nếu không ăn được những món đó, cho dù có người cảnh báo với mình rằng anh sẽ chết hoặc sẽ đau đớn khổ sở nếu ăn những thứ đó vào. Thế mà anh ta vẫn cứ ăn. Vì quá thèm khát nên khiến ta nghĩ hạnh phúc không thể có được nếu ta không ăn được các thức ăn đó. Rồi ta nghĩ: ”Không sao! Ăn rồi chết hoặc ôm bụng mà rên cũng cam chịu hoặc sau này nếu cần thì uống thuốc xổ cũng chẳng sao; ít ra ta cũng thỏa mãn được cơn thèm khát của ta.” Nhiều người trong chúng ta có thái độ như vậy. Thật là dại dột.

Tôi biết có một cô nọ đã tiếp nhận Năm Giới cách đây vài năm trong một khoá tu. Sau này cô ta gặp một người đàn ông cùng khóa học và hai người yêu nhau. Ông ta nói với cô rằng: ”Anh đã lập gia đình nhưng không cảm thấy có hạnh phúc với vợ của anh. Khi gặp em, anh biết em là người mà anh yêu thương nhất, là người tâm đầu ý hợp nhất. Đối với anh, em là tất cả.” Và ông ta khóc. Ông ta đã có vợ, có một đứa con, thế mà ông ta còn muốn gian díu với người phụ nữ này. Ông không thấy rằng nếu làm như thế, ông sẽ gây rất nhiều khổ đau cho cô, cho chính ông, cho vợ và con của ông. Nhờ bà đã tiếp nhận và hành trì Giới Thứ Ba trong Năm Giới, nên bà đã cứng rắn trả lời với ông ta: ”Không, em không thể thiết lập liên hệ tình cảm với anh được.” Tuy nhiên trong thâm tâm, bà vẫn rất muốn tiếp tục mối tình giữa hai người. Cuối cùng, sau khi mãn khóa, ông trở về nước của ông; bà cảm thấy rất cô đơn. Vì cô đơn, bà đã sinh tâm hờn ghét Năm giới, nhất là giới thứ ba. Bà than rằng: ”Năm giới đã cản trở tình yêu của tôi. Năm giới đã cản trở tôi liên hệ với người đàn ông mà tôi yêu quý nhất. Cả hai chúng tôi đều có lương tâm, muốn sống chung với nhau. Giới thứ ba thật đáng ghét.” Thật tội nghiệp. Tôi tin chắc là nếu bà tiếp tục tiến tới và thiết lập liên hệ với ông ấy, thì bà đã tạo ra rất nhiều khổ đau cho chính bà, cho ông và cho nhiều người khác. Bà chưa bao giờ nếm cái khổ ấy nên bà ghét luôn giới thứ ba của Năm giới cũng là chuyện dễ hiểu; đó gọi là giận cá chém thớt. Chúng ta phải nhìn sâu vào đối tượng tham cầu của ta để thấy cho được nó sinh khởi như thế nào, nó sẽ có tác động lên ta và những người chung quanh ta ra sao. Nếu có được cái thấy xác thực về nguồn gốc và hậu quả của nó, ta sẽ không ưa thích nó, vì biết rằng nó sẽ đem lại rất nhiều khổ đau, sự tan nát, đổ vỡ cho ta và cho những người ta thương.

Tư niệm thực là loại thức ăn thứ ba trong kinh Tứ Thực mà chúng ta đã được học. Đức Thế Tôn chia sẻ hình ảnh của một người đàn ông bị hai lực sĩ dìu vào hố lửa. Người đàn ông ấy rất muốn sống. Ông ta kêu la thảm thiết: ”Xin đừng, xin đừng. Xin đừng liệng tôi vào hố lửa. Tôi không muốn chết! Tôi không muốn chết!” Thế nhưng hai lực sĩ vẫn mặc nhiên lôi kéo ông ta và liệng ông ta vào hố lửa. Đức Thế Tôn nói rằng hai lực sĩ ấy chính là sự thèm khát, là ý muốn của ta. Ta không muốn chết, không muốn khổ, nhưng vì sự thèm khát, tham cầu của ta mà bị kéo vào hầm hố của khổ đau. Nhìn sâu vào bản chất của đối tượng thèm khát, tham cầu, vướng mắc với năng lượng chánh niệm và chánh định, ta sẽ khám phá ra được bản chất đích thực của nó, ta không còn chạy theo nó nữa. Đó gọi là thiền chỉ (dừng lại) và thiền quán (nhìn sâu).

Thời bây giờ người ta dùng những con mồi được chế tạo bằng nhựa để câu cá. Người ta không dùng loài côn trùng như xưa nữa. Con cá thấy con mồi rất hấp dẫn, hấp dẫn hơn cả mồi thiệt. Nhưng khi nó đớp vào thì bị dính câu. Nó không biết rằng trong con mồi nhựa được trang bị với những màu sắc rực rỡ, hấp dẫn ấy có ẩn chứa một lưỡi câu rất nhọn, sắc bén và ghê rợn. Lối hành xử của ta cũng không khác gì những con cá kia. Ta có một nhận thức rất sai lầm về đối tượng của sự thèm khát, tham cầu và vướng mắc của ta. Ta nghĩ đời sống sẽ không có ý nghĩa, rằng ta không thể hạnh phúc được nếu không có những thứ này, thứ kia; nghĩa là không có năm thứ dục lạc: tiền tài, danh lợi (quyền hành), sắc dục, thức ăn ngon và ngủ nhiều. Có hàng triệu cách để ta có thể có hạnh phúc, nhưng vì ta không biết cách mở lòng để đón nhận, để cho niềm vui và hạnh phúc đến với ta. Ta chỉ biết chạy theo những đối tượng của dục lạc, thèm khát và tham cầu mà thôi. Nhiều người trong chúng ta đã đi qua kinh nghiệm đó và thấy được sự thật là càng chạy theo đối tượng của sự thèm khát, tham cầu ta càng khổ đau da diết. Ở đây tôi xin kể một câu chuyện nói về đời sống của một dòng suối để giúp quý ví hiểu rõ về vấn đề này. Câu chuyện rất hay và có ý nghĩa. Có một cái thác nước đổ xuống từ đỉnh núi cao. Thác nước chảy rất mạnh, hào hùng, tràn đầy sức sống. Thác nước tuôn chảy liên tục và ước muốn của nó là xuôi về biển cả. Thác nước muốn ra tới biển cả càng sớm càng tốt. Khi thác nước chảy tới các vùng đồng bằng, phù sa và ruộng đất, tự dưng nó chảy chậm lại và biến thành dòng sông. Khi đã trở thành dòng sông, nó không thể chảy ào ào, hùng vĩ như khi còn là thác nữa. Trong khi vận chuyển chậm rãi như thế, dòng sông bắt đầu phản chiếu những cụm mây bay lơ lửng trên trời. Mây biểu hiện nhiều hình thái khác nhau và dòng sông bỏ hết thì giờ của nó để chạy theo chúng, chạy theo hết đám mây này đến cụm mây nọ. Nhưng những đám mây không bao giờ ở yên một nơi; chúng đến rồi đi. Dòng sông cảm thấy trống vắng, cô đơn. Nó khóc than, buồn tủi, vì không có một đám mây nào ở lại với nó mãi mãi.

Sự thực là các hiện tượng (pháp) đều Vô thường, thay đổi, biến diệt không ngừng. Dòng sông đau khổ là do thái độ bám víu của nó, là do cách nhìn, cách hành xử không sáng suốt của nó.

Một hôm nọ, khi có cơn gió mạnh thổi ngang qua, đẩy đi hết những đám mây và hiển lộ một vòm trời xanh biếc. Nhìn lên trời thấy không còn một gợn mây nào, dòng sông nghĩ: ‘‘Đời sống thật vô vị, không đáng sống.’’ Dòng sông không biết cách thưởng thức trời xanh. Dòng sông thấy trời xanh như là một cái gì trống vắng, vô vị, buồn chán. Tối hôm đó, dòng sông muốn hủy diệt đời mình. Làm sao dòng sông có thể tự hủy diệt chính mình?

Không có một thứ gì mà ta có thể biến thành không, thành hư vô được. Trong suốt đêm đó, dòng sông khóc than thảm thiết. Đó là tiếng gào của nước sông vỗ bờ. Đây là lần đầu tiên dòng sông trở về đối diện với chính mình.

Từ trước tới nay dòng sông chỉ sống trong sự vọng cầu, bỏ mình để đi tìm mình. Dòng sông nghĩ rằng hạnh phúc chỉ có thể được tìm thấy ở ngoài mình, nghĩa là nó phải đợi ra tới biển cả hoặc đợi khi nó làm những đám mây bay tung tăng trên trời mới hạnh phúc thật sự. Lần đầu tiên dòng sông trở về với chính mình và lắng nghe tiếng vỗ của những cơn sóng gào của chính mình, dòng sông đột nhiên khám phá ra một điều hết sức sâu sắc và quan trọng. Trước đây dòng sông không biết rằng mình được làm bằng những yếu tố không phải mình. Dòng sông đã dại dột chạy theo những đám mây, nghĩ rằng mình không thể hạnh phúc nếu không có những đám mây. Dòng sông đã không nhận ra được rằng mình được làm bằng những đám mây. Những gì dòng sông đang tìm cầu đều đã có mặt trong tự thân. Hạnh phúc chỉ đơn giản như thế. Ấy vậy mà bấy lâu nay dòng sông không biết.

Nếu ta biết cách trở về an trú trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây, nhận thấy rằng những yếu tố của hạnh phúc đã có mặt trong ta và chung quanh ta, lúc ấy ta không cần chạy tìm đâu xa nữa. Ta chấm dứt được sự tìm cầu. Và hạnh phúc chân thực tự dưng hiển lộ. Trong một đêm nhìn lại, đột nhiên dòng sông nhận ra được rằng có một cái gì đó đang phản chiếu trong lòng mình, đó là bầu trời xanh. Lần đầu tiên trong đời dòng sông cảm nhận được bầu trời xanh bình an, đẹp đẽ, mầu nhiệm, vững chãi và thảnh thơi như chưa bao giờ từng cảm nhận. Dòng sông biết rằng hạnh phúc của mình phải được làm bằng các chất liệu của vững chãi, thảnh thơi và bình an. Đột nhiên dòng sông tràn ngập niềm hạnh phúc, vì đây là lần đầu tiên dòng sông cảm nhận được bầu trời xanh. Trước kia, dòng sông chỉ để ý đến những đám mây và hoàn toàn thờ ơ với bầu trời. Đây là một đêm của sự chuyển hóa thâm sâu. Những tiếng than khóc của dòng sông, những sầu muộn của dòng sông đã được chuyển hóa thành niềm vui, hạnh phúc, an lạc, vững chãi và thảnh thơi. Ngày hôm sau, trời yên gió lặng, mây bốn phương quay về quần tụ. Bây giờ dòng sông đã biết phản chiếu, biết thưởng thức từng cụm mây, nhưng không bị vướng mắc vào mây. Dòng sông đã biết nhìn với con mắt không phân biệt, với con mắt bình đẳng và vô tướng. Mỗi khi thấy những đám mây xuất hiện, dòng sông nói với những đám mây: ”Chào các anh, các chị! Các anh, các chị rong chơi có vui không?’’ Khi những đám mây ra đi, tan biến, dòng sông không buồn tủi như trước. Dòng sông đã tìm thấy được tự do nơi chính mình. Dòng sông biết tự do là nền tảng của hạnh phúc. Dòng sông đã thực tập dừng lại và chấm dứt được sự tìm cầu. Đêm hôm ấy, có điều gì đó rất mầu nhiệm đã xảy ra; đó là hình bóng của vầng trăng tròn phản chiếu trong lòng sông. Dòng sông rất hạnh phúc được cùng mây và trăng rong chơi; dòng sông không cần đợi ra tới biển cả mới hạnh phúc, bởi vì dòng sông biết trong mình đã có biển cả và trong biển cả đã có mình. Mỗi dòng chảy đều được hòa lẫn cùng trăng, mây và gió… Vũ trụ cùng dòng sông tấu lên khúc nhạc vô sinh trầm hùng và tất cả đều đem lại cho dòng sông niềm vui và hạnh phúc. Dòng sông thấy rõ mình cũng là mây, là biển cả. Dòng sông rất hạnh phúc trên đường đi tới biển cả. Dòng sông đã giác ngộ rằng không có con đường đi tới hạnh phúc, hạnh phúc chính là con đường.

Nhìn kỹ lại, ta thấy mỗi người chúng ta là một dòng sông. Chúng ta bắt đầu như một thác nước đổ xuống từ đỉnh núi cao và muốn chảy nhanh về biển cả. Sau một thời gian, ta đột nhiên hoạt động chậm lại và bắt đầu chạy theo những đối tượng thèm khát của ta; và ta khổ đau. Đôi khi vì quá khổ, ta đâm ra chán chường, tuyệt vọng, không muốn sống. Song, ta có cơ hội trở về nhìn lại chính mình, đột nhiên nhận ra được rằng đối tượng thèm khát của ta chính là nguyên nhân gây ra khổ đau, tuyệt vọng và phiền não cho ta. Ta bắt đầu khám phá ra được tất cả những yếu tố của hạnh phúc đều đang có mặt trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây. Những gì ta muốn tìm cầu đều đang có mặt ngay ở đây. Trong khoảnh khắc ấy, ta đạt được tự do lớn mà từ trước tới nay ta chưa bao giờ có; ta có khả năng sống sâu sắc trong từng giây phút của đời sống hàng ngày. Bây giờ ta đã trở thành một dòng sông có hạnh phúc và có thể giúp những dòng sông quanh ta sống hạnh phúc như ta.

Đức Thế Tôn có dạy rằng đối tượng thèm khát, tham cầu của ta không phải là hạnh phúc chân thật. Ngài đã dùng rất nhiều ví dụ để giúp ta thấy rõ điều này. Trước hết, Ngài nói rằng đối tượng thèm khát và tham cầu của ta được ví như bó đuốc cầm ngược gió. Ngọn lửa từ bó đuốc sẽ đốt cháy ta. Nếu ta không hiểu rõ bản chất của nó, không biết cách quản lý nó thì nó sẽ đốt cháy ta.

Ví dụ thứ hai là hình ảnh của một khúc xương trần. Khúc xương trần không còn dính chút thịt, vậy mà con chó rất ưa thích, thèm thuồng nó. Con chó ôm lấy khúc xương trần ấy mà gặm suốt ngày, nhưng không được chút bổ dưỡng nào. Nó gặm suốt ngày không bao giờ biết chán, không bao giờ cảm thấy thỏa mãn; có khi khúc xương trần đó chỉ là một khúc xương bằng nhựa. Đức Thế Tôn nói rằng đối tượng của sự thèm khát của ta cũng tựa như khúc xương trần ấy.

Ví dụ thứ ba là hình ảnh của một hố lửa. Những người bị bệnh hủi, khắp mình ngứa ngáy hết sức khổ sở. Những ai bị bệnh này thường không được ở trong thôn xóm với dân làng. Họ đặc biệt được đưa vào một khu rừng hoặc một hòn đảo xa đất liền để sống với nhau như một cộng đồng của những người bị bệnh hủi. Nơi vùng họ ở có tạo dựng một hố lửa rất lớn. Mỗi ngày họ áp tay chân sát bên hầm lửa đang bốc cháy ngùn ngụt để gãi cho đã ngứa. Làm như vậy họ cảm thấy rất dễ chịu. Càng ngứa, càng gãi chừng nào, họ càng cảm thấy đã ngứa, sung sướng chừng ấy. Họ cảm thấy đó là hạnh phúc. Đức Thế Tôn nói rằng chỉ khi bị bệnh hủi, ngồi bên hầm lửa và gãi cho đã ngứa mình mới thấy đó là điều hạnh phúc nhất và cảm thấy rất sung sướng thỏa mãn. Nếu mình không bị bệnh hủi mà mỗi ngày cứ áp tay chân sát bên hố lửa, thì đó quả là một cực hình.

Ví dụ thứ tư là hình ảnh của một miếng mồi. Khi con chim nhỏ gắp được một miếng mồi, bay lên trên không, lúc ấy có con chim lớn hơn thấy được và đuổi theo con chim nhỏ. Nếu con chim nhỏ không buông miếng mồi vừa mới kiếm được thì con chim lớn sẽ tấn công và có thể giết con chim nhỏ để đoạt lấy miếng mồi. Cũng vậy, đối tượng thèm khát, mong cầu của ta có thể giết chết ta nếu ta không buông miếng mồi ra. Trong lúc thở vào và thở ra có chánh niệm, ta thiết lập thân tâm vững chãi, có mặt đích thực trong giây phút hiện tại, đưa thân và tâm trở về một mối, rồi nhìn sâu vào đối tượng mong cầu, thèm khát của ta để thấy cho được bản chất đích thực của nó. Nếu có cái thấy sâu sắc về nó, thì nó sẽ không trói buộc, sai sử ta nữa, ta hoàn toàn được tự do. Ta sẽ chuyển ý niệm hạnh phúc của ta về hướng khác, hướng của hiện tại, của bây giờ và ở đây.

Đây là giáo lý rất cao thâm mà tất cả chúng ta đều nên thẩm định và đem ra thực tập. Chúng ta phải giúp người trẻ học hỏi và thực tập giáo lý cao thâm như giáo lý Hiện pháp lạc trú mà đức Thế Tôn đã dạy. Thế nào gọi là chân hạnh phúc? Chân hạnh phúc có thể đạt tới trong hiện tại được không? Những điều kiện của hạnh phúc có thật có trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây hay không? Chúng ta có cần chạy tìm hạnh phúc ở tương lai không? Những câu hỏi này rất thực tế và giúp ích cho quá trình thiền quán của ta. Các nhà trị liệu, giáo chức, nhà chính trị và tất cả mọi người đều nên học hỏi và thực tập theo giáo lý này nếu ta muốn chuyển hóa khổ đau, đem lại hạnh phúc, an lạc và hòa bình chân thực cho cuộc sống. Chúng ta hãy đến với nhau để cùng thực tập như một Tăng thân, một cộng đồng, cùng nhìn sâu để cống hiến cho nhân loại, xã hội và dân tộc ta tuệ giác, nhất là tuệ giác cộng đồng. Đức Thế Tôn nói cuộc đời có khổ – Khổ đế – sự thật thứ nhất, nhưng khổ ở đây được diễn tả như một Sự Thật mầu nhiệm. Ngài cũng nói đến con đường thoát khổ – Đạo đế – Sự Thật mầu nhiệm thứ tư. Nhìn sâu vào khổ, ta thấy được những nguyên do xa gần (nội tại và ngoại tại) kết cấu thành và khi thấy được gốc rễ, nguyên do của khổ đau, thì khổ đau không còn bị tác động, không tạo tác và ta chấm dứt được khổ đau, đem lại hạnh phúc. Rõ ràng ta có cách chuyển hóa khổ đau, xây dựng an lạc và hòa bình cho ta, cho người, cho đất nước, xã hội ta. Đạo Bụt không quan niệm đời sống một cách bi quan, yếm thế như nhiều người tưởng. Theo lời Bụt dạy, nếu ta trốn chạy khổ đau, chán ghét khổ đau thì chẳng khác nào người làm vườn muốn trồng hoa mà chối từ rác, phân xanh. Chối từ rác và phân xanh thì làm sao có hoa? Nhìn cho kỹ, ta thấy rác và hoa tương tức, rác và hoa nương nhau mà biểu hiện.

14. Câu hỏi & trả lời

Chương 14
Câu hỏi & trả lời

Hỏi: Kính thưa Thầy, có một người bị lâm bệnh ung thư đã nhiều năm, người ấy rất đau đớn khổ sở. Nếu sau khi người ấy đã bàn thảo với gia đình và Tăng thân của người ấy và được họ chấp thuận, thì người ấy có thể kết liễu cuộc đời của mình được không? Hành động ấy sẽ đưa tới những kết quả nào và có đi ngược với tinh thần Năm Giới – không sát hại, bảo vệ sự sống của giáo lý đạo Bụt không?

Thầy: Đây là một câu hỏi khó. Trong thời Bụt còn tại thế, có những thầy bị bệnh, họ rất đau đớn, khổ sở. Bụt đã hướng dẫn nhiều phương pháp tu tập cho các thầy ấy thực tập trong những ngày còn lại của đời mình. Những lời dạy ấy đã được ghi chép lại trong tạng kinh. Chúng ta có thể học hỏi các kinh ấy để giúp cho những người khổ đau, đang vướng vào những chứng bệnh nan y và đang hấp hối. Chúng ta cũng có thể học cách áp dụng những lời dạy ấy vào trong đời sống hàng ngày của mình nếu mình đang có những nỗi lo sợ, ám ảnh về cái chết của bệnh tật. Đức Thế Tôn đã hướng dẫn chúng ta những phương pháp thực tập cụ thể để làm thuyên giảm niềm đau trong thân và tâm của ta. Có những phương cách làm thuyên giảm những niềm đau về thân. Chúng ta nhận diện sự có mặt của niềm đau nhức về thể xác và ôm ấp, làm êm dịu niềm đau của ta mà không nên phóng đại nó vì nỗi lo sợ và tuyệt vọng. Đức Thế Tôn có dạy khi một người bị trúng tên, người ấy đau đớn vô cùng. Nhưng nếu có mũi tên thứ hai cũng lao trúng vào vết thương của mũi tên thứ nhất, thì cơn đau không phải chỉ tăng gấp đôi mà nó tăng lên gấp mười lần, hai mươi lần hoặc ba mươi lần hoặc nhiều hơn. Cũng thế, khi một người phóng đại niềm đau nhức về thể xác của mình bằng niềm lo sợ, giận hờn và tưởng tượng của mình, thì niềm đau ấy sẽ tăng lên gấp trăm ngàn lần. Vì vậy chúng ta cần phải trở về với hơi thở chánh niệm, thở vào và thở ra thật sâu sắc và nhận diện niềm đau của thể xác như nó đang là, mà không nên thổi phồng, phóng đại nó vì nỗi lo sợ, giận hờn và tưởng tượng của mình. Cái đó gọi là nhận diện đơn thuần, không sinh tâm lo sợ, chán nản và tuyệt vọng, không suy tưởng về nó.

Nếu có một bác sĩ hoặc một người bạn biết về bệnh tình của quý vị, quý vị có thể nhờ người ấy nói cho mình biết rằng đây chỉ là niềm đau thuộc về thể xác. Bác sĩ chẩn đoán một cách chính xác về bệnh tình của mình và cho mình biết để mình yên tâm mà không vì quá lo sợ, tuyệt vọng mà phóng đại, suy tưởng ra thêm. Có những phương cách thực tập khác để đối trị với niềm đau, nỗi khổ của thân và tâm. Quý vị có thể phục hồi trở lại sự thăng bằng của nội tâm để có khả năng chấp nhận và ôm lấy niềm đau của mình. Khi biết thực tập tiếp xúc, tự tưới tẩm những niềm vui, những yếu tố tích cực, những hạt giống tốt, quý vị sẽ bớt khổ rất nhiều và sẽ cảm thấy rằng mình có thể sống hòa bình và an vui với niềm đau ấy. Khi quá khổ, quá tuyệt vọng, mình có cảm tưởng rằng mình không đủ năng lực để tự chăm lo cho chính mình. Nhưng khi có một người bạn đạo đến cầm tay mình, chuyền cho mình năng lượng thương yêu, chăm sóc và khích lệ, thì mình cảm thấy dễ chịu và có đủ khả năng để chấp nhận, ốm ấp niềm đau nỗi khổ của mình và vượt thắng được. Sự thật là trong tự thân của ta luôn có sẵn tiềm năng tự chữa trị rất lớn. Nếu ta trở về với tự thân để tiếp xúc với những yếu tố lành mạnh, hiểu biết, thương yêu và trị liệu, thì những năng lượng tốt đẹp trong ta sẽ có cơ hội biểu hiện và giúp ta phục hồi lại sự thăng bằng trong cuộc sống. Ta sẽ có khả năng chấp nhận và ôm ấp niềm đau nỗi khổ của ta một cách dễ dàng mà không cần phải trốn chạy, loại trừ hay tuyệt vọng về chúng.

Tôi nhớ vào năm nọ khi chị của sư cô Chân Không đang bị hấp hối trên giường bệnh tại bệnh viện ở Mỹ, cái lá gan nhân tạo của chị sư cô đã bắt đầu bị hư sau hơn ba năm hoạt động. Trong giờ phút lâm chung, bà đau đớn khôn xiết. Cuối cùng bà rơi vào cơn hôn mê; chồng bà, con cái của bà và các bác sĩ, y tá đã cố gắng làm đủ cách để làm thuyên giảm niềm đau nhức trong bà nhưng đều bó tay. Trong cơn đau quằn quại, bà vặn vẹo, rên rỉ và khóc than không ngừng. Sau đó sư cô Chân Không tới, sư cô biết mình không thể nói chuyện được với chị  mình vì chị đang ở trong cơn hôn mê trầm trọng. Tuy thế, sư cô vẫn biết cách giúp chị mình. Sư cô biết chị từ nhỏ thường ưa tới chùa nghe các thầy, các sư cô tụng kinh, niệm Phật và những hạt giống ấy đã được gieo trồng trong tâm thức của chị từ nhỏ. Sư cô đã mang theo bên mình một băng cassette niệm danh hiệu của đức Bồ Tát Quán Thế Âm do các thầy, các sư cô Làng Mai niệm và mở lên cho chị nghe. Sư cô đặt ống nghe vào tai của chị rồi tăng âm thanh lên thật lớn. Mầu nhiệm thay, sau đó khoảng ba mươi giây, phép lạ đã xảy ra, chị của sư cô trở nên yên bình trở lại và từ lúc đó cho đến giây phút lâm chung, bà không còn khóc rên hoặc vặn vẹo nữa.

Tâm thức của chị sư cô đã được gieo trồng những hạt giống tốt, hạt giống tu tập, chánh pháp từ nhỏ đến lớn. Bà đã từng được nghe tiếng tụng kinh cho nên tâm thức của bà đã nhận ra được những lời tụng quen thuộc mà mình đã từng được nghe trong truyền thống tâm linh của mình. Những lời kinh tụng ấy đã trở thành nguồn suối an lạc, hạnh phúc và trị liệu cho đời sống của bà trong những năm tháng qua, trong khi đó những người thân chung quanh, trong đó có cả bác sĩ, y tá đã không biết làm thế nào để giúp bà tiếp xúc với những hạt giống tốt như thế trong tâm thức của bà. Những hạt giống này đã từ lâu không được chạm đến, không được tưới tẩm mỗi ngày nên chúng đã bị hao mòn và ngủ yên trong chiều sâu tâm thức, không có cơ hội phát triển và cũng không có ai có khả năng đánh thức chúng dậy. Và trong cơn đau nhức, sợ hãi, bà đã bị trấn ngự bởi những năng lượng của sầu khổ và tuyệt vọng. Những lời tụng kinh, niệm Bụt và Bồ Tát đã thâm nhập vào tâm thức bà và đã chạm tới được nguồn năng lượng tâm linh trong bà. Khi nghe được những lời tụng niệm ấy, tự nhiên bà tiếp xúc được với nguồn năng lượng lành mạnh, mầu nhiệm của Bồ Tát Quán Thế Âm – năng lượng của tình thương, an bình trong bà. Nguồn năng lượng ấy đã cho bà đủ sức mạnh để thiết lập lại sự an bình. Nhờ vậy mà bà đã có khả năng nằm yên cho tới lúc ra đi.

Trong khi thân thể có những niềm đau nhức, chúng ta phải nhớ thực tập tiếp xúc với những yếu tố lành mạnh có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu như năng lượng của sự vững chãi, hạnh phúc và niềm tin; những hạt giống này luôn có sẵn trong mình và chung quanh mình. Ta cần phải tiếp xúc với những hạt giống ấy để có thể thiết lập sự thăng bằng, vững chãi và thảnh thơi trong ta. Nếu thực tập những lời dạy của đức Thế Tôn thành công, ta sẽ biết làm gì trong giây phút đó để giúp những người đang hấp hối hoặc đang khổ đau có thể phục hồi lại sự bình an hoặc giúp họ ra đi một cách nhẹ nhàng. Chúng ta đã được nghe, được đọc kinh Độ Người Hấp Hối trong cuốn Nhật Tụng Thiền Môn 2000 của Làng Mai. Kinh Độ Người Hấp Hối cống hiến cho chúng ta rất nhiều phương pháp thực tập cụ thể để ta thực tập và hướng dẫn những người đang hấp hối vượt qua giây phút khó khăn của cơn bệnh trong giờ phút lâm chung.

Mỗi khi đức Thế Tôn hoặc các đệ tử lớn của Ngài viếng thăm những người đang hấp hối, các Ngài luôn luôn biết mình phải làm gì để giúp những người đang hấp hối phục hồi lại sự thăng bằng, vững chãi để họ vượt được cơn đau nhức của thể xác và thoát được nỗi sợ hãi về tử sinh. Phép thực tập là tưới tẩm những hạt giống lành mạnh, thương yêu và hạnh phúc trong người kia. Phép thực tập này luôn luôn đem lại hiệu quả tốt. Chính tôi cũng thực tập phương pháp này mỗi ngày và luôn luôn có hiệu quả, đem lại rất nhiều lợi lạc. Khi hỏi rằng nếu đời sống của mình có quá nhiều khổ đau, bế tắc, không thể chịu đựng được nữa, nhất là khi thân mình phải mang những chứng bệnh nan y, đau đớn vô cùng thì mình nên chọn cái chết hay không nếu có sự chấp thuận của những người thân trong gia đình và tăng thân? Hành động ấy sẽ đem lại những kết quả nào? Theo tôi, chúng ta nên cố gắng hết lòng tìm cách chữa trị trước. Chúng ta phải tin vào khả năng tự chữa trị của bản thân ta.

Có một hôm, sau khi giúp đỡ cho người cư sĩ đang hấp hối, đức Thế Tôn trở lại Núi Thứu để hướng dẫn, dạy dỗ cho các thầy. Ngay ngày hôm sau Ngài hay tin người cư sĩ mà Ngài cố gắng cứu giúp đã dùng con dao để tự sát. Cố nhiên ông ấy đã được bớt khổ, bớt đau nhức rất nhiều sau khi được gặp Bụt. Ông đã thực tập hết lòng theo những lời chỉ dẫn của Ngài. Trong khi ở bên cạnh đức Thế Tôn, ông ta cảm nhận được năng lượng từ bi và nâng đỡ rất lớn của Bụt và năng lượng ấy đã giúp ông ta thiết lập được sự vững chãi và đức vô úy trong tâm, mặc dầu thân thể đang rất đau nhức. Sau khi đức Thế Tôn rời khỏi nơi ông ta cư ngụ, ông ta không thể một mình duy trì được niềm an lạc ấy, vì thế ông đã tự sát. Khi đức Thế Tôn hay được tin ấy, Ngài rất lấy làm thương tâm và Ngài đã gởi một số các thầy đến nơi ông ấy ở để chăm lo việc mai táng. Đó là tất cả những gì tôi có thể chia sẻ với quý vị trong lúc này: Hành động của Bụt chứa đầy lòng thương yêu ngay trong khi ông ấy đang còn sống và sau khi ông ra đi.

_______________

Hỏi: Kính bạch Thầy, trong khóa tu này Thầy có dạy về giáo lý tha thứ, bao dung thật thâm sâu. Những lời dạy ấy đã giúp ích cho con rất nhiều. Con vô cùng biết ơn Thầy. Kính thưa Thầy, nhiều lần con nhận thấy người mà con khó tha thứ nhất lại là chính mình. Xin Thầy ban cho con những phương pháp thực tập để con có thể thực tập tha thứ chính mình một cách hữu hiệu?

Thầy: Trong đời sống, có nhiều lúc vì thiếu chánh niệm, thiếu sự khéo léo, ta đã làm những điều gây khổ đau, đổ vỡ cho những người ta thương và nhiều người khác. Ta hối hận, cảm thấy tội lỗi và trở nên chán ghét chính ta, không có khả năng tha thứ cho chính mình. Nhưng ta không biết rằng chính mình cũng đã gây khổ đau, tàn hoại cho thân tâm mình rất nhiều. Sự thực là tất cả những khổ đau, hư hoại ta đang gánh chịu đều do chính mình tạo ra. Xin quý vị quán chiếu về điều này. Nếu nhìn kỹ lại, quý vị sẽ thấy rằng người làm mình khổ nhiều nhất lại chính là mình chứ không phải ai khác. Đây là sự thực hiển nhiên mà ta không hề hay biết. Vì vô minh, giận hờn, thù hận, kỳ thị và thiếu sự khéo léo, ta đã gây khổ đau, đổ vỡ cho chính ta và cho những người ta thương. Ta biết rằng năng lượng của tập khí chịu trách nhiệm về tình trạng khổ đau của ta. Đôi khi ta có đủ thông minh để biết rằng những lời nói hoặc hành động của ta sẽ gây khổ đau, nhưng năng lượng tập khí trong ta quá mạnh; nó sai khiến, thúc đẩy ta nói hoặc làm những điều mà ngay sau đó ta cảm thấy hối tiếc. Ta nguyện là lần sau ta sẽ không nói hoặc làm những điều như thế nữa, nhưng khi đụng chuyện, ta lại lặp lại giống hệt như lần trước. Con ma tập khí luôn mạnh hơn ta. Ta không có chủ quyền để làm chủ lấy năng lượng tập khí của ta. Đức Thế Tôn đã dạy chúng ta phương pháp thực tập nhận diện sự có mặt của năng lượng tập khí mỗi khi nó biểu hiện và làm chủ lấy nó, không để cho nó tác yêu tác quái ta, chỉ nhận diện đơn thuần và mỉm cười với nó, gọi đúng tên của nó, thì từ từ sức mạnh của nó sẽ bị yếu đi. Như chúng ta đã được học trong những lần trước, nếu ta biết cách chế tác và vun trồng năng lượng chánh niệm mỗi ngày, thì ta sẽ có khả năng nhận diện được năng lượng tập khí của ta một cách dễ dàng và nhanh chóng. Khi đã nhận diện được nó, ta có thể thầm nói: ”A! chào anh bạn tập khí. Tôi biết anh có mặt đó. Lần này anh không thể tác yêu tác quái được tôi đâu.” Đó là chánh niệm, là Bụt, là năng lượng thánh thiện. Khi năng lượng chánh niệm có mặt, tức là Bụt có mặt thì ta được bảo hộ, che chở. Mỗi khi ta nhận diện được sự có mặt của năng lượng tập khí, tập khí sẽ yếu dần yếu dần đi. Nếu ta tiếp tục thực tập nhận diện đơn thuần như thế nhiều lần, thì một ngày nào đó nó sẽ không đủ sức để khống chế, sai sử ta, thúc đẩy ta nói hoặc làm những điều gây khổ đau, đổ vỡ nữa. Có thể năng lượng tập khí ấy đã được trao truyền cho ta qua nhiều thế hệ của tổ tiên. Vì vậy ta không nên tự trách mình, cảm thấy tội lỗi với chính mình; mà phải thấy rằng mình chỉ là nạn nhân của sự trao truyền. Nếu không học cách nhận diện và chuyển hóa năng lượng tập khí ấy thì ta sẽ tiếp tục là nạn nhân của nó và ta sẽ trao truyền lại cho con cháu của ta và các con em của họ trong nhiều thế hệ tương lai. Ta không phải là người duy nhất gánh chịu trách nhiệm về những năng lượng của tập khí ấy; ta phải thấy rằng nó là sản phẩm chung của rất nhiều thế hệ tổ tiên và xã hội của ta. Nếu thấy được năng lượng tập khí của ta đã được trao truyền từ ông bà, cha mẹ và tổ tiên, ta sẽ không còn cảm thấy tội lỗi, ta không tự hành hạ, trách phạt mình nữa. Khi có cơ duyên gặp được chánh pháp và học được những phương pháp thực tập chánh niệm quý vị nên biết rằng quý vị đã được trao truyền những khí cụ có khả năng giúp mình chuyển hóa năng lượng tập khí ấy. Khi quý vị chuyển hóa được chính mình thì tất cả các thế hệ tổ tiên cũng đều được chuyển hóa, bởi vì quý vị là sự tiếp nối của ông bà tổ tiên. Làm được như thế, quý vị có thể lấy đi được mặc cảm tội lỗi và oán hận chính mình. Quý vị chạm tới được bản chất đích thực của mình – bản chất tương tức tương nhập, bản chất của an lạc, hạnh phúc thật sự. Khi có năng lượng của niềm vui và hạnh phúc trong lòng, quý vị tự khắc có đủ sức mạnh để tiếp tục làm công việc chuyển hóa và trị liệu. Quý vị biết rằng năng lượng tự trách phạt, hối hận và chán ghét chính mình đã được trao truyền lại từ ông bà, cha mẹ và tổ tiên. Khi thấy năng lượng tập khí này cũng thuộc về họ, quý vị có thể nói: ”Chào bà nội! Cháu biết bà đang có mặt đó.” Ngay lúc đó mình và bà nội đều được cứu thoát. Quý vị đang làm công việc chuyển hóa không phải cho bản thân mà cho tất cả dòng họ tổ tiên và cho các thế hệ tương lai của quý vị nữa.

_______________

Hỏi: Kính thưa Thầy, khi lạy xuống, con có thể tiếp xúc được với tất cả các thế hệ tổ tiên của con và hòa nhập vào dòng sinh mạng của tổ tiên con. Nhưng khi thực tập như vậy đối với mẹ chồng của con, con cảm thấy không thành công lắm. Xin Thầy giúp con?

Thầy: Tôi nghĩ cái cảm nhận ấy xuất phát từ sự thật là quý vị vẫn xem mẹ chồng của mình không phải là một người trong gia đình. Nếu quý vị không thay đổi cái nhìn ấy thì khó có thể chấp nhận, ôm ấp mẹ chồng của mình như đã làm đối với những người thân trong gia đình, dòng họ của mình. Phải thấy rằng dù muốn hay không, người ấy vẫn là mẹ chồng của mình, đó là một sự thật. Chồng của mình là một phần của bà và của dòng họ bà. Khi lập gia đình, quý vị đã cam kết sẵn sàng chia sẻ tất cả những hạnh phúc và khổ đau của chồng hay vợ mình; và mẹ chồng hay mẹ vợ mình là một phần của hạnh phúc và khổ đau ấy. Vì vậy, là vợ chồng, quý vị phải có khả năng chấp nhận, ôm lấy tất cả những hạnh phúc và khổ đau của mẹ vợ hay mẹ chồng mình với tâm không phân biệt. Đó là thực tập thương yêu theo tinh thần Xả, tức là tình thương độ lượng, bao dung và vô phân biệt. Hạnh phúc của chồng mình hay vợ mình tùy thuộc rất nhiều nơi hạnh phúc của mẹ chồng hay mẹ vợ mình. Nếu chồng hay vợ quý vị không hạnh phúc, thì quý vị không thể hạnh phúc được. Vì vậy chăm sóc, thương yêu mẹ chồng hay mẹ vợ mình tức là chăm sóc cho hạnh phúc của chính mình và của chồng mình hay vợ mình. Khi người Phật tử có người yêu khác tôn giáo, ví dụ như người Ki Tô giáo chẳng hạn, thì anh ta hoặc chị ta cần phải tìm hiểu, học hỏi về truyền thống Ki Tô giáo, phải tôn kính đức Ki Tô và vị Cha đạo của người ấy như mình tôn kính Bụt và thầy Bổn Sư tâm linh của mình. Bởi vì tình bạn rất quý giá và cần thiết cho hạnh phúc của ta và ta muốn trân quý, gìn giữ nó. Những gì thuộc về bạn mình cũng là thuộc về mình. Đó là điều tất nhiên. Những gì bạn mình yêu thích thì mình cũng yêu thích. Tình thương và sự cam kết lâu dài rất quan trọng trong liên hệ vợ chồng, bè bạn hay thầy trò v.v… Quý vị phải thực tập chăm lo tất cả những gì thuộc về người bạn hôn phối của mình đứng về mọi phương diện, bởi vì quý vị quan tâm đến niềm vui và hạnh phúc của người ấy. Phải nhìn cho thật sâu và thấy cho được rằng tất cả mọi người, mọi sinh hoạt đều có liên hệ mật thiết tới mẹ chồng hay mẹ vợ của mình để quý vị có thể thật sự sống an lạc, hòa bình và hạnh phúc với bà; hạnh phúc của quý vị tùy thuộc vào hạnh phúc của mẹ chồng hay mẹ vợ của quý vị. Trước hết ta phải đối xử tử tế với bà. Mỗi khi quý vị tới nhà mẹ chồng, quý vị phải tử tế chào hỏi mẹ chồng và tất cả mọi người trong gia đình, bởi vì họ là những người thân của chồng mình. Dù bà có đối xử hơi lạnh lùng hoặc dễ thương hay không dễ thương, điều đó không quan trọng; quan trọng là mình vẫn giữ thái độ niềm nở, tôn kính, ôm ấp, chấp nhận và giúp đỡ mẹ chồng của mình với tâm độ lượng, bao dung, bởi vì điều ấy có liên quan đến hạnh phúc của mình và chồng. Càng nhìn sâu, càng hiểu và càng bao dung, độ lượng bao nhiêu thì cái bức tường ngăn cách giữa quý vị và mẹ chồng sẽ được xóa đi và quý vị sẽ có khả năng chấp nhận bà như một thành phần quan trọng trong dòng họ tổ tiên của chồng quý vị.

_______________

Hỏi: Kính thưa Thầy, câu hỏi của con có liên quan đến Giới Thứ Nhất của Năm Giới Quý Báu, nhất là về vấn đề giết hại để nghiên cứu – giết những con động vật làm thí nghiệm để mang lại lợi ích cho con người. Con đã ăn chay từ lúc mười tám tuổi và con thấy xót thương cho các loài động vật. Con không ăn mặc những sản phẩm làm bằng da thú và con cố gắng làm bất cứ điều gì có thể trong đời sống hàng ngày của mình để bày tỏ lòng thương đối với các loài động vật. Nhưng con là một nhà khoa học, con phải nghiên cứu để mong tìm ra được những phương thuốc giúp con người chữa trị những căn bệnh như bệnh hủi và bệnh lao v.v… Bởi vì những căn bệnh này không đem lại lợi tức cho các hãng bào chế thuốc men, là một nhà khoa học làm việc cho chính phủ, con có trách nhiệm phụ trách một chương trình lớn để tìm ra những loại thuốc mới chữa trị bệnh lao, một loại bệnh nan y đang gây thiệt mạng cho khoảng ba triệu người mỗi năm. Khi cần thử nghiệm thuốc mới, chúng con phải cho những con thú uống những loại thuốc này trước xem có an toàn và hiệu nghiệm không trước khi áp dụng cho con người. Con nghĩ rằng đây là vấn đề không tương đồng đối với những điều mà cô Val đã chia sẻ với chúng con vào tuần đầu về sự khổ đau không cần thiết của các loài động vật khi dùng chúng để bào chế các chất mỹ phẩm, trang sức và dầu gội. Những loại thuốc trị bệnh lao này sẽ được cung cấp cho con người. Con có thể tự mình thử nghiệm thuốc trước, nhưng con chỉ là một người thôi và điều này sẽ không cho con đủ dự kiện. Chúng con đã thử nghiệm vài loại thuốc tới mức được coi như an toàn cho con người. Tuy nhiên muốn đạt tới phẩm chất cao và có tự tin để cung cấp cho con người, muốn đảm bảo chắc chắn, con phải thiết kế những cuộc thử nghiệm bằng cách cho những con động vật uống trước. Đối diện với vấn đề này, trong lòng con cảm thấy có sự xung đột, mâu thuẫn và bất công đối với các loài động vật và đối với loài người đứng về phương diện tình thương yêu đồng loại, tình thương không phân biệt! Con xin thầy cống hiến cho con một cái nhìn khác về nếp sống từ bi, một cách nhìn khác về vấn đề này trong khi vẫn ý thức rằng mình không có tâm ý muốn giết hại bất cứ một loài sinh vật nào.

Thầy: Điều đầu tiên tôi muốn khuyên là ông nên tiếp tục làm công việc mà ông đang làm, nhưng hãy làm trong chánh niệm. Tôi tin rằng tới một lúc nào đó ông sẽ đạt được những cái thấy và những cái thấy ấy sẽ giúp ông cải thiện công việc của ông theo hướng mà các loài động vật cũng sẽ được bảo hộ, tôn trọng. Cách đây mười lăm năm, có một thiền sinh khách tới thăm tu viện Làng Mai. Ông ta cho tôi biết rằng ông chịu trách nhiệm về việc chế tạo bom nguyên tử và ông đã không có ý thức trong sáng về sự việc chế tạo một loại vũ khí có chức năng tàn phá kinh khủng này. Ông ta cũng đã nói với tôi rằng nếu ông rời bỏ nghề nghiệp này cũng không giúp ích được gì, bởi vì người khác sẽ thay thế ông và tiếp tục công việc của ông. Tôi im lặng một hồi thật lâu, sau đó tôi đã khuyên ông ta nên tiếp tục với nghề nghiệp của ông, nhưng phải làm trong chánh niệm. Làm việc trong chánh niệm sẽ giúp ta phát khởi sự hiểu biết (trí tuệ) và sự hiểu biết ấy sẽ cống hiến cho ta những phương cách hay để cải thiện nghề nghiệp của mình. Nếu ông chỉ làm công việc với tính cách máy móc, ông sẽ tiếp tục làm theo cái lề lối ấy. Giết hại các loài cầm thú cũng vậy. Con người có vị thế lớn mạnh hơn. Nếu các loài cầm thú có khả năng tổ chức biểu tình, chắc chắn chúng sẽ tổ chức những cuộc biểu tình chung quanh văn phòng thí nghiệm của ta. Nhưng vì con người có vị thế mạnh hơn, thông minh hơn nên con người đem chúng ra làm vật thử nghiệm để tìm tòi, khám phá những phương cách cải tiến tốt hơn cho vấn đề điều trị tình trạng sức khỏe, đời sống của con người. Theo tôi, ông nên tiếp tục công việc nghiên cứu và thử nghiệm của ông, nhưng phải hết sức cẩn trọng về những hành động này. Ông đại diện chúng tôi và đang làm công việc ấy trên danh nghĩa của phụng sự. Và chúng tôi nhận thấy rằng chúng tôi cũng chịu trách nhiệm với ông về hành động này. Chúng tôi cũng khổ tâm như ông. Chúng tôi cũng mong tìm ra được những phương cách điều trị mà có thể không cần sử dụng tới những loài động vật khác để thử nghiệm, nhằm giảm bớt những niềm đau nỗi khổ của các loài cỏ cây, cầm thú và đất đá. Bởi vì theo giáo lý của kinh Kim Cương, con người được làm bằng những yếu tố không phải người trong đó có những yếu tố cỏ cây, cầm thú và đất đá. Điều quan trọng là ông phải luôn luôn tìm cách truyền thông tin cho chúng tôi biết chuyện gì đang xảy ra và cuộc thử nghiệm của ông đã đi tới những kết quả đáng kể nào, có những thiệt hại trầm trọng nào… bởi vì rất nhiều người trong chúng tôi còn mù mờ về sự kiện này. Chúng tôi không ý thức được các loài động vật đau khổ đến mức nào khi bị đem ra làm thử nghiệm. Ông là người bị ép phải làm những công việc như vậy; ông là ngọn lửa ở trên chóp của cây nến. Ông gánh chịu nỗi khổ cho tất cả chúng tôi. Ông phải luôn tỉnh thức và cho chúng tôi biết về những gì ông đang làm. Chúng tôi có thể giúp ông sống sâu sắc, chánh niệm hơn và sẽ cùng quán chiếu để giúp ông mau chóng đạt được vài cái thấy (tuệ giác) để cùng nhau làm vơi nhẹ những nỗi khổ niềm đau của các loài cầm thú. Đây là những lời chia sẻ được phát xuất từ kinh nghiệm khổ đau và tuệ giác của bản thân tôi. Vấn đề không phải là được hay không được; chúng tôi chỉ có thể khuyên ông là hãy làm công việc ấy với chánh niệm và chia sẻ với chúng tôi về tình trạng khổ đau của các loài cầm thú để chúng ta cùng gánh chịu trách nhiệm chung. Chúng tôi có thể cống hiến cho ông một vài cái thấy thực tiển để giúp ông thực hiện công việc ấy theo chiều hướng đạo đức và từ bi. Hạt giống của từ bi có thể sẽ càng ngày càng bị teo dần khi chúng ta bị kẹt vào những vấn đề trong đời sống hàng ngày như thế. Chúng ta không thể có hạnh phúc được nếu trong lòng ta không có chất liệu của thương yêu – từ bi. Chúng ta phải thấy rằng những gì mình đang làm đều phát xuất từ tình thương; ta không nên biến mình thành một dụng cụ có tính cách máy móc. Ta không phải là một dụng cụ máy móc, ta là một con người; vì vậy phải luôn luôn bồi đắp và gìn giữ cho tình thương yêu trong ta được sống mãi. Ta phải tỉnh thức và giúp người khác tỉnh thức về điều ấy. Ông đang làm công việc đó cho tất cả chúng tôi và chúng tôi đồng chịu trách nhiệm về mọi hành động mà ông đang làm.

_______________

Hỏi: Kính thưa Thầy, chúng con rất mến mộ đức trầm tĩnh của Thầy, nhưng con xin phép được hỏi Thầy: Thầy cảm thấy như thế nào khi có rất nhiều người nhìn chăm vào Thầy, quay phim, chụp hình và bị những luồng ánh sáng từ bóng đèn của máy chụp hình, quay phim chiếu thẳng vào mắt v.v… Khi có người sùng bái thầy, tôn kính thầy thì thầy cảm thấy như thế nào? Tâm của thầy có bị ràng buộc, giao động không? Có khi nào thầy cảm thấy bực bội, giận hờn, lạnh lùng khi phải đối diện với vấn đề này không? Thầy thực tập như thế nào đối với vấn đề danh vọng? Đối trước những vấn đề như thế, làm sao thầy giữ được tâm mình cho bình lặng và vững vàng? Có khi nào Thầy thực tập thiền ôm với những người Thầy rất thân, gần gũi không?

Thầy: Có chứ! (đại chúng cười ầm lên). Nếu mình là người mới xuất gia, mới được thọ giới, ban đầu có thể mình sẽ cảm thấy khó chú tâm, cảm thấy khó chịu khi có người tới lễ bái để bày tỏ lòng cung kính của họ đối với Tam Bảo. Nhưng đất nước của tôi đa phần dân chúng đều theo đạo Bụt; họ đã quen nhìn thấy hình ảnh của các thầy và các sư cô trong chiếc áo tràng, hay chiếc áo nhật bình nâu. Khi họ thấy bóng dáng của các thầy và các sư cô trong chiếc áo tu màu nâu, họ liền tưởng nhớ đến đạo Bụt, đến đức Thế Tôn và họ luôn luôn bày tỏ lòng tôn kính đối với các thầy, các sư cô. Họ muốn được lễ bái trước mặt các thầy, các sư cô, nhất là đối với các vị đã tu hành lâu năm để cầu phúc. Nếu mình vừa mới được xuất gia, thọ lãnh giới pháp, thì mình sẽ cảm thấy khó chịu, áy náy khi có người tới lễ bái và cung kính mình. Trong trường hợp này, ta không thể bảo họ: ”Xin quý vị đừng làm như thế. Tội nghiệp con. Con chỉ là một sư chú, một sư cô mới xuất gia thôi. Quý vị làm như thế thì con sẽ bị tổn phước.” Theo tôi, các sư chú, sư cô không nên khước từ như thế. Họ phải thực tập ngồi cho thật yên, theo dõi hơi thở và thiết lập chánh niệm vững chãi trước mặt mình. Họ nên thực tập quán tưởng để thấy rằng người ấy đang cung kính và lễ bái Bụt, Pháp và Tăng qua mình. Mình là một biểu tượng đại diện cho Tam Bảo. Là một vị sa di mới được thọ mười giới, quý vị phải học phép thực tập này ngay từ những ngày đầu mới xuất gia. Đối với Phật tử cư sĩ, lễ bái Tam Bảo là để cầu Tam Bảo gia hộ, che chở cho thân tâm họ, gia quyến của họ được an ổn, đời sống được hạnh phúc. Họ lễ bái không phải để tôn vinh cái bản ngã của mình mà để bày tỏ niềm cung kính đối với Bụt, Pháp và Tăng nơi mình mà thôi. Nếu nghĩ rằng người ta lễ bái, cung kính cái bản ngã của mình, thì lầm rồi vậy. Đời tu của ta có thể bị hư hỏng nếu ta có những ý nghĩ sai lầm như thế. Ngay từ giây phút mới xuất gia, sư chú hoặc sư cô phải học cách ngồi yên, thiết lập sự vững chãi, thảnh thơi và cứ mặc nhiên cho người ta lễ lạy, vì họ lễ lạy Tam Bảo qua cái thân tướng người tu của mình. Cũng giống như khi quý vị đứng nghiêm trang chào lá cờ Mỹ; hẳn nhiên quý vị không phải đứng chào cái mảnh vải đang bay phất phới trên cái cột, mà thật sự quý vị đang chào, đang tưởng niệm đến đất nước, con người, các anh hùng và lịch sử của đất nước quý vị, có phải vậy không? Vậy chiếc áo nâu sòng cũng chỉ là một biểu tượng như lá cờ mà thôi. Nếu bị kẹt vào tướng, quý vị sẽ đánh mất bản chất đích thực của mình. Tôi luôn thực tập an trú vững chãi trong chánh niệm và bảo hộ tâm ý mình để tâm hành tham lam danh vọng không động được tới tôi. Chỉ khi nào mình bị thất niệm thì mình mới bị mất mình. Nếu quý vị an trú vững vàng trong chánh niệm, có khả năng gìn giữ và hộ trì tâm ý, thì danh vọng, uy quyền sẽ không động được tới quý vị. Tuy nhiên không phải thầy nào, sư cô nào cũng làm được điều đó một cách dễ dàng. Có rất nhiều thầy và sư cô bị vướng vào cạm bẩy của danh lợi, của uy quyền, của sự hưởng thụ, … họ trở thành những nạn nhân của nếp sống thỏa mãn ngũ dục, đời tu của họ đã bị hư hỏng, tâm Bồ Đề bị hủy hoại. Nhìn lại chính mình, tôi thấy tôi chưa bao giờ bị vướng vào những thứ ấy. Hạnh phúc của tôi được làm bằng những yếu tố khác như yếu tố của an lạc, vững chãi, hiểu biết, thương yêu và tự do. Khi có điều gì vừa bắt đầu trở thành chướng ngại, làm vướng bận thân tâm mình, tôi có khả năng quán chiếu, buông bỏ liền lập tức và làm được một cách dễ dàng. Tôi gọi đó là sự thực tập thả bò. Buông bỏ được những con bò của danh lợi, uy quyền, nếp sống hưởng thụ dục lạc… đạt được tự do và tình thương lớn là sự thắng lợi lớn nhất của người tu. Ví dụ tôi muốn thành lập một trung tâm tu học và công việc này có thể là một công việc cần thiết. Nhưng nếu trong quá trình xây dựng trung tâm tu học, xây dựng tu viện mà tước đoạt mất niềm vui, hạnh phúc và sự thảnh thơi của tôi thì tôi phải buông bỏ. Tôi không cần có một trung tâm tu học nếu công việc xây dựng ấy tước đoạt mất niềm an lạc, hạnh phúc và tự do của mình. Điều đó không có nghĩa rằng tôi thất bại, không thành công trong công trình xây dựng một trung tâm tu học, nhưng vì thấy rằng buông bỏ là một thắng lợi, nghĩa là tôi đã gìn giữ, bảo hộ được tự do của mình. Đó là gia tài quý giá nhất của người tu. Đối với danh vọng cũng vậy. Quý vị có thể đánh mất tự do và hạnh phúc nếu quý vị bị vướng vào danh vọng. Nhìn vào cách sống của một người xuất gia hay tại gia, ta có thể biết ngay được người đó đang có tự do hay không. Dầu quý vị là một nhà triệu phú hay một ông chủ của một công ty lớn hoặc đang giữ một chức vụ cao trong chính phủ, quý vị vẫn không thể gọi là người hạnh phúc nếu quý vị không có tự do nội tâm và không gian chung quanh. Tự do nội tâm và tình thương chính là chất liệu làm cho đời sống của ta trở nên hạnh phúc thật sự, chứ không phải uy quyền, danh lợi, địa vị, nói cho đủ là ngũ dục: tài, danh, sắc, thực và thụy. Đây là những điều ta sẽ được học trong phép quán niệm hơi thở thứ mười bốn của kinh Quán Niệm Hơi Thở: ”Tôi đang thở vào và quán chiếu về tính không đáng tham cầu của vạn pháp. Tôi đang thở ra và quán chiếu về tính không đáng tham cầu của vạn pháp.” Khi đi, tôi trân quý và tận hưởng từng bước chân của tôi. Khi thở vào thở ra, tôi tận hưởng từng hơi thở vào ra của tôi. Mỗi khi ngồi uống trà với đệ tử, tôi tận hưởng từng chén trà tôi đang uống và trân quý sự có mặt của các đệ tử của tôi. Tôi biết tiếp xúc và thưởng thức cái đẹp nhiệm mầu của trời xanh, mây trắng, núi rừng. Tôi sống được như thế là nhờ tôi có tự do và biết trân tự do. Là một người tu, một người thầy, tôi phải có tự do; nếu không, tôi không thể làm thầy được. Nếu tôi bị ảnh hưởng hay vướng vào sự tôn vinh, danh vọng và tài vật thì tôi không xứng đáng là thầy của các đệ tử tôi. Đề tài này không phải để chúng ta bàn luận mà chính là để chúng ta thực tập nhìn sâu và tự mình khám phá. Tôi hy vọng tất cả chúng ta có thể thực tập theo tinh thần này. Nếu chúng ta không có tự do nội tâm, nếu còn bị ràng buộc bởi những con bò của danh vọng, uy quyền và tài vật, chúng ta sẽ không bao giờ đạt tới được chân hạnh phúc, không bao giờ đạt tới được tự do lớn. Điều này được áp dụng cho tất cả mọi người trong Tăng thân.

_______________

Hỏi: Câu hỏi này phát xuất từ sự thắc mắc trong nhóm pháp đàm của chúng con. Chúng con không nghe Thầy nhắc đến tầm quan trọng của sự tích lũy phước đức trong đời hiện tại hoặc tránh tạo ra những nghiệp xấu ác; sự thực tập này có liên hệ tốt xấu như thế nào đối với vấn đề tái sinh trong tương lai. Với tuổi của con, con không biết là mình có nên cố gắng tích lũy phước đức bằng cách thực tập ”an trú trong hiện tại” thêm gấp đôi hay không, nghĩa là con có nên khẩn trương thực tập tích lũy phước đức càng nhiều càng tốt để được tái sanh về hướng an lành trong tương lai hay không?

Thầy: Khi quý vị thực tập thở vào, thở ra, an tịnh thân tâm và mỉm cười là quý vị đang tích lũy được rất nhiều phước đức. Quý vị trở nên một người có hạnh phúc. Tự thân của quý vị tỏa ra được phong thái của một người tự do, thanh thản, nhẹ nhàng và hạnh phúc. Cho dù quý vị không cố gắng làm cho những người chung quanh mình hạnh phúc, nhưng họ vẫn cảm thấy hạnh phúc được sống gần gũi với quý vị. Quý vị cũng làm cho ông bà, cha mẹ, tổ tiên và con cháu của quý vị được hạnh phúc. Quý vị có thể tích lũy phước đức như thế ngay trong mỗi giây phút của đời sống hàng ngày.

Tái sinh là quá trình xảy ra trong từng giây từng phút, trong từng sát na của sự sống. Chúng ta chết đi và sinh ra trở lại trong từng phút giây. Có thể quý vị nghĩ rằng mình đã già, kỳ thực quý vị còn trẻ lắm; quý vị vừa mới sinh ra. Khi nhìn vào chính mình, tôi không cần phải hỏi là sau khi chết tôi sẽ như thế nào? Tôi sẽ đi về đâu? Tôi sẽ sinh ra, sẽ tái sinh dưới hình thức nào? Bởi vì bằng sự quán chiếu sâu sắc trong giây phút hiện tại, tôi thấy tôi đã tái sinh dưới muôn ngàn hình thức của sự sống. Nhìn vào đại chúng, quý vị sẽ thấy sự có mặt của tôi trong các thầy, các sư cô, sư chú, các đệ tử cư sĩ, và có mặt luôn trong từng cọng cây ngọn cỏ… Tôi đã tái sinh trong mỗi quý vị. Quý vị là sự tiếp nối của tôi. Tôi đang có mặt trong từng tế bào cơ thể quý vị đứng về phương diện trí tuệ, tình thương và tâm linh. Tôi là quý vị, quý vị là tôi. Tôi không cần phải chết đi mới bắt đầu tái sinh. Trong giây phút này đây, tôi không cần vội vàng, khẩn trương để thực tập tích lũy phước đức. Có người nói với tôi rằng nếu ba năm đầu làm sa di của Thầy thành công, thì Thầy có thể trở thành một người hạnh phúc trong suốt đời tu. Điều này rất đúng đối với trường hợp của tôi. Phước đức lớn nhất mà mình có thể thực hiện được là đừng bao giờ nghĩ tới chuyện tích lũy nó. Quý vị chỉ cần sống đời sống của mình cho thật chánh niệm, sâu sắc, vun trồng tình thương mỗi ngày, thì hạnh phúc sẽ đến với quý vị liền lập tức ngay trong phút giây của sự thực tập. Đức Thế Tôn có dạy: ‘‘Giáo lý của ta nói ra mầu nhiệm, đẹp đẽ ở chặng đầu, ở chặng giữa và ở chặng cuối.’’ Điều này có nghĩa là quý vị không cần phải thực tập mười năm, hai mươi năm hay ba, bốn mươi năm sau mới có kết quả. Đức Thế Tôn có nói: ‘‘Giáo pháp của ta có tính cách vượt thoát thời gian (akalika); là giáo pháp hiện pháp lạc trú – nghĩa là những lời dạy nếu đem ra thực tập đúng mức thì quý vị có thể đạt tới an lạc, hạnh phúc và giải thoát ngay trong kiếp sống hiện tại. Giây phút mà quý vị bắt đầu thở vào tâm tỉnh lặng, thở ra miệng mỉm cười, là quý vị nếm được an lạc, giải thoát và hạnh phúc ngay trong sự thực tập, chứ không phải là vấn đề thời gian, năm tháng.’’ Trong khi thực tập, ta chỉ cần thực tập, sống với pháp lạc, không khởi tâm mong cầu phước đức thì phước đức tự khắc được tích lũy. Sự thật là tôi đã tái sinh trong rất nhiều hình tướng khác nhau mà có thể quý vị chưa nhận ra. Quý vị nghĩ rằng tôi đang ngồi đây với cái thân tướng có chiều cao một thước mấy này, lớn cỡ chừng này là quý vị lầm rồi. Tôi đang biểu hiện khắp mọi nơi và trong nhiều hình thức khác nhau ngay trong giây phút này. Chúng ta phải tập nhìn để thấy sự thật mầu nhiều của thực tại, của thế giới không sinh không diệt, không một không khác, không đến không đi… mà đừng để bị đánh lừa bởi tri giác sai lầm, bởi các tướng trạng bên ngoài. Trong kinh Bụt có nói rằng chổ nào còn có tướng là chỗ đó còn có sự lường gạt. Chúng ta phải tu tập và quán chiếu để đạt tới cái thấy vô tướng.

_______________

Hỏi: Kính thưa thầy, thế nào gọi là nhìn sâu? Có phải có công thức chăng? Xin Thầy dẫn chứng cho chúng con biết một vài phương cách nhìn sâu, ví dụ như đối với cơn giận, niềm đau và lòng thiếu kiên nhẫn. Sau khi đã thực tập nhận diện, ôm ấp và làm lắng dịu những tâm hành ấy, chúng con phải thực tập như thế nào với những bước kế tiếp?

Thầy: Nhìn sâu là động từ tôi thường sử dụng trong quá trình tu tập và giảng dạy. Chúng ta không phải chỉ thực tập nhìn sâu bằng mắt mà còn thực tập nhìn sâu bằng tai nữa. Sử dụng tai để lắng nghe, gọi là lắng nghe sâu. Nhìn sâu sẽ đưa tới cái thấy sâu, gọi là tuệ giác, tức là sự hiểu biết lớn; lắng nghe sâu sẽ giúp cho cái thấy của ta sâu hơn, phù hợp với thực tại. Chúng ta người nào cũng có hai con mắt và hai lỗ tai, nhưng nếu không có ánh sáng của chánh niệm soi chiếu vào thì không thể thực tập nhìn sâu và lắng nghe sâu được. Ví dụ, muốn nhìn sâu vào bản chất của hơi thở vào, ta không cần sử dụng đến nhãn căn và nhĩ căn, ánh sáng chánh niệm trong vùng ý thức (thức thứ sáu) của ta sẽ làm công việc ấy. Nhìn sâu nghĩa là có mặt đích thực và ý thức sâu sắc với đối tượng ấy, tâm ý ta không bị tán loạn, an trú vững vàng và trở thành một với đối tượng; trạng thái đó gọi là Định. Có khi ta sử dụng mắt, có khi ta sử dụng tai, có khi ta sử dụng tâm thức của ta để nhìn sâu. Thế nhưng Niệm và Định là hai nguồn năng lượng mà ta phải thường xuyên sử dụng để làm nền tảng cho sự thực tập nhìn sâu. Không có Niệm và Định, ta không thể có mặt lâu bền với đối tượng quán chiếu được.

Đôi khi ta cũng có thể vận dụng sự suy tư của ta. Tuy nhiên suy tư có hai loại: Tầm (vitarka) và Từ (vichara). Trong nhiều trường hợp, suy tư có thể dẫn đến sự lầm lạc, ảo giác và dễ bị đánh mất mình. Nhưng thỉnh thoảng, nếu ta biết điều phục những dòng suy tư của ta một cách khéo léo, thì suy tư có thể giúp ta thấy sâu và rõ hơn. Đức Thế Tôn dạy rất rõ về phép thực tập nhìn sâu. Ngài nói rằng ta phải tập nhìn để tiếp xúc cho được với bản chất Vô thường về đối tượng đang được quán chiếu. Chúng ta học giáo lý Vô thường không phải để đem ra bàn luận hoặc nói suông: “Cái này vô thường. Cái kia vô thường. Đời là Vô thường cho nên khổ…” mà phải thật sự tiếp xúc với bản chất Vô thường của mọi sự mọi vật. Chúng ta có thể sử dụng trí năng để nói rằng: ”Tôi biết bông hoa này Vô thường”, nhưng đó có thể chỉ là trên bề mặt ý thứ thôi. Chúng ta phải chạm cho được thực tại của Vô thường trong chiều sâu của nó để vượt thắng ý niệm về Vô thường. Ý niệm về Vô thường không phải là thực tại của Vô thường.

Nếu ta thật sự tiếp xúc được với bản chất của Vô thường, ta cũng đồng thời tiếp xúc được với bản chất của Vô ngã, Tương tức và Niết bàn. Vô thường, Vô ngã và Niết bàn là ba cánh cửa giải thoát – Tam Giải Thoát Môn; có khi gọi là Tam Pháp Ấn. Phần đông chúng ta đã có một ít kinh nghiệm qua sự học hỏi từ kinh sách về giáo lý Vô thường, Vô ngã và Niết bàn rồi tự cho là mình đã hiểu, đã nắm bắt được thực tại. Coi chừng! Có thể mình đang tự đánh lừa mình đấy. Khi đọc lại những lời kinh và quán chiếu lại, ta thấy rằng thực ra mình chưa hiểu, chưa thực nghiệm chút xíu gì về thực tại Vô thường cả. Khi nhìn vào bông hoa này, ta có thể thấy ngay được bông hoa này là Vô thường. Ta chấp nhận sự Vô thường của bông hoa. Nhưng khi va chạm với đời sống thực tế, nhất là đối với bản thân ta, thì hình như cái thấy ấy không dính líu gì đến ta cả; lý do là vì ta chưa thật sự trực nhận, chưa thật sự sống một cách sâu sắc với thực tại của vô thường, ta chỉ thấy một cách hời hợt trên bề mặt của trí năng mà thôi. Nếu sống sâu sắc với thực tại của vô thường, ta sẽ tiếp xúc được với thực tại của vô ngã và của Tương tức – thế giới không sinh không diệt của mọi sự mọi vật. Nếu ta thật sự tiếp xúc được với bản chất không sinh không diệt của mọi sự mọi vật, thì tất cả các phiền não, sầu đau, sợ hãi sẽ tan biến hết. Chừng nào nỗi u sầu, sợ hãi, ghen tỵ và thèm khát còn có mặt, thì ta biết rằng ta chưa thật sự tiếp xúc sâu sắc với thực tại Vô thường, Vô ngã và Tương tức của mọi sự mọi vật.

Phép thở thứ mười bốn của kinh Quán Niệm Hơi Thở giúp ta nhìn sâu vào đối tượng của sự tham đắm, thèm khát của ta và nếu nhìn cho thật thấu đáo, ta sẽ giác ngộ rằng những thứ ấy không phải là đối tượng của chân hạnh phúc. Ta có cái ảo tưởng về hạnh phúc và ảo tưởng ấy thường đem lại cho ta rất nhiều khổ đau. Nếu thật sự hiểu được bản chất của đối tượng ấy không phải là đối tượng đích thực của ước muốn sâu kín của ta, ta sẽ buông bỏ và đạt tới tự do lớn. Những đối tượng mà ta đang chạy theo, đang tìm cầu có thể chỉ là sự thèm khát về danh, lợi, quyền hành và sắc dục. Nếu nhìn thật kỹ vào bản chất của năm dục ta sẽ thấy được tính chất tàn phá và nguy hại của chúng; nếu sa lầy vào chúng ta sẽ đau khổ cực kỳ. Năm dục là cạm bẫy. Nếu vì tri giác sai lầm, ta tiếp tục bám chặt vào cái ước muốn, bám sát vào sự thèm khát của ta, tin rằng những thứ này sẽ đem lại cho ta chân hạnh phúc thì ta sẽ khổ và sẽ làm cho những người thương của ta khổ theo. Hạnh phúc chân thật không thể có được nếu ta không thấy rõ được bản chất đích thực của đối tượng thèm khát, ước muốn của ta. Bản chất đích thực của thực tại chỉ có thể đạt được bằng sự thực tập nhìn sâu – quán chiếu.

Khi đức Thế Tôn dạy về giáo lý Vô thường, Vô ngã, Không, Tương tức, không sinh không diệt v.v… và gợi ý cho ta thấy bản chất của những giáo lý này không phải là những đối tượng của sự tìm cầu, không phải là những đối tượng của sự nắm bắt và bám víu, tức là Ngài đang giúp ta nhìn sâu. Nếu quý vị nhìn vào những đặc tính này của thực tại – Vô thường, Vô ngã, Không, Tương tức, không sinh không diệt – không phải như là những đối tượng của sự tìm cầu, thèm khát, nắm bắt để đàm luận, quý vị mới thật sự được tự do, giải thoát. Có khi vận dụng sự suy tư nhưng có khi quý vị chỉ cần ôm ấp đối tượng của sự quán chiếu. Có rất nhiều cách để thực tập nhìn sâu, nhưng mục đích của ta là để chứng nghiệm thực tại, thâm nhập vào sự sống và trở thành một với sự sống. Đây là điểm then chốt của sự thực tập nhìn sâu, gọi là thiền quán, tiếng Phạn là vipashyana. Muốn thực tập thành công, quý vị phải tinh tấn vun trồng năng lượng của Niệm và Định, vì hai nguồn năng lượng này sẽ giúp quý vị thể nhập sâu sắc vào lòng sự vật và đạt được tuệ giác Vô thường, Vô ngã và Tương tức, an trú được vào cảnh giới của Niết bàn tịch tĩnh. Niết bàn là sự vắng lặng của tất cả các khái niệm.

_______________

Hỏi: Kính thưa Thầy, trong liên hệ tình yêu, muốn cho tình thương được vững bền, hai người phải trở thành một. Điều này nghĩa là thế nào? Tầm quan trọng của nó ra sao? Làm sao chúng ta có thể bảo đảm trong hai người, người mạnh sẽ không chế ngự và đàn áp người yếu?

Thầy: Khi khái niệm một (nhất) bắt đầu sinh khởi, thì khái niệm khác (dị) cũng sinh khởi theo. Cũng giống như phải và trái. Thực tại vượt thoát khái niệm một và khác, phải và trái. Nếu hết lòng áp dụng những lời dạy ấy vào đời sống tu tập hàng ngày, chắc chắn quý vị sẽ tự tìm ra được câu trả lời cho chính mình. Tôi nghĩ rằng câu hỏi này được phát xuất từ trí năng, mà không phải từ kinh nghiệm tu tập. Điều căn bản của sự thực tập là đạt tới tâm hành Xả – tức là Trí vô phân biệt. Hôm trước tôi có đưa ra một ví dụ rất dễ hiểu về tính Tương tức, Vô ngã của bàn tay trái và bàn tay phải. Bàn tay phải không bao giờ nói với tay trái rằng: ”Mày là đồ vô tích sự.” Bàn tay phải không bao giờ kỳ thị bàn tay trái và cũng không tự hào với những tài năng của mình, vì bàn tay phải biết rằng mình với bàn tay trái không phải là hai thực thể riêng biệt, mình và bàn tay trái không phải một cũng không phải khác. Mỗi khi bàn tay trái cần sự giúp đỡ của bàn tay phải, bàn tay phải đến giúp, chăm sóc mà không nói rằng: ”Này bàn tay trái, tao là bàn tay phải. Tao đến đây để giúp đỡ mày. Mày phải ghi nhớ để sau này trả ơn cho tao.” Trong mối quan hệ, nếu quý vị hành xử trên căn bản của trí tuệ vô phân biệt thì khổ đau và giận hờn sẽ được chuyển hóa. Khi quý vị có khả năng sống theo tuệ giác của vô phân biệt, thì vấn đề người mạnh uy hiếp, đàn áp và lợi dụng kẻ yếu chắc chắn sẽ không xảy ra. Nếu ta có khuynh hướng muốn lợi dụng, đàn áp nhau, điều đó chứng tỏ rằng ta chưa có trí tuệ vô phân biệt.

_______________

Hỏi: Kính thưa Thầy, sức khỏe của con rất kém và nó trở thành sự chướng ngại, thử thách trong đời sống của con. Các bác sĩ của con đã phác thảo một phương cách trị liệu mà con thấy rằng con không thể thực hiện được. Vì thế, con đã suy nghĩ rất nhiều về những phương pháp điều trị có tính cách tự nhiên căn cứ trên các loại dược thảo. Một người bạn học về siêu nhiên học tiên đoán rằng con sẽ không thực hiện được sự trị liệu thật sự cho tới ngày 24 tháng Năm, tức là ngày đầu của khóa tu này. Người bạn của con không hay biết gì về sự kiện con đi tham dự khóa tu này cả. Mầu nhiệm thay. Con vô cùng biết ơn Thầy đã từ bi dạy dỗ, hướng dẫn cho con trong những ngày qua và con cảm nhận rằng con có thể chăm sóc, điều trị được tình trạng sức khỏe của con theo những lời chỉ dạy và sự thực tập mà con đã tiếp nhận được từ Thầy. Con không ngờ rằng con có thể tìm thấy những phương pháp trị liệu mầu nhiệm như thế ngay tại khóa tu này. Những phương pháp tu tập chánh niệm mà con đã tiếp nhập được, con tin chắc sẽ cứu mạng sống của con và giúp con đối diện và tiếp xúc với những vấn đề thật của con. Trong văn chương, có nhiều câu chuyện rất hay, rất hấp dẫn nói về những người được cứu độ sau khi họ được các bác sĩ cho biết rằng họ chỉ còn hai tuần nữa để sống. Ở trong khóa tu này con thấy có rất nhiều thông điệp mầu nhiệm, sâu sắc có thể giúp người ta đối trị với những căn bệnh thập tử nhất sinh, những căn bệnh đang đi tới cửa ngõ của cái chết để họ có thể vượt qua được sự sợ hãi về bệnh và chết một cách dễ dàng. Con thấy rằng những thông điệp ấy đang được phổ biến rộng rãi đến với nhiều dân chúng của nước Mỹ. Không biết Thầy có ý định viết một cuốn sách đặc biệt nói về vấn đề xây dựng, chăm sóc về sức khỏe và phương cách điều trị theo nếp sống chánh niệm hay không? Thầy có bao giờ nghĩ về sự thực hiện một cuốn sách như thế để giúp cho những người mang những căn bệnh nan y trầm trọng không? Cuốn sách đó có thể mang tựa đề là ”Hơi Thở Đưa Ta Trở Lại Với Sự Sống- Breathing Took Me Back to Life.”

Thầy: Cám ơn cô. Tôi nghĩ tôi sẽ trông cậy vào ở cô. Nhờ cô viết cuốn sách đó giùm tôi – (đại chúng cười). Theo tôi, mỗi người trong chúng ta phải là một cuốn sách sinh động. Mỗi chúng ta mang theo ngọn đèn trong lòng và ta đã tiếp nhận ánh sáng từ đức Thế Tôn. Ta phải mang cây đèn ấy về nhà, về trú xứ của ta, cố gắng tiếp tục thắp sáng cây đèn ấy để soi chiếu vào thế gian và cứu giúp mọi người chung quanh mình. Xin quý vị hãy viết cuốn sách đó bằng sự sống hàng ngày của chính mình, mà không phải chỉ bằng chữ nghĩa. Quý vị đã được tắm trong dòng sông của chánh pháp, đã tiếp nhận những giáo pháp mầu nhiệm và đã biết giá trị của sự thực tập. Chúng tôi trông cậy nơi quý vị. Mong quý vị cố gắng thực tập để giúp cho chính mình và cho những người chung quanh.

13. Buông bỏ tri giác sai lầm

Chương 13
Buông bỏ tri giác sai lầm

 

Hôm nay chúng ta học về phép quán niệm hơi thở thứ mười sáu về sự thực tập buông bỏ. ”Ta đang thở vào và quán chiếu về sự buông bỏ. Ta đang thở ra và quán chiếu về sự buông bỏ.” Ngày mai chúng ta sẽ học phép quán niệm thứ mười bốn về tính không đáng tham cầu và vướng mắc của vạn pháp.

Tiếp Xúc Với Nguồn Cội

Thực Tập Ba Cái Lạy

Đạo tràng Mai Thôn đã chế tác ra Ba Cái Lạy để giúp chúng ta thực tập tiếp xúc với thực tại Vô ngã, Tương tức của các pháp. Ba cái lạy này có công năng giúp ta mở lòng để ôm ấp, tha thứ, bao dung chính mình, những người thương của mình và những người mình cho là đã làm mình khổ đau, điêu đứng. Nếu thực tập Ba Cái Lạy này cho sâu sắc thì những niềm đau nỗi khổ trong ta sẽ được chữa trị và chuyển hóa rất mau chóng; trái tim của ta sẽ bao la, sâu dày như đất, ta có thể ôm lấy, chấp nhận và chuyển hóa tất cả mọi khó khăn, khổ đau và bất công trong cuộc sống. Ba Cái Lạy này giúp ta hiểu sâu sắc về giáo lý Tam Pháp Ấn – Vô thường, Vô ngã và Niết bàn.  Thực tập thành công Ba Cái Lạy này, ta sẽ chạm tới được bản tính không sinh không diệt, không một không khác, không đến không đi của ta.

Buông bỏ nhận thức của mình, nhất là nhận thức sai lầm là sự thực tập rất quan trọng trong truyền thống đạo Bụt. Kinh Tam Pháp Ấn và sự thực tập Ba Cái Lạy là những phương pháp tu tập rất cụ thể của các phép quán niệm hơi thở thứ mười ba, thứ mười lăm và thứ mười sáu mà đức Thế Tôn đã chỉ dạy. Trong cái Lạy Thứ Nhất, chúng ta thực tập buông bỏ hết tất cả những gì ta nghĩ là ta (ngã), là của ta (ngã sở) để có thể hòa nhập vào dòng sinh mệnh của tổ tiên trong đó có ta. Ta tiếp xúc với các thế hệ tổ tiên, con cháu và cả những thế hệ tương lai ngay trong giây phút hiện tại và trở thành một với họ. Cái Lạy Thứ Hai giúp ta thiết lập mối liên hệ giữa ta với mọi người và mọi loài trong đó bao gồm các loài cỏ cây, cầm thú và đất đá có mặt cùng thời với ta ngay trong giờ phút hiện tại. Trước hết, ta tiếp xúc với các bậc đại nhân, các vị Bồ Tát đang có mặt khắp nơi trên thế giới, đang có mặt quanh ta trong giây phút hiện tại để tiếp nhận năng lượng vững chãi, thảnh thơi, an lạc và tình thương để có đủ sức mạnh mà ôm lấy và chuyển hóa những niềm đau nỗi khổ trong ta, trong gia đình ta, xã hội và thế giới.

Cái Lạy Thứ Nhất

Cái lạy thứ nhất là nói về bản chất Vô thường của các pháp, tượng trưng cho bình diện thời gian. Ta đứng nghiêm trang trước bàn thờ, theo dõi hơi thở chánh niệm và thiết lập thân tâm vững chãi trong giây phút hiện tại. Khi thân tâm đã trở thành một mối, ta quán tưởng về ông bà, tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh của ta. Ý thức rằng các thế hệ tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh của ta đều đang có mặt trong ta, vì vậy ta thực tập không loại bỏ bất cứ một ai dù người đó còn có nhiều yếu kém, dù người đó làm cho ta tuyệt vọng, khổ đau. Và nhìn sâu hơn nữa thì sẽ thấy rằng tuy con cháu của ta (thế hệ tương lai) chưa biểu hiện, nhưng họ cũng đang có mặt trong ta. Nếu ta vì giận ba, hận mẹ và tuyên bố những câu động trời như: “Tôi không muốn dính líu gì với cha tôi hoặc với mẹ tôi hết.” Nói như vậy tức là không có trí tuệ; vì dù muốn hay không muốn thì cha mình hoặc mẹ mình vẫn có mặt trong mình. Đây là một sự thật rất khoa học. Mình là sự tiếp nối của cha mình; mình chính là cha mình. Khi nào ta thấy và chấp nhận được sự thật ấy, thì tất cả những buồn khổ, giận hờn và trách móc trong ta tự khắc tan biến. Nguyên nhân của khổ đau là vô minh và vô minh dẫn tới hành động phóng thể – tức là tình trạng bị bứng gốc ra khỏi dòng sinh mệnh biểu hiện của ta. Nếu ta trở thành những con ma đói, sống đơn độc, vất vưởng, không nơi nương tựa, không biết đâu là quê hương đích thực của mình, đó là vì ta đã bị bứng ra khỏi dòng sinh mệnh biểu hiện của ta. Lạy Thứ Nhất có thể được diễn tả theo trục tung (trục dọc). Trong nội dung của cái Lạy Thứ Nhất, ta thể nhập vào dòng sinh mệnh của ông bà tổ tiên ta. Sau khi chạm tới được nguồn tuệ giác Vô ngã (tương tức), ta lạy xuống, năm vóc sát đất, hai bàn chân duỗi ra trong tư thế phủ phục, buông thư, hai cánh tay đưa song song ra quá đầu một chút và hai lòng bàn tay lật ngửa ra. Lạy xuống với tất cả lòng thành kính và quán tưởng đến hai dòng sinh mệnh thuộc về tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh của ta và thấy được sự có mặt của họ trong ta.

Trước hết ta quán tưởng về tổ tiên tâm linh của ta trong đó có Bụt, có Tổ, có các vị Thánh Tăng, có Thầy Bổn sư của ta, các sư anh, sư chị, sư em của ta… Có thể ta có hờn giận, trách móc một số thành phần nào đó trong gia đình tâm linh của ta và ta đang trốn chạy họ, không muốn chấp nhận họ hoặc muốn loại trừ họ. Nhưng dù muốn hay không muốn thì họ vẫn luôn luôn là tổ tiên tâm linh của ta. Biết rằng trong gia đình tâm linh của ta, có những vị mà giới hạnh, trí tuệ, đức độ và từ bi gần như toàn hảo – họ có nhiều chất liệu hiểu biết và thương yêu, họ có khả chấp nhận, tha thứ và bao dung rất lớn; nhưng cũng có những vị mà giới hạnh, đức độ, trí tuệ và từ bi còn khiếm khuyết, họ còn nhiều vụng về nên họ đã làm cho bản thân họ và người thương của họ khổ đau; nhưng dù họ như thế nào đi nữa, thì họ vẫn là tổ tiên của ta. Ta phải thực tập mở lòng để ôm lấy, chấp nhận tất cả.

Kế đến, ta quán tưởng về gia đình huyết thống của ta trong đó có cha ta, mẹ ta, anh, chị, em và họ hàng thân quyến của ta. Có những người trong gia đình huyết thống của ta mà giới hạnh, đức hạnh, trí tuệ và từ bi gần như toàn hảo, nhưng cũng có những người còn nhiều khiếm khuyết, nhưng họ đều là tổ tiên của ta. Nhìn lại ta thấy rằng trong ta cũng có những yếu tố tích cực như trí tuệ, lòng thương, giới hạnh… gần như toàn hảo, nhưng trong ta cũng còn có nhiều yếu kém, vụng dại. Vậy thì, ta là ai mà không thể ôm lấy, chấp nhận và thông cảm cho tổ tiên của ta? Ta phải thực tập nhìn sâu để thấy, để hiểu, vì khi hiểu được bản chất đích thực của ta rồi, thì ta sẽ ôm lấy, chấp nhận tất cả các thành phần của tổ tiên ta mà không có một niềm oán hận, trách móc và căm thù nào. Có thể ta muốn loại trừ một người nào đó trong gia đình (huyết thống hoặc tâm linh) của ta vì người đó đã làm ta khổ, điêu đứng. Người đó không có tình thương, không có sự bao dung – không toàn hảo. Khi ta không chấp nhận, thông cảm và thương yêu người đó, thì ta cảm thấy bị bứng gốc ra khỏi nền tảng biểu hiện của ta. Ta bị loại trừ ra khỏi dòng sinh mệnh của tổ tiên huyết thống của ta và trở thành ma đói, lang thang, cô độc, đói khát tình thương, đói khát sự hiểu biết và đang đi tìm cái gì đó để bám víu, tin tưởng và nương tựa. Vì vậy cái Lạy Thứ Nhất giúp ta thắp lên ánh sáng chánh niệm, để thấy rằng tất cả những thành phần của tổ tiên ta dù họ có toàn hảo hay không toàn hảo, họ đều là tổ tiên của ta, họ đang có mặt trong ta.

Giai đoạn thứ ba là ta quán tưởng đến con cháu của ta hoặc trong trường hợp của tôi, thì tôi quán tưởng về các đệ tử của tôi. Trong gia đình của ta, có những đứa con rất dễ thương dễ mến, rất ngoan, rất hiền và có trách nhiệm; những đứa con ấy gần như toàn hảo về mọi phương diện, nhưng cũng có những đứa khác còn nhiều yếu kém, gây nhiều khó khăn, khổ đau và phiền muộn cho ta. Nhưng dù chúng có như thế nào đi nữa, chúng đều là con cái của ta. Vậy thì ta là ai mà không chấp nhận con ta với tất cả những cái hay và cái khiếm khuyết của nó; ta là ai mà tuyên bố những câu thiếu trí tuệ rằng: ”Mày không phải là con tao. Mày muốn đi đâu thì đi cho khuất mắt. Đồ bất hiếu.” Nếu ta tập nhìn với con mắt thương yêu, với tuệ giác vô ngã (tương tức), thì ta sẽ thấy rằng mình chính là con mình; con mình là sự tiếp nối của mình; và mình sẽ có khả năng mở rộng trái tim để ôm lấy con mình vào lòng. Chấp nhận tất cả tổ tiên và con cháu của ta mà không kỳ thị, loại trừ bất cứ một ai là ta đạt tới được tuệ giác tương tức và vô ngã; tuệ giác này có công năng giải phóng ta, đem lại cho ta rất nhiều an vui và hạnh phúc.

Cái Lạy Thứ Nhất giúp ta nhớ lại phép trao truyền về tính Không của thân thể. Quán sát sâu sắc vào thân thể, ta tiếp xúc được với các thế hệ tổ tiên của ta. Họ đã trao truyền hết cả con người của họ cho ta. Ta là sự tiếp nối của tổ tiên, ông bà, cha mẹ; ta với tổ tiên của ta tương tức. Như chúng ta đã được học kỳ trước, người tiếp nhận sự trao truyền, vật được trao truyền và người trao truyền là một. Tính Không của sự trao truyền tức là ba yếu tố của sự trao truyền – người trao truyền, vật được trao truyền và người tiếp nhận sự trao truyền là một, tương tức, trống rỗng – không có một thực thể riêng biệt. Khi các thầy, các sư cô đi khất thực, các thầy và các sư cô thực tập tuệ giác về tính Không trong phép khất thực. Người cúng dường, vật được cúng dường và người tiếp nhận sự cúng dường là một, là tương tức. Đây là phép thực tập hành Xả – một trong Bốn Tâm Vô Lượng, nghĩa là không kỳ thị, không phân biệt, là khả năng ôm lấy hết tất cả, không loại trừ một ai. Đó là phép cúng dường và tiếp nhận rất cao thâm của đạo Bụt. Ta phải tập thương theo tinh thần ấy, nghĩa là thương như thế nào để người thương và người được thương trở thành một.

Khi người cha thương người con trai hoặc người con gái, người cha không kể lể rằng: ”Tao đã cho mày tất cả mọi thứ, đã vất vả nuôi mày ăn học thành tài. Thế mà mày không đáp lại tình thương ấy, ngược lại mày đối xử tệ với tao, không biết vâng lời… Mày là đứa con bất hiếu.” Đó không phải là tình thương theo tinh thần Xả của Bụt. Tình thương ấy còn mang tính chất có điều kiện. Khi ta hiến tặng theo tinh thần Xả – tức là lòng ta bao dung, độ lượng, không tính toán, so đo, đòi hỏi… tức là ta đang hiến tặng một món quà quí giá nhất. Khi thương theo tinh thần Xả (upeksha), thì thân tâm ta cảm thấy nhẹ nhàng, tự do mà người thương của ta cũng được nhẹ nhàng, tự do, có nhiều không gian. Đó là tình thương cao đẹp và chân thật nhất. Thương là thương thôi, không cầu mong sự đền đáp, trả ơn. Nếu có sự mong cầu đền đáp thì đó không phải là tình thương đích thực, không phải tình thương theo tinh thần Xả. Tình thương như thế còn bị kẹt vào ý niệm ta và người, một và khác, ý niệm về ngã và phi ngã. Ta cần phải học hỏi thêm nghệ thuật thương yêu theo tinh thần Từ, Bi, Hỷ và Xả, vì nếu không biết thương yêu theo tinh thần của bốn tâm không biên giới (Tứ Vô Lượng Tâm), thì tình thương của ta sẽ trở thành ngục tù cho người khác, sẽ trở thành thù hận.

Khi lạy xuống trước bàn thờ tổ tiên, ta đem hết sự thông minh, trí tuệ và trái tim của ta để lễ lạy, để tiếp xúc với đất. Ta thực tập nương tựa vào tính sâu dày và kiên trì của đất và trút hết những niềm đau nỗi khổ, tuyệt vọng của ta vào lòng đất. Đất có khả năng tiếp nhận tất cả và chuyển hóa thành hoa thơm cỏ lạ. Khi lạy xuống trong tư thế phủ phục, năm vóc sát đất, ta tiếp xúc sâu sắc với đất, trở thành một với đất và tự nhiên trái tim của ta được mở ra, vì lúc ấy trái tim của ta và lòng đất bao la, sâu dày là một. Ta tiếp nhận, ôm ấp tất cả mọi thứ để chuyển hóa. Trong tư thế phủ phục như thế, có thể ta sẽ rơi lệ vì thấy rằng lâu nay mình quá khờ dại, vì thiếu hiểu biết, thiếu thương yêu nên mình đã tự làm khổ chính mình và làm khổ những người mình thương. Có lẽ ta đã khóc nhiều lần rồi, nhưng những dòng nước mắt ấy, ta đã kín đáo giấu lại vào tim như những dòng lệ đá. Từ trước tới giờ ta không có khả năng khóc thành tiếng. Ta đã từng sống trong cô đơn, không có khả năng tiếp xúc và ôm lấy tổ tiên và con cháu của ta. Ta luôn tìm cách trốn chạy họ. Bây giờ là lúc cần phải trở về để nhận diện và chấp nhận họ vào lòng với tuệ giác và tình thương yêu mà ta đã được khai mở qua sự thực tập. Khi lạy xuống, ta thực tập buông bỏ những hiềm hận, giao phó và phơi bày hết thân tâm của ta cho ông bà tổ tiên. Ta không che giấu bất cứ điều gì. Trong lúc ấy, tâm ta không còn một chút mảy may chống đối, phản kháng hoặc che giấu; ta trở thành một với dòng sinh mệnh tâm linh và huyết thống của ta. Làm được như thế thì những vết thương, những niềm đau nỗi khổ trong ta mới được chữa trị. Có những thiền sinh đã chia sẻ với tôi rằng sau một giờ thực tập thiền lạy như thế, họ đã chuyển hóa và bớt khổ rất nhiều. Họ đã trút được nhiều gánh nặng của khổ đau, cô đơn, tuyệt vọng và cay đắng vào lòng đất và đem lại sự chuyển hóa và trị liệu rất mau chóng.

Quý vị thực tập lạy xuống trong tư thế phủ phục cho đến khi nào quý vị trút hết được những niềm đau nỗi khổ và tuyệt vọng vào lòng đất mới đứng dậy. Làm được như thế thì ông bà, tổ tiên và con cháu trong quý vị sẽ mỉm cười, vì quý vị có khả năng nối lại được sự cảm thông, có khả tha thứ, hiểu biết và thương yêu. Biết rằng chúng ta vẫn còn là con người phàm phu. Chúng ta còn vụng dại nên đã gây nhiều lầm lỗi và tạo ra nhiều khổ đau cho nhau. Khi chúng ta biết thở trong chánh niệm, an trú trong hiện tại, trong từng hơi thở, từng bước chân và tiếp xúc được với thực tại sâu sắc, thì trí tuệ phát sinh. Trí tuệ ấy có công năng giải phóng ta ra khỏi ngục tù của khổ đau, tuyệt vọng. Lúc ấy những dòng nước mắt của hạnh phúc và của niềm tha thứ trong ta tuôn trào. Cơ thể của ta cũng được nhẹ nhàng, dễ chịu ra. Khổ đau của ta đã gây ra những căn bệnh trong thân thể mà ta nghĩ là không thể chữa trị được. Nhưng nếu ta thực tập Thiền Lạy, cho phép thân thể ta tiếp xúc và nối lại nhịp cầu cảm thông với ông bà, tổ tiên và trải hết lòng ra, phơi bày hết những nỗi khổ niềm đau của ta lên tổ tiên và cầu sự nâng đỡ, thì niềm đau của ta sẽ được chuyển hóa và trị liệu.

Cái Lạy Thứ Hai

Cái Lạy Thứ Hai được diễn tả theo trục hoành (chiều ngang) – bây giờ và ở đây, biểu trưng cho bình diện không gian. Ta đứng nghiêm trang trước bàn thờ, chắp tay búp sen, thở vào, thở ra thật chánh niệm và quán tưởng vào chính mình. Với sự thực tập nhìn sâu, ta thấy được bản tính tương quan tương duyên (vô ngã) của các pháp. Ta trở thành một với các vị Bồ Tát sống đang có mặt chung quanh ta. Sự có mặt của họ đã làm cho mọi vật trên thế gian này trở nên mát mẻ, dễ chịu, tràn đầy tình thương và niềm khích lệ. Nhìn cách họ đi, đứng, nằm, ngồi, phụng sự, mỉm cười, ta tiếp xúc và thừa hưởng được sự vững chãi, thảnh thơi, tình thương và hiểu biết nơi họ. Chúng ta không cần phải sinh về cõi Tịnh Độ mới có thể gặp được các vị Bồ Tát như thế; hiện tại họ đang có mặt chung quanh ta và khắp nơi trên hành tình này. Có thể các vị Bồ Tát đang biểu hiện dưới hình thức của những vị bác sĩ, y tá, tác viên xã hội đang hành động tích cực cho hòa bình, cho nhân quyền như Mẹ Teresa đang làm việc cứu đời ở các nước nghèo khổ. Họ không phải là những ý niệm, những hình ảnh trừu tượng. Chúng ta rất sung sướng và hạnh phúc khi biết rằng họ đang có mặt đó quanh ta. Thở vào và thở ra cho sâu sắc, chánh niệm và ý thức rằng họ luôn có mặt đó cho ta và ta có thể tiếp nhận được năng lượng thương yêu, hiểu biết của họ bất cứ lúc nào. Nếu khi nào cảm thấy không có năng lượng, nản chí, ta có thể thực tập trở về với hơi thở chánh niệm và tiếp xúc với sự có mặt của các vị Bồ Tát như thế, ta sẽ được khôi phục ngay. Họ là những người đang làm đẹp, đang trang nghiêm cõi nước của ta bằng năng lượng chánh niệm, vững chãi, niềm vui và tình thương của họ. Chúng ta nguyện thực tập để trở thành một với họ. Nếu ta không tiếp xúc được với họ, không mở lòng ra để cho năng lượng thương yêu trong ta được khơi dậy, thì đó là sự mất mát rất lớn. Nếu cứ để cho ta bị chôn vùi trong niềm đau nỗi khổ, trong sự chán chường, tuyệt vọng, sợ hãi hoặc chìm đắm trong nếp sống tiện nghi, hưởng thụ thì ta sẽ không có cơ hội tiếp nhận năng lượng của họ. Vì thế cho nên cái Lạy Thứ Hai này được chế tác ra để giúp ta thực tập nối lại sự cảm thông của ta với các vị Bồ Tát. Khi ta lạy xuống và tiếp xúc với mặt đất trong tư thế phủ phục, ta tiếp xúc được với tất cả mọi loài chúng sinh đang có mặt với ta trong giây phút này.

Trong khi thực tập cái Lạy Thứ Hai, ta thở vào và thở ra trong chánh niệm, cảm nhận sự có mặt của chư vị Bồ Tát và trở thành một với các vị. Quán chiếu để thấy rằng ta và chư vị không phải là hai thực thể riêng biệt; để thấy rằng bản tính của ta và của chư vị thường rỗng lặng, tương tức. Cây cổ thụ đứng sừng sững ở sau vườn kia cũng là một vị Bồ Tát. Cây cổ thụ ấy đã đứng vững, can trường suốt cả một mùa Đông băng giá. Khả năng chịu đựng của nó trải qua bao mùa băng giá, nóng bức và khắc nghiệt của thời tiết rất vĩ đại. Mỗi khi mùa Đông sắp đến, nó phải trút bỏ hết lá xuống để có đủ sức mạnh sống sót qua mùa giá lạnh. Khi mùa Xuân về, nó cho ra những cành lá xanh mơn mởn, cống hiến cái đẹp nhất của nó cho sự sống. Nhìn vào thân cây, ta thấy cây đích thực là một vị Bồ Tát. Sự có mặt xanh tươi, mát mẻ của cây nâng đỡ, che chở và đem lại sự tươi mát cho ta, cho ta dưỡng khí để thở. Ta có thể nhận diện ra được rất nhiều vị Bồ Tát như thế quanh ta – trong đó bao gồm cả các loài thực vật, khoáng vật và động vật. Nếu mở lòng ra để cho những vị Bồ Tát như thế đi vào và trở thành một với ta, thì ta sẽ có rất nhiều năng lượng, nhiều sức sống. Với nguồn năng lượng vô biên ấy, ta có thể tiếp xúc và nâng đỡ những ai đang bị đàn áp, bế tắc, đói khổ và bệnh tật, những ai đang bị giam hãm trong địa ngục không có cơ hội cất tiếng kêu gọi công bình. Thế giới con người, cầm thú và thiên nhiên – thực vật và khoáng vật đang bị tàn phá trầm trọng. Vậy thì ai đang khổ? Con người đang khổ, mạng sống của con người đang ở trong tình trạng hiểm nguy, báo động và đe dọa vì con người tương quan tương duyên với mọi loài khác. Con người được làm bằng những yếu tố không phải con người. Đó là giáo lý của kinh Kim Cương – là giáo lý Vô ngã, Tương tức, Duyên khởi. Nếu con người tiêu diệt các loài khác, trong đó có các loài cầm thú, cỏ cây và đất đá tức là con người đang tự hủy diệt chính mình. Chúng ta là những quốc gia hùng mạnh đã và đang chế tạo vũ khí bom đạn tối tân và luôn luôn sản xuất kịp thời để bán cho các nước chậm tiến. Để những vũ khí ấy được tiêu thụ, chúng ta phải tạo ra những gây cấn, mâu thuẫn… giữa các nước lân cận để có lý do đi tới chiến tranh, tàn sát lẫn nhau. Chúng ta là những em bé nghèo Uganda chỉ còn da bọc xương. Chúng ta là những em bé gái chưa tới tuổi thành niên đã bị hải tặc hãm hiếp rồi quăng xuống biển sâu. Nếu không tiếp nhận được năng lượng vô biên của các vị Bồ Tát thì làm sao ta có thể ôm lấy được nỗi khổ lớn lao ấy? Làm sao ta có thể cứu độ được những nạn nhân này, những người đang khổ đau cực kỳ như thế ngay trong giây phút này? Ta thấy mình là những bậc đại nhân, là những vị Bồ Tát xuất hiện trên thế gian và thấy mình cũng là những nạn nhân kia đang đau khổ cực kỳ và cũng là kẻ gây ra khổ đau. Ta lạy xuống, năm vóc sát đất, tiếp xúc với đất và duy trì tư thế ấy cho đến khi nào ta trở thành một với đất. Chỉ khi nào ta trở thành một với đất, thể nhập được với khả năng tiếp nhận, ôm ấp và trị liệu vô biên của đất, ta mới chuyển hóa được khối khổ đau cực kỳ ấy mà thôi; ta mới có khả năng ôm lấy tất cả vào vòng tay thương yêu không kỳ thị của ta.

Khi thực tập cái Lạy Thứ Hai, ta nhìn sâu vào bản tính tương tức của các pháp để thấy rằng ta là một, ta tương tức với cây cỏ quanh ta, ta là một với đám mây đang bay lơ lửng trên trời, ta là một với ánh sáng mặt trời đang thể nhập vào cây cỏ, ta là một với tổ tiên ta và với các vị Bồ Tát, đại nhân, các bậc thiện tri thức đang có mặt khắp nơi trong giây phút hiện tại. Chúng ta cần thực tập tiếp xúc với những yếu tố lành mạnh, vững chãi trong ta và quanh ta. Có rất nhiều người đã để cho tâm mình bị xâm chiếm, trấn ngự bởi những tâm hành lo buồn, sợ hãi và tuyệt vọng. Niềm tuyệt vọng trong ta có thể dẫn ta tìm tới cái chết. Ta phải thực tập tiếp xúc với những hạt giống lành mạnh trong tâm thức ta và quanh ta như hạt giống của niềm tin, hy vọng, vững chãi và tình thương. Không nên tìm tới cái chết chỉ vì một tâm hành, một cảm thọ, một cảm xúc không dễ chịu. Làm được như thế, ta sẽ trở nên vững chãi và mạnh mẽ hơn. Ta hãy thực tập tiếp xúc với chư vị Bồ Tát đang có mặt quanh ta và đừng để cho những yếu tố tiêu cực xâm chiếm, trấn ngự. Nhiều người trong thời đại chúng ta, nhất là những người trẻ thường bị lâm vào nạn xì ke ma túy, á phiện, dâm dục, ăn chơi trác táng, chán ghét cuộc đời và trở nên rất bạo động. Họ đang bị chìm đắm trong biển khổ. Nhưng cũng có nhiều người vẫn còn rất khỏe mạnh, vững chãi và tràn đầy năng lượng thương yêu, lý tưởng, họ sẵn sàng có mặt để giúp đỡ bất cứ nơi nào cần cứu giúp. Mỗi khi bước được một bước chân có an lạc, vững chãi và thảnh thơi hoặc thở được một hơi thở có chánh niệm thì ta đã có khả năng chuyển đổi được tình trạng.

Cái Lạy Thứ Ba

Buông Bỏ Hình Hài Và Thọ Mạng

Cái Lạy Thứ Ba có công năng giúp ta vượt thoát sinh tử, buông bỏ ý niệm về hình hài và thọ mạng, chứng nhập Niết bàn. Nếu thực tập thành công hai cái lạy đầu, thì ta đã chạm được thế giới Niết bàn rồi. Nếu thực tập không thành công trong hai cái lạy đầu thì khó mà thành công được trong sự thực tập cái Lạy Thứ Ba. Khi buông bỏ được bản ngã – cái ta và cái của ta (ngã và ngã sở), hòa nhập được vào dòng sinh mạng của tổ tiên, là ta đã chạm tới được Niết bàn. Đây là phép quán niệm hơi thở thứ mười sáu của kinh Quán Niệm Hơi Thở: ‘‘Ta đang thở vào và quán chiếu về sự buông bỏ. Ta đang thở ra và quán chiếu về sự buông bỏ.” Buông bỏ nghĩa là không vướng mắc, bám víu vào bất cứ một đối tượng, một ý niệm nào, nhất là tri giác sai lầm (vọng tưởng) của ta về thực tại. Ta phải buông bỏ tri giác sai lầm của ta đi thì lúc đó mới có cơ hội thấy được sự thật về thực tại. Có một vị Thiền Sư Việt Nam vào thế kỷ thứ ba, tên là Tăng Hội – Sơ Tổ Thiền Tông Việt Nam, đã dạy rằng ta phải thực tập buông bỏ tri giác sai lầm cho rằng hình hài này là tôi, là của tôi; tôi là hình hài này; ngoài hình hài này tôi không có gì hết, tôi là không, là hư vô. Đó là sự thực tập buông bỏ mà Ngài đã nói bằng ngôn ngữ Hán Việt, gọi là Phóng khí xu mạng. Chúng ta đã có cơ hội nhìn sâu và thấy rằng bản chất của ta mênh mông, rộng lớn hơn cái hình hài bé nhỏ này. Những hiện tượng mà ta đang tiếp xúc đều là những biểu hiện của pháp thân ta. Ta là hình hài này, nhưng ta cũng là mây đang bay giữa trời, là con chim non đang hót lảnh lót trên cành cây, là muôn vàn tinh tú xa tít trên trời v.v… Ta là cả vũ trụ bao la. Thấy được như vậy thì tử sinh chỉ là cửa ngõ ra vào, tử sinh chỉ là trò chơi đi trốn đi tìm, không thể động được tới ta.

Có lẽ chúng ta còn nhớ kinh Độ Người Hấp Hối – một bản kinh được ghi chép lại những lời hướng dẫn của Ngài Xá Lợi Phất cho cư sĩ Cấp Cô Độc thực tập trong khi Ông lâm bệnh nặng. Trong kinh, Thầy Xá Lợi Phất mời ông cư sĩ Cấp Cô Độc thực tập thiền quán cùng với thầy: ”Này cư sĩ Cấp Cô Độc, chúng ta hãy cùng thực tập chung với nhau. Thở vào, tôi ý thức rằng thân này không phải là tôi, là của tôi. Thở ra, tôi không bị kẹt vào thầy này. Tôi là sự sống thênh thang. Tôi chưa bao giờ từng sinh mà cũng chưa bao giờ từng diệt.” Thực tập theo lời hướng dẫn như thế, ta tiếp xúc được với Niết bàn, với thế giới không sinh không diệt của ta. Ta thấy bản chất của ta là không sinh không diệt. Hình hài của ta cũng giống như các pháp (đối tượng của nhận thức) khác. Khi các điều kiện (nhân duyên) hội tụ đầy đủ và sự vật biểu hiện thì ta cho là có. Khi có một điều kiện thiếu vắng và sự vật ấy ngưng biểu hiện, ta cho là không. Thực tại vượt thoát cả hai ý niệm: có và không, sinh và diệt. Khi quán chiếu thâm sâu vào lòng thực tại và tiếp xúc được với bản chất Vô thường, Vô ngã và Tương tức của các pháp thì ta được giải thoát, tự do. Khi nhìn vào đám mây và cây cỏ, ta phải nhìn để thấy cho được ta và các pháp ấy không phải là hai thực thể tách rời nhau. Phải thấy rằng ta là một, tương tức với tất cả các pháp. Đó là ý nghĩa của giáo lý mà đức Thế Tôn đã dạy: ”Thử hữu tức bỉ hữu – cái này có vì cái kia có.” Phải tập nhìn mọi sự vật với con mắt Vô thường, Vô ngã, Tương tức, Vô tướng mới chạm tới được bản chất chân thực của thực tại. Tôi đang đứng trên vùng đất của tiểu bang Vermont, miền Đông nước Mỹ, nhưng tôi thấy rằng mình cũng đang đứng trên toàn cõi nước Mỹ mà không cần phải di chuyển đi đâu hết, bởi vì Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Nam Mỹ, Tây Mỹ và Đông Mỹ… tuy tên gọi có khác nhưng tất cả đều dính liền một khối. Tôi đang đứng đây, nhưng tôi cũng đang đứng trên khắp hành tinh này. Cái nhận thức của tôi đã thay đổi. Nếu quý vị vướng vào khái niệm về chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa sô-vanh, niềm tin cho rằng đất nước mình là cao hơn các nước khác, giá trị, văn minh hơn các nước khác, thì quý vị chỉ tiếp xúc được với một phần nhỏ của thực tại thôi. Nếu người Do Thái và người Pa-lex-tin thấy rằng vùng đất nơi họ đang sinh sống là của chung, thuộc về tất cả mọi người, thì với tuệ giác đó, họ sẽ đem lại hòa bình, hòa giải, hiểu biết và thương yêu cho nhau. Ta không thể tiếp xúc được với Niết bàn nếu ta hành xử theo thái độ độc quyền, loại trừ, theo cái nhìn nhị nguyên. Chỉ có hành xử với tấm lòng bao dung, thương yêu, ôm lấy tất cả mọi người, ta mới tiếp xúc được với niết bàn, với hạnh phúc chân thật và đem lại hòa bình cho nhau. Nhìn sâu vào lòng sự vật, ta thấy sự Tương quan tương duyên (Tương tức) của chúng. Quý vị không thể loại trừ người Pa-lex-tin ra khỏi người Do Thái và ngược lại. Hạnh phúc và hòa bình chỉ có thể có được khi ta đạt tới tuệ giác Tương tức. Hòa bình chân thực không thể thực hiện được nếu không đạt tới tuệ giác này.

Niết bàn là nền tảng biểu hiện của ta. Giống như nước là nền tảng của sóng. Trong truyền thống giáo lý Cơ Đốc, có giáo lý Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Bản chất của Ba Ngôi thực ra chỉ là một. Đó là giáo lý Không (sunyata) – sự trống rỗng của Ba Ngôi. Ngôi này không thể có được nếu không có hai Ngôi kia. Vì thế, đức Ki-Tô vừa là con của Thượng Đế, nhưng cũng vừa là con của con người. Tất cả các pháp đều an trú trong tự tính Niết bàn của nó, tức là trống rỗng, không có thực thể biệt lập. Đó là sự thật của thực tại. Hòa bình, hạnh phúc, hiểu biết và thương yên chân thực không thể có được nếu chúng ta không có khả năng tiếp xúc được với bản chất Vô thường, Vô ngã (tương tức) và Niết bàn. Niết bàn là gì? Niết bàn là sự tắt ngấm tất cả các ý niệm trong đó có các ý niệm về ngã và phi ngã, về ta và về của ta. Khi sử dụng danh từ ”ngã”, ta ý thức rằng cái ngã ấy chỉ được làm bằng những yếu tố không phải ngã – tức là phi ngã; thế giới phát triển được tạo nên bởi thế giới chậm tiến. Các pháp đều tương tức nhau. Tuy ta sử dụng những chữ ‘‘tôi, anh…’’, nhưng ta không bị kẹt vào những từ ngữ và khái niệm ấy; chúng chỉ là những giả danh. Không có cái gì tự nó mà thành lập được. Bước đầu của sự thực tập là buông bỏ ý niệm cho rằng thân này là tôi, là của tôi.

 

Hòa Vào Dòng Sinh Mạng Của Tổ Tiên

Khi thực tập Ba Cái Lạy, xin quý vị nhớ quán tưởng trong mình có một đứa bé năm tuổi rất mong manh, đã bị thương tích. Đứa bé ấy cũng có thể là cha mình hoặc mẹ mình đã bị thương tích lúc còn nhỏ; những vết thương ấy chưa được chữa trị và họ đã truyền lại cho ta. Bây giờ ta được may mắn gặp chánh pháp, gặp Thầy hay, bạn hiền hướng dẫn, ta biết cách chăm sóc đứa bé bị thương ấy trong ta. Trong trường hợp này, không những ta chữa trị được vết thương cho ta, mà ta chữa trị luôn cho tất cả các thế hệ ông bà, tổ tiên của ta. Các thế hệ tổ tiên của ta vì không may mắn gặp được chánh pháp, gặp được Thầy hay, bạn tốt, nên đã không biết cách chăm sóc, chuyển hóa và chữa trị những niềm đau nỗi khổ của họ và vì vậy họ đã trao truyền lại cho ta. Bây giờ ta có thể nói chuyện với đứa bé bị thương ấy, mỉm cười, ôm ấp và chăm sóc nó mỗi ngày.

Nếu thấy mình có những tâm hành phán xét chính mình và người khác thì nên thực tập nhìn sâu và tiếp xúc với tổ tiên của mình để thấy rằng hạt giống này không phải của riêng mình. Hạt giống này đã được trao truyền lại cho mình qua nhiều thế hệ. Nếu vì thiếu khéo léo mà mình đã gây ra khổ đau thì phải thấy rằng mình không nên gánh chịu trách nhiệm một mình. Tổ tiên của mình cũng chịu trách nhiệm về nỗi khổ niềm đau ấy. Tâm hành tiêu cực là đối tượng của sự trao truyền. Khi ta có khả năng thấy được những hành động không khéo léo ấy là trách nhiệm chung của cả dòng họ tổ tiên, gia đình, xã hội v.v…, thì ta sẽ không tự đày đọa tấm thân của ta như thế. Ta có thể nói: ”Mình biết mình đã gây ra lầm lỗi này cùng với tổ tiên của mình. Bây giờ mình đã được tiếp xúc với giáo pháp của Bụt nên biết cách chăm sóc, ôm ấp và trị liệu. Mình sẽ thực tập hết khả năng của mình để chuyển hóa những năng lượng tập khí này và giải phóng cho mình và cho tất cả các thế hệ tổ tiên của mình.” Ta nguyện sẽ làm hay hơn tổ tiên của ta. Bằng sự thực tập hơi thở, bước chân và nụ cười chánh niệm, bằng phương pháp nhận diện, chăm sóc và ôm ấp, ta có thể chuyển hóa những tập khí chưa hay của ta và của ông bà, tổ tiên ta.

Ta chuyển hóa những vụng về, lầm lỗi trong tâm thức ta. Biết rằng tất cả những lầm lỗi, khổ đau đều do tâm tạo – Bao nhiêu lầm lỗi cũng do tâm, đó là câu kệ trong bài kệ Sám Hối. Tâm là một họa sĩ có thể vẽ vời ra tất cả mọi chuyện trên đời. Đây là lời đức Thế Tôn đã dạy trong kinh Hoa Nghiêm. Trong khi thực tập cái Lạy Thứ Nhất, chúng ta vận dụng tuệ giác về phép trao truyền của tính Không để chọc thủng màng vô minh. Nếu ta có một chứng bệnh nào đó, ta có thể thực tập trở về tiếp xúc với tổ tiên của ta, bởi vì có thể trong dòng họ tổ tiên của ta có những người rất khỏe mạnh, không bị ốm đau, tuổi thọ rất cao, ta có thể cầu cứu họ, xin họ yểm trợ cho ta. Quý vị có thể nói: ”Bà nội ơi, xin bà giúp cháu. Cháu biết bà rất khỏe mạnh.” Thở vào, thở ra cho thoải mái, có chánh niệm và mời gọi những tế bào mạnh khỏe trong cơ thể mình hoạt động mạnh mẽ trở lại để chúng có thể đi tới ôm lấy và chăm sóc những tế bào ốm yếu trong cơ thể. Trong tư thế nằm, ta trở về với hơi thở và cho phép các bắp thịt của cơ thể ta buông thư hoàn toàn để nó có cơ hội được nghỉ ngơi, tự chữa trị, để cho các tế bào khỏe mạnh chăm sóc và chữa trị các tế bào đang ốm đau.

Nếu trong khi thực tập mà cảm thấy mình đã trở thành một, đã hòa nhập vào được dòng sinh mạng của tổ tiên và các thế hệ tương lai, thì sự thực tập của ta đã thành công. Cảm giác cô đơn, cảm giác bị loại trừ trong ta sẽ được tan biến. Đất sẽ ôm lấy tất cả vì ta đã trở thành một với đất. Tất cả chúng ta đều là con trai, con gái của đất. Ta với đất là một và ta thừa hưởng được sức mạnh vô biên của đất. Đất là tổ tiên của ta.

Sống Tỉnh Thức

Ba mươi năm về trước, Hiệp Hội Hòa Giải tổ chức một cuộc họp mặt gồm một số các nhà khoa học trên một ngọn núi thuộc miền nam nước Pháp. Sư Cô Chân Không, nhà nghiên cứu sinh học đã có mặt trong cuộc họp ấy. Họ đã thực tập ngồi thiền, đi thiền và đàm luận với nhau về đề tài môi trường sinh thái. Thời bấy giờ ít có những tổ chức đề cập đến vấn đề môi trường sinh thái. Họ cố gắng gây ý thức về tình trạng nguy hại của môi trường và gởi bản báo cáo tới cho hàng ngàn các nhà khoa học khắp nơi trên thế giới. Vài tháng sau, họ nhận được trên bốn ngàn chữ ký của các nhà khoa học và đệ trình lên Tổng Thư Ký của Liên Hiệp Quốc. Liên Hiệp Quốc và Hiệp Hội Hòa Giải đã lập ra một tổ chức lấy tên là Đại Đồng và bắt đầu cùng nhau làm việc để gây ý thức về vấn đề bảo vệ môi trường. Hai năm sau, Liên Hiệp Quốc đã tổ chức cuộc hội thảo thế giới về vấn đề môi trường tại thành phố Stockholm. Thời gian ấy chúng tôi không thể mường tượng được một ngày nào đó sẽ có những hãng máy bay cấm hành khách hút thuốc trên máy bay. Mỗi khi đi máy bay hoặc đi xe lửa, tôi cảm thấy rất khó chịu khi bị ngồi trong toa xe có những người hút thuốc. Bây giờ ước mơ đó đã được thực hiện, người ta đã giác ngộ. Đã có quá nhiều phi hành khách yêu cầu các hãng máy bay nên cấm hút thuốc và sự yêu cầu đã được thực hiện. Tỉnh thức là điều có thể thực hiện được nếu chúng ta quyết tâm thực tập. Chúng ta thực tập tự giác và giác tha, nghĩa là tự thức tỉnh mình trước, sau đó giúp người khác thức tỉnh. Đây là con đường duy nhất để trả lời, giải quyết cho tình trạng khó khăn, bế tắc. Bây giờ con người đầu tư quá nhiều thì giờ vào vấn đề sản xuất những sản phẩm tiêu thụ. Hiện nay trên các bao thuốc lá người ta đã ghi những câu cảnh báo cho những người hút thuốc ý thức để tự bảo vệ sức khỏe. Đây là hoa trái của sự giác ngộ. Mỗi một cá nhân chúng ta phải tỉnh thức, mỗi một cộng đồng chúng ta phải tỉnh thức và mỗi một dân tộc chúng ta phải tỉnh thức. Chúng ta có thể tiến hành việc thành lập những đạo luật mới để ngăn cấm sản xuất những sản phẩm có tính chất độc hại như vũ khí, súng đạn, phim ảnh và sách báo có chứa đựng đầy dẫy chất liệu thèm khát, tình dục, bạo động và hận thù để bảo vệ cho ta và cho con em của ta, để xây dựng một môi trường sống có hòa bình và an ninh cho bản thân, gia đình, dân tộc và nhân loại.

Tỉnh thức tiếng Phạn là bodhi hay budhi. Bụt là Người Tỉnh Thức Buddha. Trong ta người nào cũng có hạt giống tỉnh thức, người nào cũng có khả năng hiểu và thương. Cái Lạy Thứ Hai giúp ta tiếp xúc với những yếu tố tích cực, lành mạnh và thánh thiện ấy. Khi tiếp xúc được với những hạt giống tốt, ta sẽ  gây được niềm tin cho rất nhiều người quanh ta. Chúng ta phải nâng đỡ nhau, phải thực tập như một tăng thân. Nhìn thấy một tăng thân, một cộng đồng cùng sống chung hòa hợp, tu tập chánh niệm tinh chuyên, ta có niềm tin, niềm hy vọng cho tương lai. Chúng ta không thể để cho các thế hệ tương lai mất đi niềm tin và hy vọng. Họ là sự tiếp nối của chúng ta. Nếu họ mất niềm tin, niềm hy vọng thì chúng ta sẽ mất hết gia tài tâm linh cao quý mà Bụt, Tổ đã gầy dựng qua mấy ngàn năm. Chúng ta phải sống đời sống hàng ngày của ta như thế nào để cho con cháu của chúng ta có một tương lai tươi sáng, đẹp đẽ và an bình.

Chúng ta biết con em của chúng ta đa số xem truyền hình hàng giờ mỗi ngày và tiếp xúc rất nhiều chất liệu bạo động, sợ hãi, thèm khát, hận thù và tuyệt vọng. Công việc của các nhà giáo dục là tạo ra một hoàn cảnh, một môi trường sống nơi mà các em có cơ hội được tiếp xúc với những yếu tố lành mạnh, tươi mát và trị liệu trong tự thân của các em và chung quanh các em. Trong đại chúng đây có rất nhiều giáo chức. Chúng ta nên đến với nhau, pháp đàm cùng nhau; dùng sự thông minh, khôn khéo và khả năng sáng tạo của mình để thực hiện công trình, đồ án nhằm tạo dựng một môi trường học đường có an ninh, hòa bình, nơi mà các em biết sống an lạc, hạnh phúc, thương yêu và nâng đỡ nhau như anh chị em một nhà. Đây cũng là một khía cạnh thực tập về cái Lạy Thứ Hai. Chúng ta phải đề nghị các vị đại diện trong quốc hội của ta thực tập chung với chúng ta và đưa ra những đạo luật để bảo vệ an ninh, hòa bình cho ta và cho con em của chúng ta. Bây giờ là lúc chúng ta cần tới với nhau và tu tập chung trong một nhóm nhỏ, một cộng đồng, một Tăng thân, một thành phố và một dân tộc. Chúng ta không chỉ thực tập riêng rẻ như một cá nhân nữa. Tuệ giác chung (tuệ giác cộng đồng) được làm bằng tuệ giác của từng cá nhân và ngược lại. Cả hai đều phải nương vào nhau mới có đủ sức mạnh, hiểu biết để thấy cho rõ điều gì nên làm và điều gì không nên làm trên bình diện cá nhân, gia đình, quốc gia và quốc tế. Chúng ta cần sự thức tỉnh của cả cộng đồng, dân tộc… Chánh niệm là khí giới của ta. Nếu không có ánh sáng chánh niệm thì những năng lượng tiêu cực như chiến tranh, giết hại, trộm cắp, tà dâm, bạo động và kỳ thị v.v… sẽ tiếp tục xảy ra triền miên khắp mọi nơi. Chánh niệm có công năng giúp ta ý thức được hành động nào cần phải dừng lại và hành động nào cần được tiếp tục phát triển để đem lại an ninh, hạnh phúc và hòa bình cho nhân loại.

Thế Giới (Lokadhatu) và Pháp Giới (Dharmadhatu)

Hạnh phúc không phải là vấn đề cá nhân. Nếu người thương của ta không có hạnh phúc thì ta cũng không thể hạnh phúc được. Hạnh phúc hay khổ đau đều được tạo tác bởi tâm thức cá nhân và tâm thức cộng đồng. Danh từ thế giới (lokadhatu) và pháp giới (dharmadhatu) diễn tả được thực tại. Lokadhatu diễn tả thế giới của sự tương đối, phân chia, hạn hẹp và những khác biệt; nó thuộc về thế giới Tích môn; trong khi đó, dharmadhatu là thế giới Bản môn, thế giới của Chân như, Bản thể, Tương tức, Vô thường và Vô ngã. Nếu ta bị kẹt vào sự phân biệt, thì thế giới tích môn sẽ có mặt liền lập tức. Trong thế giới tích môn, các pháp trông như có mặt ngoài nhau, riêng lẻ và đơn điệu; ví dụ như mây có mặt ngoài bông hoa, anh có mặt ngoài tôi v.v… Đây là thế giới mà chúng ta đang sống, nếu không khéo nhìn, không có tuệ giác, bị vô minh che lấp, thì ta bị đánh lừa bởi thế giới của tướng trạng – thế giới Tích môn. Chúng ta chia chẻ thực tại ra thành nhiều mảnh nhỏ và cho rằng mình chỉ là một mảnh nhỏ đứng riêng lẻ, đơn điệu, không dính dáng gì đến mọi vật chung quanh. Sở dĩ ta đau khổ vì ta phân biệt, kỳ thị nhau, vì ta bị kẹt vào nhận thức sai lầm mang tính cách đối đãi như: có và không, sinh và diệt, ngã và phi ngã, da trắng và da đen, người theo đạo Hồi và người theo đạo Ấn Độ v.v… Nhà vật lý nguyên tử David Bohn đã sử dụng hai danh từ để diễn tả về sự Tương quan tương duyên của điện tử rất giống với hai danh từ thế giới và pháp giới. Ông ta nói rằng điện tử biểu hiện trên hai bình diện: Tích môn (explicate order), tức là bình diện trong đó mỗi hạt điện tử trông giống như có mặt ngoài những hạt điện tử khác và bình diện Bản môn (implicate order) tức là bình diện trong đó mỗi hạt điện tử đều chứa đựng tất cả các hạt điện tử khác. Cách đây không lâu, một nhóm các nhà khoa học đã khám phá ra rằng hạt nguyên tử (sub-atomic particle) có khối lượng. Từ xưa tới nay chúng ta nghĩ rằng neutrino không có khối lượng. Nhưng với sự thử nghiệm, các nhà khoa học thời bây giờ đã cho thấy rằng neutrino có thể thay đổi và phát ra năng lượng, vì thế nó có khối lượng. Các nhà khoa học rất phấn khởi về sự khám phá này. Tôi nghĩ rằng tuệ giác này đáng lý có thể được khám phá sớm hơn. Nếu quý vị có học giáo lý cái một chứa đựng cái tất cả, thì tại sao neutrino không thể chứa đựng khối lượng và các yếu tố khác được? Theo khái niệm của đạo Bụt về mahabhuta – bốn đại, thì mỗi yếu tố như đất, nước, không khí, lửa, không gian và thức đều chứa đựng tất cả các yếu tố khác trong nó. Khi đạt được cái thấy Tương tức, Vô ngã, về cái một chứa đựng cái tất cả, thì ta tiếp xúc được với pháp giới mầu nhiệm tràn đầy ánh sáng, tình thương và hiểu biết trong ta và chung quanh ta. Pháp giới mầu nhiệm ấy cũng chính là cõi Tịnh Độ hay Nước Chúa. Pháp giới là thực tại trong đó các pháp có mặt trong nhau. Bông hoa được cất chứa trong ánh sáng mặt trời và ánh sáng mặt trời được cất chứa trong bông hoa; cha có mặt trong con và con có mặt trong cha. Cho nên thế giới của pháp giới có rất nhiều ánh sáng. Khi ta bước được từng bước trong pháp giới, thì mỗi bước chân của ta đem lại rất nhiều an lạc và hạnh phúc. Ta phải buông bỏ ý niệm cho rằng thân này là tôi, là của tôi, còn những thân khác không phải là tôi, họ là kẻ thù của tôi. Ta có thể bước vào pháp giới ngay bây giờ và ở đây nếu ta chạm tới được tuệ giác Tương tức và Vô ngã. Khi ta tiếp xúc được với bản chất của Tương tức nơi mỗi người, ta sẽ chuyển hóa được khổ đau và chấm dứt được cái cảm giác cô đơn, trống vắng. Chỉ cần quán chiếu cho sâu sắc là ta thấy được ngay. Nếu ta cứ giam mình trong thế giới của Tích môn, tướng trạng (lokadhatu), cái thế giới mà trong đó các pháp có mặt ngoài nhau, thì đó là điều hết sức đáng tiếc; ta sẽ không bao giờ chạm tới được thế giới của Bản môn – tức là pháp giới (dharmadhatu).

Tâm Hành Xả (upeksha)

Xả là yếu tố thứ tư của bốn tâm thương yêu rộng lớn, là tình thương không điều kiện, không phân biệt, là khả năng ôm lấy tất cả mà không có ý muốn loại trừ. Nhìn vào hai bàn tay này ta thấy hình như bàn tay phải làm hầu hết mọi việc; bàn tay phải đã viết hàng trăm bài thơ, thư pháp, và thỉnh chuông v.v… nhưng nó không bao giờ tự hào. Nó không bao giờ nói với bàn tay trái rằng: ”Mày là đồ vô tích sự. Mày không biết làm thơ, viết thư pháp như tao.”  Bàn tay phải có trí tuệ Vô phân biệt, tức là trí tuệ của Xả – upeksha. Nó biết rằng nếu không có bàn tay trái thì nó cũng không làm được gì. Những gì nó thực hiện được cũng nhờ có sự đóng góp, giúp đỡ của bàn tay trái và nó luôn luôn hành xử theo cái thấy ấy. Có một lần tôi muốn treo khung hình lên tường; tay trái của tôi cầm đinh, tay phải cầm búa, thay vì đóng vào đinh, tôi đã đóng nhầm vào bàn tay trái, đau điếng. Lúc đó tay phải lập tức buông búa xuống và ôm lấy bàn tay trái để chăm sóc. Bàn tay phải không cần phải nói một câu xin lỗi nào cả. Đó là cách hành xử rất đẹp. Bàn tay phải thấy mình là một với bàn tay trái và chăm sóc bàn tay trái là phản ứng rất tự nhiên. Trong khi chăm sóc, bàn tay phải không có một mảy may phân biệt và nghĩ rằng: ”Tao là bàn tay phải. Tao đang chăm sóc, giúp đỡ mày đấy. Mày phải nhớ để sau này trả ơn cho tao.” Bàn tay phải đã thực tập tình thương không điều kiện, không phân biệt, tình thương theo tuệ giác Vô ngã, Tương tức. Rất mầu nhiệm. Cơ thể của ta vốn có sẵn trí tuệ vô phân biệt – nirvikalpajnana. Chúng ta có thể phát triển trí tuệ Vô ngã, Tương tức, Vô phân biệt để làm hướng đạo cho ta trong đời sống hàng ngày. Chúng ta phải tập nhìn bằng con mắt thương yêu, bằng con mắt không phân biệt, không kỳ thị như cách hành xử của bàn tay phải đối với bàn tay trái. Chúng ta hãy hành xử theo tinh thần vô phân biệt đối với anh chị em, đối với cha mẹ, con cái và bè bạn của ta. Người Ấn Độ Giáo và người Hồi Giáo, người da trắng và người da đen, người Do Thái và người Pa-lex-tin phải đối xử với nhau theo tinh thần của trí vô phân biệt. Chỉ có trí tuệ Vô phân biệt mới có khả năng lấy đi nỗi sợ hãi, nghi kỵ và đem lại hòa bình, tình thương chân thật cho cả hai nước và cho nhân loại. Bàn tay phải và bàn tay trái không hề chống đối, sợ hãi hay hận thù nhau. Với trí tuệ Vô phân biệt, bàn tay phải và bàn tay trái biết là chúng tương quan tương duyên với nhau, có mặt trong nhau. Những gì xảy ra cho bàn tay phải cũng đồng thời xảy ra cho bàn tay trái. Phép thực tập chánh niệm – dừng lại và nhìn sâu là con đường duy nhất để giúp ta tiếp xúc với bản chất Tương tức, Tương nhập của các pháp, cái thấy này làm phát khởi trí tuệ Vô phân biệt trong ta. Nếu hành xử theo tinh thần Vô phân biệt trí, ta sẽ tạo dựng được an lạc và hạnh phúc cho ta, cho gia đình ta, cho xã hội và thế giới.

Mười lăm năm trước tại trung tâm Thiền Tassajara, lần đầu tiên tôi được nếm cái bánh qui làm bằng bơ đậu phụng. Tôi rất thích. Vì thích quá nên tôi đã học cách làm bánh qui đậu phụng. Tôi tưởng tượng khi những chiếc bánh qui đang được nướng trong lò, chúng có thể so đo, kỳ thị nhau và xô đẩy nhau như muốn nói với nhau rằng: ”Tránh ra để tao đi vào giữa. Mày không xứng đáng được đứng ở vị trí đó.” Chúng không biết rằng chúng vốn có cùng một bản chất, chúng có mặt trong nhau. Không phải chỉ có những chiếc bánh qui hành xử với nhau như vậy, mà có thể chúng ta cũng hành xử với nhau không khác gì những chiếc bánh qui kia. Đó là vì chúng ta không tiếp xúc được với bản chất đích thực của mình. Bản chất đích thực của chúng ta là Tương tức, Vô ngã. Nhưng chúng ta đã không biết sử dụng trí tuệ Vô phân biệt trong ta để nhìn mọi sự mọi vật đúng như thật.

Có bốn yếu tố của tình thương chân thật, gọi là Tứ vô lượng tâm. Yếu tố thứ nhất là Từ – maitri, khả năng hiến tặng niềm vui và hạnh phúc. Yếu tố thứ hai là Bi – karuna, khả năng làm vơi nhẹ, chuyển hóa khổ đau và u sầu. Yếu tố thức ba là Hỷ – mudita, khả năng sống an vui, tươi mát và giúp người khác sống tươi vui, nhẹ nhàng, lấy cái vui của người làm cái vui của mình. Tình thương chân thật phải có khả năng đem lại niềm vui cho chính mình. Nếu khóc lóc, than trách suốt ngày suốt đêm thì ta biết rằng đó không phải là tình thương đích thực. Yếu tố thứ tư là Xả – upeksha, khả năng thương yêu đồng đều, không phân biệt, không loại bỏ một ai. Khi ta thật sự thương người nào, thì trong tâm ta không có chất liệu phân biệt, kỳ thị giữa ta và người ta thương; ta trở thành một với người đó. Chỉ có trí tuệ Vô phân biệt, trí tuệ bình đẳng ta mới thương được một cách toàn hảo, chân thật và tẩy sạch được những cấu uế của khổ đau, tri giác sai lầm và sự kỳ thị, phân biệt trong ta. Càng thương ta càng có nhiều không gian và người thương của ta cũng có nhiều không gian. Nếu trong bản chất thương yêu của ta không có chất liệu Xả thì đó chưa phải là tình thương đích thực, ta cần phải nhìn lại và thực tập thêm. Tình thương được căn cứ trên những ý niệm về ngã, nhân, chúng sanh, về trong và ngoài, một và khác v.v… thì tình thương ấy chưa phải là tình thương đích thực, chưa phải là tình thương sâu sắc và độ lượng theo tinh thần của Tứ vô lượng tâm.

Buông Bỏ Ý Niệm Ngã

Các nhà tâm lý trị liệu có thể học được rất nhiều về giáo lý này. Mục tiêu của ngành tâm lý trị liệu là khôi phục lại một con người cường tráng, khỏe mạnh từ thể chất đến tinh thần. Mặc dầu quý vị có một thể chất và tinh thần khỏe mạnh, cường tráng, quý vị cũng sẽ khổ nếu bị kẹt vào ý niệm về ngã. Hạnh phúc chân thật chỉ có thể có mặt khi quý vị buông bỏ được ý niệm về ngã. Nếu ý niệm về ngã của quý vị còn mạnh mà quý vị đang thương yêu và sống chung với người nào thì càng thương, quý vị càng tạo ra nhiều mâu thuẫn, xung đột giữa ta và người. Khi buông bỏ được cái bản ngã và trở thành một với người ta thương, tức là ta đang thực tập Vô ngã. Thực chứng được Vô ngã thì hạnh phúc, hiểu biết và thương yêu trong ta sẽ tăng tiến không thể lường được. Ta phải thực tập nhìn sâu để thấy cho được bản chất Tương tức, Vô ngã của các pháp và để thấy rằng ngã chỉ được làm bằng những yếu tố không phải ngã – tức là Vô ngã. Tuệ giác Vô ngã sẽ nâng cao phẩm chất của sự trị liệu và chuyển hóa rất lớn cho đời sống, giúp ta vượt thoát sinh tử và đạt tới tự do lớn. Thiền sư Tăng Hội có dạy rằng ta phải thực tập buông bỏ ý niệm về thọ mạng (Phóng khí xu mạng). Ta tin rằng mình bắt đầu sinh vào giờ đó, ngày đó, năm đó, rồi người ta cấp cho tờ giấy khai sinh và sau này khi ra đi (chết), người ta cấp cho tờ giấy khai tử. Ta phải buông bỏ khái niệm cho rằng mạng sống của ta chỉ kéo dài khoảng bảy mươi, tám mươi hoặc chín mươi năm, hoặc vì ta mắc bệnh nan y và bác sĩ cho biết rằng ta chỉ có thể sống thêm hai năm nữa, sau đó ta sẽ không còn, sẽ trở thành hư vô, đoạn diệt. Chúng ta phải buông bỏ ý niệm rằng ta từ không mà trở thành có và tới một thời điểm nào đó ta sẽ từ có mà trở thành không, thành hư vô, đoạn diệt. Những ý niệm này không thể áp dụng được vào thực tại. Thực tại vượt thoát ý niệm có – không, còn – mất, đến – đi, sinh và diệt.

Chúng ta đã thực tập quán chiếu vào bản chất của một tờ giấy và thấy rằng tờ giấy không phải từ không mà trở thành có, nói cách khác tờ giấy không thể tự nó mà có mặt. Trước khi trở thành tờ giấy, nó đã biểu hiện dưới nhiều hình thái khác của sự sống rồi như cây rừng, ánh nắng mặt trời, đám mây, đất, nước, mưa, thời gian, không gian, tâm thức v.v… Nếu ta lấy một trong những yếu tố ấy ra khỏi tờ giấy, thì tờ giấy không biểu hiện được. Tờ giấy có tràn đầy tất cả mọi yếu tố, trừ một yếu tố mà thôi, đó là thực thể riêng biệt, là tự ngã. Ta đã đốt tờ giấy với hy vọng là có thể biến tờ giấy thành không, thành hư vô, nhưng không thể làm được. Tờ giây đã chuyển thành những hình thái khác của sự sống như khói, hơi ấm hòa nhập vào vũ trụ và tro giấy sẽ được ủ thành phân xanh, rồi một ngày kia sẽ biến thành đóa hoa nở tươi trước sân nhà… Những ý niệm của ta về có và không, sinh và diệt đều chỉ là những ý niệm và ta phải thực tập buông bỏ. Chúng không thể áp dụng được vào thực tại. Thiền Sư Tăng Hội đã nói rằng bản chất của ta chưa bao giờ từng sinh và cũng sẽ không bao giờ diệt. Sự sống chỉ là sự biểu hiện và tiếp nối.

Ta biết rằng sức nóng làm cho nước bốc hơi tạo thành mây; vì vậy mây không phải từ không mà trở thành có, không thể tự nó mà có được. Nhìn kỹ vào đám mây đang bay lơ lững giữa trời, ta có thể thấy được kiếp sống trước (tiền kiếp) của mây. Khi gặp khí lạnh, mây chuyển sang đời sống mới, đó là mưa. Mây không thật sự chết, mây chỉ chuyển thành mưa và tiếp tục đời sống mưa. Làm mây đã đẹp, mà làm mưa cũng đẹp, mầu nhiệm không kém. Mây không kinh sợ, hoảng hốt tí nào khi chuyển thành mưa, ngược lại mây tấu lên khúc nhạc trầm hùng hoặc nhẹ nhàng, thanh thoát trong khi thấy mình đang chuyển thành mưa. Làm mây bay thảnh thơi trên không gian cũng mầu nhiệm, hạnh phúc, mà làm mưa rơi xuống đất và hòa nhập vào thành một với những dòng sông, ruộng đồng, cây cỏ cũng mầu nhiệm, đẹp đẽ và hạnh phúc không kém. Không có gì sinh, không có gì diệt. ”Xá Lợi Tử nghe đây, Thể mọi pháp đều Không, không sinh cũng không diệt, không nhơ cũng không sạch, không thêm cũng không bớt…” Đó là những câu kinh trong Tâm Kinh Bát Nhã mà chúng ta tụng đọc mỗi ngày. Những khái niệm về tạo sinh và đoạn diệt đều bị bốc cháy. Không phải chỉ có đức Bồ Tát Quán Tự Tại mới thốt lên những lời như thế, mà các nhà khoa học qua sự khám phá cũng đã nói lên tuệ giác ấy bằng một loại ngôn ngữ tương tự. Nhà khoa học người Pháp tên Lavoisier đã nói như thế về bản chất của vật thể và năng lượng. Ông ta nói rằng: ”Không có gì sinh, không có gì diệt.” Tuy ông ta có thể chưa bao giờ học Phật, nhưng ông ta đã nói lên những khám phá của mình không khác gì những lời trong Tâm Kinh Bát Nhã. Các pháp vốn không sinh, không diệt, mà chỉ có sự biểu hiện. Đôi khi ta gọi là tái sinh hoặc sinh ra trở lại, nhưng kỳ thực danh từ biểu hiện là chính xác nhất.

Thấy được như vậy thì sinh và diệt không động được tới ta, ta hoàn toàn tự do. Bản chất của ta là không sinh, không diệt. Ta thực chứng được bản chất chân thực của ta bằng sự thực tập quán chiếu và tiếp xúc sâu sắc với thực tại. Đây là con đường thực tập duy nhất để chuyển hóa những tâm hành sợ hãi của ta. Nếu có cái thấy chân chính và xác thực như thế về thực tại, ta sẽ được giải phóng từ những buồn khổ, sợ hãi về có và không, sinh và diệt, đến và đi, còn và mất, thành và hoại. Đức Thế Tôn đã nói tất cả các tâm hành sợ hãi và thèm khát đều phát sinh từ vô minh – tức là không có sự sáng suốt – tuệ giác. Nhờ có sự sáng suốt mà ta đạt được giải thoát, tự do. Nhưng sự sáng suốt không thể có được nếu ta không thực tập nhìn sâu (quán chiếu). Nhìn sâu là khía cạnh thứ hai của thiền tập, gọi là thiền quán. Xin nhắc lại, thiền được làm bằng hai yếu tố: Chỉ và Quán. Trước hết ta thực tập dừng lại – Chỉ; ta làm cho những hoạt động của thân và tâm ta lắng yên trở lại, thiết lập chánh niệm và chánh định vững vàng và sau đó thực tập nhìn sâu – quán chiếu để thấy được bản chất đích thực của thực tại. Nếu quá bận rộn trong đời sống hàng ngày, không có thì giờ, cơ hội để thực tập chánh niệm, vun trồng định lực để có khả năng tiếp xúc sâu sắc với thực tại mầu nhiệm – thực tại của không sinh không diệt, không có không không, không tới không đi… vốn là những lời dạy cao thâm của truyền thống đạo Bụt, thì thật là thiệt cho ta.

Buông Bỏ Hình Hài và Thọ Mạng
(Phóng Khí Xu Mạng)

Thiền Sư Tăng Hội có dạy chúng ta về sự thực tập buông bỏ (Phóng khí xu mạng), buông bỏ ý niệm rằng mình chỉ giới hạn trong hình hài này. Buông bỏ ý niệm cho rằng thọ mạng của mình chỉ kéo dài khoảng năm mươi năm. Phải thực tập nhìn sâu để thấy rằng mình không chỉ giới hạn trong cái hình hài một thước mấy này, mấy chục kí lô này, mình cũng là đám mây đang bay thong dong giữa trời, là mưa, là ánh nắng mặt trời, là bông hoa, rừng cây, là thời gian, không gian vô tận, là tâm thức v.v… và tiếp xúc với thực tại không sinh không diệt của mình. Phải khéo sử dụng trí thông minh trong đời sống hàng ngày, nương tựa Tăng thân và sự thực tập nhìn sâu để tiếp xúc được thực tại nhiệm mầu ấy của chính tự thân. Tôi biết có những người đã thực tập quán chiếu, tiếp xúc với giây phút lâm chung (hấp hối) của họ với tâm niệm hoan hỷ, hiểu biết và an vui.

Khi còn là một sư chú sa di trẻ, trong khi thiền quán về cây chuối tôi khám phá ra một điều rất lý thú. Nếu muốn, quý vị có thể quán tưởng về một cây chuối non có ba tàu lá. Tôi nhìn sâu vào tàu lá thứ nhất và thấy nó bung ra toàn vẹn; tàu lá thứ hai vẫn còn cuộn tròn; tàu lá thứ ba còn nhỏ xíu nằm trong lòng hai tàu lá kia, tôi gọi là tàu lá chuối út. Tàu lá lớn nhất là tàu lá chị đã phơi bày toàn thân lá của mình giữa nắng, mưa và vui sống, tận hưởng trọn vẹn đời sống của mình như một chiếc lá. Trong khi phơi bày toàn diện thân lá của mình như thế thì lá chị cũng đang làm một điều rất có ý nghĩa, đó là tiếp nhận ánh sáng mặt trời (quang tử), nước mưa, nhựa sống, chất khoáng để nuôi lớn các lá em và thân cây chuối. Lá chị thấy rằng mình và các lá em của mình là một. Tuy ba lá biểu hiện lớn bé khác nhau, nhưng tất cả đều sinh ra từ một thân cây chuối. Chiếc lá thứ nhì cũng làm như thế đối với lá em út của mình. Nó cố gắng phơi bày toàn diện thân lá của nó để tiếp nhận ánh sáng mặt trời, nước mưa và tận hưởng sự sống như lá chị của mình. Nó ca hát, múa reo mỗi khi có gió lay động. Nó cũng giúp cho lá em út phát triển và lớn lên. Với trí tuệ Vô phân biệt, chiếc lá đầu và chiếc lá thứ nhì đều thấy mình có mặt trong chiếc lá út, mình và lá út là một, tương tức. Tới khi chiếc lá đầu sắp bị tàn úa, khô héo, nó không than khóc, ưu sầu, khổ não bởi vì nó thấy rằng bây giờ nó đang sống trong hai chiếc lá em. Lá em đang tiếp nối sự sống của mình. Phần khô héo của thân lá sẽ trở về lại với đất, làm màu mỡ cho đất và biến thành phân xanh, chất dinh dưỡng để nuôi thân cây chuối và nuôi các lá chuối non khác trong đó có hai lá chuối em. Lá chuối chị hoàn toàn tự do.

Cũng như chiếc lá chuối chị, đời sống của ta cũng có một ý nghĩa nào đó. Chúng ta có mặt trên cõi đời này để thực hiện một điều gì đó rất sâu xa. Trong khi tận hưởng đời sống của mình, chiếc lá đồng thời nuôi dưỡng các em của mình và trao truyền tất cả niềm vui, niềm hy vọng, hạnh phúc, những yếu tố tốt đẹp nhất hay nói cách khác, toàn thể bản chất, tinh anh của mình cho các em. Rồi các em tiếp tục công việc của mình, giúp mình chăm sóc, nuôi dưỡng các em trong thế hệ kế tiếp. Nhờ trí tuệ Vô phân biệt mà chúng ta biết thương yêu, chăm sóc nhau, không ghen tỵ, đấu tranh, hận thù và loại trừ lẫn nhau. Chúng ta không bị kẹt vào ý niệm ngã; nhờ vậy mà có thể sống hòa điệu với nhau như anh chị em một nhà. Khi tôi hướng dẫn cho em gái của tôi tu tập, tôi không tự đặt mình vào cương vị của một vị thầy và xem em gái tôi là học trò. Tôi có thể trao truyền những cái đẹp nhất của đời mình cho em gái tôi bởi vì tôi thực tập giáo lý buông xả, bao dung, không phân biệt, giáo lý về Không, Vô ngã, Tương tức trong sự trao truyền. Theo giáo lý này, ta thấy không có người trao truyền, vật trao truyền và người tiếp nhận. Sự trao truyền xảy ra một cách tự nhiên, âm thầm bởi nó được thực hiện trong tinh thần Xả – tức là không phân biệt giữa chủ thể và đối tượng. Cái đó gọi là Vô phân biệt trí hay Bình đẳng tánh trí. Mỗi tế bào của cơ thể ta chứa đựng tất cả các thông tin mà ta cần biết về vũ trụ. Mỗi tế bào chứa đựng tất cả các thông tin, dữ kiện về gốc gác của dòng họ tổ tiên ta trong đó gồm có con người và những yếu tố không phải con người như cỏ cây, cầm thú, đất đá, xã hội, văn hóa, văn minh. Đó là giáo lý cái một chứa đựng cái tất cả. Chúng ta phải buông bỏ ý niệm về một và khác. Đây là bài tập của phép quán niệm hơi thở thứ mười sáu trong kinh Quán Niệm Hơi Thở mà Bụt đã chỉ dạy. Chúng ta phải thực tập buông bỏ những khái niệm, ý niệm và những tri giác sai lầm của ta để chạm tới cho được cái thực tại của chính nó. Niết bàn là sự tắt ngấm của tất cả các ý niệm, khái niệm. Tất cả mọi khổ đau đều phát sinh từ những tri giác sai lầm (vọng tưởng) của ta. Chúng ta tuyệt vọng, thù hận nhau là do vô minh. Ta không hiểu bản chất của ta và người là Vô ngã, Tương tức, do đó cứ sống trong sự hẹp hòi, kỳ thị và phân biệt. Thiền tập trước hết là ngồi cho thật yên, chánh niệm tỉnh giác bên bờ sông của tri giác và quán sát những dòng chảy của tri giác. Nếu hiểu được bản chất của những tri giác ta sẽ được giải thoát, tự do. Nếu ta có khả năng buông bỏ những tri giác sai lầm của ta, thì thực tại sẽ hiển lộ một cách tròn đầy và mầu nhiệm. Ta sẽ thấy rằng mình thuộc về thực tại mầu nhiệm, thuộc về thế giới không sinh không diệt. Chúng ta sẽ tiếp tục học về phép quán niệm hơi thở thứ mười bốn của kinh Quán Niệm Hơi Thở – quán chiếu về sự không đáng tham cầu và vướng mắc của vạn pháp. Đây là phép thực tập rất quan trọng. Khi biết được bản chất đích thực của đối tượng tham cầu, thèm khát của ta, ta sẽ ngưng được mọi sự tham cầu và vướng mắc; ta hoàn toàn tự do và đạt tới hạnh phúc lớn.