Tứ vô lượng tâm là thuốc chữa được rất nhiều chứng bệnh của chúng sanh. Trước hết là chứng bệnh giận hờn. Người nào trong chúng ta cũng có bệnh đó, người nhiều người ít mà thôi. Người nào bệnh ít thì chữa rất mau, người bệnh nhiều thì phải chữa lâu hơn, phải thực tập nhiều. Người ta có thể giận trời, giận đất và giận người. Thứ hai là bệnh cô độc, cô đơn, phóng thể (being cut off, alienated). Phóng thể có nghĩa là bị cắt đứt ra không còn gốc rễ nữa: ta bị tách rời ra khỏi loài người, khỏi gia đình, khỏi xã hội, khỏi sự sống, ta cảm thấy bơ vơ và cô đơn. Thứ ba là bệnh sầu đau, phiền muộn (sorrow). Kế đến là bệnh lo lắng sợ hãi (worries, anxiety), bệnh mặc cảm tội lỗi (guilt) và bệnh kỳ thị và vướng mắc (discrimination, attachment). Tất cả những bệnh này đều có thể chữa lành được bằng phương pháp tứ vô lượng tâm.
Bốn tâm là một
Trong đạo Bụt thương yêu được diễn tả thành bốn khía cạnh mà chúng ta gọi là bốn tâm vô lượng hay tứ vô lượng tâm. Vô lượng có nghĩa là không thể đo, không thể đong, không thể lường được (immeasurable = apramāna), Pramana có nghĩa là lượng, là đo lường, còn apramāna có nghĩa là không thể đo, không thể lường được, không thể dùng toán số và thí dụ để mà diễn tả. Ta có thể dịch tứ vô lượng tâm là bốn tâm không có biên giới, bốn tâm vô lượng, bốn tâm đó là Từ, Bi, Hỷ, Xả. Khi Bụt dạy về bốn tâm như một pháp môn thì ta biết rằng có sự liên hệ mật thiết giữa bốn tâm. Và khi học hỏi và tu tập thì ta khám phá ra bốn tâm đó chỉ là một tâm thôi. Bốn tâm đó là bốn khía cạnh của một tâm. Chúng ta có những phương pháp thực tập rất cụ thể về thương yêu vì vậy trong khi quý vị học về tứ vô lượng tâm thì quý vị nên thực tập về tứ vô lượng tâm. Buổi sáng buổi chiều khi thiền toạ khi đi thiền hành quý vị nên đem những phương pháp về tứ vô lượng tâm ra thực tập.
Thương yêu là hạnh phúc
Giáo lý của đạo Bụt về tình thương rất phong phú và sâu sắc. Ta biết rằng hạnh phúc không thể nào có được nếu ta không có tình thương. Tu học không có nghĩa là giết chết khả năng thương yêu trong con người của ta, trái lại tu học tức là làm cho tình thương trong ta lớn lên nở ra và vững mạnh. Ở ngoài đời danh từ thương yêu có nhiều nghĩa, có khi rất hàm hồ, nhưng giáo lý của đạo Bụt về thương yêu thì rất sâu sắc, rõ ràng và những định nghĩa về thương yêu rất xác thật và đầy đủ. Chủ đề thương yêu là một chủ đề cần phải phát triển rất lớn. Đáng lý năm nay chúng ta có một khoá tu 21 ngày vào tháng sáu với chủ đề thương yêu nhưng vì làm biếng ta đã bãi bỏ khóa tu ấy. Trong khóa tu này đại chúng sẽ được học vắn tắt nội dung của khoá tu tháng sáu về đề tài thương yêu, vì đề tài thương yêu có liên hệ mật thiết đến đề tài hạnh phúc và vì thương yêu chân thật đưa tới hạnh phúc chân thật.
Hạnh phúc
Hôm nay là ngày 6 tháng 10 năm 1994, chúng ta ở tại Xóm Thượng trong Khoá Tu Mùa Thu.
Trong kinh Sammidhi mà chúng ta vừa học có bốn chủ đề quan trọng.
Chủ đề thứ nhất là chủ đề ý niệm về hạnh phúc. Ta thấy ngay rằng những ý niệm về hạnh phúc có thể là những bẫy sập giam hãm chúng ta vào vòng khổ đau. Cho nên những ý niệm về hạnh phúc có liên hệ tới ý niệm về bẫy sập của ngũ dục. Cách đây chừng một tháng có một vị đạo hữu từ Hoà Lan qua. Các vị ở Xóm Hạ có hỏi thăm tại sao các cháu không cùng đi thì vị đạo hữu ấy nói: “Chúng nó đang bị vướng vào những cái bẫy ngũ dục”. Vị đạo hữu đã thấy các cháu đang khổ đau, biết rất rõ ràng rằng các con mình đang bị vướng vào bẫy ngũ dục mà không thoát ra được. Họ cũng có hiếu với cha, đã lái xe đưa cha tới Paris để cha đi về làng Hồng một mình. Vị đạo hữu nói ông thấy rất rõ các cháu đang đau khổ, đang vướng vào vòng ngũ dục nhưng ông chưa làm gì được. Cố nhiên những người trẻ khi vướng vào vòng ngũ dục nghĩ là mình đang đi trên con đường tìm hạnh phúc. Kinh nói đó là những nẻo đường tăm tối khổ đau. Ta phải có lòng thương, sự hiểu biết và đạo lực khá mạnh thì mới có thể giúp những người ta thương thoát ra khỏi những cái bẫy sập của ngũ dục nếu không thì ta chỉ có thể đứng bên ngoài mà thương hại thôi. Phải học phải tu mới có khả năng giúp người thoát khỏi những cái bẫy của ngũ dục.
Chủ đề thứ hai của kinh có thể nói là chủ đề hiện pháp lạc trú. Khi thiên nữ hỏi tại sao thầy Summidhi lại bỏ lạc thú trong hiện tại để đi tìm một lạc thú hứa hẹn vớ vẩn trong tương lai, tức là lạc thú phi thời thì thầy Sammidhi nói: Tôi đâu có bỏ cái hạnh phúc trong hiện tại để đi tìm một cái hạnh phúc hứa hẹn hão huyền ở tương lai đâu? Chính tôi đã bỏ cái hạnh phúc hão huyền kia để đi tìm cái hạnh phúc hiện có trong giây phút hiện tại đấy chứ. Và nhân tiện đó thầy nói với vị thiên nữ là ngũ dục đem lại cho chúng ta những cơn sốt, những cơn đau khổ trong khi đó thi pháp hiện pháp lạc trú đem lại cho chúng ta hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Vì vậy cho nên kinh có danh từ vượt thoát thời gian (akalika), phi thời gian tính. Chủ đề này là một chủ đề rất lớn trong kinh Sammidhi mà cũng là một chủ đề rất lớn trong toàn bộ giáo lý của đạo Bụt nhưng tiếc thay ít có trung tâm tu học nào, ít có thiền viện nào đem chủ đề này khai triển.
Chủ đề kế tiếp có thể gọi là chủ đề nương tựa. Nương tựa ở đây là nương tựa vào pháp, nương tựa vào cái gì không phải chỉ là một ý niệm. Trong khi sống với chánh pháp, ta đạt được sự an lạc vững chãi và thảnh thơi và sự nương tựa đó là sự nương tựa vào pháp, có khi gọi là nương tựa ở hải đảo tự thân.
Chủ đề kế tiếp là chủ đề về mặc cảm hay là mạn: mặc cảm hơn người, mặc cảm thua người, mặc cảm bằng người. Tất cả những mặc cảm đó đều được phát sinh ra từ ý niệm gọi là ngã chấp và khi quán chiếu thấy được sự tương quan tương duyên và tương tức của vạn pháp thì chúng ta thấy sự sống là một, ta và người, ta với cây cỏ là một và bình an hạnh phúc không còn là một vấn đề cá nhân. Khi ta vượt được ý niệm về ngã thì tất cả những sợ hãi lo lắng giận hờn và buồn phiền sẽ tan biến và hạnh phúc trở nên một cái gì thật sự có mặt. Có những niềm vui có tính cách mong manh vì còn được xây dựng trên ý niệm về ngã. Vì có sự phập phòng và sự sợ hãi cho nên những niềm vui đó chưa vững chãi và đích thực. Chỉ khi cái sợ cái lo và cái giận hờn vắng mặt, niềm vui đó mới có thể gọi là niềm vui đích thực.
Chúng ta hãy tưởng tượng một người vừa mới cãi lộn với người thân xong, buồn quá, không biết làm gì, ra quán rượu, mua một ly rượu đắt tiền và ngồi uống. Uống một ly rượu như vậy không hẳn là hạnh phúc, nhưng ông ta muốn dùng ly rượu để nhận chìm niềm đau xuống. Trong khi thưởng thức ly rượu, hạnh phúc đích thực không có, chỉ có sự cố gắng để đè nén và che lấp đau khổ thôi. Bụt cũng nói tương đương như vậy về ngũ dục. Bụt nói rằng ví dụ có một người như vậy bị án tử hình, biết rằng trong bảy ngày nữa mình sẽ bị mang ra chém đầu, nhưng nhờ có sự can thiệp của một người thân nên vua đã biến án tử hình ra án khổ sai chung thân. Khi nghe tin được án khổ sai chung thân ông ta rất mừng, nhảy nhót rất sung sướng. Bụt nói cái sung sướng của án khổ sai chung thân đâu phải là cái sung sướng đích thực. Được so sánh với án tử hình Nên cái này được coi như là sung sướng chứ kỳ thực nó không phải là sung sướng. Ly rượu kia được dùng để nhận chìm niềm đau không phải là một hạnh phúc, đó chỉ là một phương tiện để khoả lấp khổ đau của mình thôi. Biết bao nhiêu người trẻ trong thế giới chúng ta có những niềm đau và vì thế họ đi tìm năm thứ dục lạc. Đi tìm những dục lạc như vậy họ không đạt được hạnh phúc chân thật, họ chỉ đi tìm những cái án khổ sai chung thân để vùi lấp cái niềm đau của án tử hình mà thôi. Đó là một bi kịch rất lớn của loài người. Cũng như sự đi tìm ma túy. Ta biết rằng ma túy cũng làm chúng ta đau khổ ghê gớm lắm, nhưng vì niềm đau kia lớn quá thành ra phải đi tìm ma túy để khoả lấp và chất ma túy đó tương đương với cái án khổ sai chung thân đã được dùng để khoả lấp cái án tử hình. Thấy như thế chúng ta sẽ thương, và nếu biết thương thì chúng ta phải tu học để có khả năng cứu độ và đưa những người trẻ đó ra khỏi vũng lầy của sự khổ đau.
Khi chúng ta thực tập hiện pháp lạc trú, thực tập nương tựa và thực tập quán chiếu về vô ngã thì càng ngày ta càng thực hiện được sự vững chãi và thảnh thơi. Và hiện pháp niết bàn là một cái gì có thể từ từ hiển lộ ra cho ta tiếp xúc vì niết bàn có hai đặc tính: vững chãi và thảnh thơi. Càng thực tập ta càng thấy sự vững chãi và sự thảnh thơi đó lớn lên và khi tiếp xúc được với niết bàn một cách sâu sắc thì sự vững chãi và thảnh thơi kia trở thành rất lớn lao và hùng mạnh. Lúc đó cái gọi là hạnh phúc chân thật mới thật hoàn toàn, từ tích môn ta tiếp xúc được với bản môn. Vì vậy kinh Sammidhi đã nêu ra đủ hết những chủ đề quan trọng.
Chương I: Thương yêu là hạnh phúc
Thương yêu theo phương pháp Bụt dạy
Thiền hành yếu chỉ
Thiền phổ này được viết ra theo lời yêu cầu của chính tôi, bởi vì tôi nghỉ rằng sẽ có rất nhiều vị hành giả nhờ đó mà học được phép thiền hành. Trước kia đã có lần tôi đề nghị rồi, nhưng thầy lưỡng lự không muốn viết. Tôi hiểu tại sao thầy lưỡng lự. Khi truyền cho người nào phép thiền hành, thầy thường đích tân chỉ dẫn và thực tập với người ấy. Thường thường thầy chỉ truyền phép này cho một người hoặc hai ba người là cùng. Thầy nói chỉ dẫn phép thiền hành cho một lớp đông thì thường không có hiệu qủa. Viết thiền phổ này ra cũng như truyền phép thiền hành cho một số đông. Thầy lưỡng lự là phải. Chính tôi đã được thầy truyền cho phép này một mình, và tôi thấy phải công nhận rằng thiền phổ viết ra không thể so sánh với sự truyền thụ trực tiếp. Tuy nhiên tôi vẫn thỉnh cầu thầy viết. Số người có may mắn được thầy trực tiếp truyền cho phép thiền hành rất ít; cuốn Thiền Hành Yếu Chỉ này tuy không thể thay thế được sự truyền thọ trực tiếp, nhưng vẫn có thể có công năng giúp độc giả nắm được ý chỉ đại cương của phép thiền hành. Học giả có tâm chí có thể nhờ thiền phổ này mà bước được những bước thật dài trên đường tu chứng.
Năm ngoái tại am Phương Vân có nhiều người đã từ Hòa Lan, Hoa Kỳ, Thụy Sĩ, v.v.. đến đế được truyền thụ phép thiền hành. Hồi tháng ba và tháng tư năm nay (1983) tại các tiểu bang California, Minnesota và New York, thầy đã truyền phép thiền hành này cho hàng trăm thiền sinh, trong đó đa số là người Hoa Kỳ. Có những thiền sinh đã đi tới trên hai ngàn cây số để được học phép thiền hành. Thiền phổ mà độc giả đang cầm trên tay là một pháp bảo mà giá trị không thể nào lường được. Các vị hành giả nào hết lòng tâp luyện chắc chắn sẽ đạt được lợi lạc lớn. Quí vị thường nên đọc thiền phổ này sau mỗi thời gian thiền tập. Tôi cũng mong Thiền Hành Yếu Chỉ được sớm dịch ra ngoại ngữ để thiền sinh các nước được thừa hưởng pháp bảo này. Mong rằng mấy lời thô lậu này có thể giúp cho độc giả thấy được tầm quan trọng của tác phẩm tuy nhỏ bé, mà tôi biết sẽ có tác dụng rất lớn.
Xóm Hạ Làng Hồng, tiết Trung Thu Quý Hợi,
Chơn Lễ Lê Nguyên Thiều
kính đề

Bạn có thể làm được
Thiền hành là thực tập thiền trong khi đi bách bộ. Thiền hành có thể đem lại cho ta sự an lạc ngay trong giờ phút ta thực tập. Người thực tập thiền hành bước những bước khoan thai, chậm rãi ung dung, môi nở một nụ cười hàm tiếu và lòng cảm thấy an lạc. Bạn phải bước những bước chân thật thanh thản, như người vô sự nhất trên đời. Bao nhiêu lo lắng và phiền muộn nên được rũ bỏ trong khi bạn bước những bước chân như thế. Muốn có an lạc, muốn có giải thoát bạn phải bước những bước chân như thế. Ðiều này không khó đâu. Bạn có thể làm được. Ai cũng có thể làm được nếu có một chút tự giác và nếu thật sự muốn được an lạc.
Ði mà không tới
Trong cuộc sống bận rộn hàng ngày, ta thường bị một áp lực thúc đẩy đi về phía trước. Ta thường phải “rảo bước”. Rảo bước để đi đến đâu, ta ít khi tự hỏi mình. Thiền hành cũng như đi bách bộ, không có mục đích đi tới một địa điểm nào trong thời gian cũng như trong không gian. Mục đích của thiền hành chính là thiền hành. Cái quan trọng là đi chứ không phải là tới. Thiền hành không phải là phương tiện. Thiền hành là cứu cánh. Mỗi bước chân là sự sống. Mỗi bước chân là sự an lạc. Vì vậy mà ta không cần sự rảo bước. Vì vậy mà ta đi chậm lại. Ði mà không đi; đi mà không bị một mục đích nào kéo ta về phía trước. Vì vậy mà khi đi, ta có thể nở một nụ cười.
Bước chân thanh thản
Trong cuộc sống hàng ngày, bước chân ta trĩu nặng lo âu, thấp thỏm và sợ hãi. Có khi cuộc đời chúng ta là một chuỗi năm tháng lo âu. Bước chân ta vì thế không được thanh thản. Trái đất của chúng ta thật đẹp; trên trái đất có biết bao nhiêu nẻo đường tuyệt đẹp. Bạn có biết quanh ta có bao nhiêu ngõ trúc quanh co, bao nhiêu dường lúa thơm tho bao nhiêu bìa rừng xanh mát, bao nhiêu lối đi đẹp mầu lá rụng, nhưng ít khi ta thưởng thức đuợc, cũng bởi vì lòng ta không thanh thản, bước chân ta không thanh thản. Thiền hành là tập đi trỏ lại với những bước chân thanh thản. Hồi ta được một tuổi rưỡi, ta tập đi những bước chập chững. Bây giờ ta thực tập thiền hảnh, ta cũng sẽ lại đi những bước chân chập chững như thế. Sau nhiều tuần lễ tập đi, ta có thể bước những bước vững chãi, an lạc, vô ưu. Những dòng này tôi viết là để giúp bạn một phần nào trong công trình thực tập. Tôi chúc bạn thành công.
Rũ bỏ lo lắng
Giá dụ tôi có thiên nhãn thông, tôi sẽ có thể nhìn vào dấu chân của bạn để thấy rõ dấu vết của những lo lắng phiền muộn mà bạn đã in lên mặt đất khi qua chỗ tôi đứng, như một nhà khoa học lấy kính hiển vi soi tỏ những sinh vật bé nhỏ có mặt trong một ly nước lấy ở ao hồ. Bạn phải bước đi như thế nào để chỉ in trong dấu chân của bạn sự an lạc và giải thoát mà thôi; đó là bí quyết của thiền hành. Mà muốn làm được như thế, bạn phải biết rũ bỏ. Rũ bỏ phiền não, rũ bỏ lo lắng.
Bước đi trên tịnh độ
Giá dụ tôi có thần túc thông, tôi có thể đưa bạn lên chơi cõi tịnh độ của Phật A Di Ðà, hoặc nếu bạn là người Cơ Ðốc thì tôi sẽ đưa bạn lên nước Chúa. Lên đó chắc chắn là cảnh vật sẽ đẹp đẽ và tịnh lạc rồi. Nhưng một khi lên tới đó rồi, bạn sẽ bước những bước chân như thế nào? Trong những dấu chân mà bạn in lên trên đất Tịnh, bạn có chắc là bạn sẽ không lưu lại vết tích của những lo âu và phiền muộn của đời sống ta bà này không? Nếu bạn đem những lo âu và phiền muộn của bạn mà in lên đất Tịnh, thì bạn làm nhiễm ô cõi tịnh độ mất, và do đó bạn làm cho cõi Tịnh bớt tĩnh đi nhiều. Bạn muốn biết xứng đáng với cõi Tịnh, bạn phải có khả năng bước được những bước chân an lạc và vô tư ngay trên đất ta bà này.
Ta Bà là Tịnh Ðộ
Có một điều nà tôi có thể nói nhỏ với bạn mà không sợ Phật và Chúa giận. Ðó là nếu bạn có thể bước những bước chân thật an lạc và vô ưu tư trên đát ta bà này thì bạn không cần phải lên nước Phật hoặc nước Chúa nữa, bởi vì một lẽ dĩ nhiên: ta bà hay tịnh độ đều do tâm (“duy tâm tịnh độ”), và khi bạn có an lạc và giải thoát thì ta bà biến thành tịnh độ, ta bà là tịnh độ, bạn không cần đi đâu nữa hết. Thần túc thông của tôi, nếu có, tôi cũng không cần dùng tới nữa.
Cõi Ta Bà có đầy đủ mầu nhiệm như cõi Tịnh Ðộ
Muốn được an lạc và giải thoát, bạn phải biết rũ bỏ phiền muộn và lo âu, những chất liệu làm cõi ta bà. Trước hết bạn phải quan sát để nhận thấy rằng cõi ta bà có đầy đủ mọi màu nhiệm của cõi tịnh độ. Chỉ vì phiền muộn và lo âu mà ta ít thấy được những mầu nhiệm đó mà thôi.
Tôi thường nghĩ tôi ưa cõi ta bà hơn cõi tịnh độ, bời vì ở cõi ta bà có nhưng cái mình rất thích như cây khế, cây chanh, nây chuối, cây cam, câu tùng, cây mai, cây liễu. Nghe nói ở cõi tịnh độ có ao sen báu, có cây thất bảo, có nhũng con đường lát vàng lá bạc, có chim ca lăng tấn già. Tôi không ham những thứ ấy lắm. Tôi không thích bước trên những con đường lát vàng lát bạc. Chính những con đường lót đá cẩm thạch ở trần gian mà tôi còn không thích nữa là. Tôi ưa những con đường đất có hai bờ cỏ xanh; tôi ưa những hạt sỏi, những lá câu rụng trên đường. Tôi ưa những bụi cây, những dòng nước, những lũy tre, những bến đò. Hồi nhỏ có lần tôi thưa với thầy tôi: Bạch thầy nếu tịnh độ không có cây chanh, cây khế thì con không về. Thầy tôi lắc đầu, cười; có lẽ người cho tôi thuộc loại tiểu đồng cứng đầu. Nhưng người không bảo là tôi sai hay tôi đúng. Sau này biết được ta bà và tinh độ đều do tâm, tôi sung sướng lắm. Tôi sung sướng vi tôi biết rằng ở cõi tịnh độ có cả cây khế cây chanh, và những con đường đất đỏ với đôi bờ cỏ xanh. Tôi biết nếu tôi mở mắt cho tỉnh thức và bước những bước chân đi thanh tản là tôi cá thể nhìn thấy tịnh độ của tôi. Vì vậy mà không ngày nào tôi không thực tập thiền hành.
Cái ấn của một vị quốc vương
Bạn chọn một con đường dể đi để mà tập. Bờ sông, công viên, sân thượng, rừng Vincennes hay ngõ trúc. Tôi biết có người thực tập thiền hành trong trại học tập cải tạo, hoặc ngay trong phòng giam chật hẹp nữa. Nếu con đường không khấp khểnh và lên dốc xuống dốc nhiều quá thì tốt. Bạn bước chậm lại, và tập trung sự chí ý vào những bước chân. Bước đi bước nào, bạn phải ý thúc về bước ấy. Bước khoan thai, trang trọng, trầm tĩnh, thẳng thắn. Bước như in mặt chân của bạn trên mặt đất. Bước như một đức Phật. In bàn chân của bạn trên mặt đất, trang trọng như một vị quốc vương đóng cái ấn của mình trên tờ chiếu chỉ.
Cái ấn của quốc vương trên tờ chiếu chỉ có thể làm cho ơn mưa móc thấm nhuần trăm họ, hoặc cũng có thể làm cho trăm họ điêu linh. Bước chân của bạn cũng thế. Thế giới có an lạc hay không là do bước chân của bạn có an lạc hay không. Tất cả tùy thuộc nơi một bước chân của bạn. Nếu bạn bước được một bước an lạc thì bạn có khả năng bước hai bước an lạc. Và bạn có thể bước được một trăm lẻ tám bước an lạc.
Bước chân của bạn là quan trọng nhất
Hành động nào quan trọng nhất trong đời bạn? Thi đỗ, mua xe, mua nhà hay thăng quan tiến chức? Biết bao nhiêu người đã thi đỗ, đã mua xe, mua nhà, thăng quan tiến chức, nhưng không có an lạc không có hạnh phúc. Vậy cái điều quan trọng nhất trong đời là có an lạc, và chia xẻ an lạc ấy với người khác, và với các loài khác. Mà muốn có an lạc, bạn phải thành công trong mỗi bước chân. Vậy cái bước chân của bạn là quan trọng nhất, nó quyết định tất cả. Tôi thắp một cây hương, tôi chắp hai bàn tay tôi lại thành một búp sen, tôi cầu mong cho bạn thành công.
Gió mát thổi dậy từ mỗi bước chân
Tại một thiền viện kia, ở đầu đường thiền tập, có một tảng đá lớn trên có khắc năm chữ: bộ bộ thanh phong khởi. Mỗi bước chân đo làm cho gió mát khởi dậy. Hùng tráng và đẹp đẽ biết bao nhiêu. Gió mát đây là niềm an lạc giải thoát, thổi bay khí nóng nực của phiền não sinh tử, đem lai cho thế giới nội tâm một luồng sinh khí mát mẻ của an lạc giải thoát. Này bạn, bạn hãy bước cho được những bước như thế cho thế giới được nhờ.
Tỉnh thức để rũ bỏ
Chúng ta lo lắng phiền muộn suốt đời, chúng ta muốn rũ bỏ. Rũ bỏ như thế nào? Bước đi những bước vừa thanh thản vừa hào hùng. Phải có sự tỉnh thức và phải có ý chí. Tỉnh thức để thấy được rằng ta đang mang nặng hành trang lo lắng và phiền muộn. Ý chí để cương quyết rũ bỏ những lo lắng và phiền muộn đó. Chúng ta tự hỏi: mang nặng những lo lắng và phiền muộn đó để làm chi?
Khởi điểm là thấy được rằng ta đang mang nặng phiền muộn và lo lắng. Thấy được như thế là tỉnh thức. Lập tức ta hãy phát tâm từ bi tự thương xót lấy ta. Ta có biết thương xót được ta, ta mới có khả năng thương xót người khác. Ta thương xót ta bị giam hãm trong vòng phiền muộn lo lắng. Ta biết phiền muộn lo lắng đã không giúp ta giải quyết được gì mà còn làm cho đời ta mất hết an lạc. Từ sự tỉnh thức ấy, ta quyết rũ bỏ phiền muộn và lo âu. Nếu thức tỉnh muốn rũ bỏ, thì ta có thể rũ bỏ ngay được. Như khi ta cởi chiếc áo mưa và rũ một cái khiến cho giọt sương bám trên áo nhất loạt đồng thời bay mất.
Cười như mặt Ðức Phật Cười
Ðể chứng tỏ ta rũ bỏ được lo âu và phiền muộn, ta hãy nở một nụ cười. Một nụ cười hàm tiếu thôi, và duy trì nụ cười đó trên môi như một đức Phật. Ta tập bước như một đức Phật, và ta tập cười như một đức Phật. Ta có thể làm được như thế. Ðợi đến bao giờ nữa mới làm Phật? Ta hãy làm Phật ngay trong giờ phút hiện tại.
Tôi đã từng nói nhiều tới nụ cười hàm tiếu và tác dụng của nó trong các cuốn Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức và Trái Tim Mặt Trời. Nụ cười này tuy là hoa trái của sự tỉnh thức và sự an lạc nhưng nó cũng có tác dụng nuôi dưỡng và duy trì sự tỉnh thức và an lạc ấy. Nó mầu nhiệm vô cùng. Bạn chớ nên coi thường nó. Nó chính là kho tàng hạnh phúc của bạn. Không những nó làm cho bạn an lạc và tỉnh thức, nó còn làm cho người xung quanh bạn nhờ bạn mà được an lạc và thỉnh thức nữa. Nó chuyển ta bà thành tịnh độ. Trong khi tập thiền hành bạn nhớ duy trì nụ cười hàm tiếu; nụ cười ấy giúp cho bước chân của bạn thêm khoan thai, thêm ung dung thêm tỉnh thức và thêm an lạc. Nuôi dưỡng bước chân, không những bạn có nụ cười huyền diệu kia mà bạn còn có hơi thở nữa. Hơi thở là một phương tiện mầu nhiệm để duy trì sự thỉnh thức và an lạc.
Chuỗi ngọc
Nụ cười và những bước chân an lạc có thể được ví như những viên ngọc trai long lanh nhưng rời rạc. Hơi thở là sợi dây xâu tất cả những viên ngọc trai đó thành một chuỗi ngọc liên tục, viên này nối viên kia không có khoảng hở giữa hai viên ngọc. Do đó bạn cần có hơi thở có ý thức để cho phép thiền hành của bạn đạt tới mức thành công tối đa mà bạn có thể đạt tới.
Hơi thở, con số và bước chân
Hơi thở có ý thức khác với hơi thở không có ý thức. Thở có ý thức là thở mà biết rằng mình đang thở, hơi thở dài thì mình biết là hơi thở dài, hơi thở ngắn thì mình biết là hơi thở ngắn, hơi thở êm ái dịu dàng thì mình biết là hơi thở êm ái dịu dàng. Bạn có thể hỏi: nếu chú ý tới hơi thở thì làm sao đồng thời chú ý tới bước chân? Tôi xin trả lời: có thể được, nếu ta đồng nhất hơi thở với bước chân. Ta có thể làm như vậy được bằng áp dụng phương pháp đếm. Ðếm ở dây không phải là đếm hơi thở mà là đếm bước chân, nói một cách khác hơn là đo chiều dài của hơi thở bằng số lượng bước chân. Ví dụ: trong khi thở ra thì tôi bước được mấy bước, và trong khi thở vào thi tôi bước được mấy bước.
Ðây là phương pháp mà tôi bắt đầu áp dung cách đây vào khoảng mười lăm năm, xin đem chia xẻ với bạn để bạn thí nghiệm. Bạn bước chậm lại, nhưng đừng quá chậm, trong khi bạn thở bình thường, đừng cố kéo dài hơi thở. Như thế trong vài ba phút. Rối bạn bắt đầu nhú ý quan sát xem trong khi phổi bạn thở ra thì chân bạn buớc được mấy bước và trong khi phổi bạn thở vào thì bạn bước được mấy bước. Như thế, cả hai thứ hơi thở và bước chân dồng thời nằm gọn trong sự chú ý của bạn; nói một cách khác hơn, đối tượng của sự quán niệm của bạn vừa là hơi thở vừa là bước chân. Dụng cụ nối liền hơi thở và bước chân là sự đếm, là con số (bao nhiêu bước). Nụ cười hàm tiếu của bạn có liên hệ mật thiết đến sự tĩnh lạc của bước chân và của hơi thở. Nó cũng là phương tiện duy trì sự chú ý và sự an lạc, và nó cũng có thể đồng thời là đối tượng của sự chú ý. Sau một vài giờ thực tập nghiêm chỉnh, bạn sẽ thấy cả bốn thứ: hơi thở, con số, bước chân và nụ cười hàm tiếu hòa hợp với nhau một càch mầu nhiệm trong một trạng thái chú ý của tâm thức. Ðó là định tuệ và sự an lạc của định tuệ tạo nên do sự thực tập thiền hành. Bốn trở thành một.
Tốc độ
Ðể tôi nói tiếp bạn nghe về phép đếm. Muốn đếm cho dễ, bạn phải điêu chỉnh tốc độ của bước chân. Ví dụ hơi thở của bạn chưa kéo dài được tới ba bước mà chỉ kéo dài tới hai bước rưỡi thôi. Trong trường hợp đó, hoặc giả bạn bước mau hơn một chút để hơi thở của bạn đo đúng được ba bước, hoặc bạn bước chậm lại một chút để hơi thở của bạn đo đúng được hai bước. Rối bạn duy trì tốc độ ấy mà đếm và thở.
Hơi thở ra có thể dài hơn hơi thở vào, nhất là đối với người mới tập. Quan sát một hồi, bạn sẽ tìm ra “chiều dài” của hơi thở bình thường. Ví dụ 3-3 hay 2-3. Trong trường hợp đầu, hơi thở vào và hơi thở ra “dài” bằng nhau (3-3). Trong trường hợp thứ hai, hơi thở vào ngắn hơn hơi thở ra (2-3). Nếu hơi thở bình thường của bạn là 2-3 chẳng hạn, thì bạn ghi nhớ con số 2-3 làm con số của hơi thở bình thường, nghĩa là hơi thở vừa với buồng phổi bạn làm cho bạn dễ chịu. Bạn có thể thở như thế trong thời gian khá lâu mà không thấy mệt. Con số đầu 2 là con số của hơi thở vào và con số sau 3 là con số của hơi thở ra. Trong trường hợp bạn leo giốc hoặc xuống giốc thì “chiều dài” của hơi thở sẽ rút lại, và đó không phải là hơi thở bình thường. Lúc đầu tập thiền hành, bạn nên theo nhịp thở bình thường của bạn.
Lấy thêm thanh khi
Sau đó vài ba hôm, bạn có thể thí nghiệm phương pháp sau đây. Ðang bước bình thường và thở bình thường bận gia tăng một bước cho hơi thở ra. Ví dụ hơi thở bình thường của bạn là 2-2 thì bạn thực tập 2-3, và lập lại như thế chừng bốn hay năm lần, rồi trở lại hơi thở bình thường của bạn là 2-2. Thực tập như thế bạn có thể thấy khỏe, vì khi thở ra dài hơn, bạn ép hai lá phổi thêm chút nữa để cho không khí dơ trong buồng phổi đi ra ngoài nhiều hơn. Khi ta thở bình thương, ta không cho ra hết phần không khí dơ nằm ở phía dưới buồng phổi. Nếu ta thêm vào một bước khi ta thở ra, không khí ấy bị dồn ra. Tôi dặn bạn đừng thở quá bốn năm hơi như vậy vì tôi sợ làm nhiều hơn thì bạn mệt. Thở bốn năm hơi như thế rồi bạn trở lại hơi thở bình thường. Xin bạn nhớ cho là chỉ thêm một bước cho hơi thở ra chứ đừng thêm cho hơi thở vào.
Thực tập như thế vài ba lần hoặc vài ba hôm, bạn sẽ thấy có nhu yếu muốn thêm một bước nữa cho hơi thở vào. Buồng phổi của bạn như nói với bạn: bây giờ nếu được thở 3-3 nghĩa là thêm vào một bước nữa cho hơi thở vào thì sẽ khoan khoái lắm. Lúc ấy và chỉ lúc ấy thôi, bạn mới thêm một bước cho hơi thở vào. Bạn thấy khỏe lắm. Tuy nhiên bạn đừng thở như thế (nghĩa là 3-3) quá bốn hay năm lần. Hãy trở lại hơi thở bình thường là 2-2. Vài phút sau nếu muốn, bạn sẽ lại thở 2-3 rối 3-3 trở lại. Chừng vài tháng sau hiệu năng của hai lá phổi bạn sẽ lớn hơn, phổi của bạn lành mạnh hơn và máu huyết của bạn sẽ được gạn lọc kỹ lưỡng hơn. Hơi thở được gọi là “bình thường” của bạn có thể được thay đổi. Ví dụ từ 2-2, nó có thể trở thành 3-3. Dùng hơi thở bình thường để thực tập thiền hành. Tốc độ của bước chân trở nên thuần nhất.
Ði đứng để tiếp hiện sự nghiệp giác ngộ
Tôi đã thưa với bạn là bạn hãy đi như một đức Phật đi, bước những bước như đức Phật bước. Mỗi bước chân của bạn in sự an lạc và vô ưu của bạn trên mặt đất. Ðất dưới chân bạn đi trở thành tịnh độ, trở thành thánh địa. Năm 1968, tôi có dịp đi thăm núi Linh Thứu, nơi Thích Ca cư trú. Tôi đã có dịp đi thiền hành một mình trên những con đường mòn ngày xưa tịnh xá ngài được xây cất, đã ngồi trên những tảng đá ngày xưa ngài chắc chắn đã có ngồi; và nhìn mặt trời đỏ chói đang lặn xuống chân trời tôi biết ngày xưa đã bao nhiêu lần ngài đã từng ngồi ngắm cảnh tượng mặt trời lặn ấy. Tôi đã cảm thấy một cách rất hiện thực là nếu tôi không đi, không đứng, không ngồi và không nhìn như ngài thì tôi không thể tiếp nối được sự nghiệp của ngài. Bạn cũng vậy, nếu bạn không đi, đứng, ngồi và nhìn như Phật thì không thể nào tiếp nối được sự nghiệp của Phật. Không thể “thiệu long thánh chủng, tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ơn đức” (1) được. Không thể bằng thuyết giảng kinh điển mà ta có thể tiếp nối sự nghiệp giác ngộ; chính là bằng sự đi, đứng ngồi và nhìn hàng ngày của chúng ta.
Sen nở dưới mỗi bước chân
Khi một nhà nghệ sĩ vẽ hoặc tạc tượng Phật ngồi trên một tòa sen, đó không phải là ông ta chỉ muốn tôn quý đức Phật và làm đẹp cho ngài. Ông ta muốn diễn tả rằng ngài đang ngồi một cách an lạc. Ai cũng đã từng ngồi; chúng ta ngồi xuống nhiều lần trong một ngày nhưng ít ai trong chúng ta mà nồi được an lạc, thảnh thơi và hùng vĩ như đức Phật. Nhiều người trong chúng ta ngồi “chưa nóng đít” đã phải nhỏm dậy, nhiều người trong chúng ta ngồi như ngồi trên đống lửa. Trong khi đó, đức Phật ngồi trên bãi cỏ hoặc trên một tảng đá nhưng đẹp đẽ và thanh thoát như đang ngồi trên một đóa sen. Hồi tôi mới vào chùa thầy tôi dậy trước khi ngồi xuống, phải quán niệm: “Chánh thân đoan tọa, đương nguyện chúng sanh tọa bồ đề tọa, tâm vô sở trước”. Quán niệm như vậy xong mới từ từ ngồi xuống. Ðó là học ngồi theo kiểu đức Phật. Câu quán niệm trên có nghĩa là “Ngồi xuống một cách ngay thẳng, tôi mong cho mọi người ai cũng được ngồi trên tòa giác ngộ, lòng không vướng bận bất cứ một niệm lo âu nào”. Tôi muốn nhắn với các bạn nào đang tu Tịnh Ðộ: hãy ngồi trên một đóa sen ngay từ bây giờ, không phải đợi về tới Tịnh Ðộ mới ngồi trên một đóa sen. Hãy hóa sinh trong một bông sen ngay trong mỗi giờ phút hiện tại, đừng đợi đến lúc lâm chung mới chịu hóa sinh. Hóa sinh trong một bông sen và ngồi trên tòa sen ngay từ bây giờ thì bạn không còn nghi ngờ gì nữa về sự có mặt của cõi tịnh độ. Ngồi cũng vậy mà đi cũng vậy. Nhà nghệ sĩ vẽ đức Phật sơ sinh bước đi bảy bước, mỗi bước chân làm nở một bông sen trên mặt đất. Ta phải bước những bước như thế, bước cho an lạc thanh thoát như một bông sen nở dưới mỗi bước chân mình. Khi thiền hành, bạn hãy thí nghiệm phép quán tưởng này. Thấy dưới mỗi bước chân mình có một bông sen nở. Giống hệt như đức Phật sơ sinh. Bạn đừng có mặc cảm. Hễ bước chân của bạn an lạc và vô ưu thì dưới bàn chân bạn xứng đáng có một bông sen nở. Bạn cũng là một đức Phật như bất cứ ai khác. Ðiều này có phải là do tôi nói ra đâu. Chính đức Phật đã nói như thế. Ngài nói tất cả mọi chúng sinh đều có thể tính giác ngộ. Thực tập thiền hành là thực tập sống tỉnh thức; tỉnh thức và giác ngộ là một, giác ngộ đưa đến tỉnh thức, và tỉnh thức đưa đến giác ngộ.
Phép lạ là đi trên mặt đất
Bước những bước đi thanh thản và an lạc trên mặt đất, đó là một phép lạ mầu nhiệm. Có người bảo đi trên mây hồng, đi trên bàn chông hoặc đi trên mặt nước mới là phép lạ. Tôi thì tôi thấy đi trên mặt đất là một phép lạ rồi. Neige Marchand, khi dịch cuốn Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức ra Pháp văn, đã chọn cho bản in tiếng Pháp có cái đầu đề sách là “Le Miracle, c’est de marcher sur terre”, Phép lạ là đi trên mặt đất. Tôi ưa cái đề sách ấy lắm. Giả dụ bạn và tôi là hai phi hành gia không gian; chúng ta đi lên tới mặt trăng rồi, nhưng không trở về trái đất được vì phi thuyền của chúng ta hỏng máy mà chúng ta không có phương tiện nào sửa chữa được. Trung tâm không gian ở dưới trái đất không kịp thì giờ gởi một phi thuyền khác lên cứu chúng ta, và chúng ta biết rõ rằng trong hai ngày nữa chúng ta sẽ chết vì hết dưỡng khí. Lúc đó, trong bạn và trong tôi, chúng ta không còn mơ tưởng và ước mơ gì khác ngoài sự được trở về trái đất xanh mát và thần tiên của chúng ta để lại có thể bước bên nhau những bước đi thanh thản và vô ưu. Biết chắc là sẽ chết, chúng ta mới thấy được những bước chân trên mặt hành tinh xanh là quý giá. Giờ đây chúng ta hãy tự xem mình là những phi hàng gia sống sót trở về được tới trái đất: chúng ta phải bước thật sung sướng thật an lạc trên hành tinh thân yêu của chúng ta. Chúng ta thực hiện phép lạ trong từng bước chân. Hoa sen nở dưới chân ta là như thế. Bạn thực tập đi, ý thức rằng mình đang bước những bước nhiệm màu trên mặt đất. Trái đất sẽ xuất hiện trước mặt ta và dưới chân ta như một thực thể màu nhiệm. Với chánh niệm đó, với phép quán tưởng đó, bạn có thể bước được những bước cực kỳ sung sướng trên mặt đất này.
Bạn hãy thử đứng một chân trên đất và ý thức rằng bàn chân mình đang đạt trên trái đất trọn vẹn. Bạn có thể thấy một cách rõ ràng cả quả đất tròn (đại địa) dưới chân bạn. Trong khi bước, bạn cũng có thể nhìn xuống đất và thấy trước được chỗ đất mà bạn sẽ đặt chân lên, và khi bạn đặt chân lên đúng chỗ đó, bạn ý thức một lần về bàn chân bạn, chỗ đất ấy, và sự xúc tiếp giữa bàn chân bạn với chỗ đất ấy. Bạn cũng có thể quán tưởng bàn chân bạn là chiếc ấn của một vị quốc vương. Trong thiền đường, lúc đi kinh hành, bạn cũng có thể áp dụng các phép quán tưởng “ấn của quốc vương”, “sen nở dưới chân” và “trái đất xuất hiện”.
Chọn lựa đối tượng
Mục đích của thiền hành là sự tỉnh thức và an lạc. Tỉnh thức và an lạc cần được liên tục, vì vậy ta sử dụng tới hơi thở, bước chân con số và nụ cười. Sự phối hợp bốn yếu tố này tạo nên niệm lực và định lực. Niệm là sự tỉnh táo là không quên lãng, sự có mặt của ý thức và sự nhớ biết. Chữ niệm vốn được dịch từ Phạn ngữ smrti; tiếng Pali là sati. Còn định là sự ngưng tụ, tập trung trạng thái không tán loạn và không đi lạc của tâm thức. Thiền hành tạo ra niệm, định và sự an lạc. Tuy vậy, không nhất thiết là bạn phải quy tụ được cả bốn yếu tố hơi thở, con số, bước chân và nụ cười bạn mới đạt được chánh niệm và sự an lạc. Có khi chỉ cần bước chân mà thôi bạn cũng đủ có chánh niệm và sự an lạc rồi. Khi chánh niệm và sự an lạc ấy rời rạc và không được liên tục bạn mới cầu viện tới hơi thở con số và nụ cười. Phối hợp hơi thở, con số và bước chân là điều mà ai cũng có thể làm được. Nhưng khi bạn đặc trọng tâm của sự chú ý vào bước chân thì ý thức về hơi thở và con số yếu đi, như khi ta cắm lò sưởi điện vào thì bóng đèn lu bớt. Ðiều đó không sao nếu bạn vẫn duy trì được chánh niệm nơi bước chân. Bạn hỏi: nếu dồn hết niệm lực vào bước chân để quán tưởng, ví dụ quán tưởng bông sen đang nở dưới chân mình, thì làm sao còn thấy được màu nhiệm khác như ngõ trúc mát hay bờ lúa thơm? Ðúng vậy, môi trường của định càng lớn thì định bị yếu đi. Nếu bạn chọn bông sen thì bạn hãy chú ý tới bông sen thôi. Nếu bạn chọn trái đất thì bạn chỉ chú ý tới trái đất khi nó xuất hiện. Bàn chân bạn đặt trên mặt đất, tức thì bạn thấy tất cả đại địa dưới bàn chân bạn. Ðại địa là trọn vẹn cả trái đất. Bạn có thể đồng thời thấy bàn chân bạn và cả quả địa cầu xanh.
Nếu bạn muốn chú ý tới lúa thơm, tre mát, hoặc cây lá, mây trời, thì bạn đứng lại. Duy trì hơi thở, bạn nhìn ngắm tất cả những thứ ấy theo thứ tự chú ý của bạn. Bạn cũng có thể nở nụ cưới hàm tiếu và duy trì nụ cười ấy mà không thấy gì trở ngại. Một lát sau, bạn lại tiếp tục thiền hành, và chú ý tới bước chân.
Quán ngữ thay cho con số
Con số bước chân bạn có thể thay thế bằng những lời quán ngữ. Ví dụ nhịp thở của bạn là 3-3 và bạn đang quán tưởng tới bông sen nở dưới chân bạn thì bạn có thể thầm niệm: “bông sen nở/bông sen nở”. Nếu là 2-3, thì bạn có thể thầm niệm “sen nở/bông sen nở”. Nếu bạn muốn quán tưởng đại địa, bạn có thể mật niệm “hành tinh xanh/hành tinh xanh” (3-3) hoặc “bước trên hành tinh xanh/bước trên hành tinh xanh” (5-5) hoặc “bước trên hành tinh xanh/tôi bước trên hành tinh xanh” (5-6). Bạn hãy tìm ra quán ngữ với số ám thích hợp.
Nếu bạn tu tịnh độ, bạn có thể niệm “A Di Ðà Phật/A Di Ðà Phật” (4-4) hoặc “Nam Mô A Di Ðà Phật/Nam Mô A Di Ðà Phật” (6-6). Phương pháp này dể áp dụng cho những dân tộc mà tiếng nói là đơn âm. Tôi đã từng thấy nhiều thiền sinh tây phương áp dụng phương pháp này với ngôn ngữ đa âm của họ, và cũng thành công. Họ dùng những quán ngữ như “Walking on the green earth/I walk on the green earth” (6-6). Quán ngữ ấy nối liền hơi thở và bước chân đồng thời làm xuất hiện đại địa.
Tương lai nhân loại tùy thuộc vào bước đi của bạn
Trong khi thực tập thiền hành, bạn bước một cách tự nhiên, không cần phải chắp tay búp sen, không cần phải làm ra vẻ trịnh trọng. Trong công viên hoặc dọc bờ sông, bạn chọn những khúc đường nào ít người. Tại thiền viện, bạn có thể thực tập bất cứ lúc nào; ai thấy bạn thực tập cũng nhận ra là bạn đang thiền hành, họ sẽ không làm rộn bằng sự chào hỏi. Gặp một người trên thiền lộ, bạn chỉ cần chắp tay làm thành búp sen trước ngực, rồi tiếp tục thiền hành.
Hồi còn cư trú tại vùng Sceaux, buổi sáng và buổi tối đi thiền hành tôi thường bị mấy con chó hàng xóm chạy ra sủa. Tại thiền viện Mount Tremper ở miền Bằc Nữu Ước, một buổi sáng nọ khi tôi chỉ dẫn cho các thiền sinh Hoa Kỳ về phép thiền hành, chúng tôi cũng bị một con chó chạy ra sủa. Chó ở Hoa Kỳ cũng như chó ở Pháp không quen với cách đi bộ khoan thai và im lặng. Nếu chúng tôi nện giày lộp cộp và đi rất mau thì chúng sẽ cho là bình thường và sẽ không chú ý. Tôi nói với các thiền sinh: “Sang năm nếu tôi trở lại đây để thiên hành cùng quý vị thì chắc con chó này sẽ không còn sủa khi chúng ta đi thiền hành nữa. Quý bị sẽ thực tập thiền hành suốt năm, và con chó sẽ quen với lối đi chậm rãi của quý vị”. Ai cũng nhận là phải. Tôi thầm nghĩ cách đi đứng, cách nhìn cách ngồi của chúng ta, nghĩa là đời sống văn hóa của chúng ta ảnh hưởng tới mọi loài động bật và thảo mộc. Bao nhiêu loài động vật và thực vật đã bị diệt chủng vì sự giết chóc của chúng ta và vì sự tàn hại mà chúng ta đã gây nên cho môi trường của sự sống. Môi trường của sự sống bị tàn hại đang trở lại tàn hại chúng ta. Sự ô nhiễm của nước uống và của không khí đã bắt đầu gây thiệt hại cho con người. Hiện chúng ta đã chế tạo trên năm mươi ngàn vũ khí nguyên tử rồi, đủ để tiêu diệt mấy mươi lần quả đất, mà chúng ta còn đang tiếp tục chế tạo thêm nữa, không thể dừng lại được. Nhân loại đang như một kẻ thụy du (sleep walker), không biết mình đang đi và không biết mình đang đi về đâu. Loài người có bừng tỉnh hay không là do ở mỗi chung ta có bước được những bước ý thức và thỉnh táo hay không. Vì vậy mà tương lai con người cũng như tương lai sự sống trên trái đất tùy thuộc ở bước đi của bạn.
Hãy để tôi bước bằng hai chân anh
Chiến tranh đã gây cho chúng ta bao nhiêu thương tích trong tâm hồn và nơi thân thể. Có nhiều Phật tử đã mất một cánh tay, và không còn có thể chấp tay búp sen để lạy Phật hay để chào nhau. Có nhiều Phật tử đã mất một bắp chân và không còn có thể ngồi kiết già hay bán già, và không thể đi thiền hành được nữa. Năm ngoái, có hai vị Phật tử như thế đến Am Phương Vân thực tập. Chúng tôi phải thi thiết những phương tiện để các vị ấy thực tập. Họ ngồi trên ghế ở góc thiền đường trong khi đại chúng ngồi kiết già hay bán già trên sàn gỗ. Tôi đã chỉ dẫn cho các vị này đi kinh hành bằng cách ngồi yên trên ghế, chọn và theo dõi một hành giả đang đi kinh hành, đồng nhắt mình với người đó và buộc theo người đó trong quán niệm. Nhu thế trong khi ngồi, ta có thể theo vị hành giả kia mà đặt những bước chân an lạc và thanh tinh trên sàn gỗ. Ta cũng có thể làm những bông sen nở dưới gót chân ta. Các vị Phật tử này đã thực tập theo pháp môn tôi thi thiết và đã thành công. Lần đầu thực tập tôi thấy họ rơm rớm nước mắt. Bạn là người có đủ hai cánh tay và hai bắp chân, bạn có thể chấp tay búp sen, ngồi kiết già hay đi kinh hành một cách thoải mái và dễ dàng. Bạn phải thấy được sự may mắn của bạn. Hãy là bị hành giả kia, đi thiền hành cho mình và cho người đồng bào của mình đang ngồi trên ghế và theo dõi bước chân bạn. Bạn có biết là bạn đang bước cho nhiều người hay không?
Thiền hành để được an lạc
Thực tập thiền hành, bạn có thể đi chung với người khác, dĩ nhiên là đi chung mà không nói chuyện. Dễ dàng hơn hết là bạn đi riêng một mình. Ði một mình bạn có thể tập trung ý dễ hơn, quán tưởng dễ hơn. Sáng nào tôi cũng thức sớm để thiền hành, và trong ngày hể có được năm mười phút hoặc nửa giờ là tôi thiền hành. Thiền hành cho bạn nhiều an lạc, nhiều tỉnh táo nhiều hạnh phúc. Hãy biến tất cả mọi con đường trên thế gian làm thiền lộ. Bạn không thiền thì thiệt cho bạn, thiệt cho tôi và thiệt cho sự sống của người và mọi loài. Trong những buổi thiền hành đầu, đi chậm lại, bạn có thể bước những bước không vững chãi, giống như một đứa bé mới tập đi. Theo dõi hơi thở, đặt trọng tâm của sự quán niệm vào bước chân bạn sẽ thấy bước đi của bạn vững vàng hơn. Bạn đã từng quan sát bước chân của con bò và bước chân của con hổ khi chúng đi chậm không? Con bò bước những bước rất gọn gàng, rất đỉnh đạt. Con hổ bước những bước dịu dàng uyển chuyển. Thiền hành quen bạn sẽ thấy bước chân bạn trở nên gọn gàng, đỉnh đạt và uyển chuyển.
Ði để mọi loài được thấm nhuần lợi lạc
Không khí ở ngoài trong và mát, nhất là vào buổi sáng và buổi khuya. Không có nguồn năng lực nào bổ dưỡng bằng thanh khí. Khi thiền hành, bạn hấp thụ đều đặn nguồn năng lực ấy và bạn thấy thể chất và tinh thần khương kiện thêm lên. Thiền hành có đều, bạn sẽ thấy sự sống hàng ngày từ từ thay đổi. Ðộng tác của bạn trở nên khoan thai và tỉnh thức. Trong khi giao tiếp, xét đoán, quan sát và định đoạt, bạn thấy bạn trầm thỉnh, sâu sắc và từ bi hơn. Mọi loài xa gần, lớn nhỏ, từ trăng sao đến ngọn lá và con sâu đều sẽ được thấm nhuần lợi lạc nhờ những bước chân của bạn.
Có thấy có hiểu mới thương
Trước khi chấm dứt thiền phổ này, tôi xin có một đôi lời tâm sự cùng bạn. Tôi có nói với bạn là cõi ta bà có đủ mọi mầu nhiệm của cõi tịnh độ. Nhưng tôi chưa nhắc cho bạn nghe là cõi ta bà hơn cõi tịnh độ ở chỗ ở đây có sự có mặt của khổ đau. Nếu tôi ngần ngại không muốn về cõi Cực Lạc, không phải chỉ vì bên ấy thiếu cây khế và câu chanh mà cũng bởi vì bên ấy thiếu sự có mặt của đau khổ. Nhận thức căn bản và đầu tiên của người Phật tử là sự có mặt của khổ đau; nếu bạn không đồng ý với nhận thức ấy của tứ diệu đế thì không có cơ hội nào đẻ bạn thành một Phật tử. Chính ý thức về khổ đau luyện cho ta có được từ bi và ý chí hành đạo. Theo chỗ hiểu biết của tôi thì từ bi và trí tuệ là một, bởi vì có thấy có hiểu mới biết thương. Nếu không thấy không hiểu thì cái thương đó chưa phải là thương. Có thể đó chỉ là đam mê, hoặc ham muốn. Hồi tôi trở về Âu Châu sau chuyến công tác cứu trợ thuyền nhân, tôi có cảm tưởng sự sống ở xã hội tây phương không phải là sự sống của tôi. Sau khi đã chứng kiến những đau thương và khổ nhục của người tỵ nạn trên biển, về tới phi trường Paris, đi qua những phố xá và những siêu thị với các ánh đèn màu, tôi thấy tôi đang đi trong một giấc mơ. Làm sao có thể có sự cách biệt lớn lao như thế giữa hai tình trạng, tình trạng của người trên biển bị xua đuổi cướp bóc, hãm hiếp và giết hại và tình trạng của người trên đất liền đang tìm lạc thú nơi cốc rượu và ánh đèn màu. Cái ý thức về khổ đau trong tôi chỗi dậy đối kháng lại nếp sống quên lãng và vô tình ấy. Ðã đành bên xứ Phật có đức A Di Ðà và các bậc bồ tát thánh chúng luôn luôn nhắc nhở về tứ diệu đế, về bát chánh đạo, nhưng làm sao pháp âm có thể thay thế được sự chứng nghiệm trục tiếp về khổ đau? Hồi chiến tranh Việt Nam đang tiếp diễn, tây phương cũng trông thấy hình ảnh đau thương của đồng bào ta trên màn ảnh truyền hình, nhưng nhìn những hình ảnh đó làm sao thông cảm được nỗi đau khổ của người Việt. Tôi đã từng nhìn những hình ảnh đó và tôi thấy chúng không diễn tả được những đau khổ thống thiết của đồng bào tôi.
Ðừng làm lu mờ một nửa pháp thân
Vì những lý do đó, tôi thấy ta bà là nơi thuận lợi nhất cho ta hành đạo. Tôi thấy các tư tưởng gia đại thừa đi quá trong khi đồng nhất pháp thân với cái đẹp và cái lành. Khi nói “trúc tím hoa vàng không có phải là cảnh ngoài, mây trắng trăng thanh đều hiện lộ toàn chân” (2), các vị ấy đã làm cho pháp thân lu mờ đi một nữa. Chân tướng của pháp thân còn là bùn lầy nước đọng, còn là tham sân si, còn là khổ đau và sự xâu xé nhau của mọi loài. Ở cõi tịnh độ, tiếng hót của các loài chim như ca lăng tần già trở thành tiếng thuyết pháp. Tại cõi ta bà, tiếng hót của các loài chim cũng có thể biểu hiệu của pháp thân “các pháp từ xưa nay, vốn không là sinh diệt, xuân đến trăm hoa mừng, oanh vàng ca liễu thắm” (3). Tiếng chim ca lãnh lót đối với chúng ta thường biểu lộ sự tươi sáng và yêu đời. Nhưng nhìn sâu vào thực tại, ta thấy tiếng chim ca cũng có thể là dấu hiệu của khổ đau. Một hôm thiền tọa trong rừng, nghe tiếng chim kêu tôi bỗng rùng mình. Tôi thấy rõ những con sâu đang núp dưới các cọng lá hay hốc cây cũng đang rùng mình như tôi. Tiếng chim kêu làm cho các loại sâu bọ và côn trùng hoảng sợ cũng như ta hoảng sợ khi ngồi trong rừng mà nghe tiếng cọp gầm.
Hãy chọn các vị Bồ Tát làm bạn đồng hành
Phép thiền hành giúp ta mở mắt để thấy được bao nhiêu nhiệm mầu trong vũ trụ, chuyển ta ba thành tịnh độ, giúp ta cởi bỏ phiền não lo âu, cho ta sự an lạc. Nhưng phép thiền hành cũng giúp ta thấy được những đau thương, những rên siết và quằn quại của cuộc đời. Khi ta tỉnh thức ta thấy được tình trạng thực của cuộc sống. Tôi thường nói với các thiền sinh: các bạn làm sao thấy được tự tính (kiến tánh) nếu các bạn không thấy được những gì đang xãy ra trước mắt và xung quanh các bạn. Không phải nhắm mắt lại là thấy được tự tánh. Trái lại, phải mở mắt ra, và thức thỉnh dậy trong tình trạng thực của cuộc đời, nghĩa là thấy được pháp thân toàn vẹn của các bạn. Những con đường lúa thơm tho, những ngỏ trúc râm mát, những công viên đầy lá thắm rụng… những con đường ấy là thiền lộ của bạn, bạn hãy thưởng thức đi. Những con đường ấy không đưa bạn đi vào quên lãng mà trái lại sẽ đưa bạn đi tới sự tỉnh thức để bạn thấy rõ được những khổ đau hiện thực của thế giới. Lúc bấy giờ thiền lộ của bạn là mọi nẻo đường thế gian; đã tỉnh thức rồi, bạn sẽ không còn ngần ngại gì mà không đi vào những con đường ấy. Bạn sẽ đau khổ nhưng không phải đau khổ vì những phiền muộn, ưu tư và sợ hãi của mình, bạn đau khổ vì đồng loại, vì muôn loài, vì tình thương của một người tỉnh thức, nghĩa là một vị bồ tát. Bồ tát, Bodhistva, người Trung Hoa dịch là giác hữu tình. Giác hữu tình là một người tỉnh thức. Và lúc đó, trên đường bạn đi, tất cả những người đồng hành với bạn đều là những vị bồ tát bất thối chuyển.(4)
_______________________________________________
GHI CHÚ
(1) tiếp nối và làm rạng rỡ hạt giống thánh, hướng dẫn liên tục thế hệ tương lai và báo đền ơn đức Phật.
(2) túy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh, bạch vân minh nguyệt hiện toàn chân.
(3) chư pháp tùng bản lai, thường tự tịch diệt tướng, xuân đáo bách hoa khai, hoàng oang đề liễu thượng.
(4) bất thối bồ tát vi bạn lữ.
Phần I
Lời nguyện cầu hướng về Đất Mẹ
Kính lạy Mẹ, Mẹ là một hành tinh, là Mẹ của tất cả mọi loài, trong đó có loài người chúng con. Các con của Mẹ có đến hàng triệu chủng loại, loài nào cũng có ngôn ngữ của loài ấy. Vì Mẹ là Mẹ của tất cả chúng con nên Mẹ biết hết mọi thứ ngôn ngữ, kể cả ngôn ngữ của loài người, cho nên chúng con rất thoải mái mỗi khi được trò chuyện với Mẹ và dâng lời cầu nguyện lên Mẹ.
Mẹ là hành tinh xanh, là Bồ tát Thanh Lương Địa
Con cúi lạy Mẹ trong ý thức sáng tỏ là Mẹ đang có mặt trong con và con là một phần của Mẹ. Mẹ đã đưa con ra đời, Mẹ đã cung cấp mọi thứ để nuôi dưỡng con, trong đó có không khí cho con thở, nước trong cho con uống, thực phẩm cho con ăn và cây lá cho con trị bệnh. Con biết con sẽ không bao giờ chết bởi vì nếu Mẹ đã đưa con ra đời một lần thì Mẹ sẽ đưa con ra đời muôn vạn lần khác nữa. Mỗi lần con biểu hiện là một lần con trở thành mới tinh và mỗi lần con trở về là Mẹ lại từ bi đưa hai tay ra ôm lấy.
Mẹ là đại địa, Mẹ là Terra, Mẹ là Gaia, Mẹ là hành tinh xanh, Mẹ là Bồ tát Thanh Lương Địa. Mẹ rất thơm tho, rất mát lành. Mẹ rất xinh đẹp. Mẹ có khả năng tiếp nhận, giữ gìn và chuyển hóa tất cả. Kể cả đờm dãi tanh hôi, kể cả khí độc, kể cả phóng xạ nguyên tử Mẹ cũng có khả năng ôm ấp và chuyển hóa. Mẹ có dư dã thì giờ để làm việc ấy và nếu cần Mẹ có thể để ra một triệu năm.
Mẹ có bao nhiêu là con, các con của Mẹ có tới hàng triệu chủng loại, trong đó có con người. Chúng con có nhiều đứa vì tham lam, vì kiêu căng, vì ngu si không nhận ra được Mẹ, đã gây ra bao cảnh tàn khốc cho nhau và làm hại tới sức khỏe cũng như nhan sắc của Mẹ. Chúng con biết Mẹ có đủ sức ôm ấp và chuyển hóa, nhưng chúng con vì đã và đang dại dột nên vẫn còn tiếp tục khai thác và đấu tranh khiến đôi khi Mẹ phải nhọc lòng.
Đức kiên nhẫn và sức chịu đựng vô cùng lớn của Mẹ đã làm cho Mẹ trở nên một vị Bồ tát lớn, một nơi nương tựa vô cùng vững chãi cho tất cả chúng con. Mỗi khi chúng con lao đao, mỗi khi chúng con đánh mất tự thân trong quên lãng, trong buồn tủi, trong hận thù và tuyệt vọng, chúng con phải trở về thực tập địa xúc, tìm về nương tựa nơi Mẹ để lấy lại sự bình an, để phục hồi niềm vui sống và đức tự tin. Chúng con biết chúng con đều là con của Mẹ và dù chúng con có gây ra bao nhiêu lầm lỗi, chúng con cũng được Mẹ tha thứ. Và mỗi lần trở về với Mẹ là Mẹ sẵn sàng đưa vòng tay từ mẫu ôm lấy chúng con vào lòng. Chúng con có được tính bất sinh bất diệt là nhờ Mẹ. Mẹ cất chứa trong lòng Mẹ bao nhiêu kho tàng của năng lượng, chúng con nguyện sẽ sử dụng những kho tàng năng lượng đó một cách khéo léo để chúng đừng khô cạn, và để Mẹ khỏi phải tinh chuyên trải qua hàng triệu năm để phục hồi.
Mẹ không phải chỉ là Mẹ của chúng con mà còn là Mẹ của nhiều vị Bụt và nhiều vị Bồ tát khác.
Đức Thích Ca, thầy gốc của chúng con, cũng là con của Mẹ. Bồ tát Quan Âm Nam Hải và Quan Âm Thị Kính cũng là con của Mẹ. Mẹ đồng trinh Maria cũng là con của Mẹ. Thánh mẫu Liễu Hạnh cũng là con của Mẹ. Bồ tát Thường Bất Khinh và Bồ tát Địa Tạng cũng là con của Mẹ. Cha mẹ của chúng con cũng là con của Mẹ. Nhiều đứa con của Mẹ được Mẹ giáo dưỡng nhiều kiếp cũng đã trở thành những vị Bồ tát có khả năng giáo hóa và biết cách bảo hộ cho Mẹ. Có những vị Bồ tát có khả năng tiếp xúc, tìm hiểu và giúp Mẹ thiết lập được liên hệ với những tinh cầu khác trong Thái Dương hệ, trong dải Ngân Hà và với những dải tinh hà khác trong vũ trụ. Mẹ đã thiết lập được liên hệ hòa điệu với những tinh cầu khác của Thái Dương hệ, nhất là với Mặt trời và Mặt trăng, đã vận hành đều đặn trong tương tức với các hành tinh ấy để tạo nên ngày đêm và bốn mùa. Chúng con biết Mẹ là một vị Bồ tát trong số những vị Bồ tát xinh đẹp nhất, rất hiếm có trong vũ trụ. Chúng con biết Mẹ có đức kiên nhẫn và chịu đựng rất lớn cho nên chúng con hết lòng tin tưởng, nương tựa vào Mẹ.
Mẹ đã được biểu hiện từ khoảng 4,5 tỷ năm trước, và Mẹ đã chờ đợi tới hơn 3,5 tỷ năm mới đưa được chúng con ra đời và trở nên một hành tinh xinh đẹp, đầy sức sống như hiện nay. Từ trong lòng đại dương, sự sống bắt đầu sinh sôi nẩy nở trên thân hình Mẹ và làm thay đổi bầu khí quyển để cho biết bao nhiêu chủng loại mới được biểu hiện. Sau một tỷ năm, lượng oxy tích tụ trong bầu khí quyển đã tạo nên tầng ozone có tác dụng ngăn chặn những tia phóng xạ độc hại giúp cho sự sống được lan tràn trên mặt đất.
Trong những tỷ năm đầu, Mẹ đã đi qua những giai đoạn khó khăn để tạo ra bầu khí quyển. Mẹ đã phải thở ra những chất hơi nồng rực và phun lửa từ các Hỏa Diệm Sơn. Trong quá trình đó, khí gas thoát ra từ bề mặt của Mẹ tạo thành hơi nước trong khí quyển; cùng với nước và băng do các tiểu hành tinh và các sao chổi trên không, hơi nước ấy đã giúp Mẹ tạo ra được đại dương. Nhờ có các chất khí nhà kính đã giữ lại sức nóng từ Mặt trời nên các đại dương kia không bị đóng thành băng. Thêm vào đó, lực hấp dẫn và từ trường của Mẹ đã giúp cho bầu khí quyển không bị thổi bay đi vì những cơn gió lớn phát xuất từ Mặt trời cũng như những tia vũ trụ, nhờ vậy mà sự sống được duy trì.
Chúng con biết trước khi hình thành bầu khí quyển, Mẹ đã phải chịu đựng sự va chạm của một thiên thể lớn bằng sao Hỏa và một phần khối lượng ấy đã đi vào Mẹ. Một phần khác của thiên thể và một ít da thịt Mẹ đã bị đánh bật, tách rời ra thành một hành tinh khác gọi là Nguyệt cầu. Mẹ ơi, Nguyệt cầu là một phần của Mẹ, cũng đẹp như một nàng tiên, và đó là dì Trăng của chúng con. Dì luôn luôn đi theo Mẹ, níu áo Mẹ, giúp cho Mẹ đi chậm lại và giữ được sự cân bằng, đồng thời tạo ra thủy triều sớm tối trên hình hài Mẹ.
Cha của chúng con là Mặt trời, là một vị Bụt lớn, là Đại Nhật Như Lai.
Và cha đang có mặt trong Mẹ và trong con.
Lạy Mẹ, con biết Mẹ luôn luôn cần đến Cha để có thể tiếp tục sinh ra chúng con và nuôi dưỡng chúng con. Cha con là Mặt trời. Mẹ đi theo Cha, và vận hành theo một quỹ đạo quanh Cha 365 ngày trong một chu kỳ có xuân hạ thu đông, làm nên một năm 12 tháng. Ánh sáng của Cha chiếu rọi làm cho Mẹ ấm áp tạo thành hiệu năng quang hợp và giúp Mẹ làm ra sự sống cho chúng con. Mẹ cũng đã từ cùng một tinh vân với Cha mà tới. Đường kính của Cha lớn tới 100 lần đường kính của Mẹ. Ánh sáng của Cha cần tới 8 phút đồng hồ mới đi tới được Mẹ, dù khoảng cách giữa Cha và Mẹ chỉ vào khoảng 150 triệu cây số.
Kính lạy Mẹ, mỗi khi con chiêm ngưỡng Mẹ, con thấy Cha trong Mẹ và trong con. Cha con không phải chỉ ở trên trời mà cũng ở dưới đất và đang có mặt trong Mẹ và trong con. Mỗi buổi sáng Cha con xuất hiện từ phương Đông như một chiếc đĩa hồng chói lọi, hào quang phóng ra muôn phương rạng rỡ uy hùng không thể nào tả nổi. Cha con là Mặt trời, là Sol, là Surya, là Sunna. Cha con là một vị Bụt lớn, một vị Bồ tát lớn, là Đại Nhật Như Lai, là Vô Lượng Quang, là Vô Lượng Thọ, là Amitabha, là thần Thái Dương. Cha con có cơ thể lớn hơn cơ thể Mẹ rất nhiều. Tuy là một bậc Cha hiền, có lượng cả bao la, nhưng Cha con uy dũng vô cùng và cũng vô cùng dữ dội. Cái vương miện mà Cha con đội đầu nóng hơn 55000C, cho nên Cha con đang mang hình thức loãng, không có được cái vỏ ngoài đặc cứng và cố định như chiếc áo sinh quyển xanh tươi duyên dáng mà Mẹ đang khoác.
Cha con là một vì sao trong số ít những vì sao lớn nhất của dải Ngân Hà. Tám mươi lăm phần trăm những ngôi sao của tinh hà này đều nhỏ bé hơn Cha. Khối lượng của Cha tuy vĩ đại như thế, 330.000 lần lớn hơn khối lượng của Mẹ, nhưng khối lượng ấy đang tiêu mòn từ từ, vì mỗi giây Cha con đều hiến tặng một ít khối lượng ấy cho thế gian dưới hình thái năng lượng: đó là năng lượng ánh sáng. Sự sống có được trên hình hài Mẹ là nhờ Mẹ con ta tiếp thu được ánh sáng ấy, nhờ quá trình quang hợp. Tuy là một đấng Vô Lượng Thọ, nhưng Cha con cũng vô thường, và đến một ngày nào đó, gần như tất cả khối lượng vĩ đại của Cha sẽ trở thành năng lượng. Sắc tướng hiện thời của Cha sẽ không còn nữa, nhưng với năng lượng phát ra, Cha sẽ tiếp tục biểu hiện dưới những sắc tướng khác. Tuy nhiên, ngày ấy còn xa lắm, nghĩa là ít nhất cũng mười tỷ năm nữa. Hào quang của Cha phóng ra là sự tiếp nối của Cha, và năng lượng ấy không bao giờ mất đi dù là một quang tử, cho nên Cha con vẫn mãi là đấng Vô Lượng Thọ.
Kính lạy Mẹ, chúng con đã biết được rằng Cha chúng con, Mặt trời, là một trong những vì sao lớn nhất và sáng nhất trong dải Ngân Hà, một tinh vân gồm có khoảng 200 tỷ ngôi sao. Hệ Thái Dương của Cha con đang vận chuyển trong dải Ngân Hà ấy, và Mặt trời của chúng con là một vị Bụt đang được vây bọc bởi một chúng hội các hành tinh khác. Mẹ là hành tinh xinh đẹp nhất trong bốn hành tinh đang vận chuyển ở phần bên trong của hệ Thái Dương. Sao Thủy (Mercury) là hành tinh có quỹ đạo gần Cha con nhất, rồi đến sao Kim (Venus), rồi mới tới Mẹ. Sau Mẹ thì tới quỹ đạo của sao Hỏa (Mars). Giữa sao Hỏa và sao Mộc (Jupiter) là cả một vòng đai có cả hàng chục ngàn những tiểu hành tinh (asteroids), trong đó có tiểu hành tinh Ceres có đường kính gần 1.000 cây số và cũng có rất nhiều tiểu hành tinh khác mà đường kính dài hàng trăm cây số. Ngoài ra còn có hàng trăm ngàn tiểu hành tinh nhỏ hơn, có những hành tinh còn nhỏ hơn những hạt bụi.
Sao Mộc (Jupiter) cách Mặt trời Cha con khoảng 900 triệu cây số. Sao Mộc có đến 64 vệ tinh, trong đó có vệ tinh Europa với một lớp băng dày đến vài cây số, bên dưới lớp băng này có thể có nước loãng và cũng có thể có sự sống. Một vệ tinh của sao Mộc là hành tinh Ganymede, lớn hơn cả sao Thủy; đó là vệ tinh lớn nhất trong hệ Mặt trời. Sao Mộc lớn hơn Mẹ tới 318 lần, và phần lớn của sao Mộc cũng như của Mặt trời được làm bằng khinh khí và Hélium. Sau sao Mộc thì đến sao Thổ (Saturn), tuy nhỏ hơn sao Mộc nhưng cũng lớn hơn Bồ tát Địa Cầu Mẹ của chúng con đến gần 100 lần. Sao Thổ cũng có tới 62 vệ tinh đi quanh yểm trợ, trong đó có vệ tinh Titan – vệ tinh này lớn hơn sao Thủy. Vệ tinh Titan là Mặt trăng lớn thứ hai của hệ Thái Dương, sau Ganymede và lớn gấp ba lần so với Mặt trăng của Địa Cầu chúng con. Ngoài ra còn có sao Thiên Vương (Uranus) và Hải Vương (Neptune) là hai vệ tinh cuối cùng trong hệ Mặt trời. Chúng hội của Bụt Mặt trời như thế là rất đông đảo và chúng con cảm thấy đây là một gia đình thực thụ, một tăng thân ấm cúng đang đi thiền hành chung một cách mầu nhiệm trong dải Ngân Hà.
Chúng con thường quán sát rằng mỗi chúng con đều có một trái tim trong cơ thể và nếu trái tim trong chúng con ngừng đập thì chúng con phải chết liền lập tức. Nhưng nhìn lên, chúng con biết Mặt trời cũng là một trái tim khác của chúng con, không phải nằm trong cơ thể nhỏ bé này mà nằm trong cơ thể Thái Dương hệ. Nếu Mặt trời Cha chúng con biến mất thì sự sống của chúng con cũng như sự sống của Mẹ đều phải chấm dứt. Cho nên chúng con thường quán chiếu về trái tim Mặt trời để thấy được sự có mặt thường xuyên của Cha trong chúng con và ngoài chúng con, để thấy được ngoài và trong cũng chỉ là những ý niệm.
Vòng tay của Cha rất rộng, chúng con biết nếu Cha ôm Mẹ và chúng con vào lòng thì cả Mẹ và chúng con đều trở thành tro bụi, chất hơi và chất loãng. Tuy nhiên, Mẹ đã biết sử dụng dưỡng khí từ quá trình quang hợp để tạo nên một lớp ozone trên thượng tầng khí quyển, giúp ngăn chận lại những tia phóng xạ cực tím, nhờ đó che chở được cho các loài sinh vật đang được Mẹ nuôi dưỡng. Sở dĩ chim chóc vẫn được cái hạnh phúc trở về với mây trời thênh thang, sở dĩ hươu nai vẫn có cái thích thú chạy nhảy ở đồng quê, đó là nhờ khả năng đùm bọc và che chở của Mẹ. Mẹ đã tiếp thu, đã gặt hái ánh sáng của Cha một cách khéo léo để nuôi dưỡng đàn con của Mẹ và làm cho Mẹ xinh đẹp hơn từ gần hơn một tỷ năm nay. Chúng con biết tương lai của Mẹ con ta tùy thuộc vào tương lai của Cha Mặt trời. Nhật quang của Cha sẽ tăng lên gấp 40 phần trăm nhật quang bây giờ trong ba tỷ rưỡi năm nữa và nếu Mẹ không đổi thay quỹ đạo, thì tất cả đại dương trên thân hình Mẹ sẽ khô cạn mau chóng, và sự sống trên thân hình Mẹ sẽ không còn.
Có những đứa con của Mẹ thấy Cha ngày nào cũng đi từ phương Đông sang phương Tây và nghĩ rằng quê hương của Cha, tịnh độ của Cha là ở phương Tây. Nhưng chúng con đã thấy được như Mẹ rằng đó chỉ là một biểu tượng. Cha đang có mặt khắp nơi: đứng bên này bán cầu mà nhìn thì Cha ở phương Tây nhưng đứng ở bên kia bán cầu mà nhìn thì Cha đang ở phương Đông. Bụt không phân biệt Nam và Bắc, trong và ngoài. Cha con đang ở trên đầu nhưng Cha con cũng đang ở trong con và trong Mẹ. Thấy được Cha được Mẹ trong con rồi thì con đâu còn phải đi tìm cầu nữa.
Mẹ đã gặt ánh sáng của Cha để làm nên sự sống,
làm nên chiếc áo màu xanh tuyệt diệu của ngày hôm nay.
Chắc Mẹ còn nhớ là hồi mới được tượng hình từ khối tinh vân đầy bụi và các chất hơi của Cha để lại, thì Mẹ, cũng như Cha, bấy giờ chưa có chiếc áo lụa mát mẻ của ngày hôm nay. Ngày ấy chiếc áo của Mẹ làm bằng chất loãng và rất nóng. Từ từ nhờ hơi nước tụ lại trong bầu khí quyển mà da thịt Mẹ mát lạnh lại, và tạo thành một lớp vỏ cứng. Đó là vào khoảng năm tỷ năm về trước. Hào quang của Cha hồi ấy chỉ rạng rỡ vào khoảng 70% hào quang bây giờ. Nhưng các chất hơi nhà kính và ánh sáng của Cha đã nâng cao sức ấm trên mặt đất, và giúp sưởi ấm cho Mẹ, khiến cho các đại dương của Mẹ không trở thành đông đặc.
Mẹ ơi, từ bốn tỷ năm về trước các nguyên tử – có thể đã đến từ ngoài không gian – đã biết giao lưu với nhau và có khả năng tự tái tạo để sản sinh ra những phân tử đầu tiên. Những phân tử đó trở thành gần như các tế bào sống, làm nền tảng để cho Mẹ bắt đầu tạo nên sự sống. Những hạt bụi từ các ngôi sao xa hàng triệu năm ánh sáng đã đến viếng thăm Mẹ và ở lại với Mẹ. Phép quang hợp đã cho Mẹ khả năng gặt hái ánh sáng của Cha để làm nên sự sống. Những tế bào nhỏ từ từ đi vào nhau tạo thành những tế bào lớn, những sinh vật đơn tế bào từ từ đi tới những sinh vật đa tế bào. Sự sống từ dưới nước bắt đầu đi lên đất và bây giờ đây Mẹ đã có một chiếc áo màu xanh tuyệt diệu. Nhưng vô thường là bản tính của vạn pháp cho nên sự sống trên hình hài Mẹ đã hơn năm lần bị biến cố tiêu diệt trên một bình diện khá lớn. Biến cố gần nhất là khi một thiên thể chạm vào hình hài Mẹ, làm diệt chủng loại khủng long và nhiều loài bò sát vĩ đại khác. Tuy nhiên nhiều loài động vật nhỏ bé hơn như loại bộ nhũ vẫn còn sống sót được. Trong khoảng 65 triệu năm vừa qua, các loài này đã sinh sôi nẩy nở phân thành nhiều chủng loại.
Và chỉ mới mấy triệu năm vừa qua thôi, loài người chúng con mới bắt đầu xuất hiện dưới hình thức những loại vượn giả nhân như vượn orrorin tugenensis có khả năng đứng dậy và buông thõng hai tay. Từ đó con vượn có khả năng sử dụng khí cụ, và các biện pháp liên lạc giúp cho bộ não được nuôi dưỡng, nẩy nở và tiến hóa thành con người. Hoạt động nông nghiệp và các nền văn minh bắt đầu giúp cho con người trở thành một sinh vật có được thứ quyền năng mà chưa bao giờ các loại sinh vật khác có được trên mặt đất. Con người khi xấu ác có thể trở thành hiểm độc và bạo động vô cùng, nhưng con người khi tu tập có thể trở nên những bậc hiền thánh, các vị Bụt, các vị Bồ tát có thể thương yêu và cứu giúp không những cho đồng loại mà còn cho những chủng loại khác và cũng có khả năng bảo hộ cho Mẹ, giữ gìn sắc đẹp cho Mẹ.
Mẹ là Tịnh độ, là quê hương mà chúng con có thể trở về trong mỗi bước chân.
Chúng con không cần đi tìm một Tịnh độ hay một Thiên quốc ở một nơi nào khác hoặc ở trong tương lai.
Kính lạy Mẹ, ở đâu có đất là ở đấy có Mẹ. Đất Mẹ sinh trưởng ra chúng con, chuyên chở chúng con và nuôi dưỡng chúng con. Nếu chúng con nuôi dưỡng được ý thức là trong Mẹ luôn luôn có con và trong con luôn luôn có Mẹ thì cả Mẹ cả con đều an vui và khỏe mạnh. Nhưng có những đứa con của Mẹ không thấy được điều ấy cho nên thường hay tự đánh mất mình, không có khả năng nhận diện được hình hài mình cũng là hình hài Mẹ, tâm tư chìm trong tạp niệm hoặc trong thế giới ảo mộng, quên rằng mình đang có một hình hài tuyệt diệu do Mẹ ban cho.
Chúng con mỗi ngày nguyện đi từng bước chân chánh niệm, ý thức rõ rệt là mình đang giẫm chân trên thật địa, để trong mỗi bước chúng con có thể tiếp xúc với Mẹ, với những mầu nhiệm của sự sống biểu hiện trên hình hài Mẹ. Chúng con biết là mỗi bước chân như thế đều có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu, mỗi bước chân như thế có thể đem chúng con về với giây phút hiện tại để tiếp xúc với Mẹ. Mẹ là Tịnh độ, nơi vô số các vị Bụt và Bồ tát đã được sinh ra và đã thành đạo, đã giáo hóa. Chúng con không cần đi tìm một Tịnh độ hay một Thiên quốc ở một nơi nào khác hoặc ở trong tương lai. Mẹ là một Tịnh độ xinh đẹp tuyệt vời, Mẹ là quê hương của chúng con mà chúng con có thể trở về trong mỗi bước chân. Chúng con không muốn mơ tưởng về một Thiên quốc hay một cõi cực lạc nào khác nữa.
Thầy của chúng con là con của Mẹ, đã thành đạo dưới gốc một cây Bồ đề, đã nhận nơi này làm quê hương. Chúng con cũng muốn nối tiếp sự nghiệp của Thầy, nguyện đời đời kiếp kiếp ở lại với Mẹ, giúp cho Mẹ thêm tài năng và sức khỏe để cho ra đời rất nhiều vị Bồ tát Tùng Địa Dũng Xuất.
Có những người thiếu chánh tư duy, nghĩ rằng Ta bà và Tịnh độ là hai cõi khác nhau, và khuyên chúng con nên phát tâm nhàm chán cõi Ta bà để cầu sinh về cõi Tịnh độ. Họ không biết rằng nếu tâm họ thanh tịnh, đầy thương yêu, nếu họ có khả năng biến rác thành hoa, lấy bùn nuôi sen thì họ sẽ thấy phiền não tức bồ đề và Ta bà là Tịnh độ. Họ không biết rằng tùy theo cách nhìn của họ mà cõi này là Tịnh độ hay Ta bà. Mỗi biểu hiện trên thân hình Mẹ, như một đám mây bay hay một chiếc lá rơi cũng đủ cho chúng con thấy được tự tính không sinh không diệt, không có không không của thực tại mầu nhiệm, và chúng con có thể rong chơi thỏa thích mà không cần sợ hãi lo âu về có không, còn mất, thêm bớt và dị đồng.
Kính lạy Mẹ, có những đứa con của Mẹ còn đặt câu hỏi sau khi hình hài mà Mẹ cho tan rã thì họ sẽ đi về đâu, nhưng chúng con biết rất rõ là chúng con sẽ trở về với Mẹ. Đó là một điều hiển nhiên. Nếu biết quán chiếu, chúng con sẽ thấy được tự tính không đi không về của vạn pháp, và chúng con sẽ không còn thắc mắc về chuyện đi và về. Biết rằng Mẹ đã từng cho chúng con biểu hiện thì Mẹ sẽ tiếp tục cho chúng con biểu hiện. Mỗi lần biểu hiện là một lần mới tinh, do đó chúng con không cần phải lo âu, sợ hãi nữa.
Mỗi khi ngồi yên trên đất Mẹ, ý thức là Mẹ đang có trong con, con luôn luôn ao ước có những đức lớn của Mẹ, đó là đức kiên trì chịu đựng, đó là đức trung hậu bền vững, đó là đức vô úy đại hùng, đó là đức sáng tạo không hề biết mỏi. Chúng con nguyện hành trì để có được đầy đủ những đức ấy của Mẹ, và chúng con biết rằng Mẹ đã gieo tất cả những hạt giống tiềm năng ấy trong tâm điền của mỗi chúng con.
Các con của Mẹ sinh ra đều xinh đẹp và đã cùng góp sức làm cho Mẹ thêm xinh đẹp. Một hồ nước trong, một cây tùng xanh, một áng mây hồng, một đỉnh núi tuyết, một khu rừng thơm, một con hạc trắng, một chú nai vàng…, tất cả những biểu hiện mầu nhiệm ấy đều là con của Mẹ và đứa nào cũng có thể làm cho Mẹ càng ngày càng xinh đẹp. Chúng con là con của Mẹ, mà cũng là tự thân của Mẹ, bởi vì Mẹ đang có mặt trong mỗi chúng con. Vì Mẹ có Phật tính cho nên đứa con nào của Mẹ cũng có Phật tính, có khả năng tỉnh thức để biết sống hạnh phúc trong tinh thần trách nhiệm.
Chúng con đang tập thương Mẹ, thương Cha và thương nhau trong ánh sáng của tuệ giác bất nhị và tương tức. Chúng con biết cái thấy bất nhị và tương tức giúp chúng con vượt thoát mọi kỳ thị, sợ hãi, ganh tị, oán thù và tuyệt vọng.
Mẹ ơi, loài người chúng con nhờ có ý thức nên đã học hỏi và nhận diện được sự có mặt của mình, đã tìm ra vị trí thật của chúng con giữa lòng Mẹ và trong lòng vũ trụ. Chúng con biết là chúng con nhỏ bé vô cùng, nhưng tâm lượng của chúng con có thể bao trùm được cả ba ngàn thế giới. Chúng con đã biết rằng hành tinh xinh đẹp của chúng con không phải là trung tâm của vũ trụ mà chỉ là một trong những biểu hiện nhiệm mầu nhất của vũ trụ. Chúng con đã phát triển được khoa học và kỹ thuật, chúng con đã khám phá ra được tự tính bất sinh bất diệt, không có cũng không không, không thêm cũng không bớt, không một cũng không khác của thực tại. Chúng con biết cái một chứa đựng cái tất cả, cái lớn nằm trong cái nhỏ, và mỗi hạt bụi có thể chứa đựng được cả pháp giới.
Chúng con đã chế tạo được những viễn vọng kính có thể tiếp thu được những ánh sáng mà mắt con người không thể nào thu nhận được, như những tia hồng ngoại (infrarouges), tia tử ngoại (ultraviolets), tia X, hoặc tia gamme. Chúng con đã đặt những chiếc kính viễn vọng ấy trên những đài quán sát không gian, vượt lên cả bầu khí quyển mờ đục bao quanh đất Mẹ, cao hơn mặt đất có khi cả hàng ngàn cây số, và chúng con đã thấy được như Mẹ: một vũ trụ sáng rỡ nhiệm mầu không thể nào tả nổi. Chúng con đã thấy được những tinh hà xa xăm, những vì sao cách xa chúng con cả hàng trăm triệu năm ánh sáng. Và nhờ thế chúng con cũng thấy được thêm những nhiệm mầu của Mẹ và của cả chúng con. Tâm thức của chúng con cũng là tâm thức của Mẹ và của cả vũ trụ. Vũ trụ rạng ngời xinh đẹp kia mà chúng con thấy được cũng chính là tâm thức ấy mà không phải là một cái gì khách quan ở ngoài tâm thức ấy. Những đứa con nào của Mẹ biết tu tập, nhìn sâu với chánh niệm và chánh định cũng đạt được khả năng của Diệu Quan Sát Trí ấy.
Chúng con đang tập thương Mẹ, thương Cha và thương nhau trong ánh sáng của tuệ giác ấy. Chúng con biết cái thấy bất nhị và tương tức giúp chúng con vượt thoát mọi kỳ thị, sợ hãi, ganh tị, oán thù và tuyệt vọng. Chúng con nguyện trao truyền tuệ giác ấy cho những thế hệ tương lai. Chúng con không còn dại dột cho rằng con người là chúa tể của vũ trụ, và đã thoát được ý niệm về một đấng tạo hóa tồn tại dưới hình thức một con người. Có những đứa con của Mẹ đã đạt được cái thấy siêu việt lưỡng nguyên về thiện và về ác, không còn thắc mắc với cái ý chí của Đất và Trời. Nhiều đứa trong các con của Mẹ đã không còn tin vào sự có mặt của một ông già ngồi trên trời để điều khiển mọi việc trên mặt đất, hay sự có mặt của một bà tiên trên mây có thể tìm tới cứu độ cho ta khi ta có tai nạn.
Lạy Mẹ, con biết thế giới bản môn là tự tính đích thực của chúng con, không sinh không diệt, không tới không đi. Nếu chúng con biết tiếp xúc với tự tính ấy thì chúng con sẽ có an bình, hạnh phúc, không còn lo lắng và sợ hãi. Chúng con biết bản môn không phải là một cái gì tách ra khỏi tích môn. Nếu chúng con tiếp xúc được sâu sắc với bất cứ một cái gì của thế giới tích môn, dù cho là một chiếc lá, một bông hoa, một đám mây, một con hạc, một dòng sông, một đỉnh núi hay chính hình hài của chúng con là chúng con đồng thời tiếp xúc được với bản môn ấy. Bản môn ấy là chân như, là pháp thân, vượt ra ngoài những ý niệm có không, tâm vật, chủ thể đối tượng, nhân hay phi nhân. Nó luôn luôn chiếu sáng. Tiếp xúc với bản môn, chúng con sẽ có an lành và thoải mái như những con chim về được với trời mây hay những con nai thảnh thơi chạy nhảy ở đồng quê. Chúng con biết chúng con không cần phải đi tìm bản môn ấy ở một nơi nào xa xôi, bởi vì bản môn ấy là tự tính của chúng con, có mặt trong chúng con ngay trong giây phút hiện tại. Thực tập chánh niệm, quán chiếu duyên khởi, thực chứng không và tương tức là chúng con có thể trở về bản môn bất cứ lúc nào.
Nhiều đứa con của Mẹ khi đi ngang qua khổ đau đã quyết chắc rằng những gì gây khổ đau là ác và những gì đem lại an vui là thiện, mà không biết rằng khổ đau và hạnh phúc tùy thuộc vào cái nhìn của mình rất nhiều. Chúng con thấy sự vật như thế là vì các giác quan của chúng con như thế, nếu các giác quan của chúng con được cấu thành một cách khác hơn thì chắc chắn chúng con sẽ thấy sự vật khác hơn. Vì vậy các con biết rằng hạnh phúc và khổ đau cũng như Tịnh độ hay Ta bà tùy thuộc rất nhiều nơi cách thức chúng con quán chiếu về sự vật.
Chúng con biết thực tại tuyệt đối nằm ngoài mọi ý niệm sinh diệt và có không. Bụt có thể là một con người nhưng cũng có thể là một vì sao, các vị Bụt và Bồ tát lớn đã có mặt từ vô thỉ mà không nhất thiết phải mang hình thức con người, vì con người là một sinh vật xuất hiện rất muộn trên một hành tinh tương đối bé nhỏ: đó là Mẹ yêu quý của chúng con.
Cũng như Cha, tự tính của Mẹ là vô sinh bất diệt. Chúng con biết nếu tự tính của Mẹ là như thế thì tự tính của chúng con cũng như thế, nghĩa là vô sinh bất diệt. Chúng con cám ơn Mẹ đã thị hiện như một vị Bồ tát, không phải dưới hình thức một con người mà dưới hình thức một hành tinh. Dù chúng con có nhân cách hóa Mẹ, gọi Mẹ như gọi một bà mẹ người, thì chúng con vẫn biết Mẹ là Mẹ của tất cả mọi loài, trong đó có loài người chúng con.
Cũng như Cha và Mẹ, tự tính của chúng con là vô sinh, bất diệt.
Tự tính của chúng con cũng là Di Đà, là vô lượng hào quang, vô lượng thọ mạng.
Lạy Mẹ, có những người gọi tên Cha suốt ngày mà không biết là Cha đang có mặt trong bản thân mình và ngay trên đỉnh đầu mình. Họ không biết tự tính của họ là Di Đà, là vô lượng hào quang, vô lượng thọ mạng. Họ không biết họ là con của Cha, con của Mặt trời. Chính đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni, thầy của chúng con, cũng đã tự nhận là con cháu của dòng dõi Mặt trời. Chúng con ngày đêm được tiếp xúc với Cha như một thực tại nhiệm mầu mà không phải chỉ là một danh hiệu. Nếu Cha chúng con là vô lượng quang, vô lượng thọ, thì chúng con cũng là vô lượng hào quang, vô lượng thọ mạng. Mỗi tế bào của chúng con đều có thể chiếu rọi hào quang và đi về tương lai.
Lạy Mẹ, có những người đang bước trên đất Mẹ mà vẫn mong cầu tìm về một cõi Tịnh độ, không biết Mẹ chính là một cõi Tịnh độ tuyệt vời đang có mặt trong giây phút hiện tại. Họ không thấy được Tịnh Độ Duy Tâm, không thấy rằng nếu tâm mình thanh tịnh thì cõi đất mình đang giẫm lên trở thành Tịnh độ. Chúng con được ngày đêm rong chơi miền Tịnh độ nhờ tuệ giác ấy, nhờ pháp môn an trú với chánh niệm trong giây phút hiện tại. Chúng con đã có Tịnh độ, chúng con không còn đi tìm. Mẹ có khả năng chuyên chở chúng con ít nhất là 500 triệu năm nữa. Sau đó mẹ có thể hiện thân thành một hành tinh khác và chúng con cũng sẽ hiện thân thành những thực tại nhiệm mầu khác trên hình hài Mẹ.
Kính lạy Mẹ, Mẹ có những đứa con tự hào là giỏi toán học, là công nhân khéo, là kiến trúc sư tài ba, nhưng ít ai thấy được Mẹ là nhà toán học vĩ đại nhất, người công nhân khéo tay nhất và vị kiến trúc sư tài ba nhất. Chỉ cần nhìn vào một cánh hoa anh đào, một chiếc vỏ ốc hay một con dơi là thấy được điều đó. Chúng con có những họa sĩ tài ba, nhưng những bức tranh của chúng con làm sao so sánh được với những bức tranh của Mẹ vẽ ra trong bốn mùa? Làm sao chúng con vẽ được một buổi bình minh hào hùng như thế, làm sao chúng con vẽ được một hoàng hôn rạng rỡ như kia? Chúng con có những nhạc sĩ tài ba nhưng những bản hợp ca của chúng con làm sao bì kịp với những buổi hòa tấu mầu nhiệm của đất trời, những tiếng hải triều hùng vĩ? Chúng con có những chiến sĩ anh hùng gội nắng dầm mưa, trèo non vượt suối, nhưng có ai có được sức kiên nhẫn chịu đựng và khả năng ôm ấp lâu dài như Mẹ? Chúng con cũng có những tình yêu lớn nhưng có ai có được cái tình yêu ôm trọn được muôn loại, không kỳ thị không phân biệt, như tình thương vĩ đại của Mẹ?
Kính lạy Mẹ, bây giờ đây mỗi khi giẫm chân trên đất Mẹ là con vượt thoát được các ý niệm vật chất và tinh thần. Thực tại nhiệm mầu của Mẹ vượt thoát ý niệm vật chất và tinh thần. Tâm và vật chẳng qua là hai ý niệm, chỉ là hai mặt của cùng một thực tại. Cây tùng kia không phải là vật chất bởi vì có cái biết trong nó. Hạt bụi kia không phải là vật chất bởi vì mỗi nguyên tử trong nó đều có sự thông minh, đều là những thực tại linh động. Tự tính của chúng con cũng là tự tính của Mẹ. Tự tính của Mẹ cũng là tự tính của vũ trụ; đó là tự tính tương tức, không có không không, không sinh không diệt, không thêm không bớt, không vật không tâm, không trong không ngoài, không tới không đi. Đất là một trong bốn đại nhưng đất ôm cả các đại khác trong lòng bởi vì đất được làm bằng những yếu tố không phải là đất. Bốn đại cũng mang trong lòng thời gian, không gian và tâm thức. Mỗi bước đi cho chúng con thấy sự thực sáu đại dung thông. Phật tính không phải chỉ có mặt trong con người mà có mặt trong muôn vật.
Chúng con phải học nhìn thế giới hiện tượng bằng cái thấy bản môn.
Nếu biết quán chiếu một cách sâu sắc, chúng con có thể vượt thoát mọi sầu khổ và hờn oán.
Kính lạy Mẹ, Mẹ là một vị Bồ tát lớn đã cho ra đời nhiều vị Bụt và Bồ tát, trái tim của Mẹ ôm lấy thái hư và trí tuệ của Mẹ chiếu sáng mười phương. Chúng con làm sao đem cái hiểu và cái thương của chúng con mà đánh giá được cái hiểu và cái thương của Mẹ. Có những đứa con chưa hiểu được Mẹ, oán hờn Mẹ đã sinh ra chúng để chúng phải khổ đau: “Thiều chi hoa, kỳ diệp thanh thanh, tri ngã như thử, bất như vô sinh” (Hoa thiều lá nó xanh xanh, thân ta biết thế đừng sinh ra đời), “Thiên địa bất nhân, thị vạn vật như sô cẩu” (Trời đất không có tình thương, xem vạn vật như chó rơm).
Quán chiếu cho sâu, chúng con thấy chúng con có thể vượt thoát mọi sầu khổ và hờn oán. Tiếp xúc sâu sắc được với tích môn, chúng con thấy được bản môn và hiểu được những gì đang xảy ra trong tích môn. Trong bản môn không có sinh, không có diệt, không có khổ, không có vui, không có đi, không có tới, không có thiện, không có ác. Chúng con phải học nhìn thế giới hiện tượng bằng cái thấy bản môn. Nếu không có tử thì không có sinh, nếu không có khổ thì không có vui, nếu không có ác thì không có thiện, nếu không có bùn thì không có sen. Bùn và sen không phải là kẻ thù của nhau. Sen và bùn nương nhau mà biểu hiện, khổ vui và thiện ác cũng thế.
Vì cái thấy về thiện ác của chúng con còn có tính cách nhị nguyên cho nên mới có những đứa con đem lòng oán trời trách đất. Chúng con thường đem cái tâm nhỏ bé của chúng con để phán xét cái tâm lớn lao của Đất và của Trời. Những cơn lũ lụt, những trận cuồng phong, những trận hải chấn không phải là sự biểu hiện giận dữ của Mẹ hay của Cha hay những hành động trừng phạt mà chỉ là những gì phải thỉnh thoảng xảy ra trong tích môn để thiết lập lại thế thăng bằng. Một ngôi sao băng cũng thế. Để thiết lập thế cân bằng trong thiên nhiên, các chủng loại có khi phải chịu thiệt thòi, nhưng sự tàn bạo nào cũng kéo theo cái thảm khốc của nó, khi mức nhu yếu sinh tồn được thay thế bằng tham vọng và kiêu căng.
Chúng con đã thấy được rằng khi một chủng loại phát triển quá mau chóng và quá mức, gây tổn hại nặng nề, đe dọa sự sống còn cho những chủng loại khác thì tự nhiên có những nguyên nhân và điều kiện được phát sinh đưa tới sự tổn thất nặng nề hoặc hoại diệt của chủng loại ấy, để thế cân bằng được thiết lập lại giữa các chủng loại với nhau. Những nguyên nhân hoặc điều kiện nầy thường phát sinh từ bên trong của chủng loại ấy. Chúng con đã học được bài học là khi mình tàn ác với đồng loại và các loài khác là mình tàn ác với chính mình. Và khi mình biết bảo hộ cho muôn loài là mình đã bảo hộ cho chính bản thân.
Chúng con nguyện noi gương các vị Bụt và Bồ tát để tiếp nối được Mẹ, để xứng đáng là con của Mẹ.
Và chúng con cũng muốn bảo hộ cho Mẹ để Mẹ có mặt lâu dài với chúng con.
Kính lạy Mẹ, nơi mỗi chúng con đều có Phật tính, bởi vì chúng con đều là con của Mẹ, dù chúng con là con người hay một loại sinh vật khác, một loại thảo mộc hay một loại khoáng chất. Loài người chúng con hay tự hào có ý thức, nhưng ý thức của chúng con chỉ là một công dụng trong nhiều công dụng khác của tâm thức, trong đó có Tàng thức và Yếm Ma La thức. Ý thức của chúng con cho chúng con khả năng nhận diện sự có mặt của chính mình và của vũ trụ trong giây phút hiện tại, nhưng ý thức ấy còn bị hạn chế bởi khuynh hướng phân biệt giữa có và không, sinh và diệt, trong và ngoài, một và tất cả.
Có những đứa con của Mẹ đã tu tập, đã quán chiếu, đã tịnh hóa và đã đạt tới Trí Vô Phân Biệt, tiếp xúc được với Niết bàn, với tự tính vô sinh bất diệt của mình. Chắc chắn Mẹ đã tự hào với những đứa con như thế, những đứa con đang tiếp nối được Mẹ trên quá trình tiến hóa, những đứa con có khả năng giáo hóa để giúp cho kẻ khác cũng đạt được cái thấy bất nhị, chuyển hóa mọi phân biệt, kỳ thị, sợ hãi, hận thù và tuyệt vọng.
Mẹ đã sinh ra được nhiều vị Bụt và Bồ tát lớn. Chúng con xin hứa với Mẹ là sẽ noi gương các bậc đàn anh và đàn chị ấy để đi lên, để xứng đáng là con của Mẹ, để xứng đáng đại diện cho tâm thức mầu nhiệm của Mẹ. Chúng con biết vạn pháp đều vô thường, vô ngã. Mẹ, Cha, các vị Bụt và Bồ tát cũng thế. Chúng con biết đứng về phương diện bản môn mà nói thì thọ mạng của Cha, của Mẹ, của muôn loài trong đó có những chiếc lá và nụ hoa là vô lượng, đứng ngoài sinh diệt có không. Nhưng đứng về phương diện tích môn, chúng con cũng muốn bảo hộ cho Mẹ để Mẹ có thể tiếp tục có mặt lâu dài trong hình thức xinh đẹp hiện tại của Mẹ, không những trong 500 triệu năm mà còn lâu dài hơn thế nữa. Chúng con muốn bảo hộ cho Mẹ để Mẹ có mặt lâu dài với chúng con trong hệ Thái Dương ấm áp này.
Thấy được đức vững chãi và kiên trì nơi Mẹ,
chúng con biết là chúng con phải trở về nương tựa nơi Mẹ.
Và Mẹ cũng có thể tin tưởng và trông cậy chúng con.
Lạy Mẹ, có những lúc chúng con đau khổ thật nhiều vì thiên tai xảy ra. Chúng con ý thức rằng trong khi chúng con khổ thì Mẹ cũng đau khổ. Có khi chúng con hướng về Mẹ và hỏi: Chúng con có thể trông cậy và nương tựa vào Mẹ không? Những lúc ấy Mẹ không trả lời ngay cho chúng con. Sau đó Mẹ đã nhìn chúng con bằng con mắt đại bi và nói: “Cố nhiên là các con có thể nương tựa vào Mẹ, vì Mẹ sẽ luôn luôn có mặt đó cho các con. Nhưng các con cũng phải tự hỏi câu hỏi này: Liệu Mẹ có thể tin tưởng và trông cậy vào các con hay không?” Lạy Mẹ, chúng con đã thức nhiều đêm không ngủ với công án ấy. Bây giờ đây, với những khuôn mặt đầm đìa nước mắt, chúng con đến quỳ dưới chân Mẹ và dâng câu trả lời chân thành này lên Mẹ: “Mẹ từ bi và thánh thiện của chúng con ơi, Mẹ có thể trông cậy và tin tưởng ở chúng con”.
Lạy Mẹ, con thấy cả Pháp giới trong Mẹ và Mẹ trong con. Dù Mẹ là Mẹ của mọi loài, không phải chỉ là Mẹ của con người, chúng con vẫn có thể tâm sự được với Mẹ bằng ngôn ngữ của loài người, có thể hiểu được Mẹ và biết rằng Mẹ đang muốn chúng con sống như thế nào để mỗi giây phút trong đời sống hàng ngày chúng con có thể chế tác được năng lượng chánh niệm, bình an, vững chãi và thương yêu. Chúng con nguyện sẽ làm theo ý Mẹ. Chúng con có niềm tin vững chãi rằng nếu loài người chúng con cứ tiếp tục chế tác hàng ngày những năng lượng an lành ấy thì chúng con có thể giúp được mọi loài làm giảm bớt những khổ đau do chiến tranh, nghèo đói, bệnh tật gây ra, có thêm được niềm vui sống, thừa hưởng được sự có mặt của Mẹ, của Pháp giới, và cũng có thể giúp làm giảm thiểu lại các thiên tai như hồng thủy, bão tố, địa chấn và hải chấn. Xin Mẹ an lòng tin tưởng ở chúng con.
Nhất tâm kính lễ Đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai, đức Bụt Vô Lượng Thọ Vô Lượng Quang A Di Đà hiến tặng sự sống trên hành tinh Đại Địa.
Nhất tâm kính lễ Đức Bồ tát Thanh Lương Đại Địa, Mẹ của muôn loài luôn luôn chở che, nuôi dưỡng và trị liệu.
Tâm tình với Đất Mẹ
Tâm tình với Đất Mẹ
Với tác phẩm Tâm tình với Đất Mẹ, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã mang đến một cái nhìn đặc biệt về môi trường và trách nhiệm của con người đối với trái đất. Với cái nhìn này Thiền Sư đã cho ta thấy vũ trụ là một quần thể có mối liên hệ mật thiết với nhau mà ở đó Thiền Sư gọi bằng những cái tên trìu mến là Mẹ đất, cha Trời và dì Trăng.
Tâm Tình với Đất Mẹ là một tác phẩm mới nhất của Thiền Sư, có khả năng đem lại sự tổng hợp kỳ diệu giữa Phật học, khoa học, tôn giáo và triết học. Đây là một thông điệp đánh thức ta trở về tiếp xúc với Đất Mẹ, hành tinh xanh đẹp của chúng ta. Đất Mẹ là một nơi nương tựa vô cùng vững chãi cho tất cả chúng ta. Mỗi khi ta lao đao, lận đận, đánh mất mình trong quên lãng, buồn tủi, hận thù, cô đơn và tuyệt vọng, ta có thể trở về tiếp xúc, nương tựa nơi Đất Mẹ để lấy lại sự bình an, phục hồi niềm vui sống và đức tự tin trong ta. Đất mẹ luôn bảo hộ, nâng đỡ và đón ta trở về.
Câu hỏi và trả lời
Nếu các bạn có câu hỏi nào liên quan đến sự thực tập chánh niệm trong đời sống hằng ngày, tôi sẽ rất hoan hỷ được trả lời.
H.: Thầy có khi nào nổi giận điên lên không? Lần cuối Thầy nổi giận là khi nào?
T.L.: Là một con người, tôi có hạt giống nóng giận trong tôi, nhưng nhờ có thực tâp, tôi có thể xử lý sự nóng giận trong tôi. Nếu cơn giận nổi lên, tôi biết cách chăm sóc nó. Tôi không phải là thánh, nhờ tôi biết thực tập, tôi không còn là nạn nhân của sự nóng giận nữa.
H.: Phải mất bao lâu mới có thành công trong sự thực tập?
T.L.: Không phải vấn đề thời gian. Nếu bạn thực tập đúng và có niềm vui, bạn sẽ thành công nhanh. Tuy nhiên, nếu bạn mất nhiều thời giờ và không thực tập đúng, có thể bạn sẽ không thành công được. Cũng giống như hơi thở trong chánh niệm. Nếu bạn thở đúng, hơi thở vào đầu tiên đã có thể đem lại nhẹ khỏe và niềm vui. Nhưng nếu bạn làm không đúng, ba hay bốn tiếng đồng hồ cũng không đem lại kết quả mong muốn. Tốt nhất là có một người bạn, một người anh hay người chị đã thành công trong sự thực tập, giúp bạn và nâng đỡ bạn.
Bạn cũng có thể thực tập một mình. Khi bạn thở vào, hãy để cho hơi thở đi vào một cách tự nhiên. Hãy chú tâm đến hơi thở vào. Khi bạn thở ra, hãy để cho hơi thở đi ra một cách tự nhiên. Bạn chỉ cần nhận biết hơi thở ra.
Ðừng xen vào nó. Ðừng ép nó. Nếu bạn để cho hơi thở đi vào đi ra một cách tự nhiên và bạn nhận biết hơi thở ấy, thì sẽ có tiến bộ trong vòng mười lăm hay hai mươi giây. Bạn sẽ bắt đầu cảm thấy thích thú trong khi thở vào thở ra.
Có một lần tôi tổ chức khóa tu ở Montreal, Canada. Sau lần thiền hành đầu tiên, một bà đến hỏi tôi: “Thưa Thầy, con có thể chia sẻ thực tập thiền hành với người khác không?” Trong bảy năm từ ngày bà đến xứ này, bà chưa bao giờ được bước đi với nhiều thảnh thơi và an lạc như bà cảm thấy sau chỉ một lần thiền hành ở khóa tu. Nó đem lại sự hàn gắn, sự tươi mát cho bà nên bà muốn chia sẻ sự thực tập đi trong chánh niệm này với các bạn. Tôi trả lời: “Ðược chứ!” Bà tin tưởng rằng sau một tiếng đồng hồ đi thiền hành, người ta có thể cảm thấy nhẹ khỏe và có niềm vui. Nhưng đừng đo lường bằng thời gian. Dù là thở trong chánh niệm, đi trong chánh niệm, ăn trong chánh niệm hay làm việc trong chánh niệm, khi bạn cảm thấy có hiệu quả ngay tức khắc, và khi sự thực tập có vui thích, là bạn đã thực tập đúng.
H.: Tôi nên dành bao nhiêu thời giờ cho sự thực tập?
T.L.: Cách thiền mà tôi giới thiệu có thể được thực tập bất cứ lúc nào. Khi bạn đi từ chỗ này đến chỗ khác, bạn có thể áp dụng phương pháp đi trong chánh niệm. Khi bạn làm việc, bạn có thể dùng phương pháp làm việc trong chánh niệm. Khi bạn ăn, bạn có thể ăn trong chánh niệm. Bạn không cần phải xếp đặt một thời gian cố định nào cho sự thực tập; bạn có thể thực tập bất cứ lúc nào trong ngày.
Tuy nhiên, nếu hoàn cảnh cho phép, bạn có thể để ra một ít thời giờ để làm công chuyện riêng. Ví dụ thức dậy sớm hơn mười lăm phút để bạn có thể có thú vị ngồi thiền mười lăm phút. Hay trước khi ngủ – dù cho đèn đã tắt rồi – bạn ngồi trên giường để thực tập thở trong chánh niệm. Vì bạn có nhiều việc phải làm tập thể với người khác, nên có thể bạn không có thời giờ riêng để làm điều bạn muốn. Vì vậy còn tuỳ thuộc vào sáng kiến của bạn về sự xếp đặt thời giờ. Nhưng bạn nên nhớ, bạn có thể thực tập bất cứ lúc nào, dù là lúc bạn đi tiểu hay lúc bạn lau sàn nhà.
Bạn có thể lau nhà như một người tự do hay như một tên nô lệ, điều ấy tuỳ bạn. Ở đây, mọi người đều phải làm những công việc nhất định, nhưng bạn có thể làm những việc ấy như một người tự do. Bạn có thể nuôi dưỡng sự tự do cho lớn lên. Ðiều ấy sẽ đem lại cho bạn sự oai nghi và mọi người sẽ nhận thấy. Với sự thực tập, bạn thực sự là một người tự do, bất kể bạn đang sống trong hoàn cảnh nào.
Tôi đề nghị rằng mỗi lần bạn đi phòng vệ sinh, mỗi lần bạn đi đại tiện, đi tiểu tiện hay rửa tay, bạn hãy để hết 100 phần trăm của con người bạn vào động tác ấy. Hãy ngưng mọi suy tư. Chỉ cần làm động tác ấy với niềm vui. Bạn có thể cảm thấy thích thú. Trong vài tuần, bạn sẽ thấy hiệu quả tuyệt vời của sự thực tập này.
H.: Xin Thầy nói rõ về chánh niệm. Làm sao chúng con có thể thực tập khi tâm trí bị phân tán?
T.L.: Tiếng Việt, “chánh niệm” có nghĩa là thực sự có mặt trong giây phút hiện tại. Khi bạn ăn, bạn biết là bạn đang ăn. Khi bạn bước, bạn biết là bạn đang bước. Ðối nghịch với chánh niệm là “thất niệm.” Bạn ăn nhưng bạn không biết là bạn đang ăn, bởi vì tâm trí bạn để ở đâu đâu. Khi bạn đem tâm bạn trở về với những gì đang xẩy ra bây giờ và ở đây, đó là chánh niệm, và chánh niệm có thể đem lại cho bạn sự sống, thích thú và niềm vui. Ví dụ đơn giản như ăn một trái cam trong chánh niệm có thể đem lại thích thú gấp ngàn lần hơn khi ăn cam mà bạn bị vướng mắc vào lo âu, sợ hãi hay tuyệt vọng. Vậy chánh niệm là năng lượng giúp bạn thực sự có mặt với những gì đang hiện hữu.
Ví dụ bạn nghe nhiều tiếng ồn chung quanh. Bạn có thể dùng tiếng ồn làm đối tượng của chánh niệm. “Thở vào tôi nghe nhiều tiếng ồn. Thở ra, tôi mỉm cười với tiếng ồn. Tôi biết rằng người làm ồn không luôn luôn có an lạc, và tôi cảm thấy có lòng từ bi đối với họ.” Vì vậy thực tập hơi thở có chánh niệm và dùng sự đau khổ quanh bạn làm đối tượng của chánh niệm sẽ giúp những năng lượng hiểu biết và thương yêu sinh khởi trong lòng bạn.
Ở một khóa tu, một bà than phiền rằng người bạn cùng phòng ngáy lớn quá làm cho bà không ngủ được. Bà sắp đem túi ngủ đi vào thiền đường, nhưng sực nhớ điều tôi dạy, nên bà ở lại. Bà dùng tiếng ngáy như một thứ chuông chánh niệm để làm phát sinh lòng từ bi. “Thở vào tôi biết có tiếng ngáy. Thở ra, tôi mỉm cười với tiếng ấy.” Mười phút sau bà đã ngủ ngon lành. Thật là một sự khám phá kỳ diệu cho bà ấy.
H.: Xin Thầy nói thêm về sự tha thứ.
T.L.: Tha thứ là hoa trái của hiểu biết. Ðôi khi, mặc dù ta muốn tha thứ cho một người, ta không thể làm được. Thiện chí muốn tha thứ có đấy, nhưng sự chua chát và đau khổ cũng còn đấy. Với tôi, tha thứ là kết quả của sự nhìn sâu và hiểu biết.
Một buổi sáng trong văn phòng chúng tôi ở Paris trong thập niên bảy mươi và tám mươi, chúng tôi nhận được nhiều tin buồn. Một bức thư đến, kể rằng một em bé gái mười một tuổi đi trên một chiếc thuyền vượt biển từ Việt Nam, đã bị bọn hải tặc hãm hiếp. Khi người cha cố can thiệp thì chúng nó vứt ông xuống biển. Vì vậy em bé gái cũng nhảy xuống biển và chết đuối . Tôi nổi giận. Là một con người, bạn có quyền nổi giận; nhưng là một người biết thực tập, bạn không có quyền ngưng thực tập.
Tôi không ăn sáng được; tin tức đã tràn ngập tôi. Tôi thực tập thiền hành trong khu rừng kế cận. Tôi cố tiếp xúc với cây, với chim và bầu trời xanh để an tịnh tâm hồn, và rồi tôi ngồi xuống để thiền định. Tôi ngồi thiền khá lâu .
Trong lúc ngồi thiền, tôi thấy mình là một em bé sinh ra trên vùng bờ biển Thái Lan. Cha tôi là một người đánh cá nghèo, mẹ tôi là một người vô học. Quanh tôi đầy cảnh nghèo khó. Khi tôi mười bốn tuổi, tôi phải làm việc cùng với cha tôi trên chiếc thuyền đánh cá để mưu sinh; làm việc rất nhọc nhằn. Khi cha tôi mất, tôi phải làm thay cha tôi để nuôi sống gia đình.
Một người đánh cá tôi quen cho tôi biết rằng nhiều thuyền nhân Việt Nam đi vượt biên, mang theo nhiều của quý, như vàng và nữ trang. Anh ta đề nghị rằng nếu chúng tôi chận đánh chỉ một trong những chiếc thuyền ấy và lấy được một số vàng thì chúng tôi sẽ giàu. Là một người đánh cá nghèo, còn trẻ, không có học thức, tôi bị anh ta cám dỗ. Và một hôm tôi quyết định đi theo anh ta để cướp thuyền nhân. Khi tôi thấy anh ta hiếp một người đàn bà trên thuyền, tôi cũng bị cám dỗ làm theo. Tôi nhìn quanh và khi thấy không có gì ngăn cản, không cảnh sát, không ai hăm dọa; tôi tự nói: “tôi cũng làm như vậy được, chỉ một lần thôi.” Ðó là vì sao tôi trở thành một tên cướp biển đi hãm hiếp một em bé gái.
Bây giờ giả sử bạn ở trên thuyền đó và bạn có một cây súng. Nếu bạn bắn tôi và giết tôi, hành động của bạn sẽ không giúp gì được tôi . Suốt đời tôi, không ai giúp tôi và suốt đời cha mẹ tôi cũng không ai giúp ông bà. Là môt đứa bé, tôi không được đi học. Tôi chơi với những đứa trẻ hư hỏng, và lớn lên tôi thành một người đánh cá nghèo khổ. Không một nhà chính trị hay giáo dục nào giúp tôi bao giờ. Và vì không ai giúp nên tôi trở thành một tên cướp biển. Nếu bạn bắn tôi thì tôi chết.
Ðêm ấy, tôi thiền quán về điều này. Tôi lại thấy mình là một chàng đánh cá trẻ trở nên một tên hải tặc. Tôi cũng thấy hàng trăm em bé sinh ra đêm ấy trên vùng dọc theo bờ biển Thái lan. Tôi nhận thấy rằng nếu không ai giúp những em bé này lớn lên có học vấn và có cơ hội sống đời sống đứng đắn, thì trong vòng hai mươi năm nữa, những em bé này cũng sẽ thành những tên hải tặc. Tôi bắt đầu hiểu rằng nếu tôi sinh ra làm một chú bé trong làng đánh cá ấy, tôi cũng đã trở thành một tên hải tặc. Khi tôi hiểu được như vậy cơn giận của tôi đối với những tên hải tặc tan biến mất.
Thay vì nổi giận chàng đánh cá, tôi cảm thấy có lòng từ bi đối với anh ta. Tôi nguyện nếu tôi có thể làm được gì để giúp những em bé sinh ra đêm ấy trên vùng bờ biển Thái lan, thì tôi sẽ giúp. Năng lượng của cơn giận đã được chuyển hóa thành năng lượng của từ bi nhờ thiền quán. Ta không thể tha thứ nếu không hiểu biết, và hiểu biết là hoa trái của sự nhìn sâu mà tôi gọi là thiền quán.
H.: Thực chất của đạo Bụt là gì? Có phải là một tôn giáo không? Bụt có phải là một vị thần linh không?
T.L.: Bụt luôn luôn nhắc chúng ta rằng ngài là người, không phải thần linh. Ngài để lại nhiều luận văn mà ngài trao lại cho các đệ tử của ngài. Những luận văn ấy gọi là kinh. Sáng nay tôi đã cống hiến các bạn sự thực tập về hơi thở có chánh niệm. Sự thực tập này có xuất xứ từ Kinh Quán Niệm Hơi Thở.
Trong kinh này, ngài chỉ cho chúng ta mười sáu phép thực tập hơi thở có chánh niệm để xử trí với những khó khăn trong đời sống hằng ngày, để nuôi dưỡng tuệ giác và từ bi. Có những kinh khác dạy về chánh niệm đưa tới sự chuyển hóa và hàn gắn. Những kinh ấy không phải là những lời cầu nguyện. Ðó là những bản văn dạy cho bạn cách đối xử với những đau khổ và khó khăn trong đời sống hằng ngày.
Nguyên thủy, đạo Bụt không phải là một tôn giáo; đó là một lối sống. Kinh là những lời dạy của Bụt làm thế nào để chuyển hóa khổ đau và nuôi dưỡng niềm vui và lòng từ bi. Là những tu sĩ Phật giáo, chúng tôi học nhiều những kinh đó, và chúng tôi học để giảng giải cho mọi người biết đúng cách thực tập những lời dạy ấy.
Trong truyền thống đạo Bụt, chúng tôi vinh danh Ba Viên Ngọc Quý. Viên Ngọc Quý thứ nhất là Bụt: người đã tìm ra con đường của hiểu biết, thương yêu, chuyển hóa và hàn gắn. Viên Ngọc Quý thứ hai là Pháp: con đường của chuyển hóa và hàn gắn, đã được Bụt lập ra dưới dạng những luận văn, lời dạy và cách thực tập. Viên Ngọc Quý thứ ba là cộng đồng thực tập, Tăng: những người đàn ông và đàn bà đã lập thành một cộng đồng và nguyện đi theo con đường của sự thực tập thiền định và chánh niệm.
Tăng thân có nghĩa là “cộng đồng.” Mọi người trong cộng đồng đều thực tập thở trong chánh niệm, đi trong chánh niệm,và làm phát sinh từ bi và hiểu biết. Chúng tôi thực tập trở về nương tựa Tăng, bởi vì một Tăng thân đích thực là một cộng đồng ở đó có sự thực tập đích thực; nghĩa là có chánh niệm đích thực, hiểu biết và từ bi. Một Tăng thân đích thực chứa đựng trong tự thân Pháp đích thực và Bụt đích thực. Vì vậy khi bạn tiếp xúc được với một Tăng thân đích thực, bạn cũng tiếp xúc được với Bụt và với Pháp.
Với một Tăng thân, bạn dễ có cơ hội thành công, vì Tăng thân là phương tiện để che chở và nâng đỡ bạn trong sự thực tập. Không có một Tăng thân, bạn có thể từ bỏ sự thực tập trong vòng vài tháng. Chúng tôi có câu tục ngữ rằng khi con cọp lìa rừng để về đồng nội, nó sẽ bị người bắt và giết. Một người thực tập phải ở lại với Tăng thân mình, nếu không người ấy sẽ từ bỏ thực tập sau vài tháng. Sự nâng đỡ và dìu dắt của Tăng thân rất quan trọng.
Dù cho ở đây, bạn cũng có thể thiết lập Tăng thân riêng của bạn gồm có bốn hay năm người cùng thực tập hằng ngày; đi trong chánh niệm, thở, ăn và làm việc trong chánh niệm. Một Tăng thân có thể nâng đỡ khi ai cần đến. Một Tăng thân có thể gồm có những người cư sĩ hay xuất gia, nhưng bất cứ đâu có ít nhất bốn người cùng thực tập chánh niệm với nhau, thì đó là một Tăng thân. Về nương tựa Tăng thân là điều quan trọng, vì nếu Tăng thân thực sự thực tập, Tăng thân chứa đựng Bụt và Pháp trong ấy.
H.: Chánh niệm là gì và nó có thể đem lại những gì?
T.L.: Như tôi đã nói, chánh niệm là khả năng có thể có mặt bây giờ và ở đây . Hãy chú tâm vào việc gì đang xẩy ra. Nếu có chánh niệm thì sẽ có tập trung. Nếu bạn tiếp tục có chánh niệm về một điều gì, là bạn sẽ tập trung vào điều ấy; nó trở thành đối tượng của sự tập trung. Khi chánh niệm và sự tập trung của bạn đã giỏi rồi, bạn sẽ có được tuệ giác; bạn sẽ bắt đầu hiểu biết sâu sắc điều gì đang xẩy ra bây giờ và ở đây. Vậy tiến trình là chánh niệm, tập trung, và tuệ giác. Tuệ giác giúp bạn hiểu biết và giải phóng cho bạn ra khỏi những tri giác sai lầm. Nhờ đó bạn hết đau khổ.
H.: Chúng tôi có thể nghĩ đến quá khứ và trù tính tương lai không?
T.L.: Chánh niệm có nghĩa là tự ổn định trong giây phút hiện tại. Nhưng điều ấy không có nghĩa rằng bạn không có quyền xem xét lại tỉ mỉ và học bài học của quá khứ, hoặc là dự trù cho tương lai. Nếu bạn sống vững chắc trong giây phút hiện tại, và tương lai là đối tượng của chánh niệm, thì bạn có thể nhìn sâu vào tương lai để thấy nhũng gì bạn làm được bây giờ để có thể có được một tương lai như thế. Chúng tôi thường nói rằng cách hay nhất để lo cho tương lai là lo cho hiện tại bởi vì tương lai được làm bằng hiện tại. Chăm sóc cho hiện tại là điều duy nhất bạn có thể làm được để bảo đảm một tương lai tươi sáng.
Khi chúng ta đưa những sự kiện đã xẩy ra trong quá khứ trở về giây phút hiện tại và làm chúng trở thành đối tượng của chánh niệm, điều ấy sẽ dạy chúng ta rất nhiều. Lúc chúng ta tham dự vào những sự kiện ấy, chúng ta không thể thấy rõ ràng như chúng ta thấy bây giờ. Nhờ thực tập chánh niệm, chúng ta có được đôi mắt mới, và chúng ta có thể học được nhiều bài học từ quá khứ.
H.: Xin Thầy nói thêm về hơi thở.
T.L.:Nhờ thực tập, phẩm chất hơi thở của bạn sẽ khá hơn. Nó sẽ trở nên sâu hơn và chậm hơn. Nó đem lại niềm vui thích cho thân tâm bạn, ngoài ra không có gì thay đổi. Bạn tiếp tục thở, đi và ngồi như thường lệ, và phẩm chất của hơi thở, bước đi và sự ngồi sẽ tiến bộ. Thực tập hơi thở có ý thức phải đem lại nhiều thích thú, sự sống và niềm vui hơn. Thiền tập không đem lại điều gì tiêu cực cả. Nếu ta thấy có gì đối nghịch với an lạc, thoải mái và niềm vui, là ta đã làm sai. Thiền tập chỉ làm thăng tiến phẩm chất của đời sống trong giây phút hiện tại.
H.:Ở Tây phương, người ta nhấn mạnh đến sự thành công. Có thể có thành công hay không?
T.L.: Lấy ví dụ ta đi thiền hành. Có thể ta đi thiền hành một lúc, rồi vì ta muốn nhìn vạn vật như cỏ cây, hòn đá, mây, v.v.., ta để ý thấy một cái hoa rất đẹp trước mặt, và ta muốn ngưng thiền hành để ngắm hoa. Không sao cả, bởi vì mặc dầu ta dừng bước, nhưng sự vui thích vẫn còn.
Ngồi thiền cũng vậy. Trong khi bạn đang vui thú thở vào thở ra, có thể một ý nghĩ đột nhiên đến với bạn. Bạn có tự do lựa chọn tiếp tục hơi thở có ý thức hay là trở về với ý nghĩ ấy. Bạn có thể quyết định và nói với ý nghĩ ấy rằng:
“Tôi muốn tiếp tục hơi thở có ý thức trước khi tôi dùng thì giờ cho anh bạn.” Nếu ý nghĩ ấy chấp thuận thì nó sẽ lui về đằng sau, để cho bạn tiếp tục thiền quán. Cũng giống như khi bạn duyệt qua một chồng thư từ trên bàn giấy và để riêng một bức thư đặc biệt để đọc sau cùng.
Chánh niệm có thể là chánh niệm về một điều gì bạn thích trong giờ phút hiện tại. Nếu ý nghĩ ấy rất mạnh và muốn bạn chú ý đến ngay thì sao? Thì bạn có thể nói rằng: “Ðược rồi, tôi ngưng hơi thở có ý thức bây giờ và để ý đến anh bạn.” Rồi bạn có thể tập trung sự chú ý vào đề mục mới của thiền quán. Không có gì hại cả.
Nếu trong lúc ngồi thiền, bạn bị đau chân sau chỉ mười phút, có lẽ bạn nghĩ rằng mình phải chịu đựng sự đau đớn này và ngồi cho hết mười lăm phút, nếu không thì mình thất bại. Bạn không cần phải nghĩ như vậy. Thay vì thế bạn có thể thực tập xoa bóp trong chánh niệm. “Thở vào, tôi biết rằng tôi bắt đầu phải đổi thế ngồi. Thở ra, tôi mỉm cười với sự đau chân của tôi.” Bạn tự do lựa chọn đối tượng của sự thiền quán. Bạn đâu có từ bỏ thiền quán; không một giây phút nào của sự thiền quán bị lãng phí. Bạn không thất bại.
H.: Thế nào là một vị thiền sư?
T.L.: Một vị thiền sư là một người đã thực tập thiền quán một thời gian, đã có kinh nghiệm về thiền quán, và có thể chia sẻ sự thực tập này với những người khác.
H.: Tôi có căn bản Thiên chúa giáo . Tôi có thể thực tập chánh niệm không?
T.L.: Tôi đã nghiên cứu Thiên chúa giáo và tìm thấy có nhiều lời dạy về chánh niệm trong Thiên chúa giáo, cũng như trong Do thái giáo và Hồi giáo. Tôi nghĩ rằng chánh niệm có một bản chất chung cho toàn thế giới. Bạn có thể tìm thấy nó trong tất cả các truyền thống tâm linh. Nếu bạn nghiên cứu kỹ đời sống của một vị hiền nhân trong bất cứ truyền thống nào, bạn sẽ tìm thấy tính chất chánh niệm trong đời sống hiền nhân ấy. Một hiền nhân là người có khả năng sống sâu sắc từng giây phút của đời sống và tiếp xúc được với những gì đẹp và thật trong từng giây phút ấy.
Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể học hỏi từ nhiều truyền thống trong cùng một lúc. Nếu bạn thích cam, mời bạn cứ ăn cam, nhưng không có gì ngăn cản bạn thưởng thức thêm trái kiwi hay xoài. Tại sao phải tự cam kết với một loại trái cây mà thôi, trong khi tất cả truyền thống tâm linh của nhân loại đều sẵn sàng cho bạn? Ta có thể có gốc rễ Phật giáo cùng với gốc rễ Thiên chúa giáo và Do thái giáo. Như vậy chúng ta có thể lớn mạnh hơn.
H.: Có một mãnh lực nào hướng dẫn đời sống chúng ta? Có một lực nào mạnh hơn để chỉ đường cho chúng ta?
T.L.: Tôi đã nói rằng trong mỗi tế bào của cơ thể, bạn đều có thể tìm thấy vừa Ðịa ngục vừa Thiên đàng của Thượng đế. Mãnh lực tâm linh cao hơn hay thấp hơn đều có sẵn trong người bạn. Khi bạn có từ tâm bạn có thể tiếp xúc với từ bi khắp nơi. Khi bạn có hạt giống bạo động và hận thù, bạn sẽ bắt liên lạc với những năng lượng ấy quanh bạn. Vì vậy rất là quan trọng khi bạn lựa chọn một đài vô tuyến để mở ra xem.
Nếu bạn quyết định chỉ nuôi dưỡng mình bằng những năng lượng tích cực mà thôi, thì chánh niệm có thể giúp bạn phân biệt giữa những năng lượng thích hợp và những năng lượng không thích hợp cho bạn. Ví dụ người nào bạn nên hợp tác, loại thực phẩm nào bạn không nên ăn, chương trình truyền hình nào bạn nên xem, v.v… Chánh niệm có khả năng cho bạn biết những gì bạn cần và những gì có hại cho bạn.
H.: Xin Thầy giải thích về nguồn thơ Thầy đã làm.
T.L.: Làm thơ là điều tôi có thể làm suốt ngày. Khi tôi tưới rau hay tôi rửa bát, nguồn thơ được phát sinh trong tôi. Khi tôi ngồi xuống bàn viết là tôi chỉ việc viết ra thơ. Nguồn thơ đến với ta như một nguồn cảm hứng. Thơ là hoa trái của đời sống trong chánh niệm của tôi. Sau khi làm được một bài thơ, tôi nhận thấy nó giúp ích cho tôi; bài thơ giống như một “tiếng chuông chánh niệm.”
Ðôi khi bạn cần phải đọc lại một bài thơ đã làm vì nó đem bạn trở về một kinh nghiệm tuyệt vời; nó nhắc bạn về sự hiện hữu của một cái gì đẹp trong tâm bạn và quanh bạn. Vì vậy một bài thơ là một bông hoa mà bạn hiến tặng cho cuộc đời, và đồng thời nó cũng là tiếng chuông chánh niệm để nhắc bạn nhớ đến sự hiện hữu của một điều gì đẹp trong đời sống hằng ngày.
