09. Ba uống cà phê trên vỉa hè ở paris

Ba đi Am Phương Vân về kể chuyện vui lắm. Tại Am Phương Vân Ba đã gặp lại Sư Ông, bác Tuệ và cô Chín. Sau một tuần lễ lưu lại Am Phương Vân, Ba đã được bác Tuệ mời lên Paris chơi. Ba ở Paris chơi một ngày một đêm rồi mới ra ga xe lửa về Strasbourg. Ba tả cảnh Am Phương Vân. Am dựa vào một sườn đồi, và sau ngọn đồi đó có những ngọn đồi khác. Trước mặt Am về phía bên kia quốc lộ 60 là những cánh đồi và cánh rừng thuộc về vùng Othes. Sau lưng Am cũng có đồi và rừng. Trên đỉnh đồi trái phía sau Am là một khóm rừng nơi đó có một cây thông rất lớn và rất xum xuê được gọi là cây thông Thanh Từ. Thanh Từ là tên của một vị thiền sư ở Việt Nam mà Ba có quen. Những người đến Am học thiền thường đi thiền hành mỗi ngày nhiều bận từ Am lên tới cây thông Thanh Từ rồi trở về Am. Ba nói Ba đã đi thiền hành nhiều lần trên con đường đó. Có lần Sư Ông lại đưa Ba và bác Tuệ sang bên kia quốc lộ, đi sâu vào những cánh rừng bên đó. Ba nói Ba có thấy một tòa lâu đài rất đẹp và rất tĩnh mịch nằm khuất trong một cánh rừng.

Ở Am Phương Vân, Ba được ăn cơm Việt Nam suốt cả tuần. Có lần cô Chín nấu một thứ canh chua gì ngon quá mà ở trong đó có cả thứ gì giống như là bạc hà. Cô Chín nói rằng cô đã nấu canh bằng cọng rhubarde. Cô đưa Ba ra vườn, chỉ cho Ba xem khóm rhubarde, bẻ một cọng, tước vỏ để Ba nếm. Cọng rhubarde chua và dòn, xắt ra lát mỏng có thể ăn thay khế chua. Món nào Ba cũng khen là ngon, có lẽ vì món nào cũng là món ăn đất nước.

Ba kể rằng trước sân Am có một cái giếng nước cũ, thành giếng do Sư Ông xây lại. Bên giếng có một cây mận rất ngon. Quanh giếng có treo nhiều võng. Lại có một cây táo (pommier) rất nhiều trái. Trái rất lớn và chua; bọn thiếu nhi, và cả người lớn nữa, thường đâm muối ớt ra để ăn với táo. Họ cắt táo thành nhiều lát mỏng, ăn như ăn xoài chua. Ba ngồi võng gọt táo chấm muối ớt ăn và nói chuyện với bác Tuệ và bác Anh. Ba rất tiếc rằng ba mẹ con Tý không được về thăm Am Phương Vân với Ba. Ba nói Ba đã bàn chuyện nhiều với Sư Ông. Sư Ông mời Ba về miền Nam nước Pháp làm việc với Sư Ông. Sư Ông muốn Tý và Miêu về sống tại miền quê. Sư Ông muốn thấy Tý và Miêu chạy chơi trên những đồng cỏ rộng ở miền quê hơn là ở mãi trong những căn phòng chật hẹp nơi phố phường đông đúc. Ba nói Ba cũng muốn như vậy. Hồi ở trại Palawan, sở dĩ Ba xin đi Úc vì Ba nghe nói có thể tạo lập một nông trại bên đó. Ba ưa thiên nhiên và hoa cỏ. Sư Ông nói với Ba là Sư Ông mừng lắm khi thấy Ba qua tới. Năm ngoái khi nghe tin Ba vượt biên, ngày nào Sư Ông cũng niệm Bụt hộ niệm cho gia đình Tý được tai qua nạn khỏi. Sư Ông nói Sư Ông niệm Bụt trong lúc cuốc đất, giặc áo, lượm củi, trồng rau và cả khi rửa chén bát nữa. Sư Ông nói nếu Ba qua được thì Ba sẽ cùng Sư Ông làm Làng Hồng. Tý hỏi Làng Hồng là gì. Thì Ba nói: “Thong thả rồi con sẽ biết.”

Tại Am Phương Vân, Ba gặp cả bốn năm chục người tới học Thiền, phần lớn là người Việt. Có nhiều người mặc áo dài Việt. Ba nói cô Chín cũng mặc áo dài trắng khi ra ga đón Ba. Ba nói đây là lần thứ hai Ba gặp một người mặc áo dài trắng. Lần đầu tiên là ở Strasbourg. Hôm ấy, Ba đi ra ga để hỏi thăm về giờ giấc xe lửa. Trên đường về, Ba gặp một cô gái Việt Nam mặc áo dài trắng rất đẹp. Từ ngày rời quê hương, đây là lần thứ nhất Ba gặp người đồng hương mặc áo dài. Ba rất cảm động. Ba còn đang đứng ngắm thì cô ấy đã tới gần Ba để hỏi thăm về Strasbourg. Ba đâu có biết nhiều về Strasbourg cho nên không trả lời cô ấy được. Tuy vậy Ba nói: ”Ðể tôi đưa cô tới nhà một người bạn của tôi, anh ấy là thổ công Strasbourg; cô hỏi gì anh ấy cũng sẽ trả lời được hết.” Rồi Ba đưa cô ấy tới nhà bác Thành. Tối hôm đó Ba kể lại câu chuyện đó cho Mẹ, cho Tý và cho Miêu nghe. Mẹ cười, nói: “Anh dễ thương với cô ấy lắm.” Tý nhớ ngày xưa Mẹ cũng ưa mặc áo dài trắng. Tý nói: “Chừng nào mình có nhà cửa xong xuôi, Mẹ may áo dài trắng để mặc nghe Mẹ.” Nghe Tý nói, Ba và Mẹ nhìn nhau cười.

“Như vậy thì gia đình mình sẽ định cư tại miền Nam hả anh?”, Mẹ hỏi. Ba gật đầu. Ba nghe cô Chín nói ở miền Nam trời ít lạnh hơn miền Bắc. Ở miền Nam mình sẽ trồng được nhiều rau cải Việt Nam hơn. Chỉ ở miền Nam mình mới có thể trồng một giàn su le thật lớn. Nội một chuyện này thôi cũng đủ cho Mẹ đồng ý về định cư ở miền Nam rồi.

Tý hỏi thăm Ba về thành phố Paris. Ba kể rằng bác Tuệ đã đưa Ba đi dạo trong vườn Lục Xâm Bảo (Jardin Luxembourg) đẹp lắm. Ba và bác Tuệ ngồi chơi trong ấy rất lâu. Rồi bác Tuệ đưa Ba ra đi bộ bên bờ sông Seine. Ngày xưa Ba thường được nghe nói tới con sông danh tiếng này và đã có nhiều lần Ba ước ao được ngồi bên bờ để hút một điếu thuốc và nhìn dòng sông chảy. Nay Ba đã toại nguyện. Ba nói sông Seine không đẹp gì hơn những con sông ở quê hương mình. Tối hôm đó, Ba và bác Tuệ ngồi uống cà phê trên một vỉa hè ở khu La Tinh. Mỗi người chỉ uống một tách thôi, nhưng hai người đã ngồi rất lâu để chuyện trò và nhìn ngắm những người qua lại. Bác Tuệ nói thành phố Paris tháng này ít người vì thiên hạ đã đi nghỉ hè rất nhiều. Mùa này chỉ có khách du lịch ngoại quốc là đông.

Khi bác Tuệ trả tiền cà phê, Ba nhận thấy giá cà phê quá đắt: mười bốn quan Pháp một ly. Ba giật mình. Hồi ở Am Phương Vân, cô Chín đã từng nói với Ba mười bốn quan Pháp có thể mua được bốn hộp thuốc Optalidon. Gửi về Việt Nam, bốn hộp này có thể đổi được hai mươi lăm lít gạo, đủ nuôi được một đứa trẻ như Tý trong vòng hai tháng. Bác Tuệ nói chính chỗ ngồi uống cà phê đắt chứ không phải là cà phê đắt. Ba nói kỳ sau Ba sẽ không ngồi uống cà phê ở những chỗ như thế nữa. Mẹ nói: ”Anh đừng lo. Chừng nào mình có nhà, em sẽ pha cà phê thật ngon cho anh uống. Em sẽ đặt bàn cho anh và Dũng uống cà phê dưới giàn su.”

Chiều hôm sau, khi đi học về, Tý được Ba gọi lại. Ba đưa cho Tý xem một cuốn sách mà cô Chín đã gửi tới cho Ba trước đây chừng ba tuần lễ. Cuốn sách có nhan đề là Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức. Ba nói cuốn sách do Sư Ông viết từ hồi năm 1972, trong hình thức một lá thư gởi cho Ba. Hồi đó Tý mới có sáu tháng. Ba mở ra và chỉ cho Tý đọc một đoạn ở trang ba mươi tư. Tý đọc:

“Thiều và các bạn nên xúc tiến việc thành lập Làng Hồng. Làng Hồng là hình ảnh tươi mát trong lòng mỗi chúng ta. Làng Hồng cũng là hình ảnh ấm áp. Các anh chị tác viên khi lập gia đình cũng nên về cư trú tại Làng Hồng. Sau này tôi cũng về Làng Hồng. Làng Hồng sẽ có hợp tác xã. Mình sẽ săn sóc cho dân làng, tổ chức sinh hoạt cho trẻ con, và tạo nên nếp sống sinh hoạt tâm linh cho mọi người. Mỗi tác viên, khi về đến Làng Hồng là thấy thoải mái. Trong một tháng cư trú tại Làng Hồng, người tác viên chơi đùa với trẻ con (bọn Lê Hải Triều Âm lúc này đông lắm), đọc sách, nằm võng, trồng rau, ngồi thiền, rủ bỏ những bụi bặm phiền não, luyện thêm ý chí, thêm yêu thương…”

Ðọc ngang đoạn “bọn Lê Hải Triều Âm lúc này đông lắm…” Tý rất ngạc nhiên. Lê Hải Triều Âm là tên của Tý. Tại sao tên của Tý lại có trong sách này được. Ba nói: Sách này đã được nhà xuất bản An Tiêm in ở Sài Gòn tháng tư năm 1975, nhưng vì thời thế lộn xộn nên không phát hành được. Ba nói là hồi Tý mới sinh ra, Ba có viết thư báo tin cho Sư Ông biết, và Sư Ông đã có gởi quà về cho Tý. Sáu tháng sau, Sư Ông viết cuốn sách này.

08. Ba được mời làm ông bầu

Tại trung tâm Strasbourg có khoảng hai chục gia đình người tỵ nạn như gia đình Tý. Có nhiều chú thanh niên độc thân. Vào những giờ rảnh rỗi, họ chơi bóng tròn với nhau; và với sự khuyến khích của ban giám đốc, họ tổ chức một đội bóng tròn để thỉnh thoảng đi đấu với các đội khác, kể cả với những đội bóng tròn của người tị nạn bên Ðức. Ba được họ mời làm ông bầu. Lần đầu tiên khi họ ngỏ ý mời, Ba cười và nói rằng Ba không biết chơi bóng tròn. Họ nói làm ông bầu đội bóng tròn không nhất thiết phải biết chơi bóng tròn. Ông bầu chỉ làm công việc tổ chức. Thấy họ năn nỉ quá, Ba nhận lời. Ðội bóng tròn của trung tâm Strasbourg hên lắm, đá ở đâu thì thắng ở đó. Mấy chú nói rằng đó là nhờ đức của Ba. Cũng vì làm ông bầu của đội bóng cho nên thỉnh thoảng Ba được mời đi với đội bóng tới các thành phố khác, nhất là vào những ngày cuối tuần. Thỉnh thoảng Ba lại được mời ăn cơm Việt Nam. Sau mỗi chuyến đi mà được ăn cơm Việt Nam như thế, Ba đều kể lại cho Mẹ, cho Tý và cho Miêu nghe. Ba tả bữa cơm với đầy đủ chi tiết: nào dưa cải, nào canh chua, nào cá kho. Làm cho cả nhà thèm quá. Mẹ hỏi: “Ở đây mà cũng có cải để làm dưa hả?” Ba trả lời: “Có chứ, ở đây có thể trồng cải và trồng ngò được. Chừng nào có nhà, có vườn, mình sẽ trồng cải để làm dưa và trồng ngò để bỏ lên canh.” Mẹ hỏi: ”Ở đây nấu canh chua bằng cái gì hả anh? Làm gì có me, làm gì có khóm.” Ba cười: “Ở các chợ Tây người ta có bán khóm. Còn me thì phải đi chợ Á Ðông. Thành phố nào cũng có chợ Á Ðông. Bên này cái gì cũng có thể mua được em ạ.” Mắt Mẹ sáng lên, Tý thấy mà thương.

Ở trung tâm tạm cư, người tỵ nạn không có quyền nấu nướng. Có một hôm Ba đề nghị vào rừng chơi, Ba sẽ nấu một nồi cơm cho cả nhà ăn trong rừng. Ba đã tìm được một cái hộp bằng nhôm khá lớn, có cả nắp. Ba mua sẵn một hộp gạo ngoài chợ siêu thị và đem theo một chai nước. Ba quyết nấu cho được một nồi cơm để mấy mẹ con ăn cho đỡ thèm. Những người cùng đi chơi nói rằng người ta cấm đốt lửa trong rừng. Biết vậy nhưng Ba vẫn đi một mình vào một khu mà không có người lui tới. Ba tài lắm. Chừng ba mươi phút sau, Ba xách được “nồi cơm” về. Cả nhà ăn cơm trong cái vỏ lon bia; ăn với muỗng cà phê bằng nhựa, và ăn với nước chấm Maggi. Ngon quá, và vui quá. Có một hôm, vào khoảng một tuần lễ sau ngày nấu cơm trong rừng, gia đình Tý được bác Thành mời đến nhà ăn cơm. Bác Thành là người đã định cư lâu năm tại Strasbourg. Bác đã nhiều lần tới thăm đồng bào tại trung tâm tạm cư, Bác biết rất rõ về thành phố Strasbourg. Ba nói Ba đã học được nhiều điều khi nói chuyện với Bác. Ba gọi bác là thổ công Strasbourg. Thổ công là ông thần đất. Ông thần đất đai thì phải biết hết mọi chuyện trong vùng. Gia đình Tý được mời tới nhà bác ăn cơm vào một tối thứ bảy. Bác Thành chưa có con. Bác và bác gái đều là người miền Nam. Hai bác đón tiếp gia đình Tý rất niềm nở. Hôm ấy trên bàn ăn có dưa cải, có canh chua, có giá xào, có thịt kho. Cơm trắng rất thơm, hơi bốc nghi ngút. Thật là một buổi ăn rất Việt Nam. Thấy Tý và Miêu rụt rè, bác gái luôn luôn gắp thức ăn bỏ vào chén hai đứa. Thằng Miêu hôm đó giỏi lắm. Hai cái chân của nó không múa máy nhiều như mọi hôm. Ðêm ấy bác Thành và Ba uống cà phê nói chuyện tới khuya. Bác gái và Mẹ vừa rửa dọn vừa chuyện trò với nhau trong nhà bếp. Tý và Miêu được phép xem vô tuyến truyền hình trong một gian phòng nhỏ. Ba bảo vặn máy thấp thôi để ngoài kia Ba nói chuyện. Tới nửa đêm, bác Thành lấy xe hơi đưa gia đình Tý về Trung Tâm.

07. Miêu đạp thằng tây con

Máy bay của Tý ghé Vọng Các, Tân Ðề Ly và La Mã trước khi đáp xuống phi trường Charles De Gaulle phía Ðông Bắc thành phố Ba Lê. Làm thủ tục quan thuế và lấy hành lý xong, Tý đưa mắt nhìn xung quanh xem có thấy cô Chín và bác Tuệ không. Nhưng Tý không thấy. “Ba ơi Ba, cô Chín và bác Tuệ có đi đón mình không, thưa Ba”, Tý hỏi. Ba trả lời: “Không đâu con; Ba không có đánh điện báo trước giờ máy bay tới; cô Chín và bác Tuệ đâu có biết mà đi đón.” Tý thấy thất vọng. Người đi đón gia đình Tý là một người Pháp mà Ba không quen. Ông ta đại diện cho ban quản trị trung tâm tạm cư Herblay. Gia đình Tý sẽ tạm cư tại trung tâm này. Từ phi trường về trung tâm Herblay phải mất chừng một tiếng rưỡi đồng hồ. Ðường sá bên Pháp rất tốt, cột đèn rất nhiều, giây điện giăng chằng chịt. Khí trời ấm áp, cây cối xanh tươi. Tại trại Herblay, gia đình Tý được đưa vào tạm trú trong một căn phòng khá rộng trên lầu hai của một chung cư. Thức ăn do trại nấu nướng và cung cấp. Gia đình Tý lại phải ăn cơm tây, nghĩa là cơm mà không có cơm, chỉ có bánh mì, thịt và rau. Rau ở đây không giống rau bên nhà. Họ để sống, hoặc luộc rất chín. Mấy bữa đầu Tý còn ăn được. Sau đó ớn quá, Tý nuốt không trôi. Miêu cũng nuốt không trôi. Anh em Tý thèm cơm quá. Ba cũng thèm cơm. Mẹ cũng thèm cơm. Chú Dũng cũng thèm cơm. Tý nhớ tới một câu hát mà ngày trước Tý thường nghe Ba hát và thấy rất thấm thía:

”Quê hương là mưa nắng
Quê huơng là khoai sắn

Quê hương là cơm ngon.”

” …Quê hương là cơm ngon”, Tý vừa nhớ quê hương vừa nhớ tới cơm. Mẹ nói: “Các con ráng đi, chừng nào có nhà riêng, mình sẽ nấu cơm ăn mỗi ngày.” Tý cảm thấy lòng tràn đầy hy vọng. Tại trại Herblay có nhiều gia đình tỵ nạn khác. Có người Việt nhưng cũng có người Miên và người Lào. Ra vào Tý gặp những đứa trẻ bằng tuổi Miêu và tuổi Tý. Tý chưa kịp làm quen với đứa nào thì người ta đưa gia đình Tý dời về trung tâm tạm cư Strasbourg. Ba hỏi thăm thì biết rằng thành phố Strasbourg ở về phía Ðông Bắc nước Pháp, không xa biên giới Ðức bao nhiêu. Ba, Mẹ, Tý và Miêu sẽ về đó tạm cư cho đến khi Ba tìm được nơi định cư và công ăn việc làm. Riêng chú Dũng vì còn là thanh niên độc thân nên họ khuyên nên chuyển về trại tạm cư Toulouse miền Nam nước Pháp để theo một trong những khóa huấn nghệ (nghĩa là học nghề) do trại tổ chức. Ba dặn chú Dũng phải thường xuyên liên lạc với Ba. Sau này chú Dũng học nghề xong, gia đình sẽ lại được đoàn tụ. Còn hai hôm nữa chú Dũng mới đi Toulouse. Ba, Mẹ Tý và Miêu được chuyển đi Strasbourg trước. Chú Dũng xuống sân đưa tiễn. Chú ôm Tý và Miêu thật chặt trước khi Tý và Miêu leo lên xe buýt.

Ngồi trên xe buýt, Tý lại nhìn ra hai bên đường để quan sát. Ði qua các thành phố, Tý thấy toàn là các ông Tây bà Ðầm. Ở Việt Nam ít khi mà thấy có một ông Tây hay một bà Ðầm lắm. Ở miền quê hễ có mặt một người ngoại quốc thì bọn con nít kéo nhau ra xem. Ở đây thì ngược lại. Toàn là Tây và Ðầm. Nhìn mãi không thấy được một người Á  Ðông. Ba nói đúng. Ðây là xứ lạ quê người. Tý bỗng thấy nhớ nhà quá. Nó nhớ ngôi nhà của nó ở  Làng Báo Chí, Thủ Ðức. Nó nhớ cây bông giấy trước sân nhà. Nó nhớ cây mận bên hông nhà. Nó nhớ khoảnh đất bên hông nhà nơi đó Mẹ trồng lá dứa, cần tàu và rau quế. Nó nhớ trường học của nó. Nó nhớ thằng Ngữ. Rồi trí nhớ của Tý bay về quê ngoại. Nó nhớ ao cá, nó nhớ những cây dừa, nó nhớ anh Tửng. Anh Tửng leo dừa giỏi nhất xóm. Nó nhớ bà ngoại. Nó nhớ Dì Sương. Nó nhớ em Du. Nước mắt nó rơi xuống từng giọt.

Tại trung tâm tạm cư Strasbourg, gia đình Tý được đưa vào cư trú trong một gian phòng sạch sẽ ở lầu hai trong một tòa chung cư. Thức ăn cũng là thức ăn Tây phương do trung tâm nấu nướng và cung cấp. Trong suốt bốn tháng trời gia đình Tý phải ăn cơm Tây. Thường thường ngồi vào bàn ăn là Tý không muốn ăn. Miêu cũng vậy. Thịt bò nhiều quá. Từng miếng thịt rất to và dai nhách. Tý và Miêu không bao giờ cắt nổi miếng thịt bằng dao và nĩa. Tý ăn các thứ khác: rau xà lách, khoai tây tán, đậu que luộc, vân vân. Có một bữa Ba đi đâu về mua được một chai nước chấm Maggi. Cả nhà mừng quýnh. Cả nhà bẻ bánh mì nhúng nước Maggi mà ăn. Ngon quá. “Nếu có thêm trái ớt nữa thì tuyệt”, Ba nói. Hồi ở Việt Nam, thỉnh thoảng Tý cũng được ăn bánh mì chấm Maggi.

Tý và Miêu được đi học. Ði học thì phải băng qua nhiều đường phố; xe cộ chạy như bay, rất là nguy hiểm. Vì vậy sáng nào Ba cũng phải đưa Tý và Miêu đi. Cô giáo của Tý rất dịu dàng. Ba nói cô ấy đẹp lắm. Mẹ nói: “Hèn gì mà sáng nào anh cũng phải đưa tụi nó đến trường.”

Ngay trong tuần lễ đầu tiên tại trường, Miêu đã chạm trán với mấy đứa Tây con rồi. Có một thằng Tây con, tuổi bằng Miêu, đến khiêu khích Miêu. Nó giật cục gôm mà Miêu đang cầm trên tay và bẻ đôi cục gôm thành hai rồi đôi xuống đất. Tức quá, Miêu phản ứng liền. Nó phóng chân đạp thằng Tây con một đạp ngay trước ngực. Thằng kia té nhào, khóc lóc và chửi rủa om sòm. Tý và nhiều đứa khác chứng kiến việc ấy. Cô giáo tới. Tiếng Pháp của Tý còn non quá; Tý không thể nói cho cô giáo nghe những gì vừa xảy ra. May thay, có một đứa con gái đã thay Tý làm việc đó. Nghe xong, cô giáo phạt cả hai đương sự: thằng Tây con bị phạt vì đã bẻ cục gôm của Miêu, và Miêu bị phạt vì đạp vào ngực nó. Cô giáo nói với Miêu rằng thay vì đạp thằng kia đáng lý Miêu phải tới mách cô giáo.

Cô giáo vừa nói vừa làm dấu hiệu bằng tay nên Tý và Miêu hiểu được. Tý nghĩ rằng nếu Miêu cầm hai nửa cục gôm tới mách cô giáo, dù là mách bằng tiếng Việt, thì cô giáo cũng có thể hiểu được Miêu muốn nói gì, miễn là Miêu cũng biết làm dấu hiệu bằng tay như cô giáo. Tý cảm thấy mình khác với Miêu. Tý hay nhường nhịn. Ðối với chuyện nhỏ nhặt, Tý thường bỏ qua không thèm phản ứng. Khi nào thấy tức quá, Tý mới đến thưa với người lớn. Tý không ưa phản ứng thô bạo, và Tý tránh những lối phản ứng thô bạo. Tuy nhiên có một lần Tý đã phản ứng thô bạo bằng cách liệng vào đối phương một cục gạch. Không may cho Tý, cục gạch đã trúng vào trán đối phương và làm cho đối phương chảy máu.

Việc đó xảy ra hồi Tý còn ở Thủ Ðức. Một hôm đi học về giữa đường, Tý bị thằng Hào ngăn không cho về. Thằng Hào lớn hơn Tý. Nó cầm một cái sào dài. Tý tìm mọi cách để chạy thoát nó, nhưng không đuợc. Nó lại còn cầm cái sào đập vào đầu Tý một cái đốp. Tý không sao chạy thoát khỏi thằng Hào. Tụi bạn Tý cũng đã về hết rồi. Tý không kêu cứu với ai được, cũng không có cách nào mách cho người lớn. Tý lúng túng lắm. Thằng Hào càng lúc càng làm già. Cuối cùng, Tý thật sự nổi khùng. Tý lượm một cục gạch bên đường, lớn bằng ngón chân cái của Tý và ném vào trán Hào. Bị chảy máu trên trán, Hào bỏ Tý chạy về nhà. Tý thoát khỏi tay Hào. Tối hôm ấy, má của Hào là bà Thụy đem Hào tới nhà Tý để mắng vốn.

Chiều hôm ấy khi nghe xong câu chuyện cục gôm của Miêu, Ba phá lên cười. Rồi Ba nói với Miêu: “Lần sau nếu có chuyện như vậy xảy ra, con nên mách cô giáo.”

Cũng chiều hôm ấy, Ba cho Tý biết là cô Chín có điện thoại tới cho Ba. Ba kể sở dĩ lâu nay cô Chín chưa tiếp xúc được với Ba bởi vì cô Chín không có mặt trong nước Pháp. Cô Chín có chuyện phải đi ra nước ngoài. Mới về tới và nghe tin gia đình Tý đã đến Pháp, cô Chín liền tìm cách điện thoại cho Ba ngay. Hiện cô đang ở tận miền Nam nước Pháp, cho nên cô chưa lên thăm gia đình Tý được. Cô cho biết là cô sẽ gửi ngay cho gia đình Tý những thứ thuốc men cần thiết và một số sách bằng tiếng Việt. Tý mừng quá. “Còn Sư Ông ở đâu?” Tý hỏi. Ba nói theo lời cô Chín thì Sư Ông đi dạy học ở nước Hòa Lan mới về. Thơ của Ba gởi cho Sư Ông hơn tháng nay, Sư Ông mới đọc ngày hôm qua. Hiện Sư Ông đang ở tại Am Phương Vân ở miền Trung nước Pháp. Mùa học thiền đã tới, cho nên người ta bắt đầu quy tụ về Am Phương Vân để tu. Vì vậy Sư Ông cũng chưa đi thăm gia đình Tý ngay được. Sư Ông gởi lời mời gia đình Tý về chơi Am Phương Vân, và nói rằng Sư Ông muốn mua vé xe lửa cho tất cả bốn người. Cô Chín đã nói với Ba là trong một tuần lễ nữa cô cũng sẽ về Am Phương Vân và cô mong sẽ gặp gia đình Tý ở đó. Ðêm hôm ấy, gia đình Tý bàn luận sôi nổi lắm về chuyện đi Am Phương Vân. Ba nói Am Phương Vân ở về phía Tây cách thành phố Strasbourg khoảng gần bốn tiếng đồng hồ. Ba nói đây sẽ là lần đầu tiên Mẹ, Tý và Miêu được gặp Sư Ông. Lần cuối cùng mà Ba gặp Sư Ông là cách đây mười sáu năm.

Chiều hôm sau, khi Tý và Miêu đi học về, Ba cho biết là sẽ chỉ có một mình Ba đi Am Phương Vân thôi, bởi vì bác sĩ không cho Mẹ đi. Mẹ đang có mang em bé và chỉ trong vài tháng nữa em bé đã ra đời rồi. Mẹ có mang em bé từ khoảng đầu năm, tại trại tỵ nạn Palawan. Nếu Mẹ ở nhà thì anh em Tý cũng phải ở nhà. Tý phải ở nhà để chăm sóc và giúp đỡ cho Mẹ. Ba sẽ vắng mặt trong suốt một tuần lễ. Ba nói là Ba sẽ điện thoại về. Tý hứa với Ba là trong suốt thời gian Ba vắng mặt, Tý sẽ coi chừng Miêu rất cẩn thận mỗi khi băng qua đường phố để đi đến trường. Tý sẽ nắm cánh tay Miêu và đợi cho tới khi có đèn xanh mới đưa Miêu băng qua con lộ.

06. Tý đi máy bay

Một buổi sáng nọ, Ba được báo tin là nước Pháp đã chấp thuận cho gia đình được định cư tại Pháp. Ba thở dài nhẹ nhõm. Người ta nói Ba chuẩn bị để ngày mai đưa gia đình về trại chuyển tiếp, ở đó mọi người sẽ nhận chiếu khán và đợi chuyến bay kế đi Paris.

Chiều hôm ấy sau khi chuẩn bị hành trang, Tý và Miêu đi chào các bạn quen trong trại. Các gia đình cùng vượt biển trên ghe với gia đình Tý đều làm thủ tục đi Ðức; chỉ có gia đình Tý là được đi Pháp. Tý nói với Trung và Cu sau này nếu có dịp Tý sẽ từ Pháp sang Ðức để thăm hai người. Nghe nói nước Pháp và nước Ðức ở gần sát bên nhau. Tý đòi lại cuốn Văn Lang Dị Sử mà Trung đã mượn. Cuốn sách tuy đã sờn và cũ nhưng Tý vẫn trân quý nó. Tý định bụng qua tới Pháp sẽ kiếm một tờ giấy dầu bọc lại sách. Sáng hôm sau, gia đình Tý được chuyển về trại chuyển tiếp cùng với bốn gia đình khác. Họ không đi Pháp mà sẽ đi Úc hoặc đi Hoa Kỳ. Tới trại chuyển tiếp được hai hôm thì gia đình Tý được lên máy bay của hãng Air France đi Pháp.

Ngồi trên máy bay, Tý đưa mắt quan sát mọi người. Máy bay rộng thênh thang. Máy bay rộng lớn bằng mấy cái nhà. Phần lớn hành khách là người da trắng. Bọn con nít Tây Phương hầu như đứa nào cũng tóc vàng, hoặc nếu không vàng thì cũng hung hung đỏ. Tụi nó đi giầy đi tất cẩn thận. Anh em Tý đi dép, thứ dép Nhật Bổn có hai quai. Tý cảm thấy hơi lạnh. Có lẽ vì máy bay bay cao. Tý quay lại nhìn Miêu. Chắc Miêu cũng đang lạnh. Hai đứa chỉ mặc có áo sơ mi mỏng và quần tây cụt. Nó ôm lấy Miêu cho Miêu đỡ lạnh. Vừa lúc đó có một cô chiêu đãi viên đi qua. Cô đứng lại nhìn hai đứa, rồi với tay lên trần máy bay, mở cửa kệ, lấy xuống hai cái mền. Cô quấn mền lên cho Miêu và cho Tý. Rồi cô lấy xuống thêm ba cái mền nữa, để đưa cho Ba, Mẹ và chú Dũng. Ba nói “Cám ơn” bằng tiếng Pháp. Khi cô chiêu đãi viên đi rồi, chú Dũng nói với Tý: “Hãng máy bay này là của Pháp thì chắc cô ấy người Pháp.” Tý cũng nghĩ như chú Dũng vậy. Qua cửa sổ máy bay, Tý nhìn xuống dưới. Tý thấy biển. Máy bay đã rời Phi Luật Tân và đang bay vào phía Tân Gia Ba. Ngồi trên máy bay, Tý tưởng tượng giờ phút mình đặt chân lên đất Pháp. Bây giờ là tháng sáu. Tý nghe Ba nói tháng này bên Pháp đã ấm. Mẹ nói là mùa đông bên đó trời lạnh lắm; tuyết rơi đầy trời. Tý đã thấy tuyết rơi một lần trên màn ảnh. Tý rất mong được trực tiếp thấy tuyết rơi trên tóc và trên áo mình. Chắc qua bên ấy anh em Tý phải mặc áo cho thật ấm mới được.

Tý nghĩ rằng qua tới Pháp, gia đình Tý sẽ được cô Chín và bác Tuệ đi đón. Ở nhà, Ba Mẹ và dì Sương ai cũng thường nhắc đến cô Chín bằng một giọng thân mến. Tý nghe nói ngày xưa lúc Tý chưa ra đời cô Chín đã từng làm việc với Ba tại trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội ở Phú Hòa. Trong các thứ quà mà cô Chín gửi cho anh em Tý, Tý thích nhất là những ống mực tím trong đó có nhiều viên. Chỉ cần hai viên là Tý pha được một lít nước tím. Ở trong trường của Tý, không có đứa nào có được mực tím đẹp như mực của Tý. Hôm nào pha mực mới, Tý cũng cho Ngữ một bình nhỏ, cổ bình có đeo sợi dây tòn ten hẳn hoi. Tý chỉ tặng cho Ngữ thôi, còn bọn thằng Nghị, thằng Ngôn và thằng Thành tuy Tý có chơi nhưng không chơi thân cho lắm. Tý đã thấy hình cô Chín rồi. Hồi còn ở trại Palawan, Ba có nhận được một tấm hình của cô Chín chụp dưới giàn su le. Bức hình đẹp lắm. Giàn su xanh mướt; Tý đếm cả thảy đúng ba mươi hai trái buông thõng xuống. Ở trại thỉnh thoảng người ta có cũng phát trái su cho người tỵ nạn, cứ bảy người là một trái. Tý tính ra thì giàn su của cô Chín có đủ cho hai trăm hai mươi bốn người ăn. Cô Chín để tóc dài, đứng ở góc giàn su, không cười, nhưng cái mặt rất tươi và hiền. Hình chụp chưa hết giàn su; như vậy chắc là giàn su có trên ba mươi hai trái. Mẹ nói với Ba: ”Qua tới Pháp, nếu mình trồng được một giàn su như giàn su của cô Chín thì đủ sống rồi.” Ba không trả lời, chỉ cười thôi, nhưng Tý nghĩ là Ba cũng nghĩ như Mẹ. Chừng nào giàn su có trái, Tý sẽ rủ Miêu đứng dưới giàn su để Ba chụp hình gởi về cho dì Sương.

Ði đón gia đình Tý tại phi trường, chắc có cả Bác Tuệ nữa. Ngày xưa nhà bác Tuệ cũng ở trong khu làng Báo Chí ở Thủ Ðức. Bác Tuệ cũng làm nghề đóng sách nghệ thuật có mạ chữ vàng như Ba. Bác thường đến chơi nhà Tý, có khi có cả chị Hương đi theo nữa. Bác rất thân với Ba. Bác vượt biển trước Ba chừng bốn tháng, nhưng bác đi có một mình. Tại trại tỵ nạn Palawan, Ba cũng có nhận được thơ của Bác.

Trên máy bay, các cô chiêu đãi viên đang dọn cơm cho hành khách. Mỗi hành khách có một mâm cơm riêng. Tý cũng có một mâm, Miêu cũng có một mâm. Từ trên lưng ghế người ngồi trước, người ta kéo xuống một tấm ván làm bàn ăn. Mâm cơm được dọn trên đó. Cơm mà không có cơm; chỉ có bánh mì, thịt gà, đậu que và bơ. Mâm cơm cũng không có đũa. Liếc nhìn sang một bên, Tý thấy các ông Tây bà Ðầm đang ăn bằng dao và nĩa bằng nhựa. Nhìn lại mâm cơm, Tý thấy quả có dao và nĩa gói chung với khăn giấy. Tý mở ra lấy dao và nĩa. Mẹ giúp Miêu cắt thức ăn và bẻ bánh mì. Tý là anh hai nên phải tự mình lo liệu lấy. Tý ăn một cách khó nhọc. Thỉnh thoảng Tý nhìn Ba thì thấy Ba xúc thức ăn, ăn một cách tự nhiên. Tý quay ra sau nhìn chú Dũng; chú Dũng cũng đang ăn một cách nghiêm trang. Thấy Tý, chú Dũng mỉm miệng cười.

05. Giỗ Tổ hùng vương

Cả đến sáu tháng sau, Ba mới được phái đoàn Úc trả lời là nước Úc không nhận cho gia đình Tý sang định cư. Họ nói rằng gia đình Tý đã được một chiếc tàu Ðức vớt thì phải xin đi định cư bên Ðức. Vậy mà lâu nay Ba và Mẹ đã học tiếng Anh. Chưa ai biết một tiếng Ðức nào. Vừa lúc ấy thì có thơ của Sư Ông bên Pháp gửi qua, mời Ba và gia đình sang định cư bên Pháp. Sư Ông nói nếu Ba nhận lời thì Sư Ông sẽ nhờ cô Chín vận động xin chiếu khán nhập cảnh cho gia đình Tý. Tối hôm đó Ba, Mẹ và chú Dũng họp mặt để bàn luận chuyện gia đình. Sáng hôm sau, Ba đánh điện cho Sư Ông báo tin là gia đình sẽ nạp đơn xin định cư tại Pháp.

Từ hồi còn nhỏ xíu, Tý đã thỉnh thoảng có nghe nói tới tên Sư Ông. Nghe nói Sư Ông cưng Tý lắm, ngay từ khi Tý mới lọt lòng Mẹ. Mẹ nói Sư Ông là thầy tu; ngày xưa Sư Ông đã từng dạy Ba học. Tý tưởng tượng Sư Ông là một người già, có hai con mắt hiền và một bộ râu dài trắng xóa. Tý nghe nói ở bên Pháp Sư Ông trồng cà chua, khoai tây, củ cải, rau ngò, rau tía tô và rau húng. Mẹ nói qua Pháp Tý sẽ được gặp cả cô Chín nữa. Cô Chín rất cưng Tý và Miêu. Hồi còn ở Thủ Ðức, Tý và Miêu thường nhận quà của cô từ Pháp gửi về; khi thì bút chì màu, khi thì cục gôm, khi thì cuốn tập. Mẹ quý những hộp quà của cô Chín lắm, bởi vì trên nắp của hộp nào cũng có nét chữ chi chít của cô Chín. Trong những hộp quà đó thỉnh thoảng lại có thuốc bổ gởi cho bà ngoại của Tý. Ngoại của Tý cư trú ở miền quê, quận Trúc Giang, tỉnh Bến Tre…

Trại tỵ nạn Palawan năm đó ăn Tết lớn lắm. Ăn Tết lớn không có nghĩa là tiêu xài nhiều đâu. Tiền bạc đâu ở trại mà tiêu xài nhiều. Tý nhớ rất rõ buổi lễ giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức vào đêm giao thừa. Lễ giỗ tổ trang trọng lắm. Tất cả mọi người trong trại đều có mặt tại buổi lễ, ở sân chào cờ trung ương. Các anh chị Hướng Ðạo và Gia Ðình Phật Tử là những người đứng ra sắp đặt mọi nghi lễ. Từ hôm hai mươi ba Tết, ban tổ chức đã thông báo cho mọi gia đình biết về lễ giỗ tổ rồi. Năm nay Mẹ Tý không cúng ông Táo, bởi vì ở đây gia đình Tý không có bếp núc riêng. Mẹ Tý đã dành dụm để có tiền mua đậu và nếp để làm bánh chưng cúng Tết. Ba nói ngày Tết mà không có bánh chưng để cúng ông bà thì tủi lắm. Ðọc sách Văn Lang Dị Sử Tý biết tục gói bánh chưng vào ngày Tết rất đẹp. Mẹ Tý ngâm đậu và nếp từ hôm hăm chín Tết. Sáng ba mươi Ba của Tý bắt đầu gói bánh. Ba gói bánh chưng khéo lắm. Ba nói Ba đã học được nghệ thuật gói bánh chưng tại Am Phương Bối, trên rừng Ðại Lão, cách đây đã gần hai mươi năm. Ba làm một cái khung gỗ để gói bánh. Những chiếc bánh của Ba gói rất vuông và rất gọn. Mấy gia đình kế cận thấy Ba gói bánh đẹp quá liền đến nhờ Ba gói dùm cho họ. Ba vui vẻ nhận lời. Trước hết chỉ có hai gia đình nhờ Ba gói bánh. Sau đó, năm sáu gia đình khác cũng đến nhờ. Rồi mười mấy gia đình khác nữa đến nhờ Ba gói giúp. Khởi sự gói bánh từ tám giờ sáng ba mươi Tết mà mãi đến mười một giờ khuya đêm ba mươi, Ba mới gói xong. Ba mệt lắm. Hai cánh tay của Ba mỏi nhừ. Ba chỉ nghỉ gói chừng mươi phút để ăn cơm trưa mà thôi. Gói xong cái bánh cuối cùng cho một gia đình hàng xóm, Ba đi rửa mặt và thay áo vì đã sắp đến giờ làm lễ giao thừa và giỗ tổ Hùng Vương rồi. Ngoài kia những tiếng trống và những tiếng chiêng đã được điểm lên đều đặn và uy nghiêm. Mẹ cũng đã mặc áo, anh em Tý cũng đã mặc áo quần xong xuôi. Tội nghiệp cho Mẹ, đi ra nước ngoài mà không đem theo được áo dài. Anh em Tý thì mặc áo sơ mi cụt tay, tuy đã cũ nhưng mới được giặt rất sạch.

Lễ đài được thiết lập gần cột cờ, rất trang nghiêm. Khói trầm hương nghi ngút. Ðèn nến sáng trưng trên bàn thờ. Những người đứng ra giỗ tổ đều mặc áo thụng xanh, tay áo rất rộng. Tý chưa từng thấy một buổi lễ nào mà trang nghiêm và thành kính như thế. Trên bảy ngàn người mà không ai gây thành tiếng động. Người dự lễ đứng chật vòng trong vòng ngoài. Người chủ tế là một cụ đứng tuổi, có chòm râu bạc rất đẹp. Tất cả có bảy người mặc áo thụng xanh. Họ đi tới, đi lui, quỳ xuống và đứng lên theo nhịp chiêng và nhịp trống. Mỗi khi có tiếng “hưng” hô lên, là họ đưa hai tay áo rộng lên ngang đầu. Mỗi khi có tiếng “bái” là họ lạy xuống. Lại có những anh chừng mười bốn mười lăm tuổi mặc áo dài đứng một bên cạnh để giúp việc hương đèn và sớ giấy. Ðứng nghiêm trang trước bàn thờ, vị chủ tế bắt đầu đọc văn tế. Giọng đọc rất trang trọng. Tổ Hùng Vương đã khai sáng nước Văn Lang. Người dân Việt Nam giỗ tổ để nhớ lại công ơn lập quốc của tổ tiên.

Tý nhớ đến chuyện anh Hùng và chị Mỵ đi xuống thủy cung để thỉnh Lạc Long Quân về làm mưa. Chuyện này Tý đọc trong Văn Lang Dị Sử. Anh Hùng chính là vua Hùng Vương thứ nhất. Ðó là một chàng trai dũng cảm và thông minh. Có tới mười tám đời vua Hùng Vương nối tiếp nhau để cai trị đất nước và giữ cho đất Văn Lang được độc lập và thái bình. Ðúng vào lúc giao thừa, những bánh pháo được đem ra đốt. Không khí rất tưng bừng. Tý thấy khói pháo thơm quá. Khói pháo làm cho nó nhớ lại những cái Tết ở quê ngoại. Ba tấm tắc khen ban tổ chức đã khéo mượn được đủ chiêng trống và đã may được cả áo thụng xanh để làm lễ giỗ tổ. Trong các làng mạc Việt Nam ngày xưa, Ba nói, mỗi khi tế thần, các quan viên đều mặc áo thụng xanh như thế.

Lễ giỗ tổ cử hành xong thì đại diện các đoàn thể lên lễ đài đọc diễn từ chúc Tết. Các bài diễn từ hơi dài đối với Tý. Bài diễn văn cuối cùng đọc xong thì có tiếng chiêng trống rộn ràng vọng lên. à đây là tiếng chiêng trống múa lân. Tý nhớ ngay tới chú Dũng. Nãy giờ chú Dũng đâu có đứng chung với Tý. Chú có mặt trong ban múa lân. Lúc này, đèn lồng đã được giăng thành hai hàng. Lân tới. Chắc chắn người cầm đầu lân là chú Dũng. Tiếng trống rung lên, Lân bắt đầu múa. Chú Dũng múa khéo lắm. Người ta reo hò không ngớt. Lại có những tràng pháo nổ. Không khí toàn trại thật tưng bừng và rộn ràng. Múa lân xong thì đã một giờ rưỡi khuya. Chú Dũng trở về với gia đình. Chú mệt nhưng tươi cười. Ba, Mẹ, Tý và Miêu theo chú trở về căn phòng nhỏ của gia đình, trong đó ba đã thiết lập một bàn thờ ông bà rất đơn giản. Ba thắp hương, đứng ngay ngắn trước bàn thờ để khấn vái. Mọi người cung kính đứng sau lưng Ba. Trên bàn thờ có một bình hoa và một đĩa bánh chưng. Mẹ đã lựa ba cái bánh đẹp nhất để bày lên cúng. Tý thấy hai mắt của Mẹ long lanh. Ðây là cái Tết đầu tiên xa quê hương, xa đất nước. Tất cả lạy trước bàn thờ, hướng về quê hương, hướng về đất nước.

Ba nói : “Chúng ta xa quê hương, nhưng quê hương mãi mãi còn trong lòng chúng ta.”

04. Bé hồng biến thành con cá

Chính trong thời gian ở trại Palawan mà Tý được nghe những chuyện thương tâm về người vượt biển. Ba nói ở trên thế giới người ta gọi người vượt biển là thuyền nhân. Như vậy, Tý cũng là một thuyền nhân, nhưng Tý là một thuyền nhân may mắn. Ghe của Tý ra khơi vừa đúng hai ngày thì đã gặp tàu cứu trợ. Mẹ nói vì Ba làm việc xã hội suốt mười năm trời cho nên ra biển liền được tàu xã hội tiếp cứu.

Những câu chuyện thương tâm về người vượt biển nhiều lắm, nhiều lắm. Hình như ở trại tỵ nạn Palawan ai cũng đã nghe những chuyện này. Người ta đến kể cho Ba nghe. Tý cũng được nghe. Có những ghe bị sóng gió đánh chìm và mọi người trong ghe cũng chìm hết cả xuống biển. Có những ghe bị cướp biển tấn công; bao nhiêu tiền bạc, nữ trang và áo quần đều bị hải tặc (tức là cướp biển) lấy hết. Hải tặc còn tháo gỡ cả máy ghe để cho ghe lênh đênh trên biển cả, và cuối cùng tất cả mọi người trên ghe đều chết hết vì đói, vì khát và vì kiệt sức. Có khi hải tặc đánh đập và liệng người tỵ nạn xuống biển. Có khi hải tặc lại hãm hiếp đàn bà con gái và bắt cóc những người này theo thuyền của họ. Số người tỵ nạn chết trên biển nhiều, nhiều lắm. Tý không thể hiểu được tại sao người ta lại có thể độc ác như thế. Tý không thể tin được rằng trên đời lại có những người độc ác như thế. Nếu những câu chuyện đó quả có thật thì đã có hàng ngàn đứa trẻ như Tý và như Miêu bị chết đói chết khát và chết chìm dưới đáy biển rồi. Có lần Tý hỏi Ba: “Những chuyện người ta kể đó có thật không thưa Ba?” Ba ngồi trầm ngâm. Ba không trả lời Tý. Từ lâu Ba và Mẹ đã dạy Tý thương yêu mọi loài và bảo vệ sự sống của mọi loài. Cho đến một con sâu hay một con kiến Tý cũng không nỡ giết. Nếu Tý không thể giết hại và làm đau khổ các loài nhỏ bé thì làm sao Tý có thể giết hại và làm đau khổ những em bé, những bà mẹ và những người vô tội khác? Tý nghĩ rằng những người cướp biển kia, hồi nhỏ họ cũng đã từng là những em bé như Tý. Họ có đi học như Tý không, và ba má họ có dạy họ thương yêu mọi loài như ba má Tý dạy Tý không? Tại sao họ có thể làm được những chuyện độc ác như thế? Có thể vì ba má họ quá bận rộn cho nên không có thì giờ săn sóc và dạy bảo cho họ không? Tý muốn đem những thắc mắc này của mình để nói cho Ba nghe và nhờ Ba giải đáp cho Tý, nhưng thấy nét mặt trầm ngâm của Ba, Tý lại thôi. Tý có cảm tưởng nếu mình ép Ba phải trả lời những câu hỏi như thế thì Ba sẽ khổ, dù Tý biết rằng không có chuyện gì mà Ba lại không biết.

Ở trại Palawan, những khi chạy chơi vui đùa với bọn nhỏ cùng lứa tuổi, Tý cứ có cảm tưởng là mình đang ở Việt Nam. Lâu lâu Tý mới nhớ rằng mình đã ra khỏi đất nước của mình rồi. Nghĩ tới những em bé cùng tuổi Tý hoặc nhỏ hơn Tý hiện giờ đang nằm dưới đáy biển, Tý cảm thấy như có lỗi với họ. Tý may mắn quá. Còn họ thì rủi ro. Chìm xuống nước chắc là ngạt thở lắm. Người ta nói là có những con cá lớn tới rỉa thịt mình một khi mình đã chìm xuống nước. Tý rùng mình không muốn nghĩ tiếp. Tý có cảm tưởng như mình có một vết thương trong trái tim.

Có lần trên loa phóng thanh, người ta đọc truyện Hồng. Ðêm ấy, Tý còn nhớ, hàng ngàn người trong trại ra ngoài trời ngồi hóng mát và lắng tai nghe. Trong câu chuyện, có một em bé gái mười một tuổi tên là Hồng. Hồng cũng là một thuyền nhân. Hồng bị hải tặc gạt rơi tòm xuống biển. Xuống biển Hồng hóa thành một con cá có vảy màu hồng, lội đi. Tý ước ao rằng tất cả mọi em bé từng bị chìm xuống biển đều hóa thành cá bơi lội thảnh thơi dưới đó.

Mỗi tuần có một đêm phát thanh của người Phật tử. Ba của Tý được mời phụ trách buổi phát thanh hàng tuần này. Buổi phát thanh nào cũng có ca nhạc và đọc truyện. Ngày vượt biển, Tý chỉ được phép mang theo có một cuốn Văn Lang Dị Sử. Trong cuốn này có nhiều truyện tích về nước Văn Lang thuở xưa, như truyện Trầu Cau, truyện Thánh Gióng, truyện Bánh Chưng Bánh Dày. Quốc hiệu Văn Lang là quốc hiệu ngày xưa của nước Việt Nam bây giờ. Qua trại Palawan, Tý không có sách nào để đọc ngoài cuốn Văn Lang Dị Sử này. Tý đã đọc đi đọc lại các câu chuyện trong đó có đến hàng chục lần. Khoảng ba tháng sau ngày tới trại, cô Chín ở bên Pháp có gởi tới cho Ba sáu bảy cuốn sách. Những cuốn sách này Tý đâu có được đọc. Người lớn chuyền tay nhau đọc và cuối cùng không biết những cuốn sách ấy biến đi đâu mất. Cuốn Văn Lang Dị Sử, Tý giữ rất kỹ. Tý không muốn nó thất lạc. Nó là kho tàng duy nhất mà Tý đã mang theo. Hồi đó gia đình Tý đã nạp đơn xin định cư bên nước Úc. Ba ước ao sẽ tạo lập một nông trại nhỏ bên Úc, vì Ba không ưa cuộc sống đô hội ở thành thị nhiều. Như vậy Tý sẽ đem cuốn Văn Lang Dị Sử sang Úc.

03. Miêu nói tiếng anh

Tý ở trên tàu Cap Anamur cả tháng, bởi vì tàu còn phải đi lang thang trên biển để vớt thêm người tỵ nạn. Trên tàu còn một ít ghế bố có bao nhiêu đều phải trải chiếu nằm. Bọn Tý đều nằm chiếu. Bọn Tý nằm gác chân nhau mà ngủ. Ban ngày bọn Tý chơi đùa. Có những người lớn say sóng bị ọe mửa và rên hừ hừ. Nhưng trong bọn Tý không có đứa nào say sóng cả. Bọn Tý được ăn cơm khá no. Người lớn mỗi ngày được lãnh bốn trăm gờ ram gạo, còn bọn Tý được hai trăm năm mươi gờ ram. Nước ngọt thì mỗi người được hai lít để uống và nấu cơm. Tắm thì phải tắm nước biển. Bọn Tý hay ngủ trưa nên ít thấy được cảnh mặt trời mọc trên biển. Bọn Tý chỉ thấy cảnh mặt trời lặn. Mẹ nói cảnh mặt trời lặn trên biển vừa đẹp vừa buồn. Tý không thấy buồn, chỉ thấy đẹp. Mặt trời lặn đỏ chói. Mặt biển cũng đỏ chói. Mặt trời lặn xuống nước ướt mèm như chảy mồ hôi. Có một buổi sáng nọ, Ba thức Tý dậy để xem mặt trời mọc. Ba bảo Tý khoác thêm áo trước khi leo lên boong tàu. Trời còn lạnh. Mặt trời chưa mọc nhưng chân trời đã ửng trắng. Biển lặng. Ba và Tý ngồi bên nhau trên một đống giây thừng. Ba nắm tay Tý. Không ai nói chuyện với ai. Chỉ nghe có tiếng sóng va vào thân tàu.

Phía chân trời đột nhiên ánh sáng xòe ra hình những cánh quạt. Hào quang từ dưới chân trời phóng lên càng lúc càng cao, càng lúc càng rộng, càng lúc càng rực rỡ. Tý có cảm tuởng đang nghe một khúc nhạc hùng dũng của một đoàn quân tiên phong đang báo trước sự xuất hiện của một vị tướng quân. Chân trời đỏ hồng. Rồi mặt trời xuất hiện vừa nghiêm trang vừa rực rỡ. Mặt trời mới thức dậy ít đỏ hơn mặt trời lúc đi ngủ và khô ráo hơn mặt trời lúc đi ngủ. Gió nhẹ như thổi ánh sáng buổi ban mai vào lòng Tý.

Người lớn cứ họp nhau lại bàn công chuyện một cách bất tận. Câu chuyện của họ không có gì hay ho cả đối với bọn Tý cho nên bọn Tý không bao giờ tham dự. Bọn Tý chơi riêng với nhau. Hầm tàu không được rộng nên bọn Tý ít chơi ”rượt bắt” và ”đi trốn đi tìm”. Bọn Tý hay chơi trò ”khăn tay”, ngồi chò hỏ lại một vòng, rồi một đứa chạy vòng quanh sau lưng những đứa khác, vừa chạy vừa đọc:

“Cái khẳn cái khăn
tao thả xuống đất
đứa nào sợ quất
sờ lại phía sau
đứa nào sợ đau

mau mau chạy trốn…”

Ít khi Tý bị đứa nào lấy khăn đập bởi vì cứ hễ anh chàng hay là cô nàng bỏ khăn chạy qua một vòng là Tý thò tay ra phía sau đít để rờ xem có khăn hay không. Lần duy nhất mà Tý bị đập là lần thằng Trung bỏ khăn xa quá.

Bọn con gái nhỏ thì ưa chơi cái trò “lý quạ son”. Một đứa cúi xuống đưa lưng cho bốn năm đứa khác để bàn tay phải lên thành một vòng tròn. Một đứa cầm hòn sạn giả làm hột cà na hay hột thèo lèo nhịp vào tay những đứa khác và tất cả đều hát theo nhịp ấy:

“Hột cà na
cà na tý tèo
hột thèo lèo
cái lý quạ son
cái lý quạ son

cái lý quạ son…”

Khi bọn nó đọc tới câu “cái lý quạ son” đầu tiên thì tất cả đều nắm bàn tay lại, rồi tiếp tục đọc “cái lý quạ son” nhiều lần trong khi đứa đưa lưng đứng dậy nhìn vào mặt bọn kia và đoán xem viên sạn đang nằm trong tay đứa nào. Sau vài ba tiếng “cái lý quạ son”, nó chỉ vào một nắm tay. Tất cả dừng hát. Nắm tay mở ra. Nếu có viên sạn nằm trong đó thì nó được “giải thoát” và đứa có viên sạn nằm trong tay phải cúi xuống để các đứa khác đặt bàn tay lên lưng mà chơi lại. Nếu nó đoán sai thì chính nó phải cúi lưng xuống lần nữa.

Sau này, khi tàu đã vớt thêm nhiều người tỵ nạn thì số người trên tàu trở nên đông đảo và bọn Tý không còn chỗ để chơi.

Sau một tháng trời lênh đênh trên biển cả, tàu Cap Anamur đáp vào hải cảng Puerto Princicesa để cho người tỵ nạn được đưa vào trại Palawan. Khi tàu cặp bến, hải quân Phi Luật Tân lên tàu để khám xét và làm giấy cho phép nhập cảnh. Rồi có một chiếc thuyền lớn của trại tỵ nạn ra đón đồng bào. Trên thuyền có sáu người trong ban trật tự của trại, tất cả đều là người Việt. Bọn Tý được phép xuống thuyền trước. Vào tới bờ, dân tỵ nạn được ngồi “xe lam” tức là xe ba bánh để đi về trại. Trại Palawan cách bến tàu chừng vài cây số. Trại rất lớn, hoàn toàn do người tỵ nạn tự trị. Tý nghe nói ở đây có tới hơn bảy ngàn dân tỵ nạn. Bọn con nít như Tý nhiều lắm. Có những dãy nhà dài làm bằng gỗ lợp tranh. Gia đình Tý gồm có Ba, Mẹ, chú Dũng, Tý và Miêu, được ở trong một gian phòng hẹp, bề ngang chừng ba thước, có giường chồng hai lớp. Phía sau nhà có một giải bếp công cọng có lò đất để nấu cơm.

Gia đình Tý ở lại trại suốt một năm trời. Tại trại có trường học, và có đủ lớp từ lớp một tới lớp năm. Tý được vào học lớp ba. Vài tuần sau, nó được đem lên lớp tư. Bốn tháng sau, Tý lại được lên lớp năm. Hồi ở nhà, Tý học mẫu giáo tới hai năm, vì vậy so với các đứa khác, Tý học trễ một năm. Trước khi đi vượt biển, Tý đã học xong lớp ba; vừa mới chuẩn bị lên lớp tư thì Tý ra đi.

Ở đây con nít rất đông nhưng phần lớn không đi học. Chúng ở nhà lo giúp đỡ công việc cho ba má; nào kiếm củi, xách nước, làm đủ thứ. Tý và Miêu cũng giúp đỡ Ba và Mẹ, nhưng Tý lại được đi học. Lớp năm chỉ có cả thảy mười bốn đứa, trong đó có cả thằng Trung vượt biên với Tý cùng trên một chiếc ghe. Miêu còn nhỏ quá. Nó còn nhõng nhẽo và hay đái dầm ban đêm. Tuy vậy nó cũng giúp Tý đi kiếm củi và xách nước. Nó giỏi lắm. Có lần không ai bảo mà nó đi xin được dăm bào về cho Mẹ nhúm lửa. Ông thợ mộc người Phi ở ngoài trại đâu có nói tiếng Việt. Vậy mà nó đã tới nói với ông bằng tiếng Anh để xin dăm bào. Nó nói gì Tý không biết. Và ông ta đã cho nó một ít dăm bào. Qua tới Pháp, nhiều lúc Tý nhớ tới chuyện này và gạn hỏi Miêu để xem Miêu đã nói với ông thợ mộc người Phi câu gì. Miêu không bao giờ trả lời. Ba nói: “Có lẽ nó nói: You give me this? rồi ngước cặp mắt lên nhìn ông thợ mộc.” Ðó là Ba đoán thôi. Ai mà biết nó đã thật sự nói gì. Nó học được câu “You give me this?” ở đâu?

02. Tý vượt biển

Tý nhớ tới buổi sáng lên ghe vượt biển qua Phi Luật Tân, gia đình Tý vượt biên ở bờ biển tỉnh Bà Rịa, cách đây gần hai năm. Nửa đêm đang ngủ, Tý được đánh thức dậy. Miêu cũng vậy. Mẹ Tý đưa một ngón tay lên môi, ra hiệu cho hai anh em Tý giữ im lặng. Tý và Miêu mặc áo rồi theo Ba Mẹ đi ra ngoài. Trời tối hu. Nhìn lên, Tý thấy sao nhiều thật nhiều. Ðường đi mờ mờ. Ði chừng gần một giờ len lỏi qua nhiều cánh rừng đước thì tới vàm sông. Xuống ghe, Tý và Miêu phải ngồi dưới hầm trong khi ghe rời bến để đi ra biển. Lúc ấy là vào khoảng bốn giờ sáng. Nằm dưới chân Tý, Miêu ngủ lại. Tý không muốn ngủ. Tý lắng tai nghe. Chỉ có tiếng sóng nước đập vào thân ghe. Và tiếng máy ghe nổ đều đều.

Lâu, lâu lắm, người ta mới mở cửa hầm cho bọn Tý lên. Ba nói: “Ghe đã ra tới biển rồi, bây giờ là bảy giờ sáng”. Tý theo bọn nhóc leo lên. Ánh sáng chói chang. Cảnh tượng thật lạ lùng. Xung quanh chỉ là nước và nước. Không thấy bờ bến đâu cả. Mặt trời đã lên, ánh sáng mặt trời chiếu loang loáng trên sóng nước. Biển trời cao rộng quá. Tý cảm thấy sợ. Giống hệt như sáng hôm nay Chó Con sợ trông thấy bầu trời bao la và xanh biếc. Tý sợ nhưng không biết là mình sợ gì. Sợ chết à, Tý đâu có biết chết là cái gì đâu mà sợ. Tý chỉ cảm thấy rằng trước cảnh trời cao nước rộng, cái thân hình của Tý nhỏ bé quá. Tý chỉ lớn bằng một hạt bụi chứ bao nhiêu. Cái ghe của Tý cũng chỉ lớn bằng hạt bụi. Chiếc ghe dài tám thước, rộng hai thước tư, mà chở tới ba mươi mốt người, vừa người lớn vừa trẻ em. Tý nắm tay Miêu. Nó nhìn vào mặt Mẹ. Nó thấy mặt Mẹ có nét lo âu. Nó nhìn vào mặt Ba. Mặt Ba không biểu lộ một cảm xúc nào hết. Ba là ”chủ ghe”, nghĩa là người chịu trách nhiệm tổng quát về cả chuyến đi. Ba ốm yếu như thế mà làm sao chịu được cái trách nhiệm to như thế, Tý thầm nghĩ.

Tối hôm đó ghe của Tý bị ghe đánh cá quốc doanh đuổi theo. Ghe của Tý chạy một hồi rồi tắt máy và tắt đèn. Trong đêm đen, ghe quốc doanh không nhìn thấy ghe Tý được nữa, do đó bỏ cuộc. Thấy đèn ghe quốc doanh đã khuất, Ba ra lệnh đốt đèn, nổ máy và lấy hướng cho ghe chạy lại.

Ghe chạy suốt đêm hôm ấy. Ðêm đó Tý ngủ ngon dưới hầm ghe. Tý nằm mơ thấy một miền đất xa lạ, miền đất gia đình Tý tới định cư. Ở đây cũng có cây dừa, cây chùm ruột, cây trứng cá, cây sua đũa. Ở đây cũng có một bọn nhóc con tuổi Tý, cũng nói tiếng Việt như Tý. Lạ nhất là ở đây cũng có thằng Ngữ, bạn thân nhất của Tý tại trường làng ở Thủ Ðức. Thức dậy, Tý mỉm cười. Làm sao mà ”ở bên kia” lại có đủ những thứ Tý ưa như vậy. Tý nghĩ rằng nếu có thằng Ngữ bên mình, nó sẽ có can đảm chịu đựng hết tất cả mọi sự cực nhọc của cuộc sống mới. Hai đứa chịu chung thì cái gì mà chẳng chịu nổi. Nhưng sự thực đã rõ ràng rồi: Tý đã ra đi, và Ngữ đã ở lại. Biết bao giờ Tý và Ngữ sẽ lại được chơi đùa bên nhau?

Sáng hôm đó trời vẫn còn xanh và biển vẫn không có gió. Ghe Tý đi rất bình an. Bỗng nhiên có tiếng chú Thuất hô lớn: ”Có tàu lớn đuổi theo ghe mình”. Mọi người trên ghe hốt hoảng đều nhìn về phía chú Thuất. Chú Thuất trao ống nhòm lại cho Ba, Ba đưa ống nhòm quan sát chân trời phía sau, rồi bỏ ống nhòm xuống. Ba nói: ”Tàu đuổi theo rất mau, chắc chúng ta không thể chạy thoát được.”

Thấy mọi người trên ghe nhốn nháo, Ba nói lớn:

– Xin bà con cô bác bình tĩnh. Chúng ta phải nhìn kỹ xem tàu này là nước nào. Nếu là tàu nhà nước hay tàu Nga thì chúng ta mới nên sợ.

Không hiểu vì sao Tý lại nghĩ rằng chiếc tàu này không đáng sợ. Tý nhìn kỹ chân trời phía sau. Ðúng rồi, có một chiếc tàu. Chiếc tàu nhỏ xíu nhưng chạy khá mau, bởi vì càng lúc nó càng lớn. Phút chốc nó đã ở ngay phía sau ghe của Tý. Trên ghe không có súng ống, không có phương tiện gì để tự vệ, làm sao ghe chống lại được chiếc tàu nếu chiếc tàu có ý làm hại? Tý nhìn Ba. Thật là kỳ lạ. Nét mặt Ba vẫn như thường, không có cảm xúc nào; Ba không hoảng sợ như mọi người khác. Ba nói:  ”Chúng ta hãy chờ xem nó muốn gì rồi chúng ta mới phản ứng được.” Thái độ trầm tĩnh của Ba làm cho mọi người trên ghe an tâm hơn. Bỗng  chú Thuất la lên: ”Tàu Cap Anamur! Tàu Cap Anamur! Tàu cứu trợ!”

Mặt Ba rạng rỡ hẳn lên. Ba cười. Ba cắt nghĩa cho cô bác trên ghe: ”Gặp chiếc tàu cứu trợ này là chúng mình thoát hiểm rồi!”

Trong lúc ấy giây thang của tàu Cap Anamur đã được buông xuống. Nhìn lên, Tý thấy bóng người lô nhô trên boong tàu. Hình như có cả người Việt Nam trên ấy nữa! Chú Thuất la lớn để nói chuyện với người trên tàu. Họ nói bằng tiếng Anh. Một lát sau, ghe Tý được cặp sát hông tàu. Người ta quăng dây từ trên tàu xuống để cột ghe lại với tàu. Có hai người ngoại quốc leo thang dây xuống ghe. Người ta bắt đầu chuyền người từ ghe lên tàu. Trước hết là các em bé nhỏ, rồi đến các em bé lớn như Tý. Người ta bỏ bọn Tý vào trong những chiếc lưới, buộc túm lại rồi kéo lên tàu. Thật là giống như lưới cá. Ðến phiên Tý, Tý ngồi chung với Miêu. Hai đứa được kéo lên tàu rất mau. Ra khỏi lưới, Tý được phép đứng vin vào lan can tàu nhìn xuống. Ba và Mẹ còn ở dưới ghe. Người ta cho phụ nữ lên trước. Ðến phiên Mẹ, Mẹ định leo bằng thang dây. Nhưng Ba bảo Mẹ cũng nên ngồi vào lưới để người ta kéo lên. Những người mạnh khỏe đều leo thang dây. Ba và chú Dũng cũng leo thang dây.

Sau đó, bọn Tý được đưa xuống hầm tàu. Tất cả đều nhảy nhót vui đùa. Ở dưới ghe hai đêm hai ngày tù túng quá. Người lớn cũng được đưa xuống hầm tàu. Rồi mấy người ngoại quốc đem nước tới cho bọn Tý uống.

01. Chó con trông thấy trời xanh lần đầu

Hôm nay là ngày chủ nhật. Trời lại có nắng. Tý không thấy lạnh như mọi hôm. Trong buổi ăn sáng, Ba đề nghị cho thằng Chó Con đi chơi ngoài trời. Chó Con là em bé của Tý, mới được bốn tháng rưỡi. Suốt mấy tháng nay, Chó Con chưa được đi ra ngoài trời lần nào. Mẹ sợ Chó Con bị lạnh. Nghe Ba nói hôm nay cho Chó Con ra ngoài trời chơi, Mẹ nhìn Ba với nét mặt lo ngại. Ba cười:

– Không sao đâu, em mặc áo thật ấm cho nó, rồi bọc nó trong cái mền len nhỏ màu trắng.

Qua cửa sổ nhà bếp, Tý nhìn ra ngoài trời. Nắng hôm nay đẹp thật. Trong khi Mẹ đi lo mặc áo cho Chó Con, Tý mang ủng, mặc thêm chiếc áo lông cừu màu vàng, rồi mở cửa đi ra ngoài. Ðúng rồi, hôm nay trời ấm thật. Nhìn lên, Tý không thấy một đám mây nào. Nó đi vào nhà kho tìm chiếc xe nôi của dì Marie Paule cho hồi tháng chạp năm ngoái. Mẹ sẽ đặt Chó Con vào xe này, rồi đẩy em bé đi chơi.

Chó Con sinh ngày mồng năm tháng mười năm ngoái tại trại tạm cư Strasbourg, miền Ðông Bắc nước Pháp. Trên giấy tờ, nó tên là Nhật Tâm. Mẹ có mang bé Nhật Tâm hồi gia đình còn ở trong trại tỵ nạn Palawan bên nước Phi Luật Tân. Ba nói Nhật Tâm là trái tim mặt trời. Tý tự hỏi: mặt trời mà cũng có trái tim nữa sao? Hồi còn ở Việt Nam, Tý đã có lần nghe thầy giáo của Tý nói rằng mặt trời là một khối lửa rất lớn, lớn gấp mấy chục ngàn lần trái đất. Mặt trời như vậy là nóng lắm. Trái tim mặt trời chắc còn nóng hơn cả mặt trời nữa. Ðã có lần Tý định hỏi Ba xem tại sao mặt trời mà cũng có trái tim, nhưng Tý chưa bao giờ hỏi. Tý nghĩ: mình cứ để vậy, một ngày kia có thể là mình tự hiểu được, khỏi cần hỏi Ba.

Khi Tý tìm được chiếc xe nôi và đem ra sân nắng đợi Chó Con thì thằng Miêu cũng vừa ra tới. Miêu là em của Tý, năm nay bảy tuổi. Nó đi đôi ủng màu đỏ, mặc cái áo ấm màu nâu và cái quần tây màu xanh dương. Thật ra nó tên là Miu bởi vì nó sinh vào năm Mão, nhưng ai cũng gọi nó là Miêu. Mặt mày thằng Miêu sáng sủa nhưng thân hình nó mảnh khảnh. Miêu chưa biết ẵm em, dù nó đã lớn. Mẹ không dám giao em cho Miêu giữ, bởi vì có lần giữ em, Miêu đã làm cho em ngã dập môi. Nhìn cái môi nhỏ xíu của Chó Con sưng vù lên, cả nhà ai cũng thương.

Tý chạy vào nhà. Mẹ đã mặc áo, đi tất và đội mũ lên cho Chó Con xong rồi. Mẹ còn bọc Chó Con trong một cái mền len trắng nữa. Tý đưa hai tay ra đón lấy em bé. Nó ẵm em ra sân.

Ra tới sân, Tý chưa kịp đặt em vào xe nôi thì Chó Con đã khóc lên. Tý lấy làm lạ. Chó Con ít khi khóc lên một cách vô cớ như vậy. Nó nhìn vào mặt em bé để tìm hiểu lý do tại sao em bé khóc. Và nó hiểu ngay. Ðây là lần đầu tiên Chó Con trông thấy bầu trời rộng mông mênh. Chó Con chưa bao giờ thấy một cái gì cao như thế và rộng như thế. Từ khi sinh ra đời, nó chỉ quen với không gian chật hẹp của căn phòng ngủ và căn phòng khách. Nó sợ. Nó khóc là phải.

Năm ngoái, hồi tháng mười, lúc gia đình Tý rời trại tạm cư Strasbourg để về định cư tại đây, Chó Con mới sinh được mười hôm. Nó ngủ trong tay Mẹ suốt thời gian đi xe lửa. Ðó là lần đầu tiên Chó Con được ẵm đi ra ngoài trời. Suốt ngày hôm ấy trời đầy mây và thỉnh thoảng lại có mưa. Chó Con lúc ấy còn nhỏ quá; hai mắt của nó còn lờ đờ chưa phân biệt được sự vật bên ngoài. Suốt bốn tháng trời, ngày nào Tý cũng có ẵm Chó Con và nhìn vào mắt nó. Có một hôm Tý có cảm tưởng rằng Chó Con nhận ra được Tý. Tý không dám chắc, nhưng Tý biết rằng hai mắt của Chó Con càng ngày càng có tinh thần và càng ngày càng có khả năng phân biệt. Bốn tháng rưỡi rồi, bây giờ Chó Con đã lớn. Hôm nay nó được trông thấy bầu trời cao vút và xanh ngắt. Cuộc tiếp xúc này làm cho nó sợ. Nhưng Chó Con không khóc lâu. Nó làm quen với bầu trời rất mau chóng. Bầu trời hôm nay có vẻ dịu hiền, tươi sáng và ấm áp. Trông thấy khuôn mặt quen thuộc của Tý, Chó Con cười. Hôm nay Chó Con làm quen được với bầu trời; nó vừa có bầu trời vừa có anh Tý. Nó cười là phải.

Tý đặt Chó Con vào xe nôi. Nó đẩy xe nhè nhẹ. Chó Con có vẻ bằng lòng lắm. Ba, Mẹ và chú Dũng vừa ra tới. Mẹ lên tiếng gọi Miêu. Rồi cả bốn người đi theo xe của Chó Con, do Tý đẩy.

Tý – Cây tre triệu đốt – Chiếc lá ổi non

01. Chó con trông thấy trời xanh lần đầu
02. Tý vượt biển
03. Miêu nói tiếng anh
04. Bé hồng biến thành con cá
05. Giỗ Tổ hùng vương
06. Tý đi máy bay
07. Miêu đạp thằng tây con
08. Ba được mời làm ông bầu
09. Ba uống cà phê trên vỉa hè ở paris
10. Ba mua hộp tăm
11. Ba đi miền nam xem nhà
12. Gia đình tý đi định cư
13. Không ai chịu ngủ trong phòng riêng
14. Tý gặp chú jean-pierre, người chăn cừu
15. Cô Margaret đem tặng gia đình Tý một con dê
16. Hai cây sồi trốc gốc
17. Gà cứng đầu không chịu ăn bo bo
18. Ba té xuống hồ nước
19. Chú Dũng ăn cơm tây với dì Marie Thérèse
20. Tý giao đất nước cho ai
21. Chú Dũng chạy nhanh như thỏ
22. Mẹ gởi quà cho trẻ em đói
23. Tý và Miêu trồng cho con chó một cây mận
24. Tý và Miêu tặng hoa cho mẹ
25. Mẹ chơi dĩa bay ở Xóm Thượng
26. Chó con vượt biển
27. Tý và Miêu phát nguyện Hai Lời Hứa
28. Tý được ăn gạo thơm
29. Bác Mounet ăn cà ri cay
30. Tý học bảo vệ sư sống
31. Tiếng Tây đầy bụng
32. Con ốc có ba và có má
33. Tý dự thiền trà
34. Bánh bò ngọt mua chua trả đây
35. Ba và cô Tâm Trân diễn kịch
36. Bé Thanh Tuyền bị té võng
37. Ðám mây và trái mận
38. Tình bạn
39. Cây Bông Sứ học bài
40. Chiếc lá ổi non
41. Tý không thích làm người lớn
42. Bé Nhung viết thơ cho cô Trí Hải
43. Trời làm văn nghệ
44. Cọp trắng cứu người
45. Thiện Tài và Long Nữ
46. Mắt và tay của người tỉnh thức
47. Một mùa hạ không bao giờ chấm dứt