Cánh cửa mầu nhiệm

Bạn trẻ thân mến;

Thu Hương hỏi:

Thầy ơi! Thầy nói về ‘hành thiền’ nhưng sao thầy chỉ nói về pháp môn Làng Mai không ạ? Con muốn học pháp môn Miến Điện. Khóa tu Làng Mai không còn hấp dẫn người hành giả, lý do là vì khóa tu nào cũng nói nhiều, chia sẻ nhiều, ca hát nhiều, còn phần thực tập thì quá ít. Con hỏi như vậy, mong thầy đừng buồn nhé, hihihi.

Bạn Hương,

Cám ơn bạn đã đặt vấn đề về pháp môn và cách tổ chức khóa tu.

Thầy có buồn không? Không đâu!

Thầy không buồn về nhận xét của bạn. Ai cũng có quyền nhận xét về pháp môn tu học và cách tổ chức của một khóa tu, từ đó bạn mới chọn đúng pháp môn và thấy thích hợp với lối tu tập. Sau các khóa tu ở Tây phương, tăng thân Làng Mai thường mời thiền sinh cho feedback, nghĩa góp ý về các sinh hoạt trong khóa tu. Chi phần Trạch pháp trong Bảy giác chi có nghĩa là bạn phải quyết trạch, chọn lựa pháp môn để có thể nếm cho được vị giải thoát, tự do.

Thầy hơi bỡ ngỡ không biết phải trả lời như thế nào cho bạn. Nói thật với bạn, thầy chỉ biết pháp môn chánh niệm của Bụt do bổn sư, tức là Sư Ông Làng Mai trao truyền thôi. Chánh niệm là tỉnh thức, tiếng Anh gọi là moment to moment awareness, biết rõ từng phút giây. Biết rõ bạn đang làm gì, đang suy nghĩ gì, có cảm giác gì? Ăn biết bạn đang ăn, đi biết bạn đang đi, cúi xuống biết bạn đang cúi xuống là chánh niệm.

Sư Ông dạy: “Chánh niệm là trái tim của thiền tập đạo Bụt.” Theo thầy, chánh niệm là trái tim của cả kho tàng giáo pháp. Trong 37 phẩm trợ đạo, chánh niệm được Bụt nói tới cùng khắp. Thời bây giờ, chánh niệm là pháp môn được giới trí thức Tây phương học hỏi, nghiên cứu và thực tập nhiều nhất. Các nhà khoa học dùng chánh niệm trong các lĩnh vực y khoa cho việc giảm stress, trị liệu…

Sự thật, tất cả pháp môn đều do Bụt thuyết giảng, chứ không có pháp môn Làng Mai, không có pháp môn Miến Điện, không có pháp môn Nhật Bổn, không có thiền tông, tịnh độ tông, mật tông… Các danh từ này, các tên gọi này do người sau đặt ra. Có thể mỗi vị đạo sư hiểu, tiếp nhận, thực hành và trình bày giáo pháp của Bụt khác nhau, nhưng tất cả pháp môn đều phát xuất từ Thế Tôn. Pháp môn nghĩa là cánh cửa giáo pháp. Bụt thuyết vô lượng giáo pháp, do thế pháp môn cũng nhiều vô lượng, mà trong kinh thường nói tới con số tượng trưng là tám vạn bốn ngàn pháp môn.

Các pháp môn khác, thầy không biết rõ lắm. Thầy có nghiên cứu với ngài Mahàsi, nhưng thầy chưa có cơ hội thực tập nơi trung tâm của Ngài. Hay hơn hết, con nên hỏi người nào đã từng thực tập với truyền thống Miến Điện.

Truyền thống của ngài Mahàsi được truyền qua Tây phương với tên là Vipassanà meditation, hay còn gọi Transcendental meditation, nghĩa là thiền vượt lên thế giới bình thường. Loại thiền này rất nổi tiếng. Một số nhà khoa học lâm sàng, não bộ như John Kabat Zinn, Richard Davidson có nói về thiền Transcendental meditation như pháp thiền trị liệu cao nhất, bởi vì họ chú trọng tới trạng thái tâm thức không còn suy nghĩ (level of cognition is zero) như hai tầng thiền cuối của Tứ thiền và Tứ vô sắc định. Lúc ấy, hypothalamas và amygdala là hai trung tâm trong bộ não tạo ra cảm xúc, sự căng thẳng ngưng hoạt động.

Không suy nghĩ có mặt trong các truyền phái của thiền. Bản chất của chánh niệm là ánh sáng, vì thế nó không phải là sự suy nghĩ, dù suy nghĩ về giáo lý. Chánh niệm chiếu soi ngay trên mọi hoạt động của tâm ý kể cả suy nghĩ. Khi suy nghĩ trong ánh sáng chánh niệm, thì nó được gọi là chánh tư duy. Do vậy tư duy có giá trị của nó, chứ thiền tập không phải lúc nào cũng cần loại bỏ nó. Khi cần tư duy, thì bạn tư duy, biết chọn tư duy nào đưa tới hiểu biết, tha thứ, yêu thương. Khi không cần tư duy, thì bạn ngưng nó lại để thưởng thức sự sống.

Trong bài đầu ‘Thiền tập’, thầy có nói ngài Mahàsi Sayàdaw thực tập chánh niệm theo kinh Tứ niệm xứ, nhưng Ngài chuyên về Vipassanà, tức là quán chiếu vào một đối tượng. Từ đó hành giả dừng lại mọi suy nghĩ, vì thế chúng đệ tử của Ngài ngồi thiền thật nhiều giờ trong ngày. Ngài Mahàsi Sayàdaw từng chia sẻ trong một buổi pháp thoại như sau:

“Thực hành thiền Minh sát là cố gắng thấu hiểu rõ ràng và chính xác bản chất của những hiện tượng tâm-vật lý đang diễn tiến bên trong chính bản thân mình. Hiện tượng vật lý là những sự vật hay những gì quanh mình mà ta cảm nhận rõ ràng. Toàn thể châu thân của mình mà ta cảm nhận rõ ràng hợp thành một nhóm những tính chất vật lý (rùpa, sắc, hay phần vật chất). Hiện tượng tâm linh là những sinh hoạt của tâm, hay sự hay biết (nàma, danh, hay phần tinh thần). Ta cảm nhận rõ ràng những danh-sắc này mỗi khi thấy, nghe, ngửi, nếm, sờ đụng, hoặc nghĩ đến. Phải giác tỉnh hay biết nó bằng cách quan sát và ghi nhận, "thấy, thấy", "nghe, nghe", "ngửi mùi, ngửi mùi", "nếm vị, nếm vị", "sờ đụng, sờ đụng" hoặc "suy tư, suy tư". Mỗi khi thấy, nghe, hửi, nếm, sờ đụng, hoặc suy nghĩ phải ghi nhận những sự việc này…

Khi thở thì bụng phồng lên và xẹp xuống. Ðó là cử động hiển nhiên. Ðó là tính chất vật lý, gọi là vàyodhàtu, nguyên tố di động trong vật chất [1], thường được gọi là nguyên tố gió. Nên bắt đầu ghi nhận di động ấy, tâm chăm chú theo dõi, quan sát bụng. Ta sẽ thấy bụng phồng lên khi thở vô và xẹp xuống khi thở ra. Trạng thái phồng lên phải được ghi nhận thầm, "phồng, phồng", và di động đến trạng thái xẹp xuống với ghi nhận, "xẹp, xẹp".

Trong trường hợp không thấy rõ ràng trong tâm cái bụng phồng lên và xẹp xuống bằng cách ghi nhận thầm thì hành giả có thể dùng hai bàn tay đặt lên bụng. Không nên sửa đổi lối thở, cứ thở tự nhiên như thường. Không nên thở chậm lại hay mau lên. Cũng không nên thở mạnh hay yếu hơn. Bởi vì khi thay đổi lối thở như vậy thì hành giả sẽ chóng mệt. Cứ thở đều đặn như thường và ghi nhận trạng thái phồng lên và xẹp xuống của cái bụng, ghi nhận thầm chứ không nói ra lời…”

(Thực tập thiền minh sát, Mahàsi Sayàdaw)

Cách thiền này là nhận rõ (noticing) và gọi tên thầm (naming) mọi thứ như vào vào, ra ra, phồng phồng, xẹp xẹp… Nếu tâm suy nghĩ, thì bạn nói thầm suy nghĩ, suy nghĩ. Nếu tâm phóng đi, thì bạn nói thầm phóng tâm, phóng tâm… Phương pháp này hơi giống pháp môn nhận diện đơn thuần mà Sư Ông Làng Mai thường dạy. Một số tu viện Miến Điện mở cửa cho mọi giới và có nhiều khóa tu im lặng dài ngày, dài tháng để thực tập minh sát (Vipassanà) với mục đích đạt tới cái thấy rõ ràng và chính xác về bản chất thực tại.

Sư Ông Làng Mai được giới Tây phương gọi là The father of mindfulness, cha đẻ của chánh niệm. Có lẽ, Sư Ông có công khai phá chánh niệm của Bụt đến mức thực tế, dễ hiểu, rộng rãi. Các đầu sách của Sư Ông chỉ nói về sự thực tập chánh niệm, và chúng đi vào dòng chính (main stream) của tư tưởng, trường học, đại học và thiền tập Tây phương.

Sư Ông chú trọng về sự thực tập chánh niệm trong đời sống hàng ngày (mindfulness in daily life) bằng nhiều phương pháp nhưng hơi thở, bước chân là ưu tiên. Điều này có nghĩa là chánh niệm phải thực tập liên tục trong đời sống, chứ không phải chỉ có lúc ngồi, vì vậy Làng Mai mới có thiền đi, thiền ăn, thiền trà, thiền rửa chén…

Bạn nhận xét:

  • Khóa tu Làng Mai không còn hấp dẫn người hành giả nữa.

Có chắc không bạn? Bạn đã đi bao nhiêu khóa tu Làng Mai rồi? Khóa tu Làng Mai tổ chức theo quy mô của Làng Mai mà Sư Ông trui luyện ra. Mấy mươi năm nay, khóa tu càng ngày càng đông. Ở Việt Nam, các khóa tu cũng rất đông như thời ở Bát Nhã. Gần đây, nhà nước không cho Làng Mai sinh hoạt ở Việt Nam nữa, nên tăng thân dời qua Thái Lan và khóa tu vẫn đông như thường.

Cố nhiên, phần tổ chức có thể thay đổi cho thích hợp với căn cơ mỗi nơi. Ví dụ như khóa tu ở Huế, thầy luôn bỏ phần thực hành về phương pháp ‘làm mới’, vì người Huế rất ngại nói về những khó khăn trước mọi người, nhưng thầy khích lệ họ thực tập làm mới khi về nhà. Khóa tu cho gia đình có thể có những sinh hoạt ngoài sân, ca hát, chia sẻ, văn nghệ để các bạn trẻ khỏi chán. Khóa tu cho người tu lâu có thể có thêm giờ tọa thiền, thiền hành, tụng kinh. Khóa tu sức khỏe có những giờ thể dục, tập yoga, đi bộ. Khóa tu Wake Up cho người trẻ nên có những sinh hoạt trẻ trung, chia sẻ, hội thảo, thể thao, văn nghệ…

Trong mỗi khóa tu, Làng Mai luôn có giờ im lặng hùng tráng ở cuối ngày, nhưng ai cấm bạn giữ im lặng trong suốt khóa tu. Người Tây phương thực tập im lặng rất hết lòng, vì thế họ nếm được sự an lạc, thanh tịnh. Người Việt xưa nay không quen với nề nếp, kỷ luật cho nên một số bà con vẫn cứ nói chuyện trong giờ im lặng, do thế họ không nếm được sự an lạc, thanh tịnh của giờ chỉ tịnh.

Tóm lại, cách tổ chức có thể uyển chuyển, nhưng quan trọng vẫn là sự thực tập. Bạn có thực tập đúng kỹ thuật và hết lòng pháp môn chưa? Bạn thực sự bước được bước chân thiền hành chưa? Bước chân bạn chạm vào lòng đất chưa hay tâm ý bạn vẫn còn bay bổng trong hư không? Bạn thử thở những hơi thở có ý thức từ đầu đến cuối hơi thở đi. Thở và chú ý tới sự phồng lên xẹp xuống của bụng, thì tâm ý bạn mới dừng lại. Bạn thực sự uống trà trong chánh niệm chưa? Bạn ngồi yên để thưởng thức hương vị ngọt thơm của trà chưa?

Đó là lời mời gọi để bạn thực tập, chứ thầy không có ý ép bạn đâu! Thầy không có ý muốn thuyết phục bạn. Thầy không ưa ca ngợi một pháp môn, bởi pháp môn nào cũng đều do Bụt thuyết. Nếu chỉ ca ngợi một pháp môn thì vô tình thầy làm giới hạn các cánh cửa tuyệt vời khác của Bụt. Bạn có quyền chọn lựa pháp môn nào thích hợp với mình.

Thầy có niềm tin nơi pháp môn do Sư Ông trao truyền, nhưng thầy vẫn luôn lòng dặn lòng đừng cố chấp, hãy cởi mở để học hỏi thêm cái hay, cái đẹp nơi người khác, dù đó là một bạn trẻ. Chân lý không thuộc về riêng ai. Tâm ban đầu là tâm cởi mở để học mãi không nguôi, học từ mọi người, mọi hiện tượng trong sự sống. Bông hoa, hạt sỏi, ngọn lá đều ca lời ca về vô thường, tương tức, không kỳ thị, bất sinh, bất diệt. Bạn thử lắng tai nghe bằng chánh niệm, nghĩa là bằng sự nhạy cảm, sáng suốt, thẩm thấu đi.

Bạn phải nếm cho được hương vị của sự thực tập mà đừng chỉ nghe pháp thôi. Nghe pháp nhiều không có lợi ích lắm đâu! Nguyên tắc là khi nghe về Quán niệm hơi thở, thì bạn thực tập thở ngay. Hơi thở sẽ làm tâm ý bạn dừng lại, an ổn lại. Bảo đảm thế nào bạn cũng nếm được phần nào pháp lạc, pháp hỷ, có phải không bạn? Chúc bạn thành công.

Tâm thức là một dòng sông đang trôi chảy. Bạn không chận đứng dòng sông ấy mà chỉ ngồi trên bờ dòng sông. Bờ ấy chính là hơi thở ý thức.

Thiền tập

Bạn trẻ thân mến;

Hành thiền có thể gọi cho dễ hiểu là thiền tập, tức là hành trì thiền định, thực tập chánh niệm, bởi thế sự thực hành mới là quan trọng hơn lý thuyết suông. Các bạn trẻ Việt Nam thích qua tu tập ở Miến Điện, bởi người ta chú trọng về sự thực hành hơn. Trong các trung tâm Miến Điện, các bạn thấy có nhiều người khắp nơi trên thế giới cùng tu tập chung.

Phật giáo Miến Điện có gì hấp dẫn người khắp nơi như thế? Phật giáo Miến Điện thuộc về truyền thống Nam tông, Theravada tradition, như các nước lận cận là Thái Lan, Lào, Cam Bốt, Srilanka… Pháp môn thiền tập ở Miến Điện cũng là thực tập chánh niệm, nhưng sao nó có năng lực thu hút nhiều người khắp nơi trên thế giới như thế? Bởi người ta chú trọng tới sự thực tập, đặc biệt là sự thực hành của giới cư sĩ. Tu sĩ thực tập chánh niệm, thiền định là việc bình thường. Tu sĩ không thiền tập, tụng kinh, bái sám mỗi ngày, mới là chuyện không bình thường. Cư sĩ với bao nhiêu công việc, lo toan, bận rộn, mà họ thực hành thiền tập, mới thật là đáng kính phục. Điều này chứng minh rằng giáo pháp của Bụt rất thiết thực, có thể áp dụng cho mọi tầng lớp.

Một trong những vị đạo sư nổi tiếng thời cận đại của Miến Điện là Ngài Mahàsi. Ngài hướng dẫn thiền Minh sát rất cụ thể, rõ ràng. Minh sát dịch từ chữ ‘Vipassanà’ gọi là thiền quán. Minh sát có nghĩa là ánh sáng để quán sát. Cái tâm sáng suốt của chánh niệm có khả năng quán sát, chiếu soi mọi hiện tượng. Quán sát dịch ra tiếng Anh là observe, nghĩa là chỉ nhìn mà không xen vào, không đánh giá, không uốn nắn.

Người Miến Điện có các khóa tu im lặng bảy ngày, nửa tháng… Và người cư sĩ cũng thực tập ngồi thiền, thiền hành, im lặng không khác gì cácthầy Tỳ Kheo. Có người cư sĩ để hết thời giờ còn lại của cuộc đời cho việc thiền tập, cho nên nó tạo thành một nguồn năng lượng thiền tập cộng đồng, thu hút mọi người khắp bốn phương. Cũng như người Tây Tạng và người Phù Tang, họ thực tập giáo pháp của Bụt thật hết lòng, do thế nếp sống của họ thật là quân bình. Họ chú trọng tới hạnh phúc, an lạc nơi đời sống tâm linh hơn là đồng lương, tiền bạc, vật chất.

Thiền định, chánh niệm và trí tuệ là pháp môn căn bản, nền tảng, nòng cốt của đạo Bụt, gọi là Tam vô lậu học, tức là ba phương pháp thực tập để chuyển hóa phiền não, làm cho phiền não không còn rỉ ra. ‘Vô lậu’ không nên hiểu là hết phiền não, mà phải hiểu là phiền não không còn rỉ ra. Phiền não là những ma lực, năng lượng làm cho bạn phiền muộn, bất an, đau khổ, sợ hãi, cho nên nghe lý thuyết về Tam vô lậu học không đủ sức để chuyển hóa phiền não, mà phải có năng lượng, sức mạnh của thực hành. Nói lý thuyết về bản nhạc không thể tạo ra một bài ca hùng hồn; người ca sĩ phải tập luyện nhiều năm mới có thể hát với tất cả tâm hồn của mình. Nói suông về món ăn không thể nào thưởng thức được hương vị thơm ngon của nó, mà bạn phải dùng hai bàn tay vào công việc nấu nướng… Thiền tập là thực tập, tập luyện, sống chánh niệm.

Bụt nói tới những phương pháp thực tập cụ thể như niệm thân, tức là chú ý tới thân thể với từng bộ phận, tình trạng, hoạt động, cử động của nó. Niệm thọ là để ý tới cảm thọ dễ chịu, không dễ chịu, trung tính. Niệm tâm là thấy những hiện tượng tâm ý như tham, sân, si, bất an, phóng dật, vui mừng, từ bi… Niệm pháp là quán chiếu về mọi hiện tượng như năm uẩn, sáu căn, sáu trần… Bụt còn chỉ cách thực hành về bốn phương pháp ngăn ngừa bất thiện pháp và phát triển tưới tẩm thiện pháp gọi là Tứ chánh cần. Bụt nói tới năm nhà máy, cơ chế (ngũ căn) tạo ra năm nguồn năng lượng (ngũ lự) trong thân tâm gọi là tín, tấn, niệm, định, tuệ. Bụt nói tới chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh ngữ, chánh mạng, chánh nghiệp, chánh niệm, chánh định.

Vậy, thiền trong đạo Bụt là những phương pháp cụ thể, rõ ràng, thực dụng chứ không phải những cái gì trừu tượng, triết lý siêu hình.

Thiền là thở, biết rõ bạn đang thở. Thiền là đi, ý thức rõ mỗi bước chân đi. Thiền là nhìn, biết rõ bạn đang nhìn. Thiền là nói, biết rõ lúc nào cần nói, lúc nào không cần nói. Thiền là suy nghĩ, biết rõ bạn đang suy nghĩ gì…

 

 

Dấu ấn Làng Mai

Bạn trẻ thân mến!

Theo tinh thần cởi mở, bao dung của đạo Bụt, Sư Ông Làng Mai đã trình bày và thuyết giảng giáo lý của Bụt theo một tinh thần mới mẻ, thực tế, gần gũi, dễ hiểu với ngôn ngữ sáng tỏ và trẻ trung.

Đọc những cuốn sách Phật học của Sư Ông, ai cũng thích. Cách trình bày thật là nhẹ nhàng, trong sáng, thực dụng, dung chứa nhiều chất liệu nhân văn, thi ca và khoa học. Những giáo lý uyên thâm, hóc búa như Duy biểu, Tánh không, Vô tướng, Không sinh không diệt… được Sư Ông diễn bày bằng loại ngôn từ đơn giản và những ví dụ thực tế, dễ hiểu.

Làng Mai cũng như các bộ phái, đều có chủ trương riêng, và ai cũng muốn chủ trương của mình gần gũi với giáo lý nguyên thủy của Bụt, ai cũng muốn mình trở thành tri kỷ của Bụt. Đây là chủ trương của Làng Mai, mà Sư Ông gọi là dấu ấn Làng Mai. Hai trăm năm nữa, ai giữ được các dấu ấn này, thì người ấy là con cháu đích thực của Làng Mai.

  1. Hiện pháp lạc trú
  2. Đã về đã tới
  3. Đi như một dòng sông
  4. Thời đế tương tức
  5. Sát Na dị thục.

 

1. Hiện pháp lạc trú là dấu ấn đầu tiên, nghĩa là sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại. Đây là phương pháp thực tập, nghệ thuật sống chứ không phải định nghĩa về thực chất của hiện tại. Có người vừa mới nghe sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại thì phản ứng liền, bởi người ấy đang trải nghiệm nhiều khổ đau trong hiện tại. Điều này cũng dễ thông cảm thôi. 

Sự thật hiện tại này là sự sống linh động đang diễn biến từng giây từng phút, như bông hoa đang nở, gió đang vi vu, trăng đang sáng, chim đang ca… Chữ quan trọng là lạc trú, nghĩa là sống hạnh phúc. Do thế, hạnh phúc là khả năng sống (a skill of living) chứ không phải là hiện tại như một đối tượng tìm cầu. Khi tâm an trú thật sự với thân trong sự sống, không còn có những vọng động, những thôi thúc, những bức bách nữa thì làm gì còn có khổ đau. Khổ đau còn hiện hữu, bởi vì tâm bạn đang giao động, bất an, lên xuống, tìm cầu, mong đợi… Đưa tâm về với thân trong giây phút hiện tại là định nghĩa nòng cốt của chánh niệm. Nói như thế thì dễ, nhưng đời sống thực tế, tâm bạn thường hay rong ruổi, trôi lăn, vọng động. Chính tâm này làm cho đời bạn bảy chìm, tám nổi, chín long đong.

Sự sống đang ẩn hiện, thay đổi, đổi thay từng phút giây. Kinh Kim cương diễn tả sắc như mộng, huyễn, bào, ảnh… Sự sống có những mầu nhiệm không ngừng hát ca, có nguồn bí ẩn thì thầm mời gọi. Vì có sự đổi thay trong từng phút giây nên sự sống có lên xuống, chìm nổi, bệnh tật, vui buồn, sinh diệt… Nếu biết an trú trong hiện pháp, bạn sẽ nhận diện được sự mong manh, đổi thay trong từng giây từng phút. Bạn không bị chúng làm thất điên bát đảo nữa, trái lại bạn biết trân quý sự sống của chính mình và của người thương. Càng an trú, bạn sẽ có cơ hội đi sâu vào lòng thực tại để hiểu được bản chất thật sự của sự sống, do đó bạn chuyển hóa tất cả u mê, ngu dốt, nguồn gốc của mọi khổ đau, lo âu, sợ hãi.

Chính bạn là một biểu hiện mầu nhiệm ấy, và sự sống của bạn là nguồn bí mật ngàn đời chưa một lần khám phá. An trú trong hiện tại, bạn trở về với bạn, tiếp xúc với sự sống mầu nhiệm, và từ từ bạn khám phá ra được kho tàng bí ẩn đã chôn vùi trong chiều sâu tâm thức của bạn.

2. Đã về đã tới là dấu ấn thứ hai của Làng Mai. Đã về đã tới không phải là giáo lý mới mà chính là giáo lý vô đắc, vô cầu, vô nguyện trong đạo Bụt Đại thừa. Vô đắc là không có chứng đắc, bởi đâu có gì để chứng đắc. Bông hoa đã nằm sẵn trong hạt hoa rồi, bông hoa không cần phải đi tìm hoa. Cây bắp đã có sẵn trong hạt bắp rồi, cây bắp không cần phải trở thành cái gì hết. Bạn đã có Phật tính rồi, bạn không cần phải trở thành Phật. Cha có mặt trong con, thầy có mặt trong trò, ngày có sẵn trong đêm, ánh sáng có mặt trong bóng tối, sen có mặt trong bùn, hoa có mặt trong rác… Đã về đã tới còn gọi là vô sở đắc. Đã về đã tới nghĩa là không chạy nữa, không tìm cầu nữa, không mong đợi nữa. Đã về đã tới là tâm an trú trên mỗi phút giây, mỗi hơi thở, mỗi bước chân.

Tự do đã có sẵn rồi, hạnh phúc đã có sẵn rồi, Phật tính đã có sẵn rồi, mà cái gì có sẵn thì cần gì phải chứng đắc, cần gì phải mong cầu. An lạc, tự do ở trên mỗi bước chân chứ đâu có ở nơi nào đó hay ở cuối con đường mà mong cầu. An lạc, tự do là khả năng sống (a skill of living), chứ không nằm ở đâu cả, không phải cái gì cả.

Đã về đã tới là sống dậy, thức dậy, dừng lại, tiếp xúc, sống thật. Uống nước là uống nước thôi, không mong cầu gì, không suy nghĩ gì. Ngay đây, bạn không những mến được vị ngọt của nước mà nếm được tự do, hạnh phúc liền. Dấu ấn này tiếp nối dấu ấn hiện pháp lạc trú mà thôi.

3. Đi như một dòng sông là dấu ấn thứ ba, tức là sống với nhau, có cùng nếp sống, lý tưởng, con đường, giấc mơ. Đi như một dòng sông là thực tập sống trong tăng thân theo tinh thần vô ngã. Tăng thân là dòng sông, và mỗi thành viên là một giọt nước. Vô ngã là không có một thực thể có thể tồn tại riêng biệt. Giọt nước này cần giọt nước kia, giọt nước này thúc đẩy giọt nước kia, giọt nước này kề cận giọt nước kia để tạo thành dòng sông linh động. Cũng giống như một cơ thể có vô số tế bào, và các tế bào hoạt động, truyền thông, chung sống với nhau để tạo thành sự sống của một con người.

Bạn là giọt nước, do thế giọt nước cần dòng sông. Không có dòng sông, giọt nước không thể tồn tại, nó dễ bị bốc hơi và nó không thể nào trôi về biển cả. Bạn là một con người, nên bạn cần gia đình, cha mẹ, anh chị em, bạn bè, cỏ cây, hoa lá, dòng sông, trái đất, mặt trời, và muôn loài… Bạn không thể tồn tại riêng biệt.

4. Thời đế tương tức là dấu ấn thứ tư. Thời là ý niệm về thời gian. Đạo Bụt nói về ý niệm tam thời, tức là quá khứ, hiện tại và tương lai. Đế nghĩa là sự thật. Đạo Bụt nói tới hai sự thật, tức là sự thật tương đối và sự thật tuyệt đối.

Theo dấu ấn này, Làng Mai chủ trương cả ba thời gian và hai sự thật đều tương tức, nghĩa là thời gian và sự thật cùng có mặt trong nhau. Tương là cùng. Tức là có mặt. Hiện tại có mặt nơi quá khứ và trong tương lai. Nhìn vào hiện tại, bạn thấy dấu tích của quá khứ và mầm mống của tương lai. Nhìn vào hạt bắp, bạn thấy trái bắp mùa xuân trước và cây bắp con trong tương lai. Đó là cái thấy tương tức, trong nhau, là nhau, một cái thấy vượt thoát ý niệm cục bộ của thời gian.

Thời gian như thế, sự thật như thế và tất cả mọi hiện tượng trong sự sống cũng đều như thế. Nhìn vào sự thật tương đối, bạn thấy sự thật tuyệt đối. Nhìn vào con, bạn thấy cha. Nhìn vào trò, bạn thấy thầy. Nhìn vào rác, bạn thấy hoa. Nhìn vào ly nước, bạn thấy đám mây, dòng sông.

5. Sát na dị thục là dấu ấn thứ năm của Làng Mai. Dị thục là chín mùi của mọi hiện tượng trong sự sống. Sát na là đơn vị thời gian ngắn nhất. Sát na dị thục là sự chín mùi xảy ra trong sát na, nghĩa là sự chín mùi liên tục, từng giây từng phút.

Trái cam không phải chín trong mùa hè, mà nó đã chín trong từng sát na. Trái cam đã chín từ khi nó còn là hoa cam, nó trở thành trái cam xanh non bé nhỏ, nó lớn lên từ từ. Bởi con mắt không thấy sự chín mùi ấy nên đợi khi nó vàng bạn gọi trái cam chín, nhưng sự thật trái cam chín từng sát na, từng giây từng phút. Đứa bé gái tuy mới sinh ra nhưng nó đã có phẩm chất của một bà mẹ. Nó là đứa bé mà nó cũng là mẹ. Tu tập cũng vậy. Mỗi hơi thở là có niềm vui, có tự do ngay. Mỗi bước chân là dừng tâm ý, nếm thảnh thơi liền. Sự chín mùi của tu tập xảy ra từng sát na.

Dị thục không phải là vấn đề thơi gian. Nó chín ngay, chín trong trứng nước, chín trong từng sát na. Dấu ấn này đi đôi với dấu ấn Đã về đã tới.

 

 

Cái đẹp riêng

Bạn trẻ thân mến!

Bạn hỏi:

Đạo Bụt có nhiều bộ phái, có nhiều chủ trương, như vậy làm sao biết bộ phái nào, chủ trương nào là chính thống, gần với giáo lý nguyên thủy của Bụt?

Câu trả lời:

Mỗi bộ phái được ví cho một cành cây, và nhiều bộ phái xem như nhiều cành cây của cùng một cây. Cố nhiên mỗi cành cây hướng về một phía, do thế nó hấp thụ ánh sáng, khí trời, năng lượng khác nhau. Mỗi bộ phái có chủ trương riêng, đó là một chuyện bình thường.

Cũng giống như Sư Ông Làng Mai có biết bao nhiêu đệ tử tại gia và xuất gia, nhưng mỗi đệ tử hiểu và thực hành theo pháp môn của Sư Ông khác nhau, không ai giống ai cả, bởi vì sự hiểu biết, cách hành trì chịu ảnh hưởng sâu đậm nơi cách tư duy, khả năng, kiến thức, tính khí của từng người. Cũng cách đi thiền hành đó mà mỗi người hiểu khác nên thực hành cũng rất khác. Điều này không có gì gọi là mâu thuẫn cả, mà nó càng làm cho pháp môn của Sư Ông Làng Mai càng thêm linh động, giàu có.

Trên đời này có biết bao nhiêu bác sĩ y khoa, nhưng đâu phải bác sĩ nào cũng giống bác sĩ nào. Tất cả bác sĩ đều được đào tạo ra từ một chương trình y khoa, nhưng cách suy tư, học hỏi, tiếp nhận, trải nghiệm, khám nghiệm khác nhau, nên khi ra hành nghề, mỗi bác sĩ chữa trị bệnh nhân rất khác nhau.

Trong đạo Bụt, không có một giáo lý, một phương pháp, một chủ trương gọi là đúng hoàn toàn mà cũng không sai hoàn toàn với lời Bụt dạy. Mỗi phương pháp, mỗi tư tưởng, mỗi chủ trương đều là một con đường hướng về cõi giải thoát, một toa thuốc trị bệnh. Giáo pháp của Bụt còn được gọi pháp môn, nghĩa là cánh cửa của giáo pháp, mà đạo Bụt có vô lượng pháp môn. Giáo pháp của Bụt không phải là sự thật tuyệt đối. Sự thật tuyệt đối không thể diễn tả được bằng lời nói, khái niệm và tư tưởng. Giáo pháp là các liều thuốc trị bệnh cho chúng sanh. Chúng sanh có lắm bệnh thì Phật pháp cần có nhiều toa thuốc. Thế thôi! Vì thế chủ trương của các bộ phái đều là các con đường đi, các cánh cửa và không có đường nào sai hay đường nào đúng. Thích đường nào thì bạn chọn con đường ấy mà đi.

Mục đích tối hậu là đỉnh cao nhất của tự do, hiểu biết và thương yêu mà đạo Bụt gọi là Niết bàn. Cố nhiên khi thực tập, bạn không cần nôn nóng hay cầu mong đến đỉnh cao ấy. Bạn thưởng thức từng bước chân trên con đường đang đi. Tu tập là đi chơi thong thả, thư thái như đi xem hội chợ triển lãm hoa hay dạo nơi cảnh núi rừng tú lệ. Quan trọng là thưởng thức trăm hoa đua nở, cảnh đẹp của núi rừng, bởi khi lên tới đỉnh cao thì cũng để bạn thưởng thức không gian bao la, cảnh núi rừng hùng vĩ mà thôi.

Nhìn vào hạt bắp, bạn thấy trái bắp mùa xuân trước và cây bắp con trong tương lai.

Sáng tạo

Bạn trẻ thân mến!

Tinh thần đạo Bụt là cởi mở, bao dung và sáng tạo. Đạo Bụt luôn có một thái độ cởi mở để học hỏi, thu thập, nhận diện các nhu yếu về văn hóa, ngôn ngữ, con người, xã hội, thời đại để cống hiến những giáo lý và phương pháp thực tập mới, phù hợp với con người và xã hội ấy. Đạo Bụt không thể nào bắt chước hay rập khuôn được. Đạo Bụt Ấn Độ khác với đạo Bụt Trung Hoa, đạo Bụt Nhật Bản khác với đạo Bụt Đại Hàn…

Đạo Bụt luôn nhớ giữ gìn và nuôi dưỡng lòng bao dung, nghĩa là không kỳ thị bất cứ một truyền thống hay tôn giáo nào khác. Đạo Bụt không phải là một tôn giáo hay một nguồn tín ngưỡng. Bụt không phải là một vị thần linh, một đấng thiêng liêng. Bụt là người đã tìm ra con đường hết khổ, đạt tới niềm vui cứu cánh của Niết bàn. Thấy chúng sinh đang chìm ngập mãi trong biển khổ luân hồi nên Bụt muốn chia sẻ, chỉ dẫn lại con đường ấy cho mọi người.

Theo giáo lý vô thường, mọi sự, mọi vật đều không ngừng thay đổi, vì thế đạo Bụt luôn khích lệ và tôn trọng sự sáng tạo (creativity), sự làm mới (innovation). Tuy vậy, đạo Bụt muốn giữ mãi nguyên lý, tinh ba, nền tảng của lời Bụt dạy. Và đạo Bụt phải được trình bày thích hợp với căn cơ, sự hiểu biết của con người và thời đại. Đây là tinh thần Phật Pháp bất ly thế gian pháp.

Phật pháp phải đáp ứng với các vấn đề có thật, những khó khăn và khổ đau của cuộc đời. Bây giờ, trình bày Tứ diệu đế phải rất khác cách trình bày cách đây 20 năm, cho nên tinh thần Xưa bày nay làm chỉ làm đạo Bụt trở nên bất cập, lỗi thời (out of date), rồi chết dần chết mòn mà thôi. Bây giờ, Tứ diệu đế phải đi theo tinh thần y khoa, khoa học mới. Đạo Bụt phải thấy nguyên nhân (tập đế) sâu xa, cụ thể, rõ ràng bằng sự khám phá khoa học mới như các máy móc Catscan, MRI, dùng các hình ảnh như brain image, x-ray… chứ không nói chung chung như là vô minh, ái nhiễm nữa.

Phương pháp hành trì của đạo Bụt cũng phải không ngừng sáng tạo và càng ngày càng giàu có thêm. Bạn đừng làm riết một phương pháp thôi, bởi nó sẽ dễ đưa tới tình trạng lặp đi, lặp lại, nhai đi, nhai lại, rồi đâm ra lờn hoặc chỉ còn lại hình thức mà không có nội dung. Theo nguyên tắc, bất cứ pháp môn nào cũng phải đi theo tinh thần Bát chánh đạo hay Tam vô lậu học, tức là chánh niệm, thiền định và trí tuệ. Có thể nói Bát chánh đạo và Tam vô lậu học là giáo lý nền tảng, nguyên chất của đạo Bụt.

Chánh niệm là gì? Chánh niệm là đưa tâm trở về với thân trong giây phút hiện tại. Trạng thái này gọi là thân tâm nhất như, thân tâm một khối. Nó cũng được gọi là nhất tâm hay thiền định. Như vậy, thiền định là ánh sáng tập trung. Từ đó, bạn mới thấy rõ những gì đang xảy ra trong thân tâmvà chung quanh. Cái thấy này gọi là tuệ giác, và nó không phải là cái thấy bình thường của nhận thức, suy luận, tính toán chủ quan. Tuệ giác là cái thấy rõ ràng, trực tiếp, như thật, cái thấy về bản chất của sự sống bằng ánh sáng chánh niệm và thiền định.

Thời đại khoa học kỹ thuật tối tân này, pháp môn chánh niệm đã trở thành phổ biến và nổi tiếng khắp trời Tây. Nó đi vào các ngõ ngách của xã hội như đời sống, trường học, khoa học, y học, công nghiệp, nông nghiệp, doanh nghiệp, chính trị, quân đội. Người trí thức Tây phương thấy chánh niệm như là một nghệ thuật sống tỉnh thức, chú tâm, sáng suốt, tự chủ hơn là một tín ngưỡng. Ai mà không cần có sự chú tâm trong đời sống giúp công ăn việc làm tốt. Ai mà không cần khả năng tỉnh táo, nhạy bén để nhận diện, ôm lấy nỗi khổ niềm đau mà chuyển đổi thành an vui, hạnh phúc. Ai mà không cần sự sống tỉnh thức, thảnh thơi trong đời sống đầy ắp căng thẳng này. Ai mà không cần nếp sống đưa tâm trở về với thân trong giây phút hiện tại để tiếp xúc sâu sắc sự sống mầu nhiệm của thân tâm và chung quanh…

Các nhà khoa học, nhất là thần kinh não bộ và y khoa lâm sàng đang có nhiều hứng thú học hỏi, nghiên cứu, thử nghiệm về phương pháp chánh niệm để tìm ra những phương cách điều trị cho các chứng bệnh như căng thẳng, tâm lý, thể xác… Họ đang đưa sự thực tập chánh niệm, thiền định cụ thể như từ quán, bi quán, thẩm thấu, xót thương, hơi thở, trì chú, meta awareness… để thay đổi sự hoạt động đến bản chất của của não bộ, nơi được xem là bộ máy trung tâm điều khiển tất cả hoạt động của cơ thể, tình cảm, cảm xúc, sinh hoạt, phẩm chất của con người.

Đây không phải là tin vui cho tất cả chúng ta hay sao! Đạo Bụt đã trở nên một trong những dòng suối chính (main stream) của ngành khoa học kỹ thuật cao nhất, giúp ngăn ngừa căng thẳng, điều trị bệnh tật và làm lành mạnh đời sống của con người.

Vậy, sao bạn không thực tập sống chánh niệm trong đời sống hàng ngày. Hãy đưa tâm về với thân trong hiện tại, trở về với chính mình, với sự tỉnh thức và tiếp xúc với sự sống linh động như tia nắng sớm lung linh trên chiếc lá, tiếng chim ca, đôi mắt ngây thơ của trẻ thơ… Đồng thời, bạn nhận diện rõ ràng những khó khăn, đau nhức, khổ đau đang hiện thực trong thân tâm và khắp mọi nơi để tự trị liệu cho bản thân và phát khởi lòng thương xót đến mọi người, mọi loài.

Trăm hoa đua nở

Bạn trẻ thân mến!

Trải qua dòng lịch sử, đạo Bụt đã không ngừng thay đổi từ hình thức tới nội dung, nhưng tinh ba vẫn còn nguyên vẹn.

Sau khi Bụt nhập diệt khoảng 140 năm, đạo Bụt đã chia ra thành hai bộ phái gọi là Thượng toạ bộ và Đại chúng bộ. Từ đó, đạo Bụt lại tiếp tục chia ra thêm nhiều bộ phái nữa, có tới 20 bộ phái. Cứ như thế, đạo Bụt không ngừng thay đổi, chia chẻ, phát triển, vì thế đạo Bụt mới có các cỗ xe mới như Đại thừa, Kim Cang thừa…

Đây không phải là dấu hiệu tiêu cực mà là sự phát triển rất cần thiết để đạo Bụt được sinh sôi nảy nở như trăm hoa đua nở. Tuy mỗi bộ phái có những chủ trương, cái hiểu, cách hành trì khác nhau, nhưng đứng về phương diện nền tảng, các bộ phái vẫn giữ được cái đồng nhất về giáo lý như Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Tam vô lậu học…

Đạo Bụt được ví như cội cây Bồ đề, the Bodhi tree. Đây là một hình ảnh đẹp, bởi Bụt đã thành đạo dưới cội Bồ đề gần bên dòng sông Ni liên thuyền. Cây Bồ đề phải lớn lên, thay đổi, sinh ra nhiều hạt Bồ đề để sinh con đẻ cái. Những hạt giống Bồ đề này phải tiếp tục nảy mầm để trở thành những cây Bồ đề con. Cứ như thế, thế hệ này sẽ tiếp nối nhiều thế khác như một dòng chảy của dòng họ Bồ đề.

Cây Bồ đề không thể nào đứng yên mãi, bởi nếu đứng yên thì cây ấy bắt đầu già yếu, chết từ từ. Cây Bồ đề cũng không thể sống mãi sống hoài mà không chết. Cây Bồ đề này có thể thọ nhiều năm, nhưng cây Bồ đề già quá sẽ không đủ sức để bung ra những chiếc lá và sinh ra những hạt Bồ đề mạnh khỏe. Theo luật tự nhiên, cây Bồ đề gốc phải già, phải chết, nhưng không sao, vì những cây Bồ đề con đã tiếp nối, đang tiếp nối và sẽ tiếp nối. Đạo Bụt cũng thế! Đạo Bụt Nguyên thủy đã được tiếp nối ở đạo Bụt Bộ phái, ở đạo Bụt Đại thừa… Đạo Bụt phải thay đổi, chuyển biến, sinh sôi, nảy nở, nhờ thế đạo Bụt mới có thể sống còn đến ngày hôm nay và lan truyền ra khắp toàn thế giới.

Đạo Bụt là con đường đi về nơi giải thoát, là nghệ thuật sống tỉnh thức. Nếu đi trên con đường ấy, bạn gặp các con đường nhỏ khác như đường tách, đường rẽ, đường chéo là chuyện đương nhiên.

Hãy tiếp xúc với sự sống linh động, mầu nhiệm như tia nắng sớm lung linh trên chiếc lá, tiếng chim ca, đôi mắt ngây thơ của trẻ thơ.

Cách mạng tâm linh

Bạn trẻ thân mến!

Chúng ta phải phát khởi phong trào thanh lọc thân tâm, cách mạng đời sống tâm linh cho các học trò của Bụt.

Không có cái gì đến tự nhiên hay tình cờ cả bạn ạ. Cái gì cũng có nguyên nhân của nó, ví như mất ngủ luôn có nguyên làm bạn mất ngủ. Khi bạn cắt đứt những nguyên nhân gây ra sự mất ngủ, thì bạn ngủ ngon. Quan trọng là bạn có cái thấy về phẩm chất đời sống của bạn không? Cái gì giúp đời bạn thăng hoa, thì bạn nuôi dưỡng. Cái gì làm đời bạn chùng xuống, thì bạn dừng lại, cắt đứt.

Bạn hãy tránh xa chúng bạn xấu ác, chỉ suốt ngày đam mê các trò chơi tiêu khiển, ăn uống, mê ngủ, chơi bời, bon chen, kiếm tiền… Không nên đem các dụng cụ điện tử về chùa hay phòng, không nên thuê bao đem mạng lưới vào phòng, xóa bỏ và tẩy chay các sản phẩm không lành mạnh.

Trong lịch sử chưa có một thế lực nào tàn phá tâm hồn người xuất sĩ bằng các trò chơi, phim ảnh, thông tin không lành mạnh từ mạng lưới và ti vi. Chúng là các cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, a-tu-la, chứa đầy dục vọng, thèm khát, bạo động và hận thù.

Nếu cần liên hệ, truyền thông với quần chúng hay gia đình, chùa có thể có một máy tính nối mạng lưới chung, và đại chúng phải có nội quy dùng mạng lưới và máy tính để tránh tình trạng nghiện ngập hay tiêu khiển chương trình không lành mạnh.

Con đường tự do là sự thực tập với tất cả tấm lòng thiết tha. Bạn phải trở thành chú tiểu tập sự ngày xưa mới bước vào chùa được đi công phu tụng kinh, bái sám, chấp tác. Thời hành điệu là thời vàng son, thiêng liêng, trong sáng, là đỉnh cao tâm linh, bởi tâm hồn chú tiểu chỉ chứa đựng duy nhất một vị là cam lộ, an lạc, thanh lương của giáo pháp.

Bạn hãy trở về lắng nghe tiếng chuông linh mời gọi tâm hồn đang phiêu bạt ở chốn u minh, thất niệm, khát vọng, bơ vơ, lạc loài. Bạn là đệ tử Bụt chứ đâu phải là cô hồn, ma quái sống vất vơ vất vưởng nào đâu! Bạn hãy trở về với mình, trở về với tỉnh thức, bước ngay vào con đường tự do để thấy Bụt, Tổ và Thầy đang mỉm cười chào đón đứa con thất lạc bấy lâu nơi cõi u minh đen tối, nơi chốn trần gian đọa đầy.

“Ba nghiệp lắng thanh tịnh

Gửi lòng theo tiếng chuông

Nguyện người nghe tỉnh thức

Vượt thoát nẻo đau buồn

Nguyện tiếng chuông này vang pháp giới

Xa xôi tăm tối cũng đều nghe

Những ai lạc bước mau dừng lại

Tỉnh giấc hôn mê thấy nẻo về

Nguyện tiếng chuông này vang pháp giới

Khắp nơi u tối mọi loài nghe

Siêu nhiên vượt thoát vòng sinh tử

Giác ngộ tâm tư một hướng về

Nghe chuông phiền não tan mây khói

Ý lặng, thân an, miệng mỉm cười

Hơi thở nương chuông về chánh niệm

Vườn tâm hoa tuệ nở muôn nơi

Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe

Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm”

Kỹ thuật và tâm linh

Bạn trẻ thân mến!

Thời đại kỹ thuật tối tân này, con người tạo ra một hệ thống mạng lưới cực kỳ tinh vi mà vĩ đại. Mạng lưới biến không gian mênh mông trở thành một thư viện khổng lồ chứa đựng tất cả thông tin. Nó là cả một chân trời tri thức, biết bao nhiêu là nghiên cứu, khám phá, sáng tác của loài người. Mạng lưới còn có thể giúp bạn liên hệ với bất cứ người nào đang có mặt trên mặt đất này.

Ngoài những khám phá khoa học, kỹ thuật, các tác phẩm văn chương, hội họa, âm nhạc, công nghệ truyền thông đăng tải trên mạng lưới, con người còn đăng tải các chương trình, phim ảnh, sách vở không lành mạnh xuất phát từ sự thèm khát, dục vọng hoặc nhu yếu làm giàu của giới doanh nhân. Đệ tử Bụt nếu không cẩn thận, không cầm lấy giới luật mà lạc vào các chương trình này thì coi như công trình tu học bấy lâu nay bị phá vỡ, giống như dã tràng xây nhà trên cát, chỉ cần một đợt sóng biển thôi cũng đủ phá tan hết nhà cửa.

Các loại máy móc điện tử này cũng tạo ra nhiều khó khăn cho bạn. Ai cũng tìm mọi cách để có tiền mua sắm máy móc tối tân như ipod, itouch, iphone… Tới khi có máy tối tân và thuê bao mạng lưới rồi, bạn trở nên bận rộn. Máy móc, mạng lưới là các con nghiện không khác gì một thứ ma túy, chi phối hết thời gian, không gian, tâm tư của bạn. Càng đi vào cái ổ nhền nhện của mạng lưới, bạn càng khao khát nó, do thế càng ngày chất nghiền của bạn càng tăng.

Nói như thế không phải chúng ta lên án khoa học kỹ thuật hay mạng lưới toàn cầu. Vì thiếu kiến thức, thiếu bản lãnh, thiếu sự hướng dẫn, đa số tuổi trẻ vào mạng lưới đều bị lạc vào các chương trình giải trí không lành mạnh hoặc đọc tin tức không cần thiết cho đời sống tâm linh, đưa tới tâm trạng chán nản, u trệ, tối tăm. Bạn không còn thích thú nơi sự thực tập hàng ngày như ngồi thiền, thiền hành, tụng kinh, bái sám, pháp đàm. Người tu mà không tu tập chánh niệm, thiền định thì không phải là đệ tử Bụt. Giống như ca sĩ mà không ca hát thì không phải là ca sĩ, họa sĩ mà không hội họa thì không phải là họa sĩ, bác sĩ mà không khám bệnh thì không phải là bác sĩ…

Công phu thực tập hàng ngày là các món ăn tinh thần đã được Bụt, Thầy, Tổ chế biến, dọn ra thật ngon lành. Bạn có thể tuỳ ý chọn món nào thích hợp với khẩu vị của bạn. Nếu đệ tử Bụt mà không thực tập công phu tức là bạn tự bỏ đói nếp sống tâm linh, giống như thân thể không có thức ăn thì từ từ nó sẽ héo mòn, ốm yếu, bệnh tật.

Tu tập là con đường trải nghiệm rõ ràng, chứ không phải đi trong mây mù. Giáo pháp của Bụt là đến để thấy, cho nên 'thấy' là quan trọng. Thuật ngữ trong kinh điển là kiến. Như thật kiến là thấy rõ, thấy thật, thì bạn mới biết tu đúng chánh pháp. Bụt, Tổ, Thầy đã hướng dẫn các pháp môn rõ ràng, thực tế, bạn cứ như vậy mà thực tập mỗi ngày. Không có gì phải mặc cảm cả, trái lại bạn phải có niềm tự tin, bởi bạn đã có kinh nghiệm thật về hơi thở, bước chân, ngồi yên, quán chiếu, dừng lại…

Thực tập chừng nào, bạn có tự do, hạnh phúc, thảnh thơi chừng ấy. Đôi khi tập khí, thói quen năm xưa trở về lôi bạn đi một đoạn đường tối tăm, khiến cho bạn mất hết an lạc, thảnh thơi, niềm vui. Nhưng không vì vậy mà bạn tự trách móc, mặc cảm, bỏ cuộc. Chỉ cần ngã chỗ nào, bạn tìm cách đứng dậy ngay nơi ấy mà bước tiếp con đường thực tập. Quan trọng là có thực tập hay không mà thôi, bạn ạ. Không ai thực tập dùm cho bạn đâu. Không ai sống đời sống cho bạn đâu. Đừng có mong chờ người khác ban cho bạn hạnh phúc, niềm vui, tự do. Đừng than vãn sao bạn khổ quá! Có thực tập, bạn đi về cõi sáng tỉnh thức, nguồn gốc của an lạc, tự do. Không thực tập, bạn đi về nẻo đen tối, nguồn gốc của khổ đau.

Tu tập là con đường dài đi về với đỉnh núi cao chót vót, nơi ấy bạn sẽ thấy tất cả những gì dưới kia, nơi tận tâm hồn u tối của cuộc đời, mà cũng chính là của mỗi chúng ta.

Ánh sáng nội tâm

Bạn trẻ thân mến!

Tự do này chỉ có thể làm bằng sức mạnh tâm linh của chánh niệm, thiền định và trí tuệ. Chánh niệm, chánh định và trí tuệ là ánh sáng nội tâm (clarity) chiếu vào tâm tư, tình cảm, nhận thức, do thế bạn thấy biết rõ bạn đang bị kẹt ở đâu, đang vướng bận gì, đang lo lắng gì, đang sợ hãi chuyện gì?

Chánh niệm là con đường tự do. Chỉ cần chú ý tới hơi thở hay bước chân, tâm bạn trở về với thân, thiết lập thân tâm trong hiện tại. Bạn tiếp xúc với sự sống mầu nhiệm. Đó là tự do. Bạn cảm được gió mát trên da thịt, nghe được tiếng chim hót vào buổi ban mai, ý thức rằng trái tim đang đập bình thường, bạn cảm thấy hạnh phúc đang còn đôi mắt sáng để nhìn người thương và thế giới màu sắc… Đó là tự do. Nếu chánh niệm tiếp tục kéo dài, thì bạn thường sống trong chánh định và trí tuệ, nghĩa là tâm bạn bừng sáng và an trú vào những gì đang xảy ra nơi sự sống bên trong cũng như chung quanh. Đó là bao la, là tự do.

Ánh sáng này còn chiếu soi, giữ gìn cho ba nghiệp là khẩu nghiệp, thân nghiệp và ý nghiệp. Mỗi lời nói, mỗi hành động, mỗi suy nghĩ đều là dấu ấn in sâu vào mảnh hồn của bạn. Tuy tất cả các pháp đều thay đổi không ngừng, nhưng mỗi suy nghĩ, mỗi lời nói, mỗi hành động ảnh hưởng sâu đậm tới phẩm chất đời sống của bạn và tác động tới những người chung quanh. Vui buồn đều do cách sống, suy nghĩ, nói năng của bạn, do thế đệ tử Bụt phải soi sáng vào ba nghiệp. Lời nói nào, làm việc gì, suy nghĩ nào gây ra đổ vỡ, đem đến đau khổ, hiểu lầm, thì bạn phải ý thức rõ hành động ấy để dừng lại. Tự do có mặt từ năng lực thúc đẩy của ba nghiệp là thân, khẩu, ý.

Bạn tập sống với tâm không suy nghĩ, không lo âu, không tính toán, thì sự sống mới có thật trong từng giây phút. Chính sự suy nghĩ, sự lo âu này đánh mất sự sống linh động đang diễn ra trước mắt, trong đời sống hàng ngày. Ăn biết ăn thì tự nhiện bạn có hạnh phúc, có sự biết ơn và biết trân quý thức ăn ngay. Uống biết uống thì bạn có hạnh phúc, có sự biết ơn cơn mưa, dòng sông ngay lập tức… Những gì bạn suy nghĩ hầu hết đều không có thật, là sự tạo tác, là ảo ảnh mà thôi. Khi bận suy nghĩ, bạn ăn không biết ăn, uống không biết uống, thở không biết thở… Suy nghĩ thường đưa bạn về hướng tiêu cực, đen tối, mưu tính, tham dục, rối ren. Đó gọi là tà tư duy. Như vậy, suy nghĩ là gì? Suy nghĩ là tù ngục, suy nghĩ là cõi chết!

Tu tập là thấy bông hoa mà không suy nghĩ về bông hoa ấy. Không vương vấn bông hoa mà cũng không lạnh lùng, vô cảm với bông hoa. Đó là tự do. Bạn sẽ nghe bông hoa hát. Bạn thực tập như thế khi nghe cơn mưa, nhìn mẹ, thương em, rửa mặt, uống nước, mỉm cười, ngồi chơi… Ngồi chơi mà không suy nghĩ, không làm gì trong cái đầu, thì bạn mới cảm nhận được sự sống linh động. Sự sống là thở, cảm nhận, lắng nghe. Luôn luôn nhớ rằng bạn chỉ còn một ngày để sống, bạn nhớ ý thức để trân quý sự sống mầu nhiệm.

Bạn có biết bạn đang thở không?
Bạn có biết bạn đang bước không?
Bạn có biết bạn đang ăn không?
Bạn có biết bạn đang uống không?
Bạn có biết bạn đang cởi áo không?
Bạn có biết bạn đang tháo giầy không?
Bạn có biết bạn đang mạnh khoẻ, không đau nhức, không tật bệnh không?
Bạn có biết bạn đang buồn không?
Bạn có biết bạn đang bất an không?
Bạn có biết bạn đang an ổn không?
Bạn có biết bạn đang vui không?
Bạn có biết bạn đang sống không?

Nếu biết thật, ý thức rõ ràng thì không lý do gì khiến bạn phải lo lắng nữa. Chỉ cần biết, ý thức là đủ, không thêm không bớt, không tốt không xấu, không xua đuổi không ghì lấy… Đó là tự do, giải thoát.

Tóm lại, con đường đẹp là con đường tự do, tự do mỗi hơi thở, tự do từng bước chân, tự do trong mỗi tâm niệm cho đến tự do cuối cùng, tức là thân tâm hoàn toàn lặng lẽ, an nhiên, thanh thoát mà kinh gọi là Niết Bàn, và tôi gọi là bao la, lặng lẽ.

Tu tập là con đường dài đi về với đỉnh núi cao chót vót, nơi ấy bạn sẽ thấy tất cả những gì dưới kia nơi tận tâm hồn u tối của cuộc đời.

Con đường tự do

Bạn trẻ thân mến!

Không giống như nhiều tôn giáo khác, Bụt dạy, người xuất gia hay tại gia đệ tử Bụt không nên tôn thờ một cái gì cả dù đó là giáo pháp của Bụt, không tôn thờ một ai cả dù người ấy là Bụt.

Giáo pháp không phải chân lý bất di bất dịch mà là những con đường thực tập. Bụt không phải là đấng thần linh mà là bậc đạo sư, nghĩa là bậc thầy. Bạn thương quý Bụt bằng cách tiếp nhận, học hỏi và tập sống theo giáo lý, nghĩa là con đường mà Bụt đã chỉ dạy. Bụt không thể giúp bạn có được thảnh thơi, an ổn và hạnh phúc. Bụt cũng không thể giúp bạn chuyển hoá khổ đau trong khi bạn không nỗ lực gì cả. Điều này bạn có thể kiểm chứng được.

Lúc Bụt còn tại thế, vua Lưu Ly đã đem quân giết hại, tàn sát gần hết bộ tộc Thích Ca, là dòng họ, bà con của Bụt. Bụt có cố gắng ngăn cản nhiều lần, nhưng mối thù giữa họ quá lớn. Vậy, là đệ tử của Bụt mà bạn chỉ biết cầu xin Bụt như một đấng tối cao có thể ban phúc giáng họa cho bạn là bạn không hiểu được Bụt. Bụt là bậc thầy tìm ra con đường tự do, đi hay không đi là tuỳ mỗi người đệ tử. Cầu nguyện, tôn thờ chỉ là để nhắc nhở bạn sống theo lời Bụt dạy mà thôi. Nếu có tôn thờ thì bạn nên tôn thờ tự do.

Lý tưởng cao đẹp nhất của đời sống xuất sĩ là tự do, bởi giới luật chính yếu của người xuất sĩ là Pratimoksha. Chữ ‘Moksha’ nghĩa là tự do. Và chữ ‘Prati’ nghĩa là từng bước, riêng biệt, tức là giữ giới nào thì có tự do giới đó. Không sát sanh thì không bị tù tội. Không trộm cắp thì không bị bắt bớ, đánh đập…

Giới luật là những giới điều, các nguyên tắc để bạn giữ gìn, bảo hộ để cho các lậu hoặc đừng phát hiện thường xuyên làm tan nát đời bạn và gây khổ đau đến người chung quanh. Phiền não, lậu hoặc này có nguồn gốc từ các chủng tử đã huân tập từ vô lượng kiếp như giận dữ, ham muốn, nghi ngờ, thù ghét, ganh tỵ… Giới luật là những hàng rào bảo hộ thân tâm để bạn tiếp tục đi mãi trên con đường tự do. Tự do được diễn tả là cung thành thanh tịnh, giải thoát, và giới luật là những hàng rào bao bọc. Ai phá hàng rào giới luật thì người ấy đánh mất chân trời tự do.

Tự do là cắt đứt các sợi dây ràng buộc như hiểu lầm, vô minh, giận hơn, tham dục, lo sợ, nghi ngờ. Tự do là đập tan những ngục tù trói buộc, cố chấp, bế tắc, phiền não, giống như nhà tù được xây dựng lên từ ngàn kiếp, nay bạn phá vỡ tất cả kèo cột để thoát ra ngoài.